July 11, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (16)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 15

 

QUAN HỆ GIỮA TÂM TRÍ VÀ CƠ THỂ 

Ảnh hưởng của tâm trí

Nguyên tắc cơ bản cần phải hiểu là thân thể tuân theo tâm trí; do đó, thân thể có xu hướng biểu hiện những gì tâm trí tin tưởng. Niềm tin có thể được lưu giữ một cách có ý thức hoặc vô thức. Nguyên tắc này xuất phát từ quy luật của tâm thức: Chúng ta chỉ bị chi phối bởi những gì chúng ta lưu giữ trong tâm trí. Sức mạnh duy nhất mà bất kỳ điều gì có thể chi phối chúng ta chính là sức mạnh của niềm tin mà ta trao cho nó. “Sức mạnh” ở đây có nghĩa là năng lượng và ý chí đề tin.  

Nếu nhìn vào Bản đồ Tâm thức (Phụ lục A), có thể dễ dàng thấy vì sao tâm trí lại mạnh hơn thân thể. Trường năng lượng của lý trí (điểm hiệu chỉnh 400), với những niềm tin và khái niệm của tâm trí, mạnh mẽ hơn trường năng lượng của cơ thể vật lý (điểm hiệu chỉnh 200).

Khuynh hướng chấp nhận những niềm tin tiêu cực của chúng ta phụ thuộc vào việc, ngay từ đầu, ta đang lưu giữ bao nhiêu tiêu cực. Ví dụ, tâm trí tích cực sẽ không chấp nhận những suy nghĩ tiêu cực và đơn giản là bác bỏ chúng, vì cho rằng chúng không đúng đối với mình. Từ chối chấp nhận những ý tưởng tiêu cực phổ biến. Chúng ta biết rằng việc “bán” tự kết tội cho một người vốn đang đầy rẫy mặc cảm tội lỗi, hay gieo rắc sợ hãi về một căn bệnh nào đó cho một người vốn đã sợ hãi, là việc dễ đến mức nào.

Chẳng hạn, ý tưởng cho rằng “cảm lạnh rất dễ lây” là ví dụ điển hình. Suy nghĩ rằng “ai cũng bị cảm lạnh” sẽ được chấp nhận bởi một người có nhiều mặc cảm tội lỗi, sợ hãi và ngây thơ về các quy luật của tâm thức. Do mặc cảm tội lỗi vô thức, người ta cảm thấy rằng họ “xứng đáng” bị cảm lạnh. Cơ thể tuân theo niềm tin của tâm trí rằng cảm lạnh là do virus gây ra, “dễ lây” và truyền nhiễm. Do đó, cơ thể, do niềm tin của tâm trí kiểm soát, biểu hiện ra triệu chứng cảm lạnh. Người đã buông bỏ những năng lượng tiêu cực tiềm tàng của mặc cảm tội lỗi và sợ hãi sẽ không có tâm trí sợ hãi với niềm tin: “Cảm lạnh đang lây lan; chắc tôi cũng sẽ bị như mọi người khác.”

Đây chính là những động lực đằng sau bệnh tật. Các cơ chế này được thực thi thông qua những biến đổi do tâm trí gây ra trong dòng chảy năng lượng của hệ thống năng lượng sinh học (Khí), và sự tràn ra của năng lượng bị dồn nén vào hệ thần kinh thực vật.

Suy nghĩ rất mạnh mẽ vì nó có tần số rung động cao. Một suy nghĩ thực chất là một vật thể; có một mô thức năng lượng. Chúng ta càng cung cấp nhiều năng lượng cho nó, nó càng có nhiều sức mạnh để biểu hiện ra bên ngoài cơ thể vật lý. Đây là nghịch lý của phần lớn cái gọi là giáo dục sức khỏe. Hiệu ứng nghịch lý ở chỗ: những tư tưởng sợ hãi được củng cố và trao cho nhiều sức mạnh đến mức các vụ đại dịch thực chất đã được tạo ra bởi truyền thông (ví dụ như cúm lợn). Những “lời cảnh báo” dựa trên sợ hãi về nguy hiểm đối với sức khỏe thực ra đã tạo ra môi trường tâm trí, mà trong đó, chính cái ta sợ sẽ xảy ra.

Nằm chồng lên cơ thể vật lý là cơ thể năng lượng có hình dạng giống hệt cơ thể vật lý và các mô thức của nó thực sự kiểm soát cơ thể vật lý. Sự kiểm soát này diễn ra ở tầng suy nghĩ hoặc ý định. Vật lý lượng tử hạ nguyên tử cao cấp đã chỉ ra, rằng quan sát tạo ảnh hưởng lên các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao.

Sức mạnh của tâm trí đối với cơ thể đã được chứng minh bằng các nghiên cứu lâm sàng. Ví dụ, trong một công trình nghiên cứu, một nhóm phụ nữ được cho biết rằng họ sẽ được tiêm hormone làm cho kinh nguyệt đến sớm hơn hai tuần. Trên thực tế, họ chỉ được tiêm giả dược là dung dịch muối. Tuy nhiên, hơn 70% phụ nữ đã bị hội chứng tiền kinh nguyệt sớm với đầy đủ các triệu chứng về thể chất và tâm lý.

Một minh chứng rõ ràng khác về quy luật này của tâm thức xảy ra ở những người bị rối loạn đa nhân cách. Từng được cho là hiếm gặp, nhưng hiện nay rối loạn đa nhân cách trở thành tương đối phổ biến; và do đó, nghiên cứu về hiện tượng này ngày càng nhiều hơn. Người ta đã chứng minh rằng các nhân cách khác nhau trong cùng một cơ thể có những biểu hiện thể chất khác nhau. Ví dụ, có những thay đổi trong sóng điện não đồ, cũng như những thay đổi về thuận tay khi viết chữ, ngưỡng đau, phản ứng điện da, chỉ số IQ, chu kỳ kinh nguyệt, chi phối của bán cầu não, khả năng ngôn ngữ, giọng nói và thị lực. Do đó, khi nhân cách tin vào dị ứng xuất hiện, người đó sẽ bị dị ứng; nhưng khi một nhân cách khác tiến vào cơ thể, các triệu chứng dị ứng biến mất. Một nhân cách có thể cần đeo kính, còn nhân cách khác thì không. Những nhân cách khác nhau này thực sự có những khác biệt đáng kể về áp lực nội nhãn và các chỉ số sinh lý khác.

Ở người bình thường, những hiện tượng vật lý này cũng thay đổi nếu họ bị thôi miên. Dị ứng có thể xuất hiện hoặc biến mất chỉ bằng những gợi ý đơn giản. Những người nhận được gợi ý rằng họ bị dị ứng với hoa hồng khi đang tiến hành thôi miên sẽ bắt đầu hắt hơi khi họ thoát khỏi trạng thái thôi miên và nhìn thấy một bình hoa hồng trên bàn của bác sĩ, ngay cả khi đấy là bông hoa giả.

Ngài John Eccles, Khôi nguyên Nobel, từng tuyên bố rằng sau cả đời nghiên cứu, ông thấy rõ ràng là não bộ không phải là nguồn gốc của tâm trí, như khoa học và y học đã tin tưởng, mà ngược lại. Tâm trí điều khiển não bộ, nó hoạt động như một trạm thu (tương tự như radio), những suy nghĩ tương tự như sóng radio, còn não bộ thì giống như máy thu.

Não bộ giống như một thiết bị thu sóng, một tổng đài tiếp nhận các dạng suy nghĩ, rồi chuyển chúng thành chức năng thần kinh và bộ nhớ. Ví dụ, cho đến gần đây, người ta tin rằng các chuyển động tự nguyện của cơ bắp bắt nguồn từ vỏ não vận động. Nhưng hiện nay, như Eccles đã báo cáo, ý định di chuyển được ghi nhận bởi vùng vận động bổ sung của não bộ nằm cạnh vỏ não vận động. Do đó, não bộ được kích hoạt bởi ý định của tâm trí chứ không phải ngược lại.

Chúng ta thấy điều này trong nhiều nghiên cứu hình ảnh não bộ được thực hiện trên những người đang hành thiền. Ví dụ, nghiên cứu của Tiến sĩ Richard Davidson trong thập kỷ vừa qua ở Đại học Wisconsin (Madison) đã chứng minh rằng thực hành thiền định về tâm từ bi và yêu thương kích thích sự gia tăng hoạt động ở vỏ não trước trán bên trái (chứa đựng những cảm xúc tích cực như hạnh phúc) và sự đồng bộ hóa sóng gamma biên độ cao (dấu hiệu của nhận thức mở rộng, tỉnh táo và tuệ giác). Những thứ được lưu giữ trong tâm trí có sức mạnh làm thay đổi hoạt động của não bộ và cấu trúc thần kinh.

Chúng ta chịu ảnh hưởng bởi đủ loại tác động của những niềm tin vô thức và hữu thức mà tâm trí chúng ta đang lưu giữ trên tất cả các hệ thống cơ thể. Trong đó có niềm tin của chúng ta về những tác động được cho là của các loại thực phẩm, chất gây dị ứng, rối loạn mãn kinh và kinh nguyệt, nhiễm trùng và tất cả các bệnh khác liên quan đến các hệ thống niềm tin cụ thể, cùng với khuynh hướng căng thẳng tiềm ẩn do có những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén.

Norman Cousins, tổng biên tập tạp chí Saturday Review trong ba thập kỷ, đã chứng minh nguyên tắc này khi ông tự chữa khỏi bệnh tật nghiêm trọng bằng tiếng cười. Ông cho xuất bản cuốn sách Anatomy of an Illness (Giải phẫu một căn bệnh), nói về trải nghiệm hồi phục của chính mình khỏi căn bệnh viêm khớp bằng cách bổ sung nhiều vitamin C và cười sảng khoái khi xem phim do anh em nhà Marx thủ vai. Ông phát hiện ra rằng tiếng cười có tác dụng gây tê, có thể làm giảm đau trong hai giờ. Cười là một phương pháp buông bỏ. Thông qua tiếng cười, Cousins tiếp tục buông bỏ áp lực cảm xúc tiềm ẩn và loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực. Cách làm này dẫn đến những thay đổi rất tích cực và có lợi cho cơ thể, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hồi phục cuối cùng của chính ông ta. 

Những niềm tin dễ làm người ta bị bệnh

Để xác định mức độ dễ bị bệnh của chính mình, chúng ta có thể xem xét nhưng câu hỏi sau:

Tôi có lo lắng về sức khỏe của mình, có những suy nghĩ sợ hãi về những điều có thể xảy ra với mình hay không?

Tôi có cảm thọ sợ hãi, phấn khích và nguy hiểm thầm kín khi nghe về một căn bệnh mới đang được truyền thông loan tin và thịnh hành không?

Tôi có mất thời gian cho việc kiểm tra sức khỏe thường xuyên, đọc về các bệnh tật, và cảm thấy sợ hãi bởi những câu chuyện trên TV về bệnh tật hay không?

Tôi có quan tâm đến việc nghe về bệnh tật của những người nổi tiếng hay không?

Tôi có tin rằng môi trường và thực phẩm chứa đầy những nguy hiểm tiềm ẩn, hay thực phẩm chứa các chất phụ gia độc hại và sẽ làm cho người ta bị bệnh hay không?

Tôi có tin rằng một số bệnh “di truyền trong gia đình mình” hay không?

Tôi có dừng lại hoặc muốn dừng lại (nhưng không dám) để chứng kiến ​​nạn nhân của tai nạn giao thông hay không?

Tôi có thích các chương trình truyền hình về bệnh viện hay không? Tôi có thích các chương trình truyền hình có cảnh đánh đập, la hét, ẩu đả, giết người, tra tấn, tội phạm và các hình thức bạo lực khác hay không?

Tôi có phải là một người luôn có mặc cảm tội lỗi hay không?

Tôi có ôm giữ nhiều tức giận hay không?

Tôi có lên án hành vi của người khác hay không?

Tôi có hay phán xét người khác hay không?

Tôi có lưu giữ oán hận và thù hận hay không?

Tôi có cảm thấy bị mắc kẹt và tuyệt vọng hay không?

Tôi có tự nhủ rằng, “Bất cứ căn bệnh nào đang xảy ra, có lẽ tôi cũng sẽ bị lây”?

Tôi có quan tâm đến của cải và biểu tượng địa vị thay vì chất lượng của các mối quan hệ hay không?

Tôi có mua nhiều bảo hiểm mà vẫn lo lắng rằng chưa đủ hay không?

Tóm lại, muốn thay đổi cơ thể thì phải thay đổi suy nghĩ và cảm thọ. Chúng ta phải buông bỏ những suy nghĩ và hệ thống niềm tin tiêu cực và loại bỏ căng thẳng do những cảm xúc tiêu cực cung cấp năng lượng cho chúng. Chúng ta phải loại bỏ những lập trình tiêu cực đến từ thế giới, cũng như từ chính hệ thống niềm tin của chúng ta.

Chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng tai hại của lập trình tiêu cực đầy sợ hãi ở những người sợ hãi thực phẩm, hóa chất và các chất trong môi trường. Mỗi ngày lại có một hóa chất hoặc chất mới được công bố là có hại. Càng sợ hãi, chúng ta càng nhanh chóng bị lập trình, và sau đó cơ thể phản ứng một cách tương ứng. Sợ hãi các chất, thực phẩm, không khí, năng lượng và các kích thích đủ mọi loại đã đến mức gần như là chứng hoang tưởng về môi trường. Một số người trở nên ám ảnh về môi trường và mọi thứ trong đó đến mức thế giới của họ ngày càng thu hẹp lại. Họ ngày càng sợ hãi hơn. Một số người thậm chí còn gục ngã đến mức họ chạy trốn khỏi thế giới và sống trong những bong bóng nhân tạo, nằm trong vòng vây của chính tâm trí của mình.

Hiện tượng này có thể xảy ra với người bình thường, thậm chí là bác sĩ. Bắt đầu với phấn hoa, phấn hương, vảy da ngựa, lông chó mèo, bụi, lông vũ, len, sô cô la, pho mát và các loại hạt (tất cả đều được cho là gây dị ứng). Sau đó, là đường (tăng đường huyết) cùng với các chất phụ gia thực phẩm (gây ung thư), trứng và các sản phẩm từ sữa (cholesterol), và nội tạng động vật (bệnh gút). Tiếp theo trong danh sách “có hại” là phẩm màu thực phẩm, saccharine, caffeine, chất tạo màu, nhôm, vải tổng hợp, tiếng ồn, đèn huỳnh quang, thuốc xịt côn trùng, chất khử mùi, thực phẩm nấu ở nhiệt độ cao, khoáng chất có trong nước, clo trong nước, nicotine, khói thuốc lá, các chất hóa dầu, khí thải ô tô, ion dương, rung động điện tần số thấp, thực phẩm có tính axit, thuốc trừ sâu và thực phẩm có hạt.

Thế giới thu nhỏ lại đến mức không còn gì an toàn để ăn. Không còn gì có thể mặc. Không có không khí để thở. Cơ thể có tất cả các loại dị ứng, phản ứng và bệnh tật để chứng minh điều đó. Việc đi ăn tối bên ngoài trở thành một thú vui của quá khứ, bởi vì thực đơn chẳng có gì ăn được, ngoại trừ rau diếp (tất nhiên là phải rửa sạch), và việc đeo găng tay trắng khi cầm dụng cụ ăn uống ở nhà hàng là bắt buộc!

Rồi, khi hiểu được sự thật cốt lõi, toàn bộ mô thức được gỡ bỏ. “Những gì được lưu giữ trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra ngoài thân thể”—trong đó có cả những niềm tin vô thức. Thủ phạm không phải là thế giới mà là tâm trí. Tất cả những lập trình tiêu cực và điều kiện hóa đầy sợ hãi đều nằm trong tâm trí, và cơ thể tuân theo tâm trí. Quy luật tâm thức này đảo ngược chứng hoang tưởng. Khi mỗi niềm tin nội tâm được xem xét và buông bỏ, tất cả các phản ứng tiêu cực của cơ thể, bệnh tật và triệu chứng đều biến mất. Nói cách khác, không phải lá cây thường xuân độc gây ra dị ứng mà là niềm tin của tâm trí rằng cây thường xuân độc có chất gây dị ứng. Khi tâm trí buông bỏ lập trình của nó, các phản ứng của cơ thể đã biến mất.

Kiểm tra cơ thể động học có thể đảo ngược hoàn toàn các mô thức phản ứng. Những gì trước đây làm cho cơ yếu đi giờ đây không còn tác dụng nữa. Mức độ nhạy cảm với căng thẳng nói chung rõ ràng đã giảm đi rất nhiều, đến mức cơ thể hoàn toàn không phản ứng với những thứ mà trước đây được coi là kích thích tiêu cực (ví dụ: đèn huỳnh quang, đường hoá học). 

So sánh với các kỹ thuật khác

Như chúng ta đã thấy, căng thẳng phát sinh từ bên trong như là phản ứng trước tác nhân kích thích. Tác nhân gây căng thẳng thực chất là áp lực của những năng lượng cảm xúc bị kìm nén và đè nén, phản ánh tầng thức thấp tổng thể của chúng ta.

Do đó, cần thay đổi nội dung của tâm thức thì mới loại bỏ và ngăn ngừa căng thẳng. Các phương pháp điều trị căng thẳng thường được kê đơn tương tự như các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y học. Đấy là những phương pháp tìm cách khắc phục những tổn thương do căn bệnh mà chúng ta đã mắc phải gây ra, chứ không chữa trị nguyên nhân bên trong của bệnh.

Ví dụ, các hội nghị về căng thẳng thường bao gồm các chủ đề sau:

Liệu pháp hương thơm.

Hội thảo về tập thể dục.

Châm cứu làm giảm các rối loạn do căng thẳng.

Phản hồi sinh học.

Nắn chỉnh cột sống.

Điều chỉnh căng thẳng.

Dinh dưỡng.

Thể dục và tập luyện.

Liệu pháp vi lượng đồng căn.

Huấn luyện tự sinh. (Autogenic training là một kỹ thuật tự thôi miên và thư giãn sâu được phát triển bởi nhà tâm lý học người Đức Johannes Heinrich Schultz vào năm 1932 – ND).

Chữa bệnh toàn diện.

Massage và trị liệu cơ thể.

Bể nổi (Flotation tank - còn gọi là bể cách ly giác quan) là thiết bị được thiết kế để đưa con người vào trạng thái thư giãn sâu nhất có thể bằng cách loại bỏ hầu hết các kích thích từ môi trường bên ngoài – ND).

Cân bằng răng miệng.

Kỹ thuật thư giãn bằng cách sử dụng các chuyển động cơ thể.

Như chúng ta thấy bên trên, các phương pháp thông thường chỉ giải quyết hậu quả và thiệt hại do hội chứng căng thẳng gây ra. Không có phương pháp nào giải quyết được nguyên nhân cơ bản. Tất cả đều liên quan đến các thủ tục tương đối phức tạp và tốn nhiều thời gian, và không thể áp dụng ngay tại chỗ.

Ví dụ, giả sử chúng ta đang thuyết trình hoặc giảng bài. Chúng ta đang ở ngay tại chỗ. Việc dừng lại giữa bài phát biểu để tập thở, thôi miên, châm cứu hoặc sử dụng máy phản hồi sinh học là không thực tế. Bể nổi có tiện dụng không khi đang cãi nhau với người khác?

Vì những phương pháp này chỉ mang tính tạm thời, tốn nhiều thời gian và thường khá đắt tiền, nên mọi người nhiệt tình áp dụng trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó nhiệt tình giảm dần, vì về cơ bản chẳng có gì thực sự thay đổi. Nhận thức cơ bản về thế giới vẫn như cũ. Áp lực cảm xúc vẫn như cũ. Tính cách cũng vẫn thế. Hoàn cảnh sống không thay đổi. Tầng tâm thức không thay đổi. Tâm lý vẫn như cũ. Kỳ vọng vẫn như cũ và do đó, cuộc sống vẫn tiếp diễn như trước đây.

Nếu tâm thức không thay đổi, thì căng thẳng thực sự không mất đi được. Chỉ có hậu quả là giảm nhẹ mà thôi. Tất cả những kỹ thuật và phương pháp điều trị sau khi sự việc đã xảy ra này đều hữu ích và thường làm giảm bớt tình trạng bệnh tật và làm cho người ta cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng không giải quyết được gốc rễ của vấn đề. Một người có thể áp dụng tất cả các kỹ thuật này mà vẫn là người dễ bị căng thẳng như cũ. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, việc sử dụng một cách có ý thức cơ chế buông bỏ hiệu quả hơn trong việc giải quyết các bệnh mãn tính liên quan đến căng thẳng. Bệnh tật bắt đầu tự chữa lành, vì nguyên nhân mang tính cảm xúc tiềm ẩn đã được loại bỏ, và các phương pháp điều trị sau đó thường là không còn cần thiết nữa.

Trong trường hợp hiếm hoi của căn bệnh dai dẳng không được chữa khỏi bằng cách buông bỏ những suy nghĩ và cảm thọ tiêu cực, các yếu tố chưa biết như khuynh hướng nghiệp có thể đang tác động. Trong những trường hợp như thế, chúng ta buông bỏ mong muốn thay đổi hoặc kiểm soát trải nghiệm cuộc sống của mình, và chúng ta chờ đợi những khám phá nội tâm sâu sắc hơn về nguồn gốc và ý nghĩa của bệnh tật. Buông bỏ ở mức độ sâu nhất và trọn vẹn khi một người đã buông bỏ nhu cầu hoặc mong muốn được chữa lành về thể chất. Ta sẽ đạt được trạng thái an bình trước tình trạng bệnh tật khi cả ba phương diện của nó—thể xác, tâm trí và tâm linh—đều đã được giải quyết, đồng thời kết quả cuối cùng hay mong cầu bình phục đã được buông bỏ. An bình chỉ đến cùng với buông bỏ hoàn toàn bên trong trước những gì đang là.


July 10, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (15)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 14 

GIẢM CĂNG THẲNG VÀ BỆNH TẬT 

Các khía cạnh tâm lý và khả năng dễ bị căng thẳng

Mặc dù trạng thái an bình là có đó cho tất cả chúng ta, nhưng rất ít người vươn tới được trạng thái này. Trải nghiệm nội tâm của hầu hết mọi người đều là căng thẳng liên tục. Trong xã hội của chúng ta, hầu hết những căng thẳng dẫn đến rối loạn cảm xúc và thể chất đều xuất phát từ tâm lý. Phản ứng của chúng ta đối với căng thẳng phụ thuộc vào “khả năng dễ bị căng thẳng” của chúng ta, và, như chúng tôi đã chỉ ra, đây là kết quả trực tiếp của lượng cảm thọ bị kìm nén và đè nén mà chúng ta đã tích lũy được. Càng giải tỏa và buông bỏ được nhiều áp lực cảm thọ, chúng ta càng ít bị tổn thương bởi phản ứng với căng thẳng và các bệnh liên quan đến căng thẳng.  

Đối với đa số chúng ta, căng thẳng chính trong hầu như toàn bộ thời gian không phải do các tác nhân kích thích bên ngoài, mà là do áp lực của chính những cảm xúc bị kìm nén của chúng ta. Những cảm xúc bị kìm nén này trở thành tác nhân gây căng thẳng chính, do đó, ngay cả trong khi môi trường bên ngoài yên tĩnh, chúng ta vẫn tiếp tục bị căng thẳng nội tâm mãn tính.

Chúng ta có thể thấy rằng các yếu tố gây căng thẳng bên ngoài chỉ là những giọt nước làm tràn ly. Gánh nặng căng thẳng chính là những thứ chúng ta mang theo bên mình, mọi lúc, mọi nơi. Quá trình lập trình tâm lý trong xã hội của chúng ta rộng lớn đến mức, đối với hầu hết mọi người, ngay cả việc thư giãn và tận hưởng kỳ nghỉ cũng là vấn đề. (Mặc cảm tội lỗi nói rằng chúng ta “nên” làm điều gì đó khác.) Thất vọng khi thư giãn không xảy ra ngay lập tức. Chúng ta cảm thấy bồn chồn và theo đuổi không ngừng các hoạt động “vui vẻ” để tránh đau đớn khi đối mặt với tự ngã bên trong cùa mình. Hầu hết các giám đốc điều hành bận rộn bắt đầu thầm mong được quay lại làm việc trong khi họ đang đi nghỉ. Bên ngoài, họ có thể than phiền về khối lượng công việc nặng nề, nhưng khi trở lại với thói quen quen thuộc, một lần nữa, họ lại cảm thấy bình thường.

Ảnh hưởng của những cảm thọ bị kìm nén và đè nén cộng với các yếu tố gây căng thẳng là nguyên nhân gây ra hầu hết các bệnh về thể chất và tinh thần. Có thành phần tâm lý-cảm xúc trong tất cả các bệnh tật này và vì thế, có thể đảo ngược quá trình bệnh tật bằng cách loại bỏ các yếu tố gây căng thẳng ở bên trong. Đấy là lý do làm cho nhiều trường hợp hồi phục, được báo cáo mỗi ngày, từ những căn bệnh nghiêm trọng và có khả năng làm chết người nhờ sử dụng các kỹ thuật tâm linh-cảm xúc. Nhiều trường hợp được chữa khỏi sau khi tất cả các phương pháp chữa trị y khoa đều đã thất bại. Một trong những lý do là, ở giai đoạn “không còn có thể làm gì được nữa”, bệnh nhân từ bỏ, và họ tìm kiếm và chấp nhận bản chất và nguyên nhân cơ bản thực sự của bệnh tật.

Thừa nhận và buông bỏ những cảm thọ bị kìm nén, từng bước một làm giảm khả năng dễ bị căng thẳng của một người, do đó làm giảm khả năng dễ bị tổn thương trước các vấn đề và bệnh tật liên quan đến căng thẳng. Hầu hết những người học và thực hành kỹ thuật buông bỏ đều nhận thấy sự cải thiện từng bước một về sức khỏe thể chất và sức sống. 

Các khía cạnh y học của căng thẳng

Căng thẳng là phản ứng của chúng ta đối với đe dọa mà chúng ta nhận thức được (có thật hoặc tưởng tượng) đối với tình trạng an toàn hay sự cân bằng của cơ thể. Tác nhân kích thích có thể là bên trong hoặc bên ngoài. Có thể là về thể chất, tâm trí hay cảm xúc. Tiến sĩ Hans Selye và Tiến sĩ Walter Cannon đã tiến hành các công trình nghiên cứu cơ bản về phản ứng vật lý của cơ thể đối với căng thẳng. Selye mô tả cái mà ông gọi là “hội chứng thích nghi chung”. Phản ứng trước một tác nhân kích thích gây căng thẳng, trước hết, cơ thể sẽ phản ứng báo động, sau đó là giai đoạn kháng cự, nếu tác nhân kích thích tiếp tục, nó có thể dẫn đến giai đoạn thứ ba là hội chứng kiệt sức.

Phản ứng báo động xảy ra thông qua lộ trình: Vỏ não Vùng dưới đồi (não hạ khâu) Tuyến thượng thận Dòng máu (Cortisol[i] và Adrenalin[ii]). Ngoài ra, còn có giải phóng các hormone não và kích thích hệ thần kinh giao cảm của cơ thể. Sau đó, adrenalin đi đến tất cả các cơ quan trong cơ thể và chuẩn bị cho chúng phản ứng chiến đấu hoặc bỏ chạy. Nhiều người, đặc biệt là ở các thành phố lớn, học cách sống dựa vào cảm giác hưng phấn do adrenaline mang lại qua những thử thách liên tục. Đe dọa đến sống còn là do cạnh tranh khốc liệt làm cho adrenaline luôn được duy trì. Cuối tuần hoặc trong các kỳ nghỉ họ thường cảm thấy chán nản. Họ nghiện phấn khích và kích thích bất thường. Họ quen với hưng phấn nhẹ do nồng độ cortisol cao tạo ra.

Giai đoạn thứ hai, kháng cự, là nỗ lực của cơ thể để khôi phục lại cân bằng nội môi - liên quan đến những thay đổi về hormone và sự dịch chuyển trong quá trình trao đổi chất và cân bằng khoáng chất. Thường thì có natri cùng với hiện tượng giữ nước trong các mô. Ví dụ, mắt cá chân của một số giám đốc điều hành sưng to dần, rồi đến tối thứ Sáu, thì đi tiểu nhiều lần. Họ phàn nàn rằng yếu đi do nồng độ hormone cortisol giảm đột ngột. Ngoài tác dụng gây hưng phấn, cortisol còn gây tê; do đó, trong giai đoạn giảm cortisol, những người đi nghỉ trong dịp cuối tuần có thể nhận thấy các triệu chứng về thể chất mà họ đã bỏ qua trong những ngày làm việc căng thẳng, và họ có thể phàn nàn về nhiều cơn đau nhức trong những ngày cuối tuần nhưng trong những ngày làm việc thì không bị.

Giai đoạn thứ ba là kiệt sức. Nếu căng thẳng tiếp tục không giảm, vượt quá khả năng của các cơ chế đối phó trong cơ thể, cuối cùng chúng sẽ bắt đầu đổ vỡ. Tình trạng kiệt quệ tuyến thượng thận bắt đầu xuất hiện. Hệ thống phòng vệ của cơ thể đã trở nên quá yếu, không thể chống lại tác động của căng thẳng. Hệ thống miễn dịch bị ức chế. Các cơ quan bắt đầu có những thay đổi bệnh lý do tiếp xúc lâu dài với các hormone gây căng thẳng. Nguồn năng lượng dự trữ của cơ thể bị cạn kiệt, dẫn đến bệnh tật và cuối cùng là chết.

Trong phản ứng báo động cấp tính, nhu động dạ dày tạm dừng, quá trình tiêu hóa đình trệ và lượng máu cung cấp cho niêm mạc dạ dày giảm xuống. Khi căng thẳng tiếp tục kéo dài, do sự mất cân bằng của hệ thần kinh và những thay đổi về nội tiết tố, tình trạng tăng tiết axit và sản sinh quá mức các enzyme tiêu hóa sẽ xảy ra. Các enzyme tiêu hóa và axit hydrochloric tăng cao này tác động lên lớp niêm mạc dạ dày-ruột vốn đã bị suy yếu, dẫn đến loét và tạo ra các vết loét do căng thẳng. Nếu căng thẳng tiếp tục, các vết loét có thể bị xuất huyết hoặc thủng, gây ra những thảm họa y tế. Trong các trường hợp khác, phản ứng với căng thẳng bất thường và mãn tính có thể là sự đình trệ sản sinh axit hydrochloric hoặc enzyme, dẫn đến chứng khó tiêu mãn tính và suy dinh dưỡng.

Ngoài đường tiêu hóa, hệ tim mạch cũng phản ứng với căng thẳng bằng phản ứng báo động. Khi căng thẳng trở thành mãn tính, tim, mạch máu và thận có thể bị tổn thương dẫn đến tăng huyết áp và/hoặc bệnh mạch vành. Cuối cùng, căng thẳng là nguyên nhân gây ra đột quỵ, đau tim và tăng huyết áp, tất cả đều là những nguyên nhân chính gây tử vong ở Mỹ. 

Phản ứng của hệ thống năng lượng đối với căng thẳng và kinh mạch

Cơ thể có ba hệ thống thần kinh: 1) Mạng lưới thần kinh tự chủ, chịu sự kiểm soát của tâm trí hữu thức và phân phối chủ yếu đến các cơ tự chủ; 2) hệ thống thần kinh không tự chủ hoặc hệ thống thần kinh thực vật (giao cảm và phó giao cảm), thường hoạt động theo lối vô thức và kiểm soát các cơ quan và chức năng sinh lý của cơ thể, chẳng hạn như nhịp tim, lưu lượng máu và phân phối máu, tiêu hóa và các phản ứng hóa học của cơ thể; 3) hệ thống kinh mạch, truyền năng lượng sinh học đến tất cả các cấu trúc và các cơ quan nội tạng của cơ thể. Trong y học phương Tây người ta ít biết tới hệ thống thứ ba này, nhưng y học và xã hội phương Đông đã hiểu rõ từ lâu.

Trong hệ thống kinh mạch, có một dòng chảy của các năng lượng sống (vitals energies thường gọi là Khí) xuyên suốt cơ thể vật lý thông qua một bản thiết kế năng lượng (energy blueprint) không nhìn thấy được của cơ thể. Hệ thống năng lượng này được mô tả là có 12 kênh chính nằm trên bề mặt cơ thể vật lý, chạy dọc theo 12 đường kinh mạch chính. Từ những kênh này, có nhiều nhánh dẫn vào các hệ thống cơ quan khác nhau của cơ thể. Sự phân bổ năng lượng bất thường vào các kinh mạch dẫn đến rối loạn chức năng của các cơ quan bị ảnh hưởng và cuối cùng là bệnh tật phát triển.

Năng lượng sinh học thiết yếu này chính là dòng chảy của sự sống. Nó phản ứng cực kỳ nhanh với căng thẳng. Năng lượng sinh học này phản ứng tức thì, đấy là do các yếu tố biến động trong cuộc sống của chúng ta - những thay đổi trong tri giác, suy nghĩ và cảm thọ của chúng ta. Phương pháp đo lường thông thường các phản ứng của cơ thể diễn ra tương đối chậm. Một suy nghĩ thoáng qua, có thể kèm theo nỗi đau cảm xúc, không tạo ra thay đổi có thể đo lường được trong huyết áp hoặc mạch đập của cơ thể; tuy nhiên, nó ngay lập tức được ghi nhận trong hệ thống năng lượng sinh học, nhiều thay đổi ở đây có thề được quan sát một cách nhanh chóng bằng các phương pháp khoa học, tâm linh và lâm sàng.       

Cân bằng tổng thể của hệ thống kinh mạch của cơ thể được điều chỉnh bởi hoạt động của tuyến ức. Hệ thống năng lượng sinh học liên hệ mật thiết với hệ thống miễn dịch của cơ thể thông qua tuyến ức. Căng thẳng mãn tính làm suy yếu hệ miễn dịch của cơ thể, ức chế tuyến ức và làm mất cân bằng hệ thống năng lượng sinh học. Tăng cường tuyến ức hoặc bổ sung dưỡng chất cho tuyến ức sẽ giúp cân bằng lại hệ thống năng lượng sinh học. Giải thích chi tiết về vấn đề này được trình bày trong các cuốn sách Behavioral Kinesiology (Cơ thể động học hành vi) và Life Energy (Năng lượng sống) của Tiến sĩ John Diamond. 

Các biện pháp can thiệp để giảm căng thẳng

Công trình nghiên cứu tại U.C.L.A. do Liebeskind và Shavit thực hiện trong những năm 1980 đã làm rõ hơn quan hệ giữa căng thẳng, ức chế hệ miễn dịch và phát triển của bệnh ung thư bằng cách chứng minh tác động của căng thẳng gián đoạn đối với quá trình giải phóng các chất opioids trong não, gọi là endorphin[iii]. Căng thẳng dưới dạng những cú sốc gián đoạn ức chế hệ miễn dịch. Khi phản ứng miễn dịch mạnh, endorphin trong não được giải phóng, được gọi là các tế bào “sát thủ” chống ung thư, tấn công và tiêu diệt các tế bào khối u non đang phát triển. Nhưng khi hoạt động miễn dịch bị ức chế và endorphin giảm, hoạt động của các tế bào “sát thủ” chống ung thư cũng giảm đi.

Báo cáo trên tạp chí Science (223: 188–190) nêu rõ: “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng hệ thần kinh trung ương, bằng cách điều chỉnh chức năng miễn dịch, thực hiện một số biện pháp kiểm soát quá trình khởi phát và phát triển của bệnh.” Báo cáo tiếp tục cho biết cảm thọ bất lực có liên quan đến việc giảm hoạt động của tế bào diệt ung thư và tăng trưởng khối u. Trầm cảm ở động vật cũng như con người làm giảm phản ứng miễn dịch, và cảm giác bất lực này liên quan đến mức độ kiểm soát mà người và động vật cảm thấy mình có đối với các sự kiện gây căng thẳng. Những phát hiện này giúp giải thích vì sao trầm cảm và cảm thọ bất lực lại liên quan đến ung thư. Nghiên cứu sâu hơn xác nhận rằng phản ứng căng thẳng được coi là điều kiện tiên quyết chính cho bệnh tật ở động vật và con người (Sapolsky, 2010).

Tác động tổng thể của căng thẳng lên hệ miễn dịch dẫn đến việc ngăn chặn hệ thống miễn dịch của cơ thể do sự sản sinh các tự kháng thể (autoantibodies[iv]). Nếu các tự kháng thể này bị ngăn chặn, thì chức năng miễn dịch sẽ hoạt động trở lại. Do đó, có thể đảo ngược việc ngăn chặn hệ thống miễn dịch. Ví dụ, nghiên cứu được thực hiện tại Viện Pasteur ở Paris đã giúp sản xuất loại huyết thanh gọi là Bogomoletz, khi được tiêm vào da, sẽ kích hoạt lại hệ thống miễn dịch. Phương pháp điều trị này được gọi là phương pháp IBR (Immuno-Biologic-Rejuvenation - Trẻ hóa sinh học miễn dịch). Một lượng nhỏ huyết thanh được tiêm vào da trong ba ngày liên tiếp, kết quả là kích hoạt ngay lập tức hệ thống miễn dịch.

Người ta cũng thấy việc kích hoạt các phản ứng có lợi cho sức khỏe của cơ thể trong các biện pháp can thiệp phi y tế, chẳng hạn như tương quan giữa thực hành thiền định với giảm căng thẳng và trầm cảm. Ví dụ, công trình nghiên cứu được thực hiện trên các sinh viên đại học cho thấy thiền định dẫn đến giảm phản ứng viêm do căng thẳng - liên quan đến giảm chứng trầm cảm ở các sinh viên này. Nghiên cứu cũng cho thấy những sinh viên tham gia đều đặn trong khóa huấn luyện thiền định kéo dài sáu tuần đã cải thiện được chức năng của hệ thống miễn dịch. Các sinh viên trong nhóm đối chứng, chỉ nhận được thông tin mang tính giáo dục về căng thẳng mà không được hướng dẫn kỹ thuật, có rất ít hoặc không có cải thiện về thể chất hoặc tâm lý (Pace và cộng sự, 2009).

Các công trình nghiên cứu chưa được công bố trong những năm 1980, mà tôi từng là cố vấn về mặt lâm sàng, chứng tỏ kỹ thuật nội tâm hiệu quả hơn so với các phương pháp giảm căng thẳng thuần túy y học. Các phương pháp y học như thư giãn từng bước một có tác dụng tích cực; tuy nhiên, tác dụng cải thiện nhịp tim và huyết áp sẽ lớn hơn và bền vững hơn nếu các cơ chế nội tâm được áp dụng một cách hữu thức.

Những kết quả khoa học này sẽ không làm cho những người đã học cách sử dụng các kỹ thuật nội tâm như kỹ thuật buông bỏ - buông bỏ nội tâm có thể áp dụng cho mọi tình huống – cảm thấy ngạc nhiên. Họ cho biết rằng mình có khả năng xử lý căng thẳng tốt hơn vì họ bình tĩnh hơn trong những tình huống khó khăn sau khi học cách buông bỏ những cảm thọ tiêu cực ngay khi chúng vừa sinh khởi. 

Kiểm tra cơ thể động học

Kiểm tra cơ thể động học hay kiểm tra cơ bắp là một môn học bổ ích trong việc nghiên cứu quan hệ trực tiếp giữa tâm trí và cơ thể. Quy trình kiểm tra cơ bản hiện nay khá phổ biến, nó cung cấp nhiều thông tin hữu ích mà lại dễ học. Những người chẩn đoán sử dụng phương pháp kiểm tra cơ thể động học để kiểm tra sự cân bằng của hệ thống kinh lạc, các kinh mạch và chức năng tổng thể của hệ thống năng lượng sinh học của cơ thể.

Kiểm tra cơ thể động học chủ yếu liên quan đến kiểm tra cơ bắp, vì sự sụt giảm đột ngột về năng lượng sinh học được biểu hiện bằng sự suy yếu nhanh chóng của cơ bắp. Phản ứng này có thể được gây ra bởi bất kỳ năng lượng tiêu cực nào xuất hiện trong phạm vi (vùng lân cận) của hệ thống năng lượng sinh học. Tác nhân kích thích có thể là vật lý, chẳng hạn như đường hoá học, đèn huỳnh quang, thực phẩm và vải tổng hợp, và một số nhịp điệu do các nhóm nhạc heavy metal hoặc rap tạo ra. Tuy nhiên, tác nhân kích thích đáng chú ý nhất đối với chúng ta là hiệu ứng làm suy yếu tức thì của một suy nghĩ hoặc cảm thọ tiêu cực. Suy nghĩ hoặc cảm thọ tiêu cực ngay lập tức làm suy yếu cơ thể và tạo ra mất cân bằng trong dòng chảy năng lượng của cơ thể.

Vì phương pháp kiểm tra cơ bắp này minh họa một cách tuyệt vời và sinh động liên hệ giữa tâm trí và cơ thể, nên việc tìm hiểu quy trình và trải nghiệm nó theo lối cá nhân là rất có giá trị; do đó, chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết về quy trình kiểm tra - cực kỳ đơn giản và chỉ cần hai người. Quan trọng cần lưu ý là cả người kiểm tra và người được kiểm tra đều phải có tầng tâm thức trên Can đảm (điểm chỉnh 200) để có phản hồi chính xác từ quy trình kiểm tra (xem Phụ lục B); nghĩa là, những người tận tâm với sự thật sẽ biết sự thật. 

Kỹ thuật kiểm tra cơ thể động học

Người được kiểm tra đứng thẳng, một tay duỗi thẳng sang bên và giơ lên ​​ngang vai. Người thứ hai đóng vai người kiểm tra. Người kiểm tra dùng hai ngón tay ấn nhanh trong vài giây vào phía sau cổ tay của người được kiểm tra để cảm nhận sức mạnh của cơ bắp. Đồng thời khi ấn xuống, người kiểm tra còn yêu cầu người được kiểm tra chống lại bằng toàn bộ sức lực của mình. Quan trọng là người kiểm tra không cười với người được kiểm tra, và không nói chuyện hay nghe nhạc. Tốt nhất là để người được kiểm tra nhìn vào vật trung tính như một bức tường trống hoặc nhắm mắt lại. Sau vài lần thử, người kiểm tra sẽ cảm nhận được sức mạnh cơ bắp của người được kiểm tra.

Để minh họa, chỉ cần yêu cầu người được kiểm tra nghĩ về một tình huống khó chịu về mặt cảm xúc hoặc nhớ đến người mà mình cảm thấy khó chịu. Trong khi người được kiểm tra lưu giữ suy nghĩ khó chịu ở trong đầu, người kiểm tra ấn xuống trong vài giây để kiểm tra sức mạnh của cánh tay người được kiểm tra, cánh tay vẫn đang được giữ thẳng nằm ngang. Đồng thời, người được kiểm tra chống cự với toàn bộ sức lực. Sẽ nhận thấy sự suy yếu đột ngột của cơ delta; khi kiểm tra, sẽ cho thấy mất đi khoảng 50% sức mạnh cơ bắp.

Bây giờ hãy yêu cầu người được kiểm tra nghĩ về người mà anh ta yêu thương và kiểm tra lại. Anh ta sẽ sẽ trở nên mạnh mẽ ngay lập tức. Đây là hiện tượng rất ấn tượng và vô cùng quý giá. Việc kiểm tra có thể được lặp lại với nhiều thứ tiêu cực khác nhau được người được kiểm tra cầm ở tay kia, ở trong miệng, hoặc đặt trên đỉnh đầu hoặc vùng rối dương. Để làm như thế, yêu cầu người được kiểm tra nhìn vào đèn huỳnh quang hoặc quảng cáo trên truyền hình trong khi kiểm tra, hoặc kiểm tra sự khác biệt giữa tác động của nhạc cổ điển so với nhạc heavy metal hoặc nhạc rap; bánh mì tự làm so với bánh mì làm bằng máy; đường so với mật ong; vải tổng hợp so với vải bông, len hoặc lụa; đồ ăn vặt so với thực phẩm hữu cơ tốt cho sức khỏe; vitamin C tổng hợp so với vitamin C hữu cơ từ quả tầm xuân. Có thể thực hiện thêm các xét nghiệm để kiểm tra phản ứng của từng cá nhân với nước ngọt dùng cho ăn kiêng, thuốc lá, xà phòng, thức ăn yêu thích và các vật dụng khác mà chúng ta thường xuyên tiếp xúc.

Khi kiểm tra các vật dụng khác nhau và tác động của suy nghĩ và cảm xúc, sẽ nhanh chóng nhận thấy rõ rằng mọi thứ trong vũ trụ đều có rung động và rung động đó có tác dụng làm cho người ta mạnh lên hoặc yếu đi. Ví dụ, để chứng minh tác dụng làm yếu đi của thực phẩm mang năng lượng tiêu cực như đường hoá học, không cần thiết phải cho thức ăn vào miệng. Nó sẽ làm người ta yếu đi nếu đặt trên tay kia hoặc trên đỉnh đầu.

Khi sử dụng cơ chế buông bỏ và giải phóng cảm thọ tiêu cực, kiểm tra cơ bắp mà chúng ta đã mô tả sẽ thay đổi từ yếu sang mạnh. Khi những suy nghĩ hoặc hệ thống niềm tin tiêu cực được buông bỏ, chúng không còn sức mạnh để làm cạn kiệt năng lượng của chúng ta nữa.

Đây là quy luật cơ bản của tâm thức: Chúng ta chỉ bị chi phối bởi những gì chúng ta lưu giữ  trong tâm trí. Cơ thể sẽ phản ứng với những gì chúng ta tin tưởng. Nếu chúng ta tin rằng một chất nào đó có hại cho mình, thì thường cơ thể sẽ phản ứng yếu khi kiểm tra bằng phương pháp kiểm tra cơ bắp. Cùng một chất đó lại có thể làm cho người khác - tin rằng nó tốt cho họ - trở thành mạnh mẽ. Do đó, những thứ làm cho chúng ta căng thẳng chủ yếu mang tính chủ quan. Phương pháp kiểm tra cơ bắp phản hồi với các hệ thống niềm tin, cả vô thức lẫn hữu thức. Quá trình kiểm tra thường tiết lộ rằng, một người vô thức cảm nhận hoặc tin tưởng điều ngược lại với những gì họ nghĩ rằng họ tin tưởng một cách có ý thức. Ví dụ, một người có thể tin một cách hữu thức rằng họ muốn được chữa lành, nhưng trong vô thức lại đang bám chấp vào những phần thưởng của bệnh tật. Một bài kiểm tra cơ đơn giản sẽ tiết lộ sự thật của vấn đề. 

Liên hệ giữa tâm thức, căng thẳng và bệnh tật

Như chúng ta đã thấy, khả năng dễ bị căng thẳng và khả năng dễ bị tổn thương có liên quan trực tiếp đến hoạt động cảm xúc chung của chúng ta. Càng ở vị trí cao hơn trên thang đo tâm thức, chúng ta càng ít đáp trả bằng những phản ứng căng thẳng. Có thể lấy một tình huống đơn giản trong cuộc sống hàng ngày để minh họa sự khác biệt trong phản ứng.

Ví dụ, vừa đỗ xe và ngay khi vừa bước ra, chiếc xe phía trước lùi vào xe chúng ta cùng với tiếng động mạnh. Cản trước và phần trước của chắn bùn xe của ta bị móp. Đây là điều mà các tầng tâm thức khác nhau có thể nói:

Nhục nhã: “Thật xấu hổ. Mình lái xe tệ quá. Mình thậm chí không biết đỗ xe. Mình sẽ chẳng bao giờ làm nên trò trống gì.”

Mặc cảm tội lỗi: “Mình đáng bị như vậy. Mình thật ngu ngốc! Mình đáng lẽ phải đỗ xe cẩn thận hơn.”

Thờ ơ: “Có ích gì chứ? Chuyện như thế này lúc nào cũng xảy ra với mình. Chắc chắn mình cũng sẽ không được bảo hiểm bồi thường đâu. Nói chuyện với gã đó cũng chẳng ích gì. Hắn ta sẽ kiện mình mất thôi. Cuộc đời thật tệ hại.”

U sầu: “Giờ thì xe hỏng rồi. Sẽ không bao giờ sửa được như cũ nữa. Cuộc đời thật đáng nản. Chắc chắn sẽ mất một khoản tiền lớn vì chuyện này.”

Sợ hãi: “Thằng đó chắc đang rất tức giận. Có lẽ hắn ta sẽ đánh mình. Mình sợ phải cãi nhau với hắn ta. Chắc hắn ta sẽ kiện. Chắc là mình sẽ không bao giờ sửa được xe nữa. Thợ sửa xe lúc nào cũng chặt chém. Công ty bảo hiểm chắc sẽ thoát, và mình sẽ là người gánh chịu hậu quả.”

Ham muốn: “Có thể kiếm được một khoản lớn từ vụ này. Mình nghĩ sẽ ôm cổ và giả vờ bị chấn thương ở cổ. Anh rể mình là luật sư. Chúng ta sẽ kiện cho đến khi thằng ngốc này cháy túi. Mình sẽ được khoản bồi thường cao nhất và sửa chữa ở chỗ rẻ hơn.”

Tức giận: “Thằng ngu! Mình sẽ dạy cho hắn một bài học. Hắn đáng bị đấm vào mũi. Mình sẽ kiện cho đến khi hắn cháy túi và làm cho hắn phải chịu đau khổ. Máu mình đang sôi lên đây. Mình run lên vì tức giận. Mình có thể giết chết thằng khốn nạn này!”

Kiêu hãnh: “Nhìn đường mà đi chứ, đồ ngốc! Trời ơi! Thế giới này đầy rẫy những thằng ngốc vụng về! Sao hắn dám làm hỏng chiếc xe mới của mình! Hắn nghĩ hắn là ai chứ? Chắc hắn mua bảo hiểm rẻ tiền; lạy Chúa, bảo hiểm của mình là cao nhất.”

Can đảm: “Ồ, thôi được rồi, cả hai chúng ta đều có bảo hiểm. Mình sẽ ghi lại số xe và xử lý ổn thỏa thôi. Chỉ phiền chút thôi, nhưng mình có thể xử lý được. Mình sẽ nói chuyện với người lái xe và giải quyết bên ngoài tòa án.”

Trung dung: “Những chuyện như thế này vẫn thường xảy ra. Không thể lái xe 20.000 dặm một năm mà không thỉnh thoảng gặp phải va chạm nhỏ.”

Sẵn sàng: “Làm sao mình có thể giúp anh ta bình tĩnh? Anh ta không cần phải cảm thấy khó chịu về chuyện này. Chúng ta chỉ cần trao đổi thông tin bảo hiểm là được và làm lành với nhau.”

Chấp nhận: “May là không việc gì. Ít nhất thì không có ai bị thương. Chỉ mất tiền thôi. Công ty bảo hiểm sẽ lo. Mình nghĩ rằng anh ta khó chịu. Đương nhiên rồi. Không thể tránh khỏi. Lạy Chúa, vì mình không phải là người điều hành vũ trụ này. Chỉ phiền chút thôi.”

Lý trí: “Thực tế một chút đi. Mình muốn giải quyết vấn đề này càng nhanh càng tốt để có thể tiếp tục công việc. Biện pháp hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề của chúng ta là gì?”

Yêu thương: “Hy vọng anh ta không cảm thấy khó chịu. Mình sẽ trấn an anh ta. (Nói với người lái xe kia), ‘Bình tĩnh đi. Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Cả hai chúng ta đều có bảo hiểm. Tôi hiểu mà. Chuyện tương tự cũng từng xảy ra với tôi. Chỉ là một vết lõm nhỏ và chúng ta sẽ sửa xong ngay trong ngày hôm nay thôi. Đừng lo lắng – chúng ta sẽ không báo cáo nếu anh không muốn. Chúng ta có thể khấu trừ khoản đó và tránh tăng phí bảo hiểm. Không có gì phải khó chịu hết.’” (Trấn an người lái xe đang khó chịu, đặt tay lên vai anh ta như một sự đồng cảm.)

An bình: “Vâng, may quá! Tôi cũng định sửa tiếng kêu lạch cạch ở cản trước, còn cái chắn bùn đã bị lõm một chút rồi. Vậy là giờ tôi sẽ được sửa miễn phí. ‘Này, anh có phải là anh rể của George không? Anh chính là người tôi muốn gặp. Tôi có một số thứ cần giúp đỡ.’” “Một cơ hội kinh doanh tuyệt vời mà tôi nghĩ anh có thể đảm nhiệm giúp tôi. Cả hai chúng ta sẽ cùng có lợi. Anh trông có vẻ là người phù hợp để nghiên cứu vấn đề này cho chúng tôi. Uống cà phê và bàn bạc thêm nhé? Nhân tiện, đây là thẻ bảo hiểm của tôi. Này, cùng công ty với anh đấy. Thật là trùng hợp. Mọi chuyện đang diễn ra tốt đẹp. Không vấn đề gì.” (Vừa đi vừa nói với người bạn mới, không còn ai nghĩ tới vụ tai nạn nữa.)

Những phản ứng bên trên minh họa cho những gì chúng ta đã nói. Chính chúng ta tự tạo ra phản ứng căng thẳng, đấy là kết quả của những thứ chúng ta đang kìm nén ở bên trong. Những cảm thọ bị kìm nén quyết định hệ thống niềm tin và tri giác của chúng ta về chính mình và người khác. Đến lượt mình, chúng tạo ra các sự kiện và biến cố trên thế giới - mà sau đó chúng ta lại đổ lỗi cho những phản ứng của mình. Đây là hệ thống vọng tưởng tự củng cố chính nó. Đây là cái mà các giác giả ngụ ý khi nói: “Tất cả chúng ta đều đang sống trong vọng tưởng.” Tất cả những gì chúng ta trải nghiệm đều là những suy nghĩ, cảm thọ và niềm tin của chính chúng ta được phóng chiếu lên thế gian, chúng là nguyên nhân thực sự tạo ra những sự kiện mà chúng ta thấy.

Hầu hết mọi người, một lúc nào đó, đều đã trải nghiệm tất cả các tầng tâm thức khác nhau, nhưng nói chung, chúng ta có xu hướng hoạt động chủ yếu ở một tầng nào đó trong một giai đoạn khá dài. Hầu hết mọi người đều bận bịu với việc sinh tồn dưới tất cả những hình thức tinh tế của nó, và vì vậy họ chủ yếu thể hiện sợ hãi, tức giận và ham muốn tranh giành lợi ích. Họ chưa học được rằng yêu thương là công cụ sinh tồn mạnh mẽ nhất.

Thú vị là, như chúng tôi đã nói trong một chương trước, nuôi một con chó cưng có thể kéo dài tuổi thọ thêm 10 năm. Yêu thương, trìu mến, chăm sóc một sinh linh khác và bầu bạn với chú chó cưng làm giảm bớt những tác động tiêu cực của căng thẳng. Tình yêu kích thích endorphin và năng lượng sống, chữa lành cho cuộc sống dễ bị căng thẳng.

 



[i] Cortisol - hormone căng thẳng được tiết ra bởi tuyến thượng thận. Cơ chế vận hành: Cortisol tăng vọt khi Tâm thức rơi vào trạng thái kháng cự, sợ hãi, hoặc nỗ lực tiêu cực. Căng thẳng mãn tính giữ nồng độ Cortisol ở mức cao, làm suy giảm hệ miễn dịch, tiêu hao năng lượng và làm mờ mịt tri giác. Hóa giải: Khi thực hành phó thác, buông bỏ áp lực nội tâm, trạng thái căng thẳng tiêu tan, nồng độ Cortisol tự động cân bằng trở lại, giúp phục hồi sinh lực tự nhiên mà không cần đến các nỗ lực cưỡng ép bên ngoài.

[ii] Adrenalin là hormone và chất dẫn truyền thần kinh được tiết ra bởi tủy tuyến thượng thận, đóng vai trò cốt lõi trong phản ứng “chiến đấu hoặc bỏ chạy”. Cơ chế vận hành: Adrenalin tăng vọt khi Tâm thức rơi vào các tầng năng lượng thấp mang tính kháng cự như sợ hãi, giận dữ, căng thẳng hoặc các nỗ lực tiêu cực. Nó kích hoạt trạng thái báo động toàn thân (nhịp tim tăng, mạch máu co lại, cơ bắp gồng lên), tiêu tốn một lượng sinh lực khổng lồ và làm tri giác bị thu hẹp vào mục tiêu tự vệ ngắn hạn. Hóa giải: Thông qua việc thực hành phó thác và buông bỏ, Tâm thức thoát khỏi trạng thái tự vệ. Khi áp lực nội tâm biến mất, việc tiết Adrenalin được đình chỉ, cơ thể tự động chuyển sang trạng thái cân bằng và phục hồi sinh lực tự nhiên mà không cần đến các nỗ lực cưỡng ép bên ngoài.

[iii] Endorphin là chất dẫn truyền thần kinh nhóm opioid nội sinh, được sản sinh bởi hệ thần kinh trung ương và tuyến yên, đóng vai trò như một chất giảm đau và kiến tạo trạng thái an lạc tự nhiên của cơ thể. Cơ chế vận hành: Khác với Adrenalin hay Cortisol vốn bùng phát trong trạng thái kháng cự, Endorphin được giải phóng khi Tâm thức đạt đến hòa hợp, bao dung, hoặc sau khi vượt qua một áp lực lớn mà không có phản kháng. Nó làm dịu các cơn đau vật lý, xoa dịu tâm trí và mang lại cảm giác hân hoan, thư thái sâu sắc. Hóa giải và Nuôi dưỡng: Bằng cách thực hành phó thác, buông bỏ các cảm thọ tiêu cực, các rào cản căng thẳng bị dỡ bỏ. Khi áp lực nội tâm không còn, cơ thể tự động giải phóng Endorphin một cách tự nhiên, giúp phục hồi sinh lực, mang lại trạng thái tự tại và an lành mà không cần kích thích từ các yếu tố cưỡng ép bên ngoài.

[iv] Autoantibodies - Tự kháng thể là những kháng thể thay vì tấn công các tác nhân gây hại từ bên ngoài thì lại quay sang tấn công chính các mô và tế bào của cơ thể mình.


July 8, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (14)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 13 

AN BÌNH

 

Ở tầng an bình, sẽ không còn xung đột nào nữa. Hoàn toàn không còn tiêu cực và yêu thương bao trùm được trải nghiệm như thanh thản, yên bình, phi thời gian, trọn vẹn, viên mãn, tĩnh lặng và mãn nguyện. Tĩnh lặng và ánh sáng nội tâm, cảm thọ được sự hợp nhất, nhất thể và tự do hoàn toàn. An bình là không thể bị xáo trộn. Hành động trở thành phi nỗ lực, tự phát, hài hòa và tràn đầy yêu thương. Có sự dịch chuyển trong tri giác về vũ trụ và quan hệ của chúng ta với vũ trụ. Đại Ngã bên trong giữ thế thượng phong. Đã siêu việt được tự ngã cá nhân, với tất cả những cảm thọ, niềm tin, bản sắc và những quan tâm của nó. Đây là trạng thái cao nhất mà tất cả những người tìm kiếm đều hướng tới, dù họ là người theo tôn giáo, người theo chủ nghĩa nhân văn, hay hoàn toàn không có một đức tin và hệ tư tưởng cụ thể nào. 

Ảnh hưởng sâu sắc của an bình

Tất cả chúng ta đều đã từng có những khoảnh khắc an bình sâu sắc, thời gian và thế giới dường như đột nhiên dừng lại, và chúng ta tiếp xúc với Vô Hạn. Trong những năm gần đây, có một số cuốn sách viết về trải nghiệm cận tử. Trong những hoàn cảnh khác nhau, trải nghiệm như thế đã xảy ra với những người đã chết và sau đó trở lại với thân thể. Đặc điểm chung là, cuộc đời của họ đã được trải nghiệm này chuyển hoá, họ không bao giờ quên được nó. Quan điểm của họ về thế giới, ý nghĩa của nó, và vai trò cá nhân của họ trong thế giới đó đã thay đổi đáng kể.

Trong bộ phim Lost Horizon (Chân trời đã mất), sau khi nhân vật chính trải nghiệm Shangri-La, và mặc dù anh ta đã trở lại thế gian, nhưng quan điểm của anh ta về thế giới đã hoàn toàn khác. Anh ta khao khát, bằng mọi giá, được trở lại Shangri-La, miền đất mà trạng thái an bình luôn luôn ngự trị. Một khi đã trải nghiệm trạng thái an bình, chúng ta không còn là nạn nhân của thế gian nữa. Thế gian không còn tạo được ảnh hưởng lên chúng ta nữa, vì chúng ta đã thoáng thấy sự thật về nó và về con người mà chúng ta thực sự đang là.

Tiếp tục buông bỏ, chúng ta sẽ bắt đầu trải nghiệm những trạng thái an bình này một cách thường xuyên hơn. Đôi khi, những trải nghiệm có thể rất sâu và kéo dài hơn. Khi mây tan, mặt trời sẽ lộ ra và ta nhận ra rằng an bình chính là sự thật vốn có. Buông bỏ là cơ chế mở ra bản chất thực sự của tồn tại.

Khi một người ở trong trạng thái an bình, họ có kết quả kiểm tra cơ bắp rất tốt, không có gì – dù là tâm trí, cảm thọ hay thể chất - có thể làm cơ bắp của họ yếu đi. Không còn đồng nhất với cơ thể và tự ngã, các rối loạn thể chất có thể được chữa lành hoặc không được chữa lành. Chúng ta không còn quan tâm tới chúng nữa; lo lắng về thể chất không còn bất kỳ ý nghĩa quan trọng nào.

Sức mạnh xuất hiện cùng với trải nghiệm an bình nội tâm. Trường năng lượng của an bình tuyệt đối là không thể lay chuyển. Người đã tìm được an bình nội tâm sẽ không còn bị đe dọa, kiểm soát, thao túng hay lập trình nữa. Trong trạng thái này, những đe dọa của thế gian không còn ảnh hưởng được tới chúng ta nữa, và, do đó, chúng ta làm chủ đời sống trên thế gian này. Trong trạng thái an bình, những đau khổ thông thường của con người là không thể xảy ra, vì chính nền tảng của khả năng bị tổn thương đã hoàn toàn được loại bỏ. 

Trao truyền năng lượng thầm lặng

Chúng ta gọi người đã vươn tới được trạng thái an bình như thế là “Chứng ngộ” và đang ở trong trạng thái của Ân phước. Bên trong và vượt ra ngoài trạng thái đó là nhiều trạng thái chứng ngộ cao cấp và các tầng nhận thức được các nhà huyền môn, giác giả, các vị thánh và thánh thần giáng thế mô tả.

Thực sự ở bên cạnh người đã chứng ngộ mang lại cho chúng ta lợi ích thầm lặng, không thể diễn tả được bằng lời. Theo truyền thống, đấy sẽ là đạo sư tâm linh cao cấp, thánh nhân hoặc giác giả. Những người tìm kiếm đi từ những nơi rất xa tới để được hiện diện trực tiếp trong trường năng lượng này. Người sùng đạo hoặc người tìm kiếm nhận được năng lượng tần số cao từ hào quang của đạo sư thông qua quá trình trao truyền năng lượng thầm lặng, được mô tả là “Truyền năng lượng của không tâm trí”, “Ân phước của Aura”, hoặc “Phước lành của đạo sư”. Quá trình trao truyền tự diễn ra và không mang tính cá nhân. Trạng thái an bình vô hạn phát ra từ trường năng lượng của đạo sư hay vị thánh là vô điều kiện. Khi Đức Phật đưa cho Đại Đệ Tử một bông hoa, đó là biểu tượng của trao truyền năng lượng. Nếu được ở bên cạnh một đạo sư vĩ đại phát ra năng lượng này thì chúng ta sẽ không bao giờ còn như trước nữa. Lợi ích lớn nhất có thể xảy ra với chúng ta là được ở bên cạnh một đạo sư vĩ đại, vì chúng ta tiếp nhận rung động bằng cách tự mình hiện diện trong trạng thái an bình và hoàn toàn phó thác. Trao truyền thầm lặng trạng thái chứng ngộ là hiện tượng phi ngôn ngữ, mang theo năng lượng, không phụ thuộc vào logic hay ngôn ngữ. Rung động bên trong hào quang của đạo sư cao cấp hoạt động như sóng tải, tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta hiểu những lời đang được nói ra. Nhưng chính sóng năng lượng mới là yếu tố xúc tác, chứ không phải lời nói. Bằng trao truyền thầm lặng, năng lượng từ đạo sư cao cấp hay vị thánh được tích hợp vào hào quang, chức năng não bộ và toàn bộ con người chúng ta.

Chính vì năng lượng an bình này được truyền ra thế giới bên ngoài cho nên nhân loại vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Nếu không có năng lượng này làm đối trọng thì nhân loại đã tự hủy diệt từ lâu. Đó là lý do vì sao sự tiến hóa nội tâm của chúng ta phụng sự toàn thể nhân loại. Bằng cách vươn tới những trạng thái cao hơn của yêu thương và an bình bên trong chính mình, chúng ta trở thành người cứu rỗi trên thế giới này. 

Phó thác cho thực tại tối thượng

Dấu hiệu đặc trưng của tầng này là vô cầu. Không cần mong muốn bất cứ điều gì, vì mọi thứ hiển lộ trong cuộc đời của chúng ta theo lối tự phát và tự động, không cần ý chí hay nỗ lực có ý thức nữa. Ở tầng này, những suy nghĩ được lưu giữ trong tâm trí có rất nhiều sức mạnh và có xu hướng hiển lộ ngay lập tức. Hiện tượng đồng bộ diễn ra liên tục. Cơ chế nhân quả và sự vận hành bên trong của vũ trụ được mặc khải một cách rõ ràng, đấy là khi chúng ta đang chứng kiến nền tảng của chính Thực tại.

Những trạng thái nhận thức rất cao này xảy ra một cách tự phát và bất ngờ, và có xu hướng tái diễn và ngày càng dài ra. Một khi đã trải nghiệm trạng thài này, ý định của chúng ta tự động làm cho trạng thái an bình trở nên vĩnh viễn.

Cách mà trạng thái này xuất hiện cũng như bản chất của nó được thể hiện rõ qua câu chuyện dưới đây - ghi lại những diễn biến sau ba năm rưỡi kiên trì thực hành phó thác. Đó là một ngày mùa đông lạnh giá. Phó thác diễn ra liên tục trong mười một ngày liền, ở tầng tâm thức mà trước đây chưa từng vươn tới, ngay cả trong quá trình phân tâm học. Nó liên quan tới nền tảng sinh tồn của bản ngã và sự đồng nhất với nó như là cá nhân. Nó liên quan đến cách chúng ta trải nghiệm sự tồn tại của chính mình và khát vọng trải nghiệm sự hiện hữu của chính mình.

Ngày qua ngày, quá trình dường như là bất tận. Nghi ngờ nổi lên: “Đây có phải là nỗ lực để làm một việc bất khà thi?” Rõ ràng là mục đích của chính nghi ngờ là cơ chế phòng vệ; nó đã được loại bỏ, và phó thác tiếp tục ở tầng cực sâu.

Rồi, khi bước vào một nhà hàng trong buổi chiều Chủ nhật lạnh lẽo và mưa phùn, ngồi một mình xuống bàn, thế rồi thế giới đột nhiên biến đổi một cách kỳ diệu. Xuất hiện cảm giác tĩnh lặng và bình yên sâu sắc. Nó vĩ đại hơn bất cứ điều gì có thể tưởng tượng được. Trải nghiệm đó vượt ra ngoài thời gian. Trên thực tế, thời gian không có ý nghĩa gì hết, cũng như không gian không tồn tại theo cách mà chúng ta thường trải nghiệm. Mọi thứ đều được kết nối với mọi thứ khác. Chỉ có một đời sống duy nhất tự thể hiện qua một Đại Ngã duy nhất trong tất cả các sinh vật. Không còn đồng nhất với thân thể và không còn quan tâm đến nó nữa. Nó không thú vị hơn bất kỳ thân thể nào khác trong căn phòng đó nữa. Tất cả các cảm xúc và sự kiện đều liên kết với nhau, và tất cả các hiện tượng xảy ra, vì mỗi vật tự hiển lộ bản chất bên trong của chính nó theo lối tự phát, như thể vận động và phát triển là mở ra một cách tự phát của tiềm năng. Tĩnh lặng không lay chuyển ấy có đặc điểm là vững như bàn thách. Rõ ràng là Đại Ngã thực sự là vô hình—không có khởi đầu, không có kết thúc—và chỉ có sự đồng nhất tạm thời với thân thể và câu chuyện đi kèm với sự đồng nhất như là cá thể.

Thật kỳ lạ khi trước đây người ta lại có thể nghĩ rằng mình là một thân thể cô lập tách biệt với những người khác, với một khởi đầu hữu hạn và một kết thúc hữu hạn. Suy nghĩ đó dường như là phi lý. Không còn cảm thọ về tự ngã tách biệt nữa, đại từ “tôi” biến mất và trở thành vô nghĩa. Thay vào đó, chỉ còn là sự nhận biết rằng mình chính là vạn vật. Nó vẫn luôn luôn như thế và sẽ mãi mãi như thế. Bản thể thực thụ nằm ngoài thời gian. Khoảng thời gian mà thân xác này hiện diện trên mặt đất chỉ tựa như một chớp mắt, khi mà sự thật về bản sắc phi thời gian bị lãng quên, tự ngã nhỏ bé làm cho nó khuất lấp đi. Rồi cách thức mà nó xảy ra đã tự hiển lộ. Đã từng mong muốn được trải nghiệm tồn tại tách biệt, và chính mong muốn này đã tự biểu hiện thành một cá nhân với bản sắc riêng cùng với cơ thế vật lý đi kèm.

Sự kết nối nội tại của vạn vật hiện rõ mồn một. Đó là vũ trụ toàn ảnh như Đức Phật và vật lý lý thuyết hiện đại mô tả, cả hai đều đồng thuận về bản chất nội tại của vũ trụ. Vì mọi thứ đều hoàn hảo, nên không còn gì để ước ao, không còn ham muốn, không cần sáng tạo, và chẳng phải trở thành bất cứ thứ gì. Chỉ còn Cái Đó, chính là tinh túy của Bản Thể mà từ đó tồn tại phát khởi. Bản Thể ấy là Cội nguồn của tồn tại, nhưng kỳ lạ thay, lại không phải là Nguyên nhân của nó.

Có một sự thân thuộc sâu sắc trong trạng thái nhận biết này. Như thể ta đã luôn biết về nó từ bấy lâu nay, như thể cuối cùng ta cũng đã được về nhà. Không còn cảm xúc hay cảm thọ nào nữa. Hoàn toàn không nhận thức về các cảm giác. Dù chúng dường như vẫn tiếp diễn, chúng không còn mang tính cá nhân hay là điều đáng bận tâm nữa.

Để làm thí nghiệm, một ý nghĩ được giữ trong tích tắc để xem điều gì sẽ xảy ra. Gần như ngay lập tức, có một hiệu ứng trong thế giới vật chất. Ví dụ, ý nghĩ về bơ hoặc cà phê khiến người phục vụ mang đến ngay lập tức, mà không cần nói một lời nào. Dường như không cần nói. Giao tiếp diễn ra ở tầng im lặng.

Tối hôm đó, cơ thể tự lái xe đến cuộc họp, mà không ai nhận thấy bất cứ điều gì khác thường. Mọi người dường như đều tràn đầy sức sống. Sự sống động ấy tỏa rạng từ chính Bản thể của họ; và Đại Ngã—vốn là một và như nhau ở tất cả mọi người—tỏa sáng qua ánh mắt của họ. Cơ thể nói chuyện với những người khác, tiếp tục một cách tự phát những cuộc trò chuyện bình thường và cư xử như bình thường. Lúc đó, cơ thể dường như tương tự như một món đồ chơi lên dây cót theo lối nghiệp báo được vận hành bởi tất cả các mô thức và chương trình quen thuộc của nó, không cần để ý tới, dù chỉ một chút thôi. Nó dường như biết phải làm gì và làm điều đó rất hiệu quả và dễ dàng. Tất cả các cuộc trò chuyện và tương tác chỉ được chứng kiến ​​như những hiện tượng, chứ không bị dẫn động. Việc từng tin rằng có một tự ngã nhỏ bé là tác giả của mọi hành động của thân thể này, giờ đây dường như chỉ là ảo tưởng hão huyền kỳ quặc. Trong thực tại, thân thể vốn chịu tác động của toàn vũ trụ, và chưa từng bao giờ có “người làm” nào đứng sau những hành động ấy. Các hiện tượng chỉ là những rung động của tâm trí, vốn không có tồn tại hay thực tại riêng biệt nào. Chỉ có Toàn thể. Chỉ có Một thể là thực sự tồn tại.

Chiều hôm sau, một ý nghĩ xuất hiện. Giờ đây, con đường dẫn đến Thực tại đã được mặc khải, có thể quay trở lại tâm thức về việc là một cá nhân, điều mà trước đây đã được chấp nhận là có thật. Hệt như không khí trong phòng không cảm nhận được nội dung của căn phòng, không còn một “tôi” nào trải nghiệm “sự tồn tại của chính mình” nữa. Trong không gian đó, không có “tôi” nào để trải nghiệm “tôi là”. Trở lại tâm thức cá nhân có nghĩa là phải đưa ra lựa chọn. Thực ra, lựa chọn tự nó được đưa ra vì không có “tôi” nào để đưa ra quyết định. Ham muốn trải nghiệm tự ngã cá nhân tự nó được tiếp thêm năng lượng. Lựa chọn buông bỏ vẫn còn, nhưng ký ức về những điều chưa hoàn thành trên thế gian lại quay trở lại. Khi cảm giác về “tôi” trở lại, các lựa chọn được chứng kiến, chứ không phải được quyết định một cách chủ động. Quá trình trở lại đang diễn ra. Nó có thể được cho phép hoặc có thể được buông bỏ. Nó đã được cho phép, và vì vậy quá trình trở về tiếp tục. Khi bình minh hôm sau ló dạng, cuộc trở về đã hoàn tất, nhưng giờ đây có cảm giác khác về bản sắc cá nhân. Sự thật về Đại Ngã đã được mặc khải. Trách nhiệm vì đã lựa chọn trải nghiệm cuộc đời một lần nữa với tư cách là một cá nhân đã được chấp nhận, nhưng không phải do ảnh hưởng của niềm tin vào tồn tại cá nhân. Trên thực tế, bằng lựa chọn có ý thức, đã nhận trách nhiệm hoàn toàn cho việc đó. Về mặt trải nghiệm, tất cả điều này đã xảy ra một cách tự động.

Trước đây, những trạng thái tâm thức vừa nói được coi là chỉ thuộc về lĩnh vực của nhà huyền môn. Tuy nhiên, hiện nay, việc nghiên cứu những trạng thái này, và thông tin thu được, được coi là mũi nhọn trong khoa học, đặc biệt là nhánh vật lý liên quan đến cơ học lượng tử và các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao. Các công trình nghiên cứu về những hạt này cho thấy chúng không phải là những vật thể theo nghĩa thông thường mà thực chất là những sự kiện của tần số năng lượng. Khoa học hiện nay đưa ra giả thuyết về tần số siêu việt, vượt ra ngoài không gian và thời gian.

Nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều phòng thí nghiệm đã chứng minh rằng não bộ tri giác bằng những phân tích toán học phức tạp về các mô thức tần số. Những phát hiện này dẫn đến cái gọi là hệ hình toàn ảnh, cho rằng mọi thứ trong vũ trụ, trong đó có tâm trí con người, đều được kết nối với mọi thứ khác. Trong toàn ảnh, mỗi phần đều chứa đựng toàn thể. Do đó, mỗi tâm trí cá nhân đều có khả năng phản ánh toàn bộ vũ trụ. Quan hệ giữa tâm thức và khoa học tạo ra lĩnh vực hoàn chỉnh ngày càng được nhiều người quan tâm hơn, được thể hiện qua việc xuất bản những cuốn sách như Holographic Paradigm (Hệ hình toàn ảnh), Wholeness and the Implicate Order (Cái toàn thể và trật tự ẩn”, The Tao of Physics (Đạo của vật lý), The Dancing Wu-Li Masters (Các bậc thầy Wu-Li nhảy múa), Mindful Universe (Vũ trụ chánh niệm), Psychoenergetic Science (Khoa học năng lượng tâm lý) và các bài báo với tiêu đề như Field Consciousness and the New Perspective on Reality (Trường tâm thức và cách nhìn nhận mới về Thực tại), The Enfolding - Unfolding Universe (Vũ trụ Thu vào - Mở ra), The Holographic Model (Mô hình toàn ảnh), Physics and Mysticism (Vật lý và chủ nghĩa thần bí) và The Medium, the Mystic, and the Physicist (Nhà Ngoại cảm, Nhà Huyền môn và Nhà Vật lý học).  

Dẫn đầu trong số các nhà nghiên cứu này là nhà thần kinh học Karl Pribram ở Đại học Stanford và nhà vật lý học đã quá cố, David Bohm, ở Đại học London, với các lý thuyết có thể được tóm tắt như sau: Não bộ của chúng ta kiến tạo nên thực tại hữu hình bằng các phép tính toán học thông qua việc giải mã các tần số đến từ một chiều kích khác—một cõi giới của thực tại nguyên sơ, có cấu trúc và đầy ý nghĩa, vượt ra ngoài thời gian và không gian. Do đó, não bộ chính là một cấu trúc toàn ảnh đang giải mã vũ trụ toàn ảnh.

Thật thú vị khi thấy các lý thuyết của vật lý lý thuyết cao cấp, vốn là sản phẩm của cái gọi là hoạt động não trái, giờ đây lại đòi hỏi một bối cảnh mới để có thể được thấu hiểu. Bối cảnh đang tiến hóa từ chính những nhà nghiên cứu khoa học bằng bán cầu não trái này lại trùng khớp với Thực tại được chứng kiến bởi các bậc chứng ngộ – những người đại diện cho chức năng não phải. Như vậy, dù chúng ta chọn leo lên từ sườn núi nào, cuối cùng tất cả đều gặp nhau tại một điểm duy nhất: đỉnh núi.

Một con đường thứ ba để lên núi là thông qua cơ chế buông bỏ, và do đó, mỗi chúng ta đều có cơ hội tự mình kiểm chứng bản chất tối thượng của Thực tại, vốn là một và như nhau, như được tiết lộ cho nhà huyền môn hay nhà vật lý học. Chúng ta có thể hình dung rằng với mỗi lần buông bỏ, chúng ta lại tiến thêm một bước lên sườn núi. Một số người sẽ leo lên cho đến khi tầm nhìn trở nên tốt hơn và chọn dừng lại ở đó. Những người khác sẽ tiếp tục leo lên cao hơn nữa. Và rồi, sẽ có những người không hài lòng cho đến khi đạt đến Đỉnh cao nhất và tự mình kiểm chứng nó, mặc dù, tại thời điểm đó, không còn cá nhân nào để kiểm chứng bất cứ điều gì, vì nó đã được buông bỏ hoàn toàn.