July 19, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (23)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 


PHỤ LỤC A

 

BẢN ĐỒ TÂM THỨC

 

 

Quan điểm về Chúa

Quan điểm về cuộc đời

Tầng

Logarit

Cảm xúc

Quá trình

Đại ngã

Đang là

Chứng ngộ

700-1000

Không nói lên lời

Tâm thức thuần túy

Vạn hữu

Hoàn hảo

An bình

600

Phúc lạc

Ngộ đạo

Độc nhất

Đầy đủ

Niềm vui

540

An bình

Biến hình kỳ diệu

Yêu thương

Nhân từ

Tình yêu

500

Tôn kính

Mặc khải

Thông thái

Có ý nghĩa

Lý trí

400

Thấu hiểu

Trừu tượng hóa

Khoan dung

Hài hòa

Chấp nhận

350

Tha thứ

Siêu việt

Truyền cảm hứng

Hy vọng

Sẵn sàng

310

Lạc quan

Mục đích

Trao khả năng

Thỏa mãn

Trung dung

250

Tin tưởng

Giải phóng

Cho phép

Khả thi

Can đảm

200

Khẳng định

Trao quyền

Bàng quan

Đòi hỏi

Kiêu hãnh

175

Khinh khi

Thổi phồng

Hiềm khích

Đối kháng

Tức giận

150

Thù hận

Hung hăng

Từ chối

Thất vọng

Ham muốn

125

Thèm muốn

Nô dịch hóa

Trừng phạt

Kinh khiếp

Sợ hãi

100

Lo âu

Thoái lui

Khinh bỉ

Bi kịch

U sầu

75

Tiếc nuối

Chán nản

Chỉ trích

Vô vọng

Thờ ơ

50

Tuyệt vọng

Từ bỏ

Thù oán

Xấu xa

Mặc cảm tội lỗi

30

Trách móc

Hủy hoại

Miệt thị

Khốn khổ

Nhục nhã

20

Nhục nhã

Trừ khử

© The Institute for Spiritual Research, Inc., dba/ Veritas Publishing.

This chart cannot be reproduced.

 

 

 

PHỤ LỤC B 

QUY TRÌNH KIỀM TRA CƠ BẮP

Thông tin tổng quát

Trường năng lượng của tâm thức có vô số chiều kích. Một số tầng cụ thể tương quan với tâm thức của con người được hiệu chỉnh từ 1 đến 1.000. (Xem Phụ lục A: Bản đồ tâm thức). Những trường năng lượng này phản ánh và thống trị tâm thức của con người.

Vạn vật trong vũ trụ đều phát ra một tần số cụ thể hoặc trường năng lượng cực nhỏ vĩnh viễn được lưu lại trong lĩnh vực tâm thức. Do đó, mỗi người hoặc sinh vật đã từng sống và bất cứ điều gì liên quan đến họ, bao gồm bất kỳ sự kiện, suy nghĩ, việc làm, cảm giác hoặc thái độ nào đều được vĩnh viễn ghi lại và có thể được truy xuất tại bất kỳ thời điểm nào trong hiện tại hoặc tương lai. 

Kỹ thuật

Phản ứng kiểm tra cơ là phản ứng “có” hoặc “không có” (không) trước một tác nhân kích thích cụ thể nào đó. Kiểm tra bằng cách bảo đối tượng đưa thẳng cánh tay ra đằng trước, người kiểm tra dùng hai ngón tay ấn nhẹ xuống cổ tay của cánh tay đang đưa ra của đối tượng. Thường thì tay kia của đối tượng cầm chất cần kiểm tra và đặt lên vùng bụng ở phía dưới xương sườn (solar plexus – đám rối dương). Người kiểm tra nói với đối tượng kiểm tra: “Chống lại ”, nếu chất được kiểm tra có lợi cho đối tượng, cánh tay sẽ mạnh mẽ, tức là khó ấn xuống. Nếu nó không có lợi hoặc nó có tác dụng ngược, cánh tay sẽ yếu đi, tức là dễ bị ấn xuống. Phản ứng diễn rất nhanh.

Quan trọng cần lưu ý là ý định của cả người kiểm tra và người được kiểm tra đều phải có điểm hiệu chỉnh trên 200 thì phản ứng mới chính xác.

Kinh nghiệm từ các nhóm thảo luận trực tuyến cho thấy, nhiều nhà nghiên cứu thu được kết quả không chính xác. Nghiên cứu thêm cho thấy, ở điểm 200, vẫn có 30% khả năng bị lỗi. Tầng tâm thức của nhóm kiểm tra càng cao thì kết quả càng chính xác. Tốt nhất là những người tham gia đều có thái độ vô tư, tuyên bố trước khi nói ra điểm hiệu chính như sau: “Nhân danh điều tốt đẹp nhất, … hiệu chỉnh là đúng. Hơn 100, hơn 200”, v.v.. Việc đặt cuộc kiểm tra vào bối cảnh “nhân danh điều tốt đẹp nhất” làm gia tăng mức độ chính xác, vì nó siêu việt mọi lợi ích và động cơ tư lợi cá nhân.

Suốt nhiều năm, người ta đều nghĩ rằng bài kiểm tra này chỉ là phản ứng cục bộ của hệ thống kinh mạch hoặc hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nhưng, một công trình nghiên cứu sau này đã tiết lộ rằng phản ứng đó hoàn toàn không phải là phản ứng cục bộ với cơ thể, mà là phản ứng tổng thể của bản thân tâm thức đối với năng lượng của một chất hoặc một lời tuyên bố. Cái gì đúng, cái gì có lợi hoặc hỗ trợ đời sống thì tạo ra phản ứng tích cực, xuất phát từ khu vực phi cá nhân của tâm thức, vốn hiện diện trong tất cả mọi người đang sống. Cơ bắp trong cơ thể mạnh lên chứng tỏ rằng phản ứng là tích cực. Đồng tử cũng có phản ứng (dối trá thì đồng tử giãn ra và thật sự thì đồng tử co lại), chụp ảnh cộng hưởng từ cũng phát hiện được thay đổi trong chức năng của não bộ. (Để cho tiện, người ta thường dùng cơ delta làm cơ chỉ thị; tuy nhiên, có thể sử dụng bất kỳ cơ nào).

Trước khi đưa ra câu hỏi (dưới dạng một lời tuyên bố), cần xin phép; tức là nói: “Tôi xin phép hỏi về những điều tôi đang nghĩ”(Có/Không). Hoặc: “Công cuộc hiệu chỉnh này nhằm phục vụ cho những điều cao cả nhất”.

Nếu lời tuyên bố là sai hoặc một chất mà đối tượng đang cầm có hại, thì các cơ bắp yếu đi một cách nhanh chóng nhằm phản ứng trước mệnh lệnh: “Chống lại”. Kết quả này chứng tỏ rằng tác nhân kích thích là tiêu cực, không đúng sự thật, phản sự sống hoặc câu trả lời là “không”. Phản ứng diễn ra rất nhanh. Sau đó, cơ thể sẽ hồi phục nhanh chóng và cơ bắp căng lên như bình thường.

Có ba cách kiểm tra. Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu và cũng thường được sử dụng nhất cần hai người: người kiểm tra và đối tượng được kiểm tra. Không gian nên yên tĩnh và không có nhạc nền. Đối tượng được kiểm tra nhắm mắt lại. Người kiểm tra phải đưa ra câu hỏi dưới dạng một lời tuyên bố. Phản ứng của cơ bắp chính là câu trả lời “có” hoặc “không”. Ví dụ, không được hỏi: “Đây có phải là một con ngựa khỏe mạnh không?” Mà phải nói: “Con ngựa này khỏe”, hoặc ngược lại: “Con ngựa này ốm yếu”.

Sau khi đưa ra tuyên bố, người kiểm tra nói với đối tượng kiểm tra đang đang đưa thẳng cánh tay song song với mặt đất: “Chống lại”. Người kiểm tra ấn nhanh và nhẹ hai ngón tay lên cổ tay của cánh tay đang đưa ra. Cánh tay của đối tượng kiểm tra giữ chắc là “có”, còn yếu đi là “không có” (không). Phản ứng xảy ra ngay tức thì.

Phương pháp thứ hai gọi là vòng chữ O, một người cũng có thể làm được. Cong ngón cái và ngón giữa trên cùng một bàn tay thành hình chữ O, rồi níu chặt vào nhau. Sau đó móc ngón trỏ của bàn tay kia vào vòng O và tìm cách kéo hai ngón tay ra xa nhau. Lực giữa phản ứng “có” và “không” khác nhau đáng kể (Rose, 2001).

Phương pháp thứ ba là phương pháp đơn giản nhất, nhưng cũng như các phương pháp còn lại, đòi hỏi phải luyện tập thì mới thành thục. Chỉ cần nâng một vật nặng, ví dụ, cuốn từ điển dày hoặc vài viên gạch, từ mặt bàn lên tới thắt lưng. Nghĩ về một hình ảnh hoặc câu nói đúng cần tính điểm, rồi nâng vật nặng kia lên. Sau đó, ngược lại, nghĩ về một điều gì đó đã biết trước là sai. Để ý rằng, khi sự thật hiện lên trong tâm trí thì có thể nâng vật nặng một cách nhẹ nhàng, nhưng khi nghĩ đến cái sai (không đúng) thì phải cần nhiều sức hơn. Có thể dùng hai phương pháp đã nói bên trên để kiểm tra kết quả. 

Hiệu chỉnh điểm của các tầng cụ thể

Điểm tới hạn giữa tích cực và tiêu cực, giữa đúng và sai, hoặc giữa cái mang tính xây dựng và cái phá hủy, nằm ở tầng 200 (xem Bản đồ tâm thức trong Phụ lục A). Bất kỳ cái gì trên 200 điểm, hoặc đúng, đều làm cho đối tượng khỏe lên; bất kỳ cái gì dưới 200 điểm, hoặc sai, đều làm cho cánh tay yếu đi.

Bất cứ điều gì trong quá khứ hoặc hiện tại, trong đó có hình ảnh hoặc lời tuyên bố, các sự kiện lịch sử, các nhân vật quan trọng, đều có thể được kiểm tra mà không cần phát biểu thành lời. 

Hiệu chỉnh bằng con số

Ví dụ: “Lời dạy của Ramana Maharshi đạt hơn 700 điểm”. (Có/Không). Hoặc: “Hitler đạt hơn 200 điểm” (Có/Không). “Khi ông ta ngoài 20 tuổi”. (Có/Không). “Ngoài 30”. (Có/Không). “Ngoài 40”. (Có/Không). “Khi ông ta chết?” (Có/Không). 

Ứng dụng

Không thể dùng bài kiểm tra cơ bắp đề đoán định tương lai; nếu không, câu hỏi sẽ trở thành vô cùng vô tận. Tâm thức không có giới hạn về thời gian và không gian; tuy nhiên, có thể không được phép hỏi. Tất cả các sự kiện trong hiện tại hoặc trong quá khứ đều có thể hỏi. Câu trả lời là phi cá nhân và không phụ thuộc vào hệ thống niềm tin của cả người kiểm tra lẫn đối tượng được kiểm tra. Ví dụ, nguyên sinh chất rút lui khỏi các tác nhân kích thích độc hại và thịt chảy máu. Đó là những phẩm chất của những vật liệu dùng cho kiểm tra và chúng đều phi cá nhân. Tâm thức thực sự chỉ biết mỗi sự thật, vì chỉ có sự thật mới thực sự tồn tại. Tâm thức không phản ứng trước giả dối, vì giả dối không tồn tại trong Thực tại. Tâm thức cũng sẽ không phản hồi chính xác trước những câu hỏi không chính trực hoặc vị kỷ.

Nói một cách chính xác, phản ứng của bài kiểm tra chỉ đơn thuần là “bật” hoặc “không bật”. Tương tự như công tắc điện, chúng ta nói rằng điện đang “bật” và khi chúng ta sử dụng thuật ngữ “tắt”, chúng ta chỉ muốn nói rằng không có điện. Trên thực tế, không có gì gọi sự-tắt. Đây là tuyên bố tinh tế, nhưng quan trọng sống còn đối với việc nắm bắt bản chất của tâm thức. Tân thức có khả năng nhận biết điều duy nhất là Sự thật. Nó chỉ đơn giản là không thể phản ứng trước giả dối. Tương tự như thế, một tấm gương chỉ phản chiếu hình ảnh khi có đối tượng để phản chiếu. Nếu không có đối tượng đứng trước gương thì không có hình ảnh phản chiếu trong gương. 

Hiệu chỉnh điểm cho một tầng

Các tầng đã hiệu chỉnh có quan hệ với thang tham chiếu cụ thể. Để có các số liệu tương tự như trong Phụ lục A, phải tham chiếu bảng đó hoặc đưa ra một tuyên bố kiểu như: “Trên thang tâm thức của con người từ 1 đến 1.000, trong đó 600 là Chứng ngộ, _______ đạt trên _______ (đưa ra một con số)”. Hoặc: “Trên thang tâm thức trong đó 200 là tầng Sự thật và 500 là tầng Tình yêu, thì tuyên bố này đạt trên…” (đưa ra một con số). 

Thông tin tổng quát

Mọi người, nhìn chung, muốn phân biệt thật và giả. Vì thế, tuyên bố phải rất cụ thể. Tránh sử dụng các thuật ngữ chung chung, như công việc “tốt”, có thể xin vào làm. “Tốt” theo nghĩa nào? Mức lương? Điều kiện làm việc? Cơ hội thăng tiến? Cấp trên công tâm? 

Thuần thục

Thường xuyên làm kiểm tra thì sẽ thuần thục dần. Những câu hỏi phù hợp và hầu như chính xác một cách kỳ lạ bắt đầu tuôn ra như suối. Nếu người kiểm tra và đối tượng được kiểm tra làm việc cùng nhau trong một khoảng thời gian nào đó, thì một người hoặc cả hai sẽ dần hình thành khả năng định vị chính xác một cách đáng kinh ngạc những câu hỏi cần phải hỏi, ngay cả khi cả hai người đều không biết trước đề tài được kiểm tra. Ví dụ, người kiểm tra đánh mất một vật và bắt đầu bằng câu: “Tôi để nó trong văn phòng của mình” (Trả lời: Không). “Tôi để trong ô tô” (Trả lời: Không). Đột nhiên, đối tượng kiểm tra gần như nhìn thấy vật đó và nói: “Hỏi đi, nó ở phía sau cửa nhà vệ sinh”. Người kiểm tra nói: “Vật đó đang treo ở phía sau cửa nhà vệ sinh” (Trả lời: Có). Trong tình huống thực này, đối tượng kiểm tra thậm chí không biết rằng người kiểm tra đã dừng xe để đổ xăng và treo áo khoác trong phòng vệ sinh của trạm xăng.

Có thể lấy được thông tin về bất cứ thứ gì, ở bất kỳ đâu trong thời gian hoặc không gian, hiện tại hoặc quá khứ. Vấn đề là câu hỏi có được chấp thuận hay không mà thôi. (Đôi khi “không” được chấp thuận, có lẽ do nghiệp hoặc những lý do không biết khác). Bằng cách kiểm tra chéo, có thể dễ dàng khẳng định mức độ chính xác. Những người học được kỹ thuật này sẽ ngay lập tức thu được nhiều thông tin hơn hẳn những thông tin chứa trong tất cả các máy tính và thư viện trên toàn thế giới. Trước mắt họ sẽ mở ra vô vàn khả năng và triển vọng đầy ấn tượng. 

Hạn chế

Kết quả kiểm tra chỉ chính xác nếu bản thân các đối tượng kiểm tra có điểm trên 200 và dùng cho mục đích chính trực, có điểm trên 200. Điều này đòi hỏi tính khách quan, không dính chấp và nhất quán với sự thật, chứ không phải là ý kiến chủ quan. Vì vậy, việc cố gắng chứng minh một quan điểm sẽ cho kết quả không chính xác. Do những nguyên nhân còn bí ẩn mà có những người không thể dùng bạn đời của mình làm đối tượng kiểm tra và có thể phải tìm người thứ ba để hợp tác.

Điều kiện để một người trở thành đối tượng kiểm tra là cánh tay của người đó phản ứng mạnh khi nghĩ đến một vật hoặc người đáng yêu, và yếu đi nếu nghĩ về cái tiêu cực (sợ hãi, ghét bỏ, tội lỗi, v.v..) (ví dụ, Winston Churchill làm cho cánh tay mạnh lên, còn Osama bin Laden làm cho cánh tay yếu đi).

Đôi khi, một đối tượng kiểm tra phù hợp vẫn có phản ứng ngược. Có thể xóa bỏ hiện tượng này bằng cách đấm vào tuyến ức. (Nắm bàn tay lại, đập mạnh ba lần vào phía trên xương ức, mỉm cười, nói “ha ha ha” và mường tượng một người nào đó hoặc một cái gì đó đáng yêu). Sự mất cân bằng tạm thời sẽ biến mất.

Mất cân bằng có thể là do đối tượng mới tiếp xúc với người tiêu cực, nghe nhạc rock heavy metal, xem các chương trình truyền hình bạo lực, chơi trò chơi điện tử bạo lực, v.v. Hiệu ứng độc hại mà năng lượng của âm nhạc tiêu cực gây ra cho hệ thống năng lượng của cơ thể còn kéo dài tới nửa tiếng đồng hồ sau khi nhạc đã tắt. Các chương trình quảng cáo trên truyền hình hoặc trên tivi cũng là nguồn năng lượng tiêu cực thường gặp.

Như đã nhận xét bên trên, phương pháp phân biệt giả/thật và các tầng của sự thật được hiệu chỉnh có những yêu cầu rất nghiêm ngặt. Do những hạn chế này, trong cuốn Truth vs. Falsehood chúng tôi đã cung cấp điểm của các tầng để độc giả dễ dàng tham khảo. 

Giải thích

Việc kiểm tra sức mạnh của cơ bắp hoàn toàn độc lập với ý kiến hay niềm tin cá nhân và là phản ứng phi cá nhân của trường tâm thức; hệt như chất nguyên sinh, các phản ứng của nó cũng không có tính cá nhân. Đối tượng kiểm tra có phản ứng giống nhau, dù đề tài kiểm tra được diễn đạt bằng lời hay chỉ nghĩ thầm trong đầu là minh chứng cho nhận định vừa nêu. Như vậy là, câu hỏi không có tác động gì tới đối tượng kiểm tra, họ thậm chí không biết đấy là gì. Để chứng minh, xin làm bài kiểm tra sau đây:

Người kiểm tra nghĩ tới hình ảnh mà đối tượng kiểm tra không biết và tuyên bố: “Hình ảnh tôi đang nghĩ tới là tích cực” (hoặc “là đúng” hoặc “đạt trên 200 điểm”, v.v.). Theo hướng dẫn của người kiểm tra, đối tượng kiểm tra phản ứng lại lực đang ấn xuống cổ tay mình. Nếu người kiểm tra nghĩ đến hình ảnh tích cực (ví dụ, Abraham Lincoln, Chúa Jesus, Mẹ Teresa, v.v.), thì cơ cánh tay của đối tượng kiểm tra sẽ mạnh lên. Nếu người kiểm tra nghĩ tới một lời tuyên bố dối trá hay hình ảnh tiêu cực (ví dụ, bin Laden, Hitler, v.v.) thì cánh tay sẽ yếu đi. Do đối tượng kiểm tra không biết người kiểm tra nghĩ gì, cho nên niềm tin cá nhân không ảnh hưởng tới kết quả kiểm tra. 

Những người không đủ tiêu chuẩn tham gia

Cả thái độ hoài nghi (160 điểm) và nhạo báng, cũng như vô thần, đều có điểm hiệu chỉnh dưới 200 vì chúng thể hiện định kiến tiêu cực. Ngược lại, việc tìm tòi thực sự đòi hỏi một tâm hồn cởi mở và trung thực, không có thái độ kiêu căng về trí tuệ. Những công trình nghiên cứu mang tính tiêu cực về phương pháp luận của phép kiểm tra này, cũng như những người thực hiện chúng, đều có điểm hiệu chỉnh chưa tới 200 (thường ở 160).

Một người bình thường có thể ngạc nhiên nếu biết rằng, thậm chí các giáo sư nổi tiếng cũng có thể và thực sự có điểm hiệu chính dưới 200. Như vậy là, các công trình nghiên cứu mang tính tiêu cực là hệ quả của thành kiến tiêu cực. Ví dụ, đề cương nghiên cứu của Francis Crick dẫn đến khám phá ra mô hình xoắn kép của DNA đạt 440 điểm. Song đề cương nghiên cứu mới đây của ông nhằm chứng minh rằng tâm thức chỉ là sản phẩm của hoạt động thần kinh chỉ đạt 135 điểm. (Crick là người vô thần).

Thất bại của các nhà nghiên cứu hoặc đề án nghiên cứu sai lầm có điểm hiệu chỉnh dưới 200 (thường là 160) càng khẳng định sự thật của chính phương pháp luận mà họ muốn bác bỏ. Họ sẽ thu được và quả thật đã thu được kết quả tiêu cực; kết quả này, ngược lại, càng chứng minh tính chính xác của bài kiểm tra nhằm phát hiện sự khác biệt giữa thái độ chính trực không thiên vị và không chính trực.

Bất kỳ phát hiện mới nào cũng đều có thể làm đảo lộn kế hoạch của người khác và bị coi là đe dọa, phá vỡ các hệ thống niềm tin đang thịnh hành. Công trình nghiên cứu tâm thức khẳng định giá trị của Thực tại tâm linh, tất nhiên, sẽ có đối kháng, vì nó thực sự đối đầu trực diện với quyền thống trị của cốt lõi ái kỷ của chính bản ngã, vốn ngạo mạn và cố chấp ngay từ khi mới ra đời.

Bên dưới tầng tâm thức 200, khả năng nhận thức bị hạn chế, vì Tâm trí cấp thấp hơn giữ thế thượng phong. Tâm trí thấp hơn có khả năng nhận ra sự kiện, nhưng chưa có khả năng hiểu thế nào là sự thật (nó nhầm lẫn giữa cái bên trong (res interna) với cái bên ngoài (res externa) và cũng chưa hiểu rằng sự thật có các yếu tố sinh lý đi kèm khác hẳn với giả dối. Ngoài ra, sự thật được cảm nhận bằng trực giác – bằng chứng là việc sử dụng phương pháp phân tích giọng nói, nghiên cứu ngôn ngữ cơ thể, phản ứng của đồng tử, thay đổi điện não đồ, dao động trong hơi thở và huyết áp, phản ứng gọi là Phản ứng điện da (Galvanic skin response ), cảm xạ, và thậm chí có thể dùng kỹ thuật Huna để đo chiều dài tia hào quang phát ra từ cơ thể. Một số người sử dụng kỹ thuật rất đơn giản: Đứng như một con lắc (ngả về đằng trước khi thấy sự thật và ngả về sau khi thấy dối trá).

Nhìn từ bối cảnh cao hơn, những nguyên tắc giữ thế thượng phong là giả dối không thể bác bỏ được Sự thật, cũng như bóng tối không thể bác bỏ được ánh sáng. Cái phi tuyến tính không bị giới hạn của cái tuyến tính tác động. Sự thật là hệ hình khác với logic và do đó, không thể chứng minh được, vì những thứ có thể chứng minh được chỉ có điểm hiệu chỉnh trong khoảng từ 400 đến 500 mà thôi. Phương pháp luận trong nghiên cứu ý thức đạt điểm 600, tức nằm ở vùng tiếp giáp giữa các chiều kích tuyến tính và phi tuyến tính. 

Những hiện tượng thiếu nhất quán

Sau một thời gian, cũng những người kiểm tra đó có thể thu được kết quả khác nhau, những người kiểm tra khác nhau cũng có thể thu được điểm hiệu chỉnh khác nhau vì một số lý do:

1. Hoàn cảnh, con người, chính trị, chính sách và thái độ thay đổi theo thời gian.

2. Trong lúc nghĩ về cái gì đó, người ta thường sử dụng các giác quan khác nhau, ví dụ thị giác, thính giác, hoặc cảm xúc. Do đó, khi bạn nghĩ tới mẹ mình, bạn có thể tưởng tượng ra hình ảnh, cảm xúc, giọng nói, v.v., hoặc Henry Ford có thể được hiệu chỉnh điểm số như một người cha, một nhà công nghiệp, hay dựa trên ảnh hưởng của ông đối với nước Mỹ, hoặc chủ nghĩa bài Do Thái của ông, v.v..

3. Tầng tâm thức càng cao thì độ chính xác càng lớn (Các tầng trên 400 là chính xác nhất). Người thực hiện có thể xác định bối cảnh và kiên trì sử dụng phương thức thịnh hành nào đó. Một nhóm kiểm tra sử dụng cùng một kỹ thuật sẽ nhận được kết quả nhất quán trong nội bộ nhóm. Thực hành càng nhiều thì sẽ càng thuần thục. Tuy nhiên, có một số người không có thái độ vô tư, khoa học, và không thể suy xét một cách khách quan, và do đó, đối với họ, phương pháp kiểm tra này sẽ không chính xác. Tâm huyết và hướng đến sự thật phải được đặt lên trên ý kiến cá nhân và nỗ lực nhằm chứng minh ý kiến của mình là “đúng”. 

Lưu ý

Người ta đã phát hiện được rằng kỹ thuật này không có tác dụng đối với những người có điểm hiệu chỉnh dưới 200, nhưng gần đây, người ta còn phát hiện thêm rằng kỹ thuật này không có hiệu quả nếu những người tham gia kiểm tra theo thuyết vô thần. Nguyên nhân có thể rất đơn giản: Chủ nghĩa vô thần có điểm hiệu chỉnh dưới 200; và theo quan hệ nghiệp lực luân báo, tư cách của người phủ nhận bị chính hành động phủ nhận chân lý hoặc Thánh thần (Chúa) của anh ta bác bỏ, hệt như lòng căm thù phủ nhận tình yêu.

            Gần đây người ta còn phát hiện được rằng, tầng ý thức của những người tham gia kiểm tra càng cao thì mức độ chính xác càng cao. Những người có điểm từ 400 trở lên cho kết quả kiểm tra chính xác nhất (Jeffrey và Colyer, 2007).

 


July 18, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (22)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 21

 

CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI

  

Chương này trình bày những câu hỏi và trả lời từ các buổi hội thảo và hội nghị chuyên đề được tổ chức trên khắp thế giới trong những năm gần đây, đây là những câu hỏi điển hình và thường hay gặp nhất về cơ chế buông bỏ.

 

Mục tiêu Tôn giáo và Tâm linh

Luôn luôn có một số câu hỏi liên quan đến việc áp dụng buông bỏ để vươn tới những trạng thái thường được gọi là mục tiêu tâm linh, mở rộng tâm thức và đức tin tôn giáo. Chúng tôi có thể trả lời nhiều câu hỏi kiểu này bằng cách đưa ra một tuyên bố chung.

Cơ chế buông bỏ không mâu thuẫn với bất kỳ tôn giáo, con đường tâm linh hay chương trình tự hoàn thiện nào, cũng không bất đồng với bất kỳ triết lý hay quan điểm siêu hình nào. Nó không có bất kỳ giáo lý tâm linh nào của riêng mình. Thay vào đó, nó cung cấp cơ chế để thấu hiểu chính mình, có thể dọn sạch những chướng ngại, mở đường cho tiến bộ tâm linh. Nó cũng tương thích với phong trào nhân văn. Tất cả các con đường tâm linh và tôn giáo đều nhấn mạnh nhu cầu mở rộng khả năng yêu thương, và về cơ bản, đó chính là cái mà quá trình buông bỏ hướng tới. Bằng cách loại bỏ những rào cản đối với tình yêu, khả năng yêu thương chính mình, yêu thương tha nhân và Thiên Chúa cũng gia tăng.

Buông bỏ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu những giáo lý cơ bản của tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới. Mục tiêu thiết yếu của những giáo lý này là buông bỏ “tự ngã nhỏ bé”, thường được gọi là “bản ngã”. Kỹ thuật buông bỏ tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu xoá bỏ tự ngã nhỏ bé bằng cách sử dụng một quá trình buông bỏ bên trong khá đơn giản. Khi siêu việt được bản ngã nhỏ bé, thì Đại Ngã đích thực bên trong sẽ tỏa sáng. Xin xem xét, ví dụ, phương tiện diễn đạt ngắn gọn phổ biến nhất về hiện tượng buông bỏ được hầu hết các tôn giáo đưa ra. Thông thường, tuân theo mô thức này:

Hãy buông bỏ và phó thác cho Thiên Chúa.

Hãy tĩnh lặng và biết rằng Ta là Thiên Chúa.

Hãy phó thác cuộc sống và ý chí của bạn để Thiên Chúa chăm sóc, tùy theo nhận thức của bạn về Ngài.

Hãy phó thác cho những cái đang là, vì Thiên Chúa ở trong tất cả.

Rõ ràng là buông bỏ những thứ tiêu cực tạo điều kiện thuận lợi cho chính hướng đi mà tất cả các tôn giáo và con đường tâm linh đều khuyến khích chúng ta đi theo. Quá trình buông bỏ chủ yếu liên quan đến các cảm thọ, và chúng ta đã thấy rằng cảm thọ có ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ và hệ thống niềm tin của chúng ta. Kinh nghiệm của hầu hết những người sử dụng cơ chế buông bỏ là nó tạo điều kiện thuận lợi cho các mục tiêu tâm linh và tôn giáo của họ. Những người không hữu ý có bất kỳ mục tiêu tôn giáo hay tâm linh nào nhận xét rằng buông bỏ tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng yêu thương, tức gia tăng đáng kể hạnh phúc và an lành của họ.

Carl Jung đã chỉ ra rằng, vì Chúa là một trong những nguyên mẫu chính trong vô thức, mỗi người đều phải có quan điểm về Chúa, dù họ thích hay không. Ngay cả người vô thần cũng có cảm thọ về khái niệm về Chúa. Vì vậy, dù Chúa có tồn tại hay không, chủ đề này sớm muộn gì cũng phải được giải quyết. Kìm nén cảm thọ của chúng ta về Chúa hoặc bị áp đảo một cách có ý thức bởi chủ đề này không phải là giải pháp thỏa đáng. Kỹ thuật buông bỏ mang tới giải pháp cho những xung đột nội tâm lâu dài, cả đối với người vô thần lẫn người hữu thần.

 

Hỏi: Xin hỏi liên hệ giữa buông bỏ và toàn bộ khái niệm về tội lỗi (sin)?

Trả lời: Nếu xem xét những cảm thọ tiêu cực mà chúng ta đã thảo luận và mô tả bằng thuật ngữ tôn giáo, chúng ta sẽ thấy rằng những gì chúng ta thực sự đang mô tả là cái gọi là “tội trọng” (cardinal sins). Bởi vì cơ chế buông bỏ là một cách để cho chúng đi qua, rõ ràng là việc buông bỏ chấp trước với những đặc điểm này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc vươn tới những giáo lý tôn giáo trong đời sống cá nhân của chúng ta.

 

Hỏi: Tôi không theo bất kỳ con đường tâm linh cụ thể nào mà có con đường cá nhân của riêng mình. Kỹ thuật này có thể hữu ích như thế nào?

Trả lời: Không có ngoại lệ, tất cả các con đường tâm linh đều dựa trên phương pháp xoá bỏ bản ngã. Bản ngã bao gồm toàn bộ các chương trình tiêu cực của chúng ta. Buông bỏ là quá trình tuyệt vời nhất để giải thoát khỏi các chương trình tiêu cực này. Do đó, nó là công cụ tốt nhất để tạo điều kiện thuận lợi cho hiểu biết tâm linh.

 

Hỏi: Quá trình này có ảnh hưởng đến đức tin của tôi theo bất kỳ cách nào hay không?

Trả lời: Ngược lại: Những trở ngại đối với đức tin là gì? Bạn sẽ nhận thấy rằng tất cả chúng đều là những hình thức tiêu cực. Do đó, buông bỏ tiêu cực sẽ loại bỏ những trở ngại đối với đức tin.

 

Hỏi: Tôi là người không tin tôn giáo, nhưng tôi có hứng thú tìm hiểu về các vấn đề tâm linh. Phương pháp này có ích gì đối với tôi hay không?

Trả lời: Cơ chế buông bỏ chỉ là công cụ. Bạn có thể sử dụng nó để loại bỏ những trở ngại trong việc kiếm được một triệu đôla; hoặc bạn có thể sử dụng nó để loại bỏ những trở ngại trong việc phát triển nhận thức tâm linh. Hầu hết những người liên tục buông bỏ đều cho biết họ khám phá ra điều gì đó bên trong chính mình giống như tình yêu, độc lập với thân thể, cảm xúc, suy nghĩ và các sự kiện của thế gian. Bạn đã bao giờ nghe nói về việc ai đó cảm thấy không hài lòng với khám phá này chưa?

 

Hỏi: Kỹ thuật buông bỏ có mâu thuẫn với bất kỳ giáo lý tâm linh hay tôn giáo nào hay không?

Trả lời: Nghiên cứu về chủ đề này cho thấy không có mâu thuẫn nào giữa việc buông bỏ tiêu cực và bất kỳ giáo lý tâm linh nào.

 

Hỏi: Tôi đã từ bỏ tôn giáo cách đây nhiều năm, vì nó tạo ra quá nhiều mặc cảm tội lỗi mà tôi không thể chịu đựng được. Sử dụng kỹ thuật buông bỏ sẽ có tác dụng như thế nào?

Trả lời: Quan sát lâm sàng suốt nhiều năm phát hiện được rằng, mặc cảm tội lỗi nổi lên như là lý do thường gặp nhất khiến người ta từ bỏ tôn giáo. Đó là vì các mục tiêu dường như không thể nào vươn tới được. Hãy tự hỏi điều gì làm cho những mục tiêu này trở thành không thể vươn tới được. Đó luôn là sự khác biệt giữa những gì người ta được dạy rằng họ nên trở thành, so với những gì họ tri giác về bản thân mình. Thay vì cảm thấy mặc cảm tội lỗi, hãy thử buông bỏ tất cả những cảm thọ tiêu cực nảy sinh và chờ xem sự thay đổi thái độ có thể xảy ra. Một lần nữa, buông bỏ là công cụ. Nó có thể được sử dụng để hỗ trợ các mục tiêu của bạn trong bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc sống. Cách bạn sử dụng nó là phục thuộc vào bạn. Một điểm khởi đầu tốt là buông bỏ tất cả mặc cảm tội lỗi của bạn vì nó tạo ra môi trường cảm xúc cho khổ đau và bệnh tật.

 

Thiền định và các kỹ thuật nội tâm

Hỏi: Buông bỏ và phó thác có liên hệ như thế nào với các kỹ thuật thiền định khác nhau?

Trả lời: Hầu hết các kỹ thuật thiền định đều có mục tiêu là làm cho tâm trí tĩnh lặng. Đây là nền tảng của câu trong Sách Thánh Vịnh, “Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời.” Như hầu hết những người hành thiền đã khám phá được: tâm trí tĩnh lặng là vấn đề chính của hành thiền. Đó là do những cảm thọ bị kìm nén liên tục tạo ra những suy nghĩ, đấy là những yếu tố gây xao nhãng chính trong hành thiền. Do đó, nhận biết và buông bỏ năng lượng đằng sau những cảm thọ bị kìm nén này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu của hành thiền. Khi cảm thọ đằng sau dòng suy nghĩ được xác định và buông bỏ, thì toàn bộ dòng suy nghĩ đó dừng lại ngay lập tức.

Bằng cách liên tục buông bỏ, có thể vươn tới trạng thái tâm trí cực kỳ tĩnh lặng. Có thể buông bỏ trong khi làm những công việc hàng ngày, do đó mở rộng đáng kể khả năng thiền định. Hầu hết các kỹ thuật thiền đều bị giới hạn trong giai đoạn nhất định trong ngày. Có thể vươn tới trạng thái tâm thức cao hơn bằng cách liên tục buông bỏ.

 

Hỏi: Tôi không theo con đường tâm linh nào, nhưng tôi thực hành các câu khẳng định và hình dung. Kỹ thuật buông bỏ có hữu ích với tôi hay không?

Trả lời: Buông bỏ giúp tăng cường sức mạnh của các câu khẳng định. Một câu khẳng định là một tuyên bố tích cực. Sức mạnh của nó bị hạn chế bởi thực tế là, dù có ý thức hay vô thức, chúng ta có nhiều chương trình tiêu cực đang nói điều hoàn toàn trái ngược với câu khẳng định. Bạn có thể tự mình khám phá điều này bằng cách nhận thấy rằng, khi bạn viết các câu khẳng định, tâm trí bạn xuất hiện với những suy nghĩ như “Ừ, nhưng…” Chính những suy nghĩ “Ừ, nhưng…” này hạn chế sức mạnh của câu khẳng định và làm giảm hiệu quả của nó. Nếu bạn buông bỏ những trở ngại đối với câu khẳng định, bạn sẽ nhận thấy  hiệu quả của chúng gia tăng nhanh chóng.

 

Tâm lý trị liệu

Hỏi: Tôi đang tham gia phân tâm học. Kỹ thuật buông bỏ có hữu ích hay không? Liệu nó có mâu thuẫn với liệu trình phân tâm của tôi, vốn đang ngày càng trở nên đắt đỏ hơn?

Trả lời: Các nhà trị liệu đã nghiên cứu kỹ thuật này đều đồng ý với nó. Nhiều bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học và nhà trị liệu đã học kỹ thuật này và sử dụng nó trong thực hành của họ. Cho đến nay, chúng tôi chỉ nhận được những đánh giá tích cực 100% về kết quả, bởi vì khả năng buông bỏ những cảm thọ tiêu cực và những hạn chế của bệnh nhân tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình “vượt qua”, cho phép liệu pháp tiến triển nhanh hơn hẳn. Bản thân các nhà trị liệu cũng nhận thấy rằng, tiến trình buông bỏ giúp việc thấu hiểu bệnh nhân trở nên thông suốt hơn nhiều, đồng thời hóa giải được những nút thắt phản chuyển di (counter-transference[i]) trong nội tâm người thầy thuốc. Nếu các nhà trị liệu biết cách thừa nhận và buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, họ có thể tránh cho bản thân mình khỏi những căn bệnh do căng thẳng gây ra trong suốt quá trình hành nghề. Do đó, kỹ thuật này được coi là hỗ trợ trong liệu pháp tâm lý, làm gia tăng hiệu quả và hài lòng với kết quả điều trị.

 

Hỏi: Tôi đang tham gia liệu pháp tâm lý nhóm. Liệu pháp này sẽ hoạt động như thế nào với cơ chế buông bỏ?

Trả lời: Cũng giống như trong liệu pháp tâm lý cá nhân, khả năng buông bỏ những cảm thọ tiêu cực bên trong sẽ tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho liệu pháp nhóm.

 

Hỏi: Tôi là một nhà phân tích tâm lý theo trường phái Jung. Phương pháp này có phù hợp với công việc của tôi hay không?

Trả lời: Thông qua buông bỏ, chúng ta có thể giải phóng chính mình khỏi sự chi phối của các nguyên mẫu. Rõ ràng là, các nguyên mẫu là một tập hợp các niềm tin và cảm thọ, và do đó, chúng là những chương trình giống như bất kỳ chương trình nào khác. Cá nhân sử dụng cơ chế buông bỏ để giải thoát khỏi những niềm tin và cảm thọ đã được lập trình có quyền lựa chọn các mô thức nguyên mẫu, thay vì bị chúng điều khiển theo lối vô thức.

 

Nghiện rượu và nghiện ma túy

Hỏi: Tôi là thành viên của Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh (AA), và tôi muốn biết kỹ thuật này có mang lại lợi ích cho những người khác trong A.A.?

Trả lời: Kinh nghiệm chung là kỹ thuật buông bỏ giúp ích rất nhiều cho việc thực hiện 12 Bước của Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh, đặc biệt là Bước Ba. Bước Ba nói: “Chúng tôi quyết định phó thác ý chí và cuộc sống của mình cho sự chăm sóc của Chúa như cách chúng tôi hiểu Ngài.” Chính bước này gây khó khăn cho nhiều người trong A.A. vì không có hướng dẫn cụ thể. Làm sao bạn phó thác ý chí và cuộc sống của mình cho sự chăm sóc của Chúa hoặc một Đấng Tối Cao nào đó? Nếu nhìn vào ý chí, chúng ta thấy rằng nó là ham muốn. Ham muốn liên kết với chấp trước. Do đó, cơ chế buông bỏ tạo điều kiện cho giải thoát khỏi chấp trước và gần như tương đương với ý định của Bước Ba. Phó thác cho Chúa có nghĩa là buông bỏ thái độ cố chấp của bản thân. Cố chấp chính là bản ngã.

Ám ảnh về rượu là thôi thúc, cưỡng chế do chấp trước. Có thể làm cho nó suy yếu và giảm bớt bằng quá trình buông bỏ. Uống rượu cũng là một cách trốn tránh những cơn đau của những cảm thọ tiêu cực; do đó, buông bỏ những cảm thọ tiêu cực làm giảm nhu cầu trốn tránh về mặt tâm lý dưới hình thức đó. Điều này cũng áp dụng cho các loại ma túy khác, tất cả đều là những nỗ lực để thay thế cảm thọ thấp hơn bằng cảm thọ cao hơn.

Kỹ thuật buông bỏ không thay thế nhu cầu tham gia các nhóm tự giúp nhau hoặc Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh; tuy nhiên, nó giúp ích rất nhiều cho sự thành công trong các chương trình hồi phục và chắc chắn tương thích với tất cả các nhóm ẩn danh, vốn đều dựa trên chương trình 12 Bước.

 

Quan hệ

Hỏi: Tôi đã theo đuổi con đường tâm linh trong suốt nhiều năm, nhưng không hiểu vì sao tôi vẫn có những cảm thọ tiêu cực.

Trả lời: Có vọng tưởng phổ biến rằng những người đã tiến hóa về mặt tâm linh, những người yêu thương không bao giờ có bất kỳ tiêu cực nào, như thể họ đã là thiên thần. Họ cảm thấy khó chịu vì vẫn còn những cảm thọ tiêu cực, sau đó, nó càng trầm trọng hơn bởi mặc cảm tội lỗi và thất vọng với chính mình. Họ phải nhận ra rằng cảm thọ là phù du, trong khi ý định tiến hóa của họ vẫn không thay đổi. Hãy buông bỏ mặc cảm tội lỗi vì bạn vẫn chỉ là một con người bình thường, bất chấp những tham vọng thiên thần của bạn! Có tâm từ bi đối với bản chất con người bẩm sinh của bạn, hệ thần kinh và chức năng não bộ đi kèm tạo điều kiện cho bạn bình tĩnh hơn. Tham vọng thiên đường không nhất thiết biến chúng ta thành thiên thần!

 

Hỏi: Tôi có một đồng nghiệp ở nơi làm việc không hoàn thành công việc của mình. Mỗi lần nhìn thấy anh ta, tôi đều cảm thấy bực bội. Sau đó, tôi lại có mặc cảm tội lỗi vì đã bực bội với anh ta. Tôi có thể bắt đầu kỹ thuật buông bỏ trong tình huống đó như thế nào?

Trả lời: Chúng ta nhận biết và chấp nhận cảm thọ của mình về một tình huống, sau đó ưu tiên giải quyết chúng thay vì để cảm thọ chi phối. Tại nơi làm việc, nhiều người nghĩ rằng họ nên kìm nén cảm thọ oán hận; tuy nhiên, cách tiếp cận này không giải quyết được vấn đề và căng thẳng sẽ ngày càng trầm trọng thêm. Với kỹ thuật buông bỏ, hãy hướng vào bên trong bản thân mình và nhận ra những cảm thọ tiêu cực khi chúng vừa sinh khởi. Hãy để chúng sinh khởi mà không kìm nén và không trút giận. Sau đó, chuyển sự chú ý của bạn từ cảm thọ này sang cái gì đó khác. Hãy để cảm thọ ở đó và buông bỏ chúng.

 

Hỏi: Ông khuyên chúng ta nên chuyển sự chú ý khỏi cảm thọ tiêu cực. Nó khác với việc kìm nén cảm thọ như thế nào?

Trả lời: Kìm nén là một quá trình vô thức, những cảm thọ không được chấp nhận bị đẩy ra khỏi nhận thức và không được giải quyết. Trong quá trình dịch chuyển chú ý, bạn lựa chọn không đắm chìm vào cảm thọ tiêu cực. Bạn đã thừa nhận và chấp nhận cảm thọ bên trong chính mình như một phần của bản chất con người, nhưng bạn đang chọn cách buông bỏ nó, vì bạn muốn điều gì đó cao cả hơn, ví dụ như an bình, hài hòa và hoàn thành công việc. Đôi khi mọi người sẽ chuyển dịch chú ý bằng những hành động như sắp xếp lại đồ đạc, mở và đóng rèm cửa sổ, đi nhanh vào phòng vệ sinh hoặc giải lao uống cà phê. Những hành động này tạo điều kiện có một khoảnh khắc để chuyển dịch từ tiêu cực sang tích cực.

 

Hỏi: Tôi nhận thấy có một số cảm thọ dường như thường xuyên lặp đi lặp lại, mặc dù tôi thường xuyên sử dụng phương pháp này.

Trả lời: Những cảm thọ tiêu cực tái diễn thường xuyên chứng tỏ cần có một khoảng thời gian để chiêm nghiệm về các mô thức lặp đi lặp lại này. Ví dụ, cách xử lý cảm thọ tiêu cực có thể tuân theo mô thức của cha mẹ hoặc gia đình, cũng như các mô thức văn hóa. Các nền văn hóa khác nhau có cách xử lý cảm thọ rất khác nhau. Vì vậy, hãy nhìn vào các mô thức vô thức tiềm ẩn đang diễn ra với phản ứng mang tính cảm xúc của bạn và buông bỏ những mô thức đó.

 

Hỏi: Chuyện gì sẽ xảy ra nếu cảm thọ tiêu cực đối với người nào đó hoặc tình huống nào đó vẫn tồn tại, bất chấp ý định và nỗ lực của tôi trong việc buông bỏ nó?

Trả lời: Đôi khi người ta ít nhiều bị buộc phải chấp nhận một tình huống và cho rằng đó là nghiệp. Bằng nghiên cứu tâm linh, người ta nhận ra rằng quả thực đó là nghiệp. Giả sử bạn đang phải trả giá cho nghiệp trong việc bạn đã đối xử tệ với nhiều người! Giờ đây bạn có cơ hội nhìn thấy cách người khác đối xử tệ với bạn. Đôi khi, điều hợp lý duy nhất là chấp nhận quy luật nghiệp chướng. Bạn không cần phải tin vào nghiệp như một giáo lý tôn giáo để thực hiện bước đi này. Đó chỉ đơn giản là chấp nhận quy luật cơ bản của tương tác giữa người với người: “gieo nhân nào gặt quả ấy”, và hầu hết chúng ta không phải lúc nào cũng là thánh nhân!

 

Hỏi: Tôi là giáo viên và đôi khi có những học sinh làm tôi bực mình. Với tư cách là thày giáo của họ, tôi mong muốn có thể giúp đỡ họ. Xin ông lời khuyên?

Trả lời: Trước tiên, hãy chấp nhận sự thật rằng bạn đang bực mình, và bực mình là bình thường. Đó là cái giá phải trả của tâm thức con người. Hãy để bực mình sinh khởi trọn vẹn mà không cần đặt tên cho nó hay biến nó thành vấn đề cá nhân. Thay vì chống lại nó, bạn hãy đòi hỏi nhiều bực mình hơn nữa. Hãy nhìn nhận rằng đó chỉ đơn giản là năng lượng tiêu cực. Nhận xét đó sẽ giúp bạn không cá nhân hóa nó. Sau đó, hãy tự hỏi, bạn có sẵn sàng buông bỏ năng lượng này hay không? Thường thì năng lượng đó sẽ biến mất.

 

Hỏi: Tôi có một cuộc hôn nhân tốt đẹp nhưng vẫn có những lúc khó chịu, bực bội và bất đồng. Làm sao đối phó với cảm thọ bực bội và khó chịu với người bạn đời của mình?

Trả lời: Chúng ta đã nói rằng khó chịu là bình thường. Đó là một phần của thân phận con người. Việc bạn cần làm là làm quen với những gì người kia đang suy nghĩ và cách thể hiện của họ. Thường thì sẽ có những thái độ và sở thích khác nhau. Những khác nhau phổ biến là sở thích về nhiệt độ phòng, âm lượng và cách chi tiêu tiền bạc. Điều quan trọng là hãy thôi phán xét sở thích của người khác hoặc tự hào rằng sở thích của mình là “đúng”. Mỗi người chấp nhận tính người của người kia và tất nhiên, đôi khi sẽ có những thái độ khác nhau.

 

Hỏi: Những khác biệt tưởng chừng nhỏ nhặt như vậy thường dẫn đến đổ vỡ quan hệ, vì người này đổ lỗi cho người kia hoặc muốn thay đổi hành vi của họ. Làm sao có thể sống hòa thuận thay vì đổ lỗi?

Trả lời: Chỉ cần chấp nhận rằng mọi quan hệ đều có thăng trầm. Bạn phải có khiếu hài hước về thân phận con người và những mâu thuẫn, nghịch lý dường như hiển nhiên của nó. Bạn muốn người kia hạnh phúc và thoải mái, và bạn biết rằng bạn cũng hạnh phúc và thoải mái khi họ hạnh phúc và thoải mái. Có sự điều chỉnh hỗ tương về lối sống an bình. Buông bỏ phán xét, đổ lỗi và kiểm soát người khác. Buông bỏ việc mong đợi họ khác với con người mà họ đang là. Tất cả chúng ta đều có những khiếm khuyết riêng. Lập danh sách những khuyết điểm của chính mình cũng có thể là việc làm khá thú vị. Có thể quyết định là không tập trung vào những thứ tiêu cực trong môi trường hoặc quan hệ của mình. Người ta có thể chịu đựng những căng thẳng và khác biệt trong những khoảng thời gian khác nhau, và ở các độ tuổi khác nhau, bạn có thể chịu đựng nhiều hơn hoặc ít hơn.

 

Hỏi: Còn những cảm thọ tiêu cực nảy sinh trong khi giáo dục với con cái thì sao?

Trả lời: Khoan dung hành vi của trẻ em phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa, giới tính, tuổi tác, quan điểm đạo đức và những yếu tố khác. Bạn có thể khoan dung một số hành vi khi trẻ ở tuổi mẫu giáo, nhưng lại không thể khoan dung khi trẻ đã học lớp ba. Thường thì cha mẹ phải buông bỏ những kỳ vọng đối với con cái. Nhạc sĩ chuyên nghiệp sẽ cảm thấy thế nào khi có con không có kỹ năng hay năng khiếu âm nhạc? Kỳ vọng là những áp lực tinh tế đối với người khác, và người đó sẽ chống lại một cách vô thức. Trong quá trình nuôi dạy con cái, bạn cần từ bỏ kỳ vọng và thiên vị mang tính cá nhân.Nếu bạn là một chuyên gia trong môn bi-a, liệu bạn có thể buông bỏ thất vọng khi con mình chơi kém hay không?

Một vấn đề phổ biến khác là cha mẹ bảo bọc quá mức. Đôi khi, cha mẹ nhầm lẫn giữa việc yêu thương con cái đã trưởng thành với việc giải cứu chúng khỏi mọi khó khăn. Ở một độ tuổi nhất định, đôi khi tình yêu có nghĩa là “yêu thương, nhưng nghiêm khắc”, tức là để con tự tìm cách thoát khỏi mớ hỗn độn mà chúng đã gây ra, để chúng có cơ hội khám phá những nguồn lực bên trong của chính mình.

 

Hỏi: Nếu buông bỏ quá nhiều mặc cảm tội lỗi, liệu kỹ thuật này có dẫn đến phóng túng không?

Trả lời: Ngược lại, phóng túng là do tự trọng thấp, lợi dụng và thiếu yêu thương. Khi buông bỏ ích kỷ và tiêu cực, lòng trắc ẩn và an vui khi ở bên người khác sẽ tự hiển lộ; và lòng tự trọng cao hơn sẽ chuyển hóa hoàn toàn nhãn quan của ta về tất cả các mối quan hệ. Khả năng yêu thương sẽ gia tăng nhanh chóng. Phần lớn phóng túng trong lĩnh vực tình dục là nỗ lực để vượt qua những sợ hãi vô thức và tìm kiếm biện pháp trấn an. Tất cả đều có thể được buông bỏ, để những quan hệ trưởng thành hơn có thể thay thế cho chúng.

 

Hỏi: Tôi đã tham gia trị liệu bằng tình dục, dựa trên phương pháp huấn luyện lại hành vi. Phương pháp này có tương thích hay không?

Trả lời: Không có bất tương thích nào hết. Huấn luyện lại hành vi là nỗ lực nhằm thay thế những chương trình tiêu cực bằng những chương trình tích cực. Về cơ bản, đó là việc thay thế “Tôi không thể” bằng “Tôi có thể”. Đó chính là ý nghĩa của kỹ thuật buông bỏ.

 

Hỏi: Kỹ thuật buông bỏ có chữa được chứng bất lực hay lãnh cảm?

Trả lời: Đây không phải là phương pháp chữa trị bất cứ thứ gì; nó là kỹ thuật tự khám phá, giúp nhanh chóng mở ra nhận thức về cảm thọ, suy nghĩ và niềm tin ở bên trong. Cả lãnh cảm và bất lực đều là những biểu hiện ở cấp độ hành vi: “Tôi không thể”, mà trong tiềm thức có nghĩa là: “Tôi sẽ không”. Cả hai đều chống lại niềm vui, tình yêu, sự thể hiện và sức sống. Nguyên nhân phổ biến nhất là mặc cảm tội lỗi, sợ hãi và giận dữ bị kìm nén, đây là những cảm thọ được thể hiện qua hệ thần kinh thực vật. Bất lực và lãnh cảm là biểu hiện của xung đột. Hầu hết những người sử dụng kỹ thuật buông bỏ đều báo cáo những cải thiện tổng thể trong đời sống tình dục của họ theo những cách khác nhau, và nhiều người báo cáo rằng họ đã hồi phục khỏi những ức chế tình dục. Tương tự, nhiều người cũng báo cáo là được giải thoát khỏi hoạt động tình dục thái quá và ám ảnh quá mức về chủ đề này.

 

Hỏi: Cơ chế buông bỏ liên quan như thế nào với quá trình lão hóa?

Trả lời: Nó tạo điều kiện cho quá trình lão hóa diễn ra một cách duyên dáng. Tuổi già tạo ra những thay đổi lớn trong lối sống của bạn. Thường thì thị lực, thính lực và khả năng vận động suy giảm, có nghĩa là bạn ngày càng cần người khác làm giúp những việc mà trước đây bạn làm được một cách dễ dàng. Tuổi già có thể làm cho ta khó chịu. Đột nhiên, bạn trở thành người kém cỏi trong những lĩnh vực mà trước đây bạn từng rất giỏi. Tuy nhiên, khi buông bỏ cảm thọ khó chịu, bạn sẽ thấy rằng hiện tượng suy yếu của tuổi già có mục đích riêng. Chúng giúp bạn chuẩn bị rời khỏi thế giới này. Nếu bạn vẫn còn là một “ngôi sao” trong một lĩnh vực nào đó của cuộc đời, bạn sẽ cảm thấy tiếc khi phải rời bỏ thế giới này. Bạn sẽ không thể đón nhận nó một cách thanh thản. Khi bạn yếu đi, thì đấy chính là thời gian để thích nghi, làm quen với thực tế là bạn sẽ ra đi, và thực hiện bất kỳ công việc tâm linh nào mà bạn muốn hoàn thành trước khi rời khỏi thế giới này.

Khi bạn chấp nhận quá trình lão hóa như một phần tất yếu của thân phận con người, bạn sẽ tìm thấy an bình. Bạn trở thành người yêu thương hơn và trân trọng hơn tình thương và sự quan tâm mà người khác dành cho mình. Càng yêu thương nhiều hơn, bạn càng nhận ra rằng mọi người đều đang cố gắng giúp đỡ bạn. Và để cho người khác giúp đỡ chính là biểu hiện của tình yêu. Mọi người thường nghĩ: “Ôi, mình thật ích kỷ nếu để người nào đó giúp đỡ mình.” Thực ra, đó là chính là hào phóng. Hào phóng là sẵn sàng chia sẻ cuộc sống của mình với người khác. Để người khác yêu thương bạn là món quà mà bạn tặng cho họ.

 

Cơ chế

Hỏi: Làm sao để buông bỏ trở thành hiện tượng thường xuyên hơn?

Trả lời: Bí quyết để sử dụng cơ chế này thường xuyên hơn và nhất quán hơn, trước hết, là mong muốn làm như thế. Đó là Bước 1. Bạn phải muốn thoát khỏi cảm thọ đó hơn là muốn giữ nó. Đôi khi chỉ cần nhớ lại, và bạn có thể sử dụng một loại thẻ nhắc nhở nào đó để nhắc nhở mình.

Một cách khác là tạo ra thói quen. Sẽ rất tốt khi bắt đầu ngày mới bằng cách buông bỏ những suy nghĩ và cảm thọ của bạn về những kỳ vọng, hình dung cách bạn muốn mọi việc diễn ra và buông bỏ tất cả những suy nghĩ tiêu cực có thể cản trở ngày hôm đó diễn ra theo hướng đó. Sau đó, buổi tối, ngồi xuống và buông bỏ bất cứ cái gì xuất hiện trong ngày hôm đó mà bạn đã bỏ qua hoặc không có thời gian chú ý tới. Cách làm này được gọi là “dọn dẹp”, và hầu hết mọi người thấy rằng họ ngủ ngon hơn.

Một cách khác là có cuốn sổ tay để ghi lại những thành công của bạn. Bạn có thể đặt ra mục tiêu liên tục buông bỏ và theo dõi kết quả mà mình đã đạt được.

Một cách khác nữa là buông bỏ kháng cự đối với việc buông bỏ và, khi bắt đầu ngày mới, hãy khẳng định lại ý định buông bỏ mọi tiêu cực trong ngày hôm đó. Bạn cũng khẳng định lại rằng mình được tự do không buông bỏ. Xét cho cùng, đó hoàn toàn là vấn đề lựa chọn. Buông bỏ bất kỳ cảm thọ bắt buộc nào về điều đó. Không có gì là “nên làm” hết.

 

Hỏi: Xin hỏi nguyên nhân thường gặp nhất khiến chúng ta kháng cự lại buông bỏ là gì?

Trả lời: Chúng ta nghĩ rằng bằng cách nào đó, nếu chúng ta giữ lại cảm thọ đó, thì nó sẽ giúp chúng ta đạt được điều mình muốn. Nếu chúng ta bị mắc kẹt trong một cảm thọ nào đó, thì cần xem lại câu hỏi về những thứ chúng ta nghĩ mình đã đạt được bằng cách lưu giữ nó. Hầu như lúc nào cũng thấy rằng chúng ta có ảo tưởng rằng nó sẽ tạo được ảnh hưởng nào đó lên người khác và thay đổi hành vi hoặc thái độ của họ đối với chúng ta. Nếu buông bỏ cách nghĩ như thế, chúng ta sẽ sẵn sàng buông bỏ cảm thọ đó.

 

Hỏi: Nếu luôn luôn buông bỏ, tôi có trở thành người thụ động hay không?

Trả lời: Ngược lại, buông bỏ dọn đường cho hành động hiệu quả. Thụ động thường là do kìm hãm và không nhìn thấy những biện pháp khác để xử lý tình huống. Ví dụ, một người nói: “Trong cuộc họp, anh ta làm tôi tức giận đến mức tôi chỉ ngồi đó và không nói gì.” Giờ thì vấn đề khá rõ ràng. Không nói gì là do tức giận và người đó tưởng tượng rằng phản ứng mang tính cảm xúc duy nhất mà anh ta có thể có là tức giận. Vì phản ứng như thế không phù hợp trong kinh doanh, cho nên anh ta đã không nói gì. Nếu buông bỏ tức giận, người đó có thể trở thành tự tin và bày tỏ ý kiến của mình thay vì im lặng.

 

Hỏi: Trong trị liệu, tôi đã học cách thể hiện tức giận, và tôi nghĩ đó là một điều rất hữu ích. Tôi có phải từ bỏ nó không?

Trả lời: Nếu nhìn vào tức giận, bạn sẽ thấy rằng cơ sở của nó hầu như lúc nào cũng là sợ hãi. Chúng ta tức giận vì chúng ta bị đe dọa. Đe dọa gây ra sợ hãi. Sợ hãi làm cho chúng ta cảm thấy mình không đủ sức đối phó với tình huống. Về mặt sinh học, tức giận tương tự như phồng lên để đe dọa đối thủ. Tức giận xuất phát từ yếu đuối chứ không phải sức mạnh. Do đó, người đã buông bỏ là dựa vào sức mạnh chứ không phải yếu đuối. Người đã buông bỏ không cần dựa vào tức giận để xử lý tình huống. Hơn nữa, không thể trông cậy vào tức giận. Ngoài ra, nó tạo ra nhiều tác động mang tính phá hoại; ví dụ, nó điều khiển bạn thay vì bạn điều khiển nó. Một người buông bỏ hoàn toàn có thể tự do lựa chọn thể hiện tức giận, nếu muốn; nhưng đó là lựa chọn, chứ không phải là thúc bách mang tính áp đặt. Tức giận, đặc biệt là tức giận thường xuyên, tạo ra ảnh hưởng xấu tới các cơ quan trong cơ thể, và nghiên cứu trong tâm thần học chỉ ra rằng tức giận bị kìm nén có liên quan đến tăng huyết áp, viêm khớp và nhiều loại bệnh khác.

 

Hỏi: Ông nói rằng buông bỏ là cơ chế tâm lý tự nhiên của tâm trí. Nếu thế, vì sao chúng ta phải học cách buông bỏ?

Trả lời: Mặc dù đúng là buông bỏ là cơ chế tự nhiên của tâm trí, nhưng cần nhớ rằng tâm trí có nhiều động cơ mâu thuẫn nhau. Trong khi một phần tâm trí muốn thoát khỏi căng thẳng do cảm thọ gây ra, thì một phần khác lại được lập trình để tin rằng nếu bám vào cảm thọ đó thì sẽ thu được kết quả đáng mong muốn chẳng khác gì ảo thuật. Trừ khi bạn ý thức được và nắm vững kỹ thuật này, nếu không, những mâu thuẫn trong tâm trí sẽ lấn át và chi phối. Về cơ bản, kỹ thuật buông bỏ cho bạn quyền lựa chọn trước những khuynh hướng của tâm trí. Thay vì bị nó tác động, tâm trí lúc này nằm dưới quyền kiểm soát của bạn. Nó đưa bạn tới tự do và khả năng lựa chọn tự do.

 

Hỏi: Tôi gặp khó khăn trong việc chấp nhận. Xin lời khuyên của ông?

Trả lời: Hãy chuyển sự chú ý của bạn sang những thứ thực sự thiết yếu, bằng trải nghiệm. Có những ngày mưa; có những ngày nắng; có những ngày trời đầy mây. Bạn không thể thay đổi cơn mưa, nhưng bạn có thể mặc áo mưa. Bạn có thể là người thực tế và thực hiện các bước cần thiết để giữ cho mình khô ráo. Bạn không thể thay đổi nhiều khía cạnh của cuộc đời, nhưng bạn có thể buông bỏ kỳ vọng hoặc đòi hỏi rằng chúng phải khác với cái mà chúng đang là. Ví dụ, bằng cách quan sát, bạn sẽ nhận thấy rằng chiến tranh luôn luôn diễn ra ở đâu đó trên thế giới này. Vì vậy, muốn sống hòa bình, cần phải chấp nhận rằng gây chiến là một phần của bản chất con người và nó đã tồn tại trong suốt lịch sử thành văn. Loài người đã đánh nhau trong 97%[ii] thời gian tồn tại của mình.

 

Hỏi: Tôi nhận ra rằng sợ hãi và bất an là động lực thúc đẩy tôi trong suốt cuộc đời này, nhưng dường như những động lực đó lại là nguyên nhân dẫn tới thành công về tài chính của tôi. Nếu tôi học cách buông bỏ, nó có ảnh hưởng xấu đến thu nhập của tôi hay không?

Trả lời: Khi một động lực thấp hơn được buông bỏ, tâm trí sẽ tự động thay thế nó bằng cảm thọ cao hơn và động lực cao hơn. Có gì sai khi tận hưởng việc kiếm sống thay vì bị sợ hãi thúc đẩy? Hoạt động tương tự sẽ vẫn tiếp tục, nhưng giờ đây là từ một không gian dễ chịu, và nó sẽ bắt đầu mang lại nhiều phần thưởng khác chứ không chỉ phần thưởng về tài chính.

 

Hỏi: Nếu không có mặc cảm tội lỗi, liệu người ta có cư xử không đúng mực hay không?

Trả lời: Tương tự như câu trả lời trước, sự quan tâm đầy yêu thương dành cho tha nhân thay thế cho kìm hãm bởi mặc cảm tội lỗi. Càng yêu thương nhiều hơn, chúng ta càng trở nên vô hại hơn đối với tha nhân và xã hội nói chung. Khi bạn quan tâm bằng yêu thương đến hạnh phúc của tha nhân, hạnh phúc của chính bạn cũng sẽ được chăm sóc và đảm bảo.

 

Hỏi: Trí nhớ của tôi rất kém. Ông nghĩ tôi có thể học được kỹ thuật này hay không?

Trả lời: Không cần phải ghi nhớ khi học kỹ thuật này. Chỉ đơn giản là biện pháp buông bỏ. Cho đến nay, chúng tôi chưa nghe nói về bất kỳ người nào không thể học được.

 

Hỏi: Đôi khi tôi nghĩ mình đang buông bỏ, còn đôi khi lại không chắc chắn. Tôi bị bối rối. Vấn đề là gì?

Trả lời: Hãy nhìn vào những trở ngại đối với quá trình buông bỏ. Bạn có bất kỳ suy nghĩ, nghi ngờ hoặc cảm thọ tiêu cực nào về khả năng thực hiện kỹ thuật này hay không? Hãy để tất cả những kháng cự này xuất hiện, chấp nhận chúng và buông bỏ chúng. Hãy làm rõ ý định của bạn trong việc trở thành người hạnh phúc hơn, yêu thương hơn và bình an hơn.

 

Phó thác cho thực tại tối thượng

Hỏi: Ông đã nói tới đến “phó thác ở tầng sâu nhất” như một phương pháp để chúng ta trải nghiệm Thực tại Tối thượng. Ông có thể mô tả điều sẽ xảy ra?

Trả lời: Chúng ta có thể gọi đó là “cuộc đua cuối cùng”. Khi bạn áp dụng kỹ thuật buông bỏ vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, không có ngoại lệ, năng lượng của công việc tâm linh sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn. Tập trung cao độ, kiên trì bền bỉ với phương pháp, dù chuyện gì xảy ra thì cũng thế.

Một số người nói: “Tôi đã làm công việc tâm linh, tuy không thường xuyên, trong 30 năm, và tôi vẫn ở nguyên chỗ cũ.” Họ đã thiền một chút ở đó, cầu nguyện một chút ở đây, tham dự một hội thảo, nghe một diễn giả, đọc một cuốn sách, và tất cả đều diễn ra không thường xuyên. Không sao hết. Bạn đang bận rộn trong thế giới này và tích lũy dữ liệu mà bạn biết mình sẽ sử dụng trong những giai đoạn sau.

Thế rồi đến một lúc, việc thực hành — dù bất cứ phương pháp nào — cần được thực hiện mà không có ngoại lệ, mọi lúc mọi nơi. Sùng kính Sự thật trở nên mạnh mẽ đến mức không thể cưỡng lại được. Lúc này, không phải bạn đang thúc đẩy nó nữa. Số phận của chính bạn đang kéo bạn đi; chính do cam kết mang tính nghiệp báo của bạn mà bạn đã chọn số phận cao nhất. Tại thời điểm đó, giả sử bạn sử dụng kỹ thuật buông bỏ. Có nghĩa là buông bỏ và từ bỏ mọi thứ ngay khi chúng vừa sinh khởi. Nó xảy ra trong 1/10.000 giây—nó đến, đạt đỉnh điểm, rồi sau đó biến mất. Vì vậy, mọi cảm thọ, mọi suy nghĩ, mọi ham muốn, bạn đều buông bỏ ngay khi chúng đạt đỉnh điểm. Liên tục, không ngừng nghỉ.

Như đã nói bên trên, tôi nhớ mình đã buông bỏ một chấp trước nghiêm trọng trong 11 ngày, ngồi và không làm gì khác ngoài việc buông bỏ chấp trước này. Mọi suy nghĩ, mọi cảm thọ, mọi ký ức, mọi thứ về nó—ngay khi nó xuất hiện, đều được buông bỏ. Đau đớn mà chúng ta cảm thấy khi mất đi một thành viên trong gia đình không chỉ đơn thuần là mất đi người đó trong hiện tại. Đó là sự tích tụ năng lượng của tất cả những cái chết từ tất cả các kiếp sống. Quá trình buông bỏ đặc biệt này diễn ra không ngừng nghỉ trong 11 ngày, cả sáng lẫn tối. Cuối cùng nó cũng dừng lại. Ra đi mãi mãi. Không bao giờ phải chịu đựng điều đó nữa.

Vì vậy, công việc tâm linh nghiêm túc là lúc  nào cũng sẵn sàng buông bỏ mọi thứ khi chúng vừa sinh khởi. Đó là sẵn sàng từ bỏ mong muốn kiểm soát mọi thứ khi chúng xuất hiện, sẵn sàng từ bỏ mong muốn thay đổi nó, và muốn mọi thứ diễn ra theo ý mình. Thường xuyên xuất hiện vọng tưởng về bản chất của Thực tại, cũng cần buông bỏ. Có cái tốt và cái xấu, cái đáng mong muốn và cái không đáng mong muốn; tất cả chỉ diễn ra trong tâm trí. Trong Thực tại, mặt trời chiếu sáng rồi mây kéo tới; mưa rơi và cỏ mọc lên rồi lụi tàn; thị trường chứng khoán lên xuống; thời đại đến rồi đi; con người sinh ra rồi chết. Và, vì vậy, có lên có xuống. Nếu bạn đang ở một điểm nào đó trong chu kỳ này, thì khóc lóc cũng vô ích vì chu kỳ sẽ tự kết thúc. Bằng cách phó thác cho bất cứ chuyện gì đang diễn ra, cuối cùng nó sẽ biến mất. Bạn làm cho nó biến mất bằng cách chọn hòa làm một với nó và từ chối mong muốn thay đổi nó khi nó xuất hiện. Làm như thế liên tục, không ngừng nghỉ, dù chuyện gì xảy ra thì cũng thế.

Có nghĩa là bạn không thể tạo ra ngoại lệ ở đây, hay ở đó. Có nghĩa là liên tục, với mọi người và mọi thứ. Một hoặc hai thứ bạn đang che giấu đằng sau có lẽ đại diện cho cả một chồng năng lượng tiêu cực. Đó là lý do vì sao bạn cứ bám vào chúng. Không chỉ là người khó chịu mà bạn ghét; đối với bạn, họ đại diện cho cả một chồng năng lượng tiêu cực. Bạn không thể bỏ qua mẹ chồng mình!

Cuối cùng, mọi thứ cản trở Hiện diện đều được buông bỏ. Hiện diện quá rõ ràng, quá kinh ngạc, quá áp đảo, đến nỗi không còn nghi ngờ gì nữa. Nó sâu sắc, toàn diện, bao trùm, hoàn toàn áp đảo, hoàn toàn chuyển hoá và hoàn toàn không thể nhầm lẫn. Khi mọi thứ cản trở được buông bỏ, Nó sẽ có đó, tỏa sáng rực rỡ.

Thay vì xem đây là chuyện gì đó sẽ xảy ra trong tương lai, hãy đón nhận nó ngay lúc này. Chứng ngộ không phải là điều gì đó xảy ra trong tương lai, sau 50 năm ngồi khoanh chân và niệm “OM”. Nó ở ngay đây, trong khoảnh khắc này. Lý do bạn không trải nghiệm được trạng thái bình an tuyệt đối và vô tận này là vì bạn đang chống lại nó. Bạn đang chống lại nó vì bạn đang tìm cách kiểm soát khoảnh khắc hiện tại. Nếu bạn buông bỏ việc tìm cách kiểm soát trải nghiệm của mình trong khoảnh khắc này, và nếu bạn liên tục buông bỏ nó như một nốt nhạc, thì bạn đang sống trên đỉnh cao của sự vĩnh hằng. Trải nghiệm xuất hiện như một nốt nhạc. Ngay khi bạn nghe thấy một nốt nhạc, nó đã biến mất. Ngay khi bạn nghe thấy nó, nó đã tan biến. Vì vậy, mỗi khoảnh khắc đều tan biến khi nó xuất hiện. Buông bỏ việc dự đoán khoảnh khắc tiếp theo, tìm cách kiểm soát nó, cố gắng níu giữ khoảnh khắc vừa trôi qua. Buông bỏ việc bám víu vào những gì vừa xảy ra. Buông bỏ việc tìm cách kiểm soát những gì bạn nghĩ sắp xảy ra. Rồi bạn sống trong một không gian vô tận không có thời gian và không có sự kiện. Có một sự an bình vô tận không thể diễn tả. Và bạn đang ở nhà.



[i] Counter-transference - Phản chuyển di - Một hiện tượng trong tâm lý trị liệu, xảy ra khi nhà trị liệu vô thức phản ứng lại với bệnh nhân dựa trên những cảm xúc, ký ức hoặc xung đột nội tâm chưa được giải quyết của chính mình. Trong lăng kính Tâm thức, đây có thể hiểu là những phản ứng không tự nguyện (involuntary reactivity) từ Tiềm thức (Subconscious Mind) của người thầy thuốc. Khi nhà trị liệu thực hành buông bỏ (letting go), họ không còn bị cuốn vào dòng năng lượng này, giúp quá trình trị liệu trở nên khách quan và mang sức mạnh chữa lành đích thực.

[ii] Tác giả sử dụng con số 97% như một nhận định về lịch sử chiến tranh của nhân loại. Đây không phải là con số được giới sử học thống nhất; trong các tài liệu khác và cả trong một số phát biểu khác, các tỷ lệ khác nhau cũng được nêu. Vì vậy, nên hiểu đây là một cách nhấn mạnh rằng chiến tranh đã hiện diện trong phần lớn lịch sử được ghi chép, hơn là một thống kê chính xác tuyệt đối.