April 30, 2021

HÃY ĐỂ NGÀY ẤY LỤI TÀN (nhân ngày 30 tháng 4 năm 2021)

 1. Trùng trùng duyên khởi

Nhân 20 năm ngày mất Trịnh Công Sơn, đó đây lại có những bài chê trách người nhạc sĩ tài danh là phản bội miền Nam. Rồi sắp tới 30 tháng 4, lại thấy có những bài viết thanh minh hay lên án Hoàng Phủ Ngọc tường và một vài người khác. 

Xin hỏi: Sao không để cho những ngày ấy lụi tàn?

Xét cho cùng, trong những năm 1950, 1960 phong trào cánh Tả làm mưa làm gió trên toàn thế giới; nước nào cũng có ĐCS, có nước tới 2, 3 ĐCS, ở Ý và Pháp phong trào CS có lúc đã làm nghiêng lệch cả bàn cân chính trị, ĐCS Pháp từng ban hành cương lĩnh chuẩn bị cấm quyền và hi vọng là sẽ giành được quyền lực bằng con đường nghị trường.

Có thời những bộ óc siêu việt như Jean-Paul Sartre, Bernard Shaw, Betrand Russell… còn tin rằng CS là tương lai của nhân loại. Có người còn nói: “20 tuổi mà không yêu cộng sản là không có tim” thì những người như Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhiều người khác ngả theo CS cũng có gì là lạ. 

Nó là trùng trùng duyên khởi. Sự thể lúc đó như thế và người ta đã hành động như thế.

Nhưng họ không phản bội miền Nam.

Họ đâu có biết rằng đời sống ở VNCH sung  sướng hơn, ấm no hơn, tự do hơn đời sống ở VNDCCH. Họ thấy các quan chức VNCH tham nhũng, còn quan chức CNDCCH, dù có thể là những kẻ chẳng ra gì, nhưng lại là những người gần dân và có đời sống mà nhìn bên ngoài thì đạm bạc, thanh bần. Họ đâu có biết rằng tham nhũng quyền lực mới là tham nhũng bỉ ổi nhất, xấu xa nhất.

VNDCCH cũng không hứa hẹn với họ tiền bạc hay địa vị cao sang. Nó chỉ hứa rằng nếu ở đô thị thì sẽ phải chịu hơi cay và dùi cui, còn “nhảy núi” thì đói rét, bệnh tật, bom đạn và chết chóc.

Thiết nghĩ, sai lầm của họ cũng là sai lầm của cả nhân loại, của cả thời đại. Lương tâm tự cắn rứt cũng đủ khổ rồi.

2. Chiến tranh kết thúc càng nhanh càng tốt

Các nhà lãnh đạo VNDCCH không chấp nhận kết quả của 9 năm kháng chiến và Hiệp định Geneva. Lê Duẩn ở lại miền Nam. Nhiều cán bộ to ở lại. Nhiều điệp viên tài năng đã được cài lại và được đào tạo để chuẩn bị cho chiến lược rất lâu dài về sau. Chỉ xin kể mấy nhân vật nổi bật: Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Nguyễn Đình Ngọc… và tất nhiên, bên dưới những người này phải là mạng lưới liên lạc viên dày đặc và rất trung thành. Phải công nhận rằng, về mặt này, CS là những người rất có chiến lược và rất bài bản. (Bài bản đến mức ấy thì ông HCM có thể là anh thiếu tá HQ người Tàu cũng không có gì lạ). Chỉ tiếc là trong hòa bình họ lại không được như thế.

VNCH không có chiến lược nào như thế. Nếu có cũng không thể hoạt động được ở miền Bắc.

Năm 1959 ĐCS VN ra nghị quyết 15: “giải phóng miền nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến…”. Các đơn vị mở đường Trường Sơn vào Nam xuất phát vào ngày 19 tháng 5 năm 1959.

Như vậy, Chiến tranh Đông Dương lần thứ II là do CS Bắc Việt chứ không phải Mỹ, Liên Xô hay Trung Quốc phát động. Sau đó, những nước vừa kể đã biến cuộc chiến tranh này thành chiến tranh ủy nhiệm lại là chuyện khác.

Cũng trong thời gian đó, xung đột Tư bản&XHCN đã nổ ra ở nhiều nước, ví dụ, Thổ Nhĩ Kì, Hi Lạp, Indonesia, Chile… nhưng ở những nước đó mọi thứ đều kết thúc rất nhanh. Chỉ có ở VN người ta mới tin:

Vui gì hơn làm người lính đi đầu.

Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa.

 Chỉ có ở VN mới có những bà mẹ:

Mẹ đào hầm, mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh.

Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc

Mẹ vẫn đào hầm

 Chiến tranh kéo dài rất lâu. Quyết tâm của lãnh đạo miền Bắc không hề thay đổi. Dân chúng miền Bắc cũng vẫn tin tưởng như cũ:

 Thóc không thiếu một cân

Quân không thiếu một người

 Cùng với ý định của Mao Trạch Đông: “Đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”

 Tất nhiên là còn nhiều nguyên nhân khác nữa, nhưng chỉ cần nhìn vào mất nguyên nhân “quốc nội” như thế, chúng ta có thể kết luận: VNCH nhất định phải thua VNDCCH. Nội chiến mà đã chắc chắn là thua thì thua sớm ngày nào đỡ khổ ngày đó. Thua sớm ngày nào thì hệ lụy đi kèm với nó như tập trung cải tạo, kinh tế mới, thuyền nhân cũng chấm dứt sớm ngày đó.

Như vậy, đối với tôi, tất cả những hành động không làm chết người, mà giúp chấm dứt chiến tranh đều là hành động tốt. Thua nhanh thì kiếp nạn chấm dứt nhanh, thua chậm thì kiếp nạn chấm dứt chậm. Thế thôi.

Suy cho cùng, tất cả các dân tộc, cũng như tất cả các cá nhân, đều phải gánh chịu tất cả nghiệp chướng của mình.





Chấp kinh & Tòng quyền

Theo ngôn ngữ hiện đại, “chấp kinh” nghĩa là làm đúng theo nguyên tắc, còn “tòng quyền” là tùy cơ ứng biến. “Chấp kinh” đối với người con gái là giữ “chữ trinh”, còn với người lính là “chết vinh hơn sống nhục|”. Nhưng Truyện Kiều còn có câu: “Trong cơn ngộ biến tòng quyền biết sao”, lại cũng có câu: “Có khi biến, có khi thường/Có quyền, nào phải một đường chấp kinh”.  Nhị độ mai cũng có câu: “Chấp kinh nếu chẳng tòng quyền/Sợ khi muôn một chu tuyền được sao”.

Người lính nào khi ra trận cũng thề chiến đấu tới viên đạn/giọt máu cuối cùng, nhưng đứng trước tình huống, khi mà mọi sự thắng thua đã an bài, bắn thêm vài phát đạn nữa sẽ chỉ làm cho mẹ mình hay mẹ của vài người lính phía bên kia đau lòng thì nhiều người tỉnh táo sẽ tòng quyền, nghĩa là chấp nhận kết quả đã được an bài. Tôi kính trọng những người bắn đến viên đạn áp chót và dành viên cuối cùng cho chính mình, nhưng cũng hết sức thông cảm với những người chấp nhận kết quả đã được an bài.

Còn nhớ. Trong Thế chiến II, quân đội Pháp rút lui chứ không tử thủ ở Paris. Nếu họ tử thủ thì chúng ta có còn Paris hoa lệ như ngày nay hay không? Cũng trong Thế chiến II, chính phủ Mỹ không bắt lỗi những người lính đầu hàng quân Nhật khi mặt trận Thái Bình Dương bị vỡ.

Nếu ngày 30 tháng 4 năm 1975, tướng Dương Văn Minh và tướng Vĩnh Lộc không kêu gọi binh sĩ buông súng mà kêu gọi họ tử thủ thì Sài Gòn sẽ ra sao? Hơn nữa, nếu tướng Dương Văn Minh nghe theo viên đại sứ Pháp, rút về vùng 4 chiến thuật để đợi quân Trung Quốc can thiệp thì nước ta giờ ra sao?

Truyền thuyết kể rằng, đạo quân trên đường đánh chiếm cố quốc của Đức Phật đã đi ngang qua chỗ Ngài đang ngồi thiền, nhưng Ngài vẫn bất động. Người sau bình luận rằng Đức Phật hiểu rõ lý nhân quả; nhân duyên của nền độc lập quốc gia còn thì quốc gia còn độc lập, nhân duyên hết thì nền độc lập quốc gia cũng phải chết theo.

Bám mãi vào cái thực thể mà nhân duyên cho sự tồn tại của nó đã tan rã từ cách đây 46 năm có phải là tự làm khổ mình, khổ người hay không?

P/S: Dường như những người hiện nay vẫn kêu gọi “chết vinh hơn sống nhục” trong ngày 30 tháng 4 cách đây 46 năm lúc đó còn trẻ chưa được khoác áo lính hoặc cũng đã bỏ súng, bỏ áo chạy lấy người.

Bàn về hòa giải

Hai người bạn/hàng xóm đánh/cãi nhau, muốn hòa giải thì trước hết, mỗi người đều phải công nhận rằng mình có sai, thậm chí một người hoàn toàn không có gì sai cũng phải hạ mình xuống mà nói rằng: “Hôm ấy đúng là tôi nóng nảy quá, tôi cũng có sai, xin lỗi nha”.

Hai nhóm người từng đánh/cãi nhau thì cũng thế.

Truyện Kiều có câu: “Mà trong lẽ phải có người có ta”. Dù ta có phải tới 99%, thì cũng còn 1% dành cho phe kia. Ta giữ lẽ phải 100% thì có thể hòa giải được hay không?

Hỏi là đã trả lời. Hỏi tiếp: Độc quyền chân lý thì có thể hòa giải với đối phương được hay không?

Hỏi cũng là đã trả lời.

Hỏi tiếp: Không hòa giải được với Nguyễn Thúy Hạnh, Huỳnh Ngọc Chênh, với mẹ con bà Cấn thị Thêu, với LS Lê Công Định… thì làm sao hòa giải với những người đã từng cầm súng ở bên kia chiến tuyến?

Từ “hòa giải” trong miệng kẻ nắm độc quyền chân lý phải được dịch thành: “đầu hàng vô điều kiện, trong im lặng và cam chịu”.

Cho nên điều kiện tiên quyết để có hòa giải chân thành và toàn diện là chế độ dân chủ pháp quyền và đa nguyên.

Đa nguyên để mọi ý kiến, mọi quan điểm đều được chấp nhận. Cũng tức là: “Mà trong lẽ phải có người có ta”.   

Chế độ dân chủ pháp quyền là để mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, người nào giỏi làm kinh tế thì sẽ giàu, người nào giỏi làm chính trị thì lãnh đạo (có thời hạn, theo luật định).

P/S: Bức thư của ông Hữu Thỉnh gửi ông Phan Nhật Nam chỉ là 1 kiểu dân vận/địch vận mà thôi. Ông Phan Nhật Nam đã nhận ra và từ chối. 

 Hết.

 

 

 

March 6, 2021

Thuật ngữ chính trị (136)

 


331. Mass media – Các phương tiện truyền thông đại chúng. Các phương tiện Truyền thông đại chúng là một loạt các công nghệ truyền thông nhằm tiếp cận tới số lượng lớn khán giả, thông qua những phương tiện thông tin đại chúng. Truyền thông đại chúng sử dụng rất nhiều công nghệ khác nhau. 

Các phương tiện thông tin bao gồm phim ảnh, đài phát thanh, băng đĩa nhạc hoặc truyền hình. Phương tiện kỹ thuật số bao gồm Internet và truyền thông trên thiết bị di động. Phương tiện truyền thông Internet bao gồm các dịch vụ như e-mail, các mạng xã hội, các website và đài phát thanh và truyền hình trên Internet. Nhiều phương tiện truyền thông đại chúng khác cũng đã hiện diện trên các website. Các phương tiện truyền thông ngoài trời truyền thông tin qua các phương tiện như ứng dụng thực tế ảo tăng cường; bảng quảng cáo; khinh khí cầu; bảng quảng cáo bay; bảng hoặc ki-ốt đặt bên trong và bên ngoài xe buýt, tòa nhà thương mại, cửa hàng, sân vận động thể thao, toa tàu điện ngầm hoặc xe lửa….. Phương tiện in truyền tải thông tin qua các đối tượng vật lý, như sách, truyện tranh, tạp chí, báo hoặc tờ rơi. Tổ chức sự kiện và diễn thuyết trước công chúng cũng có thể được coi là các hình thức truyền thông đại chúng. Những tổ chức kiểm soát các công nghệ này, như các hãng phim, các công ty xuất bản, các đài phát thanh và truyền hình, cũng được gọi là các phương tiện truyền thông đại chúng. 

Các chính phủ ngày càng khó kiểm soát và giám sát, nhất là trước sự lan tràn của truyền hình vệ tinh, truyển hình cáp, mạng Internet, mạng lưới phương tiện truyền thông đại chúng toàn cầu và sở hữu chéo trong ngành truyền thông ngày càng gia tăng. Trong khi các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông cho rằng, ngoài những cuộc bầu sử và những sự kiện lớn khác, các cuộc tranh luận và bình luận chính trị nghiêm túc chỉ thu hút được các nhóm nhỏ. Ảnh hưởng, nếu có, cũng không đáng kể và không trực tiếp. Tuy nhiên, tiếp cận với các phương tiên truyền thông đại chúng là điều kiện quan trọng sống còn đối với các đảng phái chính trị lớn, đồng thời phương tiện truyền thông còn tạo điều kiện cho các ứng cử viên đại diện cho nhóm thiểu số, với những quan điểm phi chính thống, trình bày cương lĩnh của mình.     

332. Mass society – Xã hội đại chúng. Xã hội đại chúng là bất kỳ xã hội nào trong thời hiện có nền văn hóa đại chúng và các thiết chế xã hội quy mô lớn, có tính cá nhân hóa. Có người nói: Xã hội đại chúng là xã hội mà sự thịnh vượng và bộ máy quan liêu đã làm suy yếu các mối quan hệ xã hội truyền thống. Những bài viết đầu tiên về xã hội đại chúng xuất hiện hồi thế kỷ XIX, đề cập đến xu hướng cào bằng trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp, làm suy yếu các giá trị truyền thống và quý tộc. 

Trong các tác phẩm của các nhà chính trị học đầu thế kỷ XX như Alexis de Tocqueville, thuật ngữ này được sử dụng trong các cuộc thảo luận về những lo ngại về sự thay đổi trong tổ chức chính trị ở phương Tây kể, từ sau Cách mạng Pháp. Sự quan tâm của giới tinh hoa chủ yếu tập trung vào “sự chuyên chế của đa số” hay còn gọi là sự cai trị của đám đông. 

Cuối thế kỷ XIX, trong các tác phẩm của mình, Émile Durkheim (1858-1917) liên kết thuật ngữ này với xã hội như một đám đông các cá nhân rời rạc. Trong các tác phẩm của chủ nghĩa tân-Marxist, thế kỷ XX, ví dụ như Trường phái Frankfurt, xã hội đại chúng được người ta gán cho xã hội gồm những cá nhân rời rạc được gắn kết lợi với nhau bằng nền văn hóa đại chúng phục vụ lợi ích của chủ nghĩa tư bản. 

Các tác phẩm mang tính bảo thủ trong thế kỷ XX chỉ trích xã hội đại chúng từ một góc độ khác. Ví dụ, José Ortega y Gasset (1883-1955) than thở về sự suy tàn của nền văn hóa cao trong xã hội đại chúng. 

333. Materialism - Chủ nghĩa duy vật. Chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học cho rằng, vật chất có trước ý thức, tinh thần và quyết định ý thức, tinh thần. Vật chất tồn tại ngoài ý thức của con người và không phụ thuộc vào ý thức của con người. Vật chất là nguồn gốc của ý thức. 

Chủ nghĩa duy vật có liên hệ chặt chẽ với chủ nghĩa duy vật lý, với quan điểm cho rằng tất cả những gì tồn tại đều là vật chất. Chủ nghĩa duy vật lý triết học xuất phát từ chủ nghĩa duy vật với các lý thuyết về khoa học vật lý, kết hợp các quan niệm phức tạp hơn về vật chất so với vật chất thông thường (ví dụ như không-thời gian, năng lượng và lực lượng vật lý và vật chất tối). Do đó, một số người thích thuật ngữ duy vật lý hơn là chủ nghĩa duy vật, trong khi một số người khác lại coi đây là những từ đồng nghĩa. 

Chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa đa nguyên, thuyết nhị nguyên, thuyết toàn tâm và các hình thức khác của nhất nguyên luận là những triết lý mâu thuẫn với chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy vật lý.

 

March 4, 2021

Thuật ngữ chính trị (135)

 


328. Marxism-Leninism – Chủ nghĩa Marx-Lenin. Mặc dù người ta thường mô tả hệ thống chính trị được thiết lập sau Cách mạng Bolshevik, tháng 10 năm 1917, ở Nga là xã hội theo chủ nghĩa Marx, nhưng, đúng hơn, nên gọi đấy là xã hội theo chủ nghĩa Marx-Lenin. Chủ nghĩa Marx-Lenin là thuật ngữ do Stalin đặt ra nhằm mô tả sự kết hợp giữ lý thuyết Marxist với tư tưởng của Lenin - người lập ra nhà nước Xô Viết – ngọn đuốc soi đường cho cuộc Cách mạng này và trở thành niềm tin của nhà nước sau Cách mạng. Marx chưa có gì để nói về bản chất của xã hội sau cách mạng, đúng hơn là ông chưa nói rõ cần phải tổ chức và lãnh đạo cách mạng như thế nào, đấy là lý do làm cho người ta phải kết hợp tư tưởng của Lenin vào chủ nghĩa Marx. Tư tưởng của Marx nhấn mạnh tương lai rất xa vời và xã hội mà ông mô tả về cơ bản là xã hội vô chính phủ, gần như không cần chính trị hoặc nhà nước. Lenin, nhà lãnh đạo cách mạng lưu vong, đã viết rất nhiều tác phẩm về công tác chuẩn bị và lãnh đạo cách mạng, cũng như bản chất của xã hội ngay sau ngày cách mạng thành công. Về mặt lý thuyết, đóng góp của Lenin tập trung vào vai trò của đảng cộng sản - đội tiên phong của giai cấp vô sản - không chỉ lãnh đạo cách mạng mà còn kiểm soát xã hội trong giai đoạn quá độ - xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây chính là lời biện minh cho sự cai trị của đảng, đặc biệt có giá trị đối với những người Bolshevik, vì đã hợp pháp hóa sự cai trị của họ. Khái niệm chuyên chính vô sản cuối cùng đã tạo điều kiện cho Stalin và những người kế nhiệm ông không trao cho người dân những quyền dân chủ cơ bản hoặc thậm chí là hàng hóa cơ bản nhằm thỏa mãn người tiêu dùng, trên cơ sở cho rằng quần chúng chưa thể sẵn sàng để hưởng các quyền tự do - cho đến khi nhà nước Xô Viết giải thoát họ khỏi ý thức sai lầm mà các chế độ trước đây đã nhồi nhét vào đầu óc họ. Chính Marx đã coi nước Nga là nơi rất khó xảy ra cách mạng vô sản, vì ở đó hầu như chưa bắt đầu cách mạng công nghiệp, tư tưởng của Lenin chính là những điều mà cuộc cách mạng cần. Vai trò của đảng là cực kì quan trong trong chế độ cộng sản, công bằng mà nói, hầu hết các các đảng cộng sản ở phương Tây cũng theo chủ nghĩa Marx-Lenin, chứ không phải theo chủ nghĩa Marx thuần túy, đấy là nói những đảng không đi theo đường lối của Trotsky, hoặc trở thành các đảng Maoist. 

329. Masses – Quần chúng. Đám đông dân chúng bình thường trong xã hội. Lo lắng về “quần chúng” cũng lâu đời như lo lắng về chế độ dân chủ. Trong Nền dân trị Mỹ, Tocqueville thể hiện sự lo lắng của mình về những người Mỹ không có gốc rễ và không có liên kết xã hội – như họ đã và đang là hiện nay – lưu động hơn người châu Âu: “Mỗi người sống tách biệt, không quan tâm tới số phận của tất cả những người khác”. Nhưng Tocqueville lại thán phục trước sự năng động về chính trị và nhiệt tình tham gia các tổ chức tự nguyện của họ. Những mâu thuẫn như thế làm cho người ta khó đưa ra được định nghĩa về “quần chúng” và những mối đe dọa mà họ có thể gây ra cho giới tinh hoa cũng như sự ổn định của chế độ dân chủ. 

330. Massive Retaliation –Trả đũa cấp tập. Chính sách đáp trả hành vi hiếu chiến với khả năng gây tổn thương lớn nhất có thể, kể cả việc sử dụng vũ khí hạt nhân. Trả đũa cấp tập đã trở thành chính sách chính thức của chính quyền Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Dwight D. Eisenhower, sau năm 1954, cùng với việc Hoa Kỳ dính líu vào cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Ý tưởng này khá đơn giản: Bất kỳ cuộc xâm lược nào của Liên Xô ở Châu Âu hoặc ở những nơi khác sẽ bị đáp trả bằng cuộc tấn công hạt nhân cấp tập vào chính Liên Xô. Chiến lược này là hợp lý, vì trong giai đoạn đó, phương Tây không có giải pháp thay thế thuyết phục nào khác: Về vũ khí quy ước phương Tây không so sánh được với Liên Xô, trong khi Liên Xô không thể đáp trả được vụ tấn công hạt nhân của Mỹ. Cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, khi kho vũ khí hạt nhân của Liên Xô đã gia tăng đáng kể, nhằm mục đích răn đe, Hoa Kỳ tung ra chiến lược leo thang và phản ứng linh hoạt, cuối cùng là đảm bảo rằng cả hai bên đều bị tiêu diệt hoàn toàn.

March 2, 2021

Thuật ngữ chính trị (134)

 


326. Martial Law – Thiết quân luật. Thiết quân luật là tình trạng do chính phủ dân sự công bố, trong đó, các lực lượng quân sự được trao quyền cai trị, quản lý và kiểm soát một khu vực, có thể là một địa phương hoặc cả nước, sử dụng trực tiếp lực lượng quân sự mà không có những hạn chế thông thường của quá trình ban hành quyết định theo lối dân chủ hoặc không chấp nhận các quyền công dân. Đây luôn luôn được coi là tình trạng thái tạm thời, và, khác với chế độ quân sự, nó có tính hợp pháp, vì do chính phủ dân sự quyết định và công nhận. Không nghi ngờ gì rằng, thiết quân luật là tình trạng khắc nghiệt và không được lòng dân; Sau Thế chiến II, các chế độ dân chủ lớn ở phương Tây chưa hề ban hành tình trạng thiết quân luật. Ba Lan nằm trong tình trạng thiết quân luật từ năm 1981 đến năm 1983. Tình trạng thiết quân luật có thể là hữu ích hoặc có thể chấp nhận được khi luật pháp và trật tự đã bị phá vỡ hoàn toàn - chính phủ dân sự để xảy ra tình trạng như thế có thể đã mất hết tính hợp pháp. Trong luật quốc tế, thuật ngữ này thường được dùng để nói về chính quyền của quân đội nước ngoài áp đặt lên khu vực thuộc địa. 

327. Marxism – Chủ nghĩa Marx. Chủ nghĩa Marx là phương pháp phân tích kinh tế xã hội áp dụng chủ nghĩa duy vật để giải thích quá trình phát triển lịch sử, hay còn gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhằm tìm hiểu các mối quan hệ giai cấp và mâu thuẫn xã hội cũng như quan điểm biện chứng để xem xét sự biến đổi của xã hội. Chủ nghĩa Marx có xuất xứ từ các tác phẩm của hai nhà triết học Đức thế kỷ XIX là Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895). 

Ban đầu, thuật ngữ “Chủ nghĩa Marx” được những người cánh hữu sử dụng với nghĩa xấu. Chỉ từ cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ này mới được chính những người theo chủ nghĩa Marx chấp nhận. Chính Marx cũng đã từng nói rằng ông thích dùng khái niệm “chủ nghĩa xã hội khoa học” cho học thuyết của mình. Marx phê phán những người đi trước và những cùng thời rằng họ chỉ “mơ ước” một xã hội có nhân tính, lý tính và tự do, theo các lý tưởng của cuộc Cách mạng Pháp chứ không nghiên cứu một cách khoa học về các điều kiện để làm cách mạng. Marx và Engels đã tranh luận với nhiều truyền thống tư tưởng khác nhau theo lối khoa học và phê phán. Các tư tưởng cơ bản của Marx chỉ được hệ thống hóa sau khi ông đã qua đời.

Chủ nghĩa Marx là hệ thống lý thuyết với ý nghĩa là một thế giới quan được các chính trị gia sử dụng để định hướng thực tiễn và được các học giả sử dụng như một phương pháp luận. Học thuyết Marxist chủ yếu phản ánh sự phát triển của các tư tưởng của Marx và Engels:

1.       Phê bình một cách sâu rộng triết học truyền thống và “phủ nhận” chúng bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng. Với ý tưởng đó, các tác phẩm ban đầu của Marx bắt đầu với việc phê bình tôn giáo và phê bình các ý thức hệ, đặc biệt là của chủ nghĩa duy tâm biện chứng Đức của Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) và chủ nghĩa duy vật siêu hình của Ludwig Feuerbach (1804-1872). Ông kỳ vọng bổ sung phương pháp biện chứng của Hegel với nội dung lịch sử hiện thực và qua đó “đảo ngược” chủ nghĩa duy tâm. Mục đích của phê phán này là “Các nhà triết học chỉ giải thích thế giới khác nhau; vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới”.

2.       “Tồn tại [xã hội] quyết định ý thức”. Theo Marx, quan hệ sản xuất trong nền kinh tế là hạ tầng cơ sở cho cuộc sống tinh thần và văn hóa của xã hội hay còn được gọi là thượng tầng kiến trúc. Marx xem đấu tranh giai cấp là biện chứng của lịch sử từ khi xã hội bắt đầu phân chia thành giai cấp đến nay. Theo Marx thì “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả phường hội và thợ bạn, nói tóm lại, những kẻ áp bức và những người bị áp bức, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành một cuộc đấu tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thúc hoặc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau”.

3.       Tác phẩm chính của ông là cuốn Tư bản luận, trong đó ông chỉ ra bản chất của sự tích lũy tư bản trong chủ nghĩa tư bản, sự hình thành xã hội có giai cấp hiện đại và quá trình tập trung tư bản cũng được phân tích cả về mặt kinh tế vi mô và vĩ mô. Marx cũng phân tích những khuyết điểm của trường phái kinh tế học cổ điển của Adam Smith và David Ricardo trong việc giải thích một số hiện tượng kinh tế. Học thuyết về giá trị lao động là phần quan trọng nhất trong những phân tích này.

4.       Chuyển từ chủ nghĩa tư bản sang xã hội không có giai cấp trong chủ nghĩa cộng sản – thông qua giai đoạn quá độ là chủ nghĩa xã hội – là chủ đề của học thuyết cách mạng của Marx. Chủ nghĩa cộng sản là sự kết thúc của lịch sử xã hội có giai cấp, mở đầu cho lịch sử của xã hội phi giai cấp và tự do. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo.

Ban đầu, chủ nghĩa Marx được phổ biến trong phong trào công nhân, thế kỷ XIX, đặc biệt là phong trào dân chủ xã hội Đức đã biến các học thuyết của Marx và Engels thành cơ sở cho các chương trình hoạt động và đưa vào chương trình đào tạo thành viên. Sau đó, Vladimir Ilyich Lenin (1870-1924) kế thừa Marx, phát triển học thuyết về chủ nghĩa đế quốc, mà sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, cùng với các tư tưởng của Marx và Engels, đã trở thành ý thức hệ nhà nước của Liên bang Xô viết. Stalin gắn chủ nghĩa Lenin vào chủ nghĩa Marx thành chủ nghĩa Marx - Lenin.

Sau năm 1945, Chủ nghĩa Marx-Lenin đã có ảnh hưởng quyết định đến chủ nghĩa xã hội hiện thực trong nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có Đông và Trung Âu, Trung Quốc, Cuba, Triều Tiên và Việt Nam. Chủ nghĩa Lenin có xuất xứ từ những “tư tưởng cơ bản” của Marx và Engels và đến mức nào hay chỉ là “phát triển sai lầm” vẫn là một trong những câu hỏi được tranh cãi nhiều nhất trong quá trình xây dựng lý thuyết Marxist. 

Cùng với thời gian, chủ nghĩa Marx đã phát triển thành nhiều nhánh và trường phái tư tưởng khác nhau, mỗi nhánh hay trường phái đó đều tự nhận là người được chính Marx trao cho ý bát. Có thể liệt kê một số trường phái sau đây:

1.       Phong trào Dân chủ Xã hội mà Chủ nghĩa Marxist Áo (Austromarxism) là một hình thức đặc biệt. Hiện nay, một số đảng dân chủ xã hội hay nhóm cánh tả trong phong trào này ở các nước ở phương Tây đều công nhận các mô hình xã hội tiến bộ trong học thuyết Marx, nhưng chủ trương xây dựng xã hội mới bằng biện pháp đấu tranh hòa bình nhằm thúc đẩy tiến hóa xã hội.

2.       Chủ nghĩa Lenin (Chủ nghĩa Marx–Lenin) và các khuynh hướng dựa trên chủ nghĩa Lenin như chủ nghĩa Stalinchủ nghĩa Trotskychủ nghĩa Mao, chủ trương xây dựng xã hội mới bằng biện pháp cách mạng, thành lập nhà nước mới. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các đảng Cộng sản trong các nước trên thế giới. Các đảng Cộng sản thường có quan hệ đồng minh với các đảng Dân chủ xã hội vừa nói bên trên (do cùng chia sẻ học thuyết Marx), tạo nên lực lượng chính trị được gọi chung là cánh tả.

3.       Chủ nghĩa cộng sản Tây Âu (Eurocommunism) là khuynh hướng cộng sản ở Tây Âu, đã từ bỏ ý tưởng thực hiện cách mạng bạo lực nhằm thành lập nhà nước chuyên chính vô sản. Khuynh hướng chính trị này chấp nhận chế độ dân chủ phương Tây và chủ trương tiến đến chủ nghĩa cộng sản bằng các biện pháp cải cách xã hội.

4.       Chủ nghĩa Tân Marxist (Neomarxism) hay Chủ nghĩa Hậu Marxist (Postmarxism) dưới nhiều hình thức khác nhau như Trường phái Frankfurt (Frankfurt School).

 

Việc phê bình chủ nghĩa Marx đã bắt đầu cùng với sự phát triển của chủ nghĩa Marx và đã trở nên quyết liệt hơn qua việc thành hình nhiều hệ thống nhà nước viện dẫn Marx trong thế kỷ XX, đặc biệt là các chính sách cứng rắn về chính trị và sự không hiệu quả về kinh tế trong chủ nghĩa xã hội hiện thực, được coi là kết quả của học thuyết Marxist

February 27, 2021

Thuật ngữ chính trị (133)


 323. Market – Thị trường. Các nhà tư tưởng đã nghĩ tới sự tương đồng giữa trao đổi trong lĩnh vực chính trị và trao đổi trên thương trường suốt nhiều thế kỉ, nhưng hiện tượng này mới được chính thức hóa trong một trăm năm gần đây mà thôi. Hoạt động chính trị được tiến hành trên những khu chợ ít nhất là ngay từ thời Hy Lạp cổ đại. Khi so sánh với thị trường, cử tri tương đương với người tiêu dùng, lợi ích có tổ chức tương đương với người sản xuất hàng hóa, còn chính trị gia thì tương đương với doanh nhân hay chủ cửa hàng. Giống như mọi sự tương đồng khác, tuân theo một cách mù quáng so sánh giữa thị trường và chính trị có thể dẫn tới những kết luận nguy hiểm. 

324. Market Socialism – Chủ nghĩa xã hội thị trường. Chủ nghĩa xã hội thị trường là hệ thống kinh tế bao gồm sở hữu công cộng và sở hữu tập thể tư liệu sản xuất hoạt động trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường. Chủ nghĩa xã hội thị trường khác với chủ nghĩa xã hội phi thị trường ở chỗ cơ chế thị trường được sử dụng để phân bổ hàng hóa vốn và tư liệu sản xuất. Tùy thuộc vào mô hình cụ thể của chủ nghĩa xã hội thị trường mà lợi nhuận do các doanh nghiệp thuộc sở hữu công cộng tạo ra có thể được sử dụng để trả công trực tiếp cho người lao động, tích lũy cho xã hội hoặc được phân phối cho dân chúng. 

Chủ nghĩa xã hội thị trường khác với khái niệm nền kinh tế hỗn hợp, vì, khác với nền kinh tế hỗn hợp, mô hình của chủ nghĩa xã hội thị trường là hệ thống hoàn chỉnh và tự điều chỉnh. Chủ nghĩa xã hội thị trường cũng khác với các chính sách của chế độ dân chủ xã hội được thực hiện trong các nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Trong khi chế độ dân chủ xã hội nhằm tới mục tiêu là ổn định và bình đẳng hơn về kinh tế bằng các chính sách như thuế, trợ cấp và các chương trình phúc lợi xã hội, thì chủ nghĩa xã hội thị trường nhằm tới các mục tiêu tương tự bằng cách thay đổi mô hình quản lý và sở hữu doanh nghiệp. 

Mặc dù các đề xuất kinh tế về quyền sở hữu xã hội song hành với thị trường đã có từ đầu thế kỷ XIX, thuật ngữ chủ nghĩa xã hội thị trường chỉ xuất hiện trong những năm 1920 khi người ta tranh luận về tính toán trong chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội thị trường xuất hiện trong cuộc tranh luận về tính toán trong chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn kéo dài từ đầu đến giữa thế kỷ XX, giữa các nhà kinh tế học theo trường phái xã hội chủ nghĩa, những người tin rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không thể hoạt động dựa trên tính toán theo các đơn vị tự nhiên hoặc bằng cách giải hệ phương trình về phối hợp kinh tế, và thị trường kinh tế mà nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cần phải có. 

Các mô hình đầu tiên của chủ nghĩa xã hội thị trường có xuất xừ từ công trình của Adam Smith và các lý thuyết của kinh tế học cổ điển, trong đó có những đề xuất về hợp tác xã, hoạt động trong nền kinh tế thị trường tự do. Mục đích của những đề xuất này là nhằm loại bỏ hiện tượng người bóc lột người: Tạo điều kiện cho người lao động nhận được toàn bộ sản phẩm lao động của mình, loại bỏ các tác động làm méo mó thị trường khi quyền sở hữu và của cải tập trung trong tay các chủ sở hữu tư nhân. 

325. Marshall Plan - Kế hoạch Marshall. Kế hoạch Marshall là kế hoạch quan trọng của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập nền tảng vững chắc hơn cho các nước Tây Âu, với mục đích chống cộng sau Thế chiến II. Tên chính thức là “Kế hoạch phục hưng châu Âu” (European Recovery Program - ERP), nhưng Kế hoạch Marshall thường được gọi theo tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall, người đã khởi xướng và ban hành kế hoạch này. Kế hoạch Marshall là thành quả lao động của các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong đó có đóng góp đặc biệt của William L. Clayton và George F. Kennan. 

Kế hoạch tái thiết được hình thành tại cuộc hội nghị đại diện của các nước Châu Âu, ngày 12 tháng 7 năm 1947. Kế hoạch Marshall đề xuất gói viện trợ tương đương cho Liên Xô và đồng minh của nước này, nhưng không được chấp nhận. Kế hoạch này được tiến hành trong vòng 4 năm, kể từ tháng 7 năm 1947. Trong thời gian đó, có khoảng 17 tỷ đô la Mỹ viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật nhằm giúp khôi phục các quốc gia châu Âu tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD. Nhiều nước châu Âu đã nhận được viện trợ trước khi Kế hoạch Marshall được khởi động – từ năm 1945 – có kèm theo các điều kiện chính trị. 

Trước khi kết thúc dự án, kinh tế của các nước nằm trong Kế hoạch, trừ Tây Đức, đã phát triển vượt mức trước chiến tranh. Trong vòng hai thập kỷ tiếp theo, nhiều vùng ở Tây Âu tiếp tục đạt được mức tăng trưởng chưa từng có trước đó. Kế hoạch Marshall cũng được xem là một trong các thành tố của quá trình hội nhập châu Âu, vì nó xóa bỏ hàng rào thuế quan và thiết lập các cơ quan điều phối kinh tế trên lục địa này.

 

Trong những năm gần đây, các nhà sử học tỏ ra nghi ngờ về cả động cơ bên trong cũng như hiệu quả của Kế hoạch Marshall. Một số nhà sử học cho rằng hiệu quả của Kế hoạch Marshall thực ra là từ chính sách laissez-faire (thị trường tự do) tạo điểu kiện cho thị trường tự cân bằng thông qua phát triển kinh tế.

February 25, 2021

Thuật ngữ chính trị (132)

 


320. Manifesto – Tuyên ngôn. Tuyên ngôn thường được coi là tuyên bố chính thức về chính sách, mà người ta dự định thực hiện, do các đảng phái chính trị tung ta trong giai đoạn khởi đầu các chiến dịch vận động tranh cử. Trên thực tế, tuyên ngôn có thể có nghĩa rộng hơn, bao hồm tất cả các tuyên bố về chính trị mà người ta dự định thực hiện hoặc thậm chí một lời kêu gọi ủng hộ trong tình hình cách mạng, ví dụ, Tuyên ngôn Cộng sản do Marx và Engels chấp bút năm 1848. Các tuyên ngôn khác nhau khác nhau về độ dài, văn phong cách và mức độ quan trọng về chính trị, nhưng trước các cuộc bầu cử, hầu hết các đảng chính trị trong các hệ thống dân chủ đều tung ra một số văn kiện tương đương với bản tuyên ngôn. 

321. Manipulation – Lèo lái. Biến tình hình thành lợi thế. Nhất là sử dụng các biện pháp mang tính thủ tục, ví dụ, thay đổi trật tự trong chương trình nghị sự hoặc luật lệ bầu cử, hoặc đưa ra những đề nghị mới, không phải vì những đề nghị này có giá trị mà nhằm chia rẽ liên minh thắng cử. 

322. Maoism – Chủ nghĩa Mao. Chủ nghĩa Mao, chủ yếu là tuân theo những tư tưởng trong Mao Trạch Đông ngữ lục, gọi là Tư tưởng của Mao Chủ tịch, là phiên bản cấp tiến của chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc trong giai đoạn nằm dưới quyền cai trị của ông ta. Chủ nghĩa Mao cũng được những người cấp tiến trên toàn thế giới quan tâm và vẫn tạo được ảnh hưởng đối với nhiều người theo phái cực tả ở Pháp, Đức và thậm chí ở Mỹ. Điểm quan trọng nhất của chủ nghĩa Mao là bác bỏ hoàn toàn quyền miễn trừ của đảng cộng sản cầm quyền trước những lời chỉ trích, và nhu cầu làm việc trực tiếp với và lắng nghe “nhân dân”. Chủ nghĩa Mao là học thuyết phản đối tầng lớp tinh hoa, bác bỏ không chỉ hệ thống cấp bậc trong tổ chức, mà còn bác bỏ ngay cả thẩm quyền của giới chuyên môn kỹ thuật. Do đó, chủ nghĩa Mao là Chủ nghĩa Marx dân túy, đối đầu trực tiếp với nguyên tắc tập trung dân chủ, và kêu gọi bác bỏ vĩnh viễn thẩm quyền. Chủ nghĩa Mao cỏn nhấn mạnh công xã và tổ chức các đơn vị kinh tế và xã hội quy mô nhỏ, thay cho các tổ chức quy mô lớn, trong đó đời sống cá nhân có tính riêng tư nhiều hơn. Đây là học thuyết có sức hấp dẫn đối với những người thiếu kiên nhẫn và vô chính phủ, không được những người muốn tiến dần từng bước một ưa chuộng, đấy là lý do vì sao nó lại được các sinh viên cách mạng ở Paris, năm 1968, ưa chuộng đến thế. Đối với Chủ nghĩa Cộng sản chính thống, Chủ nghĩa Mao là học thuyết cực kỳ nguy hiểm, giới lãnh đạo Trung Quốc, sau Mao và lãnh đạo các đảng cộng sản phương Tây và phương Đông đều tìm cách xóa bỏ nó. Về mặt kỹ thuật, đây là học thuyết không tưởng, nhưng hình thức diễn đạt của nó - do người viết sử dụng những câu cách ngôn cổ điển của văn hóa Trung Quốc - làm cho nó dễ thuộc, dễ nhớ hơn những biệt ngữ khó hiểu của chủ nghĩa Marx hiện đại. Vì Mao là người lãnh đạo cách mạng, muốn xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở đất nước nông nghiệp, chưa công công nghiệp hóa, cho nên chủ nghĩa Mao tạo được ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cộng sản trong Thế giới thứ ba, và đặc biệt là ở Châu Á.