June 30, 2022

[Chủ nghĩa tự do cá nhân - lược khảo] Chương 1 - Chủ nghĩa tự do cá nhân đang đến gần (Phần 1)

 


Năm 1995, các nhà thăm dò dư luận của Gallup [một công ty thăm dò dư luận uy tín hàng đầu trên thế giới – ND] phát hiện ra rằng 39% người Mỹ nói là “chính phủ liên bang đã quá lớn và nắm giữ quá nhiều quyền lực, đến mức trở thành mối đe dọa trực tiếp đối với các quyền và sự tự do của người công dân bình thường”. Những nhà thăm dò dư luận này không tin và đã làm một cuộc điều tra nữa, họ bỏ từ “trực tiếp” đi. Lần này, số người đồng ý là 52%.   

Sau đó ít lâu, tờ USA Today đăng trên trang nhất câu chuyện về những người Mỹ sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân số, nói rằng “nhiều người trong số 41 triệu người thuộc thế hệ X . . . đang quay sang với triết lý cũ mà dường như bất ngờ trở thành mới: chủ nghĩa tự do cá nhân” (libertarianism). Bảì tường trình trên trang nhất tờ Wall Street Journal cũng đồng ý như thế: “Nhiều đòi hỏi hiện nay [của cử tri] được đưa ra không còn theo nghĩa cộng hòa truyền thống hay thậm chí là bảo thủ nữa. Đấy là những đòi hỏi của chủ nghĩa tự do cá nhân… Do thái độ coi thường chính phủ ngày càng gia tăng, dường như ngày càng có nhiều người Mỹ – thường là họ không tự nhận thức được – hướng về chủ nghĩa tự do cá nhân”.

Năm 1995, viết trên tờ Washington Post về việc nhiều người Mỹ nói rằng họ sẽ chào đón đảng thứ ba, nếu đảng này được thành lập, David Broder nhận xét như sau:

Ngoài thái độ thất vọng với các chính khách của cả hai đảng ở Washington, đặc điểm nổi bật của những cử tri độc lập tiềm tàng này là tư tưởng tự do cá nhân. Họ bày tỏ thái độ hoài nghi với đảng Dân chủ vì đồng nhất Đảng này với chính phủ lớn. Họ có thái độ cảnh giác với đảng Cộng hòa vì ảnh hưởng của những người cánh hữu theo tôn giáo trong nội bộ Đảng này.

Từ đâu mà các phương tiện thông tin đại chúng lại bất ngờ quan tâm tới chủ nghĩa tự do cá nhân như thế? Như tờ USA Today nhận xét, chủ nghĩa tự do cá nhân rất hấp dẫn giới trẻ, vì nó nghi ngờ quan điểm của số đông và phủ nhận tư tưởng cổ lỗ sĩ của những người sùng bái nhà nước. Cá nhân tôi, lúc còn học đại học, khi lần đầu tiên tôi phát hiện ra những tư tưởng của chủ nghĩa tự do cá nhân, tôi cũng nghĩ rằng rõ ràng là tuyệt đại đa số người theo chủ nghĩa tự do cá nhân là những người còn trẻ (mặc dù tôi cũng mù mờ nhận thấy, những cuốn sách viết về chủ nghĩa tự do cá nhân mà tôi đọc lúc đó là do những người có tuổi chấp bút). Không phải là những người trẻ tuổi thì ai có thể chia sẻ tầm nhìn kiên cường như thế về quyền tự do cá nhân? Khi tham dự sự kiện đầu tiên do những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân tổ chức bên ngoài khuôn viên đại học, tôi đã khá ngạc nhiên khi người đầu tiên tôi gặp đã gần bốn mươi, tuổi tác mà lúc đó tôi cảm thấy là đã khá già. Sau đó là một người nữa, một phụ nữ chưa đến ba mươi tuổi, đúng kiểu người mà trước đó tôi nghĩ là mình sẽ gặp ở đây. Nhưng câu hỏi đầu tiên của chị lại là: “Anh có thấy bố mẹ tôi không?” Chẳng bao lâu sau thì tôi biết rằng cha mẹ chị đều đã khoảng sáu mươi tuổi, là những nhà hoạt động theo chủ nghĩa tự do cá nhân hàng đầu ở bang này và thế là tôi vĩnh viễn chia tay với quan niệm sai lầm của mình về việc người như thế nào thì mới trở thành người theo chủ nghĩa tự do cá nhân. Tôi phát hiện ra rằng cha mẹ của chị phụ nữ trẻ kia và hàng triệu người Mỹ hiện đang chia sẻ triết lý tự do cá nhân là những người bám chắc vào truyền thống lâu đời của nước Mỹ về quyền tự do cá nhân và chống lại nhà nước mang tính cưỡng bức.

Chủ nghĩa tự do cá nhân là quan điểm cho rằng mỗi người đều có quyền sống theo cách mà mình thích, miễn là người đó tôn trọng quyền của những người khác. Những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân bảo vệ quyền sống, quyền tự do và tài sản của mỗi người – đấy là những quyền mà người ta được hưởng một cách tự nhiên, trước cả khi nhà nước được thành lập.

Theo quan điểm của chủ nghĩa tự do cá nhân, tất cả các mối quan hệ giữa người với người đều phải là tự nguyện, những hành động duy nhất mà luật pháp phải cấm là những hành động bạo lực chống lại những người không sử dụng bạo lực, ví dụ, giết người, hiếp dâm, cướp, trộm, bắt cóc và lừa bịp.

Tuyệt đại đa số người dân tin vào và sống theo quy tắc đạo đức này. Nhưng những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân cho rằng quy tắc này phải được áp dụng một cách nhất quán – và đặc biệt là phải áp dụng cho những hành vi của cả chính phủ lẫn hành vi của cá nhân. Các chính phủ tồn tại là để bảo vệ các quyền, bảo vệ chúng ta khỏi những người có thể sử dụng bạo lực chống lại chúng ta. Khi chính phủ sử dụng bạo lực chống lại những người không vi phạm quyền của những người khác thì chính phủ trở thành kẻ vi phạm các quyền. Vì thế mà những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân lên án những hành động của chính phủ, như kiểm duyệt, bắt đi nghĩa vụ quân sự, kiểm soát giá cả, tịch thu tài sản, cũng như can thiệp vào đời sống cá nhân và hoạt động kinh tế của chúng ta.

Trình bày một cách thẳng thừng như thế, quan điểm của chủ nghĩa tự do cá nhân có thể bị coi là phi hiện thực, giống như học thuyết dành cho thế giới của các thiên thần, chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ có. Có chắc là trong cái thế giới hỗn độn và thường rất khó chịu này chính phủ phải gánh vác rất nhiều công việc hay không? Kỳ lạ là câu trả lời lại là: Không. Trên thực tế, thế giới càng hỗn độn và càng hiện đại thì chủ nghĩa tự do cá nhân càng hoạt động hiệu quả hơn – đấy là nói so với chế độ quân chủ, độc tài, thậm chí là so với cả nhà nước phúc lợi của Mỹ sau Thế chiến II. Sự thức tỉnh về mặt chính trị ở Mỹ hiện nay là bằng chứng đầu tiên và cao nhất về việc chủ nghĩa tự do cá nhân không phải là kỷ vật của quá khứ. Đấy là một triết lý – đúng hơn, phải nói đấy là một kế hoạch mang tính thực tiễn cho tương lai. Trong nền chính trị Mỹ, đấy là đội quân tiên phong – không phải là hậu quân mà là tiền quân.

 Tư tưởng của chủ nghĩa tự do cá nhân hiện đã lan truyền rộng rãi, còn chính phủ Mỹ thì phình ra và lố bịch đến mức hai nhà văn khôi hài nhất ở Mỹ, cũng là những người theo trường phái tự do cá nhân. E J. O'Rourke tóm tắt triết lý chính trị của ông như sau: “Đưa tiền và quyền cho chính phủ cũng chẳng khác gì đưa chai whiskey và chìa khóa xe ô tô cho thằng con trai vị thành niên”. Dave Barry hiểu chính phủ cũng gần rõ ràng như Tom Paine: “Cách tốt nhất để tìm hiểu toàn bộ vấn đề này là nhìn xem chính phủ làm gì: lấy tiền của một số người, sau khi đút túi phần lớn số tiền đó, rồi cho một số người khác số còn lại”.

Chủ nghĩa tự do cá nhân là triết lý cũ, nhưng hệ thống quan điểm của nó về tự do trong khuôn khổ của luật pháp và tiến bộ kinh tế làm cho nó trở thành đặc biệt phù hợp với thế giới năng động mà chúng ta đang bước vào – dù có gọi là Thời Đại Thông Tin, Làn Sóng Thứ Ba, hay Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Ba thì cũng vậy mà thôi.

Sự hồi sinh của chủ nghĩa tự do cá nhân

Một số người có thể hỏi tại sao người dân ở một nước nói chung là tự do và thịnh vượng như nước Mỹ lại cần một triết lý mới về chính quyền. Chúng ta không hoạt động tốt trong hệ thống hiện thời hay sao? Đúng là chúng ta đang sống trong cái xã hội đã mang lại sự thịnh vượng chưa từng có cho nhiều người hơn bất kỳ xã hội nào khác trong quá khứ. Nhưng chúng ta cũng đang trực diện với nhiều vấn đề - thuế khóa cao, trường học kém hiệu quả, căng thẳng về mặt chủng tộc, suy thoái môi trường – mà cách tiếp cận hiện nay không thể nào giải quyết được. Chủ nghĩa tự do cá nhân có thể giải quyết được những vấn đề này, như tôi sẽ cố gắng chứng minh trong những trang sau. Còn bây giờ, xin được trình bày ba lý do vì sao chủ nghĩa tự do cá nhân lại là phương pháp tiếp cận thích hợp đối với nước Mỹ trước thềm thiên niên kỷ mới.

Thứ nhất, chúng ta chưa đến gần được mức độ thịnh vượng mà đáng lẽ ra chúng ta có thể đến. Nếu nền kinh tế của chúng ta phát triển với tốc độ như trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1973 thì tổng sản phẩm quốc nội của chúng ta đã lớn hơn hiện nay tới 40%. Nhưng chỉ so sánh như thế sẽ không thấy hết được bức tranh thực sự của những tác hại về mặt kinh tế mà chính phủ quá khổ gây ra cho chúng ta. Trong thế giới của thị trường toàn cầu và thay đổi công nghệ đang ngày càng nhanh hơn này, chúng ta không phát triển được với tốc độ như trong vòng bốn mươi năm qua – chúng ta phải phát triển nhanh hơn. Tin tưởng hơn nữa vào thị trường và hoạt động kinh doanh của cá nhân có nghĩa là sẽ có nhiều của cải hơn cho tất cả chúng ta, điều này lại càng đặc biệt quan trọng đối với những người nghèo nhất hiện nay.

 Thứ hai, như đã nói bên trên, 52% người Mỹ nói với người thăm dò dư luận xã hội, tỷ lệ đã khiến họ tỏ ra bị rối trí, rằng chính phủ của chúng ta đã nắm giữ quá nhiều quyền lực và ngày càng trở thành mối đe dọa lớn hơn đối với quyền tự do. Chính phủ thu quá nhiều thuế, quản lý quá nhiều và can thiệp quá nhiều. Các chính khách, từ Jesse Helms tới Jesse Jackson đều tìm cách áp đặt những tiêu chuẩn đạo đức của họ cho 250 triệu người Mỹ. Những sự kiện như là cuộc tấn công vào dòng tu Davidian (Branch Davidians), những vụ bắn giết Vicki Weaver và Donald Scott, vụ đánh đập Rodney King và những cố gắng ngày càng gia tăng của chính phủ nhằm chiếm đoạt tài sản tư nhân mà không cần tòa án gây ra cho chúng ta nỗi sợ hãi trước một chính phủ đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát và nhắc nhở chúng ta về nhu cầu tái thiết lập những hạn chế nghiêm ngặt đối với quyền lực.

Thứ ba, trong thế giới đang thay đổi rất nhanh, nơi mỗi người đều có khả năng tiếp cận chưa từng có tiền lệ với thông tin, các cơ quan quản lý hành chính quan liêu và những quy định mang tính cưỡng bức không thể bắt kịp nền kinh tế. Sự hiện diện của các thị trường vốn mang tính toán cầu có nghĩa là các nhà đấu tư không để cho các chính phủ quốc gia và hệ thống thuế khóa có tính cướp bóc của họ bắt làm con tin. Sự phát triển của công nghệ thông tin có nghĩa là ngày càng có nhiều người lao động có khả năng lẩn trốn những khoản thuế quá cao và những chính sách có tính can thiệp của chính phủ. Trong thế kỷ XXI, những quốc gia có thể thu hút những người có năng suất cao sẽ là những quốc gia thịnh vượng. Muốn mở cánh cửa dẫn vào tương lai vô giới hạn thì chính phủ phải bị giới hạn.

 Thế kỷ XX là thế kỷ của quyền lực nhà nước, từ Hitler và Stalin đến những nhà nước toàn trị đằng sau bức màn sắt, từ các chế độ độc tài trên khắp Phi châu cho đến những nhà nước phúc lợi quan liêu bao cấp ở Bắc Mỹ và Bắc Âu. Nhiều người cho rằng, cùng với thời gian, thế giới ngày càng phức tạp hơn, các chính phủ đương nhiên là sẽ phình ra và có nhiều quyền lực hơn. Nhưng, trên thực tế, trong nhiều lĩnh vực, thế kỷ XX là một bước lệch khỏi lịch sử 2.500 năm của thế giới phương Tây. Từ thời Hy Lạp cổ đại, lịch sử phương Tây chủ yếu là lịch sử của quyền tự do ngày càng rộng mở và vai trò ngày càng hạn chế của chính phủ mang tính cưỡng bức và độc đoán.

Hiện nay, vào giai đoạn cuối thế kỷ XX, có những dấu hiệu chứng tỏ rằng có thể chúng ta đang trở lại với những biện pháp nhằm hạn chế chính phủ và mở rộng tự do. Cùng với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, chẳng còn mấy người ủng hộ kế hoạch hóa tập trung nữa. Các nước thuộc Thế giới Thứ ba đang tiến hành tư nhân hóa các ngành công nghiệp quốc doanh và tự do hóa các thị trường. Sau khi đưa chủ nghĩa tư bản vào, các nước thuộc vành đai Thái Bình Dương đã chuyển từ nghèo đói thành những nước dẫn đầu thế giới về kinh tế chỉ trong vòng một thế hệ.

 Ở Mỹ, sự hồi sinh của những tư tưởng của chủ nghĩa tự do cá nhân, vốn là nền tảng của đất nước này, đang là mối đe dọa đối với bộ máy nhà nước quan liêu khổng lồ. Chúng ta đang chứng kiến sự sụp đổ của những kỳ vọng được nhiều người ấp ủ về nhà nước phúc lợi và hiếu chiến. Người Mỹ đã nhìn thấy sự thất bại của chính phủ lớn. Trong những năm 1960, họ đã thấy các chính phủ tiến hành những cuộc chiến tranh mà họ không thể nào thắng được, đã thấy các chính phủ theo dõi những người đối lập ở trong nước và nói dối về chuyện đó. Trong những năm 1970, họ đã thấy rằng chính phủ quản lý kinh tế dẫn đến nạn lạm phát, thất nghiệp và trì trệ. Trong những năm 1980, họ lại thấy rằng chi tiêu và sự can thiệp của chính phủ ngày càng gia tăng ngay cả khi các ứng cử viên tổng thống hứa hẹn là họ sẽ thay đổi tình hình. Còn bây giờ, trong những năm 1990, chúng ta đã sẵn sàng áp dụng những bài học đó nhằm biến thế kỷ XXI thành thế kỷ của những cá nhân tự do chứ không phải là thế kỷ của nhà nước.

Có hai lý do chính cho những thay đổi như thế. Thứ nhất, người dân trên khắp thế giới ngày càng nhận thức được sự bạo ngược và bất lực cố hữu đã ăn sâu bén rễ trong các kế hoạch của nhà nước. Thứ hai, sự phát triển của những phong trào chính trị bắt nguồn từ những ý tưởng, đặc biệt là từ những ý tưởng của chủ nghĩa tự do cá nhân. Như E. J. Dionne, Jr., viết trong cuốn Vì sao người Mỹ ghét chính trị (Why Americans Hate Politics): “Sự hồi sinh của chủ nghĩa tự do cá nhân là hiện tượng ít người biết, nhưng lại là hiện tượng nổi bật nhất trong mấy năm gần đây. Trong những năm 1970 và 1980, thái độ phản chiến, thái độ chống toàn trị, chống chính phủ và chống thuế đã liên kết lại nhằm làm sống lại xu hướng chính trị đã mơ màng ngủ suốt một thời gian dài”.

Tại sao sự hồi sinh của chủ nghĩa tự do cá nhân lại diễn ra trong giai đoạn hiện nay? Nguyên nhân chính là tất cả những ý tưởng thay thế cho chủ nghĩa tự do cá nhân – chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, nhà nước phúc lợi – đều đã được người ta đem ra áp dụng trong thế kỷ XX và tất cả đều thất bại, đều không thể thiết lập được hòa bình, thịnh vượng và tự do.

Chủ nghĩa phát xít, điển hình là nước Ý thời Mussolini và nước Đức thời Hitler, cáo chung trước tiên. Ngày nay bất cứ người văn minh nào dường như cũng đều tỏ ra ghê tởm với việc quản lý tập tung nền kinh tế và chủ nghĩa tập thể mang tính sắc tộc, cho nên có thể chúng ta đã quên mất rằng trước Thế chiến II nhiều trí thức phương Tây từng thán phục “những hình thức tổ chức kinh tế mới ở Đức và Ý”, như tờ tạp chí Nation viết vào năm 1934. Sự khiếp sợ trước chủ nghĩa xã hội quốc gia ở Đức đã tạo điều kiện cho việc hình thành không chỉ phong trào bảo vệ nhân quyền mà còn xuất hiện những cánh chim báo hiệu sự hồi sinh của chủ nghĩa tự do cá nhân, ví dụ như tác phẩm Chúa tể của máy móc (The God of the Machine) của Isabel Paterson và Đường về nô lệ (The Road to Serfdom) của Friedrich A. Hayek.

Một hệ thống toàn trị to lớn khác của thế kỷ XX là chủ nghĩa cộng sản, do Karl Marx (1818-1883) phác thảo và được đem ra áp dụng ở Liên Xô và các nước chư hầu của nước này. Chủ nghĩa cộng sản giữ được tính hấp dẫn đối với những người mộng mơ lâu hơn hẳn chủ nghĩa phát xít. Đến mãi những năm 1950, tức là trước khi có những vụ thanh trừng do Stalin thực hiện bị tố cáo, nhiều trí thức Mỹ vẫn coi chủ nghĩa cộng sản là nỗ lực cao qúy – mặc dù đôi khi có những biểu hiện thái quá – nhằm loại bỏ sự bất bình đẳng và “tha hoá” do chủ nghĩa tư bản tạo ra. Mãi đến những năm 1980, thực ra là cho đến tận khi Liên Xô sụp đổ, một số nhà kinh tế học Mỹ vẫn còn tiếp tục ca ngợi tốc độ phát triển kinh tế và hiệu quả của nền kinh tế của nước này.

Những người theo đường lối chủ nghĩa tự do cá nhân không hề ngạc nhiên khi chứng kiến chủ nghĩa cộng sản sụp đổ một cách bất ngờ vào những năm 1989-1991. Họ đã khẳng định trong suốt nhiều năm ròng rằng, chủ nghĩa cộng sản không chỉ thù địch với quyền tự do và phẩm giá của con người, mà còn rất kém hiệu quả; chủ nghĩa cộng sản sẽ ngày càng kém hiệu quả hơn, trong khi thế giới tư bản ngày càng tiến bộ hơn. Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với cuộc chiến ý thức hệ trên toàn cầu: trong các cuộc tranh luận mang tính ý thức hệ, chủ nghĩa xã hội phát triển đầy đủ đã không còn là một trong những mục tiêu phát triền của xã hội nữa. Giờ đây, rõ ràng là nhà nước kiểm soát toàn bộ là thảm họa bao trùm lên tất cả, nó làm cho nhiều người tự hỏi rằng, vì sao xã hội lại muốn áp dụng một ít chủ nghĩa xã hội trong khi chủ nghĩa xã hội “đầy đủ” đã dẫn đến những kết quả thảm khốc như thế.

Thế còn những nhà nước phúc lợi ở phương Tây thì sao? Những cuộc chiến đấu mang tính ý thức hệ còn lại có thể đang diễn ra trong phạm vi tương đối hẹp, nhưng chúng vẫn có ý nghĩa quan trọng. Chính phủ không cần kiểm soát thị trường ư? Nếu xây dựng được nhà nước trên cơ sở của chủ nghĩa tự do cá nhân đi nữa thì chả lẽ nhà nước phúc lợi lại không nhân đạo hơn à? Mặc dù Tây Âu và Mỹ chưa bao giờ tìm cách xây dựng chủ nghĩa xã hội “đầy đủ”, nhưng những lo lắng như thế đã dẫn đến thực tế là trong suốt thế kỷ XX, chính phủ ngày càng kiểm soát một cách chặt chẽ hơn các hoạt động kinh tế của người dân. Các chính phủ châu Âu quốc hữu hóa nhiều ngành công nghiệp và tạo ra nhiều công ty độc quyền hơn là Mỹ. Các hãng máy bay, các công ty điện thoại, mỏ than, các nhà máy luyện cán thép, các nhà máy sản xuất ô tô, các hãng truyền thanh và truyền hình ở Mỹ nói chung đều là những công ty tư nhân, nhưng ở Tây Âu lại là những doanh nghiệp nhà nước. So với Mỹ, các nước châu Âu đã đi trước trong việc thiết lập và đã có những chương trình tài trợ “trọn đời” toàn diện hơn.

Ở Mỹ, chỉ có một vài ngành công nghiệp bị quốc hữu hóa (hai công ty đường sắt là Conrail và Amtrak nằm trong số mấy công ty đó), nhưng những biện pháp quản lý và giới hạn các lựa chọn trong lĩnh vực kinh tế thì đã gia tăng trong suốt một trăm năm qua. Và, mặc dù chúng ta chưa có hệ thống “bảo hiểm xã hội” như ở châu Âu, nhưng chúng ta đã có hệ thống tái phân phối thu nhập, từ những chương trình Phụ nữ, Trẻ sơ sinh, Trẻ em (WIC – viết tắt những từ Women, Infants và Children), Head Start1, cho sinh viên nghèo vay, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế - một sự khởi đầu không đến nỗi tồi cho việc xây dựng nhà nước tài trợ “trọn đời”.

Nhưng hiện nay, trong thế giới đã phát triển, các nhà nước phúc lợi đang đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng. Thuế suất cao để có thể tài trợ cho những chương trình tái phân phối thu nhập đang làm biến dạng các nền kinh tế ở phương Tây. Thái độ dựa dẫm vào nhà nước đã làm mất giá trị của gia đình, tinh thần cần cù và tính tiết kiệm. Nhà nước phúc lợi ở cả Đức, Thụy Điển và Áo không thể nào thực hiện được lời hứa của mình.

Mười lăm năm nữa, tức là năm 2012 hệ thống Bảo hiểm Xã hội ở Mỹ sẽ bắt đầu thâm hụt – và sẽ hết sạch tiền vào năm 2029. Dự đoán chính thức nói rằng Bảo hiểm Y tế sẽ cạn sạch tiền vào năm 2001 và đến năm 2006 sẽ thâm hụt tới 443 tỷ USD. Các nhà kinh tế học tính ra rằng, người Mỹ sinh năm 1975 sẽ phải trả tới 82% thu nhập trong suốt cuộc đời cho những khoản thuế thì các chương trình tài trợ xã hội của chính phủ mới có thể tiếp tục hoạt động được. Đấy là lý do vì sao thanh niên bất mãn trước viễn cảnh là phải làm hầu như suốt cuộc đời chỉ để trả tiền cho những chương trình tái phân phối thu nhập mà đằng nào cuối cùng thì cũng phá sản. Cuộc thăm dò dư luận năm 1994 cho thấy 64% người Mỹ từ 18 đến 34 tuổi không tin rằng qũy Bảo hiểm Xã hội sẽ tồn tại cho đến lúc họ về hưu, nhiều người tin vào đĩa bay (46%) hơn là tin vào qũy Bảo hiểm Xã hội (28%). Chia tay nhà nước phúc lợi sẽ là vấn đề kinh tế và chính trị nan giải, nhưng ngày càng có nhiều người – cả ở Mỹ lẫn ở những nơi khác – nhận thức được rằng chính phủ to lớn kiểu phương Tây đang bước vào giai đoạn sụp đổ một cách từ từ, chẳng khác gì chủ nghĩa cộng sản.

Đầu những năm 1970, tốc độ phát triển kinh tế ở Mỹ và châu Âu đã giảm đi trông thấy. Nhiều cách giải thích khác nhau đã được đưa ra; theo tôi, lý giải thuyết phục nhất là trong suốt thập niên 1960, thuế khóa và những biện pháp quản lý của nhà nước đã gia tăng đáng kể. Từ năm 1957 đến năm 1967, số trang của tờ Federal Register, nơi công bố những văn bản mới của nhà nước đã tăng gấp đôi, còn từ năm 1970 đến năm 1975 thì tăng gấp ba lần. Anh quốc, đất nước có thuế suất cao hơn và cũng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội nhiều hơn Mỹ, còn khó khăn hơn. Trong thế kỷ XIX, đây là nước giàu nhất thế giới, nhưng đến năm 1970 thì sự trì trệ về kinh tế và sự bất mãn của dân chúng đã trở thành nổi tiếng khắp thế giới và được mệnh danh là “căn bệnh của nước Anh”.

Những vấn đề này đã đưa Margaret Thatcher lên chức vụ Thủ tướng Anh vào năm 1979 và Ronald Reagan lên làm Tổng thống Mỹ vào năm 1980. Thatcher và Reagan là những người khác hẳn với những lãnh tụ cũ trong đảng của họ. Thay vì quản lý nhà nước phúc lợi hiệu quả hơn một chút so với đảng Lao động (Anh – ND) và đảng Dân chủ (Mỹ - ND) thì họ lại hứa từ bỏ chủ nghĩa xã hội (ở Anh) và những khoản thuế suất cao (ở Mỹ). Hoàn toàn không thể gọi chương trình của họ là theo tinh thần của chủ nghĩa tự do cá nhân kiên định, nhưng việc họ được bầu đã chứng tỏ rằng cử tri đã chán ngấy gánh nặng kinh tế do chính phủ lớn tạo ra rồi.

Đáng tiếc là, cả Reagan lẫn Thatcher, mặc dù đã cầm quyền trong một thời gian dài, đều chẳng làm được gì nhiều trong việc làm chậm lại quá trình phình ra của nhà nước phúc lợi. Bà Thatcher đã tư hữu hóa một vài ngành công nghiệp quốc doanh, trong đó có hãng hàng không Anh (British Airways), công ty điện thoại, công ty nhà ở và hãng chế tạo ô tô Jaguar. Nhưng bà đã chẳng tiến được mấy trong cuộc chiến chống lại hệ thống tài trợ cho giai cấp trung lưu và tỷ lệ chi tiêu của chính phủ/GDP thì vẫn không giảm. Có thể nói rằng, trong lĩnh vực kinh tế, Reagan thậm chí còn làm được ít hơn. Ông đã giảm thuế thu nhập, nhưng sau đó lại tăng thuế tiền lương nhằm giữ cho bằng được Bảo hiểm Xã hội, tức là bảo vệ nền tảng của nhà nước phúc lợi.

Trong những năm 1980 đã có những bằng chứng chứng tỏ rằng nhà nước phú lợi sẽ phá sản trước khi công cuộc cải cách có thể bắt đầu. Nhưng thành công vang dội nhất lại không phải là nước Anh của bà Thatcher hay nước Mỹ của ông Reagan mà là New Zealand, nơi mà nhà nước phúc lợi có hơi hướng nghiệp đoàn và gia trưởng đã tiêu sạch tiền. Khôi hài là, chính chính phủ Công đảng của Thủ tướng David Lange và Bộ trưởng tài chính Roger Douglas lại là chính phủ đã xóa bỏ các loại thuế nhập khẩu vốn nhằm bảo hộ các doanh nghiệp trong nước, giảm thuế, cắt bớt những khoản trợ cấp cho giai cấp trung lưu và xem xét những ý tưởng như phát phiếu trợ cấp học phí cho trẻ em (voucher) rồi để phụ huynh tự chọn trường học cho con em mình. Theo Chỉ số tự do kinh tế toàn cầu, New Zealand đã nhảy từ 4,9/10 vào năm 1985 lên 9,1/10, tức là đứng thứ ba thế giới, vào năm 1995. Chile và Argentina, hai nhà nước phúc lợi đặc biệt hoang phí cũng rơi xuống đáy và đã tiến hành những cuộc cải cách lớn vào hồi những năm 1990. Tương tự như ở New Zealand, nguồn gốc các cuộc cải cách ở Argentina cũng làm người ta nhạc nhiên, vì Tổng thống Carlos Menem là đảng viên đảng Peron, từ những năm 1940 đến những năm 1970, Đảng này đã thực hiện chương trình nhà nước phúc lợi mị dân, đưa Argentina từ một trong những nước giàu nhất thế giới thành nước nghèo, chính phủ phải tuyên bố phá sản.

(còn nữa)

Chú thích:

(1) Chương trình Head Start là một chương trình của Bộ Y tế Mỹ, chuyên về giáo dục toàn diện, sức khỏe và dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, và các dịch vụ có sự tham gia của phụ huynh cho những trẻ em và gia đình có thu nhập thấp. Tất cả các chú thích đều của người dịch.

 

Nguồn: David Boaz (1997) Libertarianism: A Primer. New York: The Free Press.


Đã đăng trên http://www.thitruongtudo.vn/chi-tiet/chu-nghia-tu-do-ca-nhan-dang-den-gan.html

 

May 31, 2022

BÀN THÊM VỀ: “Con gái là người tình kiếp trước của bố”

 1.      Mặc cảm Oedipus

ĐOẠN NÀY LÀ TÌM TRÊN MẠNG: “Xuất phát từ bi kịch của Sophocles, Sigmund Freud (một bác sĩ về thần kinh và tâm lý người Áo, cha đẻ của ngành phân tâm học) dùng thuật ngữ “Mặc cảm Oedipus” dùng cho con trai và “Mặc cảm Electra” (Electra là tên một nữ nhân vật Hy Lạp giết mẹ để trả thù cho cha mình là Agamemnon đã bị chính mẹ mình ám sát) dùng cho con gái để đặt tên cho một đặc điểm tâm lý ở trẻ nhỏ từ 3 đến 7 tuổi: đứa trẻ thể hiện sự quý mến người sinh thành ra mình, thuộc giới tính khác mình nhưng lại đố kỵ và căm ghét bậc phụ huynh cùng giới tính với mình.


“Mặc cảm Oedipus”, theo mô tả của Sigmund Freud, bé trai khoảng 3 tuổi cứ khư khư đòi được mẹ ôm hôn và âu yếm nhiều hơn. Đối với bé gái, “Mặc cảm Electra” bắt đầu khi bé quyến rũ bố, cuộn tròn trong lòng bố và tìm cách lôi kéo sự chú ý của bố, trong khi mẹ lại biến thành vừa là đối thủ vừa là người mẫu của bé.

Để ra khỏi tình trạng này, một đứa trẻ độ tuổi 3 đến 7 có thể thôi cố chiếm chỗ của bố hay mẹ khác giới nó bằng cách kiềm chế cảm xúc và đam mê thành vô thức. Đây là điều Freud gọi là hóa giải diễn ra từ từ. Vào độ 5 hay 6 tuổi, các bé gái bắt đầu muốn làm tất cả mọi thứ như mẹ nó, còn các bé trai muốn làm tất cả như cha mình.

Mặc cảm Oedipus/Mặc cảm Electra là sự cự tuyệt vô thức và bình thường đối với bố hoặc mẹ cùng giới tính với trẻ, kết quả của việc dành tình yêu cho bố hoặc mẹ ở giới tính kia, diễn ra giữa độ tuổi 3 đến 7”. HẾT TRÍCH

Tất cả chúng ta đều biết rằng đối với hầu hết mọi người, mặc cảm này sẽ tự mất đi qua quá trình đồng hóa dần với bố hay mẹ cùng giới của trẻ. Chỉ có một số rất ít “nhập nội” bố/mẹ khác giới và có thể trở thành một kiểu đồng tính luyến ái. Nhưng tôi không thấy Freud hay Jung viết ở đâu rằng “Con gái là người tình kiếp trước của bố”, còn mong ước: “kiếp sau xin được làm người tình của bố” thì bị coi là bệnh hoạn: “Loạn luân trong tiềm thức đồi bại gấp ngàn lần trong đời thực!” thì tôi nghĩ cũng chỉ là nói quá lên một chút mà thôi. 

Các cụ nói: “dốt đặc hơn hay chữ lỏng”, có thể áp dụng cho trường hợp này?

 2.      Luân hồi trong Đạo Phật



Có người nói rằng đã nghe nhà sư giảng cái gì đó tương tự như “con gái là người tình kiếp trước của bố”. Xin được trả lời như sau:

Đạo Phật có thuyết luân hồi: sự tiếp diễn liên tục của những kiếp sống. Sự xoay chuyển liên tục này thường được biểu hiện bằng bánh xe và được gọi là bánh xe luân hồi. Chúng ta có thể hình dung bánh xe luân hồi như là một vòng tròn, mà sự sinh tử của con người luôn tiếp diễn trên vòng tròn đó không bao giờ dừng.  Vì thế chúng ta sẽ không biết chỗ nào là điểm khởi đầu, cũng như chỗ nào là điểm kết thúc. Và người ta thường nói tới Vòng Luân Hồi gồm: Cõi Trời, A-tu-la, Người, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục.

Như vậy là kiếp này chúng ta là người, thì kiếp sau hay nhiều kiếp sau nữa chúng ta cũng có thể lại là người, cho nên các nhà sư thường giảng rằng, đời này có thể là cha mẹ, mà đời trước hay đời sau có thể là con.. Nhưng ý tứ ở đây là người tu hành không được qúa chấp trước vào tình thân quyến đến mức sao nhãng việc tu hành. Đã là người xuống tóc đi tu thì đã là nửa thần rồi chứ không còn là người thế gian nữa, tên họ cũng thay đổi rồi. Ngày xưa, người xuất gia, nếu được mẹ tới thăm thường nói: “Bạch thí chủ, bần tăng là người xuất gia, đã là Phật tử rồi”. Còn tình thân quyến tức là còn “tôi” và “ của tôi” thì tình yêu, dù là tình yêu của mẹ dành cho con, tuy đã trong sáng hơn hẳn tình yêu nam nữ, nhưng cũng vẫn chưa phải là tình yêu vô điều kiện, chưa phải là từ bi. Chỉ khi đã dứt bỏ hết “tôi” và “của tôi” thì mới có thể xuất hiện tình yêu vô điều kiện. Cho nên lời giảng: “đời này có thể là cha mẹ, mà đời trước hay đời sau có thể là con…” phải được hiểu trong bối cảnh/ngữ cảnh đó, chứ không được tùy tiện “đoạn chương thủ nghĩa”, tùy tiện suy diễn  thành “Con gái là người tình kiếp trước của bố” hay “đẻ con gái là mất chồng”.

Không có nhà sư nào giảng loạn bậy như thế.

Các cụ nói: “dốt đặc hơn hay chữ lỏng”, có thể áp dụng cho trường hợp này?

3.      Quan điểm của Công giáo



Đến đây, có thể nói rằng, “Con gái là người tình kiếp trước của bố” là một mệnh đề nhảm nhí, không phải từ tâm phân học mà cũng chẳng phải từ Phật giáo, đã làm cho một số người phẫn nộ và coi là loạn luân, mặc dù mới là loạn luân trong tư tưởng. Nhưng có một số người lại cho rằng phê phán loạn luân thì có khác gì phê phán cha ông mình, thậm chí phê phán cả các Vua Hùng, nếu quả thật có những vị vua đó và có thể còn đi xa tới tận loài vượn người, nếu quả thật con người thoát thai từ vượn. Người viết cho rằng Lm Giuse Nguyễn Ngọc Bích, C.Ss.R ở nhà thờ Thái Hà cho chúng ta câu trả lời ngắn gọn và rất đầy đủ. Xin mời đọc: 

Hỏi: Thưa Cha! Xin Cha giúp con giải thích thắc mắc này của một số người ngoại đạo mà con không trả lời được. Trong khi đại đa số người có đạo hay không có đạo điều tin rằng loạn luân là một trong những tội trọng, thì lại vẫn có một số người cho rằng không có tội vì họ nói thủa xa xưa ông bà tổ tiên đã lấy nhau thì mới sinh con đẻ cái được. Con chân thành cảm ơn cha trước, kính xin cha cho con được dấu tên khi cha trả lời nhé.

Trả lời: Ông S. thân mến Vấn đề loạn luân là một vấn đề liên quán đến luật tự nhiên. Đó là luật đã ghi khắc trong tâm của con người. Như Đức Gíao Hoàng Lê ô XIII đã viết: “Luật tự nhiên không gì khác hơn là luật vĩnh cửu được khắc ghi nơi những bản thể có lý trí, đưa đẩy họ đến hành vi và cứu cánh thích hợp, và cứu cánh ấy chỉ là lý trí vĩnh cửu của Tạo Hóa và là đấng cai quản vũ trụ. Luật tự nhiên được viết và khắc ghi trong trái tim con người là chính lý do chỉ thị cho con người hành động tốt và cấm đoán phạm tội”, Luật tự nhiên mang tính phổ quát nghĩa là mọi người đều phục tùng nó. Vì vậy mà chuyện loạn luân đều bị cấm trong tất cả các bộ luật trên thế giới, bởi tất cả các tôn giáo, bởi các cộng đồng xã hội. Không ai có thể cho rằng mình không được hướng dẫn. Luật tự nhiên cũng mang tính bất biến, không thay đổi. Có thể ban đầu người ta chưa khám phá ra luật này nhưng dần mệnh lệnh được bộc lộ cho lương tâm con người và từ đó nó không thể bị bôi xóa. Vì thế, lúc nhận ra luật con người không thể chảy tội, tiếp tục vi phạm rồi tìm cách biện hộ. Luận cứ cho rằng nếu người đi trước đó đã có lúc phạm tội thì ta cũng có thể phạm là không thể chấp nhận được. Có những điều mà người trước làm sai thì người sau phải tránh. Thí dụ người xưa giết người để tế thần thì nay không thể làm như vậy được nữa. Nếu nói rằng trước đây để bảo toàn nòi giống đã có sự vi phạm thì nay không còn phải làm như vậy nữa. Vì thế loạn luân là một điều cấm của các luật tự nhiên mà mọi người đều phải tuân giữ.

Lm Giuse Nguyễn Ngọc Bích, C.Ss.R (HẾT TRÍCH)

KẾT LUẬN LẠI LẦN NỮA: “Con gái là người tình kiếp trước của bố” hoặc “Đẻ con gái là mất chồng” là những câu nói rất phản cảm, không nên nói ở chốn công cộng. Nếu quí bố đến mức như thế, tại sao không nói: “Cha ơi, nếu còn kiếp sau con xin lại được làm con của cha mẹ”? Có phải nhu mì và lọt tai hơn không?

TẠM CHẤM DỨT Ở ĐÂY!

 

 

 

April 17, 2022

Phát hiện sự thật và giả dối

 Trích tác phẩm Power vs. Force của David R. Hawkins, Thaihabooks ấn hành, Phạm Nguyên Trường dịch, 2022.


Kinesiology: danh từ. Cơ thể động học - Nghiên cứu các cơ và chuyển động của chúng, đặc biệt là để ứng dụng cho việc rèn luyện các cơ bắp. [Xuất phát từ tiếng Hy Lạp: Kinesis, vận động (kinein, động từ vận động) + -logy] .

Nửa sau thế kỉ XX, lần đầu tiên giới khoa học chú ý tới nghiên cứu về cơ thể động học là do công trình của Tiến sĩ George Goodheart, người đi tiên phong trong lĩnh vực mà ông gọi là cơ thể động học ứng dụng (applied kinesiology), sau khi phát hiện được rằng kích thích vật lý tốt lành - ví dụ, thực phẩm bổ sung có lợi - có thể làm cho một số cơ chỉ thị nào đó mạnh lên, trong khi các kích thích có hại có thể làm cho những cơ chỉ thị này đột ngột yếu đi . Hàm ý ở đây là, ở tầng rất sâu bên dưới ý thức dựa trên khái niệm, cơ thể “đã biết” và báo hiệu - thông qua quá trình kiểm tra các cơ - cái gì tốt và cái xấu đối với những cơ này. Ví dụ kinh điển (sẽ được trích dẫn trong phần sau) được nhiều người nhận ra là các cơ chỉ thị yếu đi khi thí nghiệm được tiến hành mà cạnh đó có đường hóa học, trong khi các cơ này lại mạnh lên khi thí nghiệm được tiến hành mà cạnh đó có thực phẩm bổ sung tự nhiên, lành mạnh.

Cuối những năm 1970, Tiến sĩ John Diamond đã chau truốt lĩnh vực này thành một môn học mới mà ông gọi là Cơ thể động học hành vi (behavioral kinesiology). Phát hiện đáng chú ý của Tiến sĩ Diamond là các cơ chỉ thị có thể mạnh lên hoặc yếu đi khi có các kích thích liên quan đến cảm xúc và trí tuệ – tích cực hoặc tiêu cực – tương tự như các kích thích vật lý . Một nụ cười có thể làm bạn mạnh lên – trong khi câu “Tôi ghét anh” lại khiến bạn yếu đi.

Trước khi tiếp tục, xin được giải thích chi tiết cách thức “kiểm tra”, nhất là khi độc giả cũng muốn tự mình thực hiện. Những nét chính của quy trình được Tiến sĩ Diamond áp dụng - tác phẩm Your Body Doesn’t Lie (tạm dịch: Cơ thể bạn không nói dối), xuất bản năm 1979 – được trình bày trong tác phẩm mang tính kinh điển: Muscles: Testing and Function (tạm dịch: Cơ: Kiểm tra và chức năng) của H. O. Kendall (Baltimore: Williams & Wilkins, 2nd ed., 1971).

Phải có hai người thì mới tiến hành kiểm tra được. Hãy chọn một người bạn hoặc người thân trong gia đình. Chúng ta sẽ gọi người đó là đối tượng.

1.         Để đối tượng đứng thẳng, tay phải buông thõng bên người, tay trái đưa ngang, song song với sàn nhà, cùi chỏ thẳng (có thể dùng tay kia, nếu muốn).

2.         Đứng trước mặt đối tượng và đặt tay trái của bạn lên vai phải của đối tượng để giữ chắc người đó. Rồi đặt tay phải của bạn lên đúng cổ tay trái đang duỗi ra của đối tượng.

3.         Nói với đối tượng rằng bạn sẽ cố gắng ấn tay trái của người đó xuống, còn người đó sẽ hết sức chống lại.

4.         Rồi ấn tay của người đó xuống thật nhanh, kiên quyết và đều lực. Ấn đủ mạnh nhằm kiểm tra lực đẩy và đàn hồi của cánh tay, nhưng không mạnh đến mức làm cho cơ bị mỏi. Vấn đề không phải là ai mạnh hơn mà là để xem cơ tay có thể “khóa chặt” với khớp vai nhằm chống lại lực đẩy hay không.

Giả sử cơ đó không có vấn đề gì về mặt vật lý và đối tượng có tâm trạng bình thường, thoải mái, không có kích thích từ bên ngoài (đấy là lý do vì sao người tiến hành kiểm tra không được cười hoặc có bất kì tương tác nào khác với đối tượng), thì cơ sẽ thử mạnh (test strong) – cánh tay sẽ nằm yên như cũ. Nếu tiến hành kiểm tra mà cạnh đó có các kích thích tiêu cực (ví dụ, đường hóa học), thì “mặc dù lần này bạn ấn không mạnh như lần trước, cơ vẫn sẽ không thể chống lại được lực ấn và cánh tay của đối tượng sẽ buông xuống” (thử yếu – test weak).

Đáng chú ý là, các đối tượng trong công trình nghiên cứu của Diamond có phản ứng giống nhau. Kết quả có thể dự đoán được, lặp đi lặp lại và giống nhau đối với tất cả các đối tượng. Xảy ra ngay cả khi kích thích và phản hồi không có mối liên hệ duy lý nào. Không hiểu vì lý do gì mà một số biểu tượng trừu tượng lại làm cho tất cả các đối tượng đều “thứ yếu” trong khi những biểu tượng khác thì ngược lại. Một số kết quả làm người ta lúng túng: một số tranh ảnh với nội dụng không hoàn toàn tích cực cũng không hoàn toàn tiêu cực có thể làm cho tất cả các đối tượng đều thử yếu, trong khi những hình ảnh “trung tính” khác lại làm cho tất cả các đối tượng đều thử mạnh. Và một số kết quả trở thành cơ sở cho phỏng đoán có giá trị: Trong khi gần như toàn bộ âm nhạc cổ điển và hầu hết nhạc Pop (trong đó có cả rock and roll “cổ điển”) đều làm cho tất cả các đối tượng đểu phản ứng mạnh, thì nhạc rock “hard” hay “metal” rock - phổ biến hồi cuối những năm 1970 – lại làm cho tất cả các đối tượng đều phản ứng yếu.

Diamond còn nhắc tới một hiện tượng nữa, mặc dù ông không phân tích sâu những hàm ý khác thường của nó. Các đối tượng đều có kết quả thử yếu khi nghe các đoạn băng ghi âm những lời dối trá mà mọi người đều biết  -), Edward Kennedy bao biện vụ tai nạn ở Chappaquiddick. Còn khi nghe những đoạn băng ghi âm các tuyên bố rõ ràng là chân thực, thì đều có kết quả thử mạnh . Đây là xuất phát điểm của công trình nghiên cứu của tác giả cuốn sách này – ông David R. Hawkins, một Tiến sĩ và nhà tâm thần học nổi tiếng. Năm 1975, Tiến sĩ Hawkins bắt đầu nghiên cứu về phản ứng cơ thể động học (kinesiologic response) đối với sự thật và giả dối.

Các lần kiểm tra được tiến hành sao cho các đối tượng không biết gì về cái (hay vấn đề) được được đem ra đánh gía. Trong các công trình nghiên cứu hoàn toàn khách quan – và trong các buổi trình diễn trước các khán giả – tất cả các đối tượng đều thử yếu trước các phong bì chứa đường hóa học và thử mạnh trước các phong bì chứa giả dược giống y như mấy phong bì kia. Phản ứng tương tự cũng xuất hiện trong những lần kiểm tra các giá trị mang tính trí tuệ. (Trang 10-13)

Thông tin tổng quát

Trường năng lượng của ý thức có vô số chiều kích. Một số tầng cụ thể tương quan với ý thức của con người được hiệu chỉnh từ 1 đến 1.000 (Xem Phụ lục B: Bản đồ ý thức). Những trường năng lượng này phản ánh và thống trị ý thức của con người.

Vạn vật trong vũ trụ đều phát ra một tần số cụ thể hoặc trường năng lượng cực nhỏ vĩnh viễn được lưu lại trong lĩnh vực ý thức. Do đó, mỗi người hoặc sinh vật đã từng sống và bất cứ điều gì liên quan đến họ, trong đó, bất kỳ sự kiện, suy nghĩ, hành động, cảm giác hoặc thái độ nào đều được vĩnh viễn ghi lại và có thể được truy xuất tại bất kỳ thời điểm nào trong hiện tại hoặc tương lai.

Kỹ thuật

Phản ứng kiểm tra cơ là phản ứng “có” hoặc “không có” (không) trước một tác nhân kích thích cụ thể nào đó. Kiểm tra bằng cách bảo đối tượng đưa thẳng cánh tay ra đằng trước, người kiểm tra dùng hai ngón tay ấn nhẹ xuống cổ tay của cánh tay mà đối tượng đang đưa ra. Thường thì tay kia của đối tượng cầm chất cần kiểm tra và đặt lên vùng bụng ở phía dưới xương sườn (solar plexus – đám rối dương). Người kiểm tra nói với đối tượng kiểm tra: “Chống lại” nếu chất được kiểm tra có lợi cho đối tượng, cánh tay sẽ mạnh mẽ, tức là khó ấn xuống. Nếu nó không có lợi hoặc nó có tác dụng ngược, cánh tay sẽ yếu đi, tức là dễ bị ấn xuống. Phản ứng diễn rất nhanh.

Điều quan trọng cần lưu ý là ý định, cũng như cả người kiểm tra và người được kiểm tra đều  phải có điểm hiệu chỉnh trên 200 thì phản ứng mới chính xác.

Kinh nghiệm từ các nhóm thảo luận trực tuyến cho thấy, nhiều nhà nghiên cứu thu được kết quả không chính xác. Nghiên cứu thêm cho thấy, ở điểm 200, vẫn có 30% khả năng bị lỗi. Tầng ý thức của nhóm kiểm tra càng cao thì kết quả càng chính xác. Tốt nhất là những người tham gia đều có thái độ vô tư, tuyên bố trước khi nói ra điểm hiệu chính như sau: “Nhân danh điều tốt đẹp nhất, điểm đúng của… Hơn 100, hơn 200”, v.v.. Đặt trong bối cảnh “nhân danh điều tốt đẹp nhất” làm gia tăng mức độ chính xác, vì nó siêu việt mọi lợi ích và động cơ tư lợi cá nhân.

Suốt nhiều năm, người ta đều nghĩ rằng bài kiểm tra này chỉ là phản ứng cục bộ của hệ kinh mạch hoặc hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nhưng, một công trình nghiên cứu sau này đã tiết lộ rằng, phản ứng đó hoàn toàn không phải là phản ứng cục bộ với cơ thể mà là phản ứng tổng thể của bản thân ý thức đối với năng lượng của một chất hoặc một lời tuyên bố. Cái gì đúng, cái gì có lợi hoặc hỗ trợ đời sống thì tạo ra phản ứng tích cực, xuất phát từ khu vực phi cá nhân của ý thức, vốn hiện diện trong tất cả mọi người đang sống. Cơ bắp trong cơ thể mạnh lên chứng tỏ rằng phản ứng là tích cực. Đồng tử cũng có phản ứng (dối trá thì đồng tử giãn ra và sự thật thì đồng tử co lại), chụp ảnh cộng hưởng từ cũng phát hiện được thay đổi trong chức năng của não bộ. (Để cho tiện, người ta thường dùng cơ delta [còn gọi là cơ vai, cơ bả vai – ND] làm cơ chỉ thị; tuy nhiên, có thể sử dụng bất kỳ cơ nào).

Trước khi đưa ra câu hỏi (dưới dạng một lời tuyên bố), cần xin phép; tức là, nói: “Tôi xin phép hỏi về những điều tôi đang nghĩ”(Có/Không). Hoặc: “Công cuộc hiệu chính này nhằm phục vụ cho những điều cao cả nhất”.

Nếu lời tuyên bố là sai hoặc một chất mà đối tượng đang cầm có hại, thì các cơ bắp yếu đi một cách nhanh chóng nhằm phản ứng trước mệnh lệnh: “Chống lại”. Kết quả này chứng tỏ rằng, tác nhân kích thích là tiêu cực, không đúng sự thật, phản sự sống hoặc câu trả lời là “không”. Phản ứng diễn ra rất nhanh. Sau đó, cơ thể sẽ phục hồi nhanh chóng và cơ bắp căng lên như bình thường.

Có ba cách kiểm tra. Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu và cũng thường được sử dụng nhất cần hai người: người kiểm tra và đối tượng được kiểm tra. Không gian nên yên tĩnh và không có nhạc nền. Đối tượng được kiểm tra nhắm mắt lại. Người kiểm tra phải đưa ra câu hỏi dưới dạng một lời tuyên bố. Phản ứng của cơ bắp chính là câu trả lời “có” hoặc “không”. Ví dụ, không được hỏi: “Đây có phải là một con ngựa khỏe mạnh không?”. Mà phải nói: “Con ngựa này khỏe”, hoặc ngược lại: “Con ngựa này ốm yếu”.

Sau khi đưa ra tuyên bố, người kiểm tra nói với đối tượng kiểm tra đang đang đưa thẳng cánh tay song song với đất: “Chống lại”. Người kiểm tra ấn nhanh và nhẹ hai ngón tay lên cổ tay của cánh tay đang đưa ra. Cánh tay của đối tượng kiểm tra giữ chắc là “có” còn yếu đi là “không có” (không). Phản ứng xảy ra ngay tức thì.

Phương pháp thứ hai là gọi là vòng chữ O, một người có thể làm được. Cong ngón cái và ngón giữa trên cùng một bàn tay thành hình chữ O, rồi níu chặt vào nhau. Sau đó móc ngón trỏ của bàn tay kia vào vòng O và tìm cách kéo hai ngón tay ra xa nhau. Lực giữa phản ứng “có” và “không” khác nhau đáng kể.

Phương pháp thứ ba là phương pháp đơn giản nhất, nhưng cũng như các phương pháp còn lại, phải luyện tập thì mới thành thục. Chỉ cần nâng một vật nặng, ví dụ, cuốn từ điển dày hoặc vài viên gạch, từ mặt bàn lên tới thắt lưng. Nghĩ về một hình ảnh hoặc câu nói đúng cần tính điểm và sau nâng vật nặng kia lên. Sau đó, ngược lại, nghĩ về một điều gì đó đã biết trước là sai. Để ý rằng, khi sự thật hiện lên trong tâm trí thì nâng một cách nhẹ nhàng, nhưng khi nghĩ đến cái sai (không đúng) thì phải cần nhiều sức hơn. Có thể dùng hai phương pháp đã nói bên trên để kiểm tra kết quả. (Trang 354-357)

 

February 22, 2022

Tu tâm

 


Vài nhận thức ban đầu

 

Thôi thì ta quay về

Chuyện trò cùng cái bóng máu me ta (Thơ Nguyễn Duy) 

Trong tác phẩm Cái toàn thể và Trật tự ấn (tiet hung thai dịch, NXB Tri thức ấn hành), nhà vật lý học David Bhom đưa ra mô hình vũ trụ toàn ảnh với trật tự ẩn vô hình (cuộn lại) và trật tự hữu hình (trải ra). Quan trọng nhất cần nhớ là quan điểm thấu triệt này của khoa học tương hợp với quan điểm về thực tại mà các thánh nhân chứng ngộ, những người đã vượt ra ngoài ý thức để tới trạng thái nhận thức thuần tịnh, đã từng trải nghiệm trong suốt chiều dài của lịch sử . Mô hình này và cả cuốn sách vừa nói có thể là thách thức đối với nhiều người, nhưng có thể trình bày bằng một ví dụ đơn giản sau đây. 

Xem người ta chơi bi-da bạn sẽ thấy viên bi A đập vào viên bi B, rồi B đập vào C theo trình tự sau: A → B → C, đây là hiện tượng có thể quan sát được trong thế giới 3 chiều, “trải ra” mà chúng ta đã quen thuộc. Nhưng còn một thế giới nữa, thế giới “cuộn lại” tức là thế giới trong tâm trí của cơ thủ. Cơ thủ, trong tâm trí của mình, đã nhìn thấy ABC đập vào nhau cùng một lúc. Tức là nhân và quả diễn ra đồng thời. Trước khi chọc cái gậy vào A, anh ta đã đoán được A sẽ chạm vào điểm nào của B, với tốc độ bao nhiêu… Cơ thủ càng cao tay, tính toán càng chính xác. Chơi cờ cũng tương tự như thế. Cao thủ có thể tính toán và buộc đối phương đi theo phương án của mình… Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ. Bạn cũng có thể tự tưởng tượng ra những ví dụ như thế. Những ví dụ này chứng tỏ rằng, cái vô hình, diễn ra trong tâm trí người ta quyết định những sự kiện diễn ra trong thế giới hình tướng ba chiều này. 

Chuyển hóa tâm trí nhằm thay đổi những hiện tượng trong thế giới hình tướng ba chiều trong những ví dụ vừa nói có thể được gọi là “tu tâm”, mặc dù có người sẽ bảo là “học tập, rèn luyện”. Vậy, xin đưa một ví dụ khác.   

Giả dụ bạn là chủ một cửa hàng tạp hóa. Bạn có thể thuê chuyên gia tiếp thị bài trí của hàng theo đúng sách vở và theo tính toán của những chương trình máy tính hiện đại nhất. Nhưng máy tính không có tình cảm, nó không hướng dẫn bạn cách nói chuyện và nở nụ cười với khách hàng. Bạn có thể bắt chước người khác và cười với khách; nhưng nếu trong lòng bạn còn đầy những tư tưởng oán hận, nghi ngờ, tật đố, than thân trách phận, tham lam, cầu danh, cầu lợi… thì nụ cười của bạn, xin lỗi, có thể nói: đừng cười còn dễ coi hơn. Bạn phải tu tâm, tức là bỏ hết những tư tưởng, những ý nghĩ tiêu cực thì nụ cười của bạn mới thực sự có sức hấp dẫn. Nếu bạn làm được như thế thì người ta sẽ bảo rằng bạn nhất quán với điểm hút năng lượng cao. Sam Walton, người sáng lập Walmart, cho chúng ta ví dụ về sức mạnh bên trong xuất phát từ việc nhất quán với mô thức điểm hút năng lượng cao. ABC mà ông hình dung trong đầu dẫn tới kết quả là chuỗi A → B → C trong thế giới này, đấy chính là đế chế Walmart phát triển rất nhanh. (Các nguyên tắc cơ bản được trình bày trong tác phẩm Sam Walton do Vance Trimble chấp bút).      

Bây giờ xin giả sử trường hợp khác: bạn là người nóng tính, rất hay nổi quạu và một ngày xấu trời nào đó, bạn nổi nóng, mạt sát một người phụ thuộc vào bạn (vợ, con, nhân viên…); người này sau đó trút cơn giận dữ vô lý vào một người khác… Dây chuyền được khởi động và tăng tốc. Đoạn cuối có thể kết thúc bằng một vụ tai nạn giao thông hay ẩu đả nghiêm trọng mà bạn có thể không bao giờ biết hay nghi ngờ rằng đã xảy ra những hiện tượng như thế. Không tu tâm có thể dẫn tới hậu quả khủng khiếp như thế đấy. 

Những bạn đang sốt sắng cải tạo xã hội, hay nói to tát một chút là làm cách mạng, có thể phản ứng: Các ông nói tu tâm, tụng kinh gõ mõ, trong khi ngoài kia biết bao bất công đau khổ, các ông quay lưng lại với nỗi đau của con người hay sao? 

 

Tu tâm & Cách mạng– Những nhà cách mạng có tâm trong quá khứ 

Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi

Câu trả lời thật không dễ dàng chi! (Thơ Nguyễn Trọng Tạo)

 

Cái tựa đề tu tâm & cách mạng hẳn sẽ làm nhiều người ngạc nhiên và thốt lên: “Tu tâm, tụng kinh gõ mõ là quay lưng lại với đời, là không quan tâm tới thế sự nữa, làm gì có chuyện cách mạng?” 

Ở tầng thấp thì đúng là như thế. Nhưng, ở những tầng cao hơn thì không còn như thế nữa. Đức Phật và Chúa Jesus Christ chính là hai nhà cách mạng vĩ đại nhất trong suốt lịch sử nhân loại. Các Ngài đã đi ngược lại những quy định về đạo đức và các hành xử đương thời và rao giảng đạo đức làm nền tảng cho những nền văn minh lớn nhất trong suốt hơn 2 ngàn năm qua. Nhưng các Ngài chưa bao giờ sử dụng bạo lực, thậm chí chưa bao giờ nặng lời với ai. Chúa Jesus khi bị bắt còn bảo đệ tử tra gươm vào vỏ và nói: “Hãy tha thứ cho họ, vì họ không hiểu việc mình làm”. Đức Phật khi bị lăng mạ còn bảo: “Lời nói của ông là quà ông tặng tôi. Tôi không nhận, nó vẫn là của ông”. Thời nay, số người tin theo và tu theo những lời dạy của các Ngài lại ngày càng đông thêm. Vì sao? Vì tâm của các Ngài rất chính, lời của các Ngài rất từ bi cho nên sau hơn 2 ngàn năm những lời dạy của của các Ngài vẫn có nội lực cực kỳ cao, đủ sức thuyết phục được nhiều người đến mức như thế. Có nhà cách mạng nào vĩ đại hơn Chúa và Phật? 

Ở thời hiện đại, chúng ta có thể thấy nhà cách mạng vĩ đại, ẩn sĩ Mahatma Gandhi, một người nặng chưa tới 45kg và được gọi là “người da màu”, đơn thương độc mã, đã chiến thẳng Đế quốc Anh, lực lượng mạnh nhất thế giới lúc đó – cai trị hai phần ba diện tích trái đất. Gandhi không chỉ buộc Đế quốc Anh phải quỳ gối, mà ông còn giật tung bức màn che phủ vở kịch có tên là Chủ nghĩa thực dân kéo dài suốt nhiều thế kỷ, và ông đã làm được bằng cách đơn giản là bảo vệ một nguyên tắc: phẩm giá cốt tủy của con người và quyền tự do, chủ quyền và quyền tự quyết của con người. Gandhi thể hiện – và được cả thế giới chứng kiến – sức mạnh bên trong của lòng vị tha khi đối đầu với quyền lợi ích kỷ. Gandhi đánh bại Đế quốc Anh mà không cần phải vung tay giận dữ. Người thứ hai là Nelson Mandela ở Nam Phi, ban đầu theo chủ nghĩa cộng sản rồi chuyển sang lý tưởng bất bạo động. Không dám lạm bàn việc những người kế tục Gandhi và Mandela có tiếp tục theo đuổi và đưa sự nghiệp của các Ngài tới thành công mỹ mãn hay không, nhưng Ấn Độ đã giành được độc lập, còn Nam Phi thì thoát khỏi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc với cái giá phải trả thấp nhất là sự kiện không ai có thể chối cãi được.  

Trong khi đó, những người cộng sản, lấy đấu tranh làm lẽ sống, lấy việc tước đoạt nhóm người này để ban phát cho nhóm người khác, lấy mục đích biện minh cho phương tiện, lợi dụng sự ngây thơ về chính trị của người Nga, vốn đã quen với chế độ chuyên chế của các Nga hoàng, không tạo điều kiện cho họ tiếp thu những kiến thức về quyền công dân để hiểu rằng, nhân danh chủ nghĩa cộng sản, một chế độ độc tài toàn trị thực sự đang được thiết lập trên đất nước mình. Do đó, chúng ta đã trở thành những người chứng kiến chủ nghĩa cộng sản sụp đổ mà gần như không cần nỗ lực nào - sau khi đã đổ ra cả núi xương, biển máu và nửa thế kỷ đối đầu về quân sự làm người ta lo ngại và cuối cùng là vô ích. 

Như vậy, tu tâm không trái với cách mạng, mà những người có tâm lại chính là các nhà cách mạng sâu sắc nhất, vĩ đại nhất; sự nghiệp của họ cũng bền vững nhất, lâu dài nhất. 

Meister Eckhart, nhà thần học Kitô giáo thế kỷ XIV từng nói: 

“Việc làm bên ngoài không bao giờ nhỏ, nếu công cuộc bên trong là vĩ đại

Việc làm bên ngoài không bao giờ là vĩ đại, nếu công cuộc bên trong là nhỏ bé”

 

 

Câu tiếng Anh trên hình Tolstoy: "Ai ai cũng nghĩ đến thay đổi thế giới nhưng không ai nghĩ đến thay đổi chính mình"

Tu tâm & Cách mạng– Những nhà cách mạng có tâm trong thời đại ngày nay 

Đến đây xin dừng lại một chút để nói về Bản đồ ý thức của con người. 

David Hawkins, sau hàng triệu lần hiệu chỉnh với những người thuộc các giai tầng khác nhau, các dân tộc khác nhau và trong những điều kiện khác nhau đã lập ra được bản đồ ý thức của con người, với 18 tầng (Tác phẩm Power vs,. Force). Tầng thấp nhất, với điểm bằng 0, là chết; sau đó là Nhục nhã (20), Tội lỗi (30), Thờ ơ (50), Đau khổ (75), Sợ hãi (100), Khát khao (125), Giận dữ (150), Kiêu hãnh (175), Can đảm (200), Trung dung (250), Sẵn sàng (310), Chấp nhận (350), Lý trí (400), Tình yêu (500), Niềm vui (540), An bình (600), Chứng ngộ (700-1.000). Con số trong ngoặc đơn là sức mạnh tương đối của các tầng, nhưng là logarit cơ số 10, cho nên mỗi tầng cách nhau rất xa (bạn nào quan tâm kỹ hơn có thể đọc ở đây: https://phamnguyentruong.blogspot.com/2021/11/cac-tang-y-thuc-cua-con-nguoi.html). 

Can đảm (200) là tầng chia tách giữa các tầng ý thức tích cực và tiêu cực. Người ở tầng 200 nhận của thế giới bao nhiêu thì cũng trả lại cho thế giới bấy nhiêu. Những người ở các tầng thấp hơn có thể nhận của thế giới nhiều hơn khả năng hoàn trả của họ, những người ở các tầng qúa thấp có thể trở thành gánh nặng của nhân loại. 

Đến đây ta có thể thấy rằng những người ở các tầng thấp hơn Can đảm (200) mà tham gia các hoạt động xã hội hay cách mạng thì có khả năng gây ra nhiều tác hại. Ví dụ, người ở tầng Khát khao (125) là những người luôn luôn cảm thấy thiếu thốn, họ muốn sở hữu mọi thứ. Những người này mà tham gia hoạt động hay làm cách mạng thì dễ tham ô, ắn cắp công quỹ.. Những người ở tầng Giận dữ (150) có thể gây mất đoàn kết, còn những người ở tầng Kiêu hãnh (175) có thể quá háo danh và cũng gây mất đoàn kết…        



Như vậy là, với tấm Bản đồ ý thức này, chúng ta có thể chọn cho mình lãnh tụ của phong trào mà mình muốn tham gia, không cần phải qua thử thách, không cần phải làm như Lưu Bị, “tam cố thảo lư” hay phải bị thất vọng sau một thời gian tham gia nữa. Người viết cho rằng không nên theo các lãnh tụ có điểm dưới 500 (tầng Tình yêu). Xin mở ngoặc để nói thêm rằng Mahatma Gandhi có điểm hiệu chỉnh 760, còn Winston Churchill không bao giờ sử vũ lực, hay lừa dối người Anh nhằm buộc họ phải cầm súng chống lại phát xít Đức khi số phận của nước Anh gần như ngàn cân treo sợi tóc có điểm hiệu chỉnh 510.  Đồng thời, các lãnh tụ phong trào cũng có thể dễ dàng tìm được các cộng sự đáng tin cậy; ví dụ, người viết cho rằng những người thuộc Ban chấp hành trung ương của tổ chức phải có điểm từ 310 trở lên (tầng Sẵn sàng). Bản đồ này cũng cho chúng ta thấy rằng tu tâm là công việc hoàn toàn khả thi và có thể tự đoán xem mình đang ở tầng nào để tiếp tục tu tâm, ngõ hầu không trở thành tác nhân phá hoại phong trào mà mình tham gia. Xin lưu ý: Tu tâm không phải tu dưỡng đạo đức mà những người CS thường nói tới. Tu dưỡng đạo đức của CS ngụ ý tuân thủ điều lệ, làm theo nghị quyết, cấp dưới phục tùng cấp trên… Còn tu tâm ngụ ý xả bỏ tất cả các ý nghĩ, tư tưởng (thường gọi là tâm) bất tịnh để trở thành người vô tư vô ngã, vô ngã vị tha…   



Tu tâm & Số mệnh 

Mỗi người đều có số phận của mình. Không thể chứng minh được nhận định này, nhưng những người có tuổi đều có thể “nghiệm” được: một số người làm việc gì cũng hanh thông, trong khi một số người khác làm việc gì cũng khó khăn, thậm chí hoàn toàn thất bại. Chúng ta gọi đó là số mệnh. Người ta thường nói: “Gieo hành động, gặt thói quen, gieo thói quen gặt tính cách, gieo tích cách gặt số phận”. Bản đồ ý thức chính là biểu hiện tính cách của người ta. Để bạn đọc dễ theo dõi, xin cùng xem lại Bản đồ này một lần nữa. 

David Hawkins, sau hàng triệu lần hiệu chỉnh với những người thuộc các giai tầng khác nhau, các dân tộc khác nhau và trong những điều kiện khác nhau đã lập ra được bản đồ ý thức của con người, với 18 tầng (Tác phẩm Power vs,. Force). Tầng thấp nhất, với điểm bằng 0, là chết; sau đó là Nhục nhã (20), Tội lỗi (30), Thờ ơ (50), Đau khổ (75), Sợ hãi (100), Khát khao (125), Giận dữ (150), Kiêu hãnh (175), Can đảm (200), Trung dung (250), Sẵn sàng (310), Chấp nhận (350), Lý trí (400), Tình yêu (500), Niềm vui (540), An bình (600), Chứng ngộ (700-1.000). Con số trong ngoặc đơn là sức mạnh tương đối của các tầng, nhưng là logarit cơ số 10, cho nên mỗi tầng cách nhau rất xa. 

Nhìn vào bản đồ chúng ta có thể thấy, ví dụ, người tầng Nhục nhã cận là kề đến mức nguy hiểm với cái chết, người ta có thể vì nhục nhã mà cố ý tự tử, hoặc tự tử một cách tinh vi hơn: không làm gì nhằm duy trì đời sống, gọi là “tự tử thụ động”. Phổ biến nhất là chết trong những vụ tai nạn mà đáng lẽ ra là có thể tránh được. Cảm giác tội lỗi vô thức gây ra bệnh tâm thần, dễ gặp tai nạn và có thể tự tử. Nhiều người phải vật lộn suốt đời với cảm giác này, trong khi một số người khác cố gắng đến mức tuyệt vọng nhằm chạy trốn nó bằng cách phủ nhận một cách vô đạo đức toàn bộ cảm giác Tội lỗi. Những người ở các tầng thấp kém này suốt đời phải sống trong cảnh đói nghèo và đau khổ. 

Người Khát khao dẫn tới tích trữ và lòng tham. Nhưng Khát khao là vô độ, vì nó là trường năng lượng ngày càng gia tăng, do đó thỏa mãn khát khao này thì sẽ xuất hiện khát khao chưa được thỏa mãn khác. Các triệu triệu phú vẫn bị ám ảnh với việc kiếm được ngày càng nhiều tiền hơn. Người nghèo ở tầng này có thể làm những việc gian dối, buôn gian bán lận, còn quan chức thì có thể tham ô hối lộ. Gian dối, tham ô hối lộ là những hành động phạm pháp, có thể phải chịu tù đầy. 

Người thuộc tầng Giận dữ và Kiêu hãnh cũng khó có thể hợp tác với những người khác, vì vậy mà họ khó có thể thu được thành công to lớn. Trong gia đình mà có người lúc nào cũng giận dữ thì khó có thể hòa thuận, khó mà an cư lạc nghiệp. Ra đường mà luôn mang theo tâm trạng giận dữ, vừa va quẹt xe đã nổi khùng, đã muốn xưng hùng xưng bá, có thể dễ dàng dẫn tới đánh nhau, thậm chí giết người. Những người này không biết rằng: “Lùi một bước biển rộng trời cao, nhẫn một chút sóng yên gió lặng”, họ cứ mang theo tâm trạng giận dữ và tự chiêu mời rắc rối cho mình và cho những người xung quanh. 

Như vậy là, những người ở những tầng ý thức thấp này muốn thoát khỏi số phận hẩm hiu thì phải tu tâm, phải vươn lên những tầng ý thức cao hơn thì mới mong gặt hái được thành công. Càng lên cao thì càng thành công hơn. Người ở tầng Đau khổ hay Thờ ơ mà vươn lên được tầng Khát khao thì điều kiện vật chất và tinh thần sẽ được cải thiện rất nhiều, còn người ở tầng Khát khao mà vươn lên được tầng Can đảm hay Trung dung thì chẳng những điều kiện vật chất được cải thiện mà tinh thần cũng thanh thản hơn, sống vui hơn và ít bệnh tật hơn. Như thế là, tu tâm là tự cải biến số mệnh của mình. Người thực sự tu tâm thì số tử vi, tướng số, tướng mặt, tướng tay đều không còn đúng nữa. 

Tóm lại, Power vs. Force cho chúng ta một tấm bản đồ dẫn đường; nó nói cho chúng ta biết rằng mỗi người đều có thể tu cái tâm của mình để vươn lên những tầng ý thức cao hơn, cũng có nghĩa là số phận của mình sẽ hanh thông hơn. 

Tu tâm & Sức khỏe

(Các trích đoạn trong tác phẩm Power vs. Force) 

Trải qua nhiều thời đại, người ra đã đúc rút được nhận định chung là một số bệnh liên quan đến một số cảm xúc và thái độ nhất định. Ví dụ, giận quá hại gan, vui quá hại tim, buồn quá hại phổi, lo lắng quá hại dạ dày, sợ quá hại thận. Ngày nay, nhiều rối loạn thể chất rõ ràng là có liên hệ với những cảm xúc căng thẳng. 

Như chúng ta đã biết, nếu bạn có một suy nghĩ tiêu cực ở trong đầu thì một cơ bắp cụ thể nào đó sẽ yếu đi; nếu sau đó, bạn thay ý nghĩ này bằng một ý nghĩ tích cực thì chính cơ bắp đó sẽ mạnh lên ngay lập tức. Kết nối giữa tâm trí và cơ thể là trực tiếp, cho nên, phản ứng của cơ thể dịch chuyển và thay đổi theo từng sát na, nhằm phản ứng lại với những suy nghĩ nối tiếp nhau và những cảm xúc liên quan tới những suy nghĩ này. 

Trong tự nhiên có quy luật gọi là Quy luật phụ thuộc nhạy cảm vào các điều kiện ban đầu, nói rằng một thay đổi vô cùng nhỏ trong mô thức dữ liệu đầu vào có thể dẫn đến thay đổi rất lớn trong kết quả ở đầu ra. Đấy là do thay đổi nhỏ lặp đi lặp lại theo thời gian làm cho mô thức thay đổi theo lối tăng dần, hoặc, đôi khi, thậm chí nhảy sang một hàm điều hòa mới, nếu đầu vào tăng theo hàm lôgarit. Kết quả là biến đổi nhỏ bé đó được khuếch đại lên cho đến khi, cuối cùng, nó ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống. 

Khi tâm trí bị thế giới quan tiêu cực khống chế, thì trong các dòng năng lượng dẫn đến các cơ quan khác nhau trong cơ thể sẽ liên tiếp xuất hiện những thay đổi cực kì nhỏ. Tất cả các chức năng phức tạp của trường sinh lý học tổng thể vi tế này đều bị ảnh hưởng. Cuối cùng, những thay đổi vô cùng nhỏ sau một quá trình tích lũy sẽ hiện ra thành kết quả nhìn thấy được trong các dụng cụ đo lường, ví dụ như kính hiển vi điện tử, chụp cộng hưởng từ, tia X, hoặc phân tích sinh hóa. Chính tác động dai dẳng và lặp đi lặp lại của các kích thích, thông qua quy luật phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu, đã dẫn tới quá trình bệnh tật có thể quan sát được. Các kích thích khởi động quá trình này có thể nhỏ đến mức không thể phát hiện được. 

Trong quá trình tự chữa lành, khả năng yêu thương và nhận thức về tầm quan trọng của yêu thương ở người bệnh thường gia tăng rõ rệt – đây vừa là yếu tố vừa là phương thức chữa bệnh. Nhiều cuốn sách trong danh sách bán chạy nhất nói với chúng ta rằng yêu thương là sống lành mạnh. Nhưng, vì kiêu hãnh mà tâm trí thường chống lại, không muốn thay đổi. Tình yêu đồng loại chỉ có thể nảy sinh khi chúng ta ngừng chỉ trích, sợ hãi và căm thù người khác. Khả năng bình phục phụ thuộc vào thái độ sẵn sàng khám phá những cách nhìn mới về bản thân và cuộc sống của người bệnh, bệnh nào thì cũng thế. 

Trong vũ trụ có thể quan sát được này, mọi người đều biết quy luật là lực sinh ra phản lực – cùng cường độ nhưng theo chiều ngược lại. Do đó, mọi cuộc tấn công, dù về tinh thần hay vật chất, đều dẫn đến phản công. Ác tâm làm cho chúng ta đau ốm; chúng ta luôn luôn là nạn nhân của lòng thù hận của chính mình. Thậm chí những ý nghĩ oán hận thầm kín cũng tạo ra những cuộc tấn công về mặt sinh lý lên chính cơ thể của người có ý nghĩ đó. 

Bệnh là bằng chứng cho thấy có điều gì đó không ổn trong hoạt động của tâm trí, và đây chính là nơi chứa đựng nội lực để tạo ra thay đổi. Điều trị bệnh mà chỉ coi nó như quá trình vật lý, diễn ra trong thế giới ảo A → B → C, thì không điều chỉnh được nguồn gốc của rối loạn chức năng, và chỉ làm bệnh thuyên giảm tạm thời chứ không phải là chữa trị dứt điểm. Chỉ cần thay đổi thái độ là đã có thể chữa được căn bệnh làm cho người ta đau khổ suốt đời; mặc dù thay đổi này dường như có thể xảy ra trong tích tắc, nhưng có thể người bệnh đã chuẩn bị trong nhiều năm. 

Tu tâm quan trọng như thế đấy!

 Khai trí & Khai tâm 

Có một thời chúng ta tin (có thể hiện nay vẫn còn tin) rằng hầu hết các vấn nạn của xã hội là do dân trí thấp, nhưng có lẽ đã đến lúc cần phải xét lại niềm tin này. 

Bằng chứng là chỉ cần một va chạm nhỏ là người ta sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nhau, thậm chí giết nhau; vào nhà hàng thì “chặt chém” hết mức, không ăn thì bị dọa đánh, dọa giết, xin thêm tí rau thì bị chửi mắng thậm tệ… Mẹ ghẻ, bố dượng hành hạ con riêng của chồng hay vợ một cách tàn nhẫn, lạnh lùng, chỉ nghe nói tới đã thấy kinh hãi; không biết họ có còn là con người, thậm chí có còn là con vật có cảm xúc và biết đau đớn hay không. Rồi con giết cha, cháu giết bà, vợ giết chồng, bạn bè giết nhau… Nếu có đủ thì giờ theo dõi báo chí, có thể ngày nào cũng có một vụ giết người nào đó… Mà đây lại là những hiện tượng diễn ra ngay trong các thành phố lớn. Không thể nói là dân trí thấp. 

Các quan chức do tham ô hồi lộ mà bị bắt trong thời gian gần đây cũng không phải là những người “thấp trí”. Tất cả các quan chức cao cấp, từ chủ tích tỉnh, bộ trưởng, ủy viên bộ chính bị bắt vì tham nhũng đều là những người được đào tạo, có học vấn khá cao và trong giai đoạn đầu đời, khi mới bắt đầu tham gia chính quyền có lẽ họ cũng là những người có “tâm”; nhưng rồi không “tu” mà bị “tụt hạng”. 

Vụ Việt Á càng chứng tỏ rằng “trí” không song hành với “tâm”; thậm chí “trí” nhiều mà “tâm” ít thì còn có thể gây ra tác hại khủng khiếp hơn. Bây giờ, đã xác minh Phan Quốc Việt kiếm được 4.000 tỷ đồng và hào phóng chi huê hồng lại quả đến 30 tỷ đồng cho chỉ 1 đối tác thương mại: môt mình BS -TS Phạm duy Tuyến, Bí thư  đảng  kiêm GĐ CDC Hải dương  nuốt gon  hơn 1 triệu đôla, bằng lương 2 đời TT Mỹ  DonalTrumd và Joe Biden cộng lại; hơn cả tiền bồi dương hàng nghàn cán bộ nhân viên y tế nơi tâm dịch bị quỵt. Theo một số nguồn tin thì Kits rởm của VIỆT Á là mua hàng rởm của Tàu, 5 -7 ngàn/cái, nhưng bán với khung giá của Bộ ý tế là 470.000 đg/ cái....lãi gấp 70 ÷ 90 lần. Hậu quả của Kits Việt Á là thúc nhau nguáy mũi liên tuc, tập trung F1, F2, F3 vào một chỗ để ủ bênh..và tiêu thụ Kit giả ,chống bệnh phản khoa học ....kẻ làm giàu bất lương mùa dịch đươc tôn vinh anh hùng,hàng vạn người chết oan. Thế mà Phan Quốc Việt được sự ủng hộ nhiệt liệt của Bộ Khoa học & Công nghệ lẫn Bộ Y tế, Học viên  Quân y, đài báo, tuyên giáo .... 

Tất cả những quan chức dính líu vào những vụ việc vừa nêu không phải “trí” thấp, mà ý thức của họ chỉ loanh quanh đâu đó trong tầng Khát khao hay Giận dữ. Có quyền lực, thậm chí là quyền lực vô hạn độ mà ý thức vẫn nằm ở tấng Khát khao thì khi đi ra đường họ nhìn thấy tất cả những thứ họ muốn. Họ nhìn thấy chiếc xe họ muốn; người đẹp muốn; địa vị, chức vụ và tòa nhà họ muốn. Họ thất vọng vì những khao khát, thèm muốn bất tận và hàng triệu đô la đều không mang lại hạnh phúc. Thực tế là 50 triệu đôla hay 100 triệu đôla cũng không có ích gì, vì khao khát và muốn có thêm quyền lực là vô độ, không thể nào thỏa mãn được. Còn những người ở tầng Giận dữ thì họ chính là một hỏa diệm sơn, sẵn sàng bùng lên bất cứ lúc nào và sẵn sàng thiêu cháy bất cứ thứ gì. 

Như vậy, đã đến lúc những người có tâm với dân tộc, với đất nước, bên cạnh việc “khai trí” còn cần chú ý đến việc “khai tâm”. Người viết cho rằng hiện nay cần đẩy mạnh “khai tâm” hơn “khai trí” vì đứa trẻ đi học là “khai trí” rồi, còn “khai tâm” hay tu tâm thì ít thấy nói tới. 

Tu tâm - Tu gì? 

Xin nhắc lại lần nữa, tu tâm không phải là tu dưỡng đạo đức mà những người cộng sản hay nói. Tu dưỡng đạo đức của CS là tuân theo điều lệ, nói và làm theo nghị quyết, không làm những việc mà đảng đã cấm, cấp dưới phục tùng cấp trên… Nói chung, đạo đức CS thường trái với đạo đức phổ quát của nhân loại.   

Tu tâm khác hẳn. Nếu nhìn vào Bản đồ ý thức ta sẽ thấy, tu tâm chính là buông bỏ những ý nghĩ (còn gọi là tâm hay niệm) tiêu cực, nằm dưới tầng 200. Đấy là những cảm giác, ý nghĩ, như nhục nhã, tội lỗi, thờ ơ, đau khổ, than thân trách phận, sợ hãi, tham lam, sân hận, căm thù, kiêu ngạo, khoe khoang, ghen tị, tật đố, đổ thừa, lên án người khác, tuyệt vọng, giả dối; tức là phải tu bỏ những ý nghĩ/tâm/niệm làm cho người ta yếu đi … Còn lên cao nữa thì tu bỏ tất cả nhân tâm để trở thành người có lòng cảm thông sâu sắc với mọi sự, mọi việc, có tình yêu vô điều kiện, và sẽ trở thành người đại từ đại bi, đại trí, đại dũng. 

Tu tâm không chỉ là lời răn của tôn giáo, mà có cơ sở “khoa  học” phù hợp với tư duy của những người “não trái”, được đào tạo theo lối khoa học. Mỗi một sự kiện/tình cảm/suy nghĩ làm cho người quan sát yếu đi đều ức chế hệ thống miễn dịch của người đó. Mỗi sự kiện làm người ta yếu đi đều phản ánh thương tổn gây ra cho hệ thần kinh trung ương, cũng như hệ thống thần kinh thực vật của người đó. Hệ thống kinh lạc bị phá vỡ thì chắc chắn tuyến ức cũng bị ức chế; mỗi chấn thương đều gây hại cho hệ thống thần kinh nội tiết và hệ thống dẫn truyền thần kinh mỏng manh của não bộ. Mỗi hình ảnh/ngôn từ tiêu cực đều đưa người ta tiến gần hơn tới bệnh tật và trầm cảm. 

Đồng thời, tu tâm còn làm cho người ta vươn lên khỏi trường năng lượng đang khống chế họ. Mà ra khỏi trường năng lượng thấp hơn để tiến vào trường năng lượng cao hơn thì chính là cải biến số phận. 

Tóm lại chỉ có tu tâm thì mới cải biến được sức khỏe và số phận. Còn dâng sao giải hạn, cúng dường tam bảo, lậy Phật đến u đầu sứt trán, đốt nhang đến chết ngạt vì khói đều không thể nào cải biến được số phận. Tìm Phật kiểu đó là mò trăng đáy ao, chẳng có tác dụng gì. 

Bản đồ ý thức còn cung cấp cho chúng ta nền tảng “khoa học” của sự thông cảm, lòng khoan dung và từ tâm với người khác và với chính mình. Ví dụ, khi một người nào đó nổi quạu với bạn. Nếu không có Bản đồ ý thức này, bạn sẽ tức giận và phản ứng một cách gay gắt với người đó. Nhưng nhìn vào Bản đồ này, bạn sẽ thông cảm. Người đó đang bị tầng ý thức Giận dữ khống chế rất chặt, họ không thể làm khác được. Các quan chức vụ Việt Á hay các quan chức ở Bộ ngoại giao hút máu đồng bào trong đại dịch vừa qua thì cũng thế. Họ bị tầng ý thức Khao khát khống chế và vì vậy mà họ đã hành động hoàn toàn trái ngược với lương tâm của con người. Họ phải trả giá trước luật phát do con người làm ra, nhưng tầng ý thức của họ chỉ cao đến thế. Họ không thể làm khác được.  

Hiểu được như thế, chúng ta đồng thời cũng có lòng từ bi với chính mình. Ta không thể làm khác, cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Ta không cần ân hận vì việc đã làm, mà chỉ cần ghi nhận để không lặp lại. 

Nếu chỉ để làm một người tốt thì chỉ cần quan sát chính mình để mỗi khi thấy ý nghĩ/tâm bất thiện nổi lên liền buông bỏ nó là được. Nhưng đây là việc làm cực kỳ nghiêm túc, nghiêm túc hơn tất cả những việc bạn đã từng làm, vì phải theo dõi tâm của mình trong từng sát na. Rất khó. Người viết cho rằng muốn thật sự tu tâm thì phải theo một tôn giáo hay pháp môn tu tập nào đó, với tín sư, tín pháp vô bờ bến thì mới có kết quả. Chương 22, Cuộc đấu tranh tâm linh, tác phẩm Power vs. Force có những hướng dẫn quan trọng đối với người tầm đạo. 



Tu tâm & Tương lai của dân tộc 

Như đã nói trong các phần trước, mỗi cá nhân đều bị tầng ý thức giữ thế thượng phong của người đó khống chế; người đó không thể suy nghĩ, phát ngôn và hành động khác được. Ta gọi đó là nghiệp lực hay số phận của người đó. Như vậy, nếu trong một tập thể, ví dụ như dòng họ, làng xã hay cả nước mà có đa số người cùng bị một tầng ý thức giữ thế thượng phong nào đó khống chế và họ cùng có suy nghĩ, lời nói và hành động về đại thể là giống nhau, mặc dù tiểu tiết có thể khác nhau chút ít – có thể gọi là văn hóa - thì ta cũng có thể coi đấy là cộng nghiệp hay số phận của dòng họ, làng xã hay quốc gia đó. 

Cá nhân muốn thay đổi nghiệp hay số phận thì phải tu tâm. Cộng đồng, dòng họ, làng xã hay quốc gia thì cũng thế. Có thể nói đa số người Việt hiện nay mới đang ở tầng Khao khát với cảm xúc chủ đạo là Thèm muốn. Ở tầng này, những cái người ta “có” là quan trọng; địa vị của người ta phụ thuộc vào của cải có thể nhìn thấy được. Khi đi ra đường, họ nhìn thấy tất cả những thứ họ muốn. Họ nhìn thấy chiếc xe họ muốn; người đẹp muốn; địa vị, chức vụ và tòa nhà họ muốn. Khi nói chuyện về những người thành đạt người ta cũng chỉ nói về những ngôi nhà, những ngôi biệt thự mà họ có, chứ ít người bàn tới những thứ cao cấp như công trình mà người kia đã làm, cuốn sách mà người kia đã viết… Ngoài ra, đa số người Việt còn thường xuyên rơi vào tầng Giận dữ và bị trường năng lượng ở đây khống chế. Khi giận dữ người ta tưởng mình chính là cơn giận mà không biết rằng họ “có” sự giận dữ, do đó giận dữ thường phồng to mãi và ngày càng gia tăng; dẫn đến những hành động cực kỳ tai hại, với những hậu quả nghiêm trọng. Chúng ta cũng thường có thái độ Kiêu hãnh, rất muốn độc quyền chân lý, thường muốn áp đảo đối phương bằng lời nói quyết liệt và dứt khoát. Nhưng trong vũ trụ này, có định luật là lực bao giờ cũng sinh ta phản lực, với cùng cường độ và theo hướng ngược lại. Vì vậy mà chúng ta rất khó thảo luận một cách hòa bình với nhau.   

Người viết cho rằng, khi đa số dân chúng còn nằm dưới tầng ý thức dưới 200 thì ngay cả có mời Bill Clinton, G. Washington hay B. Frnklin hay bất kỳ người nào khác thành lập chính phủ thì chẳng bao lâu sau chính phủ này cũng sẽ thoái hóa thành tình trạng tham nhũng tràn lan. 

Xin nhắc lại một lần nữa, tu tâm không phải là quay lưng lại với xã hội. Trong cai thế giới mà mọi sự mọi vật đều liên kết với nhau này, ngay cả nếu bạn ngồi không một cái hang trên dãy Himalaya thì bạn vẫn có thể ảnh hưởng tới thế giới. Ảnh hưởng lớn hay ngỏ tùy thuộc vào tầng ý thức của bạn. David Hawkins viết: Kiểm tra cơ thể động học cho thấy, một người ở tầng 700 đủ sức đối trọng với 70 triệu người ở tầng dưới 200, một người ở tầng 600 đủ sức đối trọng với 10 triệu người ở tầng dưới 200… Các nhà huyền môn cũng thường nói, sở dĩ trái đất này đứng vững như hiện này là vì luôn luôn có các vị Phật và những người đã chứng ngộ đang mai danh ẩn tích ở đâu đó phát phóng năng lượng tích cực để trung hòa với năng lượng tiêu cực do những người ở tầng ý thức dưới 200 tạo ra. David Hawkins còn viết, kiểm tra cơ thể động học chỉ ra rằng, chỉ cần 2,6% dân số thế giới có tình trạng phân cực cơ động học bất thường (thử mạnh với trường điểm hút tiêu cực và thử yếu với trường điểm hút tích cực) là đã gây ra tới 72% các vấn đề xã hội. Chúng ta không có điều kiện xác định những con số này; nhưng hẳn mọi người đều đã chứng kiến cảnh hàng chục người xếp hang rất trật tự, nhưng chỉ một người chen ngang là thành lộn xộn ngay lập tức.  

Như vậy là, muốn dân chủ hóa, muốn đưa xã hội Việt Nam lên một tầng cao mới thì tu tâm - mỗi người và mọi người – phải là vấn đề cần giải quyết trước tiên. Chúng ta đều biết những cuộc cách mạng được dẫn dắt bởi những con người đầy tham, sân, si đã dẫn dân tộc này tới đâu và chắc chắn là không muốn đi vào vết xe đổ một lần nữa.  

Trí khôn & Trí huệ 

Ông bà ta thường nói: “cơm sôi nhỏ lửa”, ý là khi phát sinh mâu thuẫn, cãi cọ thì hãy lùi một bước, để giữ hòa khí trong gia đình hay giữa bạn  bè với nhau. Đây là trí khôn của người thường, vì người ta có thể “lùi một bước” nhưng trong lòng vẫn oán hận, coi thường, thậm chí khinh bỉ người vừa làm họ tức giận. Giải quyết ở tầng Trí khôn là chưa giải quyết được gì: người ta chỉ trì hoãn, cho đến khi hai người đã đủ bình tĩnh để cùng ngồi lại với nhau; hoặc sẽ ép nhập những bất bình này xuống tầng hạ ý thức hay vô thức và đến lúc nào đó chúng sẽ nổi lên trên tầng ý thức. Lúc đó thì quan hệ gia đình hay bạn bè đã đổ vỡ rồi. Những tình cảm này sẽ khiến người ta bị bệnh, cuộc đời sẽ gặp nhiều khó khăn vì không thoát khỏi được số phận mà Thiên nhiên đã an bài. 

Trong khi đó, Bản đồ ý thức nói với chúng ta rằng mọi người, trong đó có mình, đã và đang nói và làm những điều mà năng lượng của tầng ý thức của chính chúng ta buộc chúng ta phải nói và làm như thế. Cho nên ta tự “lùi một bước” với thái độ thông cảm, chấp nhận và từ bi, chứ không khởi một chút oán hận, trách móc hay khinh khi nào. Trước những biểu hiện khác của tha nhân, ví dụ, tham lam, giận dữ, oán hận, đổ thừa, ghen tị, đố kị… ta cũng có thái độ thông cảm và chấp nhận hệt như thế. Chúng ta đâu có căm thù hay oán ghét con rắn hay con cá sấu đe dọa cắn, thậm chí giết chết chúng ta. Đúng không? Vì đấy là bản chất của chúng. Tầng ý thức của con người chính là một phần bản chất của họ. Họ không thể làm khác được. Chính ta cũng không làm khác được những việc ta đã làm. Từ đó, xuất hiện tâm từ bi đối với mình và với tha nhân. Đây là trí huệ. Giải quyết ở tầng trí huệ mới là giải quyết triệt để. 

Có bản đồ ý thức trong tay, người chỉ muốn làm người tốt ở thế gian có thể thanh thản buông bỏ mọi tị hiềm; và, bằng cách đó, sẽ ít bệnh tật hơn, thanh thản hơn và số phận cũng hanh thông hơn. Còn người tu luyện theo một tôn giáo hay pháp môn nào đó thì đã đi được một đoạn đường rất xa, biết bao nhiêu ý nghĩ/tâm tiêu cực đã được buông bỏ trong một thời gian cực kỳ ngắn. Ví thế mà David Hawkins nói rằng đọc cuốn sách này một cách kỹ lưỡng có thể làm cho bạn thăng tiến được 35 điểm, trong khi cuộc đời của một người bình thường chỉ làm cho họ thăng tiến được 5 điểm mà thôi.  

Tổng kết 

Với Bản đồ ý thức trong tay, bây giờ chúng ta có thể nói: nghiệp báo hay số phận là có thật, tu nhân tích đức, tu tâm cũng là có thật. Tu tâm không còn là lời răn của tôn giáo hay mê tín dị đoan nữa, mà có cơ sở “khoa học”. Tu tâm có thể giúp chúng ta thoát khỏi nghiệp bệnh và số phận mà chúng ta đã được an bài. Khoan dung, chấp nhận và từ bi với tha nhân và với chính mình cũng không còn chỉ là lời răn của các bậc chân tu, đức cao vọng trọng nữa, mà hoàn toàn có cơ sở: chúng ta không thể làm khác những gì tầng ý thức mà lúc đó chúng ta thuộc về buộc ta phải làm. Căm thù, oán hận, phê phán và ghét bỏ nên là những tình cảm và thái độ của quá khứ. 

Với Bản đồ ý thức trong tay, chúng ta biết rằng tất cả mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm tiêu cực đều không những tiếp tục níu kéo chúng ta ở tầng ý thức hiện tại, thậm chí còn lôi chúng ta xuống tầng ý thức thấp hơn; chúng làm cho chúng ta sẽ dễ bị bệnh tật hơn, đường đời sẽ có nhiều khó khăn hơn. Còn tất cả mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm tích cực đều đưa chúng ta lên tầng ý thức cao hơn. Chúng ta sẽ ít bị bệnh tật hơn, đường đời sẽ hanh thông hơn. Người khác cũng không thể nói hay làm khác những lời họ đã nói hay việc họ đã làm. Tầng ý thức của họ buộc họ phải hành xử như thế. Lên án, tức giận hay trách cứ họ thì có khác gì lên án hòn đá lăn từ trên núi xuống làm cho chúng ta bị thương. Đây là phản ứng tiêu cực, có hại cho chính ta. Khoan dung, chấp nhận hay tránh xa họ là phản ứng tích cực, lợi lạc vô cùng. Làm người tốt, thậm chí thật tốt thì chỉ cần như thế là đủ. 

Nhưng tu tâm để trở thành bậc Chứng ngộ mà người tầm đạo hướng tới là công việc cực kỳ gian nan. Gian nan vì phải từng giây từng phút, đúng hơn là, từng sát na, theo dõi tâm mình để buông bỏ/tu khứ những ý nghĩ/tâm tiêu cực, mà lại không biết bao giờ mới tới đích và không được truy cầu, vì truy cầu là thuộc về tầng Khát khao và như thế là mắc kẹt vào tầng ý thức dưới 200. Gian nan, nhưng nghe nói rằng ở cuối con đường là Chứng ngộ, là hòa tan tự thể vào Đại Ngã của vũ trụ. Quả thật là rất đáng theo. 

Chúc mọi người mọi nhà đều chọn được tôn giáo hay pháp môn tu phù hợp và tinh tấn thực tu.

 P/S: tác phẩm Power Vs Force - Trường năng lượng và những yếu tố ẩn quyết định hành vi của con người, Thaihabooks, Phạm Nguyên Trường dịch, có thể được coi là kim cổ kỳ thư; cuốn sách quan trọng nhất mà tôi đã dịch, tất cả mọi người, dù làm ngành nghề gì, dù có địa vị xã hội như thế nào cũng đều nên đọc, thậm chí đọc đi đọc lại nhiều lần. David Hawkins viết, bình thường một đời người chỉ tiến được 5 điểm, nhưng đọc tác phẩm Power vs. Force một cách kỹ lưỡng có thể làm người ta thăng tiến tới 35 điểm, tức là bằng 7 cuộc đời bình thường. Tôi sẽ còn quay lại với cuốn sách này. Giá bìa 177K. Bạn nào muốn sở hữu Inbox ĐC, ĐT ngay và luôn.