February 13, 2026

10 BƯỚC KIẾN TẠO SỨC MẠNH ĐÍCH THỰC ĐỂ THÀNH CÔNG

 


Phạm Nguyên Trường dịch

Chương 5 

10 BƯỚC KIẾN TẠO SỨC MẠNH ĐÍCH THỰC ĐỂ THÀNH CÔNG 

Mức độ mà chúng ta không cho phép bản thân mình trải nghiệm thực tại của Chân ngã được thể hiện bằng thái độ ghen tị với những người đã thực sự làm được điều đó. Chúng ta ghen tị với sức sống của họ trong những lĩnh vực mà chúng ta cảm thấy mình bất lực. Khi xuất phát từ trường năng lượng nằm dưới tầng 200 trên Bản đồ Tâm thức, chúng ta không thích, chúng ta chỉ trích và đánh giá thấp những người có điểm hiệu chỉnh cao hơn. Tự ngã nhỏ bé tìm kiếm danh vọng và tiền tài bằng cách làm hạ thấp người khác. Đây là một câu chuyện minh họa cho xu hướng tiêu cực này: 

Một người đàn ông đi dọc theo bờ biển và gặp một ông lão đánh cá với một cái xô đầy cua biển. Anh ta nói với ông lão: “Ông nên đậy cái xô, nếu không cua sẽ bò hết ra ngoài mất thôi.”

“Không cần đâu,” ông già thông thái nói. “Ông thấy đấy, khi một con cua bò lên thành xô để ra ngoài, thì những con khác sẽ đưa càng lên, tóm lấy nó và kéo nó xuống. Vì vậy, không cần phải đậy.”

 Khi trở thành người tự do và hạnh phúc hơn, chúng ta sẽ thấy rằng thế giới chẳng khác gì cái xô đầy cua, và lúc đó chúng ta sẽ tìm cách vượt lên trên những ràng buộc tiêu cực này bằng cách đón nhận thái độ và lối sống bên trong, thừa nhận sự vĩ đại trong chính con người mình và trong những người khác. Thành công thực sự không đến từ việc tấn công một người được coi là kẻ thù mà đến từ việc nuôi dưỡng thành công trong chính mình và trong tất cả mọi người xung quanh.

Sự nghiệp bi thảm của nhiều thiên tài ngay sau khi được công chúng tung hô là minh chứng cho thấy: có loại thành công này, và cũng có loại Thành Công khác. Cái trước thường hủy hoại sinh mệnh, còn cái sau thăng hoa sự sống. Thành Công đích thực nuôi dưỡng và nâng tầm tâm linh; đó không phải là những thành tựu riêng lẻ, mà là thành công của một con người toàn diện, kiến tạo một lối sống mang lại lợi lạc không chỉ cho bản thân mình mà cho tất cả những người xung quanh. Tự ngã nhỏ bé hoà điệu với những mô thức điểm hút yếu (như tâm lý của loài cua); trong khi Đại ngã hoà điệu với những trường năng lượng có sức mạnh cao hơn — đó chính là Tình yêu.

Thay vì ghen tị hay căm ghét thành công, những người thực sự thành công bắt chước, sao chép, đồng nhất với nó và phát triển các mô thức thành công. Chịu trách nhiệm về hành động của chính mình và hậu quả mà chúng gây ra, tự nó đã có sức mạnh vô cùng to lớn và gần như ngay lập tức đưa tầng ý thức đã được hiệu chỉnh của người đó lên trên 200 rồi. Tuệ giác vô cùng quý giá mà tất cả những người đã tiến hóa về mặt tâm linh đều học được trong quá trình phát triển là thấy rằng tâm thức cá nhân của chính họ tạo được ảnh hưởng quyết định đối với tất cả những sự kiện xảy ra trong cuộc đời của họ.

Những người thực sự thành công luôn đồng nhất mình với (ABC), (tức là với tức là những nguyên tắc tổ chức, thái độ bên trong và ý chí chủ đạo – xem bên trên, ND). Họ nhận ra rằng mình chỉ là một kênh dẫn mà thông qua đó, ABC vận hành để tạo ra thành công trên thế gian này. Chính vì họ đồng nhất mình với cội nguồn thực sự của thành công chứ không phải những biểu hiện bề nổi, cho nên họ không bao giờ sợ đánh mất nó. Họ có thể bị mất tài sản hay địa vị, nhưng sẽ tái tạo lại chúng ngay lập tức, bởi tất cả đều bắt nguồn từ ABC của họ — tức là sức mạnh nội tại ở bên trong. Chúng ta thường nói về những người như thế: “Bất cứ thứ gì họ chạm vào cũng biến thành vàng.” Ngược lại, những người coi thành công thuộc về lĩnh vực bên ngoài (các biểu hiện vật chất A → B → C) sẽ luôn sống trong bất an, bởi họ lầm tưởng rằng cội nguồn của thành công nằm “ở ngoài kia”.

Thành công thực sự là hệ quả tự nhiên của việc hoàn điệu đời sống của bạn với các mô thức năng lượng cao và tuân theo một số bước nhất định. Thành công thực sự không chỉ là về công việc, doanh nghiệp hay tiền gửi trong ngân hàng. Nó là con người tổng thể của bạn, một trường năng lượng truyền cảm hứng, nâng đỡ và làm đẹp cuộc đời, dù bạn đang làm gì thì cũng thế. Thành công thực sự bắt nguồn từ việc hòa điệu với năng lượng của cuộc đời. 

BƯỚC 1: Ý ĐỊNH

Xem xét lại ABC trước khi làm bất cứ điều việc gì liên quan đến ABC. 

Liệu nguyên tắc nền tảng mà bạn đang dựa vào để vận hành có sức hấp dẫn phổ quát hay không? Liệu tất cả mọi người có sẵn sàng ủng hộ nó nếu họ biết hay không? Nếu không, thành công đó đã tự động bị giới hạn ngay từ khi bắt đầu.

Chúng ta có thể xem xét ví dụ ở tầng quốc tế của nước Đức Quốc xã, đất nước mà trong một giai đoạn, chắc chắn dường như có tất cả những dấu hiệu của người chiến thắng. Họ đã tập hợp được lực lượng quân sự ấn tượng nhất từng được có trên hành tinh này. Nhưng họ đã sụp đổ. Khẩu hiệu của họ là gì? Deutschland über Alles (Nước Đức trên hết!). “Nước Đức trên hết” không hẳn là có sức hấp dẫn phổ quát, đúng thế không? Nó khó có thể giành được cảm tình của người Bỉ, người Pháp, người Anh, hay bất kỳ người nào khác. Đó là một cuộc đấu tranh có kẻ thắng và người thua: chúng ta thắng; còn họ thua!

Nếu ngay từ đầu động cơ chỉ là giành giải thưởng, là bán được nhiều xe hơn các đại lý ô tô khác trong thị trấn, hoặc trở thành người giàu có và nổi tiếng, thì nỗ lực đó thậm chí sẽ không thể khởi động hành trình dẫn tới thành công thực sự. Sự kiện là bạn phải trở thành người giỏi nhất trong một lĩnh vực nào đó hoặc trở thành người giàu có và nổi tiếng có thể có sức hấp dẫn đối với bạn, nhưng liệu sự kiện đó có hấp dẫn người khác hay không? Không. Nếu bạn làm dịch vụ và có thái độ giúp những người khác vươn tới mục tiêu của họ, thì bạn đang vận hành doanh nghiệp có sức hấp dẫn phổ quát.

Chỉ tham vọng không thôi thì sẽ không mang lại thành công. Nhưng nếu mục đích là để làm cho thế giới này tốt đẹp hơn đối với mọi người hoặc làm cho đời sống trở thành an toàn hơn, vui hơn và đẹp hơn, thì mọi người đều có thể ủng hộ việc làm đó. Xuất phát từ nguyên tắc phổ quát là xuất phát từ sức mạnh đích thực. Xuất phát từ lợi ích cá nhân là xuất phát từ bạo lực và sẽ dẫn đến phản lực.

Ở một khía cạnh nào đó, Bản đồ Tâm thức có thể được coi là thang đo bản ngã, với tầng 200 là điểm tựa, tại đó ích kỷ bắt đầu chuyển hướng sang vị tha, và tầng 500 là điểm tựa, tại đó vị tha đã trở thành thái độ cống hiến ở bên trong của người đó. Dấu hiệu của thành công thực sự là động cơ (ABC) có điểm hiệu chỉnh bên trên tầng 200, càng cao thì càng mạnh mẽ hơn, đấy là do sức hấp dẫn rộng lớn hơn, vượt ra ngoài vị kỷ cá nhân.

Chúng ta thấy sự khác biệt giữa các tầng này ở các kỳ thế vận hội Olympic. Những hậu quả thảm khốc cả trong đời sống cá nhân lẫn công chúng, vốn bắt nguồn từ các động cơ xuất phát từ những tầng năng lượng dưới 200, đã được thể hiện quá rõ ràng qua các vụ bê bối. Nhiệt tình thái quá trong việc giành huy chương Olympic và đánh bại đối thủ bằng mọi cách có thể đã dẫn đến việc từ bỏ sức mạnh đích thực của nguyên tắc đạo đức và sa sút đến những tầng bạo lực thô thiển nhất.

Thể hiện lòng tự hào thì không có gì sai. Tất cả chúng ta đều có thể tự hào khi các vận động viên Olympic của chúng ta giành huy chương, nhưng đó là một loại tự hào khác với ích kỷ; nó xuất phát từ trái tim. Đó là tôn vinh thành tựu của con người vượt lên trên kiêu hãnh cá nhân. Thế vận hội Olympic, một trong những vở kịch vĩ đại nhất về sự nỗ lực của con người, truyền cảm hứng cho các vận động viên chuyển từ kiêu hãnh cá nhân sang thái độ kính trọng là biểu hiện của yêu thương vô điều kiện và cũng tôn vinh đối thủ của mình vì sự cống hiến của họ cho những nguyên tắc cao cả như thế.

Thành công thực sự, cũng như sức mạnh đích thực của thể thao chân chính, có đặc điểm là duyên dáng, nhạy cảm, sự tĩnh lặng ở bên trong, và ngược đời là, sự dịu dàng trong đời sống hoàn toàn không có tính ganh đua của ngay cả những người thể hiện sự ganh đua khốc liệt nhất trên đấu trường. Sức mạnh đích thực làm cho người ta viên mãn là cống hiến cho điều gì đó cao cả hơn bản thân mình (tức là cống hiến cho đội, cho Thiên Chúa, cho đất nước, v.v.), đó là năng lượng siêu việt chính mình có điểm hiệu chỉnh khá cao trên Bản đồ Tâm thức. Chúng ta tôn vinh những nhà vô địch như thế vì chúng ta nhận ra rằng, bằng hy sinh quên mình và cống hiến cho một nguyên tắc cao cả hơn, họ đã vượt qua tham vọng của cá nhân mình. Những người vĩ đại trở thành huyền thoại khi họ dạy mà không dùng lời, người xưa gọi là: “Hành bất ngôn chi giáo”. Không phải tài sản họ có hay những việc họ làm mà chính là con người mà họ đã trở thành mới truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta. Sức mạnh đích thực của họ có sức hấp dẫn phổ quát, vì nó khơi gợi thái độ kính trọng đối với cống hiến vị tha bên trong mỗi người chúng ta.

 BƯỚC 2: THÍCH THÚ

Suy ngẫm: Bạn có thích làm việc đó hay không?

Khi đã chắc chắn rằng ý định của mình mang tính phổ quát, hãy tự hỏi xem nỗ lực đó có phải là điều mà bạn thực sự yêu thích hay không. Chúng ta thấy nhiều người, mỗi sáng đều ép buộc mình phải đi làm vì họ đã tự thuyết phục mình rằng họ phải làm một công việc nào đó, nhưng thực chất họ không hề yêu thích công việc mình làm. Muốn thành công thì phải làm những việc bạn thích, tận hưởng công việc bạn làm, và từ đó, sẽ tự nhiên làm hết khả năng của mình và trải nghiệm niềm vui từ việc cống hiến hết sức mình. Sau đây là ví dụ từ một bệnh nhân đến phòng khám vì anh ta có mọi thứ trong cuộc đời nhưng lại cảm thấy bất hạnh.

Bệnh nhân phàn nàn: “Tôi mất hết hứng thú với cuộc đời. Tôi ghét sáng nào cũng phải đi làm. Tôi có tất cả mọi thứ mà mình muốn – xe Cadillac, nhà đẹp, chức vụ đầy ấn tượng, có hàng triệu đôla, gia đình không chê vào đâu được – nhưng tôi cảm thấy chán quá. Những thứ đó chẳng có ý nghĩa gì đối với tôi. Tôi không được bạn bè thông cảm. Tất cả họ đều có thái độ ghen tị với tôi.”

“Anh thích làm gì? Anh có sở thích nào không?”

Anh ta nói: “Thưa Bác sĩ, điều này nghe có vẻ điên rồ, nhưng tôi rất thích làm nhà búp bê. Tôi có một xưởng ở nhà và rất thích làm nhà búp bê cho các con, cho cháu gái và cháu trai của mình.”

“Anh có bao giờ bán những ngôi nhà búp bê đó chưa?”

Anh ta trả lời: “Ồ, tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc này. Tôi đã dành rất nhiều thời gian và công sức cho những ngôi nhà này, nên tôi không thể kiếm tiền bằng cách bán những ngôi nhà đó.”

Gợi ý của tôi khá đơn giản: “Vậy thì, vui thôi, sao anh không thử bán một cái mà anh đang làm, tính toán một mức giá có lãi, dán nhãn giá lên đó, rồi đem bán ký gửi ở bất kỳ cửa hàng nào nhận ký gửi – nhưng đừng bán ở cửa hàng đồ chơi, vì nó sẽ bị lẫn vào giữa vô vàn hàng hóa khác.”

Anh ta đã làm đúng như thế. Đáng ngạc nhiên là, anh ta quen một người làm trong ngành kim khí, người này rất vui khi trưng bày ngôi nhà búp bê trong cửa sổ cửa hàng của mình, và thực tế là đã dùng nó để bán các bậc cầu thang (có một cái cầu thang nhỏ trong ngôi nhà búp bê). Ngôi nhà búp bê này được người ta mua ngay lập tức. Ngôi nhà búp bê tiếp theo chỉ để trưng bày chứ không bán, và có khá nhiều đơn đặt hàng. Chẳng bao lâu sau, bệnh nhân từng khổ sở lúc này đã vui vẻ với công việc kinh doanh nhà búp bê, bán ngay khi có người mua và còn thuê người làm một số công đoạn.

Những ngôi nhà búp bê làm thủ công như thế trông rất đáng yêu và mang lại niềm vui cho tâm hồn con trẻ. Đó chính là nguyên tắc cơ bản mà anh ta muốn truyền đạt khi nói: “Tôi muốn mang lại niềm vui cho tâm hồn con trẻ.” Đó là nguyên tắc phổ quát mà hầu như không người nào có thể phản bác. Một trong những thước đo của nguyên tắc phổ quát là liệu nó có chạm đến tâm hồn người khác hay không. Nếu sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn chỉ nhắm vào đầu óc, thì thành công là khá hạn chế. Có thể mang lại lợi nhuận, nhưng những thành công lớn trên thế giới là thứ mà chính bạn thích làm và tin tưởng vào nó, và đó là cái làm thay đổi cuộc sống của mọi người. 

BƯỚC 3: PHỤC VỤ

Xin xem xét: Điều bạn muốn làm có thực sự cần thiết cho người nào đó hay không? Liệu nó có thực sự phụng sự thế giới?

Bạn cần đảm bảo rằng những gì bạn sắp để hết công sức vào không chỉ là một dự án hay sở thích cá nhân. Nước sốt salad dấm mâm xôi có thể là ý tưởng về ẩm thực cao cấp của một số đầu bếp, nhưng khẩu vị cá nhân của người đó không nhất thiết được nhiều người dân địa phương chia sẻ. Những người đó có thể đến nhà hàng một hoặc hai lần vì tò mò rồi không bao giờ quay lại, vì họ chỉ thực sự muốn nước sốt salad thông thường và cái món nước sốt kia thậm chí không phải là lựa chọn của họ. Chúng ta sẽ thấy rằng, hậu quả là, doanh nghiệp như vậy có thể chủ yếu dành cho khách du lịch và không thu hút người dân địa phương, vì cầu về món đó có giới hạn. Nó không phục vụ cho bất kỳ nhu cầu thực sự nào, ngoài việc ý tưởng đó dễ thương, độc đáo hoặc khác biệt. Chúng ta có thể áp dụng bước đi này vào bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc đời bằng cách tự hỏi: Tôi có đang áp đặt sở thích cá nhân của mình hay việc đó thực sự đáp ứng nhu cầu của những người mà tôi đang giao tiếp? 

BƯỚC 4: THẨM MỸ

Hãy rà soát tất cả các kênh tri giác; với những kênh không quen thuộc với khí chất của mình, hãy bù đắp bằng cách tham khảo những người am tường trong lĩnh vực ấy.

Có nghĩa là gì? Nghiên cứu về lập trình ngôn ngữ-thần kinh (NLP) đã chứng minh rằng con người xử lý trải nghiệm cuộc sống của họ chủ yếu thông qua kênh tri giác này hay kênh tri giác khác. Một số người chủ yếu là thính giác. Một số là thị giác. Một số người thiên về cảm xúc. Tất nhiên, khứu giác và xúc giác cũng rất quan trọng.

Xin xem xét một nhà hàng rất hấp dẫn. Người phụ nữ điều hành rõ ràng là người thiên về thị giác. Khi mọi người nhìn vào nhà hàng, họ thấy cách bài trí rất đẹp. Bà ấy cũng làm được những món ăn ngon, giá cả phải chăng. Nhưng âm thanh thì quá tệ. Mọi người hầu như không thể nghe thấy rằng mình đang suy nghĩ, chứ đừng nói đến trò chuyện. Âm nhạc quá lớn, không phù hợp về phong cách và phát liên tục, không phút nào ngừng. Rõ ràng, đó là những bài bà ấy thích; nhưng, nó làm cho người khác không muốn đến đó nữa.

Nếu bạn là người có quan điểm ngược lại, nếu bạn không quá quan tâm đến hình thức của đồ vật, miễn là nó tạo cảm giác đúng, thì bạn nên nhờ một vài người chủ yếu thiên về thị giác và hỏi xem họ cảm nhận như thế nào. Chúng ta có thể nhận biết cách thức mọi người xử lý thông tin qua ngôn ngữ của họ. Những người nói: “Tôi hiểu cái đó có ý nghĩa gì. Còn bạn thì sao?” có lẽ đấy là những người xử lý thông tin bằng hình ảnh. Những người nói: “Tôi thấy cái đó không ổn. Cái đó không đúng,” rõ ràng là những người thiên về cảm xúc. Những người thiên về thính giác sẽ nó: “Tôi thấy âm thanh đó không đúng.” Chỉ cần nhận thức được những dấu hiệu này sẽ giúp chúng ta nhận ra các biện pháp xử lý thông tin.

Bạn cần đảm bảo bù đắp tất cả những phương thức cảm giác vốn không phải là sở trường của mình. Không đòi hỏi nhiều thời gian, nhiều nhất là một giờ, với một chuyên gia trong lĩnh vực đó để nắm bắt được ý tưởng. Một nhà hàng đã từ thất bại trở nên thành công chủ yếu bằng cách thay đổi nhạc nền, từ nhạc đồng quê ồn ào, sôi động sang nhạc baroque nhẹ nhàng, cách làm này đã thu hút được những khách hàng trung thành và sẵn sàng chi nhiều tiền.

Người ta muốn thư giãn trong khi ăn tối. Họ muốn có khăn trải bàn, khăn ăn bằng vải, âm nhạc phù hợp và ánh sáng thích hợp. Ánh đèn huỳnh quang sáng chói và màu sắc cơ bản có thể là tuyệt vời cho bữa ăn sáng, nhưng sẽ không thu hút được khách đến ăn bữa tối. Mặc dù các chuỗi thức ăn nhanh dường như phủ nhận sự thật hiển nhiên này, nhưng thực tế là người ta muốn phẩm giá của mình được tôn trọng. Họ sẽ tưởng thưởng và đánh giá cao vì bạn đã tôn trọng họ hoặc cung cấp phương tiện để họ có trạng thái đó. Dù bạn có đưa ra cái gì, cũng chắc chắn rằng nó được thể hiện theo cách tốt nhất có thể, chú ý đến tất cả các giác quan và làm hài lòng càng nhiều giác quan thì càng tốt. Rất đáng để bạn bỏ thêm công sức vào việc đó.

Ngoài các giác quan đã đề cập, khá nhiều người đặt sự thoải mái ở vị trí rất cao trong danh sách ưu tiên của mình. Khách hàng tiềm năng đi ra khỏi cửa hàng chỉ vì họ không tìm được ghế ngồi. Nhiều người suy nghĩ kỹ và quyết định mua hàng chỉ khi họ đã ngồi xuống. Khách hàng đánh giá cao sự quan tâm như thế. 

BƯỚC 5: THU HÚT

Dựa vào thu hút chứ không dựa vào quảng bá.

Xin nhớ rằng quảng bá bằng các hoạt động tiếp thị, quảng cáo và thuyết trình bán hàng một cách mạnh mẽ và hung hăng là hướng ra bên ngoài, tốn thời gian, tiền bạc và năng lượng. Ngược lại, thu hút không tốn thời gian, năng lượng, công sức hay tiền bạc.

Quảng bá xuất phát từ bạo lực. Quy luật của vũ trụ là bạo lực tạo ra phản lực. Thuyết phục sẽ bị kháng cự. Càng chi nhiều tiền cho quảng bá, bạn càng phải nâng giá bán lên cao hơn. Do đó, cuối cùng bạn sẽ tạo ra mức giá trần cao và thu hẹp khoảng cách giữa sản phẩm của bạn và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh với bạn.

Điều gì thu hút và tạo ra thành công của bạn mà không cần thời gian, năng lượng hay công sức? Danh tiếng của bạn làm được việc đó. Danh tiếng của bạn không phải là hình ảnh giả tạo mà bạn thuê công ty tiếp thị tạo ra, mà là sự chân thực thực sự của những nỗ lực của bạn, nó tỏa sáng và hiển nhiên với mọi người trong tất cả những việc bạn làm. Tên gọi hay nhãn hiệu của một số công ty làm cho chúng ta có cảm giác ấm áp vì họ đã chứng minh được qua thời gian rằng họ cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ tốt, đáng tin và độc đáo, cùng với dịch vụ khách hàng đáng tin và đáp ứng một cách nhanh chóng. Danh tiếng của họ là kết quả của sức mạnh đích thực mang theo năng lượng tích cực. Trong khi hầu hết các tập đoàn có điểm hiệu chỉnh ở tầng khoảng 200 (tương tự như bộ máy hành chính quan liêu của chính phủ), những công ty này có điểm hiệu chỉnh ở tầng 300, nó cho thấy sự cộng hưởng của họ với cảm xúc con người (chứ không chỉ đơn thuần là chức năng).

Sức mạnh đích thực ABC mà chúng ta lưu giữ trong tâm trí là nam châm có sức hút, và nó không hề tốn kém. Nếu làm tốt công việc, mọi người sẽ tìm đến với bạn. Không có nghĩa là bạn không nên cho họ biết là bạn đang ở đó và những dịch vụ mà bạn đang có, không có nghĩa là không nên cho họ biết các chương trình khuyến mãi trong tuần này cũng như thời gian làm việc của bạn. Có một châm ngôn cũ trong kinh doanh, nói rằng khách hàng hài lòng là quảng cáo tốt nhất. Mọi người đều gật đầu và nói, “Ồ vâng, tôi biết điều đó,” nhưng sau đó họ tiếp tục phớt lờ nó.

Một nguyên tắc tốt cần ghi nhớ là hãy tự hỏi xem liệu sự cám dỗ đi vào đường tắt có đáng để mạo hiểm làm hỏng công việc kinh doanh của bạn hay không. Xin xem xét ví dụ tưởng chừng như không quan trọng về việc “cắt giảm chi phí”, bán cái “bánh rán hôm qua”. Cuối ngày, bạn vẫn còn một tá bánh rán. Ngày hôm sau, bạn đặt chúng vào tủ kính cùng với bánh rán của ngày hôm nay. Nếu thay vào đó bạn ghi “BÁNH RÁN HÔM QUA” kèm theo một tấm biển nhỏ ghi giá đã giảm, bạn sẽ bán hết và không gặp rủi ro nào cho việc kinh doanh, nếu bánh rán không hoàn toàn đạt chất lượng. Khách hàng sẽ không phàn nàn vì chúng được ghi rõ ràng là “bánh rán hôm qua”. Tuy nhiên, nếu bạn đặt chúng vào tủ trưng bày và bán như bánh rán được làm trong ngày hôm nay, bạn có thể kiếm thêm được một đôla. Nhưng khi khách hàng phàn nàn với gia đình – “Tôi không biết; có điều gì đó không ổn với những chiếc bánh rán này. Thật đáng thất vọng; không giống như mọi khi” – bạn sẽ làm hỏng danh tiếng của mình với cả một gia đình. Gia đình đó còn có bạn bè và những người thân khác.

Đừng bao giờ đi đường tắt có thể làm hại danh tiếng của bạn. Nếu bạn chỉ đơn giản cho rằng khách hàng của bạn biết chuyện gì đang xảy ra, thì bạn sẽ làm đúng. Thực tế là mọi người “chỉ biết”, mặc dù họ không thể nói ra đó là gì. Việc biện minh cho thiếu sót về chất lượng bắt nguồn từ bạo lực trong những câu, kiểu như: “Những thứ họ không biết sẽ không làm hại họ”. Điều đó đúng. “Những thứ họ không biết sẽ không làm hại họ”, nhưng chắc chắn sẽ làm hại bạn! Họ sẽ không biết điều đó một cách có ý thức; tuy nhiên, họ chắc chắn biết điều đó theo lối vô thức. Điều này đúng trong mọi lĩnh vực của cuộc đời. 

BƯỚC 6: ĐÁNG TIN

Hãy nhất quán và đáng tin.

Một trong những yếu tố quan trọng nhất của thành công là mọi người biết rằng họ có thể tin tưởng bạn theo nhiều cách khác nhau. Đơn giản như thay đổi giờ làm việc, chẳng hạn như đóng cửa sớm, có thể làm cho bạn mất rất nhiều khách hàng. Họ coi trọng tiện lợi và tôn trọng thời gian của mình. Khi làm việc từ tầng chính trực trên Bản đồ Tâm thức, bạn quan tâm đến hạnh phúc của người khác. Ví dụ, ở tầng Sẵn sàng (điểm hiệu chỉnh 310), ý định của bạn là trở thành đáng tin và thân thiện trong dịch vụ trước mỗi khách hàng. Bạn đặt mình vào vị trí của họ và làm tất cả những gì có thể để làm cho trải nghiệm của họ trở thành tuyệt vời và dễ dàng nhất có thể.

Quan trọng là tránh tất cả những điều nhỏ nhặt làm cho người ta khó chịu—máy trả lời tự động hỏng, nhân viên bất lịch sự, nhiều người xếp hàng vì chỉ có một quầy thu ngân, tấm thảm bẩn, hoặc biển hiệu ĐANG NGHỈ TRƯA. Hãy tự hỏi: Doanh nghiệp của tôi sẵn sàng cung cấp những thứ cần thiết đến mức độ nào? Nhiều doanh nghiệp phá sản vì chỉ mở cửa vào các ngày làm việc và đóng cửa ngay từ 5 giờ chiều. Khi tư vấn cho các bác sĩ trẻ mới bắt đầu sự nghiệp, tôi luôn nói với họ: “Hãy bắt đầu bằng cách tính phí mà mọi người có thể chi trả được, và sẵn sàng phục vụ vào buổi tối cũng như vào thứ Bảy.”

Sự tiện lợi đáng giá bao nhiêu? Câu trả lời là: rất nhiều. 

BƯỚC 7: CAO QUÝ

Xin nhớ rằng chỉ có một khách hàng duy nhất, và đó chính là bản chất của con người.

Bạn sẽ không thể mắc sai lầm nếu luôn ghi nhớ quy tắc cơ bản rằng bạn chỉ có một khách hàng để phục vụ, một khách hàng để làm hài lòng, và khách hàng đó chính là bản chất của con người. Cho dù khoác lên mình lớp áo của ai đi nữa, thì bên trong mỗi người vẫn là cùng một khách hàng. Hiểu khách hàng của bạn là công việc rất dễ dàng. Chỉ cần tự hỏi bạn tìm kiếm những phẩm chất nào trong một sản phẩm. Hãy lưu ý rằng từ khóa là “phẩm chất”. Không thể bán được sản phẩm, dù giá có là bao nhiêu, nếu nó không có những phẩm chất mà chúng ta đang tìm kiếm.

Trong lĩnh vực này, bạn phải để ý đến xu hướng của tâm trí con người là chiều theo những điểm yếu trong tính cách của họ. Nếu bạn chiều theo tiêu cực, có thể sẽ có lợi nhuận. Bạn có thể tồn tại khá tốt; tuy nhiên, bạn sẽ không bao giờ thực sự thành công. Không tiếp tay cho những thứ bệnh hoạn và biến thái không phải là “tốt giả tạo”; mà là sống thực tế. Bạn có thể đánh lừa được cả vũ trụ hay không? Không, cơ thể động học nói như thế. Ngay cả khi người ta không nhận thức một cách hữu thức về sự kiện, thì kiểm tra những người hoàn toàn xa lạ, không có kiến ​​thức gì về chủ đề này, chúng ta sẽ thấy rằng nếu họ tập trung vào điều gì đó không chính trực, thì họ sẽ yếu đi.

Mọi thứ trong vũ trụ đều được kết nối với mọi thứ khác. Khi lấn đầu tiên  chúng ta biết được sự thật đó, chúng ta sẽ hơi hoang tưởng trong một thời gian, nhưng đó là hoang tưởng có tác dụng trị liệu. Nếu một người nào đó sản xuất loại “búp bê mổ bụng”, hẳn sẽ có vô số kẻ quái đản ở ngoài kia sẵn sàng mua nó, trọn bộ với cả dao tự sát hari-kari, những khúc ruột như thật, tiếng thét điện tử và dòng máu nhựa rỉ ra. Và chắc chắn cũng sẽ có kẻ kiếm được lợi nhuận từ việc đó. Một người nào đó cũng có thể kiếm được lợi nhuận.

Nhưng, cái giá mà kẻ chiều theo thị hiếu đó phải trả là rất lớn. Với họ là vô hình, nhưng lại rất rõ ràng đối với những người khác. Những việc chúng ta mô tả trong hai đoạn văn bên trên không phải là bản chất con người mà là bản chất phi nhân tính. Chúng ta tự lừa dối chính mình, nếu nghĩ rằng có thể chiều theo những thứ làm người ta yếu đi mà không tự làm chính mình yếu đi. Nó đang tạo ra ô nhiễm.

Những người vi phạm các chuẩn mực nhân tính và dường như đang hưởng lợi từ điều đó, có thể nhất thời dường như là thành công. Tuy nhiên, khi nghiên cứu chi tiết cuộc đời họ trong một giai đoạn kéo dài, chúng ta sẽ thấy sự tàn phá thật đáng kinh ngạc. Chúng ta có chinh phục được một cái gì đó bằng cách chống lại nó hay không? Không. Chúng ta chinh phục nó bằng cách trưởng thành và bước ra khỏi tầm ảnh hưởng của nó. Khi nhận ra rằng điều gì đó trong cuộc đời của chúng ta phản lại sự sống, non nớt hoặc hời hợt, thì đó thực chất là sự phù phiếm được ngụy trang. Khi chúng ta phát hiện ra rằng không có tình yêu hay thiện chí ở trong đó, liệu chúng ta có nên có mặc cảm tội lỗi, tự trừng phạt chính mình, hay trở thành những nhà cải cách? Không. Thay vào đó, giải pháp là trưởng thành và trí huệ. Tâm thức của chúng ta sẽ phát triển vượt lên trên nó, đấy là khi chúng ta không khuất phục hoặc chống lại nó. Khi tâm thức mở rộng hơn và tỉnh thức hơn, chúng ta không còn  thích tham gia săn bắn những con vịt trời nữa. Chúng ta chuyển sang bắn súng thể thao. Những con chim bay theo đội hình chữ V và kêu to đang tìm cách bay về phía nam để có thể sống sót và nuôi dưỡng một đàn chim mới cho mùa sau.

Một lần, khi đến thăm một thị trấn nhỏ, tôi hỏi một chủ cửa hàng địa phương: “Mọi người đâu hết rồi?”

“À,” ông ấy nói, “mùa săn sóc bắt đầu từ hôm nay.” Rõ ràng là, tất cả những con thú hoang: gấu, báo núi, nai sừng tấm, hươu, cừu, nai, lợn rừng, nhím, hải ly, cáo, trâu rừng, ngựa hoang, thiên nga, vịt, bồ câu, chim cu gáy… đã bị bọn đàn ông ở đây giết hết rồi. Giờ chỉ còn lại sóc. Sự tàn bạo khủng khiếp mà một khẩu súng trường hoặc súng săn công suất cao có thể gây ra cho một con sóc bé tí là không thể tưởng tượng nổi. Săn chim cu gáy và sóc có điểm hiệu chỉnh 65.

Cái giá phải trả cho người cố tình giết hại sinh linh để kiếm tiền hoặc thỏa mãn khoái cảm nhất thời là gì? Cái giá phải trả cho người chiều theo những điều tiêu cực ở người khác là gì? Những trường hợp được nghiên cứu trong dài hạn nói rằng cái giá phải trả là vô cùng lớn. Những người như vậy không có sức mạnh cá nhân thực sự hoặc không có sức cuốn hút. Họ không thể thay đổi tình hình chỉ bằng cách là con người mà họ đang là.

Những người xuất phát từ sức mạnh đích thực ở bên trong có khả năng thay đổi tình hình bằng sự hiện diện của họ. Chỉ riêng sự hiện diện của họ đã tạo nên tất cả khác biệt. Khi bạn có sức mạnh đích thực bên trong của mình, điều quan trọng không phải là bạn có những tài sản nào hay bạn làm gì. Mà bạn là ai. Bạn đã trở thành con người như thế nào. Sức mạnh đích thực là cực kì to lớn. Vĩ đại là tầm vóc. Tầm vóc là hiện diện. Hiện diện xuất phát từ ABC mà bạn có bên trong con người mình. Không thể mua được nó. Thậm chí không thể kiếm được nó. Nó truyền cảm hứng cho người khác  những người đến để trải nghiệm những điều tốt đẹp nhất trong chính con người mình, nhờ vào sự hiện diện của sự vĩ đại này, nó khẳng định phẩm chất cao quý bên trong con người họ và nuôi dưỡng năng lực tiềm ẩn của họ. Thế giới công nhận sự hiện diện của sức mạnh đích thực bên trong chỉ đơn giản vì nó “là”.

Nelson Mandela là một ví dụ tuyệt vời. Xuất phát từ nguyên tắc cơ bản là quan tâm đến tất cả người dân Nam Phi, chứ không chỉ quan tâm tới chủng tộc của mình, đã tạo nên một tinh thần đoàn kết đủ sức mạnh để phá bỏ, bất chấp mọi khó khăn, một hệ thống phân biệt chủng tộc tàn bạo đã tồn tại từ rất lâu rồi.

 

BƯỚC 8: CHẤT LƯỢNG

Hãy chọn phẩm chất bạn muốn nuôi dưỡng nơi người khác, và hãy nhớ rằng điều bạn nuôi dưỡng nơi họ cũng chính là điều bạn đang nuôi dưỡng trong chính mình.

Bạn sẽ thu hút về mình những gì bạn nuôi dưỡng nơi người khác. Không thể phục vụ hai chủ. Bạn không thể trở thành người mạnh mẽ bằng cách chiều theo khía cạnh yếu ớt của con người. Bạn trở thành người mạnh mẽ bằng cách hỗ trợ sức mạnh. Bạn trở thành người năng động khi hỗ trợ sự sống động ở người khác. Bạn trở thành người vĩ đại khi hỗ trợ sự vĩ đại ở người khác. Bạn trở thành xinh đẹp khi hỗ trợ cái đẹp của cuộc đời. Nếu bạn thực sự xuất phát từ trái tim, bạn không cần phải lo lắng về thành công. Thế giới sẽ yêu thương bạn, trung thành với bạn, ủng hộ bạn và tha thứ cho mọi lỗi lầm của bạn.

Để minh họa, chúng ta có thể xem xét một tấm gương về sự vĩ đại. Mẹ Teresa (điểm hiệu chỉnh 710) là một trong những câu chuyện thành công vĩ đại nhất của thời đại chúng ta. Bà là một người phụ nữ nhỏ bé, chỉ nặng 41kg, không bao giờ chi tiền cho quảng cáo, cho chiến lược tiếp thị hay xúc tiến thương mại, cũng không có đội ngũ bán hàng, không có chuyên gia tạo dựng hình ảnh ở Madison Avenue, và không có người viết diễn văn. Thế nhưng, tất cả những gì bà cần làm chỉ là vẫy ngón tay út và bà đã huy động được hàng triệu đôla. Rất nhiều người đi theo bà. Người ta đi hàng ngàn dặm, bất kể nắng mưa, đứng trên đôi chân mệt mỏi và đau nhức hàng giờ liền, chỉ để được nhìn thấy bà.

Điều gì tạo nên ‘phép màu’ của bà? Có phải vì bà là một người nổi tiếng? Có phải vì danh tiếng của bà? Không. Đó chỉ mới là phần AB C bề mặt của tất cả những chuyện này. Thực ra, người ta mong mỏi được thoáng thấy bà, hay chỉ vài khoảnh khắc ở trong sự hiện diện của bà, để có thể cảm nhận được ABC của bà. Điều họ thực sự muốn trải nghiệm chính là ‘sự hiện diện’ ấy. Không quảng cáo, không tiếp thị, không tạo dựng hình ảnh — vậy mà đã có rất nhiều cuốn sách viết về bà. Bà được nhiều người trên khắp thế giới ngưỡng mộ. Bà là Khôi nguyên Nobel và được quốc tế tôn vinh như một trong những nhân vật vĩ đại của thời đại chúng ta.

Sự vĩ đại và quyền năng của Mẹ Teresa nảy sinh vì bà hướng đến những phẩm chất cao quý nhất trong bản chất con người—yêu thương vô điều kiện và tâm từ bi không phán xét. Bà là trái tim của mọi trái tim, dù thân hình nhỏ bé, gầy guộc, lưng còng, và không có tiền bạc hay tài sản riêng cho mình. Có một danh sách chờ đợi rất dài để được gia nhập đoàn của bà. Thực vậy, người ta phải trải qua tám năm thử thách, kiểm tra và lao động phụng sự vất vả để xem liệu họ có đủ điều kiện gia nhập tổ chức của bà hay không.

Rõ ràng là, bà ở tầng của một bậc thầy. Bà vượt trội hơn tất cả mọi người. Chuyện đó xảy ra như thế nào? Từ thiện? Rất nhiều người trên thế giới là những người từ thiện. Làm việc thiện? Không. Có rất nhiều người chuyên làm việc thiện. Họ không đoạt giải Nobel. Lòng tốt của bà? Không. Trên thế giới này có rất nhiều người tốt bụng. Tại sao bà lại nổi bật hơn tất cả? Đó là vì sự nhất quán, cam kết, tận tâm và hy sinh cá nhân của bà đã đạt đến một mức độ chỉ có thể được mô tả là sùng kính. Khi một người cống hiến cả cuộc đời mình để thực hiện nguyên tắc của chân lý phổ quát, người đó trở thành có sức hút. Họ phát triển sức mạnh đích thực của luật hấp dẫn. Những gì họ có và những gì họ làm đều là thứ yếu so với con người mà họ đang là. Chính phẩm chất đó, nó là cái mà thế giới công nhận và mang đến cho họ cái mà chúng ta gọi là thành công.

Mẹ Teresa đã trân trọng điều gì ở người khác để qua đó, Mẹ hiển lộ chính điều cao cả ấy ở bản thân mình cho chúng ta thấy? Khi bà phục vụ người nghèo, người bệnh và người sắp chết trên đường phố Kolkata, bà có đang cố gắng cứu họ khỏi chết không? Bà có đang cố gắng quyên góp tiền cho người nghèo không? Không. Điều bà phục vụ và nhận ra chính là sự thật bên trong về phẩm giá, giá trị, sự cao quý, sự đáng yêu và sự vĩ đại của con người. Những phẩm chất đó vốn có trong mỗi con người, bất kể hoàn cảnh sống bên ngoài của họ có tồi tệ đến mức nào.

Bà đã thừa nhận và công nhận những điều mà chính họ chưa từng thừa nhận. Do đó, bà như một tấm gương phản chiếu cho họ. Khi nhìn vào bà, họ thấy được hình ảnh phản chiếu của những gì họ đã chối bỏ—sự vĩ đại của sự tồn tại của bản thể riêng của họ. Ngay cả những người thấp kém nhất cũng xứng đáng được tôn trọng và công nhận phẩm giá vốn có của việc chỉ đơn giản là một con người. Sẻ chia những trải nghiệm của con người là sức mạnh có tính chuyển hóa. Sau khi nhìn thấy điều này trong chính mình, sau khi chứng kiến ​​nó, và sau khi biết được sự thật của nó bằng cách nhìn thấy hình ảnh phản chiếu trong mắt bà, họ đã chết với nụ cười trên môi trong trạng thái hạnh phúc viên mãn. Đó mới là sức mạnh đích thực. 

BƯỚC 9: CHIA SẺ

Nhận ra rằng con đường dẫn tới thành công là chia sẻ nó với người khác.

Nếu không chia sẻ thành công của mình với người khác thì bạn sẽ tước đi động lực để họ ủng hộ thành công của bạn. Nếu bạn ghi nhận vai trò quan trọng của người khác trong thành công của mình, họ sẽ cùng bạn ủng hộ và ăn mừng thành công. Con đường tạo ra kẻ thù truyền kiếp là không ghi nhận người có người đóng góp vào đời sống của bạn. Rất nhiều người làm như thế với vợ/chồng của họ và không thừa nhận vai trò, nguồn cảm hứng và nỗ lực của họ trong quá trình vươn tới thành công.

Nhiều doanh nghiệp có vấn đề vì chủ sở hữu từ chối chia sẻ thành công với các nhân viên, chứ đừng nói đến việc chia sẻ với khách hàng. Nhân viên được trả lương theo giờ, được thuê bởi tập đoàn ở xa và vô cảm. Chắc chắn chúng ta có cảm giác đó khi đến những nơi này. Họ không quan tâm tới chúng ta. Họ vẫn kiếm được từng đó tiền dù có tạo cho chúng ta ấn tượng hay không, và họ biết chuyện đó. Động lực không còn. Nền tảng của nỗ lực của con người đã không còn. Họ bị tước đoạt phẩm giá và giá trị như những con người. Họ là những người máy, vô cảm, chỉ làm việc một cách máy móc. Có những món ăn được chế biến như máy móc, được phục vụ bởi những con người như những cỗ máy trong một không gian cũng đầy máy móc, với vẻ thờ ơ lãnh đạm chỉ để lấy tiền. Dù về mặt danh nghĩa là rẻ, nhưng thực tế nó lại vô cùng đắt đỏ khi ta so sánh số tiền bỏ ra với những gì mình thực sự nhận lại. Các chuyên gia về hiệu quả và máy tính thực sự đắc thời, và họ đã thành công trong việc phi nhân hóa toàn bộ trải nghiệm này.

Ngược lại, khi tôi đến một siêu thị địa phương nào đó, tôi thấy những nhân viên luôn tươi cười, hết năm này qua năm khác. Khách hàng xếp hàng cũng mỉm cười và cười đùa với nhân viên thu ngân. Những khách hàng lớn tuổi ngồi ở phía trước siêu thị gần những cái bàn nhỏ, trò chuyện rôm rả, họ tổ chức buổi họp câu lạc bộ buổi chiều cùng bạn bè. Phía trên quầy của người quản lý là một bảng ghi giải thưởng. Đáng ngạc nhiên là nội dung của cái bảng này. Đó là giải thưởng thường niên dành cho “Gia đình Thân thiện”. Đây không chỉ là ghi nhận một cá nhân mà là cả một gia đình. Nó thừa nhận rằng có nhiều hơn, chứ không chỉ một người, tham gia vào thành tích của họ. Giải thưởng không dành cho nhân viên có doanh số cao nhất mà dành cho người thân thiện nhất. Thật tuyệt vời, có đúng thế không?

Mất bao lâu để trở thành người thành công? Câu trả lời là: chỉ mất đúng một giây. Ngay khi bạn quyết định “sống” theo một cách nào đó, là bạn đã đạt được điều đó rồi. Thành công thuộc về bạn ngay khi bạn nhận ra rằng nó không “ở ngoài kia”. Nó không phải là những tài sản mà bạn có. Nó thậm chí không phải là những việc bạn làm. Làm chỉ đóng góp, còn tài sản chỉ làm đẹp thêm. Chính con người mà bạn đang là tạo ra thành công. Chỉ cần quyết định sống theo một cách nào đó là đủ. Không cần bằng thạc sĩ, chứng chỉ, khóa học từ xa, bài giảng nhàm chán hay hội thảo nào hết.

Một khi bạn quyết định sống theo một cách nào đó, bạn sẽ có vai trò quan trọng và ý nghĩa mới đối với tất cả mọi người. Không phải những việc bạn làm hay nói thu hút họ mà chính là sự “hiện diện” của bạn. Việc bạn có mặt trong cuộc sống của họ hay không có mặt tạo nên khác biệt. Việc bạn có tham dự các bữa tiệc của họ hay không cũng tạo nên khác biệt. Mọi người tự hào khi được làm việc cho bạn. Họ bắt đầu coi việc quen biết bạn là vinh dự. Những phẩm chất tích cực của con người có tính lan truyền.

Điều tạo ra thành công là nguyên tắc nhất định luôn vận hành bên bạn 24/24 giờ, ngay cả khi bạn không cố ý thể hiện nó. Tại thời điểm đó, bạn không chỉ hướng tới trường năng lượng cao hơn trên Bản đồ Tâm thức; bạn đang sống trọn vẹn với nó.

 

BƯỚC 10: TỬ TẾ

Nhận ra rằng cuộc sống là một vòng phản hồi.

Cuộc đời chính là vòng phản hồi của bạn. Bạn củng cố trong chính mình những điều tương tự với những điều bạn củng cố ở người khác. Thực tế lâm sàng này có ý nghĩa vô cùng to lớn. Do đó, kết luận hiển nhiên cần rút ra là bạn nên luôn luôn hỗ trợ những điều tích cực ở người khác.

Chúng ta nói rằng một số người là người tiêu cực và những người khác là người tích cực như thể đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng hoàn toàn không phải thế. Đó là minh chứng dễ thấy của thực tế lâm sàng mà chúng ta vừa nói tới. Nếu chúng ta lắng nghe các cuộc trò chuyện của mọi người, chúng ta sẽ nghe thấy một số người tham gia vào những lời đồn thổi tiêu cực, mô tả tất cả những thứ tiêu cực mà họ có thể có về cuộc đời của người khác hoặc về các sự kiện trên thế giới. Cái họ không nhận ra là họ đang củng cố chính những thứ tiêu đó trong chính con người mình.

Khi tôi còn rất nhỏ, bà tôi, thường được mọi người xung quanh mô tả là thánh thiện, thường nói: “Nếu con không có điều gì tốt đẹp để nói về ai đó, thì đừng nói gì hết.” Tôi đã trăn trở về chuyện này trong suốt nhiều năm. Chỉ sau khi có kinh nghiệm lâm sàng với tư cách là một bác sĩ tâm thần, tôi mới thấy được kết quả của những nguyên tắc này trong thực tế và bắt đầu hiểu ý của bà mình.

Đây là nguyên tắc tiếp theo: hỗ trợ sự thành công của người khác bằng những việc làm nhỏ nhặt mà bạn có thể nghĩ ra. Có nghĩa là cũng phải công nhận và thừa nhận những thành công của họ, nó có xu hướng củng cố những điều tích cực không chỉ ở họ mà còn ở chính bạn. Đó không phải là tâng bốc giả tạo mà là sự trân trọng chân thành đối với những phẩm chất tích cực của mọi người mà bạn gặp, bao gồm cả nhân viên bán hàng, người phục vụ, đồng nghiệp, thành viên gia đình, bạn bè, khách, người quen thông thường và những người bạn chỉ gặp thoáng qua. Đây là một bài học quý giá dạy bạn cách tìm kiếm những điều tích cực.

Phương pháp này giúp bạn có thái độ “cho đi” hơn là “nhận lấy”. Mọi người xung quanh chúng ta đều phản ứng khác nhau một cách vô thức với những thái độ khác nhau. Mọi người đều biết, ở tầng tâm thức hoặc vô thức, khi một người nào đó đang cố gắng “lấy” thứ gì đó của họ. Họ cảnh giác, thận trọng và kháng cự. Nếu ngay cả động vật cũng có thể nhận ra việc này, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng con người, vốn tiến hóa hơn hẳn, cũng nhận ra việc đó.

Nhiều người chống lại việc áp dụng thái độ cho đi vì họ có phương trình, nói rằng “cho đi là mất”. Họ không hiểu cơ chế phản hồi này; do đó, họ không cố gắng đủ lâu để khám phá ra rằng chúng ta luôn luôn nhận lại nhiều hơn những gì chúng ta cho đi. Thành công có xu hướng tự động khuếch đại chính nó. Nó giống như một quả cầu tuyết tích tụ động lực và tăng kích thước khi nó lăn xuống dốc một cách dễ dàng. Mỗi khi bạn tạo ra cảm giác tốt đẹp cho người khác, họ cảm thấy biết ơn và phát triển thái độ tích cực đối với bạn, điều này hoàn toàn thay đổi bản chất cuộc đời của của bạn.

Chúng ta nói rằng một số người dường như có cuộc đời may mắn. Chúng ta quên rằng đó là vì họ đã nỗ lực để trở thành người quyến rũ đối với người khác. Sức quyến rũ này là thái độ ở bên trong. Nó không mang tính cơ hội, không phải là thao túng, hay làm vì lợi ích. Họ không cố gắng quyến rũ chúng ta để chúng ta cho họ cái gì đó. Thay vào đó, nó phản ánh chân thực bản chất của những người đó.

Để hiểu được phẩm chất này, đừng bao giờ tạo “ân huệ” cho những người khác. Tại sao? Bởi vì làm ơn thực chất là thao túng. Đó là một cuộc mặc cả, bạn mong đợi điều gì đó được đáp lại. Nếu sau khi đã làm điều gì đó cho ai đó, mà bạn cảm thấy họ có nghĩa vụ phải đền đáp, thì bạn đã hoàn toàn bỏ lỡ điểm mấu chốt. Cho đi không hàm ý mong đợi sự đền đáp.

Tuyên bên trên vô cùng quan trọng. Chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy rằng điều mà hầu hết mọi người thực sự đang cố gắng làm là mua sự chấp thuận của người khác hoặc thao túng để họ mắc nợ. “Tôi đã làm việc này cho bạn; giờ là lúc bạn phải làm việc đó cho tôi.” Vị thế mặc cả, trao đổi, thao túng này cuối cùng sẽ dẫn đến oán hận, vì vậy chúng ta thường nghe nói: “Sau tất cả những việc tôi đã làm cho anh ta.” Ai lại muốn được điều trị nha khoa “miễn phí” nếu bạn biết rằng việc đó đi kèm với kỳ vọng rằng bạn sẽ chăm sóc con chó của nha sĩ trong khi anh ta đi nghỉ?!

Khi thực sự làm điều gì đó cho người khác, là bạn làm mà không mong đợi bất kỳ đền đáp nào, kể cả được thừa nhận hay công nhận. Bạn làm điều đó vì quan tâm đến những người khác, vì bạn đang góp phần nâng cao chất lượng của cuộc đời. Đây là bí mật bên trong mà chúng ta chỉ có nhờ hiểu biết sâu sắc rằng khi chúng ta hỗ trợ sự sống, sự sống sẽ hỗ trợ lại chúng ta. Đúng là nghe có vẻ giáo điều, nhưng bạn sẽ thấy nó hoàn toàn đúng khi tự mình quan sát ở bên trong và thực chứng.

 

THỰC HÀNH THÀNH CÔNG MỖI NGÀY

Một việc làm đơn giản dẫn đến nhận thức này và mà bất cứ người nào quan tâm đến việc trở thành người thực sự thành công mỗi ngày là: trong khi tham gia giao thông, hãy luôn nhường người khác chen lên trước đầu xe của bạn. Nghe có vẻ hơi điên điên phải không? Nhưng nó có sức mạnh bí mật của việc trở thành một người thành công. Khi bạn thực hành kỹ thuật này, cuối cùng bạn sẽ khám phá ra niềm vui khi trở thành một người thực sự lịch sự. Lịch sự nghĩa là gì?

Nó chỉ đơn giản có nghĩa là hỗ trợ cuộc sống và hạnh phúc của người khác. Bạn sẽ chuyển từ sự thỏa mãn ngắn hạn của việc cản trở người khác sang tỉnh thức ở bên trong trong dài hạn, xuất phát từ việc hỗ trợ người khác.

Nếu bạn nhường đường cho người khác trong khi tham gia giao thông, bạn sẽ cảm thấy mình là người hào phóng. Bạn thấy người khác vẫy tay cảm ơn bạn. Cuộc sống của bạn trở nên tràn đầy lòng biết ơn, sự tử tế, và kết quả đôi bên cùng có lợi, bởi vì đó là những nguyên tắc mà bạn tuân theo và sống theo.

Thực hành tiếp theo là luôn luôn trồng cây gì đó trong văn phòng, căn hộ, nhà hoặc vườn. Đó có thể là những cây cà chua trong bệ cửa sổ, hoặc một cây bonsai, hoặc những cây xương rồng nhỏ, hoặc bất cứ thứ gì mà mọi người thích. Đó nên là việc mà bạn chịu trách nhiệm cá nhân, ngay cả khi chỉ là tưới nước cho cái cây trong chậu cây đặt ở bệ cửa sổ. Điều đáng chú ý là Nelson Mandela, ngay cả khi đang đi tù, đã trồng cà chua trong một thùng rác bỏ đi và chia sẻ thành quả lao động của mình với các cai ngục và gia đình họ.

 

ĐỊNH HƯỚNG LA BÀN CỦA BẠN

Khả năng thành công nằm trong mỗi người. Bất kỳ người nào trong chúng ta cũng có thể làm cho người khác cảm thấy tốt về chính họ. Khi làm như vậy, chúng ta bắt đầu cảm thấy tốt về chính mình. Nó bắt đầu lan tỏa và đưa la bàn của chúng ta theo một hướng ngày càng tích cực, trong đó thành công chỉ đơn giản là sản phẩm phụ tự động của con người mà chúng ta đã trở thành.

Công trình nghiên cứu cao cấp đã chứng minh rằng trong tất cả các sự kiện trong vũ trụ này đều có một mô thức và nguyên tắc tổ chức có thể nhận biết được. Trên thực tế, nếu không có nguyên tắc tổ chức, thì vũ trụ thậm chí sẽ không thể nào tồn tại được. Các nguyên tắc tổ chức có các tầng sức mạnh khác nhau. Giờ đây chúng ta biết một trong những bí quyết thành công của những người có sức mạnh đích thực. Toàn bộ cuộc đời họ được sắp đặt một cách tự động và phi nỗ lực, đấy là do sự hợp nhất hoàn toàn và cam kết tuyệt đối với những nguyên tắc tối cao và đầy sức mạnh. Đây chính là cách Mahatma Gandhi chiến thắng Đế quốc Anh.

Sức mạnh đích thực xuất phát việc hòa hợp với những mô thức điểm hút chi phối hỗ trợ sự sống. Chúng ta thấy xu hướng đó trong sự duyên dáng và thân thiện của những người thực sự thành công. Họ muốn làm cho người khác cảm thấy thoải mái, giúp người khác cảm thấy thoải mái và hạnh phúc. Ngay cả sự ngây thơ, khờ khạo hay vụng về của họ cũng diễn ra trong khung cảnh duyên dáng. Gần như họ biết một cách vô thức rằng, khi nào thì vụng về lại trở thành duyên dáng nhất. Chính sự vụng về như thế lại làm cho người khác cảm thấy thoải mái. Chúng ta có thể nhớ lại những khi chúng ta đột nhiên giả vờ quên điều gì đó, hoặc bối rối, với mục đích duy nhất là để làm cho người khác cảm thấy thoải mái? Đó là điểm xuất phát tốt và đảm bảo với chúng ta rằng sự quan tâm của chúng ta dành cho người khác mang lại sự thoải mái phù hợp với nhu cầu của thời điểm đó.

Thành công không phải là điều chúng ta có được cũng không phải là điều chúng ta làm. Nó là hệ quả tự nhiên của con người mà chúng ta đang là. Cuộc đời của chúng ta và những thành tích chúng ta đạt được trên thế gian này chỉ đơn giản là kết quả của con người mà chúng ta đang là ở bên trong chúng ta và những mục đích mà chúng ta quyết định phụng sự. Sự thật này làm cho công việc của chúng ta trở nên dễ dàng.

Trong khi lái tàu, nếu chúng ta thay đổi hướng đi chỉ một độ trên la bàn, sau vài ngày lênh đênh trên biển, chúng ta sẽ cách xa hàng trăm dặm so với vị trí lẽ ra chúng ta sẽ đến nếu không thay đổi hướng đi chỉ một độ như thế; do đó, một sự thay đổi nhỏ trong thái độ bên trong có thể tạo ra hậu quả to lớn trong cuộc đời của chúng ta. Có lẽ không ai hiểu việc này hơn những người đang cai nghiện rượu hoặc ma túy.

 

February 12, 2026

Václav Havel: QUYỀN LỰC CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC (10- bài cuối)

 

Václav Havel

QUYỀN LỰC CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC

 Tiểu luận chính trị

Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang

Hiệu đính: Nhóm Văn Lang

Nhà xuất bản Giấy Vụn

Phụ lục

Tuyên ngôn Hiến chương 77 

Ngày 13 tháng 10 năm 1976, “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị” và “Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa” đã được công bố trong thông tư số 120 thuộc Bộ luật nước CHXHCN Tiệp Khắc. Những công ước này được đại diện nhà nước ta kí kết năm 1968, được khẳng định tại Helnsinki năm 1975 và bắt đầu có hiệu lực trong nước từ ngày 23 tháng 3 năm 1976.

Từ thời điểm đó, công dân ta được hưởng những quyền đã ghi nhận trong các văn kiện này và nhà nước ta có nghĩa vụ thực thi chúng.

Tự do và nhân quyền được đảm bảo bởi hai công ước trên là những giá trị quan trọng của văn minh nhân loại, mà trong lịch sử, nhiều lực lượng tiến bộ đã cố gắng hướng đến, và việc luật pháp hóa những công ước này có thể hỗ trợ đáng kể cho sự phát triển con người trong xã hội chúng ta. Vì vậy chúng ta hoan nghênh việc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc chấp nhận những công ước ấy.

Tuy nhiên, việc công bố những công ước đó đồng thời lại nhắc nhở chúng ta một cách cấp bách, rằng ở nước ta, nhiều quyền công dân cơ bản – đáng tiếc là –  tạm thời chỉ có giá trị trên giấy.

Thí dụ, quyền tự do ngôn luận được khẳng định trong điều 19 công ước thứ nhất là điều hoàn toàn hão huyền.

Hàng vạn công dân không được làm việc trong chuyên ngành của mình chỉ vì họ giữ quan điểm khác với quan điểm chính thức. Họ đồng thời thường xuyên là đối tượng của những kì thị và trù dập bằng những hình thức khác nhau nhất từ phía chính quyền và các tổ chức xã hội. Bị tước đoạt mọi khả năng tự vệ, họ thực chất trở thành nạn nhân của chế độ phân biệt đối xử.

Hàng trăm ngàn công dân khác bị phủ nhận quyền “tự do thoát khỏi sự sợ hãi” (lời mở đầu của công ước thứ nhất), vì buộc phải sống trong mối nguy hiểm thường trực là nếu thể hiện quan điểm của mình, họ sẽ mất cơ hội làm việc và cả những cơ hội khác.

Mâu thuẫn với điều 13 công ước thứ hai – bảo đảm cho mọi công dân quyền được hưởng chế độ giáo dục – vô số thanh niên bị cản trở học tập chỉ vì quan điểm của mình, hay thậm chí vì quan điểm của cha mẹ mình. Vô vàn công dân phải sống trong nỗi sợ hãi rằng nếu họ bày tỏ theo chính kiến của bản thân, thì chính họ hoặc con cái họ có thể bị tước quyền học tập.

Việc áp dụng quyền được “tìm kiếm, tiếp nhận, phổ biến mọi thể loại thông tin và tư tưởng, không phân biệt biên giới, dù bằng truyền khẩu, bút tự, hay qua ấn phẩm” hoặc “thông qua nghệ thuật” (điểm 2 điều 19 công ước thứ nhất) bị truy nã không chỉ ngoài mà cả trong phạm vi tòa án, và thường được ngụy trang bằng việc buộc tội hình sự (vụ xét xử những nhạc sĩ trẻ đang diễn ra trong thời điểm này là một ví dụ chứng minh cho điều đó).

Quyền tự do công luận bị tước đoạt bởi quy chế tập trung quản lý mọi phương tiện thông tin đại chúng, mọi cơ sở văn hóa và xuất bản. Không một quan điểm chính trị, triết học, khoa học hay thể hiện nghệ thuật nào, nếu trệch khỏi khuôn khổ chật hẹp của ý thức hệ hoặc thẩm mỹ chính thống dù chỉ rất ít, có thể được công bố. Việc phê bình công khai những hiện tượng khủng hoảng trong xã hội bị ngăn cấm. Khả năng bào chữa công khai chống lại những lời buộc tội dối trá và xúc phạm của bộ máy tuyền truyền chính thức hoàn toàn bị loại trừ (quyền được luật pháp bảo vệ chống lại sự ”tấn công vào danh dự và uy tín”, như được bảo đảm rõ ràng trong điều 17 công ước thứ nhất, không hề tồn tại trong thực tế). Không ai có cơ hội bác bỏ những lời buộc tội dối trá và mọi cố gắng nhằm cải chính hay sửa đổi thông qua tòa án đều vô ích. Mọi thảo luận công khai trong lĩnh vực sáng tạo tinh thần và văn hóa đều bị loại trừ. Nhiều nhà khoa học, nghệ nhân, và cả những công dân khác bị kì thị chỉ vì trước đấy họ đã công bố hay công khai phát biểu một cách hợp pháp những quan điểm mà chế độ chính trị hiện thời lên án.

Tự do tín ngưỡng, dù đã được điều 18 công ước thứ nhất bảo đảm rõ ràng, vẫn bị chế độ quyền lực độc đoán hạn chế một cách có hệ thống; bằng cách cắt giảm hoạt động của giáo sĩ, luôn đe dọa không cấp giấy phép nhà nước hoặc thu hồi giấy phép hành đạo của họ; bằng các hình phạt về mặt vật chất và những hình phạt khác đối với những người thể hiện tín ngưỡng của mình trong lời nói hay hành động; bằng cách ngăn chặn việc giáo dục tín ngưỡng v.v.

Sự phục tùng trong thực tế của tất cả các cơ quan và tổ chức trong nước đối với mọi chỉ thị chính trị của bộ máy đảng cầm quyền và mọi quyết định của những cá nhân nắm quyền là công cụ để hạn chế và cũng thường để đè nén hàng loạt quyền công dân. Hiến pháp CHXHCN Tiệp Khắc, luật pháp và những quy chế tư pháp khác không hề chỉnh lí kể cả nội dung lẫn hình thức, việc thông qua cũng như thực thi những quyết định như vậy. Đó là những quyết định thường chỉ bằng miệng, các công dân phần lớn không biết đến và không kiểm soát được chúng. Tác giả những quyết định đó không chịu trách nhiệm trước ai khác ngoài bản thân và tổ chức của mình, trong khi họ có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động của các cơ quan lập pháp và hành pháp của bộ máy quản lí nhà nước, hệ thống tư pháp, công đoàn, hội đoàn và tất cả các tổ chức xã hội, các đảng phái chính trị, xí nghiệp, nhà máy, viện, công sở, trường học và các cơ sở, đồng thời những mệnh lệnh của họ còn nằm trên cả luật pháp. Nếu một tổ chức hay công dân rơi vào mâu thuẫn với chỉ thị nhà nước trong khi diễn giải quyền lợi và nghĩa vụ của mình thì họ không thể nhờ đến sự hỗ trợ của một cơ quan độc lập, vì không tồn tại một cơ quan nào như vậy. Vì tất cả những lí do đó, quyền lợi theo điều 22 và 21 công ước thứ nhất (quyền hội họp và cấm chỉ mọi hạn chế trong việc thực thi quyền này), cả điều 25 (quyền bình đẳng tham gia điều hành công việc xã hội) và điều 26 (không phân biệt đối xử trước pháp luật), bị hạn chế nghiêm trọng. Tình trạng này cũng cản trở công nhân và những người lao động khác tự do thành lập các nghiệp đoàn và các tổ chức tương tự để bảo vệ quyền lợi kinh tế và xã hội của họ, và tự do sử dụng quyền bãi công (điểm 1 điều 8 công ước thứ hai).

Những quyền công dân khác, kể cả điều cấm tuyệt đối "xâm phạm tùy tiện vào đời tư, gia đình, nhà cửa hay thư tín" (điều 17 công ước thứ nhất), bị vi phạm nghiêm trọng, do bộ nội vụ giám sát cuộc sống của công dân bằng nhiều cách khác nhau, ví dụ nghe trộm điện thoại và nhà ở, kiểm tra thư tín, theo dõi cá nhân, khám nhà, xây dựng mạng lưới chỉ điểm trong dân chúng (họ thường được tuyển nhận bằng những đe dọa hay ngược lại bằng những hứa hẹn không thể chấp nhận được) v.v.. Bộ nội vụ đồng thời thường xuyên can thiệp vào quyết định của chủ lao động, khích lệ những hoạt động kì thị của các cơ quan và các tổ chức, tác động đến các cơ quan tư pháp và điều khiển những chiến dịch tuyên truyền của phương tiện thông tin đại chúng. Những hành động này không được quản lí bởi pháp luật, chúng diễn ra bí mật và người dân hoàn toàn không thể tự vệ trước chúng.

Trong trường hợp bị truy tố vì động cơ chính trị, các cơ quan điều tra và tư pháp đã vi phạm quyền của bị can và quyền bào chữa của họ, là những quyền được bảo đảm bằng điều 14 công ước thứ nhất cũng như bằng luật pháp Tiệp Khắc. Trong trại giam, những người chịu án bị đối xử thô bạo về nhân phẩm, bị đe dọa sức khỏe và luôn phải chịu những sức ép nhằm bẻ gãy tinh thần đạo đức của họ.

Cả điểm 2 điều 12 công ước thứ nhất – đảm   bảo cho mọi công dân có quyền tự do rời khỏi tổ quốc – nói chung cũng bị vi phạm. Dưới chiêu bài “bảo vệ an ninh quốc gia” (điểm 3), quyền này bị ràng buộc bởi những điều kiện không thể chấp nhận được. Ngay cả việc cấp xét thị thực cho người nước ngoài cũng được tiến hành một cách độc đoán, nhiều công dân nước ngoài không thể đến thăm CHXHCN Tiệp Khắc chỉ vì có quan hệ bạn bè hay công việc với những cá nhân bị kì thị trong nước.

Một số công dân – hoặc với tư cách cá nhân, ở nơi công tác hay bằng phương tiện công khai (thực tế chỉ có thể thông qua cơ quan truyền thông nước ngoài) – đã lưu ý việc nhân quyền và tự do dân chủ bị vi phạm một cách có hệ thống, và đòi hỏi sửa chữa trong một số trường hợp cụ thể, nhưng tiếng nói của họ phần lớn không được hồi đáp hoặc là trở thành đối tượng điều tra.

Trách nhiệm tôn trọng quyền công dân trong nước trước tiên đương nhiên thuộc về cơ quan chính trị và nhà nước. Nhưng không chỉ riêng họ, mỗi cá nhân đều mang một phần trách nhiệm về tình trạng chung, nghĩa là cả về việc tôn trọng những công ước đã được luật pháp hóa, những công ước ngoài ra đã ràng buộc không chỉ chính phủ mà còn tất cả công dân trong việc thực hiện chúng.

Cảm nhận về trách nhiệm chung này, niềm tin vào ý nghĩa của sự dấn thân của mỗi công dân, quyết tâm và mong muốn chung tìm kiếm một biểu hiện mới, hiệu quả hơn cho sự dấn thân đó đã dẫn dắt chúng tôi tới ý nghĩ thành lập Hiến chương 77, việc ra đời của nó được chúng tôi công bố hôm nay.

Hiến chương 77 là một hiệp hội mở, tự do và không chính thức của những người có quan điểm, đức tin và ngành nghề khác nhau, được liên kết bởi nguyện vọng tự mình và cùng nhau thúc đẩy việc tôn trọng quyền công dân và nhân quyền trong nước và trên thế giới. Đó là những quyền con người được công nhận bởi cả hai công ước quốc tế đã được luật pháp hóa, và bởi điều luật cuối cùng của hội nghị Helsinki, cũng như bởi nhiều tài liệu quốc tế khác nhằm chống chiến tranh, bạo lực, áp bức xã hội và tôn giáo, và đã được Tuyên ngôn nhân quyền Liên hợp quốc tổng hợp lại.

Hiến chương 77 được xây dựng trên cơ sở tình đoàn kết và tình bạn của những người cùng có nỗi lo cho số phận của những lý tưởng mà họ đã và sẽ gắn liền cuộc sống và công việc của mình với chúng.

Hiến chương 77 không phải là một tổ chức chính thức, nó không có điều lệ, không có bộ phận lãnh đạo thường trực và không có cơ chế tiếp nhận hội viên một cách có điều kiện. Hội viên Hiến chương 77 bao gồm tất cả những người đồng tình với ý tưởng, tham gia công việc và ủng hộ nó.

Hiến chương 77 không phải là nền móng cho hoạt động chính trị đối lập. Hiến chương 77 mong muốn phục vụ lợi ích chung như nhiều nhóm đề xướng công dân tương tự ở các nước phương Tây cũng như phương Đông. Hiến chương 77 không đề ra chương trình cải tổ, thay đổi chính trị hay xã hội riêng, mà trong phạm vi hoạt động của mình, Hiến chương 77 muốn được tham gia đối thoại có tính chất xây dựng với chính quyền và nhà nước, đặc biệt là để chỉ ra những trường hợp vi phạm quyền công dân và nhân quyền cụ thể, chuẩn bị hồ sơ, đề nghị cách giải quyết, đệ trình những đề nghị tổng quát khác nhau hướng tới việc củng cố và đảm bảo những quyền đó, đứng ra làm người trung gian trong những trường hợp xung đột có thể xảy ra vì bất công v.v..

Với cái tên biểu tượng của mình, Hiến chương 77 nhấn mạnh rằng nó xuất hiện ở ngưỡng cửa của năm được tuyên bố là Năm quyền tù chính trị, và năm mà hội nghị Belgrade sẽ kiểm điểm việc thực hiện những cam kết từ Helsinki. Chúng tôi, những người tham gia kí tuyên ngôn này ủy quyền cho GS. TS. Jan Patočka, Václav Havel và GS. TS. Jiří Hájek làm phát ngôn viên cho Hiến chương 77. Những phát ngôn viên này được toàn quyền đại diện cho Hiến chương 77 trước các cơ quan nhà nước và tổ chức khác, cũng như trước công chúng trong nước và thế giới, chữ kí của họ sẽ bảo đảm tính xác thực của những tài liệu của Hiến chương. Những phát ngôn viên sẽ có cộng sự trong số những người đã và sẽ tham gia kí, họ sẽ tham gia những bàn bạc cần thiết, lãnh nhận một phần nhiệm vụ và cùng với những phát ngôn viên chịu mọi trách nhiệm.  

Chúng tôi tin tưởng rằng Hiến chương 77 sẽ đóng góp để tất cả công dân Tiệp Khắc được sống và làm việc như những con người tự do.

 Praha, ngày 1 tháng 1 năm 1977

 Phạm Nguyên trường dịch từ bản tiếng Anh.

 

 

February 11, 2026

Václav Havel: QUYỀN LỰC CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC (9)

 

Václav Havel

QUYỀN LỰC CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC

 Tiểu luận chính trị

Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang

Hiệu đính: Nhóm Văn Lang

Nhà xuất bản Giấy Vụn

Về ý nghĩa của hiến chương 77 

 (Nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Hiến chương 77, tháng 7 năm 1986)

 Đối với Hiến chương 77, từ ngày thành lập đến nay, một câu hỏi cơ bản luôn được đặt ra: những việc làm mạo hiểm của phong trào có mang lại lợi ích thực sự cho xã hội? Nói cách khác, Hiến chương có ý nghĩa gì không?

Theo tôi kỷ niệm mười năm ngày thành lập Hiến chương là thách thức tự nhiên để suy ngẫm về câu hỏi này. Việc làm đó có lẽ sẽ có tác dụng ngay cả khi chỉ để tổng kết lại những điều đã nói, không nhất thiết để phát hiện điều gì mới mẻ. Cũng không thể làm khác được: với bản chất tự nhiên của mình, Hiến chương luôn tự đặt cho mình câu hỏi đó và nghiên cứu nó một cách nghiêm túc.

Những điều đã được công luận phán xét là phi nhân tính và đã được linh thiêng thề thốt[1] là sẽ không bao giờ xảy ra, sau sự can thiệp của Khối Varsava––[2], lại được tái lập lại một cách trơ trẽn và dân chúng cũng nhanh chóng làm quen với điều đó. Xã hội Tiệp Khắc sau khi được gia tăng sức mạnh[3] và sau đó thất vọng với kết quả đạt được, nhanh chóng rơi vào trạng thái u mê. Đối mặt với việc tái lập chế độ độc tài, đa số dân chúng không còn quan tâm đến việc công, họ từ bỏ cơ hội tác động xã hội và tập trung lo lắng cho cuộc sống cá nhân. Họ mất lòng tin vào ý nghĩa của việc tham gia công việc xã hội, công việc dân sự. Những người ít thuần phục nhất đã nhận được những bản án nặng nề để không ai còn phải hồ nghi[4]. Xã hội bị xé nhỏ, tư duy và sáng tạo tự do bị vùi vào chốn riêng tư. Những mối quan hệ xã hội theo chiều ngang tạo không gian cho cuộc sống xã hội đích thực bị cắt đứt. Sự im lặng hoang vu của một quãng lịch sử bất động mang tính độc tài và thực dụng, lan tỏa trong cả nước. Với cảm giác bị lường gạt, nhân dân đã hoàn toàn quay lưng lại với tổng thể chính trị. Họ thấy chán ghét tất cả những ý thức hệ, vì phải nếm trải hàng ngày những thực tế tồi tàn núp bóng sau những lời lẽ hoa mỹ. Tinh thần đoàn kết và chia sẻ, cách đây không lâu còn rất bền vững, hoàn toàn tan biến; chủ nghĩa vị kỷ bao trùm tất cả, không khí sợ hãi thống trị khắp nơi. Người dân im lặng chấp nhận giải pháp đa nhân cách cho phương trình cuộc sống mà tình thế bày ra cho họ: bên ngoài cúi đầu vờ tuân thủ, trong thâm tâm không còn tin vào điều gì hết.

Đó không chỉ là khủng hoảng chính trị. Đó là khủng hoảng đạo đức.

Việc đặt câu hỏi về ý nghĩa của Hiến chương là điều dễ hiểu: chính quyền lúc đó không chấp nhận đối thoại Hiến chương đề nghị, họ chối từ đàm phán và đồng thời bác bỏ những đề nghị của Hiến chương. Chính quyền tuyên bố Hiến chương là tập hợp những “kẻ thất thế” và giao nộp họ vào tay cảnh sát. Ngay cả xã hội cũng không tỏ thái độ đồng nhất với tư tưởng của Hiến chương một cách rõ rệt: số người ký Hiến chương hầu như không tăng. Không một tập thể đáng kể nào ủng hộ Hiến chương một cách rõ ràng; cũng không có những biểu hiện cảm tình với phong trào một cách công khai. Thậm chí có vẻ như là nhân dân tránh né, không muốn dính dáng và cũng không quan tâm đến Hiến chương. Hiến chương đã có được thành công gì cụ thể? Đã có gì tốt lên nhờ những việc làm của Hiến chương? Hiến chương đã thất bại thật sự trong việc làm của mình?

Tôi nghĩ rằng chưa thể trả lời được chính xác câu hỏi về ý nghĩa xã hội thực tế của Hiến chương nếu chưa hiểu rõ bản chất tình hình xã hội lúc Hiến chương ra đời, cũng như chưa được hiểu rõ bản chất của Hiến chương, nghĩa là Hiến chương là gì, mục đích của Hiến chương thế nào, Hiến chương xuất hiện từ đâu và Hiến chương muốn đóng góp gì cho tình hình xã hội chung.

Đánh giá ý nghĩa của Hiến chương thiếu những chuẩn bị trên cũng giống như việc đo lường mà thiếu thước đo hay dùng sai dụng cụ đo lường. Khoảng cách không thể đo được bằng cân và trọng lượng không thể đo bằng đơn vị mét.

Nhấn mạnh khía cạnh đạo đức trong hành động của chính mình luôn luôn là một việc làm mạo hiểm vì cá nhân đó dễ bị coi là kẻ tự phụ, hoặc ít nhất là người thiếu khiêm nhường và trơ trẽn. Không gian chính để tìm hiểu ý nghĩa của Hiến chương, đáng tiếc là không thể xác định chính xác được nếu chưa làm sáng tỏ cơ sở đạo đức trong hoạt động của Hiến chương – dù chỉ với mục đích duy nhất tìm sự thật và được tiến hành một cách tỉnh táo. Tôi không thể làm gì khác ngoài chấp nhận sự rủi ro bị coi là kẻ tự phụ.

Hiến chương 77 không hình thành từ tham vọng dựng lên một thể chế chính trị hay ý thức hệ để chống lại một thể chế chính trị hay ý thức hệ khác. Hiến chương cũng không mong muốn trở thành lực lượng chính trị nhằm cạnh tranh với lực lượng chính trị đang cầm quyền; Hiến chương không tự xem mình là một lựa chọn tốt hơn thay thế cho đội ngũ cầm quyền. Dù rằng có nhiều người ký Hiến chương trước đây là chính trị gia, nhiều trong số đó đang tham gia chính trường, một số có thể lại tham gia chính trường nếu có cơ hội, mặc dù trường hợp đó khó có thể xảy ra. Tất cả mọi điều đó không thay đổi được một thực tế là bản thân Hiến chương – ít nhất là trong đường lối nội bộ – không phải là một thử nghiệm để giải quyết khủng hoảng bằng con đường chính trị. Giải pháp chính trị như vậy có lẽ sẽ là dễ hiểu đối với những người quan sát sống trong những xã hội mở hoặc ít phân hóa đạo đức hơn. Trong trường hợp Hiến chương, việc tìm giải pháp chính trị là lầm lẫn vô vọng về tình hình xã hội cũng như vị trí của mình.

Giải pháp duy nhất, có lô–gic, có ý nghĩa để công dân thoát khỏi khủng hoảng đạo đức của xã hội phải là giải pháp đạo đức.

Chắc chắn rằng tôi không phải là người đầu tiên và cũng không phải là người cuối cùng xem Hiến chương như một nỗ lực cho một giải pháp như thế. Jan Patočka[5] đã có cái nhìn đó ngay từ buổi đầu của phong trào. Đa số mọi phản hồi và tự phản hồi sau này của Hiến chương đều có liên quan hay khởi nguồn từ cái nhìn này của ông.

Chúng ta có thể thấu hiểu căn nguyên quan điểm của Hiến chương trên nền tảng bầu không khí mà phong trào đã nảy sinh.

Vào giữa những năm bảy mươi, bắt đầu xuất hiện – mặc dù chỉ trong môi trường của một nhóm "thiểu số đáng kể" – những dấu hiệu của sự thức tỉnh xã hội. Nhiều người đã bắt đầu hồi tỉnh sau cú sốc lịch sử trước đó; nhiều người kết cuộc đã bắt đầu rũ bỏ những ảo tưởng còn sót lại của mình và suy nghĩ một cách tự do thực sự; nhiều người đã “mệt mỏi vì những mệt mỏi của chính mình” và bắt đầu nhận thức được rằng không chỉ cứ chờ đợi để một ai đó (từ bên trên? từ bên ngoài?) sẽ cải thiện tình hình; nhiều người đã chán ngấy vai trò làm đối tượng thụ động muôn đời của lịch sử và cảm nhận ở một mức độ nào đó sự cần thiết để lại trở thành chủ thể của lịch sử; nhiều người đã chết ngạt trong không khí tù túng của căn hầm trú xã hội của mình và cảm nhận lại trách nhiệm chung của mình cho số phận của toàn thể. Bước vào tuổi nhận thức là thế hệ trẻ không bị tổn thương bởi trải nghiệm từ cuộc chiếm đóng của Liên Xô. Những hội nhóm khác nhau mà cho đến khi đó còn hoạt động riêng lẻ, cô lập và dường như chỉ lo cho riêng mình đã có khát vọng nhảy ra khỏi hạn định hiện tại của mình để bước vào đời sống công cộng. Tình đoàn kết lại được đánh thức và nhận thức về tính không thể chia cắt của tự do được tăng cường: người ta bắt đầu nhận ra rằng sự tấn công vào tự do của một cá thể cũng đồng nghĩa với sự tấn công vào tự do của tất cả, và một khi xã hội còn bị phân chia bởi sự bàng quan và còn có những người im lặng trước việc người khác bị trấn áp, thì sẽ không có bất kỳ ai thoát ra khỏi sự thao túng chung.

Vào năm 1976 các thành viên và cộng sự của ban nhạc rock The Plastic People of the Universe[6] bị bắt giam. Quyền lực lần này đã không tấn công vào những đối kháng chính trị của mình như trong giai đoạn đầu những năm bảy mươi, mà đã tấn công vào chính cuộc sống, chính xác hơn là tấn công vào ý chí được bộc lộ mình một cách tự do, theo cách của riêng mình, một cách chính đáng và xác thực. Sự nguy hiểm của lần tấn công này được nhận diện một cách nhanh chóng và rộng rãi, và một chiến dịch vận động đoàn kết xuất hiện khi đó đã là tấm gương phản chiếu những thay đổi mà tôi đã nói, và là bằng chứng hiện hữu về mọi khía cạnh của những thay đổi này, từ quyết tâm vượt qua cái bóng của mình trong những hội nhóm khác nhau, cho đến sự nhận thức ngày càng sâu sắc về tính không thể chia cắt của tự do. Sự chuyển mình xảy ra lúc đó của nhóm "thiểu số đáng kể" này không phải là hoàn toàn vô cội nguồn hay xuất hiện một cách đột nhiên, mà nó chính là câu trả lời tất yếu của một nhận thức xã hội đang bừng tỉnh trước hành động tấn công của giới cầm quyền. Việc đoàn kết với những người bị nạn tất nhiên lại càng thúc đẩy nhanh chóng hơn sự thức tỉnh đó: những rào cản đã được vượt qua và một bầu không khí cộng đồng đã nhanh chóng nảy sinh.

Sự kiện này đã dẫn đến việc ra đời ngay sau đó của Hiến chương 77, nó đã liên kết những con người rất khác nhau, những nhóm rất khác nhau để ấn định và biến nhận thức đoàn kết hỗ trợ nhau và trách nhiệm đối với những vấn đề chung thành một thực tế xã hội.

Hiến chương là sự ra mắt công chúng quan trọng đầu tiên trong thời Husák[7]. Nó đã tập hợp các nhà văn và các cựu chính trị gia, những người cộng sản và những người không cộng sản, những tín đồ công giáo và những tín đồ tin lành, các trí thức và các công nhân, các giáo sư đại học và giới trẻ bất tuân. Họ không liên kết nhau lại trên nền tảng chính trị mà phần nhiều từ những lý do nội tâm, và những lý do đó có tính chất con người hơn là chính trị. Trăn trở chung của họ trước hết là trăn trở đạo đức.

Phong trào Hiến chương đã xuất hiện như một điều tự nhiên và chỉ như vậy nó mới có thể được hình thành. Nó không phải là kết quả của một sự suy diễn lạnh lùng dựa vào những phân tích tình hình theo lối chính trị học. Các thái độ đạo đức không được tạo ra bằng cách đó. Chúng đã ra đời bằng lương tâm hơn là bằng lí trí. Hiến chương không hình thành từ những lập luận logic, mà từ những logic bên trong của sự việc, nghĩa là từ logic của hoàn cảnh và logic của phản ứng con người trước hoàn cảnh đó. Đó là câu trả lời xác thực của người công dân trước tình trạng thoái hóa đạo đức. Nó hình thành từ mong muốn chống lại áp lực vô đạo đức của thời thế; chối bỏ căn bệnh phân liệt tâm thần bị áp đặt; bước qua giới hạn của những tư lợi cá nhân và nỗi sợ của chính mình; vượt lên khỏi những giao thông hào của sự riêng tư để đăng nhập tham gia những vấn đề công cộng; không còn tiếp tục khen bộ quần áo của nhà vua ở truồng, mà ngược lại nói sự thật; nói một cách ngắn gọn là hành xử phù hợp với lương tâm của chính mình và đơn giản là đứng thẳng làm người. Đó là nỗ lực ngẩng cao đầu của kẻ bị hạ thấp phẩm giá, sự lên tiếng của kẻ bị bịt miệng, sự nổi dậy chống sự dối trá của kẻ bị lừa dối, sự cố gắng thoát khỏi cảnh ngộ bị điều khiển của kẻ bị thao túng. Đó là nỗ lực thực hiện quyền mà mình được hưởng, giành lấy trách nhiệm đã bị phủ nhận, tìm lại phẩm giá con người và sự toàn vẹn, và bằng cách như vậy khôi phục lại sự tôn trọng vào chính bản thân mình.

Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in những biểu hiện nhẹ nhõm vui sướng, niềm hân hoan tự hào của sự tự khẳng định mình, thậm chí cảm giác giải phóng sảng khoái, của nhiều thành viên khi ký tên vào Hiến chương ngày đó. Giống như vừa trút bỏ được một cái gì đó thật nặng nề, một vỏ bọc mà từ rất lâu phải ép mình trong đó, họ như được trực tiếp hồi sinh bởi nhận thức ra rằng thời kỳ phẩm giá con người bị hạ thấp và thói đạo đức giả đã kết thúc.

Những biểu hiện như vậy không chỉ là trạng thái tâm lý nhất thời riêng lẻ. Nó minh họa ý nghĩa của Hiến chương đối với rất nhiều người, nó nói lên bản chất đạo đức – bản chất thật sự của lập trường mà Hiến chương là người đại diện.

Khi nhắc đến sự liên hệ của một cái gì đó có bản chất hay khởi nguồn từ đạo đức thì tựu trung điều đó có nghĩa như thế nào?

Về căn bản nó có nghĩa là việc làm của chúng ta không xuất phát từ những động cơ “có mục đích”, khi chúng ta biết chắc chắn rằng việc làm đó sẽ có cơ hội thành công sớm sủa, ngay lập tức, rõ ràng, có thể kiểm chứng được (và do đó ít nhiều là thành công bề ngoài), mà chúng ta làm chỉ đơn giản vì chúng ta cho rằng đó là một điều tốt. Động lực đạo đức buộc chúng ta phải làm những việc tốt vì mục đích thực hiện việc tốt đó, và vì đó là nguyên tắc.

Khác với những động cơ vì mục đích, động cơ đạo đức được dựa trên niềm tin vững chắc rằng việc tốt luôn luôn có ý nghĩa. Và đồng thời cũng dựa vào niềm hi vọng, rằng ý nghĩa đó, sớm hay muộn sẽ được chứng tỏ và khẳng định bằng cách riêng của mình. Đồng thời chúng ta cũng ý thức đầy đủ khả năng rủi ro, rằng điều này không nhất thiết phải xảy ra, dẫu vậy nhận thức đó không hề khiến chúng ta quay lưng với dự định ban đầu. Niềm tin chắc chắn trong tâm trí vào ý nghĩa của việc làm đúng đắn cũng là niềm tin rằng việc làm đó có ý nghĩa ngay cả khi nó không thành công. Nói một cách khác, động cơ đạo đức bắt buộc chúng ta làm những việc nhất định, không kể đến việc đó có thành công, khi nào thành công, hay thành công như thế nào, nghĩa là ngay cả khi không có một đảm bảo là việc làm này, bằng cách nào đó, sẽ mang lại lợi ích hay lời lãi gì cho chúng ta

 .

Những người kí Hiến chương không phải những kẻ không tỉnh táo, họ không nghĩ rằng chính quyền sẽ lập tức đối thoại với họ và cả xã hội sẽ đồng tình ngay với họ, hay tình hình đất nước sẽ đổi thay và trong thoáng chốc sẽ trở nên tốt đẹp ngay sau khi Hiến chương xuất hiện. Ngược lại, mỗi người đều tính đến khả năng là họ sẽ bị trừng phạt.

 

Dẫu vậy họ đã dấn thân vào con đường ấy. Họ dấn thân, bởi họ cho như thế là đúng, với niềm tin, rằng một việc đúng đắn luôn luôn là một điều đáng làm, cũng như họ luôn hi vọng, rằng cảm giác hài lòng trong thâm tâm khi làm được một việc lành sẽ được cộng hưởng bởi niềm vui khi được bên ngoài thừa nhận, dù thừa nhận ấy có chậm trễ, gián tiếp và hết sức kín đáo. Họ đã làm điều đó với nhận thức – cho phép tôi được trích câu nói nổi tiếng của Jan Patocka – rằng có những việc xứng đáng để con người phải hi sinh, chịu đựng.

 

Người muốn tìm hiểu ý nghĩa của Hiến chương một cách đúng mức, có nghĩa là tìm hiểu cả hậu cảnh những vấn đề mà Hiến chương nêu ra, sẽ phải tự hỏi: Hiến chương có phải là một hành động phục hồi nhân cách? Chỉ khi câu trả lời là có, thì mới có thể tiếp tục tìm hiểu ý nghĩa xã hội của Hiến chương. Và phải tìm ở nơi duy nhất có thể tìm thấy nó: đó là phạm vi ảnh hưởng chính trị của một thái độ đạo đức. Nghĩa là trong một địa hình tinh vi khó nhận thấy đối với con mắt thiếu kiên nhẫn của người quan sát, thường quen tìm hiểu những hiệu ứng chính trị của các hoạt động chính trị.

 

Chúng ta hãy thử tìm hiểu theo hướng này.

Hiến chương 77 có thật sự là một hành động phục hồi nhân cách?

 

Nghiên cứu những hoạt động cụ thể của Hiến chương, trước hết là những tài liệu của phong trào, chúng ta nhận thấy ngay nét đặc trưng nhất: ở đây, con người với danh nghĩa công dân, trong ý nghĩa trọn vẹn và cao đẹp nhất của từ này, đã lên tiếng. Có thể nói, Hiến chương là biểu hiện của nhận thức, lương tâm và lòng tự tin đang dần dần bừng tỉnh của công dân. Người công dân ở đây lên tiếng đòi quyền của mình, những quyền được thừa nhận trên lí thuyết, nhưng bị chà đạp trong thực tế, và thực hiện các quyền của mình một cách đầy đủ. Họ không còn xử sự như kẻ lệ thuộc, họ đã tìm về với tự do của mình.
Có vẻ điều đó như là còn ít. Có thể không ít người mong muốn rằng Hiến chương đưa ra ngay một chương trình chính trị – như vậy đối với họ có thể sẽ dễ hiểu hơn.

Cơ hội đưa ra một chương trình chính trị luôn là cơ hội mở, bất kỳ ai, bất cứ lúc nào đều có thể tóm lấy cơ hội đó, Hiến chương không những sẽ không ngăn cản, mà còn sẵn sàng ủng hộ việc làm như vậy. Mục tiêu của Hiến chương tuy nhiên hoàn toàn khác. Mục tiêu của Hiến chương có vẻ giản dị hơn, nhưng về một mặt nào đó sâu sắc hơn.

 

Vì thật ra những chương trình chính trị có thể ra đời, hoạt động hay chấm dứt, thu được hay đánh mất sự ủng hộ, và thật sự gây được ảnh hưởng tới thời cuộc chỉ trên nền tảng xã hội khi quyền công dân thực sự được khôi phục, và đó chính là nền tảng mà Hiến chương xây dựng. Một đám người lệ thuộc không thể phác thảo, tuyên bố và thực thi một chương trình chính trị, chỉ có những công dân tự do với đầy đủ thẩm quyền pháp lí mới làm được điều đó; không có công dân thì không có chính trị. Ngôi nhà phải được xây dựng từ nền chứ không thể xây từ mái. Khôi phục quyền công dân không phải là một "sản phẩm chưng cất" từ chính trị, ngược lại, nó là điều kiện tiên quyết của một nền chính trị.
Không những thế, chính trị có thể đổi thay, nhưng nhu cầu cấp thiết của quyền công dân như điều kiện cần cho mọi nền chính trị, sẽ trường tồn. Đó là nhu cầu không bao giờ kết thúc, không bao giờ cạn kiệt, luôn có tính thời sự và không thể nào đạt được trọn vẹn: nó đòi hỏi lòng can đảm, ý chí hướng tới sự thật, lương tâm, tự do tinh thần và trách nhiệm với việc chung. Và khi nào chúng ta có thể tuyên bố được rằng con người đã đáp ứng được chuẩn mực của những giá trị trên?

Có thể nói, theo tinh thần lí luận của Ladislav Hejdanek[8], mục tiêu của chính trị là hữu hạn và mục tiêu của Hiến chương là vô hạn.

Nó vô hạn vì nó có tính đạo đức.

Phải chăng sự phục hồi tinh thần công dân chỉ là hình thức, hậu quả và là biểu hiện của sự phục hồi đạo đức? Liệu có thể hình dung sự phục hồi tinh thần công dân thiếu động lực đạo đức? Xét cho cùng, là công dân trong ý nghĩa lớn lao và ràng buộc như Hiến chương yêu cầu và đòi hỏi, có nghĩa là sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm ở mức độ ngay cả khi điều đó không có lợi!

Tôi nghĩ rằng, nỗ lực thường xuyên và rõ ràng của Hiến chương để phục hồi một cách triệt để quyền công dân đủ chứng tỏ rằng lập trường cơ bản của Hiến chương về các vấn đề xã hội là một lập trường thật sự có tính chất đạo đức.

Hiến chương 77 không có trong cương lĩnh một kế hoạch lật đổ chính phủ hay phá bỏ hệ thống xã hội đang tồn tại. Vì thế nó cũng không là sự tấn công chống lại hệ thống hành pháp. Ngược lại, Hiến chương nỗ lực lập lại dân quyền bằng cách yêu cầu các điều luật phải thực sự có hiệu lực và được chấp hành; nó lưu ý cách giải thích luật tùy tiện của người cầm quyền; và muốn pháp luật không chỉ tồn tại trên giấy mà phải được tôn trọng và thực hiện trong thực tế. Nếu thấy điều luật nào sai sót, Hiến chương sẽ sử dụng mọi phương tiện theo đúng luật pháp để đề nghị sửa đổi. Vì thế quan hệ của Hiến chương với chính quyền cũng được phát triển: Hiến chương liên tục gửi tài liệu cho các cơ quan nhà nước và chính phủ mặc cho họ có thái độ từ chối và cho dù rằng các tài liệu đó  đã được (một cách không chính thức) đem ra thảo luận và bàn bạc.

Hành động này có thể dễ dàng bị phê phán: mười năm viết cho nhà cầm quyền để làm gì khi mà mười năm họ không thèm trả lời? Liệu đó có phải là hành động vô mục đích và do vậy là vô nghĩa? Liệu bằng cách đó Hiến chương càng thừa nhận quyền lực của những kẻ không đếm xỉa đến ý kiến nhân dân và càng gây thêm ảo tưởng về tính hợp pháp của họ? Liệu nó có tạo ra cảm tưởng là chìa khóa cho bất cứ chuyển biến tốt đẹp hơn nằm đâu đó ở “trên cao”, trong tay những kẻ cầm quyền, và những người ở “dưới thấp” không thể làm gì cả? Liệu ở đó có yếu tố của một trò chơi dân chủ giả mạo trong chế độ hoàn toàn độc quyền và chuyên chính? Liệu chúng ta có làm như thể công nhận “họ” có chút tiến bộ, muốn tiến bộ hơn và cũng có để ý đến ý kiến của chúng ta, mặc dù chúng ta thừa biết rằng, họ chỉ làm cái họ muốn, và rằng không có gì tác dụng với họ ngoài vũ lực?

Từ khía cạnh chính trị hoặc chính trị thực dụng thì không hồ nghi gì nữa, việc làm của chúng ta có thể được xem là như vậy. Dưới tầm nhìn dựa trên nỗ lực suy xét ảnh hưởng chính trị của một hành động đạo đức thì việc làm đó sẽ không biểu hiện như thế: từ khía cạnh hiện tại và mục đích tức thời thì dường như quyền lực và tính hợp pháp của những người nắm quyền đã được thừa nhận, nhưng từ khía cạnh lịch sử tương lai và những nguyên tắc có giá trị mãi mãi, thì ngược lại, nhận thức công dân đã được chứng tỏ. Chính phủ sẽ thay đổi, luật pháp sẽ thay đổi, thậm chí cả hệ thống xã hội cũng có thể thay đổi. Nhưng cái luôn có giá trị và không bao giờ mất đi tính thời sự chính là nguyên tắc, rằng công dân phải cùng nhận trách nhiệm chung về số phận của tổng thể, và trong tinh thần đó phải luôn luôn hành động: không ngừng nói lên sự thật bất kể đến khó khăn tức thời (tương ứng với khung cảnh của thời đại); phổ biến sự thật cho mọi người và cả chính quyền, yêu cầu chính quyền quan tâm đến sự thật; và bằng mọi cách đó (dù với thành công nhỏ hay lớn trong thời điểm đó) mở ra một không gian thảo luận dân chủ; duy trì, góp ý và tăng cường nguyên tắc tham gia quản lí việc công cũng như quyền tham gia đó của tất cả công dân.

Nhiệm vụ của Hiến chương không phải là phán xét những người cầm quyền, mà là phản ánh hiện trạng và bằng cách đó thực hiện quyền lợi vĩnh cửu và cơ bản của công dân.

Vì vậy một lần nữa: ngược lại với sự hữu hạn của câu hỏi có tính chính trị, rằng việc viết và gửi thư cho chính phủ này có nghĩa lý gì không, là sự vô hạn của nguyên tắc đạo đức, rằng vấn đề chung của chúng ta phải thực sự là vấn đề chung của tất cả chúng ta. Nói cách khác: hành động như người công dân tự do, ý thức được quyền lợi và cả nghĩa vụ của mình, “nói vào việc chung”, luôn luôn và mãi mãi là một việc làm căn bản có ý nghĩa. Không phụ thuộc vào việc khuôn mẫu xử sự này có đi vào tiềm thức chung hay không, nhanh hay chậm.

Ở đây, tôi không thể và cũng không đủ trình độ chuyên môn để đánh giá nội dung hàng trăm tài liệu mà phong trào Hiến chương 77 đã công bố trong vòng mười năm hiện diện của mình. Tuy nhiên tôi biết rằng, ngay cả khi tổ chức này có thể có lúc không nắm bắt hết vấn đề nó đề cập đến – lẽ tự nhiên, không ai không thể không có nhầm lẫn – thì một điều không thể tranh cãi là, mọi văn kiện của Hiến chương 77 đều được bắt đầu từ thiện chí nhằm đưa ra bức tranh trung thực nhất với vấn đề liên quan .

Ngay cả nhà chính trị tài giỏi nhất đôi khi cũng phải điều chỉnh – cho dù rất ít hay thậm chí vô thức – cách diễn giải các sự kiện xã hội cho thích hợp với triển vọng quyền lực, xuất phát từ ham muốn quyền lực nhất định của mình. Nhóm Hiến chương 77, ngược lại, do không lấy quyền lợi chính trị làm mục tiêu, có thể tự do đấu tranh cho một lẽ phải thật sự không thiên vị. Tức là sự thật và lẽ phải không bị chi phối bởi điều nó sẽ có hay không có lợi cho ai.

Sự thật hoàn toàn và đầy đủ, như chúng ta đều biết, chỉ tồn tại trong một vương quốc không tưởng. Nếu như Hiến chương 77 dù vậy vẫn quyết tâm đi bằng con đường, dù không thực tế và không khôn khéo, để tìm ra một sự thật khách quan, thì điều đó một lần nữa đã thể hiện định hướng đạo đức của nó và sự vô hạn của những mục tiêu xuất phát từ định hướng đạo đức này: nếu như việc tìm kiếm sự thật là điều căn bản đúng đắn và có ý nghĩa, thì trên nguyên tắc, không thể hạn chế nó từ bất cứ phương diện nào.

Chính nguyên tắc này đôi khi cũng gây nên một số bàn cãi: ai đó có thể cho rằng, giả sử chúng ta đôi khi tỏ ra trung thành hơn với một mục đích hay một thế lực chính trị nào đó, thì hoạt động của chúng ta có thể sẽ có hiệu quả chính trị hơn. Điều đó có thể đúng. Nhưng bằng biểu hiện trung thành như vậy, Hiến chương sẽ phản lại lòng tin của chính mình. Chúng ta không thể nắm giữ một quan điểm, đồng thời chối bỏ hệ quả tự nhiên của nó.

Như tôi đã nói trên, Hiến chương 77 xuất hiện ngoài ra cũng từ ý thức về sự không thể tách rời giữa tự do và quyền lợi.

Nguyên tắc đó là điều kiện tự nhiên, là một bộ phận và là hệ quả của việc phục hồi quyền công dân: không thể là công dân (ít nhất là trong ý nghĩa dân chủ và theo định nghĩa mạnh của khái niệm này) đồng thời cản trở quyền công dân của người khác; trong nỗ lực thực hiện quyền công dân của chính mình không thể thiếu được sự tôn trọng chính những quyền đó của người khác; nếu chỉ một cá nhân bị tước đoạt quyền đó, thì quyền của tất thảy đều bị cắt xén. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi người, về phương diện công dân, đều bình đẳng trước pháp luật, trước xã hội và trước cả chính quyền; không có cá nhân nào, trên danh nghĩa quan điểm, đức tin, xuất thân, giới tính, thành viên trong nhóm xã hội, nhóm sở thích hay tương tự, được ưu tiên có quyền lợi và nghĩa vụ nhiều hơn hay ít hơn cá nhân khác. Việc thực hiện hay sử dụng quyền lợi và nghĩa vụ đó ra sao, cách đáp lại sự công bằng về cơ hội như thế nào, phụ thuộc trước hết vào chính cá nhân đó.

Dựa trên nguyên tắc này, tính đa nguyên của Hiến chương 77 cũng được phát triển như một qui tắc nội bộ hay tư tưởng chung (hay là tư tưởng chung phản ánh vào nội bộ). Nếu một thành viên của Hiến chương, một lúc nào đó có tiếng nói được lắng nghe nhiều hơn thành viên khác, thì điều đó chỉ nhờ do bản chất công việc cụ thể và sự tích cực của cá nhân đó, nhất quyết không vì cá nhân đó là thành viên của tổ chức với định hướng tôn giáo hay chính trị nhất định nào. Thẩm quyền, uy tín của mỗi cá nhân là có điều kiện và có thế nói là ‘được phong tặng’, ngoài ra nó không xuất phát từ nguyên tắc lựa chọn nào khác.

Hiến chương 77 không phải là một liên minh. Nó không giống như tổ chức Mặt trận Dân tộc thời kì hậu chiến, một tổ chức mà thực ra là nhóm đặc quyền thế lực của một số người, loại trừ người ngoài tổ chức khỏi quyền lực chính trị. Hiến chương 77 cũng không phải là một hiệp hội khép kín, mà là một phong trào mở. Ai cũng có thể tham gia ký tên, và chỉ phụ thuộc vào người đó làm tròn bổn phận đã nhận bằng chính chữ ký của mình như thế nào.

Sự cởi mở, bình đẳng triệt để của phong trào Hiến chương 77, được nảy sinh từ sự khoan dung và hiển nhiên càng làm sự khoan dung đó trở nên sâu sắc hơn, đã đại diện cho một hiện tượng có một không hai trong lịch sử hiện đại của Tiệp Khắc. Nó không nhất thiết mang lại lợi ích tức thời trong phạm vi rộng hơn.

Nhưng không phải vì thế mà ý nghĩa đạo đức, và do vậy cả ý nghĩa chính trị tiềm tàng của nó bị giảm đi: cho dù trên thực tế chỉ giới hạn trong khuôn khổ cộng đồng của mình, Hiến chương đã làm sống lại lí tưởng chung, đã soi rọi ra xa ngoài biên giới của mình, để cuối cùng được lưu lại trong ý thức và kí ức của xã hội như một tiền lệ cho các phong trào tương tự, nó là khuôn mẫu, là thách thức và kinh nghiệm, mà tạm thời chúng ta không thể phán đoán được hết mọi hệ quả của nó trong tương lai. Lần đầu tiên đã chứng tỏ – cho dù chỉ trong một mô hình nhỏ – rằng ngay cả trong điều kiện của chúng ta, sự hợp tác của tất cả dân chúng một cách triệt để dân chủ là điều có thể. Giả sử ngày mai Hiến chương 77 không còn tồn tại nữa, thì người ta cũng không thể dễ dàng lấy đi những kinh nghiệm này khỏi tiềm thức cộng đồng.

Rõ ràng, lợi ích của Hiến chương không thể đo được bằng những tiêu chuẩn chính trị thông thường. Nhưng không có nghĩa là lợi ích đó không tồn tại.

Một nhà chính trị sẽ luôn cố gắng thuyết phục người dân tin vào sự đúng đắn trong đường lối của mình, cố chiếm cảm tình của họ, hô hào và thuyết phục, hứa hẹn bằng cách này hay cách khác, thu hút dân chúng bằng cách dẫn dắt và kêu gọi, thậm chí đôi khi bằng mệnh lệnh và đe dọa, tập hợp và huy động, đòi hỏi người dân bỏ phiếu, ủng hộ, tín nhiệm và trung thành với mình.

 Hiến chương không hề có những hành động như thế, thậm chí cũng không tìm kiếm thêm người ký tên. Mặc dù bất cứ cá nhân nào và vào bất cứ lúc nào đều có thể tham gia, nhưng Hiến Chương không bao giờ và không khi nào tổ chức việc đi thu nạp người. Hiến chương không ép buộc, không thuyết phục cũng như không hô hào bất cứ ai. Hiến chương không cố gắng truyền bá, không đại diện cho bất cứ ai, cũng không lên án hay chỉ trích người không ủng hộ nó.

Nếu Hiến chương vẫn được coi là lời kêu gọi tới nhân dân, thì đó chỉ có thể là lời kêu gọi gián tiếp. Những việc Hiến chương làm, Hiến chương đều tự chịu trách nhiệm và chấp nhận nguy hiểm, và bằng hành động của mình Hiến chương chỉ nhắc nhở việc mà ai cũng có thể làm được, không hơn. Đó là, ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất, chúng ta vẫn có thể hành xử như những công dân, lên tiếng đòi hỏi quyền lợi công dân của mình, và cố gắng thực hiện nó. Ngay cả ở những nơi mà sự dối trá được thể chế hóa, mỗi công dân vẫn có thể nói ra sự thật. Mỗi một công dân đều có thể nhận trách nhiệm chung với số phận của tập thể mà không phải nghe mệnh lệnh từ trên xuống. Đơn giản là ai cũng có thể bắt đầu từ chính mình và ngay lập tức.

Thật sự, khát vọng của Hiến chương không phải là phô trương về số người ủng hộ, bày binh bố trận, dựa vào đám đông để lấy ảnh hưởng, và sau đó điều khiển họ.

Các nhà báo nước ngoài đôi khi nói với tôi rằng Hiến chương không có ý nghĩa xã hội rộng lớn khi chỉ có ít người kí tên như thế. Nó nhắc tôi nhớ đến câu hỏi nổi tiếng của Stalin ‘Đức Giáo Hoàng có bao nhiêu quân đoàn?’ Tất nhiên là tôi sẽ không so sánh chúng ta với Vatican, tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng sức mạnh tiềm tàng của Hiến chương cũng như các phong trào tương tự trong khối Xô Viết là ở chỗ khác chứ không phải là ở số lượng.

Khát vọng của Hiến chương là hành động theo lương tâm và niềm tin của chính mình, và chỉ ra cho người khác thấy rằng họ cũng có cơ hội như vậy. Nó nhắc nhở họ về phẩm giá con người của mình. Nó nhắc nhở họ về sự thật.

Hiến chương không cho rằng phương pháp làm việc của mình là khả dĩ nhất và tốt nhất, khiến mọi người cần làm giống như thế. Việc chấp nhận lời kêu gọi gián tiếp của Hiến chương như thế nào, hay khi đã chấp nhận lời kêu gọi đó thì làm gì và làm bằng cách nào, hoặc là qua những cảm hứng của Hiến chương có hướng tới một việc gì cụ thể, phù hợp với hoàn cảnh riêng hay không, là việc của mỗi cá nhân. Nếu bất cứ ai làm bất cứ điều gì tốt cho xã hội thì tức là đã làm tốt cho Hiến chương. Cái quan trọng đối với Hiến chương là việc chung chứ không phải việc riêng của nó. Việc chung của xã hội chính là việc của Hiến chương.

Vì vậy sẽ không đúng khi ta đánh giá ý nghĩa của Hiến chương theo việc nó đang hoạt động như thế nào hay vị trí của nó ra sao. Điều quyết định ở đây là những nguyên tắc – mà trên tinh thần đó Hiến chương luôn cố gắng hoạt động – chiếm được “vị trí” thế nào trong xã hội.

Có lẽ từ mọi điều trên có thể suy ra được rằng, chúng ta cần tìm ý nghĩa của mười năm hoạt động của Hiến chương 77 trước tiên là trong những lĩnh vực khó có thể biểu thị được của ý thức và tiềm thức xã hội, trong những bước chuyển ngầm của tinh thần chung và trong ý thức đạo đức chung, những thứ mà nhiều khi do sự hối hả của cuộc sống hàng ngày, và do không có khả năng so sánh rõ ràng với điều kiện xã hội trước đây, chúng ta không ý thức hết được. Và dĩ nhiên cả ở trong những dấu vết hiển hiện của những biến chuyển vô hình đó. 

Thể chế chuyên chế toàn trị đã nhấn chìm lĩnh vực này vào bóng tối, chính vì thế sẽ rất có ích khi chúng ta khảo sát nó.

Quyền lực luôn được áp đặt lên ai đó, và cho dù đó là quyền lực độc tài thế nào đi nữa, nó cũng không bao giờ được dựng lên bằng những gì bay bổng ở ngoài thế giới này, mà ở một chừng mực nào đó, luôn được tạo nên bởi chính những cá nhân bị quyền lực áp đặt lên. Giữa chính quyền và xã hội luôn xảy ra hàng ngàn những tương tác rắc rối với vô vàn những thỏa ước ngầm. Ở đây đang diễn ra một vở kịch đầy gay cấn và phức tạp giữa áp lực và nhân nhượng. Trong kiểu chế độ toàn trị mà chúng ta đang sống, những diễn biến này có đặc thù riêng và ý nghĩa của nó cũng được khuếch đại lên: đây là chế độ không được dựng lên chỉ bằng hay chủ yếu bằng những công cụ của quyền lực, chế độ này không phải đơn thuần là nền thống trị, tuy hơi buông lỏng nhưng tương đối dễ dàng nhận ra được, của một nhóm người đối với nhóm người khác. Ngược lại: ở một mức độ nào đó tất cả mọi người đều bị bắt buộc phải chấp hành tham gia vào việc vận hành guồng máy chuyên chính, do đó mà trách nhiệm của chính quyền trở nên vô danh. Trong một phần bản chất của mình, mỗi cá nhân là một kẻ cấp dưới lệ thuộc, sợ sệt cấp trên, nhưng đồng thời cũng lại là người đè nén đáng sợ đối với cấp dưới của anh ta. Vì vậy chế độ toàn trị kéo cả xã hội vào cái vòng xoáy của mình không chỉ như những nạn nhân mà còn như những kẻ tòng phạm. Nhìn bên ngoài ai cũng đóng góp vào việc vận hành của cơ chế chuyên chính, nhưng trong thâm tâm không nhiều thì ít họ đều muốn chống lại cái vòng quay ấy. Mỗi cá nhân đều từng phải đứng giữa ranh giới giữa quyền lực và không quyền lực. Mỗi người vừa là tù nhân nhưng đồng thời cũng là người cai tù. Tình hình đó giống như một con dao hai lưỡi. Nó rất nguy hiểm ngay cả cho bản thân kẻ cầm quyền. Mặc dù nó làm tăng sự hiện diện của chính quyền ở khắp mọi nơi, nhưng thật là nghịch lí, nó cũng làm hiện hữu khắp nơi những gì mà chính quyền muốn đàn áp: đó là những ước vọng về một cuộc sống được mở đón sự thật và khao khát tự do. Những ước vọng ẩn kín đó, tuy bị kiểm duyệt và điều chỉnh, vẫn được biết đến, và cho dù biểu hiện như là sự không quyền lực, nó vẫn là mối đe dọa đối với chính quyền. Phạm vi của quyền lực càng được mở rộng thì phạm vi của không quyền lực cũng càng được phát triển.

Việc xóa bỏ những người lệ thuộc cũng dẫn đến việc xóa bỏ những kẻ thống trị. Người bị trị bị hệ thống quyền lực làm cho biến chất, còn kẻ thống trị cũng bị những người không có quyền lực làm cho biến chất. Nói một cách cụ thể hơn: chưa bao giờ có nhiều người bằng công việc hàng ngày ủng hộ chính quyền nhiều như lúc đó, nhưng cũng chưa bao giờ có nhiều người ngấm ngầm chống đối chính quyền đến như thế. Mỗi người đều làm việc mình phải làm, nhưng đều nghĩ theo cách riêng của mình. Tình trạng “tâm thần phân liệt” này làm chia rẽ, phân tâm cả những người nắm giữ quyền lực cao nhất.

Những ước vọng chân chính của cuộc sống, cho dù bị trói buộc mọi mặt, đã vươn lên từ chính bên trong, chậm rãi xuyên qua toàn bộ cơ cấu chính quyền và bằng những áp lực lặng lẽ khắp nơi, để lộ dần khuôn mặt của mình. Chính quyền thích nghi dần với xã hội, bởi xã hội bằng sự liên kết sâu rộng trong chính quyền, một cách kín đáo đã làm cho chính quyền biến chuyển theo nó. Rất chậm rãi và nhiều khi thật khó khăn, xã hội mới giành giật lại được từ chính quyền một chút quyền lợi cho mình. Chính vì vậy những gì xảy ra dưới bề mặt lãnh đạm của xã hội là cực kì quan trọng.

 

Nhưng không chỉ vì vậy: những tiềm năng chưa được khai thác của cá nhân và xã hội, tức là những tiềm năng của sự bất mãn chung, trong tình hình như thế, đã không chỉ tụ tập giấu giếm ở dưới tầng hầm nữa, mà trong trường hợp nổ bung ra thì cũng rất dễ bị đàn áp, tiềm năng này đã lan ra khắp nơi, khắp mọi tầng của ngôi nhà. Vậy nên rất dễ hiểu khi càng ngày càng xuất hiện thêm nhiều những lo ngại về các hình thức, diễn biến và tác dụng của những vụ bùng nổ sắp tới có thể xảy ra.


Như đã thấy, sẽ là một sai lầm lớn nếu ta đánh giá thấp những biến chuyển vô hình trong lòng xã hội và ý nghĩa chính trị hoàn toàn đặc biệt của những biến chuyển đó, mà trong hoàn cảnh nhất định của một môi trường phi chính trị, những biểu hiện hay việc làm mang tính chất đạo đức hay có tính tồn tại sống còn (nói cách khác đó là những biểu hiện “tiền chính trị”) đã mang đến.

 

Nhưng chúng ta hãy trở lại với Hiến chương 77.

Hàng ngàn những kinh nghiệm lớn nhỏ, chung cũng như riêng, càng khẳng định sự tin tưởng vững chắc của tôi, rằng ảnh hưởng của Hiến chương 77 đối với nhận thức của xã hội là rất sâu sắc và có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với những suy đoán xuất phát từ số người đã kí Hiến chương hay đã tham gia biểu tình cho Hiến chương.


Trước hết: cho dù chính quyền nhà nước đã nhiều lần dùng các biện pháp khác nhau để vùi dập nó, Hiến chương vẫn tồn tại – và tồn tại một cách mạnh mẽ đến mức ngày nay không ai còn cố gắng chôn nó xuống nữa. Nói cách khác: chính quyền đã phải thích nghi với sự hiện diện của Hiến chương. Nguyên nhân chính có lẽ là vì xã hội đã quen với sự có mặt của Hiến chương. Cái gọi là “băng đảng của những kẻ thất thế” đã vượt qua muôn vàn khó khăn để cuối cùng đòi được quyền tồn tại của mình. Ngày nay Hiến chương là một phần vững chắc và khó có thể tách rời trong cuộc sống xã hội nước nhà, cho dù nó vẫn chỉ có một vị trí dị thường của cộng đồng những người bị coi là kẻ thù của nhà nước, nhưng nhà nước lại để cho tồn tại. Chuyện đó không thể xảy ra nếu như không có sự tôn trọng ngầm của xã hội, sự ủng hộ công khai, hào hứng trông đợi ở nước ngoài, và ngoài ra còn phải kể thêm sự tôn trọng được giấu rất kín từ phía chính quyền nhà nước (và không chỉ có thế).

 

Nếu chỉ tồn tại trống rỗng và không có bản sắc riêng thì cũng không có ý nghĩa gì lắm, nếu không nói rằng khó có thể tồn tại như vậy.

Theo tôi, bản sắc của Hiến chương trong nhận thức chung của xã hội bao gồm hai khía cạnh chính:

1.      Hiến chương nói sự thật. Ngày nay ai cũng biết điều đó bất kể quan điểm của họ về việc này như thế nào. Dân chúng biết, ngoài nước biết và nhà nước biết. Hơn nữa nhà nước cũng biết là dân chúng ngoài nước biết, vì thế họ buộc phải có có một vài hành động. Tuy quần chúng phần lớn chỉ biết tới các văn bản tài liệu của Hiến chương qua các chương trình phát thanh nước ngoài, nhưng hiện tại chỉ như vậy cũng đủ: việc theo dõi các chương trình phát thanh nước ngoài ngày nay phổ biến tới mức có thể mang tới những hình dung cơ bản về Hiến chương.

2.      Hiến chương ngày nay – sau khi quyền lực nhà nước đã tỏ rõ quan điểm đối với phong trào này là một giải pháp cực đoan nói chung khó chấp nhận và noi theo. Chính vì vậy tạo ra không chủ định cũng không luôn được ghi nhận một cách có ý thứcmột chân trời đạo đức và trên nền đó, bằng cách này hay cách khác (thậm chí bằng cách hoàn toàn tương phản) tự định nghĩa mình; một thứ điểm biến giới hạn có thể tiếp cận từ mọi nơi mà không cần thiết phải trùng nhập. Bằng cách đó Hiến chương phục hồi một hệ thống tọa độ nhất định, tạo ra các chuẩn mực, cung cấp một điểm mốc để từ đó xác định quan điểm và hướng đi. (Nhiều lần tôi gặp trường hợp những người, với các mức độ khác nhau đã phải biến đổi và thích nghi ít nhiều theo quyền lực, nhấn mạnh rằng, nếu không có Hiến chương, họ còn phải uốn mình nhiều hơn nữa.) Người ta cảm thấy, nói một cách hình tượng, Hiến chương ngay sau lưng mình. Hơn nữa đối với nhiều người, là một chỗ dựa vững chắc có tác dụng trấn an, để nếu một khi họ phải đi đến xung đột với quyền lực độc đoán và nếu bị thất bại, thì đó là nơi họ có thể tìm thấy sự bênh vực. Ngày nay, việc hình dung sự không tồn tại của Hiến chương gây ra một cảm giác trống rỗng và sự tương đối hoàn toàn của tất cả các giá trị công dân.

Tất nhiên có rất nhiều kết quả thực sự của ảnh hưởng này, từ những cố gắng thi thoảng của nhà nước giải quyết các vấn đề mà Hiến chương lưu ý trước đó, sự phát triển chưa từng có của văn hóa tự do mà Hiến chương đã tạo ra môi trường và đích thân bảo vệ, cho tới các dấu hiệu nhỏ bé khác của giải phóng xã hội trong khuôn khổ cơ cấu đương thời, sự lo ngại của quyền lực nhà nước trước sự chỉ trích của quốc tế, có thể buộc tội họ vì những hỗn loạn và bất công mà Hiến chương đã công bố (qua đó Hiến chương hoạt động như một công cụ tự do kiểm soát quyền lực).

Tôi không quá đề cao những thành công cụ thể đó và chỉ muốn nhắc tới chúng như “những dấu vết hiển hiện” chứng nhận sự tồn tại của “những chuyển động vô hình” trong các mao mạch kín của tri giác xã hội đương thời. Bởi vì đó mới là điều quan trọng nhất.

Sẽ khó bao giờ có thể xác định được tất cả các quá trình mà trong phạm trù nói trên Hiến chương với vai trò xúc tác đã khuấy động hay thúc đẩy và những quá trình này đã dẫn tới điều gì. Tuy nhiên Hiến chương không phải băn khoăn bởi việc khó xác định được các kết quả của mình: như đã được nói rõ ràng, Hiến chương không đo đếm ý nghĩa việc làm của mình bằng danh sách những thành công đã được kiểm chứng. Nếu phụ thuộc vào điều đó chắc Hiến chương đã không còn tồn tại.

Nửa đầu những năm bảy mươi là thời kỳ của bàng quan, trống rỗng và xám xịt, cả đất nước dường như hoàn toàn lãnh đạm, thời kỳ này được đặc trưng bởi một sự bất động đặc biệt của lịch sử: ngày lại ngày, năm qua năm trôi đi như hệt; thời gian vẫn chạy nhưng xã hội thì đứng nguyên tại chỗ; như thể không có biến cố nào xảy ra vì lý do gì và mục đích gì: chỉ có những biến cố đã được đoán định trước, – và đó chỉ là những biến cố giả tạo.

Chúng ta thường có cảm giác như lịch sử đã dừng lại khi các chủ thể tương đối độc lập của các quyết định xã hội không còn tính đa nguyên tự nhiên của mình nữa, và theo đó biến mất cả những hành động khó đoán trước trong mối quan hệ giữa các chủ thể đó. Nghĩa là khi quyền lực tập trung thiết lập được chính nó như chủ thể duy nhất của mọi quyết định. Trong hoàn cảnh như vậy, giả thiết cơ bản của tính lịch sử: một kết thúc mở – bị mất đi.

Sau bao năm, Hiến chương 77 đã trở thành chủ thể xã hội độc lập đầu tiên bên cạnh quyền lực tập trung. Từ giây phút nó xuất hiện, các mối quan hệ sống động – giữa nhà nước với Hiến chương, giữa xã hội với Hiến chương, giữa nhà nước và xã hội, lại diễn ra trở lại.

Cơ thể tưởng đã chết bỗng nhiên lại biểu hiện sự sống.

Lịch sử đã quay trở lại với chúng ta. Kết thúc lại mở ra.

Có thể sẽ lại có kẻ thô bạo đóng nó lại. Có thể sẽ lại có kẻ bóp nghẹt tất cả những hi vọng tràn trề mới xuất hiện và đẩy bật lịch sử ra khỏi đất nước này. Có thể những nỗ lực của Hiến chương chẳng biến đổi được gì có ý nghĩa. Có thể những gì ít ỏi đã xảy ra rồi sẽ biến mất; có thể cả những chuyển động ngầm mà Hiến chương đã làm tăng tốc sẽ lại chậm đi. Có thể sau năm tháng chỉ còn vài kẻ, thường quan tâm tới những kì thú lịch sử, biết tới chúng ta. Và cũng có thể Hiến chương sẽ hoàn toàn đi vào quên lãng.

Tôi không mấy tin vào điều đó nhưng cũng không thể hoàn toàn loại trừ khả năng đó.

Nhưng kì lạ nhất là kể cả khi điều đó có xảy ra, chúng ta cũng không rời bỏ thế giới khổ đau này với cảm giác là mình đã làm những việc hoàn toàn vô ích.

 

 

 

 

Chú thích:

Bản dịch Văn Lang từ bản gốc tiếng Séc

(http://vaclavhavel.cz/showtrans.php?cat=clanky&val=75_clanky.html&typ=HTML) do nhóm dịch giả Hải An, Triều Dương, Giang Bergrová, Thanh Hương, Phương Mai, Thanh Mai, Nguyễn Minh, Quốc Vũ thực hiện.

 

 



[1] Chú thích ND: Sau thời Stalin, những người cộng sản tuyên bố và thề thốt là họ sang thời kỳ mới, đoạn tuyệt với thời Stalin và những chuyện như bịa tội, gán cung,  kết án,  thanh trừng v.v sẽ không thể xảy ra được nữa.

[2]  Chú thích ND: Cuộc xâm lược của quân đội Hiệp ước Varsava vào Tiệp Khắc (còn gọi là Cuộc tiến vào của quân đội các nước đồng minh hay chiến dịch sông Đa-nuýp) là cuộc đổ bộ quân sự của quân đội 5 nước Hiệp ước Varsava đứng đầu là Liên Xô theo yêu cầu của cánh bảo thủ trong đảng cộng sản. Nó dẫn đến sự đàn áp những cố gắng của Tiệp Khắc nhằm cải tổ XHCN – được gọi là Mùa Xuân Praha. Nó dẫn đến việc bắt và giam giữ những lãnh đạo đứng đầu của Tiệp Khắc. Liên Xô duy trì quân đội ở Tiệp Khắc đến năm 1991.

[3] Chú thích ND: ý nói phong trào Mùa Xuân Praha 1968 bị dập tắt sau khi Tiệp Khắc bị quân đội Khối Varsava ––xâm lược. Mùa Xuân Praha được đánh dấu cho giai đoạn cởi mở chính trị tại Tiệp Khắc vào năm 1968.

[4] Chú thích ND: về cách phản ứng của bộ máy quyền lực.

[5] Chú thích ND: Jan Patočka (1907– 1977): triết gia, người kí Hiến chương 77 (1.1.1977) là một trong ba phát ngôn viên đầu tiên của Hiến chương (cùng với V. Havel và J. Hájek). Trong những bài viết cuối cùng của mình về Hiến chương ông thường nhấn mạnh đến khía cạnh đặc biệt của đạo đức và quyền công dân (trong tinh thần triết lí của riêng mình). Sau khi gặp bộ trưởng ngoại giao Hà Lan Van der Stoel, ông bị an ninh hỏi cung liên tục. Một lần sau một cuộc hỏi cung căng thẳng ông phải đi viện và chết vì đột quị não. Đám tang của ông trở thành một sự kiện quan trọng trong việc phản đối chống cộng sản.

[6] The Plastic People of the Universe (PPU) là một ban nhạc rock nổi tiếng của phong trào underground tại Tiệp Khắc những năm 1968 đến 1988, một ban nhạc tiên phong làm gương cho những ban nhạc khác noi theo. Ban nhạc sáng tạo này vào những năm 70 và 80 đã vô tình trở thành đối lập chống chế độ cộng sản tại Tiệp Khắc. Do thái độ thẳng thắn của mình, ban nhạc thường xuyên bị đàn áp và thậm chí đã bị bỏ tù.

[7] Gustav Husák: nguyên chủ tịch nước, tổng bí thư đảng cộng sản Tiệp Khắc. Gustav Husák được lãnh đạo Liên xô đưa lên vị trí cao nhất trong bộ máy đảng sau sự kiện 68. Tháng 11. 1989, sau chiến thắng Cách mạng Nhung, Gustav Husák bị buộc từ chức chủ tịch nước.

[8] Chú thích ND: Ladislav Hejdanek (10.5.1927) – triết học gia người Séc, một trong các phát ngôn viên của Hiến chương 77.