ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
CHƯƠNG 5
U sầu là trải nghiệm phổ biến của
tất cả chúng ta. Trong lúc u sầu, chúng ta cảm thấy mọi thứ quá khó khăn; chúng
ta sẽ không bao giờ vượt qua được; chúng ta không yêu thương và không đáng được
yêu thương. Chúng ta có những suy nghĩ như: “Tôi đã lãng phí biết bao nhiêu
năm.” Đó là buồn bã và mất mát. Cô đơn. Cảm giác “giá như…” Hối tiếc. Cảm giác
bị bỏ rơi, đau đớn, bất lực và tuyệt vọng. Nhớ. Buồn. Trầm cảm. Khao khát. Mất
mát không thể bù đắp. Đau lòng. Thống khổ. Thất vọng. Bi quan.
U sầu có thể do mất niềm tin, quan hệ, khả năng hoặc vai trò, hy vọng về chính mình, hoặc thái độ tổng thể đối với cuộc đời, hoàn cảnh bên ngoài hoặc các thiết chế của chúng ta. Đó là cảm giác: “Tôi sẽ không bao giờ vượt qua được sự kiện này. Nó quá khó. Tôi đã cố gắng, nhưng không có gì giúp được.” Có cảm giác dễ bị tổn thương trước nỗi đau và khổ sở, và vì vậy chúng ta nhìn thấy rất nhiều đau khổ trong thế giới bên ngoài nhằm củng cố và biện minh cho cảm thọ bên trong của chính mình. Kêu cầu người khác giúp đỡ vì chúng ta không thể làm được gì, và cảm thấy rằng có lẽ người khác có thể làm điều đó thay cho chúng ta. Nó hoàn toàn ngược lại với thờ ơ, vì thờ ơ là cảm giác rằng không ai có thể giúp đỡ.
Cho phép u sầu bộc lộ
Hầu hết chúng ta đều mang trong lòng
rất nhiều u sầu bị kìm nén. Đặc biệt là đàn ông, họ dễ che giấu cảm thọ đặc biệt
này, vì khóc lóc bị coi là không có nam tính và không mạnh mẽ. Hầu hết mọi người
đều sợ hãi trước những u sầu mà họ đã kìm nén; họ kinh hãi vì cho rằng u sầu sẽ
nhấn chìm và làm họ bị choáng ngợp. Người ta nói: “Nếu tôi bắt đầu khóc, tôi sẽ
không bao giờ ngưng được”; “Trên thế giới này, trong cuộc đời tôi, trong gia
đình và bạn bè tôi có quá nhiều u sầu rồi”; “Ôi, những bi kịch của cuộc đời chưa
được nói ra! Tất cả những thất vọng và hy vọng tan vỡ!” U sầu bị kìm nén là
nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tâm thần và các vấn đề về sức khỏe.
Thay vì kìm nén cảm thọ, nếu cho
phép nó trỗi dậy và được giải tỏa, chúng ta có thể nhanh chóng chuyển từ u sầu
sang chấp nhận. U sầu dai dẳng sau một mất mát nào đó là do kháng cự lại việc
chấp nhận trạng thái đó và để cho u sầu tự tiêu tan. Cảm thọ tồn tại mãi là do
kháng cự lại việc việc để nó đi qua (ví dụ, 'than khóc kể lể' quá mức). Một khi
chúng ta chấp nhận sự thật rằng mình có thể vượt qua u sầu, là chúng ta đã vươn
tới tự hào. Cảm thấy “Tôi có thể làm được” và “Tôi có thể vượt qua được” mang lại
cho chúng ta can đảm. Với tinh thần can đảm để đối mặt với cảm thọ bên trong và
để chúng đi qua, chúng ta tiến tới các tầng chấp nhận và cuối cùng là bình an.
Khi chúng ta buông bỏ nhiều u sầu đã giữ chặt trong lòng suốt nhiều năm, bạn bè
và gia đình sẽ nhận thấy sự thay đổi trên khuôn mặt. Bước chân của chúng ta sẽ
nhẹ nhàng hơn và chúng ta sẽ trông trẻ hơn.
U sầu là có giới hạn về thời
gian. Sự thật này giúp chúng ta thêm can đảm và sẵn sàng đối mặt với u sầu. Nếu
chúng ta không kháng cự lại cảm thọ đau buồn mà hoàn toàn phó thác cho nó, nó sẽ
tự xả hết trong khoảng 10–20 phút; sau đó, nó sẽ tạm ngưng trong những khoảng
thời gian dài ngắn khác nhau. Nếu chúng ta tiếp tục phó thác cho nó mỗi khi nó
xuất hiện, thì cuối cùng nó sẽ qua đi. Chúng ta chỉ cần cho phép mình trải nghiệm
nó một cách trọn vẹn. Chúng ta chỉ cần chịu đựng u sầu tột cùng trong 10-20
phút, và sau đó nó sẽ đột nhiên biến mất. Nếu chúng ta chống lại u sầu, thì nó
sẽ kéo dài mãi mãi. U sầu bị kìm nén có thể kéo dài nhiều năm.
Khi đối mặt với u sầu, thường thì
ngay từ đầu. chúng ta phải thừa nhận và buông bỏ xấu hổ và ngượng ngùng về việc
có cảm thọ đó. Đối với đàn ông, điều này đặc biệt đúng. Chúng ta phải từ bỏ sợ
hãi rằng mình có cảm thọ đó và sợ bị nó nhấn chìm và làm cho mình choáng ngợp. Nhận
ra rằng buông bỏ kháng cự cảm thọ đó sẽ giúp chúng ta nhanh chóng vượt qua.
Theo truyền thống, phụ nữ thường nói theo kinh nghiệm và sự khôn ngoan của
chính họ: “Khóc một trận thật thoải mái khiến tôi cảm thấy dễ chịu hơn.” Nhiều
người đàn ông đã ngạc nhiên khi biết được sự thật này.
Về mặt trải nghiệm, cảm giác nhẹ
nhõm và gần như ngay lập tức khi cơn đau đầu dữ dội biến mất ngay khi u sầu về
một tình huống trong quá khứ được phép nổi lên. Khi u sầu nổi lên, câu nói liền
xuất hiện: “Đàn ông không được khóc.” Sau khi buông bỏ thái độ kiêu hãnh của
đàn ông về khóc lóc, người ta sẽ sợ rằng đã khóc thì sẽ khóc mãi. Ngay khi nỗi
sợ đó không còn, thì sẽ lập tức cảm thấy tức giận. Đó là tức giận với cái xã hội
buộc đàn ông phải kìm nén cảm thọ của mình, và tức giận với quan niệm cho rằng
đàn ông thậm chí không được phép có cảm thọ. Khi buông bỏ tức giận, thì đã vươn
lên tới tầng can đảm, và sau đó, nếu cần khóc thì có thể khóc. Không chỉ khỏi
đau đầu, mà khi nước mắt không còn rơi nữa, thì sẽ có an bình sâu sắc. Từ đó trở
đi, chủ đề này không còn phải né tránh nữa.
Một khi người đàn ông đã hoàn
toàn để u sầu xuất hiện và hoàn toàn giải phóng mình khỏi năng lượng bị kìm
nén, anh ta sẽ bình yên và quan điểm về nam tính của anh ta sẽ thay đổi. Anh ta
nhận ra rằng bản lĩnh đàn ông của mình giờ đây đã trọn vẹn hơn. Anh ta vẫn là một
người đàn ông đích thực, nhưng giờ đây anh ta là một người đàn ông có thể kết nối
với và xử lý được cảm thọ của chính mình. Do đó, anh ta trở thành phù hợp hơn,
có năng lực hơn, toàn diện hơn, thấu hiểu hơn, trưởng thành hơn, có khả năng
giao tiếp và thấu hiểu người khác tốt hơn, từ bi hơn và yêu thương hơn.
Cơ sở tâm lý của tất cả u sầu và
thương tiếc là chấp trước. Chấp trước và phụ thuộc là do chúng ta cảm thấy mình
là người chưa trọn vẹn; do đó, chúng ta tìm kiếm các đồ vật, con người, quan hệ,
địa điểm và khái niệm để đáp ứng nhu cầu nội tâm. Bởi vì chúng được sử dụng một
cách vô thức để lấp đầy một nhu cầu nội tâm, dần dần chúng bị đồng nhất hóa là “của
tôi”. Khi càng nhiều năng lượng được đổ dồn vào đó, một sự chuyển dịch diễn ra:
từ chỗ coi các đối tượng bên ngoài là “của tôi”, chúng trở thành một phần mở rộng
thực sự của “chính tôi”. Lúc đó, việc mất đi đối tượng hay người đó sẽ được trải
nghiệm như thể ta vừa mất đi chính bản thân mình và một phần huyết mạch trong hệ
sinh thái cảm xúc của chúng ta. Mất mát được cảm nhận như sự suy giảm chất lượng
của chính mình – được đại diện bởi đối tượng hay người đó. Càng nhiều năng lượng
cảm xúc được đầu tư vào đối tượng hoặc người đó, thì cảm thọ về mất mát sẽ càng
lớn và nỗi đau liên quan đến việc mất ràng buộc cũng sẽ càng lớn. Chấp trước tạo
ra phụ thuộc, và phụ thuộc, do bản chất của nó, vốn đã mang theo sợ mất mát rồi.
Trong mỗi người đều có cả đứa trẻ, cha mẹ và người lớn. Khi u sầu xuất hiện, nên tự hỏi: “Trong chính ta, đứa trẻ, cha mẹ hay người lớn nào là nguồn gốc của cảm thọ này?” Ví dụ, “đứa trẻ” bên trong người đó sợ rằng có chuyện gì đó xảy ra với con chó yêu quý. Nó tự hỏi: “Mình sẽ vượt qua bằng cách nào?” Người lớn bên trong cũng cảm thấy u sầu, nhưng người lớn chấp nhận cái không thể nào tránh được. Con mèo nhỏ hay con chó nhỏ không phải là bất tử. Người lớn trong chúng ta chấp nhận một cách tiếc nuối rằng vô thường là thực tại của cuộc đời. Chúng ta chấp nhận rằng tuổi trẻ không phải là vĩnh cửu, nhiều mối quan hệ tình cảm không kéo dài suốt đời, và con chó của chúng ta rồi cũng sẽ chết.
Xử lý mất mát
Do bản chất của chấp trước, trạng
thái đầu tiên trước khi thực sự trải nghiệm mất mát là sợ mất. Nó thường được bảo
vệ bằng một trong hai cách. Một là tăng cường chấp trước bằng những nỗ lực
không ngừng nghỉ để củng cố liên kết. Cách tiếp cận này dựa trên ảo tưởng cho rằng
“liên kết càng mạnh, thì khả năng mất mát sẽ càng ít”. Tuy nhiên, đây lại chính
là thủ đoạn thường gây ra mất mát trong các quan hệ cá nhân, vì người kia tìm
cách thoát khỏi chấp trước mang tính chiếm hữu và mức độ kiểm soát mang tính hạn
chế mà họ cảm thấy bị áp đặt lên chính mình. Do đó, vì những gì chúng ta lưu giữ
trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra ngoài, cho nên ngược đời là, chính sợ mất
lại có thể là cơ chế tạo ra mất mát.
Cách thứ hai là cơ chế phủ nhận về
mặt tâm lý, thường được gọi là “theo kiểu đà điểu”. Ngày nào chúng ta cũng thấy
hiện tượng từ chối đối mặt với cái không thể nào tránh được diễn ra xung quanh dưới
nhiều hình thức khác nhau. Tất cả các dấu hiệu cảnh báo đều có đó, nhưng người
đó lại không chú ý. Do đó, người đàn ông rõ ràng đang sắp mất việc thường không
nhận ra. Các cặp vợ chồng đang trên bờ vực tan vỡ hôn nhân không có bất kỳ hành
động nào nhằm khắc phục tình hình. Người mắc bệnh hiểm nghèo phớt lờ tất cả các
triệu chứng và không chú ý tới các biện pháp xử lý y khoa. Các chính trị gia
không quan tâm đến những vấn đề xã hội, với hy vọng rằng chúng sẽ tự biến mất.
Cả quốc gia không hề hay biết về tình trạng tồn tại bấp bênh (ví dụ, vụ tấn
công 11/9). Người lái xe phớt lờ những tín hiệu cảnh báo đáng ngại khi động cơ
hoạt động không ổn định. Tất cả chúng ta đều đã từng hối tiếc vì không chú ý đến
những tín hiệu cảnh báo về rắc rối sẽ xẩy ra.
Muốn đối phó với sợ mất mát,
chúng ta phải xem xét cách người hoặc vật bên ngoài đang phục vụ cho cuộc sống
của mình. Người hay vật đó đáp ứng nhu cầu cảm xúc nào? Những cảm xúc nào sẽ xuất
hiện nếu chúng ta mất đồ vật đó hoặc người đó? Mất mát có thể được dự đoán trước,
và chúng ta có thể xử lý những sợ hãi khác nhau liên quan đến cảm giác mất mát
bằng cách phân tích các phức hợp cảm xúc, và buông bỏ từng cảm thọ riêng lẻ.
Ví dụ, giả sử bạn có một chú chó
cưng đã gắn bó nhiều năm. Rõ ràng là chú chó già Rover đang ngày càng già đi. Bạn
nhận thấy mình không thích nghĩ về tuổi già của nó, cảm thấy khó chịu trước viễn
cảnh nó qua đời và cố gắng gạt bỏ việc đó ra khỏi tâm trí. Khi nhận ra mình
đang làm như thế, thì bạn cũng nhận ra rằng những cảm thọ này là tín hiệu cảnh
báo và bạn không xử lý tốt về mặt cảm xúc tình huống đó. Và vì vậy, bạn tự hỏi:
“Chú chó này có vai trò gì trong cuộc sống của tôi? Nó mang lại cho tôi điều gì
về mặt cảm xúc?” Tình yêu, bầu bạn, lòng trung thành, niềm vui và giải trí. “Mất
chú chó này có làm cho những nhu cầu cảm xúc cá nhân như thế không được đáp ứng
hay không?” Khi nhìn nhận vấn đề này, một số sợ hãi có thể được thừa nhận và từ
bỏ. Một khi sợ hãi được buông bỏ, bạn không cần phải phủ nhận và tự lừa dối
mình rằng Rover sẽ sống mãi mãi.
Một cảm xúc khác gắn liền với u sầu
và tang thương là tức giận. Mất mát những thứ quan trọng thường khơi dậy cảm thọ
phẫn nộ, có thể được phóng chiếu ra thế giới, xã hội, cá nhân và cuối cùng là
Thiên Chúa, được cho là Người chịu trách nhiệm về bản chất của vũ trụ. Tức giận
xuất phát từ việc từ chối chấp nhận sự thật là tất cả các mối quan hệ và tài sản
trong cuộc sống này đều là giả tạm. Ngay cả thân xác, cái mà chúng ta gắn bó nhất,
cuối cùng cũng phải từ bỏ, mọi người đều biết như thế.
Chúng ta cảm thấy rằng những thứ
đã trở thành quan trọng hoặc có thể an ủi chúng ta là chấp trước không thể nào
buông bỏ được. Do đó, khi vọng tưởng đó bị đe dọa, sẽ xuất hiện tức giận, oán hận
và than thân trách phận - những cảm thọ có thể dẫn đến cay đắng kéo dài. “Phẫn
nộ bất lực” gắn liền với mong muốn thay đổi bản chất của thế giới và không có
khả năng làm việc đó. Do đó, đối mặt với sự kiện này của hiện sinh, một mất mát
lớn do đó có thể đem lại thay đổi trong quan điểm triết học của chúng ta. Một mất
mát lớn có thể làm cho chúng ta thức tỉnh về bản chất của tất cả chấp trước và
tất cả các mối quan hệ, hoặc chúng ta có thể lại phủ nhận sự thật hiển nhiên là
tất cả các mối quan hệ đều là giả tạm và điên cuồng củng cố những liên kết hiện
có để bù đắp cho mất mát.
Một phần của việc xử lý phủ nhận
tính tất yếu của mất mát là nhìn thấu những cố gắng thao túng. Trong tưởng tượng,
tâm trí tìm cách phát triển các chiến thuật để tránh mất mát. Có thể thể hiện
dưới hình thức trở thành “người tốt hơn” hoặc chăm chỉ hơn, trung thực hơn,
kiên trì hơn hoặc trung thành hơn. Ở những người có đạo, điều này có thể thể hiện
dưới hình thức thao túng Thiên Chúa bằng những lời hứa và mặc cả. Trong các mối
quan hệ, nó có thể thể hiện bằng những hành vi bù đắp quá mức. Người vợ/chồng
trở nên tận tụy, yêu thương và chu đáo hơn bao giờ hết trong nỗ lực nhằm ngăn
chặn vụ đổ vỡ. Người chồng thiếu quan tâm đột nhiên bắt đầu mang quà và hoa về
nhà thay vì tìm ra nguyên nhân gốc rễ của vấn đề.
Khi thái độ phủ nhận sụp đổ, những
thủ đoạn thao túng không còn hiệu quả, và sợ hãi đã qua đi; thì trầm cảm, u buồn
và thương tiếc thực sự sẽ xảy ra. Có thể vượt qua tất cả những giai đoạn cảm
xúc này nhanh hơn bằng quá trình buông bỏ, trong đó có chấp nhận cảm xúc u sầu là
không thể tránh được và thay thế nó bằng sẵn sàng buông bỏ kháng cự và để quá
trình tự diễn ra và hoàn thành. Có thể có quyết định buông bỏ chống lại u sầu.
Thay vì phủ nhận và kháng cự, bạn lao vào nó và vượt qua nó. Bạn khóc thật thoải
mái vì chú chó Rover già nua đã chết hay quan hệ đã mất.
Cảm thọ u sầu luôn đi kèm với nhiều
mặc cảm tội lỗi khác nhau. Đấy là do vọng tưởng rằng mất mát là hình phạt hoặc thái
độ hoặc hành vi khác đi sẽ ngăn chặn được chuyện đó, không để cho nó xảy ra. Trừ
khi được từ bỏ, mặc cảm tội lỗi sau đó có thể tái diễn và tiếp thêm nhiên liệu
cho tức giận và phẫn nộ. Giận dữ không được thừa nhận và không được giải tỏa có
thể được phóng chiếu lên những người khác ở bên cạnh dưới hình thức đổ lỗi. Việc
đổ lỗi lên các mối quan hệ khác sau đó có thể làm trầm trọng thêm mất mát bằng
cách gây ra thêm mất mát.
Hiện tượng này thường xuyên xảy
ra trong các cặp vợ chồng sau khi con của họ chết. Có báo cáo nói rằng tỷ lệ ly
hôn ở những bậc cha mẹ mất con lên tới 90%. Do đổ lỗi, mất mát nặng nề lại càng
trầm trọng hơn bởi mất mát nặng nề khác—đó là mất đi người bạn đời. Một ví dụ về
phản ứng này là trường hợp của một người phụ nữ 40 tuổi. Bà đã có một cuộc hôn
nhân tuyệt vời trong 20 năm với một người chồng chu đáo, tận tụy. Con trai út của
bà mắc bệnh bạch cầu. Khi con trai qua đời, bà rơi vào u sầu và thương tiếc, và
quan trọng hơn, bà đã nảy sinh phản ứng giận dữ. Nó biểu hiện dưới dạng thù hận.
Bà ghét các bác sĩ; bà ghét bệnh viện; bà ghét Thiên Chúa; bà ghét chồng và những
đứa con đang còn sống. Cơn giận của bà trở thành không thể kiểm soát được, đến
mức bà trở nên bạo lực và đe dọa về thể chất. Cảnh sát phải tới để kiểm soát
hành vi bạo lực của bà. Cuối cùng, những đứa con khác đã đi khỏi nhà vì sợ hãi
trước sự hỗn loạn, bạo lực về thể xác và cảm xúc mang tính đe dọa. Chồng bà đã
làm mọi cách để giúp bà vượt qua giận dữ, nhưng bà ta cũng trút giận lên cả chồng
mình, nhiều lần tấn công ông ta một cách dữ dội. Cuối cùng, trong tuyệt vọng và
chán nản, ông ta đã bị đuổi khỏi nhà. Tình trạng hỗn loạn cuối cùng dẫn đến ly
hôn, người phụ nữ mất nhà. Gần năm năm sau, cơn giận mới lắng xuống, lúc đó người
phụ nữ này đã phá hủy toàn bộ cuộc sống của mình và phải làm lại từ đầu, xây dựng
lại cuộc sống mới.
Khi tất cả những cảm xúc tiêu cực
đã được xử lý, được chấp nhận và buông bỏ, cuối cùng thanh thản sẽ đến, và đau
khổ trước đây được thay thế bằng chấp nhận. Chấp nhận khác với cam chịu. Trong
cam chịu, vẫn còn sót lại dư âm của cảm xúc trước đó. Có sự miễn cưỡng và trì
hoãn việc nhận ra sự thật. Cam chịu nói rằng, “Tôi không thích điều đó, nhưng
tôi phải chịu đựng nó.”
Với chấp nhận, kháng cự đối với bản chất của sự việc đã được từ bỏ; do đó, một trong những dấu hiệu của chấp nhận là thanh thản. Cùng với chấp nhận, cuộc đấu tranh kết thúc và cuộc sống bắt đầu như mới. Năng lượng bị ràng buộc trong những cảm xúc tiêu cực trước đây lúc này đã được giải phóng, nhờ đó, những khía cạnh lành mạnh hơn của nhân cách được tái tạo năng lượng. Các khía cạnh sáng tạo của tâm trí phát triển cơ hội cho những tình huống của cuộc đời mới và những lựa chọn tiếp theo cho sự phát triển và trải nghiệm, đi kèm với cảm giác mới về sự sống động. Giáo lý nổi tiếng và được nhiều người thực hành là Lời cầu nguyện Thanh thản của các nhóm 12 bước:
Lạy Chúa, xin ban cho con sự thanh thản để chấp nhận những gì không thể thay đổi, Lòng can đảm để thay đổi những gì có thể thay đổi, Và sự khôn ngoan để phân biệt cái này với cái kia.
Không vượt qua được bất kỳ cảm
xúc nào liên quan đến u sầu và mất mát có thể dẫn đến tình trạng bế tắc mãn
tính ở bất kỳ khía cạnh nào của nó. Do đó, nó có thể dẫn đến trầm cảm kéo dài
và trạng thái phủ nhận kéo dài trong đó cái chết của người thân thực sự bị phủ
nhận. Mặc cảm tội lỗi mãn tính hoặc từ chối vượt qua những cảm xúc liên quan đến
mất mát có thể dẫn đến phản ứng u sầu bị trì hoãn và bệnh tật về thể chất. Cơ
chế đằng sau quá trình này được giải thích trong một chương sau về quan hệ giữa
tâm trí và cơ thể. Năng lượng bị kìm nén của những cảm xúc không được giải tỏa
sẽ tái xuất hiện thông qua hệ thống nội tiết và hệ thần kinh dưới dạng mất cân
bằng năng lượng, làm suy yếu dòng chảy năng lượng sống qua các kinh mạch. Kết
quả là những thay đổi mang tính bệnh lý ở các cơ quan khác nhau. Một thực tế mà
nhiều người biết là tỷ lệ tử vong trong số những người đang đau buồn cao hơn hẳn
so với dân số nói chung, đặc biệt là trong một hoặc hai năm đầu sau khi người bạn
đời chết.
Một trong những nguồn gốc của mặc
cảm tội lỗi liên quan đến u sầu là giận người thân yêu vì đã ra đi. Nó thường bị
kìm nén vì nó có vẻ phi lý đối với tâm trí tỉnh táo. Những đức tính của người
thân yêu đã khuất được tô vẽ và phóng đại trong trí tưởng tượng, và sự khác biệt
này càng làm tăng thêm mặc cảm tội lỗi. Làm sao chúng ta có thể giận một người
tuyệt vời như vậy? Có mặc cảm tội lỗi khi giận Thiên Chúa, Đấng đã tạo ra vũ trụ,
vì đã cho phép sự kiện bi thảm này xảy ra.
Một người phụ nữ sáu mươi tuổi đến
văn phòng với nhiều triệu chứng về thể chất. Bà bị hen suyễn, dị ứng, viêm phế
quản, thường xuyên bị viêm phổi, và đủ loại khó thở. Trong quá trình trị liệu
tâm lý, mới biết rằng mẹ bà đã qua đời cách đây 22 năm, nhưng bà nói rằng, thật
kỳ lạ, bà không hề có phản ứng gì trước cái chết của mẹ mình. Kỳ lạ hơn nữa, mặc
dù đó là trách nhiệm của bà, bà đã không đặt bia trên mộ mẹ mình. Từ những
thông tin được cung cấp, rõ ràng là bà ấy có mối quan hệ phụ thuộc cực cao vào
mẹ mình, bà ấy có thái độ nước đôi về mẹ vì mẹ bà từ chối đáp ứng tất cả những
nhu cầu phụ thuộc của bà.
Phải mất nhiều tháng bà này mới vượt qua được sự chối bỏ to lớn của mình, chối bỏ liên quan đến mặc cảm tội lỗi vì đã giận mẹ vì đã bỏ rơi bà. Tức giận hướng vào chính bản thân bà ta dưới dạng bệnh tật, nó cũng thể hiện sự bất lực và mong muốn được khóc than cho mẹ của bà. Mong muốn được khóc than cho việc mất mẹ bị kìm nén dẫn đến cảm thọ liên tục rằng bà ấy không thể thở được. Bà ta căm ghét chính mình vì những cảm thọ yêu/ghét mẹ, và tổng hợp tất cả những cảm thọ bị kìm nén của bà ấy đã trỗi dậy bằng nhiều triệu chứng về hô hấp (bệnh “tâm thần”). Khi bà ấy vượt qua được đau buồn bị trì hoãn, phản ứng với u sầu và mất mát bắt đầu nổi lên. Mức độ kháng cự của bà ấy trong việc vượt qua những cảm thọ này và kháng cự đó dẫn đến các triệu chứng về thể chất của bà ấy trở nên rất rõ ràng. Cuối cùng, bà ấy đã tham gia khóa đào tạo chuyên nghiệp bổ sung để trở thành một nhà trị liệu, làm việc với những người sắp qua đời trong một chương trình chăm sóc người hấp hối.
Ngăn ngừa u sầu
Từ bản chất của các quá trình mà
chúng ta mô tả, rõ ràng là có thể được ngăn ngừa được những đau buồn, mất mát
và các phản ứng bệnh lý nghiêm trọng có thể xảy ra sau đó bằng cách nhận biết từ
sớm và chủ động buông bỏ những cảm thọ liên quan khi chúng vẫn còn nhẹ và có thể
được xử lý mà không gây ra đau khổ quá mức.
Như chúng ta đã thấy, cơ sở của tất
cả đau buồn và mất mát là chấp trước, cộng với thái độ phủ nhận bản chất phù du
của tất các các mối quan hệ. Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách nhìn vào cuộc đời
mình, xác định những lĩnh vực chấp trước và tự hỏi: “Những chấp trước này đang
đáp ứng những nhu cầu nội tâm nào? Cảm thọ nào sẽ xuất hiện nếu mình mất chúng?
Làm sao để đời sống cảm xúc bên trong của tôi được cân bằng nhằm giảm bớt mức độ,
phạm vi và số lượng các chấp trước với các đối tượng và người bên ngoài?” Chấp
trước của chúng ta vào những thứ bên ngoài càng lớn, thì mức độ sợ hãi và dễ bị
tổn thương tổng thể của chúng ta trước mất mát sẽ càng lớn. Chúng ta có thể tự
hỏi tại sao mình lại cảm thấy không trọn vẹn như thế. “Tại sao tôi lại trống rỗng
ở bên trong đến mức phải tìm kiếm giải pháp dưới hình thức chấp trước và phụ
thuộc vào người khác?”
Chúng ta có thể bắt đầu nhìn vào
những khía cạnh chưa trưởng thành bên trong chính mình. Cụ thể, chúng ta cần
xem xét: “Tôi đang tìm kiếm tình yêu ở đâu thay vì cho đi?” Càng yêu thương nhiều,
chúng ta càng ít bị tổn thương bởi u sầu và mất mát, và càng ít cần tìm kiếm chấp
trước. Khi chúng ta đã thừa nhận và buông bỏ tất cả những cảm thọ tiêu cực, và
đã trưởng thành, thoát khỏi nhỏ bé và vươn tới nhận thức về sự vĩ đại của mình,
để niềm vui nội tâm xuất phát từ niềm vui của việc ban tặng và yêu thương, thì
chúng ta thực sự không bị tổn thương khi bị mất mát. Khi cội nguồn hạnh phúc được
tìm thấy ở bên trong, chúng ta miễn nhiễm với những mất mát của thế gian.
Khi nhìn cuộc đời một cách nghiêm
túc, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả những chấp trước và những lối thoát mà chúng
ta đã sa vào. Mỗi một chấp trước đều là nguồn gốc tiềm tàng của đau và đau khổ
trong tương lai. Một số lĩnh vực thực sự quan trọng cần được xem xét kỹ lưỡng.
Ví dụ, xin xem xét việc không dám đối mặt với những vấn đề này trong cái gọi là
hội chứng nghỉ hưu. Theo truyền thống, sự kiện này có thể xảy ra ở những người
phụ nữ khi công việc nuôi dạy con kết thúc – con cái trưởng thành và rời khỏi
nhà (gọi là “hội chứng tổ trống”), và ở những người đàn ông khi đến tuổi nghỉ
hưu hoặc mất việc, hoặc do một số khuyết tật về thể chất mà không thể tiếp tục
công việc. Phản ứng thường xảy ra ở tuổi trung niên là do nhiều năm trước đã chối
bỏ. Thường thì không dám đối mặt với cái không thể tránh khỏi và lập kế hoạch
cho các hoạt động khác trong cuộc đời, có thể thỏa mãn những nhu cầu nội tâm,
trong những trường hợp này, đó là cảm giác tự trọng, tầm quan trọng, mong muốn
được người ta cần đến mình và có ý nghĩa, và nhu cầu đóng góp và có giá trị.
Dự đoán trước điều không thể
tránh khỏi và chuẩn bị cho nó ngay từ bây giờ mang lại sự khó chịu tương đối nhỏ
so với u sầu và mất mát về sau. Chúng ta có thể nhìn vào những quan hệ tình cảm
quan trọng của mình và xem xét một cách trung thực. Những quan hệ tình cảm này phục
vụ nhu cầu nội tâm ích kỷ của chúng ta đến mức độ nào? Chúng ta thực sự đang lợi
dụng người khác để bóc lột họ vì lợi ích của riêng mình đến mức độ nào? Chúng
chỉ đơn thuần phục vụ hạnh phúc của chúng ta đến mức độ nào? Để tìm ra câu trả lời,
tất cả những gì chúng ta cần làm là tự hỏi: “Nếu hạnh phúc của họ được đảm bảo
tốt nhất bằng cách rời bỏ tôi, thì tôi sẽ cảm thấy thế nào?” Câu trả lời cho thấy
mức độ mà chúng ta đang cố gắng hạn chế và kiểm soát người khác—đó là chấp trước
chứ không phải tình yêu.
Hơn hai nghìn năm trước, Đức Phật
đã nhận thấy rằng nguồn gốc của mọi khổ đau của con người là do ham muốn và chấp
trước, và lịch sử loài người chỉ đơn thuần chứng minh sự thật trong giáo lý của
Ngài. Giải pháp cho thế tiến thoái lưỡng nan đó là gì? Như chúng ta đã thấy, chỉ
có khía cạnh nhỏ bé của người đó mới trở thành chấp trước. Tự ngã nhỏ bé chấp
nhận tập hợp các chương trình đầy sợ hãi và không phù hợp mà chúng ta đã vô
tình để chúng chi phối mình. Mục đích của buông bỏ là rút nguồn năng lượng khỏi
các chương trình này để chúng không còn điều khiển chúng ta nữa; khi đó, ta được
tự do để mở rộng vào tầng nhận thức rộng lớn hơn của Đại Ngã Cao hơn của mình.
Phần mà chúng ta gọi là “Đại Ngã Cao
hơn” yêu thương chứ không tìm kiếm tình yêu. Do đó, xuất hiện nhận thức nói rằng
chúng ta luôn luôn được bao quanh bởi tình yêu, tình yêu vô hạn. Tình yêu tự động
được thu hút đến người biết yêu thương.
Bằng cách liên tục buông bỏ những
cảm thọ tiêu cực, chúng ta chữa lành nỗi đau trong hiện tại và phòng ngừa,
không cho nó xuất hiện trong tương lai. Sợ hãi được thay thế bằng niềm tin, và
cùng với đó là cảm giác sâu sắc về hạnh phúc. Khi thay thế sự phụ thuộc vào tự
ngã nhỏ bé (nhân cách) bằng sự phụ thuộc vào Đại Ngã (Thần tính bên trong) thì
chúng ta sẽ có khả năng miễn nhiễm với u sầu do mất mát gây ra. Chúng ta tìm kiếm
sự an toàn ở Đại Ngã, vốn là vĩnh cửu, chứ không phải ở tự ngã nhỏ bé, vốn là phù
du.