July 14, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (19)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 18 

CÁC MỐI QUAN  HỆ 

 

Vì các mối quan hệ gắn bó mật thiết với những ham muốn cơ bản về tình yêu và an toàn, chúng lập tức khơi dậy những cảm thọ sâu kín nhất của chúng ta. Vì lý do đó, các mối quan hệ này là vô cùng quý giá, không phụ thuộc vào việc chúng được đánh giá là tốt hay xấu. Trong quá trình giải phóng về mặt cảm xúc, mọi thứ đều có giá trị như nhau. Cần phải nhắc nhở chính mình rằng cảm thọ là những chương trình; nghĩa là, chúng là những phản ứng mà chúng ta học được và thường là có mục đích nào đó. Mục đích đó liên quan trực tiếp đến việc tạo ảnh hưởng lên cảm thọ của người khác và bằng cách đó, tạo ảnh hưởng tới cảm thọ của họ đối với chúng ta và hoàn thành những mục tiêu bên trong của chính mình.

Chúng ta sẽ xem xét các phản ứng mang tính cảm xúc phổ biến và khảo sát mục đích thực sự của chúng. Phản ứng mang tính cảm xúc không liên quan gì tới tình yêu, vì tình yêu là trạng thái hòa hợp với người khác. Tình yêu không chỉ là cảm xúc đến rồi đi. Cái thường được coi là tình yêu trong hiểu biết thông thường của con người chủ yếu là gắn bó, phụ thuộc và chiếm hữu. 

Cảm thọ tiêu cực

Như chúng ta sẽ thấy, tất cả các cảm xúc đối tới người khác đều liên quan đến niềm tin cơ bản rằng chúng ta không trọn vẹn trong chính bản thân mình và do đó, người khác được coi và được sử dụng như phương tiện để đạt được mục đích. Mặc dù chúng ta có thể không thể tạo ảnh hưởng tới người khác theo cách mình muốn, việc sử dụng người khác vẫn diễn ra ở tầng tưởng tượng và kỳ vọng. Chúng ta cũng khám phá được rằng phần lớn những gì chúng ta trải nghiệm trong quan hệ chỉ xảy ra trong trí tưởng tượng của chúng ta. Xin bắt đầu với những cảm xúc tiêu cực nhất; chúng ta sẽ khám phá mục đích tiềm ẩn của chúng và phản ứng có thể xảy ra của người kia. 

Tức giận

Những cảm thọ đầu tiên mà chúng ta bàn tới là những cảm thọ tiêu cực nhất: căm thù, ác ý, tức giận, phẫn nộ, trả thù và bạo lực. Rõ ràng là ảo tưởng bên dưới là loại bỏ, xua đuổi, giết, phá hủy, làm tổn thương, làm cho đau đớn, doạ nạt và đe dọa. Phản ứng có thể xảy ra của đối phương là tránh né, căm ghét và phản công. Tức giận nhẹ nhàng hơn được thể hiện như là chỉ trích, phê phán, oán hận, hờn dỗi, uỷ khuất và phán xét tiêu cực về người khác. Mục đích về mặt cảm xúc là trừng phạt người khác, buộc họ phải cảm thấy hối hận, tìm cách ép buộc họ thay đổi cảm thọ hoặc hành vi, làm cho họ đau khổ, trả đũa, làm giảm giá trị và hạ thấp họ. Điều này, tất nhiên, cũng dẫn đến phản ứng của đối phương là chỉ trích ngược lại, oán hận ngược lại và tránh né.

Muốn xử lý vấn đề này thì phải nhận ra rằng hầu hết mọi người đều có những ảo tưởng như thế. Lảng tránh vấn đề, nghĩ rằng chúng là xấu hoặc chúng ta là người có lỗi, thì sẽ không giải quyết được. Chúng ta phải có đủ can đảm để đối mặt với những cảm thọ tồi tệ nhất của mình, thừa nhận rằng chúng là một phần của bản chất con người, và nhớ rằng chúng ta chỉ chịu trách nhiệm về những gì mình làm với những cảm thọ đó. Rõ ràng là những cảm thọ tiêu cực này gây ra những tổn thất rất lớn về mặt tinh thần cho chính chúng ta. Chỉ riêng lý do này thôi cũng đủ để chúng ta nhìn nhận và buông bỏ những cảm thọ đó rồi.

Nhìn vào cảm thọ ở tầng các mối quan hệ giữa người với người, chúng ta còn khám phá ra một quy luật khác của tâm thức. Cảm thọ và suy nghĩ của chúng ta luôn luôn ảnh hưởng đến người khác và ảnh hưởng tới các mối quan hệ của chúng ta, dù những suy nghĩ hay cảm thọ này có được nói ra, được thể hiện ra hay không. Ở điểm này, chúng ta sẽ không đi sâu thảo luận về cơ chế chính xác của hiện tượng này, nhưng hiện nay đây là lĩnh vực nghiên cứu của vật lý lượng tử cao cấp hiện đại, đặc biệt là lĩnh vực liên quan đến các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao và quan hệ của chúng với các suy nghĩ và các hình thức tư duy.

Từ trải nghiệm của chính mình, chúng ta có thể dễ dàng cảm nhận được sự thật của quy luật tâm thức này. Ví dụ, chúng ta vẫn thường biết khi một người nào đó tức giận với mình, ngay cả khi họ không nói gì. Khi cảm nhận được sự tức giận bị kìm nén của họ, chúng ta có thể hỏi: “Có chuyện gì không ổn sao?” Ngay cả khi họ trả lời, “Ồ, không có gì,” chúng ta vẫn nhận thức được năng lượng của tức giận và khó chịu.

Có phần hơi hụt hẫng khi khám phá ra sự thật về sự tương tác này ở tầng năng lượng, nhưng bất kỳ ai cũng có thể tự mình nhận ra điều đó bằng cách nhìn vào bên trong. Thái độ tổng thể mà chúng ta dành cho người khác tạo được ảnh hưởng đến cảm thọ và thái độ của người đó về chúng ta, dù chúng ta có thể hiện ra hay không. Phụ nữ trong xã hội chúng ta có trực giác tốt hơn nam giới; họ thường ý thức rõ hơn rằng người khác biết suy nghĩ và cảm thọ của mình. Tất nhiên, những người có khả năng ngoại cảm thực sự chỉ đơn giản là những chuyên gia về trực giác.

Khi mới khám phá ra sự thật này, chúng ta có thể hơi lo. Hầu hết mọi người đều được dạy để tin rằng suy nghĩ và cảm thọ của chúng ta là chuyện riêng tư và không liên quan đến ai khác, rằng tất cả các tâm trí đều tách biệt, và cảm thọ chỉ xảy ra trong giới hạn của cơ thể. Khi bắt đầu tìm hiểu lĩnh vực này, chúng ta phát hiện được rằng thường thì những cảm thọ mà chúng ta dành cho người khác được phản ánh lại qua thái độ của họ, và khi chúng ta thay đổi thái độ bên trong về họ, thái độ của họ cũng đột ngột thay đổi theo. Lúc nào chúng ta cũng tạo được ảnh hưởng tới người khác một cách vô thức, đấy là do những cảm thọ mà chúng ta dành cho họ. Khi trở thành người có trực giác cao hơn, chúng ta sẽ bật cười trước sự ngây thơ trước đây của mình. Và, nếu nghiên cứu sâu hơn về thế giới của các nhà ngoại cảm và cận tâm lý học, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng các nhà ngoại cảm chuyên nghiệp có thể đọc được suy nghĩ và cảm thọ, ngay cả từ phía bên kia trái đất.

Cách duy nhất để vượt qua lo âu mang tính ám ảnh ban đầu này là phải tự mình chấn chỉnh. Việc tìm ra những gì cần được thanh lọc thực ra rất đơn giản và dễ dàng: Chỉ cần nhìn vào những điều mà bạn không muốn người khác biết về mình, và bắt đầu buông bỏ chúng!

Thông qua quan sát, ta thấy rất rõ rằng những cảm thọ tiêu cực mãnh liệt này sẽ vọng lại và dội ngược lại chính chúng ta, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến các mối quan hệ của chúng ta. Đối phương đơn thuần chỉ là tấm gương phản chiếu những gì ta đang phóng chiếu lên họ. Những người mang trong lòng nhiều hận thù sẽ thấy mình đang sống trong một thế giới đầy thù hận và có rất nhiều người ghét họ. Họ nhìn đâu cũng thấy những tình huống và thế giới đầy rẫy hận thù. Cái mà họ không nhận ra chính là: họ tự tạo ra toàn bộ tình huống này.

Chúng ta nuôi hy vọng thầm kín rằng cảm thọ tức giận của mình đối với người khác sẽ trừng phạt và làm cho họ phải đau khổ. Thực tế, chúng ta chỉ đang cung cấp cho họ lý do để ghét chúng ta. Chúng ta phải sống với sự sợ hãi rằng họ sẽ trả thù và mặc cảm tội lỗi vô thức của chính mình, và thường dẫn đến bệnh tật. Sẽ phát hiện được rằng tất cả tức giận và oán hận của chúng ta đều do tri giác của chúng ta, tức là cách chúng ta nhìn nhận một tình huống nhất định nào đó. Khi buông bỏ những cảm thọ ở bên trong, thì chúng ta sẽ nhìn tình huống theo cách khác, và chúng ta thường ngạc nhiên trước cảm thọ tha thứ vừa mới xuất hiện và quan hệ đã chuyển hoá, mặc dù chúng ta không làm hay nói bất cứ điều gì để thể hiện sự thay đổi vừa xảy ra ở bên trong.

Sự kiện này rất hay xảy ra, đấy là khi ý định của chúng ta là vượt qua oán hận. Khóa học về những điều kỳ diệu dựa trên chính quá trình: thay đổi quan điểm của chúng ta về tình huống bằng cách sẵn sàng nhìn nhận nó khác đi và tha thứ. Đây là điều mà Chúa Giê-su Christ ám chỉ khi Ngài nói về sức mạnh kỳ diệu của tha thứ.

Thú vị là, có cơ sở khoa học cho lời khuyên của Chúa Jesus Christ về việc chúc phúc và yêu thương kẻ thù của chúng ta. Ở tầng năng lượng, những cảm thọ thấp hơn có tần số rung động thấp hơn và sức mạnh thấp hơn. Khi chúng ta ở trong trạng thái năng lượng thấp hơn như tức giận, thù hận, bạo lực, mặc cảm tội lỗi, ghen tị hoặc bất kỳ cảm thọ tiêu cực nào khác, chúng ta dễ bị người khác làm tổn thương về mặt tâm linh. Ngược lại, tha thứ, biết ơn và tâm từ bi có năng lượng rung động cao hơn nhiều và sức mạnh lớn hơn nhiều. Khi chuyển từ mô thức năng lượng thấp sang mô thức năng lượng cao hơn, là chúng ta tạo ra một lá chắn bảo vệ ở tầng năng lượng, chúng ta không còn dễ bị người khác làm tổn thương về mặt tâm linh nữa. Ví dụ, khi đang tức giận, ta rất dễ bị tổn thương, đấy là do sự tức giận của đối phương làm cho ta cạn kiệt năng lượng. Ngược lại, ngược đời là nếu thực sự muốn tác động đến người khác, ta phải thực lòng yêu thương họ. Khi đó, sự tức giận của họ nhắm vào ta sẽ dội ngược lại chính họ mà không hề tạo được ảnh hưởng gì tới ta! Đây chính là trí tuệ trong lời dạy của Đức Phật trong Kinh Pháp Cú:Hận thù diệt hận thù, Ðời này không thể có, Từ bi diệt hận thù, Là định luật nghìn thu”  

Mặc cảm tội lỗi

Lĩnh vực tiêu cực “nặng ký” tiếp theo là mặc cảm tội lỗi. Mục đích tiềm ẩn ở đây là xoa dịu, trấn an, trốn tránh hình phạt bằng cách tự trừng phạt, và xin tha thứ. Quan trọng nhất trong là mong muốn được người khác trừng phạt, kết hợp với việc tự trừng phạt. Đây không phải là mong muốn có ý thức; tuy nhiên, đó là mục đích vô thức của mặc cảm tội lỗi. Chỉ cần tìm hiểu một chút, có thể dễ dàng được xác minh sự kiện này. Lần tới khi chúng ta cảm thấy có mặc cảm tội lỗi về một điều gì đó cụ thể liên quan đến người khác, hãy quan sát xem điều gì xảy ra trong lần gặp gỡ tiếp theo. Gần như chắc chắn, họ sẽ đề cập đến chính điều mà chúng ta đang lưu giữ trong tâm trí. Ví dụ, nếu chúng ta cảm thấy tội lỗi vì đến muộn trong một cuộc hẹn, thì mặc cảm ấy thường sẽ khơi gợi phản ứng chỉ trích từ phía người kia. Khi ta lưu giữ mặc cảm tội lỗi, ta tự chuốc lấy sự chỉ trích và hạ thấp từ người khác; sự tự ti của ta được phản chiếu ngược trở lại thông qua họ, dưới hình thức phủ nhận giá trị của chính mình. 

Nếu luôn luôn nghĩ rằng mình nhỏ bé và không xứng đáng, thì chúng ta sẽ nhận lại những phản ứng tương tự từ người khác, những lời nhận xét của họ thường cho thấy chúng ta cũng nhỏ bé và không xứng đáng. Nếu chúng ta nghĩ mình chỉ đáng giá một mẩu bánh mì, thì đó chính là cái chúng ta sẽ nhận được. Đây là ý nghĩa của câu nói trong Kinh Thánh: “Người nghèo càng nghèo thêm, người giàu càng giàu thêm”. Nghèo khó ở bất kỳ tầng nào, không chỉ là tài chính, đều bắt nguồn từ sự nghèo khó ở bên trong, cũng như giàu có bên ngoài bắt nguồn từ giàu có ở bên trong. Nếu chúng ta muốn người khác thôi chỉ trích và tấn công, thì giải pháp là hãy bắt đầu buông bỏ mặc cảm tội lỗi và tất cả những cảm thọ đã gây ra nó.

Để làm rõ vai trò của cảm thọ trong các mối quan hệ giữa người với người, thì cách học nhanh nhất là giả định rằng đối phương nhận thức được những suy nghĩ và cảm thọ bên trong của chúng ta. Bằng cách này, chúng ta sẽ không sai, vì họ thực sự nhận thức được theo lối trực giác những suy nghĩ và cảm thọ của chúng ta, ngay cả tại một thời điểm nhất định họ không nhận thức được theo lối hữu thức. Họ sẽ phản ứng lại như thể họ biết cảm thọ bên trong của chúng ta. Nhìn chung, quan hệ sẽ diễn ra như thể đối phương nhận thức được cảm thọ bên trong của chúng ta. Nếu chúng ta vẫn còn ảo tưởng rằng người khác không biết suy nghĩ và cảm thọ của mình, thì xin để ý đến sự kiện là chó biết rất nhanh! Chẳng lẽ chúng ta thực sự nghĩ rằng tâm thức con người lại thấp kém hơn tâm thức của một con chó hay sao? Nếu con chó có thể nhanh chóng đọc được toàn bộ thái độ bên trong của chúng ta, thì có thể chắc chắn rằng trực giác của những người xung quanh cũng đang cảm nhận được cùng một tần số rung động đó. 

Thờ ơ và u sầu

Cảm thọ thờ ơ, u sầu, trầm cảm, buồn chán, than thân trách phận, vô vọng và bất lực xuất phát từ chương trình ở bên trong: “Tôi không thể”. Mục đích của nó là khơi gợi cảm thông, giành lại lòng tin, nhận được sự ủng hộ, làm cho người khác thương hại và cầu cứu. Những cảm thọ này ảnh hưởng như thế nào tới người khác? Mặc dù ban đầu có thể có nỗ lực giúp đỡ, nhưng cuối cùng nó bị thay thế bằng thương hại và cuối cùng là né tránh. Vì sao lại né tránh? Né tránh là do nhu cầu năng lượng khổng lồ mà chúng ta đang áp đặt lên người khác. Đó là nỗ lực rút kiệt năng lượng của họ bằng cách tự đưa mình tới trước cửa nhà họ. Nó dẫn đến câu nói phổ biến, nghe có vẻ tàn nhẫn nhưng không may là lại thường đúng: “Khi bạn cười, cả thế giới cười cùng bạn; nhưng khi bạn khóc, bạn khóc một mình.”

U sầu kéo dài sẽ đẩy người khác ra xa. Họ bắt đầu tỏ ra oán hận, đấy là nói trừ khi họ ở vị trí rất cao và có khả năng dễ dàng thể hiện tâm từ bi. U sầu mãn tính dẫn đến già trước tuổi, mệt mỏi và kiệt sức, và chỉ có thể vượt qua khi ta có đủ can đảm để cho phép nó xuất hiện trong những điều kiện thích hợp và sẵn sàng phó thác cho nó và buông bỏ nó. 

Sợ hãi

Cảm thọ sợ hãi—dù đấy là căng thẳng và lo lắng, rụt rè, tự ti, thận trọng, kìm nén hay nghi ngờ—đều có mục đích là trốn tránh mối đe dọa tưởng tượng và tạo ra khoảng cách tâm lý với tình huống hoặc người đáng sợ. Ngược đời là, như chúng tôi đã từng chỉ ra, vì sợ hãi mang sức mạnh rất lớn, nên chính quá trình lưu giữ nó trong tâm trí có thể khiến những điều ta khiếp sợ thực sự bước vào cuộc đời mình. Nó giống như một lời tiên tri tự ứng nghiệm. Năng lượng của sợ hãi tạo ra một sự tập trung nội tại vào tất cả những kịch bản tiêu cực có thể xảy ra, và chính sự tập trung đó có thể kết tụ lại để biểu hiện thành những sự kiện mà chúng ta sợ hãi nhất.

Do đó, trong các mối quan hệ, sợ hãi là chúng ta trao sức mạnh đích thực của mình cho người khác và tạo điều kiện cho họ làm chính cái mà chúng ta sợ. Cách giải quyết là nhìn vào kịch bản tồi tệ nhất có thể xảy ra và xem xét những cảm thọ mà nó gây ra và bắt đầu buông bỏ chúng. Tươmg tự như các cảm thọ khác, sợ hãi có thể được phân tích thành các thành phần cấu thành của nó, và lúc đó dễ dàng buông bỏ các thành phần. Ví dụ, giả sử sợ bị tấn công. Chúng ta tự hỏi: “Kịch bản tồi tệ nhất có thể xảy ra là gì?” Với câu hỏi này, chúng ta thấy rằng cơ sở của sợ hãi là kiêu hãnh. Khi kiêu hãnh được nhận ra và buông bỏ, sợ hãi tự động biến mất. Một lần nữa, trong một mối quan hệ nào đó mà chúng ta đang trải nghiệm sợ hãi, nếu phân tích nỗi sợ này, chúng ta có thể thấy rằng đó thực sự là sợ bị phát hiện ra sự tức giận bên trong; sợ hãi là người kia sẽ trả đũa bằng tức giận. Một lần nữa, khi chúng ta buông bỏ tức giận, sợ hãi sẽ tự động biến mất.

Người thiếu tự tin thường sợ hãi và dễ ghen tuông, bám víu, chiếm hữu và chấp trước vào các mối quan hệ, một cách tiếp cận mà lúc nào cũng mang lại thất vọng. Mục đích của những cảm thọ này là ràng buộc và kiểm soát chặt chẽ người khác, có được an toàn bằng cách ngăn ngừa mất mát và, đôi khi, để trừng phạt người khác vì chúng ta sợ mất. Một lần nữa, những thái độ như thế có xu hướng làm cho chính cái mà chúng ta đang nghĩ đến trở thành hiện thực. Lúc này, người kia cảm thấy năng lượng phụ thuộc và chiếm hữu của chúng ta đè nặng lên họ: xuất hiện thôi thúc bên trong muốn chạy trốn để được tự do, rút ​​lui, tách ra và làm chính cái mà chúng ta sợ hãi nhất. Những thái độ này dẫn đến việc liên tục muốn tạo ảnh hưởng lên người khác. Bởi vì mọi người nhận ra bằng trực giác rằng chúng ta muốn kiểm soát họ, phản ứng của họ là chống lại. Vì vậy, cách duy nhất làm cho họ không chống đối chúng ta là buông bỏ mong muốn tạo ảnh hưởng tới họ ngay từ đầu. Có nghĩa là buông bỏ những sợ hãi bên trong ngay khi chúng vừa sinh khởi. 

Kiêu hãnh

Cảm thọ kiêu hãnh thường được xã hội dung thứ, nó có nhiều hình thức: cầu toàn, gọn gàng, đúng giờ, đáng tin, “người tốt”, sạch sẽ thái quá, nghiện công việc, tham vọng quá mức, thành công, ưu việt về mặt đạo đức và lịch sự. Với hình thức thái quá, chúng ta thấy kiêu ngạo, khoe khoang, phù phiếm, tự mãn và định kiến; ở tầng tâm linh, còn có giết “những kẻ ngoại đạo”. Mục đích mang tính cảm xúc tiềm ẩn của những cảm thọ này đối với người khác là để được họ ngưỡng mộ, tránh bị chỉ trích hoặc từ chối, được chấp nhận, trở thành người quan trọng, và do đó vượt qua cảm thọ vô giá trị ở bên trong chính mình. Thật không may là, những cảm thọ được khơi dậy ở người khác thường là ghen tị, cạnh tranh, hoặc thậm chí là thù hận và dễ bị lợi dụng. Nếu nhìn vào kiêu hãnh, chúng ta thấy nó thường là thay thế cho thái độ tự trọng đích thực.

Đáng quan tâm hơn nữa là nhận ra rằng quan hệ chính mà nhiều người áp dụng những hiện tượng này là mối quan hệ với Thiên Chúa. Có một niềm tin, thường là vô thức, rằng chúng ta có thể nhận được phản ứng nhất định từ Thiên Chúa: “Chúa sẽ thương hại tôi”; “Chúa sẽ trả thù tôi”; “Chúa sẽ trừng phạt tôi”; “Chúa sẽ cảm thấy hài lòng với tôi”; “Chúa sẽ ưu ái tôi”.

Khi có thái độ tự trọng phù hợp, chúng ta được thúc đẩy bởi khiêm nhường và lòng biết ơn từ bên trong, và do đó, chúng ta không cần phải liên tục được người khác (hoặc Chúa) khen. Khi chúng ta thôi muốn được người khác yêu thích, chúng ta sẽ thấy rằng mình được yêu thích. Khi thôi chiều lòng người khác và thôi cố gắng thao túng để được họ chấp thuận, chúng ta sẽ thấy rằng họ tôn trọng chúng ta. Tự hạ thấp mình bằng các hình thức như xoa dịu, tâng bốc, kính phục, khiêm tốn và thụ động đều là những nỗ lực nhằm tạo ảnh hưởng lên người khác bằng cách chiều theo bản ngã của họ, để được ưu ái và đạt được điều mình muốn. Khiêm nhường giả tạo nói với người khác rằng: “Tôi là một người nhỏ mọn; xin hãy đối xử với tôi như thế” và tất nhiên, họ sẽ nhanh chóng làm theo.

Khá rõ ràng là, tất cả những cảm thọ vừa nói đều có tính thao túng người khác và phá hoại các mối quan hệ thực sự. Chúng đều làm giảm lòng tự trọng của chúng ta, vì tất cả đều là những trạng thái dễ bị tổn thương. Do đó, mặc dù chúng ta có thể nghĩ rằng, ở tầng tự hào, mình cảm thấy tốt và an toàn, nhưng do bản chất dễ bị tổn thương của nó, tự hào luôn luôn đi kèm với phòng thủ. Bất cứ khi nào cảm thấy bất an, chúng ta đều trở thành kiêu ngạo. Kiêu ngạo dễ bị tổn thương trước một lời nhận xét thoáng qua hoặc một cái nhíu mày. 

Thân phận con người

Về bản chất, tất cả những cảm thọ tiêu cực đều là những hình thức sợ hãi: sợ mất lòng tự trọng của mình hoặc người khác, hoặc sợ không thể sống sót và mất an toàn. Vì hầu hết các cảm thọ tiêu cực đều đi kèm với đánh giá giá trị mang tính tiêu cực, nên chúng bị kìm nén, đè nén hoặc phóng chiếu. Kìm nén, đè nén và phóng chiếu đều là những động lực phá hoại và dẫn đến căng thẳng ngày càng gia tăng và làm cho các mối quan hệ của chúng ta suy giảm.

Chúng ta thích giả vờ rằng những cảm thọ sâu kín nhất của mình là cái mà người khác không biết, nhưng có phải như thế hay không? Chúng ta đều được kết nối với nhau ở tầng tâm linh, trực giác; vì vậy, người khác đọc được và biết được cảm thọ của chúng ta. Chúng ta có thể không ý thức được điều đó, nhưng hành vi của họ đối với chúng ta cho thấy họ biết thái độ và cảm thọ bên trong của chúng ta đối với họ.

Ví dụ, giả sử chúng ta hành xử một cách mẫu mực ở nơi làm việc. Nhưng, tại sao người khác lại được thăng chức hoặc được công nhận, mà chúng ta thì không? Câu trả lời là hãy nhìn vào những cảm thọ ẩn dấu ở bên trong của chúng ta về người lãnh đạo và công việc. Liệu chúng ta có thực sự nghĩ rằng ông ta không nhận ra thái độ ghen tị, chỉ trích và oán hận bên trong chúng ta? Có thể chắc chắn rằng người khác biết được những cảm thọ và suy nghĩ bên trong của chúng ta. Những suy nghĩ mà chúng ta dành cho họ rất có thể trùng khớp với những suy nghĩ mà họ dành cho chúng ta. Nếu chúng ta nhận ra nguyên tắc này, nhiều sự kiện xảy ra trong cuộc sống sẽ bắt đầu trở thành dễ hiểu hơn. Chúng ta có thể tự hỏi: “Tôi sẽ phản ứng như thế nào nếu tôi là người kia và biết chính xác cảm thọ và suy nghĩ bên trong của mình là gì?” Câu trả lời thường giải thích hành vi của người kia. Có lẽ chúng ta không được thăng chức, vì ở tầng năng lượng, không được nói ra, người lãnh đạo biết rằng mình chỉ trích ông ta, oán hận đồng nghiệp và khao khát được chấp thuận và công nhận.

Trước khi tìm kiếm những cảm thọ tiêu cực trong chính mình, tốt nhất nên nhớ rằng những cảm thọ này không phải là Đại Ngã thực sự của chúng ta. Chúng là những chương trình đã học được mà chúng ta thừa hưởng từ việc sinh ra là một con người. Không có ngoại lệ; tất cả mọi người, từ cao quý nhất đến thấp hèn nhất, đều đang hoặc đã từng có bản ngã. Ngay cả một số ít những vị đã chứng ngộ cũng từng có bản ngã trước khi họ siêu việt được nó. Đây chính là thân phận của con người. Để có thể quan sát những cảm thọ của mình một cách trung thực, cần có thái độ không phán xét.

Trước hết, chúng ta phải nhận thức được cái gì thực sự đang diễn ra bên trong trước khi có thể làm bất cứ điều gì về nó. Khi chúng ta buông bỏ một cảm thọ, nó được thay thế bằng một cảm thọ cao hơn. Mục đích duy nhất của việc nhận ra và thừa nhận một cảm thọ là để chúng ta có thể từ bỏ nó. Buông bỏ có nghĩa là chúng ta sẵn sàng từ bỏ một cảm thọ bằng cách cho phép mình trải nghiệm nó mà không tìm cách thay đổi nó. Kháng cự là tiếp tục giữ nó lại.

Chúng ta có thể nghĩ rằng mình cần có một số cảm xúc tiêu cực; tuy nhiên, khi xem xét kỹ, sẽ phát hiện ra rằng đây là vọng tưởng. Những cảm xúc cao hơn mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn hẳn trong việc đáp ứng các nhu cầu của chúng ta.

Ví dụ, xin tự hỏi chúng ta sẵn sàng làm gì cho người chúng ta thực sự yêu thương? Sẽ thấy ngay rằng chúng ta sẽ làm gần như là bất cứ điều gì. Hầu như vì tình yêu chúng ta sẵn sàng làm bất cứ việc gì. Rồi xin so sánh với những việc chúng ta sẵn sàng làm đối với người đe dọa chúng ta. Sẽ thấy rằng chúng ta miễn cưỡng cho người đó càng ít càng tốt. Mặc dù những người hăm dọa dường như tạm thời thoát tội, nhưng thực chất họ đã mất tất cả, có phải thế không? Chiến thắng của họ chỉ là hời hợt, tạm thời và thậm chí không thật—chiến thắng trên bề ngoài mà thôi. Cuối cùng, thế giới sẽ quay trở lại, và những kẻ hăm dọa tự gieo mầm cho sự hủy diệt của chính mình. Những thứ chúng ta giành được bằng cảm xúc tiêu cực là chóng tàn và không chân thực. Nó không thực sự mang tới thỏa mãn. Giống như một lời khen gượng ép. Hạnh phúc thực sự là kết quả hai bên cùng thắng. Cái giá phải trả cho một tình huống có kẻ thắng và người thua là thù hận và tự trọng thấp. Về cơ bản, chúng ta không thể tự lừa dối chính mình, cũng không thể lừa dối người khác. Người khác lùc nào cũng biết khi nào chúng ta có ý định lợi dụng họ.

Nếu khó bỏ một cảm thọ nào đó, thì chỉ sẽ có ích khi nhìn vào ý định của cảm thọ đó. Mục đích của nó là gì? Tác động có chủ đích mà nó gây ra cho người khác là gì? Phản ứng có thể xảy ra ở họ là gì? Chúng ta có thực sự muốn điều đó hay không? Nếu đây là ngày cuối cùng của cuộc đời, liệu đó có thực sự là điều mà ta mong muốn? Vâng, đây chính là ngày cuối cùng trong đời sống của chúng ta – đời sống cũ với tất cả những xung đột, lo lắng và sợ hãi. Đó là cái giá mà chúng ta phải trả vì bám chấp vào quá khứ.

Khi buông bỏ những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén từ tất cả những chương trình mà chúng ta đã nội tâm hóa, chúng sẽ tự động được thay thế bằng những cảm thọ tích cực hơn. Chúng ta trở thành hạnh phúc và nhẹ nhàng hơn, và những người xung quanh chúng ta cũng thế. Xin cùng xem lại những cảm thọ tích cực này là gì và chúng có tác động như thế nào đến cảm thọ và hành vi của người khác khi họ phản ứng lại chúng ta. 

Cảm thọ tích cực

Những cảm thọ cao thượng như can đảm, sẵn sàng, tự tin, có khả năng, “có thể làm được”, hăng hái, hài hước, năng lực, tự lập và sáng tạo đều có một mục đích về mặt cảm xúc: hành động, vận hành hiệu quả và thành tựu. Đáp lại, phản ứng của người khác sẽ là hợp tác, can đảm, tôn trọng và sẵn sàng đứng cùng chúng ta. Ngoài ra, vì chúng ta đưa lòng tự trọng của họ lên, cho nên họ sẽ muốn làm bạn với chúng ta. Khi nhìn vào tất cả những điều này, chúng ta thấy rằng mình nhận được phần thưởng cao quý khi sẵn sàng buông bỏ những cảm thọ tiêu cực cản trở những cảm thọ cao thượng, giúp chúng ta dễ dàng đạt được mục tiêu và mục đích thực sự của mình.

Khi chúng ta hoạt động ở tầng chấp nhận, tận hưởng, ấm áp, dịu dàng, mềm mại, tin tưởng, sự thật bên trong và niềm tin, thì mục đích mang tính cảm xúc mà người khác đáp lại là yêu thương, tận hưởng, niềm vui, hài hòa, bình yên, thấu hiểu và chia sẻ. Phản ứng của họ đối với chúng ta sẽ là chấp nhận, hài lòng, cảm giác “hòa hợp”, cảm giác được thấu hiểu và niềm vui. Họ sẽ tự động đáp lại tình yêu của chúng ta. Rõ ràng là những cảm thọ có đi có lại này sẽ mang tới thành công trong bất kỳ dự án nào với người kia, dù đó là công việc, xã hội, cá nhân hay chỉ là tương tác thường nhật. 

Kết nối

Khi cảm thọ bên trong của chúng ta là an bình, thanh thản, tĩnh lặng, bình yên, cởi mở và giản dị, thì nó tác động lên những người xung quanh là gia tăng nhận thức của họ cùng với gia tăng nhận thức của chính chúng ta; đồng thời mang lại cho họ một cảm giác sâu sắc hơn về tự do, hoàn hảo, nhất thể và hòa làm một với chúng ta. Trong quan hệ với chúng ta, họ sẽ cảm thấy được gắn kết; họ sẽ tìm thấy sự đồng điệu; họ sẽ thấu hiểu ở tầng sâu thẳm; và họ sẽ cảm thấy giao hòa với chúng ta. Kết quả là, họ sẽ muốn ở cùng chúng ta, vì khi có chúng ta họ cảm thấy trọn vẹn, được công nhận và mãn nguyện. Họ sẽ trải nghiệm nhận thức sâu sắc hơn về Đại Ngã thực sự của chính mình. Họ sẽ cảm thấy mình cao hơn khi ở bên cạnh chúng ta hoặc khi nghĩ về chúng ta. Phản hồi của họ sẽ là yêu thương và biết ơn đối với phước lành khi chúng ta ở bên cạnh họ. Trong quan hệ như thế, các mục tiêu được hoàn thành một cách tự động và dễ dàng. Vì chúng ta không lưu giữ tiêu cực, nên chúng ta không muốn che giấu người khác bất cứ thứ gì, thái độ cởi mở như thế tạo điều kiện cho người kia buông bỏ mọi biện pháp phòng thủ. Không có gì bị che giấu vì mặc cảm tội lỗi hay sợ hãi, và kết nối về mặt tâm linh diễn ra theo lối hữu thức.

Các hiện tượng được gọi là thần giao cách cảm thường xuyên xảy ra ở tầng này. Khi chúng ta hoàn toàn hòa hợp với người khác, chúng ta không có mong muốn che giấu hay bảo vệ bất kỳ suy nghĩ hoặc cảm thọ nào. Vì người kia cũng phản ứng tương tự, cho nên chúng ta dễ dàng biết được những gì đang diễn ra trong tâm trí người kia và những trạng thái cảm thọ thoáng qua của họ. Có sự chấp nhận hoàn toàn bản chất con người của chính mình và người khác. Nếu chúng ta thực sự hòa hợp với người khác, chúng ta sẽ tha thứ cho họ khi thấy thái độ ghen tị hoặc phản ứng thoáng qua. Chúng ta nhận ra rằng đó là hoàn toàn tự nhiên. Và chúng ta biết rằng, ngược lại, họ cũng nhận thức được sự oán hận thoáng qua của chúng ta. Tuy nhiên, họ bỏ qua; họ chấp nhận bản chất con người của chúng ta, và họ hiểu được tình huống. Họ hiểu chúng ta rõ đến mức nhận ra khả năng xuất hiện oán hận thoáng qua trong những tình huống nhất định, nhưng họ cũng biết rằng chúng ta sẽ buông bỏ. Những người mà chúng ta chia sẻ quan hệ yêu thương và chấp nhận đều ổn với bản chất con người của chúng ta và của chính họ. Dù cảm xúc bề ngoài có như thế nào, chúng ta vẫn nhận thức được sự đồng điệu chung về yêu thương, chấp nhận và hòa hợp với nhau và với thế giới.

Bất kỳ người nào cũng có thể vươn tới tầng giao tiếp này. Không nhất thiết phải là người mà chúng ta có quan hệ thân thiết. Thường thì, đầu tiên, chúng ta trải nghiệm điều này với bạn bè, những người mà quan hệ ít rủi ro hơn so với các thành viên gia đình. Tình huống khác là với người yêu cũ. Với người mà chúng ta đã tiết lộ rất nhiều điều—giờ đây khi không còn những ràng buộc hay kỳ vọng về tình cảm lứa đôi—tình bạn có thể nảy nở, không còn cần che giấu bất cứ điều gì nữa. Có thể có giao tiếp cởi mở, trung thực và chính trực thực sự. Chúng ta thấy điều này không ít ở những cặp đã ly thân hoặc ly hôn. Khi những xáo trộn đã lắng xuống, họ dễ dàng hòa thuận và thậm chí có thể vẫn là những người bạn tốt nhất trong suốt nhiều năm. 

Ảnh hưởng của cảm thọ tích cực

Rõ ràng là trạng thái tâm thức cao hơn có ảnh hưởng sâu sắc đến các mối quan hệ của chúng ta, vì một trong những quy luật của tâm thức là “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.” Trạng thái nội tâm của chúng ta thực sự lan tỏa tới người khác. Chúng ta có thể tạo được ảnh hưởng tích cực tới người khác ngay cả khi thân thể chúng ta không ở bên cạnh họ. Cảm thọ là năng lượng và tất cả năng lượng đều phát ra rung động. Chúng ta giống như những trạm thu phát. Càng lưu giữ ít tiêu cực, chúng ta càng nhận thức rõ hơn về người khác thực sự nghĩ gì về mình. Càng yêu thương hơn, chúng ta càng thấy xung quanh mình đầy tình yêu thương. Thay thế một cảm thọ tiêu cực bằng một cảm thọ tích cực hơn là lý do đề người ta có thể trải nghiệm nhiều phép lạ trong suốt cuộc đời. Phép lạ sẽ trở thành thường xuyên hơn khi người ta tiếp tục buông bỏ.

Càng buông bỏ, thì cuộc sống của chúng ta cũng trở nên ngày càng dễ dàng hơn. Hạnh phúc và niềm vui liên tục tăng lên, đó là trạng thái có thể trải nghiệm được mà ngày càng ít lệ thuộc vào những tác động từ thế giới bên ngoài. Giảm bớt nhu cầu và kỳ vọng vào người khác. Chúng ta ngừng tìm kiếm “ở bên ngoài” những thứ mà giờ đây chúng ta cảm nhận được như thể đến từ bên trong chính mình. Chúng ta buông bỏ vọng tưởng rằng người khác là cội nguồn hạnh phúc của mình. Thay vì tìm kiếm những món quà từ người khác, giờ đây chúng ta tìm cách cho đi. Lúc này, những người khác tìm cách ở bên cạnh chúng ta, thay vì tránh né chúng ta. Trong tác phẩm A Christmas Carol của Charles Dickens, Scrooge trải nghiệm niềm vui của việc cho đi thay vì tìm kiếm quà tặng từ người khác. Niềm vui của quá trình chuyển hoá đó có sẵn cho tất cả chúng ta.

Carl Jung đã viết về hiện tượng gọi là “tính đồng nhịp” (synchronicity[i]), mà cũng có thể được gọi là “trùng hợp”, để giải thích các sự kiện mà, đối với trí năng, dường như không liên quan. Khi chúng ta buông bỏ nhiều hơn và nhiều hơn nữa, loại trải nghiệm này sẽ trở thành phổ biến. Minh họa cho hiện tượng này là trải nghiệm sau đây, do một giám đốc điều hành doanh nghiệp, đã thực hành kỹ thuật buông bỏ trong khoảng một năm, kể lại. 

Tôi là Chủ tịch của một tập đoàn không lớn với khoảng 50 nhân viên. Chúng tôi đã bồi dưỡng một chàng trai trẻ đầy triển vọng để anh ta lãnh đạo một trong những bộ phận của công ty. Tuy nhiên, hóa ra anh chàng này lại rất thiếu chín chắn. Thay vì đáp lại bằng thái độ biết ơn và hợp tác vì tất cả những việc mà tập đoàn đã làm cho mình, thì anh ta lại phản ứng bằng cách trở thành kiêu ngạo, đòi hỏi và có phần hoang tưởng. Anh ta tuyên bố rằng trong kỳ tới, sẽ xông vào cuộc họp của Hội đồng quản trị và tạo ra hỗn loạn lớn với những lời buộc tội và đòi hỏi vô lý của mình. Mặc dù có thể dễ dàng bác bỏ tất cả những lời buộc tội của anh ta, nhưng toàn bộ sự việc nghe có vẻ như một trải nghiệm kinh hoàng. Trong suốt mấy ngày, anh ta tỏ ra đầy thù hận với những lời đe dọa của mình. Vào lúc 1 giờ chiều trong ngày diễn ra cuộc họp Hội đồng quản trị, tôi đang lái xe trên đường cao tốc và cảm thấy cực tức giận dữ về anh ta. Đột nhiên tôi buông bỏ tất cả; tôi hoàn toàn phó thác cho anh ta. Tôi bắt đầu nhìn thấy đứa trẻ sợ hãi trong chính anh ta, và tôi bắt đầu gửi đến anh ta tình yêu. Tất cả những lo lắng của tôi biến mất, và tôi cảm thấy tình yêu, và sự đồng cảm dành cho anh ta. Tôi nhìn vào đồng hồ, lúc đó là 12 giờ 30 phút. Khi tôi đến văn phòng, và cô thư ký nói rằng anh này đã vào văn phòng và tuyên bố rằng sẽ hủy bỏ toàn bộ sự việc; anh ta đã thay đổi ý định vào phút chót. Tôi hỏi anh ta vào văn phòng lúc mấy giờ. Cô thứ ký nói rằng đã ghi nhớ chính xác thời gian, vì cuộc họp Hội đồng quản trị sắp diễn ra. Cô ấy nhìn đồng hồ khi anh chàng bước vào và thông báo về việc thay đổi ý định. Chính xác là 12 giờ 32 phút trưa hôm đó. 

Buông bỏ kỳ vọng

Khi chúng ta tạo áp lực lên người khác để đạt được điều mình muốn, thì họ tự động chống lại, vì chúng ta đang cố gắng tạo áp lực lên họ. Chúng ta càng thúc ép, họ lại càng chống cự mạnh mẽ hơn. Mặc dù, vì sợ hãi, họ có thể thực sự nhượng bộ trước yêu cầu của chúng ta, nhưng đó không phải là chấp nhận từ bên trong và sau đó, chúng ta sẽ mất những gì đã giành được. Chống cự có mặt trong tất cả chúng ta. Chúng ta có thể nhận thức được nó vì nó hoạt động theo lối vô thức, và chúng ta né tránh nhận thức đó bằng cách đưa ra những lời bào chữa và giải thích hợp lý.

Như đã đề cập bên trên, trong cuốn sách nhan đề Winning Through Intimidation (Chiến thắng bằng cách đe dọa), Robert Ringer gọi là “lý thuyết con trai/con gái”. (Chàng trai gặp cô gái. Ngay khi cô ấy nhận ra anh ta muốn mình, cô ấy trở thành khó gần. Vì vậy, nếu chàng trai quyết định rút lui, thì cô ấy lại muốn anh ta, và ngược lại, anh ta lại tỏ ra  lạnh lùng.) Khi chúng ta dùng hiện tượng này để giải thích thái độ kháng cự trong bán hàng, một cách giải quyết là cho rằng trách nhiệm của chúng ta là nỗ lực, nhưng không tìm cách quyết định kết quả. Một cách khác là buông bỏ cảm thọ về những gì chúng ta muốn từ người khác, và buông bỏ áp lực mà chúng ta áp đặt lên họ, ví dụ như kỳ vọng và mong muốn. Khi đó, họ có không gian tâm lý để trở thành dễ chịu hoặc thậm chí tự mình khởi xướng kết quả đáng mong muốn, tức là kết quả mà chúng ta đã mong muốn ngay từ đầu.

Một ví dụ về động lực này là một người đàn ông đang áp dụng kỹ thuật buông bỏ trong quá trình ly hôn. Anh ta và vợ đã tranh cãi gay gắt về một thứ mà anh ta muốn. Còn cô vợ thì liên tục nói “Không” với yêu cầu của anh ta. Vì vậy, trong lúc đó, anh ta đã buông bỏ thứ mình muốn. Lúc này anh ta thấy ổn nếu cô ấy không đưa cho anh ta, và cũng ổn nếu cô ấy đưa cho anh ta. Ngay khi anh ta buông bỏ ý nghĩ đó, cô vợ đột nhiên quay sang anh ta và đề nghị, không chỉ đưa cho anh ta, mà còn đóng gói và gửi đi.

Sự kiện này minh họa một cách rất đơn giản nhưng chắc chắn là tinh tế và chủ động để làm rõ các mối quan hệ. Trước hết, hãy xem bạn đang cảm thấy thế nào trong lòng về một người nào đó trong một tình huống nhất định nào đó. Giả sử rằng người kia nhận thức được những suy nghĩ và cảm xúc đó. Sau đó, hãy tự đặt mình vào vị trí của họ và xem bạn sẽ phản ứng như thế nào. Bạn sẽ thấy rằng hành vi của họ có lẽ chính xác là những gì bạn sẽ làm nếu ở trong hoàn cảnh của họ. Mục tiêu là buông bỏ tất cả những cảm thọ đó cho đến khi bạn có thể đạt đến trạng thái suy nghĩ và cảm thọ tích cực về vấn đề đó. Khi đã ở trong trạng thái tích cực, bây giờ hãy xem bạn sẽ phản ứng như thế nào nếu là người kia, khi đã nhận thức được những cảm thọ mới này. Có khả năng là hành vi của họ sẽ thay đổi đúng như bạn kỳ vọng. Có thể sẽ có độ trễ nhất định; nhưng nếu bạn tiếp tục quan sát, thay đổi rất có thể sẽ xảy ra. Ngay cả khi không xảy, bạn cũng sẽ không còn buồn phiền về tình huống đó nữa. Đôi khi “phần thưởng” không đến, nhưng chúng ta có thể nói: “Đây là cái mà vũ trụ nợ tôi vào đúng thời điểm.” Thực tế, biết rằng đôi khi một việc tốt không được đền đáp lại là một phần của sự vĩ đại.

Ảnh hưởng của suy nghĩ và cảm thọ của chúng ta, trong sách báo, gọi là “luật nhân quả,” hay “Gieo nhân nào gặt quả ấy.” Thường thì chúng ta không thấy luật này hoạt động vì có độ trễ nhất định. Ví dụ, một người quen đã mượn 200 đô la và sau đó không trả lại như đã hứa. Trong hơn một năm, đã có thái độ oán hận và tránh mặt vì cảm thấy khó chịu, và nó càng trở thành trầm trọng hơn bởi mặc cảm tội lỗi vì, ngay từ đầu, đã giữ oán hận. Cuối cùng, khi nhận ra rằng người duy nhất chịu đựng oán hận chính là người đang ôm giữ nó, nó làm cho tâm hồn không được thanh khản, thì cũng là lúc đã sẵn sàng buông bỏ rồi. Lúc đó, dễ dàng buông bỏ và tha thứ cho người vay. Coi 200 đô la như khoản giúp đỡ người bạn đang gặp khó khăn. Chỉ trong vòng vài tháng, bất ngờ gặp lại người đó, và người này đột nhiên nói: “Tôi đã lo lắng về số tiền tôi nợ bạn. Đây là toàn bộ 200 đô la.” Không cần đòi mà đã được trả toàn bộ khoản vay này.

Chúng ta ngăn cản, không để mình nhận những thứ mình muốn từ người khác bằng những kỳ vọng hoặc oán hận đối với họ. Từ bỏ những kỳ vọng của chúng ta đối với người khác trước khi tham gia vào một tình huống cụ thể với họ là việc làm rất hiệu quả. Cảm xúc thực chất là những nỗ lực tinh vi để ép buộc người khác và áp đặt ý chí của chúng ta lên họ, và họ chống lại theo lối vô thức.

Muốn các mối quan hệ diễn ra một cách thuận lợi và làm cho ta hài lòng thì cách tốt nhất là tưởng tượng một cách đầy yêu thương kết quả tốt đẹp nhất có thể. Đảm bảo rằng đó là tình huống hai bên cùng thắng. Buông bỏ mọi cảm thọ tiêu cực và chỉ cần lưu giữ hình ảnh đó trong tâm trí. Chúng ta có thể biết mình đã thực sự buông bỏ hay chưa khi cảm thấy ổn trong cả hai trường hợp, nghĩa là chấp nhận nếu nó xảy ra và chấp nhận nếu nó không xảy ra. Vì vậy, buông bỏ không có nghĩa là thụ động. Đó là chủ động theo hướng tích cực.

Khi buông bỏ, thì áp lực về thời gian cũng không còn. Thất vọng là do muốn có một cái gì đó ngay lập tức thay vì để nó diễn ra một cách tự nhiên, vào thời điểm thích hợp. Kiên nhẫn là một tác dụng phụ, tự động của buông bỏ, và chúng ta biết rằng hòa hợp với những người kiên nhẫn là công việc khá dễ dàng. Để ý thì thấy, cuối cùng, những người kiên nhẫn thường đạt được điều họ mong muốn.

Một trong những kháng cự đối với buông bỏ là vọng tưởng cho rằng, nếu buông bỏ ham muốn và kỳ vọng, thì chúng ta sẽ không đạt được điều mình muốn. Chúng ta sợ rằng mình sẽ mất, nếu không tiếp tục gây áp lực để có được nó. Tâm trí luôn nghĩ rằng, biện pháp để có được một điều gì đó là phải muốn nó. Thực tế, nếu khảo sát vấn đề, chúng ta sẽ thấy rằng các sự kiện là do các quyết định, và các lựa chọn dựa trên ý định của chúng ta. Những gì chúng ta nhận được là kết quả của những lựa chọn này, mặc dù chúng là vô thức, chứ không phải là những gì chúng ta nghĩ là mình muốn. Khi buông bỏ áp lực của ham muốn, chúng ta sẽ có thể đưa ra những lựa chọn và quyết định khôn ngoan hơn.

Chúng ta thường lầm tưởng rằng hạnh phúc của mình phụ thuộc vào việc kiểm soát các sự kiện, và chính các sự kiện thực tế lại làm cho chúng ta phiền não. Thực ra, chính cảm thọ và suy nghĩ của chúng ta về những sự kiện đó mới là nguyên nhân thực sự làm chúng ta phiền não. Sự kiện, tự nó, là trung tính. Sức mạnh mà chúng ta gán cho chúng phụ thuộc vào thái độ chấp nhận hoặc không chấp nhận và trạng thái cảm thọ tổng thể của chúng ta. Nếu bị mắc kẹt trong một cảm thọ nào đó, thì đấy là do chúng ta vẫn thầm tin rằng nó sẽ mang lại điều gì đó cho mình. 

Quan hệ tình dục

Do có rất nhiều tài liệu viết về tình dục và cơ hội cho những trải nghiệm tình dục là khá đa dạng, cho nên hầu hết mọi người hiện nay tự coi mình là người được giải phóng về tình dục. Nhưng giải phóng chủ yếu là ở tầng trí năng và hành vi; bên trong vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế về mặt cảm xúc, trải nghiệm, cũng như giới hạn của các giác quan. Tất cả các trải nghiệm đều diễn ra trong tâm thức; do đó, trải nghiệm tình dục, giống như bất kỳ trải nghiệm nào khác, được quyết định bởi tầng nhận thức tổng thể và tự do nội tâm của chúng ta.

Mức độ hạn chế trong trải nghiệm tình dục của chúng ta càng rõ ràng hơn khi chúng ta càng buông bỏ cảm thọ về nó. Khi chúng ta hoàn toàn phó thác cho tình dục, thì tương tự như thêm một chiều thứ ba vào những gì trước đây chỉ là trải nghiệm hai chiều. Một người phụ nữ đã nói: “Giống như trước đây tôi chỉ nghe  thấy tiếng vĩ cầm, sau đó có thêm tiếng cello, rồi tiếng sáo, v.v., đến nỗi giờ đây trải nghiệm trở nên hoàn toàn đầy đủ và toàn diện.”

Bên cạnh khoái cảm cảm xúc gia tăng từ tự do thể hiện, buông bỏ mang lại thay đổi trong chính trải nghiệm về mặt giác quan. Đối với hầu hết mọi người, đặc biệt là đàn ông, kích thích tình dục và khoái cảm cực khoái chủ yếu là cảm giác ở bộ phận sinh dục. Khi càng trở nên tự do hơn, vị trí của cực khoái bắt đầu mở rộng và lan ra toàn bộ vùng xương chậu và bụng, chân và tay, và cuối cùng là toàn bộ cơ thể. Thường thì, sau khi đạt được cực khoái, thì sẽ đến giai đoạn ổn định, và sau đó đột nhiên và bất ngờ, vị trí cực khoái mở rộng ra ngoài cơ thể, như thể không gian xung quanh cơ thể đang trải nghiệm cực khoái thay vì chính người đó. Cuối cùng, không có giới hạn nào cho cực khoái. Nó dường như mở rộng đến vô tận và được trải nghiệm từ bất kỳ trung tâm hay vị trí cụ thể nào. Như thể không có một cá nhân nào đang có mặt. Cực khoái đang tự trải nghiệm chính nó.

Mở rộng này diễn ta dễ dàng hơn bằng cách nhận thức rằng nhăn mặt và nín thở là những hạn chế do sợ mất kiểm soát và những nỗ lực nhằm hạn chế trải nghiệm. Nếu thở chậm và sâu, mỉm cười thay vì nhăn mặt, sợ hãi sẽ trở thành có ý thức và có thể được buông bỏ.

Tình dục không còn mang tính cưỡng chế nữa. Tự do không chỉ có nghĩa là tự do để thỏa mãn mà còn là tự do không có quan hệ tình dục hay đạt cực khoái. Khi buông bỏ, chúng ta không bị điều khiển bởi ham muốn đạt cực khoái. Làm thế là giải phóng những trải nghiệm và nhận thức mang tính sáng tạo, vì tâm trí không tập trung vào chính cực khoái. Được giải thoát khỏi sự thống trị của ham muốn đạt cực khoái cho phép những trải nghiệm tình dục được mô tả trong văn học tâm linh là “Tình dục Tantra”. Hầu hết người phương Tây đọc một chút về nó và có lẽ đã thử, nhưng sau đó họ bỏ cuộc vì họ tiếp cận nó theo cách dẫn đến sự kìm nén chứ không phải là tự do hơn.

Càng được giải phóng thực sự, chúng ta càng được thúc đẩy bởi tình yêu hơn là bởi ham muốn thỏa mãn. Sự thay đổi động lực này, từ thèm muốn và khao khát sang chia sẻ niềm vui và hạnh phúc với nhau, mang lại những thay đổi to lớn trong bản chất của quan hệ tình dục. Sự thân mật với người khác trở nên bao trùm và thú vị hơn. Có sự hòa hợp lớn hơn với tình dục của người khác và sự thỏa mãn trực giác về phong cách thỏa mãn của nhau. Một cặp bày tỏ điều đó như sau:

Cứ như thể chúng tôi chỉ chứng kiến ​​những gì cơ thể mình đang làm. Cứ như thể chúng tôi chính là không gian mà tất cả đang diễn ra. Ngay khi một người có ham muốn hay tưởng tượng, người kia tự động mà không cần suy nghĩ, bắt đầu hành động để thực hiện nó. Cứ như thể có kết nối về mặt tâm linh. Chúng tôi thừa nhận những cảm thọ bên trong về những tưởng tượng và buông bỏ những lo lắng về phản ứng của người kia. Tình dục trở thành đa dạng và thường xuyên hơn. Trước đây chủ yếu là tối thứ Sáu và thứ Bảy. Giờ đây, làm tình có thể diễn ra trong nhiều ngày liên tiếp, hoặc đôi khi cả tuần mà không có. Luôn luôn mới mẻ. Không bao giờ lặp lại. Đáng kinh ngạc là ngày càng tốt hơn. Lần cực khoái sau dường như thú vị hơn lần trước, nhưng thường thì làm tình lại thú vị đến mức không cần phải đạt cực khoái. Nếu nó xảy ra thì cũng ổn, và nếu không thì cũng ổn. Thời gian thân mật bên nhau thật thỏa mãn và giải phóng, dù kết quả cuối cùng là gì thì cũng thế.

Một người đàn ông nói:

Trước đây tôi chưa từng thực sự nhận ra rằng tình dục đã chi phối các mối quan hệ của mình đến mức nào. Nó thực sự mang tính cưỡng bách. Tôi luôn sợ mình sẽ bỏ lỡ cơ hội làm tình. Tôi không muốn bỏ lỡ cơ hội để tận hưởng khoái cảm. Giờ đây, thói quen của tôi đa dạng hơn; thực tế là, bây giờ tôi không có mô thức nào hết. Khi nó xảy ra, nó xảy ra và thật tuyệt vời khi nó xảy ra. Khi nó không xảy ra, tôi thậm chí không nghĩ đến nó. Trước đây, tôi luôn nghĩ đến tình dục. Phụ nữ thường nói: “Không”. Nhưng giờ đây, vì tôi không còn quan tâm nhiều đến nó nữa, họ thường đề nghị hoặc nói: “Có” nếu tôi đề nghị. Bây giờ, tôi thấy mình quan tâm đến họ nhiều hơn là bản thân mình. Trước đây, tôi chỉ lợi dụng họ cho mục đích ích kỷ của riêng mình và, theo trực giác, phụ nữ biết điều đó. Bây giờ tôi cảm thấy rất yêu thương họ. Tôi thực sự quan tâm đến hạnh phúc và sự an lành của họ, ngay cả khi đó chỉ là một lần gặp gỡ. Thật nhẹ nhõm khi không còn phải nói dối nữa.

Từ những ví dụ vừa nói, rõ ràng là có thay đổi trong tâm thức từ thiếu thốn sang sung túc. Khi chúng ta ích kỷ và chỉ tập trung vào việc tìm kiếm khoái cảm về mặt cảm xúc hoặc thể chất trong quá trình làm ​​tình với người khác, thì chúng ta cảm thấy tức giận, thất vọng và bị tước đoạt. Càng yêu thương nhiều hơn, chúng ta càng nhận được nhiều hơn những gì người khác cho mình, và chúng ta khám phá ra rằng yêu thương hiện diện xung quanh và mọi lúc mọi nơi đều có những cơ hội cho những quan hệ đầy yêu thương. Một người phụ nữ chia sẻ trải nghiệm sau đây:

Lúc nào tôi cũng thừa cân và không đẹp. Trong suốt cuộc đời này, tôi đã luôn khước từ chính mình. Tôi ghen tị và ghét những người phụ nữ hấp dẫn về mặt tình dục. Tôi cũng ghét cả đàn ông vì họ tránh né tôi. Tôi thường than thân trách phận. Tôi thậm chí đã thử áp dụng tâm lý trị liệu, nhưng đã bỏ cuộc khi nhận ra rằng nhà trị liệu tâm lý dường như quan tâm đến những bệnh nhân nữ trẻ đẹp hơn là tôi. Tôi đã thử nhiều phương pháp khác nhau và ít nhất đã vượt qua được thái độ than thân trách phận và trầm cảm; tôi đã có việc làm tốt hơn. Nhưng đàn ông vẫn không quan tâm đến tôi, và tôi không thành công trong chuyện tình dục và tình cảm.

Sử dụng phương pháp buông bỏ, cô ấy đi sâu vào tất cả những cảm thọ tiêu cực mà mình có về chính mính và các mối quan hệ thân mật; cô ấy cho phép những cảm thọ đó xuất hiện từng cái một, và buông bỏ chúng. Cô ấy buông bỏ những cảm thọ như muốn được người khác chú ý và chấp nhận, sợ hãi khi thể hiện bản thân, sợ bị từ chối, và thậm chí cả sợ được yêu thương sâu sắc. Có một cảm thọ ẩn sâu bên dưới: “Tôi không xứng đáng được yêu thương; ai có thể yêu tôi chứ?” Trong vòng một tuần sau khi buông bỏ những cảm thọ này, cô ấy đã có một cuộc hẹn hò. Cô ấy giải thích:

Tôi phấn khích đến nỗi mất cả cảm giác thèm ăn. Chúng tôi đã có một khoảng thời gian tuyệt vời và rồi đột nhiên tôi nhận ra bí mật. Tôi đang cho đi tình yêu thay vì tìm kiếm nó. Cuộc sống của tôi đã thay đổi hoàn toàn. Thay vì muốn được chú ý và yêu thương đến mức tuyệt vọng, tôi biết mình có sức mạnh để cho đi. Khi bước vào một căn phòng, tôi thấy toàn những người đàn ông cô đơn, khao khát tình yêu. Họ trông giống hệt như tôi trước đây, vì vậy tôi biết họ đang cảm thấy như thế nào và phải nói gì với họ, làm thế nào để thể hiện bản thân. Tôi đặt mình vào vị trí của họ và nhìn trái tim họ tan chảy. Tôi từng làm họ sợ hãi bỏ chạy vì tôi quá đói. Hiểu chứ? Đói! Đó là vấn đề của tôi. Giờ đây tôi cảm thấy no đủ, và tôi chia sẻ sự no đủ đó và những gì tôi đã học được. Cuộc sống xã hội của tôi trở nên thú vị đến nỗi tôi không còn thời gian để ăn nữa. Tôi đã giảm được 35 pounds trong một năm. Tôi thậm chí chưa bao giờ ăn kiêng. Tôi chỉ đơn giản là mất hứng thú với việc ăn uống. Tôi đoán đó là vì giờ đây tôi đang được thỏa mãn theo một cách thực sự có ý nghĩa đối với tôi. Có lẽ tôi hơi điên điên vì sự mới mẻ này, nhưng chẳng bao lâu nữa tôi sẽ ổn định lại. Hiện giờ có một người đàn ông mà tôi thực sự quan tâm.

Do đó, tình dục phản ánh trạng thái tâm thức tổng thể của chúng ta. Khi chúng ta buông bỏ sợ hãi và những giới hạn, lĩnh vực đó trong cuộc sống của chúng ta sẽ mở rộng và trở nên ngày càng thỏa mãn hơn, nhưng lại không phải là điều kiện cần để hạnh phúc. Tự do và sáng tạo thay thế cho cưỡng chế và giới hạn. Tình dục trở thành một con đường khác để thể hiện bản thân tốt hơn và nâng cao nhận thức. Niềm vui của sự giao hòa và hiểu biết phi ngôn ngữ thay thế cho sự thúc đẩy ích kỷ để giải tỏa căng thẳng và mục tiêu hạn chế của khoái cảm tình dục và thổi phồng bản ngã. Bí quyết, như người phụ nữ ở trên đã nói, nằm ở nhận thức rằng khi chúng ta tìm cách cho đi thay vì nhận lại, tất cả các nhu cầu của chính chúng ta đều được tự động đáp ứng. Như một người nhận xét: “Những người bạn của tôi, từng thực hành kỹ thuật này đã kể cho tôi nghe về nhiều vấn đề, nhưng không có người yêu không phải là một trong số đó!”



[i] Synchronicity - Tính đồng nhịp  hay đồng phương tương tính được Carl Jung định nghĩa là một “nguyên lý liên hệ phi nhân quả” hay nguyên lý trùng ứng hoặc nguyên tắc kết nối phi nhân quả còn được gọi là sự đồng hiện hay ngẫu nhiên có ý nghĩa là một khái niệm được nhà tâm thần học Carl Jung, người sáng lập ra tâm lý học phân tích đề ra để mô tả các sự kiện trùng hợp về mặt thời gian và dường như có liên quan có ý nghĩa, nhưng lại thiếu mối liên hệ nhân quả có thể khám phá được. Đây chính là nguyên lý về sự trùng hợp có ý nghĩa của hai hay nhiều sự kiện, trong đó không tồn tại một mối liên hệ nhân quả nào giữa chúng.

 

 

July 13, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (18)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 17 

CHUYỂN HOÁ

       Mặc dù buông bỏ dường như là đơn giản và dễ dàng, nhưng ảnh hưởng cuối cùng của nó lại vô cùng mạnh mẽ. Một sự buông bỏ nhỏ bé, nhanh chóng, được thực hiện một cách gần như tình cờ, đôi khi có thể mang lại thay đổi lớn trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta có thể hình dung nó như bánh lái của một con tàu. Chỉ cần thay đổi một độ trên la bàn của con tàu, chúng ta thấy rất ít khác biệt; nhưng, khi con tàu đi trên biển hết giờ này qua giờ khác, hết ngày này qua ngày khác, thay đổi một độ trên la bàn cuối cùng sẽ đưa chúng ta đến một nơi khác hẳn, cách xa nhiều dặm so với hướng đi ban đầu.

Trong chương này, chúng ta muốn xem xét ảnh hưởng của cơ chế buông bỏ đối với những lĩnh vực trong cuộc sống mà hầu hết mọi người đều quan tâm: sức khỏe, của cải và hạnh phúc. Chúng ta sẽ thảo luận về những lĩnh vực này như chúng thường được đa số người trải nghiệm, và so sánh với những thay đổi khi thực hành buông bỏ ngày càng tiến triển thêm. Thay đổi là khá rõ ràng nếu quan sát cuộc sống của những người sử dụng kỹ thuật này. Thay đổi cũng sẽ rõ ràng trong cuộc sống của chính bạn. Đôi khi bạn sẽ không nhận thức được; do đó, bạn nên lập một danh sách mục tiêu và đánh dấu những thành quả đạt được, để bạn luôn luôn ý thức và nhận biết được tiến bộ. Bước tự nhận thức này là để khắc phục một trong những đặc điểm kỳ lạ của tâm trí. Nếu chúng ta quyết định áp dụng một kỹ thuật cụ thể nào đó nhằm cải thiện cuộc sống của mình, nhưng khi cải thiện xảy ra, tâm trí lại có xu hướng kỳ lạ là coi thường chính kỹ thuật đã tạo ra thay đổi đó. Dường như bản ngã của tâm trí kiêu ngạo đến mức không muốn ghi nhận công lao xứng đáng.

Xu hướng coi thường tiến bộ nội tại này đôi khi khá buồn cười. Ví dụ, một người đàn ông đã mắc kẹt trong cùng một vị trí công việc trong 23 năm bắt đầu sử dụng kỹ thuật buông bỏ. Chỉ trong vài tháng, ông đột nhiên thăng tiến lên vị trí Phó Chủ tịch và đến cuối năm, ông đã trở thành Chủ tịch công ty. Khi được hỏi liệu ông ta có hài lòng với mình về những gì mình đã đạt được nhờ sử dụng kỹ thuật nội tâm hay không, tâm trí ông ta hoàn toàn phủ nhận điều đó và cho rằng những thành quả đạt được là do “sự thay đổi trong mô thức kinh doanh”. Hôn nhân của ông ta cũng được cải thiện, và một lần nữa, tâm trí lại cho rằng những cải thiện đó là do các lý do bên ngoài: “Thái độ của vợ tôi cuối cùng đã thay đổi”. Quan hệ với con trai cũng được cải thiện, và tâm trí lại một lần nữa bỏ qua chuyển hoá nội tâm và nói rằng đó là do con trai ông ta “đang trưởng thành”.

Trong những cuộc thảo luận tiếp theo, cần lưu ý rằng chuyển từ trạng thái này sang trạng thái cao hơn không phải là khó. Chúng chỉ có vẻ “khó” đối với chúng ta vì những tri giác trong hiện tại. Quan trọng cần ghi nhớ là, khi buông bỏ, tri giác của chúng ta sẽ thay đổi. Mục tiêu của chúng ta sẽ tự động được nâng lên. Cái mà lúc này dường như là bất khả thi, sẽ trở thành quá đỗi bình thường sau khi ta thực hành kỹ thuật này một thời gian.

Chúng ta cũng sẽ nhận thấy rằng, khi tâm trí so sánh đời sống ở tầng thấp hơn với đời sống ở tầng cao hơn, đôi khi sẽ xuất hiện kháng cự kỳ cục với việc mô tả tầng hoạt động cao hơn. Tâm trí sẽ trở nên phê phán và cố gắng giữ thể diện bằng cách chế giễu trạng thái cao hơn. Đây là một cơ hội vàng, vì chính thái độ này ngăn cản người đó vươn tới trạng thái cao hơn của đời sống. Đọc cuốn sách này là công việc vô cùng quý giá, vì nó sẽ tiết lộ chính xác rào cản là gì và vì sao những mục tiêu này lại không khả thi vào lúc đó. Khi kháng cự, chỉ trích và coi thường xuất hiện, chúng ta có thể bắt đầu buông bỏ và để chúng đi qua ngay trong quá trình đọc về chúng. Đây là một cơ hội tuyệt vời để xác định những rào cản bên trong, không cho chúng ta đạt được viên mãn. Đúng như Pogo[i] đã nói: “Chúng ta đã nhận diện được kẻ thù, và kẻ đó chẳng phải ai khác ngoài chính ta”.

Là nhà trị liệu tâm lý và bác sĩ tâm thần chuyên nghiệp với nhiều chục năm kinh nghiệm lâm sàng và đào tạo, hầu hết mọi người đều coi những tầng hoạt động cao hơn này là bất khả thi. Tuy nhiên, việc học cách thức hoạt động của cơ chế buông bỏ ở tầng thực tiễn và chứng kiến ​​hàng trăm gia đình, bạn bè, bệnh nhân và cựu bệnh nhân thay đổi cuộc sống của họ đã hoàn toàn thay đổi quan điểm này. Giờ đây, những tầng hoạt động cao hơn được coi là tự động, dễ đạt được và dành cho tất cả mọi người, thường diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn đáng ngạc nhiên. Trên thực tế, một số tầng thành công và hạnh phúc dường như là bất khả thi, nhưng tầng cao hơn sẽ đã xảy ra ngay khi bạn đọc xong cuốn sách này. Bạn có thể tự nhủ ngay từ đầu rằng những tầng hoạt động cao này không chỉ khả thi mà còn là quyền bẩm sinh. Đó là trạng thái tự nhiên vốn có mà bạn đã bị tước mất bởi tất cả các chương trình mà tâm trí phải tiếp nhận ngay từ lúc chào đời.

Trước khi đọc tiếp, bạn nên ngồi im và đưa ra quyết định nội tâm: buông bỏ việc chống lại những tầng hoạt động cao hơn. Có nghĩa là quyết định ngừng phủ nhận những tầng cao hơn đối với chính mình, và quyết định buông bỏ mọi rào cản đối với hạnh phúc, thành công, sức khỏe, chấp nhận, yêu thương và an bình. Bằng cách làm như thế, công việc đã hoàn thành, vì bạn đã đặt toàn bộ trải nghiệm vào bối cảnh mà nó sẽ tự động bắt đầu diễn ra.

 

Sức khoẻ

Người bình thường luôn luôn quan tâm tới cơ thể, chức năng, hiệu suất, ngoại hình và sự sống còn của nó. Tâm trí người bình thường nằm trong vòng vây của những lo lắng, sợ hãi về bệnh tật, đau khổ, dịch bệnh và chết; do đó, tâm trí tìm cách bảo vệ cơ thể bằng nhiều cách khác nhau. Điều này dẫn đến việc quá chú trọng tới chế độ ăn uống, cân nặng, tập thể dục và sức khỏe của môi trường. Với sự căng thẳng bên trong như thế, đến cuối ngày, người bình thường thường cảm thấy mình là nạn nhân: kiệt sức, trống rỗng và mệt mỏi.

Một trong những hậu quả của việc quan tâm quá mức đến cơ thể chính là trạng thái mặc cảm tự ti. Trong phạm vi trường nhận thức, sự hiện diện của cơ thể rất nổi bật, và có sự ám ảnh về mặt tâm trí với những việc nó đang làm, vị trí và chuyển động của nó, sự sống còn của nó, thái độ và sự chấp thuận của người khác đối với cơ thể, ngoại hình và hành vi của nó.

Ẩn sâu dưới tất cả những quan tâm này là đánh đồng trong vô thức: “Tôi là cơ thể”. Đây là tầng tâm thức rất hạn hẹp. Thực tế, trong giới tâm linh, điều này được gọi là trạng thái “vô minh”. Vì đó là nhận diện sai lầm, do nhận thức bị thu hẹp đáng kể, giống như đeo một cái băng bịt mắt. Nó tương tự như việc có một cái mụn trên mũi rồi tưởng rằng cả thế giới này đang xoay quanh cái mụn đó, và ta đi suốt cả ngày với suy nghĩ về cái mụn luôn nằm trong tâm trí.

Hãy tỉnh thức trước mức độ hao tổn năng lượng gây ra bởi sự chấp nhất không ngừng nghỉ vào cơ thể. Tâm trí của chúng ta liên tục được lập trình với vô số hệ thống niềm tin khác nhau về cơ thể: nó cần gì, cái gì tốt cho nó, và vô số điểm yếu của nó. Điều này dẫn đến ám ảnh liên tục với tất cả các loại biện pháp phòng ngừa, trong đó có các trào lưu thực phẩm tốt cho sức khỏe, đọc nhãn mác không ngừng nghỉ để tìm kiếm những thành phần có khả năng gây độc, sợ hãi khi ở gần người hút thuốc lá, sợ bụi và phấn hoa và tất cả các chất gây ô nhiễm được cho là có trong môi trường. Có ám ảnh về việc bù đắp tất cả những “nguy hiểm” này bằng nhiều biện pháp đối phó khác nhau.

Như chúng ta đã thấy từ những thảo luận bên trên, những điểm yếu này chỉ đơn thuần là sản phẩm của tâm trí, và cơ thể sẽ phản ứng trước những gì được lưu giữ trong tâm trí. Điều này đã được chứng minh trong cuộc thảo luận của chúng ta về đa nhân cách: cơ thể phản ánh trong từng khoảnh khắc những gì nhân cách và tâm trí cụ thể đó tin tưởng.

Khi chúng ta bắt đầu buông bỏ tất cả những nỗi sợ hãi này, loại bỏ các hệ thống niềm tin và khẳng định lại rằng Đại Ngã đích thực của chúng ta là Vô hạn và không bị giới hạn, chúng ta sẽ tiến đến trạng thái sức khỏe, hạnh phúc và năng lượng sống cao hơn. Một cách hữu hiệu để tự nhắc nhở mình là: “Tôi là Hữu thể Vô hạn, không chịu sự chi phối của ____________.” và điền vào chỗ trống bất kỳ căn bệnh hay tác nhân nào mà tâm trí đã bị lập trình, coi đó là “nguy hiểm” tiềm tàng đối với mình.

Sau khi buông bỏ vô vàn sợ hãi, lo lắng và hệ thống niềm tin về cơ thể, các bệnh tật về thể chất cũng bắt đầu tự biến mất. Cảm thọ sống động và tự do tăng lên. Trong trạng thái hoàn toàn buông bỏ, người ta hầu như không nhận thức được cơ thể. Nó chỉ hiện diện một cách mơ hồ trong nhận thức, và không còn bận tâm nào về nó nữa. Nó hoạt động một cách dễ dàng, trơn tru và mà không cần chú ý nhiều.

Người đã buông bỏ những hệ thống niềm tin hạn chế có thể ăn bất cứ thứ gì; có thể đi bất cứ đâu; và không còn bị chi phối bởi sợ hãi các chất gây ô nhiễm, chất độc hại, gió lùa, vi trùng, tần số điện từ, thảm, khói, bụi, lông thú, cây thường xuân độc, phấn hoa, phẩm màu thực phẩm, v.v.[ii] Tri giác của chúng ta về cơ thể thay đổi, và giờ đây nó dường như giống như một con rối hoặc một con thú cưng. Tri giác chuyền từ “Tôi là cơ thể này” thành “Tôi có cơ thể này”.

Ngày càng rõ ràng rằng cơ thể không tự trải nghiệm chính nó. Ngược lại, chính tâm trí đang trải nghiệm cơ thể. Không có tâm trí, thì không thể tri giác được thân thể. Cánh tay không thể trải nghiệm được cánh tay là cánh tay. Chỉ có tâm trí mới có thể trải nghiệm được cánh tay là cánh tay. Đây chính là cơ sở của gây mê. Khi tâm trí ngủ, cơ thể không có cảm giác. Dần dần, chúng ta nhận ra rằng, thực tế là, cơ thể không hề có cảm giác; chỉ có tâm trí mới có khả năng thực hiện chức năng này.

Đây là một sự chuyển đổi tâm thức cực kì quan trọng, vì giờ đây, không còn bận tâm về cơ thể và việc bảo vệ nó nữa. Trọng tâm chú ý giờ đây chuyển sang tâm trí, vốn có sức mạnh lớn hơn. Khi thay đổi suy nghĩ, cảm thọ và tri giác của mình, chúng ta bắt đầu nhận thấy rằng cơ thể cũng thay đổi theo. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng mọi người thực sự không phản ứng với cơ thể của chúng ta mà là với thái độ bên trong, phản ứng với trạng thái năng lượng bên trong và với tầng tỉnh thức của chúng ta. Một ngày nào đó, chúng ta nhận ra rằng mọi người và mọi thứ trên thế gian thực sự đang phản ứng với tầng tâm thức, với ý định và cảm xúc bên trong mà chúng ta dành cho họ. Chúng ta cảm nhận được sức hút của những người thánh thiện như Mẹ Teresa, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Mahatma Gandhi. Chúng ta thấy rằng họ được mọi người yêu mến không phải vì ngoại hình, vốn thường không tạo được ấn tượng, mà vì sự rạng rỡ bên trong của yêu thương và an bình mà họ tỏa ra. Sự chuyển hướng tập trung từ tầng vật chất sang tầng tâm thức mang lại kết quả nhanh chóng.

Liên tục buông bỏ những cảm thọ và thái độ tiêu cực đồng nghĩa với việc mặc cảm tội lỗi liên quan với những cảm thọ này cũng liên tục được giải tỏa. Tâm thức không bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi thường không còn thu hút bệnh tật nữa. Trong vô thức, mặc cảm tội lỗi đòi hỏi trừng phạt và bệnh tật, cùng với đau đớn và khổ sở đi kèm, như là phương tiện tự trả thù thường xuyên nhất của tâm trí. Những hành động tự trả thù này có thể biểu hiện dưới dạng một tai nạn, một cơn cảm lạnh, bệnh cúm, viêm khớp, hoặc bất kỳ bệnh tật nào khác mà tâm trí tự tạo ra. Truyền hình và truyền thông đưa tin lại làm cho những căn bệnh này bùng phát thành dịch. Khi một nhân vật nổi tiếng chia sẻ với công chúng về một căn bệnh nghiêm trọng nào đó, tỷ lệ mắc bệnh đó đột ngột tăng vọt. Vô thức nắm lấy một căn bệnh và sử dụng nó để giải quyết ân oán. Cùng với việc liên tục buông bỏ mặc cảm tội lỗi ở bên trong, ngày càng có ít vấn đề cần được giải quyết hơn. Do đó, một người không có thái độ tiêu cực và không có mặc cảm tội lỗi thường không bị bệnh và không bị đau khổ.

Quá trình hồi phục có thể rất ngoạn mục. Ví dụ, bà là chủ một cơ sở xuất bản tạp chí rơi vào tình trạng vô vọng vì bệnh đa xơ cứng giai đoạn cuối. Giới y học đã làm tất cả những gì có thể và coi bà là trường hợp không thể chữa được. Đúng lúc đó, bà đã tìm được kỹ thuật giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi bằng cách nghiên cứu Sách bài tập của Khóa học về những điều kì diệu. Bằng cách thực hành khóa học tại nhà, trong đó có suy ngẫm kĩ lưỡng mỗi ngày một bài học ngắn trong suốt 365 ngày, bà bắt đầu xóa bỏ tất cả những mặc cảm tội lỗi và oán hận thông qua cơ chế tha thứ. Bằng cách liên tục tha thứ và xóa bỏ những cảm thọ tiêu cực, và do đó xóa bỏ mặc cảm tội lỗi bên trong, bệnh đa xơ cứng đã tự khỏi Tính đến thời điểm chấp bút cuốn sách này, bà đã hồi phục được nhiều năm rồi và đang có sức khỏe rất tốt, và cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống của mình.

Nói chung, sức khỏe và hạnh phúc là hệ quả tự nhiên của buông bỏ mặc cảm tội lỗi và những tiêu cực khác, cũng như buông bỏ kháng cự của chúng ta đối với những trạng thái tích cực của sức khỏe và hạnh phúc. Thông qua cơ chế buông bỏ, toàn bộ các loại bệnh tật có thể được giải quyết và trở thành người khỏe mạnh.

Như đã nói bên trên, có thể có những trường hợp hiếm hoi mà bệnh tật hoặc suy nhược tiếp tục không thuyên giảm, đấy là do những yếu tố chưa được biết tới, ví dụ như nghiệp lực. Buông bỏ liên tục mang lại chữa lành ở tầng nội tâm, vì vậy, ngay cả khi cơ thể dường như bị hạn chế và người khác có thể coi đó là “bi kịch”, thì người đó vẫn bình an và tỏa ra một trạng thái hạnh phúc nội tâm, giúp nâng đỡ những người khác. Bằng cách buông bỏ ở những tầng sâu, những người như thế đã buông bỏ than thân trách phận, mặc cảm tội lỗi và kháng cự trước những hoàn cảnh của cuộc đời. Họ đã siêu việt quan điểm cho rằng bệnh tật là rào cản đối với hạnh phúc cá nhân và coi đó như là phương tiện mang lại phước lành cho người khác. Trong những năm gần đây, những ví dụ công khai về hiện tượng này bao gồm cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người đã tiếp cận căn bệnh Parkinson dai dẳng của mình như là cơ hội về mặt tâm linh để gánh vác hoặc ở bên cạnh đau khổ này của những người khác.

 

Của cải

Đây là một chủ đề quan trọng, không chỉ vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của chúng ta, mà còn vì nó nhanh chóng và dễ dàng bộc lộ cảm thọ, suy nghĩ và thái độ của chúng ta về tiền bạc. Đối với tâm trí, có những hệ thống niềm tin hạn chế và những suy nghĩ, cảm thọ tiêu cực, tiền bạc là “vấn đề”. Nó là nguồn gốc của lo lắng và bất an, tuyệt vọng và chán nản vô tận, hoặc là phù phiếm, kiêu căng, ngạo mạn, thiếu khoan dung với người khác, ghen tị và đố kỵ. Ở mức độ tồi tệ nhất, kết quả cuối cùng của tất cả những tiêu cực này là cảm thọ rằng mình bị hạn chế, thiếu thốn và thiệt thòi về tài chính. Trong lĩnh vực này, cảm thọ “Tôi không thể” là do sợ hãi và hạn chế thường được né tránh bằng cách đơn giản là tránh né toàn bộ vấn đề tiền bạc và chấp nhận địa vị kinh tế xã hội thấp như là sự kiện “không thể tránh khỏi”.

Vô thức mang tới cho chúng ta những gì nó nghĩ là chúng ta xứng đáng. Nếu quan điểm của chúng ta về chính mình là nhỏ bé, hạn chế và keo kiệt—do mặc cảm tội lỗi đã tích lũy—thì vô thức sẽ đưa những điều kiện kinh tế như thế vào cuộc đời của chúng ta. Thái độ của chúng ta đối với tiền bạc có thể được khám phá khi chúng ta xem xét những ý nghĩa khác nhau của nó. Ví dụ, chúng ta thấy mức độ đại diện của nó cho an toàn, quyền lực, sự hào nhoáng, hấp dẫn giới tính, cạnh tranh thành công, thái độ tự trọng và giá trị của chúng ta đối với người khác và thế giới.

Sẽ rất hữu ích nếu bạn ngồi xuống với một cái bút chì và một tờ giấy và, dưới tiêu đề “Tiền bạc”, bạn bắt đầu phác thảo những ý nghĩa thực sự của nó trong tất cả các khía cạnh khác nhau của cuộc đời. Sau đó, hãy viết ra những cảm thọ liên quan đến từng lĩnh vực và bắt đầu từ bỏ từng cảm thọ và thái độ tiêu cực. Khi làm như thế, chúng ta sẽ có khám phá đáng ngạc nhiên rằng bản thân tiền bạc không phải là vấn đề cơ bản nhất. Quan trọng hơn cả tiền bạc là những thỏa mãn về mặt cảm xúc mà chúng ta hy vọng sẽ nhận được khi sử dụng số tiền đó.

Giả sử rằng, đằng sau mong muốn về tiền bạc, chúng ta phát hiện ra rằng một trong những mục tiêu của chúng ta là được tôn trọng và đánh giá cao. Trong khám phá đó, chúng ta vừa nhận ra rằng không phải bản thân tiền bạc là điều chúng ta quan tâm; thay vào đó, đó là lòng tự trọng và cảm giác về giá trị nội tại của chúng ta. Chúng ta nhận ra rằng tiền chỉ là công cụ để đạt được điều gì đó khác và trên thực tế, điều chúng ta thực sự muốn không phải là tiền mà là lòng tự trọng và sự kính trọng mà chúng ta từng nghĩ tiền sẽ mang lại. Chúng ta cũng sẽ nhận ra rằng những mục tiêu mà mình từng nghĩ tiền sẽ mang lại có thể đạt được một cách trực tiếp. Tự trọng càng cao, chúng ta càng ít cần sự chấp thuận của những người khác. Khi nhận thức được những điều này, tiền bạc sẽ mang một ý nghĩa khác trong mỗi lĩnh vực của cuộc sống. Giờ đây, tiền bạc phục vụ cho những mục tiêu cao hơn chứ không phải là mục đích tự thân.

Nếu không ý thức được ý nghĩa của tiền bạc đối với chúng ta về mặt cảm xúc, chúng ta sẽ bị nó dắt mũi. Chúng ta bị những niềm tin vô thức về tiền bạc và tất cả những chương trình liên quan đến nó dẫn dắt. Giống như một triệu phú kia cứ tích lũy thêm hàng triệu đô la. Dường như không bao giờ cảm thấy đủ. Tại sao? Bởi vì ông ta chưa bao giờ dừng lại để nhìn xem tiền bạc thực sự có ý nghĩa gì đối với mình. Nếu chúng ta bị ám ảnh với việc đuổi theo tiền bạc hay những biểu tượng giàu có khác, thì đó là do giá trị tự thân bên trong ta quá nhỏ bé, đến mức cần một lượng tiền khổng lồ mới có thể bù đắp được. Sự bất an bên trong lớn đến mức dù có bao nhiêu tiền cũng không thể khỏa lấp nổi. Có thể nói rằng, càng cảm thấy mình nhỏ bé ở bên trong, thì càng phải tích lũy nhiều quyền lực, tiền bạc và sự hào nhoáng để cố gắng bù đắp cho sự nhỏ bé ở bên trong.

Buông bỏ là chúng ta được giải thoát khỏi sự nhỏ bé, bất an và tự trọng thấp ở bên trong. Khi đó, tiền bạc chỉ đơn thuần là công cụ để vươn tới mục tiêu của chúng ta trong cuộc đời này. Chúng ta có sự an tâm ở bên trong, biết rằng luôn luôn có đủ tiền. Khi cần, chúng ta sẽ luôn luôn có được những gì mình cần, vì chúng ta có cảm giác trọn vẹn, viên mãn và hài lòng từ bên trong. Khi đó, tiền bạc trở thành nguồn vui chứ không phải lo lắng.

Ở một tầng nào đó, chúng ta thậm chí dường như thờ ơ với tiền bạc. Khi cần tiền để hoàn thành một dự án, tiền dường như tự nhiên xuất hiện từ đâu đó. Chúng ta cảm thấy bình thản về sự kiện đó, vì chúng ta được kết nối với nguồn sức mạnh đích thức của chính mình. Khi chúng ta giành lại quyền lực mà mình đã trao cho tiền bạc và nhận ra đó là sức mạnh đích thực của chính mình, thì chúng ta không còn lo lắng về tiền bạc nữa, cũng không cần phải tích lũy thêm nhiều tiền nữa. Một khi đã có công thức chế tạo vàng, chúng ta không cần phải mang cả một bao tải vàng trên vai với tất cả những lo lắng và bất an đi kèm.

Tất nhiên, cùng với việc tích lũy tiền bạc quá mức là lúc nào cũng sợ mất tiền. Thật dở khóc dở cười khi thấy ​​một người có tài sản trị giá 50 triệu đôla gần như suy sụp chỉ vì một sơ suất trong kinh doanh đã đánh mất 10 triệu đôla. Ông ta thực sự hoảng loạn. Về mặt cảm xúc, ông ta sợ rằng mình sẽ không thể sống sót trên hành tinh này chỉ với 40 triệu đô la. Người nghèo nàn ở bên trong luôn có động cơ tích lũy của cải không ngừng nghỉ. Cùng với nghèo nàn ở bên trong là thái độ ích kỷ hoặc những hệ quả của nó như phù phiếm và kiêu căng giả tạo.

Rất hay xảy ra là, những người sử dụng kỹ thuật buông bỏ lại đột nhiên trở thành giàu có. Những diễn viên từng có đời sống khó khăn giờ đây được đóng những vai chính ở Hollywood. Một nhà soạn kịch bên bờ vực nghèo đói trở thành nhà sản xuất của một vở diễn vang dội trên sân khấu Broadway. Ngược lại, có những người đã trở nên tự tại với tiền bạc đến mức họ chọn cách từ bỏ phần lớn tài sản để sống cuộc đời giản đơn hơn nhiều. Họ không còn hứng thú với tiền bạc; họ đã làm chủ được nó. Những sự thỏa mãn nội tâm mà trước đây họ từng tìm kiếm thông qua tiền bạc, thí lúc này đã được thỏa mãn một cách trực tiếp, vì thế hạnh phúc bên trong không còn phụ thuộc vào của cải ở bên ngoài. Trong trạng thái tự do nội tâm như thế, người ta không còn lệ thuộc và không còn bị thế giới bên ngoài tác động nữa. Chỉ khi đã thực sự làm chủ, ta mới có thể siêu việt khỏi nó.

 

Hạnh phúc

Trong các phần về Sức khỏe và Của cải, chúng ta đã nói đến những lĩnh vực quan trọng liên quan đến hạnh phúc tổng thể. Giờ đây, chúng ta sẽ tập trung hơn vào đời sống cảm xúc ở bên trong, vì đó là nơi mà tất cả chúng ta thực sự sống. Xét cho cùng, mục đích của sức khỏe và của cải chỉ đơn giản là vì chúng ta cho rằng, và ở một mức độ nào đó, điều đó là đúng, chúng đem lại hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh phúc có thể được trải nghiệm một cách trực tiếp, và ở tầng này, nó tương đối độc lập với sức khỏe hoặc của cải.

Xin cùng xem xét một cách khách quan về quan điểm trung bình về hạnh phúc. Trước hết, hạnh phúc cực kỳ dễ bị tổn thương. Một lời nhận xét tình cờ, một lời phê bình, một cái nhíu mày, hay một chiếc xe chen ngang trước mặt chúng ta đều đủ sức và ngay lập tức phá tan hạnh phúc của người bình thường. Đe dọa mất việc, cảm thọ thiếu tin tưởng trong quan hệ nào đó, một lời nhận xét đáng ngại của bác sĩ, hay một tài xế taxi xấc xược, đều có thể làm hỏng cả ngày hôm đó của nhiều người. Vì sao hạnh phúc của chúng ta lại mong manh đến mức những sự việc thường ngày có thể “phá hỏng” cả ngày hôm đó?

Trong phần Giải phẫu cảm xúc, chúng ta đã xem xét những lý do dẫn đến kết quả này. Hệ quả của những cảm thọ, tư tưởng và thái độ tiêu cực, cùng với việc không ngừng phán xét và chỉ trích người khác, là chúng ta thường cảm thấy bị tách biệt khỏi mọi người. Vì cảm thọ cô đơn và tách biệt bên trong như thế, các mối quan hệ đều diễn ra dưới hình thức chấp trước, với tất cả những sợ hãi, giận dữ và ghen tị đi kèm với bất kỳ mối đe dọa nào đối với những chấp trước đó. Tiêu cực ở bên trong dẫn đến những niềm tin phổ biến: “Ngươi sinh ra trong cô đơn và sẽ chết trong cô đơn.” Trên thực tế, không có gì sai lầm hơn thế. Như những cuốn sách gần đây về trải nghiệm cận tử cho biết, trong cuộc sống người ta thường cảm thấy cô đơn và, vào đúng lúc chết, có một cảm giác tuyệt đối về một thể và kết nối (Eadie, 1992; Neal, 2011).

Vì có chấp trước, phụ thuộc và sự nhỏ bé ở bên trong, chúng ta có thể cảm thấy yếu đuối và bị hạn chế. Phán xét đầy tội lỗi đối với những tư tưởng và cảm thọ bên trong đã bị phóng chiếu ra thế giới bên ngoài, làm cho thế giới hiện lên như một nơi đáng sợ. Vì những sợ hãi này được lưu giữ trong tâm trí, những sự kiện và trải nghiệm đầy sợ hãi được đưa vào cuộc sống của chúng ta, theo đúng nghĩa đen của từ này. Sợ hãi dẫn đến tức giận thường trực và làm cho chúng ta trở thành dễ bị tấn công và rơi vào hỗn loạn cảm xúc bên trong. Đau đớn và khổ sở xảy ra, kèm theo tuyệt vọng mang tính chu kỳ và dễ bị rối loạn cảm xúc. Tâm trí-bản ngã nhìn nhận mọi người như là những người riêng biệt, nó ghen tị với bất kỳ người nào khác dường như hạnh phúc hơn, thành công hơn, hoặc có những quan hệ tốt hơn, thân thể đẹp hơn, hoặc có nhiều liên hệ tốt hơn. Chẳng bao lâu sau, do thiếu sự sáng suốt nội tại về những mục tiêu của mình, hỗn loạn sẽ nảy sinh, dẫn đến than thân trách phận, đố kỵ và oán hận sâu sắc hơn. Tự kết án sau đó bị phóng chiếu không ngừng ra thế giới bên ngoài, biểu hiện dưới dạng những chỉ trích từ người khác, chính điều này lại càng làm gia tăng mặc cảm tội lỗi và cảm thọ nhỏ bé ở bên trong.

Đối với một số người, lối thoát duy nhất là thông qua sự tự cao tự đại, bất dung, cố chấp, kiêu ngạo và tức giận, những biểu hiện này thể hiện dưới hình thức tàn nhẫn, hống hách, hung bạo và vô cảm với cảm thọ của người khác. Thường thì vô cảm đi kèm với những lời bào chữa, chẳng hạn như: “Tôi là người thẳng thắn, nói ra suy nghĩ của mình,” hoặc “Tôi là người thẳng thắn; bạn luôn biết vị trí của mình trong mối quan hệ với tôi.” Những lời nói này là vỏ bọc cho thái độ vô cảm, mà có thể được mô tả chính xác hơn là vụng về. Tự trọng thấp dẫn đến chỉ trích chính mình và người khác, cạnh tranh và so sánh bất tận, phân tích, khinh miệt, trí năng hóa, nghi ngờ và ảo tưởng về trả thù. Khi tất cả những cơ chế đó thất bại, sẽ xuất hiện thờ ơ và cảm thọ tuyệt vọng và bị tổn thương. Trong trạng thái như thế, chúng ta dần trở nên ngày càng xa lạ với chính mình và mọi người, bởi có quá nhiều phần trong tâm thức mà ta buộc phải che giấu. Hành vi của chúng ta dẫn đến cô lập với người khác và tạo ra mất cân bằng, do đánh giá quá cao những khía cạnh của cuộc sống dường như đang hiệu quả.

Do sự hỗn loạn bên trong như thế, người bình thường buộc phải luôn luôn ở trong trạng thái vô thức. Thật thú vị khi quan sát những phương tiện mà tâm trí đã phát minh ra để thực hiện mục đích này. Chúng ta thấy một người thức dậy vào buổi sáng và bật đài hoặc tivi để ngay lập tức đưa tâm trí ra khỏi tự ngã và tạp niệm. Mặc dù có thêm chút giải trí, nhưng những suy nghĩ và cảm thọ vẫn có xu hướng nảy sinh cho đến khi tâm trí bị cuốn vào những dự án trong ngày, công việc và các kế hoạch cần thực hiện hoặc khoái lạc khác nhau. Nó bắt đầu quan tâm tới cơ thể - tất cả việc chải chuốt, tắm rửa, xịt nước hoa, thoa phấn, khử mùi và lựa chọn cẩn thận quần áo cho ngày hôm đó. Việc lựa chọn quần áo gợi lên tất cả lịch trình trong ngày, sự bận rộn với các hoạt động đã được dồn nén vào một ngày: những cuộc hẹn hò bất tận, các cuộc điện thoại, việc vặt, các cuộc gặp gỡ, trách nhiệm gia đình và viết email. Trên đường đi làm hoặc các hoạt động trong ngày, là những cuộc trò chuyện với bạn bè, nghe đài trên xe, gọi điện thoại di động, nhắn tin và đọc báo buổi sáng trên tàu điện ngầm. Khi đến nơi, tiếp theo là quan tâm tới những sự kiện trong ngày: công việc kinh doanh, các giao dịch, mặc cả, sắp xếp, lo lắng, thao túng, tìm kiếm quyền lực không ngừng nghỉ, săn lùng “thành công”, và sợ hãi về sinh tồn lúc nào cũng có đó. Tất cả những điều này được thúc đẩy bởi mong muốn tìm kiếm ý nghĩa và an toàn, và để gia tăng lòng tự trọng và bằng mọi cách đảm bảo giá trị của bản thân mình.

Chúng ta không thật sự nhận thức được sự cuồng loạn của cuộc vật lộn cho đến khi một sự kiện bên ngoài nào đó buộc chúng ta đột nhiên phải dừng lại. Khi đó, chúng ta đối mặt với sự trống rỗng ở bên trong. Đòi hỏi không ngừng tiêu thụ các loại tiểu thuyết, tạp chí, chương trình truyền hình và mạng internet. Hoặc tránh né sự trống rỗng bằng cách liên tục đi dự tiệc tùng, trốn chạy vào ma túy, làm tê liệt tâm trí bằng vài ly rượu, xem phim ảnh và theo đuổi các trò tiêu khiển khác. Chúng ta có xu hướng làm bất cứ việc gì chỉ để tránh phải đối diện với cảm thọ trống rỗng ở bên trong.

Những hoạt động đó, tự bản thân chúng, không có gì sai. Điều chúng ta muốn xem xét chỉ là trạng thái tâm thức, trạng thái nhận thức, và cách thức mà các hoạt động được cảm nhận, theo đuổi và trải nghiệm. Trong trạng thái tự do nội tâm, những sự kiện và trải nghiệm tương tự như thế này có ý nghĩa hoàn toàn khác.

Những hoạt động giống hệt như thế có thể bắt nguồn từ cảm giác về hạnh phúc, tự trọng và trọn vẹn ở bên trong. Những mục tiêu tương tự như thế có thể được hoàn thành thông qua việc nhận ra thành tựu ở bên trong của chúng ta, chứ không phải là cạnh tranh với người khác. Các mối quan hệ trở thành sẻ chia và yêu thương chứ không phải là ghen tị, cạnh tranh và bị thúc đẩy bởi việc tìm kiếm tán dương và chấp thuận. Khi thoát khỏi những động cơ tiêu cực, chúng ta tận hưởng những mối quan hệ làm cho chúng ta hài lòng, vì chúng ta yêu thương mọi người, chứ không phải vì chúng ta chấp trước vào họ. Khi không còn ghen tị và đe dọa, chúng ta có thể cho phép người khác được tự do. Chúng ta không phải là nạn nhân của sự thao túng từ người khác bởi vì chúng ta đã tìm thấy sự thỏa mãn ở bên trong.

Buông bỏ được những suy nghĩ, cảm thọ và thái độ tiêu cực, là chúng ta lấy lại sức mạnh mà mình đã trao cho thế gian. Phần lớn sức hấp dẫn của thế gian là do sự hào nhoáng mà chúng ta đã gán cho nó. Đây là những câu hỏi để tự suy ngẫm: “Liệu đó có thực sự là tất cả số tiền mà tôi muốn, hay chỉ là sự hào nhoáng mà tôi đã gán cho nó? Tôi muốn gì từ chức danh đó, hay từ danh xưng “Tiến sĩ”, “Luật sư” và “Mục sư”? Đó có phải là trách nhiệm và những hoạt động đi kèm với nó, hay là sự hào nhoáng và thái độ kính trọng gắn liền với nó? Tôi có thực sự yêu người đó, hay tôi chỉ đang yêu sự hào nhoáng mà tôi đã gán cho người đó?” Càng buông bỏ, chúng ta càng thấy thế giới không còn hào nhoáng như trước nữa. Càng không thấy hào nhoáng, nó càng ít chi phối chúng ta hơn. Hào nhoáng không còn tạo được ảnh hưởng và không còn thao túng chúng ta được nữa. Chúng ta không còn bị những lập trình viên chuyên nghiệp của giới truyền thông và các lĩnh vực chính trị, xã hội làm cho tổn thương nữa. Trong tâm chúng ta không còn nhu cầu được người khác chấp thuận nữa.

Chúng ta bắt đầu yêu thương mọi người vì con người mà họ đang là, chứ không phải vì những việc họ có thể làm cho chúng ta. Chúng ta không còn cần phải lợi dụng người khác hay cố gắng lấy lòng họ nữa. Khi mức độ mặc cảm tội lỗi của chúng ta giảm đi, thì lòng tự trọng của chúng ta tăng lên. Các mối quan hệ giờ đây dựa trên sự chính trực, và chúng ta không còn là đối tượng của lấy lòng về mặt cảm xúc. Hệ quả là, chúng ta ngừng cố gắng lấy lòng người khác bằng áp lực cảm xúc. Vì các mối quan hệ dựa trên sự trung thực, chúng tồn tại và hoạt động trên một bình diện cao hơn, nên không còn sợ bị xa lánh hay cảm thọ cô đơn nữa. Người đã buông bỏ không còn cần người khác để thỏa mãn bản thân mình mà ở bên cạnh họ vì lựa chọn, vì tình yêu và niềm vui. Tâm từ bi dành cho tha nhân và cho nhân tính của họ sẽ chuyển hoá cuộc sống và mọi mối quan hệ.

 

Tự do nội tâm

Cuộc sống sẽ như thế nào khi ta liên tục buông bỏ? Điều gì là khả thi?

Trong trạng thái buông bỏ, chúng ta là người không phụ thuộc vào thế giới bên ngoài, không coi nó nguồn gốc của thỏa mãn, vì đã tìm được nguồn gốc của hạnh phúc bên trong chính mình. Hạnh phúc được chia sẻ với những người khác, vì vậy trong các mối quan hệ, người buông bỏ sẽ hỗ trợ, cảm thông, khuyến khích, kiên nhẫn và khoan dung. Có một sự trân trọng tự nhiên dành cho phẩm giá cùng giá trị của người khác, đồng thời là sự thấu hiểu cảm thọ của họ. Chúng ta từ bỏ các cuộc tranh giành quyền lực, cố gắng là người “đúng”, và chứng minh quan điểm của mình. Chúng ta tự động không phán xét và hỗ trợ người khác để họ phát triển, học hỏi, trải nghiệm và viên mãn tiềm năng của chính mình. Đón nhận tha nhân với thái độ tự tại và bao dung. Chúng ta cảm thấy thư thái, tràn đầy sức sống và năng lượng. Các sự kiện trong cuộc đời diễn ra một cách tự động và dễ dàng. Chúng ta không còn phản ứng bằng động cơ hy sinh hay “ban phát” cái gì đó cho người khác; thay vào đó, chúng ta nhìn nhận mình như là người phục vụ đầy yêu thương người khác và thế giới. Các sự kiện trong cuộc đời được coi là cơ hội chứ không phải là thách thức. Tính cách dịu dàng và cởi mở, sẵn sàng buông bỏ và phó thác không ngừng vì quá trình nội tâm mở ra và tiến triển không ngừng.

Khi quá trình này mở ra, chúng ta cảm nhận được sự chuyển hoá ở bên trong. Nó sẽ dẫn đến cảm thọ biết ơn, vui vẻ và chắc chắn về mục tiêu không thay đổi của mình. Sống trọn vẹn trong hiện tại chứ không còn bận tâm đến quá khứ hay tương lai nữa. Có sự tin cậy mà không cần phòng vệ, vì sức mạnh đích thực của mình từng bị phóng chiếu ra thế giới bên ngoài nay đã được thu hồi lại. Từ đó, nảy sinh một cảm thọ bên trong về sự vững chãi và không bị tổn thương, dẫn tới sự an nhiên tĩnh lặng từ bên trong.

Ban đầu, có sự đồng nhất: “Tôi là cơ thể.” Khi cơ chế buông bỏ tiếp tục hoạt động, chúng ta ngày càng nhận thức rõ ràng rằng: “Tôi là tâm trí đang trải nghiệm cơ thể, chứ không phải là cơ thể này.” Khi buông bỏ được càng nhiều cảm thọ và hệ thống niềm tin, thì cuối cùng sẽ xuất hiện nhận thức: “Tôi cũng không phải là tâm trí mà là cái chứng kiến ​​và trải nghiệm tâm trí, trải nghiệm cảm xúc và cơ thể.”

Thông qua quán chiếu nội tâm, ta nhận ra sự hiện diện của một cái gì đó luôn bất biến và hằng hữu, dù thế giới bên ngoài, hay ngay cả với cơ thể, cảm xúc và tâm trí của chính mình có xảy ra sự kiện gì thì cũng thế. Chúng ta khám phá được Đại Ngã ở bên trong. Chúng ta khám phá được trạng thái tĩnh lặng của Nhận thức - nền tảng để mọi chuyển động, hoạt động, âm thanh, cảm xúc và suy nghĩ diễn ra - đấy là an bình vĩnh cửu. Khi đã đồng nhất với Nhận thức này, chúng ta không còn bị thế giới, thân thể, hay tâm trí chi phối nữa, và với Nhận thức này, ta cảm nhận được sự bình tĩnh, tĩnh lặng ở bên trong và cảm giác an bình sâu lắng. Ta nhận ra rằng đây chính là cái mà chúng ta luôn tìm kiếm nhưng lại không biết, vì đã đi lạc trong mê cung. Chúng ta từng đánh đồng một cách sai lầm chính mình với các hiện tượng bên ngoài của cuộc sống bận rộn—thân thể và những trải nghiệm của nó, nghĩa vụ, công việc, chức danh, các hoạt động, vấn đề và cảm thọ. Nhưng lúc này chúng ta nhận ra rằng chúng ta chính là không gian vĩnh hằng, các hiện tượng vừa nói đang diễn ra ở trong không gian này. Chúng ta không phải là những hình ảnh lập lòe đang diễn kịch trên màn ảnh, mà chính là màn ảnh – một nhân chứng không phán xét về bộ phim cuộc đời đang diễn ra, không có khởi đầu và không có kết thúc, với tiềm năng vô hạn. Những nhận thức tiến bộ này về bản chất thực sự của chúng ta chuẩn bị nền tảng cho Chứng ngộ Cao nhất về sự đồng nhất giữa Tâm thức với chính Thần Tính.



[i] Pogo là nhân vật chính trong bộ truyện tranh châm biếm cùng tên của họa sĩ Walt Kelly. Đây là một chú chuột túi (opossum) sống tại đầm lầy Okefenokee, nổi tiếng với những suy ngẫm sâu sắc về bản chất con người. Câu nói kinh điển: “We have met the enemy, and he is us.” (Chúng ta đã chạm trán kẻ thù, và kẻ thù đó chính là chúng ta). Ý nghĩa: Nhận diện kẻ thù: - Kẻ thù không phải là thế lực bên ngoài, mà chính là những rào cản bên trong, sự phán xét và kháng cự bên trong tâm trí. - Chuyển hóa: Việc nhận ra “kẻ thù là chính mình” là bước đầu tiên để thực hành buông bỏ  và phá vỡ các rào cản đối với sự viên mãn. - Tính thời điểm: Câu nói nhắc nhở rằng chúng ta thường là người tự gây ra những giới hạn cho chính mình thông qua các thói quen của Tâm trí hữu thức.

[ii] Câu này không nên được hiểu theo nghĩa tuyệt đối về mặt sinh học mà nên hiểu là người đó có thể ăn và chịu đựng tất cả những gì mà mọi người khác có thể ăn hay chịu đựng được. David R. Hawkins không ám chỉ rằng một người “buông bỏ” sẽ trở nên miễn nhiễm với mọi tác nhân vật lý như độc tố, vi trùng hay dị ứng. Ý chính ở đây là: người đó không còn bị chi phối bởi nỗi sợ đối với những yếu tố này. Khi nỗi sợ lắng xuống, tâm không còn vô thức phóng chiếu nguy hiểm lên thế giới, và vì thế có thể sống một cách tự nhiên, nhẹ nhàng hơn — không còn bị ám ảnh hay né tránh một cách cực đoan. Điều này không phủ nhận các quy luật sinh học, mà chỉ nhấn mạnh sự tự do nội tâm khỏi những phản ứng sợ hãi.