December 6, 2025

Chủ nghĩa tư bản nhập môn (10 - Bài cuối)

 

Eamonn Butler

Phạm Nguyên Trường dịch

Đinh Tuấn Minh hiệu đính

Chương 11 

Tương lai của chủ nghĩa tư bản 

Chủ nghĩa tư bản có nhiều điểm mạnh và có nhiều cơ hội để nó lan tỏa hòa bình và thịnh vượng trên toàn thế giới. Nhưng nó cũng có những điểm yếu và phải đối mặt với những mối đe dọa có thể làm cho nó suy yếu thêm như phá vỡ các cấu trúc mong manh của nó, bóp méo tác dụng của nó và làm suy yếu sự ủng hộ của công chúng. 

Những điểm mạnh 

Thịnh vượng. Luận cứ quan trọng nhất của những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản - ngay cả khi nó bị quản lý chặt chẽ như trong giai đoạn hiện nay - là nó nhanh chóng thúc đẩy thịnh vượng, đặc biệt là đối với những người nghèo nhất. Toàn cầu hóa các thị trường và vốn trên thế giới trong giai đoạn gần đây đã giúp cho hàng tỷ người thoát khỏi cảnh nghèo đói cùng cực, gia tăng thu nhập và của cải, dịch vụ chăm sóc sức khỏe được cải thiện, tuổi thọ gia tăng, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm, khả năng đọc viết và tính toán (đặc biệt là ở phụ nữ) cũng gia tăng và nhiều lợi ích khác nữa. 

Ngoài ra, việc tiếp cận với nguồn vốn toàn cầu làm cho hoạt động kinh doanh của các nền kinh tế mới nổi trở nên hiệu quả hơn. Tạo điều kiện cho người dân địa phương được hưởng các sản phẩm tốt hơn, rẻ hơn và phong phú hơn, đồng thời thu nhập của họ cũng tăng lên. Năng suất gia tăng cũng giúp các doanh nghiệp mới thu được thành công dễ dàng hơn, giảm thiểu rủi ro trong quá trình thành lập doanh nghiệp mới và khuyến khích đổi mới và tiến bộ. 

Giải phóng tâm trí. Bằng cách làm cho sản xuất trở thành dễ dàng hơn và có năng suất hơn, cung cấp những món hàng hóa giúp giải phóng con người khỏi những công việc cực nhọc và tạo ra của cải giúp con người không phải lo lắng về cuộc sống hàng ngày, chủ nghĩa tư bản giải phóng con người để họ tập trung trí óc vào những công việc mà họ đánh giá cao và sử dụng trí thông minh của mình nhằm giải quyết những vấn đề khác. Tất nhiên là việc giải phóng nhiều bộ óc khác nhau để họ cùng suy nghĩ về cách sống của chúng ta cũng thúc đẩy tiến bộ. Những người khác nhau đưa ra những kế hoạch khác nhau và những kế hoạch này có thể được kiểm nghiệm trên thị trường hàng hóa – và cả thị trường tư tưởng nữa. Lúc đó, chúng ta có thể dùng những ý tưởng mang lại hiệu quả và loại bỏ những ý tưởng vô ích, nhanh hơn hẳn so với việc chúng ta cam kết thực hiện một kế hoạch quốc gia duy nhất nào đó. 

Nhiều thế giới không tưởng (utopia) mang tính cá nhân. Chủ nghĩa tư bản là đa nguyên. Như Brennan nói, chủ nghĩa tư bản không thúc đẩy một thế giới không tưởng – nó thúc đẩy nhiều thế giới không tưởng. Những người khác nhau có thể theo đuổi những tham vọng và sứ mệnh khác nhau, đúng như họ lựa chọn. Họ không cần phải đợi chính phủ giao cho mình vai trò mà mình phải đảm nhận trong dự án tập thể. Họ có thể xây dựng thế giới không tưởng của riêng mình mà không ngăn cản bất kỳ người nào khác xây dựng thế giới không tưởng của người đó. Tất cả những việc mà họ phải làm là hòa đồng với những người khác – không cần đàn áp người khác như Marx nói về giai cấp tư sản. Chủ nghĩa tư bản tạo điều kiện cho nhiều loài hoa khác nhau cùng khoe sắc. 

Bản chất con người. Chủ nghĩa tư bản còn bắt nguồn từ bản chất của con người. Mọi người đều gắn bó chặt chẽ với tài sản của chính mình: những tài sản mà họ sở hữu là thành tố rất quan trọng và có ý nghĩa đối với họ không chỉ trên phương diện giá trị vật chất. Ý tưởng của chúng ta về công lý cũng sâu sắc như thế, chúng ta cũng gắn bó với những người tôn trọng lời hứa mà họ đã đưa ra. Trong khi chung sống hòa bình với những người khác, thì mọi người đều muốn được tự do sống và hành động theo lựa chọn của chính mình. Ngoài ra, mọi người đều muốn cải thiện tình trạng của chính mình và của gia đình mình. Đây là nền tảng của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi, ngay cả ở những nước theo chủ nghĩa tập thể tàn bạo nhất, người ta vẫn cố gắng xây dựng và bảo vệ tài sản của chính mình, và các thị trường xuất hiện ngay khi có cơ hội. 

Những điểm yếu 

Dựa vào nhà nước và chủ nghĩa thân hữu. Thật khó mà biện hộ được cái mà hiện nay người ta thường gọi là “chủ nghĩa tư bản”. Trên thực tế, cái được gọi là “chủ nghĩa tư bản” ở hầu hết các nước trên thế giới là các nền kinh tế hỗn hợp, các doanh nghiệp tư nhân bị đánh thuế rất cao và bị quản lý chặt chẽ, một nửa hoặc hơn một nửa thu nhập quốc gia nằm trong tay chính phủ, và các doanh nghiệp nhà nước nắm độc quyền hoặc gần như độc quyền trong các lĩnh vực quan trọng như y tế, giáo dục, dịch vụ công, vận tải đường sắt và bưu chính. Thường thì đấy là các nền kinh tế thân hữu, các doanh nghiệp lớn gia tăng sức mạnh kinh tế của mình bằng cách tìm kiếm ân huệ mà các chính trị gia có thể ban phát, đôi khi để đổi lấy những khoản hỗ trợ về mặt tài chính. 

Tuy nhiên, biện hộ cho “chủ nghĩa xã hội” ở các nước như Liên Xô, Trung Quốc dưới thời Mao, Bắc Triều Tiên hay Cuba cũng là công việc thiên nan vạn nan bởi chúng thiếu vắng trách nhiệm giải trình và dân chủ, gắn với chế độ chuyên chính, đảng quyền, các cuộc thanh trừng và nạn đói đã cướp đi mạng sống của có lẽ hàng trăm triệu người. 

Khác biệt là chủ nghĩa thân hữu không phải là thành phần tất yếu của chủ nghĩa tư bản, trong khi những tệ nạn kia lại là thành phần tất yếu của chủ nghĩa xã hội. Đấy là vì chủ nghĩa tư bản được xây dựng trên nguyên tắc tự do cá nhân và trao đổi tự nguyện. Ngược lại, chủ nghĩa xã hội cần quyền lực chính trị chỉ đạo mọi hoạt động kinh tế. Trong chủ nghĩa tư bản, người ta không cần phải đồng ý với nhau: họ có thể tiến hành công việc kinh doanh của riêng mình và tiêu thụ những món hàng hóa mà họ ưa thích mà không cần những người khác đồng ý với lựa chọn của mình. Nhưng, chủ nghĩa xã hội cho là có mục tiêu chung và các phương tiện tập thể để thực hiện mục tiêu đó, đấy là cái mà mọi người phải đồng ý. Những người không đồng ý cũng bị buộc phải tham gia vào doanh nghiệp tập thể. 

Do đó, trong khi chủ nghĩa tư bản dựa trên sự đa dạng và lựa chọn, thì chủ nghĩa xã hội dựa trên tuân thủ và quyền lực. Nhưng tuân thủ không phải là trợ thủ của tiến bộ, trong khi quyền lực làm tha hóa ngay cả những người chí công vô tư nhất – và lôi cuốn được những kẻ lợi dụng nó một cách tàn nhẫn nhất. Có thể tưởng tượng ra chủ nghĩa tư bản “thuần khiết”, trong đó các doanh nghiệp chỉ có thể phát triển thịnh vượng bằng cách phục vụ khách hàng trong quá trình cạnh tranh công khai, và không nhận được các đặc quyền đặc lợi theo lối ô dù của nhà nước. Nhưng không thể hình dung nổi chủ nghĩa xã hội “thuần khiết”, trong đó mọi người đều vui vẻ đồng ý tham gia vào doanh nghiệp tập thể mà không có bộ máy quyền lực nhà nước ép nào buộc họ tham gia. 

Đạo đức giả trong kinh doanh. Nhưng quyền lực tạo điều kiện cho các chính trị gia dành ưu ái cho những doanh nghiệp được họ bảo trợ là lý do giải thích vì sao những người hoạt đông kinh doanh lại là những người bảo vệ yếu kém nhất, hay thậm chí là kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa tư bản. Các tập đoàn kinh doanh ít khi ủng hộ cạnh tranh trong lĩnh vực của mình. Ngược lại, họ kêu gọi ban hành các quy định nhằm hạn chế cạnh tranh – những người này thường tuyên bố rằng đang cứu công chúng khỏi những kẻ điều hành “cao bồi” nguy hiểm. Mặc dù tuyên bố ủng hộ “chủ nghĩa tư bản”, nhưng họ lại rất khéo léo trong việc thuyết phục các chính trị gia ban phát các khoản trợ cấp, hỗ trợ, cứu trợ và những khoản ưu đãi khác. 

Việc các doanh nhân không có khả năng (hoặc không sẵn sàng) giải thích cho người khác biết những lợi ích chung của hoạt động khởi lập nghiệp và thị trường tự do chắc chắn là khiếm khuyết to lớn của chủ nghĩa tư bản và là đe dọa to lớn đối với nó. Bằng cách trộn lẫn chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa thân hữu, những doanh nghiệp được cho là thành công ấy không mang lại lợi ích gì cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Ý tưởng về chủ nghĩa tư bản đã khá khó hiểu rồi: dễ dàng hiểu được những lợi ích trước mắt của các biện pháp can thiệp, nhưng lợi ích lâu dài của việc để cho thị trường và cạnh tranh hoạt động thì khó hiểu hơn; và ít người nhận thức được rằng trật tự thị trường mong manh đến mức nào, và những biện pháp can thiệp chính trị nho nhỏ cũng có thể làm cho nó trở thành hỗn loạn tới mức nào. 

Giải thích sai. Hơn nữa, vì trong hầu hết các nền kinh tế đã phát triển là kinh tế hỗn hợp, cho nên khó có thể phân biệt được sự kiện nào là do chủ nghĩa tư bản gây ra và sự kiện nào là do các can thiệp chính trị làm cho nó biến dạng. Ví dụ, gần như tất cả các chính trị gia và hầu hết người dân bình thường đều tưởng tượng rằng vụ sụp đổ tài chính năm 2007/8 là do chủ nghĩa tư bản và “các chủ ngân hàng tham lam” tạo ra. Nhưng những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản phản bác rằng cuộc khủng hoảng thực sự là do người ta đã giữ lãi suất thấp và có chính sách tiền tệ lỏng lẻo suốt hàng thập kỷ, và các quy định (có mục đích tốt nhưng sai lầm) của chính phủ Hoa Kỳ, đã buộc các ngân hàng phải cho những gia đình nghèo vay vốn mà họ biết là có rủi ro tín dụng – châm ngòi cho thảm họa cho vay thế chấp dưới chuẩn đã làm sụp đổ một số định chế tài chính. Họ cũng cảnh báo rằng phản ứng của các chính phủ đối với cuộc khủng hoảng - bảo lãnh các ngân hàng, tạo ra nhiều tiền hơn và giảm chi phí vay hơn nữa - chỉ kéo dài cơn đau, làm cho kinh tế đình trệ thêm. Họ cho rằng giải pháp đúng đắn là ổn định các ngân hàng bằng cách đưa họ vào cạnh tranh, áp dụng các chính sách tiền tệ và tín dụng bền vững, và để các thị trường hoạt động nhằm khôi phục lại nền kinh tế lành mạnh. 

Do đó, những giải thích mà chúng ta thường gặp về sụp đổ tài chính là không đúng. Nhưng các sự kiện của giai đoạn năm 2007/8, các biện pháp khắc phục sai lầm được áp dụng và thời gian tăng trưởng thấp kéo dài diễn ra sau đó, đã làm cho nhiều người vỡ mộng đối với với chủ nghĩa tư bản và thị trường tự do – kéo theo những lời kêu gọi cần có thêm nhiều biện pháp kiểm soát, quy định và các biện pháp can thiệp khác của chính phủ. Không nghi ngờ gì rằng, tất cả những sự kiện này làm cho ý tưởng về chủ nghĩa tư bản bị suy yếu nghiêm trọng.

 Cơ hội 

Sự lan rộng của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục lan tỏa. Mặc dù trước đây người ta tưởng rằng chủ nghĩa cộng sản cuối cùng sẽ thống lĩnh trên phạm vi toàn cầu, nhưng hiện nay có rất ít khu vực trên thế giới mà các ý tưởng và thực tiễn tư bản chủ nghĩa chưa thâm nhập được vào. Đầu những năm 1990, sau khi Liên Xô sụp đổ, phần lớn châu Á, Đông Âu và châu Phi đã tham gia vào mạng lưới thương mại thế giới và tiến hành các cuộc cải cách tạo điều kiện cho người dân xây dựng các doanh nghiệp của riêng mình và buôn bán tự do hơn. Đến lượt mình, sự kiện này đã tạo ra tầng lớp trung lưu mới, đấy là những người điều hành hoặc làm việc trong các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa, và những người khao khát được hưởng nhiều hơn tự do và sự thịnh vượng hơn. Có nhiều thị trường mở cửa hơn, cộng với những tiến bộ trong lĩnh vực truyền thông và vận tải trên toàn thế giới, chắc chắn là thay đổi sẽ gia tăng mạnh mẽ. Các chính trị gia có thể lo lắng về rằng thương mại tự do sẽ làm giảm công ăn việc làm ở trong nước, nhưng tất cả các nhà kinh tế hộ chủ nghĩa tư bản đều nhận ra lợi ích của nó: hiện nay đại đa số người dân trên thế giới sống dựa vào chủ nghĩa tư bản và thương mại để có thể nhận được những món hàng hóa rẻ và chất lượng cao. 

Trao quyền cho người nghèo. Việc đảm bảo rằng những người nghèo nhất cũng có thể tham gia một cách trọn vẹn vào quá trình phát triển này là thách thức, nhưng cũng là cơ hội. Ví dụ, mặc dù người dân ở những nước nghèo hơn có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn, nhưng tài sản của họ không phải là vốn: thực tế là, những khoản tiết kiệm của họ thường nằm dưới dạng tiền mặt mà không mang lại hiệu quả. Như nhà kinh tế học người Peru, Hernando de Soto Polar (1941–), đã nhận xét, một số người nghèo nhất thế giới xây nhà ở ở những nơi họ có thể xây, nhưng không có chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp, và họ điều hành các doanh nghiệp và cửa hàng mà không xin được giấy phép hành nghề theo yêu cầu của nhà nước. Vì nhà cửa và cơ sở kinh doanh của họ không có các chứng nhận hợp pháp nên họ không thể sử dụng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay và hợp đồng, do đó, họ không bao giờ có thể phát triển doanh nghiệp hoặc có được mức độ an toàn tài chính thực sự. Tuy nhiên, nhà nước có thể giúp những người này phát triển thịnh vượng bằng cách cấp cho họ giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai và làm cho các quy định trở thành đơn giản và thực tế hơn – biến tiền tiết kiệm của họ thành vốn sản xuất và trao cho họ cổ phần thực sự trong nền kinh tế quốc gia. 

Không có giới hạn địa lý hoặc đạo đức. Không có giới hạn tự nhiên nào đối với việc mở rộng chủ nghĩa tư bản và các thị trường mới. Đổi mới sáng tạo vẫn tiếp tục dựa trên đổi mới sáng tạo trước đó, nó tạo ra những cơ hội mới cho các nhà khởi lập nghiệp trong việc đáp ứng nhu cầu của người dân một cách tốt hơn, rẻ hơn, nhanh hơn và thậm chí được đưa đến những địa điểm xa xôi hơn, trên những khoảng cách thậm chí còn lớn hơn. Không ai biết tự do và tiến bộ sẽ đưa chúng ta đến đâu – chắc chắn là nó sẽ làm nản lòng những người bi quan và những người nhà hoạch định, nhưng lại kích thích những người theo chủ nghĩa cá nhân và những người lạc quan, họ là những người chiếm đa số trong nhân loại của chúng ta hiện nay. 

Cơ hội cũng không chỉ dừng lại ở lợi ích vật chất. Giá trị của quyền sở hữu, độc lập, tự do, hòa bình và bác bỏ vũ lực là thành phần của chủ nghĩa tư bản cũng được củng cố bằng sự mở rộng của thị trường và thương mại tự do. Đấy chính là lợi ích mang tính đạo đức, góp phần nâng cao đời sống tinh thần con người. 

Những mối đe doạ 

Các nhà trí thức. Có lẽ đe dọa lớn nhất đối với chủ nghĩa tư bản xuất phát từ giới trí thức. Động cơ của họ có thể là lo lắng hoặc không lo lắng đến lợi ích chung: có lẽ họ cảm thấy là bị thị trường đánh giá thấp, hoặc tưởng tượng rằng mình là người điều hành trật tự kinh tế mới, hoặc không tin tưởng rằng người khác có thể đưa ra những lựa chọn hợp lý. Dù sao mặc lòng, công chúng và các chính trị gia nhìn chung vẫn coi giới trí thức là những người có hiểu biết và khôn ngoan, người ta chấp nhận những lời phê phán chủ nghĩa tư bản của giới trí thức và rút ra kết luận là nó cần phải được sửa chữa một cách nghiêm túc. 

Nhưng ít trí thức hiểu được bản chất và cơ chế hoạt động phức tạp của chủ nghĩa tư bản, và thường là có rất ít trải nghiệm mang tính cá nhân về hoạt động của nó. Do đó, họ thường tưởng tượng ra những vấn đề, họ chẩn đoán sai nguyên nhân và các biện pháp khắc phục mà họ đưa ra cũng sai nốt. 

Sai lầm của sách giáo khoa. Ví dụ, nhiều nhà trí thức vẫn chìm đắm trong mô hình “cạnh tranh hoàn hảo” trong sách giáo khoa, với giả định rằng có rất nhiều người bán các món hàng hóa giống hệt nhau với giá như nhau. Vì vậy, họ cho rằng bất kỳ sự thay đổi nào về giá cả hoặc thị phần đều chắc chắn là sai. Ví dụ, họ coi sự tăng trưởng nhanh chóng của một chuỗi siêu thị là dấu hiệu cho thấy thị trường “không hoàn hảo” – chứ không phải là chỉ dấu cho thấy người tiêu dùng chỉ đơn giản là thích những hàng hóa mà siêu thị cung cấp. Họ coi việc siêu thị giảm giá là “hành vi săn mồi” chứ không phải là nỗ lực giành khách hàng trong thị trường đang có những thay đổi nhanh chóng. Kết quả là, họ đề xuất khôi phục tình trạng “cạnh tranh hoàn hảo” huyền thoại bằng cách hạn chế, không cho các công ty phát triển hoặc kiểm soát giá cả – tức là giết chết chính những động lực làm cho thị trường trở nên năng động. Họ không nhận ra rằng cạnh tranh chỉ diễn ra vì đời sống kinh tế là không hoàn hảo, các công ty cố gắng lấp đầy những khoảng trống mới phát sinh và chen lấn nhau nhằm cung cấp một thứ gì đó khác biệt, tốt hơn và rẻ hơn – chứ không phải những sản phẩm giống hệt như của những người khác. 

Chủ nghĩa dân túy. Tất nhiên là hiện nay chủ nghĩa tư bản không bị chủ nghĩa xã hội nhà nước đe dọa lấn át như hồi trước những năm 1990 nữa. Chủ nghĩa xã hội không còn là một bản thiết kế hoành tráng; chỉ còn lại một loạt những lời phàn nàn về hoạt động và kết quả của chủ nghĩa tư bản, ví dụ như hiện tượng bất bình đẳng. Nhưng chủ nghĩa tư bản không bao giờ hứa hẹn sẽ giải quyết tất cả các tệ nạn xã hội; nó cũng không thể giải quyết được: giá trị của nó nằm ở việc sản xuất và phân phối hiệu quả các hàng hóa kinh tế. Và nhiều kết quả bị người ta chỉ trích thực sự là kết quả của sự can thiệp của chính phủ, chứ không phải của chủ nghĩa tư bản. Chính trị dân túy, với những chẩn đoán và biện pháp sửa chữa quá đơn giản, đã dẫn đến kết quả là có quá nhiều vụ can thiệp vào lĩnh vực kinh tế. Chúng ta đã chuyển từ ý tưởng về sở hữu nhà nước đối với các tư liệu sản xuất sang kiểm soát của nhà nước đối với những tư liệu này. Chẳng có gì ngạc nhiên nếu sự can thiệp chính trị như thế sẽ tạo ra những hậu quả tai hại. 

Kiểm soát từng bước một. Mặc dù vậy, các quy định vẫn ngày càng nhiều thêm. Có nhiều lý do: ví dụ, những quy định cần các cơ quan chính phủ thực hiện và những cơ quan đó đương nhiên là có lợi trong việc bành trướng vai trò của mình, và họ thường trở thành nguồn gốc của những quy định mới và thậm chí còn phức tạp hơn nữa. Khi chính phủ trở thành một bên tham gia kinh tế ngày càng lớn hơn và quan trọng hơn, người ta sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tìm kiếm đặc lợi, chủ nghĩa thân hữu và tham nhũng; và lợi ích tiềm tàng từ vận động hành lang sẽ càng lớn. Các chính trị gia giành được quyền lực, địa vị và đặc quyền, đồng thời rất thích áp đặt các giá trị của riêng mình lên đời sống kinh tế và xã hội – thể hiện ưu điểm của chính mình trước các cử tri với hy vọng là họ sẽ tái đắc cử. 

Thật đáng tiếc, và thậm chí còn tồi tệ hơn khi các quy định hầu như luôn phản tác dụng, chính xác là vì người ta chưa hiểu rõ và cũng ít khi xem xét tác động lâu dài của những biện pháp can thiệp như thế. Ví dụ, luật tiền lương tối thiểu có thể là biện pháp tích cực trong việc chống đói nghèo; nhưng trên thực tế, chúng có tác dụng hoàn toàn ngược lại, với cái giá là những người có nguy cơ nghèo, người trẻ và không có kỹ năng sẽ mất việc. Hoặc các quy định yêu cầu thử nghiệm lâu dài các loại thuốc mới có thể giúp công chúng tránh được việc sử dụng các loại thuốc chưa được thử nghiệm; nhưng đồng thời, lại không cho những người mắc bệnh nan y dùng những loại thuốc mới, có thể cứu được họ. Và việc kiểm soát tiền thuê nhà dường như có thể giúp người dân có nơi ở; nhưng với việc làm cho hoạt động cho thuê bất động sản trở nên kém lợi nhuận, chủ nhà sẽ đưa nhà và văn phòng ra khỏi thị trường cho thuê hay sẽ không bảo dưỡng như trước nữa. 

Đáng buồn là, người ta lên án chủ nghĩa tư bản, chứ không lên án các chính trị gia, vì đã để xảy ra những hậu quả như thế – thực tế này luôn luôn dẫn đến những lời kêu gọi rằng cần ban hành nhiều quy định hơn nữa. Tuy nhiên, bỏ những quy định đã có là công việc thiên nan vạn nan, vì những quy định này đã tạo ra các nhóm lợi ích thâm căn cố đế sống dựa vào chúng – chẳng hạn như những người được hưởng giá thuê nhà rẻ do nhà nước kiểm soát, đấy là chưa nói đến các cơ quan ban hành quy định. Quy định ngày càng phình ra, lan tràn vào mọi lĩnh vực tạo ra đe dọa nghiêm trọng đối với tương lai của chủ nghĩa tư bản. 

Mức độ dẻo dai của chủ nghĩa tư bản 

Đáng chú ý là, chủ nghĩa tư bản có khả năng phục hồi và rất dẻo dai. Dưới hình thức này hay hình thức khác, nó đã tồn tại cùng với chúng ta suốt hàng ngàn năm qua. Nó là trật tự xã hội theo chủ nghĩa cá nhân chứ không theo chủ nghĩa tập thể, nó tạo điều kiện cho các cá nhân phát hiện được những biện pháp riêng của mình nhằm đối phó với tất cả những hiện tượng xã hội, chính trị hoặc công nghệ mà đời sống đặt ra trước mặt họ. Bằng cách khai thác năng lực sáng tạo của từng cá nhân, chủ nghĩa tư bản có thể tồn tại ngay cả khi người ta áp dụng những biện pháp can thiệp chính trị tai hại nhất: từ các quy định kém hiệu quả, đến các chính sách kinh tế sai lầm, và thậm chí cả việc hoạch định và kiểm soát toàn diện của nhà nước. 

Không nghi ngờ gì nữa, phiên bản chủ nghĩa tư bản bị chính trị hóa đang giữ thế thượng phong trong giai đoạn hiện nay có thể được cải thiện, đó là loại bỏ chính trị và sự can thiệp của nhà nước, để cho mọi người được tự do làm việc, một cách có hệ thống và bao trùm trong mọi lĩnh vực của nó, vì lợi ích của tất cả mọi người. Nếu không có chủ nghĩa tư bản đích thực, thì khó có thể hình dung được tương lai thịnh vượng và tự do cho nhân loại. 

 

Chương 12 

Tài liệu đọc thêm 

Những cuốn sách nhập môn đầy thù địch 

Đáng chú ý là rất nhiều tác phẩm gọi là khai tâm về chủ nghĩa tư bản nhưng thực ra lại là những cuốn sách phê phán, lấy cảm hứng từ những tác phẩm phân tích lịch sử của Karl Marx. 

Ví dụ như cuốn Chủ nghĩa tư bản: dẫn nhập cực ngắn (Capitalism: A Very Short Introduction 2004), của James Fulcher, chia sẻ quan điểm của Marx về lợi nhuận, hệ thống tiền công, bóc lột, nạn nghèo đói ở đô thị và những xu hướng lớn trong lịch sử, và áp dụng những suy nghĩ như thế nhằm giải quyết bất ổn tài chính và toàn cầu hóa trong giai đoạn hiện nay. Nhưng tác phẩm này không giải thích được chủ nghĩa tư bản là gì, nó thực sự hoạt động như thế nào hoặc những ý tưởng làm điểm tựa cho nó. 

Mục Wikipedia về chủ nghĩa tư bản (https://en.wikiped ia.org/wiki/Capitalism) là một bài viết lộn xộn được nhiều tác giả chấp bút, chủ yếu chấp nhận quan điểm của chủ nghĩa Marx. Mục này đi từ các định nghĩa về chủ nghĩa tư bản của Marx sang quan điểm của họ về lịch sử, tới các hình thái và các đặc trưng của chủ nghĩa tư bản, tới thị trường, tài sản và lợi nhuận, vốn tài chính, độc quyền, các thị trường, chủ nghĩa tư bản và chiến tranh, rồi một lần nữa tới các hình thức tư bản chủ nghĩa, vai trò của chính phủ và nhiều chỉ trích hơn nữa, những quan điểm này chỉ bị phản đối bằng những đoạn ngắn – làm cho độc giả hoàn toàn hoang mang. 

Cuốn sách của Ha-Joon Chang, 23 điều họ không nói với bạn về chủ nghĩa tư bản (23 Things They Don’t Tell You About Capitalism - 2011), là một tập các bài tiểu luận, gợi ý rằng chủ nghĩa tư bản là hệ thống tốt nhất trong số những hệ thống tồi tệ, và cần phải được kiểm soát và điều chỉnh. Tác phẩm này gợi ý rằng kinh doanh nhắm vào lợi ích ngắn hạn, rằng toàn cầu hóa thu được rất ít thành công, của cải gắn liền với người giàu, chủ nghĩa tư bản đang ngày càng ít hiệu quả và dù nói thế nào thì thị trường tự do cũng là hiện tượng không có thật. 

Cuốn sách của Chang nên được đọc song hành, đối sánh cùng với cuốn 23 điều chúng tôi đang nói với bạn về chủ nghĩa tư bản (23 Things We Are Telling You About Capitalism) của Tim Worstall (2014, http:// tinyurl.com/y8fxth82), phản bác lại rằng các chính trị gia mới là những người theo đuổi lợi ích ngắn hạn, chủ nghĩa bảo hộ không có tác dụng và dựa vào quyền lực, các quy định thúc đẩy chủ nghĩa thân hữu và các chính phủ cồng kềnh không thúc đẩy tiến bộ và thiếu linh hoạt hơn hẳn thị trường tự do. 

Những cuốn sách nhập môn có thái độ đồng cảm 

Có nhiều tác phẩm nhập môn hữu ích do những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản chấp bút, đấy là những người có cơ hội hiểu và giải thích nó một cách rõ ràng. Có lẽ nên bắt đầu từ một chuỗi băng video và cuốn sách Tự do lựa chọn (Free to Choose – 1980) của Milton và Rose Friedman, bảo vệ mạnh mẽ và có sức hấp dẫn chính sách tự do kinh tế về không can thiệp, thể hiện quan hệ giữa tự do và tiến bộ kinh tế và bàn về nhiều vấn đề chính sách như thuế cao, tiêu chuẩn thấp trong giáo dục công lập và các dịch vụ khác, chính sách tiền tệ và phúc lợi (trong đó Friedmans đề xuất thuế thu nhập âm). 

Hai ông bà cũng là đồng tác giả cuốn Chủ nghĩa tư bản và Tự do (Capitalism and Freedom - 1962) xuất bản trước đó nhiều năm. Mặc dù những đoạn viết về chính sách, tập trung nhiều vào chính sách tiền tệ (lúc đó lạm phát là vấn đề lớn) đã lỗi thời, thì vẫn còn có nhiều nội dung hữu ích bàn về vai trò của chính phủ trong việc tạo ra những công ty độc quyền, biện pháp mà chủ nghĩa tư bản dùng để làm giảm phân biệt đối xử, các quy định có lợi cho các nhà cung cấp chứ không làm lợi cho công chúng, và vai trò quan trọng của tự do kinh tế. 

Robert Hessen có bài giới thiệu ngắn gọn về chủ nghĩa tư bản trên Online Library of Economics and Liberty (http://www.econlib.org/library/Enc/Capitalism.html), chỉ ra rằng cụm từ “chủ nghĩa tư bản” đã được người ta phát minh ra như một thuật ngữ thù địch và cho đến tận ngày nay vẫn còn những người nghĩ rằng các nhà tư bản muốn đưa chúng ta trở lại các thị trấn công nghiệp đầy khói bụi của nước Anh hồi thế kỷ XIX. Biện pháp sửa chữa được người ta đề xuất - chủ nghĩa xã hội không tưởng của thỏa thuận và hài hòa - không có hiệu quả, vì vậy Marx sáng tạo ra chủ nghĩa xã hội “khoa học”, với dự đoán là chủ nghĩa tư bản sẽ cáo chung. Khi chủ nghĩa tư bản phồn vinh, thì những người phê phán lại quay sang phàn nàn về thái độ coi trọng vật chất và “sự thừa mứa” mà chủ nghĩa tư bản gây ra. Đáng buồn là, Hessen viết, người phương Tây không hiểu hệ thống của chính mình và tỏ ra quá kém cỏi trong việc bảo vệ nó. 

Có thêm tí triết học, tác phẩm Tại sao không phải là chủ nghĩa tư bản? (Why not Capitalism -2014) của Jason Brennan so sánh đạo đức trong chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, khẳng định rằng tầm nhìn xã hội chủ nghĩa về bản chất không có đạo đức hơn tầm nhìn tư bản chủ nghĩa. Ngược lại, chủ nghĩa tư bản dựa trên hợp tác tự nguyện, tôn trọng lẫn nhau và quan tâm đến người khác. Khác với chủ nghĩa xã hội, các nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản hoạt động hiệu quả cả trong các xã hội lớn cũng như trong các xã hội nhỏ. Chủ nghĩa tư bản cũng bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên, đồng thời tạo điều kiện cho mọi người phát triển và thể hiện chính mình cũng như theo đuổi tầm nhìn không tưởng của riêng mình. 

Chủ nghĩa tư bản: Phiên bản cô đọng (Capitalism: A Condensed Version - 2007) của Arthur Seldon hơi lỗi thời (được rút gọn là từ tác phẩm xuất bản năm 1990), nhưng trái ngược với quan điểm thông thường, tác phẩm này xem xét cách thức mà Cách mạng Công nghiệp mang đến cho người dân nhà ở thay thế cho những túp lều lụp xụp, quần áo giá rẻ thay thế cho áo quần vá chằng vá đụp, thời gian làm việc ngắn hơn, điều kiện vệ sinh tốt hơn và nhiều lợi ích khác nữa. Sau đó, tác phẩm này đưa ra những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa tư bản, chẳng hạn như tài sản, hệ thống giá cả và quyền của người tiêu dùng, trước khi chỉ ra rằng phúc lợi, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nhà ở mà không cần nhà nước cung cấp. 

Trong tác phẩm Chủ nghĩa tư bản, dân chủ và cửa hàng tạp hóa khá tốt của Ralph (Capitalism, Democracy, and Ralph's Pretty Good Grocery - 2001), John Mueller giải thích rằng chủ nghĩa tư bản và chế độ dân chủ không phải là lý tưởng cũng không phải tai họa, mà là “khá tốt” với những việc mà chúng làm. Mặc dù người ta nói rằng chủ nghĩa tư bản được xây dựng trên cơ sở lòng tham, nhưng trên thực tế, nó tưởng thưởng cho những hành động trung thực, công bằng, văn minh và nhân ái. Và trong khi chế độ dân chủ được cho là cào bằng và mọi người đều tham gia, thì trên thực tế nó lại là xã hội hỗn loạn, bất bình đẳng và thờ ơ. Cùng với nhau, hai thiết chế này cung cấp cho chúng ta tự do, an ninh và thịnh vượng – nhưng không phải là thiên đường. 

Bài giảng của Matt Ridley, The Case for Free-Market Anti-Capitalism (2017), chỉ ra rằng thị trường tự do không phải là chủ nghĩa tư bản thân hữu, các tập đoàn lớn và nạn độc quyền. Các công ty lớn đã làm cho thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản” không còn sử dụng được nữa, vì giờ đây họ không dựa vào tự do kinh tế mà dựa vào các khoản ưu đãi, trợ cấp, giảm thuế và các quy định của chính phủ. Nhưng trong hai mươi năm qua, tự do kinh tế đã giảm một nửa tỷ lệ nghèo đói, thúc đẩy năng suất và sự hào phóng, đồng thời làm giảm tệ phân biệt đối xử và bất bình đẳng. 

Cuốn sách hay nhất về thị trường (The Best Book on the Market - 2008) của Eamonn Butler là bản hướng dẫn ngắn gọn về cách thức hoạt động của chủ nghĩa cá nhân trong lĩnh vực kinh tế. Nó chỉ ra rằng thị trường không bao giờ “hoàn hảo” – nhưng chính sự không hoàn hảo lại thúc đẩy mọi người hoạt động. Đúng là thị trường có thất bại: nhưng sự thất bại của chính phủ thậm chí còn tồi tệ hơn. Trao đổi làm gia tăng giá trị; còn kiểm soát thì giết nó. Cuốn sách bàn tới vai trò của giá cả và cạnh tranh trong việc đưa nguồn lực đến những nơi mà chúng có giá trị sử dụng cao nhất, vai trò của thái độ trung thực và tài sản, và đạo đức của thị trường. 

Tác phẩm Cuộc cách mạng của chủ nghĩa tư bản (The Capitalist Revolution - 1986) của Peter Berger chỉ ra cho chúng ta thấy những đặc điểm của chủ nghĩa tư bản - tài sản, hàng hoá vốn, thị trường tự do, phân bổ tài sản một cách tự động và hệ thống pháp luật có thể dự đoán được, đấy là những nhân tố thúc đẩy hiệu quả và tiến bộ. Chủ nghĩa tư bản cung cấp cho chúng ta chỗ nương thân khi muốn trốn tránh chính trị, khác hẳn chủ nghĩa xã hội, phải được áp đặt bằng vũ lực – tầm nhìn xã hội chủ nghĩa càng lớn thì chế độ cai trị càng chuyên chính. Nhưng chủ nghĩa tư bản đang bị các loại virus thâm nhập, đấy là giới trí thức được nó tạo ra nhưng lại chống lại nó, và các nhóm lợi ích vận động hành lang để có đặc quyền đặc lợi hợp pháp. 

Bản chất nhân từ của chủ nghĩa tư bản (The Benevolent Nature of Capitalism - 2012), do George Reisman chấp bút, giải thích lý do vì sao tự do kinh tế và tự do cá nhân là cốt lõi của hòa bình, tiến bộ và an ninh. Chủ nghĩa tư bản gia tăng nguồn cung các nguồn lực có ích, cải thiện môi trường và tạo ra năng suất cực kỳ lớn. Giá cả và lãi suất đưa các khoản đầu tư tới những nơi mà chúng có giá trị sử dụng cao nhất, mang lại lợi ích cho cả người sở hữu lẫn người không sở hữu. Chủ nghĩa tư bản là duy lý, không vô chính phủ, và dựa trên cạnh tranh – chứ không phải độc quyền. 

Chủ nghĩa tư bản và nghèo đói

 Có một số tác phẩm đồng cảm với chủ nghĩa tư bản chỉ ra cho chúng ta thấy sự lan toả của chủ nghĩa tư bản đã tạo được ảnh hưởng to lớn đến quá trình xóa đói giảm nghèo. Thiên đường trên cõi thế (Heavens on Earth - 2013) của J. P. Floru chỉ ra rằng tự do hóa kinh tế ở Chile, New Zealand, Trung Quốc và Hong Kong đã thúc đẩy tăng trưởng, đồng thời giúp phát triển và lan toả của cải tới ngay cả những người nghèo nhất. Ông rút ra kết luận rằng thuế khóa, quy định và kế hoạch hóa tập trung chỉ đơn giản là kéo dài tình trạng nghèo đói. 

Tác phẩm Bảo vệ chủ nghĩa tư bản toàn cầu (In Defence of Global Capitalism - 2001) của nhà kinh tế học người Thụy Điển, Johan Norberg, là cuốn sách kinh điển về tác động tích cực của chủ nghĩa tư bản và thương mại đối với thịnh vượng, giáo dục, y tế, tuổi thọ, tỷ lệ sống ở trẻ sơ sinh và nhiều hiện tượng khác. Với đầy đủ các dữ kiện và hình vẽ, nó thể hiện sự khác biệt về thành tích giữa các nước tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa láng giềng (ví dụ như Đài Loan và Trung Quốc, Tây và Đông Đức, Nam và Bắc Triều Tiên) nhằm chứng minh những lợi ích to lớn của toàn cầu hóa và cạnh tranh. Norberg đã cập nhật luận cứ này trong cuốn Tiến bộ: Mười lý do để hướng tới tương lai (Progress: Ten Reasons to Look Forward to the Future - 2016), phác thảo những cải thiện sau khi tự do hóa trong chất lượng thực phẩm, vệ sinh, tuổi thọ, môi trường, hòa bình, xóa nạn mù chữ, tự do và bình đẳng. 

Bí ẩn của vốn (The Mystery of Capital - 2001) của Hernando de Soto Polar chỉ ra cho chúng ta thấy chủ nghĩa tư bản và các quyền tài sản đã biến những thứ đơn giản là không có giá trị thành vốn hữu ích và có giá trị. Ông nhận xét rằng mặc dù những người nghèo ở quê hương Peru của ông tự xây dựng nhà cửa và cơ sở kinh doanh, nhưng những tài sản này không phải là “vốn” hữu ích vì người dân không có chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với đất đai, cũng như tất cả các giấy phép cần thiết để có thể giao dịch. Ông khẳng định rằng những tài sản chết này có thể biến thành vốn bằng cách trao cho người dân các quyền hợp pháp – tạo điều kiện cho những người nghèo hơn có cổ phần thực sự trong nền kinh tế, để họ phát triển và thịnh vượng. 

Bàn về triết học và đạo đức 

Đạo đức của chủ nghĩa tư bản (The Morality of Capitalism - 2011), do Tom Palmer chủ biên, là một loạt bài tiểu luận do các nhà triết học, nhà văn, nhà kinh tế học và nhà tư tưởng chấp bút, trong đó có hai Khôi nguyên Nobel (Vernon Smith và Mario Varga Llosa). Họ khẳng định rằng thương mại là biện pháp chống đói nghèo tốt hơn hẳn viện trợ nước ngoài, và chủ nghĩa tư bản có tính đạo đức cao: nó được xây dựng dựa trên lòng tin chứ không phải lòng tham; nó khuyến khích đổi mới sáng tạo và tạo ra giá trị; nó làm cho người ta tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau; và nó thúc đẩy và bảo vệ các giá trị văn hóa. 

Tinh thần của chủ nghĩa tư bản dân chủ (The Spirit of Democratic Capitalism - 1982) của Michael Novak xem xét chủ nghĩa tư bản dưới góc nhìn tôn giáo và linh hồn của con người. Tác phẩm này khẳng định rằng các xã hội dân chủ, đa nguyên, tư bản chủ nghĩa tạo ra các cộng đồng quan tâm lẫn nhau thông qua các câu lạc bộ, nhà thờ, tổ chức từ thiện và các tổ chức khác của xã hội dân sự. Nhưng chúng ta sẽ đánh mất thành phần thiết yếu này trong đời sống đạo đức và sự trọn vẹn của chúng ta nếu hoạt động kinh tế và xã hội bị chính trị hóa và chính quyền chịu trách nhiệm. 

Chủ nghĩa tư bản: Lý tưởng chưa được biết tới (Capitalism: The Unknown Ideal - 1966) của Ayn Rand là một loạt bài tiểu luận đa dạng viết về nhiều chủ đề khác nhau, thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của Rand đối với chủ nghĩa tư bản triệt để. Nó chỉ ra rằng chủ nghĩa tư bản có nguồn gốc từ tự nhiên, từ quá trình tiến hóa và các quyền của nhân loại; khẳng định rằng chiến tranh có nguồn gốc không phải từ chủ nghĩa tư bản mà từ nhà nước; nó bày tỏ sự quan ngại về tình trạng các doanh nghiệp lớn bị đối xử bất công; thảo luận về các thị trường phát thanh và truyền hình; xem xét bằng sáng chế và các hình thức bản quyền; và khẳng định rằng những người ủng hộ của chủ nghĩa tư bản “theo phái bảo thủ” còn lâu mới hiểu, ủng hộ và bảo vệ các lý tưởng của nó. 

HẾT


December 5, 2025

Chủ nghĩa tư bản nhập môn (10)

 

Eamonn Butler

Phạm Nguyên Trường dịch

Đinh Tuấn Minh hiệu đính

Chương 10 

Những người phê phán và những lời phê phán 

Nực cười là, những người như nhà làm phim người Mỹ Michael Moore (1954–), nhà kinh tế học người Hàn Quốc Ha-Joon Chang (1962–), nhà hoạt động xã hội người Canada Naomi Klein (1970–) và cây bút người Pháp Thomas Piketty (1971–) đã trở thành những người giàu có nhờ những lời phê phán chủ nghĩa tư bản. Dường như nếu có nhu cầu, chủ nghĩa tư bản tưởng thưởng cho cả những người chỉ trích chính nó – tức là khác hẳn những hệ thống khác, ở đấy người ta thường dập tắt mọi lời chỉ trích. 

Đồng thời, có những học giả, thày giáo, nhà văn và nghệ sĩ cảm thấy rằng chủ nghĩa tư bản không đánh giá đúng tài năng của mình và trong xã hội công bằng hơn, họ sẽ có địa vị và quyền lực cao hơn. Nhưng họ quên mất rằng không phải chủ nghĩa tư bản mà những người khác đánh giá công việc của họ. Và ai là người có thể nói rằng không cần tôn trọng đánh giá của người khác kia về họ? 

Tuy nhiên, dù xuất phát từ đâu, rất nhiều lời chỉ trích chủ nghĩa tư bản là có cơ sở, mà những người ủng hộ nó phải giải quyết: chỉ trích về mặt đạo đức, những lo lằng về cấu trúc của các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, chỉ trích quyền lực của các tập đoàn và những lo ngại về địa chính trị. 

Phê phán về mặt đạo đức 

Bình đẳng đối đầu với thịnh vượng. Xã hội tư bản là xã hội tương đối bình đẳng, nhưng khi người ta dùng tiền để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ, thì chắc chắn sẽ có những thay đổi trong tài sản tính bằng tiền (mặc dù được cân bằng qua việc hưởng thụ những hàng hóa mà họ mua). Cách duy nhất để duy trì bình đẳng về mặt tài chính là thường xuyên phân phối lại của cải. 

Nhiều số liệu thống kê về bất bình đẳng tài chính là không đúng, bởi vì đấy là những số liệu chỉ tập trung vào thu nhập trước thuế và trước khi người nghèo được nhận các khoản phúc lợi. Nếu xét thêm thuế và các khoản phúc lợi, sự bình đẳng thực sự khá tương đồng trên toàn thế giới: 10% người có thu nhập thấp nhất nhận được khoảng 40% thu nhập trung vị. Các số liệu thống kê cũng che khuất những tác động của tuổi tác và di chuyển: những người trẻ tuổi thường chưa có nhiều của cải, vì họ chưa tạo lập được nguồn vốn con người và vốn hiện vật của mình; trong khi những người nhập cư và những người chưa có kỹ năng chấp nhận những công việc được trả lương thấp, nhưng họ coi đó là bước đệm trước khi có được những công việc được trả lương cao hơn. Trong bất kỳ hệ thống nào, sự tiến bộ như vậy cũng đều là hiện tượng tự nhiên. 

Một số nhà phê bình nhận thấy rằng bình đẳng hoàn toàn là bất khả thi, thế nên họ ủng hộ đánh thuế thừa kế thật cao, để của cải không đơn giản là chảy vào tay những người làm việc kém hiệu quả, và tất cả mọi người đều phải bắt đầu cuộc đời trên cơ sở gần như bình đẳng với nhau. Nhưng có nhiều phản đối từ góc độ đạo đức và những góc độ khác nữa đối với chính sách này. Ví dụ, đánh thuế thừa kế cao là đi ngược với bản chất con người, vì con người có ước muốn mạnh mẽ là chu cấp cho con em mình; một số người sống lâu hơn những người khác, tạo điều kiện cho họ chuyển nhiều tài sản hơn cho con cái ngay khi họ còn sống; người ta sẽ phung phí tiền bạc của mình chứ không để cho nó bị thuế lấy đi hết khi mình chết, kết quả là ít đầu tư hơn và sự thịnh vượng trong tương lai cũng sẽ thấp hơn; các công ty thuộc sở hữu gia đình cũng sẽ không còn. Và trong mọi trường hợp, của cải được thừa kế, như chúng ta đã thấy, không phải là bền vững mãi mãi. 

Trong khi, về nguyên tắc, gần như tất cả mọi người đều ủng hộ việc đối xử bình đẳng và bình đẳng về cơ hội, nhưng người ta không sẵn sàng hy sinh sự thịnh vượng của mình để có được sự bình đẳng hơn. Người ta nói rằng, tiền không thể mua được hạnh phúc, nhưng tất cả các bằng chứng đều cho thấy tiền mua được. Vấn đề chúng ta cần giải quyết không phải là bình đẳng về thu nhập mà là thu nhập đủ sống: mọi người có đủ sống một cách đàng hoàng hay không? 

Chủ nghĩa tư bản và lòng tham. Những lời chỉ trích nói rằng chủ nghĩa tư bản dựa trên lòng tham là do người ta nhầm lẫn giữa lòng tham và tư lợi: nếu người cung cấp thực sự là những kẻ tham lam, thì khách hàng sẽ bỏ đi. Và vì sao chỉ lên án thói “tham lam” trong lĩnh vực kinh doanh? Các doanh nghiệp có thể khao khát lợi nhuận, nhưng khách hàng cũng khao khát tiết kiệm hệt như thế, trong khi người lao động khao khát được trả lương cao hơn. Tuy nhiên, chúng ta ít khi nghe thấy những lời chỉ trích khách hàng và người lao động “tham lam”. 

Nhưng đôi khi có những ngoại lệ: ví dụ, có nhà phê bình nói rằng chủ nghĩa tư bản khuyến khích lòng tham trong tất cả mọi người, khiến người ta chống lại tất các loại thuế cần phải thu để chi trả cho những dịch vụ công tối cần thiết. Nhưng nghi ngờ về thuế khóa không phải là xấu: hầu hết các dịch vụ công (ví dụ như y tế và giáo dục) có thể do tư nhân cung cấp trên thị trường hoặc được các tổ chức dân sự hỗ trợ (ví dụ như các chương trình văn hóa và phúc lợi). Và mặc dù việc đánh thuế có thể là cần thiết, nhưng đó cũng là cái xấu không thể nào tránh được. Nói cho cùng, nó được thu bằng vũ lực; và được chi cho những thứ (như nhà tù, quân đội hoặc phá thai) mà một số người đóng thuế cực lực phản đối; nó khuyến khích nhà nước độc quyền cung cấp, kém hiệu quả hơn và có ít lựa chọn hơn; tạo ra những cuộc vận động hành lang và chủ nghĩa thân hữu: người ta tranh giành nhau để được những khoản trợ cấp và ưu đãi cho mình; và nó tạo ra những biện pháp khuyến khích ngược – ví dụ, thuế thu nhập làm cho công việc trở thành kém hấp dẫn hơn, thuế đánh vào tài sản thừa kế không khuyến khích tiết kiệm và đầu tư. 

Coi trọng vật chất và tiêu dùng thái quá. Chỉ trích mang tính đạo đức khác là chủ nghĩa tư bản thúc đẩy thái độ coi trọng vật chất và tiêu dùng “thái quá”. 

Luận cứ này có xuất xứ khá kỳ lạ. Những người chỉ trích chủ nghĩa tư bản thuở ban đầu nói rằng nó không thể hoạt động hiệu quả và kế hoạch hoá duy lý sẽ nâng cao tiêu chuẩn sống nhanh hơn: nhưng các sự kiện đã chứng minh rằng phê phán đó là sai. Do đó, trong thời gian gần đây người ta lại chỉ trích chủ nghĩa tư bản theo cách khác: nó quá hiệu quả, tạo điều kiện mọi người thỏa mãn nhu cầu đến mức “thái quá” và tiêu thụ cả những thứ vớ vấn, làm cho họ không còn để tâm tới những mục tiêu xã hội quan trọng. Nhưng cái được coi là “thái quá” chỉ là quan điểm – nó là cơ sở không phù hợp trong khi xây dựng chính sách công, đặc biệt là khi ám chỉ việc sử dụng vũ lực nhằm kìm hãm tiêu thụ kiểu này. 

Có thể chỉ ra hai khiếm khuyết khác trong luận cứ này. Thứ nhất, chúng ta không có thẩm quyền đạo đức nhằm ngăn cản người ta sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm mà những người này đánh giá cao, ngay cả khi chính chúng ta không đánh giá cao sản phẩm đó – và chắc chắn là không có thẩm quyền đạo đức để có thể buộc người ta hành động phù hợp với các giá trị quan của chúng ta, dù chúng ta nghĩ rằng họ có đạo đức hay không có đạo đức thì cũng thế mà thôi. Làm như thế là vi phạm quyền lựa chọn và quyền tự quyết của người khác. 

Thứ hai, lý do chính khiến chúng ta áp dụng chủ nghĩa tư bản là vì nó quá giỏi trong việc sản xuất các món hàng hóa kinh tế. Chúng ta không áp dụng chủ nghĩa tư bản nhằm tạo ra các kết quả xã hội như bình đẳng hoặc đoàn kết. Để làm công việc đó thì nó là công cụ không phù hợp, và chúng ta thật khó để lên án nó vì nó không làm được việc đó. Trên thực tế, nó tạo ra một số kết quả xã hội làm cho chúng ta hài lòng, ví du như hòa bình và thịnh vượng cho tất cả mọi người - nhưng đó chỉ là phần thưởng kèm theo mà thôi. 

Cắt giảm chi phí và chất lượng. Nhiều nhà phê bình cho rằng cạnh tranh buộc những người sản xuất phải cắt giảm chi phí đến mức thấp nhất, người tiêu dùng sẽ nhận được sản phẩm rẻ tiền, nhưng chất lượng kém. Họ phàn nàn rằng hàng hóa thường không bền – đó là điều phi lý và một sự tiết kiệm sai lầm. 

Trên thực tế, áp lực cạnh tranh buộc các nhà sản xuất phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nhu cầu gì thì cũng thế. Người ta có thể đòi hỏi chất lượng trong trường hợp này và giá rẻ trong trường hợp khác. Ví dụ, nếu thời trang thay đổi nhanh chóng, thì sản xuất những bộ quần áo đắt tiền, nhưng sẽ nhanh chóng lỗi mốt là việc làm vô ích. Các thiết bị điện tử cá nhân  thì cũng thế, chúng có thể nhanh chóng bị lỗi thời vì sẽ xuất hiện các công nghệ mới. Mặt khác, đối với hàng hóa lâu bền (máy cắt cỏ hoặc đàn piano lớn), hình dáng hoặc thay đổi công nghệ không phải là vấn đề quan trọng, người tiêu dùng có thể thích các sản phẩm tốt chứ không thích những sản phẩm rẻ tiền. 

Dù thế nào thì nó cũng phụ thuộc vào người tiêu dùng: khách hàng lớn tuổi và giàu có hơn có thể thích hàng hóa có chất lượng cao hơn với giá thành cao hơn, trong khi khách hàng trẻ tuổi và nghèo hơn có thể thích hàng hóa có chất lượng thấp hơn nhưng giá cả phải chăng hơn. Ai cấm họ lựa chọn như thế? 

Người ta không biết lựa chọn. Một số nhà phê bình cảm thấy bất bình trước việc nhiều người lựa chọn sai, chẳng hạn như tham gia vào những kế hoạch tiết kiệm mà họ không hiểu hoặc mua những món hàng hóa không đáp ứng được nhu cầu của mình. Họ khẳng định rằng cần phải quản lý chặt chẽ các sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm trong lĩnh vực tài chính– hay thậm chí cấm cho đến khi biết được toàn bộ tác dụng của chúng. 

Nhưng cấm các sản phẩm mới với lý do là người ta có thể sai lầm khi mua những sản phẩm này là biện pháp hoàn hảo nhất nhằm giết chết đổi mới và tiến bộ. Các thế hệ tương lai, những người sẽ được lợi do tiến bộ mang lại chính là những người sẽ bị thiệt thòi. Có thể áp dụng một số biện pháp bảo vệ đơn giản và chung chung, chẳng hạn như khoảng thời gian suy nghĩ lại (cooling-off periods) đối với các sản phẩm tiết kiệm phức tạp. Tuy nhiên, nhiều quy định là vô nghĩa. Không có người nào kiểm tra giấy phép hành nghề: họ hỏi bạn bè và hàng xóm về những món hàng mà họ được giới thiệu. 

Không ai trong chúng ta (kể cả cơ quan quản lý) có thể đoán trước được mọi thứ, vì vậy chúng ta mua hàng hóa trên cơ sở thông tin chính xác nhất mà chúng ta có về sản phẩm. Hầu hết mọi người hoàn toàn có khả năng lựa chọn trên cơ sở những thông tin đó. Họ cũng biết rõ nhu cầu của chính mình, hơn hẳn các số quan chức ở xa: những người quản lý không thể biết động cơ cụ thể nào thúc đẩy người ta mua những món hàng mà họ đang mua – xin hỏi những người quản lý có quyền hay lý do gì để ngăn cản người ta mua bán? Giúp đỡ người khác khi họ phạm sai lầm, thì chỉ khuyến khích họ bất cẩn; không cho người ta được quyền lựa chọn, thì sẽ biến họ thành những con số vô hồn. Để cho người ta chấp nhận hậu quả của những lựa chọn của mình thì sẽ hiệu quả hơn và có đạo đức hơn. 

Phê phán về mặt cấu trúc 

Tình trạng vô chính phủ trong sản xuất. Nhiều nhà phê bình coi sản xuất trong chế độ tư bản chủ nghĩa là không hiệu quả, phi lý và vô chính phủ. Ví dụ, các công ty khác nhau làm ra các sản phẩm tương tự nhau và mất tiền quảng cáo: một nhà sản xuất quy mô lớn duy nhất sẽ hiệu quả hơn và không cần quảng cáo nữa. Ngoài ra, nguồn lực có thể được sử dụng và sản xuất được đưa vào quy củ, hợp lý hơn và ít lãng phí hơn nếu sản xuất theo kế hoạch, chứ không bị bỏ mặc để cho tính chất ngẫu nhiên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa quyết định. 

Nhưng họ quên rằng, cạnh tranh làm cho chủ nghĩa tư bản trở thành cực kỳ năng động. Không phải tất cả các công ty đều sản xuất những mặt hàng giống nhau, mà cố gắng làm cho các sản phẩm của mình trở thành hấp dẫn hơn đối với khách hàng bằng cách liên tục cải tiến và cắt giảm các khoản chi phí không cần thiết. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng, một người sản xuất đơn lẻ sẽ chẳng có mấy động lực nhằm cải thiện sản phẩm hay hiệu quả của nó. 

Thực tế là trong chủ nghĩa tư bản người ta có rất nhiều kế hoạch: các cá nhân và công ty thường xuyên lập kế hoạch. Những kế hoạch này lại nhận được phản hồi liên tục và tức thì từ khách hàng, đấy là các quyết định được khách hàng đưa ra mỗi ngày về những sản phẩm họ sẽ mua hoặc không mua, và người sản xuất nhanh chóng điều chỉnh kế hoạch của mình cho phù hợp. Nếu làm sai, thì chỉ một mình họ là người bị thiệt hại mà thôi. Nhưng khi toàn bộ nền sản xuất của quốc gia được lập kế hoạch thì sẽ hoàn toàn khác. Sẽ phải mất nhiều thời gian mới đưa được những kế hoạch khổng lồ này vào thực hiện và thay đổi cũng rất lâu; ít thông tin phản hồi hơn vì người tiêu dùng có ít sự lựa chọn hơn; nên chúng kém năng động và tiến bộ. Còn nếu kế hoạch sai lầm, thì cả nước sẽ phải chịu hậu quả. 

Đầu cơ phi sản xuất. Nhiều nhà phê bình phản đối hoạt động đầu cơ tài chính trong chủ nghĩa tư bản: đặt cược vào giá cổ phiếu hoặc tiền tệ, thị trường tương lai và tất cả những hiện tượng khác. Họ nói rằng những việc này không tạo ra bất cứ sản phảm nào, mà lại mất rất nhiều thời gian, sức lực và tiền bạc. 

Trên thực tế, đầu cơ là dấu hiệu chứng tỏ nền kinh tế và thị trường vốn đang sôi động, và những người đầu cơ thực sự tạo ra những thứ gì đó có giá trị. Vì sản xuất được chuyên môn hóa, cho nên những người đầu cơ phải am hiểu sâu sắc về chỉ một vài công ty hoặc một lĩnh vực nào đó, đấy là nói nếu họ muốn cạnh tranh với các đối thủ. Do đó, những quyết định sáng suốt của họ về lĩnh vực đầu tư hoặc không đầu tư là dự báo có giá trị về sức khỏe và triển vọng của các công ty và lĩnh vực đó, giúp những người khác đưa ra quyết định tốt hơn về lĩnh vực mà mình sẽ đầu tư. Bằng cách làm giảm rủi ro trong quá trình đầu tư, họ khuyến khích người ta đầu tư nhiều hơn, tạo vốn và do đó nâng cao hiệu quả sản xuất – và nó đẩy nhanh các nguồn lực tới nơi chúng được sử dụng một cách hiệu quả nhất. 

Sản xuất phi dân chủ. Chỉ trích khác là trong chủ nghĩa tư bản, sản xuất được tổ chức nhằm mang lại lợi ích cho chủ sở hữu, trong khi trên thực tế, nó phải được cơ cấu sao cho có thể mang lại lợi ích cho công chúng và các bên liên quan khác. Do đó, sản xuất phải được đặt dưới quyền kiểm soát theo lối dân chủ – sao cho nó có thể được vận hành vì lợi ích lâu dài của đất nước, chứ không phải vì lợi ích ngắn hạn của chủ sở hữu. 

Thật không may là, kiểm soát “dân chủ” có nghĩa là kiểm soát về mặt chính trị - với tất cả các vấn đề của chính trị, trong đó có quyền lực của các nhóm áp lực và tư lợi của cử tri, chính trị gia và các quan chức. Nền kinh tế vận hành theo lối chính trị, vì lợi ích của những người có quyền lợi trực tiếp, có nghĩa là nền kinh tế hoạt động vì lợi ích của những người đang có quyền lợi trực tiếp – những người chỉ quan tâm làm sao duy trì cách làm như hiện nay chứ không muốn tiến bộ vì nó có thể phá vỡ mọi thứ. Và ai là người theo đuổi lợi ích ngắn hạn hơn các chính trị gia, ai là người chỉ nghĩ đến những cuộc bầu cử tiếp theo? Ngược lại, chủ sở hữu sẽ được lợi nếu họ tìm cách thúc đẩy sức mạnh lâu dài của doanh nghiệp – cách làm như thế sẽ thu hút được nguồn vốn và nâng cao giá trị của nó. 

Quyền lực của các tập đoàn lớn 

Các tập đoàn lớn. Nhiều người phê phán chủ nghĩa tư bản vì cho rằng các tập đoàn lớn có quá nhiều quyền lực. Họ cho rằng các tập đoàn này là những thực thể có quá nhiều quyền lực, có thể thao túng các chính trị gia, dư luận xã hội và sự lựa chọn của người tiêu dùng, khai khác những quy định và thuế khóa ưu đãi, đồng thời tạo ra các công ty độc quyền. 

Nhưng các công ty độc quyền và các tập đoàn lớn không phải là hiện tượng không thể tránh được của chủ nghĩa tư bản. Trong thị trường cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, biện pháp duy nhất để các công ty giữ được vị trí những công ty lớn là tiếp tục phục vụ công chúng. Ngay cả công ty lớn nhất cũng có thể bị thách thức bởi một công ty khác hay các công ty nhỏ hơn đang gậm nhấm dần các hoạt động kinh doanh khác nhau của mình. Biện phạm duy nhất mà họ có thể dùng nhằm tạo ra độc quyền là sử dụng thuế khóa hay các ưu đãi của nhà nước nhằm ngăn chặn cạnh tranh. Đây không phải là chủ nghĩa tư bản, mà là chủ nghĩa thân hữu. 

Lỗi hoàn toàn thuộc về nhà nước. Nhà nước có quyền đánh thuế và ban hành luật lệ và các quy định; nhà nước thậm chí có thể đưa bạn vào tù hay buộc bạn phải đi đánh nhau trong các cuộc chiến tranh. Các doanh nghiệp không thể làm những việc như thế. Dù có bao nhiêu người phàn nàn về quyền lực của các công ty lớn, nhà nước vẫn là tổ chức có quyền lực thực sự. Chúng ta cần các chính trị gia để thúc đẩy cạnh tranh, chứ không phục vụ lợi ích của những công ty sản xuất lớn và đã được củng cố. 

Quản lý đối đầu với quyền sở hữu. Một số người chỉ trích khẳng định rằng các công ty đại chúng lớn hoạt động kém hiệu quả, vì quản lý đã tách biệt khỏi quyền sở hữu. Những người quản lý không bị kiềm chế, có nhiều quyền lực và được trả lương cao. 

Nhưng tách quyền sở hữu ra khỏi công việc quản lý chỉ là một ví dụ nữa về phân công lao động. Chắc chắn, các chủ sở hữu (các cổ đông) của các công ty nên có quyền kiểm soát những người quản lý của mình, mặc dù ở nhiều nước, luật công ty có nhiều sai sót đã xói mòn quyền lực của cổ đông – đây là một trường hợp khác về hoạt động chính trị làm gián đoạn hoạt động trơn tru của chủ nghĩa tư bản. 

Ngoài ra, doanh nghiệp càng lớn thì càng cần người quản lý có nhiều kỹ năng hơn để điều hành. Rất ít người có thể điều hành tập đoàn đa quốc gia tầm cỡ thế giới cho nên không có gì ngạc nhiên khi họ được trả lương khá hậu hĩnh. Nhưng đấy không hẳn là trả quá cao: khi một giám đốc điều hành giỏi quyết định ra đi, giá trị của một công ty có thể giảm mạnh. Các chủ sở hữu phải quyết định xem các nhà quản lý có xứng đáng nhận số tiền mà họ bỏ ra hay không, chứ không phải các chính trị gia - những người có động cơ chính trị khác hẳn - có quyền quyết định. 

Quan hệ toàn cầu 

Các công ty đa quốc gia. Các tập đoàn đa quốc gia nằm trong số một vài loại hình doanh nghiệp bị chỉ trích nhiều nhất. Những người phê phán cáo buộc họ vận động hành lang để được hưởng những biện pháp bảo vệ đặc biệt, chuyển giá giữa các nước nhằm tiết kiệm các khoản thuế khóa và chuyển các quy trình sản xuất gây ô nhiễm nhất sang các nước nghèo hơn. Họ khẳng định rằng các thị trường thế giới đang bị các tập đoàn tư bản lớn phá hoại, và một số công ty đa quốc gia lớn bằng cả quốc gia, họ hành động giống như các quốc gia đế quốc chứ không còn là các công ty hoạt động trên thị trường. 

Nhưng chính các chính phủ và chủ nghĩa thân hữu đã tạo điều kiện cho các công ty phát triển đến mức này. Còn các nước có chế độ thuế khóa khác nhau là vì một số nước muốn thu hút vốn đầu tư và hoạt động kinh doanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng. Trên thực tế, các công ty đa quốc gia đã đầu tư những khoản tiền rất lớn vào các nước nghèo hơn, đưa vốn tới, giúp cho các ngành công nghiệp của những nước này hoạt động hiệu quả hơn, mở ra cơ hội việc làm và tăng lương. Có thể một số công việc khó khăn hơn và một số quy trình sản xuất không sạch sẽ như những quy trình mà người dân ở các nước giàu có lựa chọn; nhưng nếu không làm như thế thì tốc độ phát triển của những nước nghèo sẽ chậm lại, hy vọng của họ về quy trình sản xuất sạch sẽ hơn và dễ dàng hơn cũng bị chậm lại, và người dân ở những nước đó sẽ sống trong nghèo đói lâu hơn. 

Nói về chủ nghĩa đế quốc, thì các công ty đa quốc gia và thị trường toàn cầu thực sự thúc đẩy hòa bình trên thế giới. Những khoản đầu tư của họ vào các nền kinh tế mới nổi đã giúp cho hàng tỷ người thoát khỏi đói nghèo và tạo ra tầng lớp trung lưu thịnh vượng, giữ gìn hòa bình và thương mại mà hòa bình tạo ra mang lại cho họ mọi thứ. 

McDonald hóa[3]. Tuy nhiên, một số người phê phán khẳng định rằng đầu tư của các nước giàu cũng đi kèm với chủ nghĩa đế quốc về văn hóa, với các thương hiệu, lối sống và tập quán phương Tây tràn vào các địa phương. 

Nhưng sự thật là, toàn cầu hóa đã và đang làm cho các loại hàng hóa và dịch vụ đa dạng hơn tràn vào mọi ngõ ngách. Giờ đây, phần lớn Đông Âu và Đông Nam Á không còn đóng cửa với phương Tây nữa, cả hai bên có thể thưởng thức nhiều sản phẩm từ nhiều quốc gia hơn hẳn trước kia. Thương mại làm cho của cải ngày càng tăng, các nền kinh tế mới nổi đưa được nhiều công dân của mình tới các nước giàu có hơn - sinh viên hoặc khách du lịch – những người này lại mang theo các giá trị và văn hóa của nước mình tới những chân trời xa xôi. Kết quả không phải là chủ nghĩa đế quốc vế văn hóa, mà là sự đa dạng và người ta có quyền lựa chọn. 

Bảo vệ công ăn việc làm. Người ta thường nói rằng các nền kinh tế mới nổi cần được bảo vệ đặc biệt để họ có thể phát triển các ngành công nghiệp “non trẻ” và trở nên mạnh mẽ về kinh tế. Điều đó có nghĩa là các biện pháp kiểm soát, thuế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu sẽ ngăn cản các nước giàu hạ giá sản phẩm. 

Nhưng trên thực tế, vấn đề lớn nhất ở các nước nghèo là thiếu vốn; và việc họ mở cửa cho đầu tư nước ngoài là biện pháp nhanh nhất để có vốn. Nguồn vốn mới giúp họ làm việc hiệu quả hơn – có thể sản xuất hàng hóa và dịch vụ đủ sức cạnh tranh với bất kỳ sản phẩm nào trên thế giới và giúp người dân địa phương theo đuổi tham vọng của mình. 

Chủ nghĩa bảo hộ chỉ có thể xảy ra ở các nước không tự do, đấy là những nước có thể buộc người nộp thuế phải trợ cấp cho các ngành được ưu đãi, hoặc có thể áp đặt thuế xuất nhập khẩu và hạn ngạch đối với các nhà nhập khẩu. Nhưng thị trường giờ đây đã là toàn cầu: tất cả các nước đều được lợi từ việc trở thành một phần của thị trường, họ không thể phát triển – hay thậm chí không thể theo kịp – nếu cứ núp sau những bức tường bảo hộ. 

Hiện tượng ô dù 

Một số người phê phán chủ nghĩa tư bản khẳng định rằng không có cái gọi là thị trường tự do. Bao giờ cũng có vận động hành lang và thông đồng, vì vậy cần phải có những quy định và quy tắc mạnh mẽ thì chủ nghĩa tư bản mới hoạt động trôi chảy được. 

Nhưng những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản cũng bác bỏ thông đồng và chủ nghĩa thân hữu, đồng thời cho rằng những hiện tượng này không chỉ tồn tại trong chủ nghĩa tư bản. Thật vậy, trong các hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện tượng này còn nhiều hơn. Các luật lệ tạo điều kiện cho thị trường hoạt động – công lý và quyền sở hữu và tự do mua bán tài sản – đơn giản và phổ quát hơn hẳn so với các quy định chi tiết mà những người phê phán đề xuất. 

Thay vào đó, chính phủ nên tập trung vào vai trò chính của mình là bảo vệ các quyền và tự do cá nhân, chứ không phải tìm cách điều hành nền kinh tế: tức là, tách kinh tế ra khỏi nhà nước. Bài học đáng buồn mà lịch sử dạy chúng ta là, các quan chức không khôn ngoan hơn cũng không đạo đức hơn người dân bình thường. Thật vậy, quyền lực nhà nước lôi cuốn những kẻ tồi tệ nhất trong số những kẻ muốn nắm giữ nó, và cho phép họ gây ra những sai lầm lớn hơn. 

[3] McDonald hóa là khái niệm do nhà xã hội học George Ritzer đề xuất trong cuốn sách xuất bản năm 1993 The McDonaldization of Society – ‘đây là quá trình mà các nguyên lý của các khách sạn ăn nhanh ngày càng thống trị nhiều hơn các khu vực kinh tế Mỹ cũng như phần còn lại của thế giới - ND

 


December 4, 2025

Chủ nghĩa tư bản nhập môn (9)

 

Eamonn Butler

Phạm Nguyên Trường dịch

Đinh Tuấn Minh hiệu đính

Chương 9

Những tư tưởng gia vĩ đại ủng hộ chủ nghĩa tư bản

Trường phái Salamanca (“Phái kinh viện”) -  Tài sản, cung và cầu, tiền lãi

 Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, các giáo sĩ Tây Ban Nha đã tạo ra một số bước đột phá trong nhận thức về kinh tế học, làm cho chủ nghĩa tư bản tương thích với Kinh thánh Kitô giáo – trước đó người ta thường cho rằng Kinh thánh bài xích hoạt động kiếm lời. Ví dụ: người đầu tiên trong số những người được gọi kinh viện, ngài Francisco de Vitoria (1483–1546), đã được các thương gia tham vấn – họ lo lắng về cách thức Chúa và Giáo hội nhìn nhận công việc buôn bán của mình. Vitoria suy nghĩ về vấn đề này và đưa ra kết luận nói rằng con người, hàng hóa và ý tưởng di chuyển tự do là một phần của Tự nhiên, là sự sáng tạo của Chúa. Do đó hoạt động buôn bán của các thương nhân không phải là xấu xa, mà trên thực tế, họ phục vụ lợi ích chung. 

Kinh thánh chỉ trích việc cho vay nặng lãi - tính lãi trên các khoản vay. Nhưng trong giai đoạn của Phái kinh viện, Phục hưng đã mang lại nhiều cơ hội cho hoạt động kinh doanh, và nguồn vốn vay trở thành rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh và thương mại. May mắn là, Phái kinh viện đã tìm ra nhiều biện pháp nhằm biện minh cho tiền lãi. 

Họ lưu ý rằng người đi vay được lợi; tiền lãi là một khoản thanh toán – là khoản bảo hiểm - cho những trường hợp rủi ro khi khó hoàn trả được khoản vay; đấy là một trong những “chi phí cơ hội” của người cho vay, vì có nhiều cách thức khác có thể sử dụng khoản tiền đó; và chính tiền cũng là một loại hàng hóa, cho nên người ta phải trả tiền để vay nó, tương tự như thuê bất kỳ hàng hóa nào khác. 

Phái kinh viện còn bảo vệ tài sản tư. Họ khẳng định rằng tài sản tư kích thích hoạt động kinh tế và do đó, gia tăng thịnh vượng. Người ta cũng cũng chăm sóc cẩn thận tài sản của mình chứ không muốn chia sẻ với người khác, nghĩa là những tạo vật của Chúa được người ta trân qúy hơn. Họ kết luận rằng các cá nhân có quyền sở hữu và hưởng lợi từ tài sản của mình tạo ra - trừ những trường hợp khẩn cấp, khi họ có nghĩa vụ chia sẻ với những người đang cần. 

Phái kinh viện thậm chí còn nhận thức được vai trò trọng của cung và cầu. Họ thấy rằng ở những nước không có kim loại quý thì giá ở đó cao hơn. “Giá cả chính đáng” (just price) của một món hàng không đơn giản là chi phí sản xuất và vận chuyển nó - có thể nào cùng một kiện vải lanh lại có thể có giá trị hơn vì nó được vận chuyển bằng đường bộ với chi phí cao thay vì được vận chuyển bằng đường biển với chi phí thấp? Giá cả phụ thuộc vào tương tác giữa cung và cầu – đấy là nói nếu thị trường được tự do và cởi mở. 

Adam Smith (1723−90) -  Lợi ích của chuyên môn hóa, buôn bán và thương mại tự do 

Nhà triết học người Scotland quay sang làm nhà kinh tế học Adam Smith, nổi tiếng với tác phẩm Của cải của các quốc gia (1776). Trong tác phẩm này Adam Smith liên kết những ý tưởng của chính mình và của nhiều tác giả khác để hình thành một cách tiếp cận kinh tế học hoàn toàn mới, có hệ thống và mang tính hiện đại. Tác phẩm này đả kích chủ nghĩa trọng lợi thương đang thịnh hành vào thời đó, tức là đả kích đánh giá sự thịnh vượng của quốc gia bằng kho dự trữ vàng và bạc của quốc gia đó, đồng thời trợ cấp nhằm tối đa hóa doanh số xuất khẩu và dùng thuế xuất nhập khẩu nhằm chặn hàng nhập khẩu. Smith chỉ ra rằng thương mại làm cho cả hai bên đều được lợi. Thật vậy, cả hai bên đều sẽ không nghĩ tới giao dịch trừ khi nó làm cho họ cùng giàu có thêm. Đúng là người bán nhận được tiền: nhưng người mua nhận được món hàng mà họ đánh giá cao hơn số tiền mà họ phải trả. 

Smith rút ra kết luận nói rằng, không phải số tiền mà quốc gia nắm giữ, mà quy mô sản xuất, buôn bán và thương mại của quốc gia đó - ngày nay chúng ta gọi là tổng sản phẩm quốc gia hay GDP – mới làm cho đất nước giàu có lên. 

Ông nhận xét rằng chúng ta có thể tăng đáng kể sản phẩm bằng cách chuyên môn hóa, tạo điều kiện cho chúng ta trở thành những người lành nghề và có năng suất cao hơn - thậm chí năng suất còn cao hơn nếu chúng ta đầu tư vào hàng hoá vốn chuyên dụng, ví dụ như công cụ và thiết bị. Bằng cách trao đổi các sản phẩm của chúng ta với những người khác, ở trong và ngoài nước, tăng năng suất do chuyên môn hóa và đầu tư làm cho tất cả chúng ta đều được lợi. 

Smith khẳng định rằng, nơi nào có tự do thương mại và cạnh tranh, thì thị trường đều hướng nỗ lực và nguồn lực tới những người sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất và đưa thành phẩm tới những người cần chúng nhất. Đó là hệ thống có tính hợp tác cao, nhưng nó chỉ thu được thành công ở nơi mà người ta được tự do hành động, thương mại tự do và cạnh tranh cởi mở. Smith kịch liệt phê phán chủ nghĩa tư bản thân hữu - các nhà sản xuất sẽ gây áp lực lên các chính trị gia nhằm giành độc quyền hay những khoản ưu đãi đặc biệt. 

Ông rút ra kết luận: chính phủ không nên can thiệp vào đời sống kinh tế, ngoài việc duy trì cấu trúc tạo điều kiện cho nó hoạt động. 

David Ricardo (1772−1823) - Lợi thế tương đối và năng suất lao động 

Là nhà đầu cơ và môi giới chứng khoán thành công ở London (có người nói rằng ông đã kiếm được 1 triệu bảng Anh trong vụ đánh cược rằng Anh sẽ giành chiến thắng ở Waterloo), Ricardo bắt đầu suy nghĩ về kinh tế học sau khi đọc tác phẩm Của cải các quốc gia do Adam Smith chấp bút. Ông đã tạo được những bước tiến lớn trong lý thuyết về tiền thuê, tiền công, lợi nhuận, thuế khoá và giá trị. 

Về chính sách thương mại, ông bác bỏ các biện pháp bảo hộ, ví dụ như Luật ngô, hạn chế nhập khẩu lúa mì; và ông xây dựng được “lý thuyết về chi phí so sánh” (hiện nay gọi là lý thuyết về lợi thế tương đối) – người ta biết đến ông nhiều nhất là do lý thuyết này. Ông nói rằng, các quốc gia có thể làm cho mình trở thành giàu có hơn bằng cách chuyên sản xuất những sản phẩm mà họ có thể sản xuất tương đối rẻ hơn các quốc gia khác – trong so sánh tất cả những sản phẩm khác mà họ có thể sản xuất được. Ngay cả khi một quốc gia có thể sản xuất mọi thứ rẻ hơn so với quốc gia khác, thì chuyên môn sản xuất những mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế so sánh - chứ không nhất thiết sản xuất những sản phẩm có lợi thế tuyệt đối. 

Ví dụ trong thời hiện đại: một ngôi sao điện ảnh nổi tiếng có thể tình cờ trở thành người nấu ăn giỏi hơn đầu bếp của xưởng phim. Tuy nhiên, mặc dù có lợi thế tuyệt đối so với người đầu bếp, hãng phim sẽ được lợi khi giữ ngôi sao của mình ở lại phim trường, nhằm khai thác lợi thế so sánh về tài năng và sự nổi tiếng của diễn viên, chứ không đưa người này xuống làm bếp. Nguyên tắc này vẫn là một trong những nền tảng chính của luận cứ về thương mại tự do. 

Ludwig von Mises (1881−1973) - Bản chất của vốn; phê phán chủ nghĩa xã hội; lợi ích của chính sách tự do kinh doanh 

Mises trở thành nhân vật hàng đầu trong “Trường phái kinh tế học Áo”, ông nhấn mạnh tính phức tạp của các hiện tượng kinh tế và vai trò quan trọng của giá trị chủ quan và hành động của hàng triệu người đối với kết quả chung của toàn xã hội. Ví dụ, không phải tổng giá trị mà cấu trúc của vốn mới là quan trọng – chính xác là người ta đầu tư vào những hàng hoá vốn nào và những hàng hoá vốn đó phối hợp với nhau hiệu quả đến mức nào. Cấu trúc này rất tinh tế: ví dụ, chính sách lãi suất sai lầm bóp méo thị trường, làm cho dân chúng đầu tư vào những lĩnh vực sản xuất sai lầm – đầu tư sai lệch – dẫn đến thất bại và thua lỗ. 

Ở những nơi mà các thị trường bị loại bỏ hoàn toàn – như trong chế độ cộng sản chủ nghĩa - đầu tư duy lý trở thành bất khả thi. Nếu không có giá cả, thì không ai có thể tính toán được những quy trình sản xuất nào trong số nhiều quy trình sản xuất có thể thực hiện được là có hiệu quả nhất về chi phí. Chắc chắn là, các nguồn lực sẽ được đầu tư vào những quy trình sản xuất sai lầm, dẫn đến lãng phí và kém hiệu quả, và cùng với thời gian những sai lầm này sẽ tích tụ lại, vì sẽ không có áp lực thị trường nhằm loại bỏ chúng. 

Mises ủng hộ mạnh mẽ chính sách tự do kinh doanh. Ông khẳng định rằng, ngay khi các chính phủ bắt đầu có những chính sách kiểm soát và quy định nhằm ngăn chặn hệ thống thị trường là họ đã tạo làn sóng hổn loạn (thừa và thiếu), nó lan tràn từ thị trường này sang thị trường khác, như gợn sóng khi ném hòn đá xuống ao, làm méo mó hết thị trường này đến thị trường khác. Trong khi tìm cách hạn chế thiệt hại, chính phủ lại can thiệp sâu hơn, và làm cho mọi thứ thậm chí còn tệ hơn nữa. 

F. A. Hayek (1899−1992) - Trật tự tự phát; phê phán kế hoạch hoá; phối hợp của thị trường

 Hayek xuất thân từ thành phố Vienna, là học trò của Ludwig von Mises, đã cộng tác với thầy mình trong các công trình nghiên cứu về các chu kỳ kinh doanh bùng nổ-suy thoái, và rút ra kết luận nói rằng những chu kỳ này là do các ngân hàng trung ương áp đặt lãi suất quá thấp, khuyến khích vay mượn và chi tiêu quá mức. Nhưng lãi suất thấp lại không khuyến khích tiết kiệm, và khi tiền của những người cho vay cạn kiệt thì các nhà đầu tư đứng trước khủng hoảng về tín dụng, họ phải thanh lý những khoản đầu tư quá lạc quan, họ sẽ bị mất vốn và sa thải công nhân. 

Một trong những quan điểm thấu triệt quan trọng của Hayek là khái niệm về trật tự tự phát. Xã hội loài người và các loài động vật cho thấy một cách rõ ràng những hiện tượng thường hiện này. Đúng là, không ai lập kế hoạch buộc loài ong phải sống như thế nào, cách con người sử dụng ngôn ngữ thì cũng thế. Những trật tự như thế phát sinh một cách tự nhiên và tồn tại trong thời gian dài vì chúng có ích. Thường thì chúng ta thậm chí không thể nói rõ các quy tắc (ví dụ như các quy tắc ngữ pháp) làm nền tảng cho những trật tự này. Và vì chúng ta không hiểu một cách đầy đủ cách thức hoạt động của những trật tự tự nhiên như thế, cho nên phải là kẻ rất kiêu ngạo thì mới dám tưởng tượng rằng chúng ta có thể làm tốt hơn – ví dụ như chúng ta có thể từ bỏ cơ chế giá cả và áp đặt các biện pháp kiểm soát giá cả và tiền công, hoặc dùng cơ quan lập kế hoạch trung ương nhằm cải thiện thị trường tự do.

Theo quan điểm của Hayek, nhà hoạch định kinh tế thậm chí không thể tiếp cận được những thông tin cần thiết để có thể thực hiện nhiệm vụ, vì thông tin là phân tán, cục bộ, phân mảnh, thay đổi nhanh chóng, mang tính cụ thể, cá nhân và khó truyền tải. Tuy nhiên, các thị trường xử lý tất cả những thông tin này, từ thời điểm này sang thời điểm khác, ở các cấp địa phương theo lối phân tán. Nhà hoạch định không cần phải quyết định các nguồn lực phải được sử dụng như thế nào: giá cả cung cấp những tín hiệu đơn giản, tự động đưa chúng đến những nơi chúng được sử dụng với giá trị cao nhất. Do đó, trật tự thị trường hiệu quả hơn hẳn và có thể phát triển lớn hơn hẳn, so với các hệ thống kế hoạch hóa. 

Milton Friedman (1912−2006) - Vai trò quan trọng của đồng tiền ổn định; giá phải trả của điều tiết

 Friedman là người phát ngôn có khả năng đặc biệt và rất thuyết phục về các ý tưởng của chủ nghĩa tự do. Thông qua tác phẩm Chủ nghĩa tư bản và Tự do (1962) cũng như một loạt phim truyền hình và tác phẩm Tự do lựa chọn (1980) - cả hai tác phẩm này đều được chấp bút cùng với bà Rose, vợ ông – hàng triệu người đã tìm hiểu về tiềm năng của thị trường tự do, thương mại cởi mở, tự do và chủ nghĩa tư bản. 

Năm 1946, Friedman tham gia trong phong trào phản đối gay gắt việc kiểm soát tiền thuê nhà. Ông nhận xét rằng, những chính sách như thế làm cho chủ nhà không còn sẵn sàng bảo dưỡng và cho thuê tài sản của họ như trước nữa, nó làm giảm cả chất lượng và nguồn cung cấp chỗ ở để cho người ta thuê. Ông cũng nghiên cứu quy định và việc cấp giấy phép hành nghề (ví dụ như bác sĩ, luật sư và kế toán viên), và rút ra kết luận là nó không mang lại lợi ích gì cho dân chúng mà là chỉ mang lại lợi ích cho những người đang hành nghề mà thôi. Ông phát hiện ra rằng, bằng cách hạn chế cạnh tranh, cấp giấy phép hành nghề buộc khách hàng phải trả nhiều tiền hơn, mà dịch vụ lại có chất lượng kém hơn. 

Friedman nổi tiếng nhất với công trình nghiên cứu về chính sách tiền tệ và ảnh hưởng của nó đối với lạm phát – một vấn đề lớn hồi cuối thế kỷ XX. Ông chỉ trích quan điểm chủ đạo nói rằng các chính phủ có thể kiểm soát lạm phát bằng cách điều chỉnh thuế khóa và chi tiêu; ông khẳng định rằng, đáng lẽ ra họ phải kiểm soát lượng tiền được đưa và lưu thông. Nhưng chính sách tiền tệ là công cụ rất thô lậu, cho nên các chính phủ chỉ cần đơn giản là thiết lập một khuôn khổ vững mạnh và ngừng can thiệp một cách liên tục vào hoạt động kinh tế. 

James M. Buchanan (1919−2013) và Gordon Tullock (1922−2014) - Phê phán quá trình ban hành quyết định bằng những biện pháp chính trị 

Buchanan và Tullock phát triển Trường phái kinh tế học lựa chọn công, họ thách thức ý tưởng cho rằng thất bại của thị trường biện minh cho sự can thiệp của chính phủ. Họ giải thích rằng, chính phủ còn thường xuyên thất bại hơn nữa, và làm cho mọi thứ thậm chí còn tồi tệ thêm, vì quá trình hoạch định chính sách cũng đầy rẫy hiện tượng tư lợi và bóc lột. 

Sự thối nát bắt đầu ngay trong các cuộc bầu cử. Buchanan và Tullock chỉ ra rằng, bầu cử không phải cuộc sát hạch vì “quyền lợi chung” mà là cuộc tranh giành của các nhóm lợi ích cạnh tranh với nhau. Trong chủ nghĩa tư bản, người dân có thể có bất kỳ sản phẩm nào, nếu họ chọn. Trong các cuộc bầu cử, nhóm đa số quyết định lựa chọn mà mọi người phải theo - và họ cũng có thể sử dụng quyền lực của nhà nước để giúp họ bóc lột nhóm thiểu số, đấy là hiện tượng mà các nhà sản xuất trong chủ nghĩa tư bản không thể làm được. 

Các cuộc bầu cử cũng bị các nhóm lợi ích chi phối, đấy là những nhóm người có những quan tâm cụ thể và mạnh mẽ đối với kết quả, hơn là công chúng nói chung, công chúng thường có lợi ích phân tán và chừng mực hơn. Và ngay cả chính trị gia có tinh thần lo lắng đến lợi ích chung cũng cần phải nhượng bộ những nhóm lợi ích này thì mới được bầu. Chính sách hướng vào những thứ vụ lợi chứ không hướng vào những thứ hợp lý. 

Hơn nữa, để những đề xuất của mình được cơ quan lập pháp thông qua, các chính trị gia thường phải điều chỉnh thêm thì mới được các đồng minh và các nhà lập pháp khác ủng hộ. Họ có thể phải thỏa thuận: “Anh bỏ phiếu cho đề xuất của tôi, còn tôi sẽ bỏ phiếu cho đề xuất của anh” - nghĩa là cuối cùng mọi người đều có nhiều luật định được ban hành hơn là họ thực sự muốn. Cuối cùng, các quan chức thực thi luật định do quy trình phi lý này tạo ra cũng có những lợi ích riêng cần theo đuổi: ví dụ, họ có thể tìm cách mở rộng đế chế quan liêu cá nhân của mình bằng cách làm cho các luật lệ trở thành phức tạp hơn, đòi hỏi nhiều nhân sự hơn để quản lý những luật lệ này. 

Buchanan và Tullock rút ra kết luận: Chủ nghĩa tư bản có thể không hoàn hảo, nhưng chúng ta cũng đừng nên mơ tưởng về giải pháp thay thế. 

Gary Becker (1930−2014) - Vốn con người; giải pháp kinh tế cho những vấn đề xã hội 

Là học trò của Milton Friedman, nhà kinh tế học người Mỹ, Gary Becker, đã tạo lập được nền tảng mới bằng cách áp dụng các khái niệm của các tư tưởng gia vĩ đại trong lĩnh vực kinh tế học về chủ nghĩa tư bản vào nhiều loại vấn đề xã hội khác nhau, trong đó có động cơ phạm tội, phân biệt đối xử với những nhóm người thiểu số và dân nhập cư. Tuy nhiên, ông nổi tiếng nhất với công trình nghiên cứu về vốn con người - mặc dù chính ông không đặt ra cụm từ này. 

Vốn con người là những phẩm chất, kiến thức và kỹ năng giúp cho người ta làm việc năng suất hơn. Đấy là các khoản đầu tư vào giáo dục và đào tạo, nhưng cũng bao gồm những giá trị hữu ích khác như tuân thủ giờ giấc và siêng năng, thậm chí cả sức khỏe tốt nữa. Becker phân biệt hai loại vốn con người: chuyên biệt và phổ quát. Vốn con người chuyên biệt là kiến thức liên quan đến công việc cụ thể, chẳng hạn như cách sử dụng phần mềm độc quyền của doanh nghiệp. Các công ty trả tiền cho nhân viên để có được kiến thức này, vì họ biết rằng nếu nhân viên bị sa thải, thì thông tin này sẽ chẳng mang lại cho đối thủ cạnh tranh bất kỳ lợi ích nào. Vốn nhân lực phổ quát là kiến thức có thể được sử dụng ở bất cứ đâu, chẳng hạn như kỹ năng đánh máy. Các công ty không sẵn sàng trả tiền cho những kỹ năng mà người ta có thể mang theo như thế, vì vậy người ta thường phải bỏ tiền ta để học những kỹ năng này. 

Cách tiếp cận của Becker cung cấp cho chúng ta những quan điểm thấu triệt thú vị khác. Ví dụ, ông cho rằng một trong những lý do vì sao hiện nay người ta dành nhiều thời gian hơn cho giáo dục - so với các thế hệ trước đây - vì họ sống lâu hơn - kéo dài và gia tăng những lợi ích tiềm tàng mà họ có thể thu được từ những kỹ năng có thể mang theo bên mình. Tiến bộ công nghệ cũng làm cho việc có được kiến thức tiên tiến và kỹ năng công nghệ cao có lợi hơn, vì những kiến thức và kỹ năng này có thể giúp người ta làm việc hiệu quả hơn và được đánh giá cao hơn. Ý tưởng về vốn con người thậm chí còn giúp giải thích vì sao ngày càng có nhiều phụ nữ đi học hơn hẳn trước kia. Đấy không chỉ là vấn đề thay đổi về mặt xã hội học, mà còn vì tự động hóa việc nhà đã góp phần giải phóng phụ nữ khỏi những công việc lặt vặt trong gia đình để họ có thể theo đuổi sự nghiệp của chính mình. 

Đây là một trong những kết luận cuối cùng, nhưng cực kỳ quan trọng. Becker nói rằng, vì công nghệ thay đổi ngày càng nhanh hơn, nhu cầu học tập suốt đời cũng gia tăng, nó tạo điều kiện cho người ta phát triển các kỹ năng mới và giữ cho vốn con người của họ luôn luôn được cập nhật. 

Israel Kirzner (1930−) - Vai trò của hoạt động khởi lập nghiệp; tầm quan trọng của các ảnh hưởng tương động 

Xuất thân từ London, Kirzner tới New York theo học Ludwig von Mises. Tương tự như Mises, ông khẳng định rằng các mô hình “cân bằng tĩnh tại” che lấp bản chất tương động (dynamic) của kinh tế học. Hoạt động kinh tế không bao giờ ổn định ở trạng thái cân bằng hoàn hảo: ngược lại, người ta thường xuyên điều chỉnh kế hoạch và hành động của mình nhằm đáp ứng với những hành động đang thay đổi của những người khác. Quá trình tương động này giữ cho hành động của họ liên tục - mặc dù không hoàn hảo – được phối hợp với nhau. 

Kirzner giải thích rằng hoạt động khởi lập nghiệp (entrepreneurship) có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy, duy trì và cải thiện khả năng phối hợp của thị trường. Khởi lập nghiệp là quá trình trong đó các cá nhân (không nhất thiết là các nhà khởi lập nghiệp chuyên nghiệp, mà cả những người bình thường) phát hiện ra những khoảng trống và thiếu phối hợp trên thị trường, rồi hành động để lấp đầy và điều chính cho phù hợp. Ví dụ, một người nào đó có thể phát hiện ra rằng một vật liệu mới cho phép có thể sản xuất một số sản phẩm nhẹ hơn hoặc bền hơn những sản phẩm cũ; một người khác có thể phát hiện ra rằng văn phòng mới sẽ cần một quán cà phê ở gần đó; người khác có thể tin rằng tiệm bánh nổi tiếng ở địa phương có thể trở thành chuỗi cửa hàng thành công trên toàn quốc. Họ có thể hành động theo dự cảm của mình chỉ vì họ muốn tìm kiếm lợi nhuận cho chính mình: nhưng khi làm như thế, họ giúp phối hợp các hoạt động kinh tế bằng cách làm cho quá trình sản xuất phù hợp hơn với nhu cầu và mong muốn khác nhau của dân chúng. 

Những sự kiện như thế này chứng tỏ rằng điều chỉnh và phối hợp kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức mang tính khu vực về các điều kiện của thị trường mà những người khác nhau có thể nắm được. Nhưng ý tưởng “thông tin hoàn hảo” của kinh tế học dòng chính đã bỏ quên nó. Nó cũng nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta phải có các chính sách, thiết chế phù hợp và thị trường cởi mở để tinh thần khởi lập nghiệp có thể đơm hoa kết trái. 

Deirdre McCloskey (1942−) - Các giá trị của chủ nghĩa tự do và tăng trưởng kinh tế 

McCloskey sinh ra là nam nhưng đã chuyển giới vào lúc 53 tuổi. Trước đây bà từng nổi tiếng với tên Donald McCloskey nhờ công trình nghiên cứu về lý thuyết giá cả và những chủ đề khác; nhưng sau này, nhờ kết quả của công trình nghiên cứu về lịch sử kinh tế của nước Anh người ta mới nhận thấy ảnh hưởng to lớn của bà. McCloskey rút ra kết luận nói rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ suốt trong hai thế kỷ vừa qua không thể được giải thích chủ yếu là do vốn hay các thể chế mà là do quá trình truyền bá các ý tưởng tự do - mà cụ thể là “các giá trị tư sản” (bourgeois values). 

McCloskey nhấn mạnh quy mô to lớn của tăng trưởng kinh tế trong thời gian gần đây. Năm 1800, một người trung bình chỉ kiếm được số tiền tương đương với vài đôla một ngày. Hiện nay, thu nhập trung bình cao gấp hàng chục lần con số đó. Nếu cho rằng, từ năm 1800 đến nay dân số thế giới đã tăng gấp bảy lần thì đấy là sự gia tăng cực kỳ to lớn về của cải. Nó không chỉ đơn giản là giàu có về vật chất: cùng với của cải, tuổi thọ và học vấn ngày càng gia tăng còn là sự giàu có về trí tuệ và văn hóa. 

Giai đoạn giàu có vĩ đại này – bước nhảy vọt lớn nhất về của cải kể từ ngày xuất hiện nông nghiệp, nhưng lớn hơn hẳn – bắt đầu vào khoảng năm 1860. Cú tăng trưởng ngoại mục này không thể giải thích trọn vẹn bởi mức tăng trưởng kinh tế ổn định của nước Anh từ sau Cái chết đen, thế kỷ XIV, thậm chí bởi Cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu vào cuối thế kỷ XVIII, và cả các thể chế và chế độ pháp quyền của Anh. Bà khẳng định rằng, chỉ có những ý tưởng mới mới có thể thay đổi mọi thứ nhanh đến như thế. Giai đoạn giàu có vĩ đại bắt nguồn từ quá trình truyền bá của “chủ nghĩa tự do tư sản”, lần đầu tiên nó cho phép những người dân bình thường được hưởng quyền tự do, nhân phẩm và thịnh vượng. Trong suốt nhiều thế kỷ, buôn bán bị coi là vụ lợi và làm mất phẩm giá: nhưng những người cầm bút, ví dụ như John Locke và Adam Smith đã bảo vệ đức hạnh của tự do, thương mại, tích lũy của cải và vốn, cũng như phẩm giá và lòng tự trọng mà thương mại mang lại cho những người công dân bình thường. Bất thình lình, không có gì có thể ngăn cản được thiên tài sáng tạo của một dân tộc tự do.