áclav Havel
QUYỀN LỰC CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC
Tiểu luận chính trị
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang
Hiệu đính: Nhóm Văn Lang
Nhà xuất bản Giấy Vụn
Quyền lực của kẻ không quyền lực (1)
IX.
Sống
trong dối trá đã làm cho bản sắc của con người lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu
sắc; đến lượt mình, cuộc khủng hoảng vốn làm cho cuộc sống như vậy trở nên khả
dĩ, chắc chắn phải tạo ra hậu quả đạo đức: Hậu quả xuất hiện – bên cạnh những đặc
điểm khác – như là một cuộc khủng hoảng đạo đức sâu sắc trong xã hội. Người bị
hệ thống giá trị tiêu dùng cám dỗ, người mà bản sắc bị hòa tan trong những bộ
trang phục lòe loẹt của nền văn minh bày đàn, người không có cảm nhận trách nhiệm
về bất kì cái gì cao xa hơn sự tồn tại của bản thân, là một người đã mất đạo đức.
Hệ thống sống dựa vào sự đồi bại này và làm cho nó trở thành trầm trọng thêm,
trên thực tế là phóng chiếu sự suy đồi đạo đức trên bình diện toàn xã hội.
Ngược
lại, sống trong sự thật là cuộc nổi dậy của con người nhằm chống lại sự sắp đặt
cưỡng bức, là một cố gắng nhằm giành lại quyền kiểm soát cảm nhận của cá nhân về
trách nhiệm. Nói cách khác, đấy rõ ràng là một hành vi mang tính đạo đức, không
chỉ vì người ta phải trả giá đắt cho nó, mà vì đấy là nguyên tắc bất vụ lợi: Sự
mạo hiểm có thể được đền đáp, tức là tình hình được cải thiện, mà cũng có thể
không. Về mặt này, như tôi đã nói bên trên, đây là một canh bạc được ăn cả ngã
về không, và thật khó mà tưởng tượng được một con người duy lí lại bước lên con
đường ấy chỉ vì anh ta nghĩ rằng hi sinh hôm nay sẽ được đền đáp vào ngày mai –
mà đền đáp lại chỉ là lòng biết ơn của công chúng. (Nhân tiện, xin nói rằng những
người đang nắm quyền luôn luôn vu khống những người sống trong sự thật bằng
cách lúc nào cũng bảo rằng họ vị lợi – thèm khát quyền lực, danh vọng, hay tiền
tài – và do đó, chúng cố gắng, ít nhất là tìm cách đưa những người sống trong sự
thật vào thế giới của chúng, thế giới phi đạo đức một cách toàn diện).
Nếu sống trong sự thật trong hệ thống hậu toàn trị trở thành mảnh đất chính nuôi dưỡng những ý tưởng chính trị độc lập, có thể được lựa chọn, thì tất cả những mối quan tâm đến bản chất và viễn cảnh của những ý tưởng đó nhất thiết phải coi khía cạnh đạo đức này như là một hiện tượng chính trị. (Và nếu niềm tin cách mạng Mác-xít cho rằng đạo đức là một sản phẩm của thượng tầng kiến trúc làm cho một số bạn bè của chúng ta không nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của khía cạnh này, và bằng cách này hay cách khác đã không đưa nó vào thế giới quan của họ, thì chính họ là người bị thiệt: Lòng trung thành với những định đề của thế giới quan đó ngăn cản, làm cho họ không có những hiểu biết đúng đắn về những cơ chế ảnh hưởng chính trị của họ, vì thế, mà ngược đời là nó lại làm cho họ, với tư cách là những người Mác-xít, trở thành cái mà họ thường luôn nghi ngờ những người khác: trở thành các nạn nhân của “nhận thức sai lầm”) Tầm quan trọng chính trị đặc biệt của đạo đức trong hệ thống hậu toàn trị là hiện tượng cực kì hiếm có trong lịch sử chính trị hiện đại, một hiện tượng rất có thể có những hậu quả sâu xa – như tôi cố gắng chỉ ra ngay sau đây.
X.
Hiến
chương 77 là sự kiện chính trị quan trọng nhất ở Tiệp Khắc sau khi Husák lên cầm
quyền vào năm1969, đấy là điều không thể phủ nhận được. Nhưng không khí tri thức
và tinh thần xung quanh sự xuất hiện của nó lại không phải là sản phẩm của bất
kì sự kiện chính trị trực tiếp nào. Bầu không khí ấy là do bởi phiên toà xử một
số nhạc sĩ trẻ có quan hệ với một nhóm nhạc rock gọi là “Những người bằng chất
dẻo của vũ trụ”. Phiên toà xét xử không phải là cuộc đối đầu của hai lực lượng
hay hai quan niệm chính trị khác nhau, mà là cuộc đối giữa hai quan niệm sống
khác nhau. Một bên là chủ nghĩa khổ hạnh đã bị tước hết sinh khí của quyền uy hậu
toàn trị, còn bên kia là những thanh niên vô danh, những người chỉ muốn được “sống
trong sự thật”, được chơi thứ nhạc mà họ thích, được hát những bài ca liên quan
tới cuộc sống của họ, và được sống tự do cùng với phẩm giá và tình bằng hữu. Những
thanh niên này không có quá khứ hoạt động chính trị. Họ không phải là những
thành viên tích cực, có tham vọng chính trị, của phe đối lập, họ cũng không phải
là những cựu chính khách bị gạt ra khỏi cơ cấu quyền lực. Họ có đủ cơ hội để
thích nghi với hiện trạng, để chấp nhận những nguyên tắc của sống trong dối trá
và hưởng thụ cuộc đời không bị chính quyền quấy nhiễu. Nhưng họ lại quyết định
đi theo hướng khác. Mặc dù vậy, hay chính xác hơn, chính vì thế mà phiên toà có
một tác động vô cùng đặc biệt đối với tất cả những người còn chưa từ bỏ hi vọng.
Hơn thế nữa, khi phiên toà diễn ra, một cảm xúc mới bắt đầu dâng lên sau nhiều
năm chờ đợi, sau nhiều năm lãnh đạm và nghi ngờ đối với mọi hình thức phản
kháng. Người ta đã “mệt mỏi vì mệt mỏi”, họ đã chán ngấy tình trạng tù đọng,
tình trạng bất động, chán ngấy cảnh chờ đợi với hi vọng rằng cuối cùng rồi mọi
thứ sẽ được cải thiện. Có thể nói phiên toà là giọt nước làm tràn li. Nhiều
nhóm thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, cho đến lúc đó vẫn biệt lập với nhau,
vẫn ngại hợp tác với nhau, hay những nhóm đã cam kết với những hình thức hành động
làm cho việc hợp tác trở thành khó khăn, bất ngờ nhận thức được rằng tự do là
không thể phân chia. Mọi người đều hiểu rằng tấn công hoạt động âm nhạc “chui” ở
Tiệp Khắc là tấn công vào một cái gì đó có tính chất nền tảng và quan trọng nhất,
tức là tấn công vào cái mà trên thực tế đã liên kết mọi người với nhau: nó là
cuộc tấn công vào chính khái niệm “sống trong sự thật”, tấn công vào mục đích
đích thực của đời sống. Tự do chơi nhạc rock được hiểu như là quyền tự do của
con người, và do đó cũng giống như là quyền tự do suy nghĩ về chính trị và triết
học, tự do viết lách, tự do thể hiện và bảo vệ những lợi ích chính trị và xã hội
khác nhau của xã hội. Mọi người đã cảm thấy ý nghĩa thực sự của tình đoàn kết với
những nhạc sĩ trẻ, và họ hiểu ra rằng không đứng lên bảo vệ tự do của người
khác – dù những phương tiện sáng tác hay thái độ sống của họ có cách xa mình đến
đâu – cũng có nghĩa là đánh mất quyền tự do của chính mình. (Không thể có tự do
nếu không có bình đẳng trước pháp luật, và không thể có bình đẳng trước pháp luật
nếu không có tự do; Hiến chương 77 đã cung cấp cho khái niệm lâu đời này một
nhân tố đặc trưng và mới, nhân tố này có ý nghĩa to lớn đối với lịch sử Tiệp Khắc
hiện đại. Căn đế của tất cả những sự khốn nạn về đạo đức và chính trị của chúng
ta hiện nay đã được ông Slábecek – tác giả cuốn Năm sáu mươi tám
(Sixty-eight) – trong một bài phân tích rất sáng suốt gọi là “nguyên tắc loại
trừ”. Nguyên tắc này ra đời vào cuối Thế chiến II trong một vụ câu kết lạ lùng
giữa những người cộng sản và những người dân chủ, và sau đó tiếp tục phát triển
mãi lên cho đến khi đạt đến cái kết cục cay đắng hiện nay. Trong suốt mấy thập
kỉ, đây là lần đầu tiên nguyên tắc này đã bị Hiến chương 77 hạ gục: Đây là lần
đầu tiên, tất cả những người tập hợp dưới ngọn cờ của Hiến chương 77 đều là những
đối tác ngang hàng. Hiến chương 77 không chỉ đơn thuần là một liên minh của những
người cộng sản và không cộng sản – đấy không phải là mới về mặt lịch sử và nếu
xét từ góc độ đạo đức và chính trị thì không có gì là cách mạng hết – đấy là một
cộng đồng mà ngay từ đầu (a priori) đã là cộng đồng mở cho tất cả mọi
người, và không ai bị coi là thua kém ngay từ đầu. Hiến chương 77 hình thành
trong bầu không khí như thế. Ai có thể ngờ được rằng buộc tội một hai nhóm nhạc
rock vô danh lại có những hậu quả sâu xa đến như thế?
Tôi
cho rằng nguồn gốc của Hiến chương 77 minh họa rất rõ điều tôi đã đề xuất ở
trên: Trong hệ thống hậu toàn trị, bối cảnh thực sự cho các phong trào đang dần
dần giành được ý nghĩa chính trị thường không phải là những sự kiện chính trị nổi
bật hoặc những cuộc đối đầu giữa các lực lượng hay quan điểm mang tính chính trị
một cách công khai. Những phong trào này chủ yếu bắt nguồn từ một chỗ khác, bắt
nguồn trong lãnh địa của tiền-chính trị rộng lớn hơn rất nhiều, đấy là nơi mà
“sống trong dối trá” đối đầu với “sống trong sự thật”, tức là, bắt nguồn ở nơi
mà đòi hỏi của hệ thống hậu toàn trị mâu thuẫn với mục đích đích thực của đời sống.
Tự nhiên là những mục đích này có thể xuất hiện dưới rất nhiều hình thức khác
nhau. Có lúc đấy là những quan tâm về mặt vật chất hoặc xã hội của một nhóm người
hay một cá nhân; lúc khác, đấy có thể là những mối quan tâm về mặt trí tuệ hay
tinh thần; rồi có lúc, đấy có thể là những đòi hỏi hiện sinh cơ bản nhất, thí dụ
như ước muốn đơn giản của con người là được tôn trọng. Cuộc xung đột này có
tính chất chính trị không phải vì bản chất chính trị sơ đẳng của những mục tiêu
đòi hỏi người ta phải lắng nghe, mà đơn giản là: Chế độ hậu toàn trị được xây dựng
trên và phụ thuộc vào một hệ thống thao túng phức tạp, vì vậy mà bất kì hành vi
hay biểu hiện tự do nào của con người, bất kì cố gắng sống trong sự thật nào
cũng là mối đe dọa đối với hệ thống, và vì thế mà rất có ý nghĩa chính trị. Biểu
hiện chính trị của những phong trào lớn lên trên nền đất tiền-chính trị ấy chỉ
là hiệu ứng phụ. Nó là kết quả của cuộc đối đầu tiếp theo với hệ thống, chứ
không phải ngay từ đầu đấy đã là một cương lĩnh, một dự án hay xung lực chính
trị.
Những
sự kiện năm 1968 một lần nữa khẳng định điều đó. Những chính trị gia cộng sản
muốn cải cách hệ thống đã đưa ra cương lĩnh cải cách không phải vì đột nhiên họ
được giác ngộ một cách bí ẩn, mà bởi vì họ bị ép buộc phải làm như vậy do những
sức ép liên tục và ngày càng tăng từ nhiều lĩnh vực của đời sống không hề liên
quan gì với chính trị theo nghĩa truyền thống của từ này. Trên thực tế, họ đã cố
gắng sử dụng những biện pháp chính trị để giải quyết những xung đột xã hội (mà
trên thực tế là xung đột giữa những mục tiêu của hệ thống và những mục tiêu của
đời sống) đang hàng ngày diễn ra hầu như trên mọi bình diện của xã hội, và đã
được người ta nghĩ tới trong suốt nhiều năm với sự cởi mở đang ngày càng gia
tăng. Được sự cộng hưởng sống động của cả xã hội hậu thuẫn, các học giả và nghệ
sĩ đã xác định vấn đề theo vô vàn cách và sinh viên thì đòi hỏi giải pháp.
Sự
ra đời của Hiến chương 77 cũng cho thấy ý nghĩa chính trị đặc biệt của khía cạnh
đạo đức của những vấn đề mà tôi vừa đề cập. Không thể tưởng tượng được Hiến
chương 77 mà không có tình đoàn kết giữa các nhóm rất khác nhau, và mọi người
không bất ngờ nhận ra rằng không thể chờ đợi thêm được nữa, phải cùng nhau nói
ra sự thật, mặc dù chắc chắn sẽ bị trừng phạt, còn kết quả trong tương lai gần
thì hoàn toàn không lấy gì làm chắc chắn. “Có cái gì đó đáng để hi sinh”, Jan
Patočka đã viết như thế trước khi chết[1].
Tôi cho rằng những người tham gia phong trào Hiến chương hiểu đây không chỉ là
di sản của Patočka, mà còn là lời giải thích tốt nhất vì sao họ lại làm những
việc như thế.
Nhìn từ bên ngoài và từ góc nhìn của hệ thống và cơ cấu quyền lực của nó thì Hiến chương 77 là tiếng sét giữa trời quang. Dĩ nhiên là nó không phải là tiếng sét giữa trời quang, nhưng có thể hiểu được ấn tượng ấy, bởi vì quá trình lên men đưa tới sự ra đời của Hiến chương đã diễn ra trong khu vực bị che giấu, trong vùng tranh tối tranh sáng, khó phân biệt và khó xem xét kỹ được các sự vật. Khả năng dự báo sự xuất hiện của Hiến chương 77 cũng mỏng manh như khả năng dự đoán, vào lúc này, hướng đi của nó vậy. Nó quả là một cú sốc, một cú sốc rất điển hình cho những thời khắc khi mà một cái gì đó từ khu vực bị che khuất bất ngờ xuyên thủng bề mặt tù hãm của sống trong dối trá. Người càng bị mắc bẫy trong thế giới của ảo tưởng thì càng bị bất ngờ khi xảy ra một cái gì đó tương tự như thế.
XI.
Trong
các xã hội thuộc hệ thống hậu toàn trị, mọi hoạt động chính trị theo nghĩa truyền
thống đều đã bị xoá sổ. Con người không có cơ hội thể hiện quan điểm chính trị
của mình ở chỗ công cộng chứ đừng nói đến hình thành tổ chức chính trị. Khoảng
trống được nghi thức mang tính ý thức hệ choán chỗ. Trong hoàn cảnh như vậy, mối
quan tâm của con người về các vấn đề chính trị tự nhiên teo lại và tư tưởng
chính trị độc lập, nếu có chăng nữa, cũng bị số đông coi là không hiện thực, viển
vông, coi là một thú chơi, cách xa những lo lắng hàng ngày của họ; một cái gì
đó đáng tôn trọng, có thể như thế, nhưng vô bổ, bởi vì một mặt, nó là chuyện
hoàn toàn không tưởng, mặt khác, quá nguy hiểm, nếu xét đến sự tàn bạo của những
biện pháp mà chế độ áp dụng đối với bất kì sự vận động nào theo hướng này.
Nhưng ngay cả trong những
xã hội như thế, vẫn tồn tại các cá nhân và các nhóm, những người không từ bỏ
chính trị vì đấy là thiên chức của họ, và những người, bằng cách này hay cách
khác, vẫn cố gắng tư duy một cách độc lập, nhằm thể hiện mình, và trong một số
trường hợp thậm chí còn hình thành tổ chức chính trị, bởi vì đó là một phần
trong nỗ lực sống trong sự thật của họ.
Những
người như thế vẫn tồn tại và làm việc đã là chuyện vô cùng quan trọng và rất có
giá trị rồi. Thậm chí trong những thời điểm tồi tệ nhất, họ vẫn duy trì sự liên
tục của tư duy chính trị. Nếu một xung lực chính trị thực sự nào đó xuất hiện từ
những xung đột tiền-chính trị và được liên kết với nhau một cách đúng đắn và kịp
thời – vì thế mà làm tăng cơ hội thành công – thì đấy thường là do công lao của
những vị tướng không có quân, những vị tướng đơn độc này. Bởi vì họ đã giữ được
tính liên tục của tư duy chính trị trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, họ có
thể cung cấp cho xung lực mới này thành quả tư duy chính trị của họ ngay khi cần.
Một lần nữa, lại có những thí dụ phong phú cho tiến trình này ở Tiệp Khắc. Hầu
như tất cả những người từng là tù chính trị hồi đầu những năm 1970 – những người
tưởng như bị hành hạ một cách vô ích vì những hoạt động chính trị Đông-ki-sốt của
họ bên cạnh một xã hội đã hoàn toàn vô cảm và suy đồi đạo đức – chính là những
người tham gia phong trào Hiến chương năng nổ nhất. Trong Hiến chương 77, di sản
đạo đức của những hi sinh trước đây của họ được đánh giá cao, và họ đã cung cấp
cho phong trào kinh nghiệm và tư tưởng chính trị của mình.
Nhưng,
tôi có cảm giác là tư duy và hành động của những người bạn đó của chúng ta – tức
là những người không bao giờ từ bỏ sự nghiệp chính trị trực tiếp, và luôn luôn
sẵn sàng gánh vác trách nhiệm chính trị trực tiếp – rất hay mắc phải một sai lầm
kinh niên: hiểu biết không đầy đủ về đặc thù mang tính lịch sử của hệ thống hậu
toàn trị như là một thực tế chính trị và xã hội. Họ hiểu rất ít bản chất đặc
thù của quyền lực tiêu biểu cho hệ thống này, và vì thế họ đánh giá quá cao tầm
quan trọng của hoạt động chính trị trực tiếp theo nghĩa truyền thống. Hơn nữa,
họ không đánh giá được ý nghĩa chính trị của các sự kiện và quá trình “tiền-chính
trị” đã cung cấp dưỡng chất làm bùng lên những thay đổi chính trị thực sự. Với
tư cách là những nhà hoạt động chính trị – hay, đúng hơn, như những người có
tham vọng chính trị – họ thường cố gắng bắt đầu ở nơi mà đời sống chính trị tự
nhiên đã ngừng lại. Họ vẫn giữ những cách hoạt động có thể đã từng phù hợp với
những hoàn cảnh chính trị bình thường hơn, và do đó, vì không biết, họ đem những
lối suy nghĩ lạc hậu, đem những thói quen, những khái niệm, những phạm trù và
quan niệm cũ áp đặt vào những hoàn cảnh rất mới và khác biệt hoàn toàn, mà không
suy nghĩ thấu đáo về ý nghĩa và bản chất của những cái đó trong môi trường mới,
không suy nghĩ thấu đáo về ý nghĩa của chính trị trong giai đoạn hiện nay,
không suy nghĩ thấu đáo về những sự kiện có ảnh hưởng và có tiềm năng chính trị,
và nếu có thì theo cách nào. Vì những người như thế đã bị loại ra khỏi những cơ
cấu của quyền lực và không còn khả năng ảnh hưởng lên những cơ cấu đó một cách
trực tiếp (và vì họ vẫn trung thành với những khái niệm truyền thống về chính
trị, được xác lập ở những xã hội tương đối dân chủ hay trong các chế độ chuyên
chính truyền thống), họ – theo một nghĩa nào đó – thường xuyên mất liên hệ với
hiện thực. Tại sao phải thỏa hiệp với thực tiễn, họ nói, khi mà tất cả những đề
nghị của chúng ta sẽ chẳng bao giờ được chấp nhận? Thế là, họ thấy mình đã rơi
vào thế giới của tư duy không tưởng.
Nhưng,
như tôi đã cố gắng chỉ ra, những sự kiện chính trị có tầm ảnh hưởng rộng rãi thực
sự trong hệ thống hậu toàn trị không xuất phát từ những nguồn gốc và theo những
cách giống như ở các nền dân chủ. Và nếu như đa phần dân chúng thờ ơ, thậm chí
nghi ngờ những mô hình và chương trình chính trị thay thế, nghi ngờ cả các
chính đảng đối lập, thì đó không chỉ là vì người ta bàng quan với những vấn đề
công cộng và không còn nghĩ đến những trách nhiệm cao cả hơn, nói cách khác, nó
không chỉ là hậu quả của quá trình suy đồi đạo đức. Thái độ đó còn là một phần
bản năng xã hội lành mạnh nữa. Dường như quần chúng đã nhận thức được bằng trực
giác rằng “mọi thứ dường như đã không còn như cũ nữa”, và vì vậy mà từ nay trở
đi phải làm theo cách khác.
Nếu
một vài đợt bùng phát chính trị quan trọng nhất trong các nước thuộc khối Xô Viết
trong những năm gần đây đã xuất phát – trước khi gây ra những cộng hưởng trên
bình diện sức mạnh thực tế – chủ yếu là từ các nhà toán học, triết học, vật lí
học, nhà văn, nhà sử học, những người công nhân bình thường, v.v chứ không phải
từ các chính trị gia; và nếu động lực đằng sau vô số những phong trào bất đồng
chính kiến này đều xuất phát từ rất nhiều người làm việc trong những nghề “phi
chính trị”, thì không phải vì những người này thông minh hơn những người tự coi
mình là chính trị gia. Đó là vì những người này – vì không phải là chính trị
gia – nên không bị trói buộc quá chặt vào tư duy chính trị và thói quen chính
trị truyền thống, và vì thế mới xảy ra hiện tượng trái khoáy là họ nhận thức rõ
hơn hiện thực chính trị, và nhạy cảm hơn về những việc có thể và cần phải.
Không
thể tránh được: Dù mô hình chính trị thay thế có đẹp đẽ đến đâu, nó cũng không
thể nói đối thoại được với “không gian bị che giấu”, không động viên được quần
chúng và xã hội, không khuấy động được hoạt động chính trị. Không gian thực sự
của phong trào chính trị tiềm tàng trong hệ thống hậu toàn trị nằm ở chỗ khác: ở
những căng thẳng thường xuyên và nghiệt ngã giữa những đòi hỏi phức tạp của hệ
thống và những mục tiêu của cuộc sống, tức là, những nhu cầu căn bản của con
người đòi được sống – ít nhất là ở mức độ nào đó – hòa hợp với chính họ, tức
là, sống theo cách có thể chịu đựng được, không bị các quan chức và cấp trên
xúc phạm, không phải bị cảnh sát thường xuyên theo dõi, có thể tự do bộc lộ bản
thân, có thể tìm được không gian cho sáng tạo, an toàn về mặt pháp luật, v.v. Bất
kì cái gì động chạm đến lĩnh này một cách cụ thể, bất kì cái gì liên quan đến
tình trạng căng thẳng cơ bản và phổ biến này chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới quần
chúng. Những dự án trừu tượng về trật tự lí tưởng trong lĩnh vực kinh tế và
chính trị sẽ không làm họ quan tâm đến như thế, và đúng vậy – nhưng đấy không
chỉ là vì tất cả đều biết chẳng có mấy cơ hội thành công, mà còn vì ngày nay,
con người cảm thấy rằng các chính sách chính trị mà càng ít bắt nguồn từ cái “ở
đây và bây giờ”, rất con người và rất cụ thể, và nếu chúng càng tập trung vào một
“ngày nào đó” trừu tượng, thì họ càng dễ bị thoái hóa thành những dạng nô lệ mới.
Người dân sống trong hệ thống hậu toàn trị hiểu rất rõ rằng câu hỏi liệu một
hay nhiều chính đảng cầm quyền, và các đảng này sẽ định nghĩa và gọi mình như
thế nào không quan trọng bằng vấn đề là liệu họ có được sống như những con người
hay không.
Trút
bỏ gánh nặng của những thói quen và tiêu chí chính trị truyền thống và mở hết
mình ra với thế giới hiện sinh của con người, và chỉ sau khi đã phân tích nó mới
đưa ra kết luận chính trị: Đấy không chỉ hiện thực hơn về mặt chính trị mà đồng
thời, từ quan điểm của “tình trạng lí tưởng”, cũng hứa hẹn hơn về mặt chính trị
nữa. Một sự thay đổi thực sự, sâu sắc và lâu dài theo hướng tốt lên – như tôi sẽ
cố gắng chứng minh – không còn có thể bắt nguồn từ những chiến thắng (nếu những
chiến thắng ấy là khả thi) của bất kì quan niệm chính trị truyền thống cụ thể
nào, tức là, một quan niệm có tính cấu trúc hay hệ thống – đấy rốt cuộc vẫn chỉ
là ngoại sinh. Hơn bao giờ hết, sự thay đổi như thế sẽ phải bắt nguồn từ cuộc
hiện sinh của con người, từ việc sắp xếp lại một cách căn bản vị trí của con
người trong thế giới, sắp xếp lại mối quan hệ của họ với bản thân và giữa họ với
nhau, và với vũ trụ nữa. Nếu có thể tạo ra được một mô hình kinh tế và chính trị
tốt đẹp hơn thì có lẽ hơn bao giờ hết nó phải xuất phát từ những thay đổi đạo đức
và hiện sinh sâu sắc trong xã hội. Không thể thiết kế và giới thiệu nó như thể
thiết kế và giới thiệu một cái ô tô mới. Nếu không muốn nó trở thành biến tướng
của sự suy đồi xưa cũ thì trước hết nó phải là biểu hiện của cuộc sống ngay
trong quá trình chuyển hóa của chính nó. Hệ thống tốt hơn không tự động bảo đảm
cho người ta một cuộc sống tốt đẹp hơn. Trên thực tế, ngược lại mới đúng: Phải
tạo ra một cuộc sống tốt đẹp hơn thì một hệ thống tốt đẹp hơn mới có thể phát
triển được.
Xin
nhắc lại một lần nữa rằng tôi không đánh giá thấp tầm quan trọng của tư duy
chính trị và những tác phẩm viết về khái niệm chính trị. Ngược lại, tôi cho rằng
chúng ta vẫn chưa có tư duy chính trị thực sự và cũng chưa có những tác phẩm viết
về chính trị theo đúng nghĩa của nó. Nhưng, khi nói “thực sự” là tôi đang nghĩ
về cách tư duy và tác phẩm mang tính khái niệm đã được giải thoát khỏi tất cả
những sơ đồ chính trị truyền thống, được nhập khẩu, từ cái thế giới sẽ không
bao giờ quay trở lại nữa (nếu trở lại thì nó cũng không cung cấp được giải pháp
lâu dài cho những vấn đề quan trọng nhất), vào hoàn cảnh của chúng ta.
Đệ nhị và đệ tứ quốc tế, cũng như bao nhiêu tổ chức và quyền lực chính trị khác, đương nhiên là có thể giúp đỡ đáng kể cho những cố gắng khác nhau của chúng ta, nhưng không tổ chức nào có thể giải quyết những vấn đề của chúng ta thay cho chúng ta. Những tổ chức đó vận hành trong một thế giới khác, và là sản phẩm của những môi trường khác. Những khái niệm mang tính lý thuyết của họ có thể là thú vị và có tính gợi ý đối với chúng ta, nhưng chắc chắn là: Chúng ta không thể giải quyết những vấn đề của mình bằng cách đồng nhất mình với những tổ chức này. Và cố gắng nhằm đưa những việc chúng ta đang làm vào bối cảnh của những cuộc thảo luận đang giữ thế thượng phong trong các xã hội dân chủ dường như là việc làm vô cùng ngu dốt. Thí dụ, liệu có thể nói chuyện một cách nghiêm túc về việc chúng ta cần thay đổi hệ thống hay là chỉ cải cách nó? Trong những hoàn cảnh của chúng ta, đây là vấn đề giả tạo, bởi vì trong thời buổi hiện nay chúng ta không thể thực hiện được bất kì mục tiêu nào như thế hết. Chúng ta thậm chí còn chưa rõ cải cách sẽ chấm dứt ở đâu còn thay đổi thì bắt đầu từ chỗ nào. Từ những kinh nghiệm đau đớn, chúng ta biết rõ rằng cải cách hay thay đổi, tự thân nó đều chẳng bảo đảm được bất cứ điều gì. Chúng ta biết rằng cuối cùng thì đối với chúng ta, hệ thống mà chúng ta đang sống có thay đổi hay cải cách – dưới ánh sáng của một học thuyết nào đó – cũng chẳng khác gì nhau. Mối bận tâm của chúng ta là liệu ta có thể sống với phẩm giá trong hệ thống đó hay không, liệu nó có phục vụ con người chứ không bắt con người phải phục vụ nó hay không. Chúng ta đang đấu tranh để giành lấy điều này bằng những phương tiện sẵn có, và bằng những phương tiện đáng được sử dụng. Các nhà báo phương Tây, chìm đắm trong những câu chuyện tầm phào về chính trị của xã hội của họ, có thể bảo rằng cách tiếp cận của chúng ta là tuân thủ pháp luật một cách quá mức, hay quá mạo hiểm, xét lại, phản cách mạng, tư sản, cộng sản hay quá tả hoặc quá hữu. Nhưng đấy không phải là điều chúng ta quan tâm.
XII.
Trong
các xã hội dân chủ với hệ thống nghị viện truyền thống, đối lập chính trị được
hiểu như là một lực lượng chính trị trên bình diện quyền lực thực sự (thường là
một chính đảng hoặc liên minh các đảng phái) mà không phải là một phần của
chính phủ. Nó cung cấp cho người dân một cương lĩnh chính trị để họ lựa chọn,
nó có tham vọng chấp chính, và nó được chính phủ đang cầm quyền thừa nhận và
tôn trọng như là một thành tố tự nhiên của đời sống chính trị của đất nước. Nó
tìm cách mở rộng ảnh hưởng bằng những biện pháp chính trị, và nó cạnh tranh nhằm
giành quyền lực trên cơ sở những qui định pháp luật đã được thừa nhận.
Bên
cạnh hình thức đối lập này, còn có hiện tượng “đối lập ngoài nghị viện”, đấy
cũng lại là những lực lượng có tổ chức – chặt chẽ hoặc lỏng lẻo khác nhau –
trên bình diện quyền lực thực sự, nhưng vận hành bên ngoài những qui định do hệ
thống tạo ra, và sử dụng những biện pháp khác với những biện pháp thường được sử
dụng trong khuôn khổ của hệ thống nghị viện.
Trong
các chế độ chuyên chính cổ điển, khái niệm “đối lập” được dùng để chỉ những lực
lượng chính trị có cương lĩnh chính trị để cho người ta lựa chọn. Họ hoạt động
hoặc hợp pháp hoặc bên ngoài các giới hạn của tính hợp pháp, nhưng không bao giờ
có thể cạnh tranh để giành quyền lực trong khuôn khổ của những qui tắc được thỏa
thuận từ trước. Thuật ngữ “đối lập” cũng có thể được áp dụng cho những lực lượng
đang chuẩn bị cho một cuộc đối đầu bằng bạo lực với chính quyền cai trị, hoặc
áp dụng cho những người tự cảm thấy đã ở trong tình trạng đối đối đầu như thế,
thí dụ như các nhóm du kích hoặc các phong trào giải phóng.
Đối
lập trong hệ thống hậu toàn trị không tồn tại theo những cách hiểu bên trên. Vậy,
thuật ngữ này có thể được dùng theo nghĩa nào?
1.
Đôi khi thuật ngữ “đối lập” được dùng – chủ yếu là bởi các nhà báo phương Tây –
để chỉ những người hay những nhóm nằm trong cơ cấu quyền lực nhưng lại cho rằng
mình đang xung đột ngấm ngầm với những cơ quan quyền lực cao nhất. Nguyên nhân
của cuộc xung đột này có thể là cách hiểu khác nhau (dĩ nhiên là không quá khác
nhau) về bản chất của khái niệm, nhưng thường thì chỉ là khao khát quyền lực hoặc
là ác cảm cá nhân đối với những người đang nắm quyền mà thôi.
2.
Đối lập ở đây cũng có thể được hiểu là bất kì thứ gì có hoặc có thể có ảnh hưởng
chính trị gián tiếp theo nghĩa đã nói bên trên, tức là bất kì cái gì mà hệ thống
hậu toàn trị cảm thấy là mối đe dọa, và trên thực tế có nghĩa là tất cả những
gì đe dọa hệ thống. Theo nghĩa này, đối lập là mọi cố gắng sống trong sự thật,
từ việc người bán rau quả không chịu đặt khẩu hiệu trên cửa sổ cho đến một bài
thơ viết một cách tự do; nói cách khác, đấy là tất cả những thứ, trong đó mục
đích của cuộc sống vượt ra ngoài những giới hạn của mục đích mà hệ thống áp đặt.
3.
Nhưng, thường thì đối lập vẫn được hiểu – lại vẫn chủ yếu là bởi các nhà báo
phương Tây – là những nhóm người công khai bày tỏ thái độ bất phục tùng và quan
điểm phê phán, những người không hề giấu giếm những suy nghĩ độc lập của mình,
và là những người – nhiều ít khác nhau – tự coi mình là lực lượng chính trị.
Theo nghĩa này, khái niệm đối lập ít nhiều trùng với khái niệm bất đồng chính
kiến, mặc dù dĩ nhiên là giữa những người được người ta liệt kê vào nhóm này
cũng có những khác biệt rất lớn, tất cả phụ thuộc vào việc họ chấp nhận hay bác
bỏ tên gọi như thế. Nó phụ thuộc không chỉ vào việc những người này có coi mình
là một lực lượng chính trị trực tiếp hay không, và liệu họ có tham vọng tham
gia vào quyền lực thực sự hay không, mà còn phụ thuộc vào cách từng người trong
số họ hiểu khái “đối lập” là như thế nào.
Một
lần nữa, xin nêu một thí dụ: Trong tuyên bố ban đầu, Hiến chương 77 nhấn mạnh rằng
nó không phải là đối lập vì nó không có ý định trình bày một cương lĩnh chính
trị thay thế. Nó nhìn nhận sứ mệnh của mình là hoàn toàn khác, vì nó đã không
trình bày những cương lĩnh như thế. Trên thực tế, nếu việc trình bày một cương
lĩnh thay thế được coi là bản chất của đối lập trong các nhà nước hậu toàn trị
thì không thể coi Hiến chương là đối lập được.
Nhưng
chính phủ Tiệp Khắc lại coi Hiến chương 77 như là một tổ chức đối lập công
nhiên ngay từ đầu, và đã đối xử với nó theo cách ấy. Điều này có nghĩa là nhà
nước – và dĩ nhiên là như thế – hiểu từ thuật ngữ “đối lập” ít nhiều giống với
định nghĩa ở điểm 2, tức là, như là tất cả những cố gắng nhằm thoát khỏi sự
thao túng một cách toàn diện và vì thế mà phủ nhận nguyên tắc cho rằng hệ thống
có quyền sở hữu tuyệt đối các cá nhân.
Nếu
ta chấp nhận định nghĩa đó về đối lập thì tất nhiên chúng ta phải, cùng với nhà
nước, coi Hiến chương là đối lập thực sự, bởi vì nó đại diện cho một thách thức
nghiêm trọng đối với sự toàn vẹn của quyền lực hậu toàn trị, tức là quyền được
xây dựng trên “sống trong dối trá” như ta đang thấy hiện nay.
Nhưng
nếu chúng ta xem xét những người hoạt động trong phong trào Hiến chương 77, xem
họ là những người đối lập đến mức độ nào thì vấn đề sẽ khác. Tôi có ấn tượng là
đa số họ hiểu thuật ngữ “đối lập” theo nghĩa truyền thống của từ này, bởi vì
thuật ngữ đó có xuất xứ từ các xã hội dân chủ (hay trong các chế độ chuyên
chính cổ điển). Vì thế, họ cho rằng đối lập – thậm chí cả ở Tiệp Khắc nữa – là
lực lượng được định danh về mặt chính trị, mặc dù nó không hoạt động trên bình
diện quyền lực thực sự, và thậm chí trong khuôn khổ của các qui tắc được nhà nước
tôn trọng nó còn hiện diện ít hơn nữa, nó vẫn không từ bỏ cơ hội tham gia quyền
lực thực sự, bởi vì nó có một cương lĩnh chính trị thay thế, theo một nghĩa nào
đó, và những người đưa ra cương lĩnh này sẵn sàng chịu trách nhiệm chính trị trực
tiếp cho việc tham gia như thế. Với cách hiểu như thế về đối lập, thì một số –
tuyệt đại đa số – những người hoạt động trong phong trào Hiến chương không coi
họ là đối lập. Một số khác – thiểu số – thì có, mặc dù họ hoàn toàn tôn trọng
việc Hiến chương 77 không dành chỗ cho những hoạt động “đối lập” theo nghĩa
này. Đồng thời, có thể mỗi người tham gia phong trào Hiến chương đều biết rõ bản
chất đặc thù của hệ thống hậu toàn trị cho nên họ nhận thức rõ rằng không chỉ
cuộc đấu tranh cho quyền con người mới có sức mạnh chính trị, mà còn cả những
hoạt động “vô hại” hơn rất nhiều cũng có sức mạnh đó, và vì vậy có thể coi đấy
là khía cạnh của đối lập. Không có người tham gia phong trào Hiến chương nào có
thể phản đối việc coi họ là đối lập theo nghĩa này.
Nhưng,
một tình huống nữa, làm cho vấn đề còn phức tạp hơn. Đấy là, trong nhiều thập kỉ,
lực lượng cai trị xã hội trong các nước thuộc khối Xô Viết đã dùng nhãn hiệu “đối
lập” như là lời buộc tội ghê gớm nhất, đồng nghĩa với từ “kẻ thù”. Dán cho ai
đó cái nhãn “phần tử thuộc phe đối lập” cũng ngang với việc nói rằng anh ta
đang cố gắng lật đổ chính quyền và tiêu diệt chủ nghĩa xã hội (tất nhiên được bọn
đế quốc trả tiền). Có thời cái nhãn đó đưa người ta thẳng tới giá treo cổ, và tất
nhiên, vì thế mà chẳng ai muốn dán lên mình cái nhãn ấy. Hơn nữa, đấy chỉ là một
từ, và việc làm bao giờ cũng quan trọng hơn là nhãn mác.
Lí
do do cuối cùng làm cho nhiều người bác bỏ thuật ngữ đó vì khái niệm “đối lập”
hàm chứa một cái gì đó có tính chất tiêu cực. Những người tự coi mình là đối lập
nghĩa là chống đối một quan điểm nào đó. Nói cách khác, họ đặt mình trong mối
quan hệ đặc biệt với quyền lực đang cai trị xã hội, và qua đó mà định nghĩa
mình, rút ra quan điểm của mình từ quan điểm của chính quyền. Những người chỉ
đơn giản là quyết định sống trong sự thật, nói mà không cần nhìn ngang nhìn ngửa,
tỏ lòng đoàn kết với đồng bào của mình, sáng tạo theo ý mình, và chỉ đơn giản
là sống hòa hợp với cái Tôi tốt đẹp nhất của mình, dĩ nhiên là sẽ cảm thấy khó
chịu khi phải coi quan điểm độc đáo và có tính tích cực của mình là tiêu cực,
theo một nghĩa nào đó và coi mình là đang chống lại một cái gì đó chứ không đơn
giản là những người như họ vốn là.
Rõ
ràng là chỉ có một cách duy nhất để tránh hiểu nhầm là nói rõ – trước khi người
ta sử dụng – các thuật ngữ “đối lập” và “thành viên thuộc phe đối lập” đang được
sử dụng có nghĩa là gì và trong hoàn cảnh của chúng ta, chúng thực sự có nghĩa
là gì.
XIII.
Nếu
thuật ngữ “đối lập” đã được du nhập từ các xã hội dân chủ vào hệ thống hậu toàn
trị mà thiếu sự thống nhất về việc từ này có nghĩa là gì trong những hoàn cảnh
vốn rất khác nhau, thì ngược lại, thuật ngữ “bất đồng chính kiến” lại được các
nhà báo phương Tây chọn và bây giờ được nhiều người coi là nhãn mác cho một hiện
tượng đặc trưng cho hệ thống hậu toàn trị và không bao giờ xảy ra nhất ít nhất
là không ở trong hình thức như thế – trong các xã hội dân chủ.
Những
“người bất đồng chính kiến” này là ai?
Dường
như thuật ngữ này được áp dụng chủ yếu cho công dân các nước thuộc khối Xô Viết,
những người đã quyết định sống trong sự thật và thêm vào đó, đáp ứng được những
tiêu chí sau đây:
1.
Họ thể hiện quan điểm bất phục tùng và ý kiến phê phán một cách công khai và có
hệ thống, trong những giới hạn rất nghiêm ngặt dành cho họ và vì vậy mà họ được
phương Tây biết tới.
2.
Mặc dù không được xuất bản ở trong nước và mặc dù bị chính quyền ngược đãi bằng
đủ mọi cách, nhờ thái độ của mình, họ vẫn giành được sự kính trọng nhất định, cả
từ phía công chúng lẫn từ phía chính quyền, và do đó mà họ thực sự có – dù mức
độ rất hạn chế và thậm chí là lạ lùng nữa – quyền lực gián tiếp trong môi trường
của mình. Quyền lực đó đã bảo vệ họ khỏi những hình thức ngược đãi tồi tệ nhất,
hoặc ít nhất cũng đảm bảo rằng nếu họ bị ngược đãi thì chính quyền sẽ gặp một số
rắc rối chính trị nhất định.
3.
Phạm vi phê phán và những cam kết của họ đã vượt ra ngoài khung cảnh chật hẹp của
môi trường xung quanh họ hay vượt ra ngoài những lợi ích đặc thù, nó bao trùm
lên những chủ đề thảo luận có tính bao quát hơn; và do đó, về thực chất là có
tính chính trị mặc dù mỗi người lại tự coi mình như một lực lượng chính trị ở
những mức độ rất khác nhau.
4.
Họ là những người nghiêng về việc tìm kiếm tri thức, có nghĩa là, họ là những
người “cầm bút”, những người mà ngôn từ được viết ra là phương tiện trực tiếp –
và thường là phương tiện duy nhất họ có thể điều khiển được, và nhờ thế mà họ có
được sự chú ý, đặc biệt là từ nước ngoài. Những cách sống trong sự thật khác
thì hoặc là không được các nhà quan sát nước ngoài chú ý tới vì nằm trong môi
trường địa phương khó nắm bắt – đấy là nói nếu chúng vượt qua được khuôn khổ địa
phương – hoặc chỉ là thành tố bổ sung cho những điều mà họ đã viết ra mà thôi.
5.
Dù nghề nghiệp của họ có là gì thì những người này cũng đã được nói tới ở
phương Tây, chủ yếu là vì những hoạt động của họ trong vai trò những công dân tận
tụy hay khía cạnh chính trị, khía cạnh phê phán trong các tác phẩm của họ chứ
không phải là vì những công trình họ làm trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình. Từ
kinh nghiệm cá nhân, tôi biết rằng có một lằn ranh vô hình mà nếu bạn vượt qua
– mà thậm chí dù không muốn hay không nhận ra – thì họ sẽ không còn coi bạn như
là người cầm bút vô tình trở thành một người công dân có quan tâm tới thời cuộc
mà sẽ bắt đầu nói về bạn như là một “người bất đồng chính kiến” tình cờ cũng
thích viết kịch (có thể là trong lúc trà dư tửu hậu?).
Không
nghi ngờ gì rằng có những người đạt được tất cả những tiêu chí này. Điều cần thảo
luận là liệu chúng ta có nên dùng một thuật ngữ riêng cho một nhóm được định
nghĩa một cách tình cờ như vậy không, và đặc biệt là có nên gọi họ là những
“người bất đồng chính kiến” hay không. Nhưng, rõ ràng là, ta chẳng thể làm gì
khác được. Đôi khi để dễ nói chuyện, thậm chí tự bản thân chúng ta cũng dùng
cái nhãn này, mặc dù không ưa, khá hài hước và hầu như lúc nào cũng để trong
ngoặc kép nữa.
Có
lẽ đã đến lúc liệt kê một vài lí do vì sao chính những “người bất đồng chính kiến”
lại không thích bị gọi như vậy. Trước hết, cách gọi này có vấn đề về mặt từ
nguyên. “Người bất đồng chính kiến”, như báo chí chúng ta vẫn nói, cũng tương tự
“kẻ phản bội” hay “tái phạm” vậy. Nhưng những người bất đồng chính kiến không
coi họ là phản bội, vì một lẽ đơn giản là họ chẳng phủ định hay bác bỏ bất cứ
điều gì. Ngược lại, họ đã và đang cố gắng khẳng định bản sắc nhân văn của chính
họ, và nếu họ có bác bỏ cái gì đó, thì đó chỉ là những thứ sai lầm và vong thân
trong cuộc đời họ, tức là bác bỏ khía cạnh của “sống trong dối trá” mà thôi.
Nhưng
đấy không phải là điều quan trọng nhất. Thuật ngữ “người bất đồng chính kiến”
thường ám chỉ một nghề đặc biệt, như thể, cùng với những nghề bình thường hơn,
có một nghề đặc biệt nữa là cằn nhằn về tình trạng của đời sống. Trên thực tế,
một “người bất đồng chính kiến” chỉ đơn giản là một nhà vật lí học, nhà xã hội
học, một người công nhân hay một nhà thơ, là những cá nhân đang làm những việc
mà họ cảm thấy là cần phải làm, và vì thế, họ thấy mình xung đột công khai với
chế độ. Về phần họ, cuộc xung đột này không xuất phát từ bất cứ mục đích hữu thức
nào, mà xuất phát từ logic nội tại của tư tưởng, hành vi hay tác phẩm của họ
(thường là xung đột với ngoại cảnh, nằm ngoài tầm kiểm soát của họ). Nói cách
khác, họ không cố tình trở một người bất mãn chuyên nghiệp, như người ta quyết
định trở thành chị thợ may hay anh thợ rèn.
Trên
thực tế, dĩ nhiên là họ thường không biết mình là những “người bất đồng chính
kiến” cho đến khi họ thực sự trở thành một người như thế. “Người bất đồng chính
kiến” xuất phát từ những động cơ khác hẳn với thói háo danh và chức tước. Nói
ngắn, họ không quyết định trở thành “người bất đồng chính kiến”, và thậm chí nếu
họ có dành hai bốn giờ một ngày cho nó, nó vẫn không phải là một nghề, mà trước
hết đấy là một thái độ sống. Hơn nữa, thái độ đó hoàn toàn không phải là tài sản
độc quyền của những người xứng đáng với danh hiệu “người bất đồng chính kiến”,
chỉ vì vô tình mà họ đáp ứng được những điều kiện bên ngoài, đã nói đến bên
trên. Có hàng ngàn người không tên tuổi khác đang cố gắng sống trong sự thật,
và hàng triệu người muốn mà chưa thể, đơn giản vì có lẽ làm như thế trong điều
kiện của họ cần lòng can đảm lớn hơn mười lần lòng can đảm của những người đã
đi bước đầu tiên. Nếu vài chục người trong số đó được chọn ra một cách ngẫu
nhiên và được xếp vào loại đặc biệt thì nó sẽ làm méo mó hoàn toàn bức tranh
chung. Nó làm méo mó theo hai cách. Hoặc là nó ngụ ý rằng những “người bất đồng
chính kiến” là những người lỗi lạc, như “những loài cần được bảo vệ”, tức là
người được phép làm những việc mà người khác không được làm, là những người mà
chính phủ thậm chí còn nuôi dưỡng để làm bằng chứng về lòng khoan dung của nó;
hoặc là nó đánh lừa người ta rằng đấy chỉ là một nhúm những kẻ bất mãn chẳng
làm được trò trống gì, tất cả những người khác đều cảm thấy hài lòng, bởi vì nếu
không thì họ đã là những “người bất đồng chính kiến” rồi.
Nhưng
đấy không phải là tất cả. Cách phân loại này vô tình đã tô đậm ấn tượng rằng
quan tâm chủ yếu của những “người bất đồng chính kiến” là quyền lợi phe nhóm mà
họ cùng chia sẻ, như thể toàn bộ cuộc tranh luận của họ với nhà nước chỉ là
xung đột trừu tượng giữa hai nhóm đối đầu nhau, chẳng liên quan gì đến xã hội.
Nhưng ấn tượng này mâu thuẫn sâu sắc với ý nghĩa thực sự của thái độ “bất đồng
chính kiến”, tức là lo lắng cho quyền lợi của người khác, lo lắng trước những
hiện tượng đang làm cho xã hội nhức nhối, nói cách khác, lo lắng cho quyền lợi
của những người chưa dám lên tiếng. Nếu những “người bất đồng chính kiến” có một
thứ uy quyền nào đó, và nếu họ còn chưa bị tiêu diệt như những con côn trùng
ngoại lai có mặt không đúng chỗ, thì đấy không phải vì nhà nước muốn giữ lại một
nhóm đặc biệt này và tôn trọng tư tưởng đặc biệt của họ, mà vì chính phủ hiểu rất
rõ rằng sức mạnh chính trị tiềm tàng của “sống trong sự thật” bắt rễ từ không
gian bị che giấu, nó cũng nhận thức rõ thế giới, nơi bất đồng chính kiến lớn
lên và thế giới mà nó hướng tới: Đấy là thế giới của đời sống thường nhật, thế
giới của mâu thuẫn hàng ngày giữa những mục tiêu của cuộc đời với mục tiêu của
hệ thống. (Khi Hiến chương 77 xuất hiện, chính quyền đã tung ra chiến dịch buộc
toàn dân phải tuyên bố rằng Hiến chương 77 là sai, còn có bằng chứng nào tốt
hơn thế nữa? Hàng triệu người buộc phải kí đã chứng minh, bên cạnh những điều
khác, rằng ngược lại mới đúng). Các tổ chức chính trị và cảnh sát không phí nhiều
thì giờ với những “người bất đồng chính kiến” – có thể tạo ra ấn tượng là chính
quyền sợ họ như thể sợ một nhóm quyền lực khác vậy – chỉ vì họ thực sự là một
nhóm quyền lực khác; mà bởi vì họ là những người bình thường, với những lo lắng
của người bình thường, họ chỉ khác với những người kia ở chỗ họ nói lớn điều mà
những người khác không thể nói hoặc vì sợ mà không dám nói. Tôi đã từng nhắc đến
ảnh hưởng chính trị của Solzhenitsyn: Nó không nằm trong sức mạnh chính trị
riêng biệt mà ông có với tư cách là một cá nhân, mà ở trải nghiệm của hàng triệu
nạn nhân Gulag, ông chỉ làm mỗi một việc là khuếch đại và nói lại cho hàng triệu
người có lương tri biết mà thôi.
Tách
ra một nhóm những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng hoặc lỗi lạc, trên thực
tế, cũng có nghĩa là phủ nhận khía cạnh đạo đức cốt lõi nhất trong hoạt động của
họ. Như ta đã thấy, phong trào “bất đồng chính kiến” phát sinh từ nguyên tắc
bình đẳng, dựa trên quan niệm rằng quyền con người và quyền tự do là không chia
tách được. Cuối cùng, chẳng phải là những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng
trong KOR[1] đã
đứng lên bảo vệ những người lao động không tên tuổi hay sao? Và chẳng phải
chính vì lí do này mà họ trở thành những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng
hay sao? Và chẳng phải là những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng tập hợp lại
trong Hiến chương 77, sau khi họ đã tập hợp cùng nhau nhằm bảo vệ những nhạc sĩ
vô danh và liên kết với họ, và chính vì lẽ đó mà trở thành những “người bất đồng
chính kiến nổi tiếng” hay sao? Đúng là một nghịch lí tàn nhẫn: Càng nhiều người
đứng lên bảo vệ những người khác, thì họ lại càng dễ bị gọi bằng một từ làm họ
xa cách với “các công dân khác”.
Tôi hi vọng rằng cách giải thích này sẽ làm rõ ý nghĩa của các dấu ngoặc kép mà tôi đặt cạnh từ “người bất đồng chính kiến” trong suốt tiểu luận này.
XIV.
Trong
giai đoạn, khi những vùng đất Czech và Slovakia còn là một phần của Đế chế
Áo-Hung, và khi không có cả những điều kiện xã hội, tâm lí, chính trị lẫn lịch
sử cho phép người Czech và Slovakia tìm kiếm bản sắc của mình bên ngoài khuôn
khổ của đế chế này, thì Tomáš Garrigue Masaryk đã đưa ra cương lĩnh dân tộc Tiệp
Khắc trên cơ sở khái niệm “công việc qui mô nhỏ” (drobná práce). Ông ngụ ý những
việc làm đầy trách nhiệm và trung thực trong những lĩnh vực vô cùng khác nhau của
đời sống bên trong trật tự xã hội đương thời, những việc sẽ kích thích tính
sáng tạo và lòng tự tin của dân tộc. Dĩ nhiên là ông đặc biệt quan tâm tới việc
giáo dục tri thức và khai minh, và quan tâm tới khía cạnh đạo đức và nhân văn của
đời sống. Masaryk tin rằng xuất phát điểm khả dĩ duy nhất chính là con người,
là tạo điều kiện cho một cuộc sống mang tính nhân văn hơn, đấy là nói nếu dân tộc
muốn được người ta tôn trọng hơn. Theo Masaryk thì cải tạo địa vị của quốc gia
phải bắt đầu từ việc cải tạo chính con người.
Khái
niệm “làm việc vì lợi ích dân tộc” bám rễ trong lòng xã hội Tiệp Khắc và trên
nhiều khía cạnh, nó đã thành công và còn tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay.
Cùng với những người khai thác khái niệm này như là lời biện hộ tinh tế cho việc
hợp tác với chính quyền, vẫn còn nhiều người khác, ngay cả ngày nay, vẫn ấp ủ
lí tưởng và, ít nhất trong một số lĩnh vực, có thể chỉ ra những thành quả không
chối cãi được. Khó mà nói được rằng sự thể sẽ còn tồi tệ đến đâu nếu không có
những người làm việc cật lực, những người chỉ đơn giản là không chịu từ bỏ và
luôn luôn cố gắng làm mọi việc mà họ có thể làm, trong khi phải trả một cái giá
tối thiểu không tránh được cho “sống trong dối trá” để có điều kiện làm những
việc tốt nhất cho nhu cầu chân chính của xã hội. Những người này đã nhận thức một
cách đúng đắn rằng mỗi một việc tốt đều là một lời phê phán gián tiếp đối với
chính sách sai lầm và có những hoàn cảnh buộc người ta phải chọn con đường này,
mặc dù như thế nghĩa là từ bỏ quyền tự nhiên của mỗi người là phê phán một cách
trực tiếp.
Nhưng,
hiện nay, thái độ sống như thế đã gặp những trở ngại rất rõ ràng, thậm chí ngay
cả khi so sánh với tình huống những năm 1960. Những người đang cố gắng thực hiện
phương châm “làm những việc nhỏ” càng ngày càng hay gặp rắc rối với hệ thống hậu
toàn trị và đứng trước thế tiến thoái lưỡng nan: từ bỏ quan điểm, không còn
trung thực, không còn trách nhiệm và không còn kiên định, tức là từ bỏ những thứ
vốn là nền tảng của quan điểm của mình, và thích nghi với hoàn cảnh (như đa số
đã làm), hoặc là tiếp tục đi theo con đường đã chọn và chắc chắn là sẽ xung đột
với chế độ (như thiểu số đã làm).
Nếu
ý tưởng về “công việc qui mô nhỏ” không đòi hỏi phải bám lấy cơ cấu chính trị
và xã hội hiện hữu bằng bất cứ giá nào (trong trường hợp đó, những người để cho
người ta đẩy mình ra khỏi hệ thống tất nhiên sẽ không thể “làm việc cho dân tộc”
được nữa) – thì ngày nay ý tưởng đó thậm chí càng ít giá trị hơn nữa. Không có
mô hình ứng xử chung, tức là, không có một phương pháp rõ ràng và có thể áp dụng
chung cho tất cả mọi trường hợp nhằm xác định giới hạn mà các “công trình qui
mô nhỏ” không còn là “có lợi cho dân tộc” và trở thành “có hại cho dân tộc”.
Nhưng, cũng rõ ràng là nguy cơ đổi chỗ lợi thành hại và hại thành lợi ngày càng
gay gắt hơn, và những công việc qui mô nhỏ ấy càng ngày càng chạm tới giới hạn
mà tránh xung đột có nghĩa là phản bội chính bản chất của nó.
Năm
1974 khi tôi được nhận vào làm ở nhà máy bia, thủ trưởng trực tiếp của tôi là
ông S., một người rất rành nghệ thuật làm bia. Ông tự hào về nghề nghiệp của
mình và ông muốn bia của nhà máy bao giờ cũng phải ngon. Ông dành phần lớn thời
gian cho công việc, không ngừng cải tiến, và ông thường làm chúng tôi khó chịu
vì ông nghĩ chúng tôi cũng thích nấu bia như ông. Giữa khung cảnh thờ ơ với
công việc mà chủ nghĩa xã hội đã tạo ra, thật khó tưởng tượng một người lao động
có tinh thần xây dựng hơn ông.
Nhà
máy bia nằm dưới quyền cai quản của những người có hiểu biết công việc ít hơn
ông và cũng không yêu công việc bằng ông, nhưng lại là những người có ảnh hưởng
về chính trị hơn ông. Họ đã đưa nhà máy đến chỗ lụn bại, họ không chỉ không đáp
lại bất kì đề xuất nào của S., mà càng ngày càng ghét ông và tìm mọi cách ngáng
chân ông. Cuối cùng, tình hình trở nên tồi tệ đến mức S. buộc phải viết một lá
thư khá dài cho cấp trên của ban giám đốc, trong đó ông cố gắng trình bày rõ những
khó khăn của nhà máy. Ông giải thích lí do làm cho nó trở thành xí nghiệp kém cỏi
nhất huyện và chỉ ra những người phải chịu trách nhiệm.
Chẳng
ai thèm nghe ông. Giám đốc là người có quyền lực chính trị nhưng chẳng biết gì
về bia, ông ta là một người không ưa gì công nhân và đầy mưu mô, đáng lẽ phải bị
cách chức và đáng lẽ phải cải thiện điều kiện làm việc của nhà máy theo những đề
nghị của S. Nếu được như thế thì đấy sẽ trở thành thí dụ hoàn hảo của “công việc
qui mô nhỏ” trên thực tế. Đáng tiếc là đã xảy ra chuyện hoàn toàn ngược lại:
Giám đốc nhà máy cũng là ủy viên huyện ủy, có bạn bè ở các vị trí cao hơn và
ông ta tìm cách làm cho vụ này được giải quyết theo hướng có lợi cho mình. Bản
tường trình của S. bị coi là “tài liệu vu khống” và S. bị gán cho cái mũ “phá
hoại về mặt chính trị”. Ông bị đuổi khỏi nhà máy bia và được chuyển sang làm một
nghề chẳng cần kĩ năng gì. Ở đây, khái niệm “công việc qui mô nhỏ” đã đụng phải
bức tường của hệ thống hậu toàn trị. Bắng cách nói lên sự thật, S, đã bước qua
lằn ranh, đã phá vỡ luật chơi, đã loại mình ra, ông trở thành công dân hạng hai
và bị bêu riếu như kẻ thù. Bây giờ, ông có thể nói bất kì điều gì, nhưng về
nguyên tắc, ông sẽ không bao giờ nghĩ rằng người ta sẽ nghe mình. Ông đã trở
thành một “người bất đồng chính kiến” của Nhà máy bia Đông Bohemia.
Tôi
cho rằng đây là trường hợp điển hình – đấy là nói từ một góc nhìn khác – minh họa
cho điều mà tôi đã nói bên trên: Anh không trở thành một “người bất đồng chính
kiến” chỉ vì một ngày nào đó anh quyết định chọn sự nghiệp bất bình thường nhất
này. Mà anh bị ném vào trong đó vì anh nhận thấy mình phải có trách nhiệm, có cả
hoàn cảnh bên ngoài nữa. Anh bị bật ra khỏi cơ cấu hiện hữu và bị đẩy vào vị
trí đối lập với nó. Quá trình này bắt đầu bằng cố gắng làm tốt công việc của
anh, và kết thúc bằng việc anh bị coi là kẻ thù của xã hội. Đấy là lí do vì sao
không thể đem hoàn cảnh của chúng ta so sánh với hoàn cảnh trong thời Đế chế
Áo-Hung, tức là so sánh với thời mà trong giai đoạn chuyên chế tối tệ nhất, dân
tộc Czech chỉ có mỗi một “người bất đồng chính kiến” thực sự là Karel Havlícek,
bị bỏ tù ở Brixen. Ngày nay, nếu không hợm hĩnh, chúng ta buộc phải thừa nhận rằng
góc phố nào cũng có những “người bất đồng chính kiến”.
Phê phán những “người bất đồng chính kiến” vì họ không làm “công việc qui mô nhỏ” là vô lí. “Bất đồng chính kiến” không phải là lựa chọn thay thế cho khái niệm của Masaryk, nó thường là kết quả tất yếu của khái niệm ấy. Tôi nói “thường là” để nhấn mạnh rằng không phải lúc nào cũng như thế. Tôi không tin rằng chỉ những người có trách nhiệm và tử tế mới cảm thấy rằng mình là xa lạ và đối đầu với cơ cấu chính trị và xã hội hiện hữu. Xét cho cùng, chuyên gia bia S. có thể thắng. Lên án những người giữ địa vị của họ chỉ vì họ đã và đang giữ vị trí ấy, hay nói cách khác, vì họ không phải là “người bất đồng chính kiến”, thì cũng vô lí như là dựng họ lên thành những “người bất đồng chính kiến” vậy. Dù thế nào thì đánh giá hành vi con người không như nó vốn là và nó tốt hay là không, mà lại đánh giá theo hoàn cảnh sống của người ta thì điều đó cũng mâu thuẫn với thái độ “bất đồng chính kiến” – tức là thái độ cố gắng sống trong sự thật.
XV.
Cố
gắng sống trong sự thật của anh hàng rau có thể chỉ là không làm một số việc nhất
định. Anh quyết định không treo những lá cờ nhỏ trong cửa sổ mà động cơ duy nhất
chỉ là để không bị công an khu phố sách nhiễu; anh không tham gia những kì bầu
cử mà anh cho là giả tạo; anh không giấu giếm ý kiến của mình với cấp trên. Nói
cách khác, anh có thể không làm gì ngoài việc không thực hiện một số yêu cấu nhất
định của hệ thống (dĩ nhiên đây không phải là một bước tiến nhỏ). Nhưng nó có
thể biến thành một cái gì đó to lớn hơn. Anh hàng rau có thể bắt đầu làm một
cái gì đó cụ thể, một cái gì đó vượt lên trên hành động tự vệ cá nhân nhằm chống
lại sự thao túng, làm một cái gì đó thể hiện được suy nghĩ mới của anh về trách
nhiệm cao cả hơn. Thí dụ, anh có thể tổ chức những người đồng nghiệp cùng hành
động để bảo vệ quyền lợi của mình. Anh có thể viết thư cho các cơ quan, kêu gọi
họ quan tâm tới những trường hợp lộn xộn và bất công xảy ra xung quanh anh. Anh
có thể tìm sách báo chui, in ra và cho bạn bè mượn.
Nếu
điều tôi gọi là sống trong sự thật là xuất phát điểm mang tính hiện sinh căn bản
(và đương nhiên là mang tính chính trị tiềm tàng) cho mọi phong trào như phong
trào “sáng kiến của các công dân độc lập”, phong trào “bất đồng chính kiến” hay
phong trào “đối lập” thì đấy cũng không có nghĩa là mọi cố gắng sống trong sự
thật đều ngay lập tức thuộc về những phong trào này. Ngược lại, trong ý nghĩa rộng
nhất và nguyên bản nhất của nó, sống trong sự thật bao trùm một lãnh địa rộng lớn,
với ranh giới rất mờ nhạt và khó vạch rõ, một lãnh địa chứa đầy những biểu hiện
khiêm tốn của ý hướng nhân văn, phần lớn những biểu hiện ấy là vô danh và người
ta sẽ chẳng bao giờ cảm thấy hay mô tả được ảnh hưởng chính trị của chúng một
cách cụ thể hơn là bảo rằng đấy là một phần của bầu không khí hay tâm trạng xã
hội mà thôi. Hầu hết những biểu hiện này vẫn chỉ là những sự nổi dậy sơ khai nằm
chống lại sự thao túng: Bạn chỉ đơn giản là đứng thẳng lưng và sống với phẩm
giá, như một cá nhân mà thôi.
Ở
một chỗ nào đó, nhờ cá tính, khả năng và nghề nghiệp của một số người, cũng như
nhờ một loạt biến số ngẫu nhiên (thí dụ các đặc điểm của khu vực, bạn bè, v.v)
mà từ khu vực xa xôi hẻo lánh và bao la này bỗng nảy ra một sáng kiến hữu hình
và chặt chẽ hơn, một sáng kiến vượt lên trên những “cuộc nổi loạn” cá nhân và
chuyển hóa thành những công việc mang tính tự giác, có tổ chức và có mục đích
hơn. Đấy là lúc mà sống trong sự thật không còn chỉ là phủ nhận sống trong dối
trá nữa mà được hoạch định theo một cách nhất định, là lúc hình thành nên một
cái gì đó. Có thể gọi đấy là “đời sống chính trị, xã hội và tinh thần độc lập của
xã hội”. Đời sống độc lập này không tách khỏi phần còn lại của cuộc sống (“cuộc
sống phụ thuộc”) bằng một ranh giới được phân định rõ ràng. Thường thì cả hai
cùng tồn tại trong một con người. Tuy thế, trọng tâm là mức độ tự do nội tâm
tương đối cao của nó. Nó bơi trên đại dương mênh mông của đời sống bị thao túng
như những chiếc thuyền con, bị sóng dập vùi nhưng luôn luôn nhấp nhô như là sứ
giả nhìn thấy được của sống trong sự thật, như là người đưa tin về những mục
tiêu đang bị vùi dập của cuộc đời.
Đời
sống độc lập của xã hội là gì? Phạm vi biểu hiện và hoạt động của nó dĩ nhiên
là rất rộng. Nó bao gồm tất cả mọi thứ, từ tự học và suy tư về thế giới, thông
qua những hoạt động sáng tạo tự do và chuyển tải những sáng tác này tới người
khác, đến những thái độ mang tinh thần công dân tự do vô cùng phong phú, trong
đó có những tổ chức xã hội độc lập, hình thành một cách tự phát. Nói ngắn, nó
là lĩnh vực mà sống trong sự thật được chi tiết hóa và cụ thể hóa theo cách có
thể nhìn thấy được.
Vì
thế, những hiện tượng mà sau này sẽ được coi là “sáng kiến của các công dân”,
“phong trào bất đồng chính kiến”, thậm chí “đối lập”, xuất hiện – như người ta
nói, chỉ là một phần mười tảng băng nhìn thấy trên mặt nước – từ khu vực đó, tức
là từ đời sống độc lập của xã hội. Nói cách khác, giống như đời sống độc lập của
xã hội bắt rễ từ sống trong sự thật theo nghĩa rộng nhất của từ này, thì biểu
hiện chi tiết và rõ ràng của đời sống độc lập chính là “bất đồng chính kiến”.
Tuy vậy, vẫn có một khác biệt đáng kể: Nếu đời sống độc lập của xã hội, ít nhất
là bề ngoài có thể được hiểu như là một dạng cao hơn của sống trong sự thật,
thì các phong trào “bất đồng chính kiến” không nhất thiết phải là hình thức cao
hơn của đời sống độc lập của xã hội. Các phong trào này chỉ là một biểu hiện của
nó, và mặc dù là biểu hiện rõ ràng nhất, và nhìn qua cũng thấy là biểu hiện
mang tính chính trị nhất (và chi tiết nhất) của nó, nhưng như thế không có
nghĩa đấy là biểu hiện chín muồi nhất hay thậm chí là quan trọng nhất, không chỉ
về mặt xã hội nói chung, mà thậm chí là về ảnh hưởng chính trị trực tiếp nữa.
Nói cho cùng, khi bị khoác lên mình một tên gọi đặc biệt, “bất đồng chính kiến”
đã bị bứt khỏi ngọn nguồn của nó một cách giả tạo. Nhưng, trên thực tế, không
thể cho rằng nó đã bị tách biệt khỏi toàn bộ khung cảnh xuất hiện và trưởng
thành của nó, tách biệt khỏi khung cảnh mà nó là một phần không thể tách rời và
tách rời khỏi khung cảnh vốn là nguồn sức mạnh cho nó. Dù sao mặc lòng, từ những
điều đã trình bày ở trên về những tính chất đặc biệt của hệ thống hậu toàn trị,
rõ ràng là lực lượng tưởng chừng như là có tính chính trị nhất trong các lực lượng
tại một thời điểm nhất định, lực lượng vẫn tự nghĩ về mình theo lối ấy, trên thực
tế lại không nhất thiết là một lực lượng như vậy. Nếu nó trở thành một lực lượng
chính trị thực sự thì đấy hoàn toàn phụ thuộc vào bối cảnh tiền-chính trị của
nó mà thôi.
Từ
những trình bày ở trên, có thể rút ra điều gì? Chỉ có thể như sau: Không thể
nói về công việc mà những “người bất đồng chính kiến” đang làm trên thực tế, và
ảnh hưởng của nó mà trước đó lại không nói về việc làm của tất cả những người,
bằng cách này hay cách khác, tham gia vào đời sống độc lập của xã hội, những
người hoàn toàn không nhất thiết phải là “người bất đồng chính kiến”. Đấy có thể
là các nhà văn viết theo ý mình mà không quan tâm tới bộ máy kiểm duyệt hay đòi
hỏi của chính quyền, những người truyền bá tác phẩm của họ, dưới dạng samizdat
[tư liệu cấm], đấy là nói khi các nhà xuất bản của nhà nước không chịu in. Đấy
cũng có thể là các nhà triết học, sử học, xã hội học, hay tất cả những nhà
nghiên cứu độc lập – đấy là nói những người không thể làm việc với các kênh
chính thức hoặc bán chính thức – truyền bá tác phẩm của mình dưới dạng
samizdat, hay những người tổ chức các cuộc thảo luận, giảng bài và hội thảo do
tư nhân tổ chức. Đấy có thể là các giáo viên, những người kín đáo dạy thanh
niên những điều vốn bị cấm kị trong các trường công, những linh mục đang tại vị,
hoặc đã bị phế truất, nhưng vẫn cố gắng thực hành đời sống tôn giáo tự do; các
họa sĩ, nhạc sĩ và ca sĩ, những người đang lao động nghệ thuật mặc dù bị các cơ
quan của nhà nước theo dõi; và tất cả những người, bằng mọi phương tiện sẵn có,
cố gắng thể hiện và bảo vệ các lợi ích xã hội thực sự của người lao động, trả lại
ý nghĩa đích thực cho các công đoàn, hay sáng lập các công đoàn độc lập; những
người không sợ hãi khi tìm cách buộc các quan chức phải lưu tâm tới những trường
hợp bất công và những người đấu tranh để buộc người ta phải tuân thủ luật lệ;
và những nhóm thanh niên đang thoát ra khỏi những hành động thao túng và sống
theo ý mình, sống theo những giá trị mà mình tôn trọng. Không thể nào liệt kê hết
được.
Chắc
chẳng có mấy người nghĩ tới việc gọi tất cả những người này là “người bất đồng
chính kiến”. Và dù sao, những “người bất đồng chính kiến” nổi tiếng cũng chỉ là
người bình thường như họ hay sao? Chẳng phải những “người bất đồng chính kiến”
đang làm tất cả những việc đó hay sao? Chẳng phải họ đã thực hiện những công
trình nghiên cứu và công bố theo lối samizdat hay sao? Họ không viết kịch,
không viết tiểu thuyết và làm thơ hay sao? Chẳng phải họ đã giảng cho sinh viên
trong “những trường đại học” tư hay sao? Chẳng phải họ cũng đang đấu tranh chống
lại đủ thứ bất công và cố gắng tìm hiểu và thể hiện những quyền lợi xã hội đích
thực của những nhóm quần chúng khác nhau hay sao?
Sau
khi đã cố gắng chỉ ra nguồn gốc, cơ cấu bên trong và một số khía cạnh của thái
độ “bất đồng chính kiến” như nó vốn là, tôi quay sang nghiên cứu những việc mà
những “người bất đồng chính kiến” thực sự làm, và cách thể hiện những sáng kiến
của họ cũng như những sáng kiến đó sẽ dẫn tới đâu.
Kết
luận đầu tiên được rút ra là hoạt động căn bản và quan trọng nhất, quyết định mọi
hoạt động, là cố gắng tạo ra và hỗ trợ đời sống độc lập của xã hội, đấy là biểu
hiện cụ thể của “sống trong sự thật”. Nói cách khác, là phụng sự sự thật một
cách kiên định, có mục đích và cẩn trọng, và tổ chức việc phụng sự này. Xét cho
cùng, đấy là lẽ dĩ nhiên: Nếu chống lại áp lực tha hóa của hệ thống, nếu nó là
cơ sở duy nhất có ý nghĩa cho bất kì hành động chính trị nào, và nếu, cuối
cùng, nó cũng là nguồn sống sâu sắc nhất của thái độ “bất đồng chính kiến”, thì
thật khó tưởng tượng được rằng thậm chí phong trào “bất đồng chính kiến” công
khai cũng chẳng có cơ sở nào khác ngoài phụng sự sự thật, phụng sự đời sống
trung thực, cố gắng mở ra không gian cho những mục tiêu đích thực của đời sống.
[1] Ủy ban Bảo vệ Công nhân, một
tổ chức của Ba Lan tồn tại trước khi có sự ra đời của Công đoàn Đoàn kết năm
1980. Sau đó nó được đổi tên thành KSS-KOR (Ủy ban Tự vệ Xã hội-KOR) để nhấn mạnh
đến cam kết bảo vệ các quyền dân sự cũng như sự ủng hộ của nó đối với các sáng
kiến xã hội chống lại các thể chế của nhà nước toàn trị.
[1] Jan Patocka là một triết
gia có ảnh hưởng lớn và là môn đồ của Edmund Husserl. Ông cũng là một trong những
phát ngôn viên đã sáng lập ra Hiến chương 77. Ông bị cảnh sát quấy rối nghiêm
trọng, bị gọi thẩm vấn triền miên, và theo đúng nghĩa, đã bị cảnh sát săn lùng
cho đến tận giường bệnh viện nơi ông trút hơi thở cuối cùng. Trích đoạn trên được
lấy từ diễn văn cuối cùng của ông, được dịch ra tiếng Anh là “Political
testament” (Di chúc chính trị), Telos, 31 (mùa xuân 1977), trang 151-2.
No comments:
Post a Comment