July 20, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (24- Hết)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 



VỀ TÁC GIẢ

     Tiến sĩ Hawkins là cây bút, người thầy tâm linh và diễn giả nổi tiếng thế giới về trạng thái tâm linh thăng hoa, về nghiên cứu tâm thức và Nhận ra Sự hiện diện của Chúa chính là Đại ngã.

Các tác phẩm đã xuất bản của ông cũng như các bài giảng được ghi lại đã được nhiều người công nhận là độc nhất vô nhị, theo nghĩa, nhận thức mang tính tâm linh trong một người có kiến thức khoa học và lâm sàng, rồi sau đó có thể diễn đạt bằng từ ngữ và giải thích hiện tượng bất thường này một cách rõ ràng và có thể hiểu được.

Quá trình chuyển đổi từ trạng thái mang tính bản ngã bình thường của tâm trí sang trạng thái giải thoát bởi Hiện diện Vô hạn được trình bày trong bộ ba tác phẩm Power vs. Force, được cả Mẹ Teresa ca ngợi; The Eye of the I, và I: Reality and Subjectivity, đã được dịch sang phần lớn các ngôn ngữ chính trên thế giới. Những bài điểm sách (ví dụ như trên Amazon.com) đều đánh giá 5 sao.

Các tác phẩm Truth vs. Falsehood: How to Tell the Difference (2005), Transcending the Levels of Consciousness (2006), Discovery of the Presence of God: Devotional Nonduality (2007), và Reality, Spirituality and Modern Man (2008) tiếp tục khám phá những biểu hiện và những giới hạn cố hữu của bản ngã và cách siêu việt qua chúng.

Bộ ba tác phẩm này có xuất xứ từ công trình nghiên cứu về Bản chất của tâm thức và luận án tiến sĩ, nhan đề Phân tích định tính và định lượng và hiệu chỉnh tầng thứ tâm thức của con người (Qualitative and Quantitative Analysis and Calibration of the Levels of Human Consciousness -1995), thiết lập mối tương liên giữa những lĩnh vực dường như khác hẳn nhau: khoa học và tâm linh. Đó là nhờ khám phá được kỹ thuật quan trọng mà lần đầu tiên trong lịch sử loài người đã chứng tỏ là phương tiện phân biệt sự thật với dối trá.

Tầm quan trọng của công trình đã được công nhận bằng bài điểm sách dài và với những đánh giá rất thuận lợi trên tờ Brain/Mind Bulletin và các buổi thuyết trình sau đó như Hội nghị về Khoa học và Ý thức Quốc tế (International Conference on Science and Consciousness). Nhiều bài thuyết trình đã được trình bày trước các tổ chức, hội nghị tâm linh, nhóm tôn giáo, nữ tu và nhà sư ở cả trong và ngoài nước, trong đó có Oxford Forum ở Anh. Ở Viễn Đông, tiến sĩ Hawkins được công nhận là Đạo sư của con đường dẫn đến Chứng ngộ (Tae Ryoung Sun Kak Dosa).

Phản hồi trước nhận xét của ông rằng trong nhiều thời đại, do không có người giải thích mà nhiều sự thật tâm linh đã bị hiểu lầm, tiến sĩ Hawkins đã tổ chức những buổi hội thảo hằng tháng để trình bày những giải thích chi tiết, nhưng quá dài, không thể viết thành sách. Các băng ghi âm với phần cuối là những câu hỏi và trả lời, càng làm rõ thêm vấn đề được trình bày.

Mục đích tổng thể của công trình trọn đời này là đưa trải nghiệm của con người vào bối cảnh mới, dưới dạng tiến hóa của tâm thức và hợp nhất sự hiểu biết của cả tâm trí và tâm linh như những biểu hiện của Thần tính bẩm sinh, vốn là nền tảng và cội nguồn bất tận của đời sống và Hiện hữu. Cống hiến của ông được thể hiện bằng tuyên bố “Vinh danh Thiên Chúa trên trời!”, được viết ngay trên trang đầu và trang cuối các tác phẩm của ông. 

TIỂU SỬ TÓM TẮT

Tiến sĩ Hawkins đã tham gia chữa bệnh tâm thần từ năm 1952 và là thành viên trọn đời của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ và nhiều tổ chức nghề nghiệp khác. Ông từng xuất hiện trong các chương truyền hình quốc gia, trong đó có The McNeil/Leher News Hour, The Barbara Walters Show, The Today Show, trong các phim tài liệu khoa học và nhiều chương trình khác. 

Tiến sĩ Hawkins là tác giả của nhiều bài báo, sách, đĩa CD, đĩa DVD và loạt bài giảng về khoa học và tâm linh. Ông cùng với khôi nguyên Nobel, Linus Pauling, là đồng tác giả cuốn sách mang tính bước ngoặt nhan đề Orthomolecular Psychiatry. Tiến sĩ Hawkins với kiến thức đa dạng, phong phú, trong vai trò là nhà nghiên cứu và người thày, đã có tên trong Who's Who in America Who's Who in the World. Tiến sĩ Hawkins giữ vai trò tư vấn cho các Giáo phận dòng tu Giám mục và Công giáo, cho các tu viện trong suốt nhiều năm ròng.

Tiến sĩ Hawkins thuyết trình ở nhiều nơi, trong đó có Tu viện Westminster, các trường đại học ở Argentina, đại học Notre Dame và Michigan; Đại học Fordham và Đại học Harvard; và Oxford Forum ở Anh. Hằng năm, ông thường giảng bài ở trường Đại học Y California ở San Francisco. Ông còn là cố vấn cho một số chính phủ nước ngoài về ngoại giao quốc tế và giúp giải quyết các cuộc xung đột kéo dài, đe dọa hòa bình thế giới.

 Để ghi nhận những đóng góp đối với nhân loại, năm 1995, Tiến sĩ Hawkins được Dòng Hiệp sĩ Cứu tế Toàn quyền Thánh John, thành lập từ năm 1077, phong tước Hiệp sĩ. 

ĐÔI DÒNG TỰ SỰ

     Những sự thật được thuật lại trong cuốn sách này đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học và được trình bày một cách khách quan, nhưng như mọi sự thật khác, trước hết chúng là những trải nghiệm mang tính cá nhân. Một chuỗi lần lượt các trạng thái nhận thức mạnh mẽ bắt đầu ngay từ khi tôi còn nhỏ và kéo dài suốt cả cuộc đời, rồi sau đó định hướng quá trình nhận thức chủ quan, để rồi cuối cùng hiện diện trong một loạt những cuốn sách này.

Năm tôi ba tuổi, ý thức trọn vẹn về tồn tại đột ngột xuất hiện, đó là sự hiểu biết đầy đủ, tuy không thể diễn tả thành lời, ý nghĩa của “Tôi là”, rồi ngay lập tức tôi cảm thấy sợ hãi, vì nhận ra rằng “tôi” có thể chưa bao giờ tồn tại. Đây là sự thức tỉnh trong chốc lát từ tình trạng mụ mị sang trạng thái tỉnh thức, và trong khoảnh khắc đó, cái tôi cá nhân được sinh ra và tính nhị nguyên của “Là” và “Không Là” đã xuất hiện trong nhận thức chủ quan của tôi.

Trong suốt thời thơ ấu và thời niên thiếu, nghịch lý của tồn tại và câu hỏi về thực tại của tự ngã vẫn thường xuyên làm tôi băn khoăn. Đôi lúc tự ngã cá nhân bắt đầu quay ngược trở lại vào Đại Ngã phi cá nhân lớn lao hơn, và nỗi sợ ban đầu về không-tồn-tại – nỗi sợ hãi cơ bản về hư vô lại tái xuất hiện.

Năm 1939, trong lúc đi giao báo trên con đường dài mười bảy dặm bằng xe đạp ở ngoại ô Wisconsin, vào một đêm tối trời mùa đông, nhiệt độ dưới 20 độ C, tôi gặp một trận bão tuyết cách nhà mấy dặm. Xe đạp đổ trên mặt băng, cơn gió dữ dội lôi những tờ báo khỏi cái giỏ gắn vào ghi đông và thổi chúng tung tóe khắp cánh đồng đầy tuyết. Trong bộ quần áo cứng đơ vì lạnh, tôi đã khóc vì thất vọng và kiệt sức. Để tránh gió, tôi phá lớp vỏ băng ở một bờ tuyết cao, rồi đào một cái hốc và bò vào trong đó. Chẳng bao lâu sau, tôi hết run, rồi cảm thấy ấm áp lạ thường, và sau đó là trạng thái bình yên không thể nào tả nổi. Cùng với đó, xung quanh tôi ngập tràn ánh sáng và tình yêu vô biên vô tế, không có bắt đầu cũng không có kết thúc và không tách rời khỏi bản chất của chính tôi. Khi nhận thức của tôi tan chảy vào trạng thái rực rỡ và hiện diện khắp nơi này thì cơ thể vật lý và môi trường xung quanh cũng mờ dần. Tâm trí trở nên tĩnh lặng; mọi ý nghĩ đều dừng lại. Hiện diện vô biên vô tế là tất cả những gì đang là hoặc có thể là, siêu việt mọi thời gian và không thể nào mô tả được.

Sau trạng thái phi thời gian ấy, tôi bỗng thấy có người nào đó đang lay chân mình; rồi khuôn mặt đầy lo lắng của bố tôi hiện ra. Tôi rất không muốn trở lại với thể xác và tất cả những hệ lụy kèm theo, nhưng vì tình yêu và sự đau khổ của cha tôi, Thánh linh đã thổi sinh khí và tái kích hoạt thể xác của tôi. Trong tôi này sinh lòng trắc ẩn khi thấy bố sợ tôi chết, mặc dù, ngay lúc đó, đối với tôi, khái niệm chết dường như là vô lý.

Tôi không kể lại trải nghiệm chủ quan này với bất kỳ ai, vì không có bối cảnh để mô tả nó. Hồi ấy, các trải nghiệm tâm linh thường chỉ xuất hiện trong những câu chuyện về cuộc đời của các vị thánh. Nhưng sau trải nghiệm này, tôi bắt đầu cảm thấy thực tại của thế giới được mọi người chấp nhận dường như chỉ là tạm thời; giáo lý tôn giáo truyền thống không còn ý nghĩa và, ngược đời là, tôi trở thành người theo thuyết bất khả tri. So với ánh sáng của Thánh thần đã rọi sáng lên tất cả chúng sinh, thì ánh sáng của Thiên Chúa của tôn giáo truyền thống thật ra rất mờ nhạt; do đó, trong tôi, tâm linh đã thay thế cho tôn giáo.

Trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, tôi được phân công nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm là dò mìn và đã nhiều lần chạm trán với cái chết, nhưng tôi không sợ. Như thể chết đã không còn là sự kiện có thực nữa. Sau chiến tranh, ham mê sự phức tạp của tâm trí và muốn nghiên cứu môn tâm thần học, tôi đã dốc sức để có tấm bằng y khoa. Thầy hướng dẫn tôi là nhà phân tâm học, giáo sư tại đại học Columbia, cũng là người theo thuyết bất khả tri; cả hai chúng tôi đều có quan điểm hoài nghi về tôn giáo. Công việc phân tích diễn ra thuận lợi, sự nghiệp của tôi cũng thế, và sau đó là thành công.

Tuy nhiên, con đường vào giới chuyên môn của tôi không hoàn toàn bằng phẳng. Tôi mắc phải một căn bệnh ngày càng nặng hơn, có thể dẫn tới chết người mà lúc đó chưa có biện pháp chữa trị. Năm 38 tuổi, tôi đã ở trong tình trạng vô phương cứu chữa và biết rằng mình sắp chết. Tôi không quan tâm đến thể xác, nhưng tâm hồn tôi tan nát và tuyệt vọng vô cùng. Khi thời khắc cuối cùng sắp đến, một ý nghĩ vụt lóe lên trong tâm trí tôi: “Nếu có Chúa thì sao?” Tôi bèn cầu nguyện: “Nếu có Chúa, xin Ngài hãy giúp con ngay bây giờ ”. Nếu trên đời này có một vị Chúa nào đó và đã bị quên lãng, tôi xin phó thác cho Người. Khi thức dậy, tôi bàng hoàng đến không thốt lên lời, vì phát hiện mình vừa trải qua một cuộc lột xác vĩ đại.

Con người trước đây của tôi đã hoàn toàn biến mất. Không còn bản ngã hay cái tôi cá nhân nữa, mà chỉ còn Hiện diện Vô biên Vô tế của quyền lực không giới hạn, là tất cả những gì còn lại lúc đó. Hiện diện này đã thế chỗ cho những thứ đã từng là “tôi”, thân xác và hành động của tôi là do Ý chí Vô biên Vô tế của Hiện diện điều khiển. Thế giới được soi rọi bởi ánh sáng của Nhất thể Vô biên Vô tế, khi vạn vật phát lộ trong vẻ đẹp và sự hoàn hảo vô hạn của chúng thì cũng là lúc Nhất thể Vô biên Vô tế tự biểu lộ.

            Cuộc đời cứ thế trôi, nhưng trạng thái tĩnh lặng này luôn luôn hiện diện trong tôi. Không còn ý chí cá nhân; thân xác tôi vận hành dưới sự dẫn dắt của Ý chí có quyền năng vô hạn, nhưng rất đỗi dịu dàng của Hiện diện. Trong trạng thái đó, không cần phải nghĩ về bất cứ thứ gì nữa. Tất cả sự thật đã tự hiển lộ, mà không cần khái niệm hóa hoặc thậm chí là không thể khái niệm hóa được nữa. Đồng thời, hệ thống thần kinh vật lý của tôi bị quá tải cực độ, như thể nó đang phải chuyên chở quá nhiều năng lượng so với năng lực tự nhiên của nó.

Lúc đó, tôi không thể hoạt động hiệu quả trong thế giới này. Không còn động lực bình thường, cũng không còn sợ hãi và lo lắng nữa. Không có gì để tìm kiếm nữa, vì tất cả đều hoàn hảo. Danh vọng, thành đạt và tiền bạc đều trở nên vô nghĩa. Bạn bè thúc giục tôi quay lại hoạt động trong lĩnh vực khám chữa bệnh vì mục đích thực dụng, nhưng tôi không có động lực của người bình thường để làm việc đó.

Giờ đây, tôi đã có khả năng nhận biết được thực tại ẩn bên dưới các nhân cách: các bệnh lý tâm lý đều xuất phát từ niềm tin của con người rằng họ là cá tính của mình. Với nhận thức như thế, công việc khám chữa bệnh của tôi dường như tự hồi sinh và cuối cùng trở thành phát đạt.

Bệnh nhân từ khắp mọi miền đất nước (Mỹ) tìm đến phòng khám của tôi. Lúc đó, chúng tôi đã có 2.000 bệnh nhân ngoại trú, cần phải có hơn 50 bác sĩ chuyên khoa cùng các nhân viên khác, một dãy 25 văn phòng, và các phòng thí nghiệm vừa để nghiên cứu vừa để đo điện não đồ. Mỗi năm lại có thêm 1.000 bệnh nhân mới. Ngoài ra, tôi còn xuất hiện trên đài phát thanh và các chương trình truyền hình, như đã nói bên trên. Năm 1973, nghiên cứu lâm sàng của tôi được trình bày trong một cuốn sách nhan đề Tâm thần học theo liệu pháp dinh dưỡng vi lượng. Công trình này đi trước thời đại tới 10 năm và đã gây chấn động.

Toàn thể hệ thần kinh của tôi đã dần dần được cải thiện, rồi một hiện tượng khác xuất hiện. Có một dải năng lượng ngọt ngào và cực kỳ dễ chịu liên tục chảy theo cột sống và lên não tôi, làm cho tôi luôn luôn cảm thấy vô cùng sảng khoái. Mọi thứ trong cuộc sống của tôi đều xảy ra theo lối đồng hiện, diễn tiến trong sự hài hòa hoàn hảo; cái phi thường trở thành bình thường. Cái mà thế giới gọi là phép màu là khởi nguồn từ Hiện diện, chứ không phải từ bản ngã cá nhân. Cái “tôi” cá nhân chỉ còn là nhân chứng cho những hiện tượng này. Cái “Tôi” vĩ đại hơn, sâu sắc hơn bản ngã hay những suy nghĩ trước đây của tôi, quyết định tất cả những sự kiện đã xảy ra.

Những trạng thái từng hiện hữu trong tâm trí tôi đã được nhiều người khác nhau kể lại trong suốt chiều dài của lịch sử và đã buộc tôi phải nghiên cứu những học thuyết tâm linh, trong đó có những lời dạy của Đức Phật, những giác giả đã chứng ngộ, thiền sư Hoàng Bá, và gần đây hơn như Ramana Maharshi và Nisargadatta Maharaj. Do đó, có thể khẳng định rằng, những trải nghiệm này không phải là duy nhất. Tôi đã ngộ được ý nghĩa của Chí tôn ca. Đôi khi, tôi cũng trải nghiệm được trải nghiệm xuất thần mà Sri Ramakrishna  và các vị thánh Kitô giáo từng nói tới.

Vạn vật và mọi người trên thế giới đều rực rỡ và có vẻ đẹp đầy tao nhã. Mọi sinh vật đều trở nên Rạng rỡ và thể hiện sự Rạng rỡ này trong sự tĩnh lặng và huy hoàng. Rõ ràng là, toàn thể nhân loại thực sự được thúc đẩy bởi tình yêu thầm kín, nhưng đơn giản là họ không nhận thức được; mọi người sống hầu hết cuộc đời mình như những người đang ngủ, không thức tỉnh để nhận thức được mình thực sự là người như thế nào. Những người xung quanh tôi trông như thể họ đang ngủ và vô cùng đẹp. Như thể tôi đang yêu tất cả mọi người.

Tôi cần phải chấm dứt thói quen hành thiền một giờ mỗi sáng và một giờ mỗi tối, trước khi ăn, vì thiền khuếch đại phúc lạc đến mức tôi không thể duy trì được hoạt động bình thường. Trải nghiệm tương tự như từng xảy ra trong hốc tuyết khi tôi còn bé lại tái diễn, và tôi ngày càng khó rời bỏ trạng thái đó và khó quay trở lại với thế gian hơn. Tôi nhìn thấy vẻ đẹp lạ thường của vạn vật tỏa sáng trong tất cả sự hoàn hảo của chúng, và những gì thế giới cho là xấu thì tôi lại chỉ thấy vẻ đẹp thường hằng của chúng. Tình yêu mang tính tâm linh này bao trùm mọi suy nghĩ và tất cả các ranh giới giữa đây và kia, hay giữa lúc đó và bây giờ, hoặc mọi sự tách biệt đều biến mất. Sức mạnh của Hiện diện lớn dần trong tôi trong những năm tháng đắm chìm trong sự im lặng nội tâm đó. Cuộc sống không còn mang tính cá nhân nữa, ý chí cá nhân cũng không còn. Cái “Tôi” cá nhân đã trở thành công cụ của Hiện diện Vô biên Vô tế; nó đi đây đi đó và làm theo ý chí của Hiện diện. Mọi người đều cảm thấy bình yên lạ thường trong ánh hào quang của Hiện diện. Những người cầu đạo tìm lời giải đáp cho những vấn đề của đời sống, nhưng vì không còn những người như David, họ thực sự rút ra câu trả lời từ chính Đại Ngã của mình, không khác với của tôi. Đại Ngã tỏa sáng từ đôi mắt của mỗi người.

Điều kỳ diệu, vượt xa sự hiểu biết thông thường, đã xảy ra. Nhiều bệnh mãn tính từng hành hạ cơ thể tôi trong nhiều năm đã biến mất; thị lực tự khôi phục, và tôi không còn phải sống chung với cặp kính hai tròng trọn đời nữa.

Thỉnh thoảng, trái tim tôi bất ngờ phát ra một luồng năng lượng đầy phúc lạc, một Tình thương Vô biên Vô tế về phía đang xảy ra tai họa nào đó. Một lần, trong lúc lái xe trên đường cao tốc, dòng năng lượng tinh tế này bắt đầu tuôn ra từ ngực tôi. Khi xe lượn qua một khúc cua, tôi nhìn thấy tai nạn ô tô; bánh của chiếc xe bị lật úp vẫn đang quay. Dòng năng lượng với cường độ mạnh hướng vào những người ngồi trong xe rồi sau đó tự động dừng lại. Một lần khác, khi tôi đang tản bộ ở một thành phố xa lạ, dòng năng lượng đó bắt đầu chảy tới dãy nhà ở đằng trước và tới địa điểm sắp xảy ra một trận ẩu đả. Những người tham chiến ngã ngửa và bắt đầu cười vang, và một lần nữa, dòng năng lượng dừng lại.

Nhiều lần nhận thức của tôi đột ngột trải qua những thay đổi sâu sắc trong những tình huống đầy bất ngờ. Một lần, trong lúc tôi đang ăn tối một mình tại ở nhà hàng Rothmann’s trên đảo Long Island, Hiện diện bất ngờ gia tăng đến mức mọi thứ và mọi người – từng là những thứ tách biệt trong nhận thức bình thường – tan chảy thành một thể thống nhất, phổ quát và vượt thời gian. Trong sự Tĩnh lặng bất động đó, tôi dần nhận thấy rõ ràng là không có “sự kiện” hoặc “sự vật” nào nữa và không có gì thực sự “xảy ra”, vì quá khứ, hiện tại và tương lai, kể cả vọng tưởng về một cái “Tôi” riêng biệt, hữu sinh hữu tử, cũng chỉ đơn thuần là tạo tác của nhận thức. Khi tự ngã giả tạo, giới hạn, hòa tan vào Đại Ngã phổ quát đến từ cội nguồn đích thực của nó, trong tôi dâng trào cảm giác khó tả: trạng thái bình an tuyệt đối và trút bỏ mọi ưu phiền. Chính vọng tưởng về cá tính là nguồn gốc của mọi khổ đau. Khi người ta nhận ra rằng họ là vũ trụ, toàn bộ và mãi mãi là một với Mọi thứ Đang Hiện hữu (All That Is), thì sẽ không bao giờ còn đau khổ nữa.

Bệnh nhân từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có những người tuyệt vọng nhất trong số những người tuyệt vọng, tìm đến cơ sở khám chữa bệnh của tôi. Từ các bệnh viện xa xôi, họ đến đây với bộ dạng kỳ cục, quằn quại, trong những cái chăn ẩm ướt với hy vọng chữa khỏi chứng rối loạn tâm thần nan y của mình. Một số người bị trầm cảm nặng; nhiều người không nói được trong suốt nhiều năm. Nhưng bên dưới vẻ ngoài tàn tạ đó, mỗi bệnh nhân đều toát lên bản chất đẹp đẽ và đầy yêu thương, mà người đời vì không nhận ra nên đã hoàn toàn chối bỏ họ.

Ngày nọ, một nữ bệnh nhân câm, bị trầm cảm nặng, được đưa vào bệnh viện trong tình trạng bị trói. Bệnh nhân này bị rối loạn thần kinh nghiêm trọng và không thể đứng được. Cô quằn quại trên sàn, lên cơn co giật và hai mắt trợn ngược. Mái tóc cô xổ tung, quần áo thì đã bị xé hết từ trước và cô thốt ra những tiếng gầm gừ, rợn người. Cô thuộc gia đình giàu có; cho nên cô đã được nhiều bác sĩ và chuyên gia nổi tiếng khắp thế giới thăm khám trong suốt nhiều năm trời. Người ta đã thử tất cả phương pháp nhưng vô vọng.

Một câu hỏi ngắn, không lời, xuất hiện: “Chúa ơi, Ngài muốn làm gì với cô ấy?” Sau đó, tôi nhận ra rằng cô ấy chỉ cần được yêu thương, chỉ có thế thôi. Bản ngã bên trong của cô tỏa sáng qua đôi mắt và Đại Ngã kết nối với phần cốt lõi đầy yêu thương này. Ngay trong giây phút đó, cô ấy được chữa lành vì đã nhận thức được bản chất đích thực của mình; những gì xảy đến với tâm trí hoặc thể xác của cô không còn gây phiền toái cho cô nữa.

Thực ra, hiện tượng này đã xảy ra với rất nhiều bệnh nhân. Trong mắt người đời, một số người đã bình phục, còn một số người khác thì không, nhưng đối với chính người bệnh thì việc sau đó họ có hồi phục về mặt lâm sàng hay không, không còn quan trọng nữa. Những đau khổ, dằn vặt nội tâm đã chấm dứt. Khi họ cảm thấy được yêu và bình an trong tâm hồn, mọi đau khổ đều chấm dứt. Chỉ có thể giải thích hiện tượng này bằng cách nói rằng, Tâm từ bi của Hiện diện đã đưa thực tại của bệnh nhân vào bối cảnh khác, để họ trải nghiệm được sự chữa lành ở tầng siêu việt khỏi thế gian và những biểu hiện của nó. Sự bình an bên trong – vượt trên thời gian và danh tính – của Đại Ngã ôm trọn tất cả chúng ta.

Rõ ràng là cái tôi cá nhân chứ không phải Chúa mới là nguồn gốc của mọi đau đớn và khổ sở. Sự thật này đã được truyền đạt một cách thầm lặng tới tâm trí của bệnh nhân. Một bệnh nhân trầm cảm khác, không nói trong nhiều năm, cũng bị tắc nghẽn như thế. Đại Ngã, thông qua tâm trí, đã nói với người đó: “Anh đổ lỗi cho Chúa, trong khi cái tôi của anh mới là thủ phạm”. Người bệnh nhảy cẫng lên và bắt đầu nói, trước sự sửng sốt của cô y tá đang đứng gần đó.

Công việc chữa trị ngày càng vất vả và cuối cùng trở thành quá tải. Bệnh nhân phải chờ đợi vì không có giường, mặc dù bệnh viện đã xây thêm một khu mới. Tôi cảm thấy rất thất vọng vì mỗi lần chỉ giúp được một bệnh nhân thoát khỏi được những đau khổ trần thế. Chẳng khác gì muối bỏ biển. Có lẽ cần cách giải quyết khác thì mới sửa chữa được căn nguyên của tình trạng chung này – dòng chảy bất tận của những đau khổ và đau đớn về mặt tâm linh của nhân loại.

Vì vậy, tôi bắt đầu nghiên cứu phản ứng sinh lý học (kiểm tra cơ bắp) trước các kích thích khác nhau, và đi đến một khám phá tuyệt với. Đó là “lỗ sâu” giữa hai vũ trụ  - thế giới vật chất và thế giới của tâm trí và tâm linh - giao thoa giữa các chiều kích. Trong cái thế giới chỉ toàn những người mộng mị, lạc xa khỏi cội nguồn của mình, thì đây là công cụ để hồi phục và chứng minh cho tất cả mọi người rằng, họ đã mất kết nối với thực tại cao hơn. Từ phát hiện này, tôi bắt đầu kiểm tra mọi vật chất, mọi suy nghĩ và khái niệm có thể được gợi lên trong tâm trí con người. Các sinh viên và trợ lý nghiên cứu đã giúp đỡ tôi. Và chúng tôi có một khám phá quan trọng: trong khi tất cả các đối tượng đều yếu đi khi có các kích thích tiêu cực, ví dụ, đèn huỳnh quang, thuốc trừ sâu và đường hóa học, thì những người tu tập theo các trường phái tâm linh đã vươn tới tầng nhận thức cao hơn không phản ứng yếu như những người bình thường khác. Một sự chuyển dịch quan trọng và dứt khoát đã diễn ra trong tâm thức của họ. Dường như họ nhận thức được rằng, chỉ những gì tâm trí tin tưởng thì mới tác động được tới mình, thế giới trần tục không thể chi phối được họ nữa. Có lẽ bằng cách chỉ ra quá trình thăng tiến của nhận thức để đạt đến chứng ngộ, chúng ta có thể giúp con người gia tăng khả năng chống lại những thăng trầm của cuộc đời, kể cả bệnh tật.

Chỉ cần tưởng tượng về những thay đổi là Đại Ngã đã có khả năng thay đổi mọi thứ trên thế giới; mỗi lần lấy Yêu thương thay thế cho thù hận là một lần Yêu thương thay đổi thế giới. Tập trung sức mạnh của tình yêu vào một điểm cụ thể nào đó, chúng ta có thể tạo ra những biến đổi sâu sắc đối với toàn bộ tiến trình văn minh. Mỗi khi xảy ra sự kiện như thế, lịch sử đều chia thành hai ngả.

Bây giờ, dường như tôi không chỉ có thể nói những hiểu biết quan trọng này cho thế giới nghe, mà còn có thể chứng minh một cách rõ ràng và không thể bác bỏ được. Dường như bi kịch lớn nhất của kiếp người từ trước đến nay là đời sống nội tâm (psyche[i]) quá dễ bị đánh lừa; khi con người không thể phân biệt được thật giả thì hệ quá tất yếu sẽ là bất hòa và xung đột. Đưa bản chất của chính tâm thức vào bối cảnh khác và giải thích điều tưởng chừng như chỉ có thể phỏng đoán là câu trả lời cho tình thế tiến thoái lưỡng nan này.

Đã đến lúc tôi cần rời bỏ cuộc sống ở New York – một căn hộ ở thành phố và ngôi nhà trên đảo Long Island – để làm một cái gì đó quan trọng hơn. Cần phải tự hoàn thiện mình như một công cụ. Để làm được như thế, phải rời bỏ thế giới này và mọi thứ trong đó, thay thế nó bằng đời sống ẩn dật trong một thị trấn nhỏ, nơi tôi hành thiền và nghiên cứu suốt bảy năm liền.

Trạng thái phúc lạc choáng ngợp tự ập tới, và cuối cùng, tôi thấy cần phải học cách sống trong Hiện diện Thiêng liêng mà vẫn hoạt động được trong thế giới này. Nói chung, tâm trí tôi đã không còn biết những gì đang xảy ra trên thế giới bên ngoài. Để có thể nghiên cứu và viết sách, tôi cần dừng tất cả hoạt động tâm linh và tập trung vào thế giới hình tướng. Đọc báo và xem tivi giúp tôi nắm được các nhân vật, các sự kiện chính và bản chất của cuộc đối thoại của xã hội hiện thời.

Trừ những người cầu đạo, phần lớn nhân loại không hiểu được những trải nghiệm chủ quan phi thường về sự thật, và do đó, không thấy được trọn vẹn ý nghĩa của nó; đó là lĩnh vực của các nhà huyền môn, họ thường tác động tới toàn thể nhân loại bằng cách đưa năng lượng tâm linh vào tâm thức tập thể. Vì vậy, tôi cố gắng sống như một người bình thường, vì sống như một người bình thường, tự nó, đã là biểu hiện của Thần tính; cuộc sống thường nhật là con đường giúp chúng ta khám phá sự thật về tự ngã thực sự của mình. Chỉ cần sống một cách tử tế và quan tâm. Phần còn lại sẽ tự hiển lộ vào đúng lúc cần hiển lộ. Cái tầm thường và Chúa nào có khác gì nhau.

Và như thế, sau khi trải qua cuộc hành trình tâm linh kéo dài, tôi đã quay trở lại với công việc quan trọng nhất: cố gắng đem Hiện diện tiến gần hơn đến ngưỡng nhận thức của càng nhiều người thì càng tốt.

Hiện diện là tĩnh lặng, Nó truyền tải trạng thái bình an, vốn là không gian, trong đó và nhờ đó, vạn vật mới hiện hữu; mới tồn tại và trải nghiệm. Nó vừa dịu dàng vô hạn vừa cứng chắc như một tảng đá. Với Nó, mọi nỗi sợ hãi đều biến mất. Hỷ lạc tâm linh xuất hiện như một trạng thái xuất thần tĩnh lặng, không có nguyên nhân và không thể giải thích. Vì trải nghiệm về thời gian ngưng lại, cho nên không còn e sợ hay hối tiếc, không còn đau đớn hoặc hy vọng; nguồn vui là bất tận và vĩnh hằng. Không có bắt đầu, cũng không có kết thúc, cho nên cũng không có mất mát, đau buồn hoặc khát vọng. Không cần phải làm gì; mọi thứ đều đã hoàn hảo và trọn vẹn.

Khi thời gian dừng lại, mọi vấn đề đều biến mất; chúng chỉ đơn thuần là tạo tác của tri giác. Khi Hiện diện giữ thế thượng phong, người ta sẽ không còn đồng nhất mình với thể xác hay tâm trí nữa. Khi tâm trí trở nên tĩnh lặng, ý nghĩ “Tôi là” cũng biến mất, và Nhận thức Thuần túy tỏa sáng để soi rọi bản chất của chúng ta trong quá khứ, hiện tai và mãi mãi về sau, vượt trên mọi thế giới và mọi vũ trụ, vượt thời gian, và do đó, không có khởi đầu hoặc kết thúc.

Người ta thường tự hỏi: “Làm sao đạt được trạng thái nhận thức như thế?”, nhưng ít người tuân thủ quy trình vì chúng quá đơn giản. Trước hết, họ phải rất khát khao trạng thái đó. Sau đó phải sống thật vị tha và tử tế – liên tục và trong mọi hoàn cảnh, không có ngoại lệ. Họ phải thể hiện lòng từ bi đối với mọi thứ, trong đó có từ bi với chính mình và những ý nghĩ của mình. Tiếp theo, họ phải sẵn sàng gác lại mọi khát vọng và từ bỏ ý chí cá nhân tại mọi thời khắc. Mỗi lần ý nghĩ, cảm thọ, ước muốn hoặc hành động được phó thác cho Chúa, là một lần tâm trí càng trở nên tĩnh lặng thêm. Ban đầu, việc này sẽ giải phóng khỏi tâm trí người ta toàn bộ câu chuyện và đoạn văn, sau đó thì đến các ý tưởng và khái niệm. Khi buông bỏ mong muốn sở hữu những suy nghĩ này, thì chúng không còn gắn kết chặt chẽ như vậy nữa, mà bắt đầu trở nên rời rạc ngay từ khi mới manh nha. Cuối cùng, người ta có thể đảo ngược năng lượng đằng sau mỗi ý nghĩ trước khi nó trở thành ý nghĩ thực sự.

Phải liên tục và không ngừng giữ chánh niệm như thế, thậm chí không được xao lãng dù chỉ trong khoảnh khắc, trong khi vẫn hoạt động bình thường. Thời gian đầu, việc này dường như là rất khó, nhưng rồi sẽ trở thành thói quen, tự động, ngày càng cần ít nỗ lực hơn, và cuối cùng, chẳng cần cố gắng gì hết. Tương tự như quả tên lửa được bắn lên vũ trụ. Lúc đầu, cần phải có lực đẩy rất lớn, nhưng sau đó, càng cách xa trường hấp dẫn của trái đất bao nhiêu thì càng cần ít lực đẩy bấy nhiêu và cuối cùng, nó di chuyển trong không gian bằng động lượng của chính mình.

Và rồi, đột nhiên, nhận thức của người ấy bất ngờ thay đổi, Hiện diện đã ở đó, không thể nhầm lẫn và bao trùm lên tất cả. Họ sẽ e sợ trong giây lát, khi tự ngã cá nhân chết đi, và sau đó, cái tuyệt đối của Hiện diện sẽ làm lóe lên tia chớp kinh ngạc. Cú đột phá này vô cùng ngoạn mục, mãnh liệt hơn tất cả những hiện tượng mà người ta từng gặp trước đó. Không có trải nghiệm thông thường nào có thể so sánh được. Nhưng tình yêu vốn luôn luôn có mặt cùng với Hiện diện sẽ giúp giảm nhẹ cú sốc sâu sắc này. Họ sẽ bị hủy diệt nếu không có sự nâng đỡ và bảo vệ của tình yêu đó.

Sau đó là một khoảnh khắc kinh hoàng, khi bản ngã tìm mọi cách để tồn tại, vì nó sợ rằng sẽ trở thành hư vô. Nhưng không, khi nó chết đi, thế chỗ cho nó sẽ là Đại Ngã, hiện thân của Vạn vật, của Toàn thể, trong đó vạn vật đều được nhận diện và đều rõ ràng trong biểu hiện hoàn hảo của chính bản chất của chúng. Cùng với việc trở thành phi định xứ, người ta cũng nhận ra rằng mình là tất cả những gì đã từng hiện hữu hoặc có thể hiện hữu. Họ là toàn thể và hoàn chỉnh, vượt trên mọi danh tính, vượt trên mọi giới tính, thậm chí vượt trên cả bản tính người. Họ sẽ không bao giờ sợ đau khổ và chết chóc nữa.

Kể từ thời điểm này, chỉ còn những thứ phi vật chất là tác động được tới thân xác mà thôi. Ở những tầng nhận thức tâm linh nhất định, bệnh tật của thân xác được chữa lành hoặc tự biến mất. Nhưng ở trạng thái tuyệt đối, những suy nghĩ như thế không còn phù hợp nữa. Thân xác sẽ đi theo tiến trình được dự đoán trước của nó, rồi sau đó sẽ quay trở lại cội nguồn của nó. Vấn đề này không quan trọng; người đó không bị ảnh hưởng. Thể xác hiện ra như “nó” chứ không còn là “tôi”, như một đối tượng khác, như món đồ gỗ trong phòng. Buồn cười là mọi người vẫn coi thể xác đó như thể đó là con người “bạn”, nhưng bạn không thể nào giải thích trạng thái nhận thức này cho người không có hiểu biết về nó. Tốt nhất là, nên tiếp tục công việc của mình và để cho Chúa tiến hành điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, một khi đạt được phúc lạc, người ta khó lòng che giấu được trạng thái ngây ngất cực độ này. Cả thế giới có thể bị lóa mắt, và người từ khắp nơi có thể đến để bước vào vòng hào quang của nó. Người đó có sức cuốn hút những người cầu đạo và những người tò mò về thế giới tâm linh, cũng như những người bị bệnh nan y đang tìm kiếm phép màu. Người đó có thể trở thành một thỏi nam châm và nguồn vui cho những người kia. Thường thì lúc đó, người ấy sẽ mong muốn chia sẻ trạng thái này với mọi người và dùng nó để mang lại lợi ích cho nhân quần.

Nhưng cơn ngây ngất ban đầu này không trường tồn tuyệt đối; có những khoảnh khắc đau đớn tột cùng. Cơn đau mãnh liệt nhất xuất hiện khi trạng thái này dao động và đột ngột biến mất mà chẳng có lý do rõ ràng nào. Những lúc như thế, người này sẽ rơi vào trạng thái tuyệt vọng cùng cực, họ sợ rằng mình bị Hiện diện bỏ rơi. Những cú rớt ngã này làm cho con đường tâm linh của họ trở nên gian nan, và phải có ý chí rất mạnh mẽ thì mới vượt qua được. Cuối cùng, họ nhận thức được rõ ràng, rằng phải vượt qua tầng này hoặc vĩnh viễn đau khổ vì “bị rớt xuống”. Sau đó, họ phải từ bỏ vẻ huy hoàng của cơn ngây ngất để thực hiện nhiệm vụ cực kỳ khó khăn: siêu việt tính nhị nguyên cho đến khi thoát khỏi tất cả các đối nghịch cùng các lực kéo xung khắc nhau của chúng. Tuy nhiên, nếu từ bỏ cái xích sắt của bản ngã là sướng, thì từ bỏ cái xích vàng của niềm vui ngây ngất lại hoàn toàn khác. Người đó cảm thấy như đang từ bỏ Chúa, và trong họ khởi lên mức độ sợ hãi mới, chưa từng có. Đây là nỗi kinh hoàng cuối cùng của đơn độc tuyệt đối.

Về phần bản ngã, nó khiếp đảm trước viễn cảnh nó không tồn tại, và mỗi lần trạng thái ấy cận kề là nó đều co rúm lại. Lúc đó mới thấy rõ mục đích của những khổ đau và những đêm tối của linh hồn. Chúng gây ra những đau đớn mãnh liệt đến mức buộc người ta phải nỗ lực đến tận cùng để vượt qua chúng. Khi sự chao đảo giữa thiên đường và địa ngục trở nên không thể chịu đựng được, người đó phải từ bỏ chính niềm khát khao được tồn tại. Chỉ làm xong việc đó, thì cuối cùng, họ mới không còn phân biệt giữa cái Toàn thể và Hư vô, tồn tại và không tồn tại. Đỉnh điểm hành trình tâm linh này – cũng là giai đoạn khó khăn nhất, bước ngoặt cuối cùng – là khi người đó nhận thức rõ ràng, rằng vọng tưởng về sự tồn tại mà họ vượt qua là bất khả vãn hồi. Không thể quay lại được nữa, và chính nỗi ám ảnh về sự bất khả vãn hồi này làm cho chướng ngại cuối cùng này dường như là sự lựa chọn khó khăn hơn hết thảy.

Nhưng trên thực tế, trong sự tận diệt cuối cùng của tự ngã, sự tan rã của tính nhị nguyên duy nhất còn lại là tồn tại và không tồn tại – tức bản thân danh tính – sẽ tan biến vào trong Thần tính Phổ quát, và không có ý thức cá nhân nào còn lại để lựa chọn nữa. Lúc đó, Chúa sẽ định đoạt bước đi cuối cùng.

 

—        David R. Hawkins

 



[i] Psyche - Nội tâm. Trong bản dịch này, Psyche được dịch là Nội tâm hoặc đời sống nội tâm, tùy theo ngữ cảnh.

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, psyche nguyên nghĩa là "linh hồn" hay "sinh mệnh". Tuy nhiên, trong tâm lý học hiện đại và trong cách sử dụng của David R. Hawkins, thuật ngữ này không đồng nghĩa với Soul (Linh hồn) mà chỉ toàn bộ đời sống nội tâm của con người, bao gồm suy nghĩ, cảm xúc, ký ức, niềm tin, các khuynh hướng vô thức và những tiến trình tâm lý. Vì vậy, trong bản dịch này, Psyche được chuyển ngữ là Nội tâm hoặc đời sống nội tâm để phân biệt với Mind (Tâm trí), Soul (Linh hồn) và Consciousness (Tâm thức).

Xin lưu ý: Psyche khác với Psychic (Ngoại cảm/Cận tâm lý), là thuật ngữ chỉ các hiện tượng hoặc khả năng vượt ngoài giác quan.

July 19, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (23)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 


PHỤ LỤC A

 

BẢN ĐỒ TÂM THỨC

 

 

Quan điểm về Chúa

Quan điểm về cuộc đời

Tầng

Logarit

Cảm xúc

Quá trình

Đại ngã

Đang là

Chứng ngộ

700-1000

Không nói lên lời

Tâm thức thuần túy

Vạn hữu

Hoàn hảo

An bình

600

Phúc lạc

Ngộ đạo

Độc nhất

Đầy đủ

Niềm vui

540

An bình

Biến hình kỳ diệu

Yêu thương

Nhân từ

Tình yêu

500

Tôn kính

Mặc khải

Thông thái

Có ý nghĩa

Lý trí

400

Thấu hiểu

Trừu tượng hóa

Khoan dung

Hài hòa

Chấp nhận

350

Tha thứ

Siêu việt

Truyền cảm hứng

Hy vọng

Sẵn sàng

310

Lạc quan

Mục đích

Trao khả năng

Thỏa mãn

Trung dung

250

Tin tưởng

Giải phóng

Cho phép

Khả thi

Can đảm

200

Khẳng định

Trao quyền

Bàng quan

Đòi hỏi

Kiêu hãnh

175

Khinh khi

Thổi phồng

Hiềm khích

Đối kháng

Tức giận

150

Thù hận

Hung hăng

Từ chối

Thất vọng

Ham muốn

125

Thèm muốn

Nô dịch hóa

Trừng phạt

Kinh khiếp

Sợ hãi

100

Lo âu

Thoái lui

Khinh bỉ

Bi kịch

U sầu

75

Tiếc nuối

Chán nản

Chỉ trích

Vô vọng

Thờ ơ

50

Tuyệt vọng

Từ bỏ

Thù oán

Xấu xa

Mặc cảm tội lỗi

30

Trách móc

Hủy hoại

Miệt thị

Khốn khổ

Nhục nhã

20

Nhục nhã

Trừ khử

© The Institute for Spiritual Research, Inc., dba/ Veritas Publishing.

This chart cannot be reproduced.

 

 

 

PHỤ LỤC B 

QUY TRÌNH KIỀM TRA CƠ BẮP

Thông tin tổng quát

Trường năng lượng của tâm thức có vô số chiều kích. Một số tầng cụ thể tương quan với tâm thức của con người được hiệu chỉnh từ 1 đến 1.000. (Xem Phụ lục A: Bản đồ tâm thức). Những trường năng lượng này phản ánh và thống trị tâm thức của con người.

Vạn vật trong vũ trụ đều phát ra một tần số cụ thể hoặc trường năng lượng cực nhỏ vĩnh viễn được lưu lại trong lĩnh vực tâm thức. Do đó, mỗi người hoặc sinh vật đã từng sống và bất cứ điều gì liên quan đến họ, bao gồm bất kỳ sự kiện, suy nghĩ, việc làm, cảm giác hoặc thái độ nào đều được vĩnh viễn ghi lại và có thể được truy xuất tại bất kỳ thời điểm nào trong hiện tại hoặc tương lai. 

Kỹ thuật

Phản ứng kiểm tra cơ là phản ứng “có” hoặc “không có” (không) trước một tác nhân kích thích cụ thể nào đó. Kiểm tra bằng cách bảo đối tượng đưa thẳng cánh tay ra đằng trước, người kiểm tra dùng hai ngón tay ấn nhẹ xuống cổ tay của cánh tay đang đưa ra của đối tượng. Thường thì tay kia của đối tượng cầm chất cần kiểm tra và đặt lên vùng bụng ở phía dưới xương sườn (solar plexus – đám rối dương). Người kiểm tra nói với đối tượng kiểm tra: “Chống lại ”, nếu chất được kiểm tra có lợi cho đối tượng, cánh tay sẽ mạnh mẽ, tức là khó ấn xuống. Nếu nó không có lợi hoặc nó có tác dụng ngược, cánh tay sẽ yếu đi, tức là dễ bị ấn xuống. Phản ứng diễn rất nhanh.

Quan trọng cần lưu ý là ý định của cả người kiểm tra và người được kiểm tra đều phải có điểm hiệu chỉnh trên 200 thì phản ứng mới chính xác.

Kinh nghiệm từ các nhóm thảo luận trực tuyến cho thấy, nhiều nhà nghiên cứu thu được kết quả không chính xác. Nghiên cứu thêm cho thấy, ở điểm 200, vẫn có 30% khả năng bị lỗi. Tầng tâm thức của nhóm kiểm tra càng cao thì kết quả càng chính xác. Tốt nhất là những người tham gia đều có thái độ vô tư, tuyên bố trước khi nói ra điểm hiệu chính như sau: “Nhân danh điều tốt đẹp nhất, … hiệu chỉnh là đúng. Hơn 100, hơn 200”, v.v.. Việc đặt cuộc kiểm tra vào bối cảnh “nhân danh điều tốt đẹp nhất” làm gia tăng mức độ chính xác, vì nó siêu việt mọi lợi ích và động cơ tư lợi cá nhân.

Suốt nhiều năm, người ta đều nghĩ rằng bài kiểm tra này chỉ là phản ứng cục bộ của hệ thống kinh mạch hoặc hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nhưng, một công trình nghiên cứu sau này đã tiết lộ rằng phản ứng đó hoàn toàn không phải là phản ứng cục bộ với cơ thể, mà là phản ứng tổng thể của bản thân tâm thức đối với năng lượng của một chất hoặc một lời tuyên bố. Cái gì đúng, cái gì có lợi hoặc hỗ trợ đời sống thì tạo ra phản ứng tích cực, xuất phát từ khu vực phi cá nhân của tâm thức, vốn hiện diện trong tất cả mọi người đang sống. Cơ bắp trong cơ thể mạnh lên chứng tỏ rằng phản ứng là tích cực. Đồng tử cũng có phản ứng (dối trá thì đồng tử giãn ra và thật sự thì đồng tử co lại), chụp ảnh cộng hưởng từ cũng phát hiện được thay đổi trong chức năng của não bộ. (Để cho tiện, người ta thường dùng cơ delta làm cơ chỉ thị; tuy nhiên, có thể sử dụng bất kỳ cơ nào).

Trước khi đưa ra câu hỏi (dưới dạng một lời tuyên bố), cần xin phép; tức là nói: “Tôi xin phép hỏi về những điều tôi đang nghĩ”(Có/Không). Hoặc: “Công cuộc hiệu chỉnh này nhằm phục vụ cho những điều cao cả nhất”.

Nếu lời tuyên bố là sai hoặc một chất mà đối tượng đang cầm có hại, thì các cơ bắp yếu đi một cách nhanh chóng nhằm phản ứng trước mệnh lệnh: “Chống lại”. Kết quả này chứng tỏ rằng tác nhân kích thích là tiêu cực, không đúng sự thật, phản sự sống hoặc câu trả lời là “không”. Phản ứng diễn ra rất nhanh. Sau đó, cơ thể sẽ hồi phục nhanh chóng và cơ bắp căng lên như bình thường.

Có ba cách kiểm tra. Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu và cũng thường được sử dụng nhất cần hai người: người kiểm tra và đối tượng được kiểm tra. Không gian nên yên tĩnh và không có nhạc nền. Đối tượng được kiểm tra nhắm mắt lại. Người kiểm tra phải đưa ra câu hỏi dưới dạng một lời tuyên bố. Phản ứng của cơ bắp chính là câu trả lời “có” hoặc “không”. Ví dụ, không được hỏi: “Đây có phải là một con ngựa khỏe mạnh không?” Mà phải nói: “Con ngựa này khỏe”, hoặc ngược lại: “Con ngựa này ốm yếu”.

Sau khi đưa ra tuyên bố, người kiểm tra nói với đối tượng kiểm tra đang đang đưa thẳng cánh tay song song với mặt đất: “Chống lại”. Người kiểm tra ấn nhanh và nhẹ hai ngón tay lên cổ tay của cánh tay đang đưa ra. Cánh tay của đối tượng kiểm tra giữ chắc là “có”, còn yếu đi là “không có” (không). Phản ứng xảy ra ngay tức thì.

Phương pháp thứ hai gọi là vòng chữ O, một người cũng có thể làm được. Cong ngón cái và ngón giữa trên cùng một bàn tay thành hình chữ O, rồi níu chặt vào nhau. Sau đó móc ngón trỏ của bàn tay kia vào vòng O và tìm cách kéo hai ngón tay ra xa nhau. Lực giữa phản ứng “có” và “không” khác nhau đáng kể (Rose, 2001).

Phương pháp thứ ba là phương pháp đơn giản nhất, nhưng cũng như các phương pháp còn lại, đòi hỏi phải luyện tập thì mới thành thục. Chỉ cần nâng một vật nặng, ví dụ, cuốn từ điển dày hoặc vài viên gạch, từ mặt bàn lên tới thắt lưng. Nghĩ về một hình ảnh hoặc câu nói đúng cần tính điểm, rồi nâng vật nặng kia lên. Sau đó, ngược lại, nghĩ về một điều gì đó đã biết trước là sai. Để ý rằng, khi sự thật hiện lên trong tâm trí thì có thể nâng vật nặng một cách nhẹ nhàng, nhưng khi nghĩ đến cái sai (không đúng) thì phải cần nhiều sức hơn. Có thể dùng hai phương pháp đã nói bên trên để kiểm tra kết quả. 

Hiệu chỉnh điểm của các tầng cụ thể

Điểm tới hạn giữa tích cực và tiêu cực, giữa đúng và sai, hoặc giữa cái mang tính xây dựng và cái phá hủy, nằm ở tầng 200 (xem Bản đồ tâm thức trong Phụ lục A). Bất kỳ cái gì trên 200 điểm, hoặc đúng, đều làm cho đối tượng khỏe lên; bất kỳ cái gì dưới 200 điểm, hoặc sai, đều làm cho cánh tay yếu đi.

Bất cứ điều gì trong quá khứ hoặc hiện tại, trong đó có hình ảnh hoặc lời tuyên bố, các sự kiện lịch sử, các nhân vật quan trọng, đều có thể được kiểm tra mà không cần phát biểu thành lời. 

Hiệu chỉnh bằng con số

Ví dụ: “Lời dạy của Ramana Maharshi đạt hơn 700 điểm”. (Có/Không). Hoặc: “Hitler đạt hơn 200 điểm” (Có/Không). “Khi ông ta ngoài 20 tuổi”. (Có/Không). “Ngoài 30”. (Có/Không). “Ngoài 40”. (Có/Không). “Khi ông ta chết?” (Có/Không). 

Ứng dụng

Không thể dùng bài kiểm tra cơ bắp đề đoán định tương lai; nếu không, câu hỏi sẽ trở thành vô cùng vô tận. Tâm thức không có giới hạn về thời gian và không gian; tuy nhiên, có thể không được phép hỏi. Tất cả các sự kiện trong hiện tại hoặc trong quá khứ đều có thể hỏi. Câu trả lời là phi cá nhân và không phụ thuộc vào hệ thống niềm tin của cả người kiểm tra lẫn đối tượng được kiểm tra. Ví dụ, nguyên sinh chất rút lui khỏi các tác nhân kích thích độc hại và thịt chảy máu. Đó là những phẩm chất của những vật liệu dùng cho kiểm tra và chúng đều phi cá nhân. Tâm thức thực sự chỉ biết mỗi sự thật, vì chỉ có sự thật mới thực sự tồn tại. Tâm thức không phản ứng trước giả dối, vì giả dối không tồn tại trong Thực tại. Tâm thức cũng sẽ không phản hồi chính xác trước những câu hỏi không chính trực hoặc vị kỷ.

Nói một cách chính xác, phản ứng của bài kiểm tra chỉ đơn thuần là “bật” hoặc “không bật”. Tương tự như công tắc điện, chúng ta nói rằng điện đang “bật” và khi chúng ta sử dụng thuật ngữ “tắt”, chúng ta chỉ muốn nói rằng không có điện. Trên thực tế, không có gì gọi sự-tắt. Đây là tuyên bố tinh tế, nhưng quan trọng sống còn đối với việc nắm bắt bản chất của tâm thức. Tân thức có khả năng nhận biết điều duy nhất là Sự thật. Nó chỉ đơn giản là không thể phản ứng trước giả dối. Tương tự như thế, một tấm gương chỉ phản chiếu hình ảnh khi có đối tượng để phản chiếu. Nếu không có đối tượng đứng trước gương thì không có hình ảnh phản chiếu trong gương. 

Hiệu chỉnh điểm cho một tầng

Các tầng đã hiệu chỉnh có quan hệ với thang tham chiếu cụ thể. Để có các số liệu tương tự như trong Phụ lục A, phải tham chiếu bảng đó hoặc đưa ra một tuyên bố kiểu như: “Trên thang tâm thức của con người từ 1 đến 1.000, trong đó 600 là Chứng ngộ, _______ đạt trên _______ (đưa ra một con số)”. Hoặc: “Trên thang tâm thức trong đó 200 là tầng Sự thật và 500 là tầng Tình yêu, thì tuyên bố này đạt trên…” (đưa ra một con số). 

Thông tin tổng quát

Mọi người, nhìn chung, muốn phân biệt thật và giả. Vì thế, tuyên bố phải rất cụ thể. Tránh sử dụng các thuật ngữ chung chung, như công việc “tốt”, có thể xin vào làm. “Tốt” theo nghĩa nào? Mức lương? Điều kiện làm việc? Cơ hội thăng tiến? Cấp trên công tâm? 

Thuần thục

Thường xuyên làm kiểm tra thì sẽ thuần thục dần. Những câu hỏi phù hợp và hầu như chính xác một cách kỳ lạ bắt đầu tuôn ra như suối. Nếu người kiểm tra và đối tượng được kiểm tra làm việc cùng nhau trong một khoảng thời gian nào đó, thì một người hoặc cả hai sẽ dần hình thành khả năng định vị chính xác một cách đáng kinh ngạc những câu hỏi cần phải hỏi, ngay cả khi cả hai người đều không biết trước đề tài được kiểm tra. Ví dụ, người kiểm tra đánh mất một vật và bắt đầu bằng câu: “Tôi để nó trong văn phòng của mình” (Trả lời: Không). “Tôi để trong ô tô” (Trả lời: Không). Đột nhiên, đối tượng kiểm tra gần như nhìn thấy vật đó và nói: “Hỏi đi, nó ở phía sau cửa nhà vệ sinh”. Người kiểm tra nói: “Vật đó đang treo ở phía sau cửa nhà vệ sinh” (Trả lời: Có). Trong tình huống thực này, đối tượng kiểm tra thậm chí không biết rằng người kiểm tra đã dừng xe để đổ xăng và treo áo khoác trong phòng vệ sinh của trạm xăng.

Có thể lấy được thông tin về bất cứ thứ gì, ở bất kỳ đâu trong thời gian hoặc không gian, hiện tại hoặc quá khứ. Vấn đề là câu hỏi có được chấp thuận hay không mà thôi. (Đôi khi “không” được chấp thuận, có lẽ do nghiệp hoặc những lý do không biết khác). Bằng cách kiểm tra chéo, có thể dễ dàng khẳng định mức độ chính xác. Những người học được kỹ thuật này sẽ ngay lập tức thu được nhiều thông tin hơn hẳn những thông tin chứa trong tất cả các máy tính và thư viện trên toàn thế giới. Trước mắt họ sẽ mở ra vô vàn khả năng và triển vọng đầy ấn tượng. 

Hạn chế

Kết quả kiểm tra chỉ chính xác nếu bản thân các đối tượng kiểm tra có điểm trên 200 và dùng cho mục đích chính trực, có điểm trên 200. Điều này đòi hỏi tính khách quan, không dính chấp và nhất quán với sự thật, chứ không phải là ý kiến chủ quan. Vì vậy, việc cố gắng chứng minh một quan điểm sẽ cho kết quả không chính xác. Do những nguyên nhân còn bí ẩn mà có những người không thể dùng bạn đời của mình làm đối tượng kiểm tra và có thể phải tìm người thứ ba để hợp tác.

Điều kiện để một người trở thành đối tượng kiểm tra là cánh tay của người đó phản ứng mạnh khi nghĩ đến một vật hoặc người đáng yêu, và yếu đi nếu nghĩ về cái tiêu cực (sợ hãi, ghét bỏ, tội lỗi, v.v..) (ví dụ, Winston Churchill làm cho cánh tay mạnh lên, còn Osama bin Laden làm cho cánh tay yếu đi).

Đôi khi, một đối tượng kiểm tra phù hợp vẫn có phản ứng ngược. Có thể xóa bỏ hiện tượng này bằng cách đấm vào tuyến ức. (Nắm bàn tay lại, đập mạnh ba lần vào phía trên xương ức, mỉm cười, nói “ha ha ha” và mường tượng một người nào đó hoặc một cái gì đó đáng yêu). Sự mất cân bằng tạm thời sẽ biến mất.

Mất cân bằng có thể là do đối tượng mới tiếp xúc với người tiêu cực, nghe nhạc rock heavy metal, xem các chương trình truyền hình bạo lực, chơi trò chơi điện tử bạo lực, v.v. Hiệu ứng độc hại mà năng lượng của âm nhạc tiêu cực gây ra cho hệ thống năng lượng của cơ thể còn kéo dài tới nửa tiếng đồng hồ sau khi nhạc đã tắt. Các chương trình quảng cáo trên truyền hình hoặc trên tivi cũng là nguồn năng lượng tiêu cực thường gặp.

Như đã nhận xét bên trên, phương pháp phân biệt giả/thật và các tầng của sự thật được hiệu chỉnh có những yêu cầu rất nghiêm ngặt. Do những hạn chế này, trong cuốn Truth vs. Falsehood chúng tôi đã cung cấp điểm của các tầng để độc giả dễ dàng tham khảo. 

Giải thích

Việc kiểm tra sức mạnh của cơ bắp hoàn toàn độc lập với ý kiến hay niềm tin cá nhân và là phản ứng phi cá nhân của trường tâm thức; hệt như chất nguyên sinh, các phản ứng của nó cũng không có tính cá nhân. Đối tượng kiểm tra có phản ứng giống nhau, dù đề tài kiểm tra được diễn đạt bằng lời hay chỉ nghĩ thầm trong đầu là minh chứng cho nhận định vừa nêu. Như vậy là, câu hỏi không có tác động gì tới đối tượng kiểm tra, họ thậm chí không biết đấy là gì. Để chứng minh, xin làm bài kiểm tra sau đây:

Người kiểm tra nghĩ tới hình ảnh mà đối tượng kiểm tra không biết và tuyên bố: “Hình ảnh tôi đang nghĩ tới là tích cực” (hoặc “là đúng” hoặc “đạt trên 200 điểm”, v.v.). Theo hướng dẫn của người kiểm tra, đối tượng kiểm tra phản ứng lại lực đang ấn xuống cổ tay mình. Nếu người kiểm tra nghĩ đến hình ảnh tích cực (ví dụ, Abraham Lincoln, Chúa Jesus, Mẹ Teresa, v.v.), thì cơ cánh tay của đối tượng kiểm tra sẽ mạnh lên. Nếu người kiểm tra nghĩ tới một lời tuyên bố dối trá hay hình ảnh tiêu cực (ví dụ, bin Laden, Hitler, v.v.) thì cánh tay sẽ yếu đi. Do đối tượng kiểm tra không biết người kiểm tra nghĩ gì, cho nên niềm tin cá nhân không ảnh hưởng tới kết quả kiểm tra. 

Những người không đủ tiêu chuẩn tham gia

Cả thái độ hoài nghi (160 điểm) và nhạo báng, cũng như vô thần, đều có điểm hiệu chỉnh dưới 200 vì chúng thể hiện định kiến tiêu cực. Ngược lại, việc tìm tòi thực sự đòi hỏi một tâm hồn cởi mở và trung thực, không có thái độ kiêu căng về trí tuệ. Những công trình nghiên cứu mang tính tiêu cực về phương pháp luận của phép kiểm tra này, cũng như những người thực hiện chúng, đều có điểm hiệu chỉnh chưa tới 200 (thường ở 160).

Một người bình thường có thể ngạc nhiên nếu biết rằng, thậm chí các giáo sư nổi tiếng cũng có thể và thực sự có điểm hiệu chính dưới 200. Như vậy là, các công trình nghiên cứu mang tính tiêu cực là hệ quả của thành kiến tiêu cực. Ví dụ, đề cương nghiên cứu của Francis Crick dẫn đến khám phá ra mô hình xoắn kép của DNA đạt 440 điểm. Song đề cương nghiên cứu mới đây của ông nhằm chứng minh rằng tâm thức chỉ là sản phẩm của hoạt động thần kinh chỉ đạt 135 điểm. (Crick là người vô thần).

Thất bại của các nhà nghiên cứu hoặc đề án nghiên cứu sai lầm có điểm hiệu chỉnh dưới 200 (thường là 160) càng khẳng định sự thật của chính phương pháp luận mà họ muốn bác bỏ. Họ sẽ thu được và quả thật đã thu được kết quả tiêu cực; kết quả này, ngược lại, càng chứng minh tính chính xác của bài kiểm tra nhằm phát hiện sự khác biệt giữa thái độ chính trực không thiên vị và không chính trực.

Bất kỳ phát hiện mới nào cũng đều có thể làm đảo lộn kế hoạch của người khác và bị coi là đe dọa, phá vỡ các hệ thống niềm tin đang thịnh hành. Công trình nghiên cứu tâm thức khẳng định giá trị của Thực tại tâm linh, tất nhiên, sẽ có đối kháng, vì nó thực sự đối đầu trực diện với quyền thống trị của cốt lõi ái kỷ của chính bản ngã, vốn ngạo mạn và cố chấp ngay từ khi mới ra đời.

Bên dưới tầng tâm thức 200, khả năng nhận thức bị hạn chế, vì Tâm trí cấp thấp hơn giữ thế thượng phong. Tâm trí thấp hơn có khả năng nhận ra sự kiện, nhưng chưa có khả năng hiểu thế nào là sự thật (nó nhầm lẫn giữa cái bên trong (res interna) với cái bên ngoài (res externa) và cũng chưa hiểu rằng sự thật có các yếu tố sinh lý đi kèm khác hẳn với giả dối. Ngoài ra, sự thật được cảm nhận bằng trực giác – bằng chứng là việc sử dụng phương pháp phân tích giọng nói, nghiên cứu ngôn ngữ cơ thể, phản ứng của đồng tử, thay đổi điện não đồ, dao động trong hơi thở và huyết áp, phản ứng gọi là Phản ứng điện da (Galvanic skin response ), cảm xạ, và thậm chí có thể dùng kỹ thuật Huna để đo chiều dài tia hào quang phát ra từ cơ thể. Một số người sử dụng kỹ thuật rất đơn giản: Đứng như một con lắc (ngả về đằng trước khi thấy sự thật và ngả về sau khi thấy dối trá).

Nhìn từ bối cảnh cao hơn, những nguyên tắc giữ thế thượng phong là giả dối không thể bác bỏ được Sự thật, cũng như bóng tối không thể bác bỏ được ánh sáng. Cái phi tuyến tính không bị giới hạn của cái tuyến tính tác động. Sự thật là hệ hình khác với logic và do đó, không thể chứng minh được, vì những thứ có thể chứng minh được chỉ có điểm hiệu chỉnh trong khoảng từ 400 đến 500 mà thôi. Phương pháp luận trong nghiên cứu ý thức đạt điểm 600, tức nằm ở vùng tiếp giáp giữa các chiều kích tuyến tính và phi tuyến tính. 

Những hiện tượng thiếu nhất quán

Sau một thời gian, cũng những người kiểm tra đó có thể thu được kết quả khác nhau, những người kiểm tra khác nhau cũng có thể thu được điểm hiệu chỉnh khác nhau vì một số lý do:

1. Hoàn cảnh, con người, chính trị, chính sách và thái độ thay đổi theo thời gian.

2. Trong lúc nghĩ về cái gì đó, người ta thường sử dụng các giác quan khác nhau, ví dụ thị giác, thính giác, hoặc cảm xúc. Do đó, khi bạn nghĩ tới mẹ mình, bạn có thể tưởng tượng ra hình ảnh, cảm xúc, giọng nói, v.v., hoặc Henry Ford có thể được hiệu chỉnh điểm số như một người cha, một nhà công nghiệp, hay dựa trên ảnh hưởng của ông đối với nước Mỹ, hoặc chủ nghĩa bài Do Thái của ông, v.v..

3. Tầng tâm thức càng cao thì độ chính xác càng lớn (Các tầng trên 400 là chính xác nhất). Người thực hiện có thể xác định bối cảnh và kiên trì sử dụng phương thức thịnh hành nào đó. Một nhóm kiểm tra sử dụng cùng một kỹ thuật sẽ nhận được kết quả nhất quán trong nội bộ nhóm. Thực hành càng nhiều thì sẽ càng thuần thục. Tuy nhiên, có một số người không có thái độ vô tư, khoa học, và không thể suy xét một cách khách quan, và do đó, đối với họ, phương pháp kiểm tra này sẽ không chính xác. Tâm huyết và hướng đến sự thật phải được đặt lên trên ý kiến cá nhân và nỗ lực nhằm chứng minh ý kiến của mình là “đúng”. 

Lưu ý

Người ta đã phát hiện được rằng kỹ thuật này không có tác dụng đối với những người có điểm hiệu chỉnh dưới 200, nhưng gần đây, người ta còn phát hiện thêm rằng kỹ thuật này không có hiệu quả nếu những người tham gia kiểm tra theo thuyết vô thần. Nguyên nhân có thể rất đơn giản: Chủ nghĩa vô thần có điểm hiệu chỉnh dưới 200; và theo quan hệ nghiệp lực luân báo, tư cách của người phủ nhận bị chính hành động phủ nhận chân lý hoặc Thánh thần (Chúa) của anh ta bác bỏ, hệt như lòng căm thù phủ nhận tình yêu.

            Gần đây người ta còn phát hiện được rằng, tầng ý thức của những người tham gia kiểm tra càng cao thì mức độ chính xác càng cao. Những người có điểm từ 400 trở lên cho kết quả kiểm tra chính xác nhất (Jeffrey và Colyer, 2007).