March 10, 2026

BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI (9)

 

BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI 

David R. Hawkins, M. D., Ph. D. 

Phạm Nguyên Trường dịch 

Phần III 

THĂNG TIẾN TÂM THỨC 

Trong phần này, Tiến sĩ Hawkins trình bày cách thức tâm thức thăng tiến qua Bản đồ Tâm thức. Từ kinh nghiệm phi thường của mình với tư cách là người đã đi hết toàn bộ hành trình trên Bản đồ này, Tiến sĩ Hawkins đưa ra cho chúng ta những nguyên tắc cần tuân theo, những phương pháp cần thực hành và những cạm bẫy cần tránh. Nhiều lữ khách bị lạc đường. Nếu không được một thủy thủ dày dạn kinh nghiệm đã vượt biển thành công hướng dẫn, thì thủy thủ mới vào nghề làm sao có thể thành công? Tiến sĩ Hawkins không chỉ cung cấp cho chúng ta Bản đồ. Mà trong Phần III này, ông còn trình bày chi tiết những việc cần chú ý trên mỗi chặng đường và cách vượt qua những thách thức cụ thể của nó.

Ông nói cho chúng ta biết rằng, kì lạ là, bản ngã bám víu vào những thứ “quen thuộc” và chống lại thay đổi, ngay cả khi thay đổi là tuyệt vời. Do đó, ông hướng dẫn chúng ta từng bước nhằm thoát khỏi bản ngã nhỏ bé. Ông nói rằng có tâm từ bi với bản ngã và những hạn chế của nó là rất quan trọng. Nếu chúng ta lên án bản ngã trong chính con người mình hoặc ở người khác, thì chúng ta sẽ củng cố nó.

Rào cản của bản ngã, ngay cả khi bạn đã mang nó theo suốt cả cuộc đời, cũng có thể vượt qua được ngay lập tức nếu có ý chí tâm linh để buông bỏ nó. Dưới đây là một câu chuyện từ cuốn sách Buông bỏ (Letting go) của Tiến sĩ Hawkins minh họa cách bước đột phá duy nhất có thể đưa bạn đi hết toàn bộ hành trình. Người đàn ông này đã bị mắc kẹt trong tầng Thờ ơ: “Tôi không thể nhảy múa,” thực ra có nghĩa là “Tôi sẽ không nhảy múa!” Đó là thái độ từ chối ngay cả thử nhảy, do quá tự ti. Trong đoạn văn này, ông sử dụng kỹ thuật “buông bỏ” Thờ ơ và Sợ hãi, và đón nhận phó thác, để mở ra cánh cửa dẫn đến Mê ly:

 Minh họa cho quá trình này là trải nghiệm của một người đàn ông trung niên thông minh, thành đạt, cả đời không có khả năng nhảy múa. Ông rất muốn nhảy múa, và đã nhiều lần tham gia các lớp học khiêu vũ. Nhưng lần nào ông cũng đều thấy mình cứng nhắc, vụng về và tự ti. Với ý chí mạnh mẽ, đôi khi ông ta cũng cố gắng làm một vài động tác trên sàn nhảy, nhưng chưa bao giờ cảm thấy thích thú và lúc nào cũng cảm thấy không thoải mái. Ông ta di chuyển một cách cứng nhắc và mỗi bước đi đều có tính toán, và toàn bộ trải nghiệm là không thỏa mãn, chẳng giúp ích gì nhằm nâng cao lòng tự trọng ông ta.

Sau khoảng một năm thực hành cơ chế buông bỏ, ông ta tham dự một bữa tiệc với một người phụ nữ, bà này liên tục yêu cầu ông ta đứng lên và nhảy. “Em biết anh không biết nhảy mà,” ông ta nói.

“Thử đi. Quên chuyện chân tay đi. Nhìn em và làm theo là được.” – bà ta năn nỉ.

Khi bước lên sàn nhảy, ông ta hoàn toàn buông bỏ. Trong tích tắc, cảm xúc bên trong của ông ta chuyển từ tầng Thờ ơ lên ​​tầng Tình yêu và, trước sự kinh ngạc của chính mình, ông ta bỗng nhiên bắt đầu nhảy múa, điệu nhảy mà từ lâu ông vẫn luôn mơ ước và từng thầm ngưỡng mộ ở người khác! Nhận thức rằng mình có thể làm được! ập tới, và ông ta chuyển từ Tình yêu lên tầng Niềm vui, và thậm chí là chuyển thành trạng thái Mê ly. Niềm vui của ông ta tỏa tới tất cả mọi người. Bạn bè dừng lại xem. Từ trạng thái vui sướng tột độ, ông ta đột nhiên trải nghiệm sự hòa hợp với bạn nhảy của mình. Ông ta đột nhiên nhìn thấy chính Đại ngã của mình hiện ra trong mắt bà ta và nhận ra rằng thực ra chỉ có một Đại ngã duy nhất đằng sau tất cả những bản ngã cá nhân. Hai người kết nối với nhau theo lối thần giao cách cảm. Ông ta biết từng bước nhảy của bà. Họ hòa hợp một cách hoàn hảo và nhảy như thể đã luyện tập và nhảy cùng nhau suốt nhiều năm. Ông ta khó lòng kìm nén được niềm vui của mình. Điệu nhảy dần trở nên thanh thoát và bắt đầu tự tuôn chảy mà không cần bất kỳ sự can thiệp nào của lý trí. Họ nhảy càng lâu, ông ta càng cảm nhận được nhiều năng lượng hơn.

Trải nghiệm đỉnh cao như thế đã làm thay đổi cuộc đời người đàn ông này. Tối hôm đó, ông ta về nhà và nhảy thêm nữa. Khiêu vũ disco tự do luôn luôn luôn làm cho ông ta sợ hãi hơn bất kỳ phong cách nào khác bởi vì không phải ghi nhớ bước đi nào. Chỉ cần tự phát và cảm giác tự do, đấy là những thứ trước đây ông ta chưa từng trải nghiệm được. Sau khi về nhà, ông ta bật nhạc disco và bắt đầu nhảy suốt mấy giờ liền. Ông ta nhìn mình trong gương và bị mê hoặc bởi cơ thể được buông lỏng và cảm giác tự do bên trong.

Đột nhiên, ông ta nhớ lại kiếp sống trước đây với những chi tiết cực kì sống động. Ông ta từng là một vũ công giỏi, và lúc này ông ta bắt đầu nhớ lại những chỉ dẫn cụ thể mà các ông thầy đã cho ông biết trong kiếp sống đó. Khi ông ta làm theo chỉ dẫn của họ, kết quả thật đáng kinh ngạc! Ông ta phát hiện được rằng có một trung tâm cân bằng trọng lực thẳng đứng bên trong chính con người mình, và ông ta bắt đầu xoay quanh nó với sự cân bằng hoàn hảo. Chuyển động diễn ra một cách dễ dàng, và ông ta chỉ đơn giản là người chứng kiến ​​điệu nhảy. Không còn cảm giác về “tôi” nữa. Chỉ còn lại niềm vui và chính điệu nhảy. Giờ đây, ông hiểu ngay lập tức nền tảng cốt lõi của điệu nhảy Sufi xoay tròn. Khả năng xoay tròn và quay cuồng mà không chóng mặt hay mệt mỏi—trạng thái tâm thức nhất định đó —xuất phát từ buông bỏ tự ngã cá nhân.

Bước đột phá mà người đàn ông này trải nghiệm trên sàn nhảy sau đó đã lan tỏa sang nhiều lĩnh vực - từng bị tắc nghẽn - trong cuộc đời của ông ta. Những lĩnh vực từng bị hạn chế, giờ đây đã mở rộng một cách nhanh chóng. Bạn bè và gia đình ông ta nhìn thấy rõ những thay đổi này và những phản hồi tích cực của họ càng làm tăng thêm lòng tự trọng và mong muốn tiếp tục buông bỏ những cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực từng ngăn cản, không để cho ông ta trải nghiệm niềm vui sống.

Trải nghiệm này nêu ra khá chi tiết vì một vài lý do. Nó là minh họa cho Bản đồ Tâm thức. Trong suốt 50 năm, người đàn ông vừa nói đã ở tầng thấp nhất trong lĩnh vực này, với niềm tin là: Tôi không thể. Thái độ tự ti đã làm giảm lòng tự trọng của ông ta và làm cho ông ta né tránh. Trong suốt nhiều năm, ông ta đã tìm cách tránh các buổi họp mặt có khiêu vũ. Ông ta giận chính mình vì thái độ tự ti đó, và ông ta cảm thấy tức giận khi có người nào đó rủ khiêu vũ. Thế mà chỉ trong vài giây và vài phút, ông ta đã trải nghiệm tất cả các cảm xúc trên toàn bộ Bản đồ và đi đến tận đỉnh cao. Lúc đó, tâm thức cao hơn xuất hiện cùng với nhận thức tâm linh đột ngột ở một tầng rất cao. Với tâm thức cao hơn, hiểu biết cùng với khả năng tâm linh xuất hiện (thần giao cách cảm, đồng nhịp và nhớ lại tiền kiếp). Kết quả là, hành vi của ông ta thay đổi, và động lực của nó loại bỏ một loạt rào cản và hạn chế. Xã hội cũng phản hồi một cách tích cực, rồi phản hồi tích cực củng cố động lực phát triển đang diễn ra.

 

Chương 7 

SIÊU VIỆT CÁC RÀO CẢN NGĂN CHẶN TẦNG TÂM THỨC CAO HƠN 

Kiến thức “về” Bản đồ Tâm thức là một chuyện, nhận thức mang tính trải nghiệm lại là chuyện khác. Những người tìm kiếm tâm linh thường cảm thấy “bị mắc kẹt” trước một rào cản trong thời gian khá dài, nó có thể làm cho họ cảm thấy tuyệt vọng về mặt tâm linh; họ đã “đọc mọi thứ, đã đi khắp mọi nơi, đã thử mọi pháp tu” nhưng ngày nào thức dậy cũng đều thấy tâm mình hoàn toàn không thay đổi. “Tâm trí tôi như một miếng bọt biển: nó đã hấp thụ tất cả thông tin, nhưng tôi vẫn mắc kẹt ở cùng một chỗ!”

 Ý CHÍ TÂM LINH

Làm thế nào để thoát khỏi những mô thức sợ hãi từng đi theo họ suốt cả cuộc đời và vươn tới trạng thái tâm thức cao hơn? Làm sao vượt qua những rào cản dường như không thể vượt qua?

Hiện nay, cơ hội trở thành người chứng ngộ lớn hơn 1.000 lần so với những giai đoạn trước đây, đấy là do thông tin về quá trình tiến hóa của tâm thức, nhưng chỉ thông tin thôi thì chưa đủ. Thay vào đó, Ý chí Tâm linh mới là chức năng quan trọng nhất trong tu tập tâm linh. So với tầm quan trọng cực độ của nó, Ý chí Tâm linh nhận được tương đối ít sự chú ý, bởi lẽ đó chính là lời mời gọi dẫn đến sự can thiệp Thiêng liêng.

Để làm sáng tỏ bước đi cần thiết này, xin đưa ra ví dụ điển hình và có tính hỗ trợ. Có lẽ ví dụ lớn nhất và nổi bật nhất là trường hợp các cựu chiến binh trong Thế chiến II, trong đó trải nghiệm của cả nhóm, cũng như từng người lính, phải nói là đều kinh khủng đến mức không thể nào mô tả được. Nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, phần lớn các cựu chiến binh của cả hai phe đã nhanh chóng tha thứ cho nhau, thậm chí còn chào hỏi nhau một cách trang trọng và cùng nhau ăn mừng vì xung đột đã kết thúc. Họ bắt tay nhau với thái độ tôn trọng lẫn nhau. Có những phi công Kamikaze đã bắn phá tàu của phía bên kia, đã giết chết đồng đội của họ và gây ra nhiều thương vong. Mặt khác, người Mỹ đã thả bom nguyên tử giết chết hàng ngàn thường dân. Khi chiến tranh kết thúc, thật kỳ lạ là, mọi người dường như cùng chấp nhận rằng tất cả đã kết thúc và tất cả chỉ là “chiến tranh” mà thôi. Các cựu chiến binh thậm chí còn trở thành bạn bè thân thiết và thỉnh thoảng lại đến thăm gia đình nhau. Mọi người đều hiểu rằng binh lính ở cả hai phía đều có phẩm chất đạo đức như nhau, vì họ đã làm những gì mà mình cho là cần làm để hoàn thành vai trò của mình trong xã hội hoặc nghĩa vụ đối với Thiên Chúa, với đất nước, với gia đình, hoặc vì bất kỳ mục đích nào khác mà họ đã chiến đấu.

Miễn cưỡng tha thứ không chỉ là hệ quả của việc không muốn buông bỏ “nhựa sống” của bản ngã về bất công mà còn là vọng tưởng cho rằng người khác không “xứng đáng” được tha thứ. Trên thực tế, người tha thứ chứ không phải người được tha thứ mới là người được lợi nhiều nhất. Mục đích của ví dụ này là để chứng minh rằng có thể siêu việt ngay cả những điều kiện khắc nghiệt nhất, nhưng phải sử dụng hành động của ý chí cùng với sẵn sàng từ bỏ nuôi dưỡng lòng thù hận và trả thù.

Có thể hỏi làm sao sự chuyển đổi thánh thiện như vậy lại có thể xảy ra, nếu xét đến những hoàn cảnh kinh hoàng ở cả hai phía, trong đó có giam cầm trong các trại tù binh chiến tranh, đói khát, tra tấn, những hành động tàn ác và tàn sát nhiều người cùng một lúc. Trên thực tế, và về mặt tâm lý, bản ngã/tâm trí không thể làm được việc này vì nó không sức mạnh cần thiết vì bị mắc kẹt trong trường năng lượng của Mặc cảm tội lỗi/Hận thù, có điểm hiệu chỉnh ở tầng 30. Do đó, cội nguồn sức mạnh mang tính chuyển hoá không thể xuất phát từ tâm trí hoặc nhân cách được gọi là “tôi” cá nhân. Sức mạnh đích thực mà người ta cần nằm ở phẩm chất phi tuyến tính của tâm thức được gọi là “Ý chí”, chỉ có ý chí mới có thể mở ra cánh cửa dẫn đến sức mạnh đích thực mà người ta cần để giải tán lập trường của bản ngã.

 VAI TRÒ CỦA ÂN PHƯỚC

Qua lời mời gọi, Thánh Linh (Holy Spirit[i]) chuyển hoá hiểu biết, đấy là nhờ sự hiện diện của sức mạnh chữa lành của Ân phước (Grace[ii]). Những cái mà bản ngã, dù có dùng tất cả sức mạnh của nó, cũng không thể nâng lên, thì lại nhẹ như lông hồng trước Ân phước của Thiên Chúa. Kết quả của quá trình chuyển hoá, là không chỉ quan điểm của chúng ta về những người khác được chuyển từ hận thù sang nhân từ mà quan điểm về chính mình cũng chuyển hoá. Như đã nói bên trên, đây là sự kiện xảy ra với những người nghiện, họ hoàn toàn phó thác cuộc đời mình cho sức mạnh to lớn hơn chính mình.

Những chuyển hoá đột ngột như vậy khẳng định chân lý của giáo lý Thiền: “Thiên đường và địa ngục chỉ cách nhau một phần mười inch.” Chúng ta có thể ở dưới đáy bản đồ, trong thống khổ tột cùng, bất tận, và khi nghe lời khẩn cầu của Ý Chí Tâm Linh: “Nếu có Thiên Chúa, xin Ngài giúp đỡ con”, thì chuyển hoá làm người kinh ngạc xảy ra, trong đó Vinh Quang Vô Biên của Thiên Chúa tỏa sáng từ tất cả tồn tại. Đối với một số người, phải rơi vào vực thẳm của địa ngục và tuyệt vọng tột cùng, thậm chí phải cận kề cái chết về thể xác, thì người ta mới buông bỏ bản ngã.

Ân phước của Thiên Chúa chờ đợi những người thành tâm cầu xin. Thần tính không ép buộc bất cứ người nào phải tiến hóa. Mọi người đều phải chịu trách nhiệm trước vũ trụ và phục tùng Công lý Thiêng liêng (Divine Justice[iii]), bởi chính cơ chế vận hành của chính vũ trụ này. Giống như một chiếc nút chai trên biển, mỗi linh hồn nổi lên đến tầng nổi của chính nó, đấy không phải là do hành động tùy tiện nào đó của biển cả. Không có bàn tay nào điều khiển bánh lái ngoài chính bản thân mình, đó là tự do tuyệt đối mà Thiên Chúa ban cho cuộc đời. Không ai gục ngã trừ phi bởi chính bàn tay của mình. Ngay cả những sự kiện được cho là “tình cờ” cũng chỉ là tri giác mà thôi. Không có hiện tượng ngẫu nhiên nào có thể xảy ra trong vũ trụ này, thậm chí ngẫu nhiên không phải là khả năng. “Ngẫu nhiên” đơn giản có nghĩa là điều gì đó không thể dự đoán được hoặc không thể hiểu được đối với bản ngã tuyến tính và sự hạn chế của nó trong mô hình nhân quả của Newton – có điểm hiệu chỉnh ở tầng 450.

Người ta tụ họp thành nhóm vì họ hoà điệu với cùng một trường hút. Người ta thường nói: “Chim bay theo bầy”. Mỗi người, riêng lẻ, đi theo một trường đầy sức mạnh, tương tự như nam châm, đến lượt nó, trường này lại chịu ảnh hưởng của trường hút cao hơn ở bên trên, và cứ thế cho đến Thần tính.

Mặc dù các cuộc xung đột dường như là không thể giải quyết được, nhưng giải quyết chúng thực ra lại đơn giản đến mức làm người ta bất ngờ, đấy là tuân thủ nghiêm ngặt các công cụ đã được chứng minh trong quá trình xử lý tâm linh—đó là sẵn sàng phó thác cho Thiên Chúa, và buông bỏ kháng cự bằng cách cầu khẩn sức mạnh của Ý Chí Tâm Linh (điểm hiệu chỉnh 850) khi xin Thánh thần (Divine[iv]) giúp đỡ. Có thể cầu xin Thánh Linh trợ giúp, cùng với việc thừa nhận sự thật rằng chính Tôi [bản ngã] không thể tự mình hoàn thành bước đi này. Về mặt thực tiễn, đây thực chất là yêu cầu để hiểu và đưa tình huống vào bối cảnh khác, và do đó, giải quyết được những nghịch lý sờ sờ trước mắt. “Xung đột” hay “rào cản” sẽ được giải quyết ngay khi ta nhìn nó từ một góc độ rộng hơn, điều mà Ân phước ban cho như là mặc khải và đưa vào bối cảnh mới.

Ý chí cá nhân chỉ hoạt động ở tầng tâm thức được hiệu chỉnh của người đó tại một thời điểm nhất định trong quá trình tiến hóa của họ và do đó, thường quá yếu, không thể tạo được thay đổi đáng mong muốn. Những nỗ lực thay đổi trong quá khứ thông qua các cơ chế của bản ngã có thể dẫn đến nghi ngờ, thiếu tự tin và từ chối đối mặt với các vấn đề, đấy là do bi quan. Nó thường được thể hiện bằng câu: “Tôi đã cố gắng,” thực chất là sự kiện —chính tự ngã nhỏ bé đã cố gắng, thường là mong muốn chứ không phải là hành động quyết liệt.

Những ý định tốt đẹp vấp phải những tảng đá của “sức mạnh ý chí” cá nhân, thường được sử dụng như một cây gậy đạo đức, làm tăng thêm mặc cảm tội lỗi và tự trách móc mình. Thật vậy, phó thác sâu sắc cho Thiên Chúa hoặc Sức mạnh Cao hơn không thể thực sự diễn ra nếu không từ bỏ vọng tưởng về “sức mạnh ý chí” cá nhân và thay thế nó bằng một quyết định dứt khoát. Bản ngã chống lại việc từ bỏ quyền kiểm soát, bởi vì nó nhận được khoái cảm từ những phần thưởng của lập trường mà người ta đang mắc kẹt trong đó. Do đó, bản ngã tạo ra kháng cự như sợ hãi, trong đó có sợ khó chịu, sợ mất mát do thay đổi, hoặc sợ thất bại. Tuy nhiên, kháng cự là do kiêu ngạo tâm linh, cũng cần phải được buông bỏ.

Vì vậy, muốn siêu việt rào cản, thì cần tuyên bố rằng mình là tôi tớ của Thiên Chúa và dâng hiến bản thân mình cho tu tập tâm linh nhân danh Thiên Chúa, tuyên bố này đưa ý định tiến hóa của mình vào trường năng lượng vô cùng mạnh mẽ của việc cầu xin Ân phước để buông bỏ những ràng buộc, ác cảm và phần thưởng của bản ngã, cái phần thưởng vốn đang giữ mỗi tầng tâm thức ở nguyên vị trí của mình.

 NGƯỜI TRẢI NGHIỆM: MŨI NHỌN CỦA BẢN NGÃ

Người ta thường hỏi: “Tại sao tôi không thể vượt qua chuyện này? Tôi cảm thấy mình bị mắc kẹt.” Bế tắc đó xảy ra là vì mỗi tầng đều có phần thưởng gắn liền với những thái độ đã ăn sâu bén rễ, vốn xuất phát từ bản năng động vật của chúng ta. Nếu không có phần thưởng này, chẳng ai lại chịu ở lại đó. Muốn tiến hóa, bạn chỉ cần biết một điều duy nhất: cái đang kìm hãm bạn chính là cái “nhựa sống”, là phần thưởng và sự thỏa mãn mà bạn nhận được khi giữ nguyên trạng thái hiện tại. Như người ta thường nói: “Hãy cứ tận hưởng nhựa sống đó, cho đến khi nào còn có thể.” Nếu bạn sẵn sàng buông bỏ những phần thưởng mà bản ngã nhận được ở vị trí hiện tại của nó, rào cản sẽ tự động tan biến.

Muốn siêu việt bất kỳ lập trường nào của bản ngã, điểm khởi đầu là với “người trải nghiệm”, đó là mũi nhọn của bản ngã. Nó giống như một thiết bị dò tìm thông tin, luôn tìm kiếm trải nghiệm, luôn tìm kiếm phần thưởng, luôn tìm kiếm lợi ích. Để tồn tại, người trải nghiệm của bản ngã phải liên tục thu thập dữ liệu, chẳng hạn như ăn được/không ăn được và bạn/thù. Thay vì lo lắng về toàn bộ cấu trúc của bản ngã, chúng ta tập trung vào mũi nhọn của nó, đó chính là người trải nghiệm.

Người trải nghiệm là bộ xử lý liên tục xác định cái gì tốt, cái gì độc hại, ai là kẻ thù, ai là bạn—và xử lý rất nhanh. Nó xử lý lượng thông tin khổng lồ trong một phần mười nghìn giây. Máy tính không thể làm được như thế. Quá phức tạp, vì có cả giá trị, ý nghĩa, tầm quan trọng, và ưu tiên. Máy tính không thể làm được như thế, vì nó không đánh giá vật này cao hơn vật khác. Máy tính không nghĩ rằng mẩu thông tin này quan trọng hơn mẩu thông tin kia, nhưng bộ xử lý của bản ngã thì nghĩ như thế.

Người trải nghiệm cách xa thực tại một phần mười nghìn giây. Do đó, bản ngã không bao giờ trải nghiệm cái đang là; nó trải nghiệm trải nghiệm của chính nó về cái đang là. Tương tự như thế, nó không trải nghiệm những gì đang được ghi lại; nó đang trải nghiệm quá trình phát lại từ máy ghi âm. Bản ngã đang trải nghiệm cái vừa được ghi lại cách đây một phần mười nghìn giây. Dường như là không đáng kể, ngoại trừ việc chất lượng đã thay đổi hoàn toàn. Ở phía bên này của một phần mười nghìn giây, cây cối trông giống như cây cối, và hoa trông giống như hoa. Ở phía bên kia của một phần mười nghìn giây, chúng tỏa ra Thần tính! Chứng ngộ là vượt qua người trải nghiệm. Người trải nghiệm đột ngột biến mất. Nó không yếu dần đi; nó đơn giản và đột ngột bị dập tắt, rồi tâm trí lặng đi vì choáng ngợp.

Cuối cùng, điều mà con người nghiện là trải nghiệm. Đó là lý do vì sao chúng ta cứ đổi kênh, bật nhạc, chơi game, và ăn cái này hay cái kia. Tại sao chúng ta bám vào trải nghiệm? Vì trong quá trình tiến hóa, chính nhờ trải nghiệm mà động vật mới tồn tại được. Trải nghiệm làm cho bản ngã sống động, bởi vì bản ngã không có nguồn năng lượng tâm linh ở bên trong. Nó chỉ có năng lượng của động vật. Do đó, từ mỗi trải nghiệm, nó phải chiết xuất ra “nhựa sống”, vốn là cội nguồn của sự tồn tại của động vật. Ví dụ, bản ngã nhận được “nhựa sống” bằng cách hả hê trước sự đau khổ của người khác, khi mình đúng và chiến thắng: “Hắn ta đáng bị như vậy, tên khốn đó, và hắn ta xứng đáng bị như thế!”

Người trải nghiệm nhận được thỏa mãn mang tính ái kỷ. Họ cố gắng che đậy nhựa sống đó bằng những lý lẽ như “sự oán hận chính đáng”, lòng tốt, tự do ngôn luận, tự cho mình là nạn nhân có chính nghĩa, và những thứ tương tự như thế. Nhưng nếu tự kiểm kê bằng thái độ không sợ hãi và trung thực, chúng ta sẽ thấy rằng bất kỳ tiêu cực nào làm phiền chúng ta đều là do chúng ta nhận phần thưởng từ nó. Bạn có thể nói, “Không người nào muốn cảm thấy thương thân trách phận.” Nhưng trên thực tế, nhiều người thích tử vì đạo, thích bị đối xử bất công, bị làm cho khó chịu. Đấy là những sự kiện không mới đối với các nhà trị liệu, bác sĩ tâm thần và nhân viên xã hội, ngày nào họ cũng được các nạn nhân kể lại những chuyện đó. Liệu cả thế giới có nên thay đổi chỉ vì một người nào đó cảm thấy khó chịu với tình hình hiện nay của nó? Tính ái kỷ và cuồng ngã là quá rõ ràng. Kiểu như: “Nó làm cho tôi cảm thấy khó chịu.” Những người ái kỷ luôn luôn tìm cách thay đổi thế giới chứ không thay đổi chính mình. Nếu tên Thiên Chúa xuất hiện trên toà nhà xử án làm cho bạn mất ngủ, thì chúng ta có cần thay đổi cả một kiến trúc lịch sử chỉ để bạn ngủ ngon hơn hay không? Chìa khóa để siêu việt các tầng tâm thức chính là sẵn sàng tự thay đổi chính mình, thay vì muốn thay đổi người khác hay cải tổ xã hội. Một khi bạn thay đổi chính mình, bạn sẽ trải nghiệm những người xung quanh một cách hoàn toàn khác.

Điều duy nhất bạn cần biết về bất kỳ rào cản nào là phần tưởng mà bản ngã nhận được. Người trải nghiệm đang thu được gì từ lập trường đó, từ tiêu cực đó, từ trạng thái “bế tắc” đó?

 NHỮNG NHỊ NGUYÊN CỦA BẢN NGÃ: HẤP DẪN VÀ ÁC CẢM

Cuốn Siêu việt các tầng tâm thức: Con đường dẫn tới chứng ngộ thảo luận kĩ lưỡng từng tầng tâm thức và siêu việt nó bằng cách buông bỏ những nhị nguyên đặc trưng của nó. Ở đây, chúng tôi đề cập đến những điểm chung về hấp dẫn và ác cảm của bản ngã để người đọc có thể bắt đầu trực giác về cách thức quá trình này diễn ra trong tâm lý. Các cặp hấp dẫn và ác cảm được nêu dưới đây áp dụng cho tất cả các chương trình của bản ngã và cho tất cả các tầng tâm thức.

 

Hấp dẫn

Ác cảm

Quen thuộc, an toàn

Thay đổi, không chắc chắn

Bám vào

Sợ cái mới

Dễ dàng

Nỗ lực

Người trải nghiệm luôn luôn hướng về những gì đã quen. Khi tới đám đông, việc đầu tiên chúng ta làm là nhìn xung quanh để tìm kiếm một khuôn mặt quen thuộc. Ác cảm là đối với những thứ không chắc chắn. Chúng ta lo lắng: “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi đến đó mà không thấy người quen nào?” Vì vậy, chúng ta bám víu vào những gì đã biết và sợ tương lai. Quá khứ là chắc chắn còn tương lai là không chắc chắn, và bản ngã thích chắc chắn, vì vậy nó bám víu vào những gì nó biết. Chúng ta thà được thoải mái ngay cả khi chúng ta sai. Bạn đã bao giờ thử một con đường mới đi về nhà từ chỗ làm hay chưa? Chẳng mấy chốc bạn lại quay trở lại con đường cũ. Chúng ta thích những gì quen thuộc, chúng ta thích những gì đã quen, và chúng ta không thích thay đổi trừ khi chúng ta lựa chọn nó vì người trải nghiệm thích cái mới lạ (xem bên dưới).

Bản ngã muốn bám víu vào vọng tưởng về cân bằng hơn là thay đổi và cảm thấy tạm thời mất cân bằng. Do đó, mọi người sẽ tiếp tục đi theo những con đường, ở trong các mối quan hệ và công việc tiêu cực và thậm chí mang tính hủy hoại chỉ vì thay đổi đòi hỏi phải nỗ lực.

Người trải nghiệm thường bị thu hút vào những gì dễ dàng và có ác cảm với nỗ lực. Việc cứ tiếp tục theo lối mòn cũ dễ hơn là nỗ lực thay đổi. Vậy làm sao vượt qua ác cảm đối với việc bỏ công sức nhằm tạo ra thay đổi tích cực? Bằng cách nhận ra rằng thực ra không cần nhiều nỗ lực, bởi vì chỉ cần chú ý thôi cũng đủ để làm giảm thói quen một cách tự động.

Ví dụ, giả sử bạn muốn giảm số lượng bánh quy mình ăn mỗi ngày vì bạn đã ăn quá nhiều bánh quy trong suốt 20 năm qua. Bạn nói, “Một ngày nào đó tôi sẽ bỏ ăn bánh quy.” Bạn đang tự lừa mình. Bạn đã ăn hơn 50 cái bánh quy mỗi ngày trong suốt 20 năm qua, vậy làm sao bạn có thể đột nhiên ngừng ăn bánh quy? Cố gắng sử dụng ý chí chỉ mang lại mặc cảm tội lỗi và thất bại. Bí quyết không nằm ở nỗ lực mà nằm ở sự chú ý của bạn. Chỉ cần bắt đầu đếm số bánh quy bạn ăn mỗi ngày, nhưng đừng cố gắng làm bất cứ điều gì về chuyện đó. Hãy bày bánh quy ra và, vào cuối ngày, đếm xem bạn đã ăn bao nhiêu cái. “Thứ Hai, 68 cái. Thứ Ba, 64 cái. Thứ Năm, 72 cái.” Điều quan trọng không phải là cố gắng làm gì với số bánh quy đó. Chỉ cần chú ý. Tất cả những gì bạn cần làm là ghi nhớ và viết nó vào cuốn lịch: “Thứ Hai, 63 cái. Thứ Ba, 18 cái. Ồ, tuyệt vời. Thứ Tư, trở lại như thường lệ, 58 cái.”

Sự kiện sẽ xảy ra là, nhờ ý định, nguyên lý Heisenberg sẽ tự động được áp dụng, có nghĩa là quan sát một điều gì đó thì sẽ làm thay đổi nó. Như vậy, chính sự tỉnh thức của bạn bắt đầu làm giảm sự hấp dẫn đối với bánh quy. Đến cuối tháng, bạn sẽ chỉ còn ăn 14 cái bánh quy thôi. Đến cuối một hoặc hai tháng nữa, bạn sẽ chỉ còn ăn 6 cái. Và thế là bạn sẽ bất ngờ nói: “Thôi kệ, mình không cần bánh quy nữa.” Tất cả đều quá dễ dàng! Không cần phải đấu tranh, không cần tự hạ thấp mình hay tự thao túng mình bằng mặc cảm tội lỗi. Nếu bạn chỉ đơn giản là chú ý đến nó, một cách tự nhiên, nhờ ý định của bạn, nguyên lý Heisenberg sẽ được áp dụng, bạn sẽ khéo léo tận dụng sức mạnh của trường năng lượng thay vì dựa vào lực của bản ngã.

Dễ dàng thay đổi và buông bỏ những thứ quen thuộc, nhưng bạn lại tránh né nó vì dường như đối với bản ngã, phải cần nỗ lực. Nó chỉ dường như là nỗ lực, đấy là nếu bạn dùng biện pháp khó khăn, ép buộc mình, cố gắng tự mình vượt qua khó khăn. Bất cứ điều gì bạn không thích trong chính mình—cáu gắt với người khác, chửi thề, hay bất cứ điều gì tương tự—đều có thể được khắc phục bằng cách ghi lại số lần bạn làm việc đó mỗi ngày. Bạn chỉ cần bắt đầu chú ý và theo dõi nó. Ai cũng có thể nhận thấy; nó không đòi hỏi nỗ lực, chỉ cần chú ý.

 

Hấp dẫn

Ác cảm

Kiêu hãnh

Khiêm tốn

Tức giận/ “mạnh mẽ”

Thụ động/ “Yếu đuối”

Thắng

Thua

 

Sức hấp dẫn của sự kiêu hãnh nằm ở chỗ bạn nghĩ mình giỏi hơn những người khác, là người đứng đầu và bất khả chiến bại. Khiêm tốn bị coi là mất địa vị, vì vậy bạn không bao giờ được “nhượng bộ”, nếu không muốn mất chỗ đứng. Chúng ta kiêu hãnh trong tất cả các lập trường của mình, và chúng ta ghét thái độ khiêm nhường, nó thường bị nhầm với sỉ nhục. Người thực sự khiêm nhường không thể bị sỉ nhục. Người khiêm nhường và trung thực đã thừa nhận những khiếm khuyết của mình, vì vậy họ không thể bị tổn thương, bị xúc phạm hay coi thường. Họ không cảm thấy bị xâm phạm chỉ vì người khác không đồng ý với mình.

Nếu bạn dễ bị tổn thương, hãy ngồi xuống và lập danh sách tất cả những khiếm khuyết của mình mà bạn có thể nghĩ ra, rồi tưởng tượng những nghệ sĩ hài vĩ đại nhất mọi thời đại đang bàn luận về vấn đề của bạn. Các nghệ sĩ hài là những người trị liệu tuyệt vời của nhân loại, bởi vì họ giúp chúng ta cười chính mình. Tôi lớn lên ở Wisconsin, đàn ông chúng tôi gọi nhau bằng biệt danh. Họ gọi tôi là Shorty trong Hải quân, nhưng ngày nay một người nhạy cảm sẽ nói rằng biệt danh này vi phạm quyền của họ do phân biệt đối vì chiều cao! “Đừng quá coi trọng bản thân mình” là một trong những phương châm tuyệt vời trong các nhóm 12 bước, nó nói về việc sống thoải mái và dễ chịu.

Chúng ta thấy bản ngã nhầm lẫn giữa tức giận với sức mạnh và thụ động với yếu đuối. Tức giận mang lại cho bạn năng lượng giả tạo, như thể bạn mạnh mẽ hơn con người mà bạn đang là. Thực ra, người tức giận yếu hơn nhiều, như mọi người đã biết trong môn karate và nhiều môn võ thuật khác. Một khi đối thủ nổi giận, họ sẽ co rúm lại vì tức giận và bạn biết rằng chỉ cần dùng một đòn là có thể dễ dàng hạ gục được họ.

Con thú gồng mình lên vì tức giận nhằm đe dọa những con khác, bởi vì sợ hãi được coi là thụ động hoặc yếu đuối. Trong một số nền văn hóa, người ta sẽ giết bạn nếu bạn bị coi là người thụ động hoặc yếu đuối. Tại những khu vực đó, chấp nhận bị coi thường cũng đồng nghĩa với việc đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình.

Do đó, thực tại trên tầng 200 hoàn toàn khác với thực tại dưới tầng 200. Thật là ngây thơ khi cho rằng người khác cũng giống như bạn. Họ khác; trên thực tế, họ trái ngược hoàn toàn. Bạn nghĩ rằng việc trả tiền hóa đơn là một ý tưởng hay, trong khi họ lại nghĩ bạn là thằng ngốc. Bạn nghĩ rằng nói thật hoặc xin lỗi là chính trực, còn họ lại nghĩ đó là làm việc ngu ngốc. Ở tầng dưới 200, quan trọng là “ăn miếng trả miếng”, trả thù và giành chiến thắng. Trong thế giới nhị nguyên, có người thắng và có người thua (“và tốt hơn hết là không phải tôi”). Đó là tâm lý “thắng-thua”, không có ý thức về “cùng thắng”.

Ở trên tầng 200, sẽ xuất hiện quan điểm khác. Bạn thấy rằng bản ngã mất thì thường là tâm linh được, và ngược lại. Về mặt nghiệp báo, một mất mát có thể là lợi ích lớn nhất trong cuộc đời bạn, vì thế giới thực ra là nơi tuyệt vời nhất để hóa giải ác nghiệp và nhận thiện nghiệp. Do đó, muốn thay đổi thế giới không có nhiều ý nghĩa. Làm việc thiện có thể làm cho người ta tiếp tục gặp ác nghiệp. Điều tưởng chừng như là mất mát hay bi kịch thực chất lại là lợi ích to lớn vì nó mở ra cánh cửa dẫn đến ân phước và tự do tuyệt đối.

 

Hấp dẫn

Ác cảm

Quan trọng

“Người vô danh”

Được

Mất

Tiền bạc

Nghèo nàn

Kích động

Chán nản

 

Bản ngã muốn là người quan trọng và sợ trở thành người vô danh. Bản ngã cần được người ta chú ý và thần thánh hóa việc xuất hiện dưới ánh hào quang của công luận. Ở tầng cao hơn, bạn cảm thấy nhẹ nhõm khi là người vô danh, biết ơn vì được là người bình thường và thoát khỏi mọi ồn ào, phô trương.

Bản ngã bám víu vì nó muốn kiểm soát. Ngay khi bản ngã nghĩ rằng một thứ gì đó là “của tôi”, nó phồng lên vì thấy mình là người đặc biệt. Đó chỉ là “một” cái đồng hồ, nhưng bây giờ nếu nó đã trở thành chiếc đồng hồ “của tôi”, nó sẽ trở thành đặc biệt và đầy tình cảm như “chiếc đồng hồ cũ của ông nội tôi”. Ngay khi bạn thêm từ “của tôi”, bản ngã liền phồng lên và bạn bị mắc kẹt. Sự thật là không có gì thuộc về bạn hết. Tất cả mọi thứ thuộc đều về Thiên Chúa. Bạn chỉ được quyền tạm thời quản lý những thứ đó, trong có có cả cơ thể bạn. Đó là “cơ thể” và đó là “tâm trí”, và khi bạn ngừng coi chúng là “của tôi”, chúng không còn là những khoản đầu tư đầy hấp dẫn của bản ngã nữa.

“Chắc chắn rồi,” bạn nói, “những suy nghĩ trong đầu tôi là của tôi!” Thực ra, chúng không phải là của bạn. Bị tâm trí thôi miên nghĩa là nghĩ rằng những suy nghĩ của nó là “suy nghĩ của tôi”. Trên thực tế, những suy nghĩ phát ra từ trường tâm thức theo lối phi cá nhân. Mỗi tầng tâm thức đều có trường suy nghĩ chủ đạo của mình. Ngay khi bạn kết nối với một tầng tâm thức nhất định, là bạn được kết nối với một trường hút. Trường hút đó đã có những suy nghĩ tương tự như thế trong suốt hàng ngàn năm qua. Nội dung của những suy nghĩ của bạn không có gì là mới mẻ hết. Tôi muốn là người đứng đầu— bạn nghĩ rằng mình là người đầu tiên phát minh ra suy nghĩ đó sao?

Với thái độ tự mãn, bản ngã được thiết kế để luôn luôn khao khát lợi lộc; lúc nào nó cũng có những toan tính về tiền bạc và niềm tin cho rằng cuối cùng, tiền bạc sẽ mang lại hạnh phúc. Thú vị là, nghiên cứu của chúng tôi đã phát hiện được rằng hạnh phúc tương quan với tầng tâm thức, chứ không tương quan với của cải hay sức khỏe. Một người có thể hạnh phúc mà không cần gì hết. Trên thực tế, ở một tầng nhất định, càng ít thì càng tốt! Bạn có thể sống với một chiếc giường cũ, một cái chăn mua ở cửa hàng đồ cũ, một cái hộp đựng nến, một quả táo, một miếng pho mát và một lốc 6 chai Pepsi. Và một con mèo nữa, thế là đủ để ngôi nhà của bạn trở thành thiên đường rồi. Bạn có cần gì để đọc không? Không. Bạn có cần xem truyền hình không? Không. Bạn có cần cập nhật tin tức không? Không.

Người trải nghiệm của bản ngã sợ nhàm chán, và nó sống nhờ năng lượng mà nó lấy được từ phấn khích. Làm sao siêu việt được cảm giác sợ nhàm chán? Đơn giản là hãy cho phép mình cảm thấy nhàm chán và tìm hiểu lý do tại sao bạn cảm thấy nhàm chán và cảm xúc đó là gì. Nếu bạn muốn khám phá những gì người trải nghiệm cảm thấy, hãy cho phép bản thân mình cảm thấy cái đó, chứ đừng chìm đắm trong việc trốn tránh thực tại, trở thành người nhàm chán và chỉ cần chiêm nghiệm: Nhàm chán là gì, và tôi đang trải nghiệm điều gì? Tại sao tôi lại ác cảm với nó? Đó là cách rất nhanh để tìm ra người trải nghiệm là gì, nó làm gì và nó phục vụ cho cái gì. Rồi bạn tự hỏi: “Cái gì đang nhàm chán? Khía cạnh nào trong bản thân mình đang chán nản và than vãn? Nó than phiền về chuyện gì? Chẳng có gì thú vị hết.” Vậy mình nhận được gì từ những điều thú vị? “Cảm giác sống động và hưng phấn.” Đó là sự sống động của linh hồn hay của bản ngã? Hóa ra đó là con thú nhỏ trong bạn lúc nào cũng muốn được giải trí. Nó sợ nhàm chán vì nhàm chán thì chẳng khác gì chết.

 

Hấp dẫn

Ác cảm

Ham muốn

Không nhận được

Địa vị

“Người vô danh”

Được mọi người chú ý

Bị người ta lờ đi

Ý kiến

Bình thường

Khao khát

Chán nản

Kiểm soát

Chấp nhận

Cứu thế giới

Phó thác

 Bản ngã phát triển mạnh là do ham muốn. Nó sợ rằng mình sẽ không “nhận được”. Nó bị thúc ép và áp đặt để có được những thứ mình muốn. Ngược đời, như đã viết trong cuốn Buông bỏ: Trên đường buông bỏ, chính cái tâm mong cầu quá mức lại tạo ra phản lực đẩy ra xa những mục tiêu mà ta đang đeo đuổi. Ví dụ, khi chúng ta tạo áp lực lên người khác để đạt được điều mình muốn, họ tự động chống lại, vì chúng ta đang tìm cách gây áp lực lên họ bằng những yêu cầu hoặc kỳ vọng vô thức của mình. Tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm hiện tượng này, đấy là khi một người nào đó gõ cửa và muốn bán cho mình thứ gì đó. Họ càng ép, chúng ta càng chống cự lại. Doanh nhân người Mỹ Robert Ringer gọi đó là “lý thuyết con trai/con gái”. (Chàng trai gặp cô gái. Ngay khi cô nhận ra anh ta muốn mình, cô trở thành khó gần. Lúc đó, nếu chàng trai quyết định rút lui, thì cô lại muốn anh ta, và ngược lại, anh ta tỏ ra lạnh lùng.)

Chìa khóa để buông bỏ ham muốn là hiểu rằng tất cả những hấp dẫn đều là phóng chiếu của trường năng lượng gọi là “quyến rũ”, như Alice Bailey đã mô tả trong cuốn Glamour - một trong những cuốn sách hữu ích nhất từng được chấp bút. Bản ngã phóng chiếu tính chất đặc biệt và quyến rũ lên đối tượng, phóng chiếu làm cho nó có sức hấp dẫn. Thông thường, mọi người nghĩ rằng sức hấp dẫn nằm bên trong đối tượng, chẳng hạn như bánh mì kẹp phô mai. Nhưng rõ ràng sức hấp dẫn không nằm ở chính cái bánh mì kẹp phô mai, vì nhiều người sẽ không ăn, ngay cả khi họ rất đói. Đối với họ, bánh mì kẹp phô mai thậm chí có thể là thứ đáng ghê tởm: “Nó là thịt. Thịt sẽ giết bạn. Thịt gây ra khí metan và hiện tượng nóng lên toàn cầu. Hãy cùng nhau trở thành người ăn chay để làm mát trái đất!” Vậy nên, cách thoát khỏi ham muốn là thôi phóng chiếu vẻ hào nhoáng lên bất cứ cái gì mà người trải nghiệm đang khao khát. Điều này phù hợp với giáo lý của Đức Phật rằng bước đầu tiên là không để cho chấp trước của bản ngã vào những khoái lạc của giác quan chi phối.

Người trải nghiệm tìm kiếm địa vị và sợ trở thành người vô danh. Họ muốn được mọi người chú ý và sợ bị người ta lờ đi. Họ muốn thể hiện ý kiến của mình về mọi thứ và sợ khi chỉ là người bình thường. Hiện nay tự do ngôn luận là rạp xiếc của bản ngã. Một hôm, một người bạn tốt của tôi nói: “Tôi vừa khám phá ra một điều tuyệt vời nhất. Tôi không cần phải có ý kiến về tất cả mọi thứ. Tôi không cảm thấy bị thôi thúc phải bày tỏ quyền tự do ngôn luận của mình, không cần đứng lên bảo vệ quan điểm và đi ra ngoài với một biểu ngữ. Tôi chưa bao giờ trải nghiệm tự do đến như thế.”

Đây là nhận ra giá trị của việc chỉ là người bình thường và không cần có ý kiến về mọi thứ trên đời. Sống bình thường là cứu đời bạn. Khi một tay súng đang tìm kiếm mục tiêu để bắn, tan vào đám đông là có lợi. “Này! Anh chàng có ria mép màu hồng và tóc đỏ đứng đằng kia kìa!” Bùm! Bản ngã ghét sự tầm thường, nhưng bạn có biết ai là người bình thường bị ám sát trong thời gian gần đây hay không? Cách để sống sót là trở thành người bình thường và hòa bình. Nếu bạn hung hăng, bạn sẽ chiêu mời hung hăng. Khi bạn nhận ra sự an toàn của việc là người bình thường, bạn có thể buông bỏ khao khát của bản ngã là “trở thành một người nào đó”.

Bản ngã muốn được người ta chú ý, muốn có ý kiến, nó thèm khát mọi thứ và muốn kiểm soát. Nó muốn kiểm soát người khác và kiểm soát thế giới, chứ không chịu nhìn vào bên trong. Nó muốn thay đổi thế giới chứ không muốn thay đổi chính mình. Nếu không thích thế giới như nó đang là, thì xin làm một việc tốt cho thế giới bằng cách nhìn vào bên trong và thay đổi chính mình. Tất cả những người làm việc thiện tuyệt vời, những ông vua vĩ đại, đều đã chết. Triều đại của họ đã tìm cách thiết lập quốc gia vĩ đại nhất trên Trái đất này, và giờ đây tất cả bọn họ đều đã chết. Nếu từ “Chúa” xuất hiện ở trụ sở tòa án làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu, thì chúng ta phải tự hỏi: Tại sao lại như thế?

Một trong những phó thác lớn nhất là buông bỏ mong muốn kiểm soát mọi thứ. Thế giới vốn dĩ không có vấn đề; vấn đề là do sự mù quáng và khiếm khuyết trong nhãn quan của chính chúng ta. Nếu chúng ta mở rộng tầm nhìn, chúng ta sẽ thấy rằng thế giới đang tiến hóa theo bản thiết kế không phải do chúng ta tạo ra. Chúng ta lãng mạn hóa việc mọi thứ có thể hoặc nên trở thành như thế nào, và chúng ta chỉ trích những người không đồng tình với mình. Cách thoát khỏi thái độ chỉ trích nằm trong câu nói rất đơn giản: “Chỉ vì bạn thích vani không có nghĩa là bạn phải ghét sô cô la. Và chỉ vì bạn yêu sô cô la không có nghĩa là bạn phải ghét vani.” Chúng ta có thể tận hưởng sở thích của riêng mình mà không cần phải bôi nhọ sở thích của người khác. Lúc đó, chúng ta chấp nhận rằng tâm thức đang tiến hóa theo con đường nhất định, và việc cố gắng kiểm soát mọi thứ giả định rằng mình biết rõ hơn Thiên Chúa. Trí huệ tốt là phó thác thế giới cho Thiên Chúa (điểm hiệu chỉnh 535).

Bản ngã tâm linh muốn cứu thế giới. Thế giới sẽ được cứu khỏi cái gì? Tất cả các đạo sư vĩ đại đều nói cùng một chuyện: vấn đề duy nhất trên thế gian này là vô minh. Vì vậy, nếu muốn làm điều gì đó cho thế gian, thì việc tốt nhất mà bạn có thể làm là cố gắng vượt lên trên vô minh bằng giáo dục, bắt đầu từ chính bản thân mình và thực tế là thế giới mà bạn nhìn thấy thậm chí không tồn tại. Sự vô minh của bản ngã nằm ở giả định vị kỷ rằng thế giới mà nó nhìn thấy chính là bản chất chân thực của thế giới. Bản ngã nhìn thấy sự bất công, nhưng đó là do nó nhìn từ quan điểm nhị nguyên. Từ một góc độ khác, chính sự việc đó lại là công bằng tuyệt đối.

 

Hấp dẫn

Ác cảm

Mới lạ

Sự đơn điệu nhàm chán

Cảm giác mạnh

Bỏ lỡ

Hung hăng

Thụ động

Ngồi lê đôi mách: “trong nhóm”

“Ngoài nhóm”

Hợp thời trang

Cũ kĩ

 Bản ngã thích mới lạ; ghét nhàm chán và thói quen; sợ bỏ lỡ điều gì đó; nó nghiện cảm giác mạnh, rủi ro và nguy hiểm. Âm thanh của tiếng xe đua – rít lên – như thể nói: “Nào các bạn, hãy tham gia cuộc đua đầy phấn khích này, hãy lao vào rủi ro, lao vào vào nguy hiểm!” Người ta có thể lao vào những thái cực khó tin, như một người Pháp bị thôi thúc leo lên những tòa nhà cao nhất ở các thành phố lớn trên khắp thế giới. Anh ta giống như một con ruồi biết bay. Anh ta leo lên sườn những tòa nhà bằng đá cẩm thạch cao chót vót, và cảnh sát liên tục bắt giữ anh ta. Nhưng ngay khi được thả, anh ta lại tiếp tục leo lên các toà nhà. Đây là nghiện cảm giác mạnh.

Bản ngã thích hung hăng, và ác cảm với thụ động. Nó muốn được “ở trong nhóm” và buôn chuyện về “người khác” để không bị “ở bên ngoài”. Nó chấp nhận nguy hiểm chỉ để được ở cùng với nhóm. Bản ngã muốn được tham gia chứ không muốn cô đơn, và muốn trở thành thời thượng chứ không muốn là cũ kĩ. Nó muốn trở thành một phần của nhóm 'thượng lưu/hợp thời' bằng bất cứ giá trị nào.

 

Hấp dẫn

Ác cảm

Là người đúng

Là người sai

Thượng đẳng

Bình thường

Lên tiếng

Im lặng

Cố chấp

Nhượng bộ

Nổi tiếng

Vô danh

 

Và đương nhiên là, bản ngã cần phải luôn luôn là người đúng! Trên thực tế, là người đúng còn quan trọng hơn cả chính mạng sống. Hàng chục triệu người đã hi sinh mạng sống của mình—cả một thế hệ, cả một xã hội, cả một nền văn hóa và cả một quốc gia—chứ không thừa nhận là mình đã sai. Bản ngã muốn giết bạn! Nó nói: “Thà là người đúng mà chết còn hơn là người sai mà sống”. Giờ đây chúng ta thấy kẻ thủ ác thực sự là ai. Nó không phải “ở ngoài kia” mà “ở trong này”.

Bằng cách luôn luôn là người đúng, bản ngã trở thành thượng đẳng, vì nó sợ là người bình thường. Nếu bạn có thể buông bỏ sợ là người bình thường, bị ngươi khác bỏ qua, là người chẳng có gì đặc biệt, thì bạn buông bỏ rất nhiều lập trường cùng một lúc. Nếu bạn chấp nhận là người vô danh, là người bình thường và “không là ai hết”, thì bạn sẽ tránh được rất nhiều rắc rối.

Chủ thể trải nghiệm của bản ngã luôn muốn được lên tiếng, được nói to lên và được người ta lắng nghe, chứ không muốn im lặng. Chính lối tư duy coi mình là trung tâm này đã làm suy yếu quyền tự do ngôn luận ở Hoa Kỳ. Phần lớn các diễn ngôn hiện nay đều không chính trực, vì chúng chỉ còn là những ý kiến cá nhân đầy tính tự mãn mà thôi. Nếu đánh giá mức độ tự do ngôn luận như một khái niệm, thì nó có điểm hiệu chỉnh 340. Nếu hiệu chỉnh nó như cách nó được thực thi ở Hoa Kỳ hiện nay, thì nó chỉ được khoảng 187 điểm. Người ta nói về tự do ngôn luận như thể nó là phần thưởng cao nhất của nền văn minh, nhưng liệu nó có thực sự là phần thưởng cao nhất của nền văn minh khi bất kỳ người nào cũng có thể lên truyền hình hoặc lên mạng xã hội và nói lung tung? Chúng ta có nên chết vì điều đó hay không? Im lặng là điều cấm kỵ đối với bản ngã, vốn cứng đầu, cố chấp và khao khát được là người nổi tiếng.

Chúng ta đang chứng kiến ​​quá trình lộn trái các giá trị tâm linh, trong đó tự do ngôn luận được tôn thờ như là đỉnh cao lý tưởng của nhân loại, nhưng trên thực tế, nó lại là chủ nghĩa vị kỷ trá hình. Vì sao? Vì nó tạo cơ hội bình đẳng cho những quan điểm sai trái. Như đã nói bên trên, giới truyền thông nói “Công bằng và khách quan”, có nghĩa là bạn cần phải có một thành viên của hội những người tin Trái Đất phẳng và đưa ra “quan điểm khác” với tuyên bố rằng Trái Đất hình tròn. Sự phi lý sẽ bị phơi bày ngay lập tức nếu chúng ta áp dụng nguyên tắc tương tự vào các lĩnh vực khác. Khi cần mổ não, liệu bác sĩ phẫu thuật thần kinh có thăm dò ý kiến ​​của những người xung quanh hay không? “Bạn nghĩ tôi có nên kẹp động mạch não trái không? Tất cả đều đồng ý?”

Mặt trái của xã hội hiện nay nằm ở vọng tưởng cho rằng sự thật có thể được quyết định ở hòm phiếu. Nếu luận điểm sai lầm này không được sửa chữa, nó sẽ hủy diệt nền văn minh của chúng ta, như Socrates đã dự đoán vào khoảng năm 350 trước Công nguyên. Ông nói rằng nếu bạn cho mỗi người quyền bỏ phiếu như nhau để xác định sự thật, những người không chính trực sẽ phá hủy xã hội. Ví dụ, Wikipedia có điểm hiệu chỉnh 280, khác biệt đáng kể so với Encyclopædia Britannica có điểm hiệu chỉnh 460, chứng tỏ nó có tiêu chuẩn về sự thật cao hơn hẳn.

Để làm bằng chứng cho lịch sử, chúng ta đang khẳng định ở đây rằng: sự suy tàn của nền văn minh này bắt đầu khi một hành động được định nghĩa về mặt pháp lý là “ngôn luận mang tính biểu tượng”. Nếu hành động là ngôn luận mang tính biểu tượng trong một quốc gia tự do, bạn có thể nói bất cứ điều gì mình muốn mà không có bất kỳ ràng buộc nào. Bất cứ điều gì cũng có thể được coi là ngôn luận mang tính biểu tượng—công khai đốt cờ, nghi lễ của Ku Klux Klan, ấu dâm. Hành động mang tính biểu tượng giờ đây không còn bị ràng buộc bởi bất kỳ điều gì. Không có trách nhiệm, không có giải trình, và kết quả là hỗn loạn: “Tôi có quyền làm những gì tôi muốn vì đó là tự do ngôn luận mang tính biểu tượng.” Khi đó, sự thật không còn ý nghĩa gì nữa, bởi vì sai trái cũng có giá trị như thế.

Làm sao chúng ta có thể thanh thản với viễn cảnh như thế? Chúng ta chấp nhận rằng đây là tiềm năng mang tính nghiệp báo của nhân loại. Chúng ta không đặt câu hỏi về mục đích của Thiên Chúa khi tạo ra đời sống của con người trên thế gian này. Những khó khăn của thế gian dường như là hậu quả của việc tất cả các tầng khác nhau của quá trình phát triển mang tính tiến hóa đồng thời cộng sinh với nhau, dẫn đến những hỗn loạn xã hội. Tuy nhiên, đồng thời, sự đa dạng về lựa chọn như thế lại tạo ra cơ hội phát triển lớn nhất. Thay vì oán giận, chúng ta có thể biết ơn, thế giới này là nơi chốn với cơ hội tâm linh cao nhất cho quá trình tiến hóa tâm thức.

 

Hấp dẫn

Ác cảm

Kháng cự

Chấp nhận, phó thác

Phòng thủ

Nhượng bộ

Thành công

Thất bại

Đặc biệt

Bình thường

Thêm nữa

Ít đi

“Sở hữu”

Tạm quyền

Hào nhoáng

Giản dị

Độc đáo

Bình thường

Thay đổi thế giới

Thay đổi chính mình

 Sức hấp dẫn của bản ngã là bảo vệ quan điểm của mình hơn là nhượng bộ, bởi vì nhượng bộ có nghĩa là từ bỏ việc mình là người đúng; và bản ngã đánh đồng thành công với việc mình là người đúng và thỏa mãn được những ham muốn của nó. Bản ngã quyết định muốn bất cứ thứ gì—nhiều tiền hơn, nhiều tình dục hơn, được nhiều người chú ý hơn—thì đối với nó đều là “thành công”. Nó muốn nhiều hơn và sợ có ít hơn. Cách thoát ra là nhận ra là sẽ tuyệt vời đến mức nào nếu có ít hơn. Thật nhẹ nhõm khi có ít tài sản hơn và do đó, phải trả ít tiền bảo hiểm hơn và không cần hệ thống báo động để bảo vệ “đồ vật quý giá”. Thực ra chúng ta không bao giờ sở hữu bất cứ thứ gì; tất cả những gì chúng ta có chỉ là quyền quản lý tạm thời mà thôi.

Cũng áp dụng cho sự khác biệt giữa sự say mê (điểm hiệu chỉnh 145) và Tình yêu (điểm hiệu chỉnh 500). Khi say mê, bạn “phải” có và sở hữu người đó vì sức hấp dẫn mãnh liệt, tính chất đặc biệt và độc đáo mà bạn đã gán cho họ trong sự phấn khích của quá trình “chinh phục” mà bạn nghĩ là sẽ xảy ra. Cuộc sống của bạn tạm thời bị xáo trộn bởi thôi thúc và thèm muốn, dẫn đến mất ngủ và ám ảnh. Bạn trở thành người ghen tuông điên loạn, thậm chí muốn giết người, nếu người nào đó tán tỉnh người mà bạn thích. Có thể tuyệt vọng, thậm chí tự tử, nếu người kia không quan tâm đến bạn.

Cảm xúc của say mê giải phóng adrenaline và hormone sinh dục, cho thấy nguồn gốc của nó chủ yếu là bản năng giao phối của bản chất động vật. Sự điên cuồng phản ánh cách thức duy trì nòi giống của tự nhiên, và thường xuyên là, sau khi giao phối, cặp đôi chia tay, mặc dù một số loài, ví dụ thiên nga, kết đôi suốt đời. Xã hội coi say mê là một sự điên rồ trong ngắn hạn (“điên vì tình”), mất khả năng kiểm chứng thực tại.

Ngược lại, tầng tâm thức của Tình yêu đi kèm với giải phóng endorphin. Nó không chiếm hữu, bền bỉ đi qua những đổi thay và nghịch cảnh, đồng thời thăng hoa cuộc sống của bạn thay vì làm đảo lộn nó. Lòng biết ơn, sự kiên định, nâng đỡ, niềm vui, hạnh phúc, tương trợ và viên mãn là những đặc điểm của sự gắn kết và hợp tác trong trường năng lượng của Tình yêu. Có sự hòa hợp tự nguyện của Đại ngã, khi những người yêu nhau cùng chia sẻ một ý định chung là phục vụ quan hệ hơn là những mong muốn hay thèm khát của bản ngã cá nhân của mình.

 

Hấp dẫn

Ác cảm

Sự kiện bị bóp méo

Sự thật

Chỉ trích

Tha thứ

Mặc cảm tội lỗi/Đổ lỗi

Nhận trách nhiệm

Bám chấp

Buông bỏ

Áp đặt

Nhường nhịn

Nội dung

Trường/Bối cảnh

Thái quá

Đạm bạc

Kẻ tử đạo

Chấp nhận

Nạn nhân

Nhận trách nhiệm

Báo thù

Tha thứ

Căm thù

Từ bi

Đổ lỗi

Chấp nhận/tha thứ

 

Như chúng ta thấy mỗi đêm trên truyền hình, bản ngã thích bóp méo sự kiện và căm ghét sự thật. Người phỏng vấn hỏi, còn người được phỏng vấn không bao giờ trả lời, mà chỉ lảng tránh để đưa ra ý kiến ​​về một chủ đề khác. Khi kiểm tra bằng cách hiệu chỉnh tâm thức, chúng ta nhận ra rằng hầu hết mọi người, hầu như mọi lúc, đều nói dối một cách trắng trợn.

Bản ngã thích lên án người khác hơn là tha thứ. Dân chúng sợ hãi, gần như là hoảng loạn về mặt cảm xúc, vì cho rằng một số người có tội sẽ “thoát”. Nhưng sự kiện như thế chỉ tồn tại trong thế giới tri giác mà thôi, vì không người nào thoát khỏi nghiệp quả của những gì họ nói hoặc làm; do đó, chúng ta có thể tha thứ và để họ tự chịu trách nhiệm về nghiệp quả của mình.

Làm sao có thể tha thứ cho những hành động vi phạm sự thật một cách trắng trợn? Bằng cách nhận ra rằng bản ngã, khi không được tiết chế, sẽ nghiện cảm giác mình là người đúng, nghiện chiến thắng, và nó không có lựa chọn nào khác ngoài việc bóp méo sự thật. Như Socrates đã nói, mỗi người chỉ lựa chọn những gì họ tin là tốt trong thời điểm đó, và tốt trong bối cảnh đó là chiến thắng. Vì vậy, chúng ta tha thứ cho các chính trị gia vì đã nói dối trắng trợn, ngay cả khi tay họ đặt trên Kinh Thánh. Bóp méo sự kiện là bản chất của chính trị, và khôn ngoan là nên có thái độ thực tế chứ đừng tin vào mọi thứ bạn nghe chỉ vì nó xuất hiện trên bản tin hoặc trên chương trình truyền hình. Hiệu chỉnh tâm thức cho thấy 50% thông tin trên Internet là giả.

Bản ngã khao khát thái quá và ghét đạm bạc. Nếu không thể thắng, nó vẫn có thể rút ra được “nhựa sống” bằng cách đóng vai kẻ tử đạo hoặc người thua. Tuyệt vời nhất, và đứng đầu danh sách người được dân chúng yêu thích nhất, chính là trở thành nạn nhân. Bạn là nạn nhân chứ không chịu trách nhiệm. “Ai là người đáng trách?” Đây là câu hỏi đầu tiên mà người dẫn chương trình nói về sự kiện thảm khốc nào đó. Cầu Brooklyn sụp đổ, và họ hỏi, “Ai là người đáng trách?” Sự thù hận của bản ngã ngay lập tức tìm kiếm kẻ thủ ác, chỉ tay vào mặt nó, trả thù, trừng phạt và căm ghét nó. Đổ lỗi là trò chơi yêu thích của bản ngã. Nó thích đổ lỗi cho ai đó vì lúc này nó có thể vô tư căm ghét họ, tìm cách trả thù và trừng phạt họ bằng roi điện mặc dù chưa bao giờ có bằng chứng nào chứng tỏ tử hình ngăn ngừa được tội phạm.

 

Hấp dẫn

Ác cảm

Xung đột

Hoà bình

Quá khứ

Hiện tại

Sợ

Chấp nhận hiện tượng hữu sinh hữu tử

Biện minh

Chịu trách nhiệm giải trình

Phủ nhận

Thừa nhận

Không kiên nhẫn

Chờ đợi

 

Bản ngã thích xung đột, không thích hòa bình. Người trải nghiệm phát triển mạnh nhờ xung đột. Nếu có khoảnh khắc hòa bình, người ta sẽ nói hoặc làm điều gì đó để vở kịch quay trở lại. Toàn bộ các khu vực đều nghiện xung đột. Ở Trung Đông, nếu có hòa bình trong một giai đoạn nào đó, thì những kẻ gây rối nhanh chóng tìm cách gây ra các cuộc bạo loạn để không có hòa bình nữa. Vì sao? Vì hòa bình thì họ không còn lý do tồn tại nữa. Mặt khác, chúng ta có những nhóm người như Bác sĩ Không Biên giới (điểm hiệu chỉnh 500) không đứng về phe nào. Nếu người bị thương tới, họ sẽ chữa cho người đó, và không hỏi người đó đứng về phe nào.

Bản ngã thích bám vào quá khứ và né tránh hiện tại. Nó thực sự bám vào sợ hãi, vì nó coi sợ hãi là nền tảng của sống còn. Nó không thấy rằng chỉ cần lập kế hoạch cho tương lai là đủ rồi, hoặc thận trọng là tất cả những việc cần làm trong khi xử lý hầu hết các tình huống, chẳng hạn như băng qua đường một cách an toàn. Tại sao phải run rẩy đứng trên vỉa hè vì sợ hãi?

Bản ngã luôn luôn tìm cách trốn tránh trách nhiệm và ghét phải có trách nhiệm giải trình. Vì vậy, nó thích phủ nhận chứ không thừa nhận sai lầm. Nó thiếu kiên nhẫn và ghét phải chờ đợi. Nó muốn có thứ mình muốn ngay lập tức. Với thái trung thực với chính mình, chúng ta nhận thức được từng hấp dẫn và ác cảm này đang hoạt động trong đời sống hàng ngày. Siêu việt các rào cản sẽ diễn ra một cách tự động nếu chúng ta sẵn sàng buông bỏ những phần thưởng mà mình nhận được từ nơi mình đang đứng hiện nay.

 TỪ NHỤC NHÃ TỚI KIÊU HÃNH

Bên cạnh những sự hấp dẫn và ác cảm chung chung giữ cho bản ngã tiếp tục sống, còn có những sự hấp dẫn và ác cảm đặc thù ở từng tầng tâm thức giúp giữ nó ở vị trí cũ. Siêu việt tầng tâm thức sẽ tự động diễn ra khi từ bỏ hấp dẫn và chấp nhận ác cảm.

Nhục nhã là hậu quả của việc phủ nhận thực tại của cả tự ngã lẫn Đại Ngã. Hấp dẫn là trừng phạt chính mình, phán xét chính mình, làm nhục chính mình, trở thành người tiêu cực, chán nản, nghiêm khắc và cứng nhắc, trốn tránh và cúi đầu. Ác cảm là tha thứ cho chính mình, sống đúng với con người mà mình đang là, khẳng định món quà cuộc đời, xác lập giá trị nội tại, tôn trọng chính mình, chăm sóc cơ thể và đón nhận khả năng đáng yêu bẩm sinh của mình.

Mặc cảm tội lỗi và Thù hận bắt nguồn từ niềm vui thầm kín mà bản ngã nhận được từ thái độ tiêu cực. Buông bỏ mặc cảm tội lỗi và thù hận mang lại lợi ích cho tất cả các tầng của đời sống, vì những quan điểm này của bản ngã làm hại chính mình và người khác. Sự hấp dẫn nằm ở việc đổ lỗi cho kẻ gây ra tội lỗi (mình, người khác hoặc xã hội), nuông chiều kịch tính của việc sám hối (“áo vải thô và tro rắc lên đầu”), và thái độ kiêu hãnh kỳ lạ của quan điểm: “Hãy xem tôi tội lỗi đến mức nào!”—tất cả những việc này sẽ làm cho bạn bị mắc kẹt trong mặc cảm tội lỗi và căm ghét chính mình. Sám hối thường có tính nhất thời; phát triển tâm linh là trường kỳ. Ác cảm (của bản ngã) là khoan dung và từ bi đối với chính mình hay người khác; nó khước từ lòng thuơng xót của Thiên Chúa, khước từ buông bỏ là người “đúng”, và không sẵn sàng nhận trách nhiệm và thay đổi

Thờ ơ thường đối trọng bởi “đức tin, hy vọng và từ thiện”. Lợi ích của việc giúp đỡ người khác được thể hiện rõ ràng trong toàn xã hội, dù đó là do lựa chọn, cảm hứng, hay thậm chí là sự cưỡng bách (phục vụ cộng đồng theo lệnh của tòa án). Hấp dẫn là than thân trách phận, tuyệt vọng và bất lực. “Lười biếng” là một “tội nặng” trong Kitô giáo vì nó phủ nhận món quà thiêng liêng của cuộc đời. Phần thưởng của bản ngã là tự coi mình là người không đáng để nỗ lực, là người thụ động chứ không chủ động, từ chối giúp đỡ và nói: “Tôi không thể. Tôi không có khả năng.” Đó là ác cảm đối với việc hành động, đối với việc cầu xin giúp đỡ, đối với việc thể hiện sự quan tâm đến đời sống, và đối với việc hòa nhập thay vì cô lập chính mình.

Thường thì chỉ cần chăm sóc mấy con vật nuôi cũng có thể là khởi đầu rất tốt. Chúng tôi thấy sự kiện này trong các chương trình huấn luyện chó dẫn đường rất thành công trong các nhóm tù nhân tái phạm nhiều lần, một số người thậm chí còn quyết định ở lại sau ngày mãn hạn tù để hoàn thành khóa huấn luyện với những chú chó mà người ta giao cho họ. Những bệnh nhân lớn tuổi rơi vào tình trạng thờ ơ trở nên phấn chấn hơn nếu viện dưỡng lão cung cấp chó cưng cho họ. Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay chỉ ra rằng chỉ cần có một con thú cưng cũng làm giảm mức độ trầm cảm và huyết áp cao, đồng thời có tác động tích cực đến sức khỏe tổng thể. Do đó, chăm sóc các thực thể sống khác có tác dụng trị liệu, được thể hiện trong việc những người nghiện rượu tuyệt vọng giúp đỡ những người mới, và những vận động viên chán nản vượt qua được thái độ bi quan bằng cách khích lệ các thành viên khác trong đội.

U sầu bám vào quá khứ và từ chối tận hưởng cuộc sống trong hiện tại. Hấp dẫn nằm ở việc sống mãi trong quá khứ, được người khác thông cảm, thu được “nhựa sống” từ mất mát, tức giận mãi trước mất mát, cảm thấy trống rỗng và buồn bã. Ác cảm là nhìn thấy rằng hạnh phúc xuất phát từ bên trong chứ không phải ở bên ngoài; ác cảm với việc vượt qua mất mát và chấp nhận bằng cách xử lý cảm xúc; và ác cảm trước việc nhìn nhận sự hoàn hảo tổng thể của cuộc đời, trong đó có vô thường, thay đổi và cái chết thể xác như là sự kiện không thể nào tránh khỏi.

Sợ hãi chính là sự nuông chiều hoảng loạn; kịch tính hóa và để cho cảm xúc chi phối quá mức trước những hiểm nguy có thật; và lo âu thái quá về những sự kiện thường nhật — như hẹn gặp nha sĩ định kỳ, gặp gỡ người mới, v.v. — những việc có thể làm tâm trí tê liệt và kết tinh thành đủ loại chứng ám ảnh sợ hãi. Sức hấp dẫn nằm ở phấn khích trước hiểm nguy, ở việc bị cảm xúc chi phối thái quá, bi kịch hóa, tự biến mình thành nạn nhân, rồi co rút lại và lẩn trốn trong niềm tin rằng nhỏ bé sẽ giúp bảo toàn mạng sống. Ác cảm trước việc có thái độ bình tĩnh, cầu nguyện, buông bỏ sợ hãi cũng như nhu cầu kiểm soát, đối mặt với phản đối, và thừa nhận rằng chẳng có gì “ở ngoài kia” có quyền năng tác động tới mình. Thận trọng khác với sợ hãi. Thận trọng là suy nghĩ thấu đáo về sự việc và lường trước các tình huống mà không để cảm xúc chi phối.

Vì Sợ hãi coi đời sống chỉ là vật chất, với sợ hãi tột cùng là cái chết của thân xác, chúng ta sử dụng kỹ thuật “Vậy thì sao?”. Nó hiệu quả với bất kỳ nỗi sợ hãi nào. Xin lấy ví dụ sợ rằng tôi sẽ mất xe. Vậy thì sao? Tôi sẽ không có phương tiện đi lại. Vậy thì sao? Tôi sẽ mất việc. Vậy thì sao? Không có công việc nào khác như thế nữa. Vậy thì sao? Tôi sẽ không có tiền. Vậy thì sao? Tôi sẽ nghèo. Được rồi, vậy bạn nghèo, rồi sau đó thì sao? Tôi sẽ chết đói. Ở dưới cùng của một loạt sợ hãi là chết. Do đó, quá trình này là “chết trước khi chết”, như đã được nói trong nhiều truyền thống tôn giáo. Nghĩa là, một khi bạn đối mặt với cái chết mà không thể nào tránh được, sợ hãi bị kìm nén về chết chóc sẽ không còn chi phối được bạn nữa. Không gì có thể làm cho bạn sợ hãi nữa. Sợ hãi là những sợ hãi chồng chất lên nhau thành đống lớn, và dưới đáy của nó là sợ cái chết thể xác. Một khi bạn đã chấp nhận chết chính cái thân xác này, thì hầu hết sợ hãi sẽ không còn.

Ham muốn là trường năng lượng thực sự làm phiền hầu hết mọi người trong hầu hết các giai đoạn trong cuộc đời vì sức hấp dẫn của chiến thắng, của tiền bạc, giành quyền kiểm soát, được chấp thuận, có thành công, có danh tiếng, của cải, chinh phục, và tất nhiên, là người đúng. Người ta sẵn sàng chết vì điều đó. Người ta sẵn sàng chết hàng loạt chỉ để giữ cái danh “mình là người đúng”. Họ thà chết và là người đúng, còn hơn là người khiêm nhường và thừa nhận sai lầm. Đây là động lực của nghiện ngập sẽ đẩy bạn tới cái chết, không cho phép bạn từ bỏ chất mà bản ngã tin là nguồn gốc của trải nghiệm của nó. Trong lịch sử gần đây, hàng triệu người đã chết khi theo đuổi vọng tưởng nào đó, chứ không chịu thừa nhận đó là sai lầm. Kế hoạch kinh tế nông nghiệp của Chủ tịch Mao làm cho hàng triệu người chết đói. Việc đặt trọn niềm tin vào Chủ tịch Mao (điểm hiệu chỉnh 185) đã dẫn đến một trong những nạn đói lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Sau đó, dường như chủ nghĩa Mác (điểm hiệu chỉnh 130) sẽ bị coi là một hệ tư tưởng có vấn đề. Thay vào đó, nó được chấp nhận và lan rộng hơn nữa trên khắp thế giới, và vì vậy, chúng ta thấy, do thái độ kiêu hãnh của bản ngã, người ta không thể học được gì từ lịch sử. Đây là ham muốn của bản ngã được là người đúng, được kiểm soát, được chấp thuận—tất cả đều quen thuộc và là một phần của cuộc sống thường nhật. Chúng ta sợ thất bại và sợ tỏ ra là người thụ động, là người yếu đuối, là người bình thường và nhàm chán. Sức hấp dẫn là thỏa mãn tức thì, được trở thành người đặc biệt và được mọi người chú ý. Chúng ta thấy những hành động cực đoan mà người ta làm để được chú ý; họ sẽ nói bất cứ điều gì, dù vô lý đến mức nào, miễn là họ được lên truyền hình. Ác cảm với chờ đợi, với việc trở thành “không là ai”.

Tức giận hiển nhiên là phòng thủ, như đã thấy trong thế giới động vật. Sức hấp dẫn nằm ở cảm giác bành trướng và mạnh mẽ hơn con người mà bạn đang là. Con vật trong bạn sợ tỏ ra là yếu đuối, vì vậy nó gầm gừ, nhe răng và tìm cách giành chiến thắng bằng hăm dọa. Ác cảm là trở thành người bình tĩnh, an bình, nhượng bộ và buông bỏ. Nó không muốn thấy “kẻ xấu” được tự do. Nó muốn trả thù và chế giễu lời dạy của Đức Phật, nói rằng không phải lo lắng về việc trả thù kẻ làm hại mình, vì họ sẽ tự hủy hoại chính mình. Với hiệu chỉnh tâm thức, chúng tôi đã nhiều lần khẳng định chân lý của giáo lý này.

Kiêu hãnh như là ngạo mạn tâm linh rất khác với tự trọng – do nỗ lực mà ra, và do đó, nó không phải là bản ngã bị phồng lên. Kiêu hãnh là phóng chiếu, giúp bạn có địa vị, được chú ý và tạo điều kiện để bạn trở thành người vượt trội. Đó là sự phù phiếm của suy nghĩ, tư duy, khái niệm, niềm tin, hệ tư tưởng và quan điểm. Sức hấp dẫn nằm ở chỗ “Tôi biết,” cảm giác là người vượt trội, người đặc biệt, người được lựa chọn và là người trong giới tinh hoa. Vị thế cao hơn về đạo đức là vượt trội về đạo đức, có điểm hiệu chỉnh 190, dù xuất phát từ hệ thống niềm tin “tả” hay “hữu”. Nếu bạn “phải đạo về mặt chính trị,” thì bạn đứng cao hơn những người bình thường “không phải đạo.” Thái độ kiêu hãnh kiểu này là sự đảo ngược đầy nghịch lý của chủ nghĩa bình đẳng (quan điểm cho rằng mọi người đều có giá trị như nhau) vì nó tuyên bố rằng: “Chúng tôi tốt hơn những người khác vì chúng tôi là những người bình đẳng hơn những người khác”. Ác cảm đối với “Tôi không biết”, ác cảm với khiêm nhường và là người bình thường. Nhưng ác cảm lớn nhất của nó chính là thừa nhận rằng mình là người “sai”.

Thay vì kiêu hãnh từ chối thừa nhận sai lầm, chúng ta có thể chấp nhận rằng đời sống con người là quá trình khám phá. Nếu những gì chúng ta đang chứng kiến ​​là quá trình tiến hóa của tâm thức, trong đó sáng tạo đang diễn ra theo lối tự phát, thì những gì chúng ta coi là sai lầm thực chất lại là thành công, vì nó thể hiện kết quả của sai lầm mà sau đó có thể được sửa chữa. Nếu hàng triệu người chết đói vì hệ thống niềm tin Marsixt, thì đấy chính là minh chứng hiển nhiên rằng nó là sai, giúp người ta phân biệt và nắm được sự thật.

Đó là lý do vì sao chúng ta không thể dự đoán được tương lai. Tương lai chưa được tạo ra, vì tất cả chúng ta đều có đóng góp - thông qua quá trình tiến hóa của tâm thức – trong từng khoảnh khắc, khi chúng ta nói “có” với một số lựa chọn và nói “không” với những lựa chọn khác. Chúng ta không thể dự đoán tương lai, vì nó chưa có thực tại. Nó chỉ là tiềm năng đang chờ được hiện thực hóa bằng ý định và lựa chọn. Nếu chúng ta có thể dự đoán được tương lai, thì sẽ khẳng định rằng mọi thứ đã được an bài. Nếu định mệnh là quy luật của vũ trụ, thì đời sống của chúng ta sẽ không có giá trị; chúng ta sẽ chỉ là những cái máy tự động.

 TỪ CAN ĐẢM TỚI MÊ LY

 

Tầng

Cám dỗ

Can đảm

Bốc đồng, phô trương nam tính, liều lĩnh

Trung dung

Thờ ơ, xa lánh

Sẵn sàng

Cam kết quá mức, can thiệp quá sâu

Chấp nhận

Thiếu hành động phù hợp

Lý trí

Trí thức hóa, kẹt trong nguyên nhân - kết quả

Tình yêu

Quyến rũ, bóc lột, nhầm lẫn với sở hữu cá nhân

Vui vẻ/mê ly

Phán đoán kém

 

Can đảm có động lực, có sức mạnh đích thực và nghị lực để vượt qua trở ngại, đối mặt với thử thách và giải quyết chúng với thái độ kiên cường và quyết tâm. Trên thực tế, thử thách phổ biến nhất đối với can đảm là lo lắng, nghi ngờ chính mình và sợ thất bại. Sợ thất bại giảm bớt khi nhận ra rằng bạn chỉ chịu trách nhiệm về ý định và nỗ lực chứ không chịu trách nhiệm về kết quả, kết quả phụ thuộc vào nhiều điều kiện và yếu tố khác, không mang tính cá nhân. Cám dỗ liều lĩnh khi đối mặt với sợ hãi, và hành động mạo hiểm theo lối nam tính, xuất phát từ tự tin và được trao quyền.

Trung dung tạo điều kiện cho thái độ mềm dẻo và đánh giá vấn đề một cách thực tế, mà không phán xét. Trung dung có nghĩa là tương đối không chấp trước vào kết quả. Cám dỗ là trở thành người thờ ơ và chống lại việc trở thành người đóng góp tích cực và thân thiện cho đời sống; thân thiện là ấm áp và kết nối, mở ra cánh cửa cho tình yêu.

Sẵn sàng là một thái độ vui vẻ, có ích và tự nguyện trong việc nhiệt tình đáp ứng nhu cầu của người khác một cách nhân ái, cùng có lợi và tử tế, phù hợp với Quy tắc Vàng: “Hãy đối xử với người khác như cách bạn muốn họ đối xử với mình”. Hạn chế của tầng này là cho rằng chính nỗ lực và cá tính của mình là nguyên nhân, trong khi trên thực tế, quá trình phát triển và thành công của bạn là do sự tỏa sáng của Đại Ngã. Do đó, cám dỗ là lao vào quá nhiều việc nhằm giúp đỡ người khác vì bạn tin rằng chính mình là nguồn gốc của cải tiến.

Chấp nhận sống hài hòa với các quy luật của cuộc đời và cho phép tham gia vào đời sống theo đúng bản chất của nó, mà không cố gắng ép buộc nó phù hợp với bất kỳ chương trình nghị sự nào. Năng lượng này là vô hại, vì nó không phán xét, kiểm soát, thay đổi hay thống trị người khác, và nó không có mục đích “cứu thế giới” hay lên án vô số biểu hiện của nó. Cám dỗ là không hành động thích hợp khi tình huống đòi hỏi hành động—ví dụ, thiếu chính trực ở nơi làm việc hoặc các lĩnh vực khác trong đời sống đòi hỏi sáng suốt và đứng lên bảo vệ sự thật.

Lý trí là tầng của khoa học; y học; thần học; và nói chung là năng lực tăng lên về lý tính, khái niệm hóa và hiểu biết. Do đó, kiến ​​thức và giáo dục được đánh giá cao. Ở tầng này, rất dễ thấy cây mà không thấy rừng; dễ bị mê hoặc bởi các khái niệm, ý tưởng, kiến ​​thức và lý thuyết; và cuối cùng bỏ lỡ điểm mấu chốt. Cám dỗ là đồng nhất mình với tâm trí, và trí thức hóa trở thành mục đích tự thân. Biết “về” một cái gì đó không phải “là” cái đó.

Tình yêu không xuất phát từ tâm trí; nó tỏa ra từ trái tim. Là coi tha thứ, nuôi dưỡng và hỗ trợ như là cách sống trên thế gian này. Tình yêu mở rộng cảm thức về chính mình và lan tỏa hiệu ứng nâng cao tinh thần đến người khác. Cám dỗ ở đây là coi năng lượng của Tình yêu xuất phát chính bản thân mình chứ không phải từ Thần tính, và thông qua quá trình cá nhân hóa như thế, ta tự nhận công lao của những tác động mà trường năng lượng đó tạo ra. Nguy hiểm nằm ở chỗ ta vô tình bị mê hoặc bởi những lời tán dương và phóng chiếu từ người khác.

Niềm vui/Mê ly là những trạng thái ở tầng từ 550 trở lên, trong đó sự hoàn hảo bẩm sinh và vẻ đẹp tuyệt vời của tất cả những gì tồn tại đều tỏa sáng như một luồng sáng rực rỡ. Về mặt chủ quan, dòng chảy của năng lượng tâm linh được cảm nhận như là sự ngọt ngào thanh khiết lan tỏa khắp cơ thể; và nguồn năng lượng này có khả năng hỗ trợ chữa lành màu nhiệm cho người khác, nếu nó phù hợp với nghiệp quả của họ. Vì mọi người đều được nhìn thấy trong sự hoàn hảo và đáng yêu bẩm sinh sâu thẳm nhất của họ, mặt trái là phán đoán kém khi chỉ nhìn thấy những điều tốt đẹp nhất ở mọi người và những đề xuất của họ; do đó, việc có một người bạn đồng hành đáng tin cậy để làm người canh gác là rất hữu ích.

 CON ĐƯỜNG BUÔNG BỎ

Cuối cùng, siêu việt các tầng tâm thức xảy ra bằng cách buông bỏ. Thay vì cố gắng ép buộc thay đổi trong chính mình, việc duy nhất cần làm là cho phép Thần Tính làm điều đó bằng cách buông bỏ sâu sắc mọi kiểm soát, kháng cự và vọng tưởng về được hay mất. Không cần phải phá hủy hay tấn công vọng tưởng mà chỉ cần để cho chúng tan rã khi các “phần thưởng” được buông bỏ. Không cần hoặc sử dụng bạo lực bằng các cơ chế như mặc cảm tội lỗi là không hiệu quả, cũng không cần phải cố gắng theo đuổi hay thúc đẩy quá trình tiến hóa tâm linh, vì nó tự động tiến hóa theo cách riêng của mình khi những trở ngại và kháng cự của vọng tưởng được buông bỏ.

Sức mạnh đích thực của Sự Thật là phẩm chất của Tình Yêu Thần Thánh – trong sự thương xót vô biên của nó - làm tan rã các lập trường, đưa chúng trở về với Thực Tại của Đại Ngã. Việc cần làm là chấp nhận rằng thời điểm là do Đại Ngã, chứ không phải tự ngã, vì chỉ có Đại Ngã mới có khả năng kết hợp các phẩm chất nghiệp chướng mà ta chưa biết. Do đó, chúng ta buông bỏ quan điểm của mình về cách thế giới “nên” như thế nào. Chúa Jesus, Đức Phật, và tất cả bậc thầy vĩ đại đều nói rằng thế giới hoàn hảo như nó đang là—vì sự đa dạng phong phú của các lựa chọn - từ tàn bạo đến thánh thiện - mang lại cơ hội tối đa cho quá trình tiến hóa tâm linh của tất cả mọi người.

Trường tâm thức vô biên và phi tuyến tính không chỉ hiện diện khắp nơi, và toàn tri mà còn toàn năng. Linh hồn được nâng lên là hệ quả của bản chất mà nó đã trở thành bằng sự chấp thuận của chính ý chí tự do của nó. Tâm từ bi dành cho tự ngã là thuộc tính của Đại Ngã. Vì vậy, kháng cự lớn cuối cùng cần được buông bỏ chính là kháng cự lại Tình Yêu luôn hiện hữu của Thiên Chúa.



[i] Holy Spirit – thường được dịch là Chúa Thánh Thần hoặc Thánh Linh – là một khái niệm trung tâm trong thần học Kitô giáo, nhưng đồng thời cũng mang chiều sâu huyền nhiệm vượt khỏi khuôn khổ tín lý thuần túy. Holy Spirit (Chúa Thánh Thần): Không phải một hình tướng để tin, mà là sự Hiện diện để trực nhận. Là tiếng nói rất khẽ trong tâm, luôn nghiêng về phía yêu thương thay vì sợ hãi. Khi ta lắng lại khỏi cái tôi, điều còn lại chính là Thánh Thần —ánh sáng dịu dàng nhắc ta nhớ mình chưa từng tách khỏi Thiên Chúa..

[ii] Grace - Ân phước: Không phải phần thưởng cho người xứng đáng, mà là dòng yêu thương vốn luôn tuôn chảy. Ân phước không đến khi ta làm đủ điều, mà hiển lộ khi ta thôi kháng cự và mở lòng đón nhận. Đó là sự ban tặng vô điều kiện của Thiên Chúa —dịu dàng, lặng lẽ, và luôn có sẵn.

[iii] Divine Justice  - Công lý Thiêng liêng - Sự vận hành hoàn hảo của Chân lý và Tình yêu, qua đó mọi điều sai lạc tự tan biến và mọi sự được đưa trở về trật tự nguyên thủy của Thượng Đế.

[iv] The Divine: Thực Tại Thiêng liêng tối hậu — Nguồn cội vô hình của mọi hiện hữu; vượt ngoài tư duy và hình tướng, được trực nhận trong tĩnh lặng và hợp nhất. 1. Divine (tính từ – thiêng liêng / thuộc về Thần tính): Chỉ phẩm tính xuất phát từ Thiên Chúa — trong sáng, toàn hảo, vô điều kiện. Khi một điều gì được gọi là “divine”, điều ấy phản chiếu bản chất vượt khỏi cái tôi và sợ hãi. 2. The Divine (danh xưng – Thực Tại Thiêng liêng / Thần tính Tối hậu): Không phải một hữu thể giữa các hữu thể, mà là Nguồn cội vô hình của mọi hiện hữu. Không hình tướng nhưng hiện diện trong mọi hình tướng. Không thể nắm bắt bằng tư duy, chỉ có thể được trực nhận trong tĩnh lặng và hợp nhất.