June 26, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (3)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 


CHƯƠNG

2 

CƠ CHẾ BUÔNG BỎ

Buông bỏ là gì?

Buông bỏ tương tự như chấm dứt đột ngột áp lực ở bên trong hoặc thả một vật nặng xuống. Buông bỏ đi kèm với cảm giác nhẹ nhõm và thanh thản đột ngột, cùng với gia tăng hạnh phúc và tự do. Đó là một cơ chế thực sự của tâm trí, và mọi người, một lúc nào đó, đều đã từng trải nghiệm.

Ví dụ điển hình: Bạn đang tranh cãi gay gắt; bạn đang tức giận và khó chịu, khi đột nhiên toàn bộ sự việc làm cho bạn thấy thật vô lý và nực cười. Bạn bắt đầu cười. Áp lực được giải tỏa. Bạn thoát khỏi giận dữ, sợ hãi và cảm giác bị tấn công tới cảm giác mình đột nhiên được tự do và hạnh phúc.

Hãy nghĩ xem sẽ tuyệt vời biết bao nếu bạn có thể làm như thế mọi lúc, mọi nơi, và với bất kỳ sự kiện nào. Bạn có thể luôn luôn cảm thấy tự do và hạnh phúc và không bao giờ có cảm giác bị dồn vào chân tường nữa. Đó chính là cái mà kỹ thuật này nói tới: buông bỏ một cách có ý thức và thường xuyên theo ý mình muốn. Lúc đó, bạn sẽ làm chủ được cảm thọ của mình, và không còn phụ thuộc vào thế gian và những phản ứng của bạn đối với thế gian nữa. Bạn không còn là nạn nhân. Đây là áp dụng giáo lý cơ bản mà Đức Phật truyền dạy, giúp loại bỏ áp lực của những phản ứng tự phát (Involuntary Reactivity[i]).

Chúng ta mang theo bên mình rất nhiều cảm thọ, thái độ và niềm tin tiêu cực được tích lũy lại. Áp lực được tích lũy lại làm cho chúng ta khốn khổ và là nguyên nhân của nhiều bệnh tật và vấn đề. Chúng ta cam chịu sự kiện đó và biện minh bằng cụm từ “thân phận con người”. Chúng ta tìm cách trốn tránh bằng nhiều cách khác nhau. Cuộc sống của một người trung bình được dùng vào việc tìm cách tránh né và chạy trốn khỏi sự hỗn loạn nội tâm do sợ hãi và khốn khổ đe doạ. Lòng tự trọng của mỗi người luôn luôn bị đe dọa từ cả bên trong lẫn bên ngoài.

Nếu nhìn kỹ vào đời sống con người, chúng ta thấy rằng về cơ bản đó là một cuộc đấu tranh kéo dài và phức tạp nhằm thoát khỏi sợ hãi và kỳ vọng ở bên trong mà chúng ta đã phóng chiếu ra thế giới bên. Xen kẽ là những khoảng thời gian ăn mừng, khi chúng ta tạm thời thoát khỏi sợ hãi ở bên trong, nhưng sợ hãi vẫn còn đó, đang chờ đợi chúng ta. Chúng ta trở nên sợ hãi những cảm thọ bên trong, vì chúng lưu giữ nhiều tiêu cực đến mức chúng ta sợ rằng nếu nhìn sâu hơn thì mình sẽ bị chúng áp đảo. Chúng ta sợ những cảm thọ này vì chúng ta không có cơ chế hữu thức nào để xử lý cảm thọ nếu để chúng trỗi dậy. Vì chúng ta sợ đối mặt với chúng, chúng tiếp tục được tích tụ và cuối cùng, chúng ta thầm mong đợi cái chết để chấm dứt mọi khổ đau. Không phải suy nghĩ hay sự thật mà những cảm thọ đi kèm với chúng mới làm chúng ta đau đớn. Suy nghĩ, tự thân nó, không làm chúng ta đau, chính những cảm thọ nằm bên dưới mới làm cho chúng ta đau!

Áp lực của cảm thọ được tích tụ lại là nguyên nhân tạo ra suy nghĩ. Ví dụ, một cảm thọ có thể tạo ra hàng ngàn suy nghĩ trong một khoảng thời gian dài. Xin nghĩ đến một ký ức đau buồn từ thời thơ ấu, một tiếc nuối khinh hoàng bị che giấu. Xin nhìn vào tất cả những năm tháng suy tư dài đằng đẵng gắn liền với sự kiện duy nhất đó. Nếu chúng ta có thể buông bỏ cảm thọ đau buồn nằm bên dưới nó, thì tất cả những suy nghĩ đó sẽ biến mất ngay lập tức và chúng ta sẽ quên sự kiện đó.

Nhận xét này phù hợp với nghiên cứu khoa học. Đấy là lý thuyết khoa học mang tên Gray-LaViolette tích hợp tâm lý học và sinh lý thần kinh. Nghiên cứu này chứng minh rằng sắc thái của cảm thọ sắp xếp suy nghĩ và trí nhớ (Gray-LaViolette, 1981). Suy nghĩ được lưu trữ trong bộ nhớ theo các sắc thái cảm thọ khác nhau gắn liền với những suy nghĩ đó. Do đó, khi chúng ta từ bỏ hoặc buông bỏ một cảm thọ nào đó, là chúng ta đưa mình ra khỏi tất cả những suy nghĩ liên quan.

Giá trị to lớn của biết buông bỏ là bạn có thể buông bỏ tất cả các cảm thọ, bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu, ngay lập tức, và việc này có thể được thực hiện một cách liên tục và dễ dàng.

Trạng thái buông bỏ là gì? Có nghĩa là thoát khỏi những cảm thọ tiêu cực trong một lĩnh vực nhất định, để khả năng sáng tạo và tính tự phát có thể được hiển lộ mà không gặp phải phản đối hay can thiệp của những xung đột nội tâm. Giải thoát khỏi xung đột và kỳ vọng nội tâm chính là trao cho những người khác trong cuộc đời của chúng ta tự do lớn nhất. Nó cho phép chúng ta trải nghiệm bản chất cơ bản của vũ trụ, mà sau này sẽ được khám phá ra, đó là điều tốt đẹp nhất có thể trong một tình huống. Nghe có vẻ quá triết lý, nhưng khi thực hiện, nó là sự thật có thể trải nghiệm được.

 

Cảm thọ và cơ chế của tâm trí

Chúng ta có ba biện pháp chính để xử lý cảm thọ: kìm nén, thể hiện, và trốn tránh. Chúng ta sẽ thảo luận từng biện pháp. 

1. Kìm nén và ức chế[ii]. Đây là những biện pháp phổ biến nhất: chúng ta kìm nén cảm thọ và gạt sang một bên. Trong ức chế, nó xảy ra một cách vô thức; trong kìm nén nó xảy ra một cách có ý thức. Chúng ta không muốn bị cảm thọ làm phiền và, hơn nữa, chúng ta không biết phải làm gì khác với những cảm thọ này. Chúng ta cố gắng chịu đựng và tiếp tục hoạt động theo cách mà chúng ta cho là tốt nhất. Những cảm thọ mà chúng ta chọn để kìm nén hoặc ức chế phù hợp với các chương trình hữu thức và vô thức mà chúng ta mang theo bên mình từ phong tục xã hội và giáo dục của gia đình. Sau đó áp lực của những cảm thọ bị kìm nén được cảm nhận như cáu kỉnh, thay đổi tâm trạng, căng cơ ở cổ và lưng, đau đầu, chuột rút, rối loạn kinh nguyệt, viêm đại tràng, khó tiêu, mất ngủ, tăng huyết áp, dị ứng và các bệnh lý khác.

Khi chúng ta ức chế một cảm thọ, đó là vì có quá nhiều mặc cảm tội lỗi và sợ hãi về cảm thọ đó đến nỗi nó thậm chí không được cảm nhận một cách có ý thức. Nó ngay lập tức bị đẩy vào tiềm thức ngay khi có nguy cơ bộc lộ. Cảm thọ bị ức chế sau đó được xử lý bằng nhiều cách khác nhau để đảm bảo rằng nó vẫn bị ức chế và nằm ngoài nhận thức.

Trong số các cơ chế mà tâm trí sử dụng để giữ cho cảm thọ bị ức chế, thì phủ nhận và phóng chiếu có lẽ là những phương pháp được biết đến nhiều nhất, vì chúng có xu hướng đi cùng với nhau và củng cố lẫn nhau. Phủ nhận dẫn đến những rào cản lớn về cảm xúc và trưởng thành. Nó thường đi kèm với cơ chế phóng chiếu. Vì mặc cảm tội lỗi và sợ hãi, chúng ta ức chế xung động hoặc cảm thọ, và chúng ta phủ nhận sự hiện diện của nó bên trong chúng ta. Thay vì cảm nhận nó, chúng ta phóng chiếu nó ra thế giới và những người xung quanh. Chúng ta trải nghiệm cảm thọ như thể nó thuộc về “họ”. “Họ” sau đó trở thành kẻ thù, còn tâm trí thì tìm kiếm và tìm thấy những lời biện hộ để củng cố phóng chiếu. Lỗi lầm được gán cho con người, cho địa điểm, thể chế, thực phẩm, điều kiện khí hậu, các sự kiện chiêm tinh, điều kiện xã hội, số phận, Chúa, vận may, ma quỷ, người nước ngoài, các nhóm sắc tộc, đối thủ chính trị, và những thứ khác nằm bên ngoài chúng ta. Hiên nay, phóng chiếu là cơ chế chính được thế giới sử dụng. Nó giải thích nguyên nhân của tất cả các cuộc chiến tranh, xung đột và rối loạn xã hội. Thậm chí việc căm ghét kẻ thù còn được khuyến khích để trở thành “công dân tốt”. Chúng ta duy trì lòng tự trọng của mình bằng cách hạ thấp người khác, và cuối cùng, là đổ vỡ xã hội. Cơ chế của phóng chiếu là nền tảng của mọi cuộc tấn công, bạo lực, hung hãn và tất cả các hình thức phá hoại xã hội. 

2. Biểu hiện. Bằng cơ chế này, cảm thọ được bộc lộ, được diễn đạt bằng lời nói, hoặc thể hiện bằng ngôn ngữ cơ thể, và được thể hiện ra trong các cuộc biểu tình tập thể không ngừng nghỉ. Việc biểu hiện những cảm thọ tiêu cực cho phép một lượng áp lực bên trong vừa đủ được giải tỏa để phần còn lại có thể bị kìm nén. Đây là điểm mấu chốt cần phải hiểu, vì nhiều người trong xã hội ngày nay tin rằng biểu hiện cảm thọ sẽ giải phóng họ khỏi những cảm thọ đó. Thực tế thì ngược lại. Thứ nhất, việc biểu hiện một cảm thọ nào đó có xu hướng lan truyền cảm thọ đó và tiếp thêm năng lượng cho nó. Thứ hai, việc biểu hiện cảm thọ chỉ đơn thuần cho phép phần còn lại bị kìm nén nằm ngoài nhận thức.

Cân bằng giữa kìm nén và biểu hiện khác nhau ở mỗi người, phụ thuộc vào quá trình rèn luyện ban đầu, các chuẩn mực và phong tục văn hóa, và phương tiện truyền thông. Việc thể hiện chính mình đang thịnh hành trong giai đoạn hiện nay là do hiểu sai công trình của Sigmund Freud và phân tâm học. Freud chỉ ra rằng kìm nén là nguyên nhân của chứng loạn thần kinh; do đó, biểu hiện bị hiểu nhầm là phương pháp chữa trị. Giải thích sai như thế trở thành cái cớ cho tự thỏa mãn mà người khác phải trả giá. Điều Freud thực sự nói, trong phân tâm học cổ điển, là xung động hoặc cảm thọ bị kìm nén cần được trung hòa, thăng hoa, xã hội hóa (socialized[iii]), và hướng vào những động lực mang tính xây dựng như tình yêu, công việc và sáng tạo.

Nếu chúng ta trút những cảm thọ tiêu cực của mình lên người khác, họ sẽ cảm thấy đó là tấn công và, đến lượt mình, buộc phải kìm nén, thể hiện hoặc trốn tránh những cảm thọ đó; do đó, việc thể hiện thái độ tiêu cực làm suy giảm và phá hủy các mối quan hệ. Giải pháp tốt hơn nhiều là chịu trách nhiệm về cảm thọ của chính mình và trung hòa chúng. Khi đó, chỉ còn lại những cảm thọ tích cực để được thể hiện. 

3. Trốn tránh. Trốn tránh là né tránh các cảm thọ bằng cách đánh lạc hướng sự chú ý của chính mình. Né tránh là xương sống của ngành công nghiệp giải trí và rượu bia, và cũng là con đường của những người nghiện công việc. Trốn tránh và né tránh nhận thức nội tâm là cơ chế được xã hội chấp nhận. Chúng ta có thể né tránh chính bản thân mình và ngăn chặn, không cho cảm thọ bộc lộ bằng rất nhiều những theo đuổi khác nhau, nhiều hoạt động cuối cùng lại trở thành chứng nghiện, đấy khi chúng ta ngày càng phụ thuộc vào những theo đuổi này.

Người ta tìm mọi cách nhằm duy trì trạng thái vô thức. Chúng ta thấy mọi người thường bật tivi ngay khi bước vào phòng và sau đó đi lại trong trạng thái như đang ngủ mơ, liên tục bị lập trình bởi dữ liệu rót vào. Người ta sợ hãi khi phải đối mặt với chính mình. Họ sợ ngay cả một khoảnh khắc cô đơn. Do đó, các hoạt động điên cuồng diễn ra liên tục: giao tiếp xã hội không ngừng nghỉ, nói chuyện, nhắn tin, đọc sách, nghe nhạc, làm việc, đi du lịch, tham quan, mua sắm, ăn quá nhiều, đánh bạc, xem phim, uống thuốc, sử dụng ma túy và tiệc tùng.

Nhiều cơ chế trốn tránh nêu trên đều có sai sót, gây ra căng thẳng và không hiệu quả. Mỗi cơ chế đều đòi hỏi năng lượng ngày càng tăng. Cần một lượng năng lượng khổng lồ để kìm nén áp lực ngày càng tăng của những cảm thọ bị kìm nén và ức chế. Dẫn đến sự mất dần nhận thức và không phát triển được. Khả năng sáng tạo, năng lượng và quan tâm thực sự đến người khác sẽ không còn. Phát triển tâm linh bị đình trệ và cuối cùng là bệnh tật về thể chất và cảm xúc, lão hóa và chết sớm. Phóng chiếu của những cảm thọ bị ức chế nén này tạo ra các vấn đề xã hội, rối loạn và gia tăng tính ích kỷ và vô cảm là những biểu hiện đặc trưng của xã hội hiện nay. Trên hết là không còn khả năng yêu thương và tin tưởng người khác, dẫn đến sự cô lập về mặt cảm xúc và căm ghét chính mình.

Ngược lại với những điều vừa nói, chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta buông bỏ một cảm thọ nào đó? Năng lượng đằng sau cảm thọ đó được giải phóng ngay lập tức và hiệu quả cuối cùng là giảm áp lực. Áp lực được tích lũy bắt đầu giảm khi chúng ta liên tục buông bỏ. Mọi người đều biết rằng, khi buông bỏ, chúng ta lập tức cảm thấy thoải mái hơn. Sinh lý cơ thể thay đổi. Có thể nhận thấy những cải thiện rõ rệt trên sắc da, hơi thở, mạch, huyết áp, độ căng cơ, chức năng tiêu hóa và các chỉ số hóa học trong máu. Trong trạng thái tự do nội tâm, tất cả các chức năng và cơ quan trong cơ thể đều hướng đến trạng thái bình thường và khỏe mạnh. Sức mạnh cơ bắp tăng lên ngay lập tức. Thị lực được cải thiện và nhận thức của chúng ta về thế giới và bản thân mình thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn, yêu thương hơn và dễ tính hơn. 

Cảm thọ và Căng thẳng

Rất nhiều người chú ý tới và nhiều thông tin được đưa ra về chủ đề căng thẳng mà không thực sự hiểu được bản chất cốt yếu của nó. Có người nói rằng chúng ta dễ bị căng thẳng hơn bao giờ hết. Nguyên nhân cốt yếu của căng thẳng là gì? Chắc chắn không phải là các yếu tố ở bên ngoài. Đấy chỉ là những ví dụ về cơ chế mà chúng ta đã mô tả là phóng chiếu. Người ta cho rằng “họ” hoặc “nó” là thủ phạm, trong khi trên thực tế, những gì chúng ta cảm thấy chỉ đơn giản là giải tỏa áp lực bên trong của những cảm xúc bị kìm nén. Chính những cảm thọ bị ức chế này làm cho chúng ta dễ bị những căng thẳng ở bên ngoài làm cho đau khổ.

Nguồn gốc thực sự của “căng thẳng” thực ra là ở bên trong; nó không phải là bên ngoài, như mọi người muốn tin. Ví dụ, sẵn sàng phản ứng bằng sợ hãi phục thuộc vào lượng sợ hãi vốn đã tích tụ ở bên trong, chực chờ được kích hoạt bởi một tác nhân bên ngoài. Chúng ta càng có nhiều sợ hãi ở bên trong, tri giác (perception[iv]) của chúng ta về thế giới càng thay đổi thành mong đợi đầy sợ hãi và đề phòng. Đối với người sợ hãi, thế giới này là nơi đáng sợ. Đối với người giận dữ, thế giới này là một mớ hỗn độn của những thất vọng và phiền muộn. Đối với người có mặc cảm tội lỗi, đây là thế giới của cám dỗ và tội lỗi, mà họ nhìn thấy ở khắp mọi nơi. Những gì chúng ta lưu giữ ở bên trong tô màu cho thế giới của chúng ta. Nếu chúng ta buông bỏ mặc cảm tội lỗi, chúng ta sẽ thấy sự vô tội; tuy nhiên, một người bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi sẽ chỉ thấy cái ác. Quy tắc căn bản là chúng ta tập trung vào những gì chúng ta đã ức chế.

Căng thẳng là kết quả của áp lực được tích tụ từ những cảm thọ bị ức chế và kìm nén. Áp lực tìm kiếm giải tỏa, và do đó, các sự kiện bên ngoài chỉ kích hoạt những gì chúng ta đã kìm nén, cả theo lối hữu thức và vô thức. Năng lượng của những cảm thọ bị chặn lại tái xuất hiện thông qua hệ thần kinh thực vật và gây ra những thay đổi mang tính bệnh lý và dẫn tới bệnh tật. Một cảm thọ tiêu cực ngay lập tức làm mất đi 50% sức mạnh cơ bắp và cũng thu hẹp tầm nhìn của chúng ta cả về thể chất lẫn tinh thần. Căng thẳng là phản ứng mang tính cảm xúc của chúng ta đối với một yếu tố hoặc tác nhân kích thích. Căng thẳng được quyết định bởi hệ thống niềm tin của chúng ta và những áp lực mang tính cảm xúc liên quan. Như vậy, không phải tác nhân kích thích bên ngoài gây ra căng thẳng, mà chính là mức độ phản ứng của chúng ta. Càng buông bỏ, chúng ta càng ít bị căng thẳng. Tác hại do căng thẳng gây ra chỉ đơn thuần là kết quả của chính cảm xúc của chúng ta. Hiệu quả của buông bỏ và giảm phản ứng của cơ thể đối với căng thẳng đã được chứng minh trong các công trình nghiên cứu khoa học (xem Chương 14).

Nhiều chương trình giảm căng thẳng hiện nay thường bỏ qua điểm mấu chốt này. Những chương trình này tìm cách làm giảm các triệu chứng sau khi căng thẳng đã xảy ra hoặc tập trung vào các sự kiện bên ngoài, thay vì loại bỏ nguyên nhân gây ra căng thẳng,. Chẳng khác gì tìm cách hạ sốt mà không điều trị nhiễm trùng. Ví dụ, căng cơ là hậu quả của lo lắng, sợ hãi, giận dữ và mặc cảm tội lỗi. Một khóa học về kỹ thuật thư giãn cơ bắp sẽ chỉ mang lại lợi ích rất hạn chế. Thay vào đó, sẽ hiệu quả hơn nhiều nếu loại bỏ nguồn gốc của những căng thẳng tiềm ẩn, đó là giận dữ, sợ hãi, mặc cảm tội lỗi hoặc những cảm thọ tiêu cực bị ức chế và kìm nén khác. 

Các sự kiện trong cuộc đời và cảm xúc

Tâm trí lý trí thường thích giữ những nguyên nhân thực sự của cảm xúc nằm bên ngoài nhận thức và sử dụng cơ chế phóng chiếu để làm việc này. Nó đổ lỗi cho các sự kiện hoặc người khác vì đã “gây ra” một cảm thọ nào đó và tự coi mình là nạn nhân vô tội bất lực trước các nguyên nhân bên ngoài. “Họ làm tôi tức giận.” “Anh ta làm tôi khó chịu.” “Nó làm tôi sợ.” “Các sự kiện trên thế giới là nguyên nhân làm cho tôi lo lắng.” Thực tế, ngược lại mới đúng. Những cảm thọ bị kìm nén và ức chế tìm kiếm lối thoát và sử dụng các sự kiện đó như những tác nhân kích hoạt và cái cớ để giải tỏa. Chúng ta giống như những chiếc nồi áp suất sẵn sàng xả hơi mỗi khi có cơ hội. Các tác nhân kích hoạt đã được thiết lập và sẵn sàng hoạt động. Trong tâm thần học (psychiatry), cơ chế này được gọi là dịch chuyển. Chính vì chúng ta tức giận cho nên các sự kiện mới “làm” cho chúng ta tức giận. Nếu, thông qua việc liên tục buông bỏ, chúng ta đã giải phóng được những giận dữ bị dồn nén, thì rất khó và trên thực tế, thậm chí là không thể có bất kỳ người nào hoặc bất kỳ tình huống nào có thể “làm” cho chúng ta tức giận. Có thể nói như thế về tất cả những cảm thọ tiêu cực khác một khi chúng đã được giải tỏa.

Do ảnh hưởng của xã hội, người ta thậm chí còn kìm nén và ức chế cả những cảm thọ tích cực của mình. Tình yêu bị kìm nén dẫn đến đau thắt lòng của một cơn đau tim. Tình yêu bị kìm nén tái xuất hiện dưới dạng sùng bái quá mức đối với thú cưng và nhiều hình thức sùng bái thần tượng khác nhau. Tình yêu đích thực không có sợ hãi và có đặc điểm là không chấp trước. Sợ mất mát tiếp thêm năng lượng cho chấp trước và sở hữu không chính đáng. Ví dụ, người đàn ông bất an về bạn gái của mình là người rất ghen tuông.

Khi áp lực của những cảm thọ bị kìm nén và ức chế vượt quá mức độ chịu đựng của cá nhân, tâm trí sẽ tạo ra một sự kiện “ở bên ngoài” để trút giận và chuyển hướng cảm thọ đó. Do đó, người có nhiều đau buồn bị kìm nén tạo ra, theo lối vô thức, những sự kiện đáng buồn trong cuộc đời mình. Người sợ hãi gây ra những trải nghiệm đáng sợ; người tức giận bị bao vây bởi những hoàn cảnh gây phẫn nộ; và người kiêu ngạo liên tục bị xúc phạm. Như Chúa Jesus Christ đã nói: “Tại sao ngươi thấy cái dằm trong mắt anh em, mà không thấy cái xà trong mắt mình?” (Ma-thi-ơ 7:3). Tất cả các Đạo sư Vĩ đại đều dạy chúng ta hướng vào bên trong.

Mọi thứ trong vũ trụ đều phát ra rung động. Rung động càng cao, thì sức mạnh nội tại của nó càng cao. Cảm xúc cũng vậy, vì chúng là năng lượng, nên cũng phát ra rung động. Những rung động mang tính cảm xúc này tác động đến trường năng lượng của cơ thể và bộc lộ những hiệu ứng có thể nhìn thấy được, cảm nhận được và đo lường được. Phim ảnh sử dụng nhiếp ảnh Kirlian[v], ví dụ như những bức ảnh của Tiến sĩ Thelma Moss, cho thấy sự biến động nhanh chóng về màu sắc và kích thước của trường năng lượng khi cảm xúc thay đổi (Krippner, 1974). Theo truyền thống, trường năng lượng được gọi là “hào quang” và có thể được nhìn thấy bởi những người sinh ra đã có hoặc học được khả năng nhìn thấy rung động ở tần số đó. Hào quang thay đổi màu sắc và kích thước theo cảm xúc. Kiểm tra cơ bắp cũng chứng minh những thay đổi năng lượng đi kèm với cảm xúc, vì cơ bắp phản ứng ngay lập tức với các kích thích tích cực và tiêu cực. Do đó, trạng thái cảm xúc cơ bản của chúng ta tự truyền vào vũ trụ. 

Tâm trí không có chiều kích hay kích thước và không bị giới hạn trong không gian; vì vậy, tâm trí truyền tải trạng thái cơ bản của nó thông qua năng lượng rung động trên khoảng cách không giới hạn. Có nghĩa là bằng trạng thái cảm xúc và suy nghĩ của mình, chúng ta thường xuyên và vô tình ảnh hưởng đến những người khác. Ví dụ, các mô thức (patterns[vi]) cảm xúc và hình thức suy nghĩ liên quan có thể được các nhà ngoại cảm nhận được và tiếp nhận một cách hữu thức ở khoảng cách rất xa. Điều này có thể được chứng minh theo lối thực nghiệm, và cơ sở khoa học cho hiện tượng này là chủ đề rất được quan tâm trong vật lý lượng tử cao cấp.

Vì các cảm xúc phát ra trường năng lượng rung động, chúng tác động và chi phối những người hiện diện trong cuộc đời ta. Các sự kiện trong cuộc đời bị chi phối bởi những cảm xúc bị ức chế và kìm nén của chúng ta ở tầng tâm thần. Do đó, tức giận thu hút những suy nghĩ tức giận. Quy tắc cơ bản của vũ trụ tâm thức là “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”. Tương tự, “tình yêu thúc đẩy tình yêu”, vì vậy người nào đã buông bỏ nhiều tiêu cực bên trong sẽ được bao quanh bởi những suy nghĩ yêu thương, những sự kiện yêu thương, những người yêu thương và thú cưng yêu thương. Hiện tượng này giải thích nhiều câu trích dẫn trong kinh thánh và những câu nói thông dụng làm cho trí tuệ khó hiểu, chẳng hạn như, “Giàu càng giàu thêm, nghèo càng nghèo thêm”, và “Người có sẽ có thêm”. Do đó, theo quy luật chung, những người mang theo tâm thức thờ ơ sẽ tạo ra hoàn cảnh nghèo khó cho cuộc đời của họ, còn những người có tâm thức thịnh vượng sẽ mang tới sung túc cho cuộc đời của họ.

Vì tất cả các sinh vật sống đều được kết nối ở tầng năng lượng rung động, trạng thái cảm xúc cơ bản của chúng ta được tất cả những sinh vật sống xung quanh chúng ta cảm nhận và phản ứng lại. Mọi người đều biết rằng con vật có thể ngay lập tức nhận biết được trạng thái cảm xúc cơ bản của con người. Có những thí nghiệm chứng minh rằng ngay cả sự phát triển của vi khuẩn cũng bị ảnh hưởng bởi cảm xúc của con người[vii], và thực vật ghi nhận được những phản ứng có thể đo lường được trước các trạng thái cảm xúc của chúng ta (Backster, 2003). 

Cơ chế buông bỏ

Buông bỏ là khi có một cảm thọ khởi lên, ta chỉ lặng lẽ nhận biết nó, cho phép nó hiện diện, ở cùng nó, và để nó tự đi qua — không mong nó khác đi, cũng không làm gì với nó. Đơn giản có nghĩa là để cảm thọ ở đó và tập trung vào buông bỏ năng lượng đằng sau nó. Bước đầu tiên là cho phép mình có cảm thọ đó mà không chống lại, trút giận, sợ hãi, lên án hay dùng các định kiến đạo đức để phán xét nó. Có nghĩa là bỏ phán xét và nhận ra rằng đó chỉ là cảm thọ. Kỹ thuật là ở lại với cảm thọ và từ bỏ mọi nỗ lực nhằm thay đổi nó theo bất kỳ cách nào. Buông bỏ mong muốn chống lại cảm thọ. Chính kháng cự mới làm cho cảm thọ tiếp tục tồn tại. Khi bạn từ bỏ việc chống lại hoặc tìm cách thay đổi cảm thọ, nó sẽ chuyển sang cảm thọ tiếp theo và đi kèm với một cảm giác nhẹ nhàng hơn. Một cảm thọ không bị chống lại sẽ biến mất khi năng lượng đằng sau nó tan đi.

Khi bắt đầu quá trình này, bạn sẽ nhận thấy rằng mình sợ hãi và có mặc cảm tội lỗi khi có những cảm thọ đó; sẽ có kháng cự đối với cảm thọ nói chung. Muốn cho phép cảm thọ xuất hiện, thì dễ dàng hơn là ngay từ đầu bạn phải buông bỏ phản ứng đối với việc có những cảm thọ đó. Sợ hãi chính là một ví dụ điển hình. Trước hết, hãy buông bỏ sợ hãi hay mặc cảm tội lỗi mà bạn có về cảm thọ đó, rồi sau đó mới đi vào chính cảm thọ.

Khi buông bỏ, hãy bỏ qua mọi suy nghĩ. Tập trung vào chính cảm thọ, chứ không phải vào suy nghĩ. Suy nghĩ là vô tận và tự củng cố, và chúng chỉ sinh ra thêm nhiều suy nghĩ hơn. Suy nghĩ chỉ là quá trình hợp lý hóa của tâm trí nhằm tìm cách giải thích sự hiện diện của cảm thọ. Lý do thực sự của cảm thọ là áp lực tích tụ đằng sau cảm thọ đó, buộc nó phải xuất hiện vào thời điểm đó. Suy nghĩ hay các sự kiện bên ngoài chỉ là cái cớ do tâm trí tạo ra.

Khi đã quen hơn với việc buông bỏ, chúng ta sẽ nhận thấy rằng tất cả các cảm thọ tiêu cực đều liên quan đến sợ hãi cơ bản của chúng ta về sinh tồn và tất cả các cảm thọ chỉ là những chương trình sinh tồn mà tâm trí tin là cần. Kỹ thuật buông bỏ sẽ gỡ bỏ các chương trình đó từng bước một. Thông qua quá trình này, động cơ tiềm ẩn đằng sau những cảm thọ đó sẽ ngày càng trở nên rõ ràng hơn.

Buông bỏ có nghĩa là không có cảm xúc mạnh mẽ nào về một cái gì đó: “Nếu nó xảy ra thì tốt, còn nếu nó không xảy ra thì cũng không sao.” Khi được tự do, chúng ta buông bỏ các chấp trước. Chúng ta có thể tận hưởng một điều gì đó, nhưng chúng ta không cần nó để được hạnh phúc. Sự phụ thuộc vào bất cứ cái gì hoặc bất cứ người nào bên ngoài chính mình sẽ giảm dần. Những nguyên tắc này phù hợp với giáo lý cơ bản của Đức Phật về việc tránh chấp trước vào các hiện tượng của thế gian, cũng như giáo lý cơ bản của Chúa Jesus Christ: “Ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian”.

Đôi khi chúng ta buông bỏ một cảm thọ nào đó và nhận thấy rằng nó quay trở lại hoặc tiếp tục diễn ra. Vì vẫn còn nhiều cảm thọ đó chưa được buông bỏ. Chúng ta đã kìm nén những cảm thọ này trong suốt cuộc đời và có thể có rất nhiều năng lượng bị dồn nén cần được đưa lên và thừa nhận. Khi buông bỏ xảy ra, ngay lập tức sẽ có cảm giác nhẹ nhàng hơn, hạnh phúc hơn, gần giống như cảm giác “phê”.

Bằng cách liên tục buông bỏ, có thể duy trì trạng thái tự do đó. Cảm thọ đến rồi đi, và cuối cùng bạn nhận ra rằng mình không phải là cảm thọ của mình, mà “bạn” thực sự chỉ đang chứng kiến những cảm thọ đó. Bạn ngừng đồng nhất mình với chúng. Bạn - người đang quan sát và nhận thức được những sự kiện đang xảy ra - không bao giờ thay đổi. Khi bạn ngày càng nhận thức rõ hơn về người chứng kiến ​​không thay đổi ở bên trong, là bạn bắt đầu đồng nhất với tầng tâm thức đó. Bạn ngày càng trở thành người chứng kiến ​chứ không còn là người trải nghiệm các hiện tượng nữa. Bạn ngày càng tiến gần hơn đến Đại Ngã thực sự và bắt đầu nhận ra rằng, từ trước đến giờ mình đã bị cảm thọ đánh lừa. Bạn từng nghĩ rằng mình là nạn nhân của những cảm thọ. Lúc này bạn thấy rằng chúng không phải là sự thật về bản thân mình; chúng chỉ đơn thuần là do bản ngã tạo ra – bản ngã chính là kẻ thu thập những chương trình mà tâm trí lầm tưởng là cần thiết cho sống còn.

Kết quả của việc buông bỏ diễn ra nhanh chóng và tinh tế đến mức làm người ta kinh ngạc, nhưng tác động của nó lại rất mạnh mẽ. Thường thì chúng ta đã buông bỏ nhưng lại nghĩ rằng mình chưa buông bỏ. Chính bạn bè sẽ giúp chúng ta nhận ra thay đổi. Một trong những lý do là khi một điều gì đó được hoàn toàn buông bỏ, nó sẽ biến mất khỏi tâm thức. Vì chúng ta không bao giờ còn nghĩ đến nó nữa, nên chúng ta không nhận ra rằng nó đã biến mất. Đây là hiện tượng phổ biến ở những người đang phát triển về mặt tâm thức. Chúng ta không nhận thức được tất cả số than mà mình đã xúc được; chúng ta luôn chỉ nhìn vào lượng than mình đang xúc mà thôi. Chúng ta không nhận ra đống than đã giảm đi đến mức nào. Thường thì bạn bè và gia đình là những người đầu tiên nhận ra điều đó.

Muốn theo dõi tiến độ, nhiều người lập biểu đồ về những thành quả đã thu được. Làm thế sẽ giúp vượt qua kháng cự dưới dạng: “Cách làm này không hiệu quả.” Nhiều người đã có những thành quả to lớn lại tuyên bố: “Không hiệu quả.” Đôi khi chúng ta phải tự nhắc nhở rằng mình đã là người như thế nào trước khi bắt đầu quá trình này. 

Kháng cự buông bỏ

Buông bỏ những cảm thọ tiêu cực là phá vỡ bản ngã, bản ngã sẽ kháng cự. Nó có thể làm cho người ta nghi ngờ kỹ thuật này, “quên” buông bỏ, thái độ trốn tránh đột nhiên trỗi dậy, hoặc trút giận bằng cách thể hiện và hành động. Giải pháp đơn giản là tiếp tục buông bỏ những cảm thọ mà bạn có thể có về toàn bộ quá trình này. Để kháng cự ở đó, nhưng đừng chống lại kháng cự đó.

Bạn là người tự do. Bạn không cần phải buông bỏ. Không ai ép buộc bạn. Hãy nhìn vào sợ hãi đằng sau kháng cự. Bạn đang sợ hãi điều gì về tiến trình này? Bạn có sẵn sàng buông bỏ sợ hãi đó không? Liên tục để mỗi sợ hãi đi qua ngay khi chúng vừa sinh khởi, và kháng cự sẽ tự biến mất.

Xin đừng quên rằng chúng ta đang buông bỏ tất cả những chương trình đã biến chúng ta thành nô lệ và nạn nhân trong một thời gian dài. Những chương trình này đã làm cho chúng ta mờ mắt, không nhìn thấy sự thật về bản sắc thực sự của mình. Bản ngã đang mất dần vị thế và sẽ tìm cách lừa gạt và đánh lừa. Một khi bắt đầu buông bỏ, những ngày tháng của bản ngã đã được đếm ngược và sức mạnh của nó đang giảm dần. Một trong những mánh khóe của nó là làm cho chúng ta không thức tỉnh về chính kỹ thuật này, ví dụ, đột nhiên quyết định rằng cơ chế buông bỏ không hiệu quả, mọi thứ vẫn như cũ, thật rắc rối, và quá khó, không thể nhớ và không thể thực hiện được. Đây là dấu hiệu của tiến bộ thực sự! Có nghĩa là bản ngã biết chúng ta có một con dao để tự giải thoát và nó đang mất dần vị thế. Bản ngã không phải là bạn của chúng ta. Giống như hệ thống “Điều khiển tối cao” trong phim Tron (1982), nó luôn luôn muốn cầm tù chúng ta trong các chương trình của chính nó[viii].

Buông bỏ là khả năng tự nhiên. Nó không phải là điều gì mới mẻ hay xa lạ. Nó không phải là một giáo lý bí truyền hay ý tưởng hoặc hệ thống niềm tin của người khác. Chúng ta chỉ đơn giản là sử dụng bản chất bên trong của chính mình để trở thành người tự do hơn và hạnh phúc hơn. Khi buông bỏ, “suy nghĩ” về kỹ thuật này là không hữu ích. Tốt hơn hết là chỉ cần làm. Cuối cùng, ta sẽ thấy rằng mọi suy nghĩ đều là kháng cự. Tất cả đều là những hình ảnh mà tâm trí tạo ra để ngăn cản, không cho chúng ta trải nghiệm những gì thực sự đang diễn ra. Khi chúng ta đã buông bỏ được một thời gian và bắt đầu trải nghiệm những gì thực sự đang diễn ra, chúng ta sẽ bật cười trước những suy nghĩ của mình. Suy nghĩ là giả, là những niềm tin hão huyền che khuất sự thật. Theo đuổi suy nghĩ có thể làm cho chúng ta cảm thấy lúc nào cũng bận rộn. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ nhận ra rằng mình vẫn ở đúng nơi mình đã bắt đầu. Suy nghĩ giống như những con cá vàng bơi trong nước; Đại Ngã thực sự giống như nước. Đại ngã thực sự là khoảng không gian giữa các suy nghĩ, hay chính xác hơn, là trường nhận thức tĩnh lặng nằm bên dưới tất cả các suy nghĩ.

Chúng ta đã từng trải nghiệm cảm giác hoàn toàn chìm đắm trong công việc mà mình đang làm, đến mức hầu như không nhận thấy thời gian trôi qua. Tâm trí rất tĩnh lặng, và chúng ta chỉ đơn giản là làm những việc mình đang làm mà không có kháng cự hay nỗ lực nào. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc, có lẽ đang ngân nga một giai điệu nào đó. Chúng ta hoạt động mà không cảm thấy căng thẳng. Chúng ta rất thư giãn, mặc dù bận rộn. Chúng ta đột nhiên nhận ra rằng rốt cuộc mình không cần tất cả những suy nghĩ đó. Suy nghĩ giống như mồi câu cá; nếu “cắn” câu, chúng ta sẽ bị mắc kẹt. Tốt nhất là đừng “cắn” những suy nghĩ đó. Chúng ta không cần những suy nghĩ như thế.

Bên trong chúng ta, nhưng nằm ngoài nhận thức, là sự thật sau đây: “Tôi đã biết tất cả mọi thứ tôi cần biết.” Nó xảy ra một cách tự động.

Nghịch lý là, kháng cự đối với việc buông bỏ là do hiệu quả của kỹ thuật này. Sự kiện xảy ra là chúng ta cứ tiếp tục buông bỏ khi cuộc sống không thuận lợi và chúng ta bị bao vây bởi những cảm thọ khó chịu. Cuối cùng, khi chúng ta buông bỏ và mọi thứ đều ổn, thì chúng ta lại ngừng buông bỏ. Đây là sai lầm, vì, dù chúng ta có cảm thấy tốt đến mức nào, thì vẫn còn nhiều điều tốt hơn thế nữa. Hãy tận dụng những trạng thái cao hơn và động lực của buông bỏ. Hãy tiếp tục vì mọi thứ sẽ ngày càng tốt hơn. Buông bỏ có động lực nhất định. Dễ dàng tiếp tục một khi nó đã bắt đầu. Chúng ta càng cảm thấy nhẹ nhàng hơn, thì buông bỏ càng dễ dàng hơn. Đó là thời điểm tốt để buông bỏ những thứ (những “rác rưởi” đã bị kìm nén và ức chế) mà chúng ta không muốn đối mặt nếu đang trong tâm trạng chán nản. Luôn luôn có cảm giác muốn được thả lỏng và phó thác. Khi chúng ta cảm thấy tốt, cảm xúc chỉ đơn giản là tinh tế hơn mà thôi.

Đôi khi bạn sẽ cảm thấy bế tắc với một cảm thọ cụ thể nào đó. Đơn giản là hãy chấp nhận cảm thọ bế tắc đó. Cứ để nó ở đấy và đừng chống lại nó. Nếu nó không biến mất, hãy thử buông bỏ cảm thọ đó từng chút một.

Một trở ngại khác có thể xảy ra là sợ rằng nếu chúng ta từ bỏ mong muốn về một điều gì đó, thì chúng ta sẽ không đạt được nó. Thường thì việc xem xét một số niềm tin phổ biến và buông bỏ chúng ngay từ đầu sẽ rất có lợi, chẳng hạn như: (1) Chúng ta chỉ xứng đáng với mọi thứ bằng cách làm việc chăm chỉ, đấu tranh, hy sinh và nỗ lực; (2) Đau khổ là có lợi và tốt cho chúng ta; (3) Không có gì mà không phải trả giá; (4) Những thứ rất đơn giản thì không đáng giá. Buông bỏ một số rào cản tâm lý này đối với chính kỹ thuật này sẽ cho phép bạn tận hưởng sự dễ dàng và thoải mái của nó.


 



[i] Involuntary reactivity - Phản ứng mang tính tự phát, vô thức hoặc sự phản ứng tự động. Bản chất: Là những phản ứng tâm lý (như giận dữ, né tránh, sợ hãi) khởi lên một cách tự động và nằm ngoài sự kiểm soát của Tâm trí Hữu thức khi gặp một tác nhân kích thích. Cơ chế: Nó vận hành theo thói quen cũ được lập trình sẵn trong Tiềm thức và là nguồn gốc tạo ra áp lực, xung đột nội tâm. Lời dạy của Đức Phật giúp xóa bỏ áp lực này bằng cách tạo ra một khoảng lặng tỉnh thức, giúp ta không bị cuốn theo vòng lặp phản ứng tự phát đó nữa, chuyển từ phản ứng mù quáng (Reactivity) sang phản hồi có trí tuệ (Response).

[ii] Suppression và Repression – Kìm nén và ức chế. Bản chất và cơ chế: Đây là hai phương thức đối phó tiêu cực của bản ngã trước các cảm thọ mạnh mẽ, được định hình sâu sắc bởi sự giáo hóa và lập trình của xã hội. Suppression (Kìm nén): Là quá trình có ý thức. Con người chủ động đè nén, che giấu các cảm thọ đột nhiên xuất hiện (giận dữ, tổn thương, ghen tị...) vì các tiêu chuẩn xã hội đòi hỏi họ phải tỏ ra “có giáo dục”, “tinh tế” và "bình tĩnh”. Repression (Ức chế): Là quá trình vô thức. Khi một cảm thọ quá kinh khủng hoặc bị xã hội cấm đoán nghiêm trọng, tâm trí sẽ tự động đẩy sâu và giam hãm nó vào Tiềm thức ngay lập tức khiến chủ thể không còn nhận biết được sự tồn tại của nó nữa. Xã hội thường ca ngợi người biết kìm nén/ức chế cảm xúc là người thanh lịch, có văn hóa. Tuy nhiên, năng lượng tiêu cực bị nén chặt lâu ngày không mất đi mà tích tụ lại, dẫn đến các rối loạn tâm lý, suy nhược thần kinh và đặc biệt là trạng thái trầm cảm nghiêm trọng. Ngược lại, những người “chém to kho mặn” chọn cách Thể hiện (Expression) cảm xúc ra ngoài. Dù cách này thường bị coi là thô lậu, thiếu giáo dục, nhưng vì năng lượng thô đã được xả bớt ra ngoài nên họ ít có nguy cơ rơi vào trầm cảm hơn (tuy nhiên, nó lại làm tổn thương người khác và khuếch đại năng lượng tiêu cực trong môi trường). Con đường chuyển hóa: Cả hai cách hành xử — đè nén bên trong hay bung tỏa ra ngoài — đều là những cơ chế vận hành bằng bằng bạo lực/phản lực và hoàn toàn không hiệu quả trong dài hạn. Cơ chế Trốn tránh (Escape) được bàn tới ngay bên dưới cũng không có hiệu quả. Cơ chế hữu hiệu nhất chính là: Để các cảm thọ đi qua (Letting go): Không kìm nén (vào trong), không thể hiện (ra ngoài), mà chọn làm Người chứng kiến. Cho phép cảm xúc được hiện diện trọn vẹn, không phán xét, không dán nhãn, để năng lượng của nó tự giải tỏa và đi qua một cách tự nhiên.

[iii] Socialized - Xã hội hoá. Là quá trình biến đổi các xung năng nguyên thủy, ích kỷ hoặc mang tính bản năng (vốn bị xã hội cấm đoán và bị kìm nén vào Tiềm thức) thành những biểu hiện phù hợp, được chấp nhận và mang lại giá trị cho đời sống xã hội. Cơ chế vận hành: Thay vì để các xung năng bị kìm nén này bùng phát một cách vô thức thành hành vi phá hoại hoặc xung đột, tâm trí sẽ “uốn nắn” để chúng hòa nhập vào các quy chuẩn chung của cộng đồng. Nó đi liền với thăng hoa và hướng vào những động lực mang tính xây dựng . Ví dụ: Một xung năng gây hấn, hung hăng bị kìm nén thay vì bộc phát thành bạo lực thì được "xã hội hóa" và "thăng hoa" thành tinh thần cạnh tranh lành mạnh trong thể thao hoặc thái độ quyết liệt trong công việc kinh doanh. Tóm lại, socialized ở đây là bước chuyển hóa một năng lượng thô lậu, có nguy cơ gây xung đột thành một năng lượng có tính xây dựng, giúp cá nhân kết nối và đóng góp một cách hài hòa với thế giới xung quanh thông qua tình yêu, công việc và sự sáng tạo.

[iv]  Perception - Tri giác. Bản chất: Là Nhận Thức/Cái Biết (Awareness) nguyên thủy đã bị khúc xạ và biến dạng khi đi qua bộ lọc của bản ngã — bao gồm tư tâm, tư dục, các chương trình định kiến xã hội và những cảm xúc tiêu cực (sợ hãi, giận dữ, kiêu hãnh...). Tri giác không bao giờ thấy được thực tại như nó vốn là, mà chỉ thấy hình ảnh phản chiếu đã bị bóp méo bởi lăng kính bên trong. Awareness là nền tảng trường tồn, phi thời gian và mang tính vĩnh cửu. Không có Awareness thì không thể có Perception (như một hòn đá không có Cái Biết thì không thể có một tri giác sai lệch về thế giới). Nếu Awareness là Mặt Trời thuần khiết luôn chiếu sáng, thì Perception chính là hình ảnh Mặt Trời khi đã bị những đám mây mù của cảm xúc và dục vọng che khuất. Bản thân mây mù không làm tổn hại được Mặt Trời, nhưng nó ngăn che tầm nhìn của vạn vật. Con đường chuyển hóa (Phản bổn quy chân): Để trở lại với Cái Biết ban đầu, hành giả không cần nỗ lực “tìm kiếm” Awareness, mà thực hiện việc chuyển hóa các tầng mây mù bằng cách: Để các cảm thọ đi qua (Letting go): Nhận biết và cho phép các trạng thái cảm xúc, áp lực tự do sinh khởi và đi qua ngay khi chúng vừa xuất hiện, không kháng cự, không kìm nén, cũng không đồng hóa mình với chúng. Hành thiền và giữ tâm bất động: Giữ vững vị thế của “Người chứng kiến” (Witnessing) trước mọi biến động của nội tâm và ngoại cảnh. Khi các bộ lọc của bản ngã ngừng hoạt động, mây mù sẽ tự tan và Ánh Sáng của Cái Biết vĩnh cửu tự khắc tỏ rạng..

[v] Nhiếp ảnh Kirlian (Kirlian photography) là một kỹ thuật chụp ảnh sử dụng điện áp cao để ghi lại hiện tượng phóng điện quanh các vật thể. Được phát minh vào năm 1939, kỹ thuật này thường tạo ra các vầng sáng rực rỡ xung quanh lá cây, ngón tay hay đồ vật, từng được nhiều người đồn đoán là có khả năng chụp được “hào quang” hoặc “linh hồn” của sự sống

[vi] Patterns - Mô thức, có nghĩa là: Những khuôn mẫu lặp đi lặp lại có tính cấu trúc trong hành vi, suy nghĩ, cảm xúc hoặc vận hành của một hệ thống. Mẫu → thiên về hình dạng cụ thể. Khuôn mẫu → thiên về thói quen hoặc định kiến. Mô thức → nhấn mạnh cấu trúc vận hành ẩn bên dưới tạo ra sự lặp lại. Trong văn cảnh tâm linh – tâm lý học, “mô thức” thường chỉ: Mô thức suy nghĩ (thinking patterns); Mô thức cảm xúc (emotional patterns); Mô thức hành vi (behavioral patterns); Mô thức năng lượng (energetic patterns). Có thể nói mô thức là những vệt hằn của quá khứ còn đang tiếp tục vận hành trong hiện tại. Trong Phật giáo thường gọi là Tập khí.

[vii] Kinh nghiệm dân gian từ việc nuôi dấm mẻ của người Việt là một minh chứng sống động cho luận điểm này. Những người nuôi dấm mẻ lâu năm đều biết rằng, dấm mẻ không chỉ cần cơm nguội để sống; nếu người nuôi bỏ mặc, không dành sự quan tâm hay năng lượng chăm sóc tới bình dấm, thì dù có cho đầy đủ thức ăn, dấm mẻ cũng sẽ lụi tàn và chết dần. Không chỉ dừng lại ở các sinh vật vi mô như vi khuẩn, năng lượng từ tâm thức và cảm xúc của con người còn tác động trực tiếp lên các vật chất vô cơ. Khảo nghiệm nổi tiếng của học giả Masaru Emoto trong cuốn sách Thông điệp của nước (The Hidden Messages in Water) đã ghi nhận rằng: khi nước tiếp nhận lời cầu nguyện hoặc các trường năng lượng an lành, các phân tử nước sẽ tự sắp xếp để tạo thành những tinh thể đóng băng có cấu trúc vô cùng lộng lẫy và hài hòa. Điều này một lần nữa khẳng định, vạn vật quanh ta đều nhạy cảm và đồng điệu với tần số năng lượng từ Tâm thức của con người.

[viii] Tác giả ví bản ngã như một bộ xử lý trung tâm độc tài, nó vận hành những “chương trình” cũ kỹ (sợ hãi, kháng cự, trút giận) để giữ chúng ta trong vòng lặp của khổ đau thay vì được tự do.

June 25, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (2)

                   ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC       

                                                                         David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 



LỜI NÓI ĐẦU

 

Trong nhiều năm hành nghề tâm thần học lâm sàng, mục tiêu chính là tìm kiếm những phương pháp hiệu quả nhất để giảm bớt đau khổ của con người dưới mọi hình thức. Để đạt được mục tiêu này, nhiều lĩnh vực trong y học, tâm lý học, tâm thần học, phân tâm học, kỹ thuật hành vi, phản hồi sinh học, châm cứu, dinh dưỡng và hóa học não bộ đã được nghiên cứu. Bên cạnh những phương pháp lâm sàng này còn có các hệ thống triết học, siêu hình học, vô số kỹ thuật chăm sóc sức khỏe toàn diện, các khóa học tự hoàn thiện, con đường tâm linh, kỹ thuật thiền định và những cách khác nhằm mở rộng nhận thức.

Trong tất cả các công trình nghiên cứu này, cơ chế buông bỏ được phát hiện là mang lại lợi ích thực tiễn to lớn. Tầm quan trọng của nó đã dẫn đến việc chấp bút cuốn sách này để chia sẻ với bạn đọc những sự kiện đã được quan sát về mặt lâm sàng và trải nghiệm cá nhân.

Mười cuốn sách trước tập trung vào các trạng thái nhận thức cao cấp và Chứng ngộ. Trong những năm qua, hàng ngàn học viên trong các buổi thuyết giảng và Satsang (pháp hội tỉnh thức) của chúng tôi đã đặt ra những câu hỏi cho thấy những trở ngại mà họ gặp phải mỗi ngày trên đường tiến tới Chứng ngộ. Chia sẻ kỹ thuật thiết thực và hữu ích sẽ giúp người học vượt qua những trở ngại như thế: Làm sao giải quyết những thăng trầm của cuộc sống thường nhật, với những mất mát, thất vọng, căng thẳng và khủng hoảng? Làm sao thoát khỏi những cảm xúc tiêu cực và ảnh hưởng của chúng tới sức khỏe, các mối quan hệ và công việc? Làm sao xử lý tất cả những cảm thọ không mong muốn? Tác phẩm này trình bày một phương pháp đơn giản và hiệu quả để buông bỏ những cảm thọ tiêu cực và trở thành người tự do.

Kỹ thuật buông bỏ là hệ thống có tính thực tiễn để loại bỏ những trở ngại và chấp trước. Nó cũng có thể được gọi là cơ chế phó thác. Có bằng chứng khoa học về hiệu quả của nó, giải thích được trình bày trong một chương riêng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng kỹ thuật này hiệu quả hơn nhiều cách tiếp cận khác hiện có trong việc làm giảm bớt các phản ứng mang tính sinh lý đối với căng thẳng.

Sau khi nghiên cứu hầu hết các phương pháp làm giảm căng thẳng và tâm thức khác nhau, phương pháp này nổi bật nhờ sự đơn giản, hiệu quả, hiệu quả lâm sàng, không có các khái niệm đáng ngờ và tốc độ mang lại kết quả có thể quan sát được. Sự đơn giản của nó có thể làm cho người ta hiểu lầm và gần như làm lu mờ lợi ích thực sự của kỹ thuật này. Nói một cách đơn giản, nó giải phóng chúng ta khỏi những chấp trước mang tính cảm xúc. Nó chứng minh nhận định của tất cả các giác giả: chấp trước là nguyên nhân chính gây ra phiền não.

Tâm trí, với những suy nghĩ của nó, được điều khiển bởi cảm thọ. Mỗi cảm thọ là kết quả tích lũy của hàng ngàn suy nghĩ. Bởi vì hầu hết mọi người, trong suốt cuộc đời, đều kìm nén, ức chế và cố gắng trốn tránh cảm thọ của mình, năng lượng bị kìm nén tích tụ và tìm cách biểu hiện thông qua những đau khổ về mặt thể chất, rối loạn trên cơ thể, các căn bệnh về cảm xúc và hành vi rối loạn trong các quan hệ giữa người với người. Những cảm thọ được tích lũy này cản trở nhận thức và quá trình phát triển tâm linh, cũng như thành công trong nhiều lĩnh vực của cuộc đời.

Do đó, lợi ích của kỹ thuật này có thể được mô tả ở nhiều tầng khác nhau:

 Thể chất:

Loại bỏ những cảm xúc (emotion) bị kìm nén mang lại lợi ích tích cực cho sức khỏe. Nó làm cho năng lượng không chảy quá nhiều vào hệ thần kinh thực vật, và giải phóng hệ thống năng lượng của hệ thống kinh mạch (có thể chứng minh bằng kiểm tra cơ bắp đơn giản). Do đó, khi một người liên tục buông bỏ, các rối loạn thể chất và tâm thần sẽ được cải thiện và thường là biến mất hoàn toàn. Có sự đảo ngược toàn bộ các quá trình bệnh lý trong cơ thể và quay lại chức năng tối ưu.

 Hành vi:

Vì lo lắng và cảm xúc tiêu cực giảm dần, nên nhu cầu trốn tránh thực tại bằng ma túy, rượu bia, giải trí và ngủ quá nhiều cũng ngày càng giảm đi. Kết quả là, sức sống, năng lượng, sự hiện diện và hạnh phúc tăng lên, khả năng hoạt động hiệu quả và dễ dàng hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống.

 Quan hệ giữa người với người:

Khi những cảm thọ tiêu cực được buông bỏ, thì cảm nhận tích cực cũng dần dần tăng lên, kết quả là tất cả các mối quan hệ đều được cải thiện nhanh chóng - có thể quan sát được. Khả năng yêu thương tăng lên. Xung đột với người khác giảm dần, hiệu suất công việc được cải thiện. Việc loại bỏ những rào cản tiêu cực giúp dễ dàng đạt được những mục tiêu trong nghề nghiệp hơn trước, và hành vi tự phá hoại mình do mặc cảm tội lỗi sẽ giảm dần. Sự phụ thuộc vào trí năng cũng ngày càng giảm và ngày càng sử dụng nhiều trực giác hơn.

Với sự phục hồi của quá trình phát triển nhân cách, thường dẫn đến việc phát hiện ra những khả năng sáng tạo và tâm linh tiềm ẩn mà trước đây vốn bị kìm hãm ở tất cả mọi người bởi những cảm xúc tiêu cực bị kìm nén. Điều quan trọng là sự giảm dần sự phụ thuộc - tai họa của mọi mối quan hệ giữa người với người. Phụ thuộc là nguyên nhân gây ra rất nhiều đau khổ; thậm chí nó còn bao gồm cả bạo lực và tự tử như là biểu hiện cuối cùng của nó. Khi phụ thuộc giảm đi, hung hăng và hành vi thù địch cũng giảm theo. Những cảm thọ tiêu cực này được thay thế bằng cảm thọ chấp nhận và yêu thương người khác.

 Tâm thức/Nhận thức/Tâm linh:

Lĩnh vực này mở rộng bằng cách liên tục sử dụng cơ chế buông bỏ. Buông bỏ những cảm xúc tiêu cực có nghĩa là người đó trải nghiệm hạnh phúc, mãn nguyện, an bình và niềm vui ngày càng gia tăng. Nhận thức mở rộng, ngộ ra và trải nghiệm Đại Ngã bên trong thực sự của mình. Những lời dạy của các bậc Đại Sư hé mở từ bên trong như chính trải nghiệm cá nhân của người đó. Việc dần dần buông bỏ những giới hạn cuối cùng cho phép ta nhận ra bản sắc chân thực (true identity[i]) của chính mình. Buông bỏ là một trong những công cụ hiệu quả nhất nhằm vươn tới các mục tiêu tâm linh.

Bất cứ người nào cũng có thể vươn tới tất cả những mục tiêu này - với sự nhẹ nhàng và tinh tế - khi người đó âm thầm buông bỏ trong đời sống hàng ngày. Tiêu cực biến mất một cách từ từ và được thay thế bằng những cảm thọ và trải nghiệm tích cực là điều thú vị cả trong quan sát và trải nghiệm. Mục đích của thông tin này là để giúp người đọc có được những trải nghiệm bổ ích như thế.

 

David R. Hawkins, M.D., Ph.D. Chủ tịch sáng lập,

Viện Nghiên cứu Tâm linh

Sedona, Arizona

Tháng 6 năm 2012

 

 

CHƯƠNG 1 

DẪN NHẬP 

Một ngày nọ, trong lúc trầm tư mặc tưởng, tâm trí nói:

“Rốt cuộc thì chúng ta bị làm sao vậy?”

“Tại sao hạnh phúc không chịu ở yên một chỗ?”

“Câu trả lời nằm ở đâu?”

“Làm sao chúng ta giải quyết được tình thế tiến thoái lưỡng nan của con người?”

“Tôi điên rồi hay cả thế giới này điên rồi?”

Giải pháp cho bất kỳ vấn đề nào dường như cũng chỉ mang lại khuây khỏa nhất thời, bởi vì nó chính là cơ sở của vấn đề tiếp theo.

“Tâm trí con người có phải là một cái lồng sóc vô vọng hay không?”

“Mọi người đều đang bối rối phải không?”

“Chúa có biết Ngài đang làm gì hay không?”

“Chúa đã chết rồi hay sao?”

Tâm trí cứ tiếp tục lải nhải:

“Có ai có bí quyết nào không?”

Đừng lo – mọi người đều tuyệt vọng cả. Một số người dường như bình thản. “Tôi không hiểu tại sao lại ồn ào như thế,” họ nói. “Cuộc sống đối với tôi thật đơn giản.” Họ sợ đến nỗi không dám nhìn thẳng vào nó! 

Còn các chuyên gia thì sao? Sự nhầm lẫn của họ tinh vi hơn, được bao bọc trong những thuật ngữ đầy ấn tượng và cấu trúc tư duy phức tạp. Họ có những hệ thống niềm tin đã được quyết định từ trước mà họ cố gắng buộc bạn phải tuân theo. Dường như nó hiệu quả trong một thời gian, rồi sau đó, mọi thứ lại trở lại như cũ.

Trước đây, chúng ta có thể trông cậy vào các thiết chế xã hội, nhưng thời của những thiết chế này không còn nữa; không ai còn tin tưởng nữa. Hiện nay, chúng ta có nhiều cơ quan giám sát hơn cả các thiết chế. Các bệnh viện được nhiều cơ quan giám sát. Không người nào còn thời gian cho bệnh nhân, họ bị bỏ quên trong mớ hỗn độn giấy tờ. Hãy nhìn theo các hành lang. Không có bác sĩ hay y tá. Họ đang ở trong văn phòng để hoàn thiện các thủ tục. Toàn bộ khung cảnh trở thành phi nhân tính.

“Vâng,” bạn nói, “phải có một số chuyên gia có câu trả lời chứ.” Khi buồn bực, bạn đến gặp bác sĩ hoặc bác sĩ tâm thần, nhà phân tâm học, nhân viên xã hội, hoặc nhà chiêm tinh. Bạn tìm đến với tôn giáo, bạn học triết học, bạn tham gia khóa đào tạo Erhard Seminars (EST), tự mình thực hành Kỹ thuật Giải phóng Cảm xúc (EFT - Emotional Freedom Techniques). Bạn đưa các luân xa vào trạng thái cân bằng, bạn thử liệu pháp phản xạ, châm cứu tai, soi mống mắt, chữa bệnh bằng ánh sáng và tinh thể.

Bạn thiền định, niệm  thần chú, uống trà xanh, thử tham gia phong trào Ngũ Tuần (Pentecostals), hít thở lửa và nói tiếng lạ. Bạn tập trung, học Lập trình Ngôn ngữ Tư duy (NLP - Neuro-Linguistic Programming), các khóa tự khai mở, luyện tập hình dung, nghiên cứu tâm lý học, tham gia nhóm theo trường phái của Jung. Bạn trị liệu bằng phương pháp Rolfing, thử chất gây ảo giác, xem bói, chạy bộ, tập thể dục nhịp điệu, thụt rửa đại tràng, chú trọng dinh dưỡng và thể dục nhịp điệu, treo ngược người, đeo trang sức tâm linh. Tuệ giác hơn, phản hồi sinh học, liệu pháp Gestalt.

Bạn gặp bác sĩ vi lượng đồng căn, bác sĩ chỉnh hình, bác sĩ trị liệu tự nhiên. Bạn thử liệu pháp cơ thể động học, khám phá loại Enneagram của mình, cân bằng các kinh mạch, tham gia nhóm nâng cao tâm thức, uống thuốc an thần. Bạn tiêm hormone, thử bổ sung muối khoáng, cân bằng khoáng chất, cầu nguyện, khẩn cầu và van nài. Bạn học xuất hồn. Trở thành người ăn chay. Chỉ ăn bắp cải. Thử ăn chay trường, ăn thực phẩm hữu cơ, không ăn thực phẩm biến đổi gen. Gặp gỡ các thầy lang của thổ dân Mỹ, xông hơi. Thử thảo dược Trung Quốc, đốt ngải cứu, xoa bóp Shiatsu, bấm huyệt, phong thủy. Bạn đến Ấn Độ. Tìm một vị guru mới. Cởi bỏ quần áo. Bơi trong sông Hằng. Nhìn chằm chằm vào mặt trời. Cạo trọc đầu. Ăn bằng tay, ăn uống bừa bãi, tắm nước lạnh.

Hát những bài ca bộ lạc. Sống lại kiếp trước. Thử thôi miên hồi quy. Hét lên một tiếng thét nguyên thủy. Đấm vào gối. Học Feldenkraise. Tham gia nhóm gặp gỡ hôn nhân. Đến Unity. Viết những lời khẳng định tích cực. Làm bảng tầm nhìn. Tái sinh. Gieo Kinh Dịch. Bói bài Tarot. Nghiên cứu Thiền. Tham gia nhiều các khóa học và hội thảo. Đọc nhiều sách. Thực hiện phân tích giao dịch. Học yoga. Tìm hiểu về huyền học. Nghiên cứu ma thuật. Làm việc với một thầy pháp Hồi giáo. Thực hiện một chuyến hành trình shamanic. Ngồi dưới kim tự tháp. Đọc Nostradamus. Chuẩn bị cho những điều tồi tệ nhất.

Ở ẩn một thời gian. Thử nhịn ăn. Uống axit amin. Mua máy tạo ion âm. Tham gia trường phái bí truyền. Học một kiểu bắt tay bí mật. Thử luyện giọng. Thử liệu pháp màu sắc. Thử băng ghi âm tiềm thức. Uống enzyme não, thuốc chống trầm cảm, thuốc hoa. Đến các spa sức khỏe. Nấu ăn với các nguyên liệu kỳ lạ. Tìm hiểu về những món ăn lên men kỳ lạ từ những nơi xa xôi. Đến Tây Tạng. Săn lùng những người đàn ông thánh thiện. Nắm tay nhau thành vòng tròn và phê thuốc. Từ bỏ tình dục và xem phim. Mặc áo choàng vàng. Tham gia giáo phái.

Thử vô số các liệu pháp tâm lý. Dùng thuốc thần kỳ. Đăng ký mua nhiều tạp chí. Thử chế độ ăn kiêng Pritikin. Chỉ ăn bưởi. Xem bói tay. Suy nghĩ theo tư tưởng Thời đại Mới. Cải thiện hệ sinh thái. Cứu hành tinh. Xem hào quang. Mang theo một viên pha lê. Nhận một bài giải thích chiêm tinh Hindu. Đến gặp một nhà ngoại cảm. Trị liệu tình dục. Thử tình dục Tantra. Được Baba nào đó ban phước. Tham gia một nhóm ẩn danh. Đi tới Lourdes. Ngâm mình trong suối nước nóng. Tham gia Arica. Mang dép trị liệu. Kết nối với đất. Hấp thụ nhiều prana hơn và thở ra những năng lượng tiêu cực cũ. Thử châm cứu bằng kim bằng vàng. Tìm hiểu về túi mật rắn. Thử thở luân xa. Làm sạch hào quang của bạn. Thiền định ở Cheops, kim tự tháp vĩ đại ở Ai Cập.

Bạn và bạn bè của bạn đã thử tất cả những điều vừa nói, có phải thế không? Ôi, con người! Con người thật tuyệt vời! Bi kịch, hài hước nhưng cũng thật cao quý! Thật dũng cảm khi không ngừng tìm kiếm! Điều gì thúc đẩy chúng ta tiếp tục tìm kiếm câu trả lời? Đau khổ? Ồ, đúng vậy. Hy vọng? Chắc chắn rồi. Nhưng còn hơn thế nữa.

Bằng trực giác, chúng ta biết rằng ở đâu đó có một câu trả lời cuối cùng. Chúng ta loạng choạng bước vào những con đường tối tăm, ngõ cụt và ngõ cụt; chúng ta bị lợi dụng và bị lừa gạt, vỡ mộng, chán nản, và chúng ta vẫn tiếp tục cố gắng.

Điểm mù của chúng ta nằm ở đâu?

Tại sao chúng ta không thể tìm được câu trả lời?

Chúng ta không hiểu vấn đề; đó là lý do vì sao chúng ta không thể tìm được câu trả lời.

Có lẽ nó cực kỳ đơn giản, và đó là lý do vì sao chúng ta không thể nhìn thấy nó.

Có lẽ giải pháp không nằm “ở ngoài kia”, và đó là lý do vì sao chúng ta không thể tìm được nó.

Có lẽ chúng ta có quá nhiều hệ thống niềm tin đến nỗi chúng ta mù quáng trước những điều hiển nhiên.

Trong suốt chiều dài của lịch sử, chỉ một vài người vươn tới trạng thái sáng tỏ và trải nghiệm giải pháp tối thượng cho những khổ đau của nhân loại. Làm sao họ vươn tới được trạng thái đó? Bí quyết của nó là gì? Vì sao chúng ta không thể hiểu được giáo lý của họ? Liệu điều đó thực sự gần như bất khả thi hay gần như vô vọng? Còn những người bình thường không phải là thiên tài tâm linh thì sao?

Có vô số người theo đuổi con đường tâm linh, nhưng rất ít người cuối cùng thành công và nhận ra sự thật tối thượng. Vì sao lại như thế? Chúng ta tuân theo nghi lễ và giáo điều và hăng hái thực hành kỷ luật tâm linh—và một lần nữa, chúng ta lại thất bại! Ngay cả khi có phương pháp hiệu quả, thì bản ngã lại nhanh chóng xuất hiện và chúng ta bị mắc kẹt trong sự kiêu ngạo và tự mãn, nghĩ rằng mình có câu trả lời. Ôi Chúa ơi, xin cứu chúng con khỏi những người có câu trả lời! Xin cứu chúng con khỏi những người tự cho mình là chính nghĩa! Xin cứu chúng con khỏi những người chuyên làm việc thiện!

Bối rối là sự cứu rỗi của chúng ta. Đối với những người bối rối, vẫn còn hy vọng. Hãy bám vào sự bối rối của bạn. Cuối cùng, nó là người bạn tốt nhất của bạn, là sự phòng thủ tốt nhất của bạn nhằm chống lại khả năng giết người của những câu trả lời của người khác, chống lại việc bị những ý tưởng mang tính cưỡng dâm của họ. Nếu bạn đang bối rối, bạn vẫn còn tự do. Nếu bạn đang bối rối, cuốn sách này là dành cho bạn.

Cuốn sách nói về cái gì? Nó kể về một phương pháp đơn giản để vươn tới trạng thái sáng tỏ và siêu việt các vấn đề của bạn trên đường đi. Không phải bằng cách tìm được câu trả lời, mà bằng cách loại bỏ gốc rễ của vấn đề. Trạng thái mà các Đại Giác Giả trong quá khứ đã vươn tới được là hoàn toàn khả thi; giải pháp nằm trong chính chúng ta và rất dễ tìm. Cơ chế buông bỏ rất đơn giản, còn sự thật thì hiển nhiên. Nó hiệu quả trong cuộc sống hàng ngày. Không có giáo điều hay hệ thống niềm tin nào. Bạn tự kiểm chứng mọi thứ, vì vậy bạn không thể bị lừa dối. Không phụ thuộc vào bất kỳ giáo lý nào. Nó tuân theo châm ngôn “Hãy tự biết mình”; “Sự thật sẽ giải phóng anh em”; và “Vương quốc của Đức Chúa Trời ở trong bạn”. Nó hiệu quả với người hoài nghi, người thực dụng, người có đạo và người vô thần. Nó hiệu quả với mọi lứa tuổi hoặc nền văn hóa. Nó hiệu quả với cả người tâm linh và người không tâm linh.

Vì cơ chế đó là của riêng bạn, không ai có thể lấy đi được. Bạn sẽ không bị vỡ mộng. Bạn sẽ tự mình khám phá ra cái gì là thật, còn cái gì chỉ là những chương trình và hệ thống niềm tin của tâm trí. Trong khi tất cả các sự kiện này đang diễn ra, bạn sẽ trở thành khỏe mạnh hơn, thành công hơn với ít nỗ lực hơn, hạnh phúc hơn và có khả năng yêu thương chân thật hơn. Bạn bè của bạn sẽ nhận ra sự khác biệt; thay đổi là vĩnh viễn. Bạn sẽ không chỉ tìm kiếm cảm giác “phê” rồi sau đó suy sụp. Bạn sẽ khám phá ra rằng có một người thầy hoạt động tự động bên trong chính con người mình.

Cuối cùng, bạn sẽ khám phá ra Đại Ngã ở bên trong của mình. Một cách vô thức, bạn luôn luôn biết rằng Nó có ở đó. Khi bạn tìm được Nó, bạn sẽ hiểu những giáo lý mà các Đại Giác Giả trong quá khứ tìm cách truyền đạt. Bạn sẽ hiểu điều đó, vì Sự thật là hiển nhiên và nằm trong chính Đại Ngã của bạn.

Cuốn sách này được chấp bút cùng với bạn, người đọc, luôn luôn nằm trong tâm trí. Dễ đọc, không tốn nhiều công sức và thú vị. Không phải học hay ghi nhớ bất cứ điều gì. Bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhàng và hạnh phúc hơn khi đọc cuốn sách này. Nội dung sẽ tự động mang đến cho bạn trải nghiệm về tự do khi bạn đọc qua từng trang. Bạn sẽ cảm thấy những gánh nặng được gỡ bỏ. Mọi công việc bạn làm sẽ trở thành thú vị hơn. Bạn sẽ nhận được một số bất ngờ thú vị về cuộc sống của mình! Mọi thứ sẽ ngày càng tốt hơn!

Không sao cả nếu bạn là người hoài nghi. Trước đây chúng ta đã từng bị lừa dối rồi, vì vậy hãy cứ hoài nghi, nếu bạn thích như thế. Thật vậy, nên tránh hào hứng quá mức. Nó chỉ dẫn đến thất vọng về sau mà thôi. Do đó, thay vì hào ​​hứng, quan sát một cách lặng sẽ tốt hơn đối với bạn.

Trong vũ trụ này, có thứ gì đó mà không cần phải trả giá hay không? Ồ, có chứ, chắc chắn là có. Đó chính là tự do của bạn mà bạn đã quên và không biết cách trải nghiệm. Những gì được trao cho bạn không phải là thứ cần phải thủ đắc. Nó không phải là thứ gì đó mới mẻ hay nằm bên ngoài bạn. Nó đã thuộc về bạn và chỉ cần được đánh thức và tái khám phá. Nó sẽ tự xuất hiện.

Mục đích của việc chia sẻ phương pháp này chỉ đơn giản là để giúp bạn kết nối với những cảm thọ và trải nghiệm nội tâm của chính mình. Ngoài ra, còn có rất nhiều thông tin hữu ích mà tâm trí bạn muốn biết. Quá trình buông bỏ sẽ bắt đầu một cách tự động, bởi vì bản chất của tâm trí là tìm kiếm giải thoát khỏi đau đớn và khổ sở và trải nghiệm hạnh phúc lớn hơn.



[i] True Identity - Bản sắc chân thực không phải là những gì được tạo ra hay tích lũy bởi bản ngã (Ego), mà là trường Tâm thức thuần khiết luôn hiện hữu phía sau mọi tư duy, cảm xúc và hiện tượng. Sức mạnh: Thuộc về bản tính tự nhiên, không mang tính cưỡng chế, không tiêu hao năng lượng và luôn hòa hợp với quy luật vũ trụ. Trạng thái tồn tại: Là sự nhận biết thuần khiết (Pure Awareness), đóng vai trò là nhân chứng (Witnessing) tối hậu đối với mọi trải nghiệm mà không đồng nhất với chúng hay dính mắc vào chúng. Phương thức tiếp cận: Không phải nỗ lực hay mưu cầu của bản ngã, mà bằng buông bỏ/phó thác, để mọi trạng thái tiêu cực tự đi qua và trả lại sự bình lặng nguyên bản của Tâm thức. Trong nhiều truyền thống tôn giáo phương Đông, Bản sắc chân thực còn được gọi là Chân ngã, Tự ngã Tiên thiên, nhưng sau khi rơi vào cõi người thường, nó bị các tư tâm, tư dục, các chấp trước vào danh-lợi-tình, nóng giận.. làm lu mờ đi; muốn quay trở về với Chân ngã thì phải tu tâm tính, phản bỏn quy chân, xả bỏ tất cả các tư tâm, tư duc, chấp trước vào thất tình lục dục..v.v..  


June 24, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (1)

 

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 


ĐÔI LỜI PHI LỘ CỦA NGƯỜI DỊCH

    Một va chạm nhỏ, một lời nói vô tình có thể làm bùng phát một cơn giận hay phản ứng tiêu cực làm hỏng cả một ngày, thậm chí gây hiểu lầm hay phá hỏng quan hệ được vun đắp trong suốt nhiều năm. Gia đình nào cũng thường xảy ra những giận dữ, trách móc mà nguyên nhân chỉ là những chuyện rất vụn vặt. Trong xã hội thì càng khủng khiếp hơn: bạo lực học đường, các em học sinh có thể đánh bạn đến mức phải nhập viện, thậm chí chết người; một va chạm nhỏ trên đường phố cũng có thể trở thành một trận cuồng phong với nhiều người tham gia…

    Trong nhiều năm, người viết những dòng này luôn luôn tự hỏi: Vì sao lại có quá nhiều bạo lực đến như thế? Phải chăng đó là căn tính dân tộc, hay áp lực thời hiện đại, hay đạo đức quá suy đồi… Tất cả đều có thể. Nhưng sau khi đọc cuốn sách này, tôi ngộ ra rằng: Chúng ta đã kìm nén và ức chế quá nhiều cảm thọ/cảm xúc tiêu cực. Mỗi người dường như đều là những cái nồi áp suất, chỉ đợi điều kiện để xì hơi ra. Hiện tượng bên ngoài chỉ là cái cớ. Nguyên nhân nằm ở bên trong mỗi người.

    Cho nên, tôi không coi đây là bản dịch thuần túy, mà coi quá trình dịch là soi chiếu Tâm thức của chính mình, nói chữ là tự tu tâm tính của mình; đồng thời tôi còn so sánh với một số truyền thống tôn giáo của phương Đông để chú giải các thuật ngữ do một học giả phương Tây biên soạn.

    Cũng có suy nghĩ rằng dường như người phương Tây ít kìm nén cảm xúc hơn người phương Đông. Cụ thể, họ thường nói: “Thank You” hay “Sorry”, họ đỡ cánh cửa cho người đi sau, hay gặp nhau ở hành lang hoặc trong thang máy người ta thường nói: “Good Morning”… đây có thể đều là những cái van xả “áp”.

    Dù sao mặc lòng, buông bỏ các cảm thọ khi nó vừa sinh khởi là biện pháp vô cùng hữu hiệu, nó khác với chữa trị sau khi đã xảy ra xung đột, đã bị trầm cảm hay bị bệnh, vì nó xử lý căng thẳng ngay từ gốc rễ. Đáng tiếc là hiện nay, các nhà xuất bản không còn mặn mà với việc xuất bản những cuốn sách kiểu này nữa, nhưng người viết những dòng này cho rằng: Xử lý cảm xúc nên trở thành môn học chính khóa ngay từ các bậc học phổ thông, mà nếu không được coi là chính khóa thì cũng là ngoại khóa bắt buộc.

    Rất mong các Friends trên cõi Face lan tỏa cuốn sách cực kỳ có ích này tới càng nhiều bạn bè thì càng tốt. Xin cảm ơn.

LỜI GIỚI THIỆU

     Cuốn sách này cung cấp cơ chế giúp khai mở những khả năng bẩm sinh của chúng ta để có được hạnh phúc, thành công, sức khỏe, an lành, trực giác, yêu thương (love[i]) vô điều kiện, vẻ đẹp, an bình nội tâm và sức sáng tạo. Những trạng thái và khả năng này vốn có sẵn trong mỗi người chúng ta. Chúng không phụ thuộc vào bất kỳ hoàn cảnh bên ngoài hay đặc tính cá nhân nào; chúng không đòi hỏi phải tin vào bất kỳ hệ thống tôn giáo nào. Không một nhóm người hay hệ thống duy nhất nào sở hữu an bình nội tâm, vì nó thuộc về linh hồn (spirit[ii]) của con người, đấy là do cội nguồn của chúng ta. Đây là thông điệp phổ quát của tất cả các đạo sư, giác giả và thánh nhân vĩ đại: “Vương quốc của Đức Chúa Trời ở trong bạn.” Tiến sĩ Hawkins thường nói, “Điều bạn đang tìm kiếm không khác Đại Ngã (Self[iii]) của bạn.”

Làm sao lại khó vươn tới một cái gì đó vốn là bẩm sinh trong chúng ta—một phần không thể thiếu của hiện hữu chân thực (true being[iv]) của chúng ta? Nếu chúng ta đã được ban tặng hạnh phúc thì vì sao lại có nhiều bất hạnh đến như thế? Nếu “thiên đường” ở trong chúng ta, thì vì sao chúng ta thường “cảm thấy địa ngục”? Làm sao để chúng ta có thể thoát khỏi vũng lầy của trạng thái bất an, cái làm cho hành trình tìm kiếm an bình nội tâm của chúng ta dường như là gian nan, giống như mật mía chảy ngược dốc trong một ngày lạnh giá? Thật tuyệt vời khi nghe người ta nói rằng an bình, hạnh phúc, niềm vui, yêu thương và thành công là những điều vốn có trong linh hồn của con người. Nhưng còn tất cả tức giận, buồn bã, tuyệt vọng, phù phiếm, ghen tị, lo lắng và những phán xét nhỏ nhặt hàng ngày làm lu mờ âm thanh tĩnh lặng tinh khiết bên trong chúng ta thì sao? Liệu có thực sự có biện pháp rũ bỏ vũng lầy này và trở thành con người tự do? Nhảy múa với niềm vui không bị cản trở? Yêu thương tất cả mọi sinh linh? Sống trong sự vĩ đại của mình và phát huy hết tiềm năng cao nhất? Trở thành một kênh dẫn của ân phước và vẻ đẹp trên thế gian này?

Trong cuốn sách này, Tiến sĩ Hawkins trình bày con đường dẫn đến tự do mà chúng ta khao khát nhưng lại khó vươn tới. Dường như như vươn tới một nơi nào đó đó bằng cách “buông bỏ” nghe như trái ngược với trực giác; tuy nhiên, ông chứng thực từ những trải nghiệm, cả lâm sàng lẫn cá nhân, rằng buông bỏ (surrender[v]) là con đường chắc chắn nhất để đưa người ta đến viên mãn trọn vẹn.

Nhiều người trong chúng ta được nuôi dạy với quan niệm cho rằng thành tựu trên thế gian và thậm chí cả trong lĩnh vực tâm linh tương liên với “lao động chuyên cần”, “cố gắng hết sức mình”, “sống bằng mồ hôi nước mắt”, và những châm ngôn khắt khe khác được thừa hưởng từ nền văn hóa thấm đẫm tinh thần cùa đạo đức Tin Lành. Theo quan điểm này, muốn thành công thì phải đau khổ, vất vả và nỗ lực: “không đau khổ thì không có thành quả”. Nhưng tất cả nỗ lực và đau khổ đó đã đưa chúng ta tới đâu? Chúng ta có an bình thực sự và sâu sắc hay không? Không. Vẫn còn đó mặc cảm tội lỗi bên trong, dễ bị tổn thương trước những lời chỉ trích của người khác, vẫn khao khát được trấn an, và oán hận trói buộc chúng ta.

Nếu bạn đang đọc cuốn sách này, có lẽ bạn đã đạt tới giới hạn của mình khi sử dụng cơ chế nỗ lực. Có lẽ bạn đã nhận ra rằng càng kéo sợi dây để buộc mình vào nơi mình muốn đến, sợi dây càng trở nên rối bời và sờn rách. Có thể bạn đang tự hỏi, “Liệu có cách nào dễ dàng hơn, nhưng tốt hơn không?” Bạn có sẵn sàng buông bỏ (to let go[vi]) sợi dây đó không? Sẽ như thế nào nếu sử dụng cơ chế buông bỏ thay vì cơ chế nỗ lực?

Tôi có thể chia sẻ trải nghiệm của một người có trình độ học vấn cao, đã thử nhiều phương pháp tự sửa mình khác nhau. Mặc dù thành công trong sự nghiệp, nhưng vẫn có những vấn đề về thể chất và cảm xúc dường như không bao giờ được cải thiện và cuối cùng đã đến điểm bùng phát. Cuộc gặp với Tiến sĩ David R. Hawkins và những tác phẩm của ông đã tạo ra hiệu ứng chữa lành bất ngờ và mạnh mẽ.

Lúc đầu, tôi đã hoài nghi. Sau khi đã tìm hiểu nhiều con đường tâm linh, triết học và tôn giáo khác nhau mà không đạt được kết quả như ý hoặc chỉ mang lại kết quả tạm thời, tôi bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm của Tiến sĩ Hawkins với suy nghĩ, “Có lẽ cũng sẽ giống như những người khác mà thôi.” Tuy nhiên, người tìm kiếm trong tôi nói: “Mình cứ thử xem. Có mất gì đâu?” Vì vậy, tôi đã đọc cuốn Power vs. Force: Trường năng lượng và những yếu tố ẩn quyết định hành vi của con người. Khi đọc xong cuốn sách này, tôi ngộ (realization[vii]) ra rằng: “Mình đã trở thành một người khác so với lúc cầm cuốn sách này lên.” Đó là năm 2003. Giờ đây, nhiều năm sau, hiệu ứng mang tính xúc tác vẫn đang tác động đến tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống của tôi.

Điều cuối cùng đã thuyết phục tôi về sự thật trong công trình của ông chính là những sự chuyển hóa trong chính tâm thức của tôi, cả về phương diện vật lý lẫn phi vật lý. Có những bằng chứng mang tính thực nghiệm mà tôi không thể phủ nhận: chữa lành chứng nghiện mà trước đây tôi không thể vượt qua, mặc dù đã có nhiều nỗ lực chân thành; thoát khỏi một số dị ứng (lông thú cưng, cây thường xuân độc, nấm mốc, sốt cỏ khô); buông bỏ những oán hận kéo dài, cùng với khả năng nhìn thấy những món quà được dấu kín trong những tổn thương của cuộc đời mà tôi đã trải qua; giảm bớt một số sợ hãi kéo dài suốt đời và chứng rối loạn lo âu tạo ra những hạn chế nghiêm trọng trong sự nghiệp và cuộc sống cá nhân của tôi; giải quyết một số xung đột nội tâm liên quan đến chấp nhận chính mình và mục đích của cuộc đời. Chính tôi và cả những người xung quanh tôi đều nhận thấy một cách cụ thể những bước đột phá lớn lao này, ở cả tầng vật lý và phi vật lý. Họ thường hỏi: “Bạn giải thích sự chuyển hoá này như thế nào?” Giờ đây, nếu gặp câu hỏi đó, tôi sẽ đề nghị họ đọc cuốn sách mới này, Letting Go: The Pathway of Surrender. (Để nó đi qua: Con đường của phó thác). Cuốn sách này trình bày những phương pháp thực tiễn của quá trình chuyển hoá nội tâm mà tôi đã trải nghiệm khi đọc những cuốn sách xuất bản trước đó của Tiến sĩ David Hawkins.

Để nó đi qua: Con đường của phó thác cung cấp cho chúng ta bản đồ dẫn đến một đời sống tự do hơn cho bất kỳ người nào sẵn sàng thực hiện cuộc hành trình. Nếu bạn áp dụng các nguyên tắc được mô tả trong cuốn sách này thì đời sống của bạn sẽ thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn. Không khó hiểu hay khó thực hiện. Không tốn kém gì hết. Không yêu cầu trang phục đặc biệt hay phải đi đến một đất nước xa xôi nào. Yêu cầu chính cho hành trình này là sẵn sàng buông bỏ chấp trước (attachment[viii]) vào những trải nghiệm trong cuộc sống hiện nay của bạn.

Như Tiến sĩ Hawkins giải thích, một phần “nhỏ” trong chúng ta chấp trước vào những thứ quen thuộc, dù nó có đau đớn hay kém hiệu quả đến mức nào. Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng tự ngã của chúng ta với chữ “s” viết thường thực sự thích một đời sống nghèo nàn và tất cả những tiêu cực đi kèm với nó: cảm thọ (feeling[ix]) không xứng đáng, bị phủ nhận, phán xét người khác và chính mình, tự cao tự đại, luôn luôn “thắng” và “đúng”, đau buồn về quá khứ, sợ hãi về tương lai, nuôi dưỡng vết thương, khao khát sự chắc chắn, và tìm kiếm tình yêu thay vì ban phát.

Liệu chúng ta có sẵn sàng tưởng tượng một cuộc sống mới cho chính mình, với đặc điểm là thành công một cách dễ dàng, không còn oán hận, biết ơn tất cả những gì đã từng xảy ra với chúng ta, có cảm hứng, yêu thương, niềm vui, những giải pháp mà hai bên cùng có lợi, hạnh phúc và thể hiện một cách sáng tạo? David Hawkins nói với chúng ta, một trong những trở ngại lớn nhất đối với hạnh phúc, là tin rằng hạnh phúc là không thể: “Chắc chắn phải có điều gì đó không ổn”; “Điều đó quá tốt, không thể là sự thật được”; “Nó có thể xảy ra với người khác nhưng không phải với tôi.”

Món quà mà một Đạo sư như David R. Hawkins mang đến cho chúng ta là: ta có thể nhìn thấy và trực tiếp trải nghiệm hiện hữu CHÍNH LÀ niềm hạnh phúc ấy; CHÍNH LÀ niềm hoan lạc vô biên ấy; CHÍNH LÀ sự bình an bất khả xâm phạm ấy. Cuốn sách được chấp bút vì chính ông đã trải nghiệm Sức mạnh đích thực (power[x]) của cơ chế mà nó mô tả. Việc đọc về và được ở bên cạnh một con người đã giải thoát như thế cho chúng ta chất xúc tác, niềm hy vọng và sự khởi đầu cho hành trình nội tâm của chính mình. Và vì vậy, mặc dù tự ngã nhỏ bé hoài nghi, vẫn có đó Đại Ngã đang vẫy gọi chúng ta. Trước tiên, chúng ta có thể nghe thấy tiếng gọi đó từ một tâm thức cao cấp như Tiến sĩ Hawkins, một người thầy, một người hướng dẫn, hoặc một giác giả đã chứng ngộ Đại Ngã. Sau đó, khi chúng ta có những trải nghiệm riêng của mình về sự thật, chữa lành và mở rộng, chúng ta nghe thấy tiếng gọi đó đến từ một nơi sâu thẳm ở bên trong. “Đại Ngã của sư phụ và Đại Ngã của đệ tử là một và như nhau,” Tiến sĩ Hawkins nói.

Ông phát phóng những sự thật của cuốn sách này. Là một người tìm kiếm nghiêm túc, nhận thấy phần lớn các tác phẩm tâm linh đương đại là khá hời hợt, tôi muốn xác minh tính xác thực của tác phẩm này. Quan trọng nhất là phải biết: tác giả có nói từ Chứng ngộ nội tâm thực sự hay không? Câu trả lời là “Có!” Những quan sát kỹ lưỡng được thực hiện trong nhiều năm phỏng vấn và thăm viếng xác nhận trạng thái cao cấp này. Trong cuốn sách này, ông nhắc nhở chúng ta về quy luật của tâm thức (consciousness[xi]): Tất cả chúng ta đều được kết nối ở tầng năng lượng, và rung động cao hơn (như yêu thương) tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến rung động thấp hơn (như sợ hãi). Tôi cảm nhận được sự thật của quy luật này mỗi khi ở bên ông; trường năng lượng của ông truyền tải tình yêu chữa lành và an bình sâu sắc. Như ông giải thích trong cuốn sách này, những trạng thái cao hơn này luôn sẵn có cho tất cả chúng ta, bất cứ lúc nào.

Cho dù chúng ta đang ở đâu trong cuộc đời này, cuốn sách sẽ soi sáng “bước tiếp theo”. Cơ chế buông bỏ mà Tiến sĩ Hawkins mô tả có thể áp dụng cho toàn bộ hành trình nội tâm: từ buông bỏ những oán hận thời thơ ấu đến sự buông bỏ cuối cùng, buông bỏ chính bản ngã. Do đó, cuốn sách này có ích như nhau cho các chuyên gia quan tâm đến thành công trên thế gian này, có ích cho thân chủ đang trị liệu tìm cách chữa lành các vấn đề cảm xúc, cho bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh và người tìm kiếm tâm linh tận tâm hướng đến Chứng ngộ. Ông khuyên tất cả chúng ta: bước đi quan trọng là thừa nhận rằng chúng ta có những cảm thọ tiêu cực như là hệ quả của thân phận con người, và sẵn sàng nhìn nhận chúng mà không phán xét. Trạng thái nhận thức phi nhị nguyên (non-dual awareness[xii]) cao hơn có thể là mục tiêu của chúng ta. Nhưng làm sao xử lý cái “tự ngã nhỏ bé” nhị nguyên dai dẳng muốn chúng ta nhìn nhận bản thân mình là “tốt hơn” hay “tệ hơn” người khác?

Trong mười cuốn sách trước đó, Tiến sĩ Hawkins đã mô tả trạng thái phi nhị nguyên của Chứng ngộ với nhận thức (awareness[xiii]) thuần khiết hiếm có. Như ông nói một cách hài hước khi bắt đầu nhiều bài giảng: “Chúng ta bắt đầu từ điểm cuối”. Thật vậy, trong các bài giảng và sách của mình, ông đã làm sáng tỏ triệt để những trạng thái tâm thức cao nhất, là đỉnh cao của quá trình tiến hóa nội tâm của con người.

Giờ đây, trong cuốn sách được xuất bản vào những năm cuối đời, ông đưa chúng ta trở lại điểm xuất phát chung: thừa nhận sự tồn tại của tự ngã nhỏ bé. Chúng ta phải bắt đầu từ nơi mình đang đứng để đến được nơi mình muốn đến! Nếu chúng ta muốn đi từ đây đến đó, chúng ta sẽ không đến nơi nhanh hơn nếu tự lừa dối mình và nói rằng mình đang bắt đầu từ gần đó. Bằng cách nghĩ rằng mình gần mục tiêu hơn thực tế, chúng ta thực sự làm cho hành trình trở thành dài hơn. Như ông giải thích trong cuốn sách này, cần có can đảm và trung thực với chính mình để nhìn thấy cái tiêu cực và nhỏ bé trong con người mình. Chỉ khi chúng ta có thể thừa nhận cái tiêu cực mà mình thừa hưởng từ bản chất con người, chúng ta mới có khả năng buông bỏ và được giải thoát khỏi nó. Chỉ cần sẵn sàng thừa nhận và chấp nhận phần đó trong trải nghiệm của con người. Bằng cách chấp nhận nó, chúng ta có thể siêu việt nó - Tiến sĩ Hawkins chỉ cho chúng ta con đường.

Trong cuốn sách có tính thực tiễn cao này, ông làm sáng tỏ kỹ thuật giúp chúng ta siêu việt tự ngã nhỏ bé và vươn tới tự do mà chúng ta hằng mong ước. Ông nói, trạng thái tự do nội tâm và hạnh phúc thuần khiết này là “quyền bẩm sinh” của chúng ta. Khi đọc, chúng ta được khích lệ và truyền cảm hứng từ những ví dụ lâm sàng thực tế mà ông chia sẻ từ nhiều thập kỷ hành nghề tâm thần học của mình. Trong mỗi trường hợp, chúng ta đều thấy sức mạnh của phó thác được áp dụng vào hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống: các mối quan hệ, sức khỏe thể chất, môi trường làm việc, hoạt động giải trí, quá trình tâm linh, đời sống gia đình, tình dục, chữa lành cảm xúc và cai nghiện.

Chúng ta học được rằng câu trả lời cho những vấn đề mà mình đang gặp nằm trong chính chúng ta. Bằng cách buông bỏ những rào cản nội tâm (inner blocks[xiv]), sự thật của Đại Ngã bên trong sẽ tỏa sáng và con đường dẫn đến an bình sẽ được mặc khải. Các bậc thầy tâm linh khác cũng nhấn mạnh rằng vun đắp an bình nội tâm là giải pháp thực sự duy nhất để giải quyết những khó khăn cá nhân, cũng như các xung đột tập thể: “Trước hết, hãy giải trừ vũ khí ở bên trong, sau đó mới đến giải trừ vũ khí ở bên ngoài” (Đức Đạt Lai Lạt Ma); “Hãy là sự thay đổi mà bạn muốn thấy trên thế gian này” (Gandhi). Ý nghĩa rất rõ ràng. Vì tất cả chúng ta đều là một phần của toàn thể, khi chúng ta chữa lành điều gì đó trong chính mình, là chúng ta cũng chữa lành điều đó cho thế giới. Mỗi tâm thức cá nhân được kết nối với tâm thức tập thể ở tầng năng lượng; do đó, chữa lành cá nhân dẫn đến chữa lành tập thể. Tiến sĩ Hawkins có thể là người đầu tiên tìm cách hiểu nguyên tắc này dưới góc độ ứng dụng khoa học và lâm sàng. Mấu chốt là: bằng cách thay đổi chính mình, chúng ta thay đổi thế giới. Khi chúng ta trở thành yêu thương hơn từ bên trong, chữa lành sẽ diễn ra ở bên ngoài. Giống như mực nước biển dâng cao nâng tất cả các con tàu, thì sự toả sáng của yêu thương vô điều kiện trong trái tim mỗi người cũng nâng đỡ toàn bộ sự sống. 

**** 

Tiến sĩ David R. Hawkins là một tác giả, bác sĩ tâm thần, bác sĩ lâm sàng, đạo sư tâm linh và nhà nghiên cứu tâm thức nổi tiếng thế giới. Chi tiết về cuộc đời phi thường của ông được trình bày trong phần “Về tác giả” ở cuối sách. Tác phẩm độc đáo này của ông tỏa sáng từ một suối nguồn của tâm từ bi phổ quát và tận hiến cho việc giảm bớt đau khổ trong mọi khía cạnh của cuộc đời. Món quà mà tác phẩm của Tiến sĩ Hawkins mang lại cho quá trình tiến hóa của nhân loại vượt xa những gì có thể diễn tả bằng lời.

Trạng thái Chứng ngộ là trọn vẹn hoàn toàn trong phúc lạc, đến mức người đó sẽ không bao giờ rời bỏ nó trừ khi hoàn toàn hiến dâng tình yêu cho Thiên Chúa và cho đồng loại, để chia sẻ món quà mà mình được ban tặng. Cuốn sách này và tất cả các tác phẩm của ông trên thế gian này nói về buông bỏ là kết quả của sự hiến dâng đó. Như bạn sẽ thấy trong một chương của cuốn sách này, phó thác sâu sắc tạo điều kiện để ông khôi phục lại tâm thức cá nhân để hoàn thành những cam kết trên thế gian này. Trạng thái một thể (oneness[xv]) không thể mất đi hay bị bỏ rơi, nhưng tình yêu phi thường phải được hướng đến thách thức của việc diễn đạt bằng lời điều không thể diễn đạt. Bạn sẽ nhận thấy rằng một số đại từ của ông không phù hợp với quy tắc ngữ pháp—ví dụ, “cuộc sống của chúng ta”—nhưng chúng phản ánh đúng trải nghiệm về một trạng thái tâm linh thấu hiểu sự hợp nhất vô ngã của tất cả sự sống. Việc Tiến sĩ Hawkins quay trở lại với thế giới logic và ngôn từ để chia sẻ “Bản đồ Tâm thức” với chúng ta—để chúng ta cũng có thể hoàn thành vận mệnh của mình—nói lên rất nhiều về tình yêu vị tha của ông dành cho nhân loại. Bằng cách chỉ cho chúng ta con đường giải thoát, Tiến sĩ Hawkins cho chúng ta cơ hội vươn tới điều đó.

 

Cảm ơn Tiến sĩ Hawkins vì món quà của phó thác hoàn toàn này.

 

Fran Grace, Tiến sĩ, biên tập viên.

Giáo sư Nghiên cứu Tôn giáo và

Người quản lý Phòng Thiền

Đại học Redlands, California

Giám đốc Sáng lập, Viện

Đời sống Chiêm nghiệm

Sedona, Arizona

Tháng 6 năm 201


 

 

 



[i] Love (Tình yêu / Yêu thương): Ngôn từ thế gian thường hiểu “Tình yêu” gắn liền với các trạng thái của bản ngã như sở hữu, kiểm soát và sợ mất. Đây là trạng thái nằm dưới tầng 500 trên thang đo tâm thức của David Hawkins.

Ở tầng cao hơn, “Yêu thương vô điều kiện” (Unconditional love) là yêu thương vì sự hiện hữu của đối tượng, không phụ thuộc vào phẩm chất của chính đối tượng; ví dụ dễ thấy nhất là người mẹ tới thăm người con bị tù đày — dù anh ta đã làm gì thì mẹ anh vẫn thương yêu anh chẳng khác gì đứa trẻ thuở đầu đời. Nhưng người mẹ vẫn còn mong muốn, ví dụ con sẽ cải tạo tốt, được giảm án..v..v. Đây là trạng thái nằm trên tầng 540 trên thang đo tâm thức của David Hawkins.

Còn một tầng nữa, mà các truyền thống tâm linh phương Đông thường sử dụng là “Từ bi” (Compassion) để chỉ trạng thái thuần khiết hơn — tình thương vô vị kỷ, không phân biệt đối xử và không đòi hỏi đền đáp. Theo các bậc tu hành, từ bi không phải là sự yếu đuối hay cảm thương ủy mị, mà là nguồn sức mạnh vĩ đại được xây dựng trên nền tảng của sự thấu hiểu và trí tuệ. Đây là trạng thái nằm từ tầng 600 trở lên trên thang đo tâm thức của David Hawkins.

Trong bản dịch này, tùy vào ngữ cảnh, Love sẽ được chuyển ngữ linh hoạt thành “Tình yêu” (khi nói về trạng thái cảm xúc trong hệ nhị nguyên) hoặc “Yêu thương” (khi mô tả trường năng lượng vô điều kiện, vô vị kỷ).

[ii] Trong bản dịch này, thuật ngữ Spirit được chuyển ngữ linh hoạt thành Tinh thần, Tâm linh hoặc Tánh linh tùy theo ngữ cảnh.  1. Tinh thần (Spirit - thuộc phạm vi tâm trí Mind/Mental). Phạm vi: Dưới tầng 500 (Đặc biệt là các tầng 400 - Lý trí). Bản chất: Liên quan đến tư duy, thái độ, ý chí cá nhân. Nó vẫn nằm trong sự cưỡng ép của “Bạo lực - Force” hoặc sự nỗ lực của bản ngã. Ví dụ: Tinh thần trách nhiệm, tinh thần cầu tiến. Đây là cách tâm trí vận hành để định hướng cuộc sống. 2. Tâm linh (Spirituality/Spiritual Dimension). Phạm vi: Từ tầng 500 trở lên (Tình yêu vô điều kiện, Minh triết). Bản chất: Là chiều kích thực tại phi tuyến tính. Khi nói về “Đời sống tâm linh”, chúng ta đang nói về sự kết nối với Một thể (Oneness), nơi Sức mạnh đích thực (Power) bắt đầu thay thế cho Bạo lực (Force). 3. Tánh linh (Spirit - thuộc phạm vi Bản thể (Essence/Beingness)). Phạm vi: Trạng thái phi hình tướng, các tầng cực cao hoặc trải nghiệm thực chứng trực tiếp. Bản chất: Là Bản thể gốc, cái thực thể thuần khiết thoát ly khỏi sự định nghĩa của thân xác và tâm trí. Ứng dụng: Dùng khi mô tả Spirit như một "chủ thể" phi vật chất (như khi Hawkins đi xuyên tường). Nó không phải là một “thái độ” (Tinh thần), cũng không chỉ là một “chiều kích” (Tâm linh), mà chính là Đại ngã chân thực đang trải nghiệm sự tự do.

[iii] Self (Đại ngã/Chân ngã, chữ S viết hoa) tương đồng hoàn toàn với khái niệm Bản lai diện mục (Mặt mũi xưa nay) trong Thiền tông. Nói ngắn gọn: Đó là bản thể gốc rễ của bạn trước khi bị suy nghĩ, cảm xúc và bản ngã che lấp — là cái thực tại thuần túy vẫn luôn ở đó, chưa từng sinh ra và cũng không bao giờ mất đi. Còn self (s viết thường) là tự ngã với bản chất là một tập hợp các ảo tưởng, thói quen suy nghĩ, cảm thọ và ký ức mà chúng ta lầm tưởng là “chính mình”. Nó là một cấu trúc của tâm trí dựa trên sự tách biệt (tôi và thế giới). Đặc điểm: Luôn đòi hỏi, sợ hãi, phán xét và bị giới hạn bởi thời gian. Nó hoạt động bằng Bạo lực thay vì Sức mạnh đích thực và là rào cản chính ngăn cản chúng ta nhận ra Đại Ngã. Tóm lại: Nếu Self là bầu trời vĩnh cửu, thì self chỉ là những đám mây trôi nổi, luôn biến đổi và che lấp ánh mặt trời.

[iv] True Being - trong bản dịch này không chỉ mang nghĩa “bản thể” theo triết học, mà chỉ trạng thái Hiện hữu chân thực vốn có của con người trước khi bị đồng hóa với bản ngã, ký ức và các cấu trúc tâm lý. Khái niệm này gần với: “Chân ngã” trong một số truyền thống tâm linh, “Phật tính” trong Phật giáo Đại thừa, hoặc trạng thái “I Am” thuần khiết trước mọi định danh cá nhân. Tuy nhiên, “True Being” không nên bị hiểu như một “cái tôi cao cấp hơn”, mà là chính nền tảng Hiện hữu tĩnh lặng, sáng tỏ và vô điều kiện nằm phía sau mọi trải nghiệm của bản ngã. Trong nhiều trường hợp, thuật ngữ này được chuyển ngữ linh hoạt là: Chân thể, Hiện hữu chân thực, Bản thể chân thật, Chân tính, tùy theo văn cảnh. True Being không phải là một khái niệm để suy nghĩ về, mà là một trạng thái để trực nhận.

[v] Surrender/surrender to - Trong ngữ cảnh tâm linh, surrender thường được dịch là buông bỏ/phó thác. Ở đây, nó chỉ sự từ bỏ khuynh hướng kiểm soát của bản ngã, không còn cố chấp giữ lấy ý muốn riêng của mình. Tuy nhiên, khi động từ này đi kèm với giới từ “to” (surrender to), ý nghĩa trở nên rõ ràng và tích cực hơn. Lúc này, nó không chỉ đơn thuần là buông bỏ, mà là “phó thác” — tức là trao mình cho một Thực tại cao hơn. Vì vậy trong bản dịch này: surrender → buông bỏ; surrender to → phó thác (cho…). Trong nhiều truyền thống tâm linh, trạng thái này thường được diễn đạt giản dị là: “để cho Trời quản,” “để cho Thiên Chúa lo liệu,” hoặc “để Sư phụ an bài.” Ý nghĩa cốt lõi không phải là thái độ thụ động hay buông xuôi, mà là tin cậy sâu sắc, khi cái tôi cá nhân lắng xuống và con người thuận theo sự dẫn dắt của trí tuệ hay ý định cao hơn.

[vi] To let go/letting go - Trong nhiều bản dịch tâm linh, letting go thường được dịch là “buông bỏ.” Tuy nhiên, cách hiểu thông thường của “buông bỏ” dễ gợi cảm giác rằng ta đang nắm giữ một điều gì đó rồi chủ động thả nó ra. Trong kinh nghiệm thực hành nội tâm, ý nghĩa của letting go lại tinh tế hơn. Nó không phải là một hành động cố ý “buông”, mà gần với việc không bám giữ, để cho mọi cảm xúc, ý nghĩ hay trạng thái tự nhiên đi qua. Vì vậy, có thể hiểu letting go trong thực hành như là “cho nó đi qua.” Tâm khi ấy giống như tấm gương: có vật thì có hình, vật đi qua thì hình tự mất. Không cần xua đuổi, cũng không cần giữ lại. Do đó, trong bản dịch này “letting go” vẫn được dùng là “buông bỏ”, nhưng người đọc nên hiểu rằng đó không phải là gắng sức để buông, mà là không nắm giữ – để mọi hiện tượng tự nhiên đi qua trong nhận biết. Trong các giáo lý Phật giáo chúng ta có thể thấy thuật ngữ đồng nghĩa là “xả/xả bỏ”. “Buông bỏ” KHÔNG phải là làm cho cảm xúc biến mất. Mà là không còn chống lại việc nó đang tồn tại. Letting Go không phải là cuốn sách thay đổi thế giới, nhưng nếu đủ người thực hành nó, thế giới xung quanh họ sẽ tự nhiên trở nên nhẹ nhàng hơn.

Trong các truyền thống tôn giáo phương Đông tha thường nghe nói: “Bất động tâm trước thất tình lục dục”. Liên quan giữa “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” và “Bất động tâm trước thất tình lục dục” chính là quan hệ giữa Phương pháp (Hành động) và Kết quả (Trạng thái). Nếu “Bất động tâm” là cái đích đến của tâm trí tự tại, thì “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” chính là chiếc chìa khóa kỹ thuật để mở cánh cửa đó.

Liên hệ này thể hiện rõ qua cấu trúc vận hành của Tâm thức như sau:

1. Bản chất của “Cảm thọ” và “Thất tình lục dục”

Để thấy rõ mắt xích liên hệ, ta cần nhìn vào tiến trình vi tế khi tâm trí tương tác với thế giới:

Lục dục (Sáu ham muốn): Khi sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, ý nghĩ).

Cảm thọ (Feeling): Một cảm thọ sẽ xuất hiện trên thân và tâm (dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính) ngay lập tức. Đây là lúc “cảm thọ sinh khởi”.

Thất tình (Bảy trạng thái cảm xúc): Nếu ta đồng nhất mình với cảm thọ đó, bản ngã sẽ nhảy vào cấu xé: dính mắc vào cái dễ chịu (mừng, thương, vui) hoặc phản kháng cái khó chịu (giận, buồn, sợ, ghét). Bảy cảm xúc này chính là các hệ lụy của tâm trí nhị nguyên.

2. Cơ chế liên quan: Cắt đứt chuỗi phản ứng dây chuyền

Khi thực hiện việc “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi”, là ta đang thực hiện một cú cắt xung lực ngay từ gốc rễ: [Tiếp xúc] [Sinh khởi Cảm thọ] (Cắt tại đây) [Thất tình không thể hình thành]. Để nó đi qua (Letting go) ở tầng vi tế: Khi một cơn giận hay một ham muốn (lục dục) vừa chớm xuất hiện dưới dạng một áp lực hay một cảm thọ trên thân thể, người tỉnh thức không đè nén, không nuôi dưỡng nó bằng suy nghĩ, mà chỉ đơn giản là nhận biết và để nó đi qua.

Hệ quả là “Bất động tâm”: Vì cảm thọ vừa sinh khởi đã bị hóa giải, nó không đủ năng lượng để phát triển thành một cơn bão cảm xúc (thất tình). Tâm trí không bị kéo đi, không bị dao động. Đó chính là trạng thái Bất động tâm.

Góc nhìn định chuẩn (Hawkins): Việc chấp trước vào “thất tình lục dục” giữ tâm thức lẩn quẩn ở các tầng năng lượng dưới tầng 200 (Sợ hãi, Khao khát, Giận dữ). Kỹ thuật “buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” là hành động liên tục xả bỏ các áp lực năng lượng thấp. Khi các trường năng lượng mang tính tiêu hao này không còn chỗ bám víu, tâm thức tự động định vị ở tầng từ 500 trở lên — tĩnh lặng và Bất động tâm (tầng 600 - An bình/An lạc) trở thành trạng thái tự nhiên, không cần nỗ lực cưỡng ép.

Nói tóm lại, “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” chính là tiến trình hành động trong từng khoảnh khắc (vi mô) để duy trì cái gốc của “Tâm bất động” trước mọi biến động của thế gian (vĩ mô).

[vii] Realization – Ngộ/Thể ngộ: là sự trực nhận nội tâm về một chân lý vốn đã hiện hữu. Đây không phải là suy luận tri thức hay lý giải kinh văn, mà là sự “thấy ra” một cách tức thời.

[viii] Attachment – Chấp trước. Chấp trước là trạng thái tâm khi con người bám víu vào một đối tượng, một ý niệm hay một cảm xúc, và tin rằng mình không thể sống an ổn nếu thiếu nó. Khi ấy, tâm không còn tự do; nó bị ràng buộc bởi nhu cầu phải giữ lấy, đạt được, hoặc bảo vệ điều mình bám víu. Chấp trước có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: chấp trước vào vật chất (tiền bạc, tài sản, địa vị); chấp trước vào tình cảm (muốn người khác phải yêu thương, công nhận mình); chấp trước vào quan điểm và niềm tin (không chấp nhận ý kiến khác); chấp trước vào hình ảnh về bản thân (muốn mình luôn đúng, luôn tốt, luôn được đánh giá cao). Điểm chung của mọi chấp trước là: tâm trở nên phụ thuộc. Khi điều mình bám víu được duy trì, ta cảm thấy vui; khi nó bị mất, bị đe dọa hoặc không đạt được, tâm lập tức sinh ra lo lắng, tức giận, sợ hãi hoặc đau khổ. Vì vậy, chấp trước chính là một trong những nguồn gốc của đau khổ. Trên con đường tu luyện, nhận ra chấp trước là một bước quan trọng. Điều cần làm không phải là cưỡng ép loại bỏ mọi thứ trong đời sống, mà là thấy rõ sự bám víu của tâm. Khi quan sát đủ sâu, ta nhận ra rằng những đối tượng mình chấp trước vốn vô thường và không thật sự thuộc về mình. Sự nhận ra này giúp tâm dần buông lỏng, không còn bị kéo đi bởi những ham muốn hay sợ hãi. Khi chấp trước giảm bớt, tâm trở nên nhẹ nhàng, tự do và rộng mở hơn. Con người vẫn sống, vẫn làm việc, vẫn yêu thương và quan tâm đến người khác, nhưng không còn bị ràng buộc bởi sự bám víu. Chính trong trạng thái ấy, an bình nội tâm mới thật sự xuất hiện.

[ix] Ghi chú về các thuật ngữ Cảm giác – Cảm thọ – Cảm xúc.

Trong tiếng Anh, có ba thuật ngữ thường bị đánh đồng nhưng lại đại diện cho các tầng vận hành hoàn toàn khác nhau của Tâm thức: Sense, Feeling và Emotion.

Để bảo đảm tính chính xác trong việc chuyển tải các trạng thái năng lượng, trong bản dịch này, tôi phân định ranh giới giữa chúng như sau:

Sense - Thuộc tầng vận hành của Sắc uẩn. Đây là cấp độ sinh lý thuần túy, liên quan đến việc tiếp nhận dữ liệu vật lý thông qua ngũ quan như âm thanh, ánh sáng, xúc chạm, mùi vị…

Feeling (Cảm thọ): Gần với Thọ uẩn (Vedanā) trong Phật giáo, đôi khi được dịch là cảm nhận/cảm thấy, tuỳ ngữ cảnh. Đây là sự lĩnh nạp trực tiếp một trạng thái năng lượng đang hiện hữu trong thân–tâm, trước khi tâm trí diễn giải nó thành câu chuyện hay phản ứng tâm lý. Feeling mang tính trực tiếp, nguyên sơ và tương đối “tĩnh” — chẳng hạn như cảm giác nặng nơi ngực, sự co thắt, nóng ran, trống rỗng… Đây cũng là tầng then chốt trong thực hành “để nó đi qua” (letting go).

Emotion (Cảm xúc): Gần với tầng hoạt động của Hành uẩn (Sankhara) — tức các phản ứng tâm lý đã được cấu trúc hóa bởi ký ức, bản ngã, phán xét và diễn giải. Emotion thường gắn với một “câu chuyện” hoặc đối tượng cụ thể; ví dụ, từ một cảm thọ khó chịu ban đầu, tâm trí phát triển thành sự giận dữ đối với một người nào đó.

Để phân biệt Cảm thọ với Cảm xúc, xin xem xét ví dụ sau: Khi bị ai đó xúc phạm, trước tiên có thể xuất hiện một luồng năng lượng nóng, co thắt hoặc áp lực dâng lên trong thân–tâm. Đó là tầng cảm thọ (feeling). Chỉ sau đó, khi tâm trí bắt đầu diễn giải: “Người đó coi thường tôi”, “Tôi phải đáp trả”… thì trạng thái ấy mới trở thành cảm xúc tức giận (emotion). Điểm rất quan trọng trong thực hành buông bỏ của Hawkins là: Người ta thường cố giải quyết emotion, trong khi giải phóng thực sự xảy ra ở tầng feeling.

Bảng đối soát tóm tắt:

Thuật ngữ

Chuyển ngữ

Bản chất

Hệ quy chiếu (Ngũ uẩn)

Sense

Cảm giác/Giác quan

Tiếp nhận dữ liệu vật lý

Sắc uẩn

Feeling

Cảm thọ

Lĩnh nạp năng lượng trực tiếp (Tĩnh)

Thọ uẩn

Emotion

Cảm xúc

Phản ứng của bản ngã & câu chuyện (Động)

Gần với Hành uẩn

 

[x] Power - Sức mạnh đích thực - là sức mạnh nội tại phát sinh từ sự hòa hợp với Sự thật. Đại diện cho các tầng tâm thức từ 200 trở lên. Đây là nguồn năng lượng nội tại, phát sinh từ sự hòa hợp với các nguyên lý vĩnh cửu và Sự thật. Sức mạnh đích thực có tính chất hợp nhất, nuôi dưỡng sự sống và không tạo ra phản lực.

[xi]   Consciousness – Tâm thức. David Hawkins từng giải thích: “Tâm thức là nền tảng bất khả quy giản của tồn tại, vô hình tướng nhưng bao hàm mọi hình tướng. Nó là vô hạn, không có khởi đầu và không có kết thúc. Trường tâm thức, theo một hệ thuật ngữ khác, được gọi là Phật tính hay Tâm của Thiên Chúa (Mind of God). Có thể ví nó như một trường điện từ vô hạn và toàn năng. Mỗi vật đều có vị trí riêng của mình trong trường này, tương tự như một mạt sắt; vị trí của bạn trong trường phụ thuộc vào “điện tích” của bạn — tức là dựa trên những quyết định mà bạn đã chọn lựa. Khi bạn nói: “Tôi tha thứ cho người đó”, bạn dịch chuyển lên cao hơn trong trường này. Còn nếu bạn nói: “Tôi sẽ trả đũa kẻ xấu đó”, bạn dịch chuyển xuống thấp hơn. Rõ ràng, không thể đổ lỗi cho Thiên Chúa hay cho bất kỳ ai khác”.

Như vậy là: Consciousness không chỉ là “ý thức” theo nghĩa tỉnh táo hay thái độ đạo đức. Trong hệ thống của David R. Hawkins, Tâm thức là nền tảng bất khả quy giản của tồn tại — một Trường bản thể vô hình tướng nhưng bao hàm mọi hình tướng, không có khởi đầu và không có kết thúc.

Thang đo từ 0 đến 1.000 không đo các trạng thái tâm lý nhất thời, mà biểu thị vị trí tương đối của cá nhân trong Trường Tâm thức. Vì vậy, Level of Consciousness được dịch là Tầng Tâm thức: “Tầng” ở đây không phải là bậc thang xã hội hay cảm xúc, mà là định vị năng lượng–nhận thức trong cùng một Trường bao trùm.

Mỗi Tầng biểu lộ như một tâm tính đặc trưng — một “cặp kính” qua đó con người trải nghiệm và diễn giải thực tại. Tâm tính vì vậy không chỉ là trạng thái tâm lý cá nhân, mà là một cấu hình năng lượng với tần số rung động đặc thù, quyết định cách một cá nhân nhận thức thực tại và mức độ hòa hợp của họ với Sự thật. Khi thay đổi thói quen tư duy và hành xử hằng ngày, ta có thể dịch chuyển Tầng chủ đạo của mình. Đó chính là tu tâm tính. Nói ngắn gọn: tu tâm dưỡng tính là tiến trình làm sạch và điều chỉnh tâm tính nhằm giảm thiểu những can nhiễu của bản ngã, để Tầng Tâm thức cao hơn — vốn đã hiện diện — có thể biểu lộ rõ ràng hơn.

Tuy có một Tầng chủ đạo, Tâm thức vẫn có thể dao động tùy hoàn cảnh và mức độ trưởng thành nội tâm. Ở các tầng cao nhất (700–1.000), Tâm thức không còn được trải nghiệm như một mức độ, mà như chính bản thể tuyệt đối. Vì lý do nhất quán với hệ thuật ngữ của tác giả, bản dịch này sử dụng “Tâm thức” cho Consciousness và “Tầng” cho Level.

Tâm trí và Tâm thức. Cần phân biệt rõ giữa Tâm trí (Mind) và Tâm thức (Consciousness).

Tâm trí là nội dung: suy nghĩ, cảm xúc, ký ức, hình ảnh — tất cả những gì sinh khởi và thay đổi liên tục. Tâm thức là nền tảng cho phép toàn bộ nội dung ấy xuất hiện.

Tâm thức không phải là một “vật thể” mà ta sở hữu, cũng không phải một bộ phận trong não bộ. Nó là điều kiện tiên quyết của mọi trải nghiệm. Có thể hiểu Tâm thức qua ba tầng nghĩa:

1. Tâm thức như là “Ánh sáng”. Xin hình dung tâm trí như một cuốn phim đang được chiếu. Suy nghĩ và cảm xúc là nội dung của bộ phim. Tâm thức là luồng ánh sáng từ máy chiếu.

Nếu không có ánh sáng, phim không thể hiển lộ. Ánh sáng không đồng nhất với nội dung phim, nhưng độ trong và cường độ của ánh sáng quyết định chất lượng hình ảnh được thấy. Tâm thức vì vậy là nền tĩnh lặng vượt ngoài thời gian, nơi các hiện tượng sinh và diệt.

2. Tâm thức như là “Trường năng lượng”. Tâm thức không nằm trong não bộ. Não bộ — biểu hiện sinh học của Tâm trí — có thể ví nó với thiết bị thu–phát.

Tâm thức là một Trường bao trùm. Mỗi cá nhân định vị ở một Tầng khác nhau trong Trường ấy. Ở mỗi Tầng, mức độ đồng điệu với Sự thật là khác nhau. Tầng càng cao, tâm tính càng trưởng thành; bản ngã càng lùi lại; sự sáng tỏ càng hiển lộ.

3. Tâm thức và Nhận thức/Cái biết (awereness). Ở những Tầng thấp, Tâm thức được trải nghiệm như sự phân biệt giữa “tôi” và “cái kia”. Ở những Tầng rất cao (trên 600), sự phân biệt ấy dần tan biến.

Khi đó, Tâm thức được trải nghiệm như là Cái biết thuần khiết (pure awareness) — nơi người biết và cái được biết không còn là hai. Đó là trạng thái Một thể.

 

Hữu thức – Tiềm thức – Vô thức

Để tránh nhầm lẫn, cần phân biệt rõ các thuật ngữ của tâm lý học hiện đại với hệ thống của David R. Hawkins. Trong tâm lý học, người ta thường nói đến ba tầng của tâm trí: Hữu thức (Conscious), Tiềm thức (Subconscious) và Vô thức (Unconscious). Tuy nhiên, trong hệ thống của Hawkins, toàn bộ các khái niệm này đều thuộc về Tâm trí (Mind) — tức là nội dung của trải nghiệm — chứ không phải Tâm thức (Consciousness).

1. Tâm trí hữu thức là phần ta nhận biết trong khoảnh khắc hiện tại: suy nghĩ, cảm xúc, lựa chọn và chú ý. Nếu ví với máy tính, đây là màn hình hiển thị — nơi các nội dung đang vận hành xuất hiện rõ ràng. Khi ta đang tức giận, yêu thương hay vị tha, ta biết mình đang suy nghĩ và cảm thọ như vậy. Vai trò của tâm trí hữu thức đặc biệt quan trọng trong quá trình tu tập, bởi chỉ thông qua quan sát, ta mới nhận ra các thói quen phản ứng và dần thay đổi “cặp kính” mà mình dùng để nhìn cuộc đời. Tuy vậy, đây chỉ là phần nổi của cấu trúc tâm trí.

2. Bên dưới là tầng tiềm thức — nơi lưu giữ ký ức, cảm thọ bị dồn nén và các phản xạ tự động đã được điều kiện hoá. Nó giống như “ổ cứng cá nhân”, nơi chứa các chương trình vận hành mà ta không cần ý thức mỗi khi sử dụng: lái xe mà không cần suy nghĩ từng thao tác, phản ứng tức giận gần như tự động trước một lời chỉ trích, hay cảm giác lo âu xuất hiện mà không rõ nguyên nhân. Nhiều “chương trình” vận hành đời sống nằm ở tầng này. Khi tiềm thức chứa nhiều nội dung dựa trên sợ hãi, mặc cảm hay phòng vệ, các phản ứng ấy có thể giữ con người ở những tầng tâm thức thấp, vì chúng liên tục tái tạo một cách nhìn méo mó về thực tại. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh: tiềm thức không tự nó quyết định mức độ nhận thức, mà chỉ là một phần của cấu trúc biểu hiện trong trường này mà thôi. Những hành động xảy ra “nhanh hơn suy nghĩ” — như phản xạ phanh xe khi gặp nguy hiểm — thực chất là các chương trình tiềm thức đã được điều kiện hoá, không phải là hành động vô thức; chúng vẫn diễn ra trong sự hiện diện của Tâm thức, nhưng không đi qua tiến trình suy nghĩ của tâm trí hữu thức.

3. Ở tầng sâu hơn, trong tâm lý học — đặc biệt ở Carl Jung — vô thức bao gồm những nội dung bị đè nén sâu, các nguyên mẫu, bản năng sinh tồn và những khuynh hướng tập thể mà cá nhân không ý thức được. Vô thức tập thể không lưu trữ các hành vi cụ thể như giết người hay ăn thịt người, mà chứa các khuynh hướng bản năng và những mô thức phổ quát; các hành vi cực đoan chỉ là biểu hiện của những xung lực này trong những điều kiện nhất định. Tuy nhiên, trong hệ thống của Hawkins, vô thức vẫn thuộc về Tâm trí. Nó không phải là Trường Tâm thức phổ quát. Điểm then chốt là: Tâm trí — dù hữu thức, tiềm thức hay vô thức — đều là nội dung; còn Tâm thức là trường nền cho phép toàn bộ nội dung ấy xuất hiện và được nhận biết. Vì vậy, không nên đồng nhất “vô thức tập thể” với “Trường Tâm thức”. Vô thức chỉ là một phần của cấu trúc tâm trí, trong khi Tâm thức là nền tảng phi cá nhân vượt ngoài mọi cấu trúc ấy. Cũng theo đó, không nên hiểu Trường Tâm thức như một “cơ sở dữ liệu” tương tự vô thức tập thể. Vô thức tập thể vẫn là nội dung của tâm trí (dù mang tính tập thể), còn Tâm thức không phải là nơi lưu trữ nội dung, mà là nền tảng trong đó mọi nội dung xuất hiện và được nhận biết.

Hiệu chỉnh: Trong hệ thống của Hawkins, “hiệu chỉnh” (calibration) không phải là việc truy cập vào một kho dữ liệu tiềm ẩn nào đó của tâm trí. Thay vào đó, cơ thể con người phản ứng với sự thật vì nó vốn đồng điệu với Trường Tâm thức. Khi một mệnh đề phù hợp với Sự thật, hệ thần kinh duy trì sức mạnh và trương lực; khi một mệnh đề sai lệch, phản ứng sinh lý suy yếu. Phương pháp kiểm tra cơ thể động học (muscle testing) vì vậy được xem như một cách xác nhận mức độ đồng điệu — hoặc không đồng điệu — của một nội dung với Trường này. Nói cách khác, không phải ta “truy cập” vào một “Internet vô thức”, mà chính hệ thần kinh phản ứng theo mức độ phù hợp của một nội dung với Sự thật trong Tâm thức.

Thiền: Trong thực hành thiền quán, điều quan trọng không phải là phân biệt một trải nghiệm thuộc về tiềm thức hay vô thức, mà là nhận ra bất cứ điều gì đang xuất hiện trong nhận biết. Những gì xuất hiện có thể là một cảm thọ thoáng qua như sợ hãi hay khó chịu, một ý nghĩ mang tính phán xét hoặc lo âu, hay một xung lực muốn phản ứng, muốn né tránh. Dù nguồn gốc của chúng nằm ở đâu, tất cả chỉ trở thành đối tượng của thực hành khi chúng hiện ra trong ánh sáng của nhận biết. Vì vậy, ta không trực tiếp “làm việc” với các tầng trừu tượng như tiềm thức hay vô thức, mà chỉ với những nội dung cụ thể của tâm trí khi chúng trồi lên. Chỉ những gì được thấy mới có thể được buông.

Buông bỏ, theo nghĩa này, không phải là loại bỏ hay đè nén, mà là không đồng nhất với nội dung đang xuất hiện. Cảm thọ vẫn có thể còn đó, ý nghĩ vẫn có thể tiếp diễn, nhưng không còn một “cái tôi” bám lấy chúng như “của tôi” hay “là tôi”. Chính sự không nắm giữ này cho phép năng lượng phía sau các nội dung ấy tự giải toả. Khi thực hành sâu hơn, hành giả có thể nhận ra không chỉ cảm thọ hay ý nghĩ, mà cả phản xạ muốn kiểm soát, muốn can thiệp, thậm chí muốn “buông bỏ cho đúng cách”. Sâu hơn nữa, chính cảm thọ về một “người đang trải nghiệm” cũng trở thành đối tượng được thấy. Đến đây, việc buông bỏ không còn là một hành động có chủ ý, mà chỉ là sự không còn nắm giữ. Mọi nội dung — dù đến từ đâu — đều đến rồi đi trong một nền tảng tĩnh lặng không đổi. Nền tảng ấy không phải là tiềm thức hay vô thức, mà là chính Tâm thức — nơi mọi trải nghiệm xuất hiện và được nhận biết, nhưng tự nó không bị ảnh hưởng bởi bất cứ điều gì xuất hiện trong đó.

Trong thực hành, buông bỏ (letting go) và phó thác (surrender) là hai hướng tiếp cận bổ sung cho nhau. Buông bỏ là con đường của nhận biết: thấy rõ một trạng thái đang xuất hiện, không phân tích, không chống cự, không thêm câu chuyện — và vì thế, nó tự suy yếu khi không còn được nuôi dưỡng bởi phản ứng của bản ngã. Đây là cách làm nhẹ dần tiềm thức, khi các phản xạ cũ mất đi sức cưỡng ép. Phó thác là con đường của tin cậy: khi đối diện với những khối năng lượng mạnh, ta thừa nhận giới hạn của bản ngã, ngừng cố kiểm soát bằng ý chí, và phó thác quyền điều khiển cho một nguyên lý sâu hơn — có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau, nhưng thực chất là Trí tuệ của chính sự sống. Dùng ý chí cưỡng ép thường chỉ tạo thêm đối kháng nội tâm; phó thác làm tan rã sự đối kháng đó. Trong hệ thống của Hawkins, chính thái độ phó thác này mở ra từ “bạo lực (force)” sang “Sức mạnh đích thực (power)” — từ cưỡng ép sang sức mạnh nội tại. Với những nội dung nhẹ, chỉ cần thấy và để chúng trôi qua; với những năng lượng sâu hơn, cần thêm tin cậy và buông bỏ hoàn toàn. Dù theo cách nào, cốt lõi vẫn là giảm dần sự nắm giữ của bản ngã — và để cho mọi thứ trở về với sự tĩnh lặng vốn có.

Khi mặc cảm tội lỗi trồi lên trong tu tập. Đây là hiện tượng rất phổ biến. Câu trả lời cân bằng là: nó có thể đến từ cả Tiềm thức lẫn tầng sâu hơn của cấu trúc tâm trí. 1. Từ Tiềm thức: Nhiều mặc cảm không biến mất — chúng chỉ bị đè nén. Khi hành thiền: Mức độ kiểm soát của bản ngã giảm; Tâm trí trở nên yên lặng hơn. Những ký ức từng bị né tránh bắt đầu nổi lên. Đây thường là dấu hiệu của quá trình “dọn dẹp”, không phải là thụt lùi. 2. Ở tầng sâu hơn của cấu trúc bản ngã. Mặc cảm tội lỗi đôi khi không gắn với một sự kiện cụ thể, mà là một cấu trúc tự trừng phạt. Trong hệ thống hiệu chỉnh của Hawkins, Mặc cảm tội lỗi có điểm hiệu chỉnh rất thấp (30), vì nó mang năng lượng tự hủy hoại và tự kết án.

Khi hành giả tiến bộ, những cấu trúc sâu này có thể trồi lên để được thấy và buông. Quan trọng là: Không cần giả định rằng mình đang “gánh nghiệp cho nhân loại”. Chỉ cần hiểu rằng tâm trí con người có những tầng cấu trúc phổ quát.

Cạm bẫy tinh vi của bản ngã. Khi mặc cảm xuất hiện, bản ngã có thể thì thầm: “Tại sao tu mãi mà vẫn còn như vậy?” “Chắc mình không tiến bộ.” “Mình quá tệ.” Đây là một dạng bạo lực tinh vi: tự phán xét dưới danh nghĩa tu tập. Thấy được cơ chế này đã là một bước dịch chuyển Tâm thức.

Tóm lại, Thiền không phải là: Đè nén tâm trí; Cố đạt trạng thái đặc biệt; Truy cập một “cơ sở dữ liệu bí mật”. Mà là: Tăng độ sáng rõ của Nhận biết; Giảm sự đồng nhất với nội dung của tâm trí; Làm suy yếu dần các cấu trúc bản ngã; Mở ra sự đồng điệu cao hơn với Sự thật. Và khi những điều “xấu xí” trồi lên, đó thường không phải là thất bại —mà là dấu hiệu rằng nhận biết đã đủ ổn định để thấy những gì trước đây bị che khuất.

[xii] Non-dual awareness (Nhận thức phi nhị nguyên).  Bản chất: Là trạng thái nhận thức vượt lên trên mọi sự phân chia đối lập (đúng/sai, tốt/xấu, ta/người). Đây là nền tảng của Sức mạnh đích thực (Power). Đặc điểm: Xóa nhòa ranh giới giữa “người quan sát” và “cái được quan sát”. Tương ứng với trạng thái Một thể (Oneness) và Vô ngã (Non-doership). Liên kết hệ thống: Đối lập với Positionality (Cố chấp vào lập trường của bản ngã). Là kết quả của quá trình thực hành Phó thác sâu sắc.

[xiii] Awareness — 1. Nhận thức thuần túy, không diễn giải; Tỉnh thức (Awakening/Mindfulness). Từ này thiên về một trạng thái hoặc một quá trình. Định nghĩa: Là sự “tỉnh dậy” sau một cơn mê của bản ngã. Khi bạn bắt đầu quan sát được cảm thọ tiêu cực và không để nó cuốn đi, đó là tỉnh thức. Đặc điểm: Thường dùng cho các tầng tâm thức từ 200 (Can đảm) đến dưới 600. Nó mang tính chủ động: “Tôi đang tỉnh thức”, “Tôi đang thực hành tỉnh thức”. Trong tiếng Anh: Thường tương ứng với Awakened hoặc Mindful. 2. Cái Biết (Awareness/Pure Awareness) Từ này thiên về bản chất hoặc nền tảng vĩnh cửu. Định nghĩa: Là cái “không gian” hay cái “ánh sáng” cho phép mọi sự tỉnh thức diễn ra. Nó không phải là một hành động, nó là một thực tại có sẵn. Ngay cả khi bạn đang ngủ hay đang giận, Cái Biết vẫn luôn ở đó, tĩnh lặng và quan sát. Đặc điểm: Thường dùng cho tầng tâm thức từ 600 (An bình) trở lên. Nó không có chủ thể: không phải “Tôi có Cái biết” mà là “Tôi LÀ Cái Biết”.

[xiv] Inner Blocks (Rào cản nội tâm) – Phật giáo gọi là “nội kết”. Nội kết là những “nút thắt” năng lượng tâm trí bị dồn nén, hình thành khi ta không thể hoặc không sẵn sàng một cảm xúc hay trải nghiệm tiêu cực“đi qua” (Letting go). Cơ chế hình thành: Thuộc về Tiềm thức (Subconscious Mind): Lưu trữ những ký ức và cảm xúc chưa được chuyển hóa. Sử dụng Force (Bạo lực): Bản ngã dùng lực để đè nén, che giấu hoặc kháng cự, dẫn đến tiêu hao năng lượng và tạo ra các phản ứng không tự nguyện. Biểu hiện của Nội kết: Positionality: Tạo ra những lập trường cứng nhắc, định kiến và phán xét. Phản ứng không tự nguyện: Gây ra những cơn tức giận, sợ hãi hoặc tự hủy hoại mà ý thức (Conscious mind) không kiểm soát được. Rào cản năng lượng: Ngăn chặn cá nhân tiếp cận với Sức mạnh đích thực (Power) và an bình nội tại. Phương pháp Hóa giải: 1.  Nhận thức phi nhị nguyên (Non-dual awareness): Quan sát khối nội kết mà không phân chia đúng/sai, không nỗ lực thay đổi nó ngay lập tức. 2. Phó thác (Surrender): Chấp nhận sự hiện diện của khối năng lượng đó và cho phép nó tự giải tỏa khi đi ngang qua tâm thức. 3. Vô sở cầu nhi tự đắc: Không mong cầu kết quả tức thì, để quá trình tháo gỡ diễn ra tự nhiên theo quy luật của Trường năng lượng.