Václav Havel
QUYỀN LỰC CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC
Tiểu luận chính trị
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang
Hiệu đính: Nhóm Văn Lang
Nhà xuất bản Giấy Vụn
Quyền lực của kẻ không quyền lực
I.
Một bóng ma đang săn đuổi Đông Âu, bóng ma của cái mà phương Tây gọi là "bất đồng chính kiến". Bóng ma ấy không xuất hiện từ hư vô. Nó là kết quả tự nhiên và tất yếu của giai đoạn lịch sử hiện tại của cái hệ thống mà nó đang săn đuổi. Nó được sinh ra vào thời điểm mà hệ thống ấy, vì hàng ngàn lí do, đã không thể dựa vào quyền lực độc đoán, tàn bạo và trắng trợn, nhằm tiêu diệt mọi biểu hiện bất phục tùng được nữa. Hơn thế nữa, hệ thống đó đã xơ cứng về mặt chính trị đến mức hầu như không cho phép sự bất phục tùng như thế hiện diện trong những cơ cấu hợp pháp của nó.
Những
người được gọi là "bất đồng chính kiến" ấy là ai? Quan điểm của họ xuất
phát từ đâu, và họ có tầm quan trọng tới mức nào? Ý nghĩa của những "sáng
kiến độc lập" liên kết những "người bất đồng chính kiến" là gì
và cơ hội thành công thực sự của những sáng kiến ấy là như thế nào? Coi những
"người bất đồng chính kiến" là phong trào đối lập có phù hợp không? Nếu
có, thì trong cái khuôn khổ của hệ thống này, phong trào đối lập ấy chính xác
nghĩa là gì? Nó làm gì? Nó có vai trò gì trong xã hội? Nó hi vọng vào cái gì và
dựa vào cái gì để hi vọng? Liệu những người bất đồng chính kiến – với tư cách
là một nhóm công dân hạng hai nằm ngoài cơ cấu quyền lực – có bất kì ảnh hưởng
nào đối với xã hội và hệ thống xã hội hay không? Liệu họ có thực sự thay đổi được
gì không?
Tôi
nghĩ rằng việc khảo sát những câu hỏi này – một cuộc khảo sát về tiềm lực của
"những kẻ không quyền lực" – chỉ có thể được bắt đầu bằng việc khảo
sát bản chất của quyền lực trong những hoàn cảnh mà những “những kẻ không quyền
lực” này đang hoạt động.
II.
Hệ
thống của chúng ta thường hay được mô tả như là chế độ chuyên chính, hay chính
xác hơn, là sự chuyên chế của bộ máy quan liêu chính trị đối với xã hội đã trải
qua quá trình cào bằng về kinh tế và xã hội. Tôi sợ rằng khái niệm "chuyên
chính", dù có dễ hiểu đến mức nào trong những ngữ cảnh khác, có xu hướng
làm lu mờ chứ không làm sáng tỏ bản chất thực sự của quyền lực trong hệ thống
này. Nói đến “chuyên chế” ta thường nghĩ đến một nhóm nhỏ những kẻ giành chính
quyền của một quốc gia bằng bạo lực; quyền lực của họ được sử dụng một cách
công khai, bằng cách dùng những công cụ trực tiếp của quyền lực mà họ nắm trong
tay; và về mặt xã hội, có thể phân biệt dễ dàng họ với đa số mà họ thống trị. Một
trong những khía cạnh cơ bản của khái niệm mang tính truyền thống hay cổ điển về
chuyên chính là giả định rằng nó là nhất thời, tạm bợ và không có gốc gác lịch
sử. Sự tồn tại của nó dường như gắn liền với cuộc đời của những kẻ tạo dựng nên
nó. Qui mô và tầm quan trọng của nó thường chỉ có giới hạn trong một địa phương
nào đó, và cho dù nó có sử dụng ý thức hệ để bảo đảm cho mình tính chính danh
thì nói cho cùng, quyền lực của nó vẫn chỉ dựa vào quân số và số vũ khí được
trang bị cho binh lính và cảnh sát mà thôi. Mối đe dọa chủ yếu đối với sự tồn tại
của hệ thống này là khả năng có một lực lượng nào đó được trang bị tốt hơn xuất
hiện và lật đổ nó.
Tôi
nghĩ rằng chỉ cần điểm sơ qua vài nét như trên cũng đủ cho thấy là hệ thống mà
chúng ta đang sống có rất ít điểm chung với chế độ chuyên chính cổ điển. Trước
hết, hệ thống của chúng ta không bị hạn chế theo nghĩa địa phương, địa lí; trái
lại, nó hoành hành trong một khối quyền lực khổng lồ do một trong hai siêu cường
kiểm soát. Và mặc dù là đương nhiên nó vẫn có một số thay đổi nhất định cho phù
hợp với khu vực và lịch sử, nhưng những thay đổi này về cơ bản được giới hạn
trong một khuôn khổ thống nhất và duy nhất trong toàn khối. Không những chế độ
chuyên chế này ở đâu cũng dựa trên cùng một nguyên lí và được xây dựng theo
cùng một cách (nghĩa là theo cách mà siêu cường thống trị đã tạo ra), mà từng
nước đều đã và đang bị thâm nhập bởi một mạng lưới những công cụ thao túng, điều
khiển từ trung tâm siêu cường, và hoàn toàn phụ thuộc vào lợi ích của siêu cường
ấy. Trong cái thế giới bị sự cân bằng hạt nhân dồn vào thế bí này, dĩ nhiên, bề
ngoài, tình trạng này tạo cho hệ thống một độ an toàn chưa từng có, đấy là nói
so với những chế độ chuyên chế cổ điển. Nhiều cuộc khủng hoảng có tính khu vực
– nếu xảy ra trong một quốc gia cô lập có thể dẫn tới thay đổi cả hệ thống – có
thể được giải quyết nhờ sự can thiệp trực tiếp bằng quân sự của những nước còn
lại trong khối.
Thứ
hai, nếu như đặc điểm của các chế độ chuyên chính cổ điển là sự thiếu gốc gác lịch
sử (thường thì chúng chỉ là những quái thai của lịch sử, một kết quả tình cờ từ
những quá trình xã hội ngẫu nhiên hay kết quả của những khuynh hướng của đám
đông mà thôi), thì không thể kết luận một cách vội vã như thế với hệ thống của
chúng ta. Vì, mặc dù chế độ chuyên chính của chúng ta đã hoàn toàn quay lưng lại
với các phong trào xã hội tiền thân của nó từ lâu rồi, nhưng sự chân thực của
các phong trào này (tôi đang nghĩ đến các phong trào công nhân và xã hội chủ
nghĩa thế kỉ XIX) đã tạo cho nó một nền tảng lịch sử không thể chối cãi. Đây là
nền tảng vững chắc cho quá trình xây dựng cho đến khi nó trở thành một thực thể
chính trị và xã hội hoàn toàn mới như ngày hôm nay, thực thể đó đã là một phần
không thể tách rời của thế giới hiện đại. Một trong những đặc điểm của những gốc
gác lịch sử này là nhận thức “đúng đắn" về các xung đột xã hội trong giai
đoạn mà những phong trào vốn là cội nguồn của nó xuất hiện. Nhưng, sự thực là
trong cốt lõi của nhận thức “đúng đắn" đó đã có sẵn một khuynh hướng tất yếu
sẽ dẫn tới sự quay lưng lại một cách quái dị như vừa nói bên trên, một sự quay
lưng đặc trưng cho sự phát triển tiếp theo của nó, nhưng đấy không phải là điều
quan trọng đáng nói ở đây. Dù sao mặc lòng, thành tố này đã phát triển một cách
hữu cơ từ môi trường của thời đại và do vậy cũng có thể được xem là có gốc gác ở
đấy.
Một
di sản của "nhận thức đúng đắn" nguyên thuỷ ấy là đặc trưng thứ ba, tức
là cái đã khiến cho hệ thống của chúng ta khác với các chế độ chuyên chính hiện
đại khác: Nó điều hành một ý thức hệ nghiêm ngặt không gì bằng, đây là ý thức hệ
được xây dựng một cách duy lí, nói chung là dễ hiểu và chủ yếu là cực kì mềm dẻo,
sự tỉ mỉ và trọn vẹn của nó làm cho ý thức hệ này trở thành gần như một tôn
giáo nhập thế vậy. Nó cung cấp cho người ta đáp án sẵn có cho mọi câu hỏi; nó
đòi hỏi chấp nhận toàn bộ chứ không thể từng phần, mà chấp nhận thì sẽ có những
hệ quả vô cùng sâu sắc với đời sống của con người. Trong một kỉ nguyên mà sự chắc
chắn hiện sinh và mang tính siêu hình đang lâm vào tình trạng khủng hoảng, khi
con người đã bị mất gốc và tha hóa, và đang đánh mất dần nhận thức về ý nghĩa của
thế giới này thì hệ tư tưởng đó chắc chắn là có sức mê hoặc nhất định. Nó hứa với
những người đang lang thang bất định một mái nhà sẵn sàng ngay lập tức: Chỉ cần
chấp nhận nó là xong và đột nhiên mọi thứ một lần nữa lại trở nên rõ ràng, cuộc
đời bỗng có một ý nghĩa mới, và mọi điều huyền bí, mọi câu hỏi còn bỏ ngỏ, mọi
sự phân vân và cô đơn đều biến mất. Nhưng dĩ nhiên là người ta phải trả giá đắt
cho căn nhà thuê giá rẻ này: Giá phải trả là từ bỏ tư duy duy lí, từ bỏ lương
tâm và trách nhiệm, vì đặc điểm quan trọng nhất của ý thức hệ này là giao phó
toàn bộ suy nghĩ và lương tâm cho cấp trên. Nguyên tắc ở đây là trung tâm của
quyền lực đồng nghĩa với trung tâm của chân lí. (Trong trường hợp của chúng ta,
mối quan hệ với chính trị thần quyền Byzantine là trực tiếp: Quyền lực thế tục
tối cao trùng hợp với quyền lực tinh thần tối cao). Nhưng hiển nhiên là, nếu để
tất cả những điều này sang một bên, ý thức hệ đã không còn có ảnh hưởng lớn đối
với dân chúng, ít nhất là trong khối chúng ta (có thể với một ngoại lệ là nước
Nga – nơi mà đầu óc nô lệ, với sự sùng bái mù quáng, mang tính định mệnh đối với
những kẻ cai trị và sự chấp nhận một cách tự động mọi lời tuyên bố của họ – ý
thức hệ vẫn còn giữ thế thượng phong và được kết hợp với chủ nghĩa yêu nước bá
quyền, tức là cái chủ nghĩa yêu nước vốn có truyền thống đặt quyền lợi của đế
chế cao hơn quyền lợi của con người). Nhưng điều này cũng không quan trọng, bởi
vì trong hệ thống của chúng ta ý thức hệ – do đặc điểm của nó – đã làm rất tốt
vai trò của mình (tôi sẽ trở lại vấn đề này sau).
Thứ
tư, việc thực thi quyền lực trong các nền chuyên chính cổ điển bao gồm một yếu
tố cần thiết là sự ứng biến. Các cơ chế thực thi quyền lực phần lớn đều không
được xác lập một cách chặt chẽ, và bao giờ cũng có phạm vi đáng kể để cho người
ta có thể sử dụng quyền lực một cách ngẫu nhiên, độc đoán và chẳng theo luật lệ
nào. Vẫn còn tồn tại những điều kiện nhất định về mặt vật chất, tâm lí và xã hội
để có thể thể hiện sự phản kháng. Nói vắn tắt, vẫn còn nhiều vết tích trên bề mặt
có thể làm cho nó vỡ ra thành từng mảnh trước khi cơ cấu quyền lực thiết lập được
sự ổn định. Hệ thống của chúng ta đã trải qua con đường phát triển kéo dài sáu
mươi năm ở Liên Xô và gần ba mươi năm ở Đông Âu; hơn nữa, một số đặc điểm cơ cấu
lâu đời nhất của nó lại có xuất xứ từ chế độ chuyên chế thời Sa hoàng nữa. Trên
khía cạnh vật chất của quyền lực, điều này đã dẫn tới việc các cơ chế được xây
dựng hoàn bị và tinh tế để phục vụ cho nhiệm vụ thao túng toàn bộ công chúng một
cách trực tiếp và gián tiếp, mà với tư cách là nền tảng quyền lực vật chất, nó
đại diện cho một cái gì đó rất mới. Cùng lúc đó, xin chớ quên rằng hệ thống này
càng đặc biệt hiệu quả hơn nhờ quyền sở hữu nhà nước và quản lí từ trung ương mọi
tư liệu sản xuất. Điều này tạo cho cơ cấu quyền lực một khả năng chưa từng có
và không thể kiểm soát nổi trong việc đầu tư cho chính nó (thí dụ như bộ máy
hành chính quan liêu và cảnh sát) và tạo thuận lợi cho cơ cấu này – trong vai
người sử dụng lao động duy nhất – trong việc điều khiển cuộc sống hàng ngày của
mọi công dân.
Cuối
cùng, nếu như một bầu không khí ngập tràn nhiệt tình cách mạng, chủ nghĩa anh
hùng và bạo lực thẳng tay trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống đã từng là
biểu tượng của chế độ chuyên chế cổ điển, thì những vết tích cuối cùng của một
bầu không khí như thế đã biến mất khỏi khối Xô Viết. Vì hiện nay khối này không
còn là một ốc đảo, bị cô lập khỏi thế giới phát triển và được miễn nhiễm khỏi
những tiến trình diễn ra trong đó. Ngược lại, khối Xô Viết đã là một phần không
thể tách rời của một thế giới rộng lớn hơn, nó chia sẻ và định hình số phận của
thế giới. Nói một cách cụ thể, điều này có nghĩa là trật tự của các giá trị
trong các nước phát triển phương Tây, thực chất là đã xuất hiện trong xã hội
chúng ta (thời gian dài cùng tồn tại với phương Tây chỉ thúc đẩy nhanh tiến
trình này mà thôi). Nói cách khác, cái mà chúng ta đang có ở đây chỉ là một dạng
khác của xã hội tiêu thụ và xã hội công nghiệp, với tất cả những hậu quả tâm
lí, tri thức và xã hội kèm theo. Không tính đến điều này thì sẽ không thể hiểu nổi
bản chất của quyền lực trong hệ thống của chúng ta.
Sự
khác biệt cơ bản giữa hệ thống của chúng ta – trên phương diện bản chất của quyền
lực – với cái chúng ta vẫn thường hiểu là chế độ chuyên chính, sự khác biệt mà
tôi hi vọng là đã rất rõ ràng dù chỉ so sánh một cách rất phiến diện như thế,
buộc tôi phải tìm thuật ngữ thích hợp cho hệ thống của chúng ta, hoàn toàn chỉ
để phục vụ cho tiểu luận này. Nếu sau đây tôi gọi nó là hệ thống hậu-toàn trị,
thì tôi hoàn toàn hiểu rằng đây có thể không phải là thuật ngữ chuẩn xác nhất,
nhưng tôi không thể tìm ra một từ nào khả dĩ hơn. Tôi không định dùng tiền tố hậu
(post-) để ám chỉ rằng hệ thống không còn là toàn trị nữa; ngược lại, tôi muốn
nói rằng nó là toàn trị theo cách hoàn toàn khác với chế độ chuyên chính cổ điển,
khác với chủ nghĩa toàn trị mà chúng ta vẫn thường hiểu.
Tuy
nhiên, những bối cảnh mà tôi vừa đề cập chỉ tạo ra một tập hợp những yếu tố
mang tính điều kiện, và một khuôn khổ mang tính hiện tượng cho cơ cấu quyền lực
thực tế trong hệ thống hậu toàn trị, mà bây giờ tôi sẽ cố gắng làm rõ ở một số
mặt.
III.
Người
quản lí một cửa hàng rau quả đặt trong cửa sổ, bên cạnh những túm hành và cà rốt,
khẩu hiệu: "Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!". Tại sao anh ta lại
làm như thế? Anh ta định nói gì với thế giới? Có đúng là anh ta thực lòng hào hứng
với ý tưởng đoàn kết giữa những người vô sản trên thế giới? Lòng nhiệt thành của
anh ta lớn đến mức anh ta cảm thấy phải giới thiệu ngay với công chúng lí tưởng
này? Liệu anh ta đã thực sự dành một giây phút nào để nghĩ về cách thức thực hiện
sự đoàn kết ấy hay ý nghĩa của nó là gì hay không?
Tôi
nghĩ, ta có thể yên tâm mà giả định rằng tuyệt đại bộ phận những người quản lí
cửa hàng không bao giờ nghĩ về khẩu hiệu họ đặt trong cửa sổ, cũng như họ chẳng
bao giờ dùng nó để thể hiện quan điểm thực sự của mình. Cái khẩu hiệu đó, cũng
như hành và cà rốt, đều được cấp từ trụ sở kinh doanh. Anh ta xếp tất cả lên cửa
sổ vì đã làm như vậy trong nhiều năm, vì mọi người đều làm như thế, và vì đó là
việc phải làm. Nếu từ chối, anh ta có thể gặp rắc rối. Anh ta có thể bị phê
bình vì không có vật trang trí thích hợp trong cửa sổ; thậm chí có người còn tố
cáo anh là không trung thành nữa. Anh ta làm vậy bởi vì cần phải làm thế, nếu
muốn yên thân. Đó là một trong hàng ngàn tiểu tiết đảm bảo cho anh ta một cuộc
sống tương đối yên ổn trong sự "hòa hợp với xã hội", như họ vẫn thường
nói.
Rõ
ràng là, người bán hàng chẳng thèm để ý tới nội dung chữ nghĩa của khẩu hiệu được
trưng ra, anh ta đặt khẩu hiệu ở cửa sổ không phải vì cá nhân anh ta muốn công
chúng làm quen với lí tưởng mà nó kêu gọi. Nhưng dĩ nhiên là điều này không có
nghĩa là hành động của của anh ta không hề có động cơ, hoặc chẳng có ý nghĩa
gì, hoặc khẩu hiệu đó không truyền đạt tới ai thông tin nào hết. Khẩu hiệu đó
chính là một tín hiệu, và vì thế, nó mang theo một thông điệp tinh vi, nhưng rất
dứt khoát. Nói nôm na, nó là thế này: "Tôi, người bán rau quả XY, sống ở
đây và tôi biết tôi phải làm gì. Tôi làm theo cách mà người ta muốn tôi làm.
Tôi đáng tin và tôi tránh xa mọi rắc rối. Tôi phục tùng và vì thế, tôi có quyền
được yên thân". Thông điệp này, tất nhiên có người nhận: Nó được gửi lên
trên, tới những người cao hơn anh bán rau, và đồng thời nó là lá chắn bảo vệ
anh khỏi những tên chỉ điểm. Vì thế, ý nghĩa thực của khẩu hiệu bám rễ sâu vào
đời sống của anh hàng rau. Nó phản ánh lợi ích sống còn của anh ta. Vậy lợi ích
sống còn ấy là gì?
Xin
hãy để ý: nếu người bán rau được hướng dẫn bày khẩu hiệu: "Tôi sợ và vì thế
tôi phục tùng vô điều kiện", anh ta sẽ phải để ý tới nội dung của nó, mặc
dù tuyên bố ấy là đúng sự thật. Người bán rau sẽ cảm thấy bối rối và xấu hổ vì
lời tuyên bố thẳng thừng về sự mất phẩm cách của anh ta trong cửa sổ cửa hàng,
và cũng tự nhiên thôi, bởi anh là con người và vì thế mà có cảm nhận về phẩm
giá của mình. Để vượt qua sự rắc rối này, lòng trung thành của anh phải được thể
hiện dưới dạng một dấu hiệu – ít nhất là trên bề mặt từ ngữ – thể hiện một niềm
tin bất vụ lợi. Nó phải cho phép người bán rau biện bạch: "Vô sản toàn thế
giới liên hiệp lại thì có gì sai?". Vì thế mà dấu hiệu này giúp cho người
bán rau che giấu cái nguyên nhân “hèn kém” của sự phục tùng của mình, và cùng
lúc, che giấu nền tảng “hèn kém” của quyền lực. Nó giấu chúng sau bề mặt của một
cái gì đó cao xa. Và cái gì đó ấy chính là ý thức hệ.
Ý
thức hệ là một hình thức giả tạo của những mối liên hệ với thế giới. Nó cung cấp
cho người ta ảo tưởng về bản sắc, về phẩm giá, và đạo đức trong khi đó lại tạo
điều kiện cho người ta dễ dàng từ bỏ chúng. Ý thức hệ – như là một kho chứa của
một cái gì đó "siêu cá nhân" và khách quan – cho phép người ta đánh lừa
nhận thức của mình, che giấu vị trí thực của mình và che giấu modus vivendi
[lối sống] nhục nhã của mình, với cả với thế giới và với chính mình. Rất thực dụng,
nhưng đồng thời, bề ngoài thì lại có vẻ như đề cao cách thức hợp pháp hóa cái
gì trên, cái gì dưới và ở hai bên. Nó hướng tới con người và hướng tới Chúa Trời.
Nó là bức màn, đằng sau nó người có thể che giấu cuộc sống bệ rạc, dung tục hóa
và tìm cách thích ứng với nguyên trạng của họ. Nó là lời biện bạch mà ai cũng
có thể dùng, từ người bán rau quả, anh ta phải che giấu nỗi sợ hãi mất việc làm
đằng sau mối quan tâm được trưng ra về tình đoàn kết của vô sản toàn thế giới,
cho đến những quan chức cao nhất, việc họ muốn bám víu vào quyền lực lại được
che đậy bằng những câu chữ nói về phục vụ giai cấp cần lao. Vì vậy mà chức năng
biện bạch quan trọng của ý thức hệ là cung cấp cho người ta – cả nạn nhân lẫn
những trụ cột của hệ thống hậu toàn trị – một ảo tưởng rằng hệ thống đang hòa hợp
với trật tự của người và trật tự của Trời.
Chế
độ chuyên chính càng nhỏ và xã hội bên dưới nó càng ít bị quá trình hiện đại
hóa phân tầng thì ý chí của nhà độc tài càng được thực thi một cách trực tiếp.
Nói cách khác, nhà độc tài có thể sử dụng biện pháp trừng trị với những mức độ
trắng trợn khác nhau để tránh những hiện tượng phức tạp trong quan hệ với thế
giới và để tự biện minh mà ý thức hệ đòi hỏi. Nhưng các cơ chế quyền lực ngày
càng phức tạp hơn, và xã hội mà chúng cai trị càng lớn và càng phân hóa hơn,
các cơ chế này hoạt động càng lâu hơn, thì các cá nhân cũng phải liên hệ với
bên ngoài, và vai trò biện minh của ý thức hệ cũng càng ngày càng quan trọng
hơn. Nó đóng vai là cầu nối giữa chế độ và nhân dân, qua đó chế độ tiếp cận với
nhân dân và nhân dân tiếp cận với chế độ. Điều này giải thích vì sao ý thức hệ
lại có vai trò quan trọng đến thế trong hệ thống hậu toàn trị: Thật không thể
tưởng tượng nổi nếu cơ cấu phức tạp của các đơn vị, trật tự đẳng cấp, cơ cấu
truyền dẫn quyền lực, và các công cụ gián tiếp đủ loại để thao túng – nhằm đảm
bảo cho sự thống nhất của hệ thống bằng vô số cách khác nhau, không có chỗ cho
ngẫu nhiên – lại có thể thiếu một ý thức hệ biện minh chung cho toàn bộ hệ thống
và biện minh cho từng bộ phận.
IV.
Vực
thẳm giữa những mục tiêu của hệ thống hậu toàn trị và những mục tiêu của đời sống
đang ngày càng rộng ra: Trong khi, về bản chất, đời sống luôn hướng tới đa
nguyên, đa dạng, tự tổ chức và tự thiết chế; nói ngắn gọn, hướng tới quyền tự
do của nó, thì hệ thống hậu toàn trị đòi hỏi phục tùng, thống nhất và kỉ luật.
Trong khi đời sống luôn luôn cố gắng tạo ra những cơ cấu mới và "khó đoán
trước", hệ thống hậu toàn trị tìm cách trói buộc cuộc sống vào những trạng
thái định trước. Các mục tiêu của hệ thống cho thấy đặc điểm cơ bản nhất của nó
là tính hướng nội, vận động dần tới chính nó một cách toàn bộ và không thể đảo
ngược được, tức là bán kính ảnh hưởng của nó cũng phải không ngừng mở rộng mãi
ra. Hệ thống này chỉ phục vụ người dân trong chừng mực vừa đủ nhằm bảo đảm rằng
người dân phục vụ lại nó. Bất kì điều gì hơn thế, tức là bất kì điều gì làm cho
người dân có thể bước qua vai trò đã được định trước cho họ, đều bị hệ thống
coi là tấn công vào nó. Và trên phương diện này, nó đã đúng: Bất kì trường hợp
vi phạm nào như thế cũng đều là sự phủ định hệ thống một cách triệt để. Vì thế,
có thể nói rằng, mục tiêu nội tại của hệ thống hậu toàn trị không chỉ là bảo tồn
quyền lực trong tay bè lũ thống trị, như người ta có thể tưởng như thế khi mới
nhìn vào. Thực ra là, hiện tượng tự bảo tồn là để phục vụ một cái gì đó cao
hơn, phục vụ cỗ máy tự động mù quáng đang điều khiển hệ thống. Các cá nhân
không được hệ thống coi là có giá trị tự thân nào hết, dù họ có giữ vị trí nào
trong trật tự đẳng cấp thì cũng thế mà thôi, họ chỉ được coi như những đồ vật
có nhiệm vụ bơm nhiên liệu vào cho cỗ máy tự động này mà thôi. Vì lí do đó,
khát vọng quyền lực của một cá nhân chỉ được chấp nhận khi hướng của nó trùng hợp
với hướng của cỗ máy tự động của hệ thống.
Ý
thức hệ – trong khi tạo ra cây cầu bào chữa nối giữa hệ thống và cá nhân – làm
nhiệm vụ nối hai bờ của cái vực thẳm giữa mục tiêu của hệ thống và mục tiêu của
đời sống. Nó tạo ra cảm tưởng rằng yêu cầu của hệ thống bắt nguồn từ yêu cầu của
cuộc sống. Nó là thế giới của những ảo tưởng, được trưng ra như là hiện thực của
cuộc đời
Hệ
thống hậu toàn trị đụng chạm đến con người trong từng bước đi, nhưng nó làm thế
với cái găng tay ý thức hệ. Chính vì vậy mà cuộc sống trong hệ thống mới có nhiều
hiện tượng đạo đức giả và dối trá đến như thế: Chính phủ của bộ máy quan liêu
thì được gọi là chính quyền nhân dân; người lao động bị nô dịch thì mang tên
giai cấp lao động; sự thoái hóa đến tận cùng của cá nhân thì được coi là giải
phóng tối hậu; bưng bít thông tin được gọi là cung cấp thông tin cho quần
chúng; sử dụng quyền lực để thao túng thì được gọi là kiểm soát công cộng về
quyền lực; lạm dụng quyền lực một cách tùy tiện thì được gọi là tôn trọng luật
pháp; đè nén văn hóa thì được gọi là phát triển văn hóa; mở rộng ảnh hưởng của
đế chế thì được trình bày như là giúp đỡ những người bị áp bức; mất tự do ngôn
luận trở thành hình thức cao nhất của tự do; những kì bầu cử lố bịch thì trở
thành hình thức dân chủ cao nhất; cấm suy nghĩ độc lập trở thành thế giới quan
khoa học nhất; chiếm đóng quân sự trở thành giúp đỡ anh em. Vì bị nhốt chặt
trong những lời dối trá của nó, chế độ đó phải xuyên tạc tất cả. Nó xuyên tạc
quá khứ. Nó bóp méo hiện tại và nó bịa ra tương lai. Nó xuyên tạc các số liệu
thống kê. Nó giả vờ như không nắm giữ các cơ quan an ninh có quyền lực vô hạn
và bất lương. Nó giả vờ như đang tôn trọng các quyền con người. Nó giả vờ như
không kết án ai. Nó làm như không sợ bất kì điều gì. Nó giả vờ như không giả vờ
gì cả.
Cá
nhân không cần phải tin vào tất cả những sự rắc rối này, nhưng họ phải làm như
là họ tin, hoặc ít nhất họ phải im lặng chịu đựng chúng hoặc phải tử tế với những
người làm việc cho chúng. Nhưng, cũng vì thế mà họ phải sống trong dối trá. Họ
không cần chấp nhận dối trá. Chỉ cần họ chấp nhận sống cùng với nó và sống
trong nó là được. Cũng chính vì thế mà các cá nhân thừa nhận hệ thống, bồi bổ
cho hệ thống, tạo ra hệ thống, và trở thành chính hệ thống.
V.
Chúng
ta đã thấy rằng ý nghĩa thực của khẩu hiệu của anh hàng rau chẳng liên quan gì
đến cái mà những từ ngữ trong khẩu hiệu nói tới. Ngay cả như thế thì ý nghĩa thực
sự cũng rất rõ ràng và nói chung là dễ hiểu, bởi vì mật mã rất giống nhau: Anh
hàng rau tuyên bố sự trung thành của mình (và anh cũng chẳng có cách nào khác,
nếu muốn tuyên bố của mình được chấp nhận) theo cách duy nhất mà chế độ có khả
năng nghe được; tức là, bằng cách chấp thuận những nghi thức đã được qui định,
bằng cách chấp nhận rằng ảo tưởng chính là hiện thực, bằng cách chấp nhận những
luật chơi cho trước. Nhưng, trong khi làm việc đó, chính anh đã trở thành người
tham gia cuộc chơi, và vì thế mà tạo điều kiện cho cuộc chơi tiếp tục, và trước
hết là tạo điều kiện cho nó tồn tại.
Nếu,
khởi thuỷ ý thức hệ chỉ là chiếc cầu nối giữa hệ thống và cá nhân với tư cách
là cá nhân, thì vào khoảnh khắc mà anh ta bước lên cầu, nó đã trở thành cây cầu
nối giữa hệ thống và cá nhân ấy – với tư cách là bộ phận của hệ thống. Nghĩa
là, nếu ban đầu ý thức hệ chỉ có thể tạo điều kiện (bằng hoạt động ở bên ngoài)
cho sự hình thành quyền lực với tư cách là một sự biện hộ về mặt tâm lí, thì từ
thời điểm mà sự biện hộ ấy được chấp nhận, ý thức hệ lại tạo ra sức mạnh ở bên
trong, nó trở thành một bộ phận năng động của hệ thống quyền lực ấy. Nó bắt đầu
hoạt động như là công cụ chính nhằm truyền đạt nghi thức bên trong hệ thống quyền
lực.
Toàn
bộ cơ cấu quyền lực (chúng ta đã thảo luận về biểu hiện vật chất của nó) không
thể tồn tại nếu không có một trật tự "siêu hình học" ràng buộc các bộ
phận lại với nhau, kết nối chúng và buộc chúng phải phục tùng một phương pháp
giải trình thống nhất về mặt hình thức, cung cấp luật chơi cho hoạt động phối hợp
của tất các bộ phận nghĩa là cung cấp cho chúng những qui định, những giới hạn
và tính chính danh nhất định. Trật tự siêu hình học này là nguyên tắc cơ bản
cho và là chuẩn mực xuyên suốt toàn bộ cơ cấu quyền lực, nó liên kết thông tin
và làm cho việc trao đổi và lưu chuyển các thông tin và chỉ đạo trở thành khả
thi. Tương tự như một tập hợp các đèn hiệu giao thông và biển chỉ đường, nó tạo
ra hình thù và cơ cấu cho tiến trình. Trật tự siêu hình học này đảm bảo sự cố kết
nội tại của cơ cấu quyền lực toàn trị. Nó là chất keo gắn kết tất cả lại với
nhau, là nguyên tắc bản lề, là phương tiện thi hành kỉ luật. Thiếu chất keo
này, toàn bộ hệ thống với tư cách là cơ cấu toàn trị sẽ sụp đổ, nó sẽ tan vỡ
thành những cá nhân rời rạc, va chạm hỗn loạn với nhau vì quyền lợi và thiên hướng
không được kiểm soát của họ. Thiếu bộ phận gắn kết, toàn bộ kim tự tháp của quyền
lực toàn trị sẽ sụp đổ vào trong chính nó, như thể là một vụ nổ hướng vào trong
vậy.
Ý
thức hệ – được cơ cấu quyền lực dùng để giải thích hiện thực – luôn luôn phục
tùng quyền lợi của cơ cấu ấy. Vì vậy mà nó có xu hướng tự nhiên là thoát li hiện
thực, nhằm tạo ra một thế giới giả tạo và trở thành một thứ nghi thức. Trong
các xã hội có sự cạnh tranh quyền lực một cách công khai và vì thế mà quyền lực
bị xã hội kiểm soát, cũng tồn tại một cách hoàn toàn tự nhiên cơ chế kiểm soát
công khai, quyền lực dùng cách đó để khoác lên mình tính chính danh về mặt ý thức
hệ. Kết quả là, trong những điều kiện như thế bao giờ cũng có những biện pháp
điều chỉnh nhất định, những biện pháp này có thể ngăn chặn một cách hiệu quả,
không để cho ý thức hệ hoàn toàn thoát li khỏi hiện thực. Nhưng trong chế độ
toàn trị, những biện pháp điều chỉnh như thế đã không còn, và không có gì có thể
ngăn cản được ý thức hệ càng ngày càng tách rời khỏi thực tiễn, càng ngày càng
tự biến mình thành hiện tượng đang hiện diện trong hệ thống hậu toàn trị hiện
nay: Một thế giới giả tạo, chỉ còn là nghi thức, là một ngôn ngữ mang tính kinh
viện, không còn liên hệ với hiện thực và đã biến đổi thành một hệ thống biểu tượng
mang tính lễ nghi, thay thế hiện thực bằng giả-hiện thực.
Nhưng,
đồng thời, như chúng ta đã thấy, ý thức hệ lại biến thành thành tố ngày càng
quan trọng của quyền lực, thành trụ cột cung cấp cho nó cả tính chính danh lẫn
sự cố kết nội tại nữa. Khi phương diện này trở nên càng ngày càng quan trọng,
khi càng ngày nó càng đánh mất dần tiếp xúc với thực tế thì nó lại thu được một
sức mạnh đặc biệt, nhưng rất thực. Nó hóa thân thành hiện thực, dù đấy chỉ là
hiện thực bị nhốt hoàn toàn trong chính nó, mà ở mức độ nào đó (chủ yếu là
trong cơ cấu quyền lực) cái hiện thực này thậm chí còn quan trọng hơn là chính
hiện thực nữa. Càng ngày độ tinh xảo của nghi thức càng trở nên quan trọng hơn
hiện thực ẩn chứa đằng sau nó. Tầm quan trọng của hiện tượng không còn xuất
phát từ bản thân hiện tượng nữa, mà xuất phát từ vị trí của nó với tư cách là
các khái niệm trong ngữ cảnh mang tính ý thức hệ. Hiện thực không định hình lí
thuyết, mà ngược lại. Do đó, quyền lực xích lại với ý thức hệ hơn là với hiện
thực; nó tìm được sức mạnh của mình từ lí thuyết và trở thành hoàn toàn lệ thuộc
vào lí thuyết. Điều này chắc chắn sẽ dẫn tới một kết quả trái khoáy sau đây:
Đáng lẽ lí thuyết hay ý thức hệ phải phục vụ quyền lực thì quyền lực bắt đầu phục
vụ ý thức hệ. Như thể là ý thức hệ đã tiếm đoạt sức mạnh của quyền lực, như thể
tự nó đã trở thành nhà độc tài rồi vậy. Dường như chính lí thuyết, chính nghi
thức, chính ý thức hệ ra các quyết định tác động vào con người, chứ không phải
ngược lại.
Nếu
như ý thức hệ là người đảm bảo chính cho sự nhất quán nội tại của quyền lực,
thì cùng lúc ấy, nó trở thành người đảm bảo càng ngày càng quan trọng cho sự
liên tục của quyền lực. Trong khi sự kế vị trong các chế độ chuyên chính cổ điển
thường bao giờ cũng là biến cố khá phức tạp (những kẻ tranh đoạt ngôi vị không
có gì để khoác cho đòi hỏi của chúng một sự chính danh nhất định, và vì thế,
chúng buộc phải dùng sức mạnh trần trụi) thì trong hệ thống hậu toàn trị, quyền
lực được truyền từ người này sang người khác, từ nhóm này sang nhóm khác, từ thế
hệ này sang thế hệ khác theo những cách về cơ bản là ổn định hơn. Trong quá
trình chọn lựa những người kế nhiệm, một cơ chế phong vương mới được khởi động:
Đấy là sự hợp pháp hóa mang tính nghi thức, khả năng dựa vào nghi thức, bồi bổ
nó và sử dụng nó, sẽ quyết định kẻ nào sẽ được nó đặt vào ngôi cao. Đương nhiên
là tranh giành quyền lực cũng xảy ra cả trong hệ thống hậu toàn trị nữa, và đa
phần đều tàn bạo hơn là so với những xã hội cởi mở, vì đấy là cuộc tranh giành
không công khai, không bị các qui tắc dân chủ kiềm chế, không bị xã hội kiểm
soát, mà đều diễn ra sau hậu trường. (Thật khó nói được một thí dụ về việc thay
thế Bí thư thứ nhất của một Đảng Cộng sản đang cầm quyền mà không có sự triển
khai hàng loạt các đơn vị an ninh và vũ trang, ít nhất là đặt dưới tình trạng
báo động). Tuy nhiên, sự giành giật này không bao giờ có khả năng đe dọa nền tảng
của hệ thống và tính liên tục của nó (như có thể xảy ra trong các chế độ chuyên
chính cổ điển). Cùng lắm, nó cũng chỉ khuấy đảo cơ cấu quyền lực trong chốc lát
– cơ cấu sẽ phục hồi rất nhanh, bởi vì cái chất kết dính là ý thức hệ vẫn còn
nguyên. Ai thay thế ai không phải là vấn đề, sự kế vị chỉ khả thi khi nó diễn
theo kịch bản và trong khuôn khổ nghi thức chung. Nó không bao giờ diễn ra bằng
cách phủ nhận nghi thức ấy.
Nhưng
chính do chế độ chuyên chính của nghi thức như thế mà quyền lực trở thành vô
danh. Các cá nhân hầu như đã tan hoàn toàn vào nghi thức. Họ để mặc cho nó cuốn
đi, và thường thì dường như nghi thức tự đưa con người từ bóng tối ra ánh sáng
của quyền lực. Trên mọi cấp bậc của quyền lực, cá nhân ngày càng bị những con
người lạnh lùng, những con rối, những tên đầy tớ khoác đồng phục chuyên thực hiện
nghi thức và công việc hàng ngày của quyền lực đẩy ra rìa, đấy chẳng phải đặc
trưng của hệ thống hậu toàn trị hay sao?
Sự
vận hành máy móc của cơ cấu quyền lực – cái cơ cấu đã bị làm cho mất nhân tính
và biến thành vô danh – là một đặc điểm của cỗ máy tự động của hệ thống này. Dường
như chính các mệnh lệnh của cỗ máy tự động, tức là cỗ máy đã chọn ra những người
không có cá tính cho cơ cấu quyền lực, nghĩa là chính mệnh lệnh của những ngôn
từ trống rỗng đã đặt những cá nhân biết sử dụng những ngôn từ trống rỗng lên vị
trí quyền lực nhằm bảo đảm rằng cỗ máy của hệ thống hậu toàn trị sẽ tiếp tục hoạt
động.
Các
nhà Xô Viết học phương Tây thường phóng đại vai trò của các cá nhân trong hệ thống
hậu toàn trị và bỏ qua sự thật là các nhân vật lãnh đạo của hệ thống hậu toàn
trị – dù quyền lực họ nhận được từ cơ cấu quyền lực tập trung có to lớn đến đâu
– thường cũng chỉ là người thực thi mù quáng những qui luật bên trong của hệ thống,
những qui luật mà chính họ không bao giờ có khả năng hiểu, mà cũng không bao giờ
suy nghĩ đến. Dù sao mặc lòng, kinh nghiệm đã nhiều lần dạy chúng ta rằng cỗ
máy tự động này mạnh hơn ý chí của bất kì cá nhân nào, và bất kì người có suy
nghĩ độc lập nào cũng phải che giấu nó sau cái mặt nạ vô danh mang tính nghi thức
thì mới mong có cơ hội bước được lên những nấc thang của quyền lực. Còn khi cá
nhân đã giành được một vị trí trong đó mà lại còn cố gắng thực hiện hoài bão của
mình, thì cái cỗ máy tự vận hành ấy – với sức ỳ vĩ đại của nó – trước sau gì
cũng sẽ thắng, và hoặc là cá nhân sẽ bị cơ cấu quyền lực đào thải như đào thải
một sinh vật lạ, hoặc là anh ta sẽ bị buộc phải dần dần từ bỏ cá tính của mình,
để một lần nữa lẫn vào với cỗ máy và trở thành nô lệ cho nó, hầu như không phân
biệt nổi với những người đi trước và những người tiếp sau anh ta (Xin nhắc lại,
ví dụ, quá trình thăng tiến của Husák[1]
hay Gomulka[2]. Nhu cầu ẩn mình đằng sau
và liên hệ với nghi thức luôn luôn hiện diện có nghĩa là thậm chí ngay cả những
thành viên đã được khai sáng của cơ cấu quyền lực cũng thường bị ý thức hệ ám ảnh.
Họ không bao giờ có khả năng xâm nhập thẳng vào những tầng sâu nhất của hiện thực
trần trụi, và trong những kết luận cuối cùng, họ luôn nhầm lẫn nó với các giả-hiện
thực mang màu sắc ý thức hệ. (Theo quan điểm của tôi, một trong những lí do làm
cho ban lãnh đạo của Dubček không kiểm soát được tình hình năm 1968 chính là vì,
trong những tình huống gay cấn và trong những vấn đề quyết định, các thành viên
của nó chưa bao giờ đủ sức thoát ra khỏi thế giới của ảo tưởng).
Vì
vậy, có thể nói rằng trong hệ thống hậu toàn trị, ý thức hệ – với vai trò là
công cụ thông tin nội bộ, nó bảo đảm sự cố kết bên trong của cơ cấu quyền lực –
là cái gì đó vượt lên trên những khía cạnh vật chất của quyền lực, một cái gì
đó chi phối quyền lực với mức độ đáng kể, và do đó có xu hướng đảm bảo sự liên
tục của quyền lực. Nó là một trong những trụ cột của sự ổn định bên ngoài của hệ
thống. Nhưng trụ cột này lại được xây dựng trên một nền tảng rất yếu. Nó được
xây dựng trên những lời dối trá. Nó chỉ đứng vững khi người ta còn muốn sống
trong dối trá mà thôi.
VI.
Tại sao trên thực tế anh
hàng rau của chúng ta lại phải trưng lòng trung thành của mình lên cửa sổ? Chẳng
phải anh ta đã chứng tỏ đầy đủ lòng trung thành qua những thủ tục nội bộ và
bán-công khai khác nhau rồi hay sao? Xét cho cùng, ở những cuộc họp công đoàn
bao giờ anh cũng bỏ phiếu theo đúng yêu cầu. Anh ta cũng thường xuyên tham gia
những phong trào thi đua khác nhau. Anh ta tham gia các kì bầu cử như là một
công dân tốt. Thậm chí anh còn kí “Phản-Hiến chương[3]” nữa
cơ mà. Mặc dù đã làm tất cả những chuyện như thế, tại sao anh vẫn phải tuyên bố
lòng trung thành một cách công khai? Xét cho cùng, những người đi ngang qua cửa
sổ của anh cũng không dừng lại để đọc quan điểm của người bán rau rằng vô sản
toàn thế giới nên liên hiệp lại. Sự thật là, họ không đọc khẩu hiệu này, và nếu
giả định là họ không nhìn thấy nó thì cũng đúng nốt. Nếu hỏi một phụ nữ đã đứng
trước cửa hàng anh rằng bà ta nhìn thấy gì trong cửa sổ, chắc chắn là bà sẽ nói
hôm nay có cà chua hay không, nhưng có nhiều khả năng là bà ấy hoàn toàn không
nhìn thấy khẩu hiệu, chứ đừng nói đến nội dung của nó.
Buộc
một người bán rau tuyên bố công khai lòng trung thành của mình dường như là việc
làm vô nghĩa. Nhưng nó lại có ý nghĩa đấy. Chẳng ai để ý đến khẩu hiệu của anh
ta, họ không để ý là vì những khẩu hiệu như thế cũng được bày trong cửa sổ của
các cửa hàng khác, chúng còn được dán trên các cột đèn, trên các bảng tin, trên
cửa sổ căn hộ các chung cư nữa; thực ra là ở đâu cũng có. Chúng là một phần cảnh
quan của cuộc sống hàng ngày. Dĩ nhiên là, dù không để ý đến chi tiết nhưng người
ta vẫn biết rõ toàn bộ cảnh quan. Và cái khẩu hiệu của anh hàng rau kia có phải
chỉ là một thành phần nhỏ bé trên cái phông vĩ đại của cuộc sống hàng ngày?
Vì
thế mà anh hàng rau phải đặt khẩu hiệu trên cửa sổ, không phải là anh hi vọng rằng
có người sẽ đọc hoặc sẽ bị nó thuyết phục, mà để góp phần – cùng với hàng ngàn
khẩu hiệu khác – vào cái cảnh quan mà tất cả đều biết rõ. Dĩ nhiên là khung cảnh
này cũng có ý nghĩa tế nhị của nó: Nó nhắc nhở người ta rằng họ đang sống ở đâu
và phải làm gì. Nó nói với họ về những việc người khác đang làm và chỉ cho họ
những việc cần làm, nếu không muốn bị khai trừ, bị cô lập, bị xã hội xa lánh, nếu
không muốn phá vỡ luật chơi, và có thể không còn được bình an, không được thanh
thản và an toàn nữa.
Rất
có thể chỉ trước đây một tiếng đồng hồ, người đàn bà từng phớt lờ khẩu hiệu của
anh hàng rau đã treo một khẩu hiệu tương tự ngay trước hành lang cơ quan nơi bà
ta làm việc. Bà ta làm thế mà chẳng suy nghĩ gì, cũng hệt như anh hàng rau của
chúng ta, và bà làm như thế vì nó diễn ra trên nền của khung cảnh chung, và
cũng có một ít nhận thức về nó, nghĩa là nó diễn ra trên chính cái nền của cảnh
quan mà cửa sổ cửa hàng anh bán rau đã góp phần tạo ra. Khi anh bán rau đến cơ
quan của bà, anh ta cũng sẽ không nhìn thấy khẩu hiệu của bà, cũng hệt như bà
không nhận ra khẩu hiệu của anh ta. Nhưng, các khẩu hiệu của họ lại phụ thuộc
vào nhau: Cả hai đều được bày ra với nhận thức nhất định về khung cảnh chung,
và ta có thể nói, theo mệnh lệnh của nó. Nhưng cả hai đã góp phần tạo ra khung
cảnh ấy, và do đó cũng tạo chính cái mệnh lệnh ấy. Anh bán rau và bà nhân viên
văn phòng đều phải thích nghi với những điều kiện mà họ đang sống, nhưng làm thế
là họ góp phần tạo ra chính những điều kiện đó. Họ làm những việc mà người khác
đã làm, những việc cần phải làm, những việc nhất định phải làm, nhưng đồng thời,
cũng chính bằng thí dụ ấy, họ đã khẳng định những việc cần phải làm trên thực tế.
Họ thực hiện một yêu cầu cụ thể, và bằng cách đó, họ đã củng cố thêm cho chính
cái yêu cầu đó. Nói một cách trừu tượng, không có khẩu hiệu của anh hàng rau
thì khẩu hiệu của bà nhân viên văn phòng không thể tồn tại được, và ngược lại.
Mỗi người đều đề nghị người kia làm một cái gì đó y như mình và họ chấp nhận đề
nghị của nhau. Thái độ bàng quan đối với khẩu hiệu của nhau chỉ là một sự lừa dối:
Trên thực tế, trưng khẩu hiệu ra là mọi người đều buộc nhau phải tuân thủ luật
chơi rồi, và bằng cách đó, họ đã thừa nhận cái quyền lực yêu cầu treo khẩu hiện
lúc ban đầu. Rất đơn giản, họ giúp nhau phục tùng. Cả hai đều là đối tượng
trong một hệ thống kiểm soát, nhưng đồng thời lại cũng là chủ thể của nó. Họ vừa
là nạn nhân vừa là công cụ của hệ thống.
Nếu
toàn bộ thị trấn được trát đầy khẩu hiệu mà không ai đọc, thì một mặt, đó là một
thông điệp từ bí thư thị trấn gửi lên bí thư vùng, nhưng mặt khác, còn hơn thế
nữa: Đấy là thí dụ nhỏ của nguyên lí toàn trị-tự động mang tính xã hội đang vận
hành. Một phần bản chất của hệ thống hậu toàn trị là nó kéo mọi người vào lãnh
địa quyền lực của nó, nhưng không phải để họ thể hiện mình như những con người,
mà để họ có thể từ bỏ bản sắc cá nhân nhằm vun vén cho bản sắc của hệ thống,
nghĩa là để họ có thể trở thành những nhân viên của cỗ máy tự động của hệ thống
và là đầy tớ cho những mục tiêu do nó tự quyết định, để họ có thể cùng chịu
trách nhiệm cho nó, để họ có thể bị nó lôi kéo vào và mắc bẫy, như Faust mắc bẫy
Mephistopheles[4] vậy. Hơn thế nữa: Để họ –
thông qua việc tham gia của mình – có thể tạo ra những qui tắc ứng xử chung, và
vì vây mà tạo áp lực đối với chính đồng bào của mình. Và xa hơn nữa: Để họ tập
dần và cảm thấy dễ chịu khi tham gia, để họ đồng cảm với nó như thể đấy là điều
hoàn toàn tự nhiên và tất yếu; và cuối cùng, để họ có thể coi tất cả mọi hành động
không tham gia là bất bình thường, là kiêu ngạo, là tấn công vào họ, là một
hình thức quay lưng lại với xã hội, mà không cần bất kì sự thúc ép bên ngoài
nào. Bằng cách kéo mọi người vào cơ cấu quyền lực, hệ thống hậu toàn trị biến mọi
người thành phương tiện của một chế độ toàn trị đối với nhau, thành chế độ toàn
trị-tự động của xã hội.
Nhưng,
trên thực tế, tất cả mọi người đều bị dính líu và bị nô dịch, không chỉ anh bán
rau mà cả các ông thủ tướng nữa. Vị trí khác nhau trong thang bậc chỉ đơn giản
là mức độ dính líu khác nhau mà thôi: Anh bán rau chỉ dính líu ở mức nhỏ, nhưng
anh lại có rất ít quyền lực. Ông thủ tướng, đương nhiên là có nhiều quyền lực
hơn, nhưng đổi lại, ông ấy dính líu sâu hơn nhiều. Nhưng, cả hai đều không được
tự do, mỗi người một cách. Kẻ đồng lõa thực sự trong việc dính líu này không phải
là một cá nhân nào đó mà chính là hệ thống. Vị trí trên thang bậc quyền lực quyết
định mức độ trách nhiệm và tội lỗi, nhưng nó không bắt ai phải chịu tất cả
trách nhiệm và cũng như không qui tất cả tội lỗi cho bất kì ai, mà cũng không
hoàn toàn miễn tội cho bất cứ người nào. Vì thế mà xung đột giữa những mục tiêu
của đời sống và mục tiêu của hệ thống không phải là xung đột giữa hai cộng đồng
riêng biệt và được xác định về mặt xã hội; và chỉ có cách nhìn trừu tượng hóa rất
cao mới cho phép ta phân chia xã hội thành người thống trị và kẻ bị trị (và thậm
chí như vậy thì cũng chỉ rất tương đối mà thôi). Nhưng đây chính là một trong
những điểm khác biệt quan trọng nhất giữa hệ thống hậu toàn trị với chế độ
chuyên chính cổ điển – ở đấy còn có thể vạch được ranh giới xung đột theo các
nhóm xã hội. Trong hệ thống hậu toàn trị, lằn ranh này chạy qua mỗi cá nhân, vì
mỗi người đều vừa là nạn nhân vừa là người ủng hộ hệ thống, theo cách của mình.
Do đó, hệ thống làm cho chúng ta hiểu rằng không phải một nhóm người này áp đặt
trật tự xã hội lên một nhóm khác, mà là một cái gì đó đã thấm vào toàn bộ xã hội
và là nhân tố định hình nó, một cái gì đó dường như không thể nắm bắt hay định
nghĩa (bởi vì về thực chất, nó chỉ là một nguyên tắc mà thôi), nhưng lại được
toàn xã hội trưng ra như là khía cạnh quan trọng của cuộc đời của nó.
Sự
kiện là người ta đã và đang hàng ngày tạo ra hệ thống tự định hướng này, và
thông qua nó, họ tự từ bỏ bản sắc của mình, vì vậy mà không phải là kết quả của
sự nhầm lẫn không thể hiểu nổi của lịch sử, hay là do lịch sử đã đi chệch đường.
Đấy cũng không phải là sản phẩm của một ý chí hắc ám tối cao nào đó – vì những
lí do không ai biết – đã quyết định hành hạ một phần nhân loại theo cách này.
Nó có thể xảy ra, và đã xảy ra chỉ vì trong con người hiện đại rõ ràng là có một
xu hướng nhất định hướng tới việc tạo ra, hoặc ít nhất là cúi đầu chấp nhận, một
hệ thống như thế. Rõ ràng là trong con người có một cái gì đó đồng thanh tương ứng
đồng khí tương cầu với hệ thống này, một cái gì đó tương ứng và dung dưỡng, một
cái gì đó bên trong đã làm tê liệt mọi cố gắng của cái “Tôi nhân bản hơn” trong
họ đứng lên phản kháng. Người ta buộc phải sống trong dối trá, nhưng họ chỉ có
thể bị buộc phải sống trong dối trá nếu như họ có thể sống như thế. Do đó,
không chỉ hệ thống tha hóa con người, mà con người đã bị tha hóa ủng hộ hệ thống
này như thể đó là kế hoạch do họ tự lập ra, như là hình ảnh suy đồi của sự suy
đồi của chính họ, như là minh chứng cho sự thất bại của chính cá nhân mình vậy.
Mỗi
người đều có những mục tiêu căn bản của cuộc sống. Mỗi người đều khát khao phẩm
giá, khát khao sự toàn vẹn về mặt đạo đức, khát khao thể hiện mình và vượt lên
trên thế giới vật chất này. Nhưng đồng thời, mỗi người lại có thể – ít nhiều
khác nhau – thỏa hiệp với sống trong dối trá. Mỗi người đều tìm cách buộc nhân
tính vốn có của mình phải khuất phục thói vị lợi và sự tầm thường trần tục. Mỗi
người đều muốn hòa mình vào đám đông vô danh và sẵn sàng buông xuôi trong dòng
đời giả dối này. Đây không chỉ là xung đột giữa hai bản sắc. Nó còn tệ hơn thế
rất nhiều: Đây chính là thách thức với chính khái niệm về bản sắc.
Dùng
những thuật ngữ cực kì đơn giản, có thể nói rằng hệ thống hậu toàn trị được xây
dựng trên nền tảng được hình thành bởi cuộc gặp gỡ mang tính lịch sử giữa chế độ
chuyên chế và xã hội tiêu thụ. Chẳng phải là khả năng thích nghi nhanh chóng với
“sống trong dối trá” và sự mở rộng dễ dàng của chế độ toàn trị-tự động có mối
liên hệ với sự kiện là những người theo chủ nghĩa tiêu thụ không muốn từ bỏ một
vài tiện nghi vật chất để đổi lấy sự toàn vẹn về mặt đạo đức và tâm hồn hay
sao? Chẳng phải là chúng có liên hệ với sự kiện là họ sẵn sàng từ bỏ những giá
trị cao quí khi đối mặt với những cám dỗ tầm thường của nền văn minh hiện đại
hay sao? Chẳng phải là chúng có liên hệ với sự kiện là họ dễ bị đám đông thờ ơ
lôi kéo hay sao? Và cuối cùng, chẳng phải cuộc đời xám xịt và trống rỗng trong
hệ thống hậu toàn trị cũng chỉ là bức biếm họa sắc nét của đời sống hiện đại
nói chung hay sao? Và chẳng phải là, trên thực tế, chúng ta (mặc dù theo các
tiêu chuẩn bên ngoài thì chúng ta còn tụt hậu rất xa) đang là lời cảnh báo cho
phương Tây, đang chỉ cho họ những xu hướng phát triển tiềm tàng của chính họ
hay sao?
VII.
Bây
giờ, hãy tưởng tượng rằng một ngày kia, trong lòng anh hàng rau nọ bỗng xảy ra
một chuyện gì đó và anh thôi không đặt khẩu hiệu lên cửa sổ nữa, dù chỉ để cho
mình cảm thấy thanh thản mà thôi. Anh không tham gia bầu cử nữa vì biết rằng đấy
là trò nhảm nhí. Trong những cuộc hội nghị chính trị, anh bắt đầu nói những điều
mình thực sự nghĩ. Thậm chí anh còn tìm được sức mạnh nội tâm, đủ sức bày tỏ
tình đoàn kết với những người mà lương tâm buộc anh phải ủng hộ. Trong cuộc nổi
dậy này, anh hàng rau đã bước ra khỏi “sống trong dối trá”. Anh vất bỏ nghi thức
và phá vỡ các luật chơi. Anh tìm lại được bản sắc và nhân phẩm đã bị áp chế của
mình. Anh cho rằng tự do là điều có ý nghĩa thực sự. Cuộc nổi dậy của anh là nỗ
lực để sống trong sự thật.
Anh
phải trả giá ngay lập tức. Anh ta không được làm quản lí nữa và bị chuyển đến
nhà kho. Lương sẽ hạ. Hi vọng về một kì nghỉ ở Bulgaria sẽ không còn. Việc vào
đại học của con cái bị đe dọa. Cấp trên sẽ quấy rầy và đồng nghiệp sẽ nghi ngờ
anh. Nhưng phần lớn những người sử dụng những biện pháp trừng phạt đó không phải
vì thâm tâm họ kết tội anh, mà vì sức ép của hoàn cảnh, cũng chính là hoàn cảnh
đã từng buộc anh hàng rau phải trưng ra cái khẩu hiệu chính thức kia. Họ ngược
đãi anh là vì những người khác nghĩ là họ phải làm thế, hoặc để chứng tỏ lòng
trung thành của mình, hoặc chỉ đơn giản là một phần của khung cảnh chung, cùng
với nó là nhận thức về cách xử lí những trường hợp như thế này, mà trên thực tế
là cách mà người ta vẫn làm với những trường hợp như thế, đấy là nói nếu người
đó không muốn trở thành kẻ bị nghi ngờ. Vì vậy mà những kẻ ngược đãi cũng hành
xử như tất cả những người khác, dù mức độ nghiêm trọng có khác nhau: Họ hành xử
như một thành phần của hệ thống hậu toàn trị, như một tác nhân của cỗ máy tự động,
như là một công cụ đáng thương của nó vậy, họ cũng ứng xử như mọi người khác,
cao thấp tùy người: với tư cách là các thành tố của hệ thống hậu toàn trị, với
tư cách là nhân viên của cỗ máy tự động, như là các công cụ đáng thương của hệ
toàn trị-tự động của xã hội.
Như
vậy là, cơ cấu quyền lực – thông qua hành động của những người thi hành những
biện pháp trừng phạt, thông qua những thành tố vô danh của hệ thống – sẽ đẩy
anh bán rau ra khỏi miệng của nó. Hệ thống – thông qua những thành phần đã bị
tha hóa trong dân chúng – sẽ trừng phạt anh vì anh dám nổi loạn. Nó phải làm thế
vì logic của cỗ máy tự động và tự vệ buộc nó phải làm thế. Vì tính độc đáo của
nó mà cuộc tấn công của anh hàng rau không phải là cuộc tấn công mang tính cá
nhân, đơn lẻ và biệt lập, mà là cái gì đó nghiêm trọng hơn rất nhiều. Bằng việc
phá vỡ luật chơi, anh đã làm gián đoạn cuộc chơi. Anh đã chỉ ra rằng nó chỉ là
một trò chơi. Anh ta đã đập tan thế giới của ảo tưởng, tức là đập tan cái cột
cái của hệ thống. Anh đã lật đổ cơ cấu quyền lực bằng cách xé toạc những thứ đã
giúp cố kết nó lại với nhau. Anh ta đã chứng minh rằng sống trong dối trá chính
là sống dối trá. Anh ta đã phá vỡ cái mặt tiền được thần thánh hóa của hệ thống
và vạch trần nền tảng thực sự của quyền lực. Anh đã nói rằng hoàng đế cởi truồng.
Và bởi vì trên thực tế hoàng đế đang cởi truồng, cho nên đã xảy ra một chuyện cực
kì nguy hiểm: Bằng hành động của mình, anh hàng rau đã phát đi lời kêu tới toàn
thế giới. Anh giúp mọi người nhìn vào hậu trường. Anh đã cho tất cả mọi người
thấy rằng có thể sống trong sự thật. Sống trong dối trá chỉ có thể tạo thành hệ
thống nếu mọi người đều làm như vậy. Nguyên tắc của nó phải bao trùm và ngấm
vào tất cả. Không có gì có thể cho phép nó cùng tồn tại với sống trong sự thật,
và vì vậy mà tất cả những người bước qua vạch đều phủ định nó về mặt nguyên tắc
và đe dọa tính toàn vẹn của nó.
Có
thể hiểu được: Khi ảo tưởng còn chưa va chạm với hiện thực thì dường như nó vẫn
không phải là ảo tưởng. Khi “sống trong dối trá” còn chưa giáp mặt với “sống
trong sự thật” thì vẫn chưa có đủ điều kiện để vạch trần sự dối trá của nó.
Nhưng ngay khi có một cách sống khác thì cách sống mới này sẽ đe dọa chính sự tồn
tại của ảo tưởng và “sống trong dối trá”, nó cho biết chúng là gì, cả về bản chất
và tính bao trùm của chúng. Và đồng thời, cách sống khác này lan tỏa bao xa
hoàn toàn không phải là vấn đề quan trọng: Sức mạnh của nó không nằm ở các thuộc
tính vật lí mà ở luồng ánh sáng mà nó rọi vào những trụ cột của hệ thống và nền
móng thiếu vững chắc của nó. Nói cho cùng, anh hàng rau là mối đe dọa với hệ thống
không phải vì sức mạnh vật chất hay sức mạnh thực tế mà anh ta có, mà vì hành động
của anh đã vượt lên chính nó, bởi vì nó rọi vào những thứ bao bọc xung quanh
nó, và tất nhiên là vì những hậu quả khôn lường của luồng ánh sáng ấy. Vì vậy
mà trong hệ thống hậu toàn trị, “sống trong sự thật” không chỉ thuần túy là phạm
vi hiện sinh (trả cho con người bản chất vốn có của nó), hay phạm vi trí tuệ
(khám phá thực tiễn như nó vốn là), hoặc phạm vi đạo đức (làm gương cho người
khác). Nó còn có một phạm vi chính trị rõ ràng. Nếu trụ cột của hệ thống là “sống
trong dối trá” thì không có gì ngạc nhiên là đe dọa chủ yếu của nó là “sống
trong sự thật”. Đấy là lí do vì sao sống trong sự thật lại bị đàn áp dữ dội hơn
bất kì điều gì khác.
Trong
hệ thống hậu toàn trị, sự thật theo nghĩa rộng nhất của từ này có tầm quan trọng
đặc biệt, mà trong những bối cảnh khác người ta không thể nào biết được. Trong
hệ thống này, sự thật đóng vai trò to lớn hơn nhiều (và trước hết là khác hẳn)
vì nó là nhân tố của quyền lực, hoặc của một lực lượng chính trị triệt để. Sức
mạnh của sự thật vận hành như thế nào? Sự thật, như một nhân tố của quyền lực,
hoạt động ra sao? Làm sao biến sức mạnh của nó – với vai trò là một quyền lực –
thành hiện thực?
VIII.
Các
cá nhân bị vong thân với chính mình là vì trong họ có một cái gì đó cần phải bị
loại ra để trở thành vong thân. Đối tượng của sự áp bức chính là cuộc sống chân
thật của họ. Vì vậy mà “sống trong sự thật” được đan cài trực tiếp vào tấm thảm
“sống trong dối trá”. Nó là lựa chọn đã bị đè nén, là mục tiêu thực sự, còn sống
trong dối trá chỉ là phản ứng giả tạo thôi. Chính trên cái nền ấy mà sống dối
trá mới có ý nghĩa: Nó tồn tại chỉ vì có cái nền như thế. Sự bắt rễ đầy chống
chế và ảo tưởng của nó trong trật tự của loài người chỉ là phản ứng trước thiên
hướng tìm về chân lí của loài người mà thôi. Dưới bề mặt có vẻ trật tự của đời
sống, dối trá luôn ẩn giấu cuộc sống thực với tất cả những mục tiêu chính đáng
vẫn còn ngủ say, luôn mở lòng để đón nhận chân lí.
Quyền
lực chính trị phi thường, mãnh liệt và khó lường trước được của “sống trong sự
thật” chính là ở đây: Sống một cách thẳng thắn trong sự thật bao giờ cũng có đồng
minh, tất nhiên là đồng minh vô hình nhưng mạnh mẽ vô song, đó chính là cái
không gian đã bị ẩn giấu ấy. Chính từ không gian này mà cuộc sống cởi mở trong
sự thật mới có thể phát triển, tiếng nói của nó là nhắm đến không gian này, và
nó tìm được sự cảm thông ở đó. Chỉ có ở nơi này người ta mới có thể mong đợi khả
năng có sự giao tiếp thực. Nhưng đây lại là nơi bị giấu kín, và vì vậy, nhìn dưới
góc độ quyền lực thì nó rất nguy hiểm. Sự lên men phức tạp ở không gian này diễn
ra trong cảnh tranh tối tranh sáng; Sau một thời gian nó sẽ xuất hiện giữa
thanh thiên bạch nhật với một chuỗi những bất ngờ gây chấn động cho hệ thống,
và thường thì lúc ấy mọi việc đã quá muộn, không thể che đậy bằng những biện
pháp thông thường được nữa. Chính vì vậy, nó luôn làm cho hệ thống lúng túng,
hoảng loạn và buộc phải phản ứng bằng những biện pháp không thích hợp.
Dường
như mầm mống đầu tiên của cái có thể hiểu là đối lập – theo nghĩa rộng nhất của
từ này – trong hệ thống hậu toàn trị chính là “sống trong sự thật”. Dĩ nhiên
là, xung đột giữa những lực lượng đối kháng và chính quyền rõ ràng phải diễn ra
dưới hình thức rất khác với những xung đột trong các xã hội cởi mở hoặc trong
các chế độ chuyên chính cổ điển. Khởi thuỷ, cuộc xung đột không diễn ra trên
bình diện quyền lực thực sự, không diễn ra trên bình diện quyền lực đã được thể
chế hóa và có thể xác định được, tức là quyền lực dựa trên những phương tiện bạo
lực khác nhau, mà diễn ra trên một bình diện hoàn toàn khác: Nó diễn ra trên
bình diện ý thức và lương tâm, trên bình diện của hiện sinh. Không thể đo lường
phạm vi hiệu lực của quyền lực đặc biệt này bằng số lượng môn đồ, số cử tri hay
binh lính, bởi vì nó thâm nhập vào đội quân thứ năm của nhận thức xã hội, thâm
nhập vào mục đích bị che giấu của cuộc đời, thâm nhập vào khát khao bị đè nén của
con người về nhân phẩm và những quyền cơ bản, về việc biến những mối quan tâm của
họ về mặt xã hội và chính trị thành hiện thực. Vì vậy mà sức mạnh của nó không
nằm ở sức mạnh của các nhóm chính trị và xã hội, mà chủ yếu là nằm ở sức mạnh của
tiềm năng, ẩn giấu trong toàn xã hội, trong đó có cơ cấu quyền lực chính thức của
xã hội ấy.
Do
đó, sức mạnh ấy không nằm trong những người lính của nó, mà nằm trong những người
lính của kẻ thù, bởi vì nó nằm trong tất cả những con người đang “sống trong giả
dối”, những người có thể bị sức mạnh (chí ít là về lí thuyết) của sự thật (hay
những người vì muốn bảo vệ địa vị mà ngả theo sức mạnh ấy) hạ gục bất cứ lúc
nào. Có thể nói, đó là thứ vũ khí vi trùng và khi điều kiện đã chín muồi, một
công dân bình thường có thể dùng nó để tước vũ khí cả một sư đoàn. Sức mạnh này
không tham gia bất kì một cuộc đấu tranh trực diện nào mà chỉ tạo ra ảnh hưởng
trên đấu trường ngầm để có thể trở thành chính nó. Nhưng, chuyển động ngầm mà
nó tạo ra có thể biến thành một cái gì đó có thể cảm nhận được: thành một sự kiện
hay hành động chính trị thật sự, thành một phong trào xã hội, thành một vụ bộc
phát của sự bất bình, thành xung đột gay gắt trong trong lòng cơ cấu quyền lực
tưởng chừng vẫn thống nhất thành một khối, hoặc chỉ đơn giản là sự biến đổi
nhanh chóng trong dư luận xã hội và trong lĩnh vực tinh thần (ở đâu, khi nào,
trong những hoàn cảnh nào và qui mô nào thì thật khó dự đoán). Vì tất cả những
vấn đề thực sự và những hiện tượng khủng hoảng đều nằm dưới cái vỏ dối trá dày
đặc nên không rõ là khi nào thì “cái kim trong bọc sẽ lòi ra[5]”
hay cái kim ấy có hình thù như thế nào. Đấy cũng là lí do vì sao chính quyền kết
án – gần như một phản xạ vô điều kiện nhằm ngăn chặn – thậm chí ngay cả những cố
gắng “sống trong sự thật” khiêm tốn nhất.
Tại
sao Solzhenitsyn[6] bị trục xuất ra nước
ngoài? Chắc chắn không phải vì ông là người đại diện cho một đơn vị quyền lực
thực sự, nghĩa là, không phải vì những người cầm quyền cảm thấy là ông có thể lật
đổ họ và chiếm vị trí của họ trong chính quyền. Trục xuất Solzhenitsyn là một
điều gì đó khác hẳn: Đây một cố gắng tuyệt vọng nhằm chặn đứng suối nguồn của sự
thật đáng sợ ấy, chặn đứng cái sự thật có thể gây ra những chuyển hóa không lường
trước được trong nhận thức xã hội, và một ngày nào đó, sự chuyển hóa này có thể
tạo ra một vụ sụp đổ chính trị với những hậu quả không thể dự đoán được. Và vì
thế mà hệ thống hậu toàn trị đã sử dụng biện pháp đặc trưng của nó: bảo vệ sự
toàn vẹn của thế giới ảo tưởng nhằm bảo vệ chính nó. Vì cái lớp vỏ mà cuộc sống
dối trá trưng ra được làm từ một chất liệu kì quặc. Khi nó còn bịt kín được
toàn xã hội thì người ta còn tưởng là nó được làm bằng đá. Nhưng khi có người
chọc thủng được một chỗ, khi có người hét to lên rằng: “Hoàng đế cởi truồng!” –
khi chỉ cần một người phá vỡ luật chơi và bằng cách đó chỉ cho mọi người thấy rằng
nó chỉ là một trò chơi – thì tất cả đột nhiên hiện ra dưới một ánh sáng khác và
lúc đó mới thấy rằng dường như cái vỏ đó chỉ là một tờ giấy đang rách và đang
tan rã một cách nhanh chóng.
Khi
nói về việc sống trong sự thật, tất nhiên là tôi không chỉ nghĩ đến những sản
phẩm của tư duy khái niệm, thí dụ như một vụ phản đối hay kiến nghị của một
nhóm trí thức. Bất kì phương tiện nào mà một cá nhân hay một nhóm người sử dụng
nhằm chống lại sự thao túng cũng đều là “sống trong sự thật” hết: Mọi thứ, từ một
bức thư của những nhà trí thức cho đến cuộc bãi công của công nhân, từ một đêm
nhạc rock đến cuộc biểu tình của sinh viên, từ việc không tham gia những vụ bầu
cử lố bịch hay đọc diễn văn tại một đại hội chính thức nào đó, hay thậm chí là
một cuộc tuyệt thực, thí dụ thế. Nếu việc đàn áp những mục tiêu của cuộc sống
là một quá trình phức tạp, và nếu việc đàn áp này dựa trên việc thao túng nhiều
mặt của cuộc đời, thì cũng chính vì thế mà bất cứ biểu hiện tự do nào cũng đều
gián tiếp đe dọa hệ thống hậu toàn trị về mặt chính trị, kể cả những hình thức
thể hiện mà trong những hệ thống xã hội khác chẳng có một ý nghĩa chính trị tiềm
tàng nào, chứ đừng nói có sức mạnh có thể gây thành một vụ bùng nổ.
Mùa
xuân Praha thường được hiểu như là sự đụng độ giữa hai nhóm người trên bình diện
sức mạnh thực sự: đụng độ giữa những người muốn duy trì hệ thống như nó vốn là
và những người muốn cải tạo nó. Nhưng người ta thường quên rằng cuộc chạm trán
này chỉ là hành động cuối cùng và là hậu quả tất yếu của của một vở kịch dài mà
ban đầu diễn ra chủ yếu trong lĩnh vực tinh thần và lương tâm của xã hội. Và bắt
đầu vở kịch là những cá nhân muốn sống trong sự thật, thậm chí ngay cả khi mọi
thứ đang ở giai đoạn tồi tệ nhất. Đấy là những người không được tiếp xúc với
quyền lực, mà họ cũng không muốn tiếp xúc với nó. Khu vực mà họ sống trong sự
thật không nhất thiết phải là lãnh địa của tư tưởng chính trị. Họ có thể là nhà
thơ, họa sỹ, nhạc sỹ, hoặc đơn giản chỉ là những công dân bình thường nhưng có
khả năng duy trì phẩm giá của họ. Ngày nay, tất nhiên là khó có thể truy nguyên
khi nào và một hành động hay thái độ cụ thể nào đã gây được ảnh hưởng qua con
kênh bí mật và quanh co nào, và khó có tìm được dấu vết của con virus sự thật
vì nó đã lan ra một cách từ từ trong tế bào của “sống trong dối trá” và làm cho
nó tan rã dần. Nhưng, một điều dường như là rõ ràng: Cố gắng cải cách chính trị
không phải là nguyên nhân làm cho xã hội bừng tỉnh, mà là kết quả chung cuộc của
sự bừng tỉnh ấy.
Tôi
cho rằng dùng kinh nghiệm này để chiếu rọi hiện tại thì ta sẽ hiểu nó một cách
rõ ràng hơn. Cuộc đối đầu của một ngàn người hoạt động trong phong trào Hiến
chương[7] và
hệ thống hậu toàn trị dường như là vô vọng về mặt chính trị. Đúng như thế, đấy
là nói nếu chúng ta nhìn nó qua những lăng kính truyền thống của hệ thống chính
trị cởi mở, trong đó, hoàn toàn tự nhiên là tất cả các lực lượng chính trị đều
phải được đánh giá bằng vị trí mà nó giữ trên bình diện sức mạnh thực tế. Theo
quan điểm đó, một đảng nhỏ tí như Hiến chương chắc chắn là chẳng có cơ hội nào.
Nhưng nếu nhìn cuộc đối đầu này trong bối cảnh của quyền lực trong hệ thống hậu
toàn trị mà ta đã biết thì nó sẽ xuất hiện dưới ánh sáng hoàn toàn khác. Vì hiện
nay không thể nói sự xuất hiện của Hiến chương 77, sự tồn tại của nó, và công
việc nó làm trong không gian ngầm đã tạo được ảnh hưởng gì, và lúc đó người ta
quan tâm tới những cố gắng của Hiến chương nhằm nhen nhóm lại ý thức công dân
và sự tự tin với mức độ như thế nào. Cuối cùng, khoản đầu tư này có tạo được cổ
tức theo nghĩa những thay đổi chính trị cụ thể hay không, tạo ra vào lúc nào và
như thế nào lại càng khó dự đoán hơn nữa. Nhưng dĩ nhiên, đấy tất cả là sống
trong sự thật. Như một giải pháp hiện sinh, nó đưa cá nhân trở về với nền tảng
vững chắc của bản sắc của họ; còn về chính trị, nó ném họ vào một canh bạc được
ăn cả, ngã về không. Chính vì lí do đó, chỉ những người sẵn sàng mất trắng hay
được tất hoặc những người đã rút ra kết luận rằng hiện nay ở Tiệp Khắc, chẳng
còn cách làm chính trị thực sự nào khác, mới chơi canh bạc này mà thôi. Nhưng
hai mà chỉ là một: Chỉ những người không muốn hi sinh bản sắc của mình vì chính
trị, hay những người không tin vào một nền chính trị đòi hỏi sự hi sinh như thế,
mới có thể đi tới kết luận này.
Hệ
thống hậu toàn trị càng tìm cách vô hiệu hóa những lựa chọn có tính cạnh tranh
với nó trên bình diện quyền lực thực tế cũng như nó càng tìm cách vô hiệu hóa
những hình thức hoạt động chính trị không phụ thuộc vào qui luật vận hành của cỗ
máy tự động của nó thì trọng tâm của lực hấp dẫn của bất kì mối đe dọa chính trị
tiềm tàng nào cũng sẽ càng dịch chuyển sang địa hạt của hiện sinh và tiền-chính
trị: Chẳng cần một cố gắng hữu thức nào, bình thường, sống trong sự thật đã trở
thành xuất phát điểm tự nhiên của tất cả những hoạt động nhằm chống lại cỗ máy
tự động của hệ thống. Và thậm chí, nếu như cuối cùng những hoạt động như vậy có
vượt qua được lãnh địa của việc sống trong sự thật (có nghĩa là chúng đã chuyển
thành vô số các phong trào, tổ chức, định chế song hành, tồn tại những phong
trào, tổ chức và định chế của nhà nước và nếu người ta bắt đầu coi đấy là hoạt
động chính trị, tạo ra sức ép thực tế lên các cơ cấu của nhà nước, và trên thực
tế bắt đầu có ảnh hưởng trên bình diện quyền lực thực tế) thì chúng vẫn luôn
mang trong mình những dấu vết đặc thù về cội nguồn của chúng. Vì vậy, tôi có cảm
tưởng rằng không thể có nhận thức đúng đắn về cả cái gọi là phong trào bất đồng
chính kiến nếu không thường xuyên suy nghĩ về cái khung cảnh đặc biệt vốn là xuất
phát điểm của nó.
[1] Gustav Husák (1913- –
1991): gia nhập đảng Cộng sản năm 1933, tham gia lãnh đạo chống sự chiếm đóng của
Đức trong Thế chiến II. Sau chiến tranh, nắm giữ các chức vụ trong đảng và nhà
nước. Năm 1951, trong chiến dịch thanh lọc của đảng, bị bắt và bỏ tù. Được thả
năm 1960, được tái gia nhập đảng năm 1963, kêu gọi tự do hóa chính trị và tự trị
cho Slovakia. Sau khi Antonín Novotný từ chức năm 1968, Husák trở thành Phó Thủ
tướng, và là một kiến trúc sư của cải cách năm 1968. Sau khi Liên Xô đưa quân
vào Tiệp, Husák trở nên ngày càng thân Xô Viết. Tháng Tư 1969, trở thành Bí thư
đảng.Trong thời gian cai trị của Husák, Tiệp Khắc đã trở thành một nhà nước cảnh
sát. Năm 1975 Husák hợp nhất chức vụ Bí thư đảng với Chủ tịch nước, và rồi từ
chức Tổng Bí thư năm 1987 nhưng giữ vị trí Chủ tịch đến năm 1989, khi chủ nghĩa
cộng sản sụp đổ ở Czechoslovakia. Thay vào vị trí của Husák chính là Václav
Havel, ở cương vị Tổng thống, vào ngày 29-12-1989. (Phần lớn các chú thích đều
lấy từ bản dịch của Khải Minh tại địa chỉ
talawas.org)
[2] Vladyslaw Gomulka (1905- –
1982): gia nhập đảng Cộng sản Ba Lan năm 1926, sống sót qua cuộc đại thanh lọc
năm 1938 dưới bàn tay của Stalin. Từ năm 1943, góp phần phục hồi lại đảng này với
danh xưng Đảng Công nhân Ba Lan, và trong những năm đầu sau chiến tranh đã trở
thành nhân vật quan trọng hàng đầu của đảng (chính ông tự gọi mình là “người bá
quyền lãnh đạo của Ba Lan”). Nhưng trong những năm 1951 – 1954, do đấu đá phe
phái trong đảng, bị lên án là “cánh hữu”, “phản động”, và bị bỏ tù. Năm 1956,
khi bắt đầu tiến trình “giải Stalin”, ông được phục hồi và được bầu lãnh đạo Đảng
Công nhân Thống nhất Ba Lan, dần dần chống lại sức ép của Liên Xô một cách mềm
mỏng. Tuy nhiên, với tư cách thành viên của khối Hiệp ước Warsaw, ông đã đưa
quân vào Tiệp Khắc năm 1968. Gomulka cũng chịu trách nhiệm cho việc ngược đãi
sinh viên và giới trí thức, cùng một chế độ kiểm duyệt ngặt nghèo đối với truyền
thông. Tháng 12 năm 1970, sau vụ xung đột đẫm máu với công nhân đóng tàu,
Gomulka bị buộc phải từ chức, Edward Gierek nắm quyền lãnh đạo đảng. Dù sao,
sau khi chết, một số đóng góp có tính xây dựng của Gomulka cũng đã được nhìn nhận.
[3] Phản Hiến chương: Ý nói bản
tuyên bố do nhà cầm quyền Tiệp Khắc dựng lên nhằm bác bỏ Hiến chương 77. (Hiến
chương 77 là một tuyên ngôn được công bố vào tháng 1 năm 1977, lên án nhà nước
Tiệp Khắc vi phạm các quyền tự do của con người, do 243 trí thức và công dân Tiệp
Khắc kí tên. Theo nghĩa rộng, đây là một phong trào dân sự phi cộng sản đã góp
phần quan trọng đưa đến sự sụp đổ của nhà nước toàn trị ở Tiệp Khắc).
[4] Faust: nhân vật thần thoại trong văn học nghệ
thuật châu Âu, người bán linh hồn cho quỷ dữ để đổi lấy tuổi trẻ, tri thức và sức
mạnh. Lần đầu tiên chính thức xuất hiện là trong vở kịch của Christopher
Marlowe ở những năm 1590, sau đó trong một vở kinh điển của Johann Wolfgang von
Goethe ở thế kỷ 19.
Mephistopheles, Quỷ vương, chính là nhân vật tiến hành
mua bán với Faust. Cái tên này được dùng thay cho Satan hay Quỷ sứ, nhưng không
có từ ban đầu trong Kinh thánh mà chỉ được hư cấu kể từ thời Phục hưng. Từ thế
kỷ thứ 17, nhiều huyền thoại Thiên Chúa giáo bắt đầu nói đến Mephistopheles
cùng với Lucifer – Ma vương/ Diêm vương – như những thiên thần nổi loạn chống lại
Thượng đế vào lúc khởi thủy, bị đuổi khỏi Thiên đàng.
[5] Dịch thoát ý ngạn ngữ:
when the proverbial last straw will fall (ND).
[6] Alexander I. Solzhenitsyn:
nhà văn bất đồng chính kiến Liên Xô, các tiểu thuyết của ông tố cáo sự tàn bạo
trong các trại lao động Xô Viết.
[7] Hiến chương 77: Một sáng kiến công dân không
chính thức ở Tiệp Khắc những năm 1977-– 1992, đóng vai trò quan trọng trong khoảng
thời gian cuối những năm 1980, khi chủ nghĩa cộng sản đi đến sụp đổ tại nước
này. Trong số các thành viên sáng lập hàng đầu của Hiến chương 77 có Václav
Havel. Lần đầu tiên Hiến chương xuất hiện như một cương lĩnh vào tháng Giêng
năm 1977, trên một tờ báo ở Tây Đức, với chữ kí của 243 công dân Czechoslovakia
thuộc những ngành nghề, chính kiến và tôn giáo khác nhau. Đến giữa những năm
1980, số chữ kí lên đến 1200. Hiến chương phê phán nhà nước Tiệp Khắc thất bại
trong việc thực thi các điều khoản về nhân quyền như đã được ghi trong các văn
kiện mà nhà nước này đã kí kết, trong đó có cả chính Hiến pháp Tiệp Khắc, Hiệp
ước An ninh và Hợp tác châu Âu, các điều khoản của Liên hợp quốc về các quyền
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa… Nó mô tả những người tham gia kí Hiến
chương như một liên hiệp không cố kết, không chính thức và để mở, thống nhất với
nhau do cùng chung ý chí phấn đấu, về mặt cá nhân và tập thể, cho sự tôn trọng
nhân quyền và dân quyền trên đất nước Tiệp Khắc và khắp thế giới. Nó cũng nhấn
mạnh đây không phải là một tổ chức, một quy chế hay một cơ chế vĩnh viễn, và
không phải là hình thức làm cơ sở cho hành động đối lập chính trị. Phản ứng của
nhà nước Tiệp là bôi nhọ và đàn áp. Họ dùng truyền thông chính quyền, kể cả
trong truyền thông đối ngoại, để mô tả Hiến chương là “chống nhà nước”, “chống
chủ nghĩa xã hội”, là “mị dân” và “phần sỉ nhục của viết lách”. Họ gọi những người
kí vào Hiến chương là “những kẻ phản bội và nổi loạn”, là “đầy tớ trung thành
và gián điệp của chủ nghĩa đế quốc”, những kẻ “phá sản về chính trị” và “phiêu
lưu quốc tế”… Tháng Mười năm 1979, sáu nhà lãnh đạo của nhóm, trong đó có
Václav Havel, bị đưa ra xử vì tội lật đổ và bị kết án với những mức tù đến năm
năm.
No comments:
Post a Comment