Showing posts with label Văn học. Show all posts
Showing posts with label Văn học. Show all posts

December 19, 2020

BÓC LỘT NGOÀI KINH TẾ

 Tác phẩm Suy Tưởng - Nguyễn Trần Bạt - tr. 151-161

I. Sai lầm trong nhận thức hiện nay về bóc lột
K. Marx là người có công rất lớn trong việc chỉ ra cơ chế bóc lột tinh vi của Chủ nghĩa tư bản - đó là bóc lột bằng giá trị thặng dư. Với những phân tích dựa trên quan điểm kinh tế học, Marx kết luận rằng, không chỉ có bóc lột nô lệ và nông nô, mà cả chế độ làm công ăn lương cũng là những hình thức người bóc lột người, mặc dù nó được ngụy trang dưới hình thức của một hợp đồng giữa chủ tư bản và người làm thuê. Trên thực tế, không có luật lệ nào bắt buộc người lao động phải làm việc cho một ông chủ tư bản nhất định, và người lao động có phần được tự do hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là hiện tượng bóc lột không diễn ra. Theo Marx, bản tính lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là ở chỗ những người không có tư liệu sản xuất buộc phải bán sức lao động của mình cho người sở hữu tư liệu sản xuất, tức nhà tư bản, để đổi lấy đồng lương.


Lý thuyết về bóc lột của Marx, mặc dù đã từng được chấp nhận thông một giới hạn và một giai đoạn lịch sử nhất định – khi con người chịu ảnh hưởng của tính bất đối xứng về thông tin hay không có khả năng nhận thức - ngày nay đã bộc lộ những thiếu sót.
Sự bóc lột bằng giá trị thặng dư, mà học thuyết của Marx đã phân tích, thịnh hành trên thế giới những năm đầu, và muộn nhất là đến những năm bốn mươi của thế kỷ XX. Sự bóc lột ấy diễn ra trong quan hệ giữa con người với con người, và ở mức độ cao hơn là giữa quốc gia với quốc gia. Giữa con người là sự bóc lột giá trị thặng dư, tức là sự chiếm đoạt thành quả lao động của đồng loại bằng cách đầu cơ cả lao động đơn giản và lao động sáng tạo; giữa các quốc gia là sự bóc lột bằng giá nhân công rẻ mạt, sự khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên của quốc gia khác.
Sự ra đời và phát triển của Chủ nghĩa Marx gắn liền với những điều kiện kinh tế - xã hội nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX - khi lao động giản đơn bằng tay chân và máy móc công nghiệp vẫn đóng vai trò chủ yếu. Trong thời đại ngày nay, khi lao động phát triển thành thị trường, giá trị của nó được xác lập theo tiêu chuẩn của thị trường, thì hiện tượng bóc lột kinh tế theo phân tích của Marx không còn hoàn toàn đúng nữa, tất nhiên phải trừ các quốc gia lạc hậu, nơi người ta vẫn tiếp tục duy trì kiểu bóc lột cũ. Tính chất thị trường hay tính mở, của lực lượng lao động và các dòng tiền vốn chính là nguyên nhân khiến ngày nay, người lao động có quyền và buộc phải lựa chợn, không chỉ các xí nghiệp, mà cả quốc gia để bán sức lao động.
Mặt khác, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, người ta không còn có thể đầu cơ lao động đơn giản nữa. Sự phát triển của khoa học và công nghệ không phải là sáng tạo của riêng một cá nhân mà của cả quá trình đầu tư toàn xã hội. Bản thân khoa học và công nghệ đã chứa đựng trong nó các thành tố xã hội hóa. Do đó, quan hệ giữa người với người trong quá trình lao động đã thay đổi về chất, áp lực bóc lột giảm đi, đồng thời hình thức bóc lột cũng thay đổi.
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, sự bóc lột kinh tế mà Marx đã phân tính, không còn đúng trong thời đại ngày nay.
Và hiện tượng bóc lột không chỉ diễn ra trong quan hệ giữa chủ và thợ, mà còn, và khủng khiếp hơn, là giữa nhà nước và xã hội, thông qua các phong trào chính trị phi hiện thực với đời sống con người. Đặc biệt, ở các nước thiếu dân chủ, nơi các quyền của con người về kinh tế, chính trị - xã hội còn bị hạn chế, nói cách khác, ở các quốc gia với thể chế chính trị không minh bạch, quá trình bóc lột con người diễn ra dài hơn, với những hình thức tệ hại hơn. Nhiều khi hàng triệu, hàng trăm triệu, hay thậm chí hàng tỉ nhân công đã bị huy động một cách phi kinh tế và phi công bằng chỉ để phục vụ các cuộc phiêu lưu chính trị - xã hội viển vông, nhằm thỏa mãn ý thích ích kỷ cá nhân của những nhà lãnh đạo.
Cho nên, sai lầm phổ biên hiện nay về bóc lột còn nằm ở chỗ coi sự bóc lột giá trị thặng dư như là mối quan hệ chủ yếu, hay thậm chí là mối quan hệ duy nhất trong đời sống xã hội.
II. Bóc lột ngoài kinh tế là gì?
Bóc lột ngoài kinh tế là vấn đề lớn và vô cùng phức tạp, bởi lẽ ở mỗi thời kỳ lịch sử, di chứng của nó rất khác nhau. Nhưng suy đến cùng, bóc lột ở thời nào cũng đều kéo dài kiếp sống lầm lũi, kém phát triển của cả tầng lớp dân chúng nghèo khổ trong xã hội. Đích cuối cùng của chúng ta không phải là chống lại bóc lột, mà là chống lại chính sự bần cùng hóa con người. Nói cách khác, chúng ta phải giải phóng con người ra khỏi đời sống kém phát triển và tạo không gian tự do sáng tạo để họ có thể phát huy hết năng lực của mình.
Bóc lột kinh tế diễn ra hàng ngày, hàng giờ, qua miếng cơm manh áo của người dân, mặc dù nó không bao giờ đơn thuần chỉ là phạm trù kinh tế, mà trái lại, luôn luôn là phạm trù chính trị - xã hội. Nó hiện hữu không chỉ trong các quan hệ kinh tế mà còn trên tất cả các mảng khác nhau của đời sống. Marxim Gorky đã từng viết trong cuốn "Kiếm sống": “Tôi không hiểu tại sao Marx cần đến hàng nghìn trang để viết về bóc lột giá trị thặng dư trong khi tôi cảm nhận nó hàng ngày, hàng giờ trên da thịt của mình". Vì lẽ đó, việc nấn ná với bản chất thuần túy kinh tế học của khái niệm bóc lột cũng có nghĩa là vô tình hoặc cố tình di chuyển sự chú ý sang một đối tượng khác, trong khi, nguồn gốc gây tội ác thông qua các hiện tượng bóc lột đã mở rộng trên quy mô lớn hơn nhiều lần, hay ít nhất là không hề nhỏ so với quy mô theo quan điểm của kinh tế học. Các công trình phòng thủ, các công trình nghỉ ngơi, các đài tưởng niệm thể hiện ý thích phi kinh tế của những kẻ thống trị, là minh chứng rõ ràng cho cái gọi là bóc lột ngoài kinh tế. Di Hòa Viên, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc hay các cung điện của Cesar trên khắp vùng Địa Trung Hải, chẳng hạn, chính là kết quả của quá trình bóc lột ngoài kinh tế hết sức tàn nhẫn ấy.
Rõ ràng, nếu chỉ áp dụng các lý thuyết về kinh tế học cho hiện tượng bóc lột thì không thể giải thích được sự khốn khổ của người lao động. Nếu như bóc lột kinh tế là hiện tượng bóc lột giữa các ông chủ và những "kẻ làm thuê" trong phạm vi một khu vực, thì bóc lột ngoài kinh tế chính là sự bóc lột của những nhà cầm quyền đối với chính đồng bào của họ. ở đây, không phải chỉ một người hay một bộ phận người, mà toàn bộ xã hội bị rơi vào vòng nô dịch và sự trói buộc của tầng lớp thống trị trong xã hội.
Bóc lột ngoài kinh tế sử dụng các biện pháp chính trị, tác động trên quy mô toàn xã hội và kéo dài trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, vì thế nó tàn phá khủng khiếp toàn bộ đời sống xã hội. Nó được thể hiện được nhiều hình thức, trong đó phổ biến nhất, nhưng có lẽ lại ít lộ mặt nhất, là việc các nhà cầm quyền, thông qua quyền cai trị đối với dân chúng, đẩy cả dân tộc vào các cuộc phiêu lưu chính trị viển vông và vô cùng rủi ro, nhằm thỏa mãn khát vọng ích kỷ cá nhân.
Trong thời đại chúng ta, có lẽ sẽ không xuất hiện các công trình mang tính vật lý kiểu như Vạn Lý Trường Thành, nhưng điều đó không hề ngăn cản việc ra đời của những công trình tinh thần phi lý hơn nhiều: những công trình làm trì trệ cả một xã hội, một cộng đồng người hay thậm chí là cả một dân tộc.
III. Những tác động của bóc lột ngoài kinh tế
Tất nhiên, cũng như mọi thứ trên đời, bóc lột không phải chỉ có một phương diện. Nhìn nhận một cách khách quan, chúng ta phải thừa nhận rằng, bóc lột, thậm chí cả hình thức bóc lột dã man dưới thời Trung cổ, cũng đã từng đóng vai trò lịch sử nhất định. Hình thái bóc lột của chủ nô, của chúa đất phong kiến và đặc biệt của nhà tư bản đã từng đóng góp rất lớn vào sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Chúng kế tiếp nhau mở ra và thúc đẩy sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ.
Bất kể hình thái bóc lột nào cũng tạo diều kiện để sức lao động kết hợp với công cụ lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Chính sự kết hợp đó đã tạo ra giá trị thặng dư, hay nói chính xác hơn là tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội, làm nền tảng vật chất cho sự phát triển của xã hội. Chính nó buộc công cụ lao động phải không ngừng được cải tiến, trình độ quản lý không ngừng được nâng lên. Một hình thái bóc lột nhất định chỉ bị lên án về mặt đạo đức khi nó đã trở thành lỗi thời về mặt lịch sử. Do đó, chúng ta cần phải có quan điểm biện chứng khi đánh giá các hiện tượng bóc lột, không phải bóc lột nói chung mà với từng trường hợp cụ thể.
1. Những tác động đối với đời sống kinh tế
Như đã phân tích ở trên, bóc lột ngoài kinh tế là một phạm trù chính trị - xã hội. Chính trị không bao giờ ổn định thực sự mà thường biến đổi theo sự thay đổi chu kì từ nhà cầm quyền này sang nhà cầm quyền khác. Và mỗi một sự biến đổi của nó đều tác động trở lại cơ sở hạ tầng mà kinh tế là bộ phận quan trọng nhất.
Hãy thử tưởng tượng một quá trình căn bản của đời sống con người như quá trình kinh tế, lại bị chi phối bởi các ý thích điên rồ của một nhà chính trị mắc bệnh hoang tưởng nào đó. Nguy hiểm và rủi ro sẽ lớn biết chừng nào? Như vậy, bóc lột ngoài kinh tế, hay nói cách khác, sự nô dịch con người trong lĩnh vực chính trị - xã hội, sẽ kìm hãm sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc gia.
Mặt khác, chúng ta biết rằng đối với mỗi hoạt động sản xuất, con người luôn đóng vai trò trung tâm. Yếu tố chính trị trong chất lượng của lực lượng lao động có vai trò rất quan trọng, mang chức năng định hướng. Nếu con người bị lôi kéo, thậm chí bị ép buộc theo các cuộc phiêu lưu chính trị viển vông thì năng lực sáng tạo, không gian tự do sáng tạo sẽ bị tiêu diệt và không còn chỗ cho các hoạt động kinh tế.
2. Tác động đối với sự tồn vong của các giá trị nhân văn
Ngày nay, chính trị càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nó trở thành môi trường sống còn của xã hội. Thậm chí, người ta đã chính trị hóa tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống trên phạm vi toàn cầu. Bóc lột ngoài kinh tế, là sự bóc lột không tạo ra sự gia tăng giá trị đối với đời sống con người - cả sự gia tăng các giá trị hữu hình lẫn gia tăng các giá trị vô hình - khiến hầu hết các tầng lớp dân chúng ngày càng nghèo khổ hơn. Sự lạc hậu về mặt tư tưởng của một cá nhân trong một thời gian dài sẽ kéo theo sự lạc hậu của cả xã hội, đến lượt nó, sự lạc hậu của xã hội sẽ cản trở quá trình nhận khác và tìm ra các giá trị mới. Việc bảo vệ các giá trị lỗi thời, lạc hậu của một nền văn hóa, hay sự khuyến dụ con người theo đuổi các giá trị không tưởng đều phản động như nhau, đều là bằng chứng rõ ràng nhất về sự coi nhẹ giá trị con người.
Như vậy, bóc lột ngoài kinh tế hay bóc lột trên phương diện chính trị - xã hội chính là sự nô dịch đời sống con người, khiến con người bị tiêu diệt tất cả các quyền tự do, không chỉ tự do về kinh tế, mà nguy hiểm hơn, nó còn tiêu diệt cả tự do chính trị, tự do sáng tạo và thậm chí cả tự do tâm hồn của con người. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tiêu diệt các giá trị nhân văn của nhân loại.
IV. Khắc chế và chung sống với bóc lột ngoài kinh tế
Việc chống bóc lột không thể thực hiện chỉ bằng các biện pháp kinh tế mà cần phải bằng các biện pháp toàn diện và khoa học. Hiện tượng ở mỗi thời một khác, với hình thức cũng rất đa dạng, vì thế các giải pháp cũng phải khác nhau. Tuy nhiên, cần phải ý thức rằng bóc lột là một hiện tượng tự nhiên gắn liền với xã hội loài người mà người ta không thể xoá bỏ. Chúng ta chỉ có thể chế ngự nó bằng những liều thuốc thích hợp. Lựa chọn duy nhất đúng cho vấn đề này là dân chủ hóa đời sống kinh tế - chính trị, đồng thời phải thể chế hóa tất cả các quyền và nghĩa vụ của các nhà lãnh đạo để họ không lạm dụng các quyền đó nhằm nô dịch cả xã hội.
1. Dân chủ hóa đời sống chính trị là giải pháp tối ưu để hạn chế bóc lột ngoài kinh tế
Dân chủ hóa là liều thuốc vạn năng chống lại mọi hiện tượng tiêu cực trong xã hội, trong đó có hiện tượng bóc lột. Dân chủ hóa đời sống chính trị thực chất là quá trình giải phóng năng lực sáng tạo của con người, và trên bình diện quốc tế là quá trình giải phóng năng lực sáng tạo của mỗi quốc gia. Điều đó cuối cùng sẽ dẫn đến sự giải phóng con người, với tư cách là một bộ phận tương đối độc lập của thế giới. Dân chủ về chính trị sẽ tạo ra không gian tự do cho con người, cả tự do sáng tạo, tìm kiếm, dịch chuyển và sử dụng các sở hữu của mình sao cho có lợi nhất, cũng có nghĩa là họ có thể mang những lợi thế của mình đến nơi có điều kiện để phát triển. Và mỗi cá nhân con người phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự phát triển của toàn xã hội. Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức rằng, đòi hỏi dân chủ về mặt chính trị và kinh tế không phải là đòi hỏi về các quyền tinh thần mà là đòi hỏi làm tăng các giá trị của đời sống.
Đòi hỏi về tự do chính trị không phải là một khát vọng viển vông, không phải là thứ cảm giác về tự do, mà là khát vọng thật để tạo ra sự sống thật. Bấy lâu nay, chúng ta luôn nói đến tự do dân chủ như một thứ quyền hiến định hoặc pháp định, nhưng chúng ta quên mất tự do và dân chủ là các quyền sống, quyền tạo ra sự sống, và tạo ra giá trị vật lý của sự sống. Những tranh cãi bất tận về vấn đề ai bóc lột ai, ai chiến thắng ai, chắc chắn chỉ khiến nhân loại dậm chân tại chỗ. Đây chính là nguyên nhân phá hoại cuộc sống, cũng như phá hoại những giá trị đích thực của nhân loại.
2. Xác lập giới hạn không gian quyền lực của các nhà lãnh đạo
Lâu nay, các nhà cầm quyền dường như dược quyền, hoặc là tự cho mình có quyền làm bất cứ những gì mình muốn, những gì mình thích. Họ dùng quyền lực mà nhà nước, xã hội trao cho họ, và thậm chí cả quyền lực tham nhũng được, để buộc những người dưới quyền phục vụ cho các mục đích hoang tưởng, ích kỷ cá nhân. Điều đó không chỉ tồn tại trong xã hội với số đông dân chúng không có năng lực nhận thức, mà còn ở cả các hình thái xã hội văn minh. Hiện tượng bóc lột ngoài kinh tế đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử và ngày nay phát triển với quy mô lớn hơn nhiều, tinh vi và phức tạp hơn nhiều.
Thử đặt câu hỏi tại sao hầu hết các bộ phận dân chúng lại tin vào các lý thuyết như vậy? Lý do thật đơn giản nhưng không phải ai cũng có thể nhìn thấy. Người dân, một mặt, bị ru ngủ bằng các lý thuyết mị dân vô trách nhiệm, mặt khác, vì năng lực nhận thức hạn chế, đã trao cho các nhà lãnh đạo rất nhiều quyền lực và những quyền lực ấy ngay lập tức bị lạm dụng để đàn áp trở lại dân chúng, núp dưới những chiếc bóng là các mục tiêu chung vì lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia. Chính vì vậy, cần phải xác lập giới hạn không gian quyền lực của các nhà lãnh đạo có nghĩa là cần phải thể chế hóa tất cả các quyền và nghĩa vụ của họ, buộc các quyền lợi đó vào một không gian nhất định, rõ ràng và minh bạch hơn.
Dĩ nhiên đây là vấn đề khó, thậm chí không thể thực hiện được, nếu khả năng nhận thức của người dân không đồng thời được nâng lên tương ứng. Vấn đề này là trách nhiệm của mọi công dân tiến bộ vì một tương lai tươi sáng hơn và dân chủ hơn.
Trên đây, chúng tôi đã cố gắng vạch ra và bước đầu phân tích một hiện tượng đã tổn tại rất lâu trong lịch sử, song vì lí do này hay lí do khác, chưa được nhận thức đầy đủ và rõ ràng - đó là hiện tượng bóc lột ngoài kinh tế. Bóc lột nói chung và bóc lột ngoài kinh tế nói riêng, là những thuộc tính bản năng của mỗi một con người, mỗi một xã hội. Cần phải thừa nhận rằng, chúng ta không thể loại bỏ được nó nhưng có thể và cần phải tìm cách khắc chế và chung sống với nó. Lời giải đáp cho bài toán về bóc lột hay bài toán phát triển nói chung nằm trong tay mỗi một cá nhân, mỗi một dân tộc. Những phân tích của chúng tôi chắc chắn mới chỉ là những gợi ý. Nhưng trong một thế giới đang thay đổi ngày càng nhanh chóng như thế giới hiện nay, gợi ý phải chăng đã trở thành nhiệm vụ cốt yếu của khoa học?

(2003)

April 6, 2020

Một vụ đấu tố

 canh_dauto

Mình bị bịt mắt. Bị hai người lôi từ trên xe xuống. Họ bắt mình quỳ rồi mới mở băng bịt mắt. Phía trước, trên một cái bục, có cái bàn dài. Ba người, hai nam, một nữ, ngồi sau cái bàn. Sau lưng họ có rất nhiều ảnh và khẩu hiệu, nhưng mình không nhìn rõ, không biết ảnh người nào và khẩu hiệu viết gì. Phía dưới, có một cái bàn nữa, hai người, một nam, một nữ, chắc lả thư ký.

January 30, 2020

Văn học dân gian thời đại Hồ Chí Minh.

Thành ngữ thời đại HCM:

1. Nâng bi như Tố Hữu
2. Nhiều phân như Chí thanh (từ câu: Hoan hô anh NCT/Anh về phân bắc phân xanh đầy đồng)
3. Chấp hành như Nguyên Giáp (Đại tướng, BT QP, nhưng được phân công trưởng ban sinh đẻ KH, nhận liền)
4. Thật thà như tuyên giáo
5. Khóc giỏi như Bác Hồ
6. Kiên định như Trường Chinh
7. Linh tinh như Ba Duẩn
8. Lẩn thẩn như Trọng Lú
9. Mặt lạnh như Kim Ngân
10. Nổ to như Xuân Phúc
11. Hung hăng như DLV gặp phản biện
12. Gắp lựu đạn bỏ tay người chết
13. Ngậm khẩu hiệu phun người.


Những liên kết kì quặc trong thời đại HCM:

1. Hai xe máy - đi hàng ba
2. Cô gái 20 tuồi - âm mưu lật đổ chính quyền
3. Lão già 84 tuổi - trùm khủng bố
4. Tiền phúng điếu - tài trợ khủng bố
5. ĐMCS (Đổi Mới Cuộc sống) - phỉ báng chính quyền
6. Phản biện chính sách - âm mưu chống phá
7. Tư duy độc lập - phản động nguy hiểm
8. Tuyên truyền một chiều - định hướng dư luận
9. Xã hội dân sự - ổ nhóm phản động
10. Bản án "bỏ túi" - pháp quyền Xã nghĩa
11. Không vợ - cả nước là con
12. Tổ tư vấn - bảo vệ chính sách
13. Vượt biên có tổ chức - đi nhờ máy bay
14. Tay sai - vận mệnh tương liên
15. Cướp đất - giải phóng mặt bằng.
16. Kẻ thù truyền kiếp – bạn vàng 4 tốt
17. Đảng viên - tư cách đáng ngờ
18. Bí thư - ít thằng tử tế.

61 câu tục ngữ, thành ngữ mới sưu tầm được:

1. Không phải em dốt mà tại mẹ em không cho i-ốt vào canh.
2. Tiên học lễ hậu học ăn/ Tiên học phí hậu học thêm
3. Ăn trông nồi, ngồi trông thằng bên cạnh/ Ăn trông nồi ngồi trông phong bì
4. Trăm hay không bằng tay trong
5. Lấy vợ thì cưới liền tay
Chớ để lâu ngày vật giá lên cao
6. Có chân dài còn đòi hoa hậu.
7. Ông nọ vào nhầm giường vợ ông kia (thay cho câu Râu ông nọ cắm cằm bà kia)
8. Lấy vợ thì cưới liền tay, Chớ để lâu ngày vật giá leo thang
Hoặc: Lấy vợ thì cưới liền tay
Chớ để lâu ngày thành vợ người ta
9. Con ơi mẹ dặn câu này, Bây giờ quan cướp cả ngày lẫn đêm ( thơ Nguyễn Duy)
10. Thuận vợ thuận chồng, con đông mệt quá.
Và: Thuận vợ thuận chồng… rút của công mới dễ.
11. Cá không ăn muối cá ươn,
Chồng cãi lại vợ trăm đường thiệt thua.
12. Thuyển theo sông, chồng theo vợ.
13. Kính vợ đắc thọ.
14. Lời nói chẳng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho… lòi tiền ra.
15. Cái khó ló… cái ngu.
16. Thất bại vì ngại thành công
17. Có công mài sắt có ngày chai tay
18. Bé cậy cha, già cậy… lương hưu.
19. Được ăn cả, ngã… về hưu.
20. Trăm năm bia đá cũng mòn, Ngàn năm bia…rượu vẫn còn trơ trơ.
21. Vạn sự khởi đầu nan, Gian nan bắt đầu nản.
22. Kiến tha lâu cũng có ngày mỏi cẳng.
23. Con hơn cha là nhà cãi lộn.
24. Không thầy đố mày… ngồi yên, Không mày đố thầy dạy ai?
25. Ăn trông nồi , ngồi… chờ dọn sẵn! Ăn trông “mồi”, ngồi trông… phong bì.
27. Ôm rơm rặm bụng, Ăn vụng nhàn thân.
28. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, Chặt cây nhớ coi chừng cảnh sát.
29. Khôn ba năm dại một giờ, Biết vậy dại sớm khỏi chờ ba năm.
30. Cống rãnh sóng sánh với đại dương.
31. Chim cú đú phượng hoàng.
32. Thật thà ăn cháo, Bố láo ăn cơm.
33. Thật thà thẳng thắn thường thua thiệt, Lọc lừa luồn lách lại lên lương.
34. Tiền kho, bạc núi không bằng dấm dúi một chức.
35. Cả đời phấn đấu không bằng cơ cấu một giây.
36. Sách mười bồ thua một ô che đầu
37. Gái đẹp nhờ vàng, quan sang nhờ quyền.
38. Tài năng có hạn, Thủ đoạn vô biên.
39. Yêu nhau vì sinh lý, Quý nhau vì đồng tiền.
40. Con ơi nhớ lấy câu này,Cướp đêm là hack (cướp), cướp ngày admin (quản trị mạng).
41. Đã xấu mà lại còn xa, Đã sida lại còn xông pha hiến máu.
42. Trăm lời anh nói không bằng làn khói A còng.
43. Bình thường như cân đường, hộp sữa.
44. Hãy cứ chơi cho hết đời trai trẻ, Để về già lặng lẽ đạp xích lô.
45. Muốn giàu nuôi cá, Muốn khá nuôi heo, Muốn nghèo… nuôi gái.
46. Tham ăn hôm trước, Tù rước hôm sau.
47. Học mà không chơi đánh rơi tuổi trẻ, Chơi mà không học bán rẻ tương lai.
48. Đau đầu vì tiền, điên đầu vì tình.
49. Thú vui tao nhã, Giặt tã cho con.
50. Sự nghiệp phải có chỗ đứng, Trên giường phải… cứng chỗ đó.
51. Gái gú là phù du, Thầy u là vĩnh cửu.
52. Muốn giàu thì lấy thợ điện / Muốn mặc diện thì lấy thợ may / Muốn đi ăn mày thì lấy thầy giáo. (Thập niên 80)
53. Không sợ bọn cầm quyền phương bắc,Chỉ ngại bọn cầm tiền phương bắc
54. Làm giàu không khó, nhưng khó ở chỗ làm mãi mà không giàu.
55. Ngu không phải là cái tội, mà cái tội là không biết mình ngu.
56. Đàn ông có tiền dễ hư, Đàn bà hư dễ có tiền.
57. Sòng bạc tạo nên người điên, Tình trường tạo nên người ngu.
58. Khi ngôn từ bất lực thì bạo lực sẽ lên ngôi.
59. Sống đơn giản cho đời thanh thản.
60. Đừng tự hào vì mình nghèo mà giỏi, Hãy tự hỏi sao mình giỏi mà vẫn nghèo.
61. Những người đảng ghét dân yêu, ngẫm ra không ít là siêu anh tài. Những người đảng đến khoác vai, xem ra phần lớn là loài bất lương.


January 11, 2020

GÓP PHẦN BẢO VỆ SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT TRONG LĨNH VỰC DỊCH THUẬT


I. Đôi lời phi lộ


1. Ngôn ngữ là trật tự tự phát, không có người thiết kế và giám sát; nôm na là sử dụng lâu thành quen. Cho nên nói bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt chỉ là cách nói tương đối, tức là theo quan điểm của người viết/người nói, chứ không phải là tiêu chí được mọi người đồng thuận hay bắt buộc phải theo. Có thể 50 hay 100 năm sau, cách nói/cách viết mà bây giờ một số người cho là không trong sáng lại được nhiều người theo, còn cách nói/cách viết mà nhiều người cho là trong sáng lại trở thành cổ hủ. Xin đọc những STT bàn về BẢO VỆ SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT TRONG LĨNH VỰC DỊCH THUẬT theo tinh thần như thế.

2. Tôi không đồng ý với quan điểm: “Người Việt có học/có đoc sách dịch bây giờ ít nhiều có học ngoại ngữ và không xa lạ với các mẫu câu này cho nên cứ giữ nguyên cấu trúc câu tiếng nước ngoài trong bản dịch”.

3. Tôi đồng ý với quan điểm: “Bản dịch tiếng Việt ngoài việc truyền tải đúng nội dung tư tưởng thì giữ được chừng nào văn phong của nguyên bản thì vẫn tốt”. Nhưng với 1 điều kiện: Người dịch cố tình làm như thế chứ không phải là do tiếng Việt còn kém, trình bày không mạch lạc, lười suy nghĩ và tìm cách biện hộ hay cãi cùn như thế. Kiểm tra việc này không khó. Chỉ cần đọc vài trang là biết ngay.

Còn 1 điều nữa: Có 1 số người cầm bút, ngoài việc thể hiện tư tưởng, họ còn tìm cách trình bày một cách viết khác lạ, chính người bản ngữ cũng thấy lạ, thấy khó hiểu. Muốn dịch những vị đó, phải rất giỏi cả ngôn ngữ nguồn lẫn ngôn ngữ đích và phải tìm mọi cách để thể hiện văn phong của họ. Nhưng theo kinh nghiệm cá nhân, đa số các tác giả Mĩ viết về kinh tế học, xã hội học hiện nay đều sử dụng ngôn ngữ bình dân và mẫu câu đơn giản. Vậy, hà cớ gì ta không dịch những tác phẩm đó bằng ngôn ngữ và mẫu câu đơn giản, đã quen với người Việt Nam.

4. Với ví dụ của anh @Võ Văn Tạo: “thành ngữ Pháp: "Quand le chat est sorti, les souris dansent": Trường phái 1: "Khi con mèo đi vắng, bầy chuột nhảy múa". Trường phái này cho rằng, dịch như vậy, vừa chuyển được nội dung, ý nghĩa, vừa cho bạn đọc VN biết, người Pháp diễn đạt nội dung đó bằng hình ảnh nào. Trường phái 2: "Vắng chủ nhà, gà vọc niêu tôm". Trường phái này cho rằng, dịch như vậy cũng thoát ý và mới là Việt hóa 100%” (hết trích). Tôi theo trường phái 2 (nếu tìm được thành ngữ tương đương trong tiếng Việt) và ghi chú: dịch thoát ý thành ngữ…). Tôi có thể tôn trọng người theo trường phái 1, với điều kiện người đó biết thành ngữ trong tiếng Việt chứ không phải là lười suy nghĩ hoặc kém tiếng mẹ đẻ, cãi cùn.

II. Bị cấu trúc Too… adjective + to verb… ám ảnh

1. He is too young to understand – dịch thành Nó còn quá trẻ để hiểu
2. It is too hard/difficult to do – dịch thành Quá khó để làm
3. He is too good to do that – dịch thành Anh ta quá tốt để làm việc đó.
4. Cấu trúc này ám ảnh người ta đến mức, có nhà báo viết: “Biên giới Mỹ - Mexico quá dài để kiểm sóat”. Có lẽ là do đọc quá nhiều những bản dịch có phần ngô nghê hay tự dịch trong đầu cấu trúc: “.. frontiers are too long to control…”

Trong khi đúng ra phải dịch những câu trên thành:
1. Nó còn quá trẻ/quá nhỏ chưa/không thể hiểu được
2. Việc này khó quá, không thể làm được
3. Anh ấy là người tốt lắm, anh ấy không làm việc/những việc như thế.
4. Biên giới Mỹ-Mexico dài quá, không thể kiểm soát nổi.
 
 III. Bị thể thụ động ám ảnh

1. A Novel written by Nguyen Cong Hoan – dịch thành: Cuốn tiểu thuyết được viết bởi Nguyễn Công Hoan
2. A delegation led by Mr. Nguyen Phu Trong – dịch thành: Đoàn đại biểu dẫn đầu bởi ông Nguyễn Phú Trọng
3. Thậm chí tôi còn gặp: Tôi được dạy bởi thày giáo rằng…

Rõ ràng, đây người dịch/người viết đã bị thể thụ động trong tiếng Anh ám. Trong khi những câu như thế trước đây được viết nhẹ nhàng hơn hẳn:
1. Cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan
2. Đoàn đại biễu do ông NPT dẫn đầu
3. Tôi được thày giáo dạy rằng/Thày giáo dạy tôi rằng….

Người dịch/người viết thậm chí bị ám ảnh đến mức gần đây, có 1 cuốn sách dịch, do những người khá “nhiều chữ” thực hiện, với lời giới thiệu như sau: TL của TD, giới thiệu bởi NHL. Sao không viết đơn giản như thừ xưa đến nay: TL của TD, NHL giới thiệu. Bớt được 1 từ và nghe thuận tai hơn?

IV. Không chịu tra từ điển

1. Observe /Observation: He observed that… dịch thành Ông ta quan sát rằng..
2. He argued that… dịch thành Ông ta lập luận rằng…
3. Câu sau: If every part of the business of society which required organised concert, or large and comprehensive views, were in the hands of the government…. Trong 1 tác phẩm quan trọng “organized concert” được dịch thành “buổi hòa nhạc có tổ chức..”

Trong khi đó đúng ra:

1. He observed that… phải là Ông ta nhận xét rằng…(chỉ cần tra tra từ điển Lạc Việt đã thấy observation có 1 nghĩa là “lời bình phẩm”.
2. He argued that… dịch thành Ông ta lập luận rằng…, không hẳn là sai, nhưng trong các cuộc trang luận mang tính ý thức hệ thì nên dịch là: “Ông ta khẳng định rằng…” Từ điển https://www.collinsdictionary.com/dictionary/english/argue, mục 4: If you argue that something is true, you state it and give the reasons why you think it is true. Các bản dịch Anh-Nga đều chuyển ngữ “argue” thành khẳng định.
3. Trong câu này dịch “organised concert” thành “buổi hòa nhạc có tổ chức” dường như cũng hợp nghĩa, nhưng đọc tiếp đoạn sau thì rõ ràng dịch sai …(chỉ cần tra tra từ điển Lạc Việt đã thấy nghĩa đầu tiên của “concert” là “hòa hợp”, còn khi dùng làm động từ thì nó có nghĩa là “phối hợp, hành động”, trong bản tiếng Nga được chuyển ngữ thành: “организованное действие сообща” nghĩa là “hành động có tổ chức”.

Tra từ điển, một lần nữa: Liên tục tra từ điển… Còn khi dịch tác phẩm lớn thì người dịch phải biết 2 ngoại ngữ và nên tham khảo bản dịch sang ngôn ngữ thứ 2.

Phải nói rằng, đôi khi việc dịch sai 1 loại bệnh hay tên 1 loài cây không ảnh hưởng gì tới cảm nhận 1 tác phẩm văn học. Nhưng hiện nay, khi mà độc giả cũng là những người biết chút ít ngoại ngữ và có thể dễ dàng tra từ điển trên mạng, thì sai 1 vài từ có thể làm mất niềm tin vào tác phẩm và dịch giả.
 
Còn 1 loại nữa không biết đặt vào mục nào, ví dụ:
 
It's difficult to explain/to understand - thường được dịch là: Thật khó để giải thích/để hiểu
Trong khi, đúng ra nên dịch là: Đây là vấn đề khó giải thích/khó hiểu. 

Hết.

March 2, 2019

Mountains and rivers on the shoulder - Nhập môn ngôn ngữ học và dịch thuật.

Tôi sưu tầm những bài viết có tính khai trí, xin các bạn bổ sung

Nguyễn Tuấn Khanh – Kiến trúc sư

Kẻ ngoại đạo nghĩ về câu “núi sông trên vai” khi dịch sang tiếng Anh.
Cái đáng nói không phải kém tiếng Anh mà là dốt tiếng Việt.

Trong tiếng Việt có từ ghép chính phụ và đẳng lập, có từ ghép 2,3,4 tiếng, nhân chuyện “sông núi trên vai”, tôi chỉ giới hạn một loại từ ghép đẳng lập, và hẹp hơn là loại từ ghép đẳng lập mang nghĩa biểu tượng hoán dụ hoặc ẩn dụ, hoàn toàn thoát khỏi nghĩa của hai từ đơn tạo nên nó như: trai gái, mây mưa, trăng hoa, ong bướm, đất nước, giang sơn, non nước, sơn hà, núi sông...

Cụ thể với “ núi sông trên vai”:

-“núi sông” ( khác “núi, sông”) không thể là ngọn núi, con sông dù số ít hay số nhiều, phải hiểu đó là cách hoán dụ mang ý nghĩa biểu tượng cho quê hương, đất nước, tổ quốc...

-“trên vai” mang tính ẩn dụ cho trách nhiệm, nghĩa vụ, nặng gánh...

-“Núi sông trên vai” là một thông điệp, khẩu hiệu ( slogan) theo kiểu “Ba thu gánh vác sơn hà, giang sơn nặng gánh, làm dâu gánh vác giang san nhà chồng, gánh nợ...)

Hiểu tiếng Việt, khi dịch những trường hợp này, người ta thường tìm thành ngữ tương đương (có lúc thoát ly hoàn toàn khỏi những từ trong câu gốc), ví dụ:

Vỏ quýt dày móng tay nhọn - Diamond cuts diamond
– Đàn ông làm nhà, đàn bà xây tổ ấm - Men make house, women make home

Xa mặt cách lòng - Far from eye, far from heart

Mai dài hơn thuổng - tomorrow never comes

Tắt đèn nhà ngói như nhà tranh - all cats are grey in the dark.

...
Trong tiếng Anh luôn đủ nhiều những từ/ ngữ tương đương để có thể mượn.

Nếu lười, tìm không được có thể dịch thông điệp của khẩu hiệu, dốt cũng có thể nhờ Google dịch. Khi nhập liệu đúng nó dịch có khi còn “thơ” hơn cả nhà thơ

 Sông núi trên vai - dịch giả Google

Còn ảnh này ví dụ nữa về sự dốt.



Vài góp ý để nếu chủ đề thơ sang năm là “Nợ nước thù nhà, Sơn Hà nguy biến” thì các ông đừng dịch thành “ghét vợ nợ công, núi sông nguy hiểm”!


Chu Mộng Long – Nhà giáo (1)

NGU NHƯ NHÀ VĂN

Tập tò viết văn ở trình độ lớp Hai mới không biết từ ghép "Sông núi" là danh từ đã mang nghĩa khái quát, nghĩa biểu niệm, đồng nghĩa với "Quốc gia", "Tổ quốc", không phải là "con sông" và "ngọn núi" với nghĩa biểu thị vật thể.

Hai từ đơn biểu vật biến thành từ ghép biểu niệm là hiện tượng khá phổ biến trong tư duy ngôn ngữ của người Việt. Chẳng hạn, cha ông, con cháu, nhà cửa, ruộng nương, rường cột, xe cộ, cây cỏ, trời đất, trăng sao,... khi sử dụng đã mất hoàn toàn nghĩa biểu vật mà chỉ còn biểu niệm chung, tổng quát. Riêng từ "sông núi", hay "đất nước" cũng vậy, là tư duy nguyên thủy, ghép cái biểu vật ban đầu trong đời sống vùng sông nước để biến thành cái biểu niệm của tư duy phát triển về sau đối với lãnh thổ hay Tổ quốc.

Vậy mà cả cái Hội Nhà văn của anh Thỉnh lại dịch mù sang tiếng Anh là: "Mountains and Rivers on the Shoulder". Sao lại có chuyện một từ ghép mang nghĩa tổng quát dịch thành hai từ đơn cụ thể có từ nối "và"? Hóa ra từ ghép tổng quát tiếng Việt là phép cộng của hai từ đơn cấu thành nên nó? Ơn trời, sông Việt Nam có nhiều sông hung dữ, núi Việt Nam có nhiều núi đồ sộ, núi và sông không đè sụn vai hay cuốn trôi cả ngàn người trong Hội Nhà văn!

Dịch “Xe cộ qua lại trên đường” là “Cars and carts are on the road”? dịch “Nhà cửa tan nát” là “House and door are broken”?, dịch “Trời đất đổi thay” thành “Heaven and earth change” v.v… như Google dịch để gọi là "ẩn dụ tu từ" ư?

Cách dịch tiếng Anh như vậy không phải chứng tỏ trình độ tiếng Anh (nhà văn không cần biết tiếng Anh để làm gì) mà là phản ánh trình độ tiếng Việt, văn hóa Việt. Nếu không có trò khoe tiếng Anh như thế này thì ta cứ tưởng nhà văn rành tiếng Việt, văn hóa Việt, hiểu được nghĩa đơn giản của từ "sông núi" mà nhà văn đang dùng.

Đừng đổ thừa lỗi tại thằng dịch. Một thằng dịch ngu, lẽ nào một ngàn thằng khác không ngu nhưng bị... mù?

Nhà văn phải là người giỏi ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Các cháu học văn, làm văn chọn mẫu văn của nhà văn mà học mà làm. Bước qua trình độ lớp Hai, các cháu đã phải biết phân biệt từ loại, các loại nghĩa của từ. Lẽ nào cả ngàn nhà văn của Hội Nhà văn chưa bước qua trình độ lớp Hai? Hay là nhà văn Việt Nam viết văn ở trình độ thổ dân nguyên thủy khi vốn ngôn ngữ chưa vươn đến trừu tượng khái quát của tư tưởng?

Vậy mà gần đây, tôi thấy nhiều nhà thơ xuất bản thơ tự viết tự dịch song ngữ Việt - Anh cơ đấy!


Tấm biển này đặt ở Văn Miếu, nơi tập hợp tinh hoa trí tuệ của Việt Nam nhé anh Thỉnh.

Tôi dạy văn, không mắng các nhà văn ngu thì chẳng lẽ tôi cũng ngu như nhà văn? Thông cảm nhé!
---------------

Ông Hà Vũ Hiển và ông Hữu Thỉnh vừa cãi, rằng họ dùng từ "núi sông" hoàn toàn theo nghĩa ẩn dụ. Vậy sao lại tách từ ghép mang nghĩa tổng quát thành hai từ đơn có từ "và" (núi và sông) khi dịch sang tiếng Anh, rồi đổ lỗi do tiếng Anh rắc rồi. Tiếng Anh rắc rối hay do ngu về tiếng Việt?

Khi tôi viết: "Quân chó mèo cãi nhau" thì từ ghép "chó mèo" này mới là ẩn dụ, các thánh ạ. Còn khi tôi viết "chó và mèo cãi nhau" thì không có ẩn dụ nào cả, chó là chó, mèo là mèo. Cho nên, khi hội nhà văn tách ra: "núi và sông trên vai" thì cũng vậy. Người ta sẽ nghĩ theo tư duy thổ dân, tưởng tượng mà như thật rằng có cái ông khổng lồ gọi là nhà văn, vai gánh núi và gánh sông.

Tóm lại, từ "và" (and) tách đôi từ ghép ra là chỗ ngu ngốc nhất mà đứa trẻ lớp 2 cũng nhận ra. Nói "Trắng đen lẫn lộn" khác biệt với nói "Trắng và đen lẫn lộn", trừ ông Thỉnh già rồi nên lú lẫn.

Chu Mộng Long (2)

KHI NHÀ VĂN CÒN BÚ TÍ MẸ

Nhà văn, nhà thơ bú tí mẹ

(Bài giảng tiếng Việt cho học sinh lớp Hai. Ai chưa học tới lớp Hai thì đừng đọc rồi cãi ngu nhé!)

Bài trước tôi mắng thẳng thừng nhà văn ngu tiếng Việt, vì họ không biết tiếng Anh không sao cả, vả lại không ai bắt phải khoe tiếng Anh cho lòi ra sự ngu tiếng Việt.

Và tôi cũng nói, lỗi không ở thằng dịch, vì ngay cả thằng Google không não cũng không tách từ ghép “Sông núi” thành hai từ đơn “Sông và núi” (Sông núi trên vai = Mountains and rivers on the shoulder).

Tôi có vẻ hồ đồ khi nói ngu không ở một người mà cả làng.

Đến khi các nhà văn trong cái hội thỏ ấy nhảy ra cãi thì quả không oan! Nếu có ai kiện tôi xúc phạm thì tôi sẵn sàng nhận tội, tội yêu tiếng Việt và đấu tranh đến cùng để bảo vệ tiếng Việt.

1. Từ ghép tiếng Việt cho học sinh lớp Hai

Bài này nhắc lại, từ ghép tiếng Việt ghép từ hai từ đơn theo quan hệ đẳng lập như: Sông núi, đất nước, trời đất, trăng sao, ông bà, con cháu, xe cộ, nhà cửa, chó mèo, trắng đen… luôn mang nghĩa tổng quát. Nghĩa tổng quát không đồng nghĩa với phép cộng của hai từ đơn: Sông và núi, đất và nước, trời và đất, ông và bà, con và cháu, xe và cộ, nhà và cửa, chó và mèo, trắng và đen. Tổng quát ở đây là nghĩa đã mở rộng ra, các từ ghép ấy vừa chứa đựng cái vật thể ban đầu lại vừa chứa đựng tất cả những gì tương cận và đặc biệt đã thành một hoán dụ sang dạng tinh thần.

Vì giảng cho đứa trẻ chưa qua lớp Hai tập tò làm văn nên bài này tôi buộc phải đi từ ví dụ đơn giản, dễ hiểu nhất.

- “Đêm giao thừa người ta làm lễ cúng ông bà”. “Ông bà” ở đây bao gồm tất cả những người bề trên đã chết, khác với cúng “ông và bà” là chỉ cúng cho ông và bà.

- “Nhà cửa tan nát hết”. “Nhà cửa” ở đây không phải chỉ “cái nhà” và “cái cửa” tan nát mà cả gia đình, gồm nơi ở, vật dụng, và cả con người thể xác lẫn tinh thần.

- “Xe cộ qua lại trên đường” không phải nói cái xe và cái cộ mà nói tất cả các phương tiện giao thông.

-“Chó mèo cãi nhau” không phải là con chó và con mèo cãi nhau mà cho cả lũ người mang bản chất chó mèo.

- “Trắng đen lẫn lộn” không phải là màu trắng và màu đen lẫn vào nhau mà là chuyện phải trái, đúng sai lẫn lộn.

Các cháu lớp Hai có thể cho ví dụ và phân tích những trường hợp tương tự khác, nếu không phải là lớp thiểu năng.

2. Hình tượng hay "chất thi ca" nào khi tách “Sông núi” thành “Sông và núi”?

Dẫn dụ trên để đi đến từ “Sông núi” như một hệ thống của những tương đương về từ loại.

“Sông núi” trong “Sông núi trên vai” mà nhà văn đang sử dụng hiển nhiên là từ ghép, trừ phi nhà văn hay lỗi thằng đánh máy viết thiếu dấu phảy hay thiếu chữ “và”: “Sông, núi trên vai”, “Sông và núi trên vai”. Còn nếu cố tình viết “Sông, núi trên vai”, “Sông và núi trên vai” để dịch thành Mountains and rivers on the shoulder thì sẽ xuất hiện cái ngu nghiêm trọng khác sẽ nói ở phần sau.

Trong tiếng Việt, từ “Sông núi” (gốc Hán là Giang sơn, Sơn hà), cũng như từ “đất nước” (thuần Việt, không có tương đương gốc Hán là Thủy thổ vì Thủy thổ mang nghĩa khác) vừa chứa hai vật thể “sông” và “núi”, “đất” và “nước”, nhưng lại chứa cả vạn vật và con người cư trú trong và quanh cái vật thể ấy, và đặc biệt trong quá trình sử dụng, hai vật thể ấy khi ghép lại đã mang giá trị tinh thần.

Đây là hiện tượng hoán dụ tri nhận trong tư duy ngôn ngữ của người Việt, lấy cái trực quan hình thể núi và sông, đất và nước làm cái đại diện thay thế cho cả lãnh thổ và sự sống trên lãnh thổ ấy. Hiện tượng này cũng có ở ngôn ngữ khác, vì dân tộc nào cũng bắt đầu từ trực quan tiến đến dùng cái trực quan làm cái đại diện để biểu đạt tinh thần. Và tiếng Anh không phải chỉ có những từ trừu tượng, chuyên gia Tạ Quang Đông hay nhà văn Nguyễn Quang Thiều khoe rành tiếng Mỹ ạ. Các từ motherland/homeland/fatherland đều là hiện tượng ghép hai từ đơn trực quan thành hoán dụ tri nhận, dịch tương đương sang tiếng Việt là “đất mẹ”, “quê cha đất tổ”, “nơi chôn nhau cắt rốn” với giá trị tinh thần lớn lao.

Một cách nghiêm ngặt, bản thân từ ngữ là kí hiệu, người ta lựa chọn và quy ước võ đoán một hình thức âm hoặc chữ để biểu đạt cho một ý niệm về sự vật, hiện tượng, không có từ nào là mang hình ảnh thật để các nhà văn gọi là “tính hình tượng”, trừ những từ cổ, từ tượng thanh, tượng hình (quan hệ có lý do ban đầu).

Để khắc phục tính trừu tượng của kí hiệu ngôn ngữ, ngoài cách diễn đạt với những cú pháp đặc biệt, con người đã ghép các từ đơn biểu thị vật chất thành từ ghép để biểu ý hay biểu thị tinh thần, và trong khi biểu thị tinh thần, nó lại khêu gợi trạng trái vật chất ban đầu. “Núi sông” hay “đất nước” vừa biểu thị đầy đủ ý niệm về quê cha đất tổ, nơi chôn nhau cắt rốn và cả cội nguồn cùng hình thể sông núi hay đất nước của người dân vùng sông nước.

Hình tượng không thể hiểu đơn giản chỉ là cái biểu thị vật chất (nghĩa đen). Bản thân khái niệm hình tượng phải là cái vừa gợi hình ảnh vật chất (đen) vừa mang giá trị tinh thần (bóng). Khi nói “Chó mèo cãi nhau”, “Trắng đen lẫn lộn” thì có tính hình tượng. Còn nói “Chó và mèo cãi nhau”, “Trắng và đen lẫn lộn” thì không có tính hình tượng nào vì chúng thuần túy biểu vật. Tương tự, các cụ nói “nợ núi sông”, “giang sơn một gánh” là có tính hình tượng, còn nói “nợ núi và sông”, “giang và sơn một gánh” đã không có tính hình tượng mà còn vô nghĩa như trẻ con tập nói.

Khi Nguyễn Du viết “Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo” thì cả “gươm đàn” và “non sông” đều là từ ghép, giàu hình tượng, biểu đạt người anh hùng lấy kiếm cung làm thú vẫy vùng, lấy núi sông làm nơi rong chơi phóng túng. Thực chất đó là câu thơ dịch của Hoàng Sào bên Trung Quốc: "Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng. Nhất trạo giang sơn tận địa duy". Chữ 彈 khi thành chữ Nôm thời Nguyễn Du có thể đọc thành "đàn" nhưng không có nghĩa là cái đàn (chỉ cây đàn, nhạc cụ) đi với từ “gươm” với tư cách là hai từ đơn mà là cây cung (âm đọc khác là "đạn", vật bắn ra từ cây cung) ghép với "gươm" thành "gươm đàn", dịch từ "cung kiếm” trong điển tích.
.
3. Đã ngu lại càng thêm ngu

Tôi tưởng nhà văn và cả mấy ngài “chuyên gia Anh ngữ” (dỏm) cãi ở phần tiếng Việt, vì bài của tôi chỉ luận tiếng Việt, không ngờ họ cứ nhè vào cụm từ tiếng Anh "Mountains and rivers on the shoulder" để cãi như thể họ giỏi cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh.

Hữu Thỉnh thì nói “Tiếng Anh hiện đại phức tạp lắm” cho xong chuyện, Nguyễn Quang Thiều thì nói phải dịch “sông và núi” thì mới “có hình tượng”, “có chất thơ”. Còn Đỗ Minh Tuấn, phần bình luận trong bài trước, thì khoe cả vốn văn hóa dân tộc để bình (tán như sáo) rằng, dịch như vậy là hay, đúng tư duy độc đáo Việt, vì có chữ “và” tách sông và núi ra làm hai, câu thơ như nhảy múa lên và hình ảnh sông và núi như quấn quýt lấy nhau trên vai người nghệ sĩ. Ôi, không phải từ "sông núi" mà chính cái từ “và” vĩ đại, đầy hình tượng, giàu chất thơ. Từ nay các cháu viết: “Cày và cuốc trên vai bố” thì người đọc sẽ hình dung cái cày và cái cuốc như nhảy múa lên và quấn quýt trên vai bố nhé! Đừng viết "Bà cho bánh kẹo" mà hãy viết "Bà cho bánh và kẹo" để hai thứ bánh và kẹo nhảy múa và quấn quýt trong mồm nhé!

Hóa ra, theo họ, từ ghép "sông núi" trừu tượng, phải tách ra thành từ đơn "sông và núi" thì mới trực quan sinh động và giàu hình tượng, đầy chất thơ?

Với cách biện luận ấy, thì ra chủ ý của Hội anh Thỉnh là “Sông và núi trên vai” chứ không phải “Sông núi trên vai”. Điều này càng khẳng định không phải lỗi tiếng Anh mà vẫn là lỗi tiếng Việt, lỗi ở thằng đánh máy thiếu dấu phảy hay chữ “và” ở phần tiếng Việt. Nếu viết đúng tiếng Việt như mấy ông này luận: “Sông và núi trên vai” hay "Sông, núi trên vai" thì sao nhỉ? Thì theo cách xác định hình tượng đúng nghĩa, câu văn không có hình tượng nào và hoàn toàn vô nghĩa, vì sông và núi không thể chất lên vai như củ khoai, củ mì hay cái cày, cái cuốc. Trừ phi các nhà thơ của Hội anh Thỉnh lên diễn đàn đọc thơ một cách vênh váo mà tự tưởng tượng theo sự hoang tưởng của thời huyền thoại hay thời thổ dân, rằng mỗi nhà thơ là một ông thần khổng lồ gánh quả núi đồ sộ và dòng sông hung dữ trên vai. "Chất thơ" đấy chăng, khi nhà thơ hiện đại tự hào mình còn tư duy ăn lông ở lỗ hay còn bú tí mẹ mà tước đoạt cả hồn thiêng sông núi, xem sông núi như củ khoai, củ mì?

Cho hay, khi nhà thơ sống đến trên 70 tuổi mà vẫn còn bú tí mẹ thì tư duy như trẻ con hay thổ dân cũng phải. Không chừng đứa bé cao tuổi chưa biết mặc quần đó đủ khả năng gánh cả núi và sông đi bán để ăn dần. Mà cũng có thể, vì núi thì bị đào khoét và trọc đầu, còn sông thì cũng cạn kiệt và nhiễm độc hết cả rồi. Đến lượt người ta đen đủi hóa, thô thiển hóa, đầu độc luôn cả tiếng mẹ đẻ để quảng bá ra nước ngoài nữa mới đau!

 Trò chuyên với hoa Thủy tiên - Nguyễn Huy Thiệp

Thiếu Khanh – Nhà thơ, dịch giả.

SÔNG NÚI TRÊN VAI

Comment trên trang facebook của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều thảo luận về việc dịch thế nào cho đúng 4 chữ tiêu đề SÔNG NÚI TRÊN VAI, nhà thơ Mai Hữu Phước tag tên tôi vào đó và muốn tôi “cho ý kiến”

Mấy hôm nay tôi có biết trên mang xã hội đang xì xào về chuyện Hội Nhà Văn Việt Nam đã dịch 4 chữ Sông Núi Trên Vai ra tiếng Anh là “Mountains and Rivers on the Shoulder” khiến nhiều người bàn luận, nhưng tôi có công việc phải làm, không muốn chia trí, nên tôi không quan tâm. Vả lại dường như từ trước tới giờ Hội Nhà Văn Việt Nam chưa lần nào tỏ ra thận trọng khi giới thiệu với công chúng những slogan của họ được dịch ra tiếng Anh.

Không phải trong hội không có các dịch giả thực sự, trái lại có nhiều dịch giả tài hoa nữa là khác, nhưng những vị này không bận tâm, vì ai cũng thấy không phải chuyện của mình, và dường như cũng chẳng ai buồn hỏi ý kiến họ, nên không việc gì họ phải xung phong ôm rơm cho nặng bụng, mới ra nông nỗi.

Mai Hữu Phước “mong (tôi) cho ý kiến,” không phải vì nghĩ tôi giỏi giang gì mà vì mấy năm trước tôi có dịch tập thơ Phiên Khúc Sang Mùa của Phước sang tiếng Anh, có lẽ từ chỗ quen biết đó Phước hỏi chỉ để báo tin cho tôi về chuyện này thì đúng hơn.

Để nói chuyện với Phước tôi phải bỏ ra hơn một tiếng đồng hồ đọc bài viết của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và rất nhiều các lời bình ở dưới, nhưng đọc không hết. Có vài người hăng hái tham dự cuộc thảo luận dịch thế nào cho đúng 4 chữ ấy, nhưng trước hoặc sau khi đưa ra ý kiến của mình, lại tuyên bố “tôi không biết gì về tiếng Anh!” Tuy vậy ở đó cũng có nhiều điều thú vị cho tôi học.

Trong các comments trên Fb của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, có người chỉ thẳng ra câu tiếng Anh “Mountains and Rivers on the Shoulder” là không phải do người dịch mà được dịch bằng máy dịch (Google translate). Tôi kiểm tra, thấy Google dịch tệ hơn: River Mountain On Shoulder.

Theo lời ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, việc dịch thuật này là do các “chuyên gia tiếng Anh” của Hội Nhà Văn thực hiện, Chắc là sau khi cho những chữ ấy đi qua máy dịch Google Translate, các chuyên gia đã chế biến thêm cho “hay” hơn. Nhưng dù người dịch hay máy dịch và được con người “nhuận sắc,” cách này cũng phản ảnh lối dịch “mot à mot” (word for word – dịch từng chữ) không… đạt.

Dịch từng chữ có lẽ là phương pháp đầu tiên con người đã nghĩ ra ngay từ lần đầu tiên con người có nhu cầu dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Dường như lịch sử ghi nhận các công trình dịch thuật sớm nhất của nhân loại đã xảy ra từ thế kỷ thứ 2 trước công nguyên khi người La Mã dịch các tác phẩm văn học quan trọng của người Hy Lạp. Nhưng cũng từ rất sớm người ta đã cảnh giác lối dịch này. Ngay từ thời đó, Cicero (106 – 43 BC), lý thuyết gia về dịch thuật nổi tiếng của La Mã đã cho biết cách dịch từng chữ là rất nguy hiểm. Ngày nay người ta thường đùa cợt nhau với câu dịch từng chữ “Đường anh anh đi, đường tôi tôi đi” là “Sugar you you go, sugar me me go” là để minh họa sự nguy hiểm đó. Cicero khuyên, thay vì dịch từng chữ (word for word) nên chuyển ý của câu hay cụm từ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác (sense for sense).

Đến thế kỷ 17, nhà phê bình văn học người Anh John Dryden (1631- 1700) yêu cầu người dịch thuật phải “là người nắm vững cả hai ngôn ngữ, (“… the translator must be a master of both languages.”) Mà ngôn ngữ là một phần của văn hóa của một dân tộc. Cho nên nắm vững hai ngôn ngữ có nghĩa là hiểu thấu cả hai nên văn hóa.

Để dịch sang tiếng Anh có 4 chữ thôi mà phải “nắm vững cả hai ngôn ngữ” tiếng Việt và tiếng Anh, và hiểu thấu cả hai nên văn hóa thì to tát quá! Nhưng đó là một yêu cầu nghiêm túc. Nắm vững văn hóa trong tiếng Việt ắt sẽ hiểu tuy nói Sông, Núi, nhưng thực ra không phải là nói về con sông, dãy núi cụ thể nào, mà nói về đất nước hay tổ quốc (ở đây là tổ quốc Việt Nam). Nắm vững văn hóa tiếng Anh ắt biết rằng người Anh, hay nói chung người Tây phương, không có khái niệm sông núi tượng trưng cho đất nước. Họ không nghĩ như thế, và không nói như thế. Cho nên khi đọc như thế, họ chỉ hiểu nghĩa đen, và họ sẽ bối rối với cái nghĩa đen đó, rồi… có thể không hiểu gì cả!
Trong số các bình luận trên Fb của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, có người cho rằng: “dịch như thế (tức: Mountains and Rivers on the Shoulder) là rất đúng và hay phù hợp hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp là Ngày thơ Việt Nam!” Một người khác khẳng định “Đó là một bản dịch tốt.”

Bản thân nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng nói: “Đêm qua, trao đổi với một dịch giả mà tôi luôn nể trọng, anh ấy nói dịch như thế là ổn" (sic)

Tuy vậy, có người để nghị dịch khác một chút: “Shouldering mountains and rivers - Gánh vác giang sơn, rất hợp lý.” (sic)
Có người lại muốn dịch: “Shouldering the homeland of rivers and mountains"

Một người khác nữa phát biểu: “Tôi sẽ dịch là The call of duty to the River and Mountain.”
Vài người nhận định Sông Núi ở đây không phải là… sông núi (mountain and river), mà đó là đất nước (country) là tổ quốc (motherland hay fatherland) cho nên những người này đề nghị dịch là “Motherland on the shoulder.”

Một người nữa nêu ý kiến: “Nếu là người Anh Mỹ thì rõ ràng cách dịch (Mountains and Rivers on the Shoulder) không ổn. Theo tôi: Một là không dịch. Hai là dịch là Country on the shoulder. Ba là SHOULDER THE BURDEN OF THE COUNTRY”

Cũng có một đề nghị khác: “The destiny of the country on the shoulder.”

Có người dẫn câu ví dụ trong một từ điển nào đó để xác nhận người Anh Mỹ có khái niệm “gánh” đất nước trên vai: “The king carries his entire country on his shoulders. (Nhà vua gánh vác toàn bộ đất nước trên đôi vai mình.)

Có người đề cập đến Responsibility (trách nhiệm), nhưng không đưa ra câu dịch cụ thể, và cũng không ai hưởng ứng, có lẽ vì người ta biết responsibility thường là trách nhiệm về những điều không tốt, sai lầm hoặc tội lỗi mà mình gây ra, chớ nó không hề có nghĩa là “nghĩa vụ” (duty) với đất nước.

Vì ngôn ngữ là một phần quan trọng của văn hóa một dân tộc, và nó phản ảnh văn hóa của dân tộc đó. Mặt khác, để hiệu rõ ngôn ngữ của một dân tộc nào, người ta phải cảm và hiểu được cả văn hóa của dân tộc đó. Cho nên để dịch từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, người ta không chỉ dịch nghĩa của chữ, mà phải chuyển đổi cả tinh thần văn hóa cuả ngôn ngữ nguồn, sang nền văn hóa của ngôn ngữ đích. Ngay cả các dịch giả khiêm tốn tự cho công việc của mình chỉ là “chuyển ngữ” (transliterate) cũng phải làm công việc chuyển đổi văn hóa như vậy thì đọc giả của ngôn ngữ đích mới hiểu tác giả của bản văn gốc muốn nói gì.

Lấy một ví dụ:
Câu chào hỏi thông thường của người Anh, Mỹ là : How are you? (nghĩa đen tiếng Việt: Anh/chị thế nào?)
Câu chào hỏi của người Việt là: Anh chị có khỏe không?
Còn người Tàu gặp nhau thường hỏi: 你吃飯了嗎 Nị ngật phạn liễu ma? (Anh/chị ăn cơm chưa?)

Khi gặp một người Mỹ, một người Việt không thể dịch câu chào hỏi “Anh/chị khỏe không” ra tiếng Anh để hỏi người kia “Are you healthy?”
Cũng vậy, người Tàu không thể dịch câu ‘ăn cơm” của họ ra tiếng Anh để hỏi “Have you eaten your meal/lunch/dinner?” được. Vì người Mỹ kia sẽ ngẩn tò te, chẳng biết “đối phương” nói gì, dù có thể vẫn hiểu câu hỏi “Are you healthy?” và “Have you eaten yoụr meal…?”

Đó là lỗi không nắm được tinh thần văn hóa trong ngôn ngữ của nhau.

Tiếng Việt thường dễ dãi cho ta được huênh hoang tự nhận cho mình có trách nhiệm cao cả “gánh vác sơn hà,” ít nhất trong trường hợp này, với câu Sông Núi trên vai “vừa sáo vừa rỗng tuếch, và rất mơ hồ, mà từ đó người ta có thể “vung tay quá trán” diễn giải bằng những lời to tát dao to búa lớn nghe rất… sướng tai.

Người Anh, Mỹ không có khái nhiệm nào tương đương với “Sông núi trên vai” của ta, vì tiếng Anh là một ngôn ngữ duy lý, họ nói rất cụ thể, rõ ràng. Để bày tỏ một nội dung tương tự, họ không nói “lớn lối” sông núi trên chỗ nào cả, mà có thể chỉ nói một cách giản dị:

Be dutiful/helpful/faithful/patriotic … to your country. (Hãy tỏ ra hữu ích/có nghĩa vụ/trung thành/yêu … đất nước của bạn.)

Hoặc có thể “cường điệu” một chút:
You (thee) shall be dutiful/helpful/faithful/patriotic … to your country. (Ngươi hảy tỏ ra… với đất nước của ngươi.)

Thế nên chắc chắn là người Anh, Mỹ khó lãnh hội được ý nghĩa nội dung của 4 từ tiếng Việt Sông Núi trên vai” khi được dịch ra tiếng Anh theo những cách trên.

Thế thì câu “The king carries his entire country on his shoulders” (Nhà vua gánh vác toàn bộ đất nước trên đôi vai mình) là sao? Rõ ràng họ cũng có khái niệm “gánh đất nước trên vai” kia mà?

Phải, và không phải. Gánh vác đất nước trên vai là chuyện/phận sự của một vị quân vương, hay của người có trọng trách lãnh đạo đất nước, chớ không phải của mỗi người dân thường như chúng ta, càng không phải của các thi sĩ trong Hội Nhà Văn Việt Nam. Dưới thời vua chúa, kẻ nào to gan muốn “đặt sông núi lên vai,” gánh vác sơn hà vân vân, đều tự biết mình có thể bị tru di cửu tộc vì tội tranh giành ngôi vị thiên tử của nhà vua. Ngày trước, ông Hồ Chí Minh có câu thơ “Hai vai gánh vác một sơn hà,” hay “Hai tay gây dựng một sơn hà” gì đó, là ông ấy muốn làm an lòng những ông nho sĩ cổ lổ sỉ lúc bấy giờ đầu óc còn nặng “Khổng viết,” tin vào “chân mệnh thiên tử” của con người có “khẩu khí đế vương” đó thôi.


 Tạo phản có thể bị tru di cửu tộc

Chu Mộng Long (3)

SAO LẠI PHẢI DỰA VÀO CHUYÊN GIA ANH NGỮ?

Trong một bài trả lời dư luận về cụm từ “Sông núi trên vai” được chuyển ngữ thành “Mountains and rivers on the shoulder”, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Nguyễn Quang Thiều né tránh nội dung chính mà tôi đặt ra là tại sao từ ghép “Sông núi” tiếng Việt bị tách ra thành hai từ đơn “Sông và núi” một cách thô thiển, anh ta dài dòng, quanh co về đạo đức, văn hóa tranh luận và lấy “chuyên gia Anh ngữ” Tạ Quang Đông ra làm bùa hộ mệnh, rằng cách dịch đó là hay, đảm bảo tư duy độc đáo của người Việt, tính hình tượng và chất thi ca.

Tôi bật cười cho thói quen mất tự tin và hay dựa dẫm người khác, không chỉ trường hợp Nguyễn Quang Thiều mà còn cho nhiều người Việt.


Những bài trước tôi không quan tâm đến tiếng Anh. Tôi chỉ phê bình sự ngu dốt tiếng Việt của Hội Nhà văn, khi chỉ làm một thao tác dịch ngược “Mountains and rivers on the shoulder” thành “Sông và núi trên vai” là đủ thấy sự ngu dốt tiếng Việt. Đơn giản là cách dịch tiếng Anh phản ánh ngược lại trình độ tiếng Việt. Và để cứu chữa nỗi nhục làm văn Việt mà ngu tiếng Việt như học sinh chưa học qua lớp Hai, họ cứ đánh trống lảng sang tiếng Anh và lấy chuyên gia Anh ngữ làm bùa hộ mệnh. Đã thế thì tôi phải cảnh báo luôn vấn đề tiếng Anh, dù trình tiếng Anh của tôi cũng chỉ vỡ lòng.

Câu hỏi đặt ra là, sao cứ phải dựa vào chuyên gia Anh ngữ mới đáng tin cậy?

Lẽ nào chuyên gia Anh ngữ Tạ Quang Đông chỉ biết tiếng Anh toàn từ trừu tượng, không có những từ ghép tương đương như từ ghép tiếng Việt? Hay theo ông, nếu dịch ngược ra tiếng Việt các từ ghép Motherland, Fatherland, Homeland thì phải dịch: "Đất và Mẹ", "Đất và Cha", "Đất và Nhà" cho đảm bảo tư duy nguyên thủy của dân tộc, tính hình tượng và chất thơ?

Đó là chưa nói, nếu đòi hỏi tư duy nguyên thủy, tính hình tượng hay chất thơ thì tiếng Ạnh cũng có vô số các thành ngữ tương đương, sao cứ phải dịch thô để chứng tỏ đầu óc mình thô thiển?

Nhớ hơn 20 năm trước khi học thạc sĩ, tôi có viết bài cho một tạp chí khoa học chuyên ngành, họ yêu cầu dịch bản tóm tắt sang tiếng Anh. Tôi viết bản tiếng Việt xong, nhờ một đồng nghiệp chuyên Anh dịch hộ. Đồng nghiệp ấy lắc đầu, vì trong đó có nhiều thuật ngữ khó quá. Rồi bảo tôi cứ dịch đi, theo cách hiểu thuật ngữ chuyên môn của tôi, người đó sẽ xem và chữa giúp về ngữ pháp. Đó là một đồng nghiệp thận trọng, hiểu biết mà tôi quý cho đến bây giờ.

Sau này viết báo, phần tóm tắt tiếng Anh tôi tự dịch. Hiển nhiên là tôi viết tiếng Anh trước rồi mới dịch ngược sang tiếng Việt chứ không dại viết tiếng Việt rồi dịch sang Anh. Nhưng có nhiều “chuyên gia tiếng Anh” biên tập lại theo tư duy của kẻ điếc không sợ súng. Khái niệm “thơ ca” tôi dùng thuật ngữ “Poetry” thì bị sửa thành “Poetry and Music”, khái niệm “Thẩm mỹ” tôi dùng thuật ngữ “Aesthetic” thì bị sửa thành “Feeling for beauty”.v.v… Tôi khóc!

Cho nên không ngạc nhiên khi chuyên gia Anh ngữ của Hội Nhà Thỏ chủ trương chuyển các từ ghép tiếng Việt sang từ đơn tiếng Anh cho đảm bảo tư duy... ngu ngốc của họ. Với cách ấy, nếu dịch được “Sông núi trên vai” thành "Mountains and Rivers on the Shoulder" thì họ có thể dịch “Xe cộ qua lại trên đường” thành “Cars and carts are on the road”? dịch “Nhà cửa tan nát” thành “House and door are broken”?, dịch “Trời đất đổi thay” thành “Heaven and earth change”?…

Nên nhớ trường hợp này không là thuật ngữ chuyên môn mà là từ ngữ phổ thông, đến học sinh lớp Hai cũng biết.

Chuyên gia Anh ngữ Tạ Quang Đông, nhà thơ khoe thơ 2 thứ tiếng Nguyễn Quang Thiều lại còn lý luận lý lẹo rằng, cách dịch đó đảm bảo thể hiện trung thực tư duy của người Việt, tính hình tượng và chất thơ. Đảm bảo trung thực tư duy của người Việt thì sao không dịch tất cả theo cú pháp và cách diễn đạt Việt mà phải dịch theo cú pháp và cách diễn đạt tiếng Anh, bởi vì cú pháp thể hiện tư duy dân tộc tính còn sâu sắc hơn cách dùng từ. Chẳng hạn, sao không dịch “Hôm nay trời mưa to” thành “Today God/heaven rain big” mà phải dịch “It is heavy rain today”? Dịch “Today God/heaven rain big” đảm bảo tư duy Việt 100%, từ cách dùng từ đến cú pháp, thậm chí đảm bảo “tính hình tượng” và “chất thơ” nữa đấy chứ, anh Thiều, anh Đông nhỉ?

Trong một cuộc họp Hội đồng khoa học và đào tạo để thông qua chương trình Anh ngữ cho các khoa, thấy có môn học “Tiếng Anh chuyên ngành” cho tất cả các khoa, tôi hỏi Trưởng khoa Ngoại ngữ: “Dạy Tiếng Anh chuyên ngành là dạy cái gì vậy? ai dạy?” Trưởng khoa gãi đầu rồi thú nhận “Không có tiếng Anh chuyên ngành nào cả, và không giảng viên ngoại ngữ nào dạy được tiếng Anh cho tất cả các chuyên ngành”. Tôi hoan nghênh trưởng khoa trung thực và có hiểu biết. Tôi kết luận đó là môn học bịa đặt để làm tiền và đề nghị, nếu đủ khả năng và muốn nâng cao trình độ cho sinh viên thì hãy dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh chứ không có "tiếng Anh chuyên ngành" nào cả. Người dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh phải là do giảng viên có trình độ tiếng Anh của chuyên ngành đó dạy chứ không phải do bất cứ chuyên gia hay giảng viên Anh ngữ nào!


---------
Không biết chuyên gia Anh ngữ này đã qua trình độ nào mà dịch: CÂY GẠO ĐẠI THỤ thành CÂY LÚA HỌC ĐẠI HỌC HÀM THỤ, năm GIÁP THÂN thành ÁO GIÁP CỦA CƠ THỂ. Hay là chuyên gia Anh ngữ Tạ Quang Đông, nhà thơ Việt-Mỹ Nguyễn Quang Thiều dịch cho Bộ Văn hóa?


Chu Mộng Long (4) Phần cuối – Vĩ thanh).

KHI HỘI NHÀ THỎ CHƠI XỎ CÁC NHÀ THƠ

Đọc đi đọc lại 50 câu thơ do Hội Nhà Thỏ chọn thả lên trời trong ngày Thỏ Việt Nam, tôi chỉ có thể khẳng định, Hội Nhà Thỏ cố tình chơi xỏ các nhà thơ và gây ô nhiễm môi trường văn hóa Việt.

Lựa chọn thơ để thả thơ, tôi hiểu tiêu chuẩn đặt ra phải theo chủ đề và hay.

Chủ đề thì nằm hẳn ở biển quảng cáo: "Sông núi trên vai". Theo giải thích của các yếu nhân trong Hội Thỏ, “sông núi trên vai” chính là “sông và núi trên vai”. Như bài trước tôi viết, họ không phải dùng từ ghép “sông núi” mà là dùng hai từ đơn “sông và núi”. Bằng chứng là khi khoe tiếng Anh họ tách làm đôi Mountains and rivers. Cách dùng đó ắt là: 1) Nhà Thỏ xem sông và núi như củ khoai và củ mì gánh trên vai, 2) Núi cao đè lên và sông sâu nhấn chìm đôi vai Nhà Thỏ. Nội dung 1 tự biến Nhà Thỏ thành chị nhà quê lam lũ, cực nhọc. Nội dung 2 làm cho Nhà Thỏ thành cỏ rác hay xác chết bị mất tích hoặc trôi lềnh phềnh trong cơn lũ. Đó là lý do Hội Nhà Thỏ chọn chủ yếu những câu thơ bát âm, nỉ non khóc như khóc hờ đám ma? Lừng danh là người chỉ biết lên gân và cười đầy hào khí như Tố Hữu mà Nhà Thỏ lại chọn câu thơ sụt sùi “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên” thì đã rõ ý đồ của Nhà Thỏ. Nhà Thỏ thả thơ trong nỗi niềm đau đớn, sợ hãi hoặc lấy thơ làm vàng mã lót đường cho một cuộc di quan của một đám tang mang tầm quốc gia mà chính các nhà thỏ làm đoàn người xếp hàng đi khóc mướn.

Trả tiền cho cuộc khóc mướn này, tôi tin là không nhỏ!

Tôi dành thời gian nói về tiêu chuẩn hay.

Vẫn biết lấy một câu thơ ra khỏi văn bản chẳng khác gì móc đôi mắt người đẹp bỏ ra đĩa, không chừng sẽ thành một cục thịt nhầy nhụa. Nhưng không phải không có những câu thơ rất trọn vẹn về tứ, hình và ý gặp gỡ tự nhiên, hình lung linh, ý sâu thẳm, tách hẳn ra vẫn hay, vẫn đẹp. Như câu thơ của Đặng Dung khắc tạc vào non sông hình ảnh tráng sĩ mài gươm dưới trăng đến bạc đầu, bi thiết mà hào hùng: “Quốc thù vị báo đầu tiên bạch/ Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma”. Như câu thơ của Xuân Diệu tạo hình nỗi cô đơn và bi kịch của phận người, tưởng bé nhỏ mà thành lớn lao cao cả: “Trái đất ba phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung”. Ngây thơ như cậu bé Trần Đăng Khoa cũng có những câu thơ rất hay về mẹ Việt Nam, đời thường bình dị nhưng chứa đựng cả hồn thiêng sông núi: "Cả đời đi gió đi sương/ Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi", “Nắng mưa từ những ngày xưa/ Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”…

Trong danh sách 50 nhà thơ được thả lên trời, trừ một số nhà thơ tào lao, đa số đều có những câu thơ hay như tôi vừa dẫn. Nhưng thật bất ngờ, 50 câu thơ được thả ấy không khác những con chim bị Hội Nhà Thỏ đi săn nhốt nhiều ngày, ốm đói rồi phóng sinh để nhón tay làm phúc. Và thật vô phúc cho tất cả những nhà thơ có tên trong danh sách ấy. Người chưa từng đọc những nhà thơ này sẽ thốt lên, rằng thơ như vậy mà thành nhà thơ được sao?

Đại thi hào Nguyễn Du thì được chọn một câu thơ rất sến ngang tầm mấy ông thầy cúng làm ra để tế cô hồn: “Nỗi lòng đau đớn lạ thường/Mặt trời vàng úa vì thương kiếp người”.

Từ các ông cổ điển Trần Nhân Tông, Trần Nguyên Đán, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà… cho đến các ông hiện đại Hồ Chí Minh, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Phạm Tiến Duật… thì được chọn những câu thơ rất sáo. Những trường hợp Trần Nhân Tông, Trần Nguyên Đán, không ai lấy thơ đánh giá sự nghiệp hay nhân cách của họ nên chọn thơ hay hoặc dở không thành vấn đề, chọn câu nào hoặc không chọn cũng chẳng sao. Nhưng nổi tiếng trong thi ca Việt sự ngông nghênh, kiêu bạc như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, lãng mạn đa tình như Tản Đà mà chọn những câu này thì khác nào dìm hàng họ xuống ngang hàng mấy cô đào hát ả đào, hát cải lương hay hát xẩm: “Kim cổ miên man tình đất nước/ Sao mình làm mãi một thi ông” (Cao Bá Quát), “Thương thay người ở đôi quê/Nẻo đi thì nhớ, nẻo về thì thương” (Nguyễn Công Trứ), “Ngày ngắn, đêm dài, đêm lại sáng/Đêm qua ai có bạc đầu không?” (Tản Đà)…

Những câu thơ thế này mà gọi là thơ sao: “Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười/ Vĩnh viễn anh yêu em như yêu sự thật” (Xuân Diệu), “Lịch sử thế kỷ hai mươi là lịch đường rừng/Thế kỷ mới chính là đường cao tốc” (Phạm Tiến Duật)?

Chế Lan Viên có không ít những câu thơ mà tứ thơ đạt đến sự lung linh của hình tượng và chiều sâu của trí tuệ, cảm xúc, nhưng Hội Nhà Thỏ lại chọn câu triết lý về thơ theo lối tự sướng và rất bông phèng: “Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật/Một giọt mật thành, đòi vạn chuyến ong bay”. Triết lý về thơ như vậy thì nói ngược cũng được: “Nhà thơ như con thỏ biến trăm rau thành một cứt/ Một cứt thành, con thỏ chạy cong đuôi”.

Nhiều người vì định kiến chính trị mà hạ bệ thơ Hồ Chí Minh chứ theo tôi, trong Nhật ký trong tù và ngoài tập Nhật ký trong tù, có những câu không ở mức tầm thường. Chẳng hạn, lấy câu này trong bài "Tân xuất ngục học đăng sơn" cũng đảm bảo một phong cách Hồ Chí Minh, cổ kính trang nghiêm mà lãng mạn đời thường, cao vời mà sâu thẳm, rất gắn với chủ đề “sông núi trên vai”: “Bồi hồi độc bộ Tây Phong lĩnh/Dao vọng Nam thiên ức cố nhân”. Còn lấy câu: “Việc nước việc quân bàn đã dứt/ Bên song tựa gối ngủ cùng trăng” thì loại trừ tính chất thời sự (rất phi thơ) “việc quân việc nước” lớn lao của Cụ, tứ thơ ngủ cùng trăng rất cũ; nếu nói tứ ấy thấm đẫm tinh thần lạc quan hay yêu thiên nhiên thì cách nói “ngủ khách sạn ngàn sao” mà mọi người vẫn hay đùa vui có lẽ thú vị hơn.

Làm thơ ắt có câu dở câu hay. Phải chăng Hội Nhà Thỏ cố tình chọn toàn câu thơ dở của nhà thơ đã chết để đặt bên cạnh những câu thơ rất dở, nhạt hơn nước ốc của những nhà thỏ đang sống, hàng không ai biết tên tuổi như Hồng Thanh Quang, Mai Liễu, Nguyễn Hữu Quý, Đinh Thu Vân, Lê Thành Nghị, Văn Đắc, Phạm Đức, Phạm Hồ Thu… để đánh đồng cá mè một lứa? Câu thơ của Hồng Thanh Quang lãng nhách: “Trên cánh đồng của tôi mùa ấu thơ đã hết/những luống rạ khô như một giấc mơ vàng”. Mơ làm bò ăn rơm à? Câu thơ của Trần Cao Sơn, đứng trước mồ liệt sĩ, tỏ ra trang nghiêm thành kính mà lại nhả ra câu thơ vụng về, như thể bọn trẻ trâu vừa thắp nhang tưởng niệm vừa cười khúc khích: “Hương cháy lên tắt đi rồi lại cháy/ Các anh cứ trẻ măng khi nhân loại đã già”. Hình ảnh liệt sĩ dù là trẻ, nhưng sự hy sinh là lớn lao cao cả mà nhà thỏ vẫn xem như chưa trưởng thành so với nhân loại à? Câu thơ của Phạm Đức triết lý về cái tôi như kẻ dở hơi: “Mỗi ngày tôi luyện thành tôi mỗi ngày”. Định nhại cụ Tố Hữu “Bốn nghìn năm ta lại là ta…” với cái lý không chịu phát triển nhân cách à?

Còn nhiều nữa, vì nể nang nên hãy để họ yên... trong nấm mồ thi ca.

Đặt những câu thơ dở nhất của những nhà thơ tiền bối đã chết bên cạnh những câu thơ "hay nhất" của các nhà thỏ đang sống bâu quanh anh Thỉnh, phải chăng Hội Nhà Thỏ định dìm hàng nhà thơ lớn để được nổi danh?

Tôi hình dung anh Thỉnh lại sẽ nói, cảm nhận thơ hay dở là chủ quan cá nhân, phức tạp lắm, giống như anh biện luận cho qua chuyện về tiếng Anh hiện đại vậy. Vậy thì để cho khách quan, tôi dựa vào bình xét của một nhà thơ, chị Phạm Hiền Mây, người có nhiều bài thơ vào hàng khá của thơ đương đại. Chị Mây cho rằng, trong số 50 câu thơ đó, chị thích nhất câu thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và của giáo sư Lê Trí Viễn. Thích là một chuyện, vì Thị Nở cũng có người thích, còn hay hay không phải thẩm định bằng phân tích khoa học. Mà khoa học thì có đối chứng khách quan chứ không múa loạn cào cào như đạo diễn điện ảnh Đỗ Minh Tuấn khi bình chữ “và” trong cụm từ “núi và sông”, rằng nhờ chữ “và” ấy mà núi và sông như múa lên và quấn quýt trên vai nghệ sĩ.

Nguyễn Trọng Tạo có nhiều câu thơ tài hoa, nhưng tôi dám chắc câu thơ: “Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi” chẳng có gì hay. Anh định nói nghìn năm trôi nhanh như cái chớp mắt hay định nói cái chớp mắt dài như nghìn năm? May chăng cái nghĩa thứ hai trong phạm trù tình yêu thì có mới, chứ nghĩa thứ nhất triết lý về thời gian thì xưa như quả đất. Mà tôi tin anh viết ở nghĩa thứ nhất vì bài "Đồng dao cho người lớn" ấy không có ý nào nói về tình yêu.

Câu thơ của cụ Lê Trí Viễn thì tôi xin thành kính cáo lỗi trước, đối với cụ và với những người sùng tín người thầy của nhiều thế hệ thầy. Thoạt đầu tôi tưởng đó là câu văn xuôi khi giảng văn cụ tếu táo cho vui: “Đêm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng, Nguyễn Du tắt bớt trăng và vặn thấp ngọn đèn”. Không ngờ câu văn xuôi ấy nằm trong một bài thơ tứ tuyệt có tên “Đêm ấy, đêm này”:

Đêm Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng
Nguyễn Du tắt bớt trăng và vặn thấp ngọn đèn
Anh đến với em đêm thần tiên ấy
Trăng với đèn chuếnh choáng hơi men.

Tôi nói ngay với chị Phạm Hiền Mây, câu thơ này không đúng tinh thần Truyện Kiều, không có "đêm thần tiên" nào cả mà nhuốm sự dâm ô phàm tục. Sự thật, trong văn bản Truyện Kiều, khi Kiều “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”, trời có tối hơn cho Kiều lén lút trên đường tìm trai: “Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần”. Nhưng đến khi bước vào sân nhà, lúc chàng Kim “Vội mừng làm lễ rước vào” thì “Đài sen nối sáp song đào thêm hương”, tức đèn được khêu lên to hơn, và trăng cũng sáng lên lồ lộ: “Vầng trăng vằng vặc giữa trời/ Đinh ninh hai miệng một lời song song”. "Tắt bớt trăng và vặn thấp ngọn đèn" hồi nào? Bịa, tán bừa. Đèn sáng, trăng soi như vậy thì khi dù “Sóng tình dường đã xiêu xiêu/ Xem trong ong bướm có chiều lả lơi” cũng không thể mần ăn chi được. Cho nên Kiều mới nghiêm khắc với mình và với chàng Kim: “Đã cho vào bậc bố kinh/ Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu”. Đèn sáng, trăng soi cùng với lễ giáo đã tạo ra khoảng cách thanh lọc, biến chuyện trai gái đời thường phàm tục thành tình yêu thánh thiện, sáng trong. Một quan hệ thẩm mỹ như vậy làm sao có thể tưởng tượng ra chuyện dâm ô phàm tục? Thiên tài Nguyễn Du là tạo nên cái nghịch lý khoảng cách gần mà xa của tình yêu, khác với Nguyễn Đình Chiểu minh họa giáo điều lúc Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra/ Nàng là phận gái ta là phận trai”. Nếu cho rằng câu thơ của cụ Lê Trí Viễn hay thì có chăng là câu cụ giễu cợt Nguyễn Du, nhưng xét đến cùng đó chỉ có thể là sự giễu cợt vô duyên, không thể hay hơn bọn trẻ trâu giễu cợt cụ Nguyễn Đình Chiểu: “Vân Tiên ngồi dưới gốc môn/ Chờ cho trăng lặn bóp lồw Nguyệt Nga”!

Cuối cùng, tôi muốn nói đến sự ngu dốt và cẩu thả hết cỡ khi Hội Nhà Thỏ bứt râu trên cắm bẹn dưới ngay trong trường hợp Nguyễn Xuân Sanh với câu thơ:

Hoàng hôn ngựa cuốn cầu vồng lụa
Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời

Thỉnh, Thiều và cả ngàn hội viên Hội Nhà Thỏ trả lời cho tôi xem, các ông các bà đã moi móc ở đâu ra cái câu thơ trên của Nguyễn Xuân Sanh?

Vểnh tai thỏ lên tôi trả lời cho mà nghe nhé. Câu “Hoàng hôn ngựa cuốn cầu vồng lụa” nằm ở cuối bài "Nhạc rừng Việt Bắc":

Gặp gỡ trời xanh trên núi cũ
Hoa cười Hà Nội sáng duyên mây
Hoàng hôn ngựa uốn cầu vồng lụa
Cũng hẹn về đây những phố đầy.

“Uốn” chứ không phải “cuốn”. Không phải sai chính tả hay lỗi thằng đánh máy mà do dốt đặc về thơ, không biết hình ảnh “Hoàng hôn ngựa uốn cầu vồng lụa” là gì.

Không có câu “Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời” nào cả mà chỉ có câu “Ngàn mày tràng giang buồn muôn đời” nằm ở khổ thứ ba bài thơ "Buồn xưa" nổi tiếng trong Xuân thu nhã tập:

Buồn hưởng vườn người vai suối tươi
Ngàn mày tràng giang buồn muôn đời
Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu
Duyên vàng da lộng trái du ngươi.

Không phải “mây” mà là “mày” (chân mày) trong hệ thống của trường liên tưởng “vai”, “môi”, “ngực”, “da”. Đã dốt đặc thơ tả thực mà đòi thưởng thức thơ tượng trưng mới ra nông nỗi này!


Hai câu thơ của người ta ở hai bài khác nhau, đã viết sai do không hiểu gì, lại đem cột chung thành một câu như chị bán rau lú lẫn dùng lạt buộc rau muống lộn rau lang, có đáng mặt là Hội Nhà Văn không?

Tóm lại, Hội Nhà Thỏ đã không chỉ ngu về từ loại - cú pháp - ngữ nghĩa tiếng Việt (xem bài trước), dốt đặc về thơ ca, mà còn cố tình dìm hàng các nhà thơ bằng đủ các trò, chọn thơ dở, xuyên tạc, làm méo mó ngôn ngữ và thơ Việt để quảng bá ra nước ngoài.

Một đời dạy văn của tôi, tôi có mắng học sinh lười học nhưng chưa bao giờ dám chửi học sinh ngu hay dốt, vì không chỉ phạm luật mà còn vì học sinh ngu hay dốt là do thầy. Nhưng với Hội Nhà Thỏ mỗi năm tốn bao nhiêu tỉ đồng xương máu dân nuôi, tự hào là tinh hoa văn hóa của dân tộc, tôi phải chửi thẳng!

Với tư cách là một thầy dạy văn có trách nhiệm bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt và đền thiêng của thi ca dân tộc, tôi đề nghị theo cách của triết gia Plato, hãy trục xuất ngay lập tức Hội Nhà Thỏ ra khỏi "vương quốc cộng hòa lý tưởng" của chúng ta!

Đọc 50 câu thơ được thản lên trời ở đây: http://baovannghe.com.vn/50-cau-tho-tha-trong-ngay-tho-viet-nam-2019-18804.html

December 24, 2018

Tiểu thuyết gia bất đồng chính kiến nhận thấy sự tương đồng giữ Mao và Orwell

Mike Ives

Phạm Nguyên Trường dịch

Tháng trước, Ma Jian, một tiểu thuyết gia người Trung Quốc đang sống lưu vong ở London, bước lên sân khấu nhà hát Hồng Kông chật kín người và hỏi khán giả: “Ai đã đọc cuốn tiểu thuyết 1984?”

“Chỉ trong văn học, chúng ta mới có thể thể hiện đầy đủ tình trạng bất công của xã hội, những cực đoan trong bản chất của con người và những hi vọng của chúng ta về một tương lai tươi đẹp”, Ma Jian nói khi tham Liên hoan văn học quốc tế Hồng Kông.

Ma Jian, 65 tuổi, xuất hiện tại Liên hoan văn học quốc tế Hồng Kông hàng năm nhằm quảng bá cho Trung Hoa mộng, một cuốn tiểu thuyết châm biếm của ông về chiến dịch tuyên truyền ở trong nước của Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông nói với cử tọa rằng, tháng trước cuốn sách này được xuất bản bằng tiếng Anh (tháng 5 năm 2019, đối tác sẽ xuất bản tác phẩm này ở Mĩ). Tác phẩm này cho thấy tương lai phản-không-tưởng mà cuốn tiểu thuyết của George Orwell từng cảnh báo đã trở thành hiện thực ở Trung Quốc thời Tập Cận Bình.

“Tôi sẽ khắc cuốn sách này vào đá và mang nó đến trước mộ của Orwell”, ông nói, trước khi đọc một đoạn đã được ông chép lên chiếc iPhone của mình.

Trung Hoa mộng là câu chuyện ngụ ngôn chính trị sắc bén hơn những cuốn tiểu thuyết trước đó của Ma Jian. Giọng văn châm biếm sâu cay quan chức Trung Quốc, và ngôn ngữ dí dỏm làm người ta nhớ tới Gary Shteyngart và những đầu lĩnh chính của nước Nga trong tác phẩm Absurdistan (tạm dịch Vùng đất phi lí), hay thậm chí là các nhà quí tộc tỉnh lẻ của nước Nga trong Những linh hồn chết của Nikolai Gogol.

Tuy nhiên, ngay cả đối với Ma Jian - tác phẩm của ông bị cấm ở Trung Quốc đại lục - cuốn tiểu thuyết này có tính khiêu khích một cách đặc biệt, vì nó chứa đựng lời phê phán mà người dân bình thường ở Trung Quốc hiện nay ít khi dám nói công khai: Tình trạng kiểm duyệt và đàn áp mà Đảng Cộng sản, nằm dưới quyền kiểm soát của Tập [Cận Bình], tiến hành cũng chẳng khác gì trong thời Cách mạng Văn hóa.

“Mặc dù đã và đang sống lưu vong trong suốt hơn 30 năm qua, nhưng những đoạn miêu tả của Ma Jian về Trung Quốc trong các tác phẩm của ông không phải là bức tranh tĩnh vật”, Maura Cickyham - một nhà sử học chuyên về Trung Quốc hiện đại, có văn phòng ở Ann Arbor, Mich – người phỏng vấn Ma Jian trên sân khấu ở Liên hoan Văn hóa Hồng Kông nói như thế.

Trong Trung Hoa mộng, Ma Jian pha trộn thực tế với hư cấu để lí giải cách thức mà Tập Cận Bình và Đảng đang sử dụng bạo lực nhằm chống lại, và thậm chí tìm cách xóa bỏ kì ức tập thể về giai đoạn lịch sử gần đây của Trung Quốc, Maura Cickyham nói.

Bản dịch tiểu thuyết Trung Hoa Mộng của Ma Jian được xuất bản ở Anh và sang năm sẽ được xuất bản ở Mĩ.

Như thể nhấn mạnh thông điệp của cuốn tiểu thuyết, ngay sau đó Ma Jian không còn xuất hiện nữa. Ban tổ chức nói rằng họ không muốn “trở thành diễn đàn nhằm thúc đẩy lợi ích chính trị của bất kì cá nhân nào”. Nhiều người Hồng Kông coi đây là tín hiệu khác, cho thấy tự do đang suy giảm trong thành phố bán tự trị này của Trung Quốc.

Flora Drew, đối tác của Ma Jian, đồng thời là dịch giả lâu năm, viết trong một email rằng khi tiễn ông lên máy bay đi Hồng Kông, bà sợ rằng có thể sẽ không còn gặp lại nhau nữa. “Tôi có thể nói rằng ông ấy cũng nghĩ như vậy, mặc dù cả hai chúng tôi đều không nói gì”, bà nói.

Nhiều người khuyên ông đừng đi, họ bảo rằng lễ hội này không quá quan trọng. “Nhưng ông nói rằng chính vì nó không quan trọng nên ông cảm thấy nó quan trọng đối với ông, ông phải đi. Ông vẫn quyết tâm như xưa và không để các cán bộ kiểm duyệt giành chiến thắng”, Flora Drew nói.

Ma Jian nói với các phóng viên ở Hồng Kông rằng mặc dù ông không nghĩ văn học, tự nó, có thể chống lại được sức mạnh chính trị, ông vẫn coi việc mời ông tham gia lễ hội là chiến thắng chống lại tự-kiểm-duyệt và vinh danh quyền năng chữa lành của tiểu thuyết. “Chỉ trong văn học, chúng ta mới có thể thể hiện đầy đủ tình trạng bất công của xã hội, những cực đoan trong bản chất của con người và những hi vọng của chúng ta về một tương lai tươi đẹp”, ông nói.

Trong cuộc phỏng vấn được thực hiện vào ngày hôm sau, Ma Jian chỉ ra một sự phi lí. Khi sống ở Hồng Kông trong những năm trước khi thành phố này trở về với Trung Quốc, năm 1997, các nhà văn địa phương thường nói với ông rằng chính trị đại lục không có chỗ đứng trong văn chương ở thành phố này, ở đây phải là thứ văn chương mà họ cho rằng phải tinh tế hơn và dịu dàng hơn. Nhưng đó là những năm trước khi quyền tự do ở thành phố này bị xói mòn. Thỏa thuận “một quốc gia, hai hệ thống” ở đây được cho là sẽ mang lại cho thành phố quyền tự trị cao, ít nhất là đến năm 2047.

Hiện nay, cũng như văn hóa Tây Tạng, “quyền tự chủ của văn chương và ngôn ngữ Hồng Kông đang biến mất. Có thể kéo dài 10 đến 20 năm, nhưng quá trình đã bắt đầu”, ông nói như thế khi bàn về cà phê Espresso và nhạc Jazz trong một quán rượu mờ tối của khách sạn.

Ma Jian sinh năm 1953, ở thành phố duyên hải Thanh Đảo, miền Đông Trung Quốc, bốn năm sau khi Cộng sản Trung Quốc giành được chính quyền. Ban đầu ông làm công nhân và diễn viên trong đoàn ca kịch tuyên truyền, rồi đến Bắc Kinh, cuối những năm 1970, và trở thành họa sĩ và phóng viên ảnh.

Quyền tự chủ của văn chương và ngôn ngữ Hồng Kông đang biến mất. Có thể kéo dài 10 đến 20 năm, nhưng quá trình đã bắt đầu”, Ma Jian, tiểu thuyết gia người Trung Quốc đang sống lưu vong nói.

Sự nghiệp văn chương của ông bắt đầu khi ông tiến hành chuyến đi qua khắp mọi miền của Trung Quốc trong vòng 3 năm, và sau đó đưa những trải nghiệm của mình vào tác phẩm Stick Out Your Tongue, ghi lại hành trình của một người Trung Quốc lang bạt qua Tây Tạng. Ma Jian nói rằng chính phủ đã cấm tác phẩm này ông ngay sau khi cuốn sách vừa được xuất bản, và sau đó cấm ông bén mảng tới đại lục.

Nơi tổ chức Lễ hội, Trung tâm Di sản và Nghệ thuật Tai Kwun, cuối cùng, sau khi bị phản đối công khai, đã rút lại quyết định. Nhưng trước khi Ma Jian tới đây, chuyến đi của ông đã trở thành minh chứng về cuộc đấu tranh đòi tự do thể hiện ở Trung Quốc, cũng như trắc nghiệm về việc ông có được bảm đảm an toàn ở cựu địa này của Anh hay không. (Năm 2015, mấy người bán sách ở Hồng Kông, có bán những cuốn sách chính trị bị cấm đã biến mất và sau đó bị giam giữ ở Trung Quốc.)

Trung Hoa mộng có thể là thăng hoa tinh khiết nhất từ tài năng của Ma Jian trong cuộc thăm dò những góc khuất tăm tối nhất của đất nước này và phơi bày điều mà ông coi là sa đọa về đạo đức của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cuốn tiểu thuyết mỏng này đã vạch ra sự đổ vỡ về tinh thần của Ma Daode, một quan chức tỉnh tham nhũng lố bịch - những khi ông ta không bận sắp xếp các cuộc hẹn hò với nhân tình nhân ngãi – đang tìm cách thiết kế “Thiết bị Trung Hoa mộng”, giúp chính phủ ngày càng độc đoán của Tập [Cận Bình] xóa bỏ kí ức của quần chúng nhân dân về quá khứ hậu-cách mạng của đất nước này.

Nhưng dự án này đã thất bại, chủ yếu là do việc đàn áp và kiểm duyệt mà Ma Daode, một quan chức vụng về, tiến hành đã thường xuyên kích hoạt những hồi tưởng về bạo lực mà anh ta từng chịu đựng - và tham gia vào - khi còn là thanh niên trong thời kì Cách mạng Văn hóa

“Tại sao trong những năm đó tôi không bị chôn vùi cùng với các đồng chí của mình?”, Ma Daode tự hỏi khi đi ngang qua mộ của các nạn nhân thời Mao. Ngay cả việc tới nhà thổ tên là Hộp đêm Hồng Vệ binh cũng không giúp anh ta thanh thản. Tất cả các cô gái điếm ở đó đều mặc quân phục, đầu óc anh ta không còn ham muốn nữa mà đã chuyển sang một bức tranh đầy đau đớn: Khuôn mặt đau khổ của người cha, ông đã tự tử sau khi bị các quan chức thời Mao đánh đập.

Nhưng ngay cả khi Trung Hoa mộng vẽ ra bức chân dung đầy miệt thị về giới quan chức Trung Quốc, thì những dằn vặt lương tâm của Ma Daode cũng làm cho người ta nghĩ rằng ngay cả những người tham gia vào hệ thống đầy rẫy tham nhũng và áp bức này cũng có khả năng được cứu rỗi. Ma Jian cho biết ông đã xây dựng nhân vật theo hình mẫu Winston Smith, nhân vật chính trong tác phẩm 1984 của Orwell, người đã chiến đấu nhằm phục hồi cảm giác về lịch sử, ngay cả khi chính phủ độc tài tìm cách tạo ra một thực tế mới.

“Trong mỗi nhà độc tài đều có một chút đạo đức”, ông vừa nói vừa nhoài người qua mặt bàn và ấn ngón tay cái và ngón trỏ vào nhau để nhấn mạnh ý mình. “Thậm chí Stalin, Hitler hay Mao Trạch Đông: Không phải trong suốt cuộc đời, họ lúc nào cũng là quỉ sứ”.

Tuy nhiên, vì các tác phẩm của ông Ma Jian đã bị cấm ở Trung Quốc đại lục ngay từ khi ông bước chân vào nghiệp văn học, thông điệp của ông không thể tới được với độc giả ở đó - ít nhất là trong khi Tập [Cận Bình] – theo những thay đổi hiến pháp vừa diễn ra trong năm nay - có thể là tổng thống cho đến chết, vẫn còn nắm quyền. Flora Drew nói rằng cuốn tiểu thuyết mới của ông không có bán ngay cả ở Hồng Kông.

“Đối với độc giả Trung Quốc”, Ma Jian nói, “tôi là người đã chết rồi”.

Đã đăng trên Việt Nam Thời Báo

Nguồn nytimes