June 27, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (4)

                         ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 



 CHƯƠNG 3 

GIẢI PHẪU CẢM XÚC

 Có rất nhiều lý thuyết tâm lý phức tạp bàn về cảm xúc của con người. Các lý thuyết này thường liên quan đến nhiều biểu tượng và tham chiếu đến thần thoại, và dựa trên các giả thuyết mà người tranh luận rất sôi nổi. Kết quả là, có nhiều trường phái trị liệu tâm lý với những mục tiêu và phương pháp khác nhau. Đơn giản là một trong những dấu hiệu của sự thật, vì vậy chúng tôi sẽ mô tả một bản đồ cảm xúc đơn giản, khả thi, có thể kiểm chứng được, có thể được xác minh bằng trải nghiệm chủ quan, cũng như bằng kiểm tra khách quan. 

Mục tiêu sinh tồn

Nghiên cứu bất kỳ lý thuyết tâm lý nào đều cho thấy mục tiêu chính của con người, vượt lên trên tất cả những mục tiêu khác, là sinh tồn. Tất các các mong muốn của tất cả mọi người đều nhằm đảm bảo sự sống còn của bản thân mình và sự sống còn của các nhóm mà họ đồng nhất với, chẳng hạn như gia đình, người thân và đất nước. Trên hết, con người sợ không còn khả năng trải nghiệm. Vì vậy, mọi người đều quan tâm đến sự sống còn của cơ thể, vì tin rằng họ chính là cơ thể và do đó, họ cần cơ thể để trải nghiệm sự tồn tại của mình. Vì con người tự coi mình là những cá thể riêng biệt và có giới hạn, họ bị căng thẳng bởi cảm giác (sense) thiếu thốn. Việc con người tìm kiếm thỏa mãn nhu cầu bên ngoài mình là hiện tượng phổ biến. Dẫn đến việc họ thấy dễ bị tổn thương, vì họ không thấy đủ trong chính con người mình.

Do đó, tâm trí là một cơ chế sinh tồn, và phương pháp sinh tồn của nó chủ yếu là sử dụng cảm xúc. Suy nghĩ được sinh ra bởi cảm xúc, và cuối cùng, cảm xúc trở thành lối tắt thay thế cho suy nghĩ..

Hàng ngàn, thậm chí hàng triệu suy nghĩ có thể được thay thế bằng một cảm xúc duy nhất. Cảm xúc là cơ bản và nguyên thủy hơn các quá trình tư duy. Lý trí là công cụ mà tâm trí sử dụng để đạt được mục đích mang tính cảm xúc của nó. Khi được trí tuệ sử dụng, cảm xúc cơ bản tiềm ẩn thường là vô thức hoặc ít nhất là nằm ngoài nhận thức. Khi cảm xúc tiềm ẩn bị lãng quên hoặc bỏ qua và không được trải nghiệm, con người không nhận thức được lý do cho hành động của mình và họ đưa ra đủ kiểu lý do hợp lý. Trên thực tế, họ thường không biết tại sao họ lại làm những việc mà mình đang làm.

Có một cách đơn giản để ý thức được mục tiêu của cảm xúc nằm đằng sau bất kỳ hoạt động nào bằng câu hỏi: “Để làm gì?” Với mỗi câu trả lời, câu hỏi “Để làm gì?” được hỏi đi hỏi lại cho đến khi cảm xúc cơ bản được khám phá. Ví dụ như sau: Một người đàn ông muốn một chiếc Cadillac mới. Tâm trí anh ta đưa ra tất cả những lý do hợp lý nhưng logic thực sự không giải thích được điều đó. Vì vậy, anh ta tự hỏi: “Tôi muốn chiếc Cadillac để làm gì?” “À,” anh ta nói, “đó là để có địa vị, được công nhận, được tôn trọng và là công dân thành công.” Lại hỏi: “Tôi muốn địa vị để làm gì?” “Được tôn trọng và được người khác chấp thuận, và để đảm bảo thái độ tôn trọng đó.” Lại hỏi: “Tôi muốn được tôn trọng và chấp thuận để làm gì?” “Để có cảm giác an toàn.” Lại hỏi: “Tôi muốn an toàn để làm gì?” “Để cảm thấy hạnh phúc.” Hỏi liên tục: “Để làm gì?”, cho thấy về cơ bản có những cảm thọ bất an, bất hạnh và không được thỏa mãn. Mỗi hoạt động hoặc mong muốn sẽ cho thấy rằng mục tiêu cơ bản là đạt được một cảm thọ nhất định. Không có mục tiêu nào khác ngoài việc vượt qua sợ hãi và có hạnh phúc. Cảm xúc không gắn với những gì thực sự bảo đảm cho sự sống còn của chúng ta, mà gắn với những gì mà hệ thống niềm tin của chúng ta cho là như thế. Cảm xúc, tự nó, thực chất là nguyên nhân của sợ hãi cơ bản thúc đẩy mọi người tìm kiếm an toàn. 

Thang đo cảm xúc

Để đơn giản và rõ ràng, chúng ta sẽ sử dụng thang đo cảm xúc tương ứng với các tầng tâm thức. Trình bày đầy đủ về các tầng tâm thức, cơ sở khoa học và ứng dụng thực tiễn của chúng được thể hiện trong tác phẩm Power vs. Force: The Hidden Determinants of Human Behavior (Hawkins, [1995], 2012).

Tóm lại, vạn vật đều phát phóng năng lượng, tích cực hoặc tiêu cực. Bằng trực giác, chúng ta biết sự khác biệt giữa một người tích cực (thân thiện, chân thành, chu đáo) và một người tiêu cực (tham lam, dối trá, hận thù). Năng lượng của Mẹ Teresa rõ ràng khác với năng lượng của Adolf Hitler; năng lượng của hầu hết mọi người đều nằm ở đâu đó giữa hai người này. Âm nhạc, địa điểm, sách, động vật, ý định và tất cả sự sống đều phát ra năng lượng có thể được “hiệu chỉnh” về bản chất và mức độ chân thực của nó.

“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.” Các năng lượng khác nhau tập hợp lại thành “mô thức hút” hoặc “tầng tâm thức.” Bản đồ Tâm thức (Phụ lục A) cung cấp quan điểm tuyến tính, theo thang logarit của địa hình năng lượng phi tuyến tính này. Mỗi tầng tâm thức (hoặc mô thức hút) được hiệu chỉnh trên thang đo năng lượng tính theo hàm logarit, từ 1 đến 1000. Tầng Chứng ngộ hoàn toàn (1.000), nằm trên đỉnh Bản đồ, đại diện cho tầng cao nhất có thể đạt được trong cõi nhân gian; đó là năng lượng của Chúa Jesus Christ, Đức Phật và Krishna. Tầng Nhục nhã (20) nằm ở dưới cùng, gần với cái chết, đại diện cho sự sống còn tối thiểu.

Tầng Can đảm (200) là điểm tới hạn đánh dấu sự chuyển đổi từ năng lượng tiêu cực sang năng lượng tích cực. Đó là năng lượng của chính trực, trung thực, trao quyền và khả năng đối phó. Các tầng tâm thức dưới tầng Can đảm mang tính phá hoại, trong khi các tầng trên tầng Can đảm hỗ trợ sự sống. Bài kiểm tra cơ bắp đơn giản cho thấy sự khác biệt: một kích thích tiêu cực (dưới 200) ngay lập tức làm cho cơ bắp yếu đi, còn kích thích tích cực (trên 200) ngay lập tức làm cho cơ bắp mạnh lên. “Sức mạnh đích thực” (Power) thực sự làm cho mạnh lên; trong khi “Bạo lực/Cưỡng bức” (Force[i]) làm cho yếu đi. Nếu chúng ta nằm bên trên tầng Can đảm, mọi người sẽ tìm đến với chúng ta vì chúng ta truyền năng lượng cho họ và chúng ta có thiện chí với họ. Nếu chúng ta nằm dưới tầng Can đảm, mọi người sẽ tránh xa chúng ta vì chúng ta lấy năng lượng từ họ và chúng ta muốn sử dụng họ cho nhu cầu vật chất hoặc tình cảm của mình.

Ở đây, chúng ta phác thảo thang đo cơ bản, bắt đầu từ các tầng năng lượng cao hơn xuống đến các tầng thấp hơn:

An bình (600): Được trải nghiệm như hoàn hảo, phúc lạc, phi nỗ lực và một thể. Đó là trạng thái bất nhị vượt ra ngoài tách biệt và vượt ra ngoài trí tuệ, như trong “sự an bình vượt quá mọi sự hiểu biết”. Được mô tả là Chứng ngộ và khai sáng. Là trạng thái rất hiếm hoi trong cõi nhân gian.

Niềm vui (540): Yêu thương vô điều kiện và bất biến, không phụ thuộc vào hoàn cảnh và hành động của tha nhân. Thế giới được soi sáng bởi vẻ đẹp tuyệt vời, được nhìn thấy trong mọi sự, mọi vật. Sự hoàn hảo của tạo hóa là hiển nhiên. Ở đó hiện hữu sự gần gũi với tính nhất thể (unity[ii]) và khám phá ra Đại Ngã (Self); từ bi với muôn loài; đại nhẫn; cảm giác hòa làm một với người khác và quan tâm tới hạnh phúc của họ. Cảm giác tự viên mãn và tự tại bao trùm tất cả.

Tình yêu (500): Tha thứ, nuôi dưỡng và hỗ trợ trở thành phong cách sống. Nó không xuất phát từ tâm trí; mà đúng hơn, nó tỏa ra từ trái tim. Tình yêu tập trung vào bản chất của một tình huống, chứ không phải các chi tiết. Nó xử lý toàn thể, chứ không phải chi tiết. Khi tri giác được thay thế bằng cái thấy chân thật (vision[iii]), nó không có quan điểm nào và nhìn thấy giá trị nội tại và sự đáng yêu của tất cả những gì đang tồn tại.

Lý trí (400): Phân biệt con người với thế giới động vật. Có khả năng nhìn nhận mọi thứ theo lối trừu tượng, khái niệm hóa, khách quan và đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác. Công dụng to lớn của nó là giải quyết vấn đề. Khoa học, triết học, y học và logic là những biểu hiện của tầng này.

Chấp nhận (350): Năng lượng này là dễ chịu, thoải mái, hài hòa, linh hoạt, bao dung và không có kháng cự nội tâm. “Cuộc sống thật tốt đẹp. Bạn và tôi đều tốt đẹp. Tôi cảm thấy được kết nối.” Nó đón nhận cuộc sống theo đúng bản chất của nó. Không cần phải đổ lỗi cho người khác hay đổ lỗi cho cuộc đời.

Sẵn sàng (310): Năng lượng này phục vụ cho sinh tồn, đấy là do thái độ tích cực, chào đón mọi biểu hiện của cuộc đời. Thân thiện, hữu ích, muốn giúp đỡ và tìm cách phụng sự.

Trung dung (250): Đây là lối sống thoải mái, thực tế và tương đối không bị chi phối bởi cảm xúc. “Thế nào cũng được.” Không có những quan điểm cứng nhắc, không phán xét và không cạnh tranh.

Can đảm (200): Tầng năng lượng này nói: “Tôi có thể làm được.” Nó có quyết tâm, hào hứng với cuộc đời, có năng suất, độc lập và tự chủ. Hành động hiệu quả là khả thi.

Kiêu hãnh (175): Tầng năng lượng này nói: “Cách của tôi là tốt nhất.” Trọng tâm của nó là thành tích, khao khát được công nhận, muốn trở thành đặc biệt và lúc nào cũng hoàn hảo. Cảm thấy “tốt hơn…” và vượt trội hơn người khác.

Tức giận (150): Tầng năng lượng này vượt qua nguồn gốc của sợ hãi bằng bạo lực, đe dọa và tấn công. Dễ cáu kỉnh, bùng nổ, cay đắng, dễ thay đổi và oán hận. Thích “trả đũa,” kiểu như: “Tao sẽ cho mày biết tay.”

Ham muốn (125): Luôn tìm kiếm lợi ích, sở hữu, khoái lạc và “có được” cái gì đó bên ngoài mình. Không bao giờ thỏa mãn, không bao giờ hài lòng và luôn luôn thèm khát. “Tôi phải có cái đó.” “Cho tôi những gì tôi muốn, và cho tôi ngay bây giờ!”

Sợ hãi (100): Tầng năng lượng này nhìn thấy “nguy hiểm,” nguy hiểm hiện diện “khắp nơi.” Né tránh, phòng thủ, lo lắng về sự an toàn, muốn sở hữu người khác, ghen tị, bồn chồn, lo âu và cảnh giác.

U sầu (75): Bất lực, tuyệt vọng, mất mát, hối tiếc và cảm xúc: “Giá như tôi đã…” Chia ly. Trầm cảm. Buồn bã. Cảm giác là một “người thất bại.” Đau khổ, như thể: “Tôi không thể tiếp sống được nữa.”

Thờ ơ (50): Tầng năng lượng này có đặc điểm là tuyệt vọng, muốn chết, trở thành “gánh nặng” đối với những người khác, bị tê liệt và cảm giác: “Tôi không thể” và “Ai thèm quan tâm chứ?” Nghèo đói là hiện tượng phổ biến.

Mặc cảm tội lỗi (30): Người trong trường năng lượng này muốn trừng phạt và muốn bị trừng phạt. Dẫn đến tự chối bỏ, khổ dâm, hối hận, “cảm giác tồi tệ” và tự phá hoại chính mình. “Tất cả là lỗi của tôi.” Dễ gặp tai nạn, có hành vi tự sát và phóng chiếu thái độ căm ghét chính mình lên những người “độc ác” khác là hiện tượng phổ biến. Nó là nền tảng của nhiều loại bệnh tâm thần.

Nhục nhã (20): Có đặc điểm là cảm thấy nhục nhã, như “cúi đầu vì nhục nhã”. Theo truyền thống nó song hành với bị trục xuất khỏi xã hội. Có tính phá hoại đối với sức khỏe và kết quả là tàn nhẫn đối với mình và người khác.

Nhìn chung, có thể nói rằng phần bên dưới của thang đo gắn liền với tần số rung động thấp hơn: năng lượng thấp hơn, sức mạnh thấp hơn, hoàn cảnh sống nghèo nàn hơn, các mối quan hệ cũng nghèo nàn hơn, ít của cải hơn, ít tình yêu hơn, sức khỏe thể chất và tinh thần kém hơn. Vì năng lượng thấp, những người thiếu thốn như vậy rút năng lượng của chúng ta ở tất cả các tầng. Họ thường bị người đời xa lánh và thấy mình đứng cùng với những người cùng tầng với mình (ví dụ như trong nhà tù).

Khi buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, chúng ta sẽ tiến dần lên trên thang đo tới tầng Can đảm, rồi sau đó, tiến xa hơn nữa: hiệu quả, thành công ngày càng tăng và của cải sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta có xu hướng tìm kiếm những người như thế. Chúng ta nói rằng họ “cao thượng”. Họ tỏa ra năng lượng sống tới tất cả các sinh vật ở xung quanh. Động vật thích tới gần họ. Họ có đôi bàn tay khéo léo và tạo được ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống của tất cả những người mà họ tiếp xúc. Ở tầng Can đảm, những cảm thọ tiêu cực chưa hoàn toàn biến mất, nhưng giờ đây chúng ta có đủ năng lượng để xử lý những cảm thọ này, vì chúng ta đã lấy lại được sức mạnh và quyền tự chủ của mình. Cách nhanh nhất để đi từ dưới lên trên là nói sự thật với chính mình và với người khác.

Người ta cũng thường liên kết tầng năng lượng với các trung tâm năng lượng của cơ thể, đôi khi được gọi là “luân xa”. Người ta nói rằng các luân xa là những trung tâm năng lượng, mà “năng lượng kundalini” chảy qua - khi nó được đánh thức ở tầng Can đảm (200). Có thể sử dụng nhiều kỹ thuật lâm sàng và dụng cụ điện tử nhạy cảm để đo các trung tâm năng lượng (luân xa). Trên Bản đồ Tâm thức, các luân xa được hiệu chỉnh như sau: Luân xa Vương miện (600), Luân xa Con mắt thứ ba (525), Luân xa Tim (505), Luân xa Cổ họng (350), Luân xa Rối dương (275), Luân xa Xương chậu hay Lá lách (275), Luân xa Gốc hoặc Luân xa Rễ (200). Khi chúng ta từ bỏ những cảm thọ tiêu cực, năng lượng trong các luân xa cao hơn của chúng ta sẽ tăng lên. Chẳng hạn, thay vì thói quen “trút giận” (luân xa 2), giờ đây chúng ta được mô tả là những người “trọn vẹn yêu thương” (luân xa 5)."

Hệ thống năng lượng này tác động trực tiếp đến cơ thể vật lý. Năng lượng trong mỗi luân xa chảy ra qua các kênh gọi là “kinh mạch” tới toàn bộ cơ thể năng lượng, giống như một bản thiết kế cho cơ thể vật lý. Mỗi kinh mạch liên kết với một cơ quan cụ thể, và mỗi cơ quan lại liên kết với một cảm xúc cụ thể. Cảm xúc tiêu cực làm mất cân bằng năng lượng của kinh mạch và cơ quan liên quan. Ví dụ, trầm cảm, tuyệt vọng và u sầu liên kết với kinh mạch gan, vì vậy những cảm xúc này có xu hướng ảnh hưởng đến chức năng gan. Mỗi cảm thọ tiêu cực làm suy yếu một cơ quan trong cơ thể và cùng với thời gian, cơ quan đó sẽ bị bệnh và cuối cùng không hoạt động được nữa.

Trạng thái cảm xúc càng thấp, chúng ta càng tạo ra ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đến đời sống của chính mình mà còn đến toàn bộ cuộc sống xung quanh. Tầng tiến hóa cảm xúc càng cao, đời sống của chúng ta càng trở nên tích cực hơn trên mọi bình diện, và chúng ta càng hỗ trợ tất cả sự sống xung quanh mình. Khi những cảm xúc tiêu cực được thừa nhận và buông bỏ, chúng ta được tự do hơn và tiến lên trên thang đo, cuối cùng, trải nghiệm những cảm thọ tích cực sẽ chiếm ưu thế.

Tất cả những cảm xúc tiêu cực đều là những hạn chế và che mờ thực tại về Đại Ngã đích thực của chúng ta. Khi chúng ta buông bỏ để tiến lên các tầng cao hơn và tiến gần đến đỉnh thang đo, sẽ xảy ra một loại trải nghiệm mới. Ở đỉnh cao nhất của thang đo, sẽ có nhận thức về Đại Ngã đích thực của mỗi người và các tầng Chứng ngộ khác nhau. Quan trọng nhất cần lưu ý là, càng tiến lên cao hơn và tự do hơn, thì sẽ diễn ra cái mà thế giới gọi là nhận thức tâm linh, trực giác và sự phát triển của tâm thức. Đây là trải nghiệm chung của tất cả những người đã buông bỏ những cảm thọ tiêu cực của mình. Họ trở nên ngày càng có ý thức hơn. Những thứ không thể nhìn thấy hoặc trải nghiệm ở các tầng tâm thức thấp hơn, thì ở các tầng cao hơn lại trở thành hiển nhiên và rõ ràng đến mức làm người ta phải kinh ngạc. 

Hiểu về cảm xúc

Khoa học phát hiện được rằng, tất cả các suy nghĩ đều được lưu trữ trong ngân hàng bộ nhớ của tâm trí theo một hệ thống lưu trữ dựa trên cảm thọ liên quan và các sắc thái tinh tế hơn của nó (Gray–LaViolette, 1982). Suy nghĩ được lưu trữ theo sắc thái của cảm thọ, chứ không theo sự kiện. Do đó, có cơ sở khoa học cho nhận xét rằng bằng cách quan sát cảm thọ thay vì quan sát suy nghĩ làm cho quá trình tự nhận thức gia tăng nhanh hơn hẳn. Có thể có hàng ngàn suy nghĩ liên quan đến một cảm thọ. Do đó, tìm hiểu cảm xúc tiềm ẩn và xử lý nó một cách đúng đắn mang lại nhiều lợi ích hơn và ít tốn thời gian hơn so với việc đối phó với suy nghĩ của mình.

Lúc đầu, nếu bạn chưa quen với toàn bộ chủ đề về cảm thọ, thì nên bắt đầu bằng cách chỉ quan sát mà không định làm bất cứ điều gì. Bằng quan sát, quan hệ giữa cảm thọ và suy nghĩ sẽ dần trở nên sáng tỏ. Sau khi đã thuần thục hơn, chúng ta có thể bắt đầu thực hiện một vài trải nghiệm thực tế. Ví dụ, có thể gạt sang một bên một số lĩnh vực suy nghĩ có xu hướng lặp đi lặp lại và xác định cảm thọ liên quan đến những suy nghĩ này. Sau đó, có thể xử lý cảm thọ bằng cách, trước hết, chấp nhận sự hiện diện của nó, mà không chống lại hay lên án. Và sau đó, bạn bắt đầu giải phóng năng lượng của cảm thọ một cách trực tiếp: để nó được là chính nó cho đến khi cạn kiệt. Một lúc sau, có thể xem xét lại những suy nghĩ trước đó, và bạn nhận thấy bản chất của chúng đã thay đổi. Nếu cảm thọ được buông bỏ hoàn toàn, thông thường tất cả những suy nghĩ liên quan đến nó sẽ biến mất hoàn toàn và được thay thế bằng suy nghĩ mang tính tổng kết, và vấn đề được giải quyết một cách nhanh chóng.

Ví dụ, có người đàn ông mất hộ chiếu ngay trước khi đi nước ngoài. Ngày khởi hành càng tới gần, thì anh ta càng hoảng loạn hơn. Tâm trí anh ta quay cuồng, cố gắng nghĩ xem hộ chiếu có thể bị thất lạc ở đâu. Anh ta tìm kiếm khắp nơi. Anh ta thử nhiều cách nghĩ khác nhau nhưng không có tác dụng. Anh ta tự trách mình: “Sao mình lại ngu ngốc đến mức làm mất hộ chiếu? Giờ không còn thời gian để làm lại nữa!” Khi ngày định mệnh đến gần, anh ta đối mặt với một tình thế khó xử thực sự: không có hộ chiếu, thì không đi được. Bỏ lỡ chuyến đi sẽ gây ra nhiều hậu quả tiêu cực vì đó vừa là công việc vừa là du lịch, và nó sẽ gây ra một tình huống khó khăn. Cuối cùng, anh ta nhớ là phải thực hiện kỹ thuật buông bỏ.

Anh ngồi xuống và tự hỏi: “Cảm thọ cơ bản mà mình đã lờ đi trong thời gian qua là gì?” Thật ngạc nhiên, cảm thọ cơ bản xuất hiện chính là u sầu. U sầu gắn liền với việc không muốn xa người mà mình yêu thương sâu sắc. Còn cả sợ mất quan hệ, hoặc ít nhất là “cách mặt xa lòng”. Khi buông bỏ u sầu và sợ hãi đi kèm với nó, anh ta bỗng cảm thấy bình yên. Anh còn rút ra kết luận rằng, nếu quan hệ này không thể vượt qua được hai tuần xa cách, thì nó cũng chẳng đáng giá; vì vậy, thực sự chẳng có gì phải lo lắng hết. Ngay khi cảm thấy bình yên, anh lập tức nhớ ra hộ chiếu nằm ở đâu. Thực tế là, nó ở một chỗ đơn giản và dễ thấy đến nỗi chỉ có ngăn chặn vô thức mới giải thích được vì sao anh ta lại không nhớ ra. Không cần phải nói rằng, tất cả hàng ngàn suy nghĩ về hộ chiếu bị mất, chuyến đi thất bại và những hậu quả tiềm tàng đều biến mất ngay lập tức. Trạng thái cảm xúc của anh trở thành biết ơn và hạnh phúc thay vì thất vọng.

Buông bỏ có thể rất hữu ích trong các tình huống trong đời sống hàng ngày, nhưng việc sử dụng nó trong các cuộc khủng hoảng trong cuộc đời có thể rất quan trọng trong việc ngăn chặn và giảm bớt nhiều đau khổ. Trong tình huống khủng hoảng trong cuộc đời, thường có quá tải về cảm xúc. Khủng hoảng đã chạm đến một trong những lĩnh vực cảm thọ bị kìm nén hoặc ức chế chính của chúng ta. Trong tình huống này, vấn đề không phải là xác định cảm xúc mà là làm thế nào để xử lý sự quá tải đó. 

Xử lý khủng hoảng cảm xúc

Vì đây là vấn đề rất khó khăn đối với hầu hết mọi người, nên cần nói rõ một số chi tiết. Có một số kỹ thuật giúp vượt qua khủng hoảng cảm xúc nhanh hơn và có kết quả tốt hơn so với việc để nó tự diễn ra. Xin nhớ lại các cơ chế thông thường mà tâm trí sử dụng một cách có ý thức để xử lý cảm xúc, đó là kìm nén (hoặc ức chế), thể hiện và trốn tránh. Những cơ chế này chỉ có hại khi được sử dụng mà không ý thức được. Trong trường hợp quá tải, người ta thường khuyến khích sử dụng những cơ chế này, nhưng phải làm một cách có ý thức. Mục đích của thao tác này là giảm bớt số lượng cảm xúc quá lớn để nó có thể được phân tách và buông bỏ từng chút một (xin xem mô tả bên dưới). Do đó, trong trường hợp này, chủ động đẩy lùi càng nhiều cảm xúc là hoàn toàn ổn. Cường độ cảm xúc có thể được giảm bớt bằng cách chia sẻ cảm xúc với bạn bè thân thiết hoặc người hướng dẫn. Chỉ cần thể hiện cảm thọ, thì một phần năng lượng đằng sau nó sẽ giảm đi. Trong hoàn cảnh này, việc chủ động sử dụng các cơ chế trốn tránh cũng được chấp nhận, chẳng hạn như tham gia các hoạt động xã hội để tạm thời tránh xa nỗi buồn, chơi với chó, xem tivi, đi xem phim, nghe nhạc, làm tình, hoặc bất cứ thói quen nào mà bạn có trong hoàn cảnh đó. Khi cảm thọ đã giảm bớt về cả số lượng và cường độ, tốt nhất là nên bắt đầu buông bỏ những khía cạnh nhỏ của tình huống hơn là toàn bộ tình huống và cảm xúc đi kèm với nó.

Để minh họa điểm này, xin lấy ví dụ về người đàn ông mất việc sau nhiều năm làm việc tại một công ty, và hiện đang chìm trong tuyệt vọng. Bằng cách sử dụng ba cơ chế đã được mô tả bên trên, một số cảm xúc có thể giảm. Điều anh này có thể xem xét sau đó là một số chi tiết nhỏ về công việc. Ví dụ, liệu anh ta có thể buông bỏ mong muốn ăn trưa ở nơi anh ta vẫn thường ăn trưa với các đồng nghiệp hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ mong muốn đỗ xe ở chỗ đỗ xe mà anh ta vẫn thường dùng trước đây hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ mong muốn được đi chính cái thang máy đó hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ sự gắn bó với cái bàn làm việc của mình hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ sự gắn bó với cô thư ký và thái độ thân thiện mà cô ấy dành cho anh ta hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ sự gắn bó với cái máy tính của mình hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ việc gặp ông chủ đó mỗi ngày hay không? Liệu anh ta có thể buông bỏ cảm thọ quen thuộc với những tiếng ồn xung quanh trong văn phòng hay không?

Mục đích của việc buông bỏ những khía cạnh nhỏ nhặt khi mất việc, dường như là tầm thường, là để đưa tâm trí vào trạng thái buông bỏ. Trạng thái buông bỏ đưa chúng ta lên đến tầng Can đảm; tức là những cảm thọ tiêu cực đã được thừa nhận và xử lý; do đó, chúng đã mất sức mạnh của mình. Đột nhiên, chúng ta nhận thức được rằng mình có đủ can đảm để đối mặt với tình huống, nhận ra cảm thọ của mình và làm việc gì đó liên quan tới chúng. Khi những điều nhỏ nhặt được buông bỏ, thì kỳ lạ là, sự kiện chính trở thành ít áp lực hơn. Lý do của hiện tượng này là, khi chúng ta sử dụng cơ chế buông bỏ một cảm xúc, chúng ta đồng thời buông bỏ tất cả các cảm xúc khác. Dường như tất cả các cảm xúc đều có cùng một năng lượng nằm bên dưới, vì vậy việc buông bỏ theo một hướng cũng đồng nghĩa với việc buông bỏ những cảm thọ mà thoạt nhìn có vẻ ngược lại. Đây là dựa trên kinh nghiệm lâm sàng; cần phải tự mình trải nghiệm thì mới có thể tin được.

Sau khi sử dụng bốn phương pháp nói trên (kìm nén, thể hiện, trốn tránh, buông bỏ những khía cạnh nhỏ hơn), phương pháp thứ năm lúc này càng trở nên rõ ràng hơn. Mỗi cảm xúc mạnh mẽ thực chất là sự kết hợp của một số cảm xúc phụ và toàn bộ phức hợp cảm xúc có thể được giải thể. Ví dụ, người đàn ông mất việc ban đầu có cảm thọ tuyệt vọng tột độ; nhưng khi anh ta bắt đầu buông bỏ những khía cạnh xung quanh, và khi anh ta giảm bớt tình trạng choáng ngợp bằng cách sử dụng một cách có ý thức các phương pháp trốn tránh, kìm nén và thể hiện, anh ta nhận ra rằng cũng có cả tức giận nữa. Anh ta thấy rằng tức giận gắn với kiêu hãnh. Có rất nhiều tức giận dưới dạng oán hận. Có tự phủ nhận, đó là một hình thức tức giận hướng vào chính mình. Cũng có sợ hãi. Do đó, những cảm xúc liên quan này giờ đây có thể được xử lý một cách trực tiếp. Ví dụ, anh ta có thể bắt đầu buông bỏ sợ hãi: mình sẽ không tìm được việc làm khác. Khi sợ hãi đó được thừa nhận và buông bỏ, tất cả những khả năng thay thế sẽ đột nhiên trở nên rõ ràng với anh ta. Và khi buông bỏ kiêu hãnh, anh ta sẽ nhanh chóng nhận ra rằng mình không phải đối mặt với thảm họa kinh tế như đã từng nghĩ. Như vậy, khi phức hợp cảm xúc bị phân rã thành các thành phần, mỗi thành phần giờ đây có ít năng lượng hơn và có thể được buông bỏ từng cái một.

Khi thoát khỏi cảm giác choáng ngợp, ta sẽ nhớ rằng một phần cảm xúc nào đó đã bị cố tình kìm nén hoặc trốn tránh. Giờ đây, có thể xem xét lại, để nó không gây ra tác hại dai dẳng, chẳng hạn như dẫn đến thái độ cay đắng, mặc cảm tội lỗi vô thức hoặc làm giảm thái độ tự trọng. Các mảnh vỡ của phức hợp cảm xúc có thể lặp lại trong một khoảng thời gian nào đó, thậm chí trong nhiều năm; tuy nhiên, vì giờ đây chúng chỉ là những mảnh nhỏ, có thể xử lý từng mảnh khi nó xuất hiện. Ít nhất, có thể vượt qua tình huống khủng hoảng một cách an toàn và có ý thức.

Xử lý khủng hoảng từ tầng cảm xúc chứ không phải từ tầng trí tuệ sẽ rút ngắn đáng kể thời gian xảy ra khủng hoảng. Trong trường hợp mất việc làm, xử lý vấn đề ở tầng trí tuệ sẽ tạo ra hàng ngàn suy nghĩ và kịch bản giả định. Người đó sẽ có nhiều đêm mất ngủ vì những suy nghĩ miên man về tình huống này, đấy là khi tâm trí cứ lặp đi lặp lại quá trình xem xét nó. Tất cả những việc làm này đều là vô ích. Chừng nào cảm xúc tiềm ẩn chưa được buông bỏ, thì các suy nghĩ sẽ còn được tạo ra không ngừng nghỉ. Chúng ta đều biết những người đã trải qua khủng hoảng cảm xúc nhiều năm trước và đến nay vẫn chưa hồi phục. Nó đã ảnh hưởng lên toàn bộ cuộc sống của họ, và họ đã phải trả giá đắt vì thiếu kỹ năng xử lý những cảm xúc tiềm ẩn.

Xử lý thành công một cuộc khủng hoảng trong cuộc đời mang lại nhiều lợi ích. Thứ nhất, lượng cảm xúc bị kìm nén giờ đây đã giảm đi rất nhiều. Cuộc khủng hoảng đã buộc nó phải được giải tỏa và do đó, lượng cảm xúc còn lại trong tiềm thức đã giảm đi đáng kể. Cảm giác tự trọng và tự tin gia tăng vì nhận thức được rằng mình có thể vượt qua và xử lý bất cứ điều gì mà cuộc sống mang tới. Nhìn chung, sợ hãi đời sống giảm đi, cảm giác làm chủ cuộc đời trở thành mạnh mẽ hơn, từ bi hơn trước đau khổ của người khác, và khả năng giúp đỡ họ vượt qua những hoàn cảnh tương tự cũng tăng lên. Nghịch lý là, sau khủng hoảng, thường có một giai đoạn bình yên và tĩnh lặng kéo dài rất lâu, đôi khi gần đạt đến tầng trải nghiệm thần bí. “Đêm tối của linh hồn” thường đi trước những trạng thái nhận thức cao.

Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất về nghịch lý là những người đã trải nghiệm cận tử. Hiện nay có rất nhiều sách viết về chủ đề này, cho thấy một điểm chung nhất định. Một khi sợ hãi tồi tệ nhất có thể xảy ra— đối mặt với kinh hoàng và cú sốc của cái chết— thì nó được thay thế bằng cảm giác thanh thản, bình yên, một thể và miễn nhiễm sâu sắc trước sợ hãi. Nhiều người như thế đã phát triển những khả năng phi thường, trở thành người chữa lành, phát triển nhận thức tâm linh và có các trạng thái giác ngộ tâm linh cao cấp. Họ trải nghiệm những bước nhảy vọt to lớn trong sự trưởng thành và đột ngột xuất hiện những tài năng và khả năng mới. Do đó, mỗi cuộc khủng hoảng trong cuộc đời đều mang trong mình mầm mống của sự đảo ngược, đổi mới, mở rộng, một bước nhảy vọt trong tâm thức, và buông bỏ cái cũ để khai sinh ra cái mới. 

Chữa lành quá khứ

Nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta sẽ thấy những tàn dư của các cuộc khủng hoảng trong quá khứ vẫn chưa được giải quyết. Những suy nghĩ và cảm thọ về các sự kiện thường xuất hiện và tô màu tri giác của chúng ta, và chúng ta sẽ nhận thấy rằng chúng đã làm cho chúng ta trở thành bất lực trong một số lĩnh vực của đời sống. Lúc đó, khôn ngoan nhất là tự hỏi xem có đáng tiếp tục trả giá hay không. Lúc này, khi chúng ta đã có một số cơ chế để xử lý những cảm thọ còn sót lại, chúng có thể bộc lộ. Những cảm thọ còn sót lại có thể được xem xét và buông bỏ để có thể chữa lành. Nó đưa chúng ta đến một kỹ thuật chữa lành cảm xúc đầy sức mạnh khi sự kiện lớn đã đi qua. Đó là đưa sự kiện vào một bối cảnh khác, nhìn nhận nó từ góc độ khác, và giữ nó trong hệ hình (paragdism[iv]) khác với ý nghĩa và tầm quan trọng khác trước.

Có người nói rằng hầu hết mọi người lúc nào cũng hối tiếc quá khứ và sợ hãi tương lai; do đó, họ không thể trải nghiệm niềm vui trong hiện tại. Nhiều người trong chúng ta cho rằng đây là số phận của con người, là định mệnh của chúng ta, và điều tốt nhất chúng ta có thể làm là “cười gượng và chịu đựng”. Đôi khi các nhà triết học đã lợi dụng triệt để cách tiếp cận tiêu cực, bi quan này và xây dựng nên toàn bộ hệ thống của chủ nghĩa hư vô. Những nhà triết học này - một số người đã trở thành nổi tiếng qua nhiều năm - rõ ràng chỉ là nạn nhân của những cảm xúc đau đớn mà họ không xử lý được và những cảm xúc này kích hoạt quá trình trí tuệ hóa và trau chuốt không ngừng nghỉ. Nhiều người dành cả cuộc đời để xây dựng những hệ thống tri thức tinh vi chỉ để biện minh cho một điều vốn dĩ quá hiển nhiên: đó là một cảm xúc bị kìm nén.

Một trong những công cụ hiệu quả nhất để xử lý quá khứ là tạo ra bối cảnh khác. Có nghĩa là chúng ta gán cho nó một ý nghĩa khác. Chúng ta có thái độ khác về khó khăn hoặc tổn thương trong quá khứ, và chúng ta thừa nhận món quà tiềm ẩn trong đó. Viktor Frankl chuyên gia tâm thần học là người đầu tiên nhận ra giá trị của kỹ thuật này. Ông giải thích cách tiếp cận này—gọi là “Liệu pháp ý nghĩa”—trong cuốn sách nổi tiếng Man’s Search for

Meaning (Đi tìm lẽ sống). Trải nghiệm cả trong lĩnh vực lâm sàng và lĩnh vực cá nhân của ông đã chứng minh rằng các sự kiện mang tính cảm xúc và những biến cố đau thương sẽ thay đổi đáng kể và được chữa lành nếu ta gán cho chúng ý nghĩa mới. Frankl kể về trải nghiệm của chính mình trong các trại tập trung của Đức Quốc xã - ông nhận ra rằng đau khổ về thể xác và tinh thần là cơ hội để giành chiến thắng nội tâm. Con người có thể bị tước đoạt mọi thứ, trừ một điều: quyền tự do cuối cùng trong những quyền tự do của nhân loại – đó là quyền lựa chọn thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào, quyền lựa chọn con đường của riêng mình. (Frankl, [1959] 2006). Frankl đã tái định hình bối cảnh của những hoàn cảnh kinh hoàng để tạo ra ý nghĩa sâu sắc đối với linh hồn của con người.

Mỗi trải nghiệm trong cuộc đời, dù “bi thảm” đến đâu, đều chứa đựng một bài học được che giấu. Khi chúng ta khám phá và thừa nhận món quà được che dấu đó, chữa lành sẽ diễn ra. Trong ví dụ về người đàn ông mất việc làm, sau một thời gian, anh ta nhìn lại và thấy rằng công việc cũ đã kìm hãm quá trình phát triển của mình, anh ta đã bị mắc kẹt trong lối mòn. Thẳng thắn mà nói, công việc cũ đã làm anh ấy bị loét dạ dày. Trước khi mất việc, anh ta chỉ thấy những niềm vui trong công việc đó. Sau khi thoát khỏi tình huống đó, anh ta bắt đầu nhận ra cái giá mà mình phải trả—về thể chất, tinh thần và cảm xúc. Sau khi mất việc, anh ta sẵn sàng khám phá những khả năng và tài năng mới; trên thực tế, anh ta đã bắt đầu một sự nghiệp mới, đầy hứa hẹn.

Vì vậy, các sự kiện trong cuộc đời là cơ hội để trưởng thành, mở rộng, trải nghiệm và phát triển. Trong một số trường hợp, nhìn lại thì dường như thực sự là có mục đích vô thức đằng sau sự kiện đó, như thể vô thức của chúng ta biết rằng, có một điều gì đó quan trọng cần phải học, và, dù đau đớn đến đâu, đó là cách duy nhất để trải nghiệm điều đó. Đây là một phần trong tâm lý học của nhà phân tâm học Carl Jung - sau cả đời nghiên cứu, ông rút ra kết luận rằng có một động lực bẩm sinh trong vô thức hướng tới sự toàn vẹn, trọn vẹn và nhận thức về Đại Ngã, và vô thức sẽ nghĩ ra các biện pháp để vươn tới trạng thái này, ngay cả khi chúng làm cho tâm trí hữu thức bị tổn thương.

Jung còn nói rằng trong vô thức có một khía cạnh của chính chúng ta, gọi là “bóng tối” (shadow[v]). Bóng tối là tất cả những suy nghĩ, cảm xúc và khái niệm bị kìm nén về chính mình mà chúng ta không muốn đối mặt. Một trong những lợi ích của khủng hoảng là nó thường giúp chúng ta làm quen với bóng tối của mình. Nhận ra những thứ chúng ta chia sẻ với toàn thể nhân loại làm cho chúng ta trở thành nhân văn hơn và trọn vẹn hơn. Tất cả những điều mà chúng ta nghĩ rằng “họ” có tội đều có mặt trong chính chúng ta. Vì vậy, khi được đưa lên tầng nhận thức hữu thức, được thừa nhận và được buông bỏ, nó sẽ không còn điều khiển chúng ta một cách vô thức nữa. Một khi bóng tối được thừa nhận, nó không còn sức mạnh nữa. Tất cả những việc cần làm chỉ là nhận ra rằng chúng ta có những xung động, suy nghĩ và cảm thọ nào đó đã bị cấm, không được thể hiện ra. Giờ đây, chúng ta có thể xử lý chúng bằng câu hỏi “Vậy thì sao?”.

Do đó, đi qua vụ khủng hoảng của cuộc đời làm cho chúng ta trở thành nhân văn hơn, từ bi hơn, chấp nhận và hiểu chính mình và người khác hơn. Chúng ta không còn phải sa đà vào việc đổ lỗi cho người khác hoặc tự trách mình nữa. Xử lý khủng hoảng cảm xúc giúp chúng ta có nhiều trí tuệ hơn và nó sẽ mang lại lợi ích trong suốt cuộc đời này. Sợ hãi cuộc đời thực chất là sợ hãi cảm xúc. Chúng ta không sợ sự kiện mà sợ cảm thọ về sự kiện. Một khi chúng ta làm chủ được cảm thọ của mình, sợ cuộc đời sẽ giảm đi. Chúng ta cảm thấy tự tin hơn, và sẵn sàng chấp nhận rủi ro lớn hơn, vì lúc này chúng ta cảm thấy mình có thể xử lý được những hậu quả về mặt cảm xúc, dù chúng có là gì thì cũng thế. Bởi vì sợ hãi là gốc rễ của mọi kìm hãm, chế ngự sợ hãi có nghĩa là mở ra toàn bộ những con đường cho trải nghiệm cuộc đời mà trước đây chúng ta từng né tránh.

Do đó, người đàn ông xử lý thành công khủng hoảng mất việc làm sẽ không bao giờ trải nghiệm sợ hãi tương tự như thế nữa. Vì vậy, anh ta sẽ sáng tạo hơn trong công việc tiếp theo, sẵn sàng chấp nhận những rủi ro, nếu cần, để thành công. Anh ta bắt đầu nhận ra sợ hãi ám ảnh về mất việc đã hạn chế nghiêm trọng hiệu suất làm việc của mình như thế nào, khiến anh ta sợ hãi và thận trọng, và đánh mất lòng tự trọng của mình do quá phục tùng và tuân thủ cấp trên.

Một trong những lợi ích từ vụ khủng hoảng trong cuộc đời là gia tăng nhận thức về chính mình. Tình huống vượt quá sức chịu đựng, và chúng ta buộc phải dừng tất cả những trò chơi đánh lạc hướng, nhìn nhận thật kỹ tình hình và đánh giá lại niềm tin, mục tiêu, giá trị và hướng đi. Đây là cơ hội để đánh giá lại và buông bỏ mặc cảm tội lỗi. Đây cũng là cơ hội để thay đổi hoàn toàn thái độ của mình. Những vụ khủng hoảng trong cuộc đời đưa chúng ta tới những thái cực trái ngược nhau. Chúng ta sẽ căm ghét hay tha thứ cho người đó? Chúng ta sẽ học hỏi từ trải nghiệm này và trưởng thành, hay oán hận và trở thành người cay đắng? Chúng ta quyết định bỏ qua những thiếu sót của người khác và của chính mình, hay, thay vào đó chúng ta oán hận và tấn công họ về mặt tinh thần? Trong tương lai, chúng ta sẽ rút lui khỏi tình huống tương tự và sợ hãi hơn, hay, một lần nữa, chúng ta sẽ vượt qua khủng hoảng và làm chủ nó một lần và mãi mãi? Chúng ta chọn hy vọng hay nản chí? Chúng ta có thể sử dụng trải nghiệm này như một cơ hội để học cách chia sẻ, hay chúng ta sẽ rút lui vào vỏ bọc của sợ hãi và cay đắng? Mỗi trải nghiệm cảm xúc là một cơ hội để đi lên hoặc đi xuống. Chúng ta chọn cách làm nào? Đó chính là khoảnh khắc phải trực diện với chính mình.

Chúng ta có cơ hội quyết định xem mình muốn bám vào hay buông bỏ những tổn thương về mặt cảm xúc. Chúng ta có thể xem xét cái giá phải trả khi bám vào chúng. Chúng ta có muốn trả giá đó hay không? Chúng ta có sẵn sàng chấp nhận những cảm thọ đó hay không? Chúng ta cũng có thể xem xét những lợi ích của việc buông bỏ chúng. Lựa chọn của chúng ta sẽ quyết định tương lai của chúng ta. Chúng ta muốn có tương lai như thế nào? Chúng ta sẽ chọn được chữa lành, hay sẽ trở thành một trong những người mang theo vết thương lòng?

Khi quyết định, quan trọng là phải xem xét phần thưởng mà chúng ta nhận được khi bám vào dư vị của một trải nghiệm đầy đau khổ. Chúng ta có được những thoả mãn nào? Chúng ta sẵn sàng cam chịu đến mức nào? Giận dữ. Thù hận. Than thân trách phận. Oán hận. Tất cả đều là những phần thưởng rẻ mạt, thỏa mãn nhỏ nhoi ở bên trong. Đừng giả vờ là không có. Có một thứ khoái lạc kỳ quặc, quái đản khi ta bám vào nỗi đau. Nó chắc chắn thỏa mãn nhu cầu vô thức của chúng ta trong việc xoa dịu mặc cảm tội lỗi thông qua trừng phạt. Ta được quyền cảm thấy khốn khổ và tồi tệ. Nhưng rồi câu hỏi đặt ra là: “Chuyện này sẽ kéo dài được bao lâu?”

            Ví dụ, một người đàn ông đã không nói chuyện với anh trai mình suốt 23 năm. Cả hai đều không nhớ chuyện gì đã xảy ra; câu chuyện đã bị lãng quên từ lâu. Nhưng họ đã quen với việc không nói chuyện, và vì vậy họ phải trả giá bằng việc thiếu vắng sự hiện diện của nhau, tình cảm, sự gắn kết trong các vấn đề gia đình, và tất cả những trải nghiệm và tình yêu mà họ lẽ ra có thể có trong suốt 23 năm đó. Khi người đàn ông này hiểu được cơ chế của buông bỏ, anh ta bắt đầu buông bỏ cảm thọ về anh trai mình. Đột nhiên, anh ta bật khóc vì buồn khi nhận ra tất cả những gì đã mất trong những năm qua. Bằng cách tha thứ cho anh trai của mình, anh ta kích hoạt phản ứng tương tự ở người anh trai, và hai người đã đoàn tụ với nhau. Sau đó, một trong hai anh em nhớ lại câu chuyện đã từng xảy ra. Đó là một vụ tranh cãi về đôi giày tennis. Chỉ vì đôi giày tennis mà họ đã phải trả giá suốt 23 năm! Nếu người đàn ông này không học được kỹ thuật buông bỏ, rất có thể anh ta đã mang theo oán hận ấy xuống mồ. Vậy câu hỏi đặt ra là: “Chúng ta muốn tiếp tục chịu đựng bao lâu nữa? Khi nào chúng ta sẵn sàng từ bỏ nó? Khi nào thì đủ?”

Cái phần muốn bám víu vào những cảm xúc tiêu cực chính là sự nhỏ bé của chúng ta. Đó là phần ích kỷ, nhỏ nhen, thích cạnh tranh, keo kiệt, mưu mô, không tin tưởng, thù hận, thích phán xét, tự ti, yếu đuối, mặc cảm tội lỗi, xấu hổ và phù phiếm trong chúng ta. Nó có ít năng lượng; nó hút năng lượng, hạ thấp phẩm giá và dẫn đến thái độ tự ti. Chính phần nhỏ bé đó gây ra thái độ tự căm thù chính mình, mặc cảm tội lỗi không bao giờ ngưng và tìm kiếm trừng phạt, bệnh tật. Đó có phải là phần mà chúng ta muốn đồng nhất với hay không? Đó có phải là phần mà chúng ta muốn tiếp thêm năng lượng hay không? Đó có phải là cách chúng ta muốn nhìn nhận chính mình? Bởi vì nếu đó là cách chúng ta nhìn nhận chính mình, thì đó cũng là cách người khác nhìn nhận chúng ta.

Thế giới chỉ có thể nhìn chúng ta như cách chúng ta nhìn nhận chính mình. Liệu chúng ta có sẵn sàng trả giá cho những hậu quả đó? Nếu chúng ta tự coi mình là keo kiệt và nhỏ nhen, thì khó có khả năng là chúng ta sẽ đứng đầu danh sách thăng tiến của công ty.

Cái giá phải trả cho việc bám vào sự nhỏ bé có thể được chứng minh bằng phương pháp kiểm tra cơ bắp. Quy trình khá đơn giản (Hawkins, [1995], 2012). Giữ trong tâm trí một suy nghĩ xấu xa, nhỏ nhen và nhờ ai đó ấn mạnh cánh tay bạn trong khi bạn chống lại; chú ý đến hiệu quả. Bây giờ, chọn một quan điểm hoàn toàn ngược lại. Hãy hình dung bản thân mình là người hào phóng, vị tha, yêu thương và trải nghiệm sự vĩ đại bên trong. Ngay lập tức, sức mạnh cơ bắp sẽ tăng lên đáng kể, cho thấy sự bùng nổ của năng lượng sinh học tích cực. Nhỏ bé mang lại yếu đuối, bệnh tật và cái chết. Bạn có thực sự muốn điều đó? Buông bỏ những cảm thọ tiêu cực có thể đi kèm với một thủ thuật rất lành mạnh khác, nó sẽ hỗ trợ rất nhiều cho quá trình chuyển hoá nội tâm của bạn, đó chính là: thôi kháng cự lại những cảm thọ tích cực. 

Tăng cường cảm xúc tích cực

Hệ quả của việc buông bỏ cảm thọ tiêu cực là ngừng chống lại những cảm thọ tích cực. Mọi thứ trong vũ trụ đều có cái đối lập của nó; do đó, trong tâm trí, mỗi cảm thọ tiêu cực đều có đối trọng của nó, nằm giữa nhỏ bé và vĩ đại, dù chúng ta có liên tục nhận thức được sự tồn tại của nó tại bất kỳ thời điểm nào hay không.

Một bài tập hay và rất hữu ích là ngồi xuống và nhìn vào cảm thọ hoàn toàn trái ngược với cảm thọ tiêu cực mà chúng ta đang trải nghiệm và bắt đầu buông bỏ việc chống lại nó. Ví dụ, giả sử sinh nhật của một người bạn sắp đến và chúng ta cảm thấy bực bội và keo kiệt; do đó, chúng ta dường như không thể đi ra ngoài mua quà, còn ngày đó thì đang đến gần. Cảm thọ hoàn toàn trái ngược là tha thứ và hào phóng. Chúng ta chỉ cần bắt đầu tìm kiếm cảm thọ tha thứ trong chính mình và ngừng chống lại nó. Khi chúng ta tiếp tục buông bỏ sự kháng cự của mình đối với việc trở thành một người biết tha thứ, thường thì điều đáng ngạc nhiên là tha thứ sẽ trỗi dậy mạnh mẽ. Chúng ta sẽ bắt đầu nhận ra rằng một phần bản chất của chúng ta luôn sẵn sàng và mong muốn tha thứ, nhưng chúng ta không dám mạo hiểm. Chúng ta nghĩ rằng mình có thể trông như là ngốc nghếch. Chúng ta nghĩ rằng mình đang trừng phạt người kia bằng cách giữ tâm oán hận, nhưng thực ra chúng ta đã kìm nén tình yêu. Ban đầu, chúng ta có thể không cảm nhận rõ điều này một cách cụ thể về người bạn của mình, nhưng chúng ta sẽ bắt đầu nhận thấy rằng mình có khía cạnh này trong tính cách. Khi chúng ta tiếp tục buông bỏ sự kháng cự đối với tình yêu, chúng ta sẽ nhận ra rằng bên trong chính mình có điều gì đó muốn thể hiện thông qua việc chia sẻ và cho đi, buông bỏ quá khứ và chôn vùi hận thù. Có mong muốn thực hiện một cử chỉ thân thiện; chúng ta muốn hàn gắn sự chia tách, sửa chữa vết thương, sửa chữa sai trái, bày tỏ lòng biết ơn và chấp nhận rủi ro bị coi là người ngốc.

Mục đích của bài tập này là để tìm ra trong chính mình điều mà chỉ có thể được mô tả là vĩ đại. Vĩ đại là can đảm để vượt qua những trở ngại. Đó là sẵn sàng tiến đến tầng yêu thương cao hơn. Đó là chấp nhận tính người của người khác và từ bi đối với đau khổ của họ bằng cách đặt mình vào vị trí của họ. Từ tha thứ cho người khác mà nảy sinh tha thứ chính mình và giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi. Phần thưởng thực sự là khi chúng ta buông bỏ tiêu cực và chọn yêu thương; thì chính chúng ta là người được lợi. Chính chúng ta là người được lợi từ phần thưởng thực sự này. Với nhận thức ngày càng tăng về bản chất thực sự của mình, chúng ta dần trở thành miễn nhiễm hơn với nỗi đau. Một khi chúng ta chấp nhận bằng tâm từ bi với tính người của chính mình và của người khác, chúng ta không còn bị sỉ nhục nữa, vì khiêm nhường thực sự là một phần của sự vĩ đại.

Từ nhận thức về bản chất thực sự của mình mà nảy sinh mong muốn tìm kiếm những thứ nâng mình lên. Từ đó xuất hiện ý nghĩa và bối cảnh mới cho cuộc đời. Khi sự trống rỗng bên trong, do thiếu lòng tự trọng, được thay thế bằng yêu thương chính mình, tự trọng và kính trọng chính mình, chúng ta không còn phải tìm kiếm nó ở thế giới bên ngoài nữa, vì cội nguồn hạnh phúc nằm trong chính chúng ta. Chúng ta chợt nhận ra rằng thế giới này dù thế nào cũng không thể cung cấp được cái đó. Không có của cải nào có thể bù đắp được cảm giác nghèo nàn nội tâm. Chúng ta đều biết có nhiều triệu phú tìm cách bù đắp cho cảm giác trống rỗng và thiếu vắng giá trị nội tâm. Một khi đã kết nối được với Đại Ngã bên trong, với sự vĩ đại bên trong, với sự trọn vẹn, mãn nguyện và cảm giác hạnh phúc đích thực nội tâm, là chúng ta siêu việt thế giới này. Thế giới giờ đây là nơi để tận hưởng, chúng ta không còn bị nó chi phối nữa. Chúng ta không còn chịu ảnh hưởng của nó nữa.

Khi chúng ta sử dụng những kỹ thuật từ bỏ tiêu cực và thôi kháng cự cái tích cực, thì trước sau gì chúng ta cũng sẽ vươn tới nhận thức toàn diện, đột ngột về chiều kích thực sự của mình. Khi trải nghiệm hiện tượng này, thì sẽ không bao giờ quên được. Thế giới sẽ không bao giờ làm cho chúng ta sợ hãi như trước nữa. Có thể vẫn tiếp tục tuân theo những cách thức của thế gian chỉ vì thói quen, nhưng sự thúc đẩy bên trong, sự dễ tổn thương bên trong và sự nghi ngờ bên trong đã biến mất. Bề ngoài, hành vi có thể trông giống nhau, nhưng bên trong, nguyên nhân của nó giờ đây đã hoàn toàn khác. Kết quả cuối cùng của việc kiểm soát cảm xúc một cách có ý thức là sự bất khả xâm phạm và bất động tâm. Bản chất bên trong của chúng ta giờ đây như được bảo vệ khỏi mọi tổn thương. Ta có thể sống trọn kiếp người trong thăng bằng và tự tại.


[i] Force – Bạo lực/Cưỡng bức là dạng năng lượng mang tính cưỡng chế, tách biệt và kháng cự lại quy luật tự nhiên, dù biểu hiện ra bên ngoài thành hành động hay diễn ra âm thầm bên trong tâm trí như là quá trình tự hủy hoại. Vì mang tính cưỡng bức, Force luôn tạo ra phản lực, dẫn đến tiêu hao năng lượng và suy yếu trong dài hạn. Bạo lực đại diện cho các tầng tâm thức dưới 200.

[ii] Unity (Nhất thể) là trạng thái ý thức trong đó mọi cảm nhận về sự tách biệt giữa “ta” và “người khác”, giữa “chủ thể” và “đối tượng”, giữa “con người” và “vũ trụ” tan biến. Tất cả được trực nhận như một thực tại duy nhất, một trường hiện hữu không phân chia. Unity (Hợp nhất/Nhất thể) nhấn mạnh trạng thái hiệp nhất: mọi phân chia đã tan biến.

[iii] Vision (trong ngữ cảnh tâm linh) không phải là thị giác vật lý, mà là một cách thấy bằng tâm thức đã được chữa lành. Nó là trạng thái trong đó con người nhìn mọi sự không còn qua sự phán xét của bản ngã, mà qua tình yêu và sự hợp nhất. Vision xuất hiện khi perception được thanh lọc. Trong perception, tâm trí nhìn thế giới qua sợ hãi, phân ly, và diễn giải chủ quan. Trong vision, cái nhìn trở nên trong sáng, không phán xét, và nhận ra bản chất vô tội và thiêng liêng của mọi sự.

[iv] Paradigm dịch là “hệ hình” có nghĩa là: Một khung nhận thức nền tảng – một mô hình tư duy bao trùm – quy định cách ta nhìn, hiểu và giải thích thế giới. Khái niệm paradigm trở nên nổi tiếng nhờ cuốn sách The Structure of Scientific Revolutions của Kuhn. Trong đó, Kuhn dùng “paradigm” để chỉ: Một hệ thống giả định nền tảng, phương pháp, giá trị, và mô hình mẫu được cộng đồng khoa học chấp nhận trong một thời kỳ – và chính nó quy định cái gì được xem là “khoa học”, cái gì là “sự thật”, và cách giải thích dữ liệu.


June 26, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (3)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 


CHƯƠNG

2 

CƠ CHẾ BUÔNG BỎ

Buông bỏ là gì?

Buông bỏ tương tự như chấm dứt đột ngột áp lực ở bên trong hoặc thả một vật nặng xuống. Buông bỏ đi kèm với cảm giác nhẹ nhõm và thanh thản đột ngột, cùng với gia tăng hạnh phúc và tự do. Đó là một cơ chế thực sự của tâm trí, và mọi người, một lúc nào đó, đều đã từng trải nghiệm.

Ví dụ điển hình: Bạn đang tranh cãi gay gắt; bạn đang tức giận và khó chịu, khi đột nhiên toàn bộ sự việc làm cho bạn thấy thật vô lý và nực cười. Bạn bắt đầu cười. Áp lực được giải tỏa. Bạn thoát khỏi giận dữ, sợ hãi và cảm giác bị tấn công tới cảm giác mình đột nhiên được tự do và hạnh phúc.

Hãy nghĩ xem sẽ tuyệt vời biết bao nếu bạn có thể làm như thế mọi lúc, mọi nơi, và với bất kỳ sự kiện nào. Bạn có thể luôn luôn cảm thấy tự do và hạnh phúc và không bao giờ có cảm giác bị dồn vào chân tường nữa. Đó chính là cái mà kỹ thuật này nói tới: buông bỏ một cách có ý thức và thường xuyên theo ý mình muốn. Lúc đó, bạn sẽ làm chủ được cảm thọ của mình, và không còn phụ thuộc vào thế gian và những phản ứng của bạn đối với thế gian nữa. Bạn không còn là nạn nhân. Đây là áp dụng giáo lý cơ bản mà Đức Phật truyền dạy, giúp loại bỏ áp lực của những phản ứng tự phát (Involuntary Reactivity[i]).

Chúng ta mang theo bên mình rất nhiều cảm thọ, thái độ và niềm tin tiêu cực được tích lũy lại. Áp lực được tích lũy lại làm cho chúng ta khốn khổ và là nguyên nhân của nhiều bệnh tật và vấn đề. Chúng ta cam chịu sự kiện đó và biện minh bằng cụm từ “thân phận con người”. Chúng ta tìm cách trốn tránh bằng nhiều cách khác nhau. Cuộc sống của một người trung bình được dùng vào việc tìm cách tránh né và chạy trốn khỏi sự hỗn loạn nội tâm do sợ hãi và khốn khổ đe doạ. Lòng tự trọng của mỗi người luôn luôn bị đe dọa từ cả bên trong lẫn bên ngoài.

Nếu nhìn kỹ vào đời sống con người, chúng ta thấy rằng về cơ bản đó là một cuộc đấu tranh kéo dài và phức tạp nhằm thoát khỏi sợ hãi và kỳ vọng ở bên trong mà chúng ta đã phóng chiếu ra thế giới bên. Xen kẽ là những khoảng thời gian ăn mừng, khi chúng ta tạm thời thoát khỏi sợ hãi ở bên trong, nhưng sợ hãi vẫn còn đó, đang chờ đợi chúng ta. Chúng ta trở nên sợ hãi những cảm thọ bên trong, vì chúng lưu giữ nhiều tiêu cực đến mức chúng ta sợ rằng nếu nhìn sâu hơn thì mình sẽ bị chúng áp đảo. Chúng ta sợ những cảm thọ này vì chúng ta không có cơ chế hữu thức nào để xử lý cảm thọ nếu để chúng trỗi dậy. Vì chúng ta sợ đối mặt với chúng, chúng tiếp tục được tích tụ và cuối cùng, chúng ta thầm mong đợi cái chết để chấm dứt mọi khổ đau. Không phải suy nghĩ hay sự thật mà những cảm thọ đi kèm với chúng mới làm chúng ta đau đớn. Suy nghĩ, tự thân nó, không làm chúng ta đau, chính những cảm thọ nằm bên dưới mới làm cho chúng ta đau!

Áp lực của cảm thọ được tích tụ lại là nguyên nhân tạo ra suy nghĩ. Ví dụ, một cảm thọ có thể tạo ra hàng ngàn suy nghĩ trong một khoảng thời gian dài. Xin nghĩ đến một ký ức đau buồn từ thời thơ ấu, một tiếc nuối khinh hoàng bị che giấu. Xin nhìn vào tất cả những năm tháng suy tư dài đằng đẵng gắn liền với sự kiện duy nhất đó. Nếu chúng ta có thể buông bỏ cảm thọ đau buồn nằm bên dưới nó, thì tất cả những suy nghĩ đó sẽ biến mất ngay lập tức và chúng ta sẽ quên sự kiện đó.

Nhận xét này phù hợp với nghiên cứu khoa học. Đấy là lý thuyết khoa học mang tên Gray-LaViolette tích hợp tâm lý học và sinh lý thần kinh. Nghiên cứu này chứng minh rằng sắc thái của cảm thọ sắp xếp suy nghĩ và trí nhớ (Gray-LaViolette, 1981). Suy nghĩ được lưu trữ trong bộ nhớ theo các sắc thái cảm thọ khác nhau gắn liền với những suy nghĩ đó. Do đó, khi chúng ta từ bỏ hoặc buông bỏ một cảm thọ nào đó, là chúng ta đưa mình ra khỏi tất cả những suy nghĩ liên quan.

Giá trị to lớn của biết buông bỏ là bạn có thể buông bỏ tất cả các cảm thọ, bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu, ngay lập tức, và việc này có thể được thực hiện một cách liên tục và dễ dàng.

Trạng thái buông bỏ là gì? Có nghĩa là thoát khỏi những cảm thọ tiêu cực trong một lĩnh vực nhất định, để khả năng sáng tạo và tính tự phát có thể được hiển lộ mà không gặp phải phản đối hay can thiệp của những xung đột nội tâm. Giải thoát khỏi xung đột và kỳ vọng nội tâm chính là trao cho những người khác trong cuộc đời của chúng ta tự do lớn nhất. Nó cho phép chúng ta trải nghiệm bản chất cơ bản của vũ trụ, mà sau này sẽ được khám phá ra, đó là điều tốt đẹp nhất có thể trong một tình huống. Nghe có vẻ quá triết lý, nhưng khi thực hiện, nó là sự thật có thể trải nghiệm được.

 

Cảm thọ và cơ chế của tâm trí

Chúng ta có ba biện pháp chính để xử lý cảm thọ: kìm nén, thể hiện, và trốn tránh. Chúng ta sẽ thảo luận từng biện pháp. 

1. Kìm nén và ức chế[ii]. Đây là những biện pháp phổ biến nhất: chúng ta kìm nén cảm thọ và gạt sang một bên. Trong ức chế, nó xảy ra một cách vô thức; trong kìm nén nó xảy ra một cách có ý thức. Chúng ta không muốn bị cảm thọ làm phiền và, hơn nữa, chúng ta không biết phải làm gì khác với những cảm thọ này. Chúng ta cố gắng chịu đựng và tiếp tục hoạt động theo cách mà chúng ta cho là tốt nhất. Những cảm thọ mà chúng ta chọn để kìm nén hoặc ức chế phù hợp với các chương trình hữu thức và vô thức mà chúng ta mang theo bên mình từ phong tục xã hội và giáo dục của gia đình. Sau đó áp lực của những cảm thọ bị kìm nén được cảm nhận như cáu kỉnh, thay đổi tâm trạng, căng cơ ở cổ và lưng, đau đầu, chuột rút, rối loạn kinh nguyệt, viêm đại tràng, khó tiêu, mất ngủ, tăng huyết áp, dị ứng và các bệnh lý khác.

Khi chúng ta ức chế một cảm thọ, đó là vì có quá nhiều mặc cảm tội lỗi và sợ hãi về cảm thọ đó đến nỗi nó thậm chí không được cảm nhận một cách có ý thức. Nó ngay lập tức bị đẩy vào tiềm thức ngay khi có nguy cơ bộc lộ. Cảm thọ bị ức chế sau đó được xử lý bằng nhiều cách khác nhau để đảm bảo rằng nó vẫn bị ức chế và nằm ngoài nhận thức.

Trong số các cơ chế mà tâm trí sử dụng để giữ cho cảm thọ bị ức chế, thì phủ nhận và phóng chiếu có lẽ là những phương pháp được biết đến nhiều nhất, vì chúng có xu hướng đi cùng với nhau và củng cố lẫn nhau. Phủ nhận dẫn đến những rào cản lớn về cảm xúc và trưởng thành. Nó thường đi kèm với cơ chế phóng chiếu. Vì mặc cảm tội lỗi và sợ hãi, chúng ta ức chế xung động hoặc cảm thọ, và chúng ta phủ nhận sự hiện diện của nó bên trong chúng ta. Thay vì cảm nhận nó, chúng ta phóng chiếu nó ra thế giới và những người xung quanh. Chúng ta trải nghiệm cảm thọ như thể nó thuộc về “họ”. “Họ” sau đó trở thành kẻ thù, còn tâm trí thì tìm kiếm và tìm thấy những lời biện hộ để củng cố phóng chiếu. Lỗi lầm được gán cho con người, cho địa điểm, thể chế, thực phẩm, điều kiện khí hậu, các sự kiện chiêm tinh, điều kiện xã hội, số phận, Chúa, vận may, ma quỷ, người nước ngoài, các nhóm sắc tộc, đối thủ chính trị, và những thứ khác nằm bên ngoài chúng ta. Hiên nay, phóng chiếu là cơ chế chính được thế giới sử dụng. Nó giải thích nguyên nhân của tất cả các cuộc chiến tranh, xung đột và rối loạn xã hội. Thậm chí việc căm ghét kẻ thù còn được khuyến khích để trở thành “công dân tốt”. Chúng ta duy trì lòng tự trọng của mình bằng cách hạ thấp người khác, và cuối cùng, là đổ vỡ xã hội. Cơ chế của phóng chiếu là nền tảng của mọi cuộc tấn công, bạo lực, hung hãn và tất cả các hình thức phá hoại xã hội. 

2. Biểu hiện. Bằng cơ chế này, cảm thọ được bộc lộ, được diễn đạt bằng lời nói, hoặc thể hiện bằng ngôn ngữ cơ thể, và được thể hiện ra trong các cuộc biểu tình tập thể không ngừng nghỉ. Việc biểu hiện những cảm thọ tiêu cực cho phép một lượng áp lực bên trong vừa đủ được giải tỏa để phần còn lại có thể bị kìm nén. Đây là điểm mấu chốt cần phải hiểu, vì nhiều người trong xã hội ngày nay tin rằng biểu hiện cảm thọ sẽ giải phóng họ khỏi những cảm thọ đó. Thực tế thì ngược lại. Thứ nhất, việc biểu hiện một cảm thọ nào đó có xu hướng lan truyền cảm thọ đó và tiếp thêm năng lượng cho nó. Thứ hai, việc biểu hiện cảm thọ chỉ đơn thuần cho phép phần còn lại bị kìm nén nằm ngoài nhận thức.

Cân bằng giữa kìm nén và biểu hiện khác nhau ở mỗi người, phụ thuộc vào quá trình rèn luyện ban đầu, các chuẩn mực và phong tục văn hóa, và phương tiện truyền thông. Việc thể hiện chính mình đang thịnh hành trong giai đoạn hiện nay là do hiểu sai công trình của Sigmund Freud và phân tâm học. Freud chỉ ra rằng kìm nén là nguyên nhân của chứng loạn thần kinh; do đó, biểu hiện bị hiểu nhầm là phương pháp chữa trị. Giải thích sai như thế trở thành cái cớ cho tự thỏa mãn mà người khác phải trả giá. Điều Freud thực sự nói, trong phân tâm học cổ điển, là xung động hoặc cảm thọ bị kìm nén cần được trung hòa, thăng hoa, xã hội hóa (socialized[iii]), và hướng vào những động lực mang tính xây dựng như tình yêu, công việc và sáng tạo.

Nếu chúng ta trút những cảm thọ tiêu cực của mình lên người khác, họ sẽ cảm thấy đó là tấn công và, đến lượt mình, buộc phải kìm nén, thể hiện hoặc trốn tránh những cảm thọ đó; do đó, việc thể hiện thái độ tiêu cực làm suy giảm và phá hủy các mối quan hệ. Giải pháp tốt hơn nhiều là chịu trách nhiệm về cảm thọ của chính mình và trung hòa chúng. Khi đó, chỉ còn lại những cảm thọ tích cực để được thể hiện. 

3. Trốn tránh. Trốn tránh là né tránh các cảm thọ bằng cách đánh lạc hướng sự chú ý của chính mình. Né tránh là xương sống của ngành công nghiệp giải trí và rượu bia, và cũng là con đường của những người nghiện công việc. Trốn tránh và né tránh nhận thức nội tâm là cơ chế được xã hội chấp nhận. Chúng ta có thể né tránh chính bản thân mình và ngăn chặn, không cho cảm thọ bộc lộ bằng rất nhiều những theo đuổi khác nhau, nhiều hoạt động cuối cùng lại trở thành chứng nghiện, đấy khi chúng ta ngày càng phụ thuộc vào những theo đuổi này.

Người ta tìm mọi cách nhằm duy trì trạng thái vô thức. Chúng ta thấy mọi người thường bật tivi ngay khi bước vào phòng và sau đó đi lại trong trạng thái như đang ngủ mơ, liên tục bị lập trình bởi dữ liệu rót vào. Người ta sợ hãi khi phải đối mặt với chính mình. Họ sợ ngay cả một khoảnh khắc cô đơn. Do đó, các hoạt động điên cuồng diễn ra liên tục: giao tiếp xã hội không ngừng nghỉ, nói chuyện, nhắn tin, đọc sách, nghe nhạc, làm việc, đi du lịch, tham quan, mua sắm, ăn quá nhiều, đánh bạc, xem phim, uống thuốc, sử dụng ma túy và tiệc tùng.

Nhiều cơ chế trốn tránh nêu trên đều có sai sót, gây ra căng thẳng và không hiệu quả. Mỗi cơ chế đều đòi hỏi năng lượng ngày càng tăng. Cần một lượng năng lượng khổng lồ để kìm nén áp lực ngày càng tăng của những cảm thọ bị kìm nén và ức chế. Dẫn đến sự mất dần nhận thức và không phát triển được. Khả năng sáng tạo, năng lượng và quan tâm thực sự đến người khác sẽ không còn. Phát triển tâm linh bị đình trệ và cuối cùng là bệnh tật về thể chất và cảm xúc, lão hóa và chết sớm. Phóng chiếu của những cảm thọ bị ức chế nén này tạo ra các vấn đề xã hội, rối loạn và gia tăng tính ích kỷ và vô cảm là những biểu hiện đặc trưng của xã hội hiện nay. Trên hết là không còn khả năng yêu thương và tin tưởng người khác, dẫn đến sự cô lập về mặt cảm xúc và căm ghét chính mình.

Ngược lại với những điều vừa nói, chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta buông bỏ một cảm thọ nào đó? Năng lượng đằng sau cảm thọ đó được giải phóng ngay lập tức và hiệu quả cuối cùng là giảm áp lực. Áp lực được tích lũy bắt đầu giảm khi chúng ta liên tục buông bỏ. Mọi người đều biết rằng, khi buông bỏ, chúng ta lập tức cảm thấy thoải mái hơn. Sinh lý cơ thể thay đổi. Có thể nhận thấy những cải thiện rõ rệt trên sắc da, hơi thở, mạch, huyết áp, độ căng cơ, chức năng tiêu hóa và các chỉ số hóa học trong máu. Trong trạng thái tự do nội tâm, tất cả các chức năng và cơ quan trong cơ thể đều hướng đến trạng thái bình thường và khỏe mạnh. Sức mạnh cơ bắp tăng lên ngay lập tức. Thị lực được cải thiện và nhận thức của chúng ta về thế giới và bản thân mình thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn, yêu thương hơn và dễ tính hơn. 

Cảm thọ và Căng thẳng

Rất nhiều người chú ý tới và nhiều thông tin được đưa ra về chủ đề căng thẳng mà không thực sự hiểu được bản chất cốt yếu của nó. Có người nói rằng chúng ta dễ bị căng thẳng hơn bao giờ hết. Nguyên nhân cốt yếu của căng thẳng là gì? Chắc chắn không phải là các yếu tố ở bên ngoài. Đấy chỉ là những ví dụ về cơ chế mà chúng ta đã mô tả là phóng chiếu. Người ta cho rằng “họ” hoặc “nó” là thủ phạm, trong khi trên thực tế, những gì chúng ta cảm thấy chỉ đơn giản là giải tỏa áp lực bên trong của những cảm xúc bị kìm nén. Chính những cảm thọ bị ức chế này làm cho chúng ta dễ bị những căng thẳng ở bên ngoài làm cho đau khổ.

Nguồn gốc thực sự của “căng thẳng” thực ra là ở bên trong; nó không phải là bên ngoài, như mọi người muốn tin. Ví dụ, sẵn sàng phản ứng bằng sợ hãi phục thuộc vào lượng sợ hãi vốn đã tích tụ ở bên trong, chực chờ được kích hoạt bởi một tác nhân bên ngoài. Chúng ta càng có nhiều sợ hãi ở bên trong, tri giác (perception[iv]) của chúng ta về thế giới càng thay đổi thành mong đợi đầy sợ hãi và đề phòng. Đối với người sợ hãi, thế giới này là nơi đáng sợ. Đối với người giận dữ, thế giới này là một mớ hỗn độn của những thất vọng và phiền muộn. Đối với người có mặc cảm tội lỗi, đây là thế giới của cám dỗ và tội lỗi, mà họ nhìn thấy ở khắp mọi nơi. Những gì chúng ta lưu giữ ở bên trong tô màu cho thế giới của chúng ta. Nếu chúng ta buông bỏ mặc cảm tội lỗi, chúng ta sẽ thấy sự vô tội; tuy nhiên, một người bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi sẽ chỉ thấy cái ác. Quy tắc căn bản là chúng ta tập trung vào những gì chúng ta đã ức chế.

Căng thẳng là kết quả của áp lực được tích tụ từ những cảm thọ bị ức chế và kìm nén. Áp lực tìm kiếm giải tỏa, và do đó, các sự kiện bên ngoài chỉ kích hoạt những gì chúng ta đã kìm nén, cả theo lối hữu thức và vô thức. Năng lượng của những cảm thọ bị chặn lại tái xuất hiện thông qua hệ thần kinh thực vật và gây ra những thay đổi mang tính bệnh lý và dẫn tới bệnh tật. Một cảm thọ tiêu cực ngay lập tức làm mất đi 50% sức mạnh cơ bắp và cũng thu hẹp tầm nhìn của chúng ta cả về thể chất lẫn tinh thần. Căng thẳng là phản ứng mang tính cảm xúc của chúng ta đối với một yếu tố hoặc tác nhân kích thích. Căng thẳng được quyết định bởi hệ thống niềm tin của chúng ta và những áp lực mang tính cảm xúc liên quan. Như vậy, không phải tác nhân kích thích bên ngoài gây ra căng thẳng, mà chính là mức độ phản ứng của chúng ta. Càng buông bỏ, chúng ta càng ít bị căng thẳng. Tác hại do căng thẳng gây ra chỉ đơn thuần là kết quả của chính cảm xúc của chúng ta. Hiệu quả của buông bỏ và giảm phản ứng của cơ thể đối với căng thẳng đã được chứng minh trong các công trình nghiên cứu khoa học (xem Chương 14).

Nhiều chương trình giảm căng thẳng hiện nay thường bỏ qua điểm mấu chốt này. Những chương trình này tìm cách làm giảm các triệu chứng sau khi căng thẳng đã xảy ra hoặc tập trung vào các sự kiện bên ngoài, thay vì loại bỏ nguyên nhân gây ra căng thẳng,. Chẳng khác gì tìm cách hạ sốt mà không điều trị nhiễm trùng. Ví dụ, căng cơ là hậu quả của lo lắng, sợ hãi, giận dữ và mặc cảm tội lỗi. Một khóa học về kỹ thuật thư giãn cơ bắp sẽ chỉ mang lại lợi ích rất hạn chế. Thay vào đó, sẽ hiệu quả hơn nhiều nếu loại bỏ nguồn gốc của những căng thẳng tiềm ẩn, đó là giận dữ, sợ hãi, mặc cảm tội lỗi hoặc những cảm thọ tiêu cực bị ức chế và kìm nén khác. 

Các sự kiện trong cuộc đời và cảm xúc

Tâm trí lý trí thường thích giữ những nguyên nhân thực sự của cảm xúc nằm bên ngoài nhận thức và sử dụng cơ chế phóng chiếu để làm việc này. Nó đổ lỗi cho các sự kiện hoặc người khác vì đã “gây ra” một cảm thọ nào đó và tự coi mình là nạn nhân vô tội bất lực trước các nguyên nhân bên ngoài. “Họ làm tôi tức giận.” “Anh ta làm tôi khó chịu.” “Nó làm tôi sợ.” “Các sự kiện trên thế giới là nguyên nhân làm cho tôi lo lắng.” Thực tế, ngược lại mới đúng. Những cảm thọ bị kìm nén và ức chế tìm kiếm lối thoát và sử dụng các sự kiện đó như những tác nhân kích hoạt và cái cớ để giải tỏa. Chúng ta giống như những chiếc nồi áp suất sẵn sàng xả hơi mỗi khi có cơ hội. Các tác nhân kích hoạt đã được thiết lập và sẵn sàng hoạt động. Trong tâm thần học (psychiatry), cơ chế này được gọi là dịch chuyển. Chính vì chúng ta tức giận cho nên các sự kiện mới “làm” cho chúng ta tức giận. Nếu, thông qua việc liên tục buông bỏ, chúng ta đã giải phóng được những giận dữ bị dồn nén, thì rất khó và trên thực tế, thậm chí là không thể có bất kỳ người nào hoặc bất kỳ tình huống nào có thể “làm” cho chúng ta tức giận. Có thể nói như thế về tất cả những cảm thọ tiêu cực khác một khi chúng đã được giải tỏa.

Do ảnh hưởng của xã hội, người ta thậm chí còn kìm nén và ức chế cả những cảm thọ tích cực của mình. Tình yêu bị kìm nén dẫn đến đau thắt lòng của một cơn đau tim. Tình yêu bị kìm nén tái xuất hiện dưới dạng sùng bái quá mức đối với thú cưng và nhiều hình thức sùng bái thần tượng khác nhau. Tình yêu đích thực không có sợ hãi và có đặc điểm là không chấp trước. Sợ mất mát tiếp thêm năng lượng cho chấp trước và sở hữu không chính đáng. Ví dụ, người đàn ông bất an về bạn gái của mình là người rất ghen tuông.

Khi áp lực của những cảm thọ bị kìm nén và ức chế vượt quá mức độ chịu đựng của cá nhân, tâm trí sẽ tạo ra một sự kiện “ở bên ngoài” để trút giận và chuyển hướng cảm thọ đó. Do đó, người có nhiều đau buồn bị kìm nén tạo ra, theo lối vô thức, những sự kiện đáng buồn trong cuộc đời mình. Người sợ hãi gây ra những trải nghiệm đáng sợ; người tức giận bị bao vây bởi những hoàn cảnh gây phẫn nộ; và người kiêu ngạo liên tục bị xúc phạm. Như Chúa Jesus Christ đã nói: “Tại sao ngươi thấy cái dằm trong mắt anh em, mà không thấy cái xà trong mắt mình?” (Ma-thi-ơ 7:3). Tất cả các Đạo sư Vĩ đại đều dạy chúng ta hướng vào bên trong.

Mọi thứ trong vũ trụ đều phát ra rung động. Rung động càng cao, thì sức mạnh nội tại của nó càng cao. Cảm xúc cũng vậy, vì chúng là năng lượng, nên cũng phát ra rung động. Những rung động mang tính cảm xúc này tác động đến trường năng lượng của cơ thể và bộc lộ những hiệu ứng có thể nhìn thấy được, cảm nhận được và đo lường được. Phim ảnh sử dụng nhiếp ảnh Kirlian[v], ví dụ như những bức ảnh của Tiến sĩ Thelma Moss, cho thấy sự biến động nhanh chóng về màu sắc và kích thước của trường năng lượng khi cảm xúc thay đổi (Krippner, 1974). Theo truyền thống, trường năng lượng được gọi là “hào quang” và có thể được nhìn thấy bởi những người sinh ra đã có hoặc học được khả năng nhìn thấy rung động ở tần số đó. Hào quang thay đổi màu sắc và kích thước theo cảm xúc. Kiểm tra cơ bắp cũng chứng minh những thay đổi năng lượng đi kèm với cảm xúc, vì cơ bắp phản ứng ngay lập tức với các kích thích tích cực và tiêu cực. Do đó, trạng thái cảm xúc cơ bản của chúng ta tự truyền vào vũ trụ. 

Tâm trí không có chiều kích hay kích thước và không bị giới hạn trong không gian; vì vậy, tâm trí truyền tải trạng thái cơ bản của nó thông qua năng lượng rung động trên khoảng cách không giới hạn. Có nghĩa là bằng trạng thái cảm xúc và suy nghĩ của mình, chúng ta thường xuyên và vô tình ảnh hưởng đến những người khác. Ví dụ, các mô thức (patterns[vi]) cảm xúc và hình thức suy nghĩ liên quan có thể được các nhà ngoại cảm nhận được và tiếp nhận một cách hữu thức ở khoảng cách rất xa. Điều này có thể được chứng minh theo lối thực nghiệm, và cơ sở khoa học cho hiện tượng này là chủ đề rất được quan tâm trong vật lý lượng tử cao cấp.

Vì các cảm xúc phát ra trường năng lượng rung động, chúng tác động và chi phối những người hiện diện trong cuộc đời ta. Các sự kiện trong cuộc đời bị chi phối bởi những cảm xúc bị ức chế và kìm nén của chúng ta ở tầng tâm thần. Do đó, tức giận thu hút những suy nghĩ tức giận. Quy tắc cơ bản của vũ trụ tâm thức là “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”. Tương tự, “tình yêu thúc đẩy tình yêu”, vì vậy người nào đã buông bỏ nhiều tiêu cực bên trong sẽ được bao quanh bởi những suy nghĩ yêu thương, những sự kiện yêu thương, những người yêu thương và thú cưng yêu thương. Hiện tượng này giải thích nhiều câu trích dẫn trong kinh thánh và những câu nói thông dụng làm cho trí tuệ khó hiểu, chẳng hạn như, “Giàu càng giàu thêm, nghèo càng nghèo thêm”, và “Người có sẽ có thêm”. Do đó, theo quy luật chung, những người mang theo tâm thức thờ ơ sẽ tạo ra hoàn cảnh nghèo khó cho cuộc đời của họ, còn những người có tâm thức thịnh vượng sẽ mang tới sung túc cho cuộc đời của họ.

Vì tất cả các sinh vật sống đều được kết nối ở tầng năng lượng rung động, trạng thái cảm xúc cơ bản của chúng ta được tất cả những sinh vật sống xung quanh chúng ta cảm nhận và phản ứng lại. Mọi người đều biết rằng con vật có thể ngay lập tức nhận biết được trạng thái cảm xúc cơ bản của con người. Có những thí nghiệm chứng minh rằng ngay cả sự phát triển của vi khuẩn cũng bị ảnh hưởng bởi cảm xúc của con người[vii], và thực vật ghi nhận được những phản ứng có thể đo lường được trước các trạng thái cảm xúc của chúng ta (Backster, 2003). 

Cơ chế buông bỏ

Buông bỏ là khi có một cảm thọ khởi lên, ta chỉ lặng lẽ nhận biết nó, cho phép nó hiện diện, ở cùng nó, và để nó tự đi qua — không mong nó khác đi, cũng không làm gì với nó. Đơn giản có nghĩa là để cảm thọ ở đó và tập trung vào buông bỏ năng lượng đằng sau nó. Bước đầu tiên là cho phép mình có cảm thọ đó mà không chống lại, trút giận, sợ hãi, lên án hay dùng các định kiến đạo đức để phán xét nó. Có nghĩa là bỏ phán xét và nhận ra rằng đó chỉ là cảm thọ. Kỹ thuật là ở lại với cảm thọ và từ bỏ mọi nỗ lực nhằm thay đổi nó theo bất kỳ cách nào. Buông bỏ mong muốn chống lại cảm thọ. Chính kháng cự mới làm cho cảm thọ tiếp tục tồn tại. Khi bạn từ bỏ việc chống lại hoặc tìm cách thay đổi cảm thọ, nó sẽ chuyển sang cảm thọ tiếp theo và đi kèm với một cảm giác nhẹ nhàng hơn. Một cảm thọ không bị chống lại sẽ biến mất khi năng lượng đằng sau nó tan đi.

Khi bắt đầu quá trình này, bạn sẽ nhận thấy rằng mình sợ hãi và có mặc cảm tội lỗi khi có những cảm thọ đó; sẽ có kháng cự đối với cảm thọ nói chung. Muốn cho phép cảm thọ xuất hiện, thì dễ dàng hơn là ngay từ đầu bạn phải buông bỏ phản ứng đối với việc có những cảm thọ đó. Sợ hãi chính là một ví dụ điển hình. Trước hết, hãy buông bỏ sợ hãi hay mặc cảm tội lỗi mà bạn có về cảm thọ đó, rồi sau đó mới đi vào chính cảm thọ.

Khi buông bỏ, hãy bỏ qua mọi suy nghĩ. Tập trung vào chính cảm thọ, chứ không phải vào suy nghĩ. Suy nghĩ là vô tận và tự củng cố, và chúng chỉ sinh ra thêm nhiều suy nghĩ hơn. Suy nghĩ chỉ là quá trình hợp lý hóa của tâm trí nhằm tìm cách giải thích sự hiện diện của cảm thọ. Lý do thực sự của cảm thọ là áp lực tích tụ đằng sau cảm thọ đó, buộc nó phải xuất hiện vào thời điểm đó. Suy nghĩ hay các sự kiện bên ngoài chỉ là cái cớ do tâm trí tạo ra.

Khi đã quen hơn với việc buông bỏ, chúng ta sẽ nhận thấy rằng tất cả các cảm thọ tiêu cực đều liên quan đến sợ hãi cơ bản của chúng ta về sinh tồn và tất cả các cảm thọ chỉ là những chương trình sinh tồn mà tâm trí tin là cần. Kỹ thuật buông bỏ sẽ gỡ bỏ các chương trình đó từng bước một. Thông qua quá trình này, động cơ tiềm ẩn đằng sau những cảm thọ đó sẽ ngày càng trở nên rõ ràng hơn.

Buông bỏ có nghĩa là không có cảm xúc mạnh mẽ nào về một cái gì đó: “Nếu nó xảy ra thì tốt, còn nếu nó không xảy ra thì cũng không sao.” Khi được tự do, chúng ta buông bỏ các chấp trước. Chúng ta có thể tận hưởng một điều gì đó, nhưng chúng ta không cần nó để được hạnh phúc. Sự phụ thuộc vào bất cứ cái gì hoặc bất cứ người nào bên ngoài chính mình sẽ giảm dần. Những nguyên tắc này phù hợp với giáo lý cơ bản của Đức Phật về việc tránh chấp trước vào các hiện tượng của thế gian, cũng như giáo lý cơ bản của Chúa Jesus Christ: “Ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian”.

Đôi khi chúng ta buông bỏ một cảm thọ nào đó và nhận thấy rằng nó quay trở lại hoặc tiếp tục diễn ra. Vì vẫn còn nhiều cảm thọ đó chưa được buông bỏ. Chúng ta đã kìm nén những cảm thọ này trong suốt cuộc đời và có thể có rất nhiều năng lượng bị dồn nén cần được đưa lên và thừa nhận. Khi buông bỏ xảy ra, ngay lập tức sẽ có cảm giác nhẹ nhàng hơn, hạnh phúc hơn, gần giống như cảm giác “phê”.

Bằng cách liên tục buông bỏ, có thể duy trì trạng thái tự do đó. Cảm thọ đến rồi đi, và cuối cùng bạn nhận ra rằng mình không phải là cảm thọ của mình, mà “bạn” thực sự chỉ đang chứng kiến những cảm thọ đó. Bạn ngừng đồng nhất mình với chúng. Bạn - người đang quan sát và nhận thức được những sự kiện đang xảy ra - không bao giờ thay đổi. Khi bạn ngày càng nhận thức rõ hơn về người chứng kiến ​​không thay đổi ở bên trong, là bạn bắt đầu đồng nhất với tầng tâm thức đó. Bạn ngày càng trở thành người chứng kiến ​chứ không còn là người trải nghiệm các hiện tượng nữa. Bạn ngày càng tiến gần hơn đến Đại Ngã thực sự và bắt đầu nhận ra rằng, từ trước đến giờ mình đã bị cảm thọ đánh lừa. Bạn từng nghĩ rằng mình là nạn nhân của những cảm thọ. Lúc này bạn thấy rằng chúng không phải là sự thật về bản thân mình; chúng chỉ đơn thuần là do bản ngã tạo ra – bản ngã chính là kẻ thu thập những chương trình mà tâm trí lầm tưởng là cần thiết cho sống còn.

Kết quả của việc buông bỏ diễn ra nhanh chóng và tinh tế đến mức làm người ta kinh ngạc, nhưng tác động của nó lại rất mạnh mẽ. Thường thì chúng ta đã buông bỏ nhưng lại nghĩ rằng mình chưa buông bỏ. Chính bạn bè sẽ giúp chúng ta nhận ra thay đổi. Một trong những lý do là khi một điều gì đó được hoàn toàn buông bỏ, nó sẽ biến mất khỏi tâm thức. Vì chúng ta không bao giờ còn nghĩ đến nó nữa, nên chúng ta không nhận ra rằng nó đã biến mất. Đây là hiện tượng phổ biến ở những người đang phát triển về mặt tâm thức. Chúng ta không nhận thức được tất cả số than mà mình đã xúc được; chúng ta luôn chỉ nhìn vào lượng than mình đang xúc mà thôi. Chúng ta không nhận ra đống than đã giảm đi đến mức nào. Thường thì bạn bè và gia đình là những người đầu tiên nhận ra điều đó.

Muốn theo dõi tiến độ, nhiều người lập biểu đồ về những thành quả đã thu được. Làm thế sẽ giúp vượt qua kháng cự dưới dạng: “Cách làm này không hiệu quả.” Nhiều người đã có những thành quả to lớn lại tuyên bố: “Không hiệu quả.” Đôi khi chúng ta phải tự nhắc nhở rằng mình đã là người như thế nào trước khi bắt đầu quá trình này. 

Kháng cự buông bỏ

Buông bỏ những cảm thọ tiêu cực là phá vỡ bản ngã, bản ngã sẽ kháng cự. Nó có thể làm cho người ta nghi ngờ kỹ thuật này, “quên” buông bỏ, thái độ trốn tránh đột nhiên trỗi dậy, hoặc trút giận bằng cách thể hiện và hành động. Giải pháp đơn giản là tiếp tục buông bỏ những cảm thọ mà bạn có thể có về toàn bộ quá trình này. Để kháng cự ở đó, nhưng đừng chống lại kháng cự đó.

Bạn là người tự do. Bạn không cần phải buông bỏ. Không ai ép buộc bạn. Hãy nhìn vào sợ hãi đằng sau kháng cự. Bạn đang sợ hãi điều gì về tiến trình này? Bạn có sẵn sàng buông bỏ sợ hãi đó không? Liên tục để mỗi sợ hãi đi qua ngay khi chúng vừa sinh khởi, và kháng cự sẽ tự biến mất.

Xin đừng quên rằng chúng ta đang buông bỏ tất cả những chương trình đã biến chúng ta thành nô lệ và nạn nhân trong một thời gian dài. Những chương trình này đã làm cho chúng ta mờ mắt, không nhìn thấy sự thật về bản sắc thực sự của mình. Bản ngã đang mất dần vị thế và sẽ tìm cách lừa gạt và đánh lừa. Một khi bắt đầu buông bỏ, những ngày tháng của bản ngã đã được đếm ngược và sức mạnh của nó đang giảm dần. Một trong những mánh khóe của nó là làm cho chúng ta không thức tỉnh về chính kỹ thuật này, ví dụ, đột nhiên quyết định rằng cơ chế buông bỏ không hiệu quả, mọi thứ vẫn như cũ, thật rắc rối, và quá khó, không thể nhớ và không thể thực hiện được. Đây là dấu hiệu của tiến bộ thực sự! Có nghĩa là bản ngã biết chúng ta có một con dao để tự giải thoát và nó đang mất dần vị thế. Bản ngã không phải là bạn của chúng ta. Giống như hệ thống “Điều khiển tối cao” trong phim Tron (1982), nó luôn luôn muốn cầm tù chúng ta trong các chương trình của chính nó[viii].

Buông bỏ là khả năng tự nhiên. Nó không phải là điều gì mới mẻ hay xa lạ. Nó không phải là một giáo lý bí truyền hay ý tưởng hoặc hệ thống niềm tin của người khác. Chúng ta chỉ đơn giản là sử dụng bản chất bên trong của chính mình để trở thành người tự do hơn và hạnh phúc hơn. Khi buông bỏ, “suy nghĩ” về kỹ thuật này là không hữu ích. Tốt hơn hết là chỉ cần làm. Cuối cùng, ta sẽ thấy rằng mọi suy nghĩ đều là kháng cự. Tất cả đều là những hình ảnh mà tâm trí tạo ra để ngăn cản, không cho chúng ta trải nghiệm những gì thực sự đang diễn ra. Khi chúng ta đã buông bỏ được một thời gian và bắt đầu trải nghiệm những gì thực sự đang diễn ra, chúng ta sẽ bật cười trước những suy nghĩ của mình. Suy nghĩ là giả, là những niềm tin hão huyền che khuất sự thật. Theo đuổi suy nghĩ có thể làm cho chúng ta cảm thấy lúc nào cũng bận rộn. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ nhận ra rằng mình vẫn ở đúng nơi mình đã bắt đầu. Suy nghĩ giống như những con cá vàng bơi trong nước; Đại Ngã thực sự giống như nước. Đại ngã thực sự là khoảng không gian giữa các suy nghĩ, hay chính xác hơn, là trường nhận thức tĩnh lặng nằm bên dưới tất cả các suy nghĩ.

Chúng ta đã từng trải nghiệm cảm giác hoàn toàn chìm đắm trong công việc mà mình đang làm, đến mức hầu như không nhận thấy thời gian trôi qua. Tâm trí rất tĩnh lặng, và chúng ta chỉ đơn giản là làm những việc mình đang làm mà không có kháng cự hay nỗ lực nào. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc, có lẽ đang ngân nga một giai điệu nào đó. Chúng ta hoạt động mà không cảm thấy căng thẳng. Chúng ta rất thư giãn, mặc dù bận rộn. Chúng ta đột nhiên nhận ra rằng rốt cuộc mình không cần tất cả những suy nghĩ đó. Suy nghĩ giống như mồi câu cá; nếu “cắn” câu, chúng ta sẽ bị mắc kẹt. Tốt nhất là đừng “cắn” những suy nghĩ đó. Chúng ta không cần những suy nghĩ như thế.

Bên trong chúng ta, nhưng nằm ngoài nhận thức, là sự thật sau đây: “Tôi đã biết tất cả mọi thứ tôi cần biết.” Nó xảy ra một cách tự động.

Nghịch lý là, kháng cự đối với việc buông bỏ là do hiệu quả của kỹ thuật này. Sự kiện xảy ra là chúng ta cứ tiếp tục buông bỏ khi cuộc sống không thuận lợi và chúng ta bị bao vây bởi những cảm thọ khó chịu. Cuối cùng, khi chúng ta buông bỏ và mọi thứ đều ổn, thì chúng ta lại ngừng buông bỏ. Đây là sai lầm, vì, dù chúng ta có cảm thấy tốt đến mức nào, thì vẫn còn nhiều điều tốt hơn thế nữa. Hãy tận dụng những trạng thái cao hơn và động lực của buông bỏ. Hãy tiếp tục vì mọi thứ sẽ ngày càng tốt hơn. Buông bỏ có động lực nhất định. Dễ dàng tiếp tục một khi nó đã bắt đầu. Chúng ta càng cảm thấy nhẹ nhàng hơn, thì buông bỏ càng dễ dàng hơn. Đó là thời điểm tốt để buông bỏ những thứ (những “rác rưởi” đã bị kìm nén và ức chế) mà chúng ta không muốn đối mặt nếu đang trong tâm trạng chán nản. Luôn luôn có cảm giác muốn được thả lỏng và phó thác. Khi chúng ta cảm thấy tốt, cảm xúc chỉ đơn giản là tinh tế hơn mà thôi.

Đôi khi bạn sẽ cảm thấy bế tắc với một cảm thọ cụ thể nào đó. Đơn giản là hãy chấp nhận cảm thọ bế tắc đó. Cứ để nó ở đấy và đừng chống lại nó. Nếu nó không biến mất, hãy thử buông bỏ cảm thọ đó từng chút một.

Một trở ngại khác có thể xảy ra là sợ rằng nếu chúng ta từ bỏ mong muốn về một điều gì đó, thì chúng ta sẽ không đạt được nó. Thường thì việc xem xét một số niềm tin phổ biến và buông bỏ chúng ngay từ đầu sẽ rất có lợi, chẳng hạn như: (1) Chúng ta chỉ xứng đáng với mọi thứ bằng cách làm việc chăm chỉ, đấu tranh, hy sinh và nỗ lực; (2) Đau khổ là có lợi và tốt cho chúng ta; (3) Không có gì mà không phải trả giá; (4) Những thứ rất đơn giản thì không đáng giá. Buông bỏ một số rào cản tâm lý này đối với chính kỹ thuật này sẽ cho phép bạn tận hưởng sự dễ dàng và thoải mái của nó.


 



[i] Involuntary reactivity - Phản ứng mang tính tự phát, vô thức hoặc sự phản ứng tự động. Bản chất: Là những phản ứng tâm lý (như giận dữ, né tránh, sợ hãi) khởi lên một cách tự động và nằm ngoài sự kiểm soát của Tâm trí Hữu thức khi gặp một tác nhân kích thích. Cơ chế: Nó vận hành theo thói quen cũ được lập trình sẵn trong Tiềm thức và là nguồn gốc tạo ra áp lực, xung đột nội tâm. Lời dạy của Đức Phật giúp xóa bỏ áp lực này bằng cách tạo ra một khoảng lặng tỉnh thức, giúp ta không bị cuốn theo vòng lặp phản ứng tự phát đó nữa, chuyển từ phản ứng mù quáng (Reactivity) sang phản hồi có trí tuệ (Response).

[ii] Suppression và Repression – Kìm nén và ức chế. Bản chất và cơ chế: Đây là hai phương thức đối phó tiêu cực của bản ngã trước các cảm thọ mạnh mẽ, được định hình sâu sắc bởi sự giáo hóa và lập trình của xã hội. Suppression (Kìm nén): Là quá trình có ý thức. Con người chủ động đè nén, che giấu các cảm thọ đột nhiên xuất hiện (giận dữ, tổn thương, ghen tị...) vì các tiêu chuẩn xã hội đòi hỏi họ phải tỏ ra “có giáo dục”, “tinh tế” và "bình tĩnh”. Repression (Ức chế): Là quá trình vô thức. Khi một cảm thọ quá kinh khủng hoặc bị xã hội cấm đoán nghiêm trọng, tâm trí sẽ tự động đẩy sâu và giam hãm nó vào Tiềm thức ngay lập tức khiến chủ thể không còn nhận biết được sự tồn tại của nó nữa. Xã hội thường ca ngợi người biết kìm nén/ức chế cảm xúc là người thanh lịch, có văn hóa. Tuy nhiên, năng lượng tiêu cực bị nén chặt lâu ngày không mất đi mà tích tụ lại, dẫn đến các rối loạn tâm lý, suy nhược thần kinh và đặc biệt là trạng thái trầm cảm nghiêm trọng. Ngược lại, những người “chém to kho mặn” chọn cách Thể hiện (Expression) cảm xúc ra ngoài. Dù cách này thường bị coi là thô lậu, thiếu giáo dục, nhưng vì năng lượng thô đã được xả bớt ra ngoài nên họ ít có nguy cơ rơi vào trầm cảm hơn (tuy nhiên, nó lại làm tổn thương người khác và khuếch đại năng lượng tiêu cực trong môi trường). Con đường chuyển hóa: Cả hai cách hành xử — đè nén bên trong hay bung tỏa ra ngoài — đều là những cơ chế vận hành bằng bằng bạo lực/phản lực và hoàn toàn không hiệu quả trong dài hạn. Cơ chế Trốn tránh (Escape) được bàn tới ngay bên dưới cũng không có hiệu quả. Cơ chế hữu hiệu nhất chính là: Để các cảm thọ đi qua (Letting go): Không kìm nén (vào trong), không thể hiện (ra ngoài), mà chọn làm Người chứng kiến. Cho phép cảm xúc được hiện diện trọn vẹn, không phán xét, không dán nhãn, để năng lượng của nó tự giải tỏa và đi qua một cách tự nhiên.

[iii] Socialized - Xã hội hoá. Là quá trình biến đổi các xung năng nguyên thủy, ích kỷ hoặc mang tính bản năng (vốn bị xã hội cấm đoán và bị kìm nén vào Tiềm thức) thành những biểu hiện phù hợp, được chấp nhận và mang lại giá trị cho đời sống xã hội. Cơ chế vận hành: Thay vì để các xung năng bị kìm nén này bùng phát một cách vô thức thành hành vi phá hoại hoặc xung đột, tâm trí sẽ “uốn nắn” để chúng hòa nhập vào các quy chuẩn chung của cộng đồng. Nó đi liền với thăng hoa và hướng vào những động lực mang tính xây dựng . Ví dụ: Một xung năng gây hấn, hung hăng bị kìm nén thay vì bộc phát thành bạo lực thì được "xã hội hóa" và "thăng hoa" thành tinh thần cạnh tranh lành mạnh trong thể thao hoặc thái độ quyết liệt trong công việc kinh doanh. Tóm lại, socialized ở đây là bước chuyển hóa một năng lượng thô lậu, có nguy cơ gây xung đột thành một năng lượng có tính xây dựng, giúp cá nhân kết nối và đóng góp một cách hài hòa với thế giới xung quanh thông qua tình yêu, công việc và sự sáng tạo.

[iv]  Perception - Tri giác. Bản chất: Là Nhận Thức/Cái Biết (Awareness) nguyên thủy đã bị khúc xạ và biến dạng khi đi qua bộ lọc của bản ngã — bao gồm tư tâm, tư dục, các chương trình định kiến xã hội và những cảm xúc tiêu cực (sợ hãi, giận dữ, kiêu hãnh...). Tri giác không bao giờ thấy được thực tại như nó vốn là, mà chỉ thấy hình ảnh phản chiếu đã bị bóp méo bởi lăng kính bên trong. Awareness là nền tảng trường tồn, phi thời gian và mang tính vĩnh cửu. Không có Awareness thì không thể có Perception (như một hòn đá không có Cái Biết thì không thể có một tri giác sai lệch về thế giới). Nếu Awareness là Mặt Trời thuần khiết luôn chiếu sáng, thì Perception chính là hình ảnh Mặt Trời khi đã bị những đám mây mù của cảm xúc và dục vọng che khuất. Bản thân mây mù không làm tổn hại được Mặt Trời, nhưng nó ngăn che tầm nhìn của vạn vật. Con đường chuyển hóa (Phản bổn quy chân): Để trở lại với Cái Biết ban đầu, hành giả không cần nỗ lực “tìm kiếm” Awareness, mà thực hiện việc chuyển hóa các tầng mây mù bằng cách: Để các cảm thọ đi qua (Letting go): Nhận biết và cho phép các trạng thái cảm xúc, áp lực tự do sinh khởi và đi qua ngay khi chúng vừa xuất hiện, không kháng cự, không kìm nén, cũng không đồng hóa mình với chúng. Hành thiền và giữ tâm bất động: Giữ vững vị thế của “Người chứng kiến” (Witnessing) trước mọi biến động của nội tâm và ngoại cảnh. Khi các bộ lọc của bản ngã ngừng hoạt động, mây mù sẽ tự tan và Ánh Sáng của Cái Biết vĩnh cửu tự khắc tỏ rạng..

[v] Nhiếp ảnh Kirlian (Kirlian photography) là một kỹ thuật chụp ảnh sử dụng điện áp cao để ghi lại hiện tượng phóng điện quanh các vật thể. Được phát minh vào năm 1939, kỹ thuật này thường tạo ra các vầng sáng rực rỡ xung quanh lá cây, ngón tay hay đồ vật, từng được nhiều người đồn đoán là có khả năng chụp được “hào quang” hoặc “linh hồn” của sự sống

[vi] Patterns - Mô thức, có nghĩa là: Những khuôn mẫu lặp đi lặp lại có tính cấu trúc trong hành vi, suy nghĩ, cảm xúc hoặc vận hành của một hệ thống. Mẫu → thiên về hình dạng cụ thể. Khuôn mẫu → thiên về thói quen hoặc định kiến. Mô thức → nhấn mạnh cấu trúc vận hành ẩn bên dưới tạo ra sự lặp lại. Trong văn cảnh tâm linh – tâm lý học, “mô thức” thường chỉ: Mô thức suy nghĩ (thinking patterns); Mô thức cảm xúc (emotional patterns); Mô thức hành vi (behavioral patterns); Mô thức năng lượng (energetic patterns). Có thể nói mô thức là những vệt hằn của quá khứ còn đang tiếp tục vận hành trong hiện tại. Trong Phật giáo thường gọi là Tập khí.

[vii] Kinh nghiệm dân gian từ việc nuôi dấm mẻ của người Việt là một minh chứng sống động cho luận điểm này. Những người nuôi dấm mẻ lâu năm đều biết rằng, dấm mẻ không chỉ cần cơm nguội để sống; nếu người nuôi bỏ mặc, không dành sự quan tâm hay năng lượng chăm sóc tới bình dấm, thì dù có cho đầy đủ thức ăn, dấm mẻ cũng sẽ lụi tàn và chết dần. Không chỉ dừng lại ở các sinh vật vi mô như vi khuẩn, năng lượng từ tâm thức và cảm xúc của con người còn tác động trực tiếp lên các vật chất vô cơ. Khảo nghiệm nổi tiếng của học giả Masaru Emoto trong cuốn sách Thông điệp của nước (The Hidden Messages in Water) đã ghi nhận rằng: khi nước tiếp nhận lời cầu nguyện hoặc các trường năng lượng an lành, các phân tử nước sẽ tự sắp xếp để tạo thành những tinh thể đóng băng có cấu trúc vô cùng lộng lẫy và hài hòa. Điều này một lần nữa khẳng định, vạn vật quanh ta đều nhạy cảm và đồng điệu với tần số năng lượng từ Tâm thức của con người.

[viii] Tác giả ví bản ngã như một bộ xử lý trung tâm độc tài, nó vận hành những “chương trình” cũ kỹ (sợ hãi, kháng cự, trút giận) để giữ chúng ta trong vòng lặp của khổ đau thay vì được tự do.