ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
AN BÌNH
Ở tầng an bình, sẽ không còn xung đột nào nữa. Hoàn toàn không còn tiêu cực và yêu thương bao trùm được trải nghiệm như thanh thản, yên bình, phi thời gian, trọn vẹn, viên mãn, tĩnh lặng và mãn nguyện. Tĩnh lặng và ánh sáng nội tâm, cảm thọ được sự hợp nhất, nhất thể và tự do hoàn toàn. An bình là không thể bị xáo trộn. Hành động trở thành phi nỗ lực, tự phát, hài hòa và tràn đầy yêu thương. Có sự dịch chuyển trong tri giác về vũ trụ và quan hệ của chúng ta với vũ trụ. Đại Ngã bên trong giữ thế thượng phong. Đã siêu việt được tự ngã cá nhân, với tất cả những cảm thọ, niềm tin, bản sắc và những quan tâm của nó. Đây là trạng thái cao nhất mà tất cả những người tìm kiếm đều hướng tới, dù họ là người theo tôn giáo, người theo chủ nghĩa nhân văn, hay hoàn toàn không có một đức tin và hệ tư tưởng cụ thể nào.
Ảnh hưởng sâu sắc của an bình
Tất cả chúng ta đều đã từng có những
khoảnh khắc an bình sâu sắc, thời gian và thế giới dường như đột nhiên dừng lại,
và chúng ta tiếp xúc với Vô Hạn. Trong những năm gần đây, có một số cuốn sách
viết về trải nghiệm cận tử. Trong những hoàn cảnh khác nhau, trải nghiệm như thế
đã xảy ra với những người đã chết và sau đó trở lại với thân thể. Đặc điểm
chung là, cuộc đời của họ đã được trải nghiệm này chuyển hoá, họ không bao giờ
quên được nó. Quan điểm của họ về thế giới, ý nghĩa của nó, và vai trò cá nhân
của họ trong thế giới đó đã thay đổi đáng kể.
Trong bộ phim Lost Horizon
(Chân trời đã mất), sau khi nhân vật chính trải nghiệm Shangri-La, và mặc dù
anh ta đã trở lại thế gian, nhưng quan điểm của anh ta về thế giới đã hoàn toàn
khác. Anh ta khao khát, bằng mọi giá, được trở lại Shangri-La, miền đất mà trạng
thái an bình luôn luôn ngự trị. Một khi đã trải nghiệm trạng thái an bình, chúng
ta không còn là nạn nhân của thế gian nữa. Thế gian không còn tạo được ảnh hưởng
lên chúng ta nữa, vì chúng ta đã thoáng thấy sự thật về nó và về con người mà
chúng ta thực sự đang là.
Tiếp tục buông bỏ, chúng ta sẽ bắt
đầu trải nghiệm những trạng thái an bình này một cách thường xuyên hơn. Đôi
khi, những trải nghiệm có thể rất sâu và kéo dài hơn. Khi mây tan, mặt trời sẽ lộ
ra và ta nhận ra rằng an bình chính là sự thật vốn có. Buông bỏ là cơ chế mở ra
bản chất thực sự của tồn tại.
Khi một người ở trong trạng thái
an bình, họ có kết quả kiểm tra cơ bắp rất tốt, không có gì – dù là tâm trí, cảm
thọ hay thể chất - có thể làm cơ bắp của họ yếu đi. Không còn đồng nhất với
cơ thể và tự ngã, các rối loạn thể chất có thể được chữa lành hoặc không được
chữa lành. Chúng ta không còn quan tâm tới chúng nữa; lo lắng về thể chất không
còn bất kỳ ý nghĩa quan trọng nào.
Sức mạnh xuất hiện cùng với trải nghiệm an bình nội tâm. Trường năng lượng của an bình tuyệt đối là không thể lay chuyển. Người đã tìm được an bình nội tâm sẽ không còn bị đe dọa, kiểm soát, thao túng hay lập trình nữa. Trong trạng thái này, những đe dọa của thế gian không còn ảnh hưởng được tới chúng ta nữa, và, do đó, chúng ta làm chủ đời sống trên thế gian này. Trong trạng thái an bình, những đau khổ thông thường của con người là không thể xảy ra, vì chính nền tảng của khả năng bị tổn thương đã hoàn toàn được loại bỏ.
Trao truyền năng lượng thầm lặng
Chúng ta gọi người đã vươn tới được
trạng thái an bình như thế là “Chứng ngộ” và đang ở trong trạng thái của Ân phước.
Bên trong và vượt ra ngoài trạng thái đó là nhiều trạng thái chứng ngộ cao cấp
và các tầng nhận thức được các nhà huyền môn, giác giả, các vị thánh và thánh
thần giáng thế mô tả.
Thực sự ở bên cạnh người đã chứng
ngộ mang lại cho chúng ta lợi ích thầm lặng, không thể diễn tả được bằng lời.
Theo truyền thống, đấy sẽ là đạo sư tâm linh cao cấp, thánh nhân hoặc giác giả.
Những người tìm kiếm đi từ những nơi rất xa tới để được hiện diện trực tiếp trong
trường năng lượng này. Người sùng đạo hoặc người tìm kiếm nhận được năng lượng
tần số cao từ hào quang của đạo sư thông qua quá trình trao truyền năng lượng
thầm lặng, được mô tả là “Truyền năng lượng của không tâm trí”, “Ân phước của Aura”,
hoặc “Phước lành của đạo sư”. Quá trình trao truyền tự diễn ra và không mang
tính cá nhân. Trạng thái an bình vô hạn phát ra từ trường năng lượng của đạo sư
hay vị thánh là vô điều kiện. Khi Đức Phật đưa cho Đại Đệ Tử một bông hoa, đó
là biểu tượng của trao truyền năng lượng. Nếu được ở bên cạnh một đạo sư vĩ đại
phát ra năng lượng này thì chúng ta sẽ không bao giờ còn như trước nữa. Lợi ích
lớn nhất có thể xảy ra với chúng ta là được ở bên cạnh một đạo sư vĩ đại, vì
chúng ta tiếp nhận rung động bằng cách tự mình hiện diện trong trạng thái an bình
và hoàn toàn phó thác. Trao truyền thầm lặng trạng thái chứng ngộ là hiện tượng
phi ngôn ngữ, mang theo năng lượng, không phụ thuộc vào logic hay ngôn ngữ.
Rung động bên trong hào quang của đạo sư cao cấp hoạt động như sóng tải, tạo điều
kiện thuận lợi để chúng ta hiểu những lời đang được nói ra. Nhưng chính sóng
năng lượng mới là yếu tố xúc tác, chứ không phải lời nói. Bằng trao truyền thầm
lặng, năng lượng từ đạo sư cao cấp hay vị thánh được tích hợp vào hào quang, chức
năng não bộ và toàn bộ con người chúng ta.
Chính vì năng lượng an bình này được truyền ra thế giới bên ngoài cho nên nhân loại vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Nếu không có năng lượng này làm đối trọng thì nhân loại đã tự hủy diệt từ lâu. Đó là lý do vì sao sự tiến hóa nội tâm của chúng ta phụng sự toàn thể nhân loại. Bằng cách vươn tới những trạng thái cao hơn của yêu thương và an bình bên trong chính mình, chúng ta trở thành người cứu rỗi trên thế giới này.
Phó thác cho thực tại tối thượng
Dấu hiệu đặc trưng của tầng này
là vô cầu. Không cần mong muốn bất cứ điều gì, vì mọi thứ hiển lộ trong
cuộc đời của chúng ta theo lối tự phát và tự động, không cần ý chí hay nỗ lực
có ý thức nữa. Ở tầng này, những suy nghĩ được lưu giữ trong tâm trí có rất nhiều
sức mạnh và có xu hướng hiển lộ ngay lập tức. Hiện tượng đồng bộ diễn ra liên tục.
Cơ chế nhân quả và sự vận hành bên trong của vũ trụ được mặc khải một cách rõ
ràng, đấy là khi chúng ta đang chứng kiến nền tảng của chính Thực tại.
Những trạng thái nhận thức rất
cao này xảy ra một cách tự phát và bất ngờ, và có xu hướng tái diễn và ngày
càng dài ra. Một khi đã trải nghiệm trạng thài này, ý định của chúng ta tự động
làm cho trạng thái an bình trở nên vĩnh viễn.
Cách mà trạng thái này xuất hiện
cũng như bản chất của nó được thể hiện rõ qua câu chuyện dưới đây - ghi lại những
diễn biến sau ba năm rưỡi kiên trì thực hành phó thác. Đó là một ngày mùa đông
lạnh giá. Phó thác diễn ra liên tục trong mười một ngày liền, ở tầng tâm thức mà
trước đây chưa từng vươn tới, ngay cả trong quá trình phân tâm học. Nó liên
quan tới nền tảng sinh tồn của bản ngã và sự đồng nhất với nó như là cá nhân.
Nó liên quan đến cách chúng ta trải nghiệm sự tồn tại của chính mình và khát vọng
trải nghiệm sự hiện hữu của chính mình.
Ngày qua ngày, quá trình dường
như là bất tận. Nghi ngờ nổi lên: “Đây có phải là nỗ lực để làm một việc bất
khà thi?” Rõ ràng là mục đích của chính nghi ngờ là cơ chế phòng vệ; nó đã được
loại bỏ, và phó thác tiếp tục ở tầng cực sâu.
Rồi, khi bước vào một nhà hàng trong
buổi chiều Chủ nhật lạnh lẽo và mưa phùn, ngồi một mình xuống bàn, thế rồi thế
giới đột nhiên biến đổi một cách kỳ diệu. Xuất hiện cảm giác tĩnh lặng và bình
yên sâu sắc. Nó vĩ đại hơn bất cứ điều gì có thể tưởng tượng được. Trải nghiệm
đó vượt ra ngoài thời gian. Trên thực tế, thời gian không có ý nghĩa gì hết,
cũng như không gian không tồn tại theo cách mà chúng ta thường trải nghiệm. Mọi
thứ đều được kết nối với mọi thứ khác. Chỉ có một đời sống duy nhất tự thể hiện
qua một Đại Ngã duy nhất trong tất cả các sinh vật. Không còn đồng nhất với
thân thể và không còn quan tâm đến nó nữa. Nó không thú vị hơn bất kỳ thân thể
nào khác trong căn phòng đó nữa. Tất cả các cảm xúc và sự kiện đều liên kết với
nhau, và tất cả các hiện tượng xảy ra, vì mỗi vật tự hiển lộ bản chất bên trong
của chính nó theo lối tự phát, như thể vận động và phát triển là mở ra một cách
tự phát của tiềm năng. Tĩnh lặng không lay chuyển ấy có đặc điểm là vững như bàn
thách. Rõ ràng là Đại Ngã thực sự là vô hình—không có khởi đầu, không có kết
thúc—và chỉ có sự đồng nhất tạm thời với thân thể và câu chuyện đi kèm với sự đồng
nhất như là cá thể.
Thật kỳ lạ khi trước đây người ta
lại có thể nghĩ rằng mình là một thân thể cô lập tách biệt với những người
khác, với một khởi đầu hữu hạn và một kết thúc hữu hạn. Suy nghĩ đó dường như
là phi lý. Không còn cảm thọ về tự ngã tách biệt nữa, đại từ “tôi” biến mất và
trở thành vô nghĩa. Thay vào đó, chỉ còn là sự nhận biết rằng mình chính là vạn
vật. Nó vẫn luôn luôn như thế và sẽ mãi mãi như thế. Bản thể thực thụ nằm ngoài
thời gian. Khoảng thời gian mà thân xác này hiện diện trên mặt đất chỉ tựa như
một chớp mắt, khi mà sự thật về bản sắc phi thời gian bị lãng quên, tự ngã nhỏ bé
làm cho nó khuất lấp đi. Rồi cách thức mà nó xảy ra đã tự hiển lộ. Đã từng mong
muốn được trải nghiệm tồn tại tách biệt, và chính mong muốn này đã tự biểu hiện
thành một cá nhân với bản sắc riêng cùng với cơ thế vật lý đi kèm.
Sự kết nối nội tại của vạn vật hiện
rõ mồn một. Đó là vũ trụ toàn ảnh như Đức Phật và vật lý lý thuyết hiện đại mô
tả, cả hai đều đồng thuận về bản chất nội tại của vũ trụ. Vì mọi thứ đều hoàn hảo,
nên không còn gì để ước ao, không còn ham muốn, không cần sáng tạo, và chẳng phải
trở thành bất cứ thứ gì. Chỉ còn Cái Đó, chính là tinh túy của Bản Thể mà từ đó
tồn tại phát khởi. Bản Thể ấy là Cội nguồn của tồn tại, nhưng kỳ lạ thay, lại
không phải là Nguyên nhân của nó.
Có một sự thân thuộc sâu sắc
trong trạng thái nhận biết này. Như thể ta đã luôn biết về nó từ bấy lâu nay,
như thể cuối cùng ta cũng đã được về nhà. Không còn cảm xúc hay cảm thọ nào nữa.
Hoàn toàn không nhận thức về các cảm giác. Dù chúng dường như vẫn tiếp diễn,
chúng không còn mang tính cá nhân hay là điều đáng bận tâm nữa.
Để làm thí nghiệm, một ý nghĩ được
giữ trong tích tắc để xem điều gì sẽ xảy ra. Gần như ngay lập tức, có một hiệu ứng
trong thế giới vật chất. Ví dụ, ý nghĩ về bơ hoặc cà phê khiến người phục vụ mang
đến ngay lập tức, mà không cần nói một lời nào. Dường như không cần nói. Giao
tiếp diễn ra ở tầng im lặng.
Tối hôm đó, cơ thể tự lái xe đến
cuộc họp, mà không ai nhận thấy bất cứ điều gì khác thường. Mọi người dường như
đều tràn đầy sức sống. Sự sống động ấy tỏa rạng từ chính Bản thể của họ; và Đại
Ngã—vốn là một và như nhau ở tất cả mọi người—tỏa sáng qua ánh mắt của họ. Cơ
thể nói chuyện với những người khác, tiếp tục một cách tự phát những cuộc trò
chuyện bình thường và cư xử như bình thường. Lúc đó, cơ thể dường như tương tự
như một món đồ chơi lên dây cót theo lối nghiệp báo được vận hành bởi tất cả
các mô thức và chương trình quen thuộc của nó, không cần để ý tới, dù chỉ một
chút thôi. Nó dường như biết phải làm gì và làm điều đó rất hiệu quả và dễ
dàng. Tất cả các cuộc trò chuyện và tương tác chỉ được chứng kiến như những hiện
tượng, chứ không bị dẫn động. Việc từng tin rằng có một tự ngã nhỏ bé là tác giả
của mọi hành động của thân thể này, giờ đây dường như chỉ là ảo tưởng hão huyền
kỳ quặc. Trong thực tại, thân thể vốn chịu tác động của toàn vũ trụ, và chưa từng
bao giờ có “người làm” nào đứng sau những hành động ấy. Các hiện tượng chỉ là
những rung động của tâm trí, vốn không có tồn tại hay thực tại riêng biệt nào.
Chỉ có Toàn thể. Chỉ có Một thể là thực sự tồn tại.
Chiều hôm sau, một ý nghĩ xuất hiện.
Giờ đây, con đường dẫn đến Thực tại đã được mặc khải, có thể quay trở lại tâm
thức về việc là một cá nhân, điều mà trước đây đã được chấp nhận là có thật. Hệt
như không khí trong phòng không cảm nhận được nội dung của căn phòng, không còn
một “tôi” nào trải nghiệm “sự tồn tại của chính mình” nữa. Trong không gian đó,
không có “tôi” nào để trải nghiệm “tôi là”. Trở lại tâm thức cá nhân có nghĩa
là phải đưa ra lựa chọn. Thực ra, lựa chọn tự nó được đưa ra vì không có “tôi”
nào để đưa ra quyết định. Ham muốn trải nghiệm tự ngã cá nhân tự nó được tiếp
thêm năng lượng. Lựa chọn buông bỏ vẫn còn, nhưng ký ức về những điều chưa hoàn
thành trên thế gian lại quay trở lại. Khi cảm giác về “tôi” trở lại, các lựa chọn
được chứng kiến, chứ không phải được quyết định một cách chủ động. Quá trình trở
lại đang diễn ra. Nó có thể được cho phép hoặc có thể được buông bỏ. Nó đã được
cho phép, và vì vậy quá trình trở về tiếp tục. Khi bình minh hôm sau ló dạng, cuộc
trở về đã hoàn tất, nhưng giờ đây có cảm giác khác về bản sắc cá nhân. Sự thật
về Đại Ngã đã được mặc khải. Trách nhiệm vì đã lựa chọn trải nghiệm cuộc đời một
lần nữa với tư cách là một cá nhân đã được chấp nhận, nhưng không phải do ảnh
hưởng của niềm tin vào tồn tại cá nhân. Trên thực tế, bằng lựa chọn có ý thức,
đã nhận trách nhiệm hoàn toàn cho việc đó. Về mặt trải nghiệm, tất cả điều này
đã xảy ra một cách tự động.
Trước đây, những trạng thái tâm
thức vừa nói được coi là chỉ thuộc về lĩnh vực của nhà huyền môn. Tuy nhiên, hiện
nay, việc nghiên cứu những trạng thái này, và thông tin thu được, được coi là mũi
nhọn trong khoa học, đặc biệt là nhánh vật lý liên quan đến cơ học lượng tử và
các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao. Các công trình nghiên cứu về những hạt này
cho thấy chúng không phải là những vật thể theo nghĩa thông thường mà thực chất
là những sự kiện của tần số năng lượng. Khoa học hiện nay đưa ra giả thuyết về
tần số siêu việt, vượt ra ngoài không gian và thời gian.
Nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều
phòng thí nghiệm đã chứng minh rằng não bộ tri giác bằng những phân tích toán học
phức tạp về các mô thức tần số. Những phát hiện này dẫn đến cái gọi là hệ hình
toàn ảnh, cho rằng mọi thứ trong vũ trụ, trong đó có tâm trí con người, đều được
kết nối với mọi thứ khác. Trong toàn ảnh, mỗi phần đều chứa đựng toàn thể. Do
đó, mỗi tâm trí cá nhân đều có khả năng phản ánh toàn bộ vũ trụ. Quan hệ giữa tâm
thức và khoa học tạo ra lĩnh vực hoàn chỉnh ngày càng được nhiều người quan tâm
hơn, được thể hiện qua việc xuất bản những cuốn sách như Holographic
Paradigm (Hệ hình toàn ảnh), Wholeness and the Implicate Order (Cái
toàn thể và trật tự ẩn”, The Tao of Physics (Đạo của vật lý), The
Dancing Wu-Li Masters (Các bậc thầy Wu-Li nhảy múa), Mindful Universe
(Vũ trụ chánh niệm), Psychoenergetic Science (Khoa học năng lượng tâm lý)
và các bài báo với tiêu đề như Field Consciousness and the New Perspective on
Reality (Trường tâm thức và cách nhìn nhận mới về Thực tại), The Enfolding - Unfolding
Universe (Vũ trụ Thu vào - Mở ra), The Holographic Model (Mô hình toàn ảnh), Physics
and Mysticism (Vật lý và chủ nghĩa thần bí) và The Medium, the Mystic, and the
Physicist (Nhà Ngoại cảm, Nhà Huyền môn và Nhà Vật lý học).
Dẫn đầu trong số các nhà nghiên cứu
này là nhà thần kinh học Karl Pribram ở Đại học Stanford và nhà vật lý học đã quá
cố, David Bohm, ở Đại học London, với các lý thuyết có thể được tóm tắt như
sau: Não bộ của chúng ta kiến tạo nên thực tại hữu hình bằng các phép tính toán
học thông qua việc giải mã các tần số đến từ một chiều kích khác—một cõi giới của
thực tại nguyên sơ, có cấu trúc và đầy ý nghĩa, vượt ra ngoài thời gian và
không gian. Do đó, não bộ chính là một cấu trúc toàn ảnh đang giải mã vũ trụ
toàn ảnh.
Thật thú vị khi thấy các lý thuyết
của vật lý lý thuyết cao cấp, vốn là sản phẩm của cái gọi là hoạt động não
trái, giờ đây lại đòi hỏi một bối cảnh mới để có thể được thấu hiểu. Bối cảnh
đang tiến hóa từ chính những nhà nghiên cứu khoa học bằng bán cầu não trái này
lại trùng khớp với Thực tại được chứng kiến bởi các bậc chứng ngộ – những người
đại diện cho chức năng não phải. Như vậy, dù chúng ta chọn leo lên từ sườn núi
nào, cuối cùng tất cả đều gặp nhau tại một điểm duy nhất: đỉnh núi.
Một con đường thứ ba để lên núi
là thông qua cơ chế buông bỏ, và do đó, mỗi chúng ta đều có cơ hội tự mình kiểm
chứng bản chất tối thượng của Thực tại, vốn là một và như nhau, như được tiết lộ
cho nhà huyền môn hay nhà vật lý học. Chúng ta có thể hình dung rằng với mỗi lần
buông bỏ, chúng ta lại tiến thêm một bước lên sườn núi. Một số người sẽ leo lên
cho đến khi tầm nhìn trở nên tốt hơn và chọn dừng lại ở đó. Những người khác sẽ
tiếp tục leo lên cao hơn nữa. Và rồi, sẽ có những người không hài lòng cho đến
khi đạt đến Đỉnh cao nhất và tự mình kiểm chứng nó, mặc dù, tại thời điểm đó,
không còn cá nhân nào để kiểm chứng bất cứ điều gì, vì nó đã được buông bỏ hoàn
toàn.