ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
GIẢI PHẪU
CẢM XÚC
Có rất nhiều lý thuyết tâm lý phức tạp bàn về cảm xúc của con người. Các lý thuyết này thường liên quan đến nhiều biểu tượng và tham chiếu đến thần thoại, và dựa trên các giả thuyết mà người tranh luận rất sôi nổi. Kết quả là, có nhiều trường phái trị liệu tâm lý với những mục tiêu và phương pháp khác nhau. Đơn giản là một trong những dấu hiệu của sự thật, vì vậy chúng tôi sẽ mô tả một bản đồ cảm xúc đơn giản, khả thi, có thể kiểm chứng được, có thể được xác minh bằng trải nghiệm chủ quan, cũng như bằng kiểm tra khách quan.
Mục tiêu sinh tồn
Nghiên cứu bất kỳ lý thuyết tâm
lý nào đều cho thấy mục tiêu chính của con người, vượt lên trên tất cả những mục
tiêu khác, là sinh tồn. Tất các các mong muốn của tất cả mọi người đều nhằm đảm
bảo sự sống còn của bản thân mình và sự sống còn của các nhóm mà họ đồng nhất với,
chẳng hạn như gia đình, người thân và đất nước. Trên hết, con người sợ không
còn khả năng trải nghiệm. Vì vậy, mọi người đều quan tâm đến sự sống còn của cơ
thể, vì tin rằng họ chính là cơ thể và do đó, họ cần cơ thể để trải nghiệm sự tồn
tại của mình. Vì con người tự coi mình là những cá thể riêng biệt và có giới hạn,
họ bị căng thẳng bởi cảm giác (sense) thiếu thốn. Việc con người tìm kiếm thỏa
mãn nhu cầu bên ngoài mình là hiện tượng phổ biến. Dẫn đến việc họ thấy dễ bị tổn
thương, vì họ không thấy đủ trong chính con người mình.
Do đó, tâm trí là một cơ chế sinh
tồn, và phương pháp sinh tồn của nó chủ yếu là sử dụng cảm xúc. Suy nghĩ được
sinh ra bởi cảm xúc, và cuối cùng, cảm xúc trở thành lối tắt thay thế cho suy
nghĩ..
Hàng ngàn, thậm chí hàng triệu
suy nghĩ có thể được thay thế bằng một cảm xúc duy nhất. Cảm xúc là cơ bản và
nguyên thủy hơn các quá trình tư duy. Lý trí là công cụ mà tâm trí sử dụng để đạt
được mục đích mang tính cảm xúc của nó. Khi được trí tuệ sử dụng, cảm xúc cơ bản
tiềm ẩn thường là vô thức hoặc ít nhất là nằm ngoài nhận thức. Khi cảm xúc tiềm
ẩn bị lãng quên hoặc bỏ qua và không được trải nghiệm, con người không nhận thức
được lý do cho hành động của mình và họ đưa ra đủ kiểu lý do hợp lý. Trên thực tế,
họ thường không biết tại sao họ lại làm những việc mà mình đang làm.
Có một cách đơn giản để ý thức được mục tiêu của cảm xúc nằm đằng sau bất kỳ hoạt động nào bằng câu hỏi: “Để làm gì?” Với mỗi câu trả lời, câu hỏi “Để làm gì?” được hỏi đi hỏi lại cho đến khi cảm xúc cơ bản được khám phá. Ví dụ như sau: Một người đàn ông muốn một chiếc Cadillac mới. Tâm trí anh ta đưa ra tất cả những lý do hợp lý nhưng logic thực sự không giải thích được điều đó. Vì vậy, anh ta tự hỏi: “Tôi muốn chiếc Cadillac để làm gì?” “À,” anh ta nói, “đó là để có địa vị, được công nhận, được tôn trọng và là công dân thành công.” Lại hỏi: “Tôi muốn địa vị để làm gì?” “Được tôn trọng và được người khác chấp thuận, và để đảm bảo thái độ tôn trọng đó.” Lại hỏi: “Tôi muốn được tôn trọng và chấp thuận để làm gì?” “Để có cảm giác an toàn.” Lại hỏi: “Tôi muốn an toàn để làm gì?” “Để cảm thấy hạnh phúc.” Hỏi liên tục: “Để làm gì?”, cho thấy về cơ bản có những cảm thọ bất an, bất hạnh và không được thỏa mãn. Mỗi hoạt động hoặc mong muốn sẽ cho thấy rằng mục tiêu cơ bản là đạt được một cảm thọ nhất định. Không có mục tiêu nào khác ngoài việc vượt qua sợ hãi và có hạnh phúc. Cảm xúc không gắn với những gì thực sự bảo đảm cho sự sống còn của chúng ta, mà gắn với những gì mà hệ thống niềm tin của chúng ta cho là như thế. Cảm xúc, tự nó, thực chất là nguyên nhân của sợ hãi cơ bản thúc đẩy mọi người tìm kiếm an toàn.
Thang đo cảm xúc
Để đơn giản và rõ ràng, chúng ta
sẽ sử dụng thang đo cảm xúc tương ứng với các tầng tâm thức. Trình bày đầy đủ về
các tầng tâm thức, cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn của chúng được thể hiện
trong tác phẩm Power vs. Force: The Hidden Determinants of Human Behavior
(Hawkins, [1995], 2012).
Tóm lại, vạn vật đều phát phóng
năng lượng, tích cực hoặc tiêu cực. Bằng trực giác, chúng ta biết sự khác biệt
giữa một người tích cực (thân thiện, chân thành, chu đáo) và một người tiêu cực
(tham lam, dối trá, hận thù). Năng lượng của Mẹ Teresa rõ ràng khác với năng lượng
của Adolf Hitler; năng lượng của hầu hết mọi người đều nằm ở đâu đó giữa hai
người này. Âm nhạc, địa điểm, sách, động vật, ý định và tất cả sự sống đều phát
ra năng lượng có thể được “hiệu chỉnh” về bản chất và mức độ chân thực của nó.
“Đồng thanh tương ứng, đồng khí
tương cầu.” Các năng lượng khác nhau tập hợp lại thành “mô thức hút” hoặc “tầng
tâm thức.” Bản đồ Tâm thức (Phụ lục A) cung cấp quan điểm tuyến tính, theo
thang logarit của địa hình năng lượng phi tuyến tính này. Mỗi tầng tâm thức (hoặc
mô thức hút) được hiệu chỉnh trên thang đo năng lượng tính theo hàm logarit, từ
1 đến 1000. Tầng Chứng ngộ hoàn toàn (1.000), nằm trên đỉnh Bản đồ, đại diện
cho tầng cao nhất có thể đạt được trong cõi nhân gian; đó là năng lượng của
Chúa Jesus Christ, Đức Phật và Krishna. Tầng Nhục nhã (20) nằm ở dưới cùng, gần
với cái chết, đại diện cho sự sống còn tối thiểu.
Tầng Can đảm (200) là điểm tới hạn
đánh dấu sự chuyển đổi từ năng lượng tiêu cực sang năng lượng tích cực. Đó là
năng lượng của chính trực, trung thực, trao quyền và khả năng đối phó. Các tầng
tâm thức dưới tầng Can đảm mang tính phá hoại, trong khi các tầng trên tầng Can
đảm hỗ trợ sự sống. Bài kiểm tra cơ bắp đơn giản cho thấy sự khác biệt: một kích
thích tiêu cực (dưới 200) ngay lập tức làm cho cơ bắp yếu đi, còn kích thích
tích cực (trên 200) ngay lập tức làm cho cơ bắp mạnh lên. “Sức mạnh đích thực” (Power)
thực sự làm cho mạnh lên; trong khi “Bạo lực/Cưỡng bức” (Force[i]) làm cho yếu
đi. Nếu chúng ta nằm bên trên tầng Can đảm, mọi người sẽ tìm đến với chúng ta
vì chúng ta truyền năng lượng cho họ và chúng ta có thiện chí với họ. Nếu chúng
ta nằm dưới tầng Can đảm, mọi người sẽ tránh xa chúng ta vì chúng ta lấy năng
lượng từ họ và chúng ta muốn sử dụng họ cho nhu cầu vật chất hoặc tình cảm của
mình.
Ở đây, chúng ta phác thảo thang
đo cơ bản, bắt đầu từ các tầng năng lượng cao hơn xuống đến các tầng thấp hơn:
An bình (600): Được trải
nghiệm như hoàn hảo, phúc lạc, phi nỗ lực và một thể. Đó là trạng thái bất nhị
vượt ra ngoài tách biệt và vượt ra ngoài trí tuệ, như trong “sự an bình vượt
quá mọi sự hiểu biết”. Được mô tả là Chứng ngộ và khai sáng. Là trạng thái rất
hiếm hoi trong cõi nhân gian.
Niềm vui (540): Yêu thương vô
điều kiện và bất biến, không phụ thuộc vào hoàn cảnh và hành động của tha nhân.
Thế giới được soi sáng bởi vẻ đẹp tuyệt vời, được nhìn thấy trong mọi sự, mọi vật.
Sự hoàn hảo của tạo hóa là hiển nhiên. Ở đó hiện hữu sự gần gũi với tính nhất
thể (unity[ii]) và khám phá
ra Đại Ngã (Self); từ bi với muôn loài; đại nhẫn; cảm giác hòa làm một với người
khác và quan tâm tới hạnh phúc của họ. Cảm giác tự viên mãn và tự tại bao trùm
tất cả.
Tình yêu (500): Tha thứ,
nuôi dưỡng và hỗ trợ trở thành phong cách sống. Nó không xuất phát từ tâm trí;
mà đúng hơn, nó tỏa ra từ trái tim. Tình yêu tập trung vào bản chất của một
tình huống, chứ không phải các chi tiết. Nó xử lý toàn thể, chứ không phải chi
tiết. Khi tri giác được thay thế bằng cái thấy chân thật (vision[iii]), nó không có
quan điểm nào và nhìn thấy giá trị nội tại và sự đáng yêu của tất cả những gì đang
tồn tại.
Lý trí (400): Phân biệt
con người với thế giới động vật. Có khả năng nhìn nhận mọi thứ theo lối trừu tượng,
khái niệm hóa, khách quan và đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác. Công dụng
to lớn của nó là giải quyết vấn đề. Khoa học, triết học, y học và logic là những
biểu hiện của tầng này.
Chấp nhận (350): Năng lượng
này là dễ chịu, thoải mái, hài hòa, linh hoạt, bao dung và không có kháng cự nội
tâm. “Cuộc sống thật tốt đẹp. Bạn và tôi đều tốt đẹp. Tôi cảm thấy được kết nối.”
Nó đón nhận cuộc sống theo đúng bản chất của nó. Không cần phải đổ lỗi cho người
khác hay đổ lỗi cho cuộc đời.
Sẵn sàng (310): Năng lượng
này phục vụ cho sinh tồn, đấy là do thái độ tích cực, chào đón mọi biểu hiện của
cuộc đời. Thân thiện, hữu ích, muốn giúp đỡ và tìm cách phụng sự.
Trung dung (250): Đây là lối sống
thoải mái, thực tế và tương đối không bị chi phối bởi cảm xúc. “Thế nào cũng được.”
Không có những quan điểm cứng nhắc, không phán xét và không cạnh tranh.
Can đảm (200): Tầng năng lượng
này nói: “Tôi có thể làm được.” Nó có quyết tâm, hào hứng với cuộc đời, có năng
suất, độc lập và tự chủ. Hành động hiệu quả là khả thi.
Kiêu hãnh (175): Tầng năng lượng
này nói: “Cách của tôi là tốt nhất.” Trọng tâm của nó là thành tích, khao khát
được công nhận, muốn trở thành đặc biệt và lúc nào cũng hoàn hảo. Cảm thấy “tốt
hơn…” và vượt trội hơn người khác.
Tức giận (150): Tầng năng lượng
này vượt qua nguồn gốc của sợ hãi bằng bạo lực, đe dọa và tấn công. Dễ cáu kỉnh,
bùng nổ, cay đắng, dễ thay đổi và oán hận. Thích “trả đũa,” kiểu như: “Tao sẽ
cho mày biết tay.”
Ham muốn (125): Luôn tìm kiếm
lợi ích, sở hữu, khoái lạc và “có được” cái gì đó bên ngoài mình. Không bao giờ
thỏa mãn, không bao giờ hài lòng và luôn luôn thèm khát. “Tôi phải có cái đó.”
“Cho tôi những gì tôi muốn, và cho tôi ngay bây giờ!”
Sợ hãi (100): Tầng năng lượng
này nhìn thấy “nguy hiểm,” nguy hiểm hiện diện “khắp nơi.” Né tránh, phòng thủ,
lo lắng về sự an toàn, muốn sở hữu người khác, ghen tị, bồn chồn, lo âu và cảnh
giác.
U sầu (75): Bất lực, tuyệt
vọng, mất mát, hối tiếc và cảm xúc: “Giá như tôi đã…” Chia ly. Trầm cảm. Buồn
bã. Cảm giác là một “người thất bại.” Đau khổ, như thể: “Tôi không thể tiếp sống
được nữa.”
Thờ ơ (50): Tầng năng lượng
này có đặc điểm là tuyệt vọng, muốn chết, trở thành “gánh nặng” đối với những người
khác, bị tê liệt và cảm giác: “Tôi không thể” và “Ai thèm quan tâm chứ?” Nghèo
đói là hiện tượng phổ biến.
Mặc cảm tội lỗi (30): Người trong
trường năng lượng này muốn trừng phạt và muốn bị trừng phạt. Dẫn đến tự chối bỏ,
khổ dâm, hối hận, “cảm giác tồi tệ” và tự phá hoại chính mình. “Tất cả là lỗi của
tôi.” Dễ gặp tai nạn, có hành vi tự sát và phóng chiếu thái độ căm ghét chính
mình lên những người “độc ác” khác là hiện tượng phổ biến. Nó là nền tảng của nhiều
loại bệnh tâm thần.
Nhục nhã (20): Có đặc điểm
là cảm thấy nhục nhã, như “cúi đầu vì nhục nhã”. Theo truyền thống nó song hành
với bị trục xuất khỏi xã hội. Có tính phá hoại đối với sức khỏe và kết quả là
tàn nhẫn đối với mình và người khác.
Nhìn chung, có thể nói rằng phần bên
dưới của thang đo gắn liền với tần số rung động thấp hơn: năng lượng thấp hơn,
sức mạnh thấp hơn, hoàn cảnh sống nghèo nàn hơn, các mối quan hệ cũng nghèo nàn
hơn, ít của cải hơn, ít tình yêu hơn, sức khỏe thể chất và tinh thần kém hơn.
Vì năng lượng thấp, những người thiếu thốn như vậy rút năng lượng của chúng ta ở
tất cả các tầng. Họ thường bị người đời xa lánh và thấy mình đứng cùng với những
người cùng tầng với mình (ví dụ như trong nhà tù).
Khi buông bỏ những cảm thọ tiêu cực,
chúng ta sẽ tiến dần lên trên thang đo tới tầng Can đảm, rồi sau đó, tiến xa
hơn nữa: hiệu quả, thành công ngày càng tăng và của cải sẽ dễ dàng hơn. Chúng
ta có xu hướng tìm kiếm những người như thế. Chúng ta nói rằng họ “cao thượng”.
Họ tỏa ra năng lượng sống tới tất cả các sinh vật ở xung quanh. Động vật thích
tới gần họ. Họ có đôi bàn tay khéo léo và tạo được ảnh hưởng tích cực đến cuộc
sống của tất cả những người mà họ tiếp xúc. Ở tầng Can đảm, những cảm thọ tiêu
cực chưa hoàn toàn biến mất, nhưng giờ đây chúng ta có đủ năng lượng để xử lý những
cảm thọ này, vì chúng ta đã lấy lại được sức mạnh và quyền tự chủ của mình.
Cách nhanh nhất để đi từ dưới lên trên là nói sự thật với chính mình và với người
khác.
Người ta cũng thường liên kết tầng
năng lượng với các trung tâm năng lượng của cơ thể, đôi khi được gọi là “luân
xa”. Người ta nói rằng các luân xa là những trung tâm năng lượng, mà “năng lượng
kundalini” chảy qua - khi nó được đánh thức ở tầng Can đảm (200). Có thể sử dụng
nhiều kỹ thuật lâm sàng và dụng cụ điện tử nhạy cảm để đo các trung tâm năng lượng
(luân xa). Trên Bản đồ Tâm thức, các luân xa được hiệu chỉnh như sau: Luân xa
Vương miện (600), Luân xa Con mắt thứ ba (525), Luân xa Tim (505), Luân xa Cổ họng
(350), Luân xa Rối dương (275), Luân xa Xương chậu hay Lá lách (275), Luân xa Gốc
hoặc Luân xa Rễ (200). Khi chúng ta từ bỏ những cảm thọ tiêu cực, năng lượng
trong các luân xa cao hơn của chúng ta sẽ tăng lên. Chẳng hạn, thay vì thói
quen “trút giận” (luân xa 2), giờ đây chúng ta được mô tả là những người “trọn
vẹn yêu thương” (luân xa 5)."
Hệ thống năng lượng này tác động
trực tiếp đến cơ thể vật lý. Năng lượng trong mỗi luân xa chảy ra qua các kênh
gọi là “kinh mạch” tới toàn bộ cơ thể năng lượng, giống như một bản thiết kế
cho cơ thể vật lý. Mỗi kinh mạch liên kết với một cơ quan cụ thể, và mỗi cơ
quan lại liên kết với một cảm xúc cụ thể. Cảm xúc tiêu cực làm mất cân bằng
năng lượng của kinh mạch và cơ quan liên quan. Ví dụ, trầm cảm, tuyệt vọng và u
sầu liên kết với kinh mạch gan, vì vậy những cảm xúc này có xu hướng ảnh hưởng
đến chức năng gan. Mỗi cảm thọ tiêu cực làm suy yếu một cơ quan trong cơ thể và
cùng với thời gian, cơ quan đó sẽ bị bệnh và cuối cùng không hoạt động được nữa.
Trạng thái cảm xúc càng thấp,
chúng ta càng tạo ra ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đến đời sống của chính mình
mà còn đến toàn bộ cuộc sống xung quanh. Tầng tiến hóa cảm xúc càng cao, đời sống
của chúng ta càng trở nên tích cực hơn trên mọi bình diện, và chúng ta càng hỗ
trợ tất cả sự sống xung quanh mình. Khi những cảm xúc tiêu cực được thừa nhận
và buông bỏ, chúng ta được tự do hơn và tiến lên trên thang đo, cuối cùng, trải
nghiệm những cảm thọ tích cực sẽ chiếm ưu thế.
Tất cả những cảm xúc tiêu cực đều là những hạn chế và che mờ thực tại về Đại Ngã đích thực của chúng ta. Khi chúng ta buông bỏ để tiến lên các tầng cao hơn và tiến gần đến đỉnh thang đo, sẽ xảy ra một loại trải nghiệm mới. Ở đỉnh cao nhất của thang đo, sẽ có nhận thức về Đại Ngã đích thực của mỗi người và các tầng Chứng ngộ khác nhau. Quan trọng nhất cần lưu ý là, càng tiến lên cao hơn và tự do hơn, thì sẽ diễn ra cái mà thế giới gọi là nhận thức tâm linh, trực giác và sự phát triển của tâm thức. Đây là trải nghiệm chung của tất cả những người đã buông bỏ những cảm thọ tiêu cực của mình. Họ trở nên ngày càng có ý thức hơn. Những thứ không thể nhìn thấy hoặc trải nghiệm ở các tầng tâm thức thấp hơn, thì ở các tầng cao hơn lại trở thành hiển nhiên và rõ ràng đến mức làm người ta phải kinh ngạc.
Hiểu về cảm xúc
Khoa học phát hiện được rằng, tất
cả các suy nghĩ đều được lưu trữ trong ngân hàng bộ nhớ của tâm trí theo một hệ
thống lưu trữ dựa trên cảm thọ liên quan và các sắc thái tinh tế hơn của nó
(Gray–LaViolette, 1982). Suy nghĩ được lưu trữ theo sắc thái của cảm thọ, chứ
không theo sự kiện. Do đó, có cơ sở khoa học cho nhận xét rằng bằng cách quan
sát cảm thọ thay vì quan sát suy nghĩ làm cho quá trình tự nhận thức gia tăng
nhanh hơn hẳn. Có thể có hàng ngàn suy nghĩ liên quan đến một cảm thọ. Do đó, tìm
hiểu cảm xúc tiềm ẩn và xử lý nó một cách đúng đắn mang lại nhiều lợi ích hơn
và ít tốn thời gian hơn so với việc đối phó với suy nghĩ của mình.
Lúc đầu, nếu bạn chưa quen với
toàn bộ chủ đề về cảm thọ, thì nên bắt đầu bằng cách chỉ quan sát mà không định
làm bất cứ điều gì. Bằng quan sát, quan hệ giữa cảm thọ và suy nghĩ sẽ dần trở
nên sáng tỏ. Sau khi đã thuần thục hơn, chúng ta có thể bắt đầu thực hiện một
vài trải nghiệm thực tế. Ví dụ, có thể gạt sang một bên một số lĩnh vực suy
nghĩ có xu hướng lặp đi lặp lại và xác định cảm thọ liên quan đến những suy
nghĩ này. Sau đó, có thể xử lý cảm thọ bằng cách, trước hết, chấp nhận sự hiện
diện của nó, mà không chống lại hay lên án. Và sau đó, bạn bắt đầu giải phóng
năng lượng của cảm thọ một cách trực tiếp: để nó được là chính nó cho đến khi cạn
kiệt. Một lúc sau, có thể xem xét lại những suy nghĩ trước đó, và bạn nhận thấy
bản chất của chúng đã thay đổi. Nếu cảm thọ được buông bỏ hoàn toàn, thông thường
tất cả những suy nghĩ liên quan đến nó sẽ biến mất hoàn toàn và được thay thế bằng
suy nghĩ mang tính tổng kết, và vấn đề được giải quyết một cách nhanh chóng.
Ví dụ, có người đàn ông mất hộ
chiếu ngay trước khi đi nước ngoài. Ngày khởi hành càng tới gần, thì anh ta
càng hoảng loạn hơn. Tâm trí anh ta quay cuồng, cố gắng nghĩ xem hộ chiếu có thể
bị thất lạc ở đâu. Anh ta tìm kiếm khắp nơi. Anh ta thử nhiều cách nghĩ khác
nhau nhưng không có tác dụng. Anh ta tự trách mình: “Sao mình lại ngu ngốc đến
mức làm mất hộ chiếu? Giờ không còn thời gian để làm lại nữa!” Khi ngày định mệnh
đến gần, anh ta đối mặt với một tình thế khó xử thực sự: không có hộ chiếu, thì
không đi được. Bỏ lỡ chuyến đi sẽ gây ra nhiều hậu quả tiêu cực vì đó vừa là
công việc vừa là du lịch, và nó sẽ gây ra một tình huống khó khăn. Cuối cùng,
anh ta nhớ là phải thực hiện kỹ thuật buông bỏ.
Anh ngồi xuống và tự hỏi: “Cảm thọ
cơ bản mà mình đã lờ đi trong thời gian qua là gì?” Thật ngạc nhiên, cảm thọ cơ
bản xuất hiện chính là u sầu. U sầu gắn liền với việc không muốn xa người mà mình
yêu thương sâu sắc. Còn cả sợ mất quan hệ, hoặc ít nhất là “cách mặt xa lòng”.
Khi buông bỏ u sầu và sợ hãi đi kèm với nó, anh ta bỗng cảm thấy bình yên. Anh còn
rút ra kết luận rằng, nếu quan hệ này không thể vượt qua được hai tuần xa cách,
thì nó cũng chẳng đáng giá; vì vậy, thực sự chẳng có gì phải lo lắng hết. Ngay
khi cảm thấy bình yên, anh lập tức nhớ ra hộ chiếu nằm ở đâu. Thực tế là, nó ở
một chỗ đơn giản và dễ thấy đến nỗi chỉ có ngăn chặn vô thức mới giải thích được
vì sao anh ta lại không nhớ ra. Không cần phải nói rằng, tất cả hàng ngàn suy
nghĩ về hộ chiếu bị mất, chuyến đi thất bại và những hậu quả tiềm tàng đều biến
mất ngay lập tức. Trạng thái cảm xúc của anh trở thành biết ơn và hạnh phúc
thay vì thất vọng.
Buông bỏ có thể rất hữu ích trong các tình huống trong đời sống hàng ngày, nhưng việc sử dụng nó trong các cuộc khủng hoảng trong cuộc đời có thể rất quan trọng trong việc ngăn chặn và giảm bớt nhiều đau khổ. Trong tình huống khủng hoảng trong cuộc đời, thường có quá tải về cảm xúc. Khủng hoảng đã chạm đến một trong những lĩnh vực cảm thọ bị kìm nén hoặc ức chế chính của chúng ta. Trong tình huống này, vấn đề không phải là xác định cảm xúc mà là làm thế nào để xử lý sự quá tải đó.
Xử lý khủng hoảng cảm xúc
Vì đây là vấn đề rất khó khăn đối
với hầu hết mọi người, nên cần nói rõ một số chi tiết. Có một số kỹ thuật giúp
vượt qua khủng hoảng cảm xúc nhanh hơn và có kết quả tốt hơn so với việc để nó
tự diễn ra. Xin nhớ lại các cơ chế thông thường mà tâm trí sử dụng một cách có
ý thức để xử lý cảm xúc, đó là kìm nén (hoặc ức chế), thể hiện và trốn tránh.
Những cơ chế này chỉ có hại khi được sử dụng mà không ý thức được. Trong trường
hợp quá tải, người ta thường khuyến khích sử dụng những cơ chế này, nhưng phải
làm một cách có ý thức. Mục đích của thao tác này là giảm bớt số lượng cảm xúc
quá lớn để nó có thể được phân tách và buông bỏ từng chút một (xin xem mô tả
bên dưới). Do đó, trong trường hợp này, chủ động đẩy lùi càng nhiều cảm xúc là
hoàn toàn ổn. Cường độ cảm xúc có thể được giảm bớt bằng cách chia sẻ cảm xúc với
bạn bè thân thiết hoặc người hướng dẫn. Chỉ cần thể hiện cảm thọ, thì một phần
năng lượng đằng sau nó sẽ giảm đi. Trong hoàn cảnh này, việc chủ động sử dụng
các cơ chế trốn tránh cũng được chấp nhận, chẳng hạn như tham gia các hoạt động
xã hội để tạm thời tránh xa nỗi buồn, chơi với chó, xem tivi, đi xem phim, nghe
nhạc, làm tình, hoặc bất cứ thói quen nào mà bạn có trong hoàn cảnh đó. Khi cảm
thọ đã giảm bớt về cả số lượng và cường độ, tốt nhất là nên bắt đầu buông bỏ những
khía cạnh nhỏ của tình huống hơn là toàn bộ tình huống và cảm xúc đi kèm với nó.
Để minh họa điểm này, xin lấy ví
dụ về người đàn ông mất việc sau nhiều năm làm việc tại một công ty, và hiện
đang chìm trong tuyệt vọng. Bằng cách sử dụng ba cơ chế đã được mô tả bên trên,
một số cảm xúc có thể giảm. Điều anh này có thể xem xét sau đó là một số chi tiết
nhỏ về công việc. Ví dụ, liệu anh ta có thể buông bỏ mong muốn ăn trưa ở nơi
anh ta vẫn thường ăn trưa với các đồng nghiệp hay không? Liệu anh ta có thể
buông bỏ mong muốn đỗ xe ở chỗ đỗ xe mà anh ta vẫn thường dùng trước đây hay
không? Liệu anh ta có thể buông bỏ mong muốn được đi chính cái thang máy đó hay
không? Liệu anh ta có thể buông bỏ sự gắn bó với cái bàn làm việc của mình hay không?
Liệu anh ta có thể buông bỏ sự gắn bó với cô thư ký và thái độ thân thiện mà cô
ấy dành cho anh ta hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ sự gắn bó với cái máy
tính của mình hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ việc gặp ông chủ đó mỗi
ngày hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ cảm thọ quen thuộc với những tiếng ồn
xung quanh trong văn phòng hay không?
Mục đích của việc buông bỏ những
khía cạnh nhỏ nhặt khi mất việc, dường như là tầm thường, là để đưa tâm trí vào
trạng thái buông bỏ. Trạng thái buông bỏ đưa chúng ta lên đến tầng Can đảm; tức
là những cảm thọ tiêu cực đã được thừa nhận và xử lý; do đó, chúng đã mất sức mạnh
của mình. Đột nhiên, chúng ta nhận thức được rằng mình có đủ can đảm để đối mặt
với tình huống, nhận ra cảm thọ của mình và làm việc gì đó liên quan tới chúng.
Khi những điều nhỏ nhặt được buông bỏ, thì kỳ lạ là, sự kiện chính trở thành ít
áp lực hơn. Lý do của hiện tượng này là, khi chúng ta sử dụng cơ chế buông bỏ một
cảm xúc, chúng ta đồng thời buông bỏ tất cả các cảm xúc khác. Dường như tất cả
các cảm xúc đều có cùng một năng lượng nằm bên dưới, vì vậy việc buông bỏ theo
một hướng cũng đồng nghĩa với việc buông bỏ những cảm thọ mà thoạt nhìn có vẻ
ngược lại. Đây là dựa trên kinh nghiệm lâm sàng; cần phải tự mình trải nghiệm
thì mới có thể tin được.
Sau khi sử dụng bốn phương pháp nói
trên (kìm nén, thể hiện, trốn tránh, buông bỏ những khía cạnh nhỏ hơn), phương
pháp thứ năm lúc này càng trở nên rõ ràng hơn. Mỗi cảm xúc mạnh mẽ thực chất là
sự kết hợp của một số cảm xúc phụ và toàn bộ phức hợp cảm xúc có thể được giải
thể. Ví dụ, người đàn ông mất việc ban đầu có cảm thọ tuyệt vọng tột độ; nhưng
khi anh ta bắt đầu buông bỏ những khía cạnh xung quanh, và khi anh ta giảm bớt tình
trạng choáng ngợp bằng cách sử dụng một cách có ý thức các phương pháp trốn
tránh, kìm nén và thể hiện, anh ta nhận ra rằng cũng có cả tức giận nữa. Anh ta
thấy rằng tức giận gắn với kiêu hãnh. Có rất nhiều tức giận dưới dạng oán hận.
Có tự phủ nhận, đó là một hình thức tức giận hướng vào chính mình. Cũng có sợ
hãi. Do đó, những cảm xúc liên quan này giờ đây có thể được xử lý một cách trực
tiếp. Ví dụ, anh ta có thể bắt đầu buông bỏ sợ hãi: mình sẽ không tìm được việc
làm khác. Khi sợ hãi đó được thừa nhận và buông bỏ, tất cả những khả năng thay
thế sẽ đột nhiên trở nên rõ ràng với anh ta. Và khi buông bỏ kiêu hãnh, anh ta
sẽ nhanh chóng nhận ra rằng mình không phải đối mặt với thảm họa kinh tế như đã
từng nghĩ. Như vậy, khi phức hợp cảm xúc bị phân rã thành các thành phần, mỗi
thành phần giờ đây có ít năng lượng hơn và có thể được buông bỏ từng cái một.
Khi thoát khỏi cảm giác choáng ngợp,
ta sẽ nhớ rằng một phần cảm xúc nào đó đã bị cố tình kìm nén hoặc trốn tránh.
Giờ đây, có thể xem xét lại, để nó không gây ra tác hại dai dẳng, chẳng hạn như
dẫn đến thái độ cay đắng, mặc cảm tội lỗi vô thức hoặc làm giảm thái độ tự trọng.
Các mảnh vỡ của phức hợp cảm xúc có thể lặp lại trong một khoảng thời gian nào
đó, thậm chí trong nhiều năm; tuy nhiên, vì giờ đây chúng chỉ là những mảnh nhỏ,
có thể xử lý từng mảnh khi nó xuất hiện. Ít nhất, có thể vượt qua tình huống khủng
hoảng một cách an toàn và có ý thức.
Xử lý khủng hoảng từ tầng cảm xúc
chứ không phải từ tầng trí tuệ sẽ rút ngắn đáng kể thời gian xảy ra khủng hoảng.
Trong trường hợp mất việc làm, xử lý vấn đề ở tầng trí tuệ sẽ tạo ra hàng ngàn
suy nghĩ và kịch bản giả định. Người đó sẽ có nhiều đêm mất ngủ vì những suy
nghĩ miên man về tình huống này, đấy là khi tâm trí cứ lặp đi lặp lại quá trình
xem xét nó. Tất cả những việc làm này đều là vô ích. Chừng nào cảm xúc tiềm ẩn
chưa được buông bỏ, thì các suy nghĩ sẽ còn được tạo ra không ngừng nghỉ. Chúng
ta đều biết những người đã trải qua khủng hoảng cảm xúc nhiều năm trước và đến
nay vẫn chưa hồi phục. Nó đã ảnh hưởng lên toàn bộ cuộc sống của họ, và họ đã
phải trả giá đắt vì thiếu kỹ năng xử lý những cảm xúc tiềm ẩn.
Xử lý thành công một cuộc khủng
hoảng trong cuộc đời mang lại nhiều lợi ích. Thứ nhất, lượng cảm xúc bị kìm nén
giờ đây đã giảm đi rất nhiều. Cuộc khủng hoảng đã buộc nó phải được giải tỏa và
do đó, lượng cảm xúc còn lại trong tiềm thức đã giảm đi đáng kể. Cảm giác tự trọng
và tự tin gia tăng vì nhận thức được rằng mình có thể vượt qua và xử lý bất cứ
điều gì mà cuộc sống mang tới. Nhìn chung, sợ hãi đời sống giảm đi, cảm giác
làm chủ cuộc đời trở thành mạnh mẽ hơn, từ bi hơn trước đau khổ của người khác,
và khả năng giúp đỡ họ vượt qua những hoàn cảnh tương tự cũng tăng lên. Nghịch
lý là, sau khủng hoảng, thường có một giai đoạn bình yên và tĩnh lặng kéo dài rất
lâu, đôi khi gần đạt đến tầng trải nghiệm thần bí. “Đêm tối của linh hồn” thường
đi trước những trạng thái nhận thức cao.
Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất về nghịch lý là những người đã trải nghiệm cận tử. Hiện nay có rất nhiều sách viết về chủ đề này, cho thấy một điểm chung nhất định. Một khi sợ hãi tồi tệ nhất có thể xảy ra— đối mặt với kinh hoàng và cú sốc của cái chết— thì nó được thay thế bằng cảm giác thanh thản, bình yên, một thể và miễn nhiễm sâu sắc trước sợ hãi. Nhiều người như thế đã phát triển những khả năng phi thường, trở thành người chữa lành, phát triển nhận thức tâm linh và có các trạng thái giác ngộ tâm linh cao cấp. Họ trải nghiệm những bước nhảy vọt to lớn trong sự trưởng thành và đột ngột xuất hiện những tài năng và khả năng mới. Do đó, mỗi cuộc khủng hoảng trong cuộc đời đều mang trong mình mầm mống của sự đảo ngược, đổi mới, mở rộng, một bước nhảy vọt trong tâm thức, và buông bỏ cái cũ để khai sinh ra cái mới.
Chữa lành quá khứ
Nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta
sẽ thấy những tàn dư của các cuộc khủng hoảng trong quá khứ vẫn chưa được giải
quyết. Những suy nghĩ và cảm thọ về các sự kiện thường xuất hiện và tô màu tri
giác của chúng ta, và chúng ta sẽ nhận thấy rằng chúng đã làm cho chúng ta trở
thành bất lực trong một số lĩnh vực của đời sống. Lúc đó, khôn ngoan nhất là tự
hỏi xem có đáng tiếp tục trả giá hay không. Lúc này, khi chúng ta đã có một số
cơ chế để xử lý những cảm thọ còn sót lại, chúng có thể bộc lộ. Những cảm thọ
còn sót lại có thể được xem xét và buông bỏ để có thể chữa lành. Nó đưa chúng
ta đến một kỹ thuật chữa lành cảm xúc đầy sức mạnh khi sự kiện lớn đã đi qua.
Đó là đưa sự kiện vào một bối cảnh khác, nhìn nhận nó từ góc độ khác, và giữ nó
trong hệ hình (paragdism[iv]) khác với ý
nghĩa và tầm quan trọng khác trước.
Có người nói rằng hầu hết mọi người
lúc nào cũng hối tiếc quá khứ và sợ hãi tương lai; do đó, họ không thể trải
nghiệm niềm vui trong hiện tại. Nhiều người trong chúng ta cho rằng đây là số
phận của con người, là định mệnh của chúng ta, và điều tốt nhất chúng ta có thể
làm là “cười gượng và chịu đựng”. Đôi khi các nhà triết học đã lợi dụng triệt để
cách tiếp cận tiêu cực, bi quan này và xây dựng nên toàn bộ hệ thống của chủ
nghĩa hư vô. Những nhà triết học này - một số người đã trở thành nổi tiếng qua
nhiều năm - rõ ràng chỉ là nạn nhân của những cảm xúc đau đớn mà họ không xử lý
được và những cảm xúc này kích hoạt quá trình trí tuệ hóa và trau chuốt không
ngừng nghỉ. Nhiều người dành cả cuộc đời để xây dựng những hệ thống tri thức
tinh vi chỉ để biện minh cho một điều vốn dĩ quá hiển nhiên: đó là một cảm xúc
bị kìm nén.
Một trong những công cụ hiệu quả
nhất để xử lý quá khứ là tạo ra bối cảnh khác. Có nghĩa là chúng ta gán cho nó
một ý nghĩa khác. Chúng ta có thái độ khác về khó khăn hoặc tổn thương trong
quá khứ, và chúng ta thừa nhận món quà tiềm ẩn trong đó. Viktor Frankl chuyên
gia tâm thần học là người đầu tiên nhận ra giá trị của kỹ thuật này. Ông giải
thích cách tiếp cận này—gọi là “Liệu pháp ý nghĩa”—trong cuốn sách nổi tiếng Man’s
Search for
Meaning (Đi tìm lẽ sống). Trải nghiệm cả
trong lĩnh vực lâm sàng và lĩnh vực cá nhân của ông đã chứng minh rằng các sự
kiện mang tính cảm xúc và những biến cố đau thương sẽ thay đổi đáng kể và được
chữa lành nếu ta gán cho chúng ý nghĩa mới. Frankl kể về trải nghiệm của chính
mình trong các trại tập trung của Đức Quốc xã - ông nhận ra rằng đau khổ về thể
xác và tinh thần là cơ hội để giành chiến thắng nội tâm. Con người có thể bị tước
đoạt mọi thứ, trừ một điều: quyền tự do cuối cùng trong những quyền tự do của
nhân loại – đó là quyền lựa chọn thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào,
quyền lựa chọn con đường của riêng mình. (Frankl, [1959] 2006). Frankl đã tái định
hình bối cảnh của những hoàn cảnh kinh hoàng để tạo ra ý nghĩa sâu sắc đối với linh
hồn của con người.
Mỗi trải nghiệm trong cuộc đời,
dù “bi thảm” đến đâu, đều chứa đựng một bài học được che giấu. Khi chúng ta
khám phá và thừa nhận món quà được che dấu đó, chữa lành sẽ diễn ra. Trong ví dụ
về người đàn ông mất việc làm, sau một thời gian, anh ta nhìn lại và thấy rằng
công việc cũ đã kìm hãm quá trình phát triển của mình, anh ta đã bị mắc kẹt
trong lối mòn. Thẳng thắn mà nói, công việc cũ đã làm anh ấy bị loét dạ dày.
Trước khi mất việc, anh ta chỉ thấy những niềm vui trong công việc đó. Sau khi
thoát khỏi tình huống đó, anh ta bắt đầu nhận ra cái giá mà mình phải trả—về thể
chất, tinh thần và cảm xúc. Sau khi mất việc, anh ta sẵn sàng khám phá những khả
năng và tài năng mới; trên thực tế, anh ta đã bắt đầu một sự nghiệp mới, đầy hứa
hẹn.
Vì vậy, các sự kiện trong cuộc đời
là cơ hội để trưởng thành, mở rộng, trải nghiệm và phát triển. Trong một số trường
hợp, nhìn lại thì dường như thực sự là có mục đích vô thức đằng sau sự kiện đó,
như thể vô thức của chúng ta biết rằng, có một điều gì đó quan trọng cần phải học,
và, dù đau đớn đến đâu, đó là cách duy nhất để trải nghiệm điều đó. Đây là một
phần trong tâm lý học của nhà phân tâm học Carl Jung - sau cả đời nghiên cứu,
ông rút ra kết luận rằng có một động lực bẩm sinh trong vô thức hướng tới sự
toàn vẹn, trọn vẹn và nhận thức về Đại Ngã, và vô thức sẽ nghĩ ra các biện pháp
để vươn tới trạng thái này, ngay cả khi chúng làm cho tâm trí hữu thức bị tổn
thương.
Jung còn nói rằng trong vô thức
có một khía cạnh của chính chúng ta, gọi là “bóng tối” (shadow[v]). Bóng tối
là tất cả những suy nghĩ, cảm xúc và khái niệm bị kìm nén về chính mình mà
chúng ta không muốn đối mặt. Một trong những lợi ích của khủng hoảng là nó thường
giúp chúng ta làm quen với bóng tối của mình. Nhận ra những thứ chúng ta chia sẻ
với toàn thể nhân loại làm cho chúng ta trở thành nhân văn hơn và trọn vẹn hơn.
Tất cả những điều mà chúng ta nghĩ rằng “họ” có tội đều có mặt trong chính
chúng ta. Vì vậy, khi được đưa lên tầng nhận thức hữu thức, được thừa nhận và
được buông bỏ, nó sẽ không còn điều khiển chúng ta một cách vô thức nữa. Một
khi bóng tối được thừa nhận, nó không còn sức mạnh nữa. Tất cả những việc cần làm
chỉ là nhận ra rằng chúng ta có những xung động, suy nghĩ và cảm thọ nào đó đã bị
cấm, không được thể hiện ra. Giờ đây, chúng ta có thể xử lý chúng bằng câu hỏi “Vậy
thì sao?”.
Do đó, đi qua vụ khủng hoảng của cuộc
đời làm cho chúng ta trở thành nhân văn hơn, từ bi hơn, chấp nhận và hiểu chính
mình và người khác hơn. Chúng ta không còn phải sa đà vào việc đổ lỗi cho người
khác hoặc tự trách mình nữa. Xử lý khủng hoảng cảm xúc giúp chúng ta có nhiều
trí tuệ hơn và nó sẽ mang lại lợi ích trong suốt cuộc đời này. Sợ hãi cuộc đời
thực chất là sợ hãi cảm xúc. Chúng ta không sợ sự kiện mà sợ cảm thọ về sự kiện.
Một khi chúng ta làm chủ được cảm thọ của mình, sợ cuộc đời sẽ giảm đi. Chúng
ta cảm thấy tự tin hơn, và sẵn sàng chấp nhận rủi ro lớn hơn, vì lúc này chúng
ta cảm thấy mình có thể xử lý được những hậu quả về mặt cảm xúc, dù chúng có là
gì thì cũng thế. Bởi vì sợ hãi là gốc rễ của mọi kìm hãm, chế ngự sợ hãi có
nghĩa là mở ra toàn bộ những con đường cho trải nghiệm cuộc đời mà trước đây chúng
ta từng né tránh.
Do đó, người đàn ông xử lý thành
công khủng hoảng mất việc làm sẽ không bao giờ trải nghiệm sợ hãi tương tự như
thế nữa. Vì vậy, anh ta sẽ sáng tạo hơn trong công việc tiếp theo, sẵn sàng chấp
nhận những rủi ro, nếu cần, để thành công. Anh ta bắt đầu nhận ra sợ hãi ám ảnh
về mất việc đã hạn chế nghiêm trọng hiệu suất làm việc của mình như thế nào,
khiến anh ta sợ hãi và thận trọng, và đánh mất lòng tự trọng của mình do quá phục
tùng và tuân thủ cấp trên.
Một trong những lợi ích từ vụ khủng
hoảng trong cuộc đời là gia tăng nhận thức về chính mình. Tình huống vượt quá sức
chịu đựng, và chúng ta buộc phải dừng tất cả những trò chơi đánh lạc hướng, nhìn
nhận thật kỹ tình hình và đánh giá lại niềm tin, mục tiêu, giá trị và hướng đi.
Đây là cơ hội để đánh giá lại và buông bỏ mặc cảm tội lỗi. Đây cũng là cơ hội để
thay đổi hoàn toàn thái độ của mình. Những vụ khủng hoảng trong cuộc đời đưa
chúng ta tới những thái cực trái ngược nhau. Chúng ta sẽ căm ghét hay tha thứ
cho người đó? Chúng ta sẽ học hỏi từ trải nghiệm này và trưởng thành, hay oán hận
và trở thành người cay đắng? Chúng ta quyết định bỏ qua những thiếu sót của người
khác và của chính mình, hay, thay vào đó chúng ta oán hận và tấn công họ về mặt
tinh thần? Trong tương lai, chúng ta sẽ rút lui khỏi tình huống tương tự và sợ
hãi hơn, hay, một lần nữa, chúng ta sẽ vượt qua khủng hoảng và làm chủ nó một lần
và mãi mãi? Chúng ta chọn hy vọng hay nản chí? Chúng ta có thể sử dụng trải
nghiệm này như một cơ hội để học cách chia sẻ, hay chúng ta sẽ rút lui vào vỏ bọc
của sợ hãi và cay đắng? Mỗi trải nghiệm cảm xúc là một cơ hội để đi lên hoặc đi
xuống. Chúng ta chọn cách làm nào? Đó chính là khoảnh khắc phải trực diện với
chính mình.
Chúng ta có cơ hội quyết định xem
mình muốn bám vào hay buông bỏ những tổn thương về mặt cảm xúc. Chúng ta có thể
xem xét cái giá phải trả khi bám vào chúng. Chúng ta có muốn trả giá đó hay không?
Chúng ta có sẵn sàng chấp nhận những cảm thọ đó hay không? Chúng ta cũng có thể
xem xét những lợi ích của việc buông bỏ chúng. Lựa chọn của chúng ta sẽ quyết định
tương lai của chúng ta. Chúng ta muốn có tương lai như thế nào? Chúng ta sẽ chọn
được chữa lành, hay sẽ trở thành một trong những người mang theo vết thương
lòng?
Khi quyết định, quan trọng là phải
xem xét phần thưởng mà chúng ta nhận được khi bám vào dư vị của một trải nghiệm
đầy đau khổ. Chúng ta có được những thoả mãn nào? Chúng ta sẵn sàng cam chịu đến
mức nào? Giận dữ. Thù hận. Than thân trách phận. Oán hận. Tất cả đều là những
phần thưởng rẻ mạt, thỏa mãn nhỏ nhoi ở bên trong. Đừng giả vờ là không có. Có
một thứ khoái lạc kỳ quặc, quái đản khi ta bám vào nỗi đau. Nó chắc chắn thỏa
mãn nhu cầu vô thức của chúng ta trong việc xoa dịu mặc cảm tội lỗi thông qua
trừng phạt. Ta được quyền cảm thấy khốn khổ và tồi tệ. Nhưng rồi câu hỏi đặt ra
là: “Chuyện này sẽ kéo dài được bao lâu?”
Ví dụ,
một người đàn ông đã không nói chuyện với anh trai mình suốt 23 năm. Cả hai đều
không nhớ chuyện gì đã xảy ra; câu chuyện đã bị lãng quên từ lâu. Nhưng họ đã
quen với việc không nói chuyện, và vì vậy họ phải trả giá bằng việc thiếu vắng
sự hiện diện của nhau, tình cảm, sự gắn kết trong các vấn đề gia đình, và tất cả
những trải nghiệm và tình yêu mà họ lẽ ra có thể có trong suốt 23
năm đó. Khi người đàn ông này hiểu được cơ chế của buông bỏ, anh ta bắt đầu
buông bỏ cảm thọ về anh trai mình. Đột nhiên, anh ta bật khóc vì buồn khi nhận
ra tất cả những gì đã mất trong những năm qua. Bằng cách tha thứ cho anh trai của
mình, anh ta kích hoạt phản ứng tương tự ở người anh trai, và hai người đã đoàn
tụ với nhau. Sau đó, một trong hai anh em nhớ lại câu chuyện đã từng xảy ra. Đó
là một vụ tranh cãi về đôi giày tennis. Chỉ vì đôi giày tennis mà họ đã phải trả
giá suốt 23 năm! Nếu người đàn ông này không học được kỹ thuật buông bỏ, rất có
thể anh ta đã mang theo oán hận ấy xuống mồ. Vậy câu hỏi đặt ra là: “Chúng ta
muốn tiếp tục chịu đựng bao lâu nữa? Khi nào chúng ta sẵn sàng từ bỏ nó? Khi
nào thì đủ?”
Cái phần muốn bám víu vào những cảm
xúc tiêu cực chính là sự nhỏ bé của chúng ta. Đó là phần ích kỷ, nhỏ nhen,
thích cạnh tranh, keo kiệt, mưu mô, không tin tưởng, thù hận, thích phán xét, tự
ti, yếu đuối, mặc cảm tội lỗi, xấu hổ và phù phiếm trong chúng ta. Nó có ít
năng lượng; nó hút năng lượng, hạ thấp phẩm giá và dẫn đến thái độ tự ti. Chính
phần nhỏ bé đó gây ra thái độ tự căm thù chính mình, mặc cảm tội lỗi không bao
giờ ngưng và tìm kiếm trừng phạt, bệnh tật. Đó có phải là phần mà chúng ta muốn
đồng nhất với hay không? Đó có phải là phần mà chúng ta muốn tiếp thêm năng lượng
hay không? Đó có phải là cách chúng ta muốn nhìn nhận chính mình? Bởi vì nếu đó
là cách chúng ta nhìn nhận chính mình, thì đó cũng là cách người khác nhìn nhận
chúng ta.
Thế giới chỉ có thể nhìn chúng ta
như cách chúng ta nhìn nhận chính mình. Liệu chúng ta có sẵn sàng trả giá cho
những hậu quả đó? Nếu chúng ta tự coi mình là keo kiệt và nhỏ nhen, thì khó có
khả năng là chúng ta sẽ đứng đầu danh sách thăng tiến của công ty.
Cái giá phải trả cho việc bám vào sự nhỏ bé có thể được chứng minh bằng phương pháp kiểm tra cơ bắp. Quy trình khá đơn giản (Hawkins, [1995], 2012). Giữ trong tâm trí một suy nghĩ xấu xa, nhỏ nhen và nhờ ai đó ấn mạnh cánh tay bạn trong khi bạn chống lại; chú ý đến hiệu quả. Bây giờ, chọn một quan điểm hoàn toàn ngược lại. Hãy hình dung bản thân mình là người hào phóng, vị tha, yêu thương và trải nghiệm sự vĩ đại bên trong. Ngay lập tức, sức mạnh cơ bắp sẽ tăng lên đáng kể, cho thấy sự bùng nổ của năng lượng sinh học tích cực. Nhỏ bé mang lại yếu đuối, bệnh tật và cái chết. Bạn có thực sự muốn điều đó? Buông bỏ những cảm thọ tiêu cực có thể đi kèm với một thủ thuật rất lành mạnh khác, nó sẽ hỗ trợ rất nhiều cho quá trình chuyển hoá nội tâm của bạn, đó chính là: thôi kháng cự lại những cảm thọ tích cực.
Tăng cường cảm xúc tích cực
Hệ quả của việc buông bỏ cảm thọ
tiêu cực là ngừng chống lại những cảm thọ tích cực. Mọi thứ trong vũ trụ đều có
cái đối lập của nó; do đó, trong tâm trí, mỗi cảm thọ tiêu cực đều có đối trọng
của nó, nằm giữa nhỏ bé và vĩ đại, dù chúng ta có liên tục nhận thức được sự tồn
tại của nó tại bất kỳ thời điểm nào hay không.
Một bài tập hay và rất hữu ích là
ngồi xuống và nhìn vào cảm thọ hoàn toàn trái ngược với cảm thọ tiêu cực mà
chúng ta đang trải nghiệm và bắt đầu buông bỏ việc chống lại nó. Ví dụ, giả sử
sinh nhật của một người bạn sắp đến và chúng ta cảm thấy bực bội và keo kiệt;
do đó, chúng ta dường như không thể đi ra ngoài mua quà, còn ngày đó thì đang đến
gần. Cảm thọ hoàn toàn trái ngược là tha thứ và hào phóng. Chúng ta chỉ cần bắt
đầu tìm kiếm cảm thọ tha thứ trong chính mình và ngừng chống lại nó. Khi chúng
ta tiếp tục buông bỏ sự kháng cự của mình đối với việc trở thành một người biết
tha thứ, thường thì điều đáng ngạc nhiên là tha thứ sẽ trỗi dậy mạnh mẽ. Chúng
ta sẽ bắt đầu nhận ra rằng một phần bản chất của chúng ta luôn sẵn sàng và mong
muốn tha thứ, nhưng chúng ta không dám mạo hiểm. Chúng ta nghĩ rằng mình có thể
trông như là ngốc nghếch. Chúng ta nghĩ rằng mình đang trừng phạt người kia bằng
cách giữ tâm oán hận, nhưng thực ra chúng ta đã kìm nén tình yêu. Ban đầu,
chúng ta có thể không cảm nhận rõ điều này một cách cụ thể về người bạn của
mình, nhưng chúng ta sẽ bắt đầu nhận thấy rằng mình có khía cạnh này trong tính
cách. Khi chúng ta tiếp tục buông bỏ sự kháng cự đối với tình yêu, chúng ta sẽ
nhận ra rằng bên trong chính mình có điều gì đó muốn thể hiện thông qua việc chia
sẻ và cho đi, buông bỏ quá khứ và chôn vùi hận thù. Có mong muốn thực hiện một cử
chỉ thân thiện; chúng ta muốn hàn gắn sự chia tách, sửa chữa vết thương, sửa chữa
sai trái, bày tỏ lòng biết ơn và chấp nhận rủi ro bị coi là người ngốc.
Mục đích của bài tập này là để
tìm ra trong chính mình điều mà chỉ có thể được mô tả là vĩ đại. Vĩ đại là can
đảm để vượt qua những trở ngại. Đó là sẵn sàng tiến đến tầng yêu thương cao
hơn. Đó là chấp nhận tính người của người khác và từ bi đối với đau khổ của họ bằng
cách đặt mình vào vị trí của họ. Từ tha thứ cho người khác mà nảy sinh tha thứ chính
mình và giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi. Phần thưởng thực sự là khi chúng ta
buông bỏ tiêu cực và chọn yêu thương; thì chính chúng ta là người được lợi.
Chính chúng ta là người được lợi từ phần thưởng thực sự này. Với nhận thức ngày
càng tăng về bản chất thực sự của mình, chúng ta dần trở thành miễn nhiễm hơn với
nỗi đau. Một khi chúng ta chấp nhận bằng tâm từ bi với tính người của chính
mình và của người khác, chúng ta không còn bị sỉ nhục nữa, vì khiêm nhường thực
sự là một phần của sự vĩ đại.
Từ nhận thức về bản chất thực sự
của mình mà nảy sinh mong muốn tìm kiếm những thứ nâng mình lên. Từ đó xuất hiện
ý nghĩa và bối cảnh mới cho cuộc đời. Khi sự trống rỗng bên trong, do thiếu lòng
tự trọng, được thay thế bằng yêu thương chính mình, tự trọng và kính trọng chính
mình, chúng ta không còn phải tìm kiếm nó ở thế giới bên ngoài nữa, vì cội nguồn
hạnh phúc nằm trong chính chúng ta. Chúng ta chợt nhận ra rằng thế giới này dù thế
nào cũng không thể cung cấp được cái đó. Không có của cải nào có thể bù đắp được
cảm giác nghèo nàn nội tâm. Chúng ta đều biết có nhiều triệu phú tìm cách bù đắp
cho cảm giác trống rỗng và thiếu vắng giá trị nội tâm. Một khi đã kết nối được
với Đại Ngã bên trong, với sự vĩ đại bên trong, với sự trọn vẹn, mãn nguyện và
cảm giác hạnh phúc đích thực nội tâm, là chúng ta siêu việt thế giới này. Thế
giới giờ đây là nơi để tận hưởng, chúng ta không còn bị nó chi phối nữa. Chúng
ta không còn chịu ảnh hưởng của nó nữa.
[i] Force – Bạo lực/Cưỡng bức
là dạng năng lượng mang tính cưỡng chế, tách biệt và kháng cự lại quy luật tự
nhiên, dù biểu hiện ra bên ngoài thành hành động hay diễn ra âm thầm bên trong
tâm trí như là quá trình tự hủy hoại. Vì mang tính cưỡng bức, Force luôn tạo ra
phản lực, dẫn đến tiêu hao năng lượng và suy yếu trong dài hạn. Bạo lực đại diện
cho các tầng tâm thức dưới 200.
[ii] Unity (Nhất thể) là trạng
thái ý thức trong đó mọi cảm nhận về sự tách biệt giữa “ta” và “người khác”, giữa
“chủ thể” và “đối tượng”, giữa “con người” và “vũ trụ” tan biến. Tất cả được trực
nhận như một thực tại duy nhất, một trường hiện hữu không phân chia. Unity (Hợp
nhất/Nhất thể) nhấn mạnh trạng thái hiệp nhất: mọi phân chia đã tan biến.
[iii] Vision (trong ngữ cảnh
tâm linh) không phải là thị giác vật lý, mà là một cách thấy bằng tâm thức đã
được chữa lành. Nó là trạng thái trong đó con người nhìn mọi sự không còn qua sự
phán xét của bản ngã, mà qua tình yêu và sự hợp nhất. Vision xuất hiện khi
perception được thanh lọc. Trong perception, tâm trí nhìn thế giới qua sợ hãi,
phân ly, và diễn giải chủ quan. Trong vision, cái nhìn trở nên trong sáng,
không phán xét, và nhận ra bản chất vô tội và thiêng liêng của mọi sự.
[iv] Paradigm dịch là “hệ
hình” có nghĩa là: Một khung nhận thức nền tảng – một mô hình tư duy bao trùm –
quy định cách ta nhìn, hiểu và giải thích thế giới. Khái niệm paradigm trở nên
nổi tiếng nhờ cuốn sách The Structure of Scientific Revolutions của Kuhn. Trong
đó, Kuhn dùng “paradigm” để chỉ: Một hệ thống giả định nền tảng, phương pháp,
giá trị, và mô hình mẫu được cộng đồng khoa học chấp nhận trong một thời kỳ –
và chính nó quy định cái gì được xem là “khoa học”, cái gì là “sự thật”, và
cách giải thích dữ liệu.
[v] Shadow
– Bóng tối: Là khía cạnh khuất lấp trong sâu thẳm của vô thức cá nhân; là “thế
giới ngầm” chứa đựng những đặc điểm, cảm xúc và bản năng mà cái tôi hữu thức từ
chối thừa nhận, kìm nén hoặc chối bỏ. Vùng tối này không chỉ bao gồm các phương
diện tiêu cực (như ích kỷ, giận dữ, đê hèn, đốn mạt, các ám ảnh và xung năng
tình dục lệch lạc, phóng đãng), mà còn ẩn giấu cả những tiềm năng tích cực bị bỏ
quên (như sức sáng tạo đột phá hay tư duy phản kháng). Khi không được nhận biết,
các góc khuất nội tâm này sẽ bị phóng chiếu ra thế giới bên ngoài thông qua các
cơ chế phòng vệ như phán xét, đổ lỗi, quy chụp, thành kiến, hoặc nhìn thấy “kẻ
thù” ở khắp mọi nơi—những điều mà thực chất chủ thể đang cố tình né tránh ở
chính mình. Đối mặt và tích hợp Bóng tối là bước đi cốt lõi trong tiến trình
trưởng thành tâm thức, mang lại sự hòa hợp và toàn vẹn sâu sắc từ bên trong.