June 24, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (1)

 

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 


ĐÔI LỜI PHI LỘ CỦA NGƯỜI DỊCH

    Một va chạm nhỏ, một lời nói vô tình có thể làm bùng phát một cơn giận hay phản ứng tiêu cực làm hỏng cả một ngày, thậm chí gây hiểu lầm hay phá hỏng quan hệ được vun đắp trong suốt nhiều năm. Gia đình nào cũng thường xảy ra những giận dữ, trách móc mà nguyên nhân chỉ là những chuyện rất vụn vặt. Trong xã hội thì càng khủng khiếp hơn: bạo lực học đường, các em học sinh có thể đánh bạn đến mức phải nhập viện, thậm chí chết người; một va chạm nhỏ trên đường phố cũng có thể trở thành một trận cuồng phong với nhiều người tham gia…

    Trong nhiều năm, người viết những dòng này luôn luôn tự hỏi: Vì sao lại có quá nhiều bạo lực đến như thế? Phải chăng đó là căn tính dân tộc, hay áp lực thời hiện đại, hay đạo đức quá suy đồi… Tất cả đều có thể. Nhưng sau khi đọc cuốn sách này, tôi ngộ ra rằng: Chúng ta đã kìm nén và ức chế quá nhiều cảm thọ/cảm xúc tiêu cực. Mỗi người dường như đều là những cái nồi áp suất, chỉ đợi điều kiện để xì hơi ra. Hiện tượng bên ngoài chỉ là cái cớ. Nguyên nhân nằm ở bên trong mỗi người.

    Cho nên, tôi không coi đây là bản dịch thuần túy, mà coi quá trình dịch là soi chiếu Tâm thức của chính mình, nói chữ là tự tu tâm tính của mình; đồng thời tôi còn so sánh với một số truyền thống tôn giáo của phương Đông để chú giải các thuật ngữ do một học giả phương Tây biên soạn.

    Cũng có suy nghĩ rằng dường như người phương Tây ít kìm nén cảm xúc hơn người phương Đông. Cụ thể, họ thường nói: “Thank You” hay “Sorry”, họ đỡ cánh cửa cho người đi sau, hay gặp nhau ở hành lang hoặc trong thang máy người ta thường nói: “Good Morning”… đây có thể đều là những cái van xả “áp”.

    Dù sao mặc lòng, buông bỏ các cảm thọ khi nó vừa sinh khởi là biện pháp vô cùng hữu hiệu, nó khác với chữa trị sau khi đã xảy ra xung đột, đã bị trầm cảm hay bị bệnh, vì nó xử lý căng thẳng ngay từ gốc rễ. Đáng tiếc là hiện nay, các nhà xuất bản không còn mặn mà với việc xuất bản những cuốn sách kiểu này nữa, nhưng người viết những dòng này cho rằng: Xử lý cảm xúc nên trở thành môn học chính khóa ngay từ các bậc học phổ thông, mà nếu không được coi là chính khóa thì cũng là ngoại khóa bắt buộc.

    Rất mong các Friends trên cõi Face lan tỏa cuốn sách cực kỳ có ích này tới càng nhiều bạn bè thì càng tốt. Xin cảm ơn.

LỜI GIỚI THIỆU

     Cuốn sách này cung cấp cơ chế giúp khai mở những khả năng bẩm sinh của chúng ta để có được hạnh phúc, thành công, sức khỏe, an lành, trực giác, yêu thương (love[i]) vô điều kiện, vẻ đẹp, an bình nội tâm và sức sáng tạo. Những trạng thái và khả năng này vốn có sẵn trong mỗi người chúng ta. Chúng không phụ thuộc vào bất kỳ hoàn cảnh bên ngoài hay đặc tính cá nhân nào; chúng không đòi hỏi phải tin vào bất kỳ hệ thống tôn giáo nào. Không một nhóm người hay hệ thống duy nhất nào sở hữu an bình nội tâm, vì nó thuộc về linh hồn (spirit[ii]) của con người, đấy là do cội nguồn của chúng ta. Đây là thông điệp phổ quát của tất cả các đạo sư, giác giả và thánh nhân vĩ đại: “Vương quốc của Đức Chúa Trời ở trong bạn.” Tiến sĩ Hawkins thường nói, “Điều bạn đang tìm kiếm không khác Đại Ngã (Self[iii]) của bạn.”

Làm sao lại khó vươn tới một cái gì đó vốn là bẩm sinh trong chúng ta—một phần không thể thiếu của hiện hữu chân thực (true being[iv]) của chúng ta? Nếu chúng ta đã được ban tặng hạnh phúc thì vì sao lại có nhiều bất hạnh đến như thế? Nếu “thiên đường” ở trong chúng ta, thì vì sao chúng ta thường “cảm thấy địa ngục”? Làm sao để chúng ta có thể thoát khỏi vũng lầy của trạng thái bất an, cái làm cho hành trình tìm kiếm an bình nội tâm của chúng ta dường như là gian nan, giống như mật mía chảy ngược dốc trong một ngày lạnh giá? Thật tuyệt vời khi nghe người ta nói rằng an bình, hạnh phúc, niềm vui, yêu thương và thành công là những điều vốn có trong linh hồn của con người. Nhưng còn tất cả tức giận, buồn bã, tuyệt vọng, phù phiếm, ghen tị, lo lắng và những phán xét nhỏ nhặt hàng ngày làm lu mờ âm thanh tĩnh lặng tinh khiết bên trong chúng ta thì sao? Liệu có thực sự có biện pháp rũ bỏ vũng lầy này và trở thành con người tự do? Nhảy múa với niềm vui không bị cản trở? Yêu thương tất cả mọi sinh linh? Sống trong sự vĩ đại của mình và phát huy hết tiềm năng cao nhất? Trở thành một kênh dẫn của ân phước và vẻ đẹp trên thế gian này?

Trong cuốn sách này, Tiến sĩ Hawkins trình bày con đường dẫn đến tự do mà chúng ta khao khát nhưng lại khó vươn tới. Dường như như vươn tới một nơi nào đó đó bằng cách “buông bỏ” nghe như trái ngược với trực giác; tuy nhiên, ông chứng thực từ những trải nghiệm, cả lâm sàng lẫn cá nhân, rằng buông bỏ (surrender[v]) là con đường chắc chắn nhất để đưa người ta đến viên mãn trọn vẹn.

Nhiều người trong chúng ta được nuôi dạy với quan niệm cho rằng thành tựu trên thế gian và thậm chí cả trong lĩnh vực tâm linh tương liên với “lao động chuyên cần”, “cố gắng hết sức mình”, “sống bằng mồ hôi nước mắt”, và những châm ngôn khắt khe khác được thừa hưởng từ nền văn hóa thấm đẫm tinh thần cùa đạo đức Tin Lành. Theo quan điểm này, muốn thành công thì phải đau khổ, vất vả và nỗ lực: “không đau khổ thì không có thành quả”. Nhưng tất cả nỗ lực và đau khổ đó đã đưa chúng ta tới đâu? Chúng ta có an bình thực sự và sâu sắc hay không? Không. Vẫn còn đó mặc cảm tội lỗi bên trong, dễ bị tổn thương trước những lời chỉ trích của người khác, vẫn khao khát được trấn an, và oán hận trói buộc chúng ta.

Nếu bạn đang đọc cuốn sách này, có lẽ bạn đã đạt tới giới hạn của mình khi sử dụng cơ chế nỗ lực. Có lẽ bạn đã nhận ra rằng càng kéo sợi dây để buộc mình vào nơi mình muốn đến, sợi dây càng trở nên rối bời và sờn rách. Có thể bạn đang tự hỏi, “Liệu có cách nào dễ dàng hơn, nhưng tốt hơn không?” Bạn có sẵn sàng buông bỏ (to let go[vi]) sợi dây đó không? Sẽ như thế nào nếu sử dụng cơ chế buông bỏ thay vì cơ chế nỗ lực?

Tôi có thể chia sẻ trải nghiệm của một người có trình độ học vấn cao, đã thử nhiều phương pháp tự sửa mình khác nhau. Mặc dù thành công trong sự nghiệp, nhưng vẫn có những vấn đề về thể chất và cảm xúc dường như không bao giờ được cải thiện và cuối cùng đã đến điểm bùng phát. Cuộc gặp với Tiến sĩ David R. Hawkins và những tác phẩm của ông đã tạo ra hiệu ứng chữa lành bất ngờ và mạnh mẽ.

Lúc đầu, tôi đã hoài nghi. Sau khi đã tìm hiểu nhiều con đường tâm linh, triết học và tôn giáo khác nhau mà không đạt được kết quả như ý hoặc chỉ mang lại kết quả tạm thời, tôi bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm của Tiến sĩ Hawkins với suy nghĩ, “Có lẽ cũng sẽ giống như những người khác mà thôi.” Tuy nhiên, người tìm kiếm trong tôi nói: “Mình cứ thử xem. Có mất gì đâu?” Vì vậy, tôi đã đọc cuốn Power vs. Force: Trường năng lượng và những yếu tố ẩn quyết định hành vi của con người. Khi đọc xong cuốn sách này, tôi ngộ (realization[vii]) ra rằng: “Mình đã trở thành một người khác so với lúc cầm cuốn sách này lên.” Đó là năm 2003. Giờ đây, nhiều năm sau, hiệu ứng mang tính xúc tác vẫn đang tác động đến tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống của tôi.

Điều cuối cùng đã thuyết phục tôi về sự thật trong công trình của ông chính là những sự chuyển hóa trong chính tâm thức của tôi, cả về phương diện vật lý lẫn phi vật lý. Có những bằng chứng mang tính thực nghiệm mà tôi không thể phủ nhận: chữa lành chứng nghiện mà trước đây tôi không thể vượt qua, mặc dù đã có nhiều nỗ lực chân thành; thoát khỏi một số dị ứng (lông thú cưng, cây thường xuân độc, nấm mốc, sốt cỏ khô); buông bỏ những oán hận kéo dài, cùng với khả năng nhìn thấy những món quà được dấu kín trong những tổn thương của cuộc đời mà tôi đã trải qua; giảm bớt một số sợ hãi kéo dài suốt đời và chứng rối loạn lo âu tạo ra những hạn chế nghiêm trọng trong sự nghiệp và cuộc sống cá nhân của tôi; giải quyết một số xung đột nội tâm liên quan đến chấp nhận chính mình và mục đích của cuộc đời. Chính tôi và cả những người xung quanh tôi đều nhận thấy một cách cụ thể những bước đột phá lớn lao này, ở cả tầng vật lý và phi vật lý. Họ thường hỏi: “Bạn giải thích sự chuyển hoá này như thế nào?” Giờ đây, nếu gặp câu hỏi đó, tôi sẽ đề nghị họ đọc cuốn sách mới này, Letting Go: The Pathway of Surrender. (Để nó đi qua: Con đường của phó thác). Cuốn sách này trình bày những phương pháp thực tiễn của quá trình chuyển hoá nội tâm mà tôi đã trải nghiệm khi đọc những cuốn sách xuất bản trước đó của Tiến sĩ David Hawkins.

Để nó đi qua: Con đường của phó thác cung cấp cho chúng ta bản đồ dẫn đến một đời sống tự do hơn cho bất kỳ người nào sẵn sàng thực hiện cuộc hành trình. Nếu bạn áp dụng các nguyên tắc được mô tả trong cuốn sách này thì đời sống của bạn sẽ thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn. Không khó hiểu hay khó thực hiện. Không tốn kém gì hết. Không yêu cầu trang phục đặc biệt hay phải đi đến một đất nước xa xôi nào. Yêu cầu chính cho hành trình này là sẵn sàng buông bỏ chấp trước (attachment[viii]) vào những trải nghiệm trong cuộc sống hiện nay của bạn.

Như Tiến sĩ Hawkins giải thích, một phần “nhỏ” trong chúng ta chấp trước vào những thứ quen thuộc, dù nó có đau đớn hay kém hiệu quả đến mức nào. Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng tự ngã của chúng ta với chữ “s” viết thường thực sự thích một đời sống nghèo nàn và tất cả những tiêu cực đi kèm với nó: cảm thọ (feeling[ix]) không xứng đáng, bị phủ nhận, phán xét người khác và chính mình, tự cao tự đại, luôn luôn “thắng” và “đúng”, đau buồn về quá khứ, sợ hãi về tương lai, nuôi dưỡng vết thương, khao khát sự chắc chắn, và tìm kiếm tình yêu thay vì ban phát.

Liệu chúng ta có sẵn sàng tưởng tượng một cuộc sống mới cho chính mình, với đặc điểm là thành công một cách dễ dàng, không còn oán hận, biết ơn tất cả những gì đã từng xảy ra với chúng ta, có cảm hứng, yêu thương, niềm vui, những giải pháp mà hai bên cùng có lợi, hạnh phúc và thể hiện một cách sáng tạo? David Hawkins nói với chúng ta, một trong những trở ngại lớn nhất đối với hạnh phúc, là tin rằng hạnh phúc là không thể: “Chắc chắn phải có điều gì đó không ổn”; “Điều đó quá tốt, không thể là sự thật được”; “Nó có thể xảy ra với người khác nhưng không phải với tôi.”

Món quà mà một Đạo sư như David R. Hawkins mang đến cho chúng ta là: ta có thể nhìn thấy và trực tiếp trải nghiệm hiện hữu CHÍNH LÀ niềm hạnh phúc ấy; CHÍNH LÀ niềm hoan lạc vô biên ấy; CHÍNH LÀ sự bình an bất khả xâm phạm ấy. Cuốn sách được chấp bút vì chính ông đã trải nghiệm Sức mạnh đích thực (power[x]) của cơ chế mà nó mô tả. Việc đọc về và được ở bên cạnh một con người đã giải thoát như thế cho chúng ta chất xúc tác, niềm hy vọng và sự khởi đầu cho hành trình nội tâm của chính mình. Và vì vậy, mặc dù tự ngã nhỏ bé hoài nghi, vẫn có đó Đại Ngã đang vẫy gọi chúng ta. Trước tiên, chúng ta có thể nghe thấy tiếng gọi đó từ một tâm thức cao cấp như Tiến sĩ Hawkins, một người thầy, một người hướng dẫn, hoặc một giác giả đã chứng ngộ Đại Ngã. Sau đó, khi chúng ta có những trải nghiệm riêng của mình về sự thật, chữa lành và mở rộng, chúng ta nghe thấy tiếng gọi đó đến từ một nơi sâu thẳm ở bên trong. “Đại Ngã của sư phụ và Đại Ngã của đệ tử là một và như nhau,” Tiến sĩ Hawkins nói.

Ông phát phóng những sự thật của cuốn sách này. Là một người tìm kiếm nghiêm túc, nhận thấy phần lớn các tác phẩm tâm linh đương đại là khá hời hợt, tôi muốn xác minh tính xác thực của tác phẩm này. Quan trọng nhất là phải biết: tác giả có nói từ Chứng ngộ nội tâm thực sự hay không? Câu trả lời là “Có!” Những quan sát kỹ lưỡng được thực hiện trong nhiều năm phỏng vấn và thăm viếng xác nhận trạng thái cao cấp này. Trong cuốn sách này, ông nhắc nhở chúng ta về quy luật của tâm thức (consciousness[xi]): Tất cả chúng ta đều được kết nối ở tầng năng lượng, và rung động cao hơn (như yêu thương) tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến rung động thấp hơn (như sợ hãi). Tôi cảm nhận được sự thật của quy luật này mỗi khi ở bên ông; trường năng lượng của ông truyền tải tình yêu chữa lành và an bình sâu sắc. Như ông giải thích trong cuốn sách này, những trạng thái cao hơn này luôn sẵn có cho tất cả chúng ta, bất cứ lúc nào.

Cho dù chúng ta đang ở đâu trong cuộc đời này, cuốn sách sẽ soi sáng “bước tiếp theo”. Cơ chế buông bỏ mà Tiến sĩ Hawkins mô tả có thể áp dụng cho toàn bộ hành trình nội tâm: từ buông bỏ những oán hận thời thơ ấu đến sự buông bỏ cuối cùng, buông bỏ chính bản ngã. Do đó, cuốn sách này có ích như nhau cho các chuyên gia quan tâm đến thành công trên thế gian này, có ích cho thân chủ đang trị liệu tìm cách chữa lành các vấn đề cảm xúc, cho bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh và người tìm kiếm tâm linh tận tâm hướng đến Chứng ngộ. Ông khuyên tất cả chúng ta: bước đi quan trọng là thừa nhận rằng chúng ta có những cảm thọ tiêu cực như là hệ quả của thân phận con người, và sẵn sàng nhìn nhận chúng mà không phán xét. Trạng thái nhận thức phi nhị nguyên (non-dual awareness[xii]) cao hơn có thể là mục tiêu của chúng ta. Nhưng làm sao xử lý cái “tự ngã nhỏ bé” nhị nguyên dai dẳng muốn chúng ta nhìn nhận bản thân mình là “tốt hơn” hay “tệ hơn” người khác?

Trong mười cuốn sách trước đó, Tiến sĩ Hawkins đã mô tả trạng thái phi nhị nguyên của Chứng ngộ với nhận thức (awareness[xiii]) thuần khiết hiếm có. Như ông nói một cách hài hước khi bắt đầu nhiều bài giảng: “Chúng ta bắt đầu từ điểm cuối”. Thật vậy, trong các bài giảng và sách của mình, ông đã làm sáng tỏ triệt để những trạng thái tâm thức cao nhất, là đỉnh cao của quá trình tiến hóa nội tâm của con người.

Giờ đây, trong cuốn sách được xuất bản vào những năm cuối đời, ông đưa chúng ta trở lại điểm xuất phát chung: thừa nhận sự tồn tại của tự ngã nhỏ bé. Chúng ta phải bắt đầu từ nơi mình đang đứng để đến được nơi mình muốn đến! Nếu chúng ta muốn đi từ đây đến đó, chúng ta sẽ không đến nơi nhanh hơn nếu tự lừa dối mình và nói rằng mình đang bắt đầu từ gần đó. Bằng cách nghĩ rằng mình gần mục tiêu hơn thực tế, chúng ta thực sự làm cho hành trình trở thành dài hơn. Như ông giải thích trong cuốn sách này, cần có can đảm và trung thực với chính mình để nhìn thấy cái tiêu cực và nhỏ bé trong con người mình. Chỉ khi chúng ta có thể thừa nhận cái tiêu cực mà mình thừa hưởng từ bản chất con người, chúng ta mới có khả năng buông bỏ và được giải thoát khỏi nó. Chỉ cần sẵn sàng thừa nhận và chấp nhận phần đó trong trải nghiệm của con người. Bằng cách chấp nhận nó, chúng ta có thể siêu việt nó - Tiến sĩ Hawkins chỉ cho chúng ta con đường.

Trong cuốn sách có tính thực tiễn cao này, ông làm sáng tỏ kỹ thuật giúp chúng ta siêu việt tự ngã nhỏ bé và vươn tới tự do mà chúng ta hằng mong ước. Ông nói, trạng thái tự do nội tâm và hạnh phúc thuần khiết này là “quyền bẩm sinh” của chúng ta. Khi đọc, chúng ta được khích lệ và truyền cảm hứng từ những ví dụ lâm sàng thực tế mà ông chia sẻ từ nhiều thập kỷ hành nghề tâm thần học của mình. Trong mỗi trường hợp, chúng ta đều thấy sức mạnh của phó thác được áp dụng vào hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống: các mối quan hệ, sức khỏe thể chất, môi trường làm việc, hoạt động giải trí, quá trình tâm linh, đời sống gia đình, tình dục, chữa lành cảm xúc và cai nghiện.

Chúng ta học được rằng câu trả lời cho những vấn đề mà mình đang gặp nằm trong chính chúng ta. Bằng cách buông bỏ những rào cản nội tâm (inner blocks[xiv]), sự thật của Đại Ngã bên trong sẽ tỏa sáng và con đường dẫn đến an bình sẽ được mặc khải. Các bậc thầy tâm linh khác cũng nhấn mạnh rằng vun đắp an bình nội tâm là giải pháp thực sự duy nhất để giải quyết những khó khăn cá nhân, cũng như các xung đột tập thể: “Trước hết, hãy giải trừ vũ khí ở bên trong, sau đó mới đến giải trừ vũ khí ở bên ngoài” (Đức Đạt Lai Lạt Ma); “Hãy là sự thay đổi mà bạn muốn thấy trên thế gian này” (Gandhi). Ý nghĩa rất rõ ràng. Vì tất cả chúng ta đều là một phần của toàn thể, khi chúng ta chữa lành điều gì đó trong chính mình, là chúng ta cũng chữa lành điều đó cho thế giới. Mỗi tâm thức cá nhân được kết nối với tâm thức tập thể ở tầng năng lượng; do đó, chữa lành cá nhân dẫn đến chữa lành tập thể. Tiến sĩ Hawkins có thể là người đầu tiên tìm cách hiểu nguyên tắc này dưới góc độ ứng dụng khoa học và lâm sàng. Mấu chốt là: bằng cách thay đổi chính mình, chúng ta thay đổi thế giới. Khi chúng ta trở thành yêu thương hơn từ bên trong, chữa lành sẽ diễn ra ở bên ngoài. Giống như mực nước biển dâng cao nâng tất cả các con tàu, thì sự toả sáng của yêu thương vô điều kiện trong trái tim mỗi người cũng nâng đỡ toàn bộ sự sống. 

**** 

Tiến sĩ David R. Hawkins là một tác giả, bác sĩ tâm thần, bác sĩ lâm sàng, đạo sư tâm linh và nhà nghiên cứu tâm thức nổi tiếng thế giới. Chi tiết về cuộc đời phi thường của ông được trình bày trong phần “Về tác giả” ở cuối sách. Tác phẩm độc đáo này của ông tỏa sáng từ một suối nguồn của tâm từ bi phổ quát và tận hiến cho việc giảm bớt đau khổ trong mọi khía cạnh của cuộc đời. Món quà mà tác phẩm của Tiến sĩ Hawkins mang lại cho quá trình tiến hóa của nhân loại vượt xa những gì có thể diễn tả bằng lời.

Trạng thái Chứng ngộ là trọn vẹn hoàn toàn trong phúc lạc, đến mức người đó sẽ không bao giờ rời bỏ nó trừ khi hoàn toàn hiến dâng tình yêu cho Thiên Chúa và cho đồng loại, để chia sẻ món quà mà mình được ban tặng. Cuốn sách này và tất cả các tác phẩm của ông trên thế gian này nói về buông bỏ là kết quả của sự hiến dâng đó. Như bạn sẽ thấy trong một chương của cuốn sách này, phó thác sâu sắc tạo điều kiện để ông khôi phục lại tâm thức cá nhân để hoàn thành những cam kết trên thế gian này. Trạng thái một thể (oneness[xv]) không thể mất đi hay bị bỏ rơi, nhưng tình yêu phi thường phải được hướng đến thách thức của việc diễn đạt bằng lời điều không thể diễn đạt. Bạn sẽ nhận thấy rằng một số đại từ của ông không phù hợp với quy tắc ngữ pháp—ví dụ, “cuộc sống của chúng ta”—nhưng chúng phản ánh đúng trải nghiệm về một trạng thái tâm linh thấu hiểu sự hợp nhất vô ngã của tất cả sự sống. Việc Tiến sĩ Hawkins quay trở lại với thế giới logic và ngôn từ để chia sẻ “Bản đồ Tâm thức” với chúng ta—để chúng ta cũng có thể hoàn thành vận mệnh của mình—nói lên rất nhiều về tình yêu vị tha của ông dành cho nhân loại. Bằng cách chỉ cho chúng ta con đường giải thoát, Tiến sĩ Hawkins cho chúng ta cơ hội vươn tới điều đó.

 

Cảm ơn Tiến sĩ Hawkins vì món quà của phó thác hoàn toàn này.

 

Fran Grace, Tiến sĩ, biên tập viên.

Giáo sư Nghiên cứu Tôn giáo và

Người quản lý Phòng Thiền

Đại học Redlands, California

Giám đốc Sáng lập, Viện

Đời sống Chiêm nghiệm

Sedona, Arizona

Tháng 6 năm 201


 

 

 



[i] Love (Tình yêu / Yêu thương): Ngôn từ thế gian thường hiểu “Tình yêu” gắn liền với các trạng thái của bản ngã như sở hữu, kiểm soát và sợ mất. Đây là trạng thái nằm dưới tầng 500 trên thang đo tâm thức của David Hawkins.

Ở tầng cao hơn, “Yêu thương vô điều kiện” (Unconditional love) là yêu thương vì sự hiện hữu của đối tượng, không phụ thuộc vào phẩm chất của chính đối tượng; ví dụ dễ thấy nhất là người mẹ tới thăm người con bị tù đày — dù anh ta đã làm gì thì mẹ anh vẫn thương yêu anh chẳng khác gì đứa trẻ thuở đầu đời. Nhưng người mẹ vẫn còn mong muốn, ví dụ con sẽ cải tạo tốt, được giảm án..v..v. Đây là trạng thái nằm trên tầng 540 trên thang đo tâm thức của David Hawkins.

Còn một tầng nữa, mà các truyền thống tâm linh phương Đông thường sử dụng là “Từ bi” (Compassion) để chỉ trạng thái thuần khiết hơn — tình thương vô vị kỷ, không phân biệt đối xử và không đòi hỏi đền đáp. Theo các bậc tu hành, từ bi không phải là sự yếu đuối hay cảm thương ủy mị, mà là nguồn sức mạnh vĩ đại được xây dựng trên nền tảng của sự thấu hiểu và trí tuệ. Đây là trạng thái nằm từ tầng 600 trở lên trên thang đo tâm thức của David Hawkins.

Trong bản dịch này, tùy vào ngữ cảnh, Love sẽ được chuyển ngữ linh hoạt thành “Tình yêu” (khi nói về trạng thái cảm xúc trong hệ nhị nguyên) hoặc “Yêu thương” (khi mô tả trường năng lượng vô điều kiện, vô vị kỷ).

[ii] Trong bản dịch này, thuật ngữ Spirit được chuyển ngữ linh hoạt thành Tinh thần, Tâm linh hoặc Tánh linh tùy theo ngữ cảnh.  1. Tinh thần (Spirit - thuộc phạm vi tâm trí Mind/Mental). Phạm vi: Dưới tầng 500 (Đặc biệt là các tầng 400 - Lý trí). Bản chất: Liên quan đến tư duy, thái độ, ý chí cá nhân. Nó vẫn nằm trong sự cưỡng ép của “Bạo lực - Force” hoặc sự nỗ lực của bản ngã. Ví dụ: Tinh thần trách nhiệm, tinh thần cầu tiến. Đây là cách tâm trí vận hành để định hướng cuộc sống. 2. Tâm linh (Spirituality/Spiritual Dimension). Phạm vi: Từ tầng 500 trở lên (Tình yêu vô điều kiện, Minh triết). Bản chất: Là chiều kích thực tại phi tuyến tính. Khi nói về “Đời sống tâm linh”, chúng ta đang nói về sự kết nối với Một thể (Oneness), nơi Sức mạnh đích thực (Power) bắt đầu thay thế cho Bạo lực (Force). 3. Tánh linh (Spirit - thuộc phạm vi Bản thể (Essence/Beingness)). Phạm vi: Trạng thái phi hình tướng, các tầng cực cao hoặc trải nghiệm thực chứng trực tiếp. Bản chất: Là Bản thể gốc, cái thực thể thuần khiết thoát ly khỏi sự định nghĩa của thân xác và tâm trí. Ứng dụng: Dùng khi mô tả Spirit như một "chủ thể" phi vật chất (như khi Hawkins đi xuyên tường). Nó không phải là một “thái độ” (Tinh thần), cũng không chỉ là một “chiều kích” (Tâm linh), mà chính là Đại ngã chân thực đang trải nghiệm sự tự do.

[iii] Self (Đại ngã/Chân ngã, chữ S viết hoa) tương đồng hoàn toàn với khái niệm Bản lai diện mục (Mặt mũi xưa nay) trong Thiền tông. Nói ngắn gọn: Đó là bản thể gốc rễ của bạn trước khi bị suy nghĩ, cảm xúc và bản ngã che lấp — là cái thực tại thuần túy vẫn luôn ở đó, chưa từng sinh ra và cũng không bao giờ mất đi. Còn self (s viết thường) là tự ngã với bản chất là một tập hợp các ảo tưởng, thói quen suy nghĩ, cảm thọ và ký ức mà chúng ta lầm tưởng là “chính mình”. Nó là một cấu trúc của tâm trí dựa trên sự tách biệt (tôi và thế giới). Đặc điểm: Luôn đòi hỏi, sợ hãi, phán xét và bị giới hạn bởi thời gian. Nó hoạt động bằng Bạo lực thay vì Sức mạnh đích thực và là rào cản chính ngăn cản chúng ta nhận ra Đại Ngã. Tóm lại: Nếu Self là bầu trời vĩnh cửu, thì self chỉ là những đám mây trôi nổi, luôn biến đổi và che lấp ánh mặt trời.

[iv] True Being - trong bản dịch này không chỉ mang nghĩa “bản thể” theo triết học, mà chỉ trạng thái Hiện hữu chân thực vốn có của con người trước khi bị đồng hóa với bản ngã, ký ức và các cấu trúc tâm lý. Khái niệm này gần với: “Chân ngã” trong một số truyền thống tâm linh, “Phật tính” trong Phật giáo Đại thừa, hoặc trạng thái “I Am” thuần khiết trước mọi định danh cá nhân. Tuy nhiên, “True Being” không nên bị hiểu như một “cái tôi cao cấp hơn”, mà là chính nền tảng Hiện hữu tĩnh lặng, sáng tỏ và vô điều kiện nằm phía sau mọi trải nghiệm của bản ngã. Trong nhiều trường hợp, thuật ngữ này được chuyển ngữ linh hoạt là: Chân thể, Hiện hữu chân thực, Bản thể chân thật, Chân tính, tùy theo văn cảnh. True Being không phải là một khái niệm để suy nghĩ về, mà là một trạng thái để trực nhận.

[v] Surrender/surrender to - Trong ngữ cảnh tâm linh, surrender thường được dịch là buông bỏ/phó thác. Ở đây, nó chỉ sự từ bỏ khuynh hướng kiểm soát của bản ngã, không còn cố chấp giữ lấy ý muốn riêng của mình. Tuy nhiên, khi động từ này đi kèm với giới từ “to” (surrender to), ý nghĩa trở nên rõ ràng và tích cực hơn. Lúc này, nó không chỉ đơn thuần là buông bỏ, mà là “phó thác” — tức là trao mình cho một Thực tại cao hơn. Vì vậy trong bản dịch này: surrender → buông bỏ; surrender to → phó thác (cho…). Trong nhiều truyền thống tâm linh, trạng thái này thường được diễn đạt giản dị là: “để cho Trời quản,” “để cho Thiên Chúa lo liệu,” hoặc “để Sư phụ an bài.” Ý nghĩa cốt lõi không phải là thái độ thụ động hay buông xuôi, mà là tin cậy sâu sắc, khi cái tôi cá nhân lắng xuống và con người thuận theo sự dẫn dắt của trí tuệ hay ý định cao hơn.

[vi] To let go/letting go - Trong nhiều bản dịch tâm linh, letting go thường được dịch là “buông bỏ.” Tuy nhiên, cách hiểu thông thường của “buông bỏ” dễ gợi cảm giác rằng ta đang nắm giữ một điều gì đó rồi chủ động thả nó ra. Trong kinh nghiệm thực hành nội tâm, ý nghĩa của letting go lại tinh tế hơn. Nó không phải là một hành động cố ý “buông”, mà gần với việc không bám giữ, để cho mọi cảm xúc, ý nghĩ hay trạng thái tự nhiên đi qua. Vì vậy, có thể hiểu letting go trong thực hành như là “cho nó đi qua.” Tâm khi ấy giống như tấm gương: có vật thì có hình, vật đi qua thì hình tự mất. Không cần xua đuổi, cũng không cần giữ lại. Do đó, trong bản dịch này “letting go” vẫn được dùng là “buông bỏ”, nhưng người đọc nên hiểu rằng đó không phải là gắng sức để buông, mà là không nắm giữ – để mọi hiện tượng tự nhiên đi qua trong nhận biết. Trong các giáo lý Phật giáo chúng ta có thể thấy thuật ngữ đồng nghĩa là “xả/xả bỏ”. “Buông bỏ” KHÔNG phải là làm cho cảm xúc biến mất. Mà là không còn chống lại việc nó đang tồn tại. Letting Go không phải là cuốn sách thay đổi thế giới, nhưng nếu đủ người thực hành nó, thế giới xung quanh họ sẽ tự nhiên trở nên nhẹ nhàng hơn.

Trong các truyền thống tôn giáo phương Đông tha thường nghe nói: “Bất động tâm trước thất tình lục dục”. Liên quan giữa “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” và “Bất động tâm trước thất tình lục dục” chính là quan hệ giữa Phương pháp (Hành động) và Kết quả (Trạng thái). Nếu “Bất động tâm” là cái đích đến của tâm trí tự tại, thì “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” chính là chiếc chìa khóa kỹ thuật để mở cánh cửa đó.

Liên hệ này thể hiện rõ qua cấu trúc vận hành của Tâm thức như sau:

1. Bản chất của “Cảm thọ” và “Thất tình lục dục”

Để thấy rõ mắt xích liên hệ, ta cần nhìn vào tiến trình vi tế khi tâm trí tương tác với thế giới:

Lục dục (Sáu ham muốn): Khi sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, ý nghĩ).

Cảm thọ (Feeling): Một cảm thọ sẽ xuất hiện trên thân và tâm (dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính) ngay lập tức. Đây là lúc “cảm thọ sinh khởi”.

Thất tình (Bảy trạng thái cảm xúc): Nếu ta đồng nhất mình với cảm thọ đó, bản ngã sẽ nhảy vào cấu xé: dính mắc vào cái dễ chịu (mừng, thương, vui) hoặc phản kháng cái khó chịu (giận, buồn, sợ, ghét). Bảy cảm xúc này chính là các hệ lụy của tâm trí nhị nguyên.

2. Cơ chế liên quan: Cắt đứt chuỗi phản ứng dây chuyền

Khi thực hiện việc “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi”, là ta đang thực hiện một cú cắt xung lực ngay từ gốc rễ: [Tiếp xúc] [Sinh khởi Cảm thọ] (Cắt tại đây) [Thất tình không thể hình thành]. Để nó đi qua (Letting go) ở tầng vi tế: Khi một cơn giận hay một ham muốn (lục dục) vừa chớm xuất hiện dưới dạng một áp lực hay một cảm thọ trên thân thể, người tỉnh thức không đè nén, không nuôi dưỡng nó bằng suy nghĩ, mà chỉ đơn giản là nhận biết và để nó đi qua.

Hệ quả là “Bất động tâm”: Vì cảm thọ vừa sinh khởi đã bị hóa giải, nó không đủ năng lượng để phát triển thành một cơn bão cảm xúc (thất tình). Tâm trí không bị kéo đi, không bị dao động. Đó chính là trạng thái Bất động tâm.

Góc nhìn định chuẩn (Hawkins): Việc chấp trước vào “thất tình lục dục” giữ tâm thức lẩn quẩn ở các tầng năng lượng dưới tầng 200 (Sợ hãi, Khao khát, Giận dữ). Kỹ thuật “buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” là hành động liên tục xả bỏ các áp lực năng lượng thấp. Khi các trường năng lượng mang tính tiêu hao này không còn chỗ bám víu, tâm thức tự động định vị ở tầng từ 500 trở lên — tĩnh lặng và Bất động tâm (tầng 600 - An bình/An lạc) trở thành trạng thái tự nhiên, không cần nỗ lực cưỡng ép.

Nói tóm lại, “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” chính là tiến trình hành động trong từng khoảnh khắc (vi mô) để duy trì cái gốc của “Tâm bất động” trước mọi biến động của thế gian (vĩ mô).

[vii] Realization – Ngộ/Thể ngộ: là sự trực nhận nội tâm về một chân lý vốn đã hiện hữu. Đây không phải là suy luận tri thức hay lý giải kinh văn, mà là sự “thấy ra” một cách tức thời.

[viii] Attachment – Chấp trước. Chấp trước là trạng thái tâm khi con người bám víu vào một đối tượng, một ý niệm hay một cảm xúc, và tin rằng mình không thể sống an ổn nếu thiếu nó. Khi ấy, tâm không còn tự do; nó bị ràng buộc bởi nhu cầu phải giữ lấy, đạt được, hoặc bảo vệ điều mình bám víu. Chấp trước có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: chấp trước vào vật chất (tiền bạc, tài sản, địa vị); chấp trước vào tình cảm (muốn người khác phải yêu thương, công nhận mình); chấp trước vào quan điểm và niềm tin (không chấp nhận ý kiến khác); chấp trước vào hình ảnh về bản thân (muốn mình luôn đúng, luôn tốt, luôn được đánh giá cao). Điểm chung của mọi chấp trước là: tâm trở nên phụ thuộc. Khi điều mình bám víu được duy trì, ta cảm thấy vui; khi nó bị mất, bị đe dọa hoặc không đạt được, tâm lập tức sinh ra lo lắng, tức giận, sợ hãi hoặc đau khổ. Vì vậy, chấp trước chính là một trong những nguồn gốc của đau khổ. Trên con đường tu luyện, nhận ra chấp trước là một bước quan trọng. Điều cần làm không phải là cưỡng ép loại bỏ mọi thứ trong đời sống, mà là thấy rõ sự bám víu của tâm. Khi quan sát đủ sâu, ta nhận ra rằng những đối tượng mình chấp trước vốn vô thường và không thật sự thuộc về mình. Sự nhận ra này giúp tâm dần buông lỏng, không còn bị kéo đi bởi những ham muốn hay sợ hãi. Khi chấp trước giảm bớt, tâm trở nên nhẹ nhàng, tự do và rộng mở hơn. Con người vẫn sống, vẫn làm việc, vẫn yêu thương và quan tâm đến người khác, nhưng không còn bị ràng buộc bởi sự bám víu. Chính trong trạng thái ấy, an bình nội tâm mới thật sự xuất hiện.

[ix] Ghi chú về các thuật ngữ Cảm giác – Cảm thọ – Cảm xúc.

Trong tiếng Anh, có ba thuật ngữ thường bị đánh đồng nhưng lại đại diện cho các tầng vận hành hoàn toàn khác nhau của Tâm thức: Sense, Feeling và Emotion.

Để bảo đảm tính chính xác trong việc chuyển tải các trạng thái năng lượng, trong bản dịch này, tôi phân định ranh giới giữa chúng như sau:

Sense - Thuộc tầng vận hành của Sắc uẩn. Đây là cấp độ sinh lý thuần túy, liên quan đến việc tiếp nhận dữ liệu vật lý thông qua ngũ quan như âm thanh, ánh sáng, xúc chạm, mùi vị…

Feeling (Cảm thọ): Gần với Thọ uẩn (Vedanā) trong Phật giáo, đôi khi được dịch là cảm nhận/cảm thấy, tuỳ ngữ cảnh. Đây là sự lĩnh nạp trực tiếp một trạng thái năng lượng đang hiện hữu trong thân–tâm, trước khi tâm trí diễn giải nó thành câu chuyện hay phản ứng tâm lý. Feeling mang tính trực tiếp, nguyên sơ và tương đối “tĩnh” — chẳng hạn như cảm giác nặng nơi ngực, sự co thắt, nóng ran, trống rỗng… Đây cũng là tầng then chốt trong thực hành “để nó đi qua” (letting go).

Emotion (Cảm xúc): Gần với tầng hoạt động của Hành uẩn (Sankhara) — tức các phản ứng tâm lý đã được cấu trúc hóa bởi ký ức, bản ngã, phán xét và diễn giải. Emotion thường gắn với một “câu chuyện” hoặc đối tượng cụ thể; ví dụ, từ một cảm thọ khó chịu ban đầu, tâm trí phát triển thành sự giận dữ đối với một người nào đó.

Để phân biệt Cảm thọ với Cảm xúc, xin xem xét ví dụ sau: Khi bị ai đó xúc phạm, trước tiên có thể xuất hiện một luồng năng lượng nóng, co thắt hoặc áp lực dâng lên trong thân–tâm. Đó là tầng cảm thọ (feeling). Chỉ sau đó, khi tâm trí bắt đầu diễn giải: “Người đó coi thường tôi”, “Tôi phải đáp trả”… thì trạng thái ấy mới trở thành cảm xúc tức giận (emotion). Điểm rất quan trọng trong thực hành buông bỏ của Hawkins là: Người ta thường cố giải quyết emotion, trong khi giải phóng thực sự xảy ra ở tầng feeling.

Bảng đối soát tóm tắt:

Thuật ngữ

Chuyển ngữ

Bản chất

Hệ quy chiếu (Ngũ uẩn)

Sense

Cảm giác/Giác quan

Tiếp nhận dữ liệu vật lý

Sắc uẩn

Feeling

Cảm thọ

Lĩnh nạp năng lượng trực tiếp (Tĩnh)

Thọ uẩn

Emotion

Cảm xúc

Phản ứng của bản ngã & câu chuyện (Động)

Gần với Hành uẩn

 

[x] Power - Sức mạnh đích thực - là sức mạnh nội tại phát sinh từ sự hòa hợp với Sự thật. Đại diện cho các tầng tâm thức từ 200 trở lên. Đây là nguồn năng lượng nội tại, phát sinh từ sự hòa hợp với các nguyên lý vĩnh cửu và Sự thật. Sức mạnh đích thực có tính chất hợp nhất, nuôi dưỡng sự sống và không tạo ra phản lực.

[xi]   Consciousness – Tâm thức. David Hawkins từng giải thích: “Tâm thức là nền tảng bất khả quy giản của tồn tại, vô hình tướng nhưng bao hàm mọi hình tướng. Nó là vô hạn, không có khởi đầu và không có kết thúc. Trường tâm thức, theo một hệ thuật ngữ khác, được gọi là Phật tính hay Tâm của Thiên Chúa (Mind of God). Có thể ví nó như một trường điện từ vô hạn và toàn năng. Mỗi vật đều có vị trí riêng của mình trong trường này, tương tự như một mạt sắt; vị trí của bạn trong trường phụ thuộc vào “điện tích” của bạn — tức là dựa trên những quyết định mà bạn đã chọn lựa. Khi bạn nói: “Tôi tha thứ cho người đó”, bạn dịch chuyển lên cao hơn trong trường này. Còn nếu bạn nói: “Tôi sẽ trả đũa kẻ xấu đó”, bạn dịch chuyển xuống thấp hơn. Rõ ràng, không thể đổ lỗi cho Thiên Chúa hay cho bất kỳ ai khác”.

Như vậy là: Consciousness không chỉ là “ý thức” theo nghĩa tỉnh táo hay thái độ đạo đức. Trong hệ thống của David R. Hawkins, Tâm thức là nền tảng bất khả quy giản của tồn tại — một Trường bản thể vô hình tướng nhưng bao hàm mọi hình tướng, không có khởi đầu và không có kết thúc.

Thang đo từ 0 đến 1.000 không đo các trạng thái tâm lý nhất thời, mà biểu thị vị trí tương đối của cá nhân trong Trường Tâm thức. Vì vậy, Level of Consciousness được dịch là Tầng Tâm thức: “Tầng” ở đây không phải là bậc thang xã hội hay cảm xúc, mà là định vị năng lượng–nhận thức trong cùng một Trường bao trùm.

Mỗi Tầng biểu lộ như một tâm tính đặc trưng — một “cặp kính” qua đó con người trải nghiệm và diễn giải thực tại. Tâm tính vì vậy không chỉ là trạng thái tâm lý cá nhân, mà là một cấu hình năng lượng với tần số rung động đặc thù, quyết định cách một cá nhân nhận thức thực tại và mức độ hòa hợp của họ với Sự thật. Khi thay đổi thói quen tư duy và hành xử hằng ngày, ta có thể dịch chuyển Tầng chủ đạo của mình. Đó chính là tu tâm tính. Nói ngắn gọn: tu tâm dưỡng tính là tiến trình làm sạch và điều chỉnh tâm tính nhằm giảm thiểu những can nhiễu của bản ngã, để Tầng Tâm thức cao hơn — vốn đã hiện diện — có thể biểu lộ rõ ràng hơn.

Tuy có một Tầng chủ đạo, Tâm thức vẫn có thể dao động tùy hoàn cảnh và mức độ trưởng thành nội tâm. Ở các tầng cao nhất (700–1.000), Tâm thức không còn được trải nghiệm như một mức độ, mà như chính bản thể tuyệt đối. Vì lý do nhất quán với hệ thuật ngữ của tác giả, bản dịch này sử dụng “Tâm thức” cho Consciousness và “Tầng” cho Level.

Tâm trí và Tâm thức. Cần phân biệt rõ giữa Tâm trí (Mind) và Tâm thức (Consciousness).

Tâm trí là nội dung: suy nghĩ, cảm xúc, ký ức, hình ảnh — tất cả những gì sinh khởi và thay đổi liên tục. Tâm thức là nền tảng cho phép toàn bộ nội dung ấy xuất hiện.

Tâm thức không phải là một “vật thể” mà ta sở hữu, cũng không phải một bộ phận trong não bộ. Nó là điều kiện tiên quyết của mọi trải nghiệm. Có thể hiểu Tâm thức qua ba tầng nghĩa:

1. Tâm thức như là “Ánh sáng”. Xin hình dung tâm trí như một cuốn phim đang được chiếu. Suy nghĩ và cảm xúc là nội dung của bộ phim. Tâm thức là luồng ánh sáng từ máy chiếu.

Nếu không có ánh sáng, phim không thể hiển lộ. Ánh sáng không đồng nhất với nội dung phim, nhưng độ trong và cường độ của ánh sáng quyết định chất lượng hình ảnh được thấy. Tâm thức vì vậy là nền tĩnh lặng vượt ngoài thời gian, nơi các hiện tượng sinh và diệt.

2. Tâm thức như là “Trường năng lượng”. Tâm thức không nằm trong não bộ. Não bộ — biểu hiện sinh học của Tâm trí — có thể ví nó với thiết bị thu–phát.

Tâm thức là một Trường bao trùm. Mỗi cá nhân định vị ở một Tầng khác nhau trong Trường ấy. Ở mỗi Tầng, mức độ đồng điệu với Sự thật là khác nhau. Tầng càng cao, tâm tính càng trưởng thành; bản ngã càng lùi lại; sự sáng tỏ càng hiển lộ.

3. Tâm thức và Nhận thức/Cái biết (awereness). Ở những Tầng thấp, Tâm thức được trải nghiệm như sự phân biệt giữa “tôi” và “cái kia”. Ở những Tầng rất cao (trên 600), sự phân biệt ấy dần tan biến.

Khi đó, Tâm thức được trải nghiệm như là Cái biết thuần khiết (pure awareness) — nơi người biết và cái được biết không còn là hai. Đó là trạng thái Một thể.

 

Hữu thức – Tiềm thức – Vô thức

Để tránh nhầm lẫn, cần phân biệt rõ các thuật ngữ của tâm lý học hiện đại với hệ thống của David R. Hawkins. Trong tâm lý học, người ta thường nói đến ba tầng của tâm trí: Hữu thức (Conscious), Tiềm thức (Subconscious) và Vô thức (Unconscious). Tuy nhiên, trong hệ thống của Hawkins, toàn bộ các khái niệm này đều thuộc về Tâm trí (Mind) — tức là nội dung của trải nghiệm — chứ không phải Tâm thức (Consciousness).

1. Tâm trí hữu thức là phần ta nhận biết trong khoảnh khắc hiện tại: suy nghĩ, cảm xúc, lựa chọn và chú ý. Nếu ví với máy tính, đây là màn hình hiển thị — nơi các nội dung đang vận hành xuất hiện rõ ràng. Khi ta đang tức giận, yêu thương hay vị tha, ta biết mình đang suy nghĩ và cảm thọ như vậy. Vai trò của tâm trí hữu thức đặc biệt quan trọng trong quá trình tu tập, bởi chỉ thông qua quan sát, ta mới nhận ra các thói quen phản ứng và dần thay đổi “cặp kính” mà mình dùng để nhìn cuộc đời. Tuy vậy, đây chỉ là phần nổi của cấu trúc tâm trí.

2. Bên dưới là tầng tiềm thức — nơi lưu giữ ký ức, cảm thọ bị dồn nén và các phản xạ tự động đã được điều kiện hoá. Nó giống như “ổ cứng cá nhân”, nơi chứa các chương trình vận hành mà ta không cần ý thức mỗi khi sử dụng: lái xe mà không cần suy nghĩ từng thao tác, phản ứng tức giận gần như tự động trước một lời chỉ trích, hay cảm giác lo âu xuất hiện mà không rõ nguyên nhân. Nhiều “chương trình” vận hành đời sống nằm ở tầng này. Khi tiềm thức chứa nhiều nội dung dựa trên sợ hãi, mặc cảm hay phòng vệ, các phản ứng ấy có thể giữ con người ở những tầng tâm thức thấp, vì chúng liên tục tái tạo một cách nhìn méo mó về thực tại. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh: tiềm thức không tự nó quyết định mức độ nhận thức, mà chỉ là một phần của cấu trúc biểu hiện trong trường này mà thôi. Những hành động xảy ra “nhanh hơn suy nghĩ” — như phản xạ phanh xe khi gặp nguy hiểm — thực chất là các chương trình tiềm thức đã được điều kiện hoá, không phải là hành động vô thức; chúng vẫn diễn ra trong sự hiện diện của Tâm thức, nhưng không đi qua tiến trình suy nghĩ của tâm trí hữu thức.

3. Ở tầng sâu hơn, trong tâm lý học — đặc biệt ở Carl Jung — vô thức bao gồm những nội dung bị đè nén sâu, các nguyên mẫu, bản năng sinh tồn và những khuynh hướng tập thể mà cá nhân không ý thức được. Vô thức tập thể không lưu trữ các hành vi cụ thể như giết người hay ăn thịt người, mà chứa các khuynh hướng bản năng và những mô thức phổ quát; các hành vi cực đoan chỉ là biểu hiện của những xung lực này trong những điều kiện nhất định. Tuy nhiên, trong hệ thống của Hawkins, vô thức vẫn thuộc về Tâm trí. Nó không phải là Trường Tâm thức phổ quát. Điểm then chốt là: Tâm trí — dù hữu thức, tiềm thức hay vô thức — đều là nội dung; còn Tâm thức là trường nền cho phép toàn bộ nội dung ấy xuất hiện và được nhận biết. Vì vậy, không nên đồng nhất “vô thức tập thể” với “Trường Tâm thức”. Vô thức chỉ là một phần của cấu trúc tâm trí, trong khi Tâm thức là nền tảng phi cá nhân vượt ngoài mọi cấu trúc ấy. Cũng theo đó, không nên hiểu Trường Tâm thức như một “cơ sở dữ liệu” tương tự vô thức tập thể. Vô thức tập thể vẫn là nội dung của tâm trí (dù mang tính tập thể), còn Tâm thức không phải là nơi lưu trữ nội dung, mà là nền tảng trong đó mọi nội dung xuất hiện và được nhận biết.

Hiệu chỉnh: Trong hệ thống của Hawkins, “hiệu chỉnh” (calibration) không phải là việc truy cập vào một kho dữ liệu tiềm ẩn nào đó của tâm trí. Thay vào đó, cơ thể con người phản ứng với sự thật vì nó vốn đồng điệu với Trường Tâm thức. Khi một mệnh đề phù hợp với Sự thật, hệ thần kinh duy trì sức mạnh và trương lực; khi một mệnh đề sai lệch, phản ứng sinh lý suy yếu. Phương pháp kiểm tra cơ thể động học (muscle testing) vì vậy được xem như một cách xác nhận mức độ đồng điệu — hoặc không đồng điệu — của một nội dung với Trường này. Nói cách khác, không phải ta “truy cập” vào một “Internet vô thức”, mà chính hệ thần kinh phản ứng theo mức độ phù hợp của một nội dung với Sự thật trong Tâm thức.

Thiền: Trong thực hành thiền quán, điều quan trọng không phải là phân biệt một trải nghiệm thuộc về tiềm thức hay vô thức, mà là nhận ra bất cứ điều gì đang xuất hiện trong nhận biết. Những gì xuất hiện có thể là một cảm thọ thoáng qua như sợ hãi hay khó chịu, một ý nghĩ mang tính phán xét hoặc lo âu, hay một xung lực muốn phản ứng, muốn né tránh. Dù nguồn gốc của chúng nằm ở đâu, tất cả chỉ trở thành đối tượng của thực hành khi chúng hiện ra trong ánh sáng của nhận biết. Vì vậy, ta không trực tiếp “làm việc” với các tầng trừu tượng như tiềm thức hay vô thức, mà chỉ với những nội dung cụ thể của tâm trí khi chúng trồi lên. Chỉ những gì được thấy mới có thể được buông.

Buông bỏ, theo nghĩa này, không phải là loại bỏ hay đè nén, mà là không đồng nhất với nội dung đang xuất hiện. Cảm thọ vẫn có thể còn đó, ý nghĩ vẫn có thể tiếp diễn, nhưng không còn một “cái tôi” bám lấy chúng như “của tôi” hay “là tôi”. Chính sự không nắm giữ này cho phép năng lượng phía sau các nội dung ấy tự giải toả. Khi thực hành sâu hơn, hành giả có thể nhận ra không chỉ cảm thọ hay ý nghĩ, mà cả phản xạ muốn kiểm soát, muốn can thiệp, thậm chí muốn “buông bỏ cho đúng cách”. Sâu hơn nữa, chính cảm thọ về một “người đang trải nghiệm” cũng trở thành đối tượng được thấy. Đến đây, việc buông bỏ không còn là một hành động có chủ ý, mà chỉ là sự không còn nắm giữ. Mọi nội dung — dù đến từ đâu — đều đến rồi đi trong một nền tảng tĩnh lặng không đổi. Nền tảng ấy không phải là tiềm thức hay vô thức, mà là chính Tâm thức — nơi mọi trải nghiệm xuất hiện và được nhận biết, nhưng tự nó không bị ảnh hưởng bởi bất cứ điều gì xuất hiện trong đó.

Trong thực hành, buông bỏ (letting go) và phó thác (surrender) là hai hướng tiếp cận bổ sung cho nhau. Buông bỏ là con đường của nhận biết: thấy rõ một trạng thái đang xuất hiện, không phân tích, không chống cự, không thêm câu chuyện — và vì thế, nó tự suy yếu khi không còn được nuôi dưỡng bởi phản ứng của bản ngã. Đây là cách làm nhẹ dần tiềm thức, khi các phản xạ cũ mất đi sức cưỡng ép. Phó thác là con đường của tin cậy: khi đối diện với những khối năng lượng mạnh, ta thừa nhận giới hạn của bản ngã, ngừng cố kiểm soát bằng ý chí, và phó thác quyền điều khiển cho một nguyên lý sâu hơn — có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau, nhưng thực chất là Trí tuệ của chính sự sống. Dùng ý chí cưỡng ép thường chỉ tạo thêm đối kháng nội tâm; phó thác làm tan rã sự đối kháng đó. Trong hệ thống của Hawkins, chính thái độ phó thác này mở ra từ “bạo lực (force)” sang “Sức mạnh đích thực (power)” — từ cưỡng ép sang sức mạnh nội tại. Với những nội dung nhẹ, chỉ cần thấy và để chúng trôi qua; với những năng lượng sâu hơn, cần thêm tin cậy và buông bỏ hoàn toàn. Dù theo cách nào, cốt lõi vẫn là giảm dần sự nắm giữ của bản ngã — và để cho mọi thứ trở về với sự tĩnh lặng vốn có.

Khi mặc cảm tội lỗi trồi lên trong tu tập. Đây là hiện tượng rất phổ biến. Câu trả lời cân bằng là: nó có thể đến từ cả Tiềm thức lẫn tầng sâu hơn của cấu trúc tâm trí. 1. Từ Tiềm thức: Nhiều mặc cảm không biến mất — chúng chỉ bị đè nén. Khi hành thiền: Mức độ kiểm soát của bản ngã giảm; Tâm trí trở nên yên lặng hơn. Những ký ức từng bị né tránh bắt đầu nổi lên. Đây thường là dấu hiệu của quá trình “dọn dẹp”, không phải là thụt lùi. 2. Ở tầng sâu hơn của cấu trúc bản ngã. Mặc cảm tội lỗi đôi khi không gắn với một sự kiện cụ thể, mà là một cấu trúc tự trừng phạt. Trong hệ thống hiệu chỉnh của Hawkins, Mặc cảm tội lỗi có điểm hiệu chỉnh rất thấp (30), vì nó mang năng lượng tự hủy hoại và tự kết án.

Khi hành giả tiến bộ, những cấu trúc sâu này có thể trồi lên để được thấy và buông. Quan trọng là: Không cần giả định rằng mình đang “gánh nghiệp cho nhân loại”. Chỉ cần hiểu rằng tâm trí con người có những tầng cấu trúc phổ quát.

Cạm bẫy tinh vi của bản ngã. Khi mặc cảm xuất hiện, bản ngã có thể thì thầm: “Tại sao tu mãi mà vẫn còn như vậy?” “Chắc mình không tiến bộ.” “Mình quá tệ.” Đây là một dạng bạo lực tinh vi: tự phán xét dưới danh nghĩa tu tập. Thấy được cơ chế này đã là một bước dịch chuyển Tâm thức.

Tóm lại, Thiền không phải là: Đè nén tâm trí; Cố đạt trạng thái đặc biệt; Truy cập một “cơ sở dữ liệu bí mật”. Mà là: Tăng độ sáng rõ của Nhận biết; Giảm sự đồng nhất với nội dung của tâm trí; Làm suy yếu dần các cấu trúc bản ngã; Mở ra sự đồng điệu cao hơn với Sự thật. Và khi những điều “xấu xí” trồi lên, đó thường không phải là thất bại —mà là dấu hiệu rằng nhận biết đã đủ ổn định để thấy những gì trước đây bị che khuất.

[xii] Non-dual awareness (Nhận thức phi nhị nguyên).  Bản chất: Là trạng thái nhận thức vượt lên trên mọi sự phân chia đối lập (đúng/sai, tốt/xấu, ta/người). Đây là nền tảng của Sức mạnh đích thực (Power). Đặc điểm: Xóa nhòa ranh giới giữa “người quan sát” và “cái được quan sát”. Tương ứng với trạng thái Một thể (Oneness) và Vô ngã (Non-doership). Liên kết hệ thống: Đối lập với Positionality (Cố chấp vào lập trường của bản ngã). Là kết quả của quá trình thực hành Phó thác sâu sắc.

[xiii] Awareness — 1. Nhận thức thuần túy, không diễn giải; Tỉnh thức (Awakening/Mindfulness). Từ này thiên về một trạng thái hoặc một quá trình. Định nghĩa: Là sự “tỉnh dậy” sau một cơn mê của bản ngã. Khi bạn bắt đầu quan sát được cảm thọ tiêu cực và không để nó cuốn đi, đó là tỉnh thức. Đặc điểm: Thường dùng cho các tầng tâm thức từ 200 (Can đảm) đến dưới 600. Nó mang tính chủ động: “Tôi đang tỉnh thức”, “Tôi đang thực hành tỉnh thức”. Trong tiếng Anh: Thường tương ứng với Awakened hoặc Mindful. 2. Cái Biết (Awareness/Pure Awareness) Từ này thiên về bản chất hoặc nền tảng vĩnh cửu. Định nghĩa: Là cái “không gian” hay cái “ánh sáng” cho phép mọi sự tỉnh thức diễn ra. Nó không phải là một hành động, nó là một thực tại có sẵn. Ngay cả khi bạn đang ngủ hay đang giận, Cái Biết vẫn luôn ở đó, tĩnh lặng và quan sát. Đặc điểm: Thường dùng cho tầng tâm thức từ 600 (An bình) trở lên. Nó không có chủ thể: không phải “Tôi có Cái biết” mà là “Tôi LÀ Cái Biết”.

[xiv] Inner Blocks (Rào cản nội tâm) – Phật giáo gọi là “nội kết”. Nội kết là những “nút thắt” năng lượng tâm trí bị dồn nén, hình thành khi ta không thể hoặc không sẵn sàng một cảm xúc hay trải nghiệm tiêu cực“đi qua” (Letting go). Cơ chế hình thành: Thuộc về Tiềm thức (Subconscious Mind): Lưu trữ những ký ức và cảm xúc chưa được chuyển hóa. Sử dụng Force (Bạo lực): Bản ngã dùng lực để đè nén, che giấu hoặc kháng cự, dẫn đến tiêu hao năng lượng và tạo ra các phản ứng không tự nguyện. Biểu hiện của Nội kết: Positionality: Tạo ra những lập trường cứng nhắc, định kiến và phán xét. Phản ứng không tự nguyện: Gây ra những cơn tức giận, sợ hãi hoặc tự hủy hoại mà ý thức (Conscious mind) không kiểm soát được. Rào cản năng lượng: Ngăn chặn cá nhân tiếp cận với Sức mạnh đích thực (Power) và an bình nội tại. Phương pháp Hóa giải: 1.  Nhận thức phi nhị nguyên (Non-dual awareness): Quan sát khối nội kết mà không phân chia đúng/sai, không nỗ lực thay đổi nó ngay lập tức. 2. Phó thác (Surrender): Chấp nhận sự hiện diện của khối năng lượng đó và cho phép nó tự giải tỏa khi đi ngang qua tâm thức. 3. Vô sở cầu nhi tự đắc: Không mong cầu kết quả tức thì, để quá trình tháo gỡ diễn ra tự nhiên theo quy luật của Trường năng lượng.

March 14, 2026

GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC (13 - Kỳ cuối)

 

GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC 

David R. Hawkins, M. D., Ph. D. 

Phạm Nguyên Trường dịch 

THUẬT NGỮ

 

Mô thức hút (Attractor pattern):  Xem Trường năng lượng.

Thuyết hỗn độn (Chaos Theory): Khoa học nghiên cứu các tiến trình vận động thay vì các trạng thái cố định. Lý thuyết này bắt nguồn từ việc khám phá ra các mô thức trong điều kiện không thể đoán trước. Quan điểm mà nó đề xuất hướng tới việc nhận diện những khả thể mang tính toàn cục hơn là những biến cố cục bộ, và bao hàm một hệ thống tô-pô sử dụng các mô thức và hình dạng để hình dung cấu trúc nội tại của một hệ thống phức tạp — tuy không thể dự đoán ở cấp độ cục bộ, nhưng lại ổn định ở cấp độ toàn cục. Thuyết hỗn độn thừa nhận rằng hệ thống phức tạp có thể đồng thời tạo ra cả sự hỗn loạn và sự mạch lạc.

Cuối những năm 1800, Jules-Henri Poincaré lưu ý rằng, vật lý học Newton chính xác về mặt toán học khi chỉ nghiên cứu tương tác giữa hai vật thể, nhưng nếu thêm vào yếu tố thứ ba thì các phương trình của Newton không còn đáng tin nữa – chỉ có thể đạt mức gần đúng mà thôi. Tính phi tuyến tính này ám chỉ rằng, theo thời gian, bất cứ hệ thống nào cũng có thể – thông qua phản hồi và lặp lại – trở nên không thể đoán trước được. Năm 1963, Lorenz công bố bài báo nhan đề “Dòng chảy tất định, không theo chu kỳ” (Deterministic Nonperiodic Flow), cung cấp cho chúng ta hệ hình khoa học mới, được James Yorke gọi là “Thuyết hỗn độn” trong bài báo nổi tiếng của mình: “Period Three Implies Chaos” (Tạm dịch: Giai đoạn Ba ám chỉ sự hỗn độn). Thuyết hỗn độn bao gồm các chủ đề như nhân đôi chu kỳ (period doubling) phép lặp (iteration), hình học phân dạng (fractals) và sự phân nhánh (bifurcation), đồng thời thừa nhận rằng trong một không gian hữu hạn có thể tồn tại vô số chiều kích. Hội nghị đầu tiên về Hỗn độn được tổ chức tại Viện Hàn lâm Khoa học New York (New York Academy of Science vào năm 1977), và năm 1986, Viện này đã tổ chức hội nghị đầu tiên về Thuyết hỗn độn trong y học và sinh học.

 Tâm thức (Consciousness): Tâm thức là nền tảng bất khả quy giản của tồn tại, vô hình tướng nhưng bao hàm mọi hình tướng. Nó là vô hạn, không có khởi đầu và không có kết thúc. Trường tâm thức, theo một hệ thuật ngữ khác, được gọi là Phật tính hay Tâm của Thiên Chúa (Mind of God). Có thể ví nó như một trường điện từ vô hạn và toàn năng. Mỗi vật đều có vị trí riêng của mình trong trường này, tương tự như một mạt sắt; vị trí của bạn trong trường phụ thuộc vào “điện tích” của bạn — tức là dựa trên những quyết định mà bạn đã chọn lựa. Khi bạn nói: “Tôi tha thứ cho người đó”, bạn dịch chuyển lên cao hơn trong trường này. Còn nếu bạn nói: “Tôi sẽ trả đũa kẻ xấu đó”, bạn dịch chuyển xuống thấp hơn. Rõ ràng, không thể đổ lỗi cho Thiên Chúa hay cho bất kỳ ai khác. Mời đọc thêm ghi chú i ở cuối sách.

 Bối cảnh (Context): Toàn bộ trường quan sát được quy định bởi một quan điểm nào đó. Bối cảnh bao gồm bất kỳ sự kiện quan trọng nào làm rõ nghĩa cho một tuyên bố hoặc sự kiện. Dữ liệu sẽ vô nghĩa nếu không làm rõ bối cảnh của nó. “Lấy ra khỏi bối cảnh” là làm sai lệch ý nghĩa của lời tuyên bố tức là không xác định được các điều kiện kèm theo góp phần làm rõ nghĩa. (Đây là mánh khóe phổ biến trong các phiên tòa. Luật sư cố tình bóp méo lời khai của nhân chứng bằng cách lờ đi các chi tiết có thể thay đổi hàm ý của lời khai, mà chỉ yêu cầu nhân chứng trả lời “có” hoặc “không”).

 Sáng tạo/Sáng thế (Creation): Một tiến trình liên tục không có khởi đầu cũng không có kết thúc, qua đó vũ trụ hiển lộ của hình tướng và vật chất được tạo ra bằng sự lặp lại, khởi đi từ ba điểm — chỉ cần như vậy là đủ, và thông qua cấu trúc phân dạng (fractal) sẽ tạo nên sự đa dạng vô hạn các hình tướng. (Điều này được minh họa qua mặt phẳng phức quen thuộc của tập hợp Benoit Mandelbrot[i].) Trong tiếng Phạn, ba phương diện của sự khởi nguyên của tất cả có thể được trải nghiệm gọi là Rajas, Tamas và Sattva. Hình tượng hóa thông qua các vị thần Ấn giáo: Brahma, Shiva và Vishnu. Trong Kitô giáo, đấy là Chúa Ba Ngôi (Holy Trinity).

 Nhị nguyên (Duality): Thế giới hình tướng được đặc trưng bởi sự tách biệt rõ ràng giữa các đối tượng (phản ánh trong các cặp đối lập về khái niệm như “cái này/cái kia,” “ở đây/ở đó,” “lúc đó/bây giờ,” hoặc “bạn/tôi”). Tri giác hạn chế này được tạo ra bởi các giác quan, đấy là do hạn chế nằm sẵn trong một điểm nhìn cố định. Khoa học cuối cùng đã vượt qua sự phân đôi nhân tạo giữa người quan sát và đối tượng được quan sát - đặc trưng của thuyết nghị nguyên theo quan điểm của Descartes, thế kỷ XVII, và hiện nay cho rằng người quan sát và đối tượng được quan sát là một và như nhau. Vũ trụ không có trung tâm, nó liên tục mở rộng đều đặn và đồng thời từ mọi điểm. Định lý Bell[ii] đã giúp chúng ta chứng minh rằng đây là vũ trụ của các sự kiện đồng thời xảy ra chứ không phải vũ trụ của nguyên nhân và hậu quả cách nhau trong không gian và xảy ra trong khung thời gian nhân tạo theo quan điểm của Newton. Chính thời gian và không gian cũng đều chỉ là sản phẩm có thể đo lường được của trật tự ngầm ẩn cao hơn.

 Bản ngã/Cái tôi (hay tự ngã - Ego or self with a small s).  Bản ngã là “kẻ làm” hư ảo ẩn phía sau mọi ý nghĩ và hành động; vốn được tin là không thể thiếu cho sự sống còn. Thực chất, nó là tập hợp những khuôn mẫu tư duy cố kết, được duy trì bởi sự cộng hưởng với các trường năng lượng vô hình đang thống trị Tâm thức nhân loại. Chúng được củng cố bởi sự lặp lại và bởi sự đồng thuận của xã hội. Sự củng cố hơn nữa đến từ chính ngôn ngữ. Suy nghĩ bằng ngôn ngữ là một hình thức tự lập trình. Việc sử dụng đại từ “tôi” làm chủ ngữ, và do đó ám chỉ rằng “tôi” là nguyên nhân của mọi hành động, sai lầm nghiêm trọng nhất và tự động tạo ra nhị nguyên giữa chủ thể và đối tượng.

 Xuất hiện (Emergence): Đời sống không diễn ra theo trình tự nhân quả tuyến tính; trái lại, đời sống xuất hiện một cách tự phát từ trường năng lượng và mãi mãi hòa làm một với trường năng lượng đó. Trường năng lượng này là vô hạn, mọi tồn tại mang tính hiện tượng đều phát sinh từ đó, nó chính là trường năng lượng của tâm thức, vốn từ bi và công bằng, bởi vì “Tình yêu là Luật tối thượng của Vũ trụ” (tuyên bố có điểm hiệu chỉnh 750). Trường năng lượng này và các hiện tượng là một thể thống nhất năng động, đồng thời là sáng tạo và tiến hóa. Không có xung đột giữa tiến hóa và sáng tạo, vì sáng tạo thể hiện chính nó như tiến hóa khi tiềm năng trở thành hiện thực.

 Trường năng lượng (Energy field): Trong công trình nghiên cứu này, một dãy giá trị được thiết lập bởi các tham số của không gian pha của một trường hút với mô thức vận hành bên trong trường năng lượng lớn hơn của tâm thức và có thể quan sát được thông qua các tác động đặc trưng trong hành vi của con người. Sức mạnh của các trường năng lượng được hiệu chỉnh tương tự như điện áp trong hệ thống điện hoặc sức mạnh của từ trường hoặc trọng lực. Các tầng được hiệu chỉnh của Tâm thức đại diện cho những trường hút mạnh trong chính Tâm thức, chi phối sự tồn tại của nhân loại và do đó, xác định nội dung, ý nghĩa và giá trị, đồng thời đóng vai trò như những năng lượng tổ chức các mô thức hành vi phổ biến của con người. Sự phân tầng của các mô thức hút này, tương ứng với các tầng Tâm thức, cung cấp một hệ hình mới để tái định vị trải nghiệm của nhân loại trong mọi thời đại.

 Chứng ngộ (Enlightenment): Trạng thái Nhận biết thay thế tâm thức thông thường ngay khi bản ngã được buông bỏ. Tự ngã được thay thế bằng Đại Ngã. Trạng thái này vượt ngoài thời gian và không gian, tĩnh lặng, và tự hiển lộ như là mặc khải. Trong trạng thái bất nhị này, chỉ còn sự chứng kiến sự sống hiển lộ trong từng khoảnh khắc, khi mọi sự phát sinh một cách tự phát chứ không phải như hệ quả của quan hệ nhân–quả. Thanh lọc tâm linh là tiến trình loại bỏ những chướng ngại che khuất ánh sáng của Tâm thức, qua đó sự hợp nhất của nó với Đại Ngã được hiển lộ. Trạng thái Chứng ngộ cho thấy rằng Cội Nguồn của hiện hữu—Ánh Sáng vốn từng được tìm kiếm ở nơi khác hay trong tương lai—đang chiếu sáng ngay chính trong khoảnh khắc này.

 Đồng bộ hóa (Entrainment): Một hiện tượng được minh họa qua nguyên lý “khóa pha”. Khi nhiều đồng hồ quả lắc được đặt gần nhau, các quả lắc của chúng sẽ dần dần dao động đồng bộ với nhau. Trong sinh học con người, hiện tượng này biểu hiện khi các nhóm phụ nữ sống hoặc làm việc cùng nhau dần dần đồng bộ chu kỳ kinh nguyệt. Nó tương tự như hiện tượng cộng hưởng của âm thoa. Chính vì quá trình này mà binh lính có xu hướng phá bước (không giữ nhịp đều) khi đi qua cầu.

 Sự quen thuộc và nhận diện mô thức (Familiarity and pattern recognition): Tâm trí con người nhận biết mọi sự bằng cơ chế nhận diện mô thức một cách toàn thể. Cách dễ nhất để nắm bắt một khái niệm hoàn toàn mới là thông qua quá trình làm quen. Việc học diễn ra bằng cách quay trở lại cùng một khái niệm lặp đi lặp lại cho đến khi nó trở nên hiển nhiên. Điều này giống như việc khảo sát một địa hình mới từ trên máy bay: ở lượt bay đầu tiên, mọi thứ đều xa lạ; lần thứ hai, ta bắt đầu nhận ra vài điểm tham chiếu; đến lần thứ ba, cảnh vật dần có ý nghĩa, và cuối cùng ta trở nên quen thuộc chỉ nhờ sự tiếp xúc lặp lại. Cơ chế nhận diện mô thức bẩm sinh của tâm trí sẽ đảm nhiệm phần còn lại.

 Trường chi phối (Fields of dominance): Một trường chi phối được biểu lộ khi các mô thức năng lượng cao tác động và chi phối các mô thức yếu hơn. Điều này có thể được ví như một từ trường nhỏ tồn tại bên trong từ trường rộng lớn và mạnh mẽ hơn nhiều của một nam châm điện khổng lồ. Vũ trụ hiện tượng là biểu hiện của tương tác giữa vô số mô thức hút với những cường độ khác nhau. Sự phức tạp vô tận của đời sống phản ánh những dao động lan truyền không ngừng của sự tăng cường và suy giảm của các trường này, được chồng lớp bởi các dao động phụ và những tương tác đa dạng giữa chúng với nhau.

 Fractal: Các mô thức fractal được đặc trưng bởi tính bất quy tắc và chiều dài vô hạn; các điểm hút lạ được cấu thành từ những đường cong fractal. Một ví dụ kinh điển hình là nỗ lực xác định chiều dài đường bờ biển nước Anh. Nếu đo bằng những thang đo ngày càng nhỏ, chiều dài tính được sẽ tăng lên không giới hạn. Fractal hàm ý một chiều dài vô hạn trong một diện tích hữu hạn.

 Nguyên lý Heisenberg: Cơ học lượng tử mở ra lối thoát khỏi phạm vi tuyến tính và hạn chế của hệ hình Newton cổ điển, thông qua nguyên lý Heisenberg, vốn khẳng định rằng việc quan sát một hiện tượng đồng thời làm thay đổi nó do chính tác động của hành vi quan sát. Theo cách diễn giải này, tầng Tâm thức của người quan sát càng cao thì ảnh hưởng lên đối tượng được quan sát càng sâu sắc.

 Ảnh toàn ký (Hologram): Là sự tái hiện hình ảnh ba chiều của một vật thể trong không gian, được tạo ra bằng cách chiếu tia laser sao cho một nửa chùm tia chiếu vào vật thể rồi phản xạ tới bản phim quang học, trong khi nửa còn lại chiếu trực tiếp lên bản phim đó. Hai chùm tia tạo nên một mô hình giao thoa ánh sáng trên bề mặt phim. Sau đó chiếu một tia laser qua bản phim này, hình ảnh ba chiều của vật thể sẽ được tái tạo trong không gian. Điều đáng chú ý là mỗi phần nhỏ của bản phim đều có khả năng tái hiện toàn bộ hình ảnh của vật thể. Trong một vũ trụ toàn ký, mọi sự vật đều liên kết với mọi sự vật khác.

 Phép lặp (Iteration): Phép lặp là sự lặp lại. Phép lặp phi tuyến tính hiện diện trong vô số hệ thống. Chính vì sự lặp lại này mà chỉ một thay đổi cực kỳ nhỏ trong điều kiện ban đầu, theo thời gian, có thể tạo ra một mô thức hoàn toàn khác với mô thức ban đầu. Trong một phương trình tăng trưởng, kết quả của lần lặp trước trở thành đầu vào cho lần lặp tiếp theo. Ví dụ, nếu một máy tính tính đến mười sáu chữ số thập phân, thì chữ số cuối cùng thực chất là kết quả làm tròn của chữ số thứ mười bảy. Sai số vô cùng nhỏ này, khi được khuếch đại qua nhiều lần lặp, có thể dẫn đến sai lệch đáng kể so với dữ liệu gốc và khiến việc dự đoán trở nên bất khả thi. Vì vậy, chỉ một thay đổi rất nhỏ trong một mô thức tư duy lặp đi lặp lại cũng có thể tạo ra những hệ quả lớn lao.

 Định luật phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu (Law of sensitive dependence on initial conditions): Định luật này chỉ ra rằng một sai biệt rất nhỏ, theo thời gian, có thể dẫn đến một thay đổi sâu sắc. Giống như một con tàu chỉ lệch một độ so với phương hướng la bàn, nhưng sau một hành trình dài sẽ cách xa điểm đến hàng trăm dặm.

 Não trái (Left-brain): Nói đến kiểu tư duy theo trình tự tuyến tính, thường được miêu tả là “logic” hay “lý trí”. Xử lý dữ liệu theo trình tự A → B → C. Tương tự như máy tính kỹ thuật số.

 Tuyến tính (Linear): Mang tính tuần tự, diễn tiến theo một tiến trình logic như trong hệ hình vật lý Newton; vì vậy có thể giải quyết bằng toán học truyền thống, đặc biệt thông qua các phương trình vi phân..   

 Trường tạo hình (Morphogenetic field): Tương tự như các mô thức hút. Trong giả thuyết của nhà sinh học Rupert Sheldrake các trường tạo hình là một phần của thuyết “nhân quả hình thành” (formative causation), cho rằng các trường năng lượng của hình tướng tiến hóa và củng cố lẫn nhau theo thời gian. Khi một cá nhân đạt được đột phá trong một lĩnh vực nào đó, thành tựu ấy làm tăng khả năng để những người khác trong cùng loài đạt được điều tương tự. Ví dụ, khi Roger Bannister phá vỡ “trường M” của cột mốc chạy một dặm dưới bốn phút, chỉ trong thời gian ngắn sau đó đã có nhiều vận động viên khác đạt được thành tích tương tự.

 Mạng lưới thần kinh (Neural Network ): Các mô thức liên kết và tương tác phức tạp giữa các nơron trong hệ thần kinh.

 Chất dẫn truyền thần kinh (Neurotransmitters): Các chất hóa học trong não (bao gồm hormone và các phân tử tín hiệu khác) điều hòa quá trình truyền tín hiệu giữa các nơron trong toàn bộ hệ thần kinh. Những thay đổi hóa học rất nhỏ có thể dẫn đến những biến đổi lớn trong cảm xúc, suy nghĩ hoặc hành vi — cả ở mức độ chủ quan lẫn khách quan. Đây hiện là một trong những lĩnh vực trọng tâm của nghiên cứu tâm thần học hiện đại.

 Phi nhị nguyên (Nonduality): Trong lịch sử, tất cả những người đạt đến tầng Tâm thức trên 600 đều mô tả cùng một thực tại mà lý thuyết khoa học tiên tiến ngày nay đang gợi mở. Khi vượt qua giới hạn của một điểm quy chiếu tri giác cố định, ảo ảnh về sự tách biệt chấm dứt — kể cả sự tách biệt trong không gian và thời gian như ta vốn hiểu. Vạn hữu tồn tại đồng thời trong vũ trụ phi hiển lộ — cuộn vào, hàm ẩn, bao hàm — và tự biểu lộ thành vũ trụ hiển lộ — mở ra, triển khai, thành hình tướng trong tri giác. Nhưng những hình tướng ấy, trong bản chất chân thực, không có sự tồn tại nội tại hay độc lập; chúng chỉ là sản phẩm của tri giác. Nói cách khác, ta chỉ đang trải nghiệm nội dung của chính tâm trí của mình. Ở tầng phi nhị nguyên, có sự quan sát nhưng không có người quan sát, vì chủ thể và đối tượng là một. “Bạn” và “tôi” tan biến vào Đại Ngã Duy Nhất, đang trải nghiệm tất cả như là thiêng liêng. Ở tầng 700, chỉ có thể nói giản dị rằng: “Tất Cả Đang Là.” Trạng thái ấy là Hiện hữu thuần túy. Tất cả là Tâm thức — vô hạn — là Thượng Đế — không phân chia, không khởi đầu, không kết thúc.

Thân xác vật lý chỉ là một biểu hiện của Đại Ngã Duy Nhất. Khi trải nghiệm chiều kích này, Đại Ngã tạm thời quên bản thể chân thực của mình, và chính sự quên ấy cho phép ảo ảnh về một thế giới ba chiều xuất hiện. Thân thể chỉ là một phương tiện giao tiếp. Đồng nhất mình với thân thể và gọi nó là “tôi” là tình trạng của người chưa chứng ngộ; từ đó họ kết luận sai lầm rằng mình là hữu hạn, sinh ra rồi sẽ chết. Chính cái chết cũng chỉ là ảo ảnh — phát sinh từ sự đồng nhất sai lầm với thân xác như là “Tôi”. Trong phi nhị nguyên, Tâm thức tự trải nghiệm chính mình — vừa hiển lộ vừa phi hiển lộ — nhưng không có “ai” đang trải nghiệm. Trong Thực tại này, điều duy nhất có khởi đầu và kết thúc chỉ là hành vi tri giác mà thôi. Trong thế giới huyễn ảo này, ta giống như kẻ ngốc tưởng rằng vạn vật bắt đầu tồn tại khi mình mở mắt ra, và chấm dứt khi mình nhắm mắt lại.

 Phi tuyến tính (Nonlinear[1]): Chỉ tính chất bất quy tắc, không thể dự đoán theo thời gian; “nhiễu”, không tuần hoàn, và mang tính ngẫu biến (stochastic). Phi tuyến tính được minh họa qua các chuỗi toán học, chẳng hạn các phương trình tiến hóa ngẫu biến có dạng: dx(t)/dt = F(x(t)) + w(t), trong đó w(t) là thành phần nhiễu của quá trình ngẫu biến. Thuật ngữ này cũng dùng để chỉ toán học của các tín hiệu hỗn độn, bao gồm việc phân tích thống kê các chuỗi thời gian trong những hệ phi tuyến mang tính tất định. “Phi tuyến” hàm nghĩa khuếch tán hoặc hỗn độn; không tuân theo mô hình logic xác suất tuyến tính thông thường; và không thể giải bằng các phương trình vi phân theo nghĩa cổ điển. Đây là đối tượng nghiên cứu của Chaos Theory (Thuyết hỗn độn), một ngành đã khai mở một nền toán học mới vượt ra ngoài khuôn khổ cơ học Newton truyền thống.

 Không gian pha (Phase space[2]): Một biểu diễn (bản đồ) cho phép cô đọng dữ liệu không–thời gian thành một mô thức trong nhiều chiều kích. Bản đồ Poincaré là sự biểu diễn đồ họa của một lát cắt trong không gian pha, qua đó làm lộ rõ cấu trúc điểm hút của một hệ thống động lực.

 Lập trường (Positionality): Lập trường là những cấu trúc khởi động toàn bộ cơ chế tư duy và kích hoạt nội dung của nó[3]. Chúng là những “chương trình” của tâm trí, chứ không phải là Đại Ngã chân thực. Thế giới chứa vô vàn lập trường — những giả định tùy tiện và hoàn toàn sai lạc. Những lập trường nguyên sơ gồm có: (1) ý tưởng vốn có ý nghĩa và tầm quan trọng tự thân; (2) tồn tại một ranh giới phân chia giữa các mặt đối lập; (3) có giá trị của quyền tác giả — tức là tư tưởng có giá trị vì chúng là “của tôi”; (4) tư duy là cần thiết để kiểm soát, và sự sống còn phụ thuộc vào kiểm soát. Mọi lập trường đều là tự nguyện và có thể được buông bỏ vì tình yêu. Sự Hiện diện của Thiên Chúa như Tình Yêu sẽ tự mặc khải khi tính nhị nguyên của tri giác chấm dứt — hệ quả của việc buông bỏ các lập trường. Vì vậy, Tình Yêu là cánh cửa nối giữa miền tuyến tính và miền phi tuyến. Ý chí tâm linh được củng cố và kích hoạt bởi tình yêu, sùng kính, và sẵn sàng phó thác. Tình yêu không có hình tướng; chính tình yêu là năng lực khiến con người sẵn sàng, vì tình yêu ấy, mà trao lại các lập trường của mình cho Thiên Chúa. Buông bỏ tính cố chấp của ý chí — tức các lập trường — mang lại an bình trong mọi hoàn cảnh.

 Não phải (Right-brain): Thường được hiểu là mang tính “chỉnh thể (holistic[4])”; cho phép các chức năng như đánh giá, trực giác, và khả năng nắm bắt ý nghĩa, tầm vóc và hàm ý suy luận. Não phải vận hành theo cách phi tuyến; hoạt động dựa trên các mô thức và mối tương quan hơn là theo chuỗi nhân–quả logic kiểu Newton. Người ta cho rằng não phải xử lý tổng thể thay vì từng phần riêng lẻ. Tương tự một máy tính analog, nó làm việc với các tiến trình và thường có thể hoạt động mà không cần quy chiếu thời gian. Tri giác của não phải có khả năng nhận ra bản chất cốt lõi trong một trường dữ liệu phức hợp — những dữ kiện vốn không dễ quy về phân tích nhận thức thuần lý — như các hiện tượng phổ quát kiểu “phải lòng” hay sáng tạo. (Các thuật ngữ “não trái” và “não phải” khởi nguồn từ quan niệm trước đây cho rằng các phong cách tri giác khác nhau được khu trú ở những vùng não nhất định. Tuy nhiên, như Karl Pribram đã chỉ ra, não bộ vận hành theo mô hình toàn ảnh (holographic) hơn là theo sự định vị giải phẫu chính xác.)

 Phương pháp khoa học (Scientific): Phương pháp khảo cứu tự nhiên được thiết kế nhằm rút ra các định luật có khả năng dự đoán về các tính chất vật lý. Lý thuyết khoa học hiện đại khởi đầu vào thế kỷ XVI với tác phẩm Discourse on the Method của René Descartes, tiếp nối bởi phương pháp quy nạp của Francis Bacon, và sau đó là Philosophiæ Naturalis Principia Mathematica của Isaac Newton. John Locke là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “khoa học” (scientific) và cho rằng sự chắc chắn về tương tác của các hiện tượng vật lý dựa trên dữ liệu thu được qua cảm giác giác quan. Những quan niệm này hình thành nên mô hình vũ trụ cơ học và có thể dự đoán được. Tuy nhiên, quan điểm ấy bị thách thức bởi thuyết lượng tử hiện đại, vốn khẳng định rằng ở cấp độ hạ nguyên tử, các quy luật xác suất thay thế cho các định luật tất định.

Lịch sử cho thấy khoa học không tiến bộ đơn thuần bằng cách mở rộng các lý thuyết sẵn có, mà bằng những bước nhảy do sự thay đổi hệ hình (paradigm shift). Hàm ý ở đây là khoa học chỉ phản ánh một điểm nhìn, và không tồn tại sự tách biệt tuyệt đối giữa người quan sát và cái được quan sát. Thuyết tương đối còn cho rằng vật chất và năng lượng là tương đương — tùy thuộc vào hệ quy chiếu. Mô hình toàn ảnh của David Bohm đề xuất rằng trật tự hiển lộ (explicit order) phát sinh từ trật tự hàm ẩn (implicit order). Hình tướng trở thành hệ quả của sự suy diễn; không gian và thời gian mang tính phi định xứ; không có “đây” hay “kia” — đó là tính phi định xứ của toàn thể lượng tử. Vũ trụ, theo cách mô tả này, chứa đựng vô số chiều kích và các thực tại ở cấp độ cao hơn.

 Đại Ngã (Self - S chữ viết hoa): Đại Ngã vượt lên trên mọi hình tướng, nhưng đồng thời cũng nội tại trong tất cả. Ngài phi thời gian, không khởi đầu cũng không kết thúc, bất biến, vĩnh hằng và bất tử. Từ Đại Ngã phát sinh cái biết (awereness), tâm thức (consciousness) và trạng thái “ở nhà” vô hạn — cảm giác an nhiên tuyệt đối trong chính bản thể mình. Đại Ngã là chủ thể tối hậu, từ đó mọi cảm nhận về “tôi” nơi mỗi người sinh khởi.

 Điểm hút lạ (Strange Attractor): Thuật ngữ do David Ruelle và Floris Takens đưa ra năm 1971, trong một lý thuyết cho rằng chỉ cần ba chuyển động độc lập là đủ để tạo nên toàn bộ sự phức tạp của các mô thức phi tuyến trong vũ trụ. Điểm hút lạ là mô thức xuất hiện trong không gian pha. Mô thức ấy được vạch nên bởi quỹ đạo của các điểm trạng thái theo thời gian trong một hệ động lực. Tâm của một trường hút tương tự như tâm của một quỹ đạo quay. Các điểm hút có cấu trúc fractal, và vì vậy có độ dài vô hạn. Hình ảnh đồ họa của các điểm hút thường được biểu diễn qua một lát cắt của bản đồ Poincaré. Cấu trúc topo của không gian pha có thể tạo nên các dạng điểm hút như hình xuyến (torus) — tương tự một chiếc bánh vòng.

 Vũ trụ (Universe): Có thể xem vũ trụ của chúng ta là có vô hạn chiều kích. Vũ trụ ba chiều quen thuộc theo sự đồng thuận thông thường chỉ là một trong số đó, và thực chất chỉ là một ảo ảnh do các giác quan tạo dựng. Khoảng không giữa các thiên thể không hề trống rỗng mà tràn đầy một biển năng lượng; năng lượng tiềm tàng trong một inch vuông có thể được xem là tương đương với toàn bộ khối lượng của vũ trụ vật chất. David Bohm đề xuất mô hình về các trạng thái “cuộn lại” và “mở ra” của tồn tại, với một trật tự hiển lộ (explicit order) và một trật tự hàm ẩn (implicit order) của thực tại. Mô hình này tương đồng với các khái niệm về trạng thái hiển lộ và phi hiển lộ của thực tại đã được những người đạt tới chúng ngộ và trải nghiệm tính phi nhị nguyên mô tả trong suốt nhiều thế kỷ.

 Trong mô hình nhân quả:

 


 A → B → C là vũ trụ của hình tướng — mở ra, hiển lộ, rõ ràng và có thể phân biệt được. ABC là trạng thái cuộn lại, tiềm ẩn và phi hiển lộ; đó là nền tảng vô hình vượt ngoài biểu hiện, là ma trận vô hạn và phi hình tướng của cả hình tướng lẫn phi hình tướng — toàn năng, toàn tri và hiện diện khắp nơi.

 Tài liệu tham khảo thêm

 Chương 1

Power vs. Force: The Hidden Determinants of Human Behavior, Author’s Official Authoritative Edition (Hay House, 2013)

Success Is for You: Using Heart-Centered Principles for Lasting Abundance and Fulfillment (Hay House, 2016)

Healing and Recovery (Hay House, 2015)

Letting Go: The Pathway of Surrender (Hay House, 2014)

Chương 2

Power vs. Force

Letting Go

Chương 3

Transcending the Levels of Consciousness: The Stairway to Enlightenment Hay House, 2015).

Reality, Spirituality and Modern Man (Hay House, 2015)

Truth vs. Falsehood: How to Tell the Difference (Hay House, 2013)

Book of Slides: The Complete Collection Presented at the 2002–2011 lectures with Clarifications (Veritas Publishing, 2018)

Chương 4

Healing and Recovery

Transcending the Levels of Consciousness

Letting Go

Chương 5

Success Is for You

Chương 6

Healing and Recovery

Power vs. Force

Chương 7

Transcending the Levels of Consciousness

Book of Slides

Chương 8

Discovery of the Presence of God: Devotional Nonduality (Hay House, 2013)

The Eye of the I: From Which Nothing Is Hidden (Hay House, 2016)

Transcending the Levels of Consciousness

Chương 9

I: Reality and Subjectivity (Hay House, 2014)

The Eye of the I

Transcending the Levels of ConsciousnessDiscovery of the Presence of God

Book of Slides

Kết luận

Transcending the Levels of Consciousness

 

 

THÔNG TIN TIỂU SỬ VÀ

TỰ TRUYỆN

TÓM TẮT TIỂU SỬ

 

Sau khi phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ trong Thế chiến II, Bác sĩ Hawkins tốt nghiệp Trường Cao đẳng Y khoa Wisconsin vào năm 1953. Trong 25 năm tiếp theo, ông sống ở New York, những công trình tiên phong của ông trong vai trò bác sĩ tâm thần đã mang lại những đột phá lâm sàng quan trọng, đặc biệt là trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt và nghiện rượu. Các phát hiện của ông đã được công bố rộng rãi trên các tạp chí y khoa, khoa học và phân tâm học. Với tư cách là giám đốc y tế của Trung tâm Sức khỏe Tâm thần Bắc Nassau (1956–1980) và giám đốc nghiên cứu tại Bệnh viện Brunswick (1968–1979) trên đảo Long Island, ông có phòng khám lớn nhất ở New York. Tiến sĩ Hawkins cũng từng là cố vấn tâm thần cho các tu viện Công giáo, Tin lành và Phật giáo. Năm 1973, ông là đồng tác giả cuốn Orthomolecular Psychiatry với nhà hóa học đoạt giải Nobel Linus Pauling, khởi xướng một lĩnh vực mới trong tâm thần học và dẫn đến các lần xuất hiện trên chương trình Today Show, các cuộc phỏng vấn truyền hình với Barbara Walters và chương trình The MacNeil/Lehrer NewsHour.

Bác sĩ Hawkins đã sống ba mươi năm  cuối đời ở Arizona, làm việc để tìm mối liên hệ giữa hai lĩnh vực tưởng chừng như khác biệt là khoa học và tâm linh. Năm 1983, ông thành lập Viện Nghiên cứu Tâm linh (Institute for Spiritual Research), một tổ chức phi lợi nhuận chuyên nghiên cứu về tâm thức. Trong những năm 1980, các bài giảng của ông tại các sự kiện như Hội nghị Quốc gia đầu tiên về Nghiện và Tâm thức (1985) và Whole Life Expo (1986), cả hai đều diễn ra tại California, đã tái định nghĩa chứng nghiện bằng cách làm sáng tỏ động lực tâm linh tiềm ẩn hướng tới sự an bình nội tâm và cách vun đắp nó mà không cần đến chất gây nghiện. Trong những năm 1990, ông đảm nhiệm cương vị trưởng ban chuyên môn tại Trung tâm Điều trị Nội trú Mingus Mountain Estate dành cho các thiếu nữ vị thành niên ở Prescott Valley, và đồng thời làm bác sĩ tâm thần tư vấn cho nhiều cơ sở phục hồi tại Arizona.

Năm 1995, ở tuổi 68, ông được trao bằng Tiến sĩ về Y tế và Dịch vụ Nhân sinh. Cùng năm đó, cuốn sách của ông, Power vs. Force được xuất bản, được dịch ra 25 ngôn ngữ, bán được hơn một triệu bản và nhận được lời khen ngợi từ những nhân vật nổi tiếng như Mẹ Teresa và Sam Walton. Cuốn sách trình bày bản đồ tâm thức đặc trưng của ông, hiện đang được các chuyên gia y tế, giáo sư đại học, quan chức chính phủ và giám đốc điều hành doanh nghiệp trên toàn thế giới sử dụng. Nhiều cuốn sách khác đã ra đời sau đó.

Từ năm 1998 đến năm 2011, Tiến sĩ Hawkins đã đi khắp thế giới để thuyết giảng tại các hội trường lớn ở Hoa Kỳ và nước ngoài, thu hút đông đảo khán giả về khoa học tâm thức và thực tại của các trạng thái tâm linh cao cấp. Ông đã thuyết trình tại Oxford Forum và Westminster Abbey, cũng như Đại học Harvard, Đại học Buenos Aires, Đại học Notre Dame, Đại học Fordham và Institute of Noetic Sciences. Ông đã trình bày Bài giảng Landberg  thường niên tại Trung tâm Khoa học Y tế Đại học California ở San Francisco. Bài giảng cuối cùng của ông, về chủ đề “Tình yêu”, diễn ra vào tháng 9 năm 2011, thu hút 1.700 người đến từ khắp nơi trên thế giới.

Tiến sĩ Hawkins đã được nhiều tổ chức vinh danh vì những đóng góp nổi bật trong lĩnh vực khoa học và nhân đạo, bao gồm: Giải thưởng Huxley vì “Đóng góp vô giá trong việc làm vơi bớt nỗi khổ của nhân loại”; Giải thưởng Ghi nhận Bác sĩ của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ; danh hiệu Hội viên Trọn đời Xuất sắc 50 năm của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ; được ghi danh vào Đại sảnh Danh vọng Y học Phân tử Chỉnh thể (Orthomolecular Medicine Hall of Fame); xuất hiện trong Who’s Who in the World; và được đề cử cho giải thưởng danh giá Templeton Prize — giải thưởng tôn vinh những tiến bộ trong khoa học và tôn giáo. Để ghi nhận những cống hiến của ông cho nhân loại, năm 1996, Tiến sĩ Hawkins được phong tước hiệp sĩ bởi Sovereign Order of the Hospitallers of St. John of Jerusalem (thành lập năm 1077), theo thẩm quyền của Tu viện (priory) thuộc Vua Valdemar Đại đế. Năm 2000, tại Seoul, Hàn Quốc, ông được trao tặng danh hiệu “Tae Ryoung Sun Kak Tosa” (Bậc Thầy Chứng Ngộ). Ông cũng từng là cố vấn cho các chính phủ nước ngoài trong lĩnh vực ngoại giao quốc tế và giữ vai trò quan trọng trong việc tháo gỡ những xung đột kéo dài vốn là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình thế giới.

Suốt cuộc đời mình, Tiến sĩ Hawkins tham gia vào nhiều hoạt động dân sự và chuyên môn, thường giữ vai trò lãnh đạo. Là bác sĩ, ông cũng đồng sáng lập hoặc làm cố vấn y tế cho nhiều tổ chức, trong đó có Quỹ Tâm thần phân liệt New York và Long Island, Trung tâm Chữa lành Long Island, Hiệp hội các Trung tâm Sức khỏe Toàn diện New York và Học viện Tâm thần học Chỉnh thể Phân tử. Ông là đồng giám đốc của Phòng trưng bày Nghệ thuật Masters. Sinh ra với chỉ số IQ đặc biệt cao, ngay từ năm 1963, ông đã trở thành thành viên của Mensa International. Khi còn là một bác sĩ trẻ, ông rất quan tâm tới Phật giáo và gia nhập Zen Institute đầu tiên ở Hoa Kỳ. Trước khi qua đời, ông là thành viên của Nhà thờ Giám mục St. Andrews trong suốt nhiều năm. Ông là vị chủ tịch đầu tiên của Câu lạc bộ Khiêu vũ Country & Western tại Sedona và là hội viên của Hội Cựu Chiến binh từng tham chiến ở nước ngoài của Hoa Kỳ (VFW), và là hội viên của Hội Cựu Chiến binh Hoa Kỳ cùng chi hội Elks tại Sedona. Ông là một cung thủ, thợ mộc, thợ rèn, nhạc sĩ (người thổi kèn túi, nghệ sĩ vĩ cầm và nghệ sĩ piano), nhà thiết kế kiến ​​trúc Norman Pháp thế kỷ XVI, từng đoạt giải thưởng, và là người yêu động vật.

Trên phạm vi quốc tế, Tiến sĩ Hawkins là người sáng lập tổ chức Bất Nhị Sùng Kinh (Devotional Nonduality - 2003), con đường tâm linh áp dụng những chân lý cốt lõi của các truyền thống vĩ đại trên thế giới: lòng tốt và tâm từ bi đối với mọi sự sống (trong đó có chính mình), tình yêu vô điều kiện, khiêm nhường, tìm hiểu bản chất của tồn tại, buông bỏ và Kiến Chân Tánh. Từ năm 2002, các Nhóm Nghiên cứu Hawkins đã tự xuất hiện trong nhiều thành phố trên khắp thế giới, từ Los Angeles đến Seoul, từ Cape Town đến Melbourne; các nhóm nghiên cứu và thực hành các nguyên tắc được trình bày trong các cuốn của ông, chẳng hạn như “Chúng ta thay đổi thế giới không phải bằng những điều chúng ta nói hay làm mà bằng con người mà chúng ta đã trở thành.”

 

TỰ TRUYỆN

 

Mặc dù những sự thật được trình bày trong cuốn sách này được suy luận theo lối khoa học và sắp xếp một cách khách quan, nhưng giống như mọi sự thật khác, trước hết chúng là trải nghiệm cá nhân. Một chuỗi trạng thái nhận thức mãnh liệt kéo dài suốt cả cuộc đời, bắt đầu ngay từ khi còn nhỏ, đã truyền cảm hứng và định hướng cho quá trình nhận thức chủ quan, và cuối cùng được trình bày trong loạt cuốn sách loại này.

Khi lên ba tuổi, bỗng xảy ra một sự tỉnh thức trọn vẹn về hiện hữu — một sự hiểu biết không lời nhưng hoàn toàn đầy đủ về ý nghĩa của “Ta Là”, ngay sau đó là sự nhận ra đầy kinh hãi rằng “Ta” có thể đã không hề đi vào hiện hữu. Đó là một sự thức tỉnh tức khắc từ quên lãng vào trong nhận biết hữu thức; và chính trong khoảnh khắc ấy, bản ngã cá nhân được sinh ra, cùng với nhị nguyên của “Có” và “Không” bước vào trải nghiệm chủ quan của tôi.

Suốt thời thơ ấu và đầu tuổi thiếu niên, nghịch lý của tồn tại và câu hỏi về thực tại của tự ngã vẫn là mối quan tâm lặp đi lặp lại nhiều lần. Tự ngã cá nhân đôi khi bắt đầu trượt trở lại vào Đại Ngã phi cá nhân lớn hơn, và nỗi sợ hãi ban đầu về sự không tồn tại—nỗi sợ hãi cơ bản về hư vô—lại tái diễn.

Năm 1939, khi còn là một cậu bé giao báo với tuyến đường đạp xe dài 17 dặm ở vùng nông thôn Wisconsin, vào một đêm đông tối trời, tôi bị mắc kẹt cách nhà hàng dặm trong một trận bão tuyết với nhiệt độ xuống tới -20º. Chiếc xe đạp đổ trên băng, báo chí vương vãi khắp nơi. Nước mắt tôi trào ra vì thất vọng và kiệt sức, quần áo thì cứng ngắc. Để tránh gió, tôi phá vỡ lớp băng cứng của một đống tuyết cao, rồi đào một khoảng trống và chui vào đó. Chẳng mấy chốc, run rẩy chấm dứt và thay vào đó là hơi ấm dễ chịu, rồi một trạng thái bình yên không thể diễn tả được bằng lời. Kèm theo là ánh sáng tràn ngập và sự hiện diện của tình yêu vô biên không có khởi đầu và không có kết thúc, không phân biệt với bản chất của chính tôi. Thân thể vật lý và khung cảnh chung quanh dần tan biến khi nhận biết của tôi hòa nhập vào trạng thái sáng tỏ và hiện diện khắp nơi ấy. Tâm trí trở nên lặng yên; mọi hoạt động của tâm trí chấm dứt. Hiện Diện vô hạn là tất cả những gì đang là — và có thể là — vượt ngoài mọi thời gian và mọi mô tả.

Sau khoảnh khắc vô tận đó, đột nhiên tôi nhận ra có ai đó đang lay đầu gối của mình; rồi khuôn mặt lo lắng của cha tôi hiện ra. Có một sự miễn cưỡng sâu sắc khi phải trở lại thân thể và tất cả những thứ đi kèm; nhưng vì tình yêu và nỗi thống khổ của cha tôi, Thần Linh đã nuôi dưỡng và khơi lại sự sống cho thân xác này. Có tâm từ bi trước sự sợ chết của ông, mặc dù đồng thời, chính khái niệm về chết dường như thật phi lý.

Trải nghiệm chủ quan này không được thảo luận với bất kỳ ai vì không có bối cảnh nào để mô tả nó. Ít khi được nghe về những trải nghiệm tâm linh nào khác ngoài những gì được ghi lại trong cuộc đời của các vị thánh. Nhưng sau trải nghiệm này, thực tại được chấp nhận của thế giới bắt đầu dường như chỉ là tạm thời; những giáo lý tôn giáo truyền thống mất hết ý nghĩa, và, ngược đời là, tôi trở thành một người theo thuyết bất khả tri. So với ánh sáng của Thần Tính đã soi sáng toàn bộ tồn tại, vị thần của tôn giáo truyền thống thực sự tỏa sáng mờ nhạt; do đó, tâm linh đã thế chỗ cho tôn giáo.

Trong Thế chiến II, nhiệm vụ nguy hiểm trên tàu quét mìn thường đưa tôi tới rấn gần cái chết, nhưng tôi không hề sợ chết. Dường như cái chết đã mất đi tính xác thực của nó. Sau chiến tranh, bị cuốn hút bởi sự phức tạp của tâm trí và mong muốn nghiên cứu tâm thần học, tôi đã nỗ lực học tập để tốt nghiệp trường y. Nhà phân tâm học hướng dẫn tôi, một giáo sư tại Đại học Columbia, cũng là người theo thuyết bất khả tri; cả hai chúng tôi đều có quan điểm khá bi quan về tôn giáo. Quá trình phân tích diễn ra tốt đẹp, sự nghiệp của tôi cũng vậy, và thành công đã tới.

Tuy nhiên, tôi không an phận với nghề nghiệp của mình. Tôi mắc phải một căn bệnh chết người, ngày càng nặng thêm, không có biện pháp chữa  trị. Đến năm 38 tuổi, tôi ở trong tình trạng nguy kịch và biết mình sắp chết. Tôi không quan tâm đến thân xác, nhưng tinh thần tôi đang trong trạng thái đau khổ và tuyệt vọng tột cùng. Khi khoảnh khắc cuối cùng đến gần, một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi, Nếu có Chúa thì sao? Vì vậy, tôi đã cầu nguyện, “Nếu có Chúa, con xin Ngài hãy giúp con ngay bây giờ.” Tôi đã phó thác trước bất kỳ Thiên Chúa nào và chìm vào quên lãng. Khi tỉnh dậy, đã xảy ra một sự chuyển hoá to lớn đến mức tôi sững sờ kinh ngạc.

Con người trước đây của tôi không còn tồn tại nữa. Không còn tự ngã cá nhân hay bản ngã, chỉ còn Sự Hiện Diện Vô Hạn với sức mạnh vô biên, đấy là tất cả những gì tồn tại. Sự Hiện Diện này đã thay thế cái mà trước đây là “tôi”, và thân thể cùng những hành động của nó được điều khiển hoàn toàn bởi Ý Chí Vô Hạn của Sự Hiện Diện. Thế giới được soi sáng bởi sự trong sáng của một Sự Hợp Nhất Vô Hạn tự thể hiện chính nó như là vạn vật được tiết lộ trong vẻ đẹp và sự hoàn hảo vô hạn của chúng.

Khi cuộc sống tiếp diễn, sự tĩnh lặng này vẫn tồn tại. Không còn ý chí cá nhân; thân thể vật lý hoạt động theo sự chỉ đạo của Ý Chí Vô Hạn, mạnh mẽ nhưng vô cùng dịu dàng của Sự Hiện Diện. Trong trạng thái đó, không cần phải suy nghĩ về bất cứ điều gì. Tất cả sự thật đều hiển nhiên và không cần thiết hay thậm chí không thể có khái niệm hóa nào. Đồng thời,về mặt thể chất, hệ thần kinh cảm thấy vô cùng quá tải, như thể nó đang phải gánh chịu năng lượng lớn hơn nhiều lần so với thiết kế của các mạch thần kinh.

Không thể hoạt động hiệu quả trong thế gian này. Tất cả những động lực thông thường cùng với mọi nỗi sợ hãi và lo lắng đều biến mất. Không còn gì để tìm kiếm, vì mọi thứ đều hoàn hảo. Danh vọng, thành công và tiền bạc đều trở nên vô nghĩa. Bạn bè thúc giục quay trở lại thực hành lâm sàng, nhưng không còn động lực thông thường nào để làm như thế nữa.

Từ đó xuất hiện khả năng nhận ra thực tại nằm bên dưới các nhân cách: cội nguồn của sự bất ổn cảm xúc nằm ở niềm tin của con người rằng họ chính là nhân cách của mình. Và vì vậy, như thể tự nhiên, một phòng khám lâm sàng được khôi phục và cuối cùng trở thành rất lớn. Mọi người đến từ khắp nơi ở Mỹ. Phòng khám có 2.000 bệnh nhân ngoại trú, cần hơn 50 nhà trị liệu và các nhân viên khác, một dãy 25 văn phòng, và các phòng thí nghiệm nghiên cứu và điện não đồ. Mỗi năm lại có thêm một nghìn bệnh nhân mới. Ngoài ra, như đã nói trước đó, còn xuất hiện trên các chương trình phát thanh và truyền hình. Năm 1973, nghiên cứu lâm sàng được ghi chép lại theo định dạng truyền thống trong cuốn sách Orthomolecular Psychiatry. Tác phẩm này đi trước thời đại 10 năm và gây được tiếng vang lớn.

Tình trạng tổng thể của hệ thần kinh dần được cải thiện, và sau đó bắt đầu xuất hiện hiện tượng khác. Có một dòng năng lượng ngọt ngào, dễ chịu liên tục chảy lên cột sống và vào não, tạo ra một cảm giác khoái lạc mãnh liệt và liên tục. Mọi thứ trong cuộc sống đều xảy ra một cách đồng bộ, tiến hoá trong sự hài hòa hoàn hảo; điều kỳ diệu trở thành phổ biến. Nguồn gốc của những thứ mà thế giới gọi là phép màu là Sự Hiện Diện, chứ không phải là tự ngã cá nhân. Cái còn lại của “tôi” cá nhân chỉ là người chứng kiến ​​những hiện tượng này. Cái “tôi” lớn hơn, sâu sắc hơn tự ngã hay suy nghĩ trước đây của tôi, quyết định tất cả những gì đã xảy ra.

Những trạng thái từng hiện diện đã được những người khác ghi nhận trong suốt chiều dài của lịch sử và dẫn đến việc nghiên cứu các giáo lý tâm linh, bao gồm cả giáo lý của Đức Phật, các giác giả, như Hoàng Bạch, và đạo sư gần đây hơn như Ramana Maharshi và Nisargadatta Maharaj. Do đó, xác nhận rằng những trải nghiệm này không phải là độc nhất vô nhị. Kinh Bhagavad Gita giờ đây đã hoàn toàn có ý nghĩa. Đôi khi, cũng đã xảy ra trạng thái mê ly tâm linh, đúng như Sri Ramakrishna và các vị thánh Kitô giáo ghi nhận.

Mọi thứ và mọi người trên thế giới đều rạng rỡ và đẹp đẽ tuyệt vời. Tất cả chúng sinh đều trở nên Tỏa sáng và thể hiện sự rạng rỡ này trong sự tĩnh lặng và huy hoàng. Rõ ràng là toàn thể nhân loại thực sự được thúc đẩy bởi tình yêu nội tâm nhưng chỉ đơn giản là họ không nhận thức được điều đó; hầu hết các cuộc đời đều được sống như thể bởi những người ngủ say, không thức tỉnh để nhận thức được con người mà họ thực sự đang là. Những người xung quanh tôi trông như đang ngủ và vô cùng đẹp đẽ. Cảm giác như đang yêu tất cả mọi người.

Cần phải ngừng thói quen thiền định một giờ vào buổi sáng và trước bữa tối vì nó sẽ làm tăng cường phúc lạc đến mức không thể hoạt động được. Một trải nghiệm tương tự như trải nghiệm đã xảy ra trong đống tuyết khi còn nhỏ tái diễn, và rời khỏi trạng thái đó và trở lại với thế gian ngày càng trở thành khó khăn hơn. Vẻ đẹp kỳ diệu của vạn vật tỏa sáng trong tất cả sự hoàn hảo của chúng, và nơi thế giới nhìn thấy sự xấu xí, thì lại là vẻ đẹp vĩnh cửu. Tình yêu tâm linh này lan vào mọi tri giác, và mọi ranh giới giữa đây và đó, hay giữa quá khứ và hiện tại, hoặc chia tách đều biến mất.

Trong những năm tháng tĩnh lặng nội tâm, sức mạnh của Sự Hiện Diện ngày càng lớn mạnh. Cuộc sống không còn mang tính cá nhân; ý chí cá nhân không còn tồn tại. Cái “Tôi” cá nhân đã trở thành công cụ của Sự Hiện Diện Vô Hạn và hành động theo ý chí của nó [Hiện Diện]. Mọi người cảm nhận được một sự an bình phi thường trong hào quang của Sự Hiện Diện đó. Người ta tìm kiếm câu trả lời, nhưng vì không còn cá nhân nào như David nữa, họ thực sự đang tìm kiếm câu trả lời từ chính Đại Ngã của mình, vốn không khác gì Đại Ngã của tôi. Từ mỗi người, cùng một Đại Ngã tỏa sáng từ đôi mắt họ.

Điều kỳ diệu đã xảy ra, vượt quá sự hiểu biết thông thường. Nhiều bệnh mãn tính mà cơ thể đã phải chịu đựng trong nhiều năm đã biến mất; thị lực tự nhiên trở lại bình thường, và không còn cần đến kính hai tròng đã đi cùng tôi suốt cuộc đời nữa.

Thỉnh thoảng, một nguồn năng lượng phúc lạc tuyệt vời, một Tình Yêu Vô Hạn, đột nhiên bắt đầu tỏa ra từ trái tim hướng về hiện trường của một tai họa nào đó. Một lần, khi đang lái xe trên đường cao tốc, nguồn năng lượng tuyệt vời này bắt đầu tỏa ra từ lồng ngực. Khi chiếc xe rẽ vào một khúc cua, đã xảy ra một vụ tai nạn ô tô; bánh xe của chiếc xe bị lật vẫn còn quay. Nguồn năng lượng được truyền đi với cường độ mạnh mẽ vào những người ngồi trong xe và sau đó tự dừng lại. Một lần khác, khi tôi đang đi bộ trên đường phố của một thành phố xa lạ, nguồn năng lượng bắt đầu chảy xuống con phố phía trước và đến hiện trường của một cuộc ẩu đả sắp xảy ra. Những người tham gia cuộc ẩu đả lùi lại và bắt đầu cười, và một lần nữa, nguồn năng lượng này dừng lại.

Những chuyển biến sâu sắc trong tri giác xuất hiện mà không hề báo trước, giữa những hoàn cảnh tưởng chừng không thể ngờ. Khi đang dùng bữa một mình tại Rothmann’s ở Long Island, Hiện Diện bỗng gia tăng cường độ, cho đến khi mọi sự và mọi người — vốn trong nhận thức thông thường dường như tách biệt — đều tan hòa vào tính phổ quát và nhất thể vượt ngoài thời gian. Trong sự Im Lặng bất động, rõ ràng là không có “sự kiện” hay “vật thể” nào và thực sự không có gì “xảy ra”, vì quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là những sản phẩm của tri giác, cũng như vọng tưởng về một “tôi” riêng biệt phải sinh và chết. Khi tự ngã hữu hạn, giả tạo tan biến vào Đại Ngã phổ quát của cội nguồn thực sự của nó, có một cảm giác không thể diễn tả được như thể đã trở về nhà, đến trạng thái an bình tuyệt đối và giải thoát khỏi mọi đau khổ. Chỉ có vọng tưởng về cá tính mới là nguồn gốc của mọi đau khổ. Khi người ta ngộ được rằng mình là vũ trụ, trọn vẹn và hòa làm một với Tất Cả Những Gì Tồn Tại, mãi mãi không có hồi kết, thì không còn đau khổ nào nữa.

Bệnh nhân đến từ khắp nơi trên thế giới, một số người là những người tuyệt vọng nhất. Họ đến với vẻ ngoài gớm ghiếc, quằn quại, được quấn trong những tấm ga trải giường ướt để vận chuyển từ các bệnh viện xa xôi, hy vọng được điều trị các chứng loạn thần ngày càng nặng thêm và các rối loạn tâm thần nghiêm trọng, không thể chữa khỏi. Một số người ở trong trạng thái căng trương lực bất động; nhiều người không nói suốt nhiều năm. Nhưng trong mỗi bệnh nhân, ẩn dưới vẻ ngoài tàn tật, vẫn có một bản chất rạng rỡ của tình yêu và vẻ đẹp, có lẽ bị che khuất đến mức người bình thường không thể nhìn thấy, khiến họ hoàn toàn bị bỏ rơi trong thế giới này.

Một ngày nọ, một người phụ nữ bị căng trương lực bất động, câm lặng được đưa vào bệnh viện trong một chiếc áo bó sát người. Cô ta mắc chứng rối loạn thần kinh nghiêm trọng và không thể đứng được. Cô ấy lên cơn co giật, mắt trợn ngược, quằn quại trên sàn nhà. Tóc cô rối bời; cô đã xé rách hết quần áo và phát ra những tiếng khàn khàn. Gia đình cô khá giàu có; do đó, trong nhiều năm, cô đã được vô số bác sĩ và chuyên gia nổi tiếng từ khắp nơi trên thế giới thăm khám. Mọi phương pháp điều trị đều đã được thử, và giới y khoa đã coi cô ấy là vô vọng.

Một câu hỏi ngắn, không lời xuất hiện: Chúa ơi, Ngài muốn làm gì với cô ấy? Rồi cô nhận ra rằng mình chỉ cần được yêu thương; chỉ vậy thôi. Tự ngã bên trong cô tỏa sáng qua đôi mắt, và Đại Ngã kết nối với bản chất yêu thương đó. Trong giây phút ấy, cô được chữa lành bởi chính sự công nhận về bản thân mình; những gì xảy ra với tâm trí hay cơ thể cô không còn quan trọng nữa.

Về bản chất, sự kiện này đã xảy ra với vô số bệnh nhân. Một số người hồi phục trong mắt thế gian, còn một số thì không, nhưng đối với bệnh nhân, việc hồi phục về mặt lâm sàng có xảy ra hay không không còn quan trọng nữa. Những đau đớn bên trong của họ đã chấm dứt. Khi họ cảm thấy được yêu thương và an bình trong tâm hồn, đau đớn của họ biến mất. Hiện tượng này chỉ có thể được giải thích bằng cách nói rằng Tâm Từ Bi của Hiện Diện đã đưa thực tại của từng bệnh nhân vào bối cảnh mới, để mỗi người trải nghiệm sự chữa lành ở một tầng vượt lên trên thế gian và mọi biểu hiện của nó. Sự an bình nội tại của Đại Ngã bao trùm tất cả chúng ta, vượt ngoài thời gian và căn tính.

Rõ ràng là mọi đau đớn và khổ đau chỉ phát sinh từ bản ngã, chứ không phải từ Thiên Chúa. Sự thật này được truyền đạt trong thinh lặng đến tâm trí của các bệnh nhân. Đó chính là chướng ngại tâm trí ở một bệnh nhân khác đang ở trong trạng thái căng trương lực bất động và đã không nói suốt nhiều năm. Đại Ngã đã nói với ông qua tâm trí: “Anh đang đổ lỗi cho Thiên Chúa về những gì mà bản ngã của anh đã gây ra cho chính mình”. Anh ta bật dậy khỏi sàn nhà và bắt đầu nói chuyện, trước sự kinh ngạc của người y tá chứng kiến sự việc.

Công việc ngày càng trở thành nặng nề và cuối cùng là quá sức. Bệnh nhân tồn đọng, chờ giường trống, mặc dù bệnh viện đã xây thêm một khu điều trị. Vô cùng thất vọng vì chỉ có thể làm giảm những đau khổ của con người bằng cách mỗi lần chỉ điều trị được một bệnh nhân. Nó giống như tát nước ra khỏi biển vậy. Dường như phải có một con đường nào khác để chạm đến tận gốc những nguyên nhân của nỗi bất an phổ quát — dòng chảy không dứt những đau khổ tâm linh và thống khổ trong cõi nhân sinh.

Kết quả là tôi quyết định nghiên cứu phản ứng sinh lý (kiểm tra cơ bắp) trước các kích thích khác nhau, và dẫn tới khám phá làm người ta phải kinh ngạc. Đó là “lỗ sâu” (wormhole) giữa hai vũ trụ—thế giới vật chất và thế giới của tâm trí và tâm linh—giao diện giữa các chiều không gian. Trong một thế giới đầy những người đang mê ngủ, lạc lối khỏi cội nguồn của mình, đây là công cụ để hồi phục và chứng minh cho mọi người thấy, rằng họ đã mất kết nối với thực tại cao hơn. Thế là phải kiểm tra tất cả mọi chất, mọi suy nghĩ và khái niệm có thể được đưa vào tâm trí. Các sinh viên và trợ lý nghiên cứu của tôi đã giúp đỡ để hoàn thành công việc này. Rồi có một khám phá quan trọng: trong khi tất cả các đối tượng đều phản ứng yếu trước những kích thích tiêu cực —như đèn huỳnh quang, thuốc trừ sâu và đường hoá học—thì những đệ tử tâm linh, những người đã nâng cao tầng nhận thức của mình lại không phản ứng yếu như những người bình thường. Trong tâm thức của họ, một điều gì đó quan trọng và quyết định đã thay đổi. Nó dường như xảy ra khi họ nhận ra rằng mình không phải là nạn nhân của thế gian mà chỉ bị ảnh hưởng bởi những gì tâm trí của mình tin tưởng. Có lẽ chính quá trình tiến bộ hướng tới Chứng ngộ có thể được chứng minh là làm gia tăng khả năng chống lại những thăng trầm của cuộc đời, trong đó có cả bệnh tật.

Đại Ngã có khả năng thay đổi mọi thứ trên thế giới này bằng cách hình dung ra chúng; Tình yêu đã thay đổi thế giới mỗi khi nó thay thế cho thiếu vắng tình yêu. Có thể thay đổi một cách sâu sắc toàn bộ nền văn minh bằng cách tập trung sức mạnh của tình yêu vào một điểm rất cụ thể. Bất cứ khi nào điều này xảy ra, lịch sử sẽ rẽ vào những con đường mới.

Giờ đây, dường như tuệ giác quan trọng này không chỉ có thể được truyền đạt đến thế giới mà còn có thể được chứng minh một cách rõ ràng và không thể nào bác bỏ được. Dường như bi kịch lớn lao của đời người vẫn luôn là: tâm trí con người quá dễ bị đánh lừa; và bất hòa, xung đột chính là hệ quả tất yếu của việc nhân loại không thể phân biệt được thật giả. Thế nhưng, ở đây lại xuất hiện một lời giải cho nan đề căn bản ấy — một cách tái định vị và đặt lại toàn bộ bối cảnh của chính bản chất của Tâm thức, và giải thích những điều mà trước đây chỉ có thể suy đoán.

Đã đến lúc rời bỏ cuộc sống ở New York, với căn hộ trong thành phố và ngôi nhà ở Long Island, để theo đuổi điều gì đó quan trọng hơn. Cần phải hoàn thiện chính mình như một công cụ. Điều này đòi hỏi phải rời bỏ thế gian và mọi thứ trong đó, thay thế bằng cuộc sống ẩn dật ở một thị trấn nhỏ, và bảy năm tiếp theo được dành cho thiền định và nghiên cứu.

Những trạng thái phúc lạc mãnh liệt trở lại mà không cần tìm kiếm, và cuối cùng, cần phải học cách hiện diện trong Sự Hiện Diện Thiêng Liêng mà vẫn hoạt động được trong thế giới này. Tâm trí không còn quan tâm tới những sự kiện đang xảy ra trên thế giới rộng lớn ở ngoài kia. Muốn nghiên cứu và viết lách, cần phải tạm dừng mọi hoạt động tâm linh và tập trung vào thế giới hình tướng. Đọc báo và xem truyền hình giúp cập nhật tin tức về những nhân vật quan trọng, các sự kiện chính và bản chất của cuộc đối thoại xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Những trải nghiệm chủ quan về sự thật, vốn là lĩnh vực của các nhà huyền môn, những người tác động đến toàn nhân loại bằng cách truyền năng lượng tâm linh vào tâm thức tập thể, mà phần lớn nhân loại không thể hiểu được và do đó có ý nghĩa hạn chế, trừ những người tìm kiếm tâm linh.  Điều này dẫn đến nỗ lực trở thành người bình thường, vì chỉ cần sống bình thường cũng đã là một biểu hiện của Thần tính; sự thật về tự ngã thực sự của mỗi người có thể được khám phá bằng cách sống cuộc đời bình thường. Tất cả những việc cần làm là sống với thái độ quan tâm và tử tể. Cùng với thời gian, phần còn lại sẽ tự bộc lộ. Cái bình thường và Thiên Chúa không tách rời nhau.

Và thế là, sau một hành trình dài vòng quanh của linh hồn, có một sự quay trở lại với công việc hệ trọng nhất: nỗ lực đưa Sự Hiện Diện ấy đến gần hơn - dù chỉ một chút thôi - sự hiểu biết của càng nhiều người càng tốt.

Sự Hiện Diện tĩnh lặng và truyền tải trạng thái an bình, đó là không gian mà trong đó và nhờ đó tất cả mọi thứ tồn tại và có sự hiện hữu và trải nghiệm chính mình. Nó vô cùng dịu dàng nhưng lại vững chắc như đá tảng. Với Nó, mọi sợ hãi đều biến mất. Niềm vui tâm linh xảy ra ở tầng tĩnh lặng của mê ly không thể nào giải thích được. Vì trải nghiệm về thời gian dừng lại, nên không có lo lắng hay hối tiếc, không có đau đớn hay dự đoán; cội nguồn của niềm vui là bất tận và luôn có đó. Không có khởi đầu hay kết thúc, nên không có mất mát, buồn phiền hay ham muốn. Không cần phải làm gì; mọi thứ đã hoàn hảo và trọn vẹn.

Khi thời gian dừng lại, mọi vấn đề đều tan biến; chúng chỉ là những tạo tác của một điểm nhìn tri giác mà thôi. Khi Sự Hiện Diện ngự trị, không còn bất kỳ sự đồng nhất nào với thân thể hay tâm trí. Khi tâm trí hoàn toàn lặng yên, ngay cả ý niệm “Tôi Là” cũng biến mất, và Nhận Biết Thuần Khiết tự tỏa sáng, soi chiếu bản thể vốn đang là, đã từng là và sẽ mãi mãi là — vượt ngoài mọi thế giới và mọi vũ trụ, vượt ngoài thời gian, nên không có khởi đầu cũng chẳng có kết thúc.

Mọi người tự hỏi, Làm sao đạt được trạng thái nhận thức này? nhưng ít người làm theo các bước, bởi vì chúng quá đơn giản. Trước kết, khát vọng đạt được trạng thái đó phải rất mãnh liệt. Rồi bắt đầu quá trình rèn luyện để hành động với tâm tha thứ và dịu dàng liên tục và phổ quát, không có ngoại lệ. Phải có tâm từ bi đối với mọi thứ, kể cả chính mình và những suy nghĩ của chính mình. Tiếp theo là sẵn sàng tạm gác những ham muốn và từ bỏ ý chí cá nhân trong mọi khoảnh khắc. Khi mỗi suy nghĩ, cảm xúc, ham muốn hay hành động được phó thác cho Thiên Chúa, tâm trí dần trở nên tĩnh lặng. Ban đầu, nó giải phóng toàn bộ những câu chuyện và đoạn văn, sau đó là những ý tưởng và khái niệm. Khi buông bỏ ý muốn chiếm hữu những ý nghĩ này, chúng không còn phát triển đến mức tinh vi như trước, mà bắt đầu tan rã ngay khi còn đang trong giai đoạn hình thành. Cuối cùng, thậm chí có thể trao trả chính năng lượng đứng đằng sau ý nghĩ — trước cả khi nó kịp trở thành một ý nghĩ.

Nhiệm vụ là giữ sự định tâm liên tục và không lay chuyển, không cho phép dù chỉ một khoảnh khắc xao lãng khỏi thiền định — ngay cả khi đang thực hiện những sinh hoạt thường ngày. Ban đầu điều này dường như rất khó khăn, nhưng theo thời gian, nó trở nên quen thuộc, tự động, đòi hỏi ngày càng ít nỗ lực hơn, cho đến khi hoàn toàn không cần nỗ lực nữa. Quá trình ấy giống như một tên lửa rời khỏi Trái Đất. Lúc đầu, nó cần một năng lượng khổng lồ; rồi nhu cầu ấy giảm dần khi thoát khỏi trường hấp dẫn của Trái Đất; và cuối cùng, nó chuyển động trong không gian bằng chính quán tính của mình.

Đột nhiên, không hề báo trước, xảy ra dịch chuyển trong nhận thức và Sự Hiện Diện có đó, không thể nhầm lẫn và bao trùm tất cả. Có một vài khoảnh khắc lo lắng khi tự ngã chết đi, và rồi sự tuyệt đối của Hiện Diện đã truyền cảm hứng cho một tia kinh ngạc. Bước đột phá này thật ngoạn mục, mãnh liệt hơn bất cứ điều gì từng xảy ra trước đây. Nó không có gì tương đồng trong trảinghiệm thông thường. Cú sốc sâu sắc được xoa dịu bởi tình yêu thương đồng hành với Sự Hiện Diện. Nếu không có sự hỗ trợ và bảo vệ của tình yêu đó, người ta sẽ bị tiêu hủy.

Tiếp theo là khoảnh khắc kinh hoàng vì bản ngã bám víu vào sự tồn tại của nó, sợ rằng nó sẽ trở thành hư không. Thay vào đó, khi nó chết đi, nó được thay thế bởi Đại Ngã như là Mọi Vật, Cái Toàn Thể mà trong đó vạn vật đều được biết và hiển nhiên trong sự biểu hiện hoàn hảo của bản chất riêng của nó. Với tính phi định xứ, nhận thức được rằng người đó là tất cả những gì đã từng tồn tại hoặc có thể tồn tại. Người đó là toàn thể và viên mãn, vượt ngoài mọi căn tính, vượt ngoài mọi giới tính, vượt cả chính tính người. Người đó không bao giờ cần phải sợ hãi đau khổ và cái chết nữa. Những gì xảy ra với cơ thể từ thời điểm này trở đi là không quan trọng. Ở những tầng nhận thức tâm linh nhất định, các bệnh tật của cơ thể sẽ tự lành hoặc tự biến mất. Nhưng ở trạng thái tuyệt đối, những suy nghĩ như vậy là không liên quan. Cơ thể sẽ trải qua quá trình được tiên liệu của nó và sau đó trở về nơi nó đã đến. Đó là vấn đề không quan trọng; người đó không bị ảnh hưởng. Cơ thể xuất hiện như là “nó” chứ không còn là “tôi”, như một vật thể khác, giống như đồ đạc trong phòng. Có vẻ buồn cười khi mọi người vẫn coi cơ thể như thể nó là cá nhân “bạn”, nhưng không có cách nào giải thích trạng thái nhận thức này cho người không nhận thức được. Tốt nhất là cứ tiếp tục công việc của mình và để cho Thiên Chúa xử lý những điều chỉnh xã hội.

Tuy nhiên, khi đạt đến trạng thái phúc lạc, rất khó che giấu trạng thái mê ly đó. Thế giới có thể bị choáng ngợp, và mọi người có thể đến từ khắp nơi để được ở trong hào quang đi kèm với nó. Những người tìm kiếm tâm linh và những người tò mò về tâm linh, cũng như những người bệnh nặng đang tìm kiếm phép màu có thể bị cuốn hút vào đó. Người đó có thể trở thành một thỏi nam châm và nguồn vui cho họ. Thông thường, ở giai đoạn này, người ta mong muốn chia sẻ trạng thái này với người khác và sử dụng nó vì lợi ích của tất cả mọi người.

Ban đầu, trạng thái mê ly đi kèm với tình trạng này không hoàn toàn ổn định; cũng có những khoảnh khắc đau đớn tột cùng. Khoảng khắc dữ dội nhất xảy ra khi trạng thái dao động và đột ngột chấm dứt mà không có lý do rõ ràng. Đấy là thời gian mang đến những giai đoạn tuyệt vọng tột cùng và nỗi sợ hãi rằng mình đã bị Sự Hiện Diện bỏ rơi. Những lần rớt xuống này làm cho con đường trở thành gian nan, và phải có ý chí mạnh mẽ thì mới vượt qua những lần rớt xuống này. Cuối cùng, rõ ràng là người đó phải vượt qua tầng này hoặc liên tục chịu đựng những “sự sa sút từ ân phước” đầy đau đớn. Vậy nên, vinh quang của mê ly cũng phải được buông bỏ khi người đó bước vào nhiệm vụ gian khổ là vượt qua nhị nguyên cho đến khi vượt lên trên mọi đối lập và những lực kéo mang tính xung đột của chúng. Nhưng từ sẵn sàng bỏ xiềng xích sắt của bản ngã là một chuyện, từ bỏ xiềng xích vàng của niềm vui ngây ngất lại là chuyện hoàn toàn khác. Cảm giác như thể người đó đang từ bỏ Thiên Chúa, và sợ hãi mới trỗi dậy, chưa từng lường trước được. Đây là nỗi kinh hoàng cuối cùng của sự cô đơn tuyệt đối.

Đối với bản ngã, nỗi sợ về không tồn tại thật đáng sợ, và nó liên tục lùi bước mỗi khi dường như nó đang đến gần. Mục đích của những đau khổ và những đêm tối của tâm hồn khi đó trở nên rõ ràng. Không thể chịu đựng được đến nỗi đau tột cùng của chúng thúc đẩy người đó nỗ lực hết sức để vượt qua chúng. Khi sự dao động giữa thiên đường và địa ngục trở thành không thể chịu đựng được, thì khát vọng tồn tại phải được từ bỏ. Chỉ khi làm được việc này, thì cuối cùng người đó mới có thể vượt qua được sự đối lập giữa Toàn thể và hư vô, vượt qua sự tồn tại và không tồn tại. Đỉnh điểm của công việc nội tâm này là giai đoạn khó khăn nhất, bước ngoặt cuối cùng, nơi người đó nhận thức rõ ràng rằng vọng tưởng về sự tồn tại mà mình vượt qua là không thể đảo ngược được. Không có đường quay lại từ bước này, và bóng ma của sự không thể đảo ngược này khiến rào cản cuối cùng này dường như là sự lựa chọn khó khăn nhất.

Nhưng, trên thực tế, trong sự diệt vong cuối cùng của tự ngã, sự tan biến của sự đối lập duy nhất còn lại giữa tồn tại và không tồn tại—chính là bản sắc—tan biến trong Thần tính Vũ trụ, và không còn ý thức cá nhân nào để lựa chọn. Bước cuối cùng, do đó, được thực hiện bởi Thiên Chúa.

 

—David R. Hawkins

Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời!

VỀ TÁC GIẢ

 

Tiến sĩ David Ramon Hawkins (1927–2012) là một vị thầy tâm linh, tác giả và diễn giả nổi tiếng quốc tế về các trạng thái tâm linh cao cấp, về nghiên cứu Tâm thức, và về sự chứng ngộ Sự Hiện Diện của Thiên Chúa như là Đại Ngã.

Các tác phẩm đã xuất bản của ông cũng như các bài giảng được ghi lại đã được nhiều người công nhận là độc nhất vô nhị, theo nghĩa, nhận thức mang tính tâm linh trong một người có kiến thức khoa học và lâm sàng, rồi sau đó có thể diễn đạt bằng ngôn từ và giải thích hiện tượng bất thường này một cách rõ ràng và có thể hiểu được.

Quá trình chuyển đổi từ trạng thái bản ngã bình thường của tâm trí sang trạng thái giải thoát bởi Sự Hiện Diện được trình bày trong bộ ba tác phẩm Power vs. Force (1995, xem lại 2012, tái bản 2013) được Mẹ Teresa ca ngợi; The Eye of the I From Which Nothing Is Hidden (2001) và I: Reality and Subjectivity (2003), đã được dịch sang phần lớn các ngôn ngữ chính trên thế giới. Tác phẩm Truth vs. Falsehood: How to Tell the Difference (2005), Transcending the Levels of Consciousness Stairway to Enlightenment (2006)và Discovery of the Presence of God: Devotional Nonduality (2007)  tiếp tục khảo sát những biểu hiện và hạn chế cố hữu của bản ngã cũng như cách siêu việt chúng. Letting Go: The Pathway of Surrender (2012) tiết lộ phương pháp loại bỏ những trở ngại đối với trải nghiệm Đại Ngã cao hơn. Success Is for You: Using Heart-Centered Principles for Lasting Abundance and Fulfillment (2016) cung cấp phương pháp chính xác để đạt được thành công trong kinh doanh và các lĩnh vực khác của đời sống.

Bộ ba tác phẩm đầu tiên có xuất xứ từ công trình nghiên cứu về Bản chất của tâm thức và luận án tiến sĩ, nhan đề , Qualitative and Quantitative Analysis and Calibration of the Levels of Human Consciousness (1995), các công trình này thiết lập mối tương liên giữa những lĩnh vực dường như khác hẳn nhau: khoa học và tâm linh. Đó là nhờ khám phá được kỹ thuật quan trọng mà lần đầu tiên trong lịch sử loài người đã chứng tỏ là phương tiện phân biệt sự thật với dối trá.      

Tầm quan trọng của công trình đã được công nhận bằng bài điểm sách dài và với những đánh giá rất thuận lợi trên tờ Brain/Mind Bulletin và các buổi thuyết trình sau đó như Hội nghị về Khoa học và Tâm thức Quốc tế (International Conference on Science and Consciousness).

Phản hồi trước nhận xét của ông rằng trong nhiều thời đại, do không có người giải thích mà nhiều sự thật tâm linh đã bị hiểu lầm, tiến sĩ Hawkins đã tổ chức những buổi hội thảo hằng tháng để trình bày những giải thích chi tiết, nhưng quá dài, không thể viết thành sách. Các băng ghi âm với phần cuối là những câu hỏi và trả lời, càng làm rõ thêm vấn đề được trình bày. Cuốn The Book of Slides: The Complete Collection Presented at the 2002–2011 Lectures with Clarifications (2018) là bản tóm tắt các slide bài giảng của ông.

Mục đích tổng thể của công trình trọn đời này là đưa trải nghiệm của con người vào bối cảnh mới, bằng những thuật ngữ tiến hóa của tâm hức và hợp nhất sự hiểu biết của cả tâm trí và linh hồn như những biểu hiện của Thần tính bẩm sinh, vốn là nền tảng và cội nguồn bất tận của đời sống và Hiện hữu. Cống hiến của ông được thể hiện bằng tuyên bố “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời!”, được viết ngay trên trang đầu và trang cuối các tác phẩm của ông.


[1] Ghi chú: “Phi tuyến” (nonlinear) là thuật ngữ toán–vật lý, chỉ các hệ thống vận hành không theo quan hệ nhân–quả tuyến tính và có thể biểu lộ tính hỗn độn (xem Chaos Theory). Trong khi đó, “phi nhị nguyên” (nonduality, xem bên trên) là thuật ngữ tâm linh, chỉ trạng thái vượt lên trên sự phân chia chủ thể–đối tượng. Hai khái niệm này thuộc hai bình diện hoàn toàn khác nhau, dù cùng hàm ý vượt khỏi mô hình tư duy nhị phân thông thường - ND.

[2] Ghi chú: Không gian pha là không gian toán học trong đó mỗi điểm biểu thị toàn bộ trạng thái của một hệ thống động lực tại một thời điểm. Bản đồ Poincaré, do Henri Poincaré đề xuất, giúp nhận diện cấu trúc điểm hút (attractor) bằng cách quan sát một lát cắt của chuyển động trong không gian đa chiều - ND.

[3] Ghi chú: Chẳng hạn, một người lớn tuổi nghĩ rằng người trẻ phải kính trọng mình. Sự tôn trọng tự thân là điều đẹp; nhưng khi ta cần nó để cảm thấy mình có giá trị, và khổ tâm nếu không được đáp ứng, thì đó là một lập trường của bản ngã. Khi tình yêu thay thế nhu cầu được xác nhận, lập trường ấy tự nhiên tan biến, và sự tôn trọng — nếu có — trở thành điều đến từ tự do chứ không từ đòi hỏi - ND.

[4] Holistic (chỉnh thể): Cách nhìn xem một hiện tượng như một chỉnh thể thống nhất, trong đó các phần chỉ có ý nghĩa khi đặt trong mối tương quan với toàn bộ. Khác với cách tiếp cận phân tích vốn tách rời từng phần để nghiên cứu riêng lẻ - ND.



[i] Mandelbrot set là một tập hợp các điểm trên mặt phẳng phức, được định nghĩa bởi một quy luật lặp (iteration) rất đơn giản nhưng tạo ra cấu trúc hình học fractal cực kỳ phức tạp. Tên gọi đến từ nhà toán học Benoit Mandelbrot.

[ii] Định lý Bell của John Stewart Bell (1964) cho thấy rằng nếu ta giả định các thuộc tính của hạt tồn tại sẵn và không chịu ảnh hưởng tức thời từ xa, thì các kết quả đo phải tuân theo những giới hạn toán học nhất định (bất đẳng thức Bell). Tuy nhiên, cơ học lượng tử tiên đoán — và thí nghiệm xác nhận — sự vi phạm các giới hạn này. Điều đó hàm ý rằng ở cấp độ vi mô, thực tại không thể được mô tả đầy đủ bằng quan niệm cổ điển về tính cục bộ và hiện thực độc lập.

 Chú thích cuối cùng:

Trong thuật ngữ của David R. Hawkins:

I. Tầng Thực Tại Tối Hậu (siêu hình) có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ cùng một Thực Tại duy nhất. Bốn thuật ngữ sau đây không chỉ bốn thực thể khác nhau, mà là bốn lăng kính mô tả:

1.      The Absolute – Tuyệt Đối
(Thuần siêu hình, không mang sắc thái tôn giáo.)

2.      The Divine – Thực Tại Thiêng liêng/Thần tính Tối hậu

3.      Godhead – Thần tính Nguyên uỷ
(trước cả Ba Ngôi trong thần học Kitô giáo).

4.      The Supreme – Đấng Tối Thượng / Tối Thượng Thể
mang sắc thái tôn kính nhưng vẫn ở bình diện siêu hình hơn là cá vị.

Khác biệt vi tế trong sắc thái:

·         The Absolute → nhấn mạnh tính vô điều kiện.

·         The Supreme → nhấn mạnh tính tối cao.

·         Godhead → nhấn mạnh bản thể trước mọi phân biệt.

·         The Divine → nhấn mạnh phẩm tính thiêng liêng nội tại.

Tất cả đều quy chiếu về một Thực Tại duy nhất, vượt ngoài ngôn từ và khái niệm.

II. TẦNG THẦN HỌC (Ngôi vị – tương quan)

Ở tầng này, Thực Tại Tối Hậu được hiểu không chỉ như Bản thể siêu hình, mà như Đấng có thể bước vào tương quan.

1. God – Thiên Chúa. Danh xưng cá vị của Thực Tại tối hậu trong tương quan với tạo vật.
Nhấn mạnh chiều kích sáng tạo, yêu thương, và mặc khải.Khác với The Absolute (thuần siêu hình), “God” hàm ý tương quan: Thiên Chúa – thụ tạo.

2. Deity – Thần tính / Thần linh. Thuật ngữ trung tính chỉ bản chất thần linh nói chung.
Có thể dùng trong nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau,
không giới hạn trong Kitô giáo.

Lưu ý vi tế: God → danh xưng cá vị cụ thể. Deity → bản tính thần linh (tính chất), không nhất thiết là một Ngôi vị xác định.

3. Lord – Chúa. Cách gọi mang sắc thái phụng vụ, tôn kính, hoặc tương quan cá nhân sâu sắc. Thường được dùng trong cầu nguyện hoặc phụng vụ.

Khác biệt vi tế: God → danh xưng thần học. Lord → danh xưng tương quan và thờ phượng.

“Lord” nhấn mạnh sự quy phục, tín thác, và mối dây cá nhân giữa người cầu nguyện và Đấng được gọi.

Ghi chú quan trọng

Ba thuật ngữ này không chỉ ba thực thể khác nhau, mà là ba cách nói về cùng một Thực Tại khi được hiểu trong bình diện tương quan.

Nếu Tầng I nói về Bản thể, thì Tầng II nói về mối quan hệ.

 III. TẦNG TRẢI NGHIỆM NỘI TÂM

(Huyền nhiệm – trực chứng)

Ở tầng này, Thực Tại không còn được bàn luận như khái niệm siêu hình hay ngôi vị thần học, mà được trực tiếp trải nghiệm trong nội tâm.

 1. Presence – Sự Hiện diện

Cảm nhận trực tiếp về Thực Tại đang hiện hữu. Không phải một khái niệm, không phải một “đấng” ở xa, mà là tính đang-là sống động ngay trong trải nghiệm.

Khác biệt vi tế: The Absolute → mô tả siêu hình. Presence → trải nghiệm trực tiếp.

Trong ngôn ngữ của David R. Hawkins, “the Presence of God” chỉ trạng thái thần nghiệm, nơi tâm trí lặng yên và Thực Tại được biết trực tiếp, không qua trung gian tư tưởng.

2. Self (viết hoa) – Đại Ngã. Bản thể chân thật, nền tảng bất sinh bất diệt, đồng nhất với Thiên Chúa trong trải nghiệm hợp nhất. Không phải một “cái tôi cao hơn”, mà là chính Bản thể thuần khiết vượt ngoài phân tách chủ thể – đối tượng.

3. ego / self (viết thường) – bản ngã/cái tôi/tự ngã. Cấu trúc nhận thức cá nhân dựa trên cảm thức phân tách. Bao gồm ký ức, đồng nhất hóa, câu chuyện về “tôi”. Đây là trung tâm của nhị nguyên và tìm kiếm.

4. Holy Spirit – Chúa Thánh Thần/Thánh Linh. Sự Hiện diện hướng dẫn nội tâm; cầu nối giữa tự ngã và Đại Ngã. Ở tầng trải nghiệm, đây không chỉ là khái niệm thần học,
mà là sự dẫn dắt được cảm nhận trong trực giác, lương tâm, và ánh sáng nội tâm.

5. Christ Consciousness – Tâm thức Kitô. Trạng thái hợp nhất trong Tình Yêu vô điều kiện. Không giới hạn vào nhân vật lịch sử Jesus Christ,mà chỉ mức độ tâm thức hợp nhất vượt ngoài bản ngã.

Phân biệt vi tế giữa Presence và Self: Presence → trải nghiệm về Thực Tại đang hiện hữu. Self → chính Bản thể đang hiện hữu đó. Nói cách khác: Presence là cách Đại Ngã được trực tiếp cảm nhận. Self là chính Đại Ngã. Presence thuộc bình diện trải nghiệm.
Self thuộc bình diện bản thể.

 Phân định ba thuật ngữ thường bị chồng lấn Being – Pure Awareness – Consciousness

 I. Being – Hữu thể / Tính Là. Being không phải “một cái gì đó đang tồn tại”. Nó là tính đang-là tự thân. Không nội dung. Không chủ thể. Không đối tượng. Chỉ đơn giản là: . Trong truyền thống thần bí Kitô giáo, điều này gần với mặc khải “I AM” trong Book of Exodus.

Trong siêu hình học cổ điển, Being tương ứng với ipsum esse — Hữu thể tự thân. Being không phải một trải nghiệm. Nó là nền của mọi trải nghiệm. Nó không sinh, không diệt, không tăng, không giảm.

 II. Pure Awareness – Nhận biết thuần khiết. Nếu Being là “Là”, thì Pure Awareness là “Biết”. Đây là ánh sáng biết không nội dung. Không phải suy nghĩ.

Không phải phản xạ tâm lý. Không phải một “người quan sát” cá nhân.

Nó có tính sáng, nhưng chưa có đối tượng xác định. Chưa có “tôi” và “cái được biết” như hai thực thể tách biệt. Trong Thiền tông, khi nói đến “tánh biết”, thường chỉ tầng này.

Pure Awareness vẫn có thể được nói đến như một trạng thái trực nhận.
Nhưng nó chưa phải là toàn bộ hiển lộ của trải nghiệm.

 III. Consciousness – Tâm thức. Consciousness là toàn bộ trường trải nghiệm có thể được biết. Nó bao gồm: Cảm giác; Tư tưởng; Hình ảnh; Ký ức; Cảm xúc; Cảm nhận về “tôi”.

Khác với Pure Awareness (không nội dung), Consciousness luôn có khả năng mang nội dung.

 Hai cách dùng dễ gây nhầm: consciousness (thường)→ tâm thức cá nhân

→ dòng trải nghiệm sinh diệt, biến đổi, phát triển. Consciousness (viết hoa)
→ Trường Tâm Thức phổ quát → nền tảng chung của mọi trải nghiệm.

 Trong hệ thống của David R. Hawkins, “Consciousness” thường được dùng theo nghĩa thứ hai, bao gồm cả trường phổ quát lẫn các mức độ biểu hiện cá nhân. Vì vậy rất dễ nhầm lẫn giữa Consciousness và Pure Awareness.

 Vị trí tương quan trong hệ thống của Hawkins: Being → Tính Là thuần túy; Pure Awareness → Ánh sáng biết không nội dung; Consciousness → Sự hiển lộ có nội dung trong ánh sáng đó.

Tâm thức là nơi xuất hiện: “Tôi”; “Thế giới”; “Thiên Chúa”; “Tìm kiếm”; “Chứng ngộ”; Tất cả đều diễn ra trong Tâm thức. Tâm thức có thể: Co lại thành bản ngã; Mở rộng thành hợp nhất; Tan vào im lặng. Nhưng Being không biến đổi.

 IV. Kiến chân tính nằm ở đâu? Không phải ở Consciousness — vì nó còn vận động.

Không hẳn ở Pure Awareness — vì đó vẫn còn được diễn tả như “biết”. Kiến chân tính là sự nhận ra rằng: Being, Awareness và toàn bộ nội dung của Consciousness chưa từng tách rời. Không có một “ai đó” đứng ngoài để đạt tới nó. Không có một tiến trình nâng cấp bản thể. Chỉ là sự sáng tỏ rằng nền tảng chưa từng bị che khuất. Kiến chân tính là nhận ra rằng cái mình tưởng là “tôi” chưa từng là trung tâm thực sự; và cái luôn hiện hữu – không sinh, không diệt – chính là nền tảng của mọi trải nghiệm (Đại Ngã).