BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
Bản đồ Tâm thức là lần đầu
tiên ghi lại các tầng tâm thức được hiệu chỉnh. Trên biểu đồ này, chúng ta tìm
thấy toàn bộ phổ trải nghiệm của con người và cách tự điều chỉnh chính mình để vươn
tới hạnh phúc cao nhất và tự do tuyệt đối. Chỉ cần tiếp cận Bản đồ này đã là
may mắn lớn, vì chỉ cần nghe một số thông tin cũng đã làm thay đổi tâm thức của
chúng ta một cách mạnh mẽ.
HIỆU CHỈNH TÂM THỨC
Mỗi người sinh ra đều có một
tầng tâm thức có thể hiệu chỉnh được, đó là trường năng lượng nằm trong trường tâm
thức vô biên. Quả thật, mọi vật trong vũ trụ đều không ngừng phát ra một mô thức
năng lượng với tần số xác định, tồn tại xuyên suốt thời gian; và ngày nay,
chúng ta đã có trong tay một phương tiện để hiệu chỉnh các trường năng lượng
theo sức mạnh tương đối của chúng, tương tự như việc đo cường độ ánh sáng.
Nhiều
người đã biết đến sự phân tầng của tâm thức - thể hiện trong suốt chiều dài của
lịch sử bằng nhiều sơ đồ khác nhau (ví dụ, mười bức tranh chăn trâu trong Thiền
tông), nhưng đây là lần đầu tiên các tầng tâm thức được đánh giá theo sức mạnh
năng lượng thực sự của chúng và tương quan với các khía cạnh cụ thể của trải
nghiệm của con người. (Sự xuất hiện của khoa học lâm sàng về sự thật này được
mô tả trong cuốn Power vs. Force)
Kỹ
thuật mà chúng tôi sử dụng để hiệu chỉnh tâm thức là khoa học lâm sàng đang vận
hành ngay trong chính đời sống của con người: kiểm tra cơ bắp, sử dụng hệ thần
kinh của con người và năng lượng sống được thể hiện thông qua hệ thống kinh mạch
(châm cứu), hoạt động như một thiết bị đo lường sinh học có độ nhạy cần thiết.
(Kỹ thuật này không thể được sao chép bởi các dụng cụ khoa học không phải sinh
vật.) Nói một cách đơn giản, khi có sự thật, cơ bắp của cơ thể trở nên “mạnh mẽ”.
Ngược lại, nó trở nên “yếu đi” khi đứng trước giả dối (vắng mặt của sự thật, chứ
không phải là ngược lại). Đây là phản ứng nhanh chóng tiết lộ mức độ sự thật của
bất cứ điều gì. Để thực hiện bài kiểm tra một cách chính xác, thì ý định cần phải
chính trực.
Bản
đồ Tâm thức là một hướng dẫn tham khảo về phổ tâm thức, thể hiện tầng năng lượng
đã được hiệu chỉnh, tương tự như nhiệt kế đo nhiệt độ, khí áp kế đo áp suất khí
quyển và máy đo độ cao đo độ cao. Các phép đo này không dựa trên ý kiến cá nhân
hay tri giác có tính tương đối. Vì chúng là cố định, tạo thành một thang đo tuyệt
đối. Bất cứ điều gì cũng có thể được hiệu chỉnh và đặt vào một vị trí nào đó
trên thang đo này dưới dạng một con số. Con số ấy không phải là phán xét hay
tuyên bố đạo đức; nó chỉ đơn thuần biểu thị cho biết cường độ của cái đang được
đo. Một tuyên bố quan trọng về trường tâm thức vô biên là: nó đại diện cho cái
Tuyệt đối, lấy đó làm chuẩn để mọi thứ khác được hiệu chỉnh theo từng cấp độ. Hiệu
chỉnh không thiết lập sự thật; nó chỉ xác nhận sự thật.
Không
có gì đáng ngạc nhiên, ví dụ, năng lượng của Mẹ Teresa (điểm hiệu chỉnh 710) rất
khác với năng lượng của Adolf Hitler (điểm hiệu chỉnh 40), và hầu hết mọi người
đều tự đánh giá năng lượng của mình ở đâu đó trong khoảng giữa hai người này. Đấy
là điều người ta đã biết theo lối trực giác, và giờ đây chúng ta có thể kiểm chứng
trên một thang đo. Âm nhạc, phim ảnh, địa điểm, hệ thống tín ngưỡng, sách vở,
các nhà lãnh đạo chính trị, lập trường tư tưởng, động vật, ý định—tất cả đời sống—đều
phát ra năng lượng có thể được hiệu chỉnh, phản ánh bản chất của nó cùng với mức
độ của tình yêu và sự thật.
Trên
Bản đồ Tâm thức, mỗi tầng tâm thức được hiệu chỉnh trên thang đo logarit của
năng lượng (cơ số 10), từ 1 đến 1.000, trong đó 1 là tồn tại, và 1.000, ở đỉnh cao
nhất của Bản đồ, biểu thị tầng cao nhất từng hiện diện trên hành tinh này; đó
là năng lượng của Chúa Jesus Christ, Đức Phật và Krishna. Tầng Nhục nhã (20) nằm
ở dưới cùng, gần với cái chết, và tầng Can đảm (200) là điểm tới hạn của sự thật
và tính chính trực. Tình yêu (500) là cánh cửa dẫn tới lĩnh vực tâm linh.
Tầng
Can đảm (200) đánh dấu sự chuyển đổi từ năng lượng tiêu cực sang năng lượng
tích cực. Đó là năng lượng của tính chính trực, trung thực với chính mình và trao
sức mạnh đích thực. Các tầng tâm thức dưới Can đảm là phản sự sống (Bạo lực/Cưỡng
ép - Force), trong khi các tầng tâm thức bên trên hỗ trợ sự sống (Sức mạnh đích
thực - Power). Chúng ta thường tìm kiếm những người nằm bên trên tầng tới hạn
200. Chúng ta nói họ “cao” và đánh giá cao năng lượng “tích cực” của họ. Môi
trường của họ an toàn và sạch sẽ. Động vật bị thu hút về phía họ. Họ có bàn tay
khéo léo trong việc chăm sóc cây cối và ảnh hưởng tích cực đến mọi người xung
quanh. Ở tầng Can đảm, những cảm xúc tiêu cực chưa hoàn toàn biến mất, nhưng có
đủ năng lượng để xử lý chúng, vì người đó đã giành lại được quyền tự chủ. Cách
nhanh nhất để đi từ dưới lên trên là hòa hợp với sự thật và tình yêu.
85%
người dân trên thế giới nằm ở các tầng dưới 200, đấy là lý do vì sao hành tinh
này lại nhiều đau khổ đến như thế. Thật may mắn là, nhân loại được cứu khỏi quá
trình tự hủy diệt nhờ sự kiện là thiểu số nằm ở những tầng tích cực đối trọng được
với sức nặng của tiêu cực. Ví dụ, một người ở tầng Tình yêu (500) đối trọng được
với 750.000 người nằm dưới tầng 200. Ý nghĩa của quá trình tiến hóa nội tâm của
mỗi người, khi đó, sẽ trở nên rõ ràng.
Một
khám phá đáng chú ý khác là, những con thú cưng trong gia đình có điểm hiệu chỉnh
khoảng 245–250, và bản chất của chúng nhìn chung là hiền lành, có nghĩa là
chúng ta an toàn khi ở bên một con mèo hoặc chó hơn là ở bên cạnh phần lớn mọi
người trên hành tinh này!
(Những
phát hiện như thế có thể làm cho người đọc “sốc vì sự thật” (Truth shock[i]),
vì vậy chúng ta sẽ quay lại những điểm dữ liệu này trong các chương tiếp theo bằng
cách liên hệ chúng với nhiều bối cảnh khác nhau trong trải nghiệm chung của con
người. Quá trình học tập diễn ra như là kết quả của làm quen từng bước một, vì
mỗi lần tiếp xúc cho phép tích hợp thông tin có thể đã bị bỏ sót hoặc không được
hiểu trong lần đầu tiên.)
Người
bình thường (nếu họ có điểm hiệu chỉnh trên 200, tầng chính trực) có thể kiểm
chứng các con số trên thang đo của chúng tôi bằng cách sử dụng phương pháp đơn
giản là kiểm tra cơ bắp. Một người nào đó có thể kiểm tra bạn bằng cách ấn mạnh
vào cánh tay bạn trong khi nói: “Trên thang điểm từ 1 đến 1.000, trong đó 1.000
đại diện cho các Thánh Thần Giáng Thế Vĩ Đại, Can đảm/Sự Thật trên 100? Trên
150? Trên 175? Trên 200?” Ở tầng 200, cánh tay sẽ yếu đi. Như đã nói đến trong
các ấn phẩm trước, các phép đo này đã được kiểm chứng trên toàn thế giới, trong
nhiều thập kỷ, ở nhiều quốc gia khác nhau, trong môi trường lâm sàng, và giữa
các nhóm có tuổi đời và thuộc các nền văn hóa khác nhau. (Giải thích đầy đủ về kỹ
thuật này được trình bày trong Phụ lục A.)
Cốt
lõi của vấn đề có thể được trải nghiệm và hiểu rõ một cách dễ dàng. Bất cứ thứ
gì có năng lượng trên tầng 200 đều làm cho cơ bắp của bạn mạnh mẽ hơn, và bất cứ
thứ gì dưới tầng 200 đều làm cho bạn yếu đi. Do đó, chúng ta có một phương tiện
sẵn có để phân biệt thật giả ngay lập tức. Cơ thể có thể phân biệt, ở mức độ
tinh tế nhất, sự khác biệt giữa những gì hỗ trợ sự sống và những gì không hỗ trợ
sự sống.
Chúng ta không cần ngạc nhiên trước sự kiện này. Tất cả sinh vật sống đều phản ứng tích cực với những gì hỗ trợ sự sống và phản ứng tiêu cực với những gì đe dọa sự sống; đây là cơ chế sinh tồn cơ bản. Vốn có trong tất cả các dạng sống là khả năng phát hiện sự thay đổi và phản ứng mang tính điều chỉnh—do đó, ở độ cao hơn, khi lượng oxy trong khí quyển trở nên khan hiếm hơn, cây cối nhỏ hơn. Nguyên sinh chất của con người nhạy cảm hơn hẳn so với thực vật. Nếu bạn sử dụng cơ thể của mình như một con lắc, bạn sẽ nhận thấy rằng mình tự động ngã về phía trước khi giữ trong tâm trí sự thật, và bạn ngã về phía sau khi giữ trong tâm trí một điều không phải là sự thật. “Tôi muốn được chữa lành” là một tuyên bố có thể được kiểm chứng khi một người bắt đầu quá trình trị liệu. Một cú ngã ngửa cho thấy sự thiếu sẵn sàng để được chữa lành. Nếu họ ngã về phía trước, chứng tỏ ý định của họ của họ là chân thành, thì tiên lượng là tốt.
CƠ SỞ DỮ LIỆU CỦA TÂM THỨC
Bây giờ, để xua tan nỗi sợ
hãi của tôi là, mặc cho những nỗ lực tốt nhất của mình, người đọc có thể không
nắm bắt được thông điệp cốt lõi của công trình nghiên cứu này, tôi sẽ trình bày
rõ ràng ở đây ngay từ đầu: tâm trí con người cá nhân giống như một cái máy tính
được kết nối với một cơ sở dữ liệu khổng lồ. Cơ sở dữ liệu chính là tâm thức của
nhân loại, trong đó tâm thức của mỗi chúng ta chỉ là một biểu hiện cá nhân,
nhưng có nguồn gốc từ tâm thức chung của toàn thể nhân loại. Cơ sở dữ liệu này
siêu việt thời gian, không gian và mọi giới hạn của tâm thức cá nhân. Cơ sở dữ
liệu này là lĩnh vực của thiên tài; bởi vì nhân loại tham gia vào cơ sở dữ liệu,
mọi người, do được sinh ra trên đời, đều có quyền truy cập vào lĩnh vực của
thiên tài. Thông tin không giới hạn chứa trong cơ sở dữ liệu này giờ đây đã được
chứng minh là có sẵn cho bất kỳ ai chỉ trong vài giây, bất cứ lúc nào và ở bất cứ
chỗ nào. Đây quả thực là một khám phá đáng kinh ngạc, mang sức mạnh thay đổi cuộc
sống, cả cá nhân lẫn tập thể, mà trước đây chưa từng dự đoán được.
Nhà
phân tâm học vĩ đại người Thụy Sĩ, C. G. Jung, (điểm hiệu chỉnh 520), từ việc
nhận ra rằng con người ở khắp nơi — dù không hề liên hệ trực tiếp với nhau — vẫn
đồng thời biểu hiện những hình ảnh, biểu tượng và mô thức tâm lý giống nhau, đã
suy ra khái niệm “vô thức tập thể”. Từ đó, ông kết luận rằng, bên dưới tâm thức
cá nhân còn tồn tại một tầng vô thức sâu hơn — một kho tiềm thức (subconscious
pool[ii]) chung
của toàn nhân loại, nơi tích lũy những kinh nghiệm nền tảng của kiếp người.
Chúng ta có thể hình dung nó như một cơ sở dữ liệu khổng lồ, ẩn giấu của nhận
thức nhân loại, được đặc trưng bởi những mô thức tổ chức mạnh mẽ và phổ quát. Lời
hứa lớn lao của “cơ sở dữ liệu” này — khả năng tiếp cận tất cả những gì đã từng
được trải nghiệm ở bất cứ đâu trong dòng thời gian — chính là năng lực “biết” hầu
như bất cứ điều gì, ngay khoảnh khắc nó được “hỏi”.
Cơ
sở dữ liệu này là căn nguyên của mọi tri thức được tiếp cận ngoài phạm vi lý
trí — dù dưới tầng tiềm thức hay vượt lên trên nó — qua trực giác, linh báo,
chiêm mộng, huyền thuật, hay cả những “dự đoán” tưởng chừng ngẫu nhiên. Đó là cội
nguồn của thiên tài, suối nguồn của cảm hứng, và là nguồn phát sinh của những
tri thức tâm linh “khó lý giải”. Câu hỏi không thể được đặt ra trừ khi đã có tiềm
năng của câu trả lời. Lý do là vì cả câu hỏi và câu trả lời đều được tạo ra từ
cùng một hệ hình và do đó, hoàn toàn phù hợp. Không có “trên” nếu không có “dưới”.
Nhân quả xảy ra đồng thời chứ không phải theo trình tự; đồng nhịp
là thuật ngữ được Tiến sĩ Jung sử dụng để giải
thích hiện tượng này trong trải nghiệm của con người. Như những gì chúng ta rút
ra từ việc khảo sát vật lý học cao cấp, một sự kiện ‘ở đây’ trong vũ trụ không
‘gây ra’ một sự kiện ‘ở kia’. Thay vào đó, cả hai xuất hiện đồng thời, nhưng
quan sát dựa trên tri giác khiến ta nhìn chúng như có quan hệ nhân–quả[iii].
Tương
tự như vậy, chúng ta quan sát bầu trời vào ban đêm và thích thú khi nhận ra một
chòm sao yêu thích. Nhưng trên thực tế, không hề có cái gọi là chòm sao. Mô thức
quen thuộc mà chúng ta gọi là các ngôi sao được tạo thành từ những điểm sáng
phát ra từ những nguồn sáng hoàn toàn không liên quan—một số cách xa hàng triệu
năm ánh sáng, một số thậm chí nằm trong các thiên hà khác nhau, một số thực sự
là những thiên hà riêng biệt; nhiều thiên hà đã tắt và biến mất sau hàng thiên
niên kỷ. Những ánh sáng đó không có quan hệ không gian hay thời gian nào với
nhau, trừ những gì chúng ta gán cho chúng. Không chỉ là hình dạng của một cái gầu
hay chòm sao Gấu Lớn hay chòm sao hình người mà chính là mô thức, “chòm sao”
đó, được con mắt của người quan sát gán lên bầu trời.
Vậy
thì liên hệ giữa những sự kiện này là gì, nếu không phải là một chuỗi tuyến
tính nhân quả theo vật lý học Newton? Rõ ràng, hai sự kiện này có liên quan hoặc
kết nối với nhau theo cách không nhìn thấy được nào đó—nhưng không phải bằng lực
hấp dẫn, từ tính, gió vũ trụ hay ether; chúng được bao trùm bởi trường hút
có cường độ lớn đến mức bao gồm cả hai sự kiện.
Tương
tự, khi đàn cá bơi đồng bộ hoặc những con chim bay theo đội hình chữ V với đàn
của chúng, mỗi cá thể ở vị trí đó không phải do sự thẳng hàng với những cá thể
khác mà vì tất cả chúng đều được điều chỉnh theo cùng một trường hút. Do đó, một
con cá bơi ở rìa đàn sẽ lập tức quay đầu đồng bộ với cả đàn khi chúng đang chạy
trốn kẻ săn mồi, thậm chí khi nó cách xa tới một phần tư dặm.
Sự
tồn tại của một cơ sở dữ liệu của tâm thức phi tuyến tính, liên kết với nhau
lúc đầu có thể khó hiểu, nhưng chúng ta sẽ đi xung quanh lĩnh vực này theo nhiều
cách khác nhau để cuối cùng, bạn sẽ không chỉ nắm bắt được thực tại của tâm thức
mà còn nhận ra vị trí quan trọng của mình trong đó.
NỀN TẢNG KHOA HỌC CỦA MÔ THỨC ĐIỂM HÚT
Công trình nghiên cứu này,
bắt đầu từ năm 1965, được thúc đẩy bởi quá trình phát triển trong nhiều lĩnh vực
khoa học khác nhau — trong đó có ba lĩnh vực mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng:
·
Nghiên cứu lâm
sàng về sinh lý học của hệ thần kinh và sự vận hành toàn thể của cơ thể con người,
dẫn tới quá trình hình thành, trong thập niên 1970, một ngành khoa học mới: cơ
thể động học.
·
Song song với đó,
trong lĩnh vực công nghệ, máy tính được thiết kế với khả năng thực hiện hàng
triệu phép tính chỉ trong vài phần nghìn giây, mở ra những công cụ mới của trí thông
minh (intelligence[iv]) nhân tạo. Việc tiếp cận
một cách đột ngột với kho dữ liệu khổng lồ — trước đây chưa thể nào hình dung
được — đã khai sinh cách nhìn mang tính cách mạng đối với các hiện tượng tự
nhiên: lý thuyết hỗn độn.
· Đồng thời, trong các ngành khoa học lý thuyết, cơ học lượng tử lại dẫn đến vật lý lý thuyết cao cấp; thông qua môn toán học có liên quan, xuất hiện ngành nghiên cứu hoàn toàn mới về động lực học phi tuyến tính, chứng minh rằng trong vũ trụ thực sự không có hỗn loạn nào hết; cảm giác về sự rối loạn chủ yếu phát sinh từ những giới hạn của tri giác (perception[v]) của con người.
Attractor – Điểm hút là tên gọi
của mô thức có thể xác định được – xuất phát từ đám dữ liệu dường như vô nghĩa.
Có sự cố kết không nhìn thấy được trong tất cả những dữ liệu dường như chẳng ăn
nhập gì với nhau. Nhiều thập kỷ trước, Edward Lorenz, nhà toán học và khí tượng
học của MIT, là người đầu tiên chứng minh được rằng cố kết như thế vẫn tồn tại
trong tự nhiên, đấy là khi ông nghiên cứu đồ họa máy tính được tạo ra từ các mô
thức thời tiết trong một thời gian dài. Những thứ thoạt nhìn dường như là hỗn
loạn, là những hiện tượng rời rạc hóa ra lại là mô thức mạch lạc, được ghi nhận
trong mô thức điểm hút mà ông xác định được - gọi là “Con bướm của Lorenz”.
Lorenz
đã chứng minh được liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng tưởng chừng như không
liên quan với nhau, đến mức những thay đổi nhỏ có thể tạo ra những ảnh hưởng rất
to lớn. Như ông nói, một con bướm vỗ cánh có thể trở thành một cơn lốc xoáy.
Đây chính là “hiệu ứng cánh bướm” nổi tiếng của ông - khám phá này thách thức quan
điểm “vũ trụ vận hành như một cái đồng hồ” của Isaac Newton, tức là quan điểm
mang tính quyết định luận về tự nhiên vào lúc đó. Những phát hiện của Lorenz đã
tạo ra cuộc cách mạng trong nhận thức về các hiện tượng, như là hệ quả của những
tương tác giữa các mô thức điểm hút, chứ không phải là quan hệ nhân quả tuyến
tính.
Quan
trọng nhất đối với công trình nghiên cứu của chúng tôi là khám phá ra rằng một
số mô thức điểm hút rất mạnh (ví dụ như Sẵn sàng, hay Tình yêu) và một số khác
yếu hơn nhiều (ví dụ như Mặc cảm tội lỗi hay Tức giận). Có một điểm tới hạn
phân định hai nhóm điểm hút khác biệt rõ rệt này. Hiện tượng này của tâm thức
song hành và tương ứng với các liên kết năng lượng cao và thấp được mô tả trong
toán học về các liên kết hóa học.
Trường chi phối (A field of dominance) được thể hiện bằng ảnh hưởng của
các mô thức năng lượng cao đối với các mô thức năng lượng yếu hơn. Tương tự như
một từ trường nhỏ nằm trong từ trường lớn hơn, mạnh hơn của một nam châm điện
khổng lồ. Vũ trụ hiện tượng là biểu hiện của sự tương tác của vô vàn các mô thức
điểm hút với cường độ khác nhau.
Quan hệ nhân quả, trong thế
giới có thể quan sát được, trong hệ hình Newton thường được giả định là hoạt động
theo phương thức sau: A→B→C.
Đây
được gọi là một chuỗi tuyến tính mang tính quyết định luận —giống như những quả
bóng bi-a lần lượt va chạm vào nhau. Giả định ngầm của hệ hình Newton là A gây
ra B, B gây ra C. Trong mô hình quyết định luận duy vật này, không có gì mang
tính tự do tự thân; tất cả đều chỉ là hệ quả của những nguyên nhân khác. Do đó,
nó bị giới hạn; cái mà hệ thống này thực sự định nghĩa là thế giới của Force
(Bạo lực/Cưỡng ép). Lực A tạo ra lực B, sau đó được truyền đến lực C với hậu quả
D. D, đến lượt nó, trở thành khởi đầu của một chuỗi phản ứng dây chuyền, bất tận.
Đây là thế giới của bán cầu não trái, tầm thường và có thể dự đoán được. Đó là hệ
hình Newton bị giới hạn (điểm hiệu chỉnh 450), các ngành khoa học truyền thống
hoạt động từ hệ hình này: quen thuộc, có thể kiểm soát được, nhưng thiếu sáng tạo
— do đó, bị chi phối, và bị giới hạn, bởi quá khứ. Đó không phải là thế giới của
thiên tài, nhưng đối với nhiều người, nó mang lại cảm giác an toàn. Đó là thế
giới của năng suất và có tính thực tiễn. Tuy nhiên, đối với những người sáng tạo,
nó dường như tầm thường, tẻ nhạt, thiếu cảm hứng và hạn chế.
Từ
biểu đồ này, chúng ta thấy rằng cội nguồn (ABC), là mô thức điểm hút không thể
quan sát được, tạo ra chuỗi có thể nhìn thấy được A→B→C, là hiện tượng có thể quan sát được trong thế giới ba
chiều, có thể đo lường được. Những vấn đề điển hình mà thế giới cố gắng giải
quyết tồn tại ở tầng hữu hình A→B→C. Nhưng công việc của chúng tôi là tìm mô thức
điểm hút vốn có, tức làm tìm cội nguồn ABC, mà dường như là xuất phát điểm
của A→B→C. Mô tả này về cách vũ trụ vận hành phù hợp với lý
thuyết của nhà vật lý David Bohm (điểm hiệu chính 505): vũ trụ toàn ảnh với trật
tự ẩn vô hình (“cuộn lại”) và trật tự hữu hình (“trải ra”).
Chúng
ta thấy khái niệm ABC, nằm trong vũ trụ không nhìn thấy được, cuộn lại, sẽ kích
hoạt sự xuất hiện vào thế giới nhìn thấy được để tạo ra trình tự A→B→C. Như vậy,
thế giới nhìn thấy được được tạo ra từ thế giới không nhìn thấy được, và do đó,
bị ảnh hưởng bởi tương lai. Khả năng hiện thực hóa của khái niệm không nhìn thấy
được dựa trên sức mạnh của chính khái niệm ban đầu. ABC bên trong càng phù hợp
với các nguyên tắc phổ quát của sự sống, thì A→B→C của nó trong thế giới bên ngoài càng hiệu
quả.
Trong
sơ đồ đơn giản này, các tác nhân vận hành vượt ra ngoài cả cái có thể quan sát
được và cái không thể quan sát được; chúng ta có thể hình dung chúng như một cầu
vồng bắc ngang giữa địa hạt xác định và địa hạt không xác định.
Do
đó, không có gì xảy ra trên thế giới mà không được hình thành trước tiên “ở
đây” (Tâm thức – ND). Ý tưởng xây dựng
tòa nhà cao nhất thế giới đã tạo ra khái niệm không nhìn thấy được, cuối cùng
trở thành Tòa nhà Empire State trong thế giới nhìn thấy được. Tất cả các biểu
hiện “ở ngoài kia” đều phát sinh trước tiên từ “ở đây”. Nhận thức khoa học sâu
sắc này tương ứng với quan điểm về thực tại được trải nghiệm trong suốt chiều
dài của lịch sử bởi các Giác Giả, những người đã tiến hóa vượt ra ngoài tâm thức
tới trạng thái tỉnh thức thuần túy. Chính tâm thức là chìa khóa cho “lý thuyết
trường thống nhất của vạn vật” (tuyên bố có điểm hiệu chỉnh 1.000).
Một
số khái niệm và giá trị có sức mạnh lớn hơn hẳn những khái niệm và giá trị
khác. ABC có thể là một điểm hút năng lượng cao hoặc điểm hút năng lượng thấp. Nói
một cách đơn giản, các mô thức điểm hút mạnh làm cho cơ thể trở nên mạnh mẽ, còn
các mô thức yếu làm cho cơ thể trở nên yếu đi. Nếu bạn có tâm tha thứ, thì trong
bài kiểm tra cơ bắp lâm sàng cánh tay của
bạn sẽ rất mạnh. Nếu bạn có ý nghĩ trả thù, cánh tay của bạn sẽ yếu đi.
Đối
với mục đích của chúng ta, thực sự cần là nhận ra rằng Sức mạnh đích thực (Power)
là cái làm cho bạn trở nên mạnh mẽ, trong khi Bạo lực/Cưỡng bức (Force) làm cho
bạn trở nên yếu đi. Tình yêu, từ bi và tha thứ, những cảm xúc mà một số người
có thể hiểu nhầm là phục tùng, thực chất lại vô cùng mạnh mẽ. Ngược lại, trả
thù, phán xét và lên án chắc chắn sẽ khiến bạn trở nên yếu đi. Do đó, dù có
đúng đắn về mặt đạo đức hay không, sự thật đơn giản là về lâu dài, yếu không thể
thắng mạnh. Cái yếu sẽ tự sụp đổ.
Tất
cả các bậc thầy vĩ đại trong suốt chiều dài của lịch sử loài người chỉ đơn giản
là dạy đi dạy lại một điều - bằng bất kỳ ngôn ngữ nào, tại bất kỳ thời điểm
nào. Tất cả đều nói một cách đơn giản: Hãy từ bỏ những điểm hút yếu để hướng
đến những điểm hút mạnh.
Các điểm hút là những nguyên tắc tổ chức, và các nguyên tắc tổ chức có tầng sức mạnh bên trong khác nhau. Đó là một trong những bí mật của thành công nơi những con người có sức mạnh đích thực: toàn bộ đời sống của họ tự nhiên được an bài, không cần nỗ lực, bởi họ hoàn toàn hòa hợp với những nguyên lý ở tầng rất cao và có nhiều sức mạnh đích thực.
Ứng dụng điểm hút
Giờ đây khi chúng ta hiểu
được làm sao mà Mahatma Gandhi, một người đàn ông trầm lặng, nặng 40kg, chỉ mặc
một chiếc dhoti, đã đánh bại Đế quốc Anh. Rất đơn giản. Gandhi được tổ chức hoàn
toàn trong mọi suy nghĩ, hành động, cảm nhận và thể hiện của mình, bởi một nguyên
tắc phổ quát, nói rằng mọi người đều bình đẳng, đấy là do thần tính của tạo
hóa, với các quyền con người vốn có. So với nguyên tắc này, Đế quốc Anh xuất
phát từ nguyên tắc hạn chế, chỉ giành lợi ích cho mục tiêu chính trị của mình;
do đó, điểm hút vị tư của nó đã bị áp đảo bởi yếu tố điểm hút phổ quát đang
kích hoạt Mahatma Gandhi. Những sự kiện diễn ra trong lịch sử Ấn Độ chỉ đơn thuần
là biểu hiện bên ngoài của điểm hút yếu hơn phải ngả theo điểm hút mạnh hơn
(phù hợp với “các trường chi phối”).
Nguyên
tắc, ví dụ như tình yêu có sức mạnh chính trực cực kì to lớn. Chúng ta biết sự
thật này từ những trải nghiệm của con người—rằng vì tình yêu, chúng ta làm những
việc và chấp nhận rủi ro mà theo quan điểm của logic là vô lý. Chúng ta đã trải
nghiệm điều này trong thù hận cá nhân. Chúng ta oán giận ai đó suốt cả đời vì những
việc mà chúng ta luôn luôn cho là độc ác và bất công mà họ đã làm. Rồi một
ngày, khi đang làm vườn, chúng ta chợt nhận ra là người đó thật đáng thương khi
họ bị hạn chế như vậy vào lúc đó. Họ đã phải vượt qua sợ hãi đó để trở thành
như thế. Đột nhiên, tâm từ bi do hiểu biết mở ra một điểm hút đầy sức mạnh. Chỉ
trong tích tắc, cái không thể giải quyết được đã được giải quyết ngay lập tức. Không
chỉ cái gọi là ‘không thể tha thứ’ đã được tha thứ, mà ta còn nhận ra rằng vốn
dĩ chẳng có gì cần phải tha thứ hết — ngoài việc con người ấy chỉ là con người.
Khi ta thực sự ôm trọn tính người nơi chính mình, việc tha thứ cho tính người
nơi kẻ khác trở nên đơn giản. Và càng lặp lại việc này, tha thứ càng diễn ra một
cách tự nhiên, không cần nỗ lực.
Rõ
ràng là, mô thức điểm hút chi phối tất cả chúng ta chính là mô thức điểm hút của
chính sự sống. Cũng như không gì trong vũ trụ của chúng ta có thể thoát khỏi ảnh
hưởng của trọng lực, các nguyên tắc mà chúng ta vận hành hoặc trùng khớp với mô
thức điểm hút của chính sự sống, hoặc không trùng khớp. Sức mạnh chính trực xuất
phát từ việc hòa hợp với các mô thức điểm hút chi phối, phù hợp với những thứ hỗ
trợ sự sống.
Chiêm nghiệm Bản đồ Tâm thức đảo ngược hiểu biết của thế gian về nhân quả. Về mặt này, Tuyên ngôn Độc lập (Hoa Kỳ) có thể là công trình nghiên cứu bổ ích. Văn kiện này có điểm hiệu chỉnh rất cao, khoảng 700. Nếu xem xét từng câu một, cội nguồn sức mạnh của nó sẽ hiện ra: khái niệm cho rằng tất cả mọi người đều bình đẳng là do thần tính của tạo hóa, và nhân quyền là bản chất của việc tạo ra con người và do đó, không thể bị tước đoạt. Thú vị là, đây cũng chính là khái niệm từng là cội nguồn sức mạnh của Mahatma Gandhi. ABC đầy nội lực này giải thích cho sự thành công của Hoa Kỳ với tư cách là chế độ dân chủ ở tầng A→B→C có thể quan sát được. Nếu bỏ đi phần nói đến Thần tính khỏi văn kiện lập quốc này, điểm hiệu chỉnh sẽ giảm đáng kể.
CÁC CỘT CỦA BẢN ĐỒ
◆ Cột
ở giữa của Bản đồ là các tầng tâm thức của mỗi trường năng lượng, cùng với các
giá trị logarit tương ứng. Chương tiếp theo mô tả cột ở này và bàn chi tiết bản
chất của từng tầng. Phần này giới thiệu bốn cột nằm bên trái và bên phải các tầng
tâm thức trên Bản đồ. Các cột này cho thấy các khía cạnh quan trọng trong trải
nghiệm của con người có tương quan với từng tầng tâm thức: quan điểm về Chúa,
quan điểm về tự ngã, cảm xúc và quá trình diễn ra bên trong tâm thức. Phần sau
trong cuốn sách sẽ bàn về chức năng của não bộ và mức độ hạnh phúc tương quan với
tầng tâm thức.
◆ Cột ở phía ngoài cùng bên trái Bản đồ thể hiện quan
điểm về Thiên Chúa ở mỗi tầng tâm thức. Mỗi tầng có hiểu biết riêng về Thiên
Chúa - giải thích sự tồn tại của các hệ thống thần học và tín ngưỡng tôn giáo rất
khác nhau. Quan điểm của một người về Thiên Chúa không liên quan gì đến Thiên
Chúa; thay vào đó, tầng tâm thức của họ quyết định quan điểm của người đó về Thiên
Chúa.
Ở
dưới cùng của Bản đồ, chúng ta thấy những mô tả ma quỷ về Thiên Chúa, những phóng
chiếu nhân hình hóa, trong đó Thiên Chúa là người trừng phạt, thất thường, tàn
nhẫn và đáng sợ. Trong một số sách của Kinh Thánh và trong các tín ngưỡng
nguyên thủy, Thiên Chúa phải được xoa dịu bằng cách hiến tế động vật và con người.
Ngay cả hiện nay, những lời tiên tri về “ngày tận thế” vẫn tràn lan, mô tả các
hiện tượng tự nhiên, ví dụ, sóng thần là bằng chứng về sự tức giận của Thiên
Chúa hoặc sự ứng nghiệm của một số lời tiên tri từ Kinh Thánh. Đây là mặt trái
của tôn giáo và là lý do vì sao nhiều người trở thành người tâm linh chứ không
theo tôn giáo. Sai lầm của những hình ảnh miêu tả về Thiên Chúa như thế là hiển
nhiên khi chúng ta nhớ rằng sóng thần, động đất và bão tố đã xảy ra trên hành
tinh này từ rất lâu trước khi có loài người! Đó là thảm họa tự nhiên được cho
là đã xóa sổ loài khủng long. Vậy, Thiên Chúa có tức giận với khủng long hay không?
Những quan điểm như thế về Thiên Chúa rõ ràng là những phóng chiếu tiêu cực từ
bản ngã của con người.
Ở
những tầng tâm thức cao hơn, Thiên Chúa được nhìn nhận là nhân từ, trí huệ, vô
cùng yêu thương và khoan dung. Từ những tầng này, Thiên Chúa được công nhận là
cội nguồn của tình yêu, nhất thể (oneness[i]), và
của toàn thể hiện hữu (all-being-ness[ii]).
Cuối cùng, chính Thần tính tỏa sáng trong vạn vật, tại thời điểm đó, chỉ có thể
nói: Vinh quang Thiên Chúa trên các tầng trời!
◆ Bản
đồ cũng có một cột nói về quan điểm sống của mỗi người. Những người ở tầng tâm
thức tự thù ghét chính mình và phóng chiếu thái độ căm thù ra thế giới, họ nhìn
thấy cái ác ở khắp mọi nơi. Khi bạn thăng lên trên thang đo, quan điểm về chính
mình và cuộc đời của bạn ngày càng tích cực hơn, và cuối cùng bạn cảm thấy thoải
mái với chính mình. “Hãy là chính mình” có điểm hiệu chỉnh 590, tầng tâm thức của
Joseph Merrick - được gọi là Người Voi - vì một căn bệnh ở xương mà bị biến dạng
nghiêm trọng. Mặc dù bị chế giễu, nhạo báng và xa lánh, thái độ và phong thái của
ông được mô tả là thực sự thánh thiện. Ông hiền lành, có tâm tha thứ, không phản
ứng và từ bi, ngay cả khi đứng trước những hành động vô minh nhất. Con người có
một không hai này ngụ ý rằng cuộc đời đặc biệt của ông tượng trưng cho việc người
ta có thể trở thành con người tâm linh ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt
nhất. Đáng chú ý, ông đã lờ đi những cám dỗ của than thân trách phận, tâm lý nạn
nhân, oán hận và căm thù những kẻ hành hạ mình. Ở tầng 590, ông đứng ở ngưỡng cửa
của Chứng ngộ và an bình với chính mình và thế giới.
Nhân
từ đối với chính mình là bước quan trọng, vì nó khẳng định sự thật rằng bạn
đang làm hết sức mình. Thực chất là, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác,
con người luôn hành xử ở mức tốt nhất mà họ có thể vào lúc đó. Mọi khả năng
“làm khác đi” chỉ tồn tại như một giả định trong suy nghĩ mà thôi. Từ trường
năng lượng tiêu cực, mọi người đều đặt ra những lý tưởng bất khả thi cho chính
mình và sau đó rơi vào mặc cảm tội lỗi hoặc tự trừng phạt nếu họ không vươn tới
được lý tưởng mà mình đặt ra. Tự hài lòng ở tầng Trung dung (250) làm cho người
ta thoát khỏi những lời thì thầm tiêu cực và nghi ngờ chính mình được trải nghiệm
ở các tầng thấp hơn, có thể làm cho người ta tê liệt. Nói chung, những người hoạt
động ở tầng chính trực có thể thấy rằng có một lĩnh vực nhất định trong cuộc sống
mà họ phải chấp nhận quan điểm tiêu cực về chính mình, và buông bỏ kháng cự có
thể là biện pháp giải thoát. Ví dụ, người phụ nữ buông bỏ hình ảnh tiêu cực về cơ
thể của mình sẽ được giải thoát khỏi việc liên tục mất năng lượng khi so sánh mình
với những người phụ nữ khác. Người nào vượt qua được sợ nói trước công chúng sẽ
được giải thoát để bước vào những lĩnh vực mới trong sự nghiệp và thể hiện chính
mình.
◆ Bên phải danh sách các tầng là những cảm xúc gắn liền
với từng tầng cụ thể. Đây là những giai đoạn kinh điển được tìm thấy trong triết
học thường hằng (perennial philosophy[iii]),
phân tâm học và nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau. Dưới tầng 200, chúng ta
gặp những gì phân tâm học gọi là các cảm xúc “khẩn cấp” (“emergency” emotions[iv]),
còn trên tầng 200 là các cảm xúc “phúc lợi” (“welfare” emotions[v]).
Tất cả những cảm xúc ở các tầng thấp hơn đều là những giới hạn, khiến chúng ta
mù quáng trước thực tại của Đại Ngã đích thực.
Chống
lại cảm xúc tiêu cực sẽ khiến bạn bị mắc kẹt. Nếu bạn sẵn sàng buông bỏ những cảm
xúc tiêu cực, bạn sẽ tự do hơn và tiến lên trên thang điểm, cuối cùng trải nghiệm
chủ yếu là những cảm xúc tích cực. Ở đỉnh cao nhất của thang đo, diễn ra nhận
thức về Đại ngã đích thực của người đó và các tầng Chứng ngộ khác nhau. Quan trọng
chính cần lưu ý là, càng lên cao hơn, và càng tự do hơn, thì sẽ xảy ra cái mà
thế giới gọi là tỉnh thức tâm linh (spiritual awareness[vi]),
trực giác và sự phát triển của tâm thức. Không thể nhìn thấy hoặc trải nghiệm những
sự kiện này ở các tầng tâm thức thấp hơn, nhưng chúng sẽ trở thành hiển nhiên
và rõ ràng ở các tầng tâm thức cao hơn. Ví dụ, khi một người đang bị chi phối bởi
Ham muốn (điểm hiệu chỉnh 125), người đó không thể tưởng tượng rằng Thanh thản
(điểm hiệu chỉnh 540) lại là khả thi. Tuy nhiên, đối với người đã cai nghiện, Thanh
thản là một thực tại diễn ra mỗi ngày.
Cần
nhớ rằng các tương quan về mặt cảm xúc của trường năng lượng tâm thức ở một cá
nhân hiếm khi được biểu hiện một cách thuần túy. Một người có thể hoạt động ở tầng
này trong một lĩnh vực nhất định của đời sống và ở tầng hoàn toàn khác trong một
lĩnh vực khác của đời sống. Tầng tâm thức tổng thể của một cá nhân là tổng hoà
của tất cả các tầng khác nhau đang hoạt động trong đời sống của người đó.
◆ Xa hơn về bên phải cho thấy quá trình diễn ra bên
trong chính tâm thức. Ví dụ, ở tầng Kiêu hãnh, thổi phồng là quá trình diễn ra
bên trong tâm thức và đặc biệt nguy hiểm trong xã hội chúng ta, với thói ái kỉ hiếu
chiến kiểu như “Tôi đúng” (ở cả hai thái cực của phổ chính trị) và thổi phồng của
những người hoang tưởng tự đại, dẫn dắt quần chúng đến chỗ chết. Hiện tượng này
có thể quan sát được, đấy là Napoleon, với tầng tâm thức ban đầu khá cao, 450,
là một nhà chiến thuật giỏi và thiên tài toán học cùng với nhiều thành tích
khác. Rồi đột nhiên, khi ông ta tự phong mình làm hoàng đế, tầng tâm thức của
ông giảm xuống dưới 200. Giáo hoàng thường phong vương cho các nguyên thủ châu
Âu, nhưng Napoleon lại tự phong vương cho chính mình—sự tự thổi phồng cao nhất!
Trong khoảnh khắc đó, tầng tâm thức của ông ta giảm từ 450 xuống còn 175. Khi đối
đầu với Công tước Wellington (tầng tâm thức 420) ở Waterloo, ý định của
Napoleon ở tầng 75 và do đó, ông ta đã bị đánh bại. Sự kiện tương tự cũng xảy
ra với Hitler, giảm từ 430 xuống còn 40. Hoang tưởng tự đại tấn công một nhà
lãnh đạo, nhưng dân chúng không nhận thức được sự kiện này. Lúc đầu, các chương
trình của Hitler đã thúc đẩy xã hội phát triển—đường cao tốc..v.v... Rồi đột
nhiên ông ta sụp đổ, và con quái vật xuất hiện. Con người từng là ân nhân vĩ đại
đã trở thành kẻ huỷ diện xã hội vĩ đại.
Do
đó, Bản đồ Tâm thức soi sáng theo cách mới quá trình tiến hoá của lịch sử. Phân
biệt quan trọng đối với mục đích của chúng ta là giữa Bạo lực/Cưỡng chế (Force
- năng lượng nằm dưới tầng 200) và Sức mạnh chính trực (Power - năng lượng nằm trên
tầng 200). Ví dụ, chúng ta có thể nghiên cứu thời kỳ lịch sử khi chế độ thực
dân Anh ở Ấn Độ cáo chung. Như đã nói bên trên, vị thế của Đế quốc Anh lúc đó
(khoảng 175) —thổi phồng, tư lợi và bóc lột — như chúng ta thấy, nằm dưới tầng
tới hạn 200 trên Bản đồ Tâm thức. Động lực của Mahatma Gandhi (khoảng 760) nằm
gần đỉnh cao nhất của Bản đồ Tâm thức. Gandhi chiến thắng vì ông đứng trên nền
tảng Tâm thức mang quyền năng vượt xa mọi hình thức cưỡng lực. Ông hòa hợp với
nguyên lý phổ quát của Sự thật: Mọi con người đều được Thượng Đế tạo ra bình đẳng,
mang trong mình quyền tự quyết bẩm sinh. Đế quốc Anh đại diện cho Bạo lực; và bất
cứ khi nào Bạo lực đối đầu với Sức mạnh đích thực, thì cuối cùng Bạo lực cũng sẽ
thất bại.
Trong suốt chiều dài của lịch sử, tất cả các tôn giáo lớn và các môn học tâm linh trên thế giới đều quan tâm đến các kỹ thuật để thăng tiến qua các tầng tâm thức này. Hầu hết đều ngụ ý, hoặc nói rõ ràng, rằng leo lên những nấc thang này là nhiệm vụ khó khăn và thành công phụ thuộc vào việc có một sư phụ (hoặc ít nhất là giáo lý) để đưa ra hướng dẫn cụ thể và truyền cảm hứng cho người tìm kiếm, nếu không họ có thể rơi vào tuyệt vọng vì không thể đạt được mục tiêu mà không có trợ giúp. Hy vọng rằng, Bản đồ sẽ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho nỗ lực cao nhất này của con người này.
CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI
Hỏi: Cái gì quyết định tầng tâm
thức của một người?
Trả lời: Tầng tâm thức của một
cá nhân được quyết định bởi các nguyên tắc mà họ cam kết. Muốn duy trì tiến bộ
trong tâm thức, không thể có dao động trong nguyên tắc, nếu không người đó sẽ rơi
xuống tầng tâm thức thấp hơn. Lập luận thực dụng kiểu “mục đích biện minh cho phương
tiện” chưa bao giờ là biện minh thỏa đáng. Nếu giết người là sai, nguyên tắc đó
không thể cho phép bất kỳ ngoại lệ nào, dù về mặt cảm xúc, lý lẽ được sử dụng để biện minh cho ngoại lệ đó có hấp dẫn
đến đâu. Gandhi không bao giờ đi lệch khỏi các nguyên tắc của mình; đối với
ông, bất bạo động vừa là phương tiện vừa là mục đích, và ông giữ vững nguyên tắc
bất bạo động trong “cả tư tưởng, lời nói và hành động” (cụm từ của Gandhi).
Hỏi: Người bao nhiêu tuổi thì
có thể tiến hành hiệu chỉnh?
Trả lời: Theo nghiên cứu của
chúng tôi, mỗi thực thể - ngay từ thời điểm thụ thai (một thực thể tâm linh tiến
nhập vào cơ thể vào tháng thứ ba của thai kỳ) - đều đã có tầng tâm thức có thể hiệu
chỉnh được.
Hỏi: Phải chăng Bản đồ Tâm thức
được hiệu chỉnh ngụ ý sự đánh giá giá trị hay công lao? Vậy, chẳng phải tầng Tình
yêu (500) tốt hơn tầng Lý trí (400)?
Trả lời: Bản đồ không biểu thị
“tốt hơn”, đó là sự phóng chiếu của bản ngã. Bản đồ chỉ đơn thuần cho biết vị
trí hoặc địa điểm, từ đó cho biết các đặc điểm liên quan. Cây lớn không “tốt
hơn” cây nhỏ. Viên gạch nằm dưới chân tường không “tốt hơn” viên gạch nằm trên
cùng; cả hai đều cần thiết như nhau để giữ cho bức tường đứng vững. Do đó, tầng
tâm thức cho biết điểm trên đường cong học tập và một giai đoạn của quá trình tiến
hóa của tâm thức. Niềm vui của cuộc đời đến từ việc hoàn thành tiềm năng của một
người ở bất kỳ tầng nào. Mỗi tầng đều có phần thưởng riêng, và thực tế mỗi người
đều cảm nhận được phần thưởng như nhau. Cuộc đời cống hiến cho Thiên Chúa hoặc
cho một mục đích cao cả nào đó là tự viên mãn bất tận—trong khi đó, ngược lại,
cuộc đời chỉ dành cho lợi ích cá nhân lại đầy rẫy cạm bẫy và đau khổ.
Mỗi
tầng đều phù hợp với vai trò của nó. Một người ở tầng 700 không phù hợp với việc
làm thợ mộc, không phù hợp để điều hành một nhà thờ, và không phù hợp để làm tổng
thống. Hầu hết các Giác Giả ở tầng 700 hoàn toàn không thể hoạt động trong những
vai trò đó. Họ chỉ ngồi trong ashram[vii] của
mình, và mọi người đến chào hỏi trong khi họ mỉm cười, vui vẻ đáp lại. Những
người ở các tầng 200 và 300—những người xây dựng thế giới, những công nhân xây
dựng, công nhân nhà máy thép, những người đi làm mỗi ngày—là xương sống của xã
hội chúng ta. Tầng 400 là thế giới của trí năng, logic và lý luận, thống trị nước
Mỹ. Lĩnh vực Tình Yêu, tầng 500, là của hiếm, yêu thương vô điều kiện, tầng
540, lại càng hiếm hơn, còn trên 540 thì hầu như không có người nào. Không phải
500 tốt hơn 200. Chỉ là bạn đang ở không gian khác, giống như đang ở một vị trí
khác trên bản đồ. Vấn đề của bạn để đi từ đây đến đó sẽ là những con đường khác
nhau, đấy là nói nếu bạn bắt đầu ở Albuquerque hay nếu bạn bắt đầu ở Denver. Bạn
đang ở một nơi chốn khác, và do đó bạn đang nhìn vào một địa hình khác với những
bài học khác.
Mọi
thứ đều trọn vẹn như nó vốn là. Không có thiếu sót nào hết. Khi bạn hiểu vũ trụ,
bạn sẽ thấy mọi thứ đang chuyển từ “trọn vẹn” sang “trọn vẹn”. Mọi thứ đều trọn
vẹn và hoàn hảo ngay trong lúc này. Mọi người chỉ đơn giản là sự thể hiện hoàn
hảo nhất của toàn bộ quá trình tiến hóa nghiệp lực của họ cho đến lúc này mà
thôi. Mọi người đều phục vụ toàn thể, không phụ thuộc vào tình trạng hay tầng của
họ.
Hỏi: Hiệu chỉnh tâm thức là
gì?
Trả lời: Bản đồ Tâm thức tạo
điều kiện cho chúng ta phân biệt bản chất với tri giác. Ví dụ, giả sử ai đó nói
với bạn: “Tôi đến đây là do tình bạn.” Nếu bạn hiệu chỉnh và thấy anh ta ở tầng
190, thì tốt hơn hết là bạn nên tìm hiểu kĩ anh ta! Anh ta nói một đằng và có vẻ
hiền lành, nhưng thực chất, anh ta đang âm mưu việc gì đó khác. Ý định của anh
ta không mang lại lợi ích gì cho bạn. “Sói đội lốt cừu” là cách chúng ta có thể
mô tả con người này.
Khi
chúng ta dựa vào Bản đồ Tâm thức để hiệu
chỉnh một cái gì đó, là chúng ta phân biệt tầng sự thật, tình yêu, chính trực
và lòng tốt trong một cái gì đó hoặc một người nào đó. Chúng ta muốn biết sự thật
và bản chất của trường năng lượng, tức là động cơ và ý định. Câu trả lời chỉ hiện
ra khi câu hỏi có thực tại; và việc hiệu chỉnh tâm thức chỉ có ý nghĩa khi câu
hỏi và câu trả lời nằm trên cùng một tầng của thực tại. Giả dối không có thực tại
trong trường vô biên của tâm thức. Tâm thức chỉ có thể ghi lại những gì tồn tại
như là sự thật. Do đó, nếu chúng ta hỏi về điều gì đó không phải là sự thật,
thì nó không có thực tại, vì vậy cánh tay sẽ yếu đi. Nếu chúng ta kiểm tra một
tuyên bố chân thực, cánh tay sẽ mạnh lên. Ý kiến cá nhân hoặc tri giác của
người kiểm tra không liên quan. Khi chúng ta sử dụng khoa học sống trong kiểm
tra cơ bắp để hiệu chỉnh sự thật của một điều gì đó trong trường vô biên của tâm
thức, là chúng ta sử dụng cơ chế của cơ học lượng tử để làm sụp đổ hàm sóng từ
tiềm năng thành hiện thực. Khi câu hỏi phù hợp với thực tại, chúng ta nhận được
phản hồi mạnh mẽ.
Khó
nhất là giữ cho mình hoàn toàn không dính mắc vào kết quả. Đa số chúng ta, một
cách vô thức, bám vào một câu trả lời đáng mong muốn, nên việc kiểm tra trở nên
không chính xác. Còn khi tôi kiểm tra một điều gì đó, tôi không quan tâm kết quả
sẽ ra sao; tôi chỉ muốn biết sự thật mà thôi.
Hỏi: Tôi có thể tự hiệu chỉnh
mình?
Trả lời: Tôi khuyên mọi người
không tự hiệu chỉnh tâm thức của mình, vì họ không thể không bị ràng buộc và không
thể khách quan. Phải vươn tới tầng của Thánh nhân thì bạn mới không quan tâm tới
việc biết tầng tâm thức của chính mình, vì vậy bạn sẽ không thể nhận được kết
quả chính xác. Nếu nghiên cứu Bản đồ, bạn sẽ thấy cảm xúc chủ đạo và cách bạn
nhìn Thiên Chúa, v.v., và nó sẽ cho biết bạn đang ở đâu. Nếu bạn ghét mọi người
và bạn là người đa nghi, có lẽ bạn chưa thực sự hướng đến yêu thương! Bạn cũng
có thể biết mình đang ở đâu khi nhìn phản ứng của mọi người đối với bạn. Nếu bị
mọi người ghét, thì bạn đang có vấn đề!
Hỏi: Có cần phải tin vào Thiên
Chúa để hiệu chỉnh tâm thức hoặc được hưởng lợi từ Bản đồ Tâm thức?
Trả lời: Tin vào Thiên Chúa không
phải là điều kiện cần. Tin tức hàng ngày cho chúng ta biết rằng, những người tự
xưng là tín đồ, nhân danh Thiên Chúa, đã và đang làm tất cả những chuyện khủng
khiếp và có tầng hiệu chỉnh khá thấp trên Bản đồ này, đấy là do ý định của họ
xuất phát từ hận thù, mặc cảm tội lỗi, sợ hãi, tự cho mình là chính nghĩa và
kiêu ngạo. Đức Phật tránh nói về Thiên Chúa vì những hệ lụy mang tính khái niệm
kèm theo, mà thay vào đó Ngài nói về Phật tính — tức Sự thật. Con người có tận
hiến cho Sự thật hay không, đó mới là vấn đề chính trong quá trình tiến hóa của
tâm thức.
Có
một giai đoạn khá dài khi tôi là người vô thần sùng đạo, vì vậy tôi thông cảm với
người vô thần. Là một người vô thần, tôi đã tận tâm với việc tìm đến cốt lõi của
Sự thật của tồn tại. Do đó, tôi thông cảm với thái độ nghi ngờ thực sự vì sự
trung thực về mặt trí năng của nó. Nếu tôi không thể thành thật khẳng định sự khả
tín của Thần tính, thì ít nhất tôi cũng là người thành thật, và thành thật là
yêu cầu đầu tiên của tính chính trực trên Bản đồ Tâm thức. Rồi tôi đi từ vô thần
sang bất khả tri, nơi không còn khẳng định cũng không phủ định. Lập trường này
có thể xem là tinh tế và khiêm nhường hơn vô thần, vì nó thừa nhận giới hạn của
trí năng và việc trí năng không thể vượt qua quan hệ nhân–quả tuyến tính để lý
giải các hiện tượng.
Cơ
học lượng tử là con đường thoát khỏi phạm vi tuyến tính hạn chế của hệ hình của
vật lý học Newton, thông qua nguyên lý Heisenberg—trong đó chúng ta có khám phá
thú vị, nói rằng quan sát một vật làm thay đổi kết quả, vì bạn đã để cho tâm thức
tác động vào quá trình này. Tầng tâm thức của người quan sát có ảnh hưởng sâu sắc
đến những thứ đang được quan sát. Không cần phải tin vào Thiên Chúa mới có thể
đồng ý với nguyên lý khoa học này. Hoài nghi và không tin nhiều khi lại là điềm
báo cho những bước chuyển biến lớn của tâm thức —động lực lại được kích hoạt
sau những thất vọng, nghịch cảnh, hoặc đơn giản là khi con người đã trưởng thành
và trí huệ tự nhiên xuất hiện. Sự kiện này được nhiều người, thậm chí cả các vị
thánh, ghi nhận, đấy là những người đã trải qua những trải nghiệm mang tính chuyển
hoá to lớn, trong đó có cả những điều kỳ diệu. Con đường như thế có thể liên
quan đến việc đánh mất niềm tin tôn giáo thời thơ ấu, hoặc do những hoàn cảnh
thảm khốc, sau đó là nhiều năm tìm kiếm sự thật có thể xác nhận được. Quá trình
khám phá nội tâm như thế được thúc đẩy bằng thiền tập mà không cần một hệ thống
tín ngưỡng nào. Do đó, đối với người không có đức tin, Phật giáo thường có tính
thực tiễn và hấp dẫn, vì Đức Phật dạy Bát Chánh Đạo mà không cần tin vào “Thiên
Chúa”.
Một
con đường khác, phù hợp với người không có đức tin là các kinh Veda và
Upanishad cổ đại, dự đoán trước những khám phá của cơ học lượng tử. Những cuốn
Kinh này cũng nói về Thực tại Tối hậu (Ultimate
Reality[viii])
của Nguyên lý Tuyệt đối (Ultimate Principle[ix]) và
trường tâm thức vô biên như là Thực tại nguyên thủy, vượt ra ngoài vọng tưởng của
tri giác cũng như tư duy. Con đường Advaita (bất nhị) là con đường thuần khiết
cho quá trình tìm kiếm Sự thật, mà không cần hệ thống tín ngưỡng nào. (Được mô
tả chi tiết trong các tác phẩm The Eye of the I và I: Reality and
Subjectivity.) Mặc dù bất nhị dẫn đến Chứng ngộ, nhưng nghiên cứu Vedanta
có thể làm người ta sa đà quá mức vào các trường phái triết học Ấn Độ khác
nhau, từ đó có thể trở thành những hệ thống tín ngưỡng làm cho người ta xao
nhãng.
Hỏi: Các cá nhân tiến hóa từ tầng này sang tầng khác
trong một đời người có phải là hiện tượng phổ biết?
Trả lời: Có thể có những cá nhân riêng lẻ có những bước nhảy
vọt tích cực và đột ngột, thậm chí lên hàng trăm điểm; tuy nhiên, trường năng
lượng được hiệu chỉnh cho một cá nhân ngay từ khi sinh ra chỉ tăng trung bình
khoảng năm điểm. Phần lớn con người sử dụng những trải nghiệm đời sống của mình
để triển khai và biểu lộ các biến thể của trường năng lượng bẩm sinh; chỉ số ít
hiếm hoi là những người có đủ động lực và thực sự vượt lên khỏi chính trường
năng lượng này. Nếu không có lựa chọn, sẽ không có tiến bộ nào hết. Cũng có thể
“rơi” xuống tầng thấp hơn, như chúng ta đã thấy ở Napoleon và Hitler. Nó đã xảy
ra trong cuộc đời của những đạo sư tâm linh, những người đã rơi từ tầng tâm thức
cao do những sai lầm trong phán xét. Họ đã không được cảnh báo về những cám dỗ mà
họ sẽ gặp ở tầng đó: tiền bạc, tình dục, danh vọng và quyền lực đối với người
khác.
Một yếu tố quan trọng của lý thuyết hỗn độn, hữu ích trong tìm hiểu quá trình tiến hóa của tâm thức, đấy là quy luật phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu. Nó nói đến sự kiện là, cùng với thời gian, một biến đổi nhỏ có thể tạo ra những thay đổi sâu sắc, tương tự như một con tàu lệch hướng chỉ một độ so với la bàn, cuối cùng sẽ thấy mình đi lạc hàng trăm dặm. Hiện tượng này là cơ chế thiết yếu của tất cả các quá trình tiến hóa. Cùng với thời gian, cam kết thực hành dù chỉ một nguyên tắc tâm linh cũng có thể dẫn đến những thay đổi sâu sắc. Tương tự, sai lầm hay sự dối trá duy nhất, nếu lặp đi lặp lại đủ thường xuyên, có thể khiến một người (hoặc một tổ chức hay một xã hội) đi chệch hướng một cách nghiêm trọng.
[i] Truth shock - Sự chấn động của tâm thức khi bản ngã đối diện với sự thật khách quan.
[ii] Subconscious pool: Tập hợp các dữ liệu, ký ức và chương trình cảm xúc ẩn sâu trong tâm trí, chi phối hành vi cá nhân và kết nối với vô thức tập thể. Trong triết lý Hawkins, đây là phần cần được soi sáng và vượt qua để nâng cao tầng tâm thức.
[iii] Giải thích: Ý định của ông toàn quyền Đông Dương về cầu Long Biên hình thành trong đầu ông, sau đó xuất hiện trong miền hiển lộ, như bản vẽ, công nhân, sắt thép... nhưng người bình thường sẽ thấy bản vẽ, công nhân, sắt thép.. là A gây ra B, B gây ra C... Người bình thường nhìn thế giới theo đường thẳng:Ý định → Bản vẽ→Công nhân →Cây cầu. Họ coi A là “nguyên nhân” đẻ ra B.Nhưng theo góc nhìn cao cấp (vật lý lượng tử hoặc tâm thức), mối quan hệ này không phải là sự “sinh ra”, mà là sự “đồng hiện” (Synchronicity). Hãy tưởng tượng toàn bộ lịch sử xây dựng cầu Long Biên nằm trong một cuốn phim nhựa. Miền Phi hiển lộ: Chính là toàn bộ cuộn phim đã được quay xong và nằm im trên bàn. Ở đó, cảnh “ông Toàn quyền nghĩ” và cảnh “nhát cuốc đầu tiên” đã tồn tại sẵn cùng một lúc, không cái nào gây ra cái nào, chúng chỉ đơn giản là có mặt ở đó. Miền Hiển lộ (Thực tại ta thấy): Là khi ta lắp cuộn phim vào máy chiếu và cho nó chạy qua luồng sáng (luồng sáng này chính là Quan sát/Tri giác). Khi máy chiếu chạy, ta thấy hình ảnh ông Toàn quyền xuất hiện ở giây thứ nhất, rồi bản vẽ ở giây thứ mười. Vì mắt ta bị giới hạn bởi thời gian, ta tưởng giây thứ nhất “đẻ ra” giây thứ mười. Nhưng thực tế, cả hai bức ảnh đó đã nằm sẵn trên cuộn phim từ trước. Chúng xuất hiện đồng thời trong cùng một thực tại tổng thể, chỉ là trình tự quan sát khiến ta gán cho chúng cái mác “nhân-quả”. Tóm lại: Thay vì nói “Cái này tạo ra cái kia”, hãy nói: “Khi một ý niệm đủ mạnh xuất hiện, thì toàn bộ các điều kiện vật chất tương ứng với nó cũng đồng thời bước ra từ bóng tối vào ánh sáng.” Chúng là một combo không thể tách rời, không phải là những mắt xích rời rạc kéo lê nhau.
[iv] Intelligence - Trí thông minh thường được hiểu là “công suất” của bộ não. Nó giống như phần cứng của máy tính. Đặc điểm: Khả năng học hỏi nhanh, trí nhớ tốt, tốc độ xử lý thông tin và khả năng tư duy trừu tượng. Đo lường: chủ yếu qua chỉ số IQ. Chức năng: Giúp bạn giải các bài toán khó, học ngoại ngữ nhanh, hoặc hiểu các lý thuyết phức tạp
[v] Perception - tri giác: nhận thức (Awareness) đã đi qua bộ lọc của bản ngã. Awareness là cái có trước, là nền tảng. Không có Awareness thì không thể có Perception. Một hòn đá không có Awareness nên nó cũng không có Perception (nó không nhìn thế giới theo cách bị bóp méo).
[ii] Toàn thể hiện hữu (All-Beingness): Là trạng thái ý thức
tối thượng (tầng 700-1000), nơi mọi sự vật không còn bị chia chẻ mà được nhận
biết như một khối sống động, thiêng liêng và thống nhất. Ở đây, sự tồn tại của
vạn vật chính là sự hiện diện của cội nguồn.
[iii] Perennial philosophy
- Triết học thường hằng là tên gọi dành cho dòng minh triết chung xuất
hiện trong nhiều tôn giáo và truyền thống tâm linh khác nhau trên thế giới. Dù
được diễn đạt bằng những ngôn ngữ và biểu tượng khác nhau, các truyền thống này
đều chỉ về một chân lý cốt lõi: có một thực tại tối hậu vượt lên trên bản ngã
cá nhân, và con người có thể nhận ra thực tại ấy thông qua sự chuyển hóa nội
tâm. Vì chân lý này không phụ thuộc thời đại hay văn hóa, nên nó được gọi là
“thường hằng”.
[iv] Emergency emotions - Cảm xúc “khẩn cấp” là các phản ứng
cảm xúc bản năng nảy sinh khi bản ngã cảm thấy bị đe dọa, thường mang tính tiêu
cực và tiêu tốn nhiều năng lượng, ví dụ như Sợ tâm, U sầu, Giận dữ, Mặc cảm tội
lỗi.
[v] Welfare emotions - Cảm xúc “phúc lợi” là các trạng
thái cảm xúc hạnh phúc, nảy sinh khi cá nhân cảm thấy an toàn và tự tin, giúp
tăng cường sức khỏe thể chất và mở rộng khả năng nhận thức của ý thức, ví dụ
như Chấp nhận, Yêu thương, An bình.
[vi] Spiritual Awareness – Nhận biết/tỉnh thức tâm linh. Nhận biết trực tiếp
về chiều kích tâm linh của hiện hữu — vượt ngoài tư duy lý trí và bản ngã cá
nhân. Đây không phải là niềm tin, cũng không chỉ là cảm xúc tôn giáo, mà là một
trạng thái tâm thức trong đó: Ta cảm nhận sự hiện diện của một Thực Tại sâu hơn
hình tướng; Nhận ra đời sống không chỉ giới hạn trong thân – tâm cá nhân. Trực
nhận sự liên kết nội tại giữa mình và toàn thể. Phân biệt với các mức nhận biết
khác: Sensory awareness: nhận biết qua giác quan; Mental awareness: nhận biết
qua suy nghĩ, phân tích; Self-awareness: ý thức về bản thân như một cá nhân;
Spiritual awareness: nhận biết vượt khỏi cấu trúc của bản ngã. Spiritual
awareness không phải là “nghĩ về Thượng Đế”, mà là trực nhận Sự Hiện diện.
[vii] Ashram - là một không gian tu tập tâm linh có nguồn gốc
từ Ấn Độ giáo và truyền thống tâm linh Ấn Độ, nơi con người rút lui khỏi đời sống
thế tục để sống, học hỏi và thực hành con đường nội tâm.
[viii] Ultimate Reality - Thực tại Tối hậu: Trong hệ thống
tư tưởng của David Hawkins, đây là trạng thái hiện hữu thuần khiết, vĩnh cửu và
phi thời gian, nằm ngoài mọi sự phân biệt nhị nguyên (như đúng/sai, tốt/xấu).
Nó tương đương với Đại ngã hay Chân ngã, và Sự thật Tuyệt đối (Absolute Truth).
Đây là trạng thái mà tự ngã (self) hay bản ngã (ego) bị vượt qua hoàn toàn, chỉ
còn lại sự hiện diện của Ý thức thuần khiết (Consciousness) – nguồn cội của mọi
tồn tại.
[ix] Ultimate Principle - Nguyên lý Tối hậu là quy luật cốt
lõi và tuyệt đối nhất của vũ trụ, vượt ngoài mọi logic tuyến tính hay nguyên
nhân - kết quả thông thường. Trong tư tưởng của David Hawkins, nguyên lý này khẳng
định rằng mọi sự tồn tại đều tự động nảy sinh từ nguồn cội thiêng liêng và chịu
chi phối bởi trường năng lượng của Tâm thức. Đây là nguyên lý về tính nhất thể,
nơi không có sự tách biệt giữa người sáng tạo và cái được sáng tạo.