July 2, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (9)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 8 

TỨC GIẬN

     Tức giận có thể dao động từ thịnh nộ đến oán hận nhẹ nhàng. Bao gồm trả thù, phẫn nộ, bất bình, thịnh nộ, ghen tị, thù hận, ác ý, căm ghét, khinh miệt, cãi vã, thù địch, mỉa mai, thiếu kiên nhẫn, thất vọng, tiêu cực, hung hăng, bạo lực, ghê tởm, keo kiệt, nổi loạn, hành vi bùng nổ, kích động, lăng mạ, thô lỗ, âm ỉ, ủ rũ, hờn dỗi và bướng bỉnh. Những biến thể này của tức giận được thể hiện rõ qua các bản tin hàng ngày trên truyền hình.

Tức giận có thể nảy sinh về chính kỹ thuật phó thác. Tức giận vì người ta được kỳ vọng là sẽ buông bỏ những cảm xúc mà trước đây từng được đánh giá cao. Tức giận vì sợ mất mát. Tức giận với cảm xúc nói chung. Tức giận với một cảm thọ không biến mất ngay lập tức.

Tức giận có rất nhiều năng lượng; do đó, chúng ta thực sự có thể cảm thấy tràn đầy năng lượng khi chúng ta cảm thấy khó chịu hoặc tức giận. Một trong những thủ đoạn mà người ta học được là nhanh chóng chuyển từ thờ ơ và u sầu sang tức giận, rồi từ tức giận nhảy vọt lên kiêu hãnh, và sau đó là can đảm. Tức giận là có năng lượng để hành động. Nó dẫn đến hành động trên thế gian này. Khi những người “thiếu thốn” trên thế giới được ham muốn tiếp thêm năng lượng và chuyển sang tức giận về những thứ họ không có, lúc đó tức giận thúc đẩy họ thực hiện những hành động cần thiết để hoàn thành ước mơ về một đời sống tốt đẹp hơn.

Có thể xác minh nhanh chóng năng lượng tức giận bị kìm nén trong dân chúng bằng cách nhìn xem bạo lực phổ biến đến mức nào trên các phương tiện truyền thông - người xem được trải nghiệm gián tiếp việc giải tỏa sự tức giận của họ bằng cách đánh nhau, bắn nhau, đâm chém nhau, hành hình, giết hại “những kẻ xấu”.

Chúng ta thường có mặc cảm tội lỗi về sự tức giận đến mức chúng ta thấy cần phải biến đối tượng của sự tức giận của mình thành “người sai” để chúng ta có thể nói mình tức giận là “chính đáng”. Rất ít người có thể chịu trách nhiệm về sự tức giận của chính mình và chỉ cần nói: “Tôi tức giận vì tôi đang đầy tức giận đây.” 

Sử dụng tức giận theo lối tích cực

Người ta thường kìm nén tức giận, hung hăng và thù địch bên trong; coi đó là khó chịu, hạ thấp phẩm giá, thậm chí là thất bại về mặt đạo đức hoặc một bước thụt lùi về mặt tâm linh. Họ không nhận ra rằng tức giận bị kìm nén vẫn là năng lượng của tức giận và nếu không được thừa nhận và giải quyết, nó sẽ gây ra những hậu quả tai hại cho sức khỏe và tiến bộ tổng thể của họ. Ý định đằng sau tức giận là tiêu cực, và nó sẽ tạo ra những hậu quả tương tự ngay cả khi không được thể hiện ra.

Một cách tiếp cận hữu ích là nhìn nhận năng lượng của tức giận theo lối tích cực và sử dụng nó để thúc đẩy tham vọng và hành động của chúng ta một cách có lợi. Ví dụ, giả sử chúng ta tức giận với sếp của mình. Chúng ta cảm thấy oán hận. Ông ta dường như không bao giờ thừa nhận khả năng hoặc nỗ lực của chúng ta. Nhưng chúng ta biết rằng việc thể hiện tức giận và oán hận là thiếu khôn ngoan. Nó rất có thể làm cho ta mất việc hoặc ít nhất là làm cho sếp tiếp tục giận ta. Ngay cả trong trường hợp tốt nhất, thì thể hiện tức giận cũng sẽ làm cho chúng ta cảm thấy khó xử. Thay vào đó, chúng ta có thể quyết định sử dụng năng lượng đó theo lối tích cực, vì lợi ích của chính mình. Nó có thể là nguồn cảm hứng để chúng ta tạo ra một dự án mà chính sự xuất sắc của nó chứng minh cho quan điểm của chúng ta. Nó có thể là năng lượng để chúng ta vươn lên và thoát khỏi một tình huống mà chúng ta cảm thấy không thỏa đáng. Chúng ta có thể sử dụng năng lượng đó để tạo ra những cơ hội việc làm mới hoặc tìm công việc tốt hơn, thành lập một ủy ban, cải thiện tình hình việc làm của mình, thành lập công đoàn, hoặc bất cứ điều gì chúng ta nghĩ là sẽ có lợi cho mục tiêu cá nhân của mình.

Trong các quan hệ cá nhân, cũng có những cơ hội tương tự. Tức giận có thể được sử dụng để truyền cảm hứng để chúng ta cải thiện kỹ năng giao tiếp, tham gia một khóa học về quan hệ giữa người với người, hoặc tham gia một chương trình tự hoàn thiện. Tức giận có thể truyền cảm hứng cho chúng ta tái cam kết, có nhiều nỗ lực hơn và thực sự làm tốt hơn. Bằng cách này, tình huống có thể dẫn đến tái cam kết. Nó có thể truyền cảm hứng để chúng ta nhìn vào bên trong chính mình và từ bỏ tất cả những cảm xúc tiêu cực, bằng cách chấp nhận. Thay vì tức giận về sự kiện nào đó, chúng ta có thể chấp nhận nó. 

Hy sinh

Có nhiều lý do làm người ta tức giận. Như đã nói, các phức cảm tức giận thường liên kết mật thiết với sợ, và khi buông bỏ sợ hãi thì tức giận cũng sẽ không còn. Lý do khác làm người ta tức giận chính là kiêu hãnh, đặc biệt là khía cạnh mà ta gọi là phù phiếm. Thường thì, chính kiêu hãnh cá nhân là thứ nuôi dưỡng và lan tỏa tức giận.

Một trong những nguồn gốc của kiêu hãnh có liên quan đến hy sinh. Nếu các mối quan hệ của chúng ta với người khác gắn liền với tự ngã nhỏ bé dưới hình thức hy sinh, thì ta đang tự dọn đường cho những tức giận về sau; bởi vì đối phương thường không nhận thức được “sự hy sinh” của ta, và do đó, họ khó lòng đáp ứng được những kỳ vọng của ta.

Có thể lấy ví dụ từ một ngày trong cuộc sống của một cặp vợ chồng điển hình. Người vợ đã làm việc vất vả cả ngày để dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc cây cối một cách tỉ mỉ, mang hoa vào nhà, sắp xếp lại đồ đạc và làm tất cả những gì có thể để ngôi nhà trông đẹp đẽ. Khi người chồng đi làm về, anh ta không nói một lời nào về nhà cửa, thậm chí dường như cũng không để ý. Thay vào đó, anh ta mệt mỏi sau một ngày làm việc, và kể lại những khó khăn, vất vả mà mình đã trải qua. Trong đầu anh ta nghĩ về tất cả những hy sinh mà mình đã làm: những khách hàng khó chịu, quãng đường lái xe mệt mỏi trong giờ cao điểm, ông chủ cáu kỉnh và áp lực phải hoàn thành công việc đúng hạn. Anh ta nghĩ về tất cả những gì mình đã làm cho vợ con và gia đình. Trong khi anh ta đang nghĩ về tất cả những khó khăn như thế, thì người vợ cảm thấy càng lúc càng oán hận hơn, vì chồng không ghi nhận những nỗ lực của mình, và cô ta hồi tưởng lại tất cả những hy sinh mà mình đã làm trong ngày hôm đó. Cô ấy có thể đã đi ăn trưa với bạn bè. Cô ấy có thể đã đọc xong cuốn sách mình thích. Cô ấy có thể đã xem chương trình truyền hình yêu thích của mình. Thay vào đó, cô ấy đã làm tất cả những việc này vì chồng con, thế mà bây giờ anh ta không hề nói một lời nào về kết quả nỗ lực của cô. Khi cả hai cùng ôm ấp những oán hận, bất mãn và thất vọng, thì tức giận bên trong của họ càng lúc càng dâng cao; nó được thể hiện qua thái độ lạnh lùng và thờ ơ khi họ tìm tới tivi vào buổi tối và lặng lẽ đi ngủ để suy ngẫm về những bất bình của mình. Đây là cảnh tượng gia đình điển hình của người Mỹ đến nỗi nhắc lại nó ở đây gần như là quá nhàm chán. Tuy nhiên, do tính phổ biến của nó mà nó có giá trị mang tính giáo dục đối với chúng ta; chúng ta có thể xem xét nó và cố gắng làm sáng tỏ sự suy thoái trong quan hệ vợ chồng.

Những gì chúng ta muốn, khao khát và khăng khăng đòi hỏi từ người khác lại được họ cảm nhận như là áp lực. Do đó, họ sẽ chống lại. Trong ví dụ trên, cả hai người đều mong muốn được người kia công nhận. Họ mong cầu, khát khao được công nhận, nhưng lại tự tay chặn đứng điều đó ở phía đối phương. Mỗi bên đều cảm thấy bị áp lực và do đó, chống lại. Chống đối là do chúng ta luôn cảm thấy áp lực như là phủ nhận quyền lựa chọn của mình. Nó được cảm nhận như sự lấy lòng về mặt cảm xúc. Công thức vô thức là: “Hãy cho ta những thứ ta muốn, nếu không ta sẽ trừng phạt nhà ngươi bằng cách rút lui, tức giận, hờn dỗi, và oán hận.” Tất cả chúng ta đều khó chịu khi cảm thấy bị người khác tìm cách lấy lòng về mặt cảm xúc. Tất cả chúng ta đều biết thái độ phản kháng mà chúng ta cảm nhận được khi có người nào đó đang cố gắng tìm kiếm lời khen, và thái độ phản kháng diễn ra cả trên bình diện vô thức lẫn bình diện hữu thức.

Khi chúng ta được thúc đẩy bởi tinh thần hy sinh, là chúng ta gây áp lực cho người khác. Thậm chí khi chúng ta buộc họ phải thừa nhận, thì đó cũng là thừa nhận miễn cưỡng. Một lời khen gượng ép không làm cho ta hài lòng. Một phần của tức giận ở đây xuất phát từ lòng tự hào về tinh thần hy sinh. Chúng ta cảm thấy tự mãn về những việc chúng ta làm cho người khác, và tự hào về thành tích làm cho chúng ta dễ tức giận khi “sự hy sinh” của chúng ta không được người khác công nhận.

            Muốn giảm bớt tức giận kiểu này thì phải thừa nhận và từ bỏ thái độ kiêu hãnh, từ bỏ mong muốn tìm kiếm niềm vui từ than thân trách phận và thay vào đó, coi những nỗ lực của chúng ta vì người khác như những món quà. Chúng ta có thể trải nghiệm niềm vui khi hào phóng với người khác, coi nó như là phần thưởng dành cho chính mình. 

Công nhận

Một trong những bí quyết lớn nhất của các quan hệ chính là công nhận. Cách người khác đối xử với ta luôn chứa đựng một món quà ẩn giấu. Ngay cả khi hành vi đó dường như là tiêu cực, thì vẫn có điều gì đó có lợi cho chúng ta. Rất hay xảy ra là, điều đó xuất hiện dưới dạng một tín hiệu nhắc nhở chúng ta cần tỉnh giác hơn. Ví dụ, giả sử một người nào đó gọi chúng ta là “ngu”. Phản ứng tự nhiên của chúng ta là tức giận. Nhưng chúng ta có thể sử dụng năng lượng của thái độ tức giận một cách có ý thức: “Người đó đang yêu cầu tôi tỉnh thức hơn về cái gì?” Nếu tự hỏi câu hỏi này, chúng ta có thể nhận ra rằng mình đã quá ích kỷ; chúng ta đã thiếu quan tâm; chúng ta đã không công nhận họ; và chúng ta đã không ý thức và tỉnh thức trước những gì đang diễn ra trong mối quan hệ này.  

Nếu liên tục làm theo quy trình này, chúng ta sẽ nhận ra rằng mọi người trong cuộc đời của chúng ta đều là cái gương cho chúng ta soi. Họ thực sự đang phản chiếu lại cho chúng ta những gì chúng ta đã không thừa nhận trong chính con người mình. Họ đang buộc chúng ta phải nhìn vào những vấn đề cần được giải quyết. Khía cạnh nào của tự ngã nhỏ bé của chúng ta cần phải được từ bỏ? Có nghĩa là chúng ta phải liên tục buông bỏ thói kiêu ngạo để hóa giải thái độ tức giận, để chúng ta có thể biết ơn những cơ hội phát triển liên tục mà chúng ta được trao cho trong những trải nghiệm đang diễn ra mỗi ngày.

Để làm được như thế, chúng ta phải chống lại cám dỗ tự cho mình và người khác là “sai”. Nếu nhìn vào khía cạnh “tự ngã nhỏ bé” của chính mình, chúng ta sẽ thấy rằng việc tự cho mình và người khác “sai” là một trong những hoạt động yêu thích của tự ngã (ví dụ, chính trị và truyền thông). Đấy là do tự ngã nhỏ bé không biết những biện pháp tốt hơn để vươn tới mục tiêu của mình. Nó không nhận ra một hướng đi khác, đó là việc chủ động thay đổi hoàn cảnh bằng lựa chọn tự do cho chính mình.

Một trong những biện pháp để chúng ta tự buộc mình thoát khỏi những tình huống không thỏa mãn là tự cho mình hoặc tình huống đó là “sai”. Ví dụ, thay vì chỉ đơn giản là quyết định tìm việc làm tốt hơn, thì tự ngã nhỏ bé của chúng ta lại cho rằng công việc, ông chủ và đồng nghiệp là “sai”. Vì nghĩ về sai trái như thế, mà tình huống trở thành không thể chịu đựng được, và chúng ta bị buộc phải thay đổi nó. Sẽ dễ dàng hơn hẳn nếu chúng ta chỉ đơn giản là quyết định chuyển sang tình huống tốt hơn. Tuy nhiên, do ý thức về nghĩa vụ, và mặc cảm tội lỗi thường là rào cản ngăn ta thực hiện cách thức đơn giản hơn này. Nói cách khác, vì những lợi ích đã nhận được trong một tình huống nhất định, ta có mặc cảm tội lỗi khi rời bỏ nó. Vì vậy, vô thức đã khéo léo tạo ra toàn bộ cơ chế đổ lỗi để cưỡng ép, không cho ta thoát khỏi những tình huống bế tắc. Điều này thường xảy ra trong các quan hệ cá nhân: ta cảm thấy mình phải biến người kia thành “sai” để biện minh cho việc rời bỏ họ. Việc viện đến cơ chế đổ lỗi này đơn giản là phủ nhận quyền tự do lựa chọn của chính chúng ta.

Một trong những nguyên nhân làm cho ta tức giận là những hành động yêu thương mà chúng ta đã thể hiện với người khác, nhưng không được họ công nhận. Trong bối cảnh này, tình yêu có nghĩa là những biểu hiện yêu thương đơn giản mỗi ngày, diễn ra trong tất cả các mối quan hệ giữa người với người, ví dụ như chu đáo, quan tâm, cử chỉ lịch sự, khích lệ và giúp đỡ. Nhưng thường xuyên xảy ra là, cuộc đối thoại nội tâm về sự oán hận của chúng ta đối với việc người khác không trân trọng tình cảm mà chúng ta dành cho họ có thể kéo dài suốt nhiều năm liền. Nếu nó xảy ra với chúng ta, thì chắc hẳn nó cũng xảy ra với những người khác. Do đó, trong cuộc sống của chúng ta, có những người luôn luôn mang trong mình dòng suy nghĩ bất tận về chúng ta, liên quan đến việc chúng ta không trân trọng tình cảm mà họ dành cho chúng ta.

Toàn bộ sự tức giận này có thể được hóa giải và ngăn chặn khi chúng ta nhận ra giá trị to lớn của việc đơn giản là ghi nhận những cử chỉ mà người khác dành cho mình. Có nghĩa là ghi nhận tất cả những thông tin liên lạc của họ với chúng ta. Ví dụ, nếu bạn bè gọi điện thoại cho chúng ta, chúng ta cảm ơn họ vì đã gọi. Lý do cảm ơn là vì nó làm cho người khác cảm thấy trọn vẹn và an toàn khi ở bên cạnh chúng ta. Đó là công nhận giá trị của họ trong cuộc sống của chúng ta, và mọi người đều cảm thấy vui vẻ khi chúng ta công nhận giá trị của họ.

Bằng cơ chế công nhận đơn giản này, chỉ trong vài ngày, có thể biến đổi tất cả các mối quan hệ của một người một cách khá ấn tượng. Công nhận không nhất thiết phải diễn ra ở thế giới bên ngoài mà có thể diễn ra bên trong chính mình. Khi xem xét các mối quan hệ của mình, chúng ta có thể tự hỏi: “Tôi đã không công nhận điều gì ở những người mà tôi vẫn tiếp xúc mỗi ngày?”

Trải nghiệm rất có giá trị là chọn một người - mà theo quan điểm của chúng ta – là người hay chỉ trích chúng ta, và lúc này, bắt đầu nhìn nhận, trong chính mình, xem mình đã không công nhận họ đến mức nào. Chúng ta buông bỏ tất cả những cảm thọ tiêu cực về họ, và bắt đầu ghi nhận công lao của họ, khẳng định giá trị của họ đối với chúng ta. Giá trị của họ có thể đơn giản là họ là động lực thúc đẩy quá trình phát triển cảm xúc của chúng ta. Người vợ/chồng hay cằn nhằn hoặc người hàng xóm cau có đang tìm cách nói điều gì đó. Hầu như luôn luôn trong những tình huống như thế này, những người đó cảm thấy đóng góp của họ không được ghi nhận. Một khi giá trị của họ được ghi nhận, họ sẽ không bao giờ cằn nhằn nữa. 

Kỳ vọng

Khi chúng ta ngừng tạo áp lực lên người khác bằng những kỳ vọng của mình, là chúng ta tạo ra cơ hội để họ phản hồi tích cực với chúng ta theo lối tự phát. Chúng ta có thể - như biện pháp phòng ngừa - làm giảm bớt thái độ oán hận bằng cách chuyển những việc chúng ta đã làm cho người khác từ hy sinh thành một món quà của yêu thương. Sau đó, chúng ta có thể tự công nhận hành động này và từ bỏ những kỳ vọng của mình, điều này sẽ làm tan biến sự phản kháng ở người khác.

Thí nghiệm đơn giản sau đây minh họa cho thay đổi này. Một người đàn ông mang về từ Mexico hai chiếc áo sơ mi mới. Những chiếc áo mới này có kiểu dáng hoàn toàn khác với loại quần áo mà ông ta thường mặc. Ngày đầu tiên ông quyết định mặc một trong những chiếc áo sơ mi đó, ông thấy mình có kỳ vọng ở bên trong và niềm tự hào tinh tế khi làm điều gì đó mới mẻ và khác biệt. Tuy nhiên, thay vì buông bỏ tự hào, ông ta quyết định giữ lại; nghĩa là, ông cố tình không sử dụng kỹ thuật buông bỏ để từ bỏ niềm tự hào và chỉ đơn giản là để nó ở đó. Ông ta muốn biết sẽ xảy ra chuyện gì, mọi người sẽ phản ứng ra sao. Ngày hôm đó, ông ta tự hào mặc chiếc áo mới và quả nhiên, không ai để ý đến nó, mặc dù nó hoàn toàn khác với trang phục thường ngày của ông ta. Chắc hẳn là nó rất nổi bật, nhưng không có người nào bình luận. Khi về nhà, ông ta bật cười vì thuật ngữ mà doanh nhân Robert Ringer dùng để mô tả tình huống gọi là “lý thuyết chàng trai/cô gái” là quá đúng. (Chàng trai muốn cô gái, vì vậy, cô gái không quan tâm đến chàng trai. Ngay khi chàng trai không còn quan tâm đến cô gái nữa, cô gái lại muốn chàng trai.)

Sáng hôm sau, ông ta quyết định sẽ mặc chiếc áo mới khác, nhưng lần này ông ta từ bỏ tất cả sự phù phiếm và kỳ vọng được mọi người chú ý. Ông ta buông bỏ lòng tự hào nhỏ nhoi rằng mình đang làm việc gì đó mới mẻ và khác biệt, và ông ta công nhận tình yêu của tất cả bạn bè và những đóng góp quan trọng của họ vào hạnh phúc cuộc đời ông. Khi thực hiện xong quá trình buông bỏ, ông ta đã đạt đến trạng thái phó thác hoàn toàn đối với việc mặc chiếc áo đó. Ông ta biết rằng mình đã hoàn toàn phó thác, vì việc ngưới khác có nhận thấy chiếc áo mới hay không cũng không sao. Ngày hôm đó, bỗng chốc giống như ngày mặc áo mới! Hầu như tất cả mọi người mà ông ta gặp đều nhận xét về chiếc áo mới, hỏi ông mua ở đâu, và ông ta trở thành tâm điểm chú ý của mọi người trong suốt ngày hôm đó. Thí nghiệm này minh họa một cách hài hước: Chúng ta sẽ có được cái mình muốn khi không còn khăng khăng đòi hỏi nó!

Kỳ vọng vào người khác là hình thức lấy lòng về mặt cảm xúc. Chúng ta có thể cảm nhận được sức kháng cự của mình khi người khác đòi hỏi những “thứ” cảm xúc nhất định từ chúng ta. Chúng ta có thể thoát khỏi việc bị người khác lấy lòng về mặt cảm xúc bằng cách xem xét cách chúng ta làm điều đó với người khác, và sau đó, chúng ta có thể buông bỏ mong muốn thao túng phản ứng cảm xúc của họ đối với mình.

Một cách nữa để ngăn ngừa tức giận là tự mình quyết định không chấp nhận thái độ phủ nhận từ người khác hoặc từ những khía cạnh nhỏ bé của bản thân mình. Quyết định này có thể được thể hiện bằng tuyên bố khẳng định: “Tôi sẽ không còn chấp nhận thái độ phủ nhận từ chính mình hay từ người khác nữa.” Khi tuyên bố này kết hợp với thói quen công nhận tất cả những điều tích cực trong chính mình và người khác, các mối quan hệ sẽ nhanh chóng thay đổi, nguồn gốc tiềm tàng của tức giận đã được loại bỏ. 

Oán hận kéo dài  

Tức giận và oán hận kéo dài, không được nhận ra, sẽ tái xuất hiện trong cuộc sống của chúng ta thành trầm cảm, tức là tức giận hướng vào chính mình. Nếu bị đẩy sâu hơn vào vô thức, nó có thể tái xuất hiện thành các bệnh tâm thần. Đau nửa đầu, viêm khớp và tăng huyết áp, thường được người ta trích dẫn như là những ví dụ về tức giận kéo dài bị kìm nén. Khi học được biện pháp buông bỏ tức giận ở bên trong thì những triệu chứng này thường nhẹ đi. Ví dụ, trong một công trình nghiên cứu, các chỉ số huyết áp của những người tham gia được đo trước và sau khi họ được hướng dẫn cách buông bỏ cảm xúc tiêu cực. Tất cả những người huyết áp cao, sau khi họ bắt đầu buông bỏ áp lực về mặt cảm xúc đã tích tụ trong nhiều năm, thì huyết áp, cả tâm thu và tâm trương (chỉ số trên và dưới), đều giảm. Dự án Tha thứ, do Đại học Stanford tiến hành, xác nhận rằng thôi tức giận và oán hận mang lại những lợi ích cho hệ tim mạch. Trong chương trình này, cha mẹ của những đứa trẻ bị giết trong vụ bạo lực giữa người Tin Lành và người Công giáo ở Ireland sau khi học cách buông bỏ thái độ cay đắng đối với “kẻ thù”, thì các chỉ số về sức khỏe tim mạch và sự dẻo dai về thể chất của họ đều được cải thiện đáng kể (Luskin, 2003). Tha thứ đã chữa lành trái tim họ—theo đúng nghĩa đen của từ này. Như chúng tôi đã nói bên trên, bằng phương pháp kiểm tra cơ bắp, chúng ta có thể chứng minh được ngay lập tức rằng, tức giận và oán hận có hại đối với cơ thể, cảm xúc, dòng năng lượng và hoạt động đồng bộ của hai bán cầu não. Tức giận giết chết chính người tức giận, chứ không phải người được gọi là “kẻ thù”.

Tâm trí muốn chúng ta nghĩ rằng có “tức giận chính đáng”, gọi là “phẫn nộ có đức”. Nếu nhìn vào “phẫn nộ có đức”, chúng ta sẽ thấy rằng nó dựa trên thói phù phiếm và kiêu ngạo. Trong một tình huống, chúng ta thích nghĩ rằng mình là người đúng trong khi người khác “sai”. Lúc đó, chúng ta có được một chút thỏa mãn rẻ mạt, nhất thời, nhưng kiểm tra cơ bắp cho thấy cái giá mà toàn bộ sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta phải trả. Bệnh tật và chết non lá cái giá mà chúng ta phải trả vì đã để tức giận và oán hận kéo dài. Liệu có đáng để đổi lấy chút thỏa mãn nhỏ nhoi khi tự cho mình là người đúng?

Cái giá mà chúng ta sẵn sàng trả trong những trường hợp này đôi khi làm người ta phải ngạc nhiên. Giả sử chúng ta đã cho một người nào đó vay tiền, nhưng người đó mãi vẫn chưa trả. Nó làm cho chúng ta oán hận mãi không thôi, còn mỗi khi gặp người đó trong các buổi giao tiếp xã hội, thì chúng ta cố gắng nói với người đó càng ít càng tốt. Nếu thành thật với chính mình, chúng ta có thể sẽ thấy rằng mình đang cảm thấy thỏa mãn khi cho rằng mình đúng còn người kia sai. Trên thực tế, chúng ta đang thích thú với điều đó đến mức một phần trong ta thực sự không muốn người đó trả hết nợ, vì, lúc đó, chúng ta sẽ không còn có thể tận hưởng niềm vui thầm kín trong việc cho rằng người đó sai. Hoàn toàn đúng trong trường hợp một người cho vay vài trăm đôla. Người cho vay trong thâm tâm đã quyết định là thành thật về tất cả những sự thỏa mãn nhỏ nhoi khi mình là người đúng, và biến người kia thành sai, rồi từ bỏ từng phần phần thưởng đó của bản ngã. Rõ ràng, những phần thường đó của bản ngã đã ngăn cản người kia trả nợ. Bằng cách liên tục buông bỏ, toàn bộ vấn đề đã được giải quyết một cách trọn vẹn, và chuyển sang coi khoản cho vay như một món quà. Thừa nhận rằng, người kia thực sự cần tiền. Vì sao không đơn giản coi đó như một món quà và từ bỏ kỳ vọng được trả nợ? Lúc này, thay vì oán hận, lòng biết ơn giữ thế thượng phong vì đã có cơ hội giúp đỡ người khác trong lúc họ thực sự cần. Thế là, trong vòng 48 giờ, một tấm séc đã được gửi đến qua đường bưu điện với toàn bộ số tiền, kèm theo lời xin lỗi về sự chậm trễ trong việc trả nợ!

Trải nghiệm này và nhiều trải nghiệm tương tự chứng tỏ rằng tất cả chúng ta đều được kết nối về mặt tâm linh. Quan điểm của chúng ta về người khác buộc họ phải áp dụng quan điểm phòng thủ tương đương. Do đó, tha thứ và quên đi không phải là thái độ lạc quan mù quáng, mà là thừa nhận hợp lý về thực tại mang tính cảm xúc. Những tương tác bên trong giữa người với người được quyết định bởi cơ cấu của năng lượng rung động mà cảm xúc của họ phát vào không gian. Năng lượng của rung động, và hình thức tư tưởng gắn liền với nó, tạo ra những ghi chép có thể đọc được.

Mặc dù trải nghiệm phổ biến mỗi ngày như thế này hầu như không phải là điều gì mới mẻ đối với hầu hết phụ nữ; trong xã hội chúng ta, phụ nữ thường có trực giác nhạy bén hơn, nhưng nó lại làm cho khá nhiều đàn ông cảm thấy bị sốc và ngạc nhiên. Trong xã hội chúng ta, đàn ông thường thiên về bán cầu não trái và lý trí, logic hơn là trực giác, vốn được coi là chức năng của bán cầu não phải.

Khi tiếp tục buông bỏ những thứ tiêu cực và mang lại chữa lành cảm xúc ở bên trong, bán cầu não trái và bán cầu não phải sẽ hoạt động cân bằng. Đàn ông cũng sẽ xuất hiện khả năng trực giác; và họ thường ngạc nhiên một cách thú vị khi bắt đầu nhận ra nó. Có thể ngay lập tức “đọc” được một tình huống hoàn toàn khó hiểu đối với lý trí và logic sẽ làm người ta ngạc nhiên và thấy thoả mãn. Lý tưởng là tạo ra giả thuyết để làm việc bằng trực giác, rồi sau đó sử dụng lý trí và logic để kiểm tra. Làm như thế, tất nhiên, sẽ giảm bớt được tức giận do hiểu lầm và tính toán sai, và tăng khả năng làm chủ cảm xúc một cách khéo léo.

Một cách khác để xoá tan tức giận là sẵn sàng từ bỏ nó. Sẵn sàng là quyết định tổng thể của chúng ta nhằm tìm ra biện pháp tốt hơn, ngừng dựa vào tức giận, và tiến tới can đảm và chấp nhận. Sẵn sàng bắt đầu quá trình từ bỏ tức giận. Những người học võ đều biết, tức giận là yếu đuối và dễ bị tổn thương; nó được coi là công cụ mà chúng ta trao cho đối thủ. Kiểm tra cơ bắp có thể cho chúng ta biết lý do. Người tức giận đánh mất một nửa sức mạnh cơ bắp và do đó, mất phản xạ nhanh nhạy chỉ trong tích tắc, mà đấy là yếu tố rất quan trọng trong cận chiến.

Trong xã hội của chúng ta, người ta thường coi nóng giận như là đặc điểm “nam tính”. Chúng ta từng nghe thấy mọi người tự hào kể lại việc họ đã “mắng cho thằng đó một trận”. Chúng ta có thể tự hỏi: “Ai cần kẻ thù? Chẳng phải đời sống của chúng ta đã có quá nhiều ảnh hưởng tiêu cực mà không cần thêm kẻ thù nào nữa hay sao?” Đặc biệt, khi nhìn vào sự kiện là, tất cả các cảm xúc đều tạo ra năng lượng rung động trong vũ trụ, vậy thì việc tự đưa mình vào vòng vây của những suy nghĩ tiêu cực về những người mà chúng ta coi là kẻ thù thì mang lại lợi ích gì? Vì sao lại phải coi họ là kẻ thù bằng cách tích trữ những oán hận và tiêu cực trong chính con người mình? Có lẽ, khi nhìn lại những trải nghiệm cá nhân của mình, chúng ta thấy rằng nỗ lực biến những người mà chúng ta từng coi là kẻ thù thành bạn bè sau này sẽ mang lại thỏa mãn và phần thưởng. Trong mọi trường hợp, đây là lợi ích tích cực cho đời sống của chúng ta. Trong chương sau của cuốn sách cuộc đời, chúng ta sẽ không bao giờ biết mình sẽ cần làm bạn với người nào.

Chúng ta cần nhận thức được rằng mình đã vô tình trở thành những người “thu thập bất công”. Các bản tin trên truyền thông đầy rẫy những hình thức oán hận kéo dài này. Chúng ta thấy “thu thập bất công” trong quan hệ quốc tế, tức là biến quốc gia “sai trái” thực sự trở thành mục tiêu. Chúng ta đã bị lập trình theo lối vô thức để tin rằng “thu thập bất công” là “bình thường”. Trái ngược với thói quen này, vốn có tính phá hoại và làm suy yếu, kỹ thuật buông bỏ giải phóng chúng ta khỏi việc ghi nhớ kỹ lưỡng những “sai trái” mà người khác đã gây ra cho mình. Thời gian và tâm điểm chú ý của chúng ta được giải phóng để nhìn thấy vẻ đẹp và cơ hội xung quanh ta.

Tức giận là thắt, chứ không phải cởi. Nó kết nối chúng ta với người khác và giữ họ trong mô thức cuộc đời chúng ta. Chúng ta bị mắc kẹt trong mô thức tiêu cực cho đến khi buông bỏ năng lượng của tức giận và những phần thưởng nhỏ bé của nó như phẫn nộ chính đáng, cảm giác bị đối xử bất công và ước muốn báo thù. Có thể không phải cùng một người liên tục xuất hiện trong cuộc đời của chúng ta. Nếu không phải người đó, thì những người khác sẽ xuất hiện, với cùng phẩm chất là làm cho chung ta tức giận và oán hận. Nó sẽ tiếp tục lặp đi lặp lại cho đến khi, cuối cùng, chúng ta xử lý được tức giận bên trong con ngưới mình. Sau đó, đột nhiên, những người có cùng phẩm chất đó không còn xuất hiện trong cuộc đời của chúng ta nữa. Do đó, tức giận có thể buộc một người nào đó đứng cách xa chúng ta về mặt thể chất, nhưng về mặt tinh thần, nó ràng buộc họ với chúng ta chặt chẽ hơn, cho đến khi chúng ta hoàn toàn buông bỏ tức giận và oán hận.

Buông bỏ tức giận mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích. Chúng ta được tự do trải nghiệm sự thoải mái và dễ chịu về mặt cảm xúc, lòng biết ơn đối với những cơ hội hàng ngày để phát triển và chữa lành, sự quan tâm lẫn nhau với người khác mà không có những “ràng buộc” tinh tế, cải thiện về sức khỏe và nhiều năng lượng sống hơn. Những bước đột phá này cho phép chúng ta tiến tới trạng thái tự do nội tâm hiệu quả và dễ dàng hơn.


July 1, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (8)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 7 

HAM MUỐN

     Cảm xúc này có thể dao động từ mong muốn nhẹ nhàng đến thèm khát có tính ám ảnh, mãnh liệt đối với một cái gì đó hoặc một người nào đó. Nó cũng được thể hiện bằng những hình thức như tham lam, ám ảnh, đói khát, đố kỵ, ghen tị, bám víu, tích trữ, tàn nhẫn, cố chấp, cuồng loạn, phóng đại, tham vọng quá mức, ích kỷ, dục vọng, chiếm hữu, kiểm soát, tô vẽ thành hào nhoáng, không bao giờ thỏa mãn và thủ đắc. “Không bao giờ hài lòng.” “Không bao giờ đủ.” “Phải có.” Bản chất cơ bản của cảm xúc này là sự thôi thúc của nó. Khi bị ham muốn chi phối, chúng ta không còn tự do nữa. Chúng ta bị nó kiểm soát, bị nó điều khiển, bị biến thành nô lệ và bị nó dắt mũi.

Một lần nữa, điểm mấu chốt của tự do là liệu chúng ta đã lựa chọn một cách có ý thức để thỏa mãn một mong muốn nhất định hay chỉ đang bị điều khiển một cách mù quáng bởi các chương trình và hệ thống niềm tin vô thức. 

Ham muốn như một trở ngại

Thường là thiếu hiểu biết về chức năng của mong muốn và ham muốn. Ảo tưởng chính được thể hiện trong câu: “Cách duy nhất để tôi có được điều mình muốn là phải khao khát nó; nếu tôi buông bỏ khao khát, thì tôi sẽ không có được cái mình muốn.” Thực tế, điều ngược lại mới đúng. Khao khát, đặc biệt là khao khát mãnh liệt (ví dụ, thèm muốn), thường cản trở, không cho chúng ta đạt được điều mình muốn.

Tại sao lại như thề? Thực ra, một cái gì đó đến với cuộc đời của chúng ta là vì chúng ta đã lựa chọn nó. Đó là kết quả của ý định của chúng ta, hoặc chúng ta đã đưa ra quyết định. Nó đến với cuộc đời của chúng ta mà không phụ thuộc vào khao khát. Khao khát thực sự là trở ngại cho việc đạt được hoặc có được nó. Đấy là do, khao khát theo nghĩa đen có nghĩa là “tôi không có”. Nói cách khác, nếu chúng ta nói rằng chúng ta khao khát cái gì đó, là chúng ta đang nói rằng nó không phải của chúng ta. Khi chúng ta nói rằng nó không phải của chúng ta, chúng ta tạo ra một khoảng cách tâm lý giữa mình và cái mình muốn. Khoảng cách này biến thành trở ngại làm tiêu hao năng lượng.

Điều không thể trở thành có thể ngay khi chúng ta hoàn toàn buông bỏ. Đấy là do khao khát cản trở việc nhận được nó và dẫn đến sợ hãi không có nó. Về bản chất, năng lượng của ham muốn là phủ nhận quan điểm nói rằng chỉ cần yêu cầu, thì tất cả những gì chúng ta muốn sẽ là của chúng ta.

Đây là một cách nhìn khác về việc đạt được mục tiêu so với cách nhìn mà chúng ta quen từ quá trình lập trình của thế gian. Chúng ta quen với việc hình dung tham vọng và thành công gắn liền với làm việc chăm chỉ và những phẩm chất của đạo đức Tin Lành cổ điển. Trong đó có hy sinh chính mình, khổ hạnh, nỗ lực và cố gắng hết sức, cắm đầu vào công việc, thắt chặt chi tiêu, nỗ lực hết mình và tất cả sự khắc nghiệt của công việc khó khăn. Khi nhìn vào bức tranh này, nghe có vẻ gian khổ, có phải thế không? Vâng, đúng thế. Nó liên quan đến đấu tranh, và đấu tranh xuất phát từ rào cản mà chúng ta tự đặt ra vì ham muốn.

Xin so sánh biện pháp của tâm thức thấp hơn, gian khổ hơn nhằm vươn tới mục tiêu với trạng thái tâm thức cao hơn, trong đó chúng ta đã nhận ra và buông bỏ ham muốn, và ở trong trạng thái tự do hơn. Trong trạng thái tự do hơn, cái được lựa chọn sẽ hiển lộ trong cuộc sống của chúng ta mà không cần nỗ lực. Chúng ta từ bỏ cảm xúc ham muốn và thay vào đó, chỉ đơn giản là chọn mục tiêu, hình dung nó bằng yêu thương, và cho phép nó xảy ra vì thấy rằng nó đã thuộc về chúng ta.

Vì sao nó đã là của chúng ta? Ở trạng thái tâm thức thấp hơn, vũ trụ được nhìn nhận là tiêu cực và phủ nhận, gây thất vọng và miễn cưỡng. Giống như những ông bố bà mẹ keo kiệt. Ở trạng thái tâm thức cao hơn, trải nghiệm của chúng ta về vũ trụ thay đổi. Giờ đây, nó giống như những ông bố bà mẹ cho đi, yêu thương, chấp thuận vô điều kiện, muốn chúng ta có mọi thứ mà mình muốn, và chỉ cần chúng ta yêu cầu thì nó là của chúng ta. Nó tạo ra bối cảnh khác. Nó mang lại cho vũ trụ một ý nghĩa khác.

Mặc dù thế giới có thể keo kiệt và thù địch với những người khác, nhưng không có lý do gì để chúng ta chấp nhận hệ hình này. Khi chúng ta chấp nhận nó, chúng ta tạo ra điều đó trong đời sống của chính mình. Khi chúng ta trải nghiệm buông bỏ ham muốn, chúng ta bắt đầu thấy rằng những gì chúng ta đã chọn sẽ tới với cuộc đời của chúng ta gần như là thần kỳ. “Những thứ chúng ta lưu giữ trong tâm trí có xu hướng hiển lộ.” Như đã nói trước đó, trong thời kỳ được cho là tỷ lệ thất nghiệp cao, một số người không chỉ có việc làm mà còn có hai hoặc ba việc làm cùng một lúc.

Đây là một cách nhìn thế giới hoàn toàn mới mẻ và gây sốc khi lần đầu tiên người ta tiếp xúc với nó. Người ta hy vọng rằng đó là sự thật, nhưng lại hoài nghi: “Trên phương diện thực tế, nó đơn giản là không thể.” Nền tảng “đạo đức Tin Lành” nghiêm ngặt khiến việc tin tưởng trở thành khó khăn; tuy nhiên, vẫn có thái độ sẵn sàng cởi mở để thử. Đây là trải nghiệm ban đầu về việc buông bỏ ham muốn.

Các mục tiêu cá nhân được viết ra giấy, sau đó là buông bỏ ham muốn đối với chúng. Nghe có vẻ ngược đời, nhưng đó là quá trình: xác định các mục tiêu và sau đó buông bỏ mong muốn giành được những mục tiêu này. Một mục tiêu đã được giữ trong tâm trí nhiều năm là một căn hộ ở thành phố New York, vì công việc đòi hỏi phải đi lại nhiều và tốn nhiều tiền trả cho khách sạn. Một căn hộ nhỏ trong thành phố sẽ là giải pháp kinh tế. “Căn hộ ở thành phố New York” được viết ra như một mục tiêu. Khi sử dụng phương pháp đạt mục tiêu này, chúng ta viết ra tất cả các chi tiết, mặc dù về mặt lý trí, chúng dường như bất khả thi. Vì vậy, căn hộ lý tưởng được mô tả chi tiết: giá cả hợp lý, trên Đại lộ Số 5, khu nhà số 70, ngay cạnh lối vào Công viên Trung tâm, ít nhất tám hoặc chín tầng, ở phía sau để bớt tiếng ồn, và chỉ khoảng hai phòng rưỡi thôi.

Trong giờ làm việc ngày hôm sau, công việc bận rộn như mọi khi, nhiều việc lớn, rồi họp và thăm khám bệnh nhân. Giữa các cuộc họp và bệnh nhân, cảm giác khao khát căn hộ được thừa nhận rồi lại được buông bỏ. Và, khi hết ngày, căn hộ thực sự đã bị lãng quên. Vào lúc 4:30 chiều, sau khi thăm khám bệnh nhân cuối cùng, đột nhiên tôi muốn lái xe vào thành phố. Mặc dù rõ ràng là giờ cao điểm, đường xá thông thoáng và chỉ mất nửa tiếng lái xe. Chiếc xe chạy đến khoảng ngã tư Đường 73 và Lexington. Rồi dừng lại trước văn phòng bất động sản gần nhất. Thật kỳ diệu, lại có một chỗ đậu xe trống ngay trước văn phòng bất động sản. Nhân viên bất động sản, khi nghe thấy lời tuyên bố hài hước rằng muốn tìm một căn hộ trên Đại lộ Số 5, đã nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên và nói: “Ồ, anh thật may mắn! Đúng một tiếng trước, chúng tôi đã đăng tin cho thuê căn hộ duy nhất trên Đại lộ Số 5, đường 76, trên tầng 9. Đó là căn hộ phía sau, hai phòng rưỡi, và tiền thuê nhà khá hợp lý (giá thuê được kiểm soát ở mức 500 đôla một tháng). Căn hộ vừa được sơn sửa lại và anh có thể chuyển vào bất cứ lúc nào.” Vì vậy, chúng tôi đi bộ đến xem căn hộ. Nó hoàn toàn phù hợp với mục tiêu đã đề ra. Hợp đồng thuê nhà được ký ngay lập tức! Như vậy, chỉ trong vòng 24 giờ sau khi thử kỹ thuật buông bỏ đối với một mục tiêu cá nhân cụ thể, mục tiêu đó đã trở thành hiện thực. Gần như không thể tìm được căn hộ như thế, vậy mà nó đã xảy ra đúng như tưởng tượng, dễ dàng và không hề có cảm xúc tiêu cực. Đó là trải nghiệm dễ dàng và vui vẻ.

Đây không phải là trải nghiệm bất thường mà là trải nghiệm điển hình, vì trong trường hợp này, mong muốn ở mức độ vừa phải và có thể, không cần nhiều nỗ lực, đã hoàn toàn được từ bỏ. Việc hoàn toàn từ bỏ có nghĩa là chấp nhận việc mua được căn hộ, và chấp nhận được việc không mua được. Chính vì đã hoàn toàn từ bỏ, điều không thể đã trở thành có thể, tự hiển lộ một cách dễ dàng và nhanh chóng.

Tất cả chúng ta đều có thể nghi ngờ cơ chế này và nhìn lại những điều mình từng mong muốn và đạt được thông qua tham vọng, khát khao, thèm muốn, và thậm chí là khao khát mang tính ám ảnh, điên cuồng. Tâm trí tự hỏi: “Vậy nếu mình buông bỏ mong muốn những thứ đó thì sao? Nếu không có mong muốn, làm sao mình có thể có được chúng?” Sự thật là, chúng ta vẫn có thể có được chúng, chỉ là không lo lắng (sợ không đạt được), không tốn nhiều năng lượng, không cần nỗ lực, không cần thử và sai, và không cần làm việc vất vả.

“Vậy thì!” Tâm trí nói rằng, “nếu ta đạt được nó một cách dễ dàng, thì tự hào về thành tựu nằm ở đâu? Chẳng phải ta sẽ phải hy sinh cái đó hay sao?” Vâng, ta sẽ phải từ bỏ sự phù phiếm của tất cả những hy sinh và nỗ lực mà ta đã bỏ ra. Ta sẽ phải từ bỏ thái độ ủy mị về hy sinh và tất cả những đau đớn, khổ sở mà ta đã trải qua để đạt được mục tiêu. Đây là sự lệch lạc kỳ lạ trong xã hội chúng ta, phải thế không? Nếu ta đột nhiên thành công gần như không cần nỗ lực, thì mọi người sẽ ghen tị. Điều đó thực sự làm họ khó chịu vì ta không phải trải qua đủ loại đau khổ, thống khổ để đạt được điều đó. Tâm trí họ tin rằng thống khổ như thế là cái giá phải trả để thành công.

Xin xem xét niềm tin này. Nếu không phải vì lập trình tiêu cực làm cho ta tin ngược lại, tại sao ta lại phải chịu đau đớn và khổ sở để đạt được bất cứ điều gì trong cuộc đời? Chẳng phải đó là quan điểm khá tàn nhẫn về thế giới và vũ trụ hay sao?

Những rào cản khác đối với việc đạt được mong muốn và khao khát của chúng ta, tất nhiên, trong vô thức, là mặc cảm tội lỗi và nhỏ bé. Kỳ lạ là, vô thức chỉ cho phép chúng ta có được những gì chúng ta nghĩ là mình xứng đáng. Càng bám chặt vào những thứ tiêu cực và hình ảnh thấp kém về bản thân do chúng tạo ra, chúng ta càng thấy mình ít xứng đáng hơn; và một cách vô thức, ta tự khước từ sự sung túc vốn đang tuôn chảy một cách dễ dàng tới những người khác. Đó là lý do để người ta nói: “Người nghèo càng nghèo, người giàu càng giàu”. Nếu chúng ta có cái nhìn nhỏ hẹp về chính mình, thì cái chúng ta xứng đáng nhận được là nghèo khó, và vô thức sẽ đảm bảo rằng chúng ta có thực tại đó. Khi chúng ta từ bỏ sự nhỏ bé và tái khẳng định sự ngây thơ bên trong chính mình, và khi chúng ta buông bỏ chống lại hào phóng, cởi mở, lòng tin, yêu thương và đức tin của mình, thì vô thức sẽ tự động bắt đầu sắp xếp các hoàn cảnh sống để sung túc bắt đầu chảy vào cuộc đời của chúng ta. 

Có—Làm—Hiện hữu

Khi chúng ta đưa chính mình ra khỏi những trạng thái tâm thức thấp hơn như thờ ơ và sợ hãi, là chúng ta bước vào trạng thái mong muốn. Cái trước đây là “Tôi không thể” và bất khả thi thì giờ đây trở thành khả thi. Tiến triển chung của các tầng tâm thức, khi chúng ta đi từ thấp nhất đến cao nhất, là chuyển từ “có” sang “làm” rồi sang “hiện hữu”. Ở các tầng tâm thức thấp hơn, quan trọng là những gì chúng ta có. Cái chúng ta có là cái chúng ta muốn. Chúng ta có những gì chúng ta đánh giá cao. Cái chúng ta có tạo nên hình ảnh của mình về giá trị và vị trí của chúng ta trên thế gian này.

Một khi chúng ta đã chứng minh được với chính mình rằng chúng ta có thể có, các nhu cầu cơ bản của chúng ta có thể được đáp ứng, chúng ta có khả năng đáp ứng nhu cầu của chính mình và của những người phụ thuộc vào chúng ta, tâm trí bắt đầu quan tâm hơn đến những việc chúng ta làm. Sau đó, chúng ta chuyển sang một bối cảnh xã hội khác, trong đó những việc chúng ta làm trên thế gian là cơ sở cho giá trị của chúng ta và cách người khác đánh giá chúng ta. Khi tình yêu thương của chúng ta ngày càng sâu sắc hơn, hành động của chúng ta càng ít tập trung vào việc phục vụ chính mình và càng hướng đến việc phụng sự tha nhân. Khi tâm thức của chúng ta phát triển, chúng ta nhận thấy rằng phụng sự, vốn hướng đến người khác bằng tình yêu thương, tự động dẫn đến việc đáp ứng các nhu cầu của chính chúng ta. (Điều này không có nghĩa là hy sinh. Phụng sự không phải là hy sinh.) Cuối cùng, chúng ta tin chắc rằng nhu cầu của mình được vũ trụ tự động đáp ứng, và hành động của chúng ta gần như tự động trở thành yêu thương.

Tại thời điểm đó, quan trọng không còn là những việc chúng ta làm trên thế gian mà là con người mà chúng ta đang là. Chúng ta đã chứng minh cho chính mình rằng chúng ta có thể có được những gì mình cần, và nếu sẵn sàng, chúng ta có thể làm được hầu hết mọi thứ. Và giờ đây, con người chúng ta, cả bên trong và đối với người khác, trở thành quan trọng nhất. Mọi người giờ đây muồn làm bạn với chúng ta, không phải vì của cải chúng ta có, không phải vì những việc chúng ta làm và những nhãn mác của xã hội, mà vì con người mà chúng ta đã trở thành. Vì chất lượng của sự hiện diện của chúng ta, mọi người chỉ muốn ở bên cạnh chúng ta và trải nghiệm chúng ta. Mô tả xã hội của chúng ta thay đổi. Chúng ta không còn là người sở hữu căn hộ thời thượng, xe hơi sang hay bộ sưu tập đồ lặt vặt, cũng không còn được gắn mác là Chủ tịch của Tập đoàn X hay thành viên Hội đồng quản trị của một tổ chức nào đó. Giờ đây, chúng ta được mô tả là một người tuyệt vời, một người mà mọi người nhất định phải gặp, nhất định phải biết. Chúng ta trở thành một người có sức cuốn hút.

Tầng hiện hữu này là đặc trưng của các nhóm tự giúp nhau. Trong các nhóm tự giúp nhau, không ai quan tâm đến những việc người khác làm trên thế gian hay những của cải mà họ có. Họ chỉ quan tâm đến việc chúng ta có đạt được những mục tiêu nội tâm nhất định hay không, chẳng hạn như trung thực, cởi mở, chia sẻ, yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ, khiêm nhường, chân thành và tỉnh thức. Họ quan tâm đến phẩm chất của sự hiện hữu của chúng ta. 

Hào nhoáng

Hào nhoáng là chủ đề rất hữu ích, cần tìm hiểu. Khi hiểu được nó, chúng ta sẽ dễ dàng buông bỏ ham muốn. Cuốn sách nhan đề Glamour: A World Problem (Hào nhoáng: Vấn đề của thế giới - 1950) của Alice Bailey trình bày toàn bộ chủ đề này theo lối chuyên nghiệp.

Nếu nhìn vào cái mà chúng ta muốn, chúng ta có thể bắt đầu phân biệt giữa chính vật đó với hào quang, hình thức bên ngoài, sự lấp lánh và sức hấp dẫn của một phẩm chất mà có thể được mô tả một cách tốt nhất là “hào nhoáng”. Chính sự khác biệt giữa bản chất của vật đó và vẻ háo nhoáng mà chúng ta gán cho nó dẫn đến vỡ mộng. Thường thì chúng ta theo đuổi một mục tiêu nào đó, và rồi khi đạt được nó, chúng ta lại cảm thấy thất vọng. Đấy là do tự thân vật đó không trùng khớp với hình ảnh mà chúng ta tưởng tượng về nó. Hào nhoáng có nghĩa là chúng ta đã gán ghép sự ủy mị vào đó, hoặc chúng ta đã thổi phồng nó lên hơn là thực tế. Chúng ta đã phóng chiếu lên cái đó phẩm chất kỳ diệu nào đó, bằng cách nào đó khiến chúng ta tin rằng, một khi có được nó, chúng ta sẽ đạt được trạng thái hạnh phúc và thỏa mãn cao hơn.

Nó rất thường xảy ra với các mục tiêu nghề nghiệp. Người đàn ông làm việc hết năm này qua năm khác, phấn đấu để trở thành chủ tịch công ty hoặc trở thành người quan trọng và nổi bật theo một cách nào đó. Khi đạt được điều đó, anh ta kỳ vọng sẽ trải nghiệm tất cả sự hài lòng và hào nhoáng gắn liền với thành tựu: được các nhân viên nịnh bợ, có những chiếc xe sang, văn phòng nổi bật, nhãn hiệu, danh hiệu và những địa chỉ độc quyền. Nhưng cái mà anh ta nhận ra là tất cả những thứ này đều chỉ là vẻ ngoài. Chúng không bù đắp được năng lượng bị hao mòn một cách đau đớn và công việc vất vả hàng ngày mà vị trí đó đòi hỏi. Trong khi anh ta hình dung mình sẽ được ngưỡng mộ, thì điều anh ta thường thấy ở cấp bậc cao nhất lại là độc ác, cạnh tranh, đố kỵ và nịnh hót không bao giờ dứt cùng với những thủ đoạn bất lương mà những người có quyền thường sử dụng, trong đó có cả những cuộc tấn công đầy hoang tưởng của các đối thủ cạnh tranh. Anh ta nhận thấy sức lực của mình bị vắt cạn đến mức không còn năng lượng cho đời sống cá nhân; các mối quan hệ bị tổn hại. Vợ anh ta phàn nàn rằng anh ta suy kiệt đến mức không còn sức để làm tình, không còn năng lượng để đáp ứng nhu cầu của cô ấy, không còn sức để làm một người cha tốt, và thậm chí quá mệt mỏi, không còn sức để tận hưởng những hoạt động giải trí mà anh ta yêu thích.

Cũng có thể nói như thế về người phụ nữ có thành tích trong những lĩnh vực truyền thống được coi là nữ tính. Ví dụ, một người phụ nữ nghĩ rằng nếu cô ta mua một chiếc váy hàng hiệu nào đó để đi dự tiệc, chiếc váy đó được mọi người chú ý, tán dương và ngưỡng mộ, và sẽ giúp cô ta vươn tới địa vị xã hội nhất định. Cô ta bỏ ra khá nhiều tiền và công sức cho chiếc váy, chạy đi chạy lại để thử đồ. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Ngay trong bữa tiệc tối, chỉ có một vài lời bình luận thoáng qua về chiếc váy của cô ta và thế là hết. Không ai khiêu vũ với cô ta nhiều hơn bình thường. Cô ta không nổi bật hơn so với trước bữa tiệc. Không có sự chú ý chân thành nào dành cho cô ta hơn trước đây. Cô ta nhận được một số ánh nhìn thù địch, ghen tị từ những người phụ nữ đoán được số tiền mà cô ta có thể đã bỏ ra để mua chiếc váy. Buổi tối đó, như thường lệ, cô ấy lại cãi nhau với chồng, và cũng như trước đây họ về nhà trên xe mà hầu như không ai nói chuyện với ai,.

Khi phụ nữ đạt được những tiến bộ trong lĩnh vực doanh nghiệp và chính trị, họ phải đối mặt với thất vọng song hành với vai trò người lãnh đạo mà người đó có sức quyến rũ trước công chúng mà người đó hằng khao khát. Cái tưởng là sẽ nâng cao uy tín và kính trọng lại tạo ra những lời chỉ trích, ghen tị và thù địch—thậm chí từ những người phụ nữ khác. Trải nghiệm của việc đạt được mục tiêu thường không như họ nghĩ. Lúc nào cũng có những phán xét về hình ảnh và trang phục, và bà ta có thể có cảm giác lo lắng rằng mình đã làm cho gia đình thất vọng khi theo đuổi sự nghiệp. “Chiến thắng” đôi khi không làm cho người ta tự do như vẻ hào nhoáng bề ngoài mà chúng muốn ta tin.

Những mục tiêu cảm xúc cũng có sức quyến rũ bởi sự ủy mị và tình cảm. Một sự phấn khích nhất định được phóng chiếu lên sự kiện mang tính cảm xúc (ví dụ, một cuộc hội ngộ, một buổi hẹn hò đầu tiên, hoặc được bầu làm lớp trưởng). Nó được làm cho dường như là quan trọng hơn thực tế. Sau khi sự kiện qua đi, cuộc sống vẫn tiếp diễn như cũ và người ta lại cảm thấy thất vọng.

Tất nhiên, hào nhoáng thể hiện rất rõ trong quảng cáo. Ở đây chúng ta thấy nó một cách độc nhất vô nhị. Hình ảnh chàng cao bồi là tô điểm hào nhoáng cho nam tính, và hình ảnh vũ công ba lê tô điểm hào nhoáng cho nữ tính. Đàn ông bị thu hút bởi cá tính, chứ không phải thương hiệu; do đó, chàng cao bồi đại diện cho hình ảnh người đàn ông được tô điểm hào nhoáng, mạnh mẽ, ngầu, lịch lãm và tự chủ. Người tiêu dùng gán cho sản phẩm kỳ vọng rằng nó sẽ mang lại cho họ những đặc điểm tính cách mà họ mong muốn.

Tô điểm hào nhoáng là sống trên tầng tưởng tượng. Vì vậy, khi chúng ta từ bỏ một ham muốn, chúng ta phải phân tích kỹ những gì là sự phóng đại, tưởng tượng và lãng mạn hóa. Một khi đã từ bỏ hào nhoáng, việc từ bỏ chính ham muốn đó sẽ tương đối dễ dàng hơn. Ví dụ, nếu bạn từ bỏ sự lãng mạn hóa hình ảnh chàng cao bồi, thì điếu thuốc lá hay chiếc bánh mì kẹp thịt mà anh ta cầm trong quảng cáo sẽ không còn hấp dẫn nữa. Thực tế, điều làm cho chúng ta ngạc nhiên là, hết lần này đến lần khác, chúng ta nhận ra rằng ham muốn đó gắn liền với tưởng tượng hào nhoáng; ngay từ đầu nó không có thực tại. Bởi vì nó không có thực tại, thế giới liên tục bán cho chúng ta dối trá, chiều theo ham muốn của chúng ta về khía cạnh lãng mạn, hào nhoáng đó. Nó hứa hẹn làm chúng ta thành người quan trọng hơn là con người mà chúng ta đang là. Hào nhoáng đến mức thiếu trung thực như thế là hàng giả.

Tâm trí phản đối: “Tôi có phải từ bỏ tất cả sự phấn khích có tính hào nhoáng đó hay không? Tôi có phải buông bỏ những hình ảnh về sự thỏa mãn mang tính cảm xúc và sự phấn khích của mình hay không?” Câu trả lời rõ ràng là “Không”. Chúng ta không cần phải hoàn toàn từ bỏ những thứ đó. Khi chúng ta nhận thức được những gì mình đang lựa chọn thì chúng ta có thể đạt được mục tiêu một cách dễ dàng và không tốn nhiều công sức. Chúng ta có thể có được những thứ đó một cách trực tiếp. Chúng ta có thể trở thành người hấp dẫn, nhưng chúng ta sẽ không đạt được điều đó bằng cách giả tạo, ví dụ như lái một kiểu xe nhất định. Chúng ta sẽ đạt được điều đó bằng cách buông bỏ sự nhỏ bé của mình và sở hữu sự vĩ đại của chính mình, và phản chiếu nó ra thế giới. Chúng ta hoàn toàn có thể trở thành người thú vị mà mọi người háo hức muốn biết. Chỉ cần chọn trở thành người đó và buông bỏ rào cản của việc mong muốn trở thành người đó. Chúng ta có thể có được những gì mình muốn trực tiếp mà không cần phải đi đường vòng qua những lời hứa hão huyền, sẽ làm cho chúng ta thất vọng và chán nản.

Trở thành người thú vị mà mọi người muốn biết là công việc dễ dàng. Chỉ cần hình dung ra kiểu người mà mình muốn trở thành và buông bỏ tất cả những cảm xúc tiêu cực và rào cản ngăn cản chúng ta trở thành người như thế. Sau đó, tất cả những gì chúng ta cần có và cần làm sẽ tự động được sắp xếp vào đúng vị trí. Đấy là do, khác với có và làm, tầng hiện hữu có sức mạnh và năng lượng cao nhất. Khi được ưu tiên, nó sẽ tự động tích hợp và tổ chức các hoạt động của người đó. Cơ chế này được chứng minh bằng kinh nghiệm phổ biến, “Những gì chúng ta lưu giữ trong tâm trí có xu hướng tự hiển lộ.” 

Sức mạnh của quyết định nội tâm

Đây không phải là những quan điểm triết học mà là những quy trình thực tiễn có thể được chứng minh bằng trải nghiệm. Dễ dàng thử nghiệm với những khái niệm này và quan sát kết quả tự động diễn ra. Bởi vì xu hướng của tâm trí là quy công trạng cho cái gì đó/người nào đó, chứ không gán công trạng cho sức mạnh của chính tâm thức của chúng ta, cho nên ghi nhật ký để viết ra những mục tiêu mà chúng ta thực sự muốn đạt được, sau đó kiểm tra và ghi lại là rất hữu ích. Vì sao? Vì sẽ mất một thời gian trước khi chúng ta tin rằng đó thực sự là sức mạnh của chính chúng ta đang giúp chúng ta đạt được những mục tiêu đó.

Đây là một ví dụ thú vị về phủ nhận sức mạnh nên trong. Một người đàn ông đang rất cần việc làm và khá lo lắng về sự kiện này, ông ta được hướng dẫn cách áp dụng kỹ thuật buông bỏ. Vì là người có đức tin, ông ta được khuyên nên quên sự kiện là mình đang tìm việc làm, và giao phó nó cho Thiên Chúa, và từ bỏ mong muốn của mình về vấn đề này trong khi vẫn cởi mở với những gì có thể xảy ra. Một tuần sau, ông ta kể lại: “Vâng, ngày hôm sau khi tôi từ bỏ mong muốn có việc làm, chẳng có gì xảy ra cả. Rồi tôi nhận được điện thoại đường dài của anh rể, và tôi làm cho công ty của anh ấy. Nếu không có anh rể, tôi sẽ chẳng bao giờ tìm được được việc làm. Thật may là tôi đã không chờ đợi Thiên Chúa!”

Đây là một ví dụ điển hình về xu hướng của tâm trí. Tất nhiên, chính vì anh ta đã buông bỏ cho nên anh rể mới gọi cho anh ta. Anh ta khao khát công việc đến mức chính mong muốn đó đã cản trở việc hoàn thành mục tiêu. Khi anh ta buông bỏ mong muốn có việc làm, công việc xuất hiện ngay trong vòng 24 giờ. Nhưng khuynh hướng của tâm trí là chối bỏ sức mạnh của chính mình và phóng chiếu nó ra thế giới bên ngoài. Đó là lý do vì sao người ta tự đánh giá mình là bất lực. Họ có sức mạnh đích thực, nhưng họ chỉ đơn thuần là phóng chiếu nó lên các thế lực bên ngoài. Chúng ta đều là những thực thể đầy sức mạnh, nhưng lại không ý thức được sức mạnh của chính mình; chúng ta phủ nhận và vì mặc cảm tội lỗi và cảm giác rằng mình là con người nhỏ bé chúng ta đổ lỗi cho người khác.

Phần lớn những sự kiện xảy ra trong cuộc đời chúng ta là kết quả của một số quyết định mà chúng ta đã đưa ra trong quá khứ, dù là có ý thức hay vô thức. Vì vậy, đơn giản là nhìn lại những quyết định trong quá khứ của chúng ta bằng cách nhìn vào cuộc đời mình và truy ngược lại.

Nguyên tắc này được minh họa bởi một người phụ nữ đến tìm kiếm liệu pháp tâm lý. Cô ta cần điều trị vì, theo lời cô ta: “Các mối quan hệ của tôi không bao giờ thành công.” Cô ấy trải qua hết mối tình không thỏa mãn này đến mối tình không thỏa mãn khác và luôn cảm thấy bị lợi dụng và ngược đãi. Lòng đầy oán hận, than thân trách phận và trầm cảm. Vấn đề, tất nhiên, đã được nêu rõ trong câu mở đầu của cô ấy: “Các mối quan hệ của tôi không bao giờ được như ý.”

Vì chúng ta phủ nhận sức mạnh đích thức của chính tâm trí mình, chúng ta không nhìn thấy điều hiển nhiên. Thật kỳ lạ là chúng ta lại trở thành người không tỉnh giác đền như thế. Đây là người phụ nữ có câu trả lời ngay trước mắt, nhưng cô ấy không nhận ra đó chính là câu trả lời. Cô ấy thực sự không thấy được sức mạnh của hệ thống niềm tin của chính mình. Tâm trí của chúng ta mạnh mẽ đến nỗi, nếu chúng ta lưu giữ trong tâm trí một suy nghĩ duy nhất, ví dụ như: “Các mối quan hệ của tôi không bao giờ được như ý,” thì điều đó rất có thể sẽ xảy ra trong cuộc đời chúng ta. “Thần đèn” vô thức của chúng ta, nó chỉ có thể nhận lệnh chứ không thể đưa ra quyết định, đảm bảo rằng các mối quan hệ của chúng ta sẽ không được như ý.

Tất nhiên, cô ấy đã nhận được rất nhiều phần thưởng từ lịch sử tình ái đáng thất vọng của mình. Cô ấy được trải nghiệm thái độ than thân trách phận, oán hận, ghen tị, đố kỵ và tất cả những sự thỏa mãn mà cái tôi nhỏ bé luôn luôn không ngừng nuôi dưỡng. Nếu chúng ta nhìn vào phần nhỏ bé của chính mình, chúng ta sẽ thấy rằng đây là những thứ mà nó thích đắm chìm vào. Tự ngã nhỏ bé rất hả hê trước cuộc đời khốn nạn, vận rủi, những trải nghiệm tồi tệ và người khác đã đối xử tệ bạc với chúng ta. Nhưng chúng ta phải trả giá rất đắt khi nghe theo những chương trình này.

Hệ quả tất yếu là đúng. Nếu tâm trí của chúng ta, bằng quyết định của nó, có quyền tạo ra những thứ tiêu cực trong cuộc đời, thì nó cũng có quyền lực tương đương như thế theo hướng ngược lại - tích cực. Chúng ta có thể lựa chọn lại từ đầu. Lần này chúng ta có thể chọn cái tích cực. Chúng ta có thể hủy bỏ những chương trình cũ, và chúng ta có thể làm điều đó bằng cách bắt đầu từ bỏ sự thỏa mãn mà chúng ta nhận được từ những kết quả tiêu cực.

Giờ đây, sau khi đã xem xét vấn đề này, chúng ta có thể có thuật ngữ mô tả chính xác nhất tập hợp những cảm xúc vừa nói: “ích kỷ”. Chỉ cần sử dụng từ này thì cũng đã ngay lập tức tạo ra phản kháng, đấy là do mặc cảm tội lỗi mà ra. Tất cả chúng ta đều có mặc cảm tội lỗi vì sự ích kỷ của mình. Điều này đẩy chúng ta vào thế tiến thoái lưỡng nan: để làm được những việc thế giới đã dạy, ta phải trở thành người ích kỷ — chính là cái mà sau đó thế giới lại dùng để chỉ trích ta. Trước khi xem xét chủ đề này, xin thống nhất một điều: chúng ta sẽ không tự hành hạ mình hay sa đà vào sự ủy mị của mặc cảm tội lỗi. Suy cho cùng, mặc cảm tội lỗi thực chất là một kiểu nuông chiều bản thân quá mức, có phải vậy không?

Thay vào đó, xin coi thuật ngữ “ích kỷ” chỉ đơn thuần là mô tả những động cơ và phương thức hoạt động mang tính tập thể của tự ngã nhỏ bé, một khía cạnh di truyền của tâm trí mà do sự ngây thơ của chính mình, chúng ta đã cho phép chính mình bị lập trình như thế, và giờ đây chúng ta quyết tâm quay ngược chương trình, giống như lệnh “gỡ cài đặt” trên máy tính.

Lý do để từ bỏ tính ích kỷ không phải vì mặc cảm tội lỗi. Không phải vì nó là “tội”. Không phải vì nó “sai”. Tất cả những động cơ đó đều xuất phát từ tâm thức thấp hơn và tự phán xét. Thay vào đó, lý do để buông bỏ tính ích kỷ đơn giản là vì nó là phương thức vận hành kém hiệu quả. Không hiệu quả. Quá tốn kém. Tiêu tốn quá nhiều năng lượng. Trì hoãn việc hoàn thành mục tiêu và hiện thực hóa mong muốn của chúng ta. Do bản chất của nó, tự ngã nhỏ bé là kẻ tạo ra mặc cảm tội lỗi và tự duy trì nó; nghĩa là, vì mặc cảm tội lỗi mà chúng ta cố gắng hoàn thành và đạt được thành công. Rồi khi có được thành công, chúng ta lại có mặc cảm tội lỗi vì mình đã thành công. Không có cách nào thắng được trò chơi mặc cảm tội lỗi. Giải pháp duy nhất là từ bỏ nó, buông bỏ nó.

Tâm trí muốn chúng ta nghĩ rằng mặc cảm tội lỗi là đáng khen ngợi, và những kẻ gieo rắc mặc cảm tội lỗi trên thế giới thích tôn thờ nó. Cái gì quan trọng hơn: có mặc cảm tội lỗi hay thay đổi để trở thành người tốt hơn? Nếu người nào đó nợ chúng ta tiền, chúng ta muốn họ có mặc cảm tội lỗi hay muốn họ trả tiền cho chúng ta? Nếu chúng ta có ý định có mặc cảm tội lỗi, ít nhất chúng ta nên chủ động lựa chọn thái độ đó thay vì bị nó chi phối một cách vô thức.

Khi vượt qua được thói ích kỷ tầm thường để hướng tới Đại Ngã với chữ S viết hoa, ta cũng đồng thời dịch chuyển từ tự ngã nhỏ bé sang Đại ngã Lớn hơn. Đó là hành trình đi từ yếu kém đến sức mạnh đích thực, từ tự căm ghét chính mình và tự ti sang yêu thương và hài hòa. Chúng ta chuyển từ xung đột sang dễ chịu, từ thất vọng sang thành tựu.

Tóm lại, thay vì vận hành bằng động cơ ích kỷ và ham muốn, chúng ta có thể đưa những điều mình mong muốn vào cuộc đời một cách nhẹ nhàng hơn: hình dung về kết quả mà mình mong muốn. Chúng ta làm việc này bằng cách tuyên bố ý định, chấp nhận, quyết định và bằng hành động lựa chọn một cách có ý thức.


June 30, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (7)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 


CHƯƠNG 6 

SỢ HÃI 

Tất cả chúng ta đều biết sợ hãi với nhiều khía cạnh khác nhau của nó. Chúng ta từng cảm thấy lo lắng và hoảng loạn mà không rõ nguyên nhân. Chúng ta bị tê liệt và bất động trước sợ hãi, kèm theo là tim đập nhanh và lo lắng. Lo lắng là sợ hãi mãn tính. Hoang tưởng là mức độ cực đoan của nó. Ở những hình thức nhẹ hơn, chúng ta chỉ cảm thấy bồn chồn. Khi nghiêm trọng hơn, chúng ta cảm thấy sợ hãi, thận trọng, bế tắc, căng thẳng, nhút nhát, không nói nên lời, mê tín, phòng thủ, không tin, bị đe dọa, bất an, kinh hãi, nghi ngờ, rụt rè, bị mắc kẹt, mặc cảm tội lỗi và sợ hãi khi đứng trước đám đông. Có sợ đau đớn và sợ khổ, sợ sống, sợ yêu, sợ gần gũi, sợ bị từ chối, sợ thất bại, sợ Thiên Chúa, sợ địa ngục, sợ bị đọa đày, sợ nghèo đói, sợ bị chế giễu và chỉ trích, sợ bị mắc kẹt, sợ không đủ năng lực, sợ nguy hiểm, sợ bị phản đối, sợ buồn chán, sợ trách nhiệm, sợ phải quyết định, sợ quyền lực, sợ hình phạt, sợ thay đổi, sợ mất an ninh, sợ bạo lực, sợ mất kiểm soát, sợ chính cảm thọ về chúng, sợ bị thao túng, sợ bị phát hiện, sợ độ cao, sợ tình dục, sợ phải sống một mình và chịu trách nhiệm, và sợ chính sợ hãi.

Hơn nữa, còn một nguyên nhân làm cho ta sợ, nhưng mà nhiều người không nhận thức được: sợ bị trả thù. Nỗi sợ này nảy sinh từ mong muốn phản công, đánh trả, và tấn công. Khi buông bỏ sợ hãi, chúng ta nhận ra rằng đằng sau nó thường là thái độ tức giận đối với chính đối tượng làm cho ta sợ. Sẵn sàng buông bỏ sợ hãi và vượt qua nó đưa chúng ta lên tầng tiếp theo, đó là tức giận. Việc chúng ta có thể đối mặt với sự kết hợp giữa cảm thọ sợ hãi/tức giận và buông bỏ nó ngay lập tức đưa chúng ta lên tầng tự hào và can đảm. 

Sợ nói trước công chúng

Một thí nghiệm tuyệt vời là buông bỏ sợ hãi chính sợ hãi. Khi ngừng sợ hãi chính sợ hãi, chúng ta nhận thấy rằng nó chỉ là một cảm thọ. Trên thực tế, sợ hãi dễ chịu hơn hẳn trầm cảm. Đáng ngạc nhiên là, với một người đang bị trầm cảm nặng nề, sợ hãi tái xuất hiện lại là đáng mừng. Thà cảm thấy sợ hãi còn hơn là hoàn toàn tuyệt vọng.

Muốn hiểu sợ hãi tự củng cố như thế nào, chúng ta phải dừng lại và xem xét một trong những quy luật khác của tâm thức: Những gì ta lưu giữ trong tâm trí đều có xu hướng tự hiển lộ. Có nghĩa là chúng ta liên tục giữ trong tâm trí và liên tục dành năng lượng cho bất kỳ suy nghĩ nào, thì nó sẽ có xu hướng xuất hiện trong cuộc sống của chúng ta đúng như hình thức mà tâm trí chúng ta đã lưu giữ nó. Do đó, sợ hãi sinh ra những suy nghĩ đầy sợ hãi. Chúng ta càng lưu giữ những suy nghĩ này trong tâm trí, thì sự kiện đáng sợ càng có nhiều khả năng xảy ra trong cuộc sống của chúng ta, hiện tượng này lại càng củng cố sợ hãi của chúng ta.

Khi còn là bác sĩ thực tập, tôi từng sợ nói trước công chúng. Chỉ cần nghĩ đến việc phải đứng trước các đồng nghiệp để trình bày về một trường hợp cụ thể, là giọng nói của tôi lại run lên vì sợ hãi. Vì có sợ hãi như thế, tình huống không thể tránh khỏi là tôi phải trình bày phác đồ điều trị trong cuộc họp. Sau khi đọc vài đoạn bệnh án, giọng tôi bắt đầu run, yếu dần và cuối cùng là tắt hẳn. Chính sợ hãi được lưu giữ trong tâm trí đã hiển lộ và tất nhiên, sự kiện này càng củng cố cảm giác sợ nói trước công chúng và làm cho tôi thờ ơ trước việc nói trước đám đông. Từ đó về sau, trong suốt nhiều năm, hệ thống niềm tin có tính hạn chế này đã hoạt động: “Tôi không thể nói trước công chúng. Tôi không phải là người biết diễn thuyết trước công chúng.” Tôi né tránh tất cả các cơ hội nói trước công chúng, kết quả là tôi mất tự tin, né tránh các hoạt động và các mục tiêu trong sự nghiệp bị hạn chế.

Cùng với thời gian, sợ hãi chuyển sang hình thức khác. Hệ thống niềm tin của tôi lúc đó là: “Tôi không muốn nói, vì tôi có thể là một diễn giả kém cói và làm cho người ta chán.” Cuối cùng, có lần tôi phải phát biểu trong một cuộc họp đông người. Đó là cơ hội để ngồi xuống và tìm can đảm để đối mặt với sợ hãi. Cuộc đối thoại bên trong: “Cái xấu nhất có thể xảy ra là gì? Vâng, anh có thể sẽ làm cho mọi người cực kỳ chán nản.” Nó làm cho tôi nhớ lại tất cả những bài diễn văn chán ngắt của những người khác, và sau đó tôi có thể chấp nhận là những bài diễn văn chán ngắt thực ra là phổ biến và chắc chắn đấy không phải là ngày tận thế. Tôi đã buông bỏ thái độ kiêu hãnh và phù phiếm đằng sau sợ hãi đó. Đúng thế, có thể bài diễn văn sẽ cực kỳ nhàm chán.

Cuối cùng, ngày định mệnh cũng đã tới. Bài phát biểu đã được viết ra giấy, chỉ cần đọc nữa là xong. Đúng là thuyết trình ứng khẩu thì sẽ thú vị hơn, nhưng tôi thừa nhận và chấp nhận rằng mình sợ, vì vậy, tôi đã viết sẵn bài phát biểu. Giây phút bước lên bục cũng đã tới. Dù sợ hãi và đọc bằng giọng đều đều, nhưng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Sau đó, một vài người bạn nói: “Về mặt kỹ thuật, bài phát biểu khá hay đấy, nhưng nghe chán quá.” Tuy nhiên, chính tôi lại không quan tâm; tôi vui mừng vì đã có đủ can đảm và chấp nhận đối mặt với tình huống đó và đã thực sự làm được việc này. Người ta chán không phải là quan trọng. Quan trọng là tôi đã làm được. Lòng tự trọng tăng lên vì đã vượt qua được sợ hãi và rụt rè, và tôi không còn phải né tránh các buổi thuyết trình nữa. Thực tế, phương pháp này được hình thành bằng cách bắt đầu tất cả các bài thuyết trình với lời cảnh báo dành cho cử toạ: “Tôi là một trong những diễn giả nhàm chán nhất và thực tế là tôi có thể khá tẻ nhạt.” Đáng ngạc nhiên là câu này lại làm cho cử toạ bật cười. Tiếng cười của cử toạ thể hiện chấp nhận tính nhân văn mà tất cả chúng ta đều có, và do đó, xua tan được sợ hãi.

Cũng phát hiện được rằng hài hước rất có giá trị trong khi diễn thuyết trước công chúng. Đó là một cách để hòa mình vào tính nhân văn của cử toạ và khám phá lòng trắc ẩn của họ. Một khi kết nối với họ bằng lòng trắc ẩn, chúng ta có thể cảm nhận được sự khích lệ khi họ cổ vũ chúng ta. Chúng ta yêu mến họ vì họ làm cho chúng ta bớt sợ và chấp nhận chúng ta, và họ cũng yêu mến chúng ta vì chúng ta đã làm chính cái mà họ sợ. Khi quá trình thăng lên qua các tầng cảm xúc này diễn ra, thì diễn thuyết trước công chúng trở thành thú vị hơn. Chúng ta nhận ra rằng một phần của tâm trí có thể là khá hài hước mỗi khi có cơ hội.

Cuối cùng, sau khi đã hoàn toàn buông bỏ, không cần đọc bài phát biểu đã chuẩn bị trước nữa và phát biểu trở thành ngẫu hứng. Với nhiều kinh nghiệm hơn, khả năng nói trước công chúng được cải thiện, được nhiều nơi mời thuyết trình hơn. Tạo điều kiện hoàn thành nhiều mục tiêu nghề nghiệp mà trước đây từng bị cản trở. Có những lần xuất hiện trên các phương tiện truyền thông quốc gia, ví dụ như các chương trình trò chuyện trên truyền hình. Từ chỗ quá sợ hãi đến nỗi không dám đọc bệnh án trước mặt một vài thực tập sinh, đến việc tự tin nói chuyện trên truyền hình trước hàng triệu người xem trong chương trình The Barbara Walter’s Show là một bước tiến lớn.

Tất cả chúng ta đều thu được lợi ích to lớn nếu giải thoát được chính mình, không để sợ hãi kìm hãm thì hoạt động sẽ hiệu quả hơn, vì quá trình học hỏi tự động lan sang nhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống. Chúng ta trở thành người có năng lực hơn, tự do hơn và hạnh phúc hơn, và cùng với đó là an bình ở bên trong. 

Tác dụng chữa lành của yêu thương

Trong xã hội của chúng ta, sợ hãi lan tràn như đại dịch, đến mức nó trở thành cảm xúc chi phối chủ đạo trên thế giới. Sợ hãi cũng là cảm xúc chủ đạo trong hàng nghìn bệnh nhân được điều trị trong nhiều thập kỷ thực hành lâm sàng (của tôi). Sợ hãi lan rộng và có nhiều hình thức đến mức cuốn sách này không thể liệt kê hết tất cả các hình thức muôn hình vạn trạng của nó.

Sợ hãi liên kết với sự sống còn của chúng ta, và vì vậy nó có vị trí đặc biệt trong tâm trí của chúng ta. Đối với hầu hết mọi người, sợ hãi bao trùm đến mức cuộc sống của họ thực sự là một chuỗi các cơ chế bù trừ khổng lồ để chế ngự sợ hãi. Tuy nhiên, ngay cả như thế cũng không đủ, vì vậy, các phương tiện truyền thông liên tục đưa ra cho chúng ta những tình huống đáng sợ, như trong bản tin sáng nay: “Nhóm khủng bố đe dọa đầu độc nguồn cung cấp thực phẩm của chúng ta.” Những tiêu đề như vậy xuất hiện liên tục, như thể để cho tâm trí có thêm cơ hội chế ngự cảm xúc đáng sợ nhất trong tất cả các cảm xúc. Như lời một bài hát: “Chúng ta bị mắc kẹt giữa sợ sống và sợ chết.”

Khi tất cả các cơ chế bù trừ của tâm trí thất bại và sợ hãi bộc lộ trong tâm thức dưới dạng lo âu hoặc ám ảnh sợ hãi, được chẩn đoán mắc chứng rối loạn thần kinh lo âu. Đáng chú ý là thuốc an thần Valium là loại thuốc bán chạy nhất ở Mỹ.

Sợ hãi có xu hướng leo thang. Do đó, bệnh nhân mắc chứng ám ảnh sợ hãi thể hiện sợ hãi ngày càng lan rộng sang nhiều khía cạnh của cuộc sống, kết quả là lĩnh vực hoạt động ngày càng thu hẹp hơn, và trong trường hợp nghiêm trọng, hoàn toàn bất động. Đây là trường hợp của bệnh nhân tên là Betty.

Betty 34 tuổi, nhưng trông già hơn hẳn, vì cô gầy và xanh xao. Cô bước vào phòng khám với hai tay cầm rất nhiều túi giấy, sau đó người ta phát hiện bên trong có 56 chai thuốc khác nhau mua ở cửa hàng dược phẩm, vitamin, thực phẩm bổ sung, cùng với một vài túi thức ăn đặc biệt. Cô ta bắt đầu từ việc sợ vi trùng, và chẳng mấy chốc mọi thứ xung quanh cô dường như đều có thể bị nhiễm khuẩn. Cô ta có nhiều sợ hãi về sức khỏe, sợ mắc các bệnh truyền nhiễm, và giờ đây đã tiến triển thành sợ ung thư. Cô ta tin vào tất cả các câu chuyện có tính hù dọa mà cô từng đọc, vì vậy cô sợ gần như mọi loại thức ăn, không khí mà cô hít thở, và cả việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Cô ta mặc quần áo trắng vì sợ thuốc nhuộm vải.

Trong văn phòng, cô không bao giờ ngồi vì sợ ghế bẩn. Mỗi khi cần đơn thuốc, cô đều yêu cầu viết từ giữa tập giấy kê đơn, tức là phần chưa ai chạm tay vào. Hơn nữa, cô muốn tự mình xé giấy; cô không muốn tôi chạm vào vì có thể tôi đã bị nhiễm khuẩn do đã bắt tay với bệnh nhân trước đó. Cô luôn luôn đeo găng tay trắng. Cô yêu cầu được điều trị qua điện thoại vì sợ phải đến văn phòng một lần nữa.

Tuần sau, cô nói qua điện thoại rằng sợ phải thức dậy. Cô ấy gọi điện từ nhà khi vẫn nằm trên giường vì giờ cô ấy sợ phải đi ra ngoài đường. Lúc này cô ấy bắt đàu sợ những kẻ cướp giật, hiếp dâm và ô nhiễm không khí. Đồng thời, cô ta sợ phải nằm trên giường ở nhà vì sợ rằng tình trạng của mình sẽ tồi tệ thêm và, để làm tăng thêm tất cả những sợ hãi khác, cô ta sợ rằng mình đang mất trí. Cô ấy sợ rằng thuốc sẽ không giúp được gì và có thể gây ra tác dụng phụ, nhưng cô ấy lại sợ không uống thuốc vì sợ rằng mình sẽ không khoẻ lên được. Giờ đây, cô ấy nói rằng sợ mình có thể bị nghẹn thuốc và đã ngừng uống cả thuốc thông thường, chứ chưa nói đến thuốc theo đơn.

Sự sợ hãi của cô ấy làm tê liệt đến mức tất cả các biện pháp điều trị đều bị đình trệ hoàn toàn. Cô ấy không cho tôi nói chuyện với gia đình mình. Cô ấy sợ rằng họ sẽ phát hiện ra rằng cô ấy đang gặp bác sĩ tâm thần và nghĩ rằng cô ấy bị điên. Tôi hoàn toàn bối rối và vắt óc suy nghĩ hàng tuần lễ về biện pháp mà tôi có thể giúp cô ta. Cuối cùng, tôi buông bỏ. Tôi trải nghiệm sự nhẹ nhõm của việc phó thác, khi tôi hoàn toàn thôi cưỡng cầu: “Tôi thực sự không thể làm gì hơn để giúp cô ấy. Điều duy nhất còn lại là cứ yêu thương cô ấy thôi”.

Và, đó là những việc tôi đã làm. Tôi chỉ nghĩ về cô ấy với tình yêu thương, và thường xuyên gửi cho cô ấy những suy nghĩ yêu thương. Tôi dành cho cô ấy nhiều tình yêu thương nhất có thể khi chúng tôi nói chuyện qua điện thoại và cuối cùng, sau vài tháng “trị liệu bằng tình yêu”, cô ấy đã có đủ sức khỏe để đến văn phòng. Cùng với thời gian, cô ấy đã khá lên, sợ hãi cùng với những mặc cảm bắt đầu giảm dần, mặc dù cô ấy chưa bao giờ có bất kỳ tuệ giác nào. Cô ấy nói rằng mình rất sợ khi nói về các vấn đề tâm lý, và vì vậy, trong suốt những tháng và cuối cùng là nhiều năm điều trị, điều duy nhất tôi làm là yêu thương cô ấy.

Trường hợp này minh họa cho khái niệm mà chúng tôi đã bàn trong chương nói về thờ ơ; tức là, một rung động cao hơn, chẳng hạn như tình yêu, có tác dụng chữa lành đối với rung động thấp hơn, chẳng hạn như trong trường hợp của bệnh nhân này, đó là sợ hãi. Tình yêu là cơ chế của trấn an, và chúng ta có thể xoa dịu sợ hãi của người khác chỉ bằng cách ở bên cạnh họ, và bằng năng lượng yêu thương mà chúng ta phóng chiếu ra và bao quanh họ. Không phải những điều chúng ta nói, mà chính sự có mặt của chúng ta mới có tác dụng chữa lành.

Chúng ta có thể học một trong những quy luật khác của tâm thức: Sợ được chữa lành bởi tình yêu. Đây là chủ đề trung tâm của loạt sách của bác sĩ tâm thần Jerry Jampolsky (ví dụ: Love is Letting Go of Fear - Tình yêu là buông bỏ sợ hãi). Đây cũng là nền tảng của quá trình chữa lành ở Trung tâm Chữa lành Thái độ (Attitudinal Healing Center) ở Manhasset, Long Island, nơi tôi là người đồng sáng lập và cố vấn về y tế. Chữa lành thái độ liên quan đến quá trình tương tác nhóm với những bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo và nguy kịch, và toàn bộ quá trình chữa lành là buông bỏ sợ hãi và thay thế nó bằng yêu thương.

Cơ chế chữa lành như thế cũng được thể hiện bởi các vị thánh vĩ đại và những người chữa lành đã chứng ngộ - chính sự hiện diện của họ đã có sức mạnh chữa lành, vì rung động mãnh liệt của tình yêu mà họ tỏa ra. Sức mạnh chữa lành—nền tảng của chữa lành tâm linh—cũng được truyền tải bởi những suy nghĩ yêu thương. Vô số người trong suốt chiếu dài của lịch sử thành văn được chữa lành bằng chính tình yêu đã trở thành huyền thoại. Ví dụ, trong lịch sử gần đây, Mẹ Teresa được ghi nhận là đã chữa lành cho rất nhiều người bằng chính những cơ chế của yêu thương vô điều kiện và sự hiện diện của một người đã chứng ngộ như Bà. Đối với những người không quen với các quy luật của tâm thức, kiểu chữa lành này dường như là kỳ diệu. Nhưng đối với những người đã làm quen với các quy luật của tâm thức, những hiện tượng như vậy là bình thường và có thể dự đoán được. Tầng tâm thức cao tự nó có khả năng chữa lành, chuyển hóa và soi sáng cho những người khác. Giá trị của cơ chế buông bỏ là, bằng cách buông bỏ những rào cản đối với tình yêu, khả năng yêu thương của chúng ta tăng lên từng bước một, và năng lượng yêu thương có khả năng chữa lành chính chúng ta cũng như chữa lành những người khác.

Nhược điểm duy nhất của những phương pháp chữa lành này là, thường thì chữa lành chỉ được duy trì khi ở gần người có khả năng tỏa ra yêu thương ở tầng cao, nhưng bệnh sẽ tái phát khi người ta ra khỏi sự hiện diện đó, trừ khi chính họ đã học cách nâng cao tâm thức của chính mình.

“Vậy,” bạn có thể hỏi, “nếu việc gửi những suy nghĩ yêu thương có sức mạnh chữa lành, tại sao chúng ta lại thấy rất nhiều người bệnh trong bệnh viện, mà gia đình họ lại rất ân cần? Tại sao tình yêu của gia đình lại không chữa lành được bệnh nhân?” Câu trả lời là hãy xem xét những loại suy nghĩ mà gia đình đang gửi đến bệnh nhân. Khi bạn xem xét, bạn sẽ thấy rằng đấy chủ yếu là những suy nghĩ đầy đau khổ và sợ hãi, kèm theo mặc cảm tội lỗi và giằng co trong tâm thức.

Chúng ta có thể hình dung tình yêu giống như ánh nắng mặt trời và những suy nghĩ tiêu cực giống như những đám mây. Trong khi Đại Ngã cao hơn, vĩ đại hơn của chúng ta giống như mặt trời, tất cả những suy nghĩ tiêu cực, nghi ngờ, sợ hãi, tức giận và oán hận mà chúng ta lưu giữ làm lu mờ ánh sáng mặt trời và cuối cùng, ánh sáng chỉ còn rất yếu. Chính Chúa Jesus Christ đã nói rằng tất cả chúng ta, với đức tin, đều có khả năng có sức mạnh chữa lành. Một vị thánh, hay người có tầng tâm thức cao, theo định nghĩa, là người đã gỡ bỏ được những đám mây tiêu cực và tỏa ra sức mạnh chữa lành trọn vẹn của mặt trời. Đó cũng là lý do vì sao những người thánh thiện lại có sức cuốn hút mạnh mẽ đến mức họ thu hút vô số người đến với sự hiện diện vật lý của mình. Ví dụ, khi Sri Ramana Maharshi, một vị thánh Ấn Độ đã quá cố tổ chức sinh nhật, 25.000 người đã đứng dưới cái nắng nhiệt đới oi bức, vai kề vai thành một khối thống nhất để tôn vinh sự hiện diện của ông và chúc ông những điều tốt lành.

Khi chúng ta liên tục buông bỏ kháng sự lại sợ hãi của mình và cho phép chúng được buông bỏ, năng lượng bị ràng buộc trong sợ hãi sẽ được giải phóng và lúc này trở thành sẵn sàng để tỏa sáng như là năng lượng của tình yêu. Do đó, yêu thương vô điều kiện có sức mạnh lớn nhất, và tình yêu đó là sức mạnh của những vị thánh đã được tôn vinh. Yêu thương vô điều kiện cũng là sức mạnh của các bà mẹ và các ông bố, sự hiện diện của họ là rất cần thiết cho việc trẻ em học cách yêu thương khi chúng lớn lên. Sigmund Freud từng nhận xét rằng điều may mắn nhất có thể xảy ra với chúng ta khi lớn lên là được làm con cưng của mẹ.

Còn những người không có may mắn được trải nghiệm cảm giác được bao bọc trong tình yêu vô điều kiện trong khi đang lớn lên thì sao? Nhiều người tin rằng nếu không có trải nghiệm này, thì bằng cách nào đó chúng ta sẽ bị tổn thương hoặc tàn phế suốt đời; thực tế, quan niệm này không đúng. Một người đã trải nghiệm nhiều tình yêu thương trong những năm đầu đời sẽ ít sợ hãi hơn và có lợi thế hơn, nhưng yêu thương là có sẵn trong mỗi chúng ta. Vì chính bản chất của tồn tại và bản chất của năng lượng sống chảy qua chúng ta và cho phép chúng ta thở và suy nghĩ, cho nên tất cả chúng ta đều có cùng một tầng năng lượng rung động của tình yêu bên trong chính mình.

Nếu, khi nhìn vào chính mình, chúng ta thấy rằng mình đã để cho trải nghiệm về bản chất của chính mình bị chặn lại bởi những sợ hãi quá lớn, thì chúng ta có thể khám phá lại tình yêu bên trong con người mình bằng cách sử dụng cơ chế buông bỏ và, do đó, buông bỏ những đám mây tiêu cực. Bằng cách khám phá lại tình yêu nội tâm này, chúng ta khám phá lại cội nguồn hạnh phúc đích thực. 

Thu hồi “Bóng tối” (Shadow)

Một trong những rào cản đối với quá trình phát triển cảm xúc là sợ hãi về những gì được chôn sâu trong vô thức của chúng ta. Carl Jung gọi khu vực này, mà chúng ta không muốn nhìn nhận và thu hồi, là “bóng tối”. Ông nói rằng tự ngã không thể được chữa lành và trọn vẹn trừ khi chúng ta nhìn vào và thừa nhận bóng tối. Có nghĩa là ẩn sâu bên trong mỗi chúng ta, trong cái mà Jung gọi là “vô thức tập thể[i]”, là tất cả những gì chúng ta không muốn thừa nhận nhất về chính mình. Ông nói rằng, người bình thường phóng chiếu bóng tối của mình ra thế giới và lên án nó, coi nó là cái ác, nghĩ rằng vấn đề của họ là phải chiến đấu với cái ác trên thế gian này. Trên thực tế, vấn đề chỉ đơn giản là thừa nhận sự hiện diện của những suy nghĩ và xung động đó bên trong chúng ta. Bằng cách thừa nhận những suy nghĩ và xung động, chúng sẽ trở thành tĩnh lặng. Khi đã tĩnh lặng, chúng sẽ không còn điều khiển chúng ta theo lối vô thức nữa.  

Khi nhìn vào sợ hãi về những điều chưa biết, thực chất là sợ hãi về những gì nằm sâu trong vô thức, lúc này khiếu hài hước là rất hữu ích. Một khi đã nhìn vào và thừa nhận, bóng tối không còn sức mạnh nữa. Thực tế, chính sợ hãi trước những suy nghĩ và xung động đó mới ban cho chúng sức mạnh. Một khi đã quen với bóng tối của mình, chúng ta không còn phải phóng chiếu nỗi sợ của mình ra thế giới nữa, và chúng bắt đầu tan biến nhanh chóng.

Điều gì khiến những chương trình truyền hình bất tận — xoay quanh bạo loạn và những hình thức khác nhau của nó — lại có sức hấp dẫn đến như thế? Đó là do những thứ đang được chiếu trên màn ảnh — nơi an toàn — chính là toàn bộ những tưởng tượng vô thức bị cấm đoán trong chính tâm hồn của chúng ta. Khi ta sẵn sàng nhìn vào những “bộ phim” ấy ngay trên màn hình của chính tâm trí mình, và thấy rõ chúng thực sự bắt nguồn từ đâu, sức hấp dẫn của loại “giải trí” này tự nhiên biến mất. Những người đã nhận diện và chấp nhận nội dung trong phần “bóng tối” của chính mình sẽ không còn hứng thú với tội phạm, bạo lực hay những thảm họa làm người ta sợ hãi nữa.

Một trong những rào cản, ngăn chặn ta làm quen với những nỗi sợ trong chính tâm trí mình là sợ dư luận. Khao khát được người khác chấp thuận diễn ra bên trong tâm trí ta như dòng tưởng tưởng không bao giờ dứt. Ta đồng nhất mình với ý kiến của người khác, bao gồm cả các hình tượng quyền uy, rồi hợp nhất chúng lại theo cách khiến ta nghe thấy chúng như thể đó là ý kiến của mình về chính mình.

Khi nhìn vào sợ hãi, cần nhớ là Carl Jung đã thấy “kho chứa” những điều bị cấm đoán này nằm trong phần bóng tối như một phần của vô thức tập thể. Thuật ngữ “vô thức tập thể” có nghĩa là ai cũng có những ý nghĩ và tưởng tượng như vậy. Không có gì là riêng biệt nơi mỗi chúng ta khi nói đến cách ta biểu tượng hóa cảm xúc của mình. Ai cũng, một cách thầm kín, sợ rằng mình là người ngu ngốc, xấu xí, không đáng được yêu thương, và là người thất bại.

Vô thức không lịch sự. Nó suy nghĩ bằng những khái niệm thô thiển. Khi nó nghĩ đến cụm từ “Giết chết tên vô dụng kia!”, vô thức thực sự muốn nói như thế. Hãy nhìn sâu vào bên trong chính mình lần tới khi ai đó cắt ngang ngay trước mặt bạn, và hình dung xem bạn thực sự sẽ làm gì với người đó nếu bạn thành thật với chính mình và không kiểm duyệt hình ảnh đang hiện lên trong tâm trí. Bạn muốn tông họ văng ra khỏi đường đi, phải thế không? Nghiền nát chúng. Đẩy chúng xuống vực. Phải thế không? Đó là cách vô thức suy nghĩ.

Lý do mà khiếu hài hước trở thành hữu ích là do, khi nhìn vào những hình ảnh này, chúng trở thành buồn cười. Không có gì khủng khiếp hết; đó chỉ là cách vô thức xử lý hình ảnh. Không có nghĩa là bạn là một người xấu xa hay bạn có khả năng trở thành tội phạm. Nó chỉ có nghĩa là bạn đã thành thật và đối mặt với cách thức hoạt động của tâm trí động vật trong chiều không gian này. Không có ích gì khi trở nên kịch tính, tự chỉ trích hay bi thảm về việc đó. Vô thức thô thiển và chưa được khai hoá. Trong khi trí tuệ của bạn đi học lớp vỡ lòng, thì vô thức của bạn vẫn ở trong rừng rậm, nơi nó vẫn đang đu đưa trên cành cây! Nhìn vào bóng tối không phải là lúc để trở thành kiểu cách hay khó chịu. Cũng không phải là lúc để hiểu theo nghĩa đen, bởi vì các biểu tượng của vô thức chỉ là như thế: chúng là biểu tượng, và bản chất của chúng là nguyên thủy. Nếu sử dụng một cách có ý thức, chúng có thể giúp chúng ta mạnh mẽ hơn thay vì cản trở chúng ta.

Cần rất nhiều năng lượng để giữ bóng tối đã bị chôn vùi và kìm nén vô số sợ hãi của chúng ta. Kết quả là năng lượng bị cạn kiệt. Ở tầng cảm xúc, điều này được thể hiện như là ức chế khả năng yêu thương.

Trong thế giới tâm thức, đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, vì vậy sợ hãi thu hút sợ hãi, cũng như ngược lại là, tình yêu thu hút tình yêu. Chúng ta càng lưu giữ nhiều sợ hãi, thì chúng ta càng thu hút nhiều tình huống đáng sợ vào đời sống của mình. Mỗi sợ hãi đều đòi hỏi thêm năng lượng để tạo ra cơ chế bảo vệ cho đến khi cuối cùng, tất cả năng lượng của chúng ta bị đưa hết vào các biện pháp phòng thủ rộng lớn của mình. Sẵn sàng đối mặt với sợ hãi và làm việc với nó cho đến khi thoát khỏi nó sẽ mang lại phần thưởng ngay lập tức.

Mỗi người đều có một bể sợ hãi bị kìm nén và đè nén. Bể sợ hãi này tràn vào tất cả các lĩnh vực trong đời sống của chúng ta, tô màu tất cả các trải nghiệm của chúng ta, làm giảm niềm vui và phản ánh chính nó trong các cơ trên khuôn mặt, ảnh hưởng đến ngoại hình, sức mạnh thể chất và tình trạng sức khỏe của tất cả các cơ quan trong cơ thể. Sợ hãi kéo dài và mãn tính dần dần làm suy yếu hệ thống miễn dịch của cơ thể. Với phương pháp kiểm tra cơ thể động học, có thể chứng minh ngay lập tức rằng, một suy nghĩ sợ hãi gây ra suy giảm đáng kể sức mạnh cơ bắp và làm rối loạn dòng năng lượng chảy qua các kinh mạch năng lượng tới các cơ quan quan trọng. Mặc dù chúng ta biết rằng nó hoàn toàn gây hại cho các mối quan hệ, sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta, chúng ta vẫn bám víu vào sợ hãi. Tại sao lại như thế?

Chúng ta có những tưởng tượng vô thức rằng sợ hãi đang giữ cho chúng ta sống; đấy là do sợ hãi gắn liền với toàn bộ cơ chế sinh tồn của chúng ta. Chúng ta có ý nghĩ rằng, nếu chúng ta buông bỏ sợ hãi, cơ chế phòng vệ chính của chúng ta, chúng ta sẽ trở thành dễ bị tổn thương theo một cách nào đó. Trên thực tế, sự thật hoàn toàn ngược lại. Sợ hãi là thứ làm cho chúng ta mù quáng trước những nguy hiểm thực sự. Trên thực tế, chính sợ hãi là nguy hiểm lớn nhất mà cơ thể con người phải đối mặt. Chính sợ hãi và mặc cảm tội lỗi mang tới bệnh tật và thất bại trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Chúng ta có thể thực hiện những hành động bảo vệ tương tự xuất phát từ yêu thương chứ không phải từ sợ hãi. Chẳng lẽ chúng ta không thể chăm sóc cơ thể mình vì trân trọng và coi trọng nó, thay vì sợ bệnh và chết? Chẳng lẽ chúng ta không thể phục vụ người khác vì yêu thương, thay vì sợ mất họ? Chẳng lẽ chúng ta không thể lịch sự và nhã nhặn với người lạ vì quan tâm đến đồng loại, thay vì sợ đánh mất thiện cảm của họ? Chẳng lẽ chúng ta không thể làm tốt công việc vì quan tâm đến chất lượng công việc và đồng nghiệp? Chẳng lẽ chúng ta không thể làm tốt công việc vì quan tâm đến người nhận dịch vụ của mình, thay vì chỉ sợ mất việc hoặc theo đuổi tham vọng cá nhân? Chẳng lẽ chúng ta không thể đạt được nhiều hơn bằng cách hợp tác, thay vì cạnh tranh đầy sợ hãi? Chẳng lẽ chúng ta không thể lái xe cẩn thận vì tự trọng và quan tâm đến sức khỏe của chính mình và những người yêu thương mình, thay vì sợ tai nạn? Xét về mặt tâm linh, chẳng phải sẽ hiệu quả hơn nếu xuất phát từ tâm từ bi và đồng cảm với đồng loại, chúng ta quan tâm đến họ, thay vì cố gắng yêu thương họ vì sợ Chúa trừng phạt nếu không làm như thế? 

Mặc cảm tội lỗi

Một hình thức sợ hãi đặc biệt là cái mà chúng tôi gọi là mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm tội lỗi luôn gắn liền với cảm giác sai trái và khả năng bị trừng phạt, dù là thực tế hay chỉ là tưởng tượng. Nếu không có trừng phạt nào xảy ra trong thế giới bên ngoài, nó sẽ biểu hiện dưới dạng tự trừng phạt ở tầng cảm xúc. Mặc cảm tội lỗi đi kèm với tất cả các cảm xúc tiêu cực, và do đó, ở đâu có sợ hãi, ở đó có mặc cảm tội lỗi. Nếu bạn có một ý nghĩ tội lỗi và nhờ ai đó kiểm tra sức mạnh cơ bắp của mình, bạn sẽ thấy cơ bắp ngay lập tức yếu đi. Bán cầu não của bạn đã bị mất đồng bộ và tất cả các kinh mạch năng lượng của bạn đều bị mất cân bằng. Do đó, tự nhiên nói rằng mặc cảm tội lỗi là có tính phá hoại.

Nếu mặc cảm tội lỗi có tính phá hoại như thế, thì tại sao lại có những lời ca ngợi dành cho nó? Tại sao những người được gọi là chuyên gia lại coi mặc cảm tội lỗi là có lợi? Ví dụ, một bác sĩ tâm thần từng viết một bài báo trên tạp chí ca ngợi mặc cảm tội lỗi, tuyên bố: “Mặc cảm tội lỗi là tốt cho bạn.” Sau đó, ông bổ sung thêm vào tuyên bố này bằng cụm từ “mặc cảm tội lỗi thích hợp.” Xin cùng xem mặc cảm tội lỗi thực sự là gì và xem liệu chúng ta có đồng ý hay không.

Khi băng qua đường, bạn nhìn cả hai hướng để xem có xe nào đang đến hay không. Thái độ cảnh giác bắt nguồn từ đâu? Khi còn nhỏ, bạn được dạy rằng băng qua đường là “xấu”. Như vậy, chúng ta thấy rằng mặc cảm tội lỗi thực sự là sự thay thế cho nhận thức về thực tại trong một tâm trí chưa phát triển, chẳng hạn như của một đứa trẻ. Đó là một hành vi được học hỏi, được cho là thực dụng: để ngăn ngừa sai lầm tiếp theo hoặc lặp lại sai lầm. 99% mặc cảm tội lỗi không liên quan gì với thực tại. Trên thực tế, những người ngoan đạo, hiền lành và vô hại nhất thường bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm tội lỗi thực chất là tự lên án và tự phủ nhận giá trị của bản thân mình như một con người.

Mặc cảm tội lỗi cũng phổ biến như sợ hãi, và chúng ta cảm thấy mặc cảm tội lỗi dù chúng ta đang làm gì thì cũng thế. Một phần trong tâm trí chúng ta nói rằng chúng ta thực sự nên làm việc gì đó khác. Hoặc, dù chúng ta đang làm gì trong lúc này, chúng ta nên làm tốt hơn. Chúng ta nên đạt điểm chơi golf tốt hơn. Chúng ta nên đọc sách thay vì xem tivi. Chúng ta nên làm tình tốt hơn. Nấu ăn ngon hơn. Chạy nhanh hơn. Cao hơn. Mạnh mẽ hơn. Thông minh hơn. Có học thức hơn. Giữa sợ sống và sợ chết là mặc cảm tội lỗi trong khoảnh khắc này. Chúng ta tìm cách trốn tránh nó bằng cách không nhận thức được nó thông qua kìm nén, ức chế, đổ lỗi cho người khác và trốn tránh thực tại.

Tuy nhiên, việc không nhận thức được mặc cảm tội lỗi (ức chế) không giải quyết được vấn đề. Mặc cảm tội lỗi tái xuất hiện dưới hình thức tự trừng phạt và bằng những vụ tai nạn, bất hạnh, mất việc làm và mất các mối quan hệ, bệnh tật, mệt mỏi, kiệt sức, và vô số biện pháp mà tâm trí tài tình tìm ra, dẫn đến mất niềm vui, hạnh phúc và sức sống.

Mặc cảm tội lỗi tượng trưng cho chết chóc, cũng như tình yêu tượng trưng cho sự sống. Mặc cảm tội lỗi là một phần của tự ngã nhỏ bé và là nguyên nhân sâu xa khiến chúng ta sẵn sàng tin vào những điều tiêu cực về chính mình. Hạnh phúc và niềm vui trong ngày có thể bị phá hủy ngay lập tức bởi một lời nhận xét tiêu cực từ một thành viên trong gia đình, bạn bè hoặc hàng xóm. Bệnh tật về thể chất khó có thể tồn tại nếu không có mặc cảm tội lỗi, và mặc cảm tội lỗi là phủ nhận sự ngây thơ bên trong của chúng ta.

Tại sao chúng ta lại tin vào quá nhiều điều vô nghĩa? Phải chăng đó chính là ngây thơ mà ra? Phải chăng khi lớn lên, chúng ta tin rằng những gì người khác nói với mình là sự thật? Và ngay cả lúc này, chúng ta có còn tin rằng những gì người khác nói là sự thật hay không? Phải chăng chúng ta đã tin vào hàng vạn lời nói dối và sẵn sàng tin thêm hàng vạn lời nói dối khác vì ở bên trong, mình vẫn là người ngây thơ? Phải chăng chính sự ngây thơ bên trong đó là lý do làm cho chúng ta dễ bị lợi dụng? Trên thực tế, khi nhìn sâu vào bên trong chính mình, phải chăng chính vì ngây thơ mà chúng ta tin rằng mình có tội?

Chính vì ngây thơ trong sáng nơi nội tâm mà ta đã tin theo tất cả những điều tiêu cực của thế gian, để chúng bóp nghẹt sức sống, làm lu mờ nhận biết về con người thật sự của mình, và khiến ta chấp nhận sự nhỏ bé đáng thương mà ta đã an phận trong đó. Chẳng phải mỗi chúng ta đều mang sự hồn nhiên của một đứa trẻ sơ sinh — không thể tự vệ, không có khả năng phân biệt — nên chỉ có thể để mình bị “lập trình”, như một chiếc máy tính hay sao?

Nhận ra sự kiện này có nghĩa là trở thành có ý thức. Chúng ta nghe nói về các chương trình nâng cao tâm thức và các buổi hội thảo cuối tuần để mở rộng tâm thức. Điều này có nghĩa là gì? Để có được một số công thức phức tạp mới? Để bị lập trình bằng ý tưởng về sự thật huyền nhiệm của người khác?

Hầu hết các chương trình nâng cao tâm thức đều quy về điểm cốt yếu sau đây: hãy nhận thức được những gì chúng ta đang tin, những gì mỗi ngày chúng ta đang chấp nhận. Hãy nhìn vào những gì chúng ta đã bị lập trình và bắt đầu đặt câu hỏi về nó, tháo gỡ nó và buông bỏ nó. Hãy thức tỉnh và giải phóng mình khỏi bị bóc lột và nô lệ bởi những lập trình tiêu cực của thế gian. Chúng ta sẽ thấy rõ bản chất của nó, đó là nỗ lực của những người khác nhằm kiểm soát chúng ta; bóc lột chúng ta; lấy tiền bạc, dịch vụ, năng lượng, lòng trung thành của chúng ta; và chiếm đoạt tâm trí chúng ta. Cơ chế mà điều này xảy ra đã được minh họa rất sinh động trong bộ phim Tron, trong đó chính chức năng của “điều khiển trung tâm” (master control) là từng bước lập trình để nô dịch.

Khi chúng ta thấy sự thật về cách lập trình diễn ra, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta là một chiếc máy tính thuần túy, trống rỗng. Chúng ta là không gian ngây thơ mà trong đó lập trình đang diễn ra. Khi nhìn vào tất cả những điều này, chúng ta sẽ cảm thấy tức giận. Tức giận còn tốt hơn là cam chịu, thờ ơ, trầm cảm và u sầu! Nó có nghĩa là nắm lấy quyền kiểm soát tâm trí của chúng ta thay vì giao phó nó cho tivi, báo chí, tạp chí, hàng xóm, những cuộc trò chuyện trên tàu điện ngầm, những lời nhận xét tình cờ của người phục vụ, những thứ rác rưởi đi vào và những thứ rác rưởi đi ra. Những gì đã đi vào ngân hàng ký ức của chúng ta là rác rưởi, và khi chúng ta thấy điều này, chúng ta sẽ bớt sợ hãi hơn hẳn. Chúng ta sẽ tận hưởng việc bắt đầu để cho cảm thọ trỗi dậy, nhìn nhận chúng đúng với bản chất của chúng, dọn sạch mọi thứ rác rưởi, và buông bỏ tất cả.

Một khi đã nhìn sâu vào bên trong chính mình và tìm thấy sự ngây thơ bẩm sinh bên trong, chúng ta sẽ thôi căm ghét chính mình. Chúng ta sẽ ngừng lên án chính mình và ngừng tin vào những lời lên án của người khác và những nỗ lực tinh vi của họ nhằm phủ nhận giá trị của chúng ta với tư cách là một con người. Đã đến lúc lấy lại sức mạnh của chính mình và ngừng trao nó cho bất kỳ kẻ lừa đảo nào lợi dụng sự sợ hãi của chúng ta để moi tiền từ ví của chúng ta hoặc nô dịch chúng ta cho mục đích của họ, sống dựa vào năng lượng của chúng ta. Thật dễ dàng thoát khỏi tất cả những sợ hãi đó vì giờ đây chúng ta có quyền lựa chọn.

Chúng ta sợ rằng cuộc hành trình khám phá nội tâm sẽ dẫn chúng ta đến sự thật khủng khiếp, tồi tệ nào đó. Trong quá trình lập trình tâm trí của chúng ta, đây là một trong những rào cản mà thế giới đã dựng lên nhằm ngăn cản, không cho chúng ta tìm ra sự thật thực sự. Có một điều mà thế giới không muốn chúng ta biết, đó là sự thật về chính mình. Tại sao? Vì khi đó chúng ta sẽ được tự do. Chúng ta sẽ không còn bị kiểm soát, thao túng, bóc lột, vắt kiệt, nô lệ hóa, bị giam cầm, bị phỉ báng, hay bị tước đoạt quyền lực nữa. Do đó, hành trình khám phá nội tâm bị bao phủ bởi một bầu không khí bí ẩn và điềm báo xấu.

Sự thật thực sự về hành trình này là gì? Sự thật thực sự là, khi chúng ta hướng vào bên trong và loại bỏ hết ảo tưởng này đến ảo tưởng khác, hết lời nói dối này đến lời nói dối khác, hết chương trình tiêu cực này đến chương trình tiêu cực khác, thì gánh nặng sẽ ngày càng nhẹ hơn. Nhận thức về sự hiện diện của tình yêu ngày càng mạnh mẽ hơn. Chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Cuộc sống ngày càng trở nên dễ dàng hơn.

Tất cả các bậc thầy vĩ đại từ thuở ban đầu đều nói hãy nhìn vào bên trong và tìm ra sự thật, vì sự thật về bản chất thực sự của chúng ta sẽ giải phóng chúng ta. Nếu những gì cần tìm thấy bên trong chính chúng ta là điều gì đó đáng trách, điều gì đó thối nát, xấu xa và tiêu cực, thì tất cả các bậc thầy vĩ đại trên thế giới sẽ không khuyên chúng ta tìm kiếm ở đó. Ngược lại, họ sẽ bảo chúng ta tránh xa nó bằng mọi giá. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng tất cả những điều mà thế giới gọi là “ác” đều nằm ngay trên bề mặt; chúng nằm ngay trên cùng, như lớp mỏng bên ngoài. Bên dưới những sai lầm này là sự lầm lẫn. Chúng ta không thối nát— mà chỉ là vô minh.

Khi sợ hãi mặc cảm tội lỗi và năng lượng đi kèm với nó được giải tỏa, chúng ta sẽ nhận thấy các bệnh tật và triệu chứng trên cơ thể bắt đầu biến mất. Khả năng yêu thương chính mình dưới hình thức lòng tự trọng gia tăng trở lại, và cùng với nó là khả năng yêu thương người khác. Được giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi tái tạo năng lượng sống. Có thể thấy ​​một cách rõ rệt ở nhiều người bằng trải nghiệm tôn giáo mà được chuyển hoá hoàn toàn. Giải thoát đột ngột khỏi mặc cảm tội lỗi bằng cách tha thứ là nguyên nhân dẫn đến hàng ngàn trường hợp hồi phục khỏi các bệnh nghiêm trọng và ngày càng nặng thêm. Chúng ta có đồng ý với quan niệm tôn giáo của họ hay không không quan trọng. Quan trọng cần lưu ý là giảm bớt mặc cảm tội lỗi đi kèm với sự hồi sinh của năng lượng sống, hạnh phúc và sức khỏe về mặt thể chất.

Khi nói đến chữa lành chính mình và nâng cao sức khỏe cảm xúc, “thì nên thận trọng”. Chúng ta nhận thức được tất cả những kẻ gieo rắc mặc cảm tội lỗi trong đời sống của mình và những ảnh hưởng có hại mà họ gây ra.

Chúng ta có thể tự hỏi, liệu mình không thể đạt được cùng một động lực hay hành vi xuất phát từ yêu thương thay vì sợ hãi và mặc cảm tội lỗi? Có phải mặc cảm tội lỗi là lý do duy nhất khiến chúng ta không dám đâm người hàng xóm? Tại sao chúng ta không thể từ chối đâm người hàng xóm vì yêu thương và quan tâm đến họ như một con người ngây thơ, đang nỗ lực trưởng thành nhưng cũng có thể mắc sai lầm giống như chính chúng ta? Liệu việc tuân theo những giáo lý tôn giáo, dù là gì đi nữa, sẽ hiệu quả hơn nếu được thực hiện xuất phát từ yêu thương và biết ơn, thay vì mặc cảm tội lỗi và sợ hãi? Chúng ta có thể tự hỏi, rốt cuộc chúng ta cần mặc cảm tội lỗi để làm gì? Chúng ta nhận được lợi ích gì từ mặc cảm tội lỗi? Phải chăng chúng ta quá ngu ngốc đến nỗi chỉ hành động vì mặc cảm tội lỗi? Phải chăng chúng ta quá vô thức? Phải chăng quan tâm đến cảm xúc của người khác không thể thay thế mặc cảm tội lỗi như là động lực cho hành vi đúng đắn của con người?

Khi xem xét những vấn đề này và nhìn vào nguồn gốc xã hội của chúng, chúng ta thấy rằng thời Trung Cổ vẫn chưa kết thúc. Tòa án dị giáo chỉ đơn thuần khoác lên mình những hình thức tàn bạo mới và tinh vi hơn. Chúng ta đã vô tình chấp nhận một hệ thống tiêu cực đang thống trị hành tinh này. Việc kết tội và đổ lỗi cho người khác thực sự là một hình thức tàn bạo, có phải thế không? Chúng ta đã cho phép người khác lập trình mình những phương pháp tự hành hạ chính mình, và chúng ta có thể thấy rằng mình đã trả đũa bằng cách mời gọi người khác tự hành hạ chính họ. Chúng ta đã để cho mình bị thao túng bởi mặc cảm tội lỗi, và chúng ta lại sử dụng chính cơ chế mặc cảm tội lỗi đó để cố gắng bóc lột và kiểm soát người khác.

Mức độ mà chúng ta không cho phép mình trải nghiệm thực tại của Đại ngã đích thực được thể hiện qua thái độ ghen tị đối với những người đã thực sự làm được việc đó. Chúng ta ghen với sự sống động của họ trong những lĩnh vực mà chúng ta cảm thấy bất lực. Sự thật đáng suy ngẫm này được thể hiện qua câu chuyện về người đàn ông đi dọc bãi biển và gặp một ngư dân với một xô đầy cua. Ông ta nói với người đánh cá: “Ông nên đậy cái xô lại, nếu không cua sẽ bò ra ngoài.” “Không cần đâu,” người đánh cá già thông thái nói. “Ông thấy đấy, khi một con cua bò lên thành xô để ra ngoài, những con cua khác sẽ vươn lên tóm lấy nó và kéo nó xuống. Vì vậy, không cần phải đậy nắp đâu.”

Khi tiếp tục buông bỏ, chúng ta sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn và tự do hơn, chúng ta sẽ, không may là, nhận ra rằng bản chất của thế giới giống như cái xô cua đó. Và, khi đó, toàn bộ mức độ tiêu cực của nó sẽ trở nên rõ ràng. Khi chúng ta hoàn toàn nhận thức được món hàng mà người ta đã bán cho mình, rất có thể chúng ta sẽ cảm thấy tức giận và khao khát mãnh liệt được giải thoát khỏi những ràng buộc của tiêu cực.

 



[i] Vô thức tập thể (Collective Unconscious): Thuật ngữ do nhà tâm thần học Carl Jung khởi xướng, chỉ tầng sâu nhất của tâm thức con người, nằm bên dưới và bao quanh vô thức cá nhân. Khác với vô thức cá nhân của Sigmund Freud (vốn được hình thành từ những trải nghiệm và ký ức bị kìm nén của riêng mỗi người), vô thức tập thể là kho tàng phi cá nhân, chứa đựng những xung năng bản năng và các nguyên mẫu (Archetypes) — những hình mẫu cổ xưa, biểu tượng bẩm sinh được di truyền qua nhiều thế hệ của nhân loại. Kho tàng này mang tính phổ quát, được chia sẻ chung bởi toàn nhân loại mà không phụ thuộc vào chủng tộc hay văn hóa. Về bản chất, các nguyên mẫu trong vô thức tập thể là những “cấu trúc rỗng” bẩm sinh; mỗi nền văn hóa, thông qua dòng chảy lịch sử, sẽ “lấp đầy” các cấu trúc này bằng những hình ảnh, biểu tượng và hệ thống thần thoại đặc sắc của riêng mình. Khái niệm này lý giải vì sao những mô-típ thần thoại, tôn giáo và biểu tượng tương đồng lại xuất hiện đồng loạt trên khắp thế giới, đồng thời giải thích xu hướng hành xử giống nhau của con người trước các đại tự sự của đời sống (như sinh tử, người hùng, người mẹ). Vô thức tập thể vận hành như một trường năng lượng phi thời gian, định hình sâu sắc cuộc sống của mỗi cá nhân khi họ vô tình sống theo các biểu tượng của nó và khoác lên chúng ý nghĩa từ trải nghiệm thực tế. Hệ quả này tương thích một cách sâu sắc với nhận định của nhà tâm lý học người Pháp Gustave Le Bon: dù được đặt vào bất kỳ nền văn hóa tân tiến nào, con người vẫn mang theo và bộc lộ những xung năng hành vi cốt lõi của tổ tiên từ thời viễn cổ.