ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
CHƯƠNG
2
CƠ CHẾ BUÔNG BỎ
Buông bỏ là gì?
Ví dụ điển hình: Bạn đang tranh
cãi gay gắt; bạn đang tức giận và khó chịu, khi đột nhiên toàn bộ sự việc làm
cho bạn thấy thật vô lý và nực cười. Bạn bắt đầu cười. Áp lực được giải tỏa. Bạn
thoát khỏi giận dữ, sợ hãi và cảm giác bị tấn công tới cảm giác mình đột nhiên được
tự do và hạnh phúc.
Hãy
nghĩ xem sẽ tuyệt vời biết bao nếu bạn có thể làm như thế mọi lúc, mọi nơi, và
với bất kỳ sự kiện nào. Bạn có thể luôn luôn cảm thấy tự do và hạnh phúc và
không bao giờ có cảm giác bị dồn vào chân tường nữa. Đó chính là cái mà kỹ thuật
này nói tới: buông bỏ một cách có ý thức và thường xuyên theo ý mình muốn. Lúc
đó, bạn sẽ làm chủ được cảm thọ của mình, và không còn phụ thuộc vào thế gian
và những phản ứng của bạn đối với thế gian nữa. Bạn không còn là nạn nhân. Đây
là áp dụng giáo lý cơ bản mà Đức Phật truyền dạy, giúp loại bỏ áp lực của những
phản ứng tự phát (Involuntary Reactivity[i]).
Chúng
ta mang theo bên mình rất nhiều cảm thọ, thái độ và niềm tin tiêu cực được tích
lũy lại. Áp lực được tích lũy lại làm cho chúng ta khốn khổ và là nguyên nhân của
nhiều bệnh tật và vấn đề. Chúng ta cam chịu sự kiện đó và biện minh bằng cụm từ
“thân phận con người”. Chúng ta tìm cách trốn tránh bằng nhiều cách khác nhau.
Cuộc sống của một người trung bình được dùng vào việc tìm cách tránh né và chạy
trốn khỏi sự hỗn loạn nội tâm do sợ hãi và khốn khổ đe doạ. Lòng tự trọng của mỗi
người luôn luôn bị đe dọa từ cả bên trong lẫn bên ngoài.
Nếu
nhìn kỹ vào đời sống con người, chúng ta thấy rằng về cơ bản đó là một cuộc đấu
tranh kéo dài và phức tạp nhằm thoát khỏi sợ hãi và kỳ vọng ở bên trong mà
chúng ta đã phóng chiếu ra thế giới bên. Xen kẽ là những khoảng thời gian ăn mừng,
khi chúng ta tạm thời thoát khỏi sợ hãi ở bên trong, nhưng sợ hãi vẫn còn đó, đang
chờ đợi chúng ta. Chúng ta trở nên sợ hãi những cảm thọ bên trong, vì chúng lưu
giữ nhiều tiêu cực đến mức chúng ta sợ rằng nếu nhìn sâu hơn thì mình sẽ bị
chúng áp đảo. Chúng ta sợ những cảm thọ này vì chúng ta không có cơ chế hữu thức
nào để xử lý cảm thọ nếu để chúng trỗi dậy. Vì chúng ta sợ đối mặt với chúng,
chúng tiếp tục được tích tụ và cuối cùng, chúng ta thầm mong đợi cái chết để chấm
dứt mọi khổ đau. Không phải suy nghĩ hay sự thật mà những cảm thọ đi kèm với
chúng mới làm chúng ta đau đớn. Suy nghĩ, tự thân nó, không làm chúng ta đau, chính
những cảm thọ nằm bên dưới mới làm cho chúng ta đau!
Áp lực của cảm thọ được tích tụ lại là nguyên nhân tạo ra suy nghĩ. Ví dụ, một cảm thọ có thể tạo ra hàng ngàn suy nghĩ
trong một khoảng thời gian dài. Xin nghĩ đến một ký ức đau buồn từ thời thơ ấu,
một tiếc nuối khinh hoàng bị che giấu. Xin nhìn vào tất cả những năm tháng suy tư
dài đằng đẵng gắn liền với sự kiện duy nhất đó. Nếu chúng ta có thể buông bỏ cảm
thọ đau buồn nằm bên dưới nó, thì tất cả những suy nghĩ đó sẽ biến mất ngay lập
tức và chúng ta sẽ quên sự kiện đó.
Nhận
xét này phù hợp với nghiên cứu khoa học. Đấy là lý thuyết khoa học mang tên
Gray-LaViolette tích hợp tâm lý học và sinh lý thần kinh. Nghiên cứu này chứng
minh rằng sắc thái của cảm thọ sắp xếp suy nghĩ và trí nhớ (Gray-LaViolette,
1981). Suy nghĩ được lưu trữ trong bộ nhớ theo các sắc thái cảm thọ khác nhau gắn
liền với những suy nghĩ đó. Do đó, khi chúng ta từ bỏ hoặc buông bỏ một cảm thọ
nào đó, là chúng ta đưa mình ra khỏi tất cả những suy nghĩ liên quan.
Giá
trị to lớn của biết buông bỏ là bạn có thể buông bỏ tất cả các cảm thọ, bất cứ khi
nào, bất cứ ở đâu, ngay lập tức, và việc này có thể được thực hiện một cách liên
tục và dễ dàng.
Trạng
thái buông bỏ là gì? Có nghĩa là thoát khỏi những cảm thọ tiêu cực trong một
lĩnh vực nhất định, để khả năng sáng tạo và tính tự phát có thể được hiển lộ mà
không gặp phải phản đối hay can thiệp của những xung đột nội tâm. Giải thoát khỏi
xung đột và kỳ vọng nội tâm chính là trao cho những người khác trong cuộc đời của
chúng ta tự do lớn nhất. Nó cho phép chúng ta trải nghiệm bản chất cơ bản của
vũ trụ, mà sau này sẽ được khám phá ra, đó là điều tốt đẹp nhất có thể trong một
tình huống. Nghe có vẻ quá triết lý, nhưng khi thực hiện, nó là sự thật có thể
trải nghiệm được.
Chúng ta có ba biện pháp chính để xử lý cảm thọ: kìm nén, thể hiện, và trốn tránh. Chúng ta sẽ thảo luận từng biện pháp.
1. Kìm nén và ức chế[ii]. Đây là những
biện pháp phổ biến nhất: chúng ta kìm nén cảm thọ và gạt sang một bên. Trong ức
chế, nó xảy ra một cách vô thức; trong kìm nén nó xảy ra một cách có ý thức.
Chúng ta không muốn bị cảm thọ làm phiền và, hơn nữa, chúng ta không biết phải
làm gì khác với những cảm thọ này. Chúng ta cố gắng chịu đựng và tiếp tục hoạt
động theo cách mà chúng ta cho là tốt nhất. Những cảm thọ mà chúng ta chọn để
kìm nén hoặc ức chế phù hợp với các chương trình hữu thức và vô thức mà chúng
ta mang theo bên mình từ phong tục xã hội và giáo dục của gia đình. Sau đó áp lực
của những cảm thọ bị kìm nén được cảm nhận như cáu kỉnh, thay đổi tâm trạng,
căng cơ ở cổ và lưng, đau đầu, chuột rút, rối loạn kinh nguyệt, viêm đại tràng,
khó tiêu, mất ngủ, tăng huyết áp, dị ứng và các bệnh lý khác.
Khi chúng ta ức chế một cảm
thọ, đó là vì có quá nhiều mặc cảm tội lỗi và sợ hãi về cảm thọ đó đến nỗi nó
thậm chí không được cảm nhận một cách có ý thức. Nó ngay lập tức bị đẩy vào tiềm
thức ngay khi có nguy cơ bộc lộ. Cảm thọ bị ức chế sau đó được xử lý bằng nhiều
cách khác nhau để đảm bảo rằng nó vẫn bị ức chế và nằm ngoài nhận thức.
Trong số các cơ chế mà tâm trí sử dụng để giữ cho cảm thọ bị ức chế, thì phủ nhận và phóng chiếu có lẽ là những phương pháp được biết đến nhiều nhất, vì chúng có xu hướng đi cùng với nhau và củng cố lẫn nhau. Phủ nhận dẫn đến những rào cản lớn về cảm xúc và trưởng thành. Nó thường đi kèm với cơ chế phóng chiếu. Vì mặc cảm tội lỗi và sợ hãi, chúng ta ức chế xung động hoặc cảm thọ, và chúng ta phủ nhận sự hiện diện của nó bên trong chúng ta. Thay vì cảm nhận nó, chúng ta phóng chiếu nó ra thế giới và những người xung quanh. Chúng ta trải nghiệm cảm thọ như thể nó thuộc về “họ”. “Họ” sau đó trở thành kẻ thù, còn tâm trí thì tìm kiếm và tìm thấy những lời biện hộ để củng cố phóng chiếu. Lỗi lầm được gán cho con người, cho địa điểm, thể chế, thực phẩm, điều kiện khí hậu, các sự kiện chiêm tinh, điều kiện xã hội, số phận, Chúa, vận may, ma quỷ, người nước ngoài, các nhóm sắc tộc, đối thủ chính trị, và những thứ khác nằm bên ngoài chúng ta. Hiên nay, phóng chiếu là cơ chế chính được thế giới sử dụng. Nó giải thích nguyên nhân của tất cả các cuộc chiến tranh, xung đột và rối loạn xã hội. Thậm chí việc căm ghét kẻ thù còn được khuyến khích để trở thành “công dân tốt”. Chúng ta duy trì lòng tự trọng của mình bằng cách hạ thấp người khác, và cuối cùng, là đổ vỡ xã hội. Cơ chế của phóng chiếu là nền tảng của mọi cuộc tấn công, bạo lực, hung hãn và tất cả các hình thức phá hoại xã hội.
2. Biểu hiện. Bằng cơ chế
này, cảm thọ được bộc lộ, được diễn đạt bằng lời nói, hoặc thể hiện bằng ngôn
ngữ cơ thể, và được thể hiện ra trong các cuộc biểu tình tập thể không ngừng
nghỉ. Việc biểu hiện những cảm thọ tiêu cực cho phép một lượng áp lực bên trong
vừa đủ được giải tỏa để phần còn lại có thể bị kìm nén. Đây là điểm mấu chốt cần
phải hiểu, vì nhiều người trong xã hội ngày nay tin rằng biểu hiện cảm thọ sẽ
giải phóng họ khỏi những cảm thọ đó. Thực tế thì ngược lại. Thứ nhất, việc biểu
hiện một cảm thọ nào đó có xu hướng lan truyền cảm thọ đó và tiếp thêm năng lượng
cho nó. Thứ hai, việc biểu hiện cảm thọ chỉ đơn thuần cho phép phần còn lại bị
kìm nén nằm ngoài nhận thức.
Cân bằng giữa kìm nén và biểu hiện
khác nhau ở mỗi người, phụ thuộc vào quá trình rèn luyện ban đầu, các chuẩn mực
và phong tục văn hóa, và phương tiện truyền thông. Việc thể hiện chính mình
đang thịnh hành trong giai đoạn hiện nay là do hiểu sai công trình của Sigmund
Freud và phân tâm học. Freud chỉ ra rằng kìm nén là nguyên nhân của chứng loạn
thần kinh; do đó, biểu hiện bị hiểu nhầm là phương pháp chữa trị. Giải thích
sai như thế trở thành cái cớ cho tự thỏa mãn mà người khác phải trả giá. Điều
Freud thực sự nói, trong phân tâm học cổ điển, là xung động hoặc cảm thọ bị kìm
nén cần được trung hòa, thăng hoa, xã hội hóa (socialized[iii]), và hướng
vào những động lực mang tính xây dựng như tình yêu, công việc và sáng tạo.
Nếu chúng ta trút những cảm thọ tiêu cực của mình lên người khác, họ sẽ cảm thấy đó là tấn công và, đến lượt mình, buộc phải kìm nén, thể hiện hoặc trốn tránh những cảm thọ đó; do đó, việc thể hiện thái độ tiêu cực làm suy giảm và phá hủy các mối quan hệ. Giải pháp tốt hơn nhiều là chịu trách nhiệm về cảm thọ của chính mình và trung hòa chúng. Khi đó, chỉ còn lại những cảm thọ tích cực để được thể hiện.
3. Trốn tránh. Trốn tránh
là né tránh các cảm thọ bằng cách đánh lạc hướng sự chú ý của chính mình. Né
tránh là xương sống của ngành công nghiệp giải trí và rượu bia, và cũng là con
đường của những người nghiện công việc. Trốn tránh và né tránh nhận thức nội
tâm là cơ chế được xã hội chấp nhận. Chúng ta có thể né tránh chính bản thân
mình và ngăn chặn, không cho cảm thọ bộc lộ bằng rất nhiều những theo đuổi khác
nhau, nhiều hoạt động cuối cùng lại trở thành chứng nghiện, đấy khi chúng ta ngày
càng phụ thuộc vào những theo đuổi này.
Người ta tìm mọi cách nhằm duy
trì trạng thái vô thức. Chúng ta thấy mọi người thường bật tivi ngay khi bước
vào phòng và sau đó đi lại trong trạng thái như đang ngủ mơ, liên tục bị lập
trình bởi dữ liệu rót vào. Người ta sợ hãi khi phải đối mặt với chính mình. Họ
sợ ngay cả một khoảnh khắc cô đơn. Do đó, các hoạt động điên cuồng diễn ra liên
tục: giao tiếp xã hội không ngừng nghỉ, nói chuyện, nhắn tin, đọc sách, nghe nhạc,
làm việc, đi du lịch, tham quan, mua sắm, ăn quá nhiều, đánh bạc, xem phim, uống
thuốc, sử dụng ma túy và tiệc tùng.
Nhiều cơ chế trốn tránh nêu trên
đều có sai sót, gây ra căng thẳng và không hiệu quả. Mỗi cơ chế đều đòi hỏi
năng lượng ngày càng tăng. Cần một lượng năng lượng khổng lồ để kìm nén áp lực
ngày càng tăng của những cảm thọ bị kìm nén và ức chế. Dẫn đến sự mất dần nhận
thức và không phát triển được. Khả năng sáng tạo, năng lượng và quan tâm thực sự
đến người khác sẽ không còn. Phát triển tâm linh bị đình trệ và cuối cùng là bệnh
tật về thể chất và cảm xúc, lão hóa và chết sớm. Phóng chiếu của những cảm thọ
bị ức chế nén này tạo ra các vấn đề xã hội, rối loạn và gia tăng tính ích kỷ và
vô cảm là những biểu hiện đặc trưng của xã hội hiện nay. Trên hết là không còn
khả năng yêu thương và tin tưởng người khác, dẫn đến sự cô lập về mặt cảm xúc và
căm ghét chính mình.
Ngược lại với những điều vừa nói, chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta buông bỏ một cảm thọ nào đó? Năng lượng đằng sau cảm thọ đó được giải phóng ngay lập tức và hiệu quả cuối cùng là giảm áp lực. Áp lực được tích lũy bắt đầu giảm khi chúng ta liên tục buông bỏ. Mọi người đều biết rằng, khi buông bỏ, chúng ta lập tức cảm thấy thoải mái hơn. Sinh lý cơ thể thay đổi. Có thể nhận thấy những cải thiện rõ rệt trên sắc da, hơi thở, mạch, huyết áp, độ căng cơ, chức năng tiêu hóa và các chỉ số hóa học trong máu. Trong trạng thái tự do nội tâm, tất cả các chức năng và cơ quan trong cơ thể đều hướng đến trạng thái bình thường và khỏe mạnh. Sức mạnh cơ bắp tăng lên ngay lập tức. Thị lực được cải thiện và nhận thức của chúng ta về thế giới và bản thân mình thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn, yêu thương hơn và dễ tính hơn.
Cảm thọ và Căng thẳng
Rất
nhiều người chú ý tới và nhiều thông tin được đưa ra về chủ đề căng thẳng mà
không thực sự hiểu được bản chất cốt yếu của nó. Có người nói rằng chúng ta dễ
bị căng thẳng hơn bao giờ hết. Nguyên nhân cốt yếu của căng thẳng là gì? Chắc
chắn không phải là các yếu tố ở bên ngoài. Đấy chỉ là những ví dụ về cơ chế mà
chúng ta đã mô tả là phóng chiếu. Người ta cho rằng “họ” hoặc “nó” là thủ phạm,
trong khi trên thực tế, những gì chúng ta cảm thấy chỉ đơn giản là giải tỏa áp
lực bên trong của những cảm xúc bị kìm nén. Chính những cảm thọ bị ức chế này
làm cho chúng ta dễ bị những căng thẳng ở bên ngoài làm cho đau khổ.
Nguồn
gốc thực sự của “căng thẳng” thực ra là ở bên trong; nó không phải là
bên ngoài, như mọi người muốn tin. Ví dụ, sẵn sàng phản ứng bằng sợ hãi phục
thuộc vào lượng sợ hãi vốn đã tích tụ ở bên trong, chực chờ được kích hoạt bởi
một tác nhân bên ngoài. Chúng ta càng có nhiều sợ hãi ở bên trong, tri giác (perception[iv])
của chúng ta về thế giới càng thay đổi thành mong đợi đầy sợ hãi và đề phòng. Đối
với người sợ hãi, thế giới này là nơi đáng sợ. Đối với người giận dữ, thế giới
này là một mớ hỗn độn của những thất vọng và phiền muộn. Đối với người có mặc cảm
tội lỗi, đây là thế giới của cám dỗ và tội lỗi, mà họ nhìn thấy ở khắp mọi nơi.
Những gì chúng ta lưu giữ ở bên trong tô màu cho thế giới của chúng ta. Nếu
chúng ta buông bỏ mặc cảm tội lỗi, chúng ta sẽ thấy sự vô tội; tuy nhiên, một
người bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi sẽ chỉ thấy cái ác. Quy tắc căn bản là
chúng ta tập trung vào những gì chúng ta đã ức chế.
Căng
thẳng là kết quả của áp lực được tích tụ từ những cảm thọ bị ức chế và kìm nén.
Áp lực tìm kiếm giải tỏa, và do đó, các sự kiện bên ngoài chỉ kích hoạt những
gì chúng ta đã kìm nén, cả theo lối hữu thức và vô thức. Năng lượng của những cảm
thọ bị chặn lại tái xuất hiện thông qua hệ thần kinh thực vật và gây ra những
thay đổi mang tính bệnh lý và dẫn tới bệnh tật. Một cảm thọ tiêu cực ngay lập tức
làm mất đi 50% sức mạnh cơ bắp và cũng thu hẹp tầm nhìn của chúng ta cả về thể
chất lẫn tinh thần. Căng thẳng là phản ứng mang tính cảm xúc của chúng ta đối với
một yếu tố hoặc tác nhân kích thích. Căng thẳng được quyết định bởi hệ thống niềm
tin của chúng ta và những áp lực mang tính cảm xúc liên quan. Như vậy, không phải
tác nhân kích thích bên ngoài gây ra căng thẳng, mà chính là mức độ phản ứng của
chúng ta. Càng buông bỏ, chúng ta càng ít bị căng thẳng. Tác hại do căng thẳng
gây ra chỉ đơn thuần là kết quả của chính cảm xúc của chúng ta. Hiệu quả của
buông bỏ và giảm phản ứng của cơ thể đối với căng thẳng đã được chứng minh
trong các công trình nghiên cứu khoa học (xem Chương 14).
Nhiều chương trình giảm căng thẳng hiện nay thường bỏ qua điểm mấu chốt này. Những chương trình này tìm cách làm giảm các triệu chứng sau khi căng thẳng đã xảy ra hoặc tập trung vào các sự kiện bên ngoài, thay vì loại bỏ nguyên nhân gây ra căng thẳng,. Chẳng khác gì tìm cách hạ sốt mà không điều trị nhiễm trùng. Ví dụ, căng cơ là hậu quả của lo lắng, sợ hãi, giận dữ và mặc cảm tội lỗi. Một khóa học về kỹ thuật thư giãn cơ bắp sẽ chỉ mang lại lợi ích rất hạn chế. Thay vào đó, sẽ hiệu quả hơn nhiều nếu loại bỏ nguồn gốc của những căng thẳng tiềm ẩn, đó là giận dữ, sợ hãi, mặc cảm tội lỗi hoặc những cảm thọ tiêu cực bị ức chế và kìm nén khác.
Các sự kiện trong cuộc
đời và cảm xúc
Tâm
trí lý trí thường thích giữ những nguyên nhân thực sự của cảm xúc nằm bên ngoài
nhận thức và sử dụng cơ chế phóng chiếu để làm việc này. Nó đổ lỗi cho các sự
kiện hoặc người khác vì đã “gây ra” một cảm thọ nào đó và tự coi mình là nạn
nhân vô tội bất lực trước các nguyên nhân bên ngoài. “Họ làm tôi tức giận.”
“Anh ta làm tôi khó chịu.” “Nó làm tôi sợ.” “Các sự kiện trên thế giới là
nguyên nhân làm cho tôi lo lắng.” Thực tế, ngược lại mới đúng. Những cảm thọ bị
kìm nén và ức chế tìm kiếm lối thoát và sử dụng các sự kiện đó như những tác
nhân kích hoạt và cái cớ để giải tỏa. Chúng ta giống như những chiếc nồi áp suất
sẵn sàng xả hơi mỗi khi có cơ hội. Các tác nhân kích hoạt đã được thiết lập và
sẵn sàng hoạt động. Trong tâm thần học (psychiatry), cơ chế này được gọi là dịch
chuyển. Chính vì chúng ta tức giận cho nên các sự kiện mới “làm” cho chúng ta tức
giận. Nếu, thông qua việc liên tục buông bỏ, chúng ta đã giải phóng được những giận
dữ bị dồn nén, thì rất khó và trên thực tế, thậm chí là không thể có bất kỳ người
nào hoặc bất kỳ tình huống nào có thể “làm” cho chúng ta tức giận. Có thể nói
như thế về tất cả những cảm thọ tiêu cực khác một khi chúng đã được giải tỏa.
Do
ảnh hưởng của xã hội, người ta thậm chí còn kìm nén và ức chế cả những cảm thọ
tích cực của mình. Tình yêu bị kìm nén dẫn đến đau thắt lòng của một cơn đau
tim. Tình yêu bị kìm nén tái xuất hiện dưới dạng sùng bái quá mức đối với thú
cưng và nhiều hình thức sùng bái thần tượng khác nhau. Tình yêu đích thực không
có sợ hãi và có đặc điểm là không chấp trước. Sợ mất mát tiếp thêm năng lượng
cho chấp trước và sở hữu không chính đáng. Ví dụ, người đàn ông bất an về bạn
gái của mình là người rất ghen tuông.
Khi
áp lực của những cảm thọ bị kìm nén và ức chế vượt quá mức độ chịu đựng của cá
nhân, tâm trí sẽ tạo ra một sự kiện “ở bên ngoài” để trút giận và chuyển hướng cảm
thọ đó. Do đó, người có nhiều đau buồn bị kìm nén tạo ra, theo lối vô thức, những
sự kiện đáng buồn trong cuộc đời mình. Người sợ hãi gây ra những trải nghiệm
đáng sợ; người tức giận bị bao vây bởi những hoàn cảnh gây phẫn nộ; và người
kiêu ngạo liên tục bị xúc phạm. Như Chúa Jesus Christ đã nói: “Tại sao ngươi thấy
cái dằm trong mắt anh em, mà không thấy cái xà trong mắt mình?” (Ma-thi-ơ 7:3).
Tất cả các Đạo sư Vĩ đại đều dạy chúng ta hướng vào bên trong.
Mọi
thứ trong vũ trụ đều phát ra rung động. Rung động càng cao, thì sức mạnh nội tại
của nó càng cao. Cảm xúc cũng vậy, vì chúng là năng lượng, nên cũng phát ra
rung động. Những rung động mang tính cảm xúc này tác động đến trường năng lượng
của cơ thể và bộc lộ những hiệu ứng có thể nhìn thấy được, cảm nhận được và đo
lường được. Phim ảnh sử dụng nhiếp ảnh Kirlian[v], ví
dụ như những bức ảnh của Tiến sĩ Thelma Moss, cho thấy sự biến động nhanh chóng
về màu sắc và kích thước của trường năng lượng khi cảm xúc thay đổi (Krippner,
1974). Theo truyền thống, trường năng lượng được gọi là “hào quang” và có thể
được nhìn thấy bởi những người sinh ra đã có hoặc học được khả năng nhìn thấy
rung động ở tần số đó. Hào quang thay đổi màu sắc và kích thước theo cảm xúc.
Kiểm tra cơ bắp cũng chứng minh những thay đổi năng lượng đi kèm với cảm xúc,
vì cơ bắp phản ứng ngay lập tức với các kích thích tích cực và tiêu cực. Do đó,
trạng thái cảm xúc cơ bản của chúng ta tự truyền vào vũ trụ.
Tâm
trí không có chiều kích hay kích thước và không bị giới hạn trong không gian; vì
vậy, tâm trí truyền tải trạng thái cơ bản của nó thông qua năng lượng rung động
trên khoảng cách không giới hạn. Có nghĩa là bằng trạng thái cảm xúc và suy
nghĩ của mình, chúng ta thường xuyên và vô tình ảnh hưởng đến những người khác.
Ví dụ, các mô thức (patterns[vi]) cảm
xúc và hình thức suy nghĩ liên quan có thể được các nhà ngoại cảm nhận được và
tiếp nhận một cách hữu thức ở khoảng cách rất xa. Điều này có thể được chứng
minh theo lối thực nghiệm, và cơ sở khoa học cho hiện tượng này là chủ đề rất
được quan tâm trong vật lý lượng tử cao cấp.
Vì
các cảm xúc phát ra trường năng lượng rung động, chúng tác động và chi phối những
người hiện diện trong cuộc đời ta. Các sự kiện trong cuộc đời bị chi phối bởi
những cảm xúc bị ức chế và kìm nén của chúng ta ở tầng tâm thần. Do đó, tức giận
thu hút những suy nghĩ tức giận. Quy tắc cơ bản của vũ trụ tâm thức là “đồng
thanh tương ứng đồng khí tương cầu”. Tương tự, “tình yêu thúc đẩy tình yêu”, vì
vậy người nào đã buông bỏ nhiều tiêu cực bên trong sẽ được bao quanh bởi những
suy nghĩ yêu thương, những sự kiện yêu thương, những người yêu thương và thú
cưng yêu thương. Hiện tượng này giải thích nhiều câu trích dẫn trong kinh thánh
và những câu nói thông dụng làm cho trí tuệ khó hiểu, chẳng hạn như, “Giàu càng
giàu thêm, nghèo càng nghèo thêm”, và “Người có sẽ có thêm”. Do đó, theo quy luật
chung, những người mang theo tâm thức thờ ơ sẽ tạo ra hoàn cảnh nghèo khó cho
cuộc đời của họ, còn những người có tâm thức thịnh vượng sẽ mang tới sung túc
cho cuộc đời của họ.
Vì tất cả các sinh vật sống đều được kết nối ở tầng năng lượng rung động, trạng thái cảm xúc cơ bản của chúng ta được tất cả những sinh vật sống xung quanh chúng ta cảm nhận và phản ứng lại. Mọi người đều biết rằng con vật có thể ngay lập tức nhận biết được trạng thái cảm xúc cơ bản của con người. Có những thí nghiệm chứng minh rằng ngay cả sự phát triển của vi khuẩn cũng bị ảnh hưởng bởi cảm xúc của con người[vii], và thực vật ghi nhận được những phản ứng có thể đo lường được trước các trạng thái cảm xúc của chúng ta (Backster, 2003).
Buông bỏ là khi có một cảm thọ khởi lên, ta chỉ lặng lẽ
nhận biết nó, cho phép nó hiện diện, ở cùng nó, và để nó tự đi qua — không mong
nó khác đi, cũng không làm gì với nó. Đơn giản có nghĩa là để cảm thọ ở đó và tập trung
vào buông bỏ năng lượng đằng sau nó. Bước đầu tiên là cho phép mình có cảm thọ
đó mà không chống lại, trút giận, sợ hãi, lên án hay dùng các định kiến đạo đức
để phán xét nó. Có nghĩa là bỏ phán xét và nhận ra rằng đó chỉ là cảm thọ. Kỹ
thuật là ở lại với cảm thọ và từ bỏ mọi nỗ lực nhằm thay đổi nó theo bất kỳ
cách nào. Buông bỏ mong muốn chống lại cảm thọ. Chính kháng cự mới làm cho cảm thọ
tiếp tục tồn tại. Khi bạn từ bỏ việc chống lại hoặc tìm cách thay đổi cảm thọ,
nó sẽ chuyển sang cảm thọ tiếp theo và đi kèm với một cảm giác nhẹ nhàng hơn. Một
cảm thọ không bị chống lại sẽ biến mất khi năng lượng đằng sau nó tan đi.
Khi bắt đầu quá trình này, bạn sẽ nhận thấy rằng mình sợ hãi và có mặc
cảm tội lỗi khi có những cảm thọ đó; sẽ có kháng cự đối với cảm thọ nói chung. Muốn
cho phép cảm thọ xuất hiện, thì dễ dàng hơn là ngay từ đầu bạn phải buông bỏ phản
ứng đối với việc có những cảm thọ đó. Sợ hãi chính là một ví dụ điển hình. Trước
hết, hãy buông bỏ sợ hãi hay mặc cảm tội lỗi mà bạn có về cảm thọ đó, rồi sau
đó mới đi vào chính cảm thọ.
Khi buông bỏ, hãy bỏ qua mọi suy nghĩ. Tập trung vào chính cảm thọ, chứ
không phải vào suy nghĩ. Suy nghĩ là vô tận và tự củng cố, và chúng chỉ sinh ra
thêm nhiều suy nghĩ hơn. Suy nghĩ chỉ là quá trình hợp lý hóa của tâm trí nhằm
tìm cách giải thích sự hiện diện của cảm thọ. Lý do thực sự của cảm thọ là áp lực
tích tụ đằng sau cảm thọ đó, buộc nó phải xuất hiện vào thời điểm đó. Suy nghĩ
hay các sự kiện bên ngoài chỉ là cái cớ do tâm trí tạo ra.
Khi đã quen hơn với việc buông bỏ,
chúng ta sẽ nhận thấy rằng tất cả các cảm thọ tiêu cực đều liên quan đến sợ hãi
cơ bản của chúng ta về sinh tồn và tất cả các cảm thọ chỉ là những chương trình
sinh tồn mà tâm trí tin là cần. Kỹ thuật buông bỏ sẽ gỡ bỏ các chương trình đó
từng bước một. Thông qua quá trình này, động cơ tiềm ẩn đằng sau những cảm thọ đó
sẽ ngày càng trở nên rõ ràng hơn.
Buông bỏ có nghĩa là không có cảm
xúc mạnh mẽ nào về một cái gì đó: “Nếu nó xảy ra thì tốt, còn nếu nó không xảy
ra thì cũng không sao.” Khi được tự do, chúng ta buông bỏ các chấp trước. Chúng
ta có thể tận hưởng một điều gì đó, nhưng chúng ta không cần nó để được hạnh
phúc. Sự phụ thuộc vào bất cứ cái gì hoặc bất cứ người nào bên ngoài chính mình
sẽ giảm dần. Những nguyên tắc này phù hợp với giáo lý cơ bản của Đức Phật về việc
tránh chấp trước vào các hiện tượng của thế gian, cũng như giáo lý cơ bản của
Chúa Jesus Christ: “Ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian”.
Đôi khi chúng ta buông bỏ một cảm
thọ nào đó và nhận thấy rằng nó quay trở lại hoặc tiếp tục diễn ra. Vì vẫn còn
nhiều cảm thọ đó chưa được buông bỏ. Chúng ta đã kìm nén những cảm thọ này trong
suốt cuộc đời và có thể có rất nhiều năng lượng bị dồn nén cần được đưa lên và
thừa nhận. Khi buông bỏ xảy ra, ngay lập tức sẽ có cảm giác nhẹ nhàng hơn, hạnh
phúc hơn, gần giống như cảm giác “phê”.
Bằng cách liên tục buông bỏ, có
thể duy trì trạng thái tự do đó. Cảm thọ đến rồi đi, và cuối cùng bạn nhận ra rằng
mình không phải là cảm thọ của mình, mà “bạn” thực sự chỉ đang chứng kiến những
cảm thọ đó. Bạn ngừng đồng nhất mình với chúng. Bạn - người đang quan sát và nhận
thức được những sự kiện đang xảy ra - không bao giờ thay đổi. Khi bạn ngày càng
nhận thức rõ hơn về người chứng kiến không thay đổi ở bên trong, là bạn bắt đầu
đồng nhất với tầng tâm thức đó. Bạn ngày càng trở thành người chứng kiến chứ
không còn là người trải nghiệm các hiện tượng nữa. Bạn ngày càng tiến gần hơn đến
Đại Ngã thực sự và bắt đầu nhận ra rằng, từ trước đến giờ mình đã bị cảm thọ
đánh lừa. Bạn từng nghĩ rằng mình là nạn nhân của những cảm thọ. Lúc này bạn thấy
rằng chúng không phải là sự thật về bản thân mình; chúng chỉ đơn thuần là do bản
ngã tạo ra – bản ngã chính là kẻ thu thập những chương trình mà tâm trí lầm tưởng
là cần thiết cho sống còn.
Kết quả của việc buông bỏ diễn ra
nhanh chóng và tinh tế đến mức làm người ta kinh ngạc, nhưng tác động của nó lại
rất mạnh mẽ. Thường thì chúng ta đã buông bỏ nhưng lại nghĩ rằng mình chưa
buông bỏ. Chính bạn bè sẽ giúp chúng ta nhận ra thay đổi. Một trong những lý do
là khi một điều gì đó được hoàn toàn buông bỏ, nó sẽ biến mất khỏi tâm thức. Vì
chúng ta không bao giờ còn nghĩ đến nó nữa, nên chúng ta không nhận ra rằng nó
đã biến mất. Đây là hiện tượng phổ biến ở những người đang phát triển về mặt tâm
thức. Chúng ta không nhận thức được tất cả số than mà mình đã xúc được; chúng
ta luôn chỉ nhìn vào lượng than mình đang xúc mà thôi. Chúng ta không nhận ra đống
than đã giảm đi đến mức nào. Thường thì bạn bè và gia đình là những người đầu
tiên nhận ra điều đó.
Muốn theo dõi tiến độ, nhiều người
lập biểu đồ về những thành quả đã thu được. Làm thế sẽ giúp vượt qua kháng cự dưới
dạng: “Cách làm này không hiệu quả.” Nhiều người đã có những thành quả to lớn lại
tuyên bố: “Không hiệu quả.” Đôi khi chúng ta phải tự nhắc nhở rằng mình đã là
người như thế nào trước khi bắt đầu quá trình này.
Kháng cự buông bỏ
Buông
bỏ những cảm thọ tiêu cực là phá vỡ bản ngã, bản ngã sẽ kháng cự. Nó có thể làm
cho người ta nghi ngờ kỹ thuật này, “quên” buông bỏ, thái độ trốn tránh đột
nhiên trỗi dậy, hoặc trút giận bằng cách thể hiện và hành động. Giải pháp đơn
giản là tiếp tục buông bỏ những cảm thọ mà bạn có thể có về toàn bộ quá trình
này. Để kháng cự ở đó, nhưng đừng chống lại kháng cự đó.
Bạn
là người tự do. Bạn không cần phải buông bỏ. Không ai ép buộc bạn. Hãy nhìn vào
sợ hãi đằng sau kháng cự. Bạn đang sợ hãi điều gì về tiến trình này? Bạn có sẵn
sàng buông bỏ sợ hãi đó không? Liên tục để mỗi sợ hãi đi qua ngay khi chúng vừa
sinh khởi, và kháng cự sẽ tự biến mất.
Xin
đừng quên rằng chúng ta đang buông bỏ tất cả những chương trình đã biến chúng
ta thành nô lệ và nạn nhân trong một thời gian dài. Những chương trình này đã
làm cho chúng ta mờ mắt, không nhìn thấy sự thật về bản sắc thực sự của mình. Bản
ngã đang mất dần vị thế và sẽ tìm cách lừa gạt và đánh lừa. Một khi bắt đầu
buông bỏ, những ngày tháng của bản ngã đã được đếm ngược và sức mạnh của nó
đang giảm dần. Một trong những mánh khóe của nó là làm cho chúng ta không thức
tỉnh về chính kỹ thuật này, ví dụ, đột nhiên quyết định rằng cơ chế buông bỏ
không hiệu quả, mọi thứ vẫn như cũ, thật rắc rối, và quá khó, không thể nhớ và không
thể thực hiện được. Đây là dấu hiệu của tiến bộ thực sự! Có nghĩa là bản ngã biết
chúng ta có một con dao để tự giải thoát và nó đang mất dần vị thế. Bản ngã
không phải là bạn của chúng ta. Giống như hệ thống “Điều khiển tối cao” trong
phim Tron (1982), nó luôn luôn muốn cầm tù chúng ta trong các chương trình của
chính nó[viii].
Buông
bỏ là khả năng tự nhiên. Nó không phải là điều gì mới mẻ hay xa lạ. Nó không phải
là một giáo lý bí truyền hay ý tưởng hoặc hệ thống niềm tin của người khác. Chúng ta chỉ đơn giản là sử dụng bản
chất bên trong của chính mình để trở thành người tự do hơn và hạnh phúc hơn.
Khi buông bỏ, “suy nghĩ” về kỹ thuật này là không hữu ích. Tốt hơn hết là chỉ cần
làm. Cuối cùng, ta sẽ thấy rằng mọi suy nghĩ đều là kháng cự. Tất cả đều là những
hình ảnh mà tâm trí tạo ra để ngăn cản, không cho chúng ta trải nghiệm những gì
thực sự đang diễn ra. Khi chúng ta đã buông bỏ được một thời gian và bắt đầu trải
nghiệm những gì thực sự đang diễn ra, chúng ta sẽ bật cười trước những suy nghĩ
của mình. Suy nghĩ là giả, là những niềm tin hão huyền che khuất sự thật. Theo
đuổi suy nghĩ có thể làm cho chúng ta cảm thấy lúc nào cũng bận rộn. Một ngày
nào đó, chúng ta sẽ nhận ra rằng mình vẫn ở đúng nơi mình đã bắt đầu. Suy nghĩ
giống như những con cá vàng bơi trong nước; Đại Ngã thực sự giống như nước. Đại
ngã thực sự là khoảng không gian giữa các suy nghĩ, hay chính xác hơn, là trường
nhận thức tĩnh lặng nằm bên dưới tất cả các suy nghĩ.
Chúng
ta đã từng trải nghiệm cảm giác hoàn toàn chìm đắm trong công việc mà mình đang
làm, đến mức hầu như không nhận thấy thời gian trôi qua. Tâm trí rất tĩnh lặng,
và chúng ta chỉ đơn giản là làm những việc mình đang làm mà không có kháng cự
hay nỗ lực nào. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc, có lẽ đang ngân nga một giai điệu
nào đó. Chúng ta hoạt động mà không cảm thấy căng thẳng. Chúng ta rất thư giãn,
mặc dù bận rộn. Chúng ta đột nhiên nhận ra rằng rốt cuộc mình không cần tất cả
những suy nghĩ đó. Suy nghĩ giống như mồi câu cá; nếu “cắn” câu, chúng ta sẽ bị
mắc kẹt. Tốt nhất là đừng “cắn” những suy nghĩ đó. Chúng ta không cần những suy
nghĩ như thế.
Bên trong chúng ta, nhưng nằm ngoài nhận thức, là sự thật sau đây: “Tôi
đã biết tất cả mọi thứ tôi cần biết.” Nó
xảy ra một cách tự động.
Nghịch
lý là, kháng cự đối với việc buông bỏ là do hiệu quả của kỹ thuật này. Sự kiện
xảy ra là chúng ta cứ tiếp tục buông bỏ khi cuộc sống không thuận lợi và chúng
ta bị bao vây bởi những cảm thọ khó chịu. Cuối cùng, khi chúng ta buông bỏ và mọi
thứ đều ổn, thì chúng ta lại ngừng buông bỏ. Đây là sai lầm, vì, dù chúng ta có
cảm thấy tốt đến mức nào, thì vẫn còn nhiều điều tốt hơn thế nữa. Hãy tận dụng những
trạng thái cao hơn và động lực của buông bỏ. Hãy tiếp tục vì mọi thứ sẽ ngày
càng tốt hơn. Buông bỏ có động lực nhất định. Dễ dàng tiếp tục một khi nó đã bắt
đầu. Chúng ta càng cảm thấy nhẹ nhàng hơn, thì buông bỏ càng dễ dàng hơn. Đó là
thời điểm tốt để buông bỏ những thứ (những “rác rưởi” đã bị kìm nén và ức chế)
mà chúng ta không muốn đối mặt nếu đang trong tâm trạng chán nản. Luôn luôn có
cảm giác muốn được thả lỏng và phó thác. Khi chúng ta cảm thấy tốt, cảm xúc chỉ
đơn giản là tinh tế hơn mà thôi.
Đôi
khi bạn sẽ cảm thấy bế tắc với một cảm thọ cụ thể nào đó. Đơn giản là hãy chấp
nhận cảm thọ bế tắc đó. Cứ để nó ở đấy và đừng chống lại nó. Nếu nó không biến
mất, hãy thử buông bỏ cảm thọ đó từng chút một.
Một
trở ngại khác có thể xảy ra là sợ rằng nếu chúng ta từ bỏ mong muốn về một điều
gì đó, thì chúng ta sẽ không đạt được nó. Thường thì việc xem xét một số niềm
tin phổ biến và buông bỏ chúng ngay từ đầu sẽ rất có lợi, chẳng hạn như: (1)
Chúng ta chỉ xứng đáng với mọi thứ bằng cách làm việc chăm chỉ, đấu tranh, hy
sinh và nỗ lực; (2) Đau khổ là có lợi và tốt cho chúng ta; (3) Không có gì mà
không phải trả giá; (4) Những thứ rất đơn giản thì không đáng giá. Buông bỏ một
số rào cản tâm lý này đối với chính kỹ thuật này sẽ cho phép bạn tận hưởng sự dễ
dàng và thoải mái của nó.
[i] Involuntary reactivity -
Phản ứng mang tính tự phát, vô thức hoặc sự phản ứng tự động. Bản chất: Là những
phản ứng tâm lý (như giận dữ, né tránh, sợ hãi) khởi lên một cách tự động và nằm
ngoài sự kiểm soát của Tâm trí Hữu thức khi gặp một tác nhân kích thích. Cơ chế:
Nó vận hành theo thói quen cũ được lập trình sẵn trong Tiềm thức và là nguồn gốc
tạo ra áp lực, xung đột nội tâm. Lời dạy của Đức Phật giúp xóa bỏ áp lực này bằng
cách tạo ra một khoảng lặng tỉnh thức, giúp ta không bị cuốn theo vòng lặp phản
ứng tự phát đó nữa, chuyển từ phản ứng mù quáng (Reactivity) sang phản hồi có
trí tuệ (Response).
[ii] Suppression và Repression
– Kìm nén và ức chế. Bản chất và cơ chế: Đây là hai phương thức đối phó tiêu cực
của bản ngã trước các cảm thọ mạnh mẽ, được định hình sâu sắc bởi sự giáo hóa
và lập trình của xã hội. Suppression (Kìm nén): Là quá trình có ý thức. Con người
chủ động đè nén, che giấu các cảm thọ đột nhiên xuất hiện (giận dữ, tổn thương,
ghen tị...) vì các tiêu chuẩn xã hội đòi hỏi họ phải tỏ ra “có giáo dục”, “tinh
tế” và "bình tĩnh”. Repression (Ức chế): Là quá trình vô thức. Khi một cảm
thọ quá kinh khủng hoặc bị xã hội cấm đoán nghiêm trọng, tâm trí sẽ tự động đẩy
sâu và giam hãm nó vào Tiềm thức ngay lập tức khiến chủ thể không còn nhận biết
được sự tồn tại của nó nữa. Xã hội thường ca ngợi người biết kìm nén/ức chế cảm
xúc là người thanh lịch, có văn hóa. Tuy nhiên, năng lượng tiêu cực bị nén chặt
lâu ngày không mất đi mà tích tụ lại, dẫn đến các rối loạn tâm lý, suy nhược thần
kinh và đặc biệt là trạng thái trầm cảm nghiêm trọng. Ngược lại, những người
“chém to kho mặn” chọn cách Thể hiện (Expression) cảm xúc ra ngoài. Dù cách này
thường bị coi là thô lậu, thiếu giáo dục, nhưng vì năng lượng thô đã được xả bớt
ra ngoài nên họ ít có nguy cơ rơi vào trầm cảm hơn (tuy nhiên, nó lại làm tổn
thương người khác và khuếch đại năng lượng tiêu cực trong môi trường). Con đường
chuyển hóa: Cả hai cách hành xử — đè nén bên trong hay bung tỏa ra ngoài — đều
là những cơ chế vận hành bằng bằng bạo lực/phản lực và hoàn toàn không hiệu quả
trong dài hạn. Cơ chế Trốn tránh (Escape) được bàn tới ngay bên dưới cũng không
có hiệu quả. Cơ chế hữu hiệu nhất chính là: Để các cảm thọ đi qua (Letting go):
Không kìm nén (vào trong), không thể hiện (ra ngoài), mà chọn làm Người chứng
kiến. Cho phép cảm xúc được hiện diện trọn vẹn, không phán xét, không dán nhãn,
để năng lượng của nó tự giải tỏa và đi qua một cách tự nhiên.
[iii] Socialized - Xã hội hoá.
Là quá trình biến đổi các xung năng nguyên thủy, ích kỷ hoặc mang tính bản năng
(vốn bị xã hội cấm đoán và bị kìm nén vào Tiềm thức) thành những biểu hiện phù
hợp, được chấp nhận và mang lại giá trị cho đời sống xã hội. Cơ chế vận hành:
Thay vì để các xung năng bị kìm nén này bùng phát một cách vô thức thành hành
vi phá hoại hoặc xung đột, tâm trí sẽ “uốn nắn” để chúng hòa nhập vào các quy
chuẩn chung của cộng đồng. Nó đi liền với thăng hoa và hướng vào những động lực
mang tính xây dựng . Ví dụ: Một xung năng gây hấn, hung hăng bị kìm nén thay vì
bộc phát thành bạo lực thì được "xã hội hóa" và "thăng hoa"
thành tinh thần cạnh tranh lành mạnh trong thể thao hoặc thái độ quyết liệt
trong công việc kinh doanh. Tóm lại, socialized ở đây là bước chuyển hóa một
năng lượng thô lậu, có nguy cơ gây xung đột thành một năng lượng có tính xây dựng,
giúp cá nhân kết nối và đóng góp một cách hài hòa với thế giới xung quanh thông
qua tình yêu, công việc và sự sáng tạo.
[iv] Perception - Tri giác. Bản chất: Là Nhận Thức/Cái
Biết (Awareness) nguyên thủy đã bị khúc xạ và biến dạng khi đi qua bộ lọc của bản
ngã — bao gồm tư tâm, tư dục, các chương trình định kiến xã hội và những cảm
xúc tiêu cực (sợ hãi, giận dữ, kiêu hãnh...). Tri giác không bao giờ thấy được
thực tại như nó vốn là, mà chỉ thấy hình ảnh phản chiếu đã bị bóp méo bởi lăng
kính bên trong. Awareness là nền tảng trường tồn, phi thời gian và mang tính
vĩnh cửu. Không có Awareness thì không thể có Perception (như một hòn đá không
có Cái Biết thì không thể có một tri giác sai lệch về thế giới). Nếu Awareness
là Mặt Trời thuần khiết luôn chiếu sáng, thì Perception chính là hình ảnh Mặt
Trời khi đã bị những đám mây mù của cảm xúc và dục vọng che khuất. Bản thân mây
mù không làm tổn hại được Mặt Trời, nhưng nó ngăn che tầm nhìn của vạn vật. Con
đường chuyển hóa (Phản bổn quy chân): Để trở lại với Cái Biết ban đầu, hành giả
không cần nỗ lực “tìm kiếm” Awareness, mà thực hiện việc chuyển hóa các tầng
mây mù bằng cách: Để các cảm thọ đi qua (Letting go): Nhận biết và cho phép các
trạng thái cảm xúc, áp lực tự do sinh khởi và đi qua ngay khi chúng vừa xuất hiện,
không kháng cự, không kìm nén, cũng không đồng hóa mình với chúng. Hành thiền
và giữ tâm bất động: Giữ vững vị thế của “Người chứng kiến” (Witnessing) trước
mọi biến động của nội tâm và ngoại cảnh. Khi các bộ lọc của bản ngã ngừng hoạt
động, mây mù sẽ tự tan và Ánh Sáng của Cái Biết vĩnh cửu tự khắc tỏ rạng..
[v] Nhiếp ảnh Kirlian (Kirlian
photography) là một kỹ thuật chụp ảnh sử dụng điện áp cao để ghi lại hiện tượng
phóng điện quanh các vật thể. Được phát minh vào năm 1939, kỹ thuật này thường
tạo ra các vầng sáng rực rỡ xung quanh lá cây, ngón tay hay đồ vật, từng được
nhiều người đồn đoán là có khả năng chụp được “hào quang” hoặc “linh hồn” của sự
sống
[vi] Patterns - Mô thức, có
nghĩa là: Những khuôn mẫu lặp đi lặp lại có tính cấu trúc trong hành vi, suy
nghĩ, cảm xúc hoặc vận hành của một hệ thống. Mẫu → thiên về hình dạng cụ thể.
Khuôn mẫu → thiên về thói quen hoặc định kiến. Mô thức → nhấn mạnh cấu trúc vận
hành ẩn bên dưới tạo ra sự lặp lại. Trong văn cảnh tâm linh – tâm lý học, “mô
thức” thường chỉ: Mô thức suy nghĩ (thinking patterns); Mô thức cảm xúc
(emotional patterns); Mô thức hành vi (behavioral patterns); Mô thức năng lượng
(energetic patterns). Có thể nói mô thức là những vệt hằn của quá khứ còn đang
tiếp tục vận hành trong hiện tại. Trong Phật giáo thường gọi là Tập khí.
[vii] Kinh nghiệm dân gian từ
việc nuôi dấm mẻ của người Việt là một minh chứng sống động cho luận điểm này.
Những người nuôi dấm mẻ lâu năm đều biết rằng, dấm mẻ không chỉ cần cơm nguội để
sống; nếu người nuôi bỏ mặc, không dành sự quan tâm hay năng lượng chăm sóc tới
bình dấm, thì dù có cho đầy đủ thức ăn, dấm mẻ cũng sẽ lụi tàn và chết dần. Không
chỉ dừng lại ở các sinh vật vi mô như vi khuẩn, năng lượng từ tâm thức và cảm
xúc của con người còn tác động trực tiếp lên các vật chất vô cơ. Khảo nghiệm nổi
tiếng của học giả Masaru Emoto trong cuốn sách Thông điệp của nước (The
Hidden Messages in Water) đã ghi nhận rằng: khi nước tiếp nhận lời cầu nguyện
hoặc các trường năng lượng an lành, các phân tử nước sẽ tự sắp xếp để tạo thành
những tinh thể đóng băng có cấu trúc vô cùng lộng lẫy và hài hòa. Điều này một
lần nữa khẳng định, vạn vật quanh ta đều nhạy cảm và đồng điệu với tần số năng
lượng từ Tâm thức của con người.
[viii] Tác giả ví bản ngã như
một bộ xử lý trung tâm độc tài, nó vận hành những “chương trình” cũ kỹ (sợ hãi,
kháng cự, trút giận) để giữ chúng ta trong vòng lặp của khổ đau thay vì được tự
do.