July 18, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (22)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 21

 

CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI

  

Chương này trình bày những câu hỏi và trả lời từ các buổi hội thảo và hội nghị chuyên đề được tổ chức trên khắp thế giới trong những năm gần đây, đây là những câu hỏi điển hình và thường hay gặp nhất về cơ chế buông bỏ.

 

Mục tiêu Tôn giáo và Tâm linh

Luôn luôn có một số câu hỏi liên quan đến việc áp dụng buông bỏ để vươn tới những trạng thái thường được gọi là mục tiêu tâm linh, mở rộng tâm thức và đức tin tôn giáo. Chúng tôi có thể trả lời nhiều câu hỏi kiểu này bằng cách đưa ra một tuyên bố chung.

Cơ chế buông bỏ không mâu thuẫn với bất kỳ tôn giáo, con đường tâm linh hay chương trình tự hoàn thiện nào, cũng không bất đồng với bất kỳ triết lý hay quan điểm siêu hình nào. Nó không có bất kỳ giáo lý tâm linh nào của riêng mình. Thay vào đó, nó cung cấp cơ chế để thấu hiểu chính mình, có thể dọn sạch những chướng ngại, mở đường cho tiến bộ tâm linh. Nó cũng tương thích với phong trào nhân văn. Tất cả các con đường tâm linh và tôn giáo đều nhấn mạnh nhu cầu mở rộng khả năng yêu thương, và về cơ bản, đó chính là cái mà quá trình buông bỏ hướng tới. Bằng cách loại bỏ những rào cản đối với tình yêu, khả năng yêu thương chính mình, yêu thương tha nhân và Thiên Chúa cũng gia tăng.

Buông bỏ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu những giáo lý cơ bản của tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới. Mục tiêu thiết yếu của những giáo lý này là buông bỏ “tự ngã nhỏ bé”, thường được gọi là “bản ngã”. Kỹ thuật buông bỏ tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu xoá bỏ tự ngã nhỏ bé bằng cách sử dụng một quá trình buông bỏ bên trong khá đơn giản. Khi siêu việt được bản ngã nhỏ bé, thì Đại Ngã đích thực bên trong sẽ tỏa sáng. Xin xem xét, ví dụ, phương tiện diễn đạt ngắn gọn phổ biến nhất về hiện tượng buông bỏ được hầu hết các tôn giáo đưa ra. Thông thường, tuân theo mô thức này:

Hãy buông bỏ và phó thác cho Thiên Chúa.

Hãy tĩnh lặng và biết rằng Ta là Thiên Chúa.

Hãy phó thác cuộc sống và ý chí của bạn để Thiên Chúa chăm sóc, tùy theo nhận thức của bạn về Ngài.

Hãy phó thác cho những cái đang là, vì Thiên Chúa ở trong tất cả.

Rõ ràng là buông bỏ những thứ tiêu cực tạo điều kiện thuận lợi cho chính hướng đi mà tất cả các tôn giáo và con đường tâm linh đều khuyến khích chúng ta đi theo. Quá trình buông bỏ chủ yếu liên quan đến các cảm thọ, và chúng ta đã thấy rằng cảm thọ có ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ và hệ thống niềm tin của chúng ta. Kinh nghiệm của hầu hết những người sử dụng cơ chế buông bỏ là nó tạo điều kiện thuận lợi cho các mục tiêu tâm linh và tôn giáo của họ. Những người không hữu ý có bất kỳ mục tiêu tôn giáo hay tâm linh nào nhận xét rằng buông bỏ tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng yêu thương, tức gia tăng đáng kể hạnh phúc và an lành của họ.

Carl Jung đã chỉ ra rằng, vì Chúa là một trong những nguyên mẫu chính trong vô thức, mỗi người đều phải có quan điểm về Chúa, dù họ thích hay không. Ngay cả người vô thần cũng có cảm thọ về khái niệm về Chúa. Vì vậy, dù Chúa có tồn tại hay không, chủ đề này sớm muộn gì cũng phải được giải quyết. Kìm nén cảm thọ của chúng ta về Chúa hoặc bị áp đảo một cách có ý thức bởi chủ đề này không phải là giải pháp thỏa đáng. Kỹ thuật buông bỏ mang tới giải pháp cho những xung đột nội tâm lâu dài, cả đối với người vô thần lẫn người hữu thần.

 

Hỏi: Xin hỏi liên hệ giữa buông bỏ và toàn bộ khái niệm về tội lỗi (sin)?

Trả lời: Nếu xem xét những cảm thọ tiêu cực mà chúng ta đã thảo luận và mô tả bằng thuật ngữ tôn giáo, chúng ta sẽ thấy rằng những gì chúng ta thực sự đang mô tả là cái gọi là “tội trọng” (cardinal sins). Bởi vì cơ chế buông bỏ là một cách để cho chúng đi qua, rõ ràng là việc buông bỏ chấp trước với những đặc điểm này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc vươn tới những giáo lý tôn giáo trong đời sống cá nhân của chúng ta.

 

Hỏi: Tôi không theo bất kỳ con đường tâm linh cụ thể nào mà có con đường cá nhân của riêng mình. Kỹ thuật này có thể hữu ích như thế nào?

Trả lời: Không có ngoại lệ, tất cả các con đường tâm linh đều dựa trên phương pháp xoá bỏ bản ngã. Bản ngã bao gồm toàn bộ các chương trình tiêu cực của chúng ta. Buông bỏ là quá trình tuyệt vời nhất để giải thoát khỏi các chương trình tiêu cực này. Do đó, nó là công cụ tốt nhất để tạo điều kiện thuận lợi cho hiểu biết tâm linh.

 

Hỏi: Quá trình này có ảnh hưởng đến đức tin của tôi theo bất kỳ cách nào hay không?

Trả lời: Ngược lại: Những trở ngại đối với đức tin là gì? Bạn sẽ nhận thấy rằng tất cả chúng đều là những hình thức tiêu cực. Do đó, buông bỏ tiêu cực sẽ loại bỏ những trở ngại đối với đức tin.

 

Hỏi: Tôi là người không tin tôn giáo, nhưng tôi có hứng thú tìm hiểu về các vấn đề tâm linh. Phương pháp này có ích gì đối với tôi hay không?

Trả lời: Cơ chế buông bỏ chỉ là công cụ. Bạn có thể sử dụng nó để loại bỏ những trở ngại trong việc kiếm được một triệu đôla; hoặc bạn có thể sử dụng nó để loại bỏ những trở ngại trong việc phát triển nhận thức tâm linh. Hầu hết những người liên tục buông bỏ đều cho biết họ khám phá ra điều gì đó bên trong chính mình giống như tình yêu, độc lập với thân thể, cảm xúc, suy nghĩ và các sự kiện của thế gian. Bạn đã bao giờ nghe nói về việc ai đó cảm thấy không hài lòng với khám phá này chưa?

 

Hỏi: Kỹ thuật buông bỏ có mâu thuẫn với bất kỳ giáo lý tâm linh hay tôn giáo nào hay không?

Trả lời: Nghiên cứu về chủ đề này cho thấy không có mâu thuẫn nào giữa việc buông bỏ tiêu cực và bất kỳ giáo lý tâm linh nào.

 

Hỏi: Tôi đã từ bỏ tôn giáo cách đây nhiều năm, vì nó tạo ra quá nhiều mặc cảm tội lỗi mà tôi không thể chịu đựng được. Sử dụng kỹ thuật buông bỏ sẽ có tác dụng như thế nào?

Trả lời: Quan sát lâm sàng suốt nhiều năm phát hiện được rằng, mặc cảm tội lỗi nổi lên như là lý do thường gặp nhất khiến người ta từ bỏ tôn giáo. Đó là vì các mục tiêu dường như không thể nào vươn tới được. Hãy tự hỏi điều gì làm cho những mục tiêu này trở thành không thể vươn tới được. Đó luôn là sự khác biệt giữa những gì người ta được dạy rằng họ nên trở thành, so với những gì họ tri giác về bản thân mình. Thay vì cảm thấy mặc cảm tội lỗi, hãy thử buông bỏ tất cả những cảm thọ tiêu cực nảy sinh và chờ xem sự thay đổi thái độ có thể xảy ra. Một lần nữa, buông bỏ là công cụ. Nó có thể được sử dụng để hỗ trợ các mục tiêu của bạn trong bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc sống. Cách bạn sử dụng nó là phục thuộc vào bạn. Một điểm khởi đầu tốt là buông bỏ tất cả mặc cảm tội lỗi của bạn vì nó tạo ra môi trường cảm xúc cho khổ đau và bệnh tật.

 

Thiền định và các kỹ thuật nội tâm

Hỏi: Buông bỏ và phó thác có liên hệ như thế nào với các kỹ thuật thiền định khác nhau?

Trả lời: Hầu hết các kỹ thuật thiền định đều có mục tiêu là làm cho tâm trí tĩnh lặng. Đây là nền tảng của câu trong Sách Thánh Vịnh, “Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời.” Như hầu hết những người hành thiền đã khám phá được: tâm trí tĩnh lặng là vấn đề chính của hành thiền. Đó là do những cảm thọ bị kìm nén liên tục tạo ra những suy nghĩ, đấy là những yếu tố gây xao nhãng chính trong hành thiền. Do đó, nhận biết và buông bỏ năng lượng đằng sau những cảm thọ bị kìm nén này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu của hành thiền. Khi cảm thọ đằng sau dòng suy nghĩ được xác định và buông bỏ, thì toàn bộ dòng suy nghĩ đó dừng lại ngay lập tức.

Bằng cách liên tục buông bỏ, có thể vươn tới trạng thái tâm trí cực kỳ tĩnh lặng. Có thể buông bỏ trong khi làm những công việc hàng ngày, do đó mở rộng đáng kể khả năng thiền định. Hầu hết các kỹ thuật thiền đều bị giới hạn trong giai đoạn nhất định trong ngày. Có thể vươn tới trạng thái tâm thức cao hơn bằng cách liên tục buông bỏ.

 

Hỏi: Tôi không theo con đường tâm linh nào, nhưng tôi thực hành các câu khẳng định và hình dung. Kỹ thuật buông bỏ có hữu ích với tôi hay không?

Trả lời: Buông bỏ giúp tăng cường sức mạnh của các câu khẳng định. Một câu khẳng định là một tuyên bố tích cực. Sức mạnh của nó bị hạn chế bởi thực tế là, dù có ý thức hay vô thức, chúng ta có nhiều chương trình tiêu cực đang nói điều hoàn toàn trái ngược với câu khẳng định. Bạn có thể tự mình khám phá điều này bằng cách nhận thấy rằng, khi bạn viết các câu khẳng định, tâm trí bạn xuất hiện với những suy nghĩ như “Ừ, nhưng…” Chính những suy nghĩ “Ừ, nhưng…” này hạn chế sức mạnh của câu khẳng định và làm giảm hiệu quả của nó. Nếu bạn buông bỏ những trở ngại đối với câu khẳng định, bạn sẽ nhận thấy  hiệu quả của chúng gia tăng nhanh chóng.

 

Tâm lý trị liệu

Hỏi: Tôi đang tham gia phân tâm học. Kỹ thuật buông bỏ có hữu ích hay không? Liệu nó có mâu thuẫn với liệu trình phân tâm của tôi, vốn đang ngày càng trở nên đắt đỏ hơn?

Trả lời: Các nhà trị liệu đã nghiên cứu kỹ thuật này đều đồng ý với nó. Nhiều bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học và nhà trị liệu đã học kỹ thuật này và sử dụng nó trong thực hành của họ. Cho đến nay, chúng tôi chỉ nhận được những đánh giá tích cực 100% về kết quả, bởi vì khả năng buông bỏ những cảm thọ tiêu cực và những hạn chế của bệnh nhân tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình “vượt qua”, cho phép liệu pháp tiến triển nhanh hơn hẳn. Bản thân các nhà trị liệu cũng nhận thấy rằng, tiến trình buông bỏ giúp việc thấu hiểu bệnh nhân trở nên thông suốt hơn nhiều, đồng thời hóa giải được những nút thắt phản chuyển di (counter-transference[i]) trong nội tâm người thầy thuốc. Nếu các nhà trị liệu biết cách thừa nhận và buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, họ có thể tránh cho bản thân mình khỏi những căn bệnh do căng thẳng gây ra trong suốt quá trình hành nghề. Do đó, kỹ thuật này được coi là hỗ trợ trong liệu pháp tâm lý, làm gia tăng hiệu quả và hài lòng với kết quả điều trị.

 

Hỏi: Tôi đang tham gia liệu pháp tâm lý nhóm. Liệu pháp này sẽ hoạt động như thế nào với cơ chế buông bỏ?

Trả lời: Cũng giống như trong liệu pháp tâm lý cá nhân, khả năng buông bỏ những cảm thọ tiêu cực bên trong sẽ tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho liệu pháp nhóm.

 

Hỏi: Tôi là một nhà phân tích tâm lý theo trường phái Jung. Phương pháp này có phù hợp với công việc của tôi hay không?

Trả lời: Thông qua buông bỏ, chúng ta có thể giải phóng chính mình khỏi sự chi phối của các nguyên mẫu. Rõ ràng là, các nguyên mẫu là một tập hợp các niềm tin và cảm thọ, và do đó, chúng là những chương trình giống như bất kỳ chương trình nào khác. Cá nhân sử dụng cơ chế buông bỏ để giải thoát khỏi những niềm tin và cảm thọ đã được lập trình có quyền lựa chọn các mô thức nguyên mẫu, thay vì bị chúng điều khiển theo lối vô thức.

 

Nghiện rượu và nghiện ma túy

Hỏi: Tôi là thành viên của Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh (AA), và tôi muốn biết kỹ thuật này có mang lại lợi ích cho những người khác trong A.A.?

Trả lời: Kinh nghiệm chung là kỹ thuật buông bỏ giúp ích rất nhiều cho việc thực hiện 12 Bước của Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh, đặc biệt là Bước Ba. Bước Ba nói: “Chúng tôi quyết định phó thác ý chí và cuộc sống của mình cho sự chăm sóc của Chúa như cách chúng tôi hiểu Ngài.” Chính bước này gây khó khăn cho nhiều người trong A.A. vì không có hướng dẫn cụ thể. Làm sao bạn phó thác ý chí và cuộc sống của mình cho sự chăm sóc của Chúa hoặc một Đấng Tối Cao nào đó? Nếu nhìn vào ý chí, chúng ta thấy rằng nó là ham muốn. Ham muốn liên kết với chấp trước. Do đó, cơ chế buông bỏ tạo điều kiện cho giải thoát khỏi chấp trước và gần như tương đương với ý định của Bước Ba. Phó thác cho Chúa có nghĩa là buông bỏ thái độ cố chấp của bản thân. Cố chấp chính là bản ngã.

Ám ảnh về rượu là thôi thúc, cưỡng chế do chấp trước. Có thể làm cho nó suy yếu và giảm bớt bằng quá trình buông bỏ. Uống rượu cũng là một cách trốn tránh những cơn đau của những cảm thọ tiêu cực; do đó, buông bỏ những cảm thọ tiêu cực làm giảm nhu cầu trốn tránh về mặt tâm lý dưới hình thức đó. Điều này cũng áp dụng cho các loại ma túy khác, tất cả đều là những nỗ lực để thay thế cảm thọ thấp hơn bằng cảm thọ cao hơn.

Kỹ thuật buông bỏ không thay thế nhu cầu tham gia các nhóm tự giúp nhau hoặc Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh; tuy nhiên, nó giúp ích rất nhiều cho sự thành công trong các chương trình hồi phục và chắc chắn tương thích với tất cả các nhóm ẩn danh, vốn đều dựa trên chương trình 12 Bước.

 

Quan hệ

Hỏi: Tôi đã theo đuổi con đường tâm linh trong suốt nhiều năm, nhưng không hiểu vì sao tôi vẫn có những cảm thọ tiêu cực.

Trả lời: Có vọng tưởng phổ biến rằng những người đã tiến hóa về mặt tâm linh, những người yêu thương không bao giờ có bất kỳ tiêu cực nào, như thể họ đã là thiên thần. Họ cảm thấy khó chịu vì vẫn còn những cảm thọ tiêu cực, sau đó, nó càng trầm trọng hơn bởi mặc cảm tội lỗi và thất vọng với chính mình. Họ phải nhận ra rằng cảm thọ là phù du, trong khi ý định tiến hóa của họ vẫn không thay đổi. Hãy buông bỏ mặc cảm tội lỗi vì bạn vẫn chỉ là một con người bình thường, bất chấp những tham vọng thiên thần của bạn! Có tâm từ bi đối với bản chất con người bẩm sinh của bạn, hệ thần kinh và chức năng não bộ đi kèm tạo điều kiện cho bạn bình tĩnh hơn. Tham vọng thiên đường không nhất thiết biến chúng ta thành thiên thần!

 

Hỏi: Tôi có một đồng nghiệp ở nơi làm việc không hoàn thành công việc của mình. Mỗi lần nhìn thấy anh ta, tôi đều cảm thấy bực bội. Sau đó, tôi lại có mặc cảm tội lỗi vì đã bực bội với anh ta. Tôi có thể bắt đầu kỹ thuật buông bỏ trong tình huống đó như thế nào?

Trả lời: Chúng ta nhận biết và chấp nhận cảm thọ của mình về một tình huống, sau đó ưu tiên giải quyết chúng thay vì để cảm thọ chi phối. Tại nơi làm việc, nhiều người nghĩ rằng họ nên kìm nén cảm thọ oán hận; tuy nhiên, cách tiếp cận này không giải quyết được vấn đề và căng thẳng sẽ ngày càng trầm trọng thêm. Với kỹ thuật buông bỏ, hãy hướng vào bên trong bản thân mình và nhận ra những cảm thọ tiêu cực khi chúng vừa sinh khởi. Hãy để chúng sinh khởi mà không kìm nén và không trút giận. Sau đó, chuyển sự chú ý của bạn từ cảm thọ này sang cái gì đó khác. Hãy để cảm thọ ở đó và buông bỏ chúng.

 

Hỏi: Ông khuyên chúng ta nên chuyển sự chú ý khỏi cảm thọ tiêu cực. Nó khác với việc kìm nén cảm thọ như thế nào?

Trả lời: Kìm nén là một quá trình vô thức, những cảm thọ không được chấp nhận bị đẩy ra khỏi nhận thức và không được giải quyết. Trong quá trình dịch chuyển chú ý, bạn lựa chọn không đắm chìm vào cảm thọ tiêu cực. Bạn đã thừa nhận và chấp nhận cảm thọ bên trong chính mình như một phần của bản chất con người, nhưng bạn đang chọn cách buông bỏ nó, vì bạn muốn điều gì đó cao cả hơn, ví dụ như an bình, hài hòa và hoàn thành công việc. Đôi khi mọi người sẽ chuyển dịch chú ý bằng những hành động như sắp xếp lại đồ đạc, mở và đóng rèm cửa sổ, đi nhanh vào phòng vệ sinh hoặc giải lao uống cà phê. Những hành động này tạo điều kiện có một khoảnh khắc để chuyển dịch từ tiêu cực sang tích cực.

 

Hỏi: Tôi nhận thấy có một số cảm thọ dường như thường xuyên lặp đi lặp lại, mặc dù tôi thường xuyên sử dụng phương pháp này.

Trả lời: Những cảm thọ tiêu cực tái diễn thường xuyên chứng tỏ cần có một khoảng thời gian để chiêm nghiệm về các mô thức lặp đi lặp lại này. Ví dụ, cách xử lý cảm thọ tiêu cực có thể tuân theo mô thức của cha mẹ hoặc gia đình, cũng như các mô thức văn hóa. Các nền văn hóa khác nhau có cách xử lý cảm thọ rất khác nhau. Vì vậy, hãy nhìn vào các mô thức vô thức tiềm ẩn đang diễn ra với phản ứng mang tính cảm xúc của bạn và buông bỏ những mô thức đó.

 

Hỏi: Chuyện gì sẽ xảy ra nếu cảm thọ tiêu cực đối với người nào đó hoặc tình huống nào đó vẫn tồn tại, bất chấp ý định và nỗ lực của tôi trong việc buông bỏ nó?

Trả lời: Đôi khi người ta ít nhiều bị buộc phải chấp nhận một tình huống và cho rằng đó là nghiệp. Bằng nghiên cứu tâm linh, người ta nhận ra rằng quả thực đó là nghiệp. Giả sử bạn đang phải trả giá cho nghiệp trong việc bạn đã đối xử tệ với nhiều người! Giờ đây bạn có cơ hội nhìn thấy cách người khác đối xử tệ với bạn. Đôi khi, điều hợp lý duy nhất là chấp nhận quy luật nghiệp chướng. Bạn không cần phải tin vào nghiệp như một giáo lý tôn giáo để thực hiện bước đi này. Đó chỉ đơn giản là chấp nhận quy luật cơ bản của tương tác giữa người với người: “gieo nhân nào gặt quả ấy”, và hầu hết chúng ta không phải lúc nào cũng là thánh nhân!

 

Hỏi: Tôi là giáo viên và đôi khi có những học sinh làm tôi bực mình. Với tư cách là thày giáo của họ, tôi mong muốn có thể giúp đỡ họ. Xin ông lời khuyên?

Trả lời: Trước tiên, hãy chấp nhận sự thật rằng bạn đang bực mình, và bực mình là bình thường. Đó là cái giá phải trả của tâm thức con người. Hãy để bực mình sinh khởi trọn vẹn mà không cần đặt tên cho nó hay biến nó thành vấn đề cá nhân. Thay vì chống lại nó, bạn hãy đòi hỏi nhiều bực mình hơn nữa. Hãy nhìn nhận rằng đó chỉ đơn giản là năng lượng tiêu cực. Nhận xét đó sẽ giúp bạn không cá nhân hóa nó. Sau đó, hãy tự hỏi, bạn có sẵn sàng buông bỏ năng lượng này hay không? Thường thì năng lượng đó sẽ biến mất.

 

Hỏi: Tôi có một cuộc hôn nhân tốt đẹp nhưng vẫn có những lúc khó chịu, bực bội và bất đồng. Làm sao đối phó với cảm thọ bực bội và khó chịu với người bạn đời của mình?

Trả lời: Chúng ta đã nói rằng khó chịu là bình thường. Đó là một phần của thân phận con người. Việc bạn cần làm là làm quen với những gì người kia đang suy nghĩ và cách thể hiện của họ. Thường thì sẽ có những thái độ và sở thích khác nhau. Những khác nhau phổ biến là sở thích về nhiệt độ phòng, âm lượng và cách chi tiêu tiền bạc. Điều quan trọng là hãy thôi phán xét sở thích của người khác hoặc tự hào rằng sở thích của mình là “đúng”. Mỗi người chấp nhận tính người của người kia và tất nhiên, đôi khi sẽ có những thái độ khác nhau.

 

Hỏi: Những khác biệt tưởng chừng nhỏ nhặt như vậy thường dẫn đến đổ vỡ quan hệ, vì người này đổ lỗi cho người kia hoặc muốn thay đổi hành vi của họ. Làm sao có thể sống hòa thuận thay vì đổ lỗi?

Trả lời: Chỉ cần chấp nhận rằng mọi quan hệ đều có thăng trầm. Bạn phải có khiếu hài hước về thân phận con người và những mâu thuẫn, nghịch lý dường như hiển nhiên của nó. Bạn muốn người kia hạnh phúc và thoải mái, và bạn biết rằng bạn cũng hạnh phúc và thoải mái khi họ hạnh phúc và thoải mái. Có sự điều chỉnh hỗ tương về lối sống an bình. Buông bỏ phán xét, đổ lỗi và kiểm soát người khác. Buông bỏ việc mong đợi họ khác với con người mà họ đang là. Tất cả chúng ta đều có những khiếm khuyết riêng. Lập danh sách những khuyết điểm của chính mình cũng có thể là việc làm khá thú vị. Có thể quyết định là không tập trung vào những thứ tiêu cực trong môi trường hoặc quan hệ của mình. Người ta có thể chịu đựng những căng thẳng và khác biệt trong những khoảng thời gian khác nhau, và ở các độ tuổi khác nhau, bạn có thể chịu đựng nhiều hơn hoặc ít hơn.

 

Hỏi: Còn những cảm thọ tiêu cực nảy sinh trong khi giáo dục với con cái thì sao?

Trả lời: Khoan dung hành vi của trẻ em phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa, giới tính, tuổi tác, quan điểm đạo đức và những yếu tố khác. Bạn có thể khoan dung một số hành vi khi trẻ ở tuổi mẫu giáo, nhưng lại không thể khoan dung khi trẻ đã học lớp ba. Thường thì cha mẹ phải buông bỏ những kỳ vọng đối với con cái. Nhạc sĩ chuyên nghiệp sẽ cảm thấy thế nào khi có con không có kỹ năng hay năng khiếu âm nhạc? Kỳ vọng là những áp lực tinh tế đối với người khác, và người đó sẽ chống lại một cách vô thức. Trong quá trình nuôi dạy con cái, bạn cần từ bỏ kỳ vọng và thiên vị mang tính cá nhân.Nếu bạn là một chuyên gia trong môn bi-a, liệu bạn có thể buông bỏ thất vọng khi con mình chơi kém hay không?

Một vấn đề phổ biến khác là cha mẹ bảo bọc quá mức. Đôi khi, cha mẹ nhầm lẫn giữa việc yêu thương con cái đã trưởng thành với việc giải cứu chúng khỏi mọi khó khăn. Ở một độ tuổi nhất định, đôi khi tình yêu có nghĩa là “yêu thương, nhưng nghiêm khắc”, tức là để con tự tìm cách thoát khỏi mớ hỗn độn mà chúng đã gây ra, để chúng có cơ hội khám phá những nguồn lực bên trong của chính mình.

 

Hỏi: Nếu buông bỏ quá nhiều mặc cảm tội lỗi, liệu kỹ thuật này có dẫn đến phóng túng không?

Trả lời: Ngược lại, phóng túng là do tự trọng thấp, lợi dụng và thiếu yêu thương. Khi buông bỏ ích kỷ và tiêu cực, lòng trắc ẩn và an vui khi ở bên người khác sẽ tự hiển lộ; và lòng tự trọng cao hơn sẽ chuyển hóa hoàn toàn nhãn quan của ta về tất cả các mối quan hệ. Khả năng yêu thương sẽ gia tăng nhanh chóng. Phần lớn phóng túng trong lĩnh vực tình dục là nỗ lực để vượt qua những sợ hãi vô thức và tìm kiếm biện pháp trấn an. Tất cả đều có thể được buông bỏ, để những quan hệ trưởng thành hơn có thể thay thế cho chúng.

 

Hỏi: Tôi đã tham gia trị liệu bằng tình dục, dựa trên phương pháp huấn luyện lại hành vi. Phương pháp này có tương thích hay không?

Trả lời: Không có bất tương thích nào hết. Huấn luyện lại hành vi là nỗ lực nhằm thay thế những chương trình tiêu cực bằng những chương trình tích cực. Về cơ bản, đó là việc thay thế “Tôi không thể” bằng “Tôi có thể”. Đó chính là ý nghĩa của kỹ thuật buông bỏ.

 

Hỏi: Kỹ thuật buông bỏ có chữa được chứng bất lực hay lãnh cảm?

Trả lời: Đây không phải là phương pháp chữa trị bất cứ thứ gì; nó là kỹ thuật tự khám phá, giúp nhanh chóng mở ra nhận thức về cảm thọ, suy nghĩ và niềm tin ở bên trong. Cả lãnh cảm và bất lực đều là những biểu hiện ở cấp độ hành vi: “Tôi không thể”, mà trong tiềm thức có nghĩa là: “Tôi sẽ không”. Cả hai đều chống lại niềm vui, tình yêu, sự thể hiện và sức sống. Nguyên nhân phổ biến nhất là mặc cảm tội lỗi, sợ hãi và giận dữ bị kìm nén, đây là những cảm thọ được thể hiện qua hệ thần kinh thực vật. Bất lực và lãnh cảm là biểu hiện của xung đột. Hầu hết những người sử dụng kỹ thuật buông bỏ đều báo cáo những cải thiện tổng thể trong đời sống tình dục của họ theo những cách khác nhau, và nhiều người báo cáo rằng họ đã hồi phục khỏi những ức chế tình dục. Tương tự, nhiều người cũng báo cáo là được giải thoát khỏi hoạt động tình dục thái quá và ám ảnh quá mức về chủ đề này.

 

Hỏi: Cơ chế buông bỏ liên quan như thế nào với quá trình lão hóa?

Trả lời: Nó tạo điều kiện cho quá trình lão hóa diễn ra một cách duyên dáng. Tuổi già tạo ra những thay đổi lớn trong lối sống của bạn. Thường thì thị lực, thính lực và khả năng vận động suy giảm, có nghĩa là bạn ngày càng cần người khác làm giúp những việc mà trước đây bạn làm được một cách dễ dàng. Tuổi già có thể làm cho ta khó chịu. Đột nhiên, bạn trở thành người kém cỏi trong những lĩnh vực mà trước đây bạn từng rất giỏi. Tuy nhiên, khi buông bỏ cảm thọ khó chịu, bạn sẽ thấy rằng hiện tượng suy yếu của tuổi già có mục đích riêng. Chúng giúp bạn chuẩn bị rời khỏi thế giới này. Nếu bạn vẫn còn là một “ngôi sao” trong một lĩnh vực nào đó của cuộc đời, bạn sẽ cảm thấy tiếc khi phải rời bỏ thế giới này. Bạn sẽ không thể đón nhận nó một cách thanh thản. Khi bạn yếu đi, thì đấy chính là thời gian để thích nghi, làm quen với thực tế là bạn sẽ ra đi, và thực hiện bất kỳ công việc tâm linh nào mà bạn muốn hoàn thành trước khi rời khỏi thế giới này.

Khi bạn chấp nhận quá trình lão hóa như một phần tất yếu của thân phận con người, bạn sẽ tìm thấy an bình. Bạn trở thành người yêu thương hơn và trân trọng hơn tình thương và sự quan tâm mà người khác dành cho mình. Càng yêu thương nhiều hơn, bạn càng nhận ra rằng mọi người đều đang cố gắng giúp đỡ bạn. Và để cho người khác giúp đỡ chính là biểu hiện của tình yêu. Mọi người thường nghĩ: “Ôi, mình thật ích kỷ nếu để người nào đó giúp đỡ mình.” Thực ra, đó là chính là hào phóng. Hào phóng là sẵn sàng chia sẻ cuộc sống của mình với người khác. Để người khác yêu thương bạn là món quà mà bạn tặng cho họ.

 

Cơ chế

Hỏi: Làm sao để buông bỏ trở thành hiện tượng thường xuyên hơn?

Trả lời: Bí quyết để sử dụng cơ chế này thường xuyên hơn và nhất quán hơn, trước hết, là mong muốn làm như thế. Đó là Bước 1. Bạn phải muốn thoát khỏi cảm thọ đó hơn là muốn giữ nó. Đôi khi chỉ cần nhớ lại, và bạn có thể sử dụng một loại thẻ nhắc nhở nào đó để nhắc nhở mình.

Một cách khác là tạo ra thói quen. Sẽ rất tốt khi bắt đầu ngày mới bằng cách buông bỏ những suy nghĩ và cảm thọ của bạn về những kỳ vọng, hình dung cách bạn muốn mọi việc diễn ra và buông bỏ tất cả những suy nghĩ tiêu cực có thể cản trở ngày hôm đó diễn ra theo hướng đó. Sau đó, buổi tối, ngồi xuống và buông bỏ bất cứ cái gì xuất hiện trong ngày hôm đó mà bạn đã bỏ qua hoặc không có thời gian chú ý tới. Cách làm này được gọi là “dọn dẹp”, và hầu hết mọi người thấy rằng họ ngủ ngon hơn.

Một cách khác là có cuốn sổ tay để ghi lại những thành công của bạn. Bạn có thể đặt ra mục tiêu liên tục buông bỏ và theo dõi kết quả mà mình đã đạt được.

Một cách khác nữa là buông bỏ kháng cự đối với việc buông bỏ và, khi bắt đầu ngày mới, hãy khẳng định lại ý định buông bỏ mọi tiêu cực trong ngày hôm đó. Bạn cũng khẳng định lại rằng mình được tự do không buông bỏ. Xét cho cùng, đó hoàn toàn là vấn đề lựa chọn. Buông bỏ bất kỳ cảm thọ bắt buộc nào về điều đó. Không có gì là “nên làm” hết.

 

Hỏi: Xin hỏi nguyên nhân thường gặp nhất khiến chúng ta kháng cự lại buông bỏ là gì?

Trả lời: Chúng ta nghĩ rằng bằng cách nào đó, nếu chúng ta giữ lại cảm thọ đó, thì nó sẽ giúp chúng ta đạt được điều mình muốn. Nếu chúng ta bị mắc kẹt trong một cảm thọ nào đó, thì cần xem lại câu hỏi về những thứ chúng ta nghĩ mình đã đạt được bằng cách lưu giữ nó. Hầu như lúc nào cũng thấy rằng chúng ta có ảo tưởng rằng nó sẽ tạo được ảnh hưởng nào đó lên người khác và thay đổi hành vi hoặc thái độ của họ đối với chúng ta. Nếu buông bỏ cách nghĩ như thế, chúng ta sẽ sẵn sàng buông bỏ cảm thọ đó.

 

Hỏi: Nếu luôn luôn buông bỏ, tôi có trở thành người thụ động hay không?

Trả lời: Ngược lại, buông bỏ dọn đường cho hành động hiệu quả. Thụ động thường là do kìm hãm và không nhìn thấy những biện pháp khác để xử lý tình huống. Ví dụ, một người nói: “Trong cuộc họp, anh ta làm tôi tức giận đến mức tôi chỉ ngồi đó và không nói gì.” Giờ thì vấn đề khá rõ ràng. Không nói gì là do tức giận và người đó tưởng tượng rằng phản ứng mang tính cảm xúc duy nhất mà anh ta có thể có là tức giận. Vì phản ứng như thế không phù hợp trong kinh doanh, cho nên anh ta đã không nói gì. Nếu buông bỏ tức giận, người đó có thể trở thành tự tin và bày tỏ ý kiến của mình thay vì im lặng.

 

Hỏi: Trong trị liệu, tôi đã học cách thể hiện tức giận, và tôi nghĩ đó là một điều rất hữu ích. Tôi có phải từ bỏ nó không?

Trả lời: Nếu nhìn vào tức giận, bạn sẽ thấy rằng cơ sở của nó hầu như lúc nào cũng là sợ hãi. Chúng ta tức giận vì chúng ta bị đe dọa. Đe dọa gây ra sợ hãi. Sợ hãi làm cho chúng ta cảm thấy mình không đủ sức đối phó với tình huống. Về mặt sinh học, tức giận tương tự như phồng lên để đe dọa đối thủ. Tức giận xuất phát từ yếu đuối chứ không phải sức mạnh. Do đó, người đã buông bỏ là dựa vào sức mạnh chứ không phải yếu đuối. Người đã buông bỏ không cần dựa vào tức giận để xử lý tình huống. Hơn nữa, không thể trông cậy vào tức giận. Ngoài ra, nó tạo ra nhiều tác động mang tính phá hoại; ví dụ, nó điều khiển bạn thay vì bạn điều khiển nó. Một người buông bỏ hoàn toàn có thể tự do lựa chọn thể hiện tức giận, nếu muốn; nhưng đó là lựa chọn, chứ không phải là thúc bách mang tính áp đặt. Tức giận, đặc biệt là tức giận thường xuyên, tạo ra ảnh hưởng xấu tới các cơ quan trong cơ thể, và nghiên cứu trong tâm thần học chỉ ra rằng tức giận bị kìm nén có liên quan đến tăng huyết áp, viêm khớp và nhiều loại bệnh khác.

 

Hỏi: Ông nói rằng buông bỏ là cơ chế tâm lý tự nhiên của tâm trí. Nếu thế, vì sao chúng ta phải học cách buông bỏ?

Trả lời: Mặc dù đúng là buông bỏ là cơ chế tự nhiên của tâm trí, nhưng cần nhớ rằng tâm trí có nhiều động cơ mâu thuẫn nhau. Trong khi một phần tâm trí muốn thoát khỏi căng thẳng do cảm thọ gây ra, thì một phần khác lại được lập trình để tin rằng nếu bám vào cảm thọ đó thì sẽ thu được kết quả đáng mong muốn chẳng khác gì ảo thuật. Trừ khi bạn ý thức được và nắm vững kỹ thuật này, nếu không, những mâu thuẫn trong tâm trí sẽ lấn át và chi phối. Về cơ bản, kỹ thuật buông bỏ cho bạn quyền lựa chọn trước những khuynh hướng của tâm trí. Thay vì bị nó tác động, tâm trí lúc này nằm dưới quyền kiểm soát của bạn. Nó đưa bạn tới tự do và khả năng lựa chọn tự do.

 

Hỏi: Tôi gặp khó khăn trong việc chấp nhận. Xin lời khuyên của ông?

Trả lời: Hãy chuyển sự chú ý của bạn sang những thứ thực sự thiết yếu, bằng trải nghiệm. Có những ngày mưa; có những ngày nắng; có những ngày trời đầy mây. Bạn không thể thay đổi cơn mưa, nhưng bạn có thể mặc áo mưa. Bạn có thể là người thực tế và thực hiện các bước cần thiết để giữ cho mình khô ráo. Bạn không thể thay đổi nhiều khía cạnh của cuộc đời, nhưng bạn có thể buông bỏ kỳ vọng hoặc đòi hỏi rằng chúng phải khác với cái mà chúng đang là. Ví dụ, bằng cách quan sát, bạn sẽ nhận thấy rằng chiến tranh luôn luôn diễn ra ở đâu đó trên thế giới này. Vì vậy, muốn sống hòa bình, cần phải chấp nhận rằng gây chiến là một phần của bản chất con người và nó đã tồn tại trong suốt lịch sử thành văn. Loài người đã đánh nhau trong 97%[ii] thời gian tồn tại của mình.

 

Hỏi: Tôi nhận ra rằng sợ hãi và bất an là động lực thúc đẩy tôi trong suốt cuộc đời này, nhưng dường như những động lực đó lại là nguyên nhân dẫn tới thành công về tài chính của tôi. Nếu tôi học cách buông bỏ, nó có ảnh hưởng xấu đến thu nhập của tôi hay không?

Trả lời: Khi một động lực thấp hơn được buông bỏ, tâm trí sẽ tự động thay thế nó bằng cảm thọ cao hơn và động lực cao hơn. Có gì sai khi tận hưởng việc kiếm sống thay vì bị sợ hãi thúc đẩy? Hoạt động tương tự sẽ vẫn tiếp tục, nhưng giờ đây là từ một không gian dễ chịu, và nó sẽ bắt đầu mang lại nhiều phần thưởng khác chứ không chỉ phần thưởng về tài chính.

 

Hỏi: Nếu không có mặc cảm tội lỗi, liệu người ta có cư xử không đúng mực hay không?

Trả lời: Tương tự như câu trả lời trước, sự quan tâm đầy yêu thương dành cho tha nhân thay thế cho kìm hãm bởi mặc cảm tội lỗi. Càng yêu thương nhiều hơn, chúng ta càng trở nên vô hại hơn đối với tha nhân và xã hội nói chung. Khi bạn quan tâm bằng yêu thương đến hạnh phúc của tha nhân, hạnh phúc của chính bạn cũng sẽ được chăm sóc và đảm bảo.

 

Hỏi: Trí nhớ của tôi rất kém. Ông nghĩ tôi có thể học được kỹ thuật này hay không?

Trả lời: Không cần phải ghi nhớ khi học kỹ thuật này. Chỉ đơn giản là biện pháp buông bỏ. Cho đến nay, chúng tôi chưa nghe nói về bất kỳ người nào không thể học được.

 

Hỏi: Đôi khi tôi nghĩ mình đang buông bỏ, còn đôi khi lại không chắc chắn. Tôi bị bối rối. Vấn đề là gì?

Trả lời: Hãy nhìn vào những trở ngại đối với quá trình buông bỏ. Bạn có bất kỳ suy nghĩ, nghi ngờ hoặc cảm thọ tiêu cực nào về khả năng thực hiện kỹ thuật này hay không? Hãy để tất cả những kháng cự này xuất hiện, chấp nhận chúng và buông bỏ chúng. Hãy làm rõ ý định của bạn trong việc trở thành người hạnh phúc hơn, yêu thương hơn và bình an hơn.

 

Phó thác cho thực tại tối thượng

Hỏi: Ông đã nói tới đến “phó thác ở tầng sâu nhất” như một phương pháp để chúng ta trải nghiệm Thực tại Tối thượng. Ông có thể mô tả điều sẽ xảy ra?

Trả lời: Chúng ta có thể gọi đó là “cuộc đua cuối cùng”. Khi bạn áp dụng kỹ thuật buông bỏ vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, không có ngoại lệ, năng lượng của công việc tâm linh sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn. Tập trung cao độ, kiên trì bền bỉ với phương pháp, dù chuyện gì xảy ra thì cũng thế.

Một số người nói: “Tôi đã làm công việc tâm linh, tuy không thường xuyên, trong 30 năm, và tôi vẫn ở nguyên chỗ cũ.” Họ đã thiền một chút ở đó, cầu nguyện một chút ở đây, tham dự một hội thảo, nghe một diễn giả, đọc một cuốn sách, và tất cả đều diễn ra không thường xuyên. Không sao hết. Bạn đang bận rộn trong thế giới này và tích lũy dữ liệu mà bạn biết mình sẽ sử dụng trong những giai đoạn sau.

Thế rồi đến một lúc, việc thực hành — dù bất cứ phương pháp nào — cần được thực hiện mà không có ngoại lệ, mọi lúc mọi nơi. Sùng kính Sự thật trở nên mạnh mẽ đến mức không thể cưỡng lại được. Lúc này, không phải bạn đang thúc đẩy nó nữa. Số phận của chính bạn đang kéo bạn đi; chính do cam kết mang tính nghiệp báo của bạn mà bạn đã chọn số phận cao nhất. Tại thời điểm đó, giả sử bạn sử dụng kỹ thuật buông bỏ. Có nghĩa là buông bỏ và từ bỏ mọi thứ ngay khi chúng vừa sinh khởi. Nó xảy ra trong 1/10.000 giây—nó đến, đạt đỉnh điểm, rồi sau đó biến mất. Vì vậy, mọi cảm thọ, mọi suy nghĩ, mọi ham muốn, bạn đều buông bỏ ngay khi chúng đạt đỉnh điểm. Liên tục, không ngừng nghỉ.

Như đã nói bên trên, tôi nhớ mình đã buông bỏ một chấp trước nghiêm trọng trong 11 ngày, ngồi và không làm gì khác ngoài việc buông bỏ chấp trước này. Mọi suy nghĩ, mọi cảm thọ, mọi ký ức, mọi thứ về nó—ngay khi nó xuất hiện, đều được buông bỏ. Đau đớn mà chúng ta cảm thấy khi mất đi một thành viên trong gia đình không chỉ đơn thuần là mất đi người đó trong hiện tại. Đó là sự tích tụ năng lượng của tất cả những cái chết từ tất cả các kiếp sống. Quá trình buông bỏ đặc biệt này diễn ra không ngừng nghỉ trong 11 ngày, cả sáng lẫn tối. Cuối cùng nó cũng dừng lại. Ra đi mãi mãi. Không bao giờ phải chịu đựng điều đó nữa.

Vì vậy, công việc tâm linh nghiêm túc là lúc  nào cũng sẵn sàng buông bỏ mọi thứ khi chúng vừa sinh khởi. Đó là sẵn sàng từ bỏ mong muốn kiểm soát mọi thứ khi chúng xuất hiện, sẵn sàng từ bỏ mong muốn thay đổi nó, và muốn mọi thứ diễn ra theo ý mình. Thường xuyên xuất hiện vọng tưởng về bản chất của Thực tại, cũng cần buông bỏ. Có cái tốt và cái xấu, cái đáng mong muốn và cái không đáng mong muốn; tất cả chỉ diễn ra trong tâm trí. Trong Thực tại, mặt trời chiếu sáng rồi mây kéo tới; mưa rơi và cỏ mọc lên rồi lụi tàn; thị trường chứng khoán lên xuống; thời đại đến rồi đi; con người sinh ra rồi chết. Và, vì vậy, có lên có xuống. Nếu bạn đang ở một điểm nào đó trong chu kỳ này, thì khóc lóc cũng vô ích vì chu kỳ sẽ tự kết thúc. Bằng cách phó thác cho bất cứ chuyện gì đang diễn ra, cuối cùng nó sẽ biến mất. Bạn làm cho nó biến mất bằng cách chọn hòa làm một với nó và từ chối mong muốn thay đổi nó khi nó xuất hiện. Làm như thế liên tục, không ngừng nghỉ, dù chuyện gì xảy ra thì cũng thế.

Có nghĩa là bạn không thể tạo ra ngoại lệ ở đây, hay ở đó. Có nghĩa là liên tục, với mọi người và mọi thứ. Một hoặc hai thứ bạn đang che giấu đằng sau có lẽ đại diện cho cả một chồng năng lượng tiêu cực. Đó là lý do vì sao bạn cứ bám vào chúng. Không chỉ là người khó chịu mà bạn ghét; đối với bạn, họ đại diện cho cả một chồng năng lượng tiêu cực. Bạn không thể bỏ qua mẹ chồng mình!

Cuối cùng, mọi thứ cản trở Hiện diện đều được buông bỏ. Hiện diện quá rõ ràng, quá kinh ngạc, quá áp đảo, đến nỗi không còn nghi ngờ gì nữa. Nó sâu sắc, toàn diện, bao trùm, hoàn toàn áp đảo, hoàn toàn chuyển hoá và hoàn toàn không thể nhầm lẫn. Khi mọi thứ cản trở được buông bỏ, Nó sẽ có đó, tỏa sáng rực rỡ.

Thay vì xem đây là chuyện gì đó sẽ xảy ra trong tương lai, hãy đón nhận nó ngay lúc này. Chứng ngộ không phải là điều gì đó xảy ra trong tương lai, sau 50 năm ngồi khoanh chân và niệm “OM”. Nó ở ngay đây, trong khoảnh khắc này. Lý do bạn không trải nghiệm được trạng thái bình an tuyệt đối và vô tận này là vì bạn đang chống lại nó. Bạn đang chống lại nó vì bạn đang tìm cách kiểm soát khoảnh khắc hiện tại. Nếu bạn buông bỏ việc tìm cách kiểm soát trải nghiệm của mình trong khoảnh khắc này, và nếu bạn liên tục buông bỏ nó như một nốt nhạc, thì bạn đang sống trên đỉnh cao của sự vĩnh hằng. Trải nghiệm xuất hiện như một nốt nhạc. Ngay khi bạn nghe thấy một nốt nhạc, nó đã biến mất. Ngay khi bạn nghe thấy nó, nó đã tan biến. Vì vậy, mỗi khoảnh khắc đều tan biến khi nó xuất hiện. Buông bỏ việc dự đoán khoảnh khắc tiếp theo, tìm cách kiểm soát nó, cố gắng níu giữ khoảnh khắc vừa trôi qua. Buông bỏ việc bám víu vào những gì vừa xảy ra. Buông bỏ việc tìm cách kiểm soát những gì bạn nghĩ sắp xảy ra. Rồi bạn sống trong một không gian vô tận không có thời gian và không có sự kiện. Có một sự an bình vô tận không thể diễn tả. Và bạn đang ở nhà.



[i] Counter-transference - Phản chuyển di - Một hiện tượng trong tâm lý trị liệu, xảy ra khi nhà trị liệu vô thức phản ứng lại với bệnh nhân dựa trên những cảm xúc, ký ức hoặc xung đột nội tâm chưa được giải quyết của chính mình. Trong lăng kính Tâm thức, đây có thể hiểu là những phản ứng không tự nguyện (involuntary reactivity) từ Tiềm thức (Subconscious Mind) của người thầy thuốc. Khi nhà trị liệu thực hành buông bỏ (letting go), họ không còn bị cuốn vào dòng năng lượng này, giúp quá trình trị liệu trở nên khách quan và mang sức mạnh chữa lành đích thực.

[ii] Tác giả sử dụng con số 97% như một nhận định về lịch sử chiến tranh của nhân loại. Đây không phải là con số được giới sử học thống nhất; trong các tài liệu khác và cả trong một số phát biểu khác, các tỷ lệ khác nhau cũng được nêu. Vì vậy, nên hiểu đây là một cách nhấn mạnh rằng chiến tranh đã hiện diện trong phần lớn lịch sử được ghi chép, hơn là một thống kê chính xác tuyệt đối.

July 16, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (21)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỜI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 20

 

CÁC BÁC SỸ, XIN HÃY TỰ CHỮA LÀNH CHÍNH MÌNH

    Theo yêu cầu của nhiều người, kinh nghiệm cá nhân về tự chữa lành đã được chia sẻ nhiều lần trong các bài giảng, các buổi nói chuyện và hội thảo. Dường như ai cũng muốn nghe đi nghe lại câu chuyện về việc một bác sĩ đã được chữa khỏi nhiều loại bệnh như thế nào. Vì vậy, chương này sẽ trình bày những điểm nổi bật của quá trình hồi phục và chữa lành, vì chúng minh họa chi tiết cách thức các nguyên tắc và kỹ thuật mà chúng ta đã thảo luận thực sự hoạt động ở tầng thực tiễn.

Trải nghiệm sống và quan sát lâm sàng xác nhận rằng phần lớn các rối loạn của con người đều có thể được chữa khỏi bằng cách tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Nhiều loại bệnh có thể được chữa lành, trừ khi có nghiệp lực quá lớn.

Trớ trêu là, những ca nặng nhất, không còn chút hy vọng nào, lại thường có phản hồi rất nhanh và đạt được kết quả mỹ mãn. Có lẽ đấy là do, cuối cùng, người đó đã buông bỏ và giờ đây đã trở thành “lý trí hơn”. Họ đã sẵn sàng cho điều mà Thomas Kuhn gọi là “chuyển đổi hệ hình”, tức là sẵn sàng nhìn nhận mọi thứ khác đi từ quan điểm mở rộng và cởi mở hơn. Đôi khi, phải bị những căn bệnh mãn tính, đau khổ, đau đớn và đứng trước sợ chết, thì người ta mới sẵn sàng buông bỏ những niềm tin đã ấp ủ và mở lòng đón nhận sự thật của thực tế lâm sàng.

 

Các nguyên tắc cơ bản

Chương này trình bày chi tiết về quá trình chữa lành và hồi phục từ vô số căn bệnh về thể chất trong cuộc đời của một bác sĩ. Chúng ta sẽ phác thảo các nguyên tắc cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự chữa lành. Trong quá trình này, chúng ta sẽ xem xét lại một số nội dung đã đề cập, tổng hợp lại thành trải nghiệm tổng thể đã được tích hợp. Chúng ta sẽ bắt đầu với các khái niệm cơ bản:

• Suy nghĩ là một “vật”. Nó có năng lượng và hình tướng.

• Tâm trí với những suy nghĩ và cảm thọ của nó điều khiển cơ thể; do đó, để chữa lành cơ thể, cần phải thay đổi suy nghĩ và cảm thọ.

• Những thứ được lưu giữ trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra bên ngoài thông qua cơ thể.

• Cơ thể không phải là bản ngã thực sự; nó giống như một con rối do tâm trí điều khiển.

• Những niềm tin vô thức có thể biểu hiện thành bệnh tật, ngay cả khi không còn ký ức về những niềm tin tiềm ẩn đó.

• Bệnh tật thường bắt nguồn từ những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén và đè nén, cộng thêm suy nghĩ tạo nên hình tướng cụ thể cho nó (ví dụ, một cách có ý thức hoặc vô thức, người ta chọn một căn bệnh cụ thể này thay vì một căn bệnh khác).

• Suy nghĩ xuất phát từ những cảm thọ bị kìm nén và đè nén. Khi buông bỏ một cảm thọ, thì hàng ngàn hoặc thậm chí hàng triệu suy nghĩ được kích hoạt bởi cảm thọ đó cũng biến mất.

• Mặc dù một niềm tin cụ thể có thể bị hủy bỏ và năng lượng dành cho nó có thể bị từ chối, nhưng nhìn chung, việc cố gắng thay đổi chính suy nghĩ là lãng phí thời gian.

• Chúng ta buông bỏ một cảm thọ bằng cách cho phép nó tồn tại mà không lên án, phán xét hay chống lại. Chúng ta chỉ đơn giản là nhìn vào nó, quan sát nó và cho phép nó được cảm nhận mà không tìm cách thay đổi nó. Với thái độ sẵn sàng buông bỏ một cảm thọ, sau một thời gian nó sẽ tự biến mất.

• Một cảm thọ mạnh mẽ có thể tái diễn, điều đó có nghĩa là cần phải nhận biết rõ hơn và buông bỏ nó.

• Để buông bỏ một cảm thọ, đôi khi cần phải bắt đầu bằng cách từ bỏ cảm thọ hiện có về cảm xúc cụ thể (ví dụ, mặc cảm tội lỗi, cho rằng “Tôi không nên có cảm thọ này”).

• Để buông bỏ một cảm thọ, đôi khi cần phải thừa nhận và buông bỏ phần thưởng tiềm ẩn của nó (ví dụ, “cảm giác hưng phấn” của tức giận và “dưỡng chất” có được từ thái độ thương hại xuất phát từ việc đóng vai nạn nhân bất lực).

• Cảm thọ không phải là tự ngã thực sự. Trong khi cảm thọ là những chương trình đến rồi đi, thì Đại Ngã bên trong thực sự mãi mãi không thay đổi; do đó, cần phải ngừng đồng nhất những cảm thọ nhất thời với chính mình.

• Hãy bỏ qua những suy nghĩ. Chúng chỉ đơn thuần là những hợp lý hóa bất tận của những cảm thọ ở bên trong.

• Cho dù trong cuộc sống có xảy ra bất cứ chuyện gì, hãy giữ vững ý định buông bỏ những cảm thọ tiêu cực khi chúng vừa sinh khởi.

• Quyết định rằng tự do đáng mong muốn hơn là cảm thọ tiêu cực.

• Buông bỏ cảm thọ tiêu cực thay vì thể hiện chúng.

• Buông bỏ kháng cự và hoài nghi về những cảm thọ tích cực.

• Từ bỏ cảm thọ tiêu cực nhưng chia sẻ cảm thọ tích cực.

• Nhận thấy rằng buông bỏ song hành với cảm thọ nhẹ nhàng, tinh tế hơn bên trong chính bạn.

• Từ bỏ một mong muốn không có nghĩa là bạn sẽ không nhận được cái mình muốn. Nó chỉ đơn giản là dọn đường cho việc đó xảy ra.

• Hãy tiếp nhận nó bằng “thẩm thấu”. Đặt mình vào hào quang của những người có cái mà bạn muốn.

• “Đồng thanh thương ứng, đồng khí tương cầu”. Kết giao với những người có cùng hoặc có động lực tương tự và có ý định mở rộng tâm thức và chữa lành.

• Tỉnh thức để biết rằng người khác biết và đang truyền đi trạng thái nội tâm của bạn. Những người xung quanh bạn cảm nhận được cảm thọ và suy nghĩ, ngay cả khi bạn không nói ra.

• Kiên trì sẽ được đền đáp. Một số triệu chứng hoặc bệnh tật có thể biến mất ngay lập tức; những triệu chứng khác có thể mất hàng tháng hoặc hàng năm nếu đấy là bệnh mãn tính đã kéo dài.

• Buông bỏ chống đối kỹ thuật này. Bắt đầu ngày mới với nó. Cuối ngày, hãy dành thời gian để giải tỏa bất kỳ cảm thọ tiêu cực nào còn sót lại từ những hoạt động trong ngày.

• Bạn chỉ bị chi phối bởi những gì bạn lưu giữ trong tâm trí. Bạn chỉ bị chi phối bởi một suy nghĩ hoặc niềm tin tiêu cực, nếu bạn nói một cách có ý thức hoặc vô thức rằng nó sẽ xảy ra với bạn.

• Ngừng đặt tên cho rối loạn thể chất; đừng dán nhãn cho nó. Nhãn mác là cả một chương trình hoàn chỉnh. Hãy buông bỏ và để cho những gì thực sự được cảm thọ đi qua, đó chính là các cảm giác trên thân thể. Chúng ta không thể cảm thọ được một căn bệnh. Bệnh là một khái niệm trừu tượng được lưu giữ trong tâm trí. Ví dụ, chúng ta không thể cảm nhận được “hen suyễn”. Tự hỏi “Mình thực sự đang cảm thọ cái gì?” là rất hữu ích. Đơn giản là quan sát các cảm giác trên cơ thể, ví dụ như “tức ngực, thở khò khè, ho.” Ví dụ, không thể trải nghiệm suy nghĩ “Tôi không hít vào đủ không khí.” Đó là một suy nghĩ đầy sợ hãi trong tâm trí. Nó là một khái niệm, một chương trình hoàn chỉnh được gọi là “hen suyễn.” Điều thực sự đang được trải nghiệm là căng thẳng hoặc co thắt ở cổ họng hoặc ngực. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho “loét” hoặc bất kỳ rối loạn nào khác. Chúng ta không thể cảm thọ “loét.” Chúng ta cảm thọ một cảm giác nóng rát hoặc buốt nhói. Từ “loét” là một nhãn hiệu và một chương trình, và ngay khi chúng ta sử dụng từ đó để dán nhãn cho trải nghiệm của mình, chúng ta đồng nhất mình với toàn bộ chương trình “loét”. Ngay cả từ “đau” cũng là một chương trình. Trên thực tế, chúng ta đang cảm thọ một cảm giác cụ thể trong cơ thể. Quá trình tự chữa lành diễn ra nhanh hơn khi chúng ta ngừng dán nhãn hoặc đặt tên cho các cảm thọ khác nhau trên thân thể.

• Điều tương tự cũng đúng với cảm thọ của chúng ta. Thay vì dán nhãn và đặt tên cho cảm tọ, chúng ta chỉ cần cảm nhận cảm thọ và buông bỏ năng lượng ẩn chứa đằng sau chúng. Không cần thiết phải dán nhãn cho một cảm thọ là “sợ hãi” để nhận thức được năng lượng của nó và buông bỏ năng lượng đó.

 

Chữa lành nhiều bệnh cùng một lúc

Trong trường hợp của vị bác sĩ này [tác giả -ND], có quá nhiều bệnh cùng một lúc đến nỗi không thể nhớ hết được. Khi thuyết trình, ông ấy phải liệt kê chúng ra một tấm thẻ. Tất cả những bệnh sau đây đều xảy ra ở tuổi 50:

Đau nửa đầu. Mãn tính và thường xuyên.

Tắc vòi nhĩ. Đau tai dữ dội.

Cận thị và loạn thị. Phải đeo kính ba tròng.

Viêm xoang; chảy dịch mũi sau; dị ứng.

Viêm da, nhiều loại.

Bệnh gút. Phải mang gậy trong cốp xe và phải ăn kiêng.

Vấn đề về cholesterol. Hạn chế ăn uống hơn nữa.

Loét tá tràng. Mãn tính và tái phát trong hơn 20 năm, không phản ứng với tất cả các phương pháp điều trị y tế.

Viêm tụy. Những cơn đau gián đoạn do loét tái phát gây ra.

Viêm dạ dày; tăng axit dạ dày; co thắt môn vị gián đoạn. Do đó, phải hạn chế ăn uống hơn nữa.

Viêm đại tràng tái phát.

Viêm túi thừa. Tình trạng giống như viêm ruột thừa ở đại tràng.

Đôi khi xuất huyết, cần nhập viện và truyền máu.

Các vấn đề thường gặp ở phần dưới của đường tiêu hóa.

Đã đặt lịch phẫu thuật.

Viêm khớp cột sống cổ. Trật khớp đốt sống cổ thứ tư.

Hội chứng đau lưng dưới, cần điều trị bằng phương pháp nắn chỉnh cột sống.

Bệnh rung (Hội chứng Raynaud). Mất cảm giác và nguy cơ hoại tử ở đầu ngón tay do mất tuần hoàn.

Hội chứng tuổi trung niên. Lạnh tay chân, mất năng lượng và không còn ham muốn tình dục, và trầm cảm.

U nang lông ở đáy cột sống. Chỉ có thể chữa bằng phẫu thuật.

Viêm phế quản và ho mãn tính. Làm trầm trọng thêm chứng đau đầu, thoái hóa cột sống và hội chứng đau lưng dưới.

Nhạy cảm với cây thường xuân độc. Da bị nổi mẩn mỗi năm. Đôi khi cần nhập viện.

Nấm chân. Có quan niệm cho rằng nó bắt nguồn từ sàn phòng khách sạn.

Gàu. Có quan niệm cho rằng nó bắt nguồn từ việc đã vào tiệm cắt tóc.

Viêm sụn (Hội chứng Tzietze).

Một chứng rối loạn hiếm gặp, với triệu chứng sưng đau ở chỗ nối giữa xương sườn và xương ức.

Các vấn đề về răng và nướu. Mất xương quanh chân răng. Được khuyến nghị phẫu thuật nướu.

Mất cân bằng năng lượng tổng thể. Kiểm tra cơ thể động học cho thấy tất cả các hệ thống năng lượng đều mất cân bằng, và tất các các kinh mạch đều yếu.

 

Nhìn lại, thật khó tin làm sao cơ thể vẫn tiếp tục hoạt động và duy trì chức năng tốt như thế. Vì mỗi rối loạn đều cần chế độ ăn uống hạn chế hơn nữa, nên có những lúc chỉ còn rau diếp và cà rốt là những thực phẩm “an toàn” mà thôi. Giảm 25 pound (khoảng 11 kg), trông gầy gò và hốc hác. Sau này, một số bạn bè tiết lộ rằng họ đã cá cược xem cơ thể đó sẽ sống được bao lâu. Hầu hết đều ước tính rằng nó có thể sẽ gục ngã ở tuổi 53.

Câu hỏi đặt ra lúc đó là: Làm sao mà một người đàn ông thành đạt, có học thức cao, hoạt động sáng tạo, sống cuộc đời cân bằng, đã được phân tích tâm lý kỹ lưỡng, đã trải qua nhiều phương pháp trị liệu và chữa bệnh, lại vẫn có nhiều bệnh tật đến như thế? Đúng là khối lượng công việc rất to lớn, tập thể dục và những công việc sáng tạo như mộc, xây dựng, làm đồ gỗ và thiết kế kiến ​​trúc làm cho nó trở thành cân bằng. Hơn nữa, đời sống tâm linh rất năng động, mỗi ngày hai giờ thiền định - trước và sau giờ làm việc. Vô số kỹ thuật được đề cập trong phần Giới thiệu đã được nghiên cứu: tự thôi miên, có chế độ ăn uống và lối sống nhằm hướng tới cân bằng và sức khỏe lâu dài, bấm huyệt bàn chân, soi mống mắt, liệu pháp phân cực, khẳng định tích cực, xuất hồn, các khóa học chuyên sâu theo nhóm, xoa bóp, thư giãn, v.v.

Câu trả lời cho nghịch lý kỳ lạ này của một người đã thử vô số kỹ thuật, nhóm và liệu pháp, nhưng vẫn mắc phải một loạt bệnh tật đáng kinh ngạc là gì? Và làm thế nào mà ông ấy lại hoạt động thành công đến như thế trên thế gian mặc cho danh sách khá dài các bệnh tật và đau đớn dai dẳng đi kèm? Câu trả lời dường như là: ý chí rất mạnh mẽ. Nó đã giúp ông ta vượt qua tất cả các trở ngại và có sức mạnh để gạt bỏ bất cứ điều gì cản trở hoạt động hiệu quả—trong trường hợp này, chủ yếu là cảm thọ. Với sức mạnh ý chí như thế, khi một cảm thọ bị kìm nén, nó sẽ tiếp tục bị kìm nén.

Lý tưởng khoa học là khách quan. Khách quan có nghĩa là không có cảm thọ. Muốn vươn tới lý tưởng này trong hoạt động lâm sàng và khoa học thì cần phải kìm nén cảm thọ. Đặc biệt gay gắt do bản chất của hoạt động lâm sàng: làm việc với những bệnh nhân nặng. Mức độ đau khổ của họ và gia đình họ dường như là vô tận. Nó tiếp diễn không ngừng, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Cường độ càng tăng lên vì ông ta có tâm từ bi và đồng cảm với nỗi đau khổ của mọi người. Áp lực ngày càng tăng của cảm thọ bị kìm nén trong mọi lĩnh vực của cuộc sống rõ ràng đã góp phần làm phát sinh đủ loại bệnh tật.

Đến một thời điểm nhất định, cả cơ chế buông bỏ và Khóa học về những điều kỳ diệu đều được nghiên cứu và áp dụng vào cuộc sống thường nhật. Do lịch trình làm việc bận rộn, nên có rất ít thời gian cho bất kỳ kỹ thuật mới nào. May mắn là, Cuốn bài tập của Khóa học về những điều kỳ diệu yêu cầu suy ngẫm đơn giản về một câu hoặc “bài học” trong suốt cả ngày. Sức mạnh của kỹ thuật này là giảm bớt mặc cảm tội lỗi bằng cách sử dụng cơ chế tha thứ. Cơ chế buông bỏ, như một quá trình nội tâm, cũng có thể được thực hiện một cách thầm lặng suốt cả ngày. Hai công cụ này hoạt động cùng nhau. Buông bỏ và tha thứ diễn ra đồng thời trong suốt cả ngày.

Một khi tâm trí biết cách giải tỏa áp lực nội tâm, giống như chiếc hộp Pandora, nó bắt đầu giải phóng tất cả rác rưởi, và nó tuôn trào lên! Những suy nghĩ và cảm thọ, vốn hầu như không được chú ý vào lúc chúng sinh khởi, giờ đây đã quay trở lại. Cuộc sống quá bận rộn đến nỗi không có thời gian để xử lý. Quá trình giải tỏa bắt đầu tự xảy ra.

Phát hiện được ngay lập tức là tất cả cảm thọ hay suy nghĩ tiêu cực đều gắn liền với mặc cảm tội lỗi, và mặc cảm tội lỗi bao trùm đến mức nó liên tục bị kìm nén. Do đó, không có cái gọi là chỉ có tức giận. Cảm thọ thực sự là tức giận/mặc cảm tội lỗi. Có mặc cảm tội lỗi mỗi khi chúng ta có ý nghĩ chỉ trích người nào đó. Tâm trí liên tục phán xét và chỉ trích thế giới, chỉ trích các sự kiện và con người là nguồn gốc vô tận của mặc cảm tội lỗi. Tự nó, mặc cảm tội lỗi sinh ra những cảm thọ tiêu cực, và tự chúng, những cảm thọ tiêu cực cũng sinh ra mặc cảm tội lỗi. Chính sự kết hợp đầy tai hoạ như thế kéo tất cả chúng ta xuống và tạo ra bệnh tật và bất hạnh lan tràn. Mặc cảm tội lỗi hiện diện khắp nơi, đến mức dù đang làm gì, ở đâu đó trong tâm trí, chúng ta vẫn cảm thấy rằng mình “nên” làm cái gì đó khác. Chúng ta đã sống với quá nhiều mặc cảm tội lỗi trong một thời gian dài, đến mức chúng ta thậm chí không còn nhận ra nó, và bằng cách nào đó, mặc cảm tội lỗi được tâm trí của người bình thường phóng chiếu ra thế giới xung quanh. Đó là lý do vì sao hầu hết mọi người đều cần “kẻ thù”—một đối tượng để phóng chiếu mặc cảm tội lỗi bên trong của mình. Đó cũng là nơi mà những tên bạo chúa nhận được quyền lực - bằng cách thao túng mặc cảm tội lỗi của mọi người và tìm ra mục tiêu thích hợp cho nó.

Cũng phát hiện được định kiến, coi thường các cảm thọ. Cơn giận trỗi dậy khi ta cảm thấy các cảm thọ đang áp đặt lên chính mình, chính điều này có thể làm cho người ta có tâm lý “nạn nhân”. Đối với người có tư duy thiên về bán cầu não trái, cảm thọ đối lập với tư duy, logic và lý trí. Trên hết là tư tưởng gia trưởng, cho rằng chỉ phụ nữ, trẻ em và những người thuộc giới nghệ sĩ mới có nhiều cảm xúc. Cảm thọ vốn dĩ chỉ được xem là đối tượng của hiểu biết trí năng và phân tích lâm sàng. Khi vừa sinh khởi, chúng lập tức bị dán nhãn, khu biệt hóa và xếp vào những ngăn lưu trữ của tâm trí.

Khi bắt đầu làm việc với kỹ thuật buông bỏ, đã có một giai đoạn nổi loạn và thực sự căm ghét cảm thọ, sợ hãi khi phải đối phó với chúng. Dường như là nhục nhã khi phải chịu đựng chúng. Cần thay đổi trong nhận thức về chính mình, đấy là do đồng nhất quá mức với trí tuệ. Giờ đây, dù muốn hay không, phải thừa nhận rằng mỗi người đều là một cơ thể biết suy nghĩ/cảm thọ. Tiếp tục phủ nhận thực tại sẽ chẳng có tác dụng gì.

Chẳng bao lâu sau, có cảm thọ trở thành hiện tượng bình thường. Với kỹ thuật buông bỏ, cách duy nhất để thoát khỏi nó là thừa nhận và từ bỏ cảm thọ. Sẽ trở nên dễ dàng hơn khi sức khoẻ bắt đầu được cải thiện. Mặc dù, lúc đầu, đối mặt với cảm thọ của chính mình có thể là việc khó, nhưng khi thấy ánh sáng ở cuối con đường thì sẽ xuất hiện hy vọng.

Chỉ sử dụng kỹ thuật này trong vài ngày, thì phần dưới của đường tiêu hóa đã nhanh chóng tự chữa lành và trên thực tế, không cần phẫu thuật nữa. Nhiều triệu chứng đã tồn tại trong nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm, bắt đầu giảm dần về cường độ và tần suất. Đặc biệt, chứng đau nửa đầu ngày càng ít xuất hiện hơn. Đau lưng dưới biến mất. Cơ thể bắt đầu cảm thấy nhẹ nhàng hơn và khỏe mạnh hơn.

Sau đó, một cuộc khủng hoảng bất ngờ ập tới, mang theo áp lực cảm xúc dữ dội. Bệnh viêm túi thừa tái phát, rất nặng, xuất huyết khá nhiều. Trong thâm tâm xuất hiện quyết định mang tính bước ngoặt vĩ đại: “Hoặc là phương pháp này có hiệu quả, hoặc là không.” Vì vậy, lần này, không những không đến bệnh viện và truyền máu mà quyết định buông bỏ hoàn toàn. Thừa nhận và không chống lại tất cả những cảm giác diễn ra ở trong ổ bụng. Không đặt tên hay dán nhãn. Thay vì nói hay suy nghĩ, thì chỉ cảm nhận sự một thể với những cảm giác, những cơn co thắt và đau. Không có kháng cự nào đối với những cảm giác đó, dù dữ dội đến đâu. Tương tự như đang đứng trên lưỡi dao cạo, nhận biết và buông bỏ mọi cảm giác và cảm thọ. Kéo dài suốt bốn tiếng đồng hồ. Sau bốn tiếng, máu ngừng chảy, cơn co thắt cũng không còn, bệnh viêm túi thừa đã được chữa lành. Sau đó, có một vài lần tái phát nhẹ; nhưng mỗi lần đều được xử lý theo cùng một cách như thế, và cuối cùng các đợt tấn công giảm dần và biến mất. Vậy là cơ chế buông bỏ đã vượt qua được thử thách khắc nghiệt. Đã thành công ở nơi mà mọi biện pháp đều thất bại. Áp dụng liên tục biện pháp này và các chứng rối loạn khác bắt đầu biến mất.

Cùng với thời gian, trải nghiệm “biết” đã thay thế cho suy nghĩ. Cái biết xuất hiện theo cách hoàn toàn khác. Nó chỉ đơn giản là ở đó để chúng ta nhận ra. Một buổi sáng, khi thức dậy, có “cái biết” rằng đã được chữa khỏi bệnh viêm da do cây thường xuân độc gây ra. Đồng thời, rõ ràng là chính cái tên, cái nhãn “cây thường xuân độc”, tự nó đã là một chương trình và một hệ thống niềm tin. Trong bất kỳ trường hợp nào, cũng có “cái biết” rằng mình miễn nhiễm với cây thường xuân độc, ngay cả khi đi ra ngoài, chạm vào nó, chơi đùa với nó, và thậm chí bỏ một vài cây vào chậu hoa để mang đến một chương trình phỏng vấn tối hôm đó! Chủ đề của cuộc phỏng vấn là: “Sức mạnh của tâm thức trong quá trình tự chữa lành”.

Một lần khác, “biết” xuất hiện khi bất ngờ đi tới chỗ có mùi thuốc trừ sâu nồng nặc. Mùi thuốc trừ sâu đã gây dị ứng nghiêm trọng trong suốt nhiều năm và lúc nào cũng gây ra chứng đau nửa đầu dữ dội. Tuy nhiên, trong ngày hôm đó, đột nhiên “biết” được rằng mình miễn dịch với mùi thuốc. Bước vào một ngôi nhà vừa được phun thuốc và hít thở sâu mùi thuốc mà không có bất kỳ hậu quả nào, thế là cảm thọ tự do, vui sướng bất ngờ ập đến. Thật tuyệt vời khi được tự do và trải nghiệm sức mạnh của tâm trí! Trong khoảnh khắc đó, nhận ra rằng chúng ta chỉ bị chi phối bởi những điều chúng ta lưu giữ trong tâm trí. Không cần phải là nô lệ hay nạn nhân của thế giới này.

Sự kiện tương tự cũng xảy ra với niềm tin kéo dài về cholesterol cao. Khi niềm tin và khái niệm đó bị xóa bỏ, thì ăn các sản phẩm từ sữa sẽ không tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đến cholesterol. Trên thực tế, xét nghiệm máu cho thấy chỉ số cholesterol không tốt cho sức khoẻ giảm dần! Hơn nữa, chứng không dung nạp thực phẩm và dị ứng cũng biến mất. Tuy nhiên, phải mất ít nhất một năm nữa thì chứng không dung nạp đường và hạ đường huyết chức năng mới biến mất hoàn toàn. Trong một giai đoạn, nó vẫn tái phát trong những lúc căng thẳng, đặc biệt là khi vận động mạnh, sau khi ăn đường và đồ ngọt có caffeine.

Trong thời gian đó, sau nhiều năm kiêng khem nghiêm ngặt, cuối cùng cũng có thể trở lại chế độ ăn uống bình thường. Thật sảng khoái khi được ăn những thực phẩm có hạt (không được ăn nếu bị viêm túi thừa), tất cả những thực phẩm được cho là chống chỉ định đối với bệnh loét và viêm đại tràng, và thậm chí cả kem sô cô la nóng! Phải mất vài năm thì chứng hạ đường huyết chức năng mới biến mất, nhưng cuối cùng cũng có thể ăn tất cả những món ngọt, từng bị cấm trong suốt nhiều năm.

Toàn bộ hội chứng tuổi trung niên cũng đều là hệ thống niềm tin. Khi hệ thống niềm tin này bị hủy bỏ và buông bỏ, chứng lạnh ở tay và chân cũng biến mất. Mệt mỏi, trầm cảm nhẹ và cáu kỉnh cũng biến mất. Sức bền thể chất tăng lên và khả năng chịu đựng công việc thể chất gần như không có giới hạn.

Giờ đây, khi những vấn đề lớn đã được giải quyết, một số bệnh nhẹ hơn cũng được chủ động xử lý. Niềm tin vào u nang lông đã được buông bỏ. Nó biến mất sau sáu tuần. Vòi nhĩ luôn bị tắc nghẽn, cứ đi máy bay là tai phải đau dữ dội. Phải mất hai năm để nó tự khỏi. Liên tục buông bỏ mọi suy nghĩ và cảm thọ về nó, đồng thời sử dụng phương pháp hình dung, trong đó góc của vòi nhĩ với xương thái dương bên phải được hình dung là đang thay đổi thành một góc bình thường. Đây là chứng bệnh duy nhất sử dụng phương pháp hình dung. Sau hai năm, chứng bệnh này biến mất, và không bao giờ còn gặp khó khăn trong việc thông tai khi độ cao thay đổi nữa.

Trong khi đó, chứng đau cổ cũng dần biến mất, và có thể khiêu vũ. Trong khi nhảy và buông bỏ mọi kháng cự đối với đau cổ, cơ thể bắt đầu tự động thực hiện các tư thế và chuyển động tự chữa lành, như thể có một chuyên gia nắn chỉnh cột sống bên trong đang điều chỉnh cột sống. Một cảm giác kỳ lạ, như thể những người chữa lành vô hình đang điều chỉnh lại cột sống.

Trong khi diễn ra những sự kiện như thế, thì tuần hoàn máu ở bàn tay và bàn chân cũng thay đổi, tay và chân không còn lạnh nữa. Bệnh rung chấn ở các đầu ngón tay, từng đe dọa dẫn đến hoại tử, giờ đây đã tự chữa lành. Các đầu ngón tay phồng lên và chuyển sang màu hồng trở lại. Cơn đau rát ở đầu ngón tay biến mất. Cảm giác quay trở lại. Cho đến lúc đó, các ngón tay đã tê liệt đến mức không thể lật giở sách.

Khi các bệnh nghiêm trọng hơn được chữa lành, đã có năng lượng và thời gian để xem xét cả những vấn đề nhỏ hơn. Từng tin rằng cắt tóc ở tiệm thì sẽ bị gàu. Khi buông bỏ niềm tin đó, thì gàu không còn. Một quá trình tương tự đã xảy ra với niềm tin cho rằng nấm ở chân có liên quan đến sàn phòng khách sạn. Khi lên tục xoá bỏ niềm tin này, thì nấm ở chân đã biến mất.

Một năm, trong Lễ Tạ ơn, xuất hiện cơ hội để thử nghiệm kỹ thuật này khi xảy ra tình huống cấp tính. Một khúc gỗ lớn rơi vào chân trái và làm gãy tất cả các xương ở toàn bộ phần trước bàn chân. Thay vì vội vàng đi bó bột, đã sử dụng kỹ thuật buông bỏ. Đến Giáng sinh, đã có thể quay lại sàn nhảy. Sau đó, một mắt cá chân bị bong gân nặng cũng tự lành trong vài phút bằng cách lập tức buông bỏ cơn đau.

 

Chữa lành thị lực

Một buổi tối nọ, khi đang thuyết giảng về cơ chế buông bỏ và ghi lại tất cả những hiện tượng chữa lành đã trải nghiệm vừa nói bên trên, một thành viên trong cử toạ nói: “Bác sĩ, nếu ông đã chữa lành tất cả những căn bệnh đó, vậy tại sao ông vẫn đeo kính? Mắt kém không thể được chữa lành bằng cách tương tự hay sao?”

“Vâng, tôi chưa bao giờ nghĩ đeo kính là bệnh. Tôi luôn nghĩ đó là một khiếm khuyết trong giải phẫu của cơ thể. Nhưng bây giờ, khi bạn nhắc tới nó, tôi không thấy lý do gì mà nó không thể tự chữa lành.”

Vì vậy, cặp kính hai tròng được tháo ra và cất vào túi áo khoác. Quả thực, lúc đó, thị lực đang suy giảm đến mức bác sĩ đã kê đơn và đặt mua kính ba tròng. Khi kết thúc buổi thuyết trình tối hôm đó, cái biết bên trong lại xuât hiện, nó nói rằng nếu có đủ niềm tin và tin tưởng thì tình trạng này cũng sẽ tự chữa lành.

Lái xe về nhà mà không đeo kính, nhìn rất mờ. Đi khá chậm, đèn pha chiếu vào lề đường. Cái biết nội tâm nói rằng chúng ta sẽ luôn luôn nhìn thấy những gì mình cần thấy, nhưng không thể nhìn thấy những gì mình muốn thấy. Trong sáu tuần tiếp theo, đã quan sát và học được rất nhiều điều, đấy là những gì diễn ra đằng sau thị giác bình thường hàng ngày của chúng ta. Có vô vàn cảm thọ, từ tò mò đến cạnh tranh, từ sự hứng thú nhục dục đến kích thích trí tuệ. Để hoạt động trong thế gian này thì chỉ cần khoảng 5% thị giác mà thôi.

Có hiện tượng kỳ lạ: chỉ những gì cần nhìn thấy mới được nhìn thấy. Không thể đọc báo và tạp chí, xem truyền hình, hoặc đi xem phim. Rõ ràng là phần lớn thị giác chỉ đơn thuần là sự trốn tránh thực tại. Trên đường, mọi chuyện diễn ra cứ như thể là ông lão Magoo[i] đang cầm lái vậy. Hết lần này đến lần khác, cái hiện tượng huyền bí tương tự đó lại xảy ra. Ngay khi cần nhìn thấy một thứ gì đó, thì liền nhìn thấy nó. Mép vực hiện ra ngay khi cần nhìn thấy nó. Đã có rất nhiều lo âu đi kèm với việc liên tục buông bỏ sợ hãi. Cuối cùng, sau sáu tuần, sợ hãi dường như đã cạn kiệt. Thay vào đó, phó thác sâu sắc đã diễn ra. “Được rồi, tôi sẽ chỉ nhìn những gì mình được phép nhìn.” Các mục tiêu cảm xúc khác mà việc nhìn đã phục vụ cho đến thời điểm đó đều được tự nguyện buông bỏ.

Rồi một cảm giác tĩnh lặng và bình yên sâu sắc xuất hiện, cùng với cảm thọ hòa làm một với bất cứ điều gì đang vận hành vũ trụ. Và trong khoảnh khắc đó, đột nhiên, thị lực trở lại hoàn toàn và hoàn hảo. Những gì trước đây không thể nhìn thấy hoặc đọc được thì giờ đây trở nên rõ ràng như pha lê: biển báo đường phố, chữ in nhỏ trong ánh sáng mờ, các vật thể hiện rõ nét trong khắp gian phòng và ở khoảng cách xa. Trong lần kiểm tra mắt tiếp theo, để gia hạn bằng lái xe, người đánh giá nói rằng thị lực hoàn hảo và không cần đeo kính nữa. Hiện tượng này chưa từng xảy ra trong bất kỳ lần kiểm tra nào trước đây! 

Kể từ khi câu chuyện này được kể trên khắp cả nước, khá nhiều người đã bỏ kính và có trải nghiệm tương tự. Thú vị là, mỗi người đều nói rằng quá trình này diễn ra trong khoảng sáu tuần. Một trong những người đã hoàn toàn thành công lại quyết định đeo kính. Khi được hỏi lý do, anh ta nói rằng vợ mình đã quen nhìn thấy anh đeo kính đến mức anh ấy trông bất bình thường khi không có kính, vì vậy anh ấy đã đeo kính không số để cho vợ cảm thấy vui. Anh ấy làm như thế chỉ vì yêu vợ và muốn làm cho vợ vui, đó là một lý do khác hẳn so với phải đeo kính vì thị lực kém.

Những người đã trải nghiệm phục hồi thị lực đều đồng ý về khám phá sau đây: Chúng ta nhìn bằng chính tâm trí, chứ không phải bằng nhãn cầu! Gần đây, một trong những trường hợp như thế là một phụ nữ bị mù ngay từ khi mới sinh và cả hai nhãn cầu đều bị rối loạn nghiêm trọng. Sau khi nghe bài giảng về phục hồi thị lực, bà này đã tuân theo một phác đồ điều trị và thực hành kỹ thuật buông bỏ đối với thị lực của mình. Trong vòng hai ngày, bà bắt đầu cảm nhận được sự trở lại của thị lực. Sau bài giảng, bà ấy đến gần và nói: “Tôi biết ông nói đúng. Tôi biết rằng người ta nhìn thấy bằng tâm trí bởi vì đó là điều đang xảy ra với tôi. Tôi đang nhìn thấy, và tôi đang nhìn thấy bằng tâm trí của mình!”

Muốn hiểu làm sao mà tất cả những hiện tượng chữa lành này có thể xảy ra—một số gần như là phép màu—chúng ta phải xem xét lại nhiều suy nghĩ của mình về các quá trình trong cơ thể, cơ chế chữa lành và làm sao mà các phương pháp điều trị y tế mang lại kết quả. Người ta đã phát hiện ra rằng có một sức mạnh tự chữa lành bên trong được kích hoạt bằng cách buông bỏ liên tục.



[i] Mr. Magoo: Nhân vật hoạt hình Mỹ nổi tiếng với chứng cận thị nặng nhưng luôn gặp may mắn kỳ lạ, thoát khỏi những tai nạn hiểm nghèo. Ở đây ám chỉ sự bảo hộ của trường năng lượng khi bản ngã buông bỏ kiểm soát.