June 28, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (5)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 


CHƯƠNG 4 

THỜ Ơ VÀ TRẦM CẢM 

Thờ ơ là tin rằng: “Tôi không thể.” Đó là cảm thọ cho rằng chúng ta không thể làm gì trước tình trạng của mình và không ai có thể giúp đỡ được. Đó là tuyệt vọng và bất lực. Gắn liền với những suy nghĩ như: “Ai quan tâm chứ?”; “Có ích gì chứ?”; “Chán quá”; “Việc gì phải bận tâm?”; “Dù sao thì tôi cũng không thể thắng được.” Đây là vai trò được thể hiện bởi Eeyore, nhân vật ủ rũ trong bộ phim hoạt hình “Winnie the Pooh”, khi tay này nói: “Thôi vậy. Dù sao thì cũng chẳng ích gì.” Chán nản. Thất bại. Bất khả thi. Quá khó. Cô đơn. Bỏ cuộc. Cô lập. Xa lạ. Thu mình. Bị cắt đứt với mọi người. Chán nản. Kiệt sức. Không thỏa mãn. Bi quan. Bất cẩn. Không có khiếu hài hước. Vô nghĩa. Vô lý. Vô ích. Bất lực. Thất bại. Quá mệt mỏi. Tuyệt vọng. Bối rối. Hay quên. Định mệnh. Quá muộn. Quá già. Quá trẻ. Máy móc. Số phận. Tiêu cực. Cô đơn. Vô dụng. Lạc lõng. Vô nghĩa. U ám. Vô cảm.

Mục đích sinh học của thờ ơ là để cầu cứu, nhưng một phần của cảm thọ đó là không thể nào giúp đỡ được. Phần lớn người dân trên thế giới đang sống ở tầng thờ ơ. Đối với họ, không có hy vọng là họ sẽ đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của mình, cũng như không có sự giúp đỡ nào từ nơi khác.

Người bình thường thường thờ ơ trong nhiều lĩnh vực của cuộc đời, nhưng chỉ đôi khi mới phải đối mặt với thái độ thờ ơ tột cùng về toàn bộ cuộc sống của họ. Thờ ơ chứng tỏ thiếu năng lượng sống và cận kề cái chết. Người ta quan sát được sự kiện này trong vụ oanh tạc London thời Thế chiến II. Trẻ sơ sinh được đưa đến các nhà trẻ và các khu vực an toàn xa xôi của nước Anh, nhu cầu về thể chất, dinh dưỡng và y tế của các bé rất được chú ý. Tuy nhiên, những đứa trẻ sơ sinh này tỏ ra thờ ơ và bắt đầu suy sụp; chúng mất cảm giác thèm ăn và tỷ lệ tử vong cao. Người ta phát hiện được rằng thờ ơ, là kết quả của việc thiếu chăm sóc và gần gũi về mặt tình cảm với mẹ. Đó là trạng thái cảm xúc chứ không phải thể chất. Thiếu tình thương và trìu mến, chúng không còn ý chí sống.

Ở nước ta, chúng ta thấy những khu vực kinh tế suy thoái, toàn bộ dân chúng khu vực đó rơi vào trạng thái thờ ơ. Khi người dân từ những khu vực đó xuất hiện trên bản tin truyền hình, họ thường có những lời bình luận như: “Khi tiền trợ cấp hết, tôi đoán chúng tôi sẽ chết đói; chúng tôi chẳng còn hy vọng gì.”

Cảm thọ thờ ơ trước kỹ thuật buông bỏ có thể biểu hiện dưới dạng kháng cự. Có thể bằng thái độ và suy nghĩ như: “Dù thế nào thì cũng sẽ không hiệu quả”; “Có gì khác đâu?”; “Tôi chưa sẵn sàng làm việc này”; “Tôi không cảm nhận được”; “Tôi bận lắm”; “Tôi mệt mỏi với chuyện buông bỏ này”; “Tôi quên”; “Tôi chán quá rồi”; “Tôi buồn ngủ quá.” Cách thoát khỏi thờ ơ là nhắc nhở mình về mục đích của mình, đó là vươn lên tầng cao hơn và tự do hơn, trở thành hiệu quả và hạnh phúc hơn, và buông bỏ kháng cự đối với chính kỹ thuật đó. 

“Tôi không thể” và “Tôi không muốn”

Một cách khác để thoát khỏi thờ ơ là xem xét lợi ích mà chúng ta nhận được từ thái độ thờ ơ. Lợi ích đó có thể nằm ở những lời bào chữa nhằm giữ thể diện, để che đậy thái độ thực sự là sợ hãi. Vì trên thực tế, chúng ta là những sinh vật rất có khả năng, hầu hết “Tôi không thể” thực ra là “Tôi không muốn”. Đằng sau những câu “Tôi không thể” hay “Tôi không muốn” thường là sợ hãi. Sau đó, khi chúng ta nhìn vào sự thật đằng sau cảm thọ đó, là chúng ta chuyển từ thờ ơ sang sợ hãi. Sợ hãi là trạng thái năng lượng cao hơn so với thờ ơ. Ít nhất, sợ hãi bắt đầu thúc đẩy chúng ta hành động và, trong hành động đó, chúng ta có thể lại buông bỏ sợ hãi và chuyển lên trạng thái tức giận, hoặc tự hào hoặc can đảm, tất cả đều là những trạng thái cao hơn so với thờ ơ.

Xin xem xét một vấn đề điển hình của con người và theo dõi cách thức hoạt động của buông bỏ để giải phóng chúng ta khỏi ức chế. Nói trước công chúng là một trong những ức chế phổ biến nhất. Ở tầng thờ ơ trong lĩnh vực này, chúng ta nói: “Vâng, tôi không thể nào nói trước công chúng. Quá sức chịu đựng của mình. Dù sao thì cũng chẳng có người nào muốn nghe tôi nói. Tôi chẳng có gì đáng nói hết.” Nếu tự nhắc nhở mình về ý định của chúng ta, chúng ta sẽ thấy rằng thờ ơ chỉ đơn giản là che đậy sợ hãi. Giờ đây, ý nghĩ nói trước công chúng mới đáng sợ, chứ không phải là vô vọng. Thế là rõ. Sự thật không phải là chúng ta “không thể”, mà chỉ đơn giản là chúng ta “sợ”.

Khi sợ hãi xuất hiện và được buông bỏ, chúng ta nhận thức được sự kiện là chúng ta muốn làm chính cái mà chúng ta sợ. Giờ đây, khi nhìn vào mong muốn đó - vốn bị cản trở bởi sợ hãi và có lẽ còn bị trầm trọng thêm bởi u sầu về những cơ hội đã mất trong quá khứ - thì sẽ xuất hiện tức giận. Lúc này, chúng ta đã chuyển từ thờ ơ thành u sầu, rồi thành mong muốn, và lên tới trạng thái tức giận. Tức giận có nhiều năng lượng và khả năng hành động hơn. Tức giận thường biểu hiện dưới dạng oán hận, chẳng hạn như oán hận vì chúng ta đã đồng ý nói trước đám đông và lúc này cảm thấy bắt buộc phải làm việc đó.

Cũng có tức giận về thái độ sợ hãi của chúng ta. Trong quá khứ, sợ hãi từng cản trở, không cho chúng ta thành công như mong đợi, và tức giận dẫn đến quyết định làm việc gì đó để thay đổi nó. Quyết định có thể là tham gia một khóa học thuyết trình trước công chúng. Khi đăng ký khóa học thuyết trình trước công chúng là chúng ta chuyển sang trạng thái năng lượng của tự hào, vì cuối cùng chúng ta đã dám đương đầu với thử thách và đang làm việc gì đó để thay đổi nó. Trên đường đến khóa học thuyết trình, sợ hãi lại trỗi dậy. Khi liên tục thừa nhận và buông bỏ sợ hãi, chúng ta nhận ra rằng mình có đủ can đảm để đối mặt với sợ hãi và hành động để vượt qua nó.

Tầng can đảm có rất nhiều năng lượng. Năng lượng thể hiện dưới dạng buông bỏ sợ hãi, tức giận và ham muốn còn sót lại, để rồi trong khi theo học thuyết trình, chúng ta đột nhiên trải nghiệm thái độ chấp nhận. Chấp nhận là giải thoát khỏi kháng cự, mà trước đây từng thể hiện bằng những hình thức như sợ hãi, thờ ơ và tức giận. Lúc này, chúng ta bắt đầu trải nghiệm niềm vui. Tự tin vì đã chấp nhận: “Tôi có thể làm được.” Ở tầng chấp nhận, có nhận thức sâu sắc hơn về tha nhân, vì vậy trong lớp học thuyết trình, chúng ta nhận thức được sự đau đớn, khổ sở và xấu hổ của những người khác trong lớp học này và bắt đầu quan tâm đến họ.

Khi tâm từ bi đối với tha nhân xuất hiện, tự ý thức rằng mình tách biệt với người khác cũng không còn. Vị tha thì sẽ có bình an. Trên đường về nhà sau lớp học, chúng ta trải nghiệm trạng thái mãn nguyện nội tâm, cảm giác rằng chúng ta đã trưởng thành, chúng ta đã chia sẻ với người khác. Trong trải nghiệm chia sẻ, chúng ta quên chính mình trong vài phút và quan tâm nhiều hơn đến hạnh phúc của người khác. Chúng ta vui mừng trước thành tựu của người khác. Trong trạng thái này, xuất hiện ân sủng mang tính chuyển hoá, phát hiện được tâm từ bi bên trong chúng ta, cảm giác kết nối với người khác và từ bi trước những đau khổ của họ. Khi quá trình này phát triển một cách đầy đủ, chúng ta có thể chia sẻ với người khác về việc chúng ta đã từng sợ nói trước đám đông đến mức nào, những bước chúng ta từng làm để vượt qua nỗi sợ đó, những thành công chúng ta đã đạt được, gia tăng lòng tự trọng và những thay đổi tích cực trong các mối quan hệ của chúng ta.

Toàn bộ quá trình này là nền tảng của sức mạnh to lớn của các nhóm tự giúp nhau: chia sẻ những trải nghiệm nội tâm từ tầng thấp nhất đến cao nhất trên thang cảm xúc. Những việc ban đầu tưởng chừng là đáng sợ và choáng ngợp thì giờ đây đã được vượt qua và xử lý, kết quả là sức sống và hạnh phúc tăng lên. Lòng tự trọng gia tăng sau đó lan tỏa sang các lĩnh vực khác của cuộc đời, và thái độ tư tin gia tăng thì sung túc về vật chất và khả năng làm việc cũng gia tăng. Ở tầng này, yêu thương thể hiện qua việc chia sẻ và khuyến khích người khác, và các hoạt động của chúng ta mang tính xây dựng chứ không còn phá hoại nữa. Năng lượng tỏa ra lúc này là tích cực và thu hút người khác, tạo ra phản hồi tích cực và thường xuyên.

Một khi đã trải nghiệm tiến trình thăng tiến trên thang đo cảm xúc ở bất kỳ một phương diện cụ thể nào, chúng ta sẽ bắt đầu nhận ra rằng mình hoàn toàn có thể áp dụng điều đó vào những khía cạnh còn đang bị trói buộc khác trong cuộc sống. Đằng sau tất cả những câu “Tôi không thể” chỉ đơn giản là “Tôi không muốn”. “Tôi không muốn” có nghĩa là “Tôi sợ”, “Tôi xấu hổ”, hoặc “Tôi kiêu ngạo quá, không dám thử, vì sợ thất bại”. Đằng sau nó là tức giận với chính bản thân mình và hoàn cảnh do kiêu hãnh gây ra. Thừa nhận và buông bỏ những cảm xúc này sẽ giúp chúng ta có được can đảm, và cùng với đó là chấp nhận và bình an nội tâm, ít nhất là đối với những khó khăn đã được vượt qua.

Thờ ơ và trầm cảm là cái giá phải trả vì đã bằng lòng với và chấp nhận sự nhỏ bé của chính mình. Đó là những gì chúng ta nhận được khi đóng vai nạn nhân và để chính mình bị lập trình. Đó là cái giá chúng ta phải trả vì đã chấp nhận thái độ tiêu cực. Đó là kết quả của việc chống lại phần yêu thương, can đảm và vĩ đại trong chính mình. Đó là kết quả của việc cho phép chính mình hoặc người khác phủ nhận con người mình; đó là hậu quả của việc tự đặt mình vào bối cảnh tiêu cực. Trên thực tế, đó chỉ là định nghĩa về chính mình mà chúng ta vô tình cho phép nó xảy ra. Muốn thoát khỏi tình trạng này thì phải trở nên có ý thức hơn.

“Trở nên ý thức hơn” nghĩa là gì? Trước hết, trở nên ý thức hơn có nghĩa là bắt đầu tìm kiếm sự thật cho chính mình, thay vì mù quáng để mình bị lập trình, dù là từ bên ngoài hay do tiếng nói nội tâm, luôn luôn tìm cách làm suy yếu và phủ nhận, tập trung vào tất cả những thứ yếu đuối và bất lực. Để thoát khỏi tình trạng này, chúng ta phải nhận trách nhiệm: mình đã chấp nhận tiêu cực và sẵn sàng tin vào nó. Vì vậy, muốn thoát khỏi tình trạng này thì phải bắt đầu đặt câu hỏi về mọi thứ.

Có nhiều mô hình mô tả tâm trí. Một trong những mô hình gần đây nhất là mô hình máy tính. Chúng ta có thể xem các khái niệm, suy nghĩ và hệ thống niềm tin của tâm trí như những chương trình. Vì chúng là chương trình, chúng có thể bị chất vấn, hủy bỏ và đảo ngược; các chương trình tích cực có thể thay thế các chương trình tiêu cực nếu chúng ta lựa chọn như thế. Khía cạnh nhỏ bé hơn của bản thân chúng ta rất sẵn sàng chấp nhận lập trình tiêu cực.

Nếu nhìn vào nguồn gốc của những suy nghĩ, bắt đầu xác định nguồn gốc của chúng, và ngừng thói phù phiếm khi gán cho chúng là “của tôi” (và do đó là bất khả xâm phạm), chúng ta sẽ thấy rằng suy nghĩ có thể được nhìn nhận theo lối khách quan. Chúng ta thấy rằng nguồn gốc của chúng thường là sự nhào nặn trong thời thơ ấu, từ cha mẹ, gia đình và thầy cô; cùng với những mảnh vụn thông tin rơi rớt mà ta nhặt nhạnh được từ bạn bè, báo chí, phim ảnh, truyền hình, truyền thanh, giáo hội, tiểu thuyết, và cả những dữ liệu tự động nạp vào qua các giác quan. Tất cả những việc này diễn ra một cách vô thức mà không cần chúng ta thực hiện bất kỳ sự lựa chọn có ý thức nào. Không chỉ vậy, mà từ vô thức, vô minh, ngây thơ và cả tin của chúng ta, cộng với bản chất của chính tâm trí, chúng ta đã trở thành tổng hợp của tất cả những rác rưởi tiêu cực đang lan tràn trên thế giới này. Hơn nữa, chúng ta kết luận rằng những thứ đó áp dụng cho chính chúng ta. Khi trở thành người có nhận thức hơn, chúng ta bắt đầu nhận ra rằng mình có lựa chọn. Chúng ta có thể ngừng trao quyền lực cho tất cả các suy nghĩ trong tâm trí, bắt đầu nghi ngờ chúng và tự mình tìm hiểu xem liệu chúng có thực sự có bất kỳ sự thật nào hay không.

Cảm giác thờ ơ gắn kết với niềm tin: “Tôi không thể”. Tâm trí không thích nghe sự thật này, nhưng trên thực tế, hầu hết những câu: “Tôi không thể” đều là: “Tôi không muốn”. Lý do tâm trí không muốn nghe sự thật này là vì “Tôi không thể” là biện pháp che đậy những cảm xúc khác. Những cảm xúc này có thể được nhận thức bằng cách đặt câu hỏi giả định cho chính mình: “Có đúng là tôi sẽ không làm chứ không phải là tôi không thể làm? Nếu tôi chấp nhận rằng ‘Tôi không thích’, thì sẽ xảy ra những tình huống nào và tôi sẽ cảm thấy như thế nào?”

Ví dụ, giả sử chúng ta có một hệ thống niềm tin rằng mình không thể nhảy van. Chúng ta tự nhủ: “Có lẽ đó là một cách che đậy. Có lẽ sự thật là tôi không muốn và tôi sẽ không nhảy.” Biện pháp để chúng ta tìm ra những cảm thọ đó là hình dung mình đang trải qua quá trình học nhảy. Khi chúng ta làm như thế, tất cả những cảm thọ liên quan bắt đầu xuất hiện:

Ngượng ngùng, kiêu ngạo, vụng về, nỗ lực to lớn khi học một kỹ năng mới, và sự miễn cưỡng về thời gian và năng lượng. Khi thay thế “Tôi không thể” bằng “Tôi không muốn”, chúng ta sẽ khám phá được tất cả những cảm thọ này, và sau đó có thể buông bỏ. Chúng ta thấy rằng học khiêu vũ có nghĩa là chúng ta phải sẵn sàng buông bỏ kiêu hãnh. Chúng ta nhìn vào cái giá phải trả và tự hỏi: “Liệu tôi có sẵn sàng tiếp tục trả cái giá này hay không? Liệu tôi có sẵn sàng buông bỏ sợ hãi rằng mình sẽ không thành công hay không? Liệu tôi có sẵn sàng buông bỏ việc chống lại nỗ lực mà mình cần hay không? Liệu tôi có sẵn sàng buông bỏ sự phù phiếm để cho phép bản mình trở thành vụng về như một người đang học hay không? Liệu tôi có thể buông bỏ thái độ keo kiệt và nhỏ nhen của mình và sẵn sàng trả tiền cho những bài học này và dành thời gian đi học hay không?” Khi tất cả những cảm thọ liên quan được buông bỏ, thì rõ ràng lý do thực sự là không muốn - chứ không phải là không có khả năng.

Cần nhớ rằng chúng ta được tự do thừa nhận và buông bỏ cảm thọ của mình, và chúng ta cũng được tự do không buông bỏ. Khi xem xét những câu “Tôi không thể” và nhận ra rằng chúng thực chất là “Tôi không muốn”, không có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ những cảm thọ tiêu cực dẫn đến “Tôi không muốn”. Chúng ta hoàn toàn được tự do từ chối buông bỏ. Chúng ta được tự do bám vào tiêu cực bao lâu cũng được. Không có luật nào quy định rằng chúng ta phải từ bỏ tiêu cực. Chúng ta là những con người tự do. Nhưng nhận ra rằng: “Tôi sẽ không làm việc gì đó” là cảm giác hoàn toàn khác so với việc nghĩ rằng “Tôi là nạn nhân và tôi không thể làm”, tạo ra một sự khác biệt to lớn trong nhận thức về chính mình. Ví dụ, nếu muốn, chúng ta có thể ghét một người nào đó. Chúng ta có thể đổ lỗi cho họ. Chúng ta có thể đổ lỗi cho hoàn cảnh. Nhưng là người có ý thức hơn và nhận ra rằng chúng ta có quyền tự do lựa chọn thái độ như thế sẽ đưa chúng ta tới trạng thái tâm thức cao hơn và do đó, tiến gần hơn tới sức mạnh đích thực và làm chủ hơn so với việc trở thành nạn nhân bất lực của một cảm xúc nào đó. 

Đổ lỗi

Một trong những rào cản lớn nhất trong quá trình vượt qua chứng trầm cảm và thờ ơ chính là đổ lỗi. Đổ lỗi là chủ đề riêng. Tìm hiểu nó là việc làm rất hữu ích. Trước hết, có rất nhiều phần thưởng khi đổ lỗi. Chúng ta được coi là vô tội; chúng ta vui khi than thân trách phận; chúng ta trở thành người tử đạo và nạn nhân; và chúng ta được cảm thông.

Có lẽ phần thưởng lớn nhất của việc đổ lỗi là chúng ta được coi là nạn nhân vô tội và phía bên kia là người xấu. Chúng ta thấy trò chơi này được diễn đi diễn lại trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chẳng hạn như những trò chơi đổ lỗi bất tận được kịch tính hóa trong vô số cuộc tranh cãi, bôi nhọ, hạ bệ nhau và kiện tụng. Ngoài phần thưởng về mặt cảm xúc, đổ lỗi còn mang lại những lợi ích đáng kể về mặt tài chính; do đó, việc trở thành nạn nhân vô tội là khá hấp dẫn, vì nó thường được đền bù về mặt tài chính.

Có một ví dụ nổi tiếng về đổ lỗi xảy ra tại thành phố New York cách đây nhiều năm. Xảy ra một vụ tai nạn trên phương tiện giao thông công cộng. Mọi người ào ra cửa trước, rồi tụ tập thành một đám đông nho nhỏ, họ cung cấp tên và địa chỉ của mình để được hưởng lợi về mặt tài chính trong tương lai. Những người xung quanh nhanh chóng nhận ra trò chơi, và lén lút trèo vào cửa sau, rồi họ đi ra cửa trước như là những người bị thương thực sự, là “những nạn nhân vô tội”. Họ thậm chí còn không bị tai nạn, nhưng sẽ nhận được phần thưởng về mặt tài chính!

Đổ lỗi là lời bào chữa lớn nhất trên đời. Nó cho phép chúng ta tiếp tục là người hạn chế và nhỏ bé mà không có mặc cảm tội lỗi. Nhưng cái giá phải trả là mất tự do. Ngoài ra, vai trò nạn nhân mang theo nhận thức về bản thân là yếu đuối, dễ bị tổn thương và bất lực, đó là những thành phần chính của sự thờ ơ và trầm cảm.

Bước đầu tiên để thoát khỏi đổ lỗi là nhận ra rằng chúng ta đang lựa chọn đổ lỗi. Những người khác từng trải qua hoàn cảnh tương tự đã tha thứ, đã quên, và xử lý tình huống tương tự theo cách hoàn toàn khác. Trước đó, chúng ta đã thấy trường hợp của Viktor Frankl, ông quyết định tha thứ cho những tên cai ngục của Đức Quốc xã và nhìn thấy món quà tiềm ẩn trong trải nghiệm của mình trong các trại tập trung. Bởi vì những người khác, cũng như Frankl, quyết định không đổ lỗi, nên lựa chọn đó cũng dành cho chúng ta. Chúng ta phải thành thật và nhận ra rằng chúng ta đổ lỗi vì chúng ta chọn đổ lỗi. Đúng như thế, dù hoàn cảnh có vẻ chính đáng đến đâu. Đó không phải là vấn đề đúng hay sai; đó chỉ đơn giản là vấn đề chịu trách nhiệm trước lương tâm của chính mình. Nhận ra rằng chúng ta chọn đổ lỗi thay vì nghĩ rằng chúng ta phải đổ lỗi là tình huống hoàn toàn khác. Trong trường hợp này, tâm trí thường nghĩ: “Nếu người khác hoặc sự kiện khác không đáng trách, thì tôi phải là người đáng trách.” Đổ lỗi cho người khác hoặc chính mình đơn giản là không cần thiết.

Sức hấp dẫn của đổ lỗi xuất hiện ngay từ thời thơ ấu, là hiện tượng xảy ra hàng ngày trong lớp học, trên sân chơi và giữa các anh chị em trong nhà. Đổ lỗi là vấn đề trung tâm trong các thủ tục tố tụng và kiện tụng không ngừng nghỉ, vốn là đặc điểm của xã hội của chúng ta. Sự thực là, đổ lỗi chỉ là một trong những chương trình tiêu cực mà chúng ta đã cho phép tâm trí mình chấp nhận vì chúng ta chưa bao giờ dừng lại để đặt câu hỏi về nó. Tại sao mọi việc luôn phải là “lỗi” của một người nào đó? Tại sao ngay từ đầu, toàn bộ khái niệm “sai” lại phải được đưa vào tình huống này? Tại sao một người nào đó trong chúng ta phải sai, xấu, hoặc có lỗi? Cái tưởng như là một ý tưởng hay vào thời điểm đó có thể hoá ra lại không thu được kết quả tốt. Chỉ thế thôi. Những sự kiện không may có thể đã xảy ra.

Muốn vượt qua tâm lý đổ lỗi, thì cần phải nhìn thấu sự thỏa mãn và khoái cảm thầm kín mà ta có được từ than thân trách phận, oán hận, tức giận và tự bào chữa, để rồi bắt đầu buông bỏ tất cả những phần thưởng nhỏ nhặt này. Mục đích của bước đi này là chuyển từ vị thế nạn nhân của cảm thọ sang người chủ động lựa chọn cảm thọ. Nếu ta chỉ đơn thuần ghi nhận và quan sát, bắt đầu tháo rời và buông bỏ từng phần cấu thành, thì đó chính là lúc ta đang thực thi lựa chọn một cách có ý thức. Bằng cách này, chúng ta thực hiện một bước tiến lớn để thoát khỏi vũng lầy của bất lực.

Nhận ra rằng những chương trình và cảm thọ tiêu cực của chúng ta xuất phát từ khía cạnh nhỏ bé của chính mình sẽ giúp chúng ta vượt qua được kháng cự và nhận trách nhiệm về những chương trình và cảm thọ tiêu cực này. Bản chất của phần nhỏ bé nhất trong chúng ta là suy nghĩ tiêu cực, vì vậy xu hướng vô thức dễ dàng đồng ý với quan điểm hạn hẹp của nó. Nhưng đó không phải là toàn bộ bản thể của chúng ta; vì bên ngoài và vượt lên trên tự ngã nhỏ bé là Đại Ngã vĩ đại hơn của chúng ta. Chúng ta có thể không ý thức được sự vĩ đại bên trong con người mình. Chúng ta có thể không trải nghiệm được nó, nhưng nó vẫn có đó. Nếu buông bỏ kháng cự đối với nó, chúng ta có thể bắt đầu trải nghiệm nó. Do đó, trầm cảm và thờ ơ là kết quả của việc sẵn sàng bám víu vào tự ngã nhỏ bé và hệ thống niềm tin của nó, cộng với kháng cự đối Đại Ngã Cao Hơn của chúng ta, trong đó có tất cả những thứ đối lập với những cảm xúc tiêu cực.

Bản chất của vũ trụ là vạn vật trong đó đều được đại diện bởi cái tương đương và ngược lại của nó. Do đó, cái tương đương và ngược lại của electron là positron. Tất cả các lực đều có phản lực, tương đương và theo chiều ngược lại. Âm được bù trừ bởi Dương. Có sợ hãi nhưng cũng có dũng cảm. Có thù hận nhưng đối lập của nó là tình yêu. Có nhút nhát nhưng cũng có can đảm. Có keo kiệt nhưng cũng có hào phóng. Trong tâm lý của con người, mỗi cảm thọ đều có cái đối lập của nó. Do đó, cách thoát khỏi tiêu cực là sẵn sàng thừa nhận và buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, đồng thời sẵn sàng buông bỏ chống lại cái đối lập với chúng là tích cực. Trầm cảm và thờ ơ là kết quả của việc để cho tiêu cực ảnh hưởng tới mình. Nó hoạt động như thế nào trong đời sống hàng ngày?

Xin xem lại ví dụ về sinh nhật của một người nào đó đang đến gần. Vì những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, chúng ta có oán hận và cảm thấy không muốn làm bất cứ việc gì cho ngày sinh nhật đó. Bằng cách nào đó, dường như không thể ra ngoài để mua quà mừng sinh nhật. Chúng ta bực bội vì phải chi tiền. Tâm trí tạo ra đủ loại lý do để biện minh: “Tôi không có thời gian đi mua sắm”; “Tôi không thể quên việc cô ta đã đối xử tệ với tôi như thế nào”; “Cô ta nên xin lỗi tôi trước.” Trong trường hợp này, có hai thứ đang diễn ra: bám vào những thứ tiêu cực và sự nhỏ mọn trong chính con người mình, và chống lại những thứ tích cực và sự vĩ đại trong chính mình. Muốn thoát khỏi thờ ơ thì trước hết phải nhận ra rằng: “Tôi không thể” thực chất là “Tôi không muốn”. Khi nhìn vào “Tôi không muốn”, chúng ta thấy rằng nó xuất hiện là do những cảm thọ tiêu cực và khi chúng nổi lên, chúng ta có thể thừa nhận và buông bỏ. Rõ ràng là chúng ta cũng đang chống lại những cảm thọ tích cực. Những cảm thọ của yêu thương, hào phóng và tha thứ có thể được xem xét từng cái một.

Chúng ta có thể ngồi xuống và tưởng tượng phẩm chất của hào phóng và buông bỏ việc chống lại nó. Trong chính chúng ta có cái gì là hào phóng hay không? Trong trường hợp này, ban đầu chúng ta có thể không sẵn sàng áp dụng nó đối với người sắp sinh nhật. Cái chúng ta có thể bắt đầu nhận ra là phẩm chất hào phóng đó có trong tâm thức của mình. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng, khi buông bỏ kháng cự đối với cảm thọ hào phóng, thì hào phóng sẽ có đó. Trên thực tế, trong những hoàn cảnh nhất định, chúng ta thích cho người khác. Chúng ta bắt đầu nhớ lại những cảm thọ tích cực ùa tới khi chúng ta thể hiện lòng biết ơn và ghi nhận những món quà mà người khác đã tặng cho mình. Chúng ta thấy rằng mình thực sự kìm nén mong muốn tha thứ, và khi buông bỏ kháng cự đối với tha thứ, thì sẵn sàng buông bỏ oán hận sẽ xuất hiện. Khi làm được việc này, chúng ta ngừng đồng nhất với tự ngã nhỏ bé của mình và nhận thức được rằng có một điều gì đó lớn lao hơn trong chúng ta. Nó luôn có đó nhưng bị che khuất.

Có thể áp dụng quá trình này cho bất kỳ tình huống tiêu cực nào. Nó tạo điều kiện để chúng ta thay đổi bối cảnh và dùng nó để nhìn nhận tình huống hiện tại của mình. Tạo điều kiện để chúng ta gán cho nó ý nghĩa mới và khác trước. Nó nâng chúng ta từ vị thế nạn nhân bất lực thành người lựa chọn có ý thức. Trong ví dụ vừa nói, điều đó không có nghĩa là chúng ta phải vội vàng đi mua quà mừng sinh nhật. Nhưng điều đó có nghĩa là giờ đây chúng ta nhận thức được rằng mình đang ở vị trí hiện tại là do lựa chọn của chính mình. Chúng ta hoàn toàn tự do, với phạm vi hành động và lựa chọn rộng lớn hơn. Đây là trạng thái tâm thức cao hơn hẳn so với nạn nhân bất lực bị mắc kẹt trong oán hận từ quá khứ xa xôi.

Một trong những quy luật của tâm thức là: Chúng ta chỉ bị chi phối bởi suy nghĩ hay niềm tin tiêu cực nếu chúng ta chủ động nói rằng nó áp dụng cho chính mình. Chúng ta có quyền tự do lựa chọn không chấp nhận hệ thống niềm tin tiêu cực.

Nó hoạt động như thế nào trong cuộc sống hàng ngày? Xin xem xét một ví dụ phổ biến. Báo đưa tin tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức cao kỷ lục. Bình luận viên truyền hình nói: “Không có việc làm nào hết.” Tại thời điểm này, chúng ta có quyền tự do từ chối chấp nhận kiểu suy nghĩ tiêu cực này. Thay vào đó, chúng ta có thể nói: “Thất nghiệp không áp dụng cho tôi.” Từ chối chấp nhận niềm tin tiêu cực, thì nó không còn chi phối cuộc sống của chúng ta nữa.

Các ví dụ từ trải nghiệm cá nhân cho thấy rằng, trong thời kỳ mà tỷ lệ thất nghiệp cao như giai đoạn sau Thế chiến II, tìm việc làm không hề khó. Trên thực tế, người ta có thể có hai hoặc thậm chí ba công việc cùng một lúc: rửa bát, bồi bàn, người khuân vác hành lý, tài xế taxi, pha chế rượu, công nhân, công nhân làm trong nhà kính và lau cửa kính. Đây là kết quả của hệ thống niềm tin nói rằng: “Thất nghiệp chỉ áp dụng cho người khác chứ không phải tôi,” và “Có chí thì nên.” Cũng có sẵn sàng từ bỏ thái độ kiêu ngạo để đổi lấy việc làm.

Một ví dụ khác là hệ thống niềm tin liên quan đến dịch bệnh. Vài năm trước, trong một đợt dịch cúm, mười bốn người quen được theo dõi sát sao. Trong số mười bốn người, tám người bị cúm, nhưng sáu người khác thì không. Quan trọng ở đây không phải là tám người bị cúm, mà là sáu người không bị! Trong bất kỳ dịch bệnh nào, đều có những người không “bị nhiễm”. Ngay cả trong thời kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng nhất, vẫn có những người trở thành giàu có và thậm chí là triệu phú. Thời đó, suy nghĩ về nghèo đói “dễ lây lan”, nhưng bằng cách nào đó những người này không tin vào điều đó; do đó, nó không áp dụng đối với họ. Để tiêu cực tác động đến cuộc sống của chúng ta, trước hết, chúng ta phải chấp nhận nó và thứ hai, phải truyền cho nó năng lượng của niềm tin. Nếu chúng ta có khả năng biến tiêu cực thành hiện thực trong cuộc đời, thì rõ ràng tâm trí của chúng ta cũng có khả năng biến điều ngược lại thành sự thật. 

Lựa chọn tích cực

Một hiệu ứng đáng ngạc nhiên của sẵn sàng buông bỏ tiêu cực bên trong là khám phá ra rằng có cực đối lập với những cảm thọ tiêu cực. Có thực tại bên trong mà chúng ta có thể gọi là “sự vĩ đại bên trong” hay “Đại Ngã Cao Hơn”. Nó có sức mạnh lớn hơn hẳn so với tiêu cực bên trong. Đổi lại việc buông bỏ những phần thưởng mà chúng ta nhận được từ quan điểm tiêu cực, giờ đây chúng ta cảm thấy ngạc nhiên bởi những phần thưởng tích cực bắt nguồn từ sức mạnh đích thực của những cảm thọ tích cực. Ví dụ, khi chúng ta buông bỏ đổ lỗi, chúng ta trải nghiệm tha thứ.

Đại Ngã Cao Hơn của chúng ta, mà chúng ta có thể nói là sự tổng hợp của những cảm thọ cao cả hơn, có khả năng gần như vô hạn. Nó có thể tạo ra cơ hội việc làm. Nó có thể tạo ra những tình huống để hàn gắn các mối quan hệ. Nó có sức mạnh đích thực để tạo ra cơ hội cho những quan hệ yêu thương, cơ hội tài chính và chữa lành về thể chất. Khi chúng ta ngừng trao quyền lực và năng lượng cho tất cả các chương trình tiêu cực bắt nguồn từ suy nghĩ của chính mình, là chúng ta ngừng trao sức mạnh của mình cho người khác và bắt đầu lấy lại nó. Nó làm cho lòng tự trọng tăng lên, khả năng sáng tạo quay trở lại và mở ra một tầm nhìn tích cực về tương lai, thay thế cho sợ hãi.

Chúng ta có thể làm thí nghiệm với người mà do oán hận, chúng ta có quan hệ không tốt. Chúng ta có thể ngồi xuống và tự nhủ rằng đây chỉ là thí nghiệm. Chúng ta tự nhủ, mục đích của việc này, chỉ đơn giản là để học hỏi; nghĩa là, chúng ta muốn làm quen với các quy luật của tâm thức và quan sát các hiện tượng xảy ra. Chúng ta thừa nhận những phần thưởng mà mình đã nhận được từ những cảm thọ tiêu cực. Chúng ta buông bỏ từng thành phần và đồng thời, buông bỏ kháng cự đối với phần bên trong con người mình, phần sẵn sàng hàn gắn quan hệ. Lúc này, không cần phải có bất kỳ liên hệ cá nhân nào với người kia. Chúng ta đang làm thí nghiệm này vì lợi ích của chính mình chứ không phải vì họ.

Khi nhìn vào bên trong chính mình, chúng ta tự hỏi: “Tức giận đang che giấu cái gì?” Bên dưới tức giận, chúng ta có thể tìm thấy sợ hãi. Bên cạnh sợ hãi, chúng ta cũng tìm thấy ghen tị. Chúng ta nhận thấy cạnh tranh và tất cả những thành phần nhỏ bé khác của phức hợp cảm thọ cản trở quan hệ của chúng ta. Đồng thời buông bỏ những thứ tiêu cực và buông bỏ kháng cự những thứ tích cực sẽ dẫn đến thay đổi năng lượng bên trong, và đi kèm với nó là thay đổi tinh tế trong thái độ tự trọng của chúng ta. Buông bỏ kháng cự của chúng ta đối với mong muốn để điều gì đó tích cực xảy ra trong quan hệ này là tất cả những việc cần làm. Sau đó, chúng ta chỉ cần ngồi xuống và quan sát những sự kiện đang xảy ra. Trong thí nghiệm này, chúng ta không quan tâm đến việc người kia có “hiểu” hay không. Chúng ta chỉ quan tâm đến cái chúng ta hiểu được. Chúng ta chỉ quan tâm đến việc thay đổi quan điểm của chính mình trong vấn đề này, rồi sau đó, chúng ta chỉ cần quan sát những sự kiện xảy ra. Một trải nghiệm rất bổ ích thường xảy ra sau đó, và nó sẽ có những hình thức khác nhau, tùy hoàn cảnh.

Một nguyên nhân khác tạo ra thờ ơ là dư vị của trải nghiệm quá tải đầy đau thương trước đó nhưng chưa được giải quyết. Tâm trí phóng chiếu vào tương lai với kỳ vọng rằng quá khứ sẽ lặp lại. Khi khám phá ra động lực vô thức này, chúng ta có thể chọn nhìn nhận lại phức hợp cảm xúc, chia nó ra thành các thành phần, buông bỏ những khía cạnh tiêu cực và buông bỏ kháng cự đối với những khía cạnh tích cực. Khi làm như thế, quan điểm của chúng ta về tương lai sẽ thay đổi. Chúng ta có thể tha thứ cho mình rằng, vào lúc bị choáng ngợp về mặt cảm xúc trước đó, chúng ta đơn giản là không biết cách xử lý. Có rất nhiều dư vị làm cho chúng ta bị tê liệt về mặt cảm xúc vào lúc đó. Nhưng, vì trong tiềm thức không có khái niệm thời gian, chúng ta có thể chọn bất cứ lúc nào trong hiện tại để chữa lành sự kiện trong quá khứ. Khi chúng ta trải qua quá trình chữa lành cảm xúc của chính mình vì lợi ích của bản thân mình, thì sự kiện trong quá khứ giờ đây bắt đầu có ý nghĩa khác. Đại Ngã Cao Hơn của chúng ta bắt đầu tạo ra một bối cảnh mới cho sự kiện này. Chúng ta có thể nhìn thấy món quà bị che dấu. Cuối cùng, chúng ta có thể thừa nhận với lòng biết ơn rằng nó đã cho chúng ta cơ hội mới để học hỏi, để phát triển và để có trí tuệ.

Một trong những lĩnh vực phổ biến nhất mà chúng ta thấy tổn thương về mặt cảm xúc là sau khi ly hôn. Thường thì nó kéo theo cảm giác cay đắng và suy giảm khả năng xây dựng quan hệ yêu thương mới. Việc không muốn buông bỏ đổ lỗi tiếp tục gây ra tổn thương về mặt cảm xúc, có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí suốt đời.

Khi đối mặt với cay đắng, cái chúng ta thực sự phát hiện ra là vùng tổn thương chưa được chữa lành trong cấu trúc cảm xúc của chính mình, và nỗ lực mà chúng ta bỏ ra để chữa lành nó sẽ mang lại những phần thưởng to lớn. Trong bất kỳ tình huống nào liên quan đến đau khổ, chúng ta đều phải tự hỏi: “Tôi sẵn sàng trả giá bao lâu? Những khuynh hướng nghiệp báo ban đầu là gì? Đổ lỗi bao nhiêu là đủ? Liệu cần chấm dứt nó vào lúc nào? Tôi sẽ bám vào nó trong bao lâu? Tôi sẵn sàng hy sinh bao nhiêu cho người khác vì những lỗi lầm của họ - dù có thật hay tưởng tượng? Mặc cảm tội lỗi đến mức nào là đủ? Tự trừng phạt đến mức nào là đủ? Khi nào tôi sẽ từ bỏ niềm vui thầm kín của việc tự trừng phạt? Khi nào bản án sẽ kết thúc?” Khi thực sự xem xét kỹ lưỡng, chúng ta sẽ luôn luôn nhận ra rằng vì vô mimh, ngây thơ, thiếu trong sáng và thiếu đào luyện ở bên trong mà mình đã tự trừng phạt chính mình.

Chúng ta có thể tự hỏi: “Tôi đã từng được đào tạo về các kỹ thuật tự chữa lành cảm xúc chưa? Khi đi học, họ có dạy tôi các khóa học về tâm thức hay không? Có ai từng nói với tôi rằng tôi có quyền tự do lựa chọn những thứ đi vào tâm trí mình không? Tôi có từng được dạy rằng tôi có thể từ chối tất cả những lập trình tiêu cực hay chưa? Có ai từng nói với tôi về các quy luật của tâm thức hay không?” Nếu không, tại sao tôi lại tự trách mình vì đã ngây thơ tin vào những thứ nào đó? Tại sao không dừng việc tự trách mình ngay trong lúc này?

Tất cả chúng ta đều làm những việc mà mình nghĩ là tốt nhất vào thời điểm đó. “Lúc đó dường như đấy là một ý tưởng hay” là điều chúng ta có thể nói về những hành động trong quá khứ của mình và của người khác. Tất cả chúng ta đều bị lập trình một cách vô thức mà không có sự đồng ý có ý thức của mình. Do nhầm lẫn, vô minh và ngây thơ, chúng ta đã chấp nhận những chương trình tiêu cực. Chúng ta để chúng điều khiển chính mình. Nhưng giờ đây chúng ta có thể quyết định dừng lại. Chúng ta có thể chọn hướng đi khác. Chúng ta có thể chọn trở nên có nhận thức hơn, có ý thức hơn, có trách nhiệm hơn và sáng suốt hơn. Chúng ta có thể từ chối ngồi đó như một chiếc máy ghi âm trống rỗng, tiếp nhận mọi chương trình mà thế giới đưa cho chúng ta. Thế giới luôn luôn sẵn sàng lợi dụng sự ngây thơ của chúng ta và chơi đùa với sự nhỏ bé của chúng ta, với tất cả sự phù phiếm và sợ hãi của nó.

Khi chúng ta nhận thức được cách mình bị thao túng, lợi dụng và lừa gạt, tức giận sẽ xuất hiện. Hãy sẵn sàng đối mặt với nó. Tức giận là bình thường. Thà tức giận còn hơn là thờ ơ. Trong cơn giận, chúng ta có rất nhiều năng lượng. Chúng ta có thể làm việc gì đó. Chúng ta có thể hành động. Chúng ta có thể thay đổi suy nghĩ. Chúng ta có thể đảo ngược hướng đi. Sau đó, thật dễ dàng để chuyển từ tức giận sang can đảm. Ở tầng can đảm, chúng ta có thể nhìn nhận, xem xét và quan sát cách mọi việc diễn ra.

Chúng ta bắt đầu thấy rằng sự nhỏ mọn của mình là món đồ mà chúng ta tự rước vào mình. Trong quá trình tìm hiểu, chúng ta sẽ tình cờ tìm thấy sự ngây thơ bên trong của chính mình. Khi khám phá lại được điều đó, chúng ta có thể buông bỏ rất nhiều mặc cảm tội lỗi. Khi mặc cảm tội lỗi biến mất, thì nhu cầu tự trừng phạt cũng biến mất theo, và nó giúp chúng ta thoát khỏi thờ ơ và trầm cảm. Chúng ta có thể lựa chọn khẳng định lại chính mình, giá trị của mình, và phẩm chất của mình. Và chúng ta có thể thấy những người khác cũng bị lập trình y như chúng ta. Họ cũng đang làm những việc mà họ nghĩ là tốt nhất vào thời điểm đó. Chúng ta không cần phải đổ lỗi cho họ hay cho chính mình nữa. Chúng ta có thể từ bỏ trò chơi đổ lỗi vì nó đã lỗi thời và không có hiệu quả. 

Chọn bạn mà chơi

Một kỹ thuật giá trị khác để thoát khỏi thờ ơ, trầm cảm và những tình huống bị chi phối bởi suy nghĩ: “Tôi không thể”, chính là chủ động tìm đến những người đã giải quyết được vấn đề mà ta đang phải chật vật đối phó. Đây là một trong những sức mạnh to lớn của các nhóm tự giúp nhau. Khi rơi vào trạng thái tiêu cực, chúng ta đã dành rất nhiều năng lượng cho những suy nghĩ tiêu cực, còn những suy nghĩ tích cực thì rất yếu. Những người có tần số rung động cao hơn không bị ảnh hưởng bởi năng lượng từ những suy nghĩ tiêu cực của họ và có những suy nghĩ tích cực tràn đầy năng lượng. Chỉ cần ở bên cạnh họ thôi cũng đã có lợi rồi. Trong một số nhóm tự giúp nhau, nó được gọi là “giao lưu với những người chiến thắng”. Lợi ích ở đây nằm ở tầng tâm linh của tâm thức, có sự chuyển giao năng lượng tích cực và thắp sáng lại những suy nghĩ tích cực tiềm ẩn của chính mình. Trong một số nhóm tự giúp nhau, nó được gọi là “tiếp thu nhờ thẩm thấu”. Không cần phải biết nó xảy ra như thế nào, chỉ cần biết rằng nó thực sự xảy ra.

Đây là hiện tượng khá phổ biến. Ví dụ, trong xã hội của chúng ta, hầu hết mọi người đều được huấn luyện để tư duy logic và thiên về bán cầu não trái. Tuy nhiên, một số người bẩm sinh đã thiên về bán cầu não phải. Những người thiên về bán cầu não phải thường có trực giác mạnh mẽ hơn, sáng tạo hơn, có khả năng giao tiếp theo lối thần giao cách cảm và nhận thức về các hình thức tư duy và rung động năng lượng. Trong đó, có khả năng nhìn thấy trường năng lượng sinh học xung quanh cơ thể con người, gọi là hào quang. Khi ở bên cạnh những người có những khả năng như thế, thì chia sẻ những khả năng đó là khả thi.

Hiện tượng này hoàn toàn đúng, ngay cả với một nhà khoa học nam giới đầy hoài nghi, tư duy theo lối logic và thiên về não trái, khi ở cùng những người có khả năng nhìn thấy hào quang. Khi làm theo hướng dẫn của họ về cách quan sát, thật ngạc nhiên là thực sự có một trường ánh sáng hiện hữu quanh đầu người ta. Đặc biệt, hào quang quanh một người đàn ông trông gần giống như một luồng ngoại chất (ectoplasm) treo lơ lửng chủ yếu ở phía tai trái. Tuy nhiên, ở phía bên phải đầu thì hầu như không thấy gì hết. Để xác định xem hiện tượng này là thực hay chỉ là trí tưởng tượng, tôi đã kiểm chứng bằng cách hỏi một người gần đó vốn rất tinh thông việc nhìn hào quang. Cô ấy cũng nhìn thấy một vầng hào quang rất rộng ở một bên và gần như không có ở bên kia.

Khả năng nhìn thấy hào quang chỉ xuất hiện khi ở bên cạnh những người cũng có khả năng đó. Sau khi đi ra khỏi nhóm có những người có thể nhìn thấy hào quang thì khả năng này cũng không còn. Trong những năm sau, khi ở cùng những người bạn có thể nhìn thấy hào quang, khả năng này đã quay trở lại. Một lần, khi ở bên cạnh một nhà tâm lý học nữ giới trong một phòng khám—công việc của bà này là chẩn đoán tâm linh bằng cách quan sát hào quang của mọi người và sự thay đổi màu sắc của chúng—đột nhiên, xuất hiện không chỉ khả năng nhìn thấy hào quang, mà còn nhìn thấy chúng với màu sắc rực rỡ và nhìn thấy hào quang thay đổi theo cảm xúc. Chỉ bằng cách trò chuyện với nhà tâm lý học, khả năng đó đột nhiên xuất hiện.

Cứ như thể khi chúng ta ở gần hào quang của những người có những khả năng nhất định, một số khả năng có thể được chuyển giao. Nói một cách đơn giản, chúng ta bị ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực bởi những người mà chúng ta kết giao. Rất khó vượt qua được ức chế nếu chúng ta chọn ở bên cạnh những người cũng có vấn đề tương tự.

Hiện tượng này thể hiện rõ trong trường hợp một người phụ nữ đã ly hôn đến xin tư vấn. Bà ta muốn biết liệu mình có nên trị liệu tâm lý hay không. Những triệu chứng của bà ta là loét dạ dày tái phát và đau nửa đầu. Khi bà kể câu chuyện này thì phát hiện được tâm trạng cay đắng sâu sắc về vụ ly hôn đầy bất hạnh và gây ra nhiều vết thương lòng. Bà ta nói rằng đã tham gia một nhóm nâng cao tâm thức. Bà ta mô tả nhóm này gần như toàn là những người phụ nữ đã ly hôn, cay đắng, giận dữ và căm thù đàn ông. Như một nhóm người, họ nhận được rất nhiều phần thưởng từ thái độ tiêu cực của mình. Trên thực tế, cuộc sống của họ thật buồn và đáng thương, khi họ phải vật lộn để lấy lại lòng tự trọng thông qua những hành động cực đoan và sự mất cân bằng cảm xúc.

Sau khi nghe câu chuyện của bà này và tìm hiểu hoàn cảnh sống, chúng tôi nói rằng thay vì trị liệu tâm lý, bà ấy nên làm theo một lời khuyên đơn giản trong vòng ba tháng. Nếu không có hiệu quả, bà ấy có thể xem xét lại nhu cầu trị liệu tâm lý. Lời khuyên đó chỉ đơn giản là thôi giao du với nhóm người này và với những người bạn đầy cay đắng, đã ly hôn của bà ấy, và thay vào đó, kết giao với những người đã thành công trong việc tái thiết lập các mối quan hệ dù trước đây họ đã ly hôn.

Lúc đầu, bà này phản đối và khẳng định rằng mình không có điểm chung nào với những thành viên trong nhóm. Sau đó, bà ta thừa nhận hai sự thật cơ bản. Thứ nhất, xây đắp quan hệ với những người tích cực sẽ giúp tiết kiệm được nhiều năng lượng. Thứ hai, một trong những quy luật của tâm thức là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”; cay đắng thu hút cay đắng, trong khi tình yêu thu hút tình yêu. Bà ấy tự hỏi: “Thái độ cay đắng của tôi đã đưa tôi đến đâu? Tôi đã nhận được điều gì tích cực và hữu ích từ thái độ đó hay chưa?” Sau một thời gian, bà ấy không còn dành thời gian cho nhóm của mình nữa và bắt đầu theo đuổi các mối quan hệ với những người lành mạnh và cân bằng hơn.

Khi ở bên cạnh những người vui vẻ hơn, bà ấy phấn khởi nhận ra rằng mình đang giữ trong lòng không biết bao nhiêu tiêu cực. Bà ta bắt đầu nhận thức được rằng mình đang cố ý giữ tiêu cực và quyết định giữ chúng, và bắt đầu nhìn vào cái giá phải trả cho những tiêu cực này. Toàn bộ cuộc sống xã hội của bà ấy đã thay đổi. Bà ấy vui vẻ và hạnh phúc hơn. Chứng đau nửa đầu cũng biến mất. Cuối cùng, bà ấy lại có người yêu và nói đùa rằng yêu đương là phương thuốc tốt nhất mà bà ấy đã tìm được để chữa bệnh loét dạ dày!

Nếu rơi vào trạng thái thờ ơ, chúng ta có thể khám phá được chương trình nằm bên dưới bằng cách tự hỏi mình đang tìm cách chứng minh cái gì. Có phải chúng ta đang cố gắng chứng minh rằng cuộc sống thật xấu xa? Đây là một thế giới vô vọng? Đó không phải lỗi của chúng ta? Không thể tìm được tình yêu? Hạnh phúc là bất khả thi? Chúng ta đang tìm cách biện minh cho cái gì? Chúng ta sẵn sàng trả giá bao nhiêu để được “là người đúng”? Khi chúng ta thừa nhận và buông bỏ những cảm thọ khi chúng vừa sinh khởi để trả lời những câu hỏi này, thì câu trả lời sẽ bắt đầu xuất hiện.

 

June 27, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (4)

                         ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 



 CHƯƠNG 3 

GIẢI PHẪU CẢM XÚC

 Có rất nhiều lý thuyết tâm lý phức tạp bàn về cảm xúc của con người. Các lý thuyết này thường liên quan đến nhiều biểu tượng và tham chiếu đến thần thoại, và dựa trên các giả thuyết mà người tranh luận rất sôi nổi. Kết quả là, có nhiều trường phái trị liệu tâm lý với những mục tiêu và phương pháp khác nhau. Đơn giản là một trong những dấu hiệu của sự thật, vì vậy chúng tôi sẽ mô tả một bản đồ cảm xúc đơn giản, khả thi, có thể kiểm chứng được, có thể được xác minh bằng trải nghiệm chủ quan, cũng như bằng kiểm tra khách quan. 

Mục tiêu sinh tồn

Nghiên cứu bất kỳ lý thuyết tâm lý nào đều cho thấy mục tiêu chính của con người, vượt lên trên tất cả những mục tiêu khác, là sinh tồn. Tất các các mong muốn của tất cả mọi người đều nhằm đảm bảo sự sống còn của bản thân mình và sự sống còn của các nhóm mà họ đồng nhất với, chẳng hạn như gia đình, người thân và đất nước. Trên hết, con người sợ không còn khả năng trải nghiệm. Vì vậy, mọi người đều quan tâm đến sự sống còn của cơ thể, vì tin rằng họ chính là cơ thể và do đó, họ cần cơ thể để trải nghiệm sự tồn tại của mình. Vì con người tự coi mình là những cá thể riêng biệt và có giới hạn, họ bị căng thẳng bởi cảm giác (sense) thiếu thốn. Việc con người tìm kiếm thỏa mãn nhu cầu bên ngoài mình là hiện tượng phổ biến. Dẫn đến việc họ thấy dễ bị tổn thương, vì họ không thấy đủ trong chính con người mình.

Do đó, tâm trí là một cơ chế sinh tồn, và phương pháp sinh tồn của nó chủ yếu là sử dụng cảm xúc. Suy nghĩ được sinh ra bởi cảm xúc, và cuối cùng, cảm xúc trở thành lối tắt thay thế cho suy nghĩ..

Hàng ngàn, thậm chí hàng triệu suy nghĩ có thể được thay thế bằng một cảm xúc duy nhất. Cảm xúc là cơ bản và nguyên thủy hơn các quá trình tư duy. Lý trí là công cụ mà tâm trí sử dụng để đạt được mục đích mang tính cảm xúc của nó. Khi được trí tuệ sử dụng, cảm xúc cơ bản tiềm ẩn thường là vô thức hoặc ít nhất là nằm ngoài nhận thức. Khi cảm xúc tiềm ẩn bị lãng quên hoặc bỏ qua và không được trải nghiệm, con người không nhận thức được lý do cho hành động của mình và họ đưa ra đủ kiểu lý do hợp lý. Trên thực tế, họ thường không biết tại sao họ lại làm những việc mà mình đang làm.

Có một cách đơn giản để ý thức được mục tiêu của cảm xúc nằm đằng sau bất kỳ hoạt động nào bằng câu hỏi: “Để làm gì?” Với mỗi câu trả lời, câu hỏi “Để làm gì?” được hỏi đi hỏi lại cho đến khi cảm xúc cơ bản được khám phá. Ví dụ như sau: Một người đàn ông muốn một chiếc Cadillac mới. Tâm trí anh ta đưa ra tất cả những lý do hợp lý nhưng logic thực sự không giải thích được điều đó. Vì vậy, anh ta tự hỏi: “Tôi muốn chiếc Cadillac để làm gì?” “À,” anh ta nói, “đó là để có địa vị, được công nhận, được tôn trọng và là công dân thành công.” Lại hỏi: “Tôi muốn địa vị để làm gì?” “Được tôn trọng và được người khác chấp thuận, và để đảm bảo thái độ tôn trọng đó.” Lại hỏi: “Tôi muốn được tôn trọng và chấp thuận để làm gì?” “Để có cảm giác an toàn.” Lại hỏi: “Tôi muốn an toàn để làm gì?” “Để cảm thấy hạnh phúc.” Hỏi liên tục: “Để làm gì?”, cho thấy về cơ bản có những cảm thọ bất an, bất hạnh và không được thỏa mãn. Mỗi hoạt động hoặc mong muốn sẽ cho thấy rằng mục tiêu cơ bản là đạt được một cảm thọ nhất định. Không có mục tiêu nào khác ngoài việc vượt qua sợ hãi và có hạnh phúc. Cảm xúc không gắn với những gì thực sự bảo đảm cho sự sống còn của chúng ta, mà gắn với những gì mà hệ thống niềm tin của chúng ta cho là như thế. Cảm xúc, tự nó, thực chất là nguyên nhân của sợ hãi cơ bản thúc đẩy mọi người tìm kiếm an toàn. 

Thang đo cảm xúc

Để đơn giản và rõ ràng, chúng ta sẽ sử dụng thang đo cảm xúc tương ứng với các tầng tâm thức. Trình bày đầy đủ về các tầng tâm thức, cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn của chúng được thể hiện trong tác phẩm Power vs. Force: The Hidden Determinants of Human Behavior (Hawkins, [1995], 2012).

Tóm lại, vạn vật đều phát phóng năng lượng, tích cực hoặc tiêu cực. Bằng trực giác, chúng ta biết sự khác biệt giữa một người tích cực (thân thiện, chân thành, chu đáo) và một người tiêu cực (tham lam, dối trá, hận thù). Năng lượng của Mẹ Teresa rõ ràng khác với năng lượng của Adolf Hitler; năng lượng của hầu hết mọi người đều nằm ở đâu đó giữa hai người này. Âm nhạc, địa điểm, sách, động vật, ý định và tất cả sự sống đều phát ra năng lượng có thể được “hiệu chỉnh” về bản chất và mức độ chân thực của nó.

“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.” Các năng lượng khác nhau tập hợp lại thành “mô thức hút” hoặc “tầng tâm thức.” Bản đồ Tâm thức (Phụ lục A) cung cấp quan điểm tuyến tính, theo thang logarit của địa hình năng lượng phi tuyến tính này. Mỗi tầng tâm thức (hoặc mô thức hút) được hiệu chỉnh trên thang đo năng lượng tính theo hàm logarit, từ 1 đến 1000. Tầng Chứng ngộ hoàn toàn (1.000), nằm trên đỉnh Bản đồ, đại diện cho tầng cao nhất có thể đạt được trong cõi nhân gian; đó là năng lượng của Chúa Jesus Christ, Đức Phật và Krishna. Tầng Nhục nhã (20) nằm ở dưới cùng, gần với cái chết, đại diện cho sự sống còn tối thiểu.

Tầng Can đảm (200) là điểm tới hạn đánh dấu sự chuyển đổi từ năng lượng tiêu cực sang năng lượng tích cực. Đó là năng lượng của chính trực, trung thực, trao quyền và khả năng đối phó. Các tầng tâm thức dưới tầng Can đảm mang tính phá hoại, trong khi các tầng trên tầng Can đảm hỗ trợ sự sống. Bài kiểm tra cơ bắp đơn giản cho thấy sự khác biệt: một kích thích tiêu cực (dưới 200) ngay lập tức làm cho cơ bắp yếu đi, còn kích thích tích cực (trên 200) ngay lập tức làm cho cơ bắp mạnh lên. “Sức mạnh đích thực” (Power) thực sự làm cho mạnh lên; trong khi “Bạo lực/Cưỡng bức” (Force[i]) làm cho yếu đi. Nếu chúng ta nằm bên trên tầng Can đảm, mọi người sẽ tìm đến với chúng ta vì chúng ta truyền năng lượng cho họ và chúng ta có thiện chí với họ. Nếu chúng ta nằm dưới tầng Can đảm, mọi người sẽ tránh xa chúng ta vì chúng ta lấy năng lượng từ họ và chúng ta muốn sử dụng họ cho nhu cầu vật chất hoặc tình cảm của mình.

Ở đây, chúng ta phác thảo thang đo cơ bản, bắt đầu từ các tầng năng lượng cao hơn xuống đến các tầng thấp hơn:

An bình (600): Được trải nghiệm như hoàn hảo, phúc lạc, phi nỗ lực và một thể. Đó là trạng thái bất nhị vượt ra ngoài tách biệt và vượt ra ngoài trí tuệ, như trong “sự an bình vượt quá mọi sự hiểu biết”. Được mô tả là Chứng ngộ và khai sáng. Là trạng thái rất hiếm hoi trong cõi nhân gian.

Niềm vui (540): Yêu thương vô điều kiện và bất biến, không phụ thuộc vào hoàn cảnh và hành động của tha nhân. Thế giới được soi sáng bởi vẻ đẹp tuyệt vời, được nhìn thấy trong mọi sự, mọi vật. Sự hoàn hảo của tạo hóa là hiển nhiên. Ở đó hiện hữu sự gần gũi với tính nhất thể (unity[ii]) và khám phá ra Đại Ngã (Self); từ bi với muôn loài; đại nhẫn; cảm giác hòa làm một với người khác và quan tâm tới hạnh phúc của họ. Cảm giác tự viên mãn và tự tại bao trùm tất cả.

Tình yêu (500): Tha thứ, nuôi dưỡng và hỗ trợ trở thành phong cách sống. Nó không xuất phát từ tâm trí; mà đúng hơn, nó tỏa ra từ trái tim. Tình yêu tập trung vào bản chất của một tình huống, chứ không phải các chi tiết. Nó xử lý toàn thể, chứ không phải chi tiết. Khi tri giác được thay thế bằng cái thấy chân thật (vision[iii]), nó không có quan điểm nào và nhìn thấy giá trị nội tại và sự đáng yêu của tất cả những gì đang tồn tại.

Lý trí (400): Phân biệt con người với thế giới động vật. Có khả năng nhìn nhận mọi thứ theo lối trừu tượng, khái niệm hóa, khách quan và đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác. Công dụng to lớn của nó là giải quyết vấn đề. Khoa học, triết học, y học và logic là những biểu hiện của tầng này.

Chấp nhận (350): Năng lượng này là dễ chịu, thoải mái, hài hòa, linh hoạt, bao dung và không có kháng cự nội tâm. “Cuộc sống thật tốt đẹp. Bạn và tôi đều tốt đẹp. Tôi cảm thấy được kết nối.” Nó đón nhận cuộc sống theo đúng bản chất của nó. Không cần phải đổ lỗi cho người khác hay đổ lỗi cho cuộc đời.

Sẵn sàng (310): Năng lượng này phục vụ cho sinh tồn, đấy là do thái độ tích cực, chào đón mọi biểu hiện của cuộc đời. Thân thiện, hữu ích, muốn giúp đỡ và tìm cách phụng sự.

Trung dung (250): Đây là lối sống thoải mái, thực tế và tương đối không bị chi phối bởi cảm xúc. “Thế nào cũng được.” Không có những quan điểm cứng nhắc, không phán xét và không cạnh tranh.

Can đảm (200): Tầng năng lượng này nói: “Tôi có thể làm được.” Nó có quyết tâm, hào hứng với cuộc đời, có năng suất, độc lập và tự chủ. Hành động hiệu quả là khả thi.

Kiêu hãnh (175): Tầng năng lượng này nói: “Cách của tôi là tốt nhất.” Trọng tâm của nó là thành tích, khao khát được công nhận, muốn trở thành đặc biệt và lúc nào cũng hoàn hảo. Cảm thấy “tốt hơn…” và vượt trội hơn người khác.

Tức giận (150): Tầng năng lượng này vượt qua nguồn gốc của sợ hãi bằng bạo lực, đe dọa và tấn công. Dễ cáu kỉnh, bùng nổ, cay đắng, dễ thay đổi và oán hận. Thích “trả đũa,” kiểu như: “Tao sẽ cho mày biết tay.”

Ham muốn (125): Luôn tìm kiếm lợi ích, sở hữu, khoái lạc và “có được” cái gì đó bên ngoài mình. Không bao giờ thỏa mãn, không bao giờ hài lòng và luôn luôn thèm khát. “Tôi phải có cái đó.” “Cho tôi những gì tôi muốn, và cho tôi ngay bây giờ!”

Sợ hãi (100): Tầng năng lượng này nhìn thấy “nguy hiểm,” nguy hiểm hiện diện “khắp nơi.” Né tránh, phòng thủ, lo lắng về sự an toàn, muốn sở hữu người khác, ghen tị, bồn chồn, lo âu và cảnh giác.

U sầu (75): Bất lực, tuyệt vọng, mất mát, hối tiếc và cảm xúc: “Giá như tôi đã…” Chia ly. Trầm cảm. Buồn bã. Cảm giác là một “người thất bại.” Đau khổ, như thể: “Tôi không thể tiếp sống được nữa.”

Thờ ơ (50): Tầng năng lượng này có đặc điểm là tuyệt vọng, muốn chết, trở thành “gánh nặng” đối với những người khác, bị tê liệt và cảm giác: “Tôi không thể” và “Ai thèm quan tâm chứ?” Nghèo đói là hiện tượng phổ biến.

Mặc cảm tội lỗi (30): Người trong trường năng lượng này muốn trừng phạt và muốn bị trừng phạt. Dẫn đến tự chối bỏ, khổ dâm, hối hận, “cảm giác tồi tệ” và tự phá hoại chính mình. “Tất cả là lỗi của tôi.” Dễ gặp tai nạn, có hành vi tự sát và phóng chiếu thái độ căm ghét chính mình lên những người “độc ác” khác là hiện tượng phổ biến. Nó là nền tảng của nhiều loại bệnh tâm thần.

Nhục nhã (20): Có đặc điểm là cảm thấy nhục nhã, như “cúi đầu vì nhục nhã”. Theo truyền thống nó song hành với bị trục xuất khỏi xã hội. Có tính phá hoại đối với sức khỏe và kết quả là tàn nhẫn đối với mình và người khác.

Nhìn chung, có thể nói rằng phần bên dưới của thang đo gắn liền với tần số rung động thấp hơn: năng lượng thấp hơn, sức mạnh thấp hơn, hoàn cảnh sống nghèo nàn hơn, các mối quan hệ cũng nghèo nàn hơn, ít của cải hơn, ít tình yêu hơn, sức khỏe thể chất và tinh thần kém hơn. Vì năng lượng thấp, những người thiếu thốn như vậy rút năng lượng của chúng ta ở tất cả các tầng. Họ thường bị người đời xa lánh và thấy mình đứng cùng với những người cùng tầng với mình (ví dụ như trong nhà tù).

Khi buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, chúng ta sẽ tiến dần lên trên thang đo tới tầng Can đảm, rồi sau đó, tiến xa hơn nữa: hiệu quả, thành công ngày càng tăng và của cải sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta có xu hướng tìm kiếm những người như thế. Chúng ta nói rằng họ “cao thượng”. Họ tỏa ra năng lượng sống tới tất cả các sinh vật ở xung quanh. Động vật thích tới gần họ. Họ có đôi bàn tay khéo léo và tạo được ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống của tất cả những người mà họ tiếp xúc. Ở tầng Can đảm, những cảm thọ tiêu cực chưa hoàn toàn biến mất, nhưng giờ đây chúng ta có đủ năng lượng để xử lý những cảm thọ này, vì chúng ta đã lấy lại được sức mạnh và quyền tự chủ của mình. Cách nhanh nhất để đi từ dưới lên trên là nói sự thật với chính mình và với người khác.

Người ta cũng thường liên kết tầng năng lượng với các trung tâm năng lượng của cơ thể, đôi khi được gọi là “luân xa”. Người ta nói rằng các luân xa là những trung tâm năng lượng, mà “năng lượng kundalini” chảy qua - khi nó được đánh thức ở tầng Can đảm (200). Có thể sử dụng nhiều kỹ thuật lâm sàng và dụng cụ điện tử nhạy cảm để đo các trung tâm năng lượng (luân xa). Trên Bản đồ Tâm thức, các luân xa được hiệu chỉnh như sau: Luân xa Vương miện (600), Luân xa Con mắt thứ ba (525), Luân xa Tim (505), Luân xa Cổ họng (350), Luân xa Rối dương (275), Luân xa Xương chậu hay Lá lách (275), Luân xa Gốc hoặc Luân xa Rễ (200). Khi chúng ta từ bỏ những cảm thọ tiêu cực, năng lượng trong các luân xa cao hơn của chúng ta sẽ tăng lên. Chẳng hạn, thay vì thói quen “trút giận” (luân xa 2), giờ đây chúng ta được mô tả là những người “trọn vẹn yêu thương” (luân xa 5)."

Hệ thống năng lượng này tác động trực tiếp đến cơ thể vật lý. Năng lượng trong mỗi luân xa chảy ra qua các kênh gọi là “kinh mạch” tới toàn bộ cơ thể năng lượng, giống như một bản thiết kế cho cơ thể vật lý. Mỗi kinh mạch liên kết với một cơ quan cụ thể, và mỗi cơ quan lại liên kết với một cảm xúc cụ thể. Cảm xúc tiêu cực làm mất cân bằng năng lượng của kinh mạch và cơ quan liên quan. Ví dụ, trầm cảm, tuyệt vọng và u sầu liên kết với kinh mạch gan, vì vậy những cảm xúc này có xu hướng ảnh hưởng đến chức năng gan. Mỗi cảm thọ tiêu cực làm suy yếu một cơ quan trong cơ thể và cùng với thời gian, cơ quan đó sẽ bị bệnh và cuối cùng không hoạt động được nữa.

Trạng thái cảm xúc càng thấp, chúng ta càng tạo ra ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đến đời sống của chính mình mà còn đến toàn bộ cuộc sống xung quanh. Tầng tiến hóa cảm xúc càng cao, đời sống của chúng ta càng trở nên tích cực hơn trên mọi bình diện, và chúng ta càng hỗ trợ tất cả sự sống xung quanh mình. Khi những cảm xúc tiêu cực được thừa nhận và buông bỏ, chúng ta được tự do hơn và tiến lên trên thang đo, cuối cùng, trải nghiệm những cảm thọ tích cực sẽ chiếm ưu thế.

Tất cả những cảm xúc tiêu cực đều là những hạn chế và che mờ thực tại về Đại Ngã đích thực của chúng ta. Khi chúng ta buông bỏ để tiến lên các tầng cao hơn và tiến gần đến đỉnh thang đo, sẽ xảy ra một loại trải nghiệm mới. Ở đỉnh cao nhất của thang đo, sẽ có nhận thức về Đại Ngã đích thực của mỗi người và các tầng Chứng ngộ khác nhau. Quan trọng nhất cần lưu ý là, càng tiến lên cao hơn và tự do hơn, thì sẽ diễn ra cái mà thế giới gọi là nhận thức tâm linh, trực giác và sự phát triển của tâm thức. Đây là trải nghiệm chung của tất cả những người đã buông bỏ những cảm thọ tiêu cực của mình. Họ trở nên ngày càng có ý thức hơn. Những thứ không thể nhìn thấy hoặc trải nghiệm ở các tầng tâm thức thấp hơn, thì ở các tầng cao hơn lại trở thành hiển nhiên và rõ ràng đến mức làm người ta phải kinh ngạc. 

Hiểu về cảm xúc

Khoa học phát hiện được rằng, tất cả các suy nghĩ đều được lưu trữ trong ngân hàng bộ nhớ của tâm trí theo một hệ thống lưu trữ dựa trên cảm thọ liên quan và các sắc thái tinh tế hơn của nó (Gray–LaViolette, 1982). Suy nghĩ được lưu trữ theo sắc thái của cảm thọ, chứ không theo sự kiện. Do đó, có cơ sở khoa học cho nhận xét rằng bằng cách quan sát cảm thọ thay vì quan sát suy nghĩ làm cho quá trình tự nhận thức gia tăng nhanh hơn hẳn. Có thể có hàng ngàn suy nghĩ liên quan đến một cảm thọ. Do đó, tìm hiểu cảm xúc tiềm ẩn và xử lý nó một cách đúng đắn mang lại nhiều lợi ích hơn và ít tốn thời gian hơn so với việc đối phó với suy nghĩ của mình.

Lúc đầu, nếu bạn chưa quen với toàn bộ chủ đề về cảm thọ, thì nên bắt đầu bằng cách chỉ quan sát mà không định làm bất cứ điều gì. Bằng quan sát, quan hệ giữa cảm thọ và suy nghĩ sẽ dần trở nên sáng tỏ. Sau khi đã thuần thục hơn, chúng ta có thể bắt đầu thực hiện một vài trải nghiệm thực tế. Ví dụ, có thể gạt sang một bên một số lĩnh vực suy nghĩ có xu hướng lặp đi lặp lại và xác định cảm thọ liên quan đến những suy nghĩ này. Sau đó, có thể xử lý cảm thọ bằng cách, trước hết, chấp nhận sự hiện diện của nó, mà không chống lại hay lên án. Và sau đó, bạn bắt đầu giải phóng năng lượng của cảm thọ một cách trực tiếp: để nó được là chính nó cho đến khi cạn kiệt. Một lúc sau, có thể xem xét lại những suy nghĩ trước đó, và bạn nhận thấy bản chất của chúng đã thay đổi. Nếu cảm thọ được buông bỏ hoàn toàn, thông thường tất cả những suy nghĩ liên quan đến nó sẽ biến mất hoàn toàn và được thay thế bằng suy nghĩ mang tính tổng kết, và vấn đề được giải quyết một cách nhanh chóng.

Ví dụ, có người đàn ông mất hộ chiếu ngay trước khi đi nước ngoài. Ngày khởi hành càng tới gần, thì anh ta càng hoảng loạn hơn. Tâm trí anh ta quay cuồng, cố gắng nghĩ xem hộ chiếu có thể bị thất lạc ở đâu. Anh ta tìm kiếm khắp nơi. Anh ta thử nhiều cách nghĩ khác nhau nhưng không có tác dụng. Anh ta tự trách mình: “Sao mình lại ngu ngốc đến mức làm mất hộ chiếu? Giờ không còn thời gian để làm lại nữa!” Khi ngày định mệnh đến gần, anh ta đối mặt với một tình thế khó xử thực sự: không có hộ chiếu, thì không đi được. Bỏ lỡ chuyến đi sẽ gây ra nhiều hậu quả tiêu cực vì đó vừa là công việc vừa là du lịch, và nó sẽ gây ra một tình huống khó khăn. Cuối cùng, anh ta nhớ là phải thực hiện kỹ thuật buông bỏ.

Anh ngồi xuống và tự hỏi: “Cảm thọ cơ bản mà mình đã lờ đi trong thời gian qua là gì?” Thật ngạc nhiên, cảm thọ cơ bản xuất hiện chính là u sầu. U sầu gắn liền với việc không muốn xa người mà mình yêu thương sâu sắc. Còn cả sợ mất quan hệ, hoặc ít nhất là “cách mặt xa lòng”. Khi buông bỏ u sầu và sợ hãi đi kèm với nó, anh ta bỗng cảm thấy bình yên. Anh còn rút ra kết luận rằng, nếu quan hệ này không thể vượt qua được hai tuần xa cách, thì nó cũng chẳng đáng giá; vì vậy, thực sự chẳng có gì phải lo lắng hết. Ngay khi cảm thấy bình yên, anh lập tức nhớ ra hộ chiếu nằm ở đâu. Thực tế là, nó ở một chỗ đơn giản và dễ thấy đến nỗi chỉ có ngăn chặn vô thức mới giải thích được vì sao anh ta lại không nhớ ra. Không cần phải nói rằng, tất cả hàng ngàn suy nghĩ về hộ chiếu bị mất, chuyến đi thất bại và những hậu quả tiềm tàng đều biến mất ngay lập tức. Trạng thái cảm xúc của anh trở thành biết ơn và hạnh phúc thay vì thất vọng.

Buông bỏ có thể rất hữu ích trong các tình huống trong đời sống hàng ngày, nhưng việc sử dụng nó trong các cuộc khủng hoảng trong cuộc đời có thể rất quan trọng trong việc ngăn chặn và giảm bớt nhiều đau khổ. Trong tình huống khủng hoảng trong cuộc đời, thường có quá tải về cảm xúc. Khủng hoảng đã chạm đến một trong những lĩnh vực cảm thọ bị kìm nén hoặc ức chế chính của chúng ta. Trong tình huống này, vấn đề không phải là xác định cảm xúc mà là làm thế nào để xử lý sự quá tải đó. 

Xử lý khủng hoảng cảm xúc

Vì đây là vấn đề rất khó khăn đối với hầu hết mọi người, nên cần nói rõ một số chi tiết. Có một số kỹ thuật giúp vượt qua khủng hoảng cảm xúc nhanh hơn và có kết quả tốt hơn so với việc để nó tự diễn ra. Xin nhớ lại các cơ chế thông thường mà tâm trí sử dụng một cách có ý thức để xử lý cảm xúc, đó là kìm nén (hoặc ức chế), thể hiện và trốn tránh. Những cơ chế này chỉ có hại khi được sử dụng mà không ý thức được. Trong trường hợp quá tải, người ta thường khuyến khích sử dụng những cơ chế này, nhưng phải làm một cách có ý thức. Mục đích của thao tác này là giảm bớt số lượng cảm xúc quá lớn để nó có thể được phân tách và buông bỏ từng chút một (xin xem mô tả bên dưới). Do đó, trong trường hợp này, chủ động đẩy lùi càng nhiều cảm xúc là hoàn toàn ổn. Cường độ cảm xúc có thể được giảm bớt bằng cách chia sẻ cảm xúc với bạn bè thân thiết hoặc người hướng dẫn. Chỉ cần thể hiện cảm thọ, thì một phần năng lượng đằng sau nó sẽ giảm đi. Trong hoàn cảnh này, việc chủ động sử dụng các cơ chế trốn tránh cũng được chấp nhận, chẳng hạn như tham gia các hoạt động xã hội để tạm thời tránh xa nỗi buồn, chơi với chó, xem tivi, đi xem phim, nghe nhạc, làm tình, hoặc bất cứ thói quen nào mà bạn có trong hoàn cảnh đó. Khi cảm thọ đã giảm bớt về cả số lượng và cường độ, tốt nhất là nên bắt đầu buông bỏ những khía cạnh nhỏ của tình huống hơn là toàn bộ tình huống và cảm xúc đi kèm với nó.

Để minh họa điểm này, xin lấy ví dụ về người đàn ông mất việc sau nhiều năm làm việc tại một công ty, và hiện đang chìm trong tuyệt vọng. Bằng cách sử dụng ba cơ chế đã được mô tả bên trên, một số cảm xúc có thể giảm. Điều anh này có thể xem xét sau đó là một số chi tiết nhỏ về công việc. Ví dụ, liệu anh ta có thể buông bỏ mong muốn ăn trưa ở nơi anh ta vẫn thường ăn trưa với các đồng nghiệp hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ mong muốn đỗ xe ở chỗ đỗ xe mà anh ta vẫn thường dùng trước đây hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ mong muốn được đi chính cái thang máy đó hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ sự gắn bó với cái bàn làm việc của mình hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ sự gắn bó với cô thư ký và thái độ thân thiện mà cô ấy dành cho anh ta hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ sự gắn bó với cái máy tính của mình hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ việc gặp ông chủ đó mỗi ngày hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ cảm thọ quen thuộc với những tiếng ồn xung quanh trong văn phòng hay không?

Mục đích của việc buông bỏ những khía cạnh nhỏ nhặt khi mất việc, dường như là tầm thường, là để đưa tâm trí vào trạng thái buông bỏ. Trạng thái buông bỏ đưa chúng ta lên đến tầng Can đảm; tức là những cảm thọ tiêu cực đã được thừa nhận và xử lý; do đó, chúng đã mất sức mạnh của mình. Đột nhiên, chúng ta nhận thức được rằng mình có đủ can đảm để đối mặt với tình huống, nhận ra cảm thọ của mình và làm việc gì đó liên quan tới chúng. Khi những điều nhỏ nhặt được buông bỏ, thì kỳ lạ là, sự kiện chính trở thành ít áp lực hơn. Lý do của hiện tượng này là, khi chúng ta sử dụng cơ chế buông bỏ một cảm xúc, chúng ta đồng thời buông bỏ tất cả các cảm xúc khác. Dường như tất cả các cảm xúc đều có cùng một năng lượng nằm bên dưới, vì vậy việc buông bỏ theo một hướng cũng đồng nghĩa với việc buông bỏ những cảm thọ mà thoạt nhìn có vẻ ngược lại. Đây là dựa trên kinh nghiệm lâm sàng; cần phải tự mình trải nghiệm thì mới có thể tin được.

Sau khi sử dụng bốn phương pháp nói trên (kìm nén, thể hiện, trốn tránh, buông bỏ những khía cạnh nhỏ hơn), phương pháp thứ năm lúc này càng trở nên rõ ràng hơn. Mỗi cảm xúc mạnh mẽ thực chất là sự kết hợp của một số cảm xúc phụ và toàn bộ phức hợp cảm xúc có thể được giải thể. Ví dụ, người đàn ông mất việc ban đầu có cảm thọ tuyệt vọng tột độ; nhưng khi anh ta bắt đầu buông bỏ những khía cạnh xung quanh, và khi anh ta giảm bớt tình trạng choáng ngợp bằng cách sử dụng một cách có ý thức các phương pháp trốn tránh, kìm nén và thể hiện, anh ta nhận ra rằng cũng có cả tức giận nữa. Anh ta thấy rằng tức giận gắn với kiêu hãnh. Có rất nhiều tức giận dưới dạng oán hận. Có tự phủ nhận, đó là một hình thức tức giận hướng vào chính mình. Cũng có sợ hãi. Do đó, những cảm xúc liên quan này giờ đây có thể được xử lý một cách trực tiếp. Ví dụ, anh ta có thể bắt đầu buông bỏ sợ hãi: mình sẽ không tìm được việc làm khác. Khi sợ hãi đó được thừa nhận và buông bỏ, tất cả những khả năng thay thế sẽ đột nhiên trở nên rõ ràng với anh ta. Và khi buông bỏ kiêu hãnh, anh ta sẽ nhanh chóng nhận ra rằng mình không phải đối mặt với thảm họa kinh tế như đã từng nghĩ. Như vậy, khi phức hợp cảm xúc bị phân rã thành các thành phần, mỗi thành phần giờ đây có ít năng lượng hơn và có thể được buông bỏ từng cái một.

Khi thoát khỏi cảm giác choáng ngợp, ta sẽ nhớ rằng một phần cảm xúc nào đó đã bị cố tình kìm nén hoặc trốn tránh. Giờ đây, có thể xem xét lại, để nó không gây ra tác hại dai dẳng, chẳng hạn như dẫn đến thái độ cay đắng, mặc cảm tội lỗi vô thức hoặc làm giảm thái độ tự trọng. Các mảnh vỡ của phức hợp cảm xúc có thể lặp lại trong một khoảng thời gian nào đó, thậm chí trong nhiều năm; tuy nhiên, vì giờ đây chúng chỉ là những mảnh nhỏ, có thể xử lý từng mảnh khi nó xuất hiện. Ít nhất, có thể vượt qua tình huống khủng hoảng một cách an toàn và có ý thức.

Xử lý khủng hoảng từ tầng cảm xúc chứ không phải từ tầng trí tuệ sẽ rút ngắn đáng kể thời gian xảy ra khủng hoảng. Trong trường hợp mất việc làm, xử lý vấn đề ở tầng trí tuệ sẽ tạo ra hàng ngàn suy nghĩ và kịch bản giả định. Người đó sẽ có nhiều đêm mất ngủ vì những suy nghĩ miên man về tình huống này, đấy là khi tâm trí cứ lặp đi lặp lại quá trình xem xét nó. Tất cả những việc làm này đều là vô ích. Chừng nào cảm xúc tiềm ẩn chưa được buông bỏ, thì các suy nghĩ sẽ còn được tạo ra không ngừng nghỉ. Chúng ta đều biết những người đã trải qua khủng hoảng cảm xúc nhiều năm trước và đến nay vẫn chưa hồi phục. Nó đã ảnh hưởng lên toàn bộ cuộc sống của họ, và họ đã phải trả giá đắt vì thiếu kỹ năng xử lý những cảm xúc tiềm ẩn.

Xử lý thành công một cuộc khủng hoảng trong cuộc đời mang lại nhiều lợi ích. Thứ nhất, lượng cảm xúc bị kìm nén giờ đây đã giảm đi rất nhiều. Cuộc khủng hoảng đã buộc nó phải được giải tỏa và do đó, lượng cảm xúc còn lại trong tiềm thức đã giảm đi đáng kể. Cảm giác tự trọng và tự tin gia tăng vì nhận thức được rằng mình có thể vượt qua và xử lý bất cứ điều gì mà cuộc sống mang tới. Nhìn chung, sợ hãi đời sống giảm đi, cảm giác làm chủ cuộc đời trở thành mạnh mẽ hơn, từ bi hơn trước đau khổ của người khác, và khả năng giúp đỡ họ vượt qua những hoàn cảnh tương tự cũng tăng lên. Nghịch lý là, sau khủng hoảng, thường có một giai đoạn bình yên và tĩnh lặng kéo dài rất lâu, đôi khi gần đạt đến tầng trải nghiệm thần bí. “Đêm tối của linh hồn” thường đi trước những trạng thái nhận thức cao.

Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất về nghịch lý là những người đã trải nghiệm cận tử. Hiện nay có rất nhiều sách viết về chủ đề này, cho thấy một điểm chung nhất định. Một khi sợ hãi tồi tệ nhất có thể xảy ra— đối mặt với kinh hoàng và cú sốc của cái chết— thì nó được thay thế bằng cảm giác thanh thản, bình yên, một thể và miễn nhiễm sâu sắc trước sợ hãi. Nhiều người như thế đã phát triển những khả năng phi thường, trở thành người chữa lành, phát triển nhận thức tâm linh và có các trạng thái giác ngộ tâm linh cao cấp. Họ trải nghiệm những bước nhảy vọt to lớn trong sự trưởng thành và đột ngột xuất hiện những tài năng và khả năng mới. Do đó, mỗi cuộc khủng hoảng trong cuộc đời đều mang trong mình mầm mống của sự đảo ngược, đổi mới, mở rộng, một bước nhảy vọt trong tâm thức, và buông bỏ cái cũ để khai sinh ra cái mới. 

Chữa lành quá khứ

Nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta sẽ thấy những tàn dư của các cuộc khủng hoảng trong quá khứ vẫn chưa được giải quyết. Những suy nghĩ và cảm thọ về các sự kiện thường xuất hiện và tô màu tri giác của chúng ta, và chúng ta sẽ nhận thấy rằng chúng đã làm cho chúng ta trở thành bất lực trong một số lĩnh vực của đời sống. Lúc đó, khôn ngoan nhất là tự hỏi xem có đáng tiếp tục trả giá hay không. Lúc này, khi chúng ta đã có một số cơ chế để xử lý những cảm thọ còn sót lại, chúng có thể bộc lộ. Những cảm thọ còn sót lại có thể được xem xét và buông bỏ để có thể chữa lành. Nó đưa chúng ta đến một kỹ thuật chữa lành cảm xúc đầy sức mạnh khi sự kiện lớn đã đi qua. Đó là đưa sự kiện vào một bối cảnh khác, nhìn nhận nó từ góc độ khác, và giữ nó trong hệ hình (paragdism[iv]) khác với ý nghĩa và tầm quan trọng khác trước.

Có người nói rằng hầu hết mọi người lúc nào cũng hối tiếc quá khứ và sợ hãi tương lai; do đó, họ không thể trải nghiệm niềm vui trong hiện tại. Nhiều người trong chúng ta cho rằng đây là số phận của con người, là định mệnh của chúng ta, và điều tốt nhất chúng ta có thể làm là “cười gượng và chịu đựng”. Đôi khi các nhà triết học đã lợi dụng triệt để cách tiếp cận tiêu cực, bi quan này và xây dựng nên toàn bộ hệ thống của chủ nghĩa hư vô. Những nhà triết học này - một số người đã trở thành nổi tiếng qua nhiều năm - rõ ràng chỉ là nạn nhân của những cảm xúc đau đớn mà họ không xử lý được và những cảm xúc này kích hoạt quá trình trí tuệ hóa và trau chuốt không ngừng nghỉ. Nhiều người dành cả cuộc đời để xây dựng những hệ thống tri thức tinh vi chỉ để biện minh cho một điều vốn dĩ quá hiển nhiên: đó là một cảm xúc bị kìm nén.

Một trong những công cụ hiệu quả nhất để xử lý quá khứ là tạo ra bối cảnh khác. Có nghĩa là chúng ta gán cho nó một ý nghĩa khác. Chúng ta có thái độ khác về khó khăn hoặc tổn thương trong quá khứ, và chúng ta thừa nhận món quà tiềm ẩn trong đó. Viktor Frankl chuyên gia tâm thần học là người đầu tiên nhận ra giá trị của kỹ thuật này. Ông giải thích cách tiếp cận này—gọi là “Liệu pháp ý nghĩa”—trong cuốn sách nổi tiếng Man’s Search for

Meaning (Đi tìm lẽ sống). Trải nghiệm cả trong lĩnh vực lâm sàng và lĩnh vực cá nhân của ông đã chứng minh rằng các sự kiện mang tính cảm xúc và những biến cố đau thương sẽ thay đổi đáng kể và được chữa lành nếu ta gán cho chúng ý nghĩa mới. Frankl kể về trải nghiệm của chính mình trong các trại tập trung của Đức Quốc xã - ông nhận ra rằng đau khổ về thể xác và tinh thần là cơ hội để giành chiến thắng nội tâm. Con người có thể bị tước đoạt mọi thứ, trừ một điều: quyền tự do cuối cùng trong những quyền tự do của nhân loại – đó là quyền lựa chọn thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào, quyền lựa chọn con đường của riêng mình. (Frankl, [1959] 2006). Frankl đã tái định hình bối cảnh của những hoàn cảnh kinh hoàng để tạo ra ý nghĩa sâu sắc đối với linh hồn của con người.

Mỗi trải nghiệm trong cuộc đời, dù “bi thảm” đến đâu, đều chứa đựng một bài học được che giấu. Khi chúng ta khám phá và thừa nhận món quà được che dấu đó, chữa lành sẽ diễn ra. Trong ví dụ về người đàn ông mất việc làm, sau một thời gian, anh ta nhìn lại và thấy rằng công việc cũ đã kìm hãm quá trình phát triển của mình, anh ta đã bị mắc kẹt trong lối mòn. Thẳng thắn mà nói, công việc cũ đã làm anh ấy bị loét dạ dày. Trước khi mất việc, anh ta chỉ thấy những niềm vui trong công việc đó. Sau khi thoát khỏi tình huống đó, anh ta bắt đầu nhận ra cái giá mà mình phải trả—về thể chất, tinh thần và cảm xúc. Sau khi mất việc, anh ta sẵn sàng khám phá những khả năng và tài năng mới; trên thực tế, anh ta đã bắt đầu một sự nghiệp mới, đầy hứa hẹn.

Vì vậy, các sự kiện trong cuộc đời là cơ hội để trưởng thành, mở rộng, trải nghiệm và phát triển. Trong một số trường hợp, nhìn lại thì dường như thực sự là có mục đích vô thức đằng sau sự kiện đó, như thể vô thức của chúng ta biết rằng, có một điều gì đó quan trọng cần phải học, và, dù đau đớn đến đâu, đó là cách duy nhất để trải nghiệm điều đó. Đây là một phần trong tâm lý học của nhà phân tâm học Carl Jung - sau cả đời nghiên cứu, ông rút ra kết luận rằng có một động lực bẩm sinh trong vô thức hướng tới sự toàn vẹn, trọn vẹn và nhận thức về Đại Ngã, và vô thức sẽ nghĩ ra các biện pháp để vươn tới trạng thái này, ngay cả khi chúng làm cho tâm trí hữu thức bị tổn thương.

Jung còn nói rằng trong vô thức có một khía cạnh của chính chúng ta, gọi là “bóng tối” (shadow[v]). Bóng tối là tất cả những suy nghĩ, cảm xúc và khái niệm bị kìm nén về chính mình mà chúng ta không muốn đối mặt. Một trong những lợi ích của khủng hoảng là nó thường giúp chúng ta làm quen với bóng tối của mình. Nhận ra những thứ chúng ta chia sẻ với toàn thể nhân loại làm cho chúng ta trở thành nhân văn hơn và trọn vẹn hơn. Tất cả những điều mà chúng ta nghĩ rằng “họ” có tội đều có mặt trong chính chúng ta. Vì vậy, khi được đưa lên tầng nhận thức hữu thức, được thừa nhận và được buông bỏ, nó sẽ không còn điều khiển chúng ta một cách vô thức nữa. Một khi bóng tối được thừa nhận, nó không còn sức mạnh nữa. Tất cả những việc cần làm chỉ là nhận ra rằng chúng ta có những xung động, suy nghĩ và cảm thọ nào đó đã bị cấm, không được thể hiện ra. Giờ đây, chúng ta có thể xử lý chúng bằng câu hỏi “Vậy thì sao?”.

Do đó, đi qua vụ khủng hoảng của cuộc đời làm cho chúng ta trở thành nhân văn hơn, từ bi hơn, chấp nhận và hiểu chính mình và người khác hơn. Chúng ta không còn phải sa đà vào việc đổ lỗi cho người khác hoặc tự trách mình nữa. Xử lý khủng hoảng cảm xúc giúp chúng ta có nhiều trí tuệ hơn và nó sẽ mang lại lợi ích trong suốt cuộc đời này. Sợ hãi cuộc đời thực chất là sợ hãi cảm xúc. Chúng ta không sợ sự kiện mà sợ cảm thọ về sự kiện. Một khi chúng ta làm chủ được cảm thọ của mình, sợ cuộc đời sẽ giảm đi. Chúng ta cảm thấy tự tin hơn, và sẵn sàng chấp nhận rủi ro lớn hơn, vì lúc này chúng ta cảm thấy mình có thể xử lý được những hậu quả về mặt cảm xúc, dù chúng có là gì thì cũng thế. Bởi vì sợ hãi là gốc rễ của mọi kìm hãm, chế ngự sợ hãi có nghĩa là mở ra toàn bộ những con đường cho trải nghiệm cuộc đời mà trước đây chúng ta từng né tránh.

Do đó, người đàn ông xử lý thành công khủng hoảng mất việc làm sẽ không bao giờ trải nghiệm sợ hãi tương tự như thế nữa. Vì vậy, anh ta sẽ sáng tạo hơn trong công việc tiếp theo, sẵn sàng chấp nhận những rủi ro, nếu cần, để thành công. Anh ta bắt đầu nhận ra sợ hãi ám ảnh về mất việc đã hạn chế nghiêm trọng hiệu suất làm việc của mình như thế nào, khiến anh ta sợ hãi và thận trọng, và đánh mất lòng tự trọng của mình do quá phục tùng và tuân thủ cấp trên.

Một trong những lợi ích từ vụ khủng hoảng trong cuộc đời là gia tăng nhận thức về chính mình. Tình huống vượt quá sức chịu đựng, và chúng ta buộc phải dừng tất cả những trò chơi đánh lạc hướng, nhìn nhận thật kỹ tình hình và đánh giá lại niềm tin, mục tiêu, giá trị và hướng đi. Đây là cơ hội để đánh giá lại và buông bỏ mặc cảm tội lỗi. Đây cũng là cơ hội để thay đổi hoàn toàn thái độ của mình. Những vụ khủng hoảng trong cuộc đời đưa chúng ta tới những thái cực trái ngược nhau. Chúng ta sẽ căm ghét hay tha thứ cho người đó? Chúng ta sẽ học hỏi từ trải nghiệm này và trưởng thành, hay oán hận và trở thành người cay đắng? Chúng ta quyết định bỏ qua những thiếu sót của người khác và của chính mình, hay, thay vào đó chúng ta oán hận và tấn công họ về mặt tinh thần? Trong tương lai, chúng ta sẽ rút lui khỏi tình huống tương tự và sợ hãi hơn, hay, một lần nữa, chúng ta sẽ vượt qua khủng hoảng và làm chủ nó một lần và mãi mãi? Chúng ta chọn hy vọng hay nản chí? Chúng ta có thể sử dụng trải nghiệm này như một cơ hội để học cách chia sẻ, hay chúng ta sẽ rút lui vào vỏ bọc của sợ hãi và cay đắng? Mỗi trải nghiệm cảm xúc là một cơ hội để đi lên hoặc đi xuống. Chúng ta chọn cách làm nào? Đó chính là khoảnh khắc phải trực diện với chính mình.

Chúng ta có cơ hội quyết định xem mình muốn bám vào hay buông bỏ những tổn thương về mặt cảm xúc. Chúng ta có thể xem xét cái giá phải trả khi bám vào chúng. Chúng ta có muốn trả giá đó hay không? Chúng ta có sẵn sàng chấp nhận những cảm thọ đó hay không? Chúng ta cũng có thể xem xét những lợi ích của việc buông bỏ chúng. Lựa chọn của chúng ta sẽ quyết định tương lai của chúng ta. Chúng ta muốn có tương lai như thế nào? Chúng ta sẽ chọn được chữa lành, hay sẽ trở thành một trong những người mang theo vết thương lòng?

Khi quyết định, quan trọng là phải xem xét phần thưởng mà chúng ta nhận được khi bám vào dư vị của một trải nghiệm đầy đau khổ. Chúng ta có được những thoả mãn nào? Chúng ta sẵn sàng cam chịu đến mức nào? Giận dữ. Thù hận. Than thân trách phận. Oán hận. Tất cả đều là những phần thưởng rẻ mạt, thỏa mãn nhỏ nhoi ở bên trong. Đừng giả vờ là không có. Có một thứ khoái lạc kỳ quặc, quái đản khi ta bám vào nỗi đau. Nó chắc chắn thỏa mãn nhu cầu vô thức của chúng ta trong việc xoa dịu mặc cảm tội lỗi thông qua trừng phạt. Ta được quyền cảm thấy khốn khổ và tồi tệ. Nhưng rồi câu hỏi đặt ra là: “Chuyện này sẽ kéo dài được bao lâu?”

            Ví dụ, một người đàn ông đã không nói chuyện với anh trai mình suốt 23 năm. Cả hai đều không nhớ chuyện gì đã xảy ra; câu chuyện đã bị lãng quên từ lâu. Nhưng họ đã quen với việc không nói chuyện, và vì vậy họ phải trả giá bằng việc thiếu vắng sự hiện diện của nhau, tình cảm, sự gắn kết trong các vấn đề gia đình, và tất cả những trải nghiệm và tình yêu mà họ lẽ ra có thể có trong suốt 23 năm đó. Khi người đàn ông này hiểu được cơ chế của buông bỏ, anh ta bắt đầu buông bỏ cảm thọ về anh trai mình. Đột nhiên, anh ta bật khóc vì buồn khi nhận ra tất cả những gì đã mất trong những năm qua. Bằng cách tha thứ cho anh trai của mình, anh ta kích hoạt phản ứng tương tự ở người anh trai, và hai người đã đoàn tụ với nhau. Sau đó, một trong hai anh em nhớ lại câu chuyện đã từng xảy ra. Đó là một vụ tranh cãi về đôi giày tennis. Chỉ vì đôi giày tennis mà họ đã phải trả giá suốt 23 năm! Nếu người đàn ông này không học được kỹ thuật buông bỏ, rất có thể anh ta đã mang theo oán hận ấy xuống mồ. Vậy câu hỏi đặt ra là: “Chúng ta muốn tiếp tục chịu đựng bao lâu nữa? Khi nào chúng ta sẵn sàng từ bỏ nó? Khi nào thì đủ?”

Cái phần muốn bám víu vào những cảm xúc tiêu cực chính là sự nhỏ bé của chúng ta. Đó là phần ích kỷ, nhỏ nhen, thích cạnh tranh, keo kiệt, mưu mô, không tin tưởng, thù hận, thích phán xét, tự ti, yếu đuối, mặc cảm tội lỗi, xấu hổ và phù phiếm trong chúng ta. Nó có ít năng lượng; nó hút năng lượng, hạ thấp phẩm giá và dẫn đến thái độ tự ti. Chính phần nhỏ bé đó gây ra thái độ tự căm thù chính mình, mặc cảm tội lỗi không bao giờ ngưng và tìm kiếm trừng phạt, bệnh tật. Đó có phải là phần mà chúng ta muốn đồng nhất với hay không? Đó có phải là phần mà chúng ta muốn tiếp thêm năng lượng hay không? Đó có phải là cách chúng ta muốn nhìn nhận chính mình? Bởi vì nếu đó là cách chúng ta nhìn nhận chính mình, thì đó cũng là cách người khác nhìn nhận chúng ta.

Thế giới chỉ có thể nhìn chúng ta như cách chúng ta nhìn nhận chính mình. Liệu chúng ta có sẵn sàng trả giá cho những hậu quả đó? Nếu chúng ta tự coi mình là keo kiệt và nhỏ nhen, thì khó có khả năng là chúng ta sẽ đứng đầu danh sách thăng tiến của công ty.

Cái giá phải trả cho việc bám vào sự nhỏ bé có thể được chứng minh bằng phương pháp kiểm tra cơ bắp. Quy trình khá đơn giản (Hawkins, [1995], 2012). Giữ trong tâm trí một suy nghĩ xấu xa, nhỏ nhen và nhờ ai đó ấn mạnh cánh tay bạn trong khi bạn chống lại; chú ý đến hiệu quả. Bây giờ, chọn một quan điểm hoàn toàn ngược lại. Hãy hình dung bản thân mình là người hào phóng, vị tha, yêu thương và trải nghiệm sự vĩ đại bên trong. Ngay lập tức, sức mạnh cơ bắp sẽ tăng lên đáng kể, cho thấy sự bùng nổ của năng lượng sinh học tích cực. Nhỏ bé mang lại yếu đuối, bệnh tật và cái chết. Bạn có thực sự muốn điều đó? Buông bỏ những cảm thọ tiêu cực có thể đi kèm với một thủ thuật rất lành mạnh khác, nó sẽ hỗ trợ rất nhiều cho quá trình chuyển hoá nội tâm của bạn, đó chính là: thôi kháng cự lại những cảm thọ tích cực. 

Tăng cường cảm xúc tích cực

Hệ quả của việc buông bỏ cảm thọ tiêu cực là ngừng chống lại những cảm thọ tích cực. Mọi thứ trong vũ trụ đều có cái đối lập của nó; do đó, trong tâm trí, mỗi cảm thọ tiêu cực đều có đối trọng của nó, nằm giữa nhỏ bé và vĩ đại, dù chúng ta có liên tục nhận thức được sự tồn tại của nó tại bất kỳ thời điểm nào hay không.

Một bài tập hay và rất hữu ích là ngồi xuống và nhìn vào cảm thọ hoàn toàn trái ngược với cảm thọ tiêu cực mà chúng ta đang trải nghiệm và bắt đầu buông bỏ việc chống lại nó. Ví dụ, giả sử sinh nhật của một người bạn sắp đến và chúng ta cảm thấy bực bội và keo kiệt; do đó, chúng ta dường như không thể đi ra ngoài mua quà, còn ngày đó thì đang đến gần. Cảm thọ hoàn toàn trái ngược là tha thứ và hào phóng. Chúng ta chỉ cần bắt đầu tìm kiếm cảm thọ tha thứ trong chính mình và ngừng chống lại nó. Khi chúng ta tiếp tục buông bỏ sự kháng cự của mình đối với việc trở thành một người biết tha thứ, thường thì điều đáng ngạc nhiên là tha thứ sẽ trỗi dậy mạnh mẽ. Chúng ta sẽ bắt đầu nhận ra rằng một phần bản chất của chúng ta luôn sẵn sàng và mong muốn tha thứ, nhưng chúng ta không dám mạo hiểm. Chúng ta nghĩ rằng mình có thể trông như là ngốc nghếch. Chúng ta nghĩ rằng mình đang trừng phạt người kia bằng cách giữ tâm oán hận, nhưng thực ra chúng ta đã kìm nén tình yêu. Ban đầu, chúng ta có thể không cảm nhận rõ điều này một cách cụ thể về người bạn của mình, nhưng chúng ta sẽ bắt đầu nhận thấy rằng mình có khía cạnh này trong tính cách. Khi chúng ta tiếp tục buông bỏ sự kháng cự đối với tình yêu, chúng ta sẽ nhận ra rằng bên trong chính mình có điều gì đó muốn thể hiện thông qua việc chia sẻ và cho đi, buông bỏ quá khứ và chôn vùi hận thù. Có mong muốn thực hiện một cử chỉ thân thiện; chúng ta muốn hàn gắn sự chia tách, sửa chữa vết thương, sửa chữa sai trái, bày tỏ lòng biết ơn và chấp nhận rủi ro bị coi là người ngốc.

Mục đích của bài tập này là để tìm ra trong chính mình điều mà chỉ có thể được mô tả là vĩ đại. Vĩ đại là can đảm để vượt qua những trở ngại. Đó là sẵn sàng tiến đến tầng yêu thương cao hơn. Đó là chấp nhận tính người của người khác và từ bi đối với đau khổ của họ bằng cách đặt mình vào vị trí của họ. Từ tha thứ cho người khác mà nảy sinh tha thứ chính mình và giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi. Phần thưởng thực sự là khi chúng ta buông bỏ tiêu cực và chọn yêu thương; thì chính chúng ta là người được lợi. Chính chúng ta là người được lợi từ phần thưởng thực sự này. Với nhận thức ngày càng tăng về bản chất thực sự của mình, chúng ta dần trở thành miễn nhiễm hơn với nỗi đau. Một khi chúng ta chấp nhận bằng tâm từ bi với tính người của chính mình và của người khác, chúng ta không còn bị sỉ nhục nữa, vì khiêm nhường thực sự là một phần của sự vĩ đại.

Từ nhận thức về bản chất thực sự của mình mà nảy sinh mong muốn tìm kiếm những thứ nâng mình lên. Từ đó xuất hiện ý nghĩa và bối cảnh mới cho cuộc đời. Khi sự trống rỗng bên trong, do thiếu lòng tự trọng, được thay thế bằng yêu thương chính mình, tự trọng và kính trọng chính mình, chúng ta không còn phải tìm kiếm nó ở thế giới bên ngoài nữa, vì cội nguồn hạnh phúc nằm trong chính chúng ta. Chúng ta chợt nhận ra rằng thế giới này dù thế nào cũng không thể cung cấp được cái đó. Không có của cải nào có thể bù đắp được cảm giác nghèo nàn nội tâm. Chúng ta đều biết có nhiều triệu phú tìm cách bù đắp cho cảm giác trống rỗng và thiếu vắng giá trị nội tâm. Một khi đã kết nối được với Đại Ngã bên trong, với sự vĩ đại bên trong, với sự trọn vẹn, mãn nguyện và cảm giác hạnh phúc đích thực nội tâm, là chúng ta siêu việt thế giới này. Thế giới giờ đây là nơi để tận hưởng, chúng ta không còn bị nó chi phối nữa. Chúng ta không còn chịu ảnh hưởng của nó nữa.

Khi chúng ta sử dụng những kỹ thuật từ bỏ tiêu cực và thôi kháng cự cái tích cực, thì trước sau gì chúng ta cũng sẽ vươn tới nhận thức toàn diện, đột ngột về chiều kích thực sự của mình. Khi trải nghiệm hiện tượng này, thì sẽ không bao giờ quên được. Thế giới sẽ không bao giờ làm cho chúng ta sợ hãi như trước nữa. Có thể vẫn tiếp tục tuân theo những cách thức của thế gian chỉ vì thói quen, nhưng sự thúc đẩy bên trong, sự dễ tổn thương bên trong và sự nghi ngờ bên trong đã biến mất. Bề ngoài, hành vi có thể trông giống nhau, nhưng bên trong, nguyên nhân của nó giờ đây đã hoàn toàn khác. Kết quả cuối cùng của việc kiểm soát cảm xúc một cách có ý thức là sự bất khả xâm phạm và bất động tâm. Bản chất bên trong của chúng ta giờ đây như được bảo vệ khỏi mọi tổn thương. Ta có thể sống trọn kiếp người trong thăng bằng và tự tại.


[i] Force – Bạo lực/Cưỡng bức là dạng năng lượng mang tính cưỡng chế, tách biệt và kháng cự lại quy luật tự nhiên, dù biểu hiện ra bên ngoài thành hành động hay diễn ra âm thầm bên trong tâm trí như là quá trình tự hủy hoại. Vì mang tính cưỡng bức, Force luôn tạo ra phản lực, dẫn đến tiêu hao năng lượng và suy yếu trong dài hạn. Bạo lực đại diện cho các tầng tâm thức dưới 200.

[ii] Unity (Nhất thể) là trạng thái ý thức trong đó mọi cảm nhận về sự tách biệt giữa “ta” và “người khác”, giữa “chủ thể” và “đối tượng”, giữa “con người” và “vũ trụ” tan biến. Tất cả được trực nhận như một thực tại duy nhất, một trường hiện hữu không phân chia. Unity (Hợp nhất/Nhất thể) nhấn mạnh trạng thái hiệp nhất: mọi phân chia đã tan biến.

[iii] Vision (trong ngữ cảnh tâm linh) không phải là thị giác vật lý, mà là một cách thấy bằng tâm thức đã được chữa lành. Nó là trạng thái trong đó con người nhìn mọi sự không còn qua sự phán xét của bản ngã, mà qua tình yêu và sự hợp nhất. Vision xuất hiện khi perception được thanh lọc. Trong perception, tâm trí nhìn thế giới qua sợ hãi, phân ly, và diễn giải chủ quan. Trong vision, cái nhìn trở nên trong sáng, không phán xét, và nhận ra bản chất vô tội và thiêng liêng của mọi sự.

[iv] Paradigm dịch là “hệ hình” có nghĩa là: Một khung nhận thức nền tảng – một mô hình tư duy bao trùm – quy định cách ta nhìn, hiểu và giải thích thế giới. Khái niệm paradigm trở nên nổi tiếng nhờ cuốn sách The Structure of Scientific Revolutions của Kuhn. Trong đó, Kuhn dùng “paradigm” để chỉ: Một hệ thống giả định nền tảng, phương pháp, giá trị, và mô hình mẫu được cộng đồng khoa học chấp nhận trong một thời kỳ – và chính nó quy định cái gì được xem là “khoa học”, cái gì là “sự thật”, và cách giải thích dữ liệu.