July 19, 2021

THẾ KỈ XXI – THẾ KỈ CỦA TÂM LINH? Giới thiệu tác phẩm Chứng cứ về thiên đường

 

1.\

  Mở đầu



Eben Alexander (11/12/1953) là con nuôi của một chuyên gia phẫu thuật thần kinh đáng kính. Eben là thành viên của Hiệp hội Y khoa Mỹ; ông từng theo học tại Viện Phillips Exeter (1972), Đại học North Carolina tại Chapel Hill (1975), đại học Y khoa Duke rồi tham gia giảng dạy ở Bệnh viện Đại học Duke, Đại học Y Harvard, Đại học Y Massachusetts và Đại học Y Virginia. Hơn 25 năm làm bác sĩ phẫu thuật thần kinh, Eben thường xuyên tiếp xúc với các bệnh nhân trong trạng thái hôn mê sâu và tỉnh lại sau đó, rất nhiều người đã kể cho ông nghe về trải nghiệm cận tử, nhưng ông vẫn luôn nghĩ đó hoàn toàn chỉ là ảo giác khi não của họ gặp vấn đề. Cho đến khi ông rơi vào tình trạng: “vỏ não hoàn toàn ngừng hoạt động. Tôi đã bước vào thực tại của một thế giới nhận thức tồn tại hoàn toàn bên ngoài những giới hạn của thế giới vật chất”.

Tác phẩm này nói về trải nghiệm cận tử của một bác sĩ phẫu thuật thần kinh “đang hành nghề… có vị thế khá-hơn-trung-bình để xét đoán không chỉ thực tế mà còn hàm ý của những gì đã xảy ra đối với tôi”.

Nhưng xin hãy nghe Eben nói về một trải nghiệm trước đó của ông.

Lúc còn nhỏ, Eben thường mơ thấy mình biết bay. Cậu bé Eben thường mơ thấy mình tự động bay lên. Nhưng càng lên cao thì cậu càng nhận ra rằng hành trình của cậu phụ thuộc vào chính cậu, nếu quá phấn khích, quá chìm vào trải nghiệm thì sẽ rơi bộp xuống, còn nếu tỏ ra thoải mải, bình tĩnh đón nhận mọi chuyện xảy ra thì sẽ bay tiếp, càng lúc càng nhanh  về phía bầu trời đầy sao [Nhận xét, tương tự như lời giảng của các thiền sư: “Chớ mong cầu, cứ thuận theo tự nhiên”].

Trong thời gian học đại học Eben tham gia câu lạc bộ nhảy dù và đã có một trải nghiệm không bao giờ quên. Một hôm, họ nhảy dù tập thể, xếp hình. Đội nhảy dù lần này có 2 người mới, họ phải nhập vào đội hình. Nhưng 2 người này không có kinh nghiệm nên đã lao thẳng vào mấy người đã xếp vào đội hình ở bên dưới. 5 người trong đội hình liền rời nhau ra và nhào lộn không kiểm soát nổi. Họ quá sát nhau, mỗi người lại tạo ra ở phía sau luồng khí áp thấp vô cùng hỗn loạn. Và Chuck, một người bạn của Eben lao thẳng về phía anh. Eben viết: “Ở vận tốc đó, nếu tôi va vào chân hay tay của Chuck, tôi sẽ làm chúng đứt lìa, và chính mình thì bị một đòn chết người. Còn nếu tôi lao thẳng vào người anh thì về cơ bản 2 chúng tôi sẽ tan thây”.

Nhưng: “Ngay thời khắc … tôi liền hạ hai cánh tay xuống hai bên sườn và duỗi thẳng người trong tư thế cắm đầu xuống đất, cong người lại rất nhẹ ở phần hông… giúp tôi bay vèo quá Chuck.. Cứ như thể là khi đối mặt với một tình huống đòi hỏi khả năng phản ứng cao hơn thông thường, bộ não của tôi đã trở nên siêu việt”.    

NHẬN XÉT: Có lẽ hầu hết chúng ta đều đã từng trải qua tình huồng tương tự như thế, tất nhiên không phải là nhảy dù. Đấy có thể là cú ngã xe đạp, hay xe máy, hay một cú trượt chân trên thềm đá trơn trượt mà NẾU KHÔNG PHẢN ỨNG KỊP thì chắc chắn có sống cũng thành tật suốt đời. Nói chung, tôi nghĩ rằng hầu hết chúng ta đề đã trải qua hay chứng kiến những tình huống mà sau này nghĩ lại, chúng ta đều cho rằng TRỜI/PHẬT đã cứu…

Tác giả viết tiếp: “Tôi đã làm điều đó như thế nào? Trong suốt 20 năm trong nghề giải phẫu thần kinh.. tôi đã có vô vàn cơ hội để suy ngẫm về vấn đề này. Rốt cuộc tôi đã đi đến kết luận rằng đó là bởi vì bộ não thật sự là một bộ máy phi thường: phi thường hơn nhiều so với phán đoán của chúng ta… Bây giờ thì tôi nhận ra câu trả lời thật sự cho câu hỏi này sâu sắc hơn nhiều.. Cuốn sách  này viết về những sự kiện đã khiến tôi thay đổi quan điểm về vấn đề đó. Những sự kiện này đã thuyết phục tôi rằng, cho dù bộ não là một cỗ máy kỳ diệu đến như thế, nhưng điều CỨU SỐNG TÔI NGÀY HÔM ĐÓ CHẮC CHẮN KHÔNG PHẢI LÀ NÃO BỘ CỦA TÔI”.


Bác sĩ Eben Alexander


1.      Căn bệnh quái ác & Khó hiểu

Cuộc đời Eben Alexander, một bác sĩ tài ba, được xã hội trọng vọng, có vợ đẹp và 2 cậu con trai thông minh, một người 21 tuổi, đang học đại học, còn bé kia 10 tuổi, tưởng như cứ thế êm đềm trôi. Nhưng, 4 giờ rưỡi sáng ngày 10 tháng 11 năm 2008, ông bất ngờ bị một cơn đau dữ dội đến mức gần như không thể bước ra khỏi được bồn tắm…

Sau đó, ông bị “một cơn co giật động kinh nặng, chắc chắn được gây ra bởi một cú sốc nghiêm trọng nào đó ở não bộ.” Và “Trong 7 ngày sau đó, đối với Holley (vợ ông - PNT) và gia đình. Tôi chỉ còn là thân xác thực vật. Tâm trí tôi, linh hồn tôi- bạn thích gọi phần cốt lõi, phần nhân tính của tôi là gì cũng được – thì đã đi xa”. 

Người ta tiến hành lấy dịch não tủy của ông. “Dịch não tủy là một dịch lỏng, trong suốt, chạy dọc theo bề mặt cột sống và bao bọc bộ não, bảo vệ não khỏi tác động từ bên ngoài… bình thường mỗi ngày sản xuất ra khoảng nửa lít, và việc chất dịch bị giảm độ trong suốt dù ở mức độ nào đó cũng cho thấy bệnh nhân đã bị nhiễm trùng hoặc xuất huyết”.

Hiện tượng nhiễm trùng như vậy được gọi là viêm màng não (VMN) – lớp màng não, những lớp màng lót dọc phần bên trong của cột sống và hộp sọ, tiếp xúc trực tiếp với dịch não tủy bị sung lên. 4/5 trường hợp VMN là do virus… chỉ khoảng 1% tử vong. Tuy nhiên 1/5 trường hợp còn lại là do vi khuẩn gây ra… nguy hiểm hơn. Nếu không được chữa trị phù hợp, tỷ lệ tử vong từ 15 tới 40%.  

Một trong số những thủ phạm gây ra VMN ở người lớn ít gặp nhất là do E.coli gây ra. Con vi khuẩn này rất háu ăn và sinh sản rất nhanh (phân tách nhị phân), chỉ sau 1 giờ đã 1 phân thành 8, sau 12 giờ sẽ là 69 tỷ, sau 15 giờ sẽ là 35 nghìn tỷ.

Không bác sĩ nào nghĩ  rằng Eben bị VMN do mà E.coli là thủ phạm vì căn bệnh này cực hiếm gặp ở người lớn. Mỗi năm chỉ có 1 trên 10 triệu người mắc một cách ngẫu nhiên. Nhưng hóa ra Eben Alexander mắc chính căn bệnh đó. Chỉ 10% có may mắn sống sót, nhưng “nhiều người sẽ sống thực vật suốt phần đời còn lại”.

Bác sĩ Laura, người lấy dịch tủy sống của Eben, chứng kiến 2 bất ngờ: 1. Dịch không nỏ giọt mà phun ra – áp suất cao đáng báo động và 2. Dịch không phải là đục mà sền sệt màu trắng, hơi ngả màu xanh lục – dịch tủy sống của bệnh nhân đầy mủ.

Nhưng còn 1 điều ngạc nhiên nữa: “sau 2 giờ liên tục rên rỉ và gầm rú như súc vật, tôi trở nên yên lặng. Sau đó, chẳng hiểu từ đâu, tôi hét lên 3 tiếng một cách rành mạch:

-          “CHÚA, CỨU CON!” – Đấy là những từ cuối cùng ông nói trong suốt 7 ngày bất tỉnh.

“Mọi người lao đến cáng cấp cứu. Lúc họ đến nơi, tôi đã hoàn toàn bất động”  

Đây là khởi đầu 1 giai đoạn mới trong cuộc đời bác sĩ Eben Alexander.

Eben Alexander viết: “Trong các ca viêm màng não do vi khuẩn, vi khuẩn trước tiên sẽ tấn công lớp ngoài của não, hay vỏ não… Hãy hình dung 1 quả cam, bạn sẽ thấy lớp vỏ của nó là một mô hình khá giống với cách mà lớp vỏ não bao quanh các bộ phận nguyên thủy hơn của bộ não. Vỏ não chịu trách nhiệm về trí nhớ, ngôn ngữ, cảm xúc, nhận thức về âm thanh và hình ảnh và logic. Do vậy, khi một sinh vật như E.coli tấn công vào não, các vùng chịu trách nhiệm điều khiền các chức năng quan trọng nhất với việc duy trì phẩm chất người sẽ bị phá hủy trước tiên… Một dãy những máy theo dõi được đặt xung quanh giường để ghi lại mọi chuyển động bên trong cơ thể và bộ não gần như đã bị phá hủy hoàn toàn của tôi”.

Xin nhắc lại, Chỉ 10% có may mắn sống sót, nhưng “nhiều người sẽ sống thực vật suốt phần đời còn lại”.

Và 7 ngày tìm mọi cách chữa trị, nhưng Eben Alexander vẫn hôn mê, bác sĩ Scott Wade đành phải nói với vợ của ông: “Một tuần bất tỉnh với căn bệnh viêm màng não nghiêm trọng do vi khuẩn gây ra đã là vượt quá giới hạn của bất kỳ khả năng hồi phục khả dĩ nào. Trong hoàn cảnh này, có lẽ tốt hơn hết là chúng ta để mọi thứ diễn ra một cách tự nhiên”.

Nghĩa là, như sau này Eben viết: “Đã đến lúc để cho tôi được chết”.

Và trong khi người ta quyết định rằng nếu trong vòng 12 giờ nữa mà không có tiến triển nào thì họ sẽ ngừng các loại thuốc kháng sinh, vợ ông bắt đầu gọi điện để bảo cậu con trai lớn về nhà, thì ông bỗng nhiên mở mắt ra trước sự kinh hoàng của tất cả mọi người.

Eben Alexander đã đi đâu trong suốt 7 ngày hôn mê, với bộ não gần như đã bị phá hủy hoàn toàn

Thế giới Trên ấy


Người em gái mà Eben gặp trong trải nghiệm cận tử

Trong 7 ngày đó, tâm trí/linh hồn Eben Alexander đã đi qua 3 nơi mà ông gọi là “Vùng Quang cảnh của Giun đất”, “Cổng vào” và “Cốt lõi”.

“Cổng vào” được Eben mô tả là một “thứ gì đó vừa xoay vòng một cách chậm rãi, vừa tỏa ra những sợi ánh sáng như tơ mỏng màu vàng… mang theo một âm thanh sống, tựa như một bản nhạc đẹp đẽ nhất, phức tạp nhất, phong phú nhất”. Nó dẫn ông đến “một thế giới kỳ lạ nhất, đẹp đẽ nhất” mà ông “chưa từng thấy”. Đấy là thế giới “rực sỡ, sống động, ngây ngất, choáng ngợp…” và “có dùng một đống tính từ của ngôn ngữ con người thì nó vẫn chưa đủ để mô tả sự đẹp đẽ của thế giới đó.”

Eben viết: “ Nó là trái đất… nhưng đồng thời lại không là trái đất. Giống như khi bố mẹ bạn đưa bạn trở lại nơi bạn đã sống từ khi còn rất nhỏ. Nơi đó hoàn toàn xa lạ với bạn. Hay ít ra là bạn nghĩ thế. Nhưng rồi khi bạn nhìn xung quanh, có thứ gì đó níu lấy bạn, rồi bạn nhận ra đó là một phần bên trong mình – một phần ở rất, rất sâu – vẫn còn nhớ được nơi này, và hân hoan khi được quay trở lại nơi đây”.

Eben cũng nhìn thấy con người, động vật. “Người ta hát và nhảy thành những vòng tròn… tất cả đều ngập tràn niềm vui. Họ mặc những bộ quần áo đơn giản nhưng vô cùng đẹp đẽ.”

Rồi ông gặp và bay cùng “một cô gái xinh đẹp, với đôi gò mà cao và cặp mắt xanh lam sâu thẳm… Trang phục của cô gái mang trong chúng thứ sức sống sinh động đến choáng ngợp mà tất cả mọi thứ khác ở xung quanh đều sở hữu… Cô ấy nhìn tôi bằng ánh mắt mà chỉ cần nhìn thấy trong giây lát thôi cũng sẽ khiến cho cuộc sống của bạn cho đến thời điểm đó trở nên đáng sống, mặc cho chuyện gì xảy ra trước kia”.

GHI CHÚ: Sau này Eben mới biết rằng đấy là cô em gái cùng cha cùng mẹ - ông chưa từng gặp - một người phụ nữ vô cùng thánh thiện đã chết cách đó mấy năm.

Cô gái nói chuyện với Eben bằng “những thông điệp xuyên qua người” ông “như một cơn gió, mang đến tình yêu vượt lên trên tất cả những tình yêu khác nhau mà chúng ta biết đến trên trái đất này. Nó là thứ gì đó cao cả hơn, vừa chứa đựng tất thảy mọi thứ tình yêu còn lại, vừa chân thành, vừa thuần khiết hơn chúng”.

Thông điệp này gồm 3 thành phần, và nếu phải dịch ra thành ngôn ngữ của loài người thì sẽ là:

- Anh luôn luôn được yêu và trân trọng một cách tha thiết, vĩnh viễn.

- Anh không có gì phải sợ

- Anh không làm gì sai.

“Chúng tôi sẽ chỉ cho anh nhiều thứ ở đây”, cô gái nói, nhưng không phải bằng ngôn từ, mà bằng cách đưa thẳng cái tinh thần cốt tủy của những khái niệm đến với tôi .. “Nhưng cuối cùng anh sẽ phải quay lại”.

Eben tự hỏi: “Quay lại đâu?”

Kể về cái gọi là “Cốt lõi”, Eben mô tả rằng mình đang đi tới “một vùng khoảng trống bao la, tối mịt, vô hạn về kích thước, nhưng cũng lại êm dịu vô ngần. Dù đen kịt đến thế, nhưng lại ngập tràn ánh sáng: một thứ ánh sáng như thể phát ra từ một quả cầu rực rỡ”.

Tại “Cối lõi”, Eben cảm thấy mình đang ở trong một bào thai, bồng bềnh trong một nhau thai, giúp nuôi dưỡng nó và làm trung gian với “người mẹ” của ông. Người mẹ của ông ở đây “chính là Chúa, là Đấng Sáng Tạo, là Nguồn Sống chịu trách nhiệm kiến tạo ra vũ trụ và tất thảy những gì ở bên trong nó”. Ông cảm nhận được “sự bao la vô tận”, cảm nhận được “sự gần gũi, sự yêu thương vô điều kiện, toàn năng, toàn trí và không thể tả bằng lời” của Đấng Sáng Tạo.

Khi ở trong “Cổng vào”, Eben cho biết: “tôi không biết mình đã bay như vậy chính xác là bao lâu. Thời gian ở nơi này khác biệt với thời gian tuyến tính đơn giản mà chúng ta cảm nhận ở trái đất, và miêu tả về nó cũng vô vọng y hệt như miêu tả về những khía cạnh khác của nơi này.”

Tại “Cốt lõi”, nhiều lần Eben giao tiếp với Chúa mà ông gọi là Đấng Sáng Tạo thông qua một Quả Cầu Ánh Sáng. Đấng Sáng Tạo cũng cho Eben biết được rằng không chỉ có một mà có nhiều vũ trụ – nhiều hơn so với điều mà con người có thể hình dung – nhưng ở trung tâm của tất cả các thứ ấy là tình yêu.

Eben trông thấy sự phong phú của sự sống qua “hằng hà sa số vũ trụ, bao gồm cả những vũ trụ nơi trí tuệ đã vượt xa loài người”. Eben cũng trông thấy “vô số chiều không gian cao hơn… Thế giới của thời gian và không gian mà chúng ta di chuyển ở trên trái đất này được đan cài một cách chặt chẽ và phức tạp bên trong những thế giới cao hơn ấy.”

Tỉnh lại sau trải nghiệm cận tử, Eben cho rằng “bản thân bộ não không tạo ra ý thức”, nó giống như một cái van giảm áp hay máy lọc, có tác dụng điều chỉnh ý thức phi vật chất mà chúng ta có được trong những thế giới phi vật chất rộng lớn thành một loại ý thức có dung lượng hạn chế trong hiện thực cuộc sống nhỏ bé này.

Chính vì vậy, khi ý thức của Eben vượt ra ngoài thân thể, ông đã thu được những kiến thức về thiên nhiên và cấu tạo của vũ trụ, vượt trên rất nhiều khả năng hiểu biết trong thế giới này của ông, một cách tức thì và vô cùng dễ dàng.

Eben viết: “Dù cho khi lớn lên, tôi đã rất muốn tin vào Chúa và thiên đường cũng như kiếp sau, nhưng nhiều thập kỷ sống trong thế giới khoa học giải phẫu thần kinh nghiệm ngặt đã khiến tôi hoài nghi sâu sắc sự tồn tại của những điều này. Khoa học thần kinh hiện đại tuyên bố rằng bộ não là khởi nguồn của ý thức – của tâm trí, linh hồn, tâm linh, của cái phần vô hình, phi vật thể mà bạn muốn gọi là gì cũng được – là phần thật sự tạo nên chúng ta – và tôi đã không mấy nghi ngờ gì về lời tuyên bố này”.

Trải nghiệm cận tử đã làm cho Eben đã thay đổi những niềm tin bấy lâu nay của mình về khái niệm bộ não, về ý thức, thậm chí là về việc bản thân cuộc sống này mang trong nó ý nghĩa gì.

Khi Eben hăng hái chia sẻ những trải nghiệm của mình với mọi người, đặc biệt là các bác sĩ đồng nghiệp, nhưng đã có rất nhiều người thờ ơ trước câu chuyện của ông. Eben nhận ra rằng chính bản thân mình trước kia cũng có thái độ như vậy khi tiếp xúc với các trải nghiệm cận tử.

Tuy nhiên, với vai trò là một bác sĩ, Eben nhận thấy mình có nghĩa vụ phải kể lại câu chuyện của bản thân với hy vọng có thể giúp đỡ những người khác. Và có lẽ, không ai ở vị trí tốt hơn ông để làm điều đó.

Giải thích

Eben Alexander đã sử dụng kiến thức khoa học hiện đại để giải thích phần nào cho một trong những vấn đề hóc búa nhất mà khoa học chưa giải thích được: Ý thức. Ông trình bày một số  giả thuyết y khoa để giải thích cho trải nghiệm cận tử của mình, nhưng tất cả các giả thuyết trên đều không thể giải thích được nguyên nhân về trải nghiệm cận tử của chính mình – những trải nghiệm hết sức sâu sắc, ở mức độ hết sức tinh vi của thính giác và thị giác với những hình ảnh rõ ràng, đầy tính logic – trong khi vỏ não của ông đã được các bác sĩ xác nhận là hoàn toàn không hoạt động trong suốt 7 ngày hôn mê.

Chỉ còn 1 giải thích hợp lý duy nhất: Ý thức tồn tại độc lập với cơ thể

Ông tự tin nói rằng: khi còn ở “Cổng vào” và “Cốt lõi” thì thật ra ông cũng đang “làm nghiên cứu khoa học”, dù lúc đó ông không hay biết gì về thuật ngữ này. “Thứ khoa học dựa trên công cụ chân thật nhất và tinh tế nhất của mọi công trình nghiên cứu khoa học mà chúng ta sở hữu: Chính là bản thân ý thức”.

 “Việc theo đuổi thực tại cốt lõi của vũ trụ là bất khả thi nếu không dùng đến ý thức. Ý thức không hề là một thứ sản phẩm phụ và không quan trọng của các quá trình vật chất, nó không chỉ rất thật – thật ra nó còn thật hơn toàn bộ sự tồn tại vật chất còn lại, và rất có thể là thứ cơ bản nhất của mọi thứ.”

Eben tin rằng sự thống trị của các phương pháp khoa học chỉ đơn thuần dựa trên thế giới vật chất trong suốt hơn 400 năm qua đã tạo ra một vấn đề rất lớn: Chúng ta đã mất liên lạc với vùng đất bí ẩn sâu sắc nằm ở trung tâm của sự tồn tại – ý thức của chúng ta.

Mỗi người trong chúng ta đều quen thuộc với ý thức hơn bất kỳ điều gì khác, thế nhưng chúng ta hiểu về những phần còn lại của vũ trụ nhiều hơn rất nhiều những gì chúng ta hiểu về cơ chế hoạt động của ý thức. Ý thức quá gần gũi với chúng ta đến nỗi gần như nó mãi mãi vượt quá khả năng lĩnh hội của chúng ta.

Thật ra manh mối lớn nhất dẫn ta đến với thế giới tâm linh chính là thứ bí ẩn sâu sắc này – sự tồn tại của ý thức của chúng ta. Đây là một bí ẩn hoàn toàn vượt khỏi khả năng giải quyết của các nhà vật lý học hay các nhà khoa học thần kinh, và chính sự thất bại của họ đã che mờ mối quan hệ mật thiết giữa ý thức và cơ học lượng tử – và cùng với nó là mối quan hệ giữa ý thức và thực tại vật chất.

Ông viết:  “Khi ở thế giới bên trên kia, tôi đã khám phá ra rằng vũ trụ này vô cùng phức tạp và bao la, vượt quá khả năng miêu tả của mọi ngôn từ, và rằng ý thức chính là nền tảng của mọi thứ đang tồn tại. Tôi đã hoàn toàn kết nối với nó đến nỗi đa phần là không hề tồn tại sự phân biệt thực sự nào giữa “tôi” và cái thế giới nơi tôi đang ở.”

Khi ở thế giới bên trên kia, Eben đã “trải nghiệm được vai trò cơ bản của ý thức hay linh hồn, một cách tức thì đến choáng ngợp”. Điều thứ hai Eben trải nghiệm được là: “chúng ta – mỗi chúng ta – đều kết nối một cách sâu đậm và không thể tách rời với vũ trụ rộng lớn hơn. Đó mới chính là ngôi nhà thật sự của chúng ta, và suy nghĩ rằng thế giới vật chất này là tất cả những gì quan trọng chẳng khác nào tự nhốt mình vào một cái tủ nhỏ rồi tưởng tượng rằng chẳng còn gì khác ở bên ngoài kia nữa”.

Điều thứ ba Eben trải nghiệm được là: Sức mạnh chủ chốt của niềm tin trong việc tạo điều kiện cho “tâm trí chiến thắng vật chất”, điều này được thể hiện rõ ở hiệu ứng giả dược trong điều trị y học.

Trở về sau trải nghiệm cận tử, Eben phát hiện ra rằng cái vũ trụ bao la vĩ đại gấp nhiều này lần này chẳng xa xôi chút nào. Nó ở ngay tại đây, ngay bây giờ, nhưng chúng ta không nhận thức được nó bởi phần lớn con người đều bị tách biệt khỏi các tần số nơi mà nó biểu hiện.

Chúng ta sống trong các chiều không gian và thời gian thân thuộc, thu hẹp trong những giới hạn đặc thù của các giác quan và trong nhận thức thay đổi theo góc nhìn, trong phạm vi từ hạ nguyên tử cho đến toàn thể vũ trụ. Những chiều không gian này tự có rất nhiều thứ diễn ra ở bên trong, nhưng đồng thời chúng cũng đóng cánh cửa dẫn đến các chiều không gian khác cũng đang tồn tại song song với chúng ta.

“Từ lâu ta đã thấy rằng những câu hỏi liên quan đến linh hồn, kiếp sau, sự đầu thai, Chúa, và thiên đường là những câu hỏi khó có thể nào được trả lời thông qua các phương tiện khoa học thông thường – các phương tiện vốn đã luôn hàm ý rằng chúng có lẽ là không tồn tại”.

Eben cho rằng THỰC HÀNH TÍN NGƯỠNG và THIỀN ĐỊNH chính là các phương pháp giúp con người giải phóng ý thức ra ngoài thân thể của họ. Khi ý thức của con người rời khỏi thân thể, họ có thể giao tiếp với Thượng Đế – một trải nghiệm phi thường nhất mà con người có thể tưởng tượng được – nhưng cũng là một điều tự nhiên nhất. Bởi Thượng Đế hiện diện trong mỗi con người mọi lúc, toàn trí, toàn năng, gần gũi và yêu thương chúng ta vô điều kiện.

Nước Mỹ cực kì nhân văn

Vẫn biết rằng Mỹ là số 1, số 2 và cả số 3 nữa, nghĩa là khen Mỹ thì chỉ có mỏi dừ chỗ nói chuyện và khô hết cổ họng cũng chưa khen xong, nhưng đọc cuốn sách này vẫn phải khen thêm một lần nữa: Đấy là xã hội cực kì nhân văn. Muốn hiểu hết mức độ nhân văn của họ thì phải đọc cuốn sách này, bài viết chỉ xin trích một số đoạn chủ yếu.

Trong trường đoạn Điểm neo vào sự sống, Eben viết: “Đúng ra mà nói, tôi sẽ không thể nào thực hiện công việc của mình – tức là hằng ngày làm những việc tôi làm và nhìn thấy những thứ tôi thấy – mà không có sự hỗ trợ mang tính nền tảng là tình yêu và sự thấu hiểu mà gia đình dành cho tôi. Đó là lý do tại sao Phyllis (sau khi tham khảo ý kiến với cô chị Betsy) tối hôm đó đã quyết định hứa với tôi, thay mặt toàn thể gia đình. Khi ngồi đó, cầm lấy bàn tay yếu ớt, gần như không còn sức sống của tôi, cô em đã nói với tôi rằng cho dù có chuyện gì xảy ra đi nữa thì lúc nào cũng sẽ có một ai đó ở ngay đây, nắm lấy tay tôi. ‘Gia đình sẽ không để cho anh đi đâu, Eben à’, cô ấy nói. ‘Anh cần một điểm neo để giữ anh ở lại đây, ở lại thế giới này, nơi gia đình cần anh. Và gia đình sẽ cho anh điều anh cần’”. (trang 48-49). LƯU Ý QUAN TRỌNG: Bố mẹ Phyllis và Betsy nhận Eben là con nuôi và tình trạng của Eben thì đã tuyệt vọng).

Xin trích dẫn vài đoạn về cách cư xử với trẻ con.

Ở trang 22, Eben viết: “.. tôi chợt có ý nghĩ nếu cơn đau này là nghiêm trọng và tôi đúng là phải đi viện tôi có thể sẽ không gặp thằng nhỏ khi nó đi học về chiều ngày hôm đó. Dồn hết sức bình sinh, tôi thều thào: ‘Chúc con 1 ngày vui vẻ ở trường nhé, Bond’”.

Ở trang 126, Eben viết: “Quy định thông thường là chỉ có 2 người được phép ở trong phòng… Vào khoảng 6 giờ, Holley dịu dàng nhắc Bond là đã đến giờ về nhà ăn tối. Nhưng Bond không chịu… Vậy là trong suốt thời gian còn lại của buổi tối, lần lượt từng người vào thăm để Bond có thể ở nguyên vị trí của mình”.

Đọc những đoạn này, tôi tự hỏi: Ở VN người ta thường ứng xử như thế nào?

Rồi những đoạn vị mục sư và bạn bè cầu nguyện cho Eben, rất cảm động.

Một trường đoạn rất dài nói về việc Eben đi tìm cội nguồn của mình cũng rất cảm động và đầy tính nhân văn. Số là bang này cấm ngặt, không cho những thân nhân kiểu này tìm nhau. Nhưng Eben đã “lách” được luật và sau khi biết rằng cha mẹ ruột của mình, vì lí do nào đó, chưa muốn liên hệ với ông, ông đã rất buồn và bị trầm cảm trong 7 năm trời. Thế rồi Eben quyết định viết thư cho cô em ruột một lần nữa. Bức thư không một lời oán trách mà đầy tình thân ái, nhẫn nại, rất cảm động. Nhờ đó ông đã tìm được cha mẹ ruột và mấy người em cùng mẹ cùng cha với mình. Rồi ông viết: “Việc biết được rằng mình được yêu, ngay từ thuở lọt lòng bắt đầu chữa lành cho tôi theo một cách sâu sắc nhất mà người ta có thể hình dung. Tôi cảm thấy một sự trọn vẹn mà trước đây mình chưa từng biết”.

Cuốn sách này làm cho tôi nghĩ rằng đa số chúng ta, trong đó có tôi, dường như được sinh ra trong cảnh giới khác với những người được nói tới ở đây.

PHỤ LỤC: Một vài trích đoạn về Cốt lõi (Giúp những người tu tập thêm kiên định).

Trang 60: “… tôi đang ở một nơi toàn mây.. Cao hơn những đám mây ấy – cao đến vô chừng – là những quả cầu ánh sáng trong suốt, những sinh vật lấp lánh tụ thành từng đám, bay lượn thành hình vòng cung, để lại phía sau chúng các vệt dài tựa như những lá cờ dài

Là chim ư? Hay là các thiên thần? … Nhưng chẳng từ nào là đủ để diễn tả những sinh vật ấy – những sinh vật mà nói một cách đơn giản là khác biệt hoàn toàn với bất kì thứ gì tôi từng biết trên hành tinh này. Cao cấp hơn.

Một âm thanh lớn, ngân vang lên tựa như một bài thánh ca tráng lệ, từ bên trên bắt đầu vọng xuống, … phải chăng những âm thanh này xuất phát từ chính những sinh vật có cánh kia. Sau này nghĩ lại, tôi nhận ra rằng niềm hân hoan của những sinh vật ấy, khi chúng tung cánh bay vút cao lên bầu trời là quá đỗi lớn lao, đến nỗi chúng buộc phải thốt ra những âm thanh như thế - và nếu niềm hân hoan đó không được tuôn chảy ra bên ngoài theo cách này, làm sao chúng có thể chứa hết nổi thứ hân hoan ấy được”.

Trang 61: “Không có sự phân biệt giữa nghe và thấy ở nơi này. Tôi có thể nghe thấy vẻ đẹp của những hình thù lấp lánh ánh bạc của những sinh vật ở bên trên, và tôi có thể nhìn thấy được sự hoàn mỹ đang trào dâng và ngây ngất niềm hoan lạc trong lời hát của chúng”.

Trang 62: “Tôi tiếp tục tiến tới và thấy mình đang đi vào một khoảng trống bao la, tối mịt, vô hạn về kích thước, nhưng cũng lại êm dịu vô cùng. Dù đen kịt như thế, nhưng lại ngập tràn ánh sáng: Một thứ ánh sáng như thể phát ra từ một quả cầu rực rỡ mà lúc này đây, tôi cảm thấy được là nó đang ở ngay sát bên tôi. Một quả cầu ánh sang chứa đựng sự sống và gần như chất rắn, tựa như những bài hát của các thiên thần.

Trang 62-63: “Điều lạ lùng là. Tình thế của tôi lúc này tựa như là 1 bào thai ở trong tử cung.. Trong trường hợp này, người “mẹ” chính là Chúa, là Đấng Sáng Tạo, là Nguồn Sống, chịu trách nhiệm kiến tạo ra vũ trụ và tất thảy những gì ở bên trong nó. Đấng này gần gũi đến nỗi dường như không có chút khoảng cách nào giữ tôi và Chúa… Tôi sẽ thỉnh thoảng dùng từ Om làm đại từ thay cho Chúa…   nhưng tôi chắc chắn rằng Quả Cầu Ánh Sáng là “phiên dịch viên” giữa mình và hiện hữu phi thường xung quanh mình”

Trang 64: “Thông qua quả cầu ánh sang, Om nói với tôi rằng không chỉ có một mà nhiều vũ trụ - thật ra là nhiều hơn so với tôi có thể hình dung – nhưng ở trung tâm của tất cả chính là tình yêu ấy. Cái ác cũng tồn tại ở tất cả mọi vũ trụ khác nữa, nhưng chỉ với khối lượng vô cùng nhỏ. Cần thiết phải có cái ác bởi nếu không có nó thì ý chí tự do là bất khả và nếu không có ý chí tự do, sẽ không có phát triển – không có tiến bộ, không có cơ hội để chúng ta trở thành điều mà Chúa mong ước. Đôi lúc trong một thế giới như thế giới của chúng ta, cái ác dường như vô cùng uy lực và khiếp đảm, nhưng nhìn bao quát thì tình yêu vẫn hoàn toàn chiếm ưu thế và cuối cùng chính tình yêu sẽ chiến thắng”.

Trang 95: “tôi cũng biết được bằng trái tim mình rằng chia sẻ thông điệp cơ bản này – một thông điệp cơ bản đến nỗi hầu hết trẻ con đều chấp nhận ngay – là nhiệm vụ quan trọng nhất của mình”.

Trang 110-111: “Một trong những sai lầm lớn nhất mà người ta mắc phải khi nghĩ về Chúa là việc họ hình dung Chúa là điều gì đó xa lạ. … nghe có vẻ nghịch lý – Om cũng là “người” – thậm chí còn người hơn cả bạn và tôi. Om hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của loài người chúng ta một cách sâu sắc và gần gũi hơn những gì chúng ta có thể tưởng tượng được, bởi Om biết rằng chúng ta đã lãng quên điều gì và hiểu rằng sống mà lãng quên Đấng Linh Thiêng, dù chỉ là trong một khoảng khắc thôi, là một gánh nặng khủng khiếp ra sao”.

HẾT.

 

 

 

July 8, 2021

THẾ KỶ XXI – THẾ KỶ TÂM LINH? - Giới thiệu tác phẩm Những sai lầm thiên niên kỷ của nhân loại của Võ Xuân Tòng

 



Chương 1. Những hiện tượng siê nhiên liên quan trực tiếp đến con người tạo thành yếu tố mới, dẫn đến nguyên lý mới.

1.      Những tổn thương của não người và não động vật. Nghiên cứu những tổn thương của não người và não động vật cho thấy não không phải là bộ chỉ huy, kho nó rơi vào trạng thái hư hỏng đến mức phá hủy mà con người vẫn sống, vẫn tư duy. Tác giả kết luận: Não chỉ là bộ phận phụ cho một trung tâm khác, gọi là Center C.

2.      Cực khóai mà không cần điều kiện. Cực khóai mà không cần điều kiện là bằng chứng cho thấy có những chương trình tiện ích, phần mềm sung sướng được cài sẵn ở đâu đó mà không cần Linga vàYoni để đạt cực khoái.

3.      Thần đồng trong nhiều lĩnh vực. Kiến thức của các thần đồng kì lạ tới mức không thể nào hiểu được nếu không giả định rằng trí tuệ đã có sẵn trong mỗi người.

4.      Các trường hợp tái sinh đã được nghiên cứu.

5.      Hóa thân của các Lama Tây Tạng.

6.      Hiện tượng trùng ngày sinh.

7.      Ý thức trong vô thức.  Ý thức trong vô thức là khi bị chấn thương dẫn tới thay đổi ngôn ngữ…

8.      Xá lợi. Trường hợp điển hình là HT Thích Quảng Đức: Ngài không hề đau đớn khi bị cháy, trái tim Ngài không cháy..

9.      Những công trình nghiên cứu về linh hồn. Tác giả liệt kê nhiều công trình nghiên cứu từ năm 1901 cho tới nay.

10.  Ngoại cảm. Ngoại cảm và công năng đặc dị phản ánh sự tồn tại của thần thông, tác giả gọi là Hệ thống giác quan thức 2 (CQ2), trong khi những người bình thường chúng ta chỉ có HT GQ thức nhất (CQ1).

11.   Những bí ẩn chưa có lời giải trong tác phẩm Loài tinh tinh thứ 3.

KẾT LUẬN: Từ 11 hiện tượng thần bí nói trên, chúng ta có thể rút ra 24 yếu tố mới để xây dựng nguyên lý mới làm nền tảng cho một khoa học mới – Khoa học tâm linh.

Tác giả còn nhận xét: Người ta chỉ sử dụng khoảng 10% năng lực của não bộ. Xin nói thêm, não chỉ chỉ chiếm 2% trong lượng cơ thể nhưng sử dụng tới 20-25% năng lượng mà chúng ta nạp vào mỗi ngày. Ông Trời/Chúa/Tự Nhiên rất tiết kiệm, các Ngài không bao giờ để cho 90% bộ não không hoạt động mà sau bao nhiêu ngàn năm nó không teo đi. Phải chăng 90% bộ não của chúng ta là để chứa thông tin về những kiếp trước?

Chương 2. Bằng chứng tường minh về sự tồn tại của thần thức (linh hồn)

1.      Bằng chứng thứ nhất: Thông tin

Căn cứ vào khả năng ngoại cảm của các nhà ngoại cảm đã được Viện nghiên cứu tiềm năng con người kiểm tra. Chính tác giả đã tham gia tìm hài cốt ông ngoại của mình.

Phương pháp như sau: Nhà ngoại cảm (NNC) liên lạc với linh hồn để người sống và người chết nói chuyện với nhau, nhận nhau. Sau đó NNC hướng dẫn người nhà đi tìm mộ thân nhân, NNC có thể ở cách xa hàng trăm cây số nhưng vẫn hướng dẫn chính xác vị trí để đào mộ.

Một phương pháp khác là áp vong: Vong nhập vào một người nào đó, không phải NNC.

2.      Bằng chứng thứ 2: Lực tác động

a.       Ở đây là kiểm tra thông tin của NNC hay vong. Phương pháp như sau: Đặt quả trứng lên đầu chiếc đũa cắm cạnh nơi được cho là có hài cốt và xin linh hồn xác nhận. Quá trứng có thể đứng yên trong thời gian khá dài mặc cho gió, con trùng, có trường hợp dưới trời mưa.

b.      NNC dùng 2 thanh đồng đặt hờ trên long bàn tay và đề nghị linh hồn tác động làm que đồng xoay cùng hướng và NNC dựa vào đó để chỉ địa điềm hài cốt đang nằm.

 

3.      Bằng chứng thứ 3: Hình cầu ODL (orb of dark light) mà tác giả cho là linh hồn. Hình đính kèm được cho là ODL hay Ma Trơi – nguồn Internet.

 

ODL hay trong dân gian vẫn gọi mà Ma Trơi. Các ODL có đặc điểm là di chuyển liên tục, nhảy múa, tách ra nhập vào… và có mặt khắp nơi. Điệu nhảy của chúng lặp đi lặp lại và đều đặn theo nhịp như sau: hai đốm lửa cách nhau một khoảng gần, trước tiên chúng nhảy tại chỗ hai lần, đến lần thứ ba chúng nhảy lại gần nhau; tiếp theo chúng lại nhảy tại chỗ hai lần và cuối cùng, chúng nhảy lên lao vào nhau rồi biến mất. Một lúc sau, chúng lại xuất hiện, khoảng cách giữa hai "con ma" và điệu nhảy lại được lặp lại, cứ như thế hai cái bóng nhảy đối xứng và đều nhau từ giờ này qua giờ khác. Tuy nhiên, khoa học&công nghệ chưa cho phép liên hệ trực tiếp với ODL để xác nhận danh tính. 

 

Tác giả đã chụp được khoảng 12.000 bức ảnh và 1 doanh nhân cung cấp 1 video clip dài 40 phút ghi lại những ODL này. Nhưng khác với lời đồn trong dân gian, ODL xuất hiện cả trong nhà, cả trên đường phố, và có khi bám ngay vào người. Máy ảnh kĩ thuật số có thể dễ dàng chụp được, camera an ninh gia đình có thể cũng ghi được hình ảnh của Ma Trơi. Tác giả cho rằng ODL hay Ma Trơi là những linh hồn đang đợi chuyển sinh

Chương 3. Những căn cứ để đi đến kết luận về ODL (linh hồn)

1.      Phật pháp mà tác giả gọi là TheB (B ở đây là Budda – Đức Phật).

Albert Eistein viết: “Nếu có một tôn giáo nào đó đương đầu được với nhu cầu (có lẽ là đòi hỏi?) cua KH hiện đại thì đấy là Phật giáo… Phật giáo bao trùm khoa học cũng như vượt xa khoa học”. Sau khi nghiên cứu khoảng 3 năm, TXV đi đến kết luận: Đức Phật là nhà KH tự nhiên vĩ đại nhất vì:

a.       TheB được Đức Phật soạn riêng cho loài người trên trái đất.

b.      TheB là tài liệu có sẵn trong vũ trụ, do các vị Phật qua nhiều chu kì làm ra. Các vị Phật và Bổ tát có nhiệm vụ làm cho cư dân trong vũ trụ hiểu được TheB.

c.       Trong vũ trụ có 1 nhóm gồm 16 ông Phật, các vị Phật này có trách nhiệm thuyết pháp ở 9 vùng vũ trụ. Đức Phật Cồ Đàm ở đại galaxy Taba, trong có có 5 loài chúng sinh là súc sinh, người, hương linh (ngạ quỷ), Atula, trời.

d.      Những cư dân mà tác giả gọi là RMW là những kẻ còn quyến luyến hạ giới, bị Đức Phật gọi là Ngạ Quỷ.

e.       Có nhiều loài người trong vũ trụ, cư ngụ trên những tinh cầu treo lơ lửng trong hệ thái dương.

f.        Loài người có phần hữu hình (body) và vô hình (soul); loài hương linh chỉ có phần vô hình, bay lơ lửng xung quanh trái đất gọi là RMW; loài Atula ở cao hơn, loài trời ở tầng 26. Những lòai vô hình có thân hình tỏa sáng, bay trong hư không. Phần vô hình của loài người bắt nguồn từ loài trời ở tầng 12. Loài người có đặc tính là dũng mãnh và nhớ dai vì vậy có thể tiếp thu được TheB. Các loài chúng sinh có thể chuyển hóa lẫn nhau, đây là đặc tính cơ bản của toàn vũ trụ: sau khi mệnh chung, thần thức (linh hồn) thoát ra và đầu thai vào 1 trong 5 loài chúng sinh, tùy theo nghiệp đã tạo ra từ kiếp trước.

g.      TheB có 3 phần chính và 1 phẩn phụ. Phần chính quan trọng nhất là thoát khỏi vô minh và giải thoát, trong đó có Tứ diệu đế.

h.      TheB có những trùng khớp cơ bản chính xác với KH hiện đại

i.        TheB có những kiến thức vượt KH ngày nay như: Phương pháp nghiên cứu KH “tứ thần túc” (thiền định), liên lạc trong không gian vũ trụ, di chuyển trong không gian vũ trụ, Ánh sang tối, vật chất tối, vô minh và giải thoát…

j.        Một trong những nguyên nhân làm cho loài người không coi TheB là công trình KH là do không thức hành thiền định.

ĐÁNG TIẾC LÀ Ở ĐÂY, cũng như ở nhiều phần khác không thấy tác giả dẫn nguồn để tiện tra cứu.

Sau khi đưa ra thêm một số bằng chứng về ODL (linh hồn) từ các chân sư Ấn-Tạng, các nhà ngoại cảm, các nghiên cứu cận tử tác giả viết tiếp trong chương 4.

Chương bốn: Một số hệ quả rút ra từ nghiên cứu

I-Định nghĩa mới về sự sống: Có hai sự sống, sự sống sinh học Biolife (tạo nên thể hữu hình của thực vật, động vật, con người), và sự sống vật lý Phylife (tạo nên cơ thể của chúng sinh vô hình).

II-Định nghĩa mới về con người: Căn cứ định nghĩa mới về sự sống, tác giả xây dựng định nghĩa mới về con người. Nôm na có thể nói, sự kết hợp hai dạng sống biolife và phylife trong một con người là một “sáng tạo” của vũ trụ, xuất phát từ sai lầm “chết người” của những vị trời-Abhassara.

III-Định nghĩa mới về não: Bằng chứng về những tổn thương về não khiến não không thể trở thành một trung tâm điều khiển & tư duy. Não chỉ có thể là một bộ phận phụ liên kết với một “trung tâm điều khiển & tư duy” khác (center.C – ODL). Nếu chúng ta coi hệ thống “Não – center.C” là một siêu máy tính, thì não là: RAM (RAM-modules trong CPU của máy tính).

IV-Định nghĩa mới về cái chết của con người (không có cái chết): Căn cứ khái niệm mới về sự sống, con người, não... Tác giả xây dựng định nghĩa về cái chết của con người và cái chết trong y khoa: Không có cái chết của con người, chỉ có cái chết của thể xác. Thời điểm chết của thể xác là thời điểm chuyển hóa MASB của linh thể. Cái chết của thể xác trong y khoa trước đây dựa trên cái chết não và tim ngừng đập, là cái chết không tính đến sự có mặt của linh thể, do đó nó không phù hợp với thực tế, dẫn đến những cái chết oan.

V-Định nghĩa về triết gia: Khi xem triết học là khoa học của mọi khoa học, hay triết học phải đi trước khoa học, thì triết gia phải là nhà khoa học ở tầm vũ trụ. Triết học là chân lý, thì triết gia phải là người thấu hiểu sự vật và hiện tượng ở cả hai phần tự nhiên & siêu nhiên (hữu hình & vô hình). Do đó có thể nói, triết học được xây dựng từ những triết gia không am tường vật lý chỉ là những ý kiến (triết lý) cá nhân. Những ý kiến cá nhân này phần nhiều là sự ngộ nhận; khi được nâng thành tư tưởng và triển khai vào thực tế sẽ dẫn dắt nhân loại đến sai lầm. Tất yếu dẫn đến:

“VI-Khủng hoảng triết học đầu thế kỷ XXI và sự xuất hiện của minh triết”.

VII-Bẩy sai lầm thiên niên kỷ của nhân loại:

Ngoài 6 sai lầm thể hiện từ mục “I đến VI” của Chương bốn vừa nên trên. Sai lầm (thứ 7): “Không nhận ra TheB là một công trình khoa học tự nhiên (vĩ đại nhất) là sai lầm lớn nhất của loài người. Kể từ nay, TheB cần được coi là một công trình khoa học, đức Phật là một nhà khoa học tự nhiên lớn nhất mọi thời đại”.

 

VIII-Câu trả lời về “ufo-orb”: Là câu trả lời về ODL

IX-Phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc: Là phương pháp có từ xa xưa, theo nguyên tắc thuận theo tự nhiên, phòng bệnh ngay từ khâu ăn uống hằng ngày.

 

X-Can dự của thế giới tâm linh với nhân loại: Thiên hạ đồn rằng “Thế kỷ XXI là thế kỷ của tâm linh”: Đây là chuyện hoang đường hay sự thật? Nghiên cứu của tác giả cho thấy, đây là sự thật, vì:....

XI-Bài học lớn nhất: Sau khi có được ba trải nghiệm trong đời, chứng thực linh hồn là điều có thực; tác giả tiếp cận TheB, và nhận ra những sai lầm thiên niên kỷ của nhân loại. Sai lầm này không ở đâu xa, nó nằm ngay trong nhận thức của con người, có ở bạn và có ở tác giả. Sau khi nhận thức lại đúng đắn, tác giả đưa ra những đề xuất và kiến nghị để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu sâu hơn những vấn đề đã được tác giả đề cập trong tác phẩm “Những sai lầm thiên niên kỷ của nhân loại”.

▪ Phần phụ lục có dung lượng hơn 1/3 tác phẩm, là những bằng chứng thực tế, kết quả khảo sát khoa học, tư liệu NCKH của tác giả và tài liệu tham khảo (hơn 200 đầu sách và hàng nghìn trang tài liệu).

Đây là cuốn sách dành cho những người tìm kiếm tâm linh và kết luận mà tôi (PNT) rút ra là: DÙ BẠN CÓ LÀ AI THÌ MỖI NGÀY CŨNG NÊN HÀNH THIẾN.

April 30, 2021

HÃY ĐỂ NGÀY ẤY LỤI TÀN (nhân ngày 30 tháng 4 năm 2021)

 1. Trùng trùng duyên khởi

Nhân 20 năm ngày mất Trịnh Công Sơn, đó đây lại có những bài chê trách người nhạc sĩ tài danh là phản bội miền Nam. Rồi sắp tới 30 tháng 4, lại thấy có những bài viết thanh minh hay lên án Hoàng Phủ Ngọc tường và một vài người khác. 

Xin hỏi: Sao không để cho những ngày ấy lụi tàn?

Xét cho cùng, trong những năm 1950, 1960 phong trào cánh Tả làm mưa làm gió trên toàn thế giới; nước nào cũng có ĐCS, có nước tới 2, 3 ĐCS, ở Ý và Pháp phong trào CS có lúc đã làm nghiêng lệch cả bàn cân chính trị, ĐCS Pháp từng ban hành cương lĩnh chuẩn bị cấm quyền và hi vọng là sẽ giành được quyền lực bằng con đường nghị trường.

Có thời những bộ óc siêu việt như Jean-Paul Sartre, Bernard Shaw, Betrand Russell… còn tin rằng CS là tương lai của nhân loại. Có người còn nói: “20 tuổi mà không yêu cộng sản là không có tim” thì những người như Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhiều người khác ngả theo CS cũng có gì là lạ. 

Nó là trùng trùng duyên khởi. Sự thể lúc đó như thế và người ta đã hành động như thế.

Nhưng họ không phản bội miền Nam.

Họ đâu có biết rằng đời sống ở VNCH sung  sướng hơn, ấm no hơn, tự do hơn đời sống ở VNDCCH. Họ thấy các quan chức VNCH tham nhũng, còn quan chức CNDCCH, dù có thể là những kẻ chẳng ra gì, nhưng lại là những người gần dân và có đời sống mà nhìn bên ngoài thì đạm bạc, thanh bần. Họ đâu có biết rằng tham nhũng quyền lực mới là tham nhũng bỉ ổi nhất, xấu xa nhất.

VNDCCH cũng không hứa hẹn với họ tiền bạc hay địa vị cao sang. Nó chỉ hứa rằng nếu ở đô thị thì sẽ phải chịu hơi cay và dùi cui, còn “nhảy núi” thì đói rét, bệnh tật, bom đạn và chết chóc.

Thiết nghĩ, sai lầm của họ cũng là sai lầm của cả nhân loại, của cả thời đại. Lương tâm tự cắn rứt cũng đủ khổ rồi.

2. Chiến tranh kết thúc càng nhanh càng tốt

Các nhà lãnh đạo VNDCCH không chấp nhận kết quả của 9 năm kháng chiến và Hiệp định Geneva. Lê Duẩn ở lại miền Nam. Nhiều cán bộ to ở lại. Nhiều điệp viên tài năng đã được cài lại và được đào tạo để chuẩn bị cho chiến lược rất lâu dài về sau. Chỉ xin kể mấy nhân vật nổi bật: Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Nguyễn Đình Ngọc… và tất nhiên, bên dưới những người này phải là mạng lưới liên lạc viên dày đặc và rất trung thành. Phải công nhận rằng, về mặt này, CS là những người rất có chiến lược và rất bài bản. (Bài bản đến mức ấy thì ông HCM có thể là anh thiếu tá HQ người Tàu cũng không có gì lạ). Chỉ tiếc là trong hòa bình họ lại không được như thế.

VNCH không có chiến lược nào như thế. Nếu có cũng không thể hoạt động được ở miền Bắc.

Năm 1959 ĐCS VN ra nghị quyết 15: “giải phóng miền nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến…”. Các đơn vị mở đường Trường Sơn vào Nam xuất phát vào ngày 19 tháng 5 năm 1959.

Như vậy, Chiến tranh Đông Dương lần thứ II là do CS Bắc Việt chứ không phải Mỹ, Liên Xô hay Trung Quốc phát động. Sau đó, những nước vừa kể đã biến cuộc chiến tranh này thành chiến tranh ủy nhiệm lại là chuyện khác.

Cũng trong thời gian đó, xung đột Tư bản&XHCN đã nổ ra ở nhiều nước, ví dụ, Thổ Nhĩ Kì, Hi Lạp, Indonesia, Chile… nhưng ở những nước đó mọi thứ đều kết thúc rất nhanh. Chỉ có ở VN người ta mới tin:

Vui gì hơn làm người lính đi đầu.

Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa.

 Chỉ có ở VN mới có những bà mẹ:

Mẹ đào hầm, mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh.

Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc

Mẹ vẫn đào hầm

 Chiến tranh kéo dài rất lâu. Quyết tâm của lãnh đạo miền Bắc không hề thay đổi. Dân chúng miền Bắc cũng vẫn tin tưởng như cũ:

 Thóc không thiếu một cân

Quân không thiếu một người

 Cùng với ý định của Mao Trạch Đông: “Đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”

 Tất nhiên là còn nhiều nguyên nhân khác nữa, nhưng chỉ cần nhìn vào mất nguyên nhân “quốc nội” như thế, chúng ta có thể kết luận: VNCH nhất định phải thua VNDCCH. Nội chiến mà đã chắc chắn là thua thì thua sớm ngày nào đỡ khổ ngày đó. Thua sớm ngày nào thì hệ lụy đi kèm với nó như tập trung cải tạo, kinh tế mới, thuyền nhân cũng chấm dứt sớm ngày đó.

Như vậy, đối với tôi, tất cả những hành động không làm chết người, mà giúp chấm dứt chiến tranh đều là hành động tốt. Thua nhanh thì kiếp nạn chấm dứt nhanh, thua chậm thì kiếp nạn chấm dứt chậm. Thế thôi.

Suy cho cùng, tất cả các dân tộc, cũng như tất cả các cá nhân, đều phải gánh chịu tất cả nghiệp chướng của mình.





Chấp kinh & Tòng quyền

Theo ngôn ngữ hiện đại, “chấp kinh” nghĩa là làm đúng theo nguyên tắc, còn “tòng quyền” là tùy cơ ứng biến. “Chấp kinh” đối với người con gái là giữ “chữ trinh”, còn với người lính là “chết vinh hơn sống nhục|”. Nhưng Truyện Kiều còn có câu: “Trong cơn ngộ biến tòng quyền biết sao”, lại cũng có câu: “Có khi biến, có khi thường/Có quyền, nào phải một đường chấp kinh”.  Nhị độ mai cũng có câu: “Chấp kinh nếu chẳng tòng quyền/Sợ khi muôn một chu tuyền được sao”.

Người lính nào khi ra trận cũng thề chiến đấu tới viên đạn/giọt máu cuối cùng, nhưng đứng trước tình huống, khi mà mọi sự thắng thua đã an bài, bắn thêm vài phát đạn nữa sẽ chỉ làm cho mẹ mình hay mẹ của vài người lính phía bên kia đau lòng thì nhiều người tỉnh táo sẽ tòng quyền, nghĩa là chấp nhận kết quả đã được an bài. Tôi kính trọng những người bắn đến viên đạn áp chót và dành viên cuối cùng cho chính mình, nhưng cũng hết sức thông cảm với những người chấp nhận kết quả đã được an bài.

Còn nhớ. Trong Thế chiến II, quân đội Pháp rút lui chứ không tử thủ ở Paris. Nếu họ tử thủ thì chúng ta có còn Paris hoa lệ như ngày nay hay không? Cũng trong Thế chiến II, chính phủ Mỹ không bắt lỗi những người lính đầu hàng quân Nhật khi mặt trận Thái Bình Dương bị vỡ.

Nếu ngày 30 tháng 4 năm 1975, tướng Dương Văn Minh và tướng Vĩnh Lộc không kêu gọi binh sĩ buông súng mà kêu gọi họ tử thủ thì Sài Gòn sẽ ra sao? Hơn nữa, nếu tướng Dương Văn Minh nghe theo viên đại sứ Pháp, rút về vùng 4 chiến thuật để đợi quân Trung Quốc can thiệp thì nước ta giờ ra sao?

Truyền thuyết kể rằng, đạo quân trên đường đánh chiếm cố quốc của Đức Phật đã đi ngang qua chỗ Ngài đang ngồi thiền, nhưng Ngài vẫn bất động. Người sau bình luận rằng Đức Phật hiểu rõ lý nhân quả; nhân duyên của nền độc lập quốc gia còn thì quốc gia còn độc lập, nhân duyên hết thì nền độc lập quốc gia cũng phải chết theo.

Bám mãi vào cái thực thể mà nhân duyên cho sự tồn tại của nó đã tan rã từ cách đây 46 năm có phải là tự làm khổ mình, khổ người hay không?

P/S: Dường như những người hiện nay vẫn kêu gọi “chết vinh hơn sống nhục” trong ngày 30 tháng 4 cách đây 46 năm lúc đó còn trẻ chưa được khoác áo lính hoặc cũng đã bỏ súng, bỏ áo chạy lấy người.

Bàn về hòa giải

Hai người bạn/hàng xóm đánh/cãi nhau, muốn hòa giải thì trước hết, mỗi người đều phải công nhận rằng mình có sai, thậm chí một người hoàn toàn không có gì sai cũng phải hạ mình xuống mà nói rằng: “Hôm ấy đúng là tôi nóng nảy quá, tôi cũng có sai, xin lỗi nha”.

Hai nhóm người từng đánh/cãi nhau thì cũng thế.

Truyện Kiều có câu: “Mà trong lẽ phải có người có ta”. Dù ta có phải tới 99%, thì cũng còn 1% dành cho phe kia. Ta giữ lẽ phải 100% thì có thể hòa giải được hay không?

Hỏi là đã trả lời. Hỏi tiếp: Độc quyền chân lý thì có thể hòa giải với đối phương được hay không?

Hỏi cũng là đã trả lời.

Hỏi tiếp: Không hòa giải được với Nguyễn Thúy Hạnh, Huỳnh Ngọc Chênh, với mẹ con bà Cấn thị Thêu, với LS Lê Công Định… thì làm sao hòa giải với những người đã từng cầm súng ở bên kia chiến tuyến?

Từ “hòa giải” trong miệng kẻ nắm độc quyền chân lý phải được dịch thành: “đầu hàng vô điều kiện, trong im lặng và cam chịu”.

Cho nên điều kiện tiên quyết để có hòa giải chân thành và toàn diện là chế độ dân chủ pháp quyền và đa nguyên.

Đa nguyên để mọi ý kiến, mọi quan điểm đều được chấp nhận. Cũng tức là: “Mà trong lẽ phải có người có ta”.   

Chế độ dân chủ pháp quyền là để mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, người nào giỏi làm kinh tế thì sẽ giàu, người nào giỏi làm chính trị thì lãnh đạo (có thời hạn, theo luật định).

P/S: Bức thư của ông Hữu Thỉnh gửi ông Phan Nhật Nam chỉ là 1 kiểu dân vận/địch vận mà thôi. Ông Phan Nhật Nam đã nhận ra và từ chối. 

 Hết.