July 16, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (21)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỜI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 20

 

CÁC BÁC SỸ, XIN HÃY TỰ CHỮA LÀNH CHÍNH MÌNH

    Theo yêu cầu của nhiều người, kinh nghiệm cá nhân về tự chữa lành đã được chia sẻ nhiều lần trong các bài giảng, các buổi nói chuyện và hội thảo. Dường như ai cũng muốn nghe đi nghe lại câu chuyện về việc một bác sĩ đã được chữa khỏi nhiều loại bệnh như thế nào. Vì vậy, chương này sẽ trình bày những điểm nổi bật của quá trình hồi phục và chữa lành, vì chúng minh họa chi tiết cách thức các nguyên tắc và kỹ thuật mà chúng ta đã thảo luận thực sự hoạt động ở tầng thực tiễn.

Trải nghiệm sống và quan sát lâm sàng xác nhận rằng phần lớn các rối loạn của con người đều có thể được chữa khỏi bằng cách tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Nhiều loại bệnh có thể được chữa lành, trừ khi có nghiệp lực quá lớn.

Trớ trêu là, những ca nặng nhất, không còn chút hy vọng nào, lại thường có phản hồi rất nhanh và đạt được kết quả mỹ mãn. Có lẽ đấy là do, cuối cùng, người đó đã buông bỏ và giờ đây đã trở thành “lý trí hơn”. Họ đã sẵn sàng cho điều mà Thomas Kuhn gọi là “chuyển đổi hệ hình”, tức là sẵn sàng nhìn nhận mọi thứ khác đi từ quan điểm mở rộng và cởi mở hơn. Đôi khi, phải bị những căn bệnh mãn tính, đau khổ, đau đớn và đứng trước sợ chết, thì người ta mới sẵn sàng buông bỏ những niềm tin đã ấp ủ và mở lòng đón nhận sự thật của thực tế lâm sàng.

 

Các nguyên tắc cơ bản

Chương này trình bày chi tiết về quá trình chữa lành và hồi phục từ vô số căn bệnh về thể chất trong cuộc đời của một bác sĩ. Chúng ta sẽ phác thảo các nguyên tắc cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự chữa lành. Trong quá trình này, chúng ta sẽ xem xét lại một số nội dung đã đề cập, tổng hợp lại thành trải nghiệm tổng thể đã được tích hợp. Chúng ta sẽ bắt đầu với các khái niệm cơ bản:

• Suy nghĩ là một “vật”. Nó có năng lượng và hình tướng.

• Tâm trí với những suy nghĩ và cảm thọ của nó điều khiển cơ thể; do đó, để chữa lành cơ thể, cần phải thay đổi suy nghĩ và cảm thọ.

• Những thứ được lưu giữ trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra bên ngoài thông qua cơ thể.

• Cơ thể không phải là bản ngã thực sự; nó giống như một con rối do tâm trí điều khiển.

• Những niềm tin vô thức có thể biểu hiện thành bệnh tật, ngay cả khi không còn ký ức về những niềm tin tiềm ẩn đó.

• Bệnh tật thường bắt nguồn từ những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén và đè nén, cộng thêm suy nghĩ tạo nên hình tướng cụ thể cho nó (ví dụ, một cách có ý thức hoặc vô thức, người ta chọn một căn bệnh cụ thể này thay vì một căn bệnh khác).

• Suy nghĩ xuất phát từ những cảm thọ bị kìm nén và đè nén. Khi buông bỏ một cảm thọ, thì hàng ngàn hoặc thậm chí hàng triệu suy nghĩ được kích hoạt bởi cảm thọ đó cũng biến mất.

• Mặc dù một niềm tin cụ thể có thể bị hủy bỏ và năng lượng dành cho nó có thể bị từ chối, nhưng nhìn chung, việc cố gắng thay đổi chính suy nghĩ là lãng phí thời gian.

• Chúng ta buông bỏ một cảm thọ bằng cách cho phép nó tồn tại mà không lên án, phán xét hay chống lại. Chúng ta chỉ đơn giản là nhìn vào nó, quan sát nó và cho phép nó được cảm nhận mà không tìm cách thay đổi nó. Với thái độ sẵn sàng buông bỏ một cảm thọ, sau một thời gian nó sẽ tự biến mất.

• Một cảm thọ mạnh mẽ có thể tái diễn, điều đó có nghĩa là cần phải nhận biết rõ hơn và buông bỏ nó.

• Để buông bỏ một cảm thọ, đôi khi cần phải bắt đầu bằng cách từ bỏ cảm thọ hiện có về cảm xúc cụ thể (ví dụ, mặc cảm tội lỗi, cho rằng “Tôi không nên có cảm thọ này”).

• Để buông bỏ một cảm thọ, đôi khi cần phải thừa nhận và buông bỏ phần thưởng tiềm ẩn của nó (ví dụ, “cảm giác hưng phấn” của tức giận và “dưỡng chất” có được từ thái độ thương hại xuất phát từ việc đóng vai nạn nhân bất lực).

• Cảm thọ không phải là tự ngã thực sự. Trong khi cảm thọ là những chương trình đến rồi đi, thì Đại Ngã bên trong thực sự mãi mãi không thay đổi; do đó, cần phải ngừng đồng nhất những cảm thọ nhất thời với chính mình.

• Hãy bỏ qua những suy nghĩ. Chúng chỉ đơn thuần là những hợp lý hóa bất tận của những cảm thọ ở bên trong.

• Cho dù trong cuộc sống có xảy ra bất cứ chuyện gì, hãy giữ vững ý định buông bỏ những cảm thọ tiêu cực khi chúng vừa sinh khởi.

• Quyết định rằng tự do đáng mong muốn hơn là cảm thọ tiêu cực.

• Buông bỏ cảm thọ tiêu cực thay vì thể hiện chúng.

• Buông bỏ kháng cự và hoài nghi về những cảm thọ tích cực.

• Từ bỏ cảm thọ tiêu cực nhưng chia sẻ cảm thọ tích cực.

• Nhận thấy rằng buông bỏ song hành với cảm thọ nhẹ nhàng, tinh tế hơn bên trong chính bạn.

• Từ bỏ một mong muốn không có nghĩa là bạn sẽ không nhận được cái mình muốn. Nó chỉ đơn giản là dọn đường cho việc đó xảy ra.

• Hãy tiếp nhận nó bằng “thẩm thấu”. Đặt mình vào hào quang của những người có cái mà bạn muốn.

• “Đồng thanh thương ứng, đồng khí tương cầu”. Kết giao với những người có cùng hoặc có động lực tương tự và có ý định mở rộng tâm thức và chữa lành.

• Tỉnh thức để biết rằng người khác biết và đang truyền đi trạng thái nội tâm của bạn. Những người xung quanh bạn cảm nhận được cảm thọ và suy nghĩ, ngay cả khi bạn không nói ra.

• Kiên trì sẽ được đền đáp. Một số triệu chứng hoặc bệnh tật có thể biến mất ngay lập tức; những triệu chứng khác có thể mất hàng tháng hoặc hàng năm nếu đấy là bệnh mãn tính đã kéo dài.

• Buông bỏ chống đối kỹ thuật này. Bắt đầu ngày mới với nó. Cuối ngày, hãy dành thời gian để giải tỏa bất kỳ cảm thọ tiêu cực nào còn sót lại từ những hoạt động trong ngày.

• Bạn chỉ bị chi phối bởi những gì bạn lưu giữ trong tâm trí. Bạn chỉ bị chi phối bởi một suy nghĩ hoặc niềm tin tiêu cực, nếu bạn nói một cách có ý thức hoặc vô thức rằng nó sẽ xảy ra với bạn.

• Ngừng đặt tên cho rối loạn thể chất; đừng dán nhãn cho nó. Nhãn mác là cả một chương trình hoàn chỉnh. Hãy buông bỏ và để cho những gì thực sự được cảm thọ đi qua, đó chính là các cảm giác trên thân thể. Chúng ta không thể cảm thọ được một căn bệnh. Bệnh là một khái niệm trừu tượng được lưu giữ trong tâm trí. Ví dụ, chúng ta không thể cảm nhận được “hen suyễn”. Tự hỏi “Mình thực sự đang cảm thọ cái gì?” là rất hữu ích. Đơn giản là quan sát các cảm giác trên cơ thể, ví dụ như “tức ngực, thở khò khè, ho.” Ví dụ, không thể trải nghiệm suy nghĩ “Tôi không hít vào đủ không khí.” Đó là một suy nghĩ đầy sợ hãi trong tâm trí. Nó là một khái niệm, một chương trình hoàn chỉnh được gọi là “hen suyễn.” Điều thực sự đang được trải nghiệm là căng thẳng hoặc co thắt ở cổ họng hoặc ngực. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho “loét” hoặc bất kỳ rối loạn nào khác. Chúng ta không thể cảm thọ “loét.” Chúng ta cảm thọ một cảm giác nóng rát hoặc buốt nhói. Từ “loét” là một nhãn hiệu và một chương trình, và ngay khi chúng ta sử dụng từ đó để dán nhãn cho trải nghiệm của mình, chúng ta đồng nhất mình với toàn bộ chương trình “loét”. Ngay cả từ “đau” cũng là một chương trình. Trên thực tế, chúng ta đang cảm thọ một cảm giác cụ thể trong cơ thể. Quá trình tự chữa lành diễn ra nhanh hơn khi chúng ta ngừng dán nhãn hoặc đặt tên cho các cảm thọ khác nhau trên thân thể.

• Điều tương tự cũng đúng với cảm thọ của chúng ta. Thay vì dán nhãn và đặt tên cho cảm tọ, chúng ta chỉ cần cảm nhận cảm thọ và buông bỏ năng lượng ẩn chứa đằng sau chúng. Không cần thiết phải dán nhãn cho một cảm thọ là “sợ hãi” để nhận thức được năng lượng của nó và buông bỏ năng lượng đó.

 

Chữa lành nhiều bệnh cùng một lúc

Trong trường hợp của vị bác sĩ này [tác giả -ND], có quá nhiều bệnh cùng một lúc đến nỗi không thể nhớ hết được. Khi thuyết trình, ông ấy phải liệt kê chúng ra một tấm thẻ. Tất cả những bệnh sau đây đều xảy ra ở tuổi 50:

Đau nửa đầu. Mãn tính và thường xuyên.

Tắc vòi nhĩ. Đau tai dữ dội.

Cận thị và loạn thị. Phải đeo kính ba tròng.

Viêm xoang; chảy dịch mũi sau; dị ứng.

Viêm da, nhiều loại.

Bệnh gút. Phải mang gậy trong cốp xe và phải ăn kiêng.

Vấn đề về cholesterol. Hạn chế ăn uống hơn nữa.

Loét tá tràng. Mãn tính và tái phát trong hơn 20 năm, không phản ứng với tất cả các phương pháp điều trị y tế.

Viêm tụy. Những cơn đau gián đoạn do loét tái phát gây ra.

Viêm dạ dày; tăng axit dạ dày; co thắt môn vị gián đoạn. Do đó, phải hạn chế ăn uống hơn nữa.

Viêm đại tràng tái phát.

Viêm túi thừa. Tình trạng giống như viêm ruột thừa ở đại tràng.

Đôi khi xuất huyết, cần nhập viện và truyền máu.

Các vấn đề thường gặp ở phần dưới của đường tiêu hóa.

Đã đặt lịch phẫu thuật.

Viêm khớp cột sống cổ. Trật khớp đốt sống cổ thứ tư.

Hội chứng đau lưng dưới, cần điều trị bằng phương pháp nắn chỉnh cột sống.

Bệnh rung (Hội chứng Raynaud). Mất cảm giác và nguy cơ hoại tử ở đầu ngón tay do mất tuần hoàn.

Hội chứng tuổi trung niên. Lạnh tay chân, mất năng lượng và không còn ham muốn tình dục, và trầm cảm.

U nang lông ở đáy cột sống. Chỉ có thể chữa bằng phẫu thuật.

Viêm phế quản và ho mãn tính. Làm trầm trọng thêm chứng đau đầu, thoái hóa cột sống và hội chứng đau lưng dưới.

Nhạy cảm với cây thường xuân độc. Da bị nổi mẩn mỗi năm. Đôi khi cần nhập viện.

Nấm chân. Có quan niệm cho rằng nó bắt nguồn từ sàn phòng khách sạn.

Gàu. Có quan niệm cho rằng nó bắt nguồn từ việc đã vào tiệm cắt tóc.

Viêm sụn (Hội chứng Tzietze).

Một chứng rối loạn hiếm gặp, với triệu chứng sưng đau ở chỗ nối giữa xương sườn và xương ức.

Các vấn đề về răng và nướu. Mất xương quanh chân răng. Được khuyến nghị phẫu thuật nướu.

Mất cân bằng năng lượng tổng thể. Kiểm tra cơ thể động học cho thấy tất cả các hệ thống năng lượng đều mất cân bằng, và tất các các kinh mạch đều yếu.

 

Nhìn lại, thật khó tin làm sao cơ thể vẫn tiếp tục hoạt động và duy trì chức năng tốt như thế. Vì mỗi rối loạn đều cần chế độ ăn uống hạn chế hơn nữa, nên có những lúc chỉ còn rau diếp và cà rốt là những thực phẩm “an toàn” mà thôi. Giảm 25 pound (khoảng 11 kg), trông gầy gò và hốc hác. Sau này, một số bạn bè tiết lộ rằng họ đã cá cược xem cơ thể đó sẽ sống được bao lâu. Hầu hết đều ước tính rằng nó có thể sẽ gục ngã ở tuổi 53.

Câu hỏi đặt ra lúc đó là: Làm sao mà một người đàn ông thành đạt, có học thức cao, hoạt động sáng tạo, sống cuộc đời cân bằng, đã được phân tích tâm lý kỹ lưỡng, đã trải qua nhiều phương pháp trị liệu và chữa bệnh, lại vẫn có nhiều bệnh tật đến như thế? Đúng là khối lượng công việc rất to lớn, tập thể dục và những công việc sáng tạo như mộc, xây dựng, làm đồ gỗ và thiết kế kiến ​​trúc làm cho nó trở thành cân bằng. Hơn nữa, đời sống tâm linh rất năng động, mỗi ngày hai giờ thiền định - trước và sau giờ làm việc. Vô số kỹ thuật được đề cập trong phần Giới thiệu đã được nghiên cứu: tự thôi miên, có chế độ ăn uống và lối sống nhằm hướng tới cân bằng và sức khỏe lâu dài, bấm huyệt bàn chân, soi mống mắt, liệu pháp phân cực, khẳng định tích cực, xuất hồn, các khóa học chuyên sâu theo nhóm, xoa bóp, thư giãn, v.v.

Câu trả lời cho nghịch lý kỳ lạ này của một người đã thử vô số kỹ thuật, nhóm và liệu pháp, nhưng vẫn mắc phải một loạt bệnh tật đáng kinh ngạc là gì? Và làm thế nào mà ông ấy lại hoạt động thành công đến như thế trên thế gian mặc cho danh sách khá dài các bệnh tật và đau đớn dai dẳng đi kèm? Câu trả lời dường như là: ý chí rất mạnh mẽ. Nó đã giúp ông ta vượt qua tất cả các trở ngại và có sức mạnh để gạt bỏ bất cứ điều gì cản trở hoạt động hiệu quả—trong trường hợp này, chủ yếu là cảm thọ. Với sức mạnh ý chí như thế, khi một cảm thọ bị kìm nén, nó sẽ tiếp tục bị kìm nén.

Lý tưởng khoa học là khách quan. Khách quan có nghĩa là không có cảm thọ. Muốn vươn tới lý tưởng này trong hoạt động lâm sàng và khoa học thì cần phải kìm nén cảm thọ. Đặc biệt gay gắt do bản chất của hoạt động lâm sàng: làm việc với những bệnh nhân nặng. Mức độ đau khổ của họ và gia đình họ dường như là vô tận. Nó tiếp diễn không ngừng, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Cường độ càng tăng lên vì ông ta có tâm từ bi và đồng cảm với nỗi đau khổ của mọi người. Áp lực ngày càng tăng của cảm thọ bị kìm nén trong mọi lĩnh vực của cuộc sống rõ ràng đã góp phần làm phát sinh đủ loại bệnh tật.

Đến một thời điểm nhất định, cả cơ chế buông bỏ và Khóa học về những điều kỳ diệu đều được nghiên cứu và áp dụng vào cuộc sống thường nhật. Do lịch trình làm việc bận rộn, nên có rất ít thời gian cho bất kỳ kỹ thuật mới nào. May mắn là, Cuốn bài tập của Khóa học về những điều kỳ diệu yêu cầu suy ngẫm đơn giản về một câu hoặc “bài học” trong suốt cả ngày. Sức mạnh của kỹ thuật này là giảm bớt mặc cảm tội lỗi bằng cách sử dụng cơ chế tha thứ. Cơ chế buông bỏ, như một quá trình nội tâm, cũng có thể được thực hiện một cách thầm lặng suốt cả ngày. Hai công cụ này hoạt động cùng nhau. Buông bỏ và tha thứ diễn ra đồng thời trong suốt cả ngày.

Một khi tâm trí biết cách giải tỏa áp lực nội tâm, giống như chiếc hộp Pandora, nó bắt đầu giải phóng tất cả rác rưởi, và nó tuôn trào lên! Những suy nghĩ và cảm thọ, vốn hầu như không được chú ý vào lúc chúng sinh khởi, giờ đây đã quay trở lại. Cuộc sống quá bận rộn đến nỗi không có thời gian để xử lý. Quá trình giải tỏa bắt đầu tự xảy ra.

Phát hiện được ngay lập tức là tất cả cảm thọ hay suy nghĩ tiêu cực đều gắn liền với mặc cảm tội lỗi, và mặc cảm tội lỗi bao trùm đến mức nó liên tục bị kìm nén. Do đó, không có cái gọi là chỉ có tức giận. Cảm thọ thực sự là tức giận/mặc cảm tội lỗi. Có mặc cảm tội lỗi mỗi khi chúng ta có ý nghĩ chỉ trích người nào đó. Tâm trí liên tục phán xét và chỉ trích thế giới, chỉ trích các sự kiện và con người là nguồn gốc vô tận của mặc cảm tội lỗi. Tự nó, mặc cảm tội lỗi sinh ra những cảm thọ tiêu cực, và tự chúng, những cảm thọ tiêu cực cũng sinh ra mặc cảm tội lỗi. Chính sự kết hợp đầy tai hoạ như thế kéo tất cả chúng ta xuống và tạo ra bệnh tật và bất hạnh lan tràn. Mặc cảm tội lỗi hiện diện khắp nơi, đến mức dù đang làm gì, ở đâu đó trong tâm trí, chúng ta vẫn cảm thấy rằng mình “nên” làm cái gì đó khác. Chúng ta đã sống với quá nhiều mặc cảm tội lỗi trong một thời gian dài, đến mức chúng ta thậm chí không còn nhận ra nó, và bằng cách nào đó, mặc cảm tội lỗi được tâm trí của người bình thường phóng chiếu ra thế giới xung quanh. Đó là lý do vì sao hầu hết mọi người đều cần “kẻ thù”—một đối tượng để phóng chiếu mặc cảm tội lỗi bên trong của mình. Đó cũng là nơi mà những tên bạo chúa nhận được quyền lực - bằng cách thao túng mặc cảm tội lỗi của mọi người và tìm ra mục tiêu thích hợp cho nó.

Cũng phát hiện được định kiến, coi thường các cảm thọ. Cơn giận trỗi dậy khi ta cảm thấy các cảm thọ đang áp đặt lên chính mình, chính điều này có thể làm cho người ta có tâm lý “nạn nhân”. Đối với người có tư duy thiên về bán cầu não trái, cảm thọ đối lập với tư duy, logic và lý trí. Trên hết là tư tưởng gia trưởng, cho rằng chỉ phụ nữ, trẻ em và những người thuộc giới nghệ sĩ mới có nhiều cảm xúc. Cảm thọ vốn dĩ chỉ được xem là đối tượng của hiểu biết trí năng và phân tích lâm sàng. Khi vừa sinh khởi, chúng lập tức bị dán nhãn, khu biệt hóa và xếp vào những ngăn lưu trữ của tâm trí.

Khi bắt đầu làm việc với kỹ thuật buông bỏ, đã có một giai đoạn nổi loạn và thực sự căm ghét cảm thọ, sợ hãi khi phải đối phó với chúng. Dường như là nhục nhã khi phải chịu đựng chúng. Cần thay đổi trong nhận thức về chính mình, đấy là do đồng nhất quá mức với trí tuệ. Giờ đây, dù muốn hay không, phải thừa nhận rằng mỗi người đều là một cơ thể biết suy nghĩ/cảm thọ. Tiếp tục phủ nhận thực tại sẽ chẳng có tác dụng gì.

Chẳng bao lâu sau, có cảm thọ trở thành hiện tượng bình thường. Với kỹ thuật buông bỏ, cách duy nhất để thoát khỏi nó là thừa nhận và từ bỏ cảm thọ. Sẽ trở nên dễ dàng hơn khi sức khoẻ bắt đầu được cải thiện. Mặc dù, lúc đầu, đối mặt với cảm thọ của chính mình có thể là việc khó, nhưng khi thấy ánh sáng ở cuối con đường thì sẽ xuất hiện hy vọng.

Chỉ sử dụng kỹ thuật này trong vài ngày, thì phần dưới của đường tiêu hóa đã nhanh chóng tự chữa lành và trên thực tế, không cần phẫu thuật nữa. Nhiều triệu chứng đã tồn tại trong nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm, bắt đầu giảm dần về cường độ và tần suất. Đặc biệt, chứng đau nửa đầu ngày càng ít xuất hiện hơn. Đau lưng dưới biến mất. Cơ thể bắt đầu cảm thấy nhẹ nhàng hơn và khỏe mạnh hơn.

Sau đó, một cuộc khủng hoảng bất ngờ ập tới, mang theo áp lực cảm xúc dữ dội. Bệnh viêm túi thừa tái phát, rất nặng, xuất huyết khá nhiều. Trong thâm tâm xuất hiện quyết định mang tính bước ngoặt vĩ đại: “Hoặc là phương pháp này có hiệu quả, hoặc là không.” Vì vậy, lần này, không những không đến bệnh viện và truyền máu mà quyết định buông bỏ hoàn toàn. Thừa nhận và không chống lại tất cả những cảm giác diễn ra ở trong ổ bụng. Không đặt tên hay dán nhãn. Thay vì nói hay suy nghĩ, thì chỉ cảm nhận sự một thể với những cảm giác, những cơn co thắt và đau. Không có kháng cự nào đối với những cảm giác đó, dù dữ dội đến đâu. Tương tự như đang đứng trên lưỡi dao cạo, nhận biết và buông bỏ mọi cảm giác và cảm thọ. Kéo dài suốt bốn tiếng đồng hồ. Sau bốn tiếng, máu ngừng chảy, cơn co thắt cũng không còn, bệnh viêm túi thừa đã được chữa lành. Sau đó, có một vài lần tái phát nhẹ; nhưng mỗi lần đều được xử lý theo cùng một cách như thế, và cuối cùng các đợt tấn công giảm dần và biến mất. Vậy là cơ chế buông bỏ đã vượt qua được thử thách khắc nghiệt. Đã thành công ở nơi mà mọi biện pháp đều thất bại. Áp dụng liên tục biện pháp này và các chứng rối loạn khác bắt đầu biến mất.

Cùng với thời gian, trải nghiệm “biết” đã thay thế cho suy nghĩ. Cái biết xuất hiện theo cách hoàn toàn khác. Nó chỉ đơn giản là ở đó để chúng ta nhận ra. Một buổi sáng, khi thức dậy, có “cái biết” rằng đã được chữa khỏi bệnh viêm da do cây thường xuân độc gây ra. Đồng thời, rõ ràng là chính cái tên, cái nhãn “cây thường xuân độc”, tự nó đã là một chương trình và một hệ thống niềm tin. Trong bất kỳ trường hợp nào, cũng có “cái biết” rằng mình miễn nhiễm với cây thường xuân độc, ngay cả khi đi ra ngoài, chạm vào nó, chơi đùa với nó, và thậm chí bỏ một vài cây vào chậu hoa để mang đến một chương trình phỏng vấn tối hôm đó! Chủ đề của cuộc phỏng vấn là: “Sức mạnh của tâm thức trong quá trình tự chữa lành”.

Một lần khác, “biết” xuất hiện khi bất ngờ đi tới chỗ có mùi thuốc trừ sâu nồng nặc. Mùi thuốc trừ sâu đã gây dị ứng nghiêm trọng trong suốt nhiều năm và lúc nào cũng gây ra chứng đau nửa đầu dữ dội. Tuy nhiên, trong ngày hôm đó, đột nhiên “biết” được rằng mình miễn dịch với mùi thuốc. Bước vào một ngôi nhà vừa được phun thuốc và hít thở sâu mùi thuốc mà không có bất kỳ hậu quả nào, thế là cảm thọ tự do, vui sướng bất ngờ ập đến. Thật tuyệt vời khi được tự do và trải nghiệm sức mạnh của tâm trí! Trong khoảnh khắc đó, nhận ra rằng chúng ta chỉ bị chi phối bởi những điều chúng ta lưu giữ trong tâm trí. Không cần phải là nô lệ hay nạn nhân của thế giới này.

Sự kiện tương tự cũng xảy ra với niềm tin kéo dài về cholesterol cao. Khi niềm tin và khái niệm đó bị xóa bỏ, thì ăn các sản phẩm từ sữa sẽ không tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đến cholesterol. Trên thực tế, xét nghiệm máu cho thấy chỉ số cholesterol không tốt cho sức khoẻ giảm dần! Hơn nữa, chứng không dung nạp thực phẩm và dị ứng cũng biến mất. Tuy nhiên, phải mất ít nhất một năm nữa thì chứng không dung nạp đường và hạ đường huyết chức năng mới biến mất hoàn toàn. Trong một giai đoạn, nó vẫn tái phát trong những lúc căng thẳng, đặc biệt là khi vận động mạnh, sau khi ăn đường và đồ ngọt có caffeine.

Trong thời gian đó, sau nhiều năm kiêng khem nghiêm ngặt, cuối cùng cũng có thể trở lại chế độ ăn uống bình thường. Thật sảng khoái khi được ăn những thực phẩm có hạt (không được ăn nếu bị viêm túi thừa), tất cả những thực phẩm được cho là chống chỉ định đối với bệnh loét và viêm đại tràng, và thậm chí cả kem sô cô la nóng! Phải mất vài năm thì chứng hạ đường huyết chức năng mới biến mất, nhưng cuối cùng cũng có thể ăn tất cả những món ngọt, từng bị cấm trong suốt nhiều năm.

Toàn bộ hội chứng tuổi trung niên cũng đều là hệ thống niềm tin. Khi hệ thống niềm tin này bị hủy bỏ và buông bỏ, chứng lạnh ở tay và chân cũng biến mất. Mệt mỏi, trầm cảm nhẹ và cáu kỉnh cũng biến mất. Sức bền thể chất tăng lên và khả năng chịu đựng công việc thể chất gần như không có giới hạn.

Giờ đây, khi những vấn đề lớn đã được giải quyết, một số bệnh nhẹ hơn cũng được chủ động xử lý. Niềm tin vào u nang lông đã được buông bỏ. Nó biến mất sau sáu tuần. Vòi nhĩ luôn bị tắc nghẽn, cứ đi máy bay là tai phải đau dữ dội. Phải mất hai năm để nó tự khỏi. Liên tục buông bỏ mọi suy nghĩ và cảm thọ về nó, đồng thời sử dụng phương pháp hình dung, trong đó góc của vòi nhĩ với xương thái dương bên phải được hình dung là đang thay đổi thành một góc bình thường. Đây là chứng bệnh duy nhất sử dụng phương pháp hình dung. Sau hai năm, chứng bệnh này biến mất, và không bao giờ còn gặp khó khăn trong việc thông tai khi độ cao thay đổi nữa.

Trong khi đó, chứng đau cổ cũng dần biến mất, và có thể khiêu vũ. Trong khi nhảy và buông bỏ mọi kháng cự đối với đau cổ, cơ thể bắt đầu tự động thực hiện các tư thế và chuyển động tự chữa lành, như thể có một chuyên gia nắn chỉnh cột sống bên trong đang điều chỉnh cột sống. Một cảm giác kỳ lạ, như thể những người chữa lành vô hình đang điều chỉnh lại cột sống.

Trong khi diễn ra những sự kiện như thế, thì tuần hoàn máu ở bàn tay và bàn chân cũng thay đổi, tay và chân không còn lạnh nữa. Bệnh rung chấn ở các đầu ngón tay, từng đe dọa dẫn đến hoại tử, giờ đây đã tự chữa lành. Các đầu ngón tay phồng lên và chuyển sang màu hồng trở lại. Cơn đau rát ở đầu ngón tay biến mất. Cảm giác quay trở lại. Cho đến lúc đó, các ngón tay đã tê liệt đến mức không thể lật giở sách.

Khi các bệnh nghiêm trọng hơn được chữa lành, đã có năng lượng và thời gian để xem xét cả những vấn đề nhỏ hơn. Từng tin rằng cắt tóc ở tiệm thì sẽ bị gàu. Khi buông bỏ niềm tin đó, thì gàu không còn. Một quá trình tương tự đã xảy ra với niềm tin cho rằng nấm ở chân có liên quan đến sàn phòng khách sạn. Khi lên tục xoá bỏ niềm tin này, thì nấm ở chân đã biến mất.

Một năm, trong Lễ Tạ ơn, xuất hiện cơ hội để thử nghiệm kỹ thuật này khi xảy ra tình huống cấp tính. Một khúc gỗ lớn rơi vào chân trái và làm gãy tất cả các xương ở toàn bộ phần trước bàn chân. Thay vì vội vàng đi bó bột, đã sử dụng kỹ thuật buông bỏ. Đến Giáng sinh, đã có thể quay lại sàn nhảy. Sau đó, một mắt cá chân bị bong gân nặng cũng tự lành trong vài phút bằng cách lập tức buông bỏ cơn đau.

 

Chữa lành thị lực

Một buổi tối nọ, khi đang thuyết giảng về cơ chế buông bỏ và ghi lại tất cả những hiện tượng chữa lành đã trải nghiệm vừa nói bên trên, một thành viên trong cử toạ nói: “Bác sĩ, nếu ông đã chữa lành tất cả những căn bệnh đó, vậy tại sao ông vẫn đeo kính? Mắt kém không thể được chữa lành bằng cách tương tự hay sao?”

“Vâng, tôi chưa bao giờ nghĩ đeo kính là bệnh. Tôi luôn nghĩ đó là một khiếm khuyết trong giải phẫu của cơ thể. Nhưng bây giờ, khi bạn nhắc tới nó, tôi không thấy lý do gì mà nó không thể tự chữa lành.”

Vì vậy, cặp kính hai tròng được tháo ra và cất vào túi áo khoác. Quả thực, lúc đó, thị lực đang suy giảm đến mức bác sĩ đã kê đơn và đặt mua kính ba tròng. Khi kết thúc buổi thuyết trình tối hôm đó, cái biết bên trong lại xuât hiện, nó nói rằng nếu có đủ niềm tin và tin tưởng thì tình trạng này cũng sẽ tự chữa lành.

Lái xe về nhà mà không đeo kính, nhìn rất mờ. Đi khá chậm, đèn pha chiếu vào lề đường. Cái biết nội tâm nói rằng chúng ta sẽ luôn luôn nhìn thấy những gì mình cần thấy, nhưng không thể nhìn thấy những gì mình muốn thấy. Trong sáu tuần tiếp theo, đã quan sát và học được rất nhiều điều, đấy là những gì diễn ra đằng sau thị giác bình thường hàng ngày của chúng ta. Có vô vàn cảm thọ, từ tò mò đến cạnh tranh, từ sự hứng thú nhục dục đến kích thích trí tuệ. Để hoạt động trong thế gian này thì chỉ cần khoảng 5% thị giác mà thôi.

Có hiện tượng kỳ lạ: chỉ những gì cần nhìn thấy mới được nhìn thấy. Không thể đọc báo và tạp chí, xem truyền hình, hoặc đi xem phim. Rõ ràng là phần lớn thị giác chỉ đơn thuần là sự trốn tránh thực tại. Trên đường, mọi chuyện diễn ra cứ như thể là ông lão Magoo[i] đang cầm lái vậy. Hết lần này đến lần khác, cái hiện tượng huyền bí tương tự đó lại xảy ra. Ngay khi cần nhìn thấy một thứ gì đó, thì liền nhìn thấy nó. Mép vực hiện ra ngay khi cần nhìn thấy nó. Đã có rất nhiều lo âu đi kèm với việc liên tục buông bỏ sợ hãi. Cuối cùng, sau sáu tuần, sợ hãi dường như đã cạn kiệt. Thay vào đó, phó thác sâu sắc đã diễn ra. “Được rồi, tôi sẽ chỉ nhìn những gì mình được phép nhìn.” Các mục tiêu cảm xúc khác mà việc nhìn đã phục vụ cho đến thời điểm đó đều được tự nguyện buông bỏ.

Rồi một cảm giác tĩnh lặng và bình yên sâu sắc xuất hiện, cùng với cảm thọ hòa làm một với bất cứ điều gì đang vận hành vũ trụ. Và trong khoảnh khắc đó, đột nhiên, thị lực trở lại hoàn toàn và hoàn hảo. Những gì trước đây không thể nhìn thấy hoặc đọc được thì giờ đây trở nên rõ ràng như pha lê: biển báo đường phố, chữ in nhỏ trong ánh sáng mờ, các vật thể hiện rõ nét trong khắp gian phòng và ở khoảng cách xa. Trong lần kiểm tra mắt tiếp theo, để gia hạn bằng lái xe, người đánh giá nói rằng thị lực hoàn hảo và không cần đeo kính nữa. Hiện tượng này chưa từng xảy ra trong bất kỳ lần kiểm tra nào trước đây! 

Kể từ khi câu chuyện này được kể trên khắp cả nước, khá nhiều người đã bỏ kính và có trải nghiệm tương tự. Thú vị là, mỗi người đều nói rằng quá trình này diễn ra trong khoảng sáu tuần. Một trong những người đã hoàn toàn thành công lại quyết định đeo kính. Khi được hỏi lý do, anh ta nói rằng vợ mình đã quen nhìn thấy anh đeo kính đến mức anh ấy trông bất bình thường khi không có kính, vì vậy anh ấy đã đeo kính không số để cho vợ cảm thấy vui. Anh ấy làm như thế chỉ vì yêu vợ và muốn làm cho vợ vui, đó là một lý do khác hẳn so với phải đeo kính vì thị lực kém.

Những người đã trải nghiệm phục hồi thị lực đều đồng ý về khám phá sau đây: Chúng ta nhìn bằng chính tâm trí, chứ không phải bằng nhãn cầu! Gần đây, một trong những trường hợp như thế là một phụ nữ bị mù ngay từ khi mới sinh và cả hai nhãn cầu đều bị rối loạn nghiêm trọng. Sau khi nghe bài giảng về phục hồi thị lực, bà này đã tuân theo một phác đồ điều trị và thực hành kỹ thuật buông bỏ đối với thị lực của mình. Trong vòng hai ngày, bà bắt đầu cảm nhận được sự trở lại của thị lực. Sau bài giảng, bà ấy đến gần và nói: “Tôi biết ông nói đúng. Tôi biết rằng người ta nhìn thấy bằng tâm trí bởi vì đó là điều đang xảy ra với tôi. Tôi đang nhìn thấy, và tôi đang nhìn thấy bằng tâm trí của mình!”

Muốn hiểu làm sao mà tất cả những hiện tượng chữa lành này có thể xảy ra—một số gần như là phép màu—chúng ta phải xem xét lại nhiều suy nghĩ của mình về các quá trình trong cơ thể, cơ chế chữa lành và làm sao mà các phương pháp điều trị y tế mang lại kết quả. Người ta đã phát hiện ra rằng có một sức mạnh tự chữa lành bên trong được kích hoạt bằng cách buông bỏ liên tục.



[i] Mr. Magoo: Nhân vật hoạt hình Mỹ nổi tiếng với chứng cận thị nặng nhưng luôn gặp may mắn kỳ lạ, thoát khỏi những tai nạn hiểm nghèo. Ở đây ám chỉ sự bảo hộ của trường năng lượng khi bản ngã buông bỏ kiểm soát.

 


July 15, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (20)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 19 

ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG MỤC TIÊU NGHỀ NGHIỆP

 

Cảm thọ và Khả năng

Suy nghĩ của chúng ta quyết định mức độ chúng ta thể hiện tài năng và khả năng của mình, và quyết định chất lượng cũng như số lượng các thành công và thất bại của chúng ta. Nhưng cái gì quyết định và tạo được ảnh hưởng lên hướng suy nghĩ? Như chúng ta đã thấy, chính cảm thọ của chúng ta quyết định và tạo ra kiểu suy nghĩ sẽ dẫn chúng ta đến thành công hay thất bại trong bất kỳ nỗ lực nào. Cảm thọ là chìa khóa cho quá trình mở rộng hoặc thu hẹp tài năng, khả năng và hành động của chúng ta.

Nhìn chung, chúng ta có kiến ​​thức và được đào tạo tốt về các vấn đề liên quan đến thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta lại thiếu kiến ​​thức và không được đào tạo về thế giới bên trong, tức là thế giới của cảm thọ. Vì cảm thọ quyết định suy nghĩ và những suy nghĩ chúng ta lưu giữ trong tâm trí quyết định kết quả, cho nên quan trọng là phải làm rõ quan hệ giữa cảm thọ với việc giải phóng khả năng để những khả năng này đưa tới hành động mang lại thành công.

Xin làm một bản tóm tắt những gì chúng ta đã nói về thang đo tâm thức, và để cho đơn giản, chúng ta có thể phân loại ngắn gọn tất cả các cảm thọ là tiêu cực hoặc tích cực và, tất nhiên, những suy nghĩ phát sinh từ đó sẽ là tiêu cực hoặc tích cực. 

Cảm thọ tiêu cực liên quan đến công việc

Những cảm thọ này luôn luôn làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu và dao động từ hơi khó chịu đến đau đớn. Chúng khơi mào quá trình suy nghĩ và hình thành ý tưởng dẫn đến: “Tôi không thể” và “Chúng ta không thể”, dù sự kiện, tình huống hay vấn đề mà người đó đang gặp có là gì thì cũng thế. Cảm thọ tiêu cực sinh khởi khi chúng ta không thích những thứ mình thấy, nghe, nghĩ hoặc nhớ lại. Phản ứng của chúng ta đối với không thích xuất hiện dưới dạng những cảm thọ như giận dữ, u sầu và lo lắng. Thông thường chúng ta đối phó với những cảm thọ khó chịu là kìm nén chúng, và vì thế, chúng ta cho rằng những cảm thọ này là một phần không thể thiếu trong quá trình suy nghĩ của mình. Sai lầm xảy ra vì cảm thọ không thích được xử lý thông qua những suy nghĩ của chúng ta. Việc kìm nén những cảm thọ này không làm cho chúng biến mất. Ngược lại, chúng sẽ tái xuất hiện dưới dạng những suy nghĩ tiêu cực. Tiêu cực không nằm trong tình huống hay sự kiện; mà nó nằm ở phản ứng của chúng ta đối với tình huống theo cách nhìn của ta. Khi thừa nhận và từ bỏ những cảm thọ tiêu cực, tình hình có thể thay đổi nhanh chóng, từ tưởng chừng như không thể thành dễ dàng quản lý được, khả thi và thậm chí là khá hữu ích.

Một trong những cảm thọ tiêu cực nổi bật nhất, cản trở thành công trong nghề nghiệp là đố kỵ. Động lực tiềm ẩn của đố kỵ là khi chúng ta thấy người khác vượt lên, nó kích hoạt cảm giác bất an của chính chúng ta. Không chỉ đơn giản là chúng ta nhìn thấy thành tựu của người khác và cảm thấy đố kỵ. Thay vào đó, thành tựu của người khác kích hoạt trong ta cảm thọ kém cỏi hoặc tự mình không đủ năng lực. Nó kích hoạt cảm thọ: “Có lẽ tôi không hoàn thành được những việc tôi nên hoàn thành,” hoặc “Có lẽ tôi sẽ không thể hoàn thành những việc mà tôi muốn hoàn thành,” hoặc “Có lẽ người khác không đánh giá cao và không chú ý tới những thành tựu của tôi”.

Đố kỵ làm cho người ta đau đớn vì nó khơi dậy cảm giác: chúng ta là người không có đủ năng lực. Và rồi, ta thường oán hận người mà thành công của họ đã vô tình khơi dậy cảm thọ này. Một cách vô thức, oán hận này thúc đẩy khát vọng được khen ngợi không bao giờ dứt của chúng ta, nhưng tất nhiên nó không đến với chúng ta, vì sự thèm muốn của chúng ta lại đẩy ra xa chính cái mà chúng ta muốn.

Khi vòng luẩn quẩn này tiếp tục, chúng ta cảm thấy ngày càng bất mãn và không hạnh phúc khi làm việc, xa lánh đồng nghiệp. Có thể nảy sinh niềm tin: “Mọi người đều chống lại tôi.” Các thành viên trong gia đình có thể mệt mỏi vì những lời phàn nàn liên tục của chúng ta về tình hình công việc. Cuối ngày, chúng ta có thể tìm cách trốn tránh bằng cách liên tục xem tivi hoặc nuông chiều bản thân quá mức bằng ăn uống, ngủ, ma túy và rượu bia.

Làm sao thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của đố kỵ và bất mãn? Như chúng tôi đã nói bên trên, câu trả lời là, hướng vào bên trong. Với đố kỵ, chúng ta liên tục nhìn vào người khác, đánh giá thành tích của họ và so sánh mình với họ. Chúng ta thấy cái giá phải trả của việc nhìn ra bên ngoài trong bộ phim Chariots of Fire, khi một trong những vận động viên quay lại để xem đối thủ của mình đang ở đâu trong cuộc đua này. Khoảnh khắc anh ta rời mắt khỏi vạch đích để so sánh mình với một vận động viên khác, là anh ta đã đánh mất một phần giây quý giá, và nó làm cho anh ta thua cả cuộc đua. Người chiến thắng cuộc đua được thúc đẩy bởi tình yêu thuần túy dành cho việc chạy và mong muốn làm hết sức mình. Anh ấy không chạy để “đánh bại” người khác. Anh ta không so sánh mình với những vận động viên khác. Anh ta chạy hết sức mình vì anh ta thích chạy.

Khi nhìn vào bên trong, chúng ta thấy những cảm thọ tiềm ẩn nào đang ngăn cản, không cho chúng ta thành công: cạnh tranh, nghi ngờ chính mình, bất an, không đủ năng lực và khao khát được chấp thuận. Chúng ta có sẵn sàng đối mặt với những cảm thọ này hay không? Một khi nhận ra cảm thọ của mình, chúng ta sẽ thấy rõ ràng là chúng đang chống lại chúng ta. Chúng làm tiêu hao nỗ lực và cản trở thành công của chúng ta trong cuộc sống. Nghi ngờ chính mình chặn đứng chính sự công nhận mà ta đang tìm kiếm.

Một khi nhận thấy cái giá phải trả cho những cảm thọ tiêu cực đối với hạnh phúc và thành công của mình, chúng ta sẽ sẵn sàng buông bỏ chúng và buông bỏ những phần thưởng mà chúng mang lại cho chúng ta. Ví dụ, chúng ta sẵn sàng buông bỏ thỏa mãn nhỏ nhoi rẻ tiền mà chúng ta có được từ việc đổ lỗi cho người khác vì chúng ta không thành công. Chúng ta sẵn sàng buông bỏ thái độ thông cảm mà chúng ta nhận được từ những người đã nghe những lời than phiền của mình. Khi buông bỏ cảm thọ không đủ năng lực, chúng ta sẽ thấy rằng tâm đố kỵ cũng không còn. Chúng ta trở thành giống như người chiến thắng trong bộ phim Chariots of Fire, đấy là người yêu thích công việc của mình, vui mừng trước thành công của mình và của người khác, và có năng lượng vô giới hạn để vươn lên trong cuộc đời. 

Cảm thọ tích cực liên quan đến công việc

Những cảm thọ này luôn luôn được cảm nhận là dễ chịu và bao gồm những cảm thọ như niềm vui, hạnh phúc và an toàn. Chúng khơi mào quá trình tư duy và hình thành ý tưởng được thể hiện qua những suy nghĩ: “Tôi có thể” và “Chúng ta có thể”, dù sự kiện, tình huống hay vấn đề mà người đó đang gặp phải là gì thì cũng thế.

Cảm thọ tích cực sẽ tự nhiên xuất hiện khi cảm thọ tiêu cực không còn. Không cần phải làm bất cứ việc gì để có cảm thọ tích cực, vì chúng là thành phần không thể thiếu trong trạng thái tự nhiên của chúng ta. Trạng thái nội tâm tích cực này luôn có đó, nó chỉ bị những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén làm cho khuất lấp đi mà thôi.

Mây tan, mặt trời sẽ chiếu sáng. Giải phóng khả năng, ý tưởng sáng tạo, tài năng và sự tháo vát diễn ra một cách tự động, như là kết quả của trạng thái tâm trí tích cực sau khi đã buông bỏ được những khía cạnh tiêu cực. Buông bỏ tiêu cực giải phóng cảm hứng để tạo ra một dòng chảy bất tận của những ý tưởng sáng tạo. Ví dụ, một nhà sản xuất vở nhạc kịch ở Broadway từng đoạt giải thưởng, ông này cho rằng thành công của vở diễn ăn khách này là nhờ việc buông bỏ những cảm thọ tiêu cực bằng cơ chế phó thác. Có những nhà văn, nghệ sĩ và nhạc sĩ bất ngờ thấy cảm hứng đột ngột gia tăng ngay khi nhận ra và từ bỏ niềm tin tiêu cực hoặc tự giới hạn nào đó. Tương tự, các nhà khoa học cũng kể lại trải nghiệm tương tự khi đột nhiên họ “biết” công thức chữa khỏi một căn bệnh. Dường như năng lượng của thiên tài sáng tạo luôn luôn có đó và chờ đợi chúng ta ngay khi ta buông bỏ những đám mây tiêu cực, ngăn cản không cho nó bộc lộ. 

Cảm thọ và quá trình ra quyết định

Chúng ta có thể chia một cách đơn giản các tầng tâm thức thành ba trạng thái chính: trì trệ, năng động và an bình. Ba trạng thái này có liên quan đến quá trình ra quyết định. Trạng thái thứ nhất—trì trệ—phản ánh các tầng cảm xúc như thờ ơ, u sầu và sợ hãi. Bản chất của những cảm thọ này là cản trở, không cho chúng ta tập trung vào tình huống trước mắt và thay vào đó, làm cho chúng ta tập trung vào những suy nghĩ của chính mình, hầu hết nằm trong phạm vi: “Tôi không biết,” “Tôi không chắc,” và “Tôi không nghĩ là mình có thể.” Liên tục tập trung vào những suy nghĩ luẩn quẩn vô ích này làm cho chúng ta tạm thời không thể nhận thức được toàn bộ chiều kích và khả năng của tình huống tổng thể trước mắt.

Trong khi những suy nghĩ và cảm thọ tiêu cực như thế đang diễn ra, chúng ta khó có thể đưa ra bất kỳ quyết định nào. Đôi khi chúng ta trì hoãn quyết định cho đến khi cảm thấy tốt hơn. Những lúc khác, chúng ta đưa ra quyết định mà chúng ta nghĩ là sẽ trả lời các câu hỏi của mình hoặc giải quyết tình huống. Thật không may là, về lâu dài, quyết định được đưa ra là không bền vững, vì nó dựa trên cảm thọ, khi cảm thọ thay đổi, quyết định cũng phải thay đổi theo. Nó dễ làm nội tâm bất an, mâu thuẫn, bối rối, và những người xung quanh không còn tin chúng ta nữa. Trong ngôn ngữ máy tính, câu nói “đầu vào rác, thì đầu ra rác”, cảm thọ tiêu cực là “đầu vào rác”, và những quyết định xuất phát từ đó cũng phải ở cùng tầng với nó.

Trạng thái thứ hai, cao hơn trạng trì trệ, là “năng động”. Cảm xúc tiềm ẩn trong trạng thái này là ham muốn, tức giận, và kiêu hãnh. Bản chất của những cảm thọ này ít gây cản trở, đấy là nói so với trạng thái thấp hơn trước đó, vì một số suy nghĩ tích cực được phép đi qua và hòa trộn với những cảm thọ tiêu cực. Đây là trạng thái của người “quyết tâm đạt được mục tiêu”. Mặc dù mọi công việc đều được hoàn thành, nhưng hiệu suất không đồng đều, đấy là do có sự pha trộn giữa suy nghĩ và ý tưởng tích cực với tiêu cực. Những cảm thọ tiêu cực như tham vọng, ham muốn, hoặc “chứng tỏ bản thân mình” thường thúc đẩy người “quyết đoán”, và đôi khi quá trình ra quyết định mang tính cưỡng chế hoặc bốc đồng.

Đặc điểm của tầng tâm thức này là lợi ích cá nhân là động lực chính. Do đó, nhiều quyết định là không bền vững, vì chúng dựa trên tình huống thắng-thua hơn là đôi bên cùng có lợi. Quyết định đôi bên cùng có lợi sẽ xảy ra nếu ta xem xét cả cảm thọ và phúc lợi của những người có liên quan đến tình huống đó.

Nếu sử dụng ngôn ngữ liên quan đến các trung tâm năng lượng của cơ thể, chúng ta nói rằng những người ở tầng này được thúc đẩy bởi “đám rối dương” (luân xa thứ ba). Có nghĩa là họ tìm cách đạt được thành công và làm chủ thế giới. Nhưng đấy là những người ích kỷ và do động cơ cá nhân thúc đẩy, ít quan tâm đến phúc lợi của người khác hoặc của thế giới nói chung. Vì các quyết định của họ chủ yếu mang lại lợi ích cho chính mình, cho nên thành công của họ cũng chỉ giới hạn ở lợi ích cá nhân. Họ cho rằng lợi ích đối với thế giới chỉ là thứ yếu và do đó, kết quả còn xa mới được gọi là vĩ đại.

Tầng thứ ba và cao nhất là an bình, dựa trên cảm thọ về can đảm, chấp nhận và yêu thương. Vì những cảm thọ này là hoàn toàn tích cực và không gây xáo trộn, cho phép chúng ta tập trung trọn vẹn vào tình huống trước mắt và quan sát tất cả các chi tiết liên quan. Nhờ trạng thái an bình nội tâm, cảm hứng đưa ra những ý tưởng có thể giải quyết vấn đề. Ở trạng thái này, tâm trí không còn lo lắng, khả năng giao tiếp và tập trung không còn bị cản trở nữa. Từ trạng thái này sẽ xuất hiện các giải pháp cho những vấn đề được đặt ra trong bối cảnh đôi bên cùng có lợi; vì mọi người đều được lợi, mọi người đều đóng góp năng lượng cho dự án và thành công được chia sẻ cho tất cả. Cách tiếp cận này thường dẫn đến vĩ đại. Nó là đặc điểm của những dự án cao cả, mang lại những cải thiện sâu rộng cho xã hội của chúng ta. Ở tầng này, chúng ta khám phá được rằng khi nhu cầu của mọi người được đáp ứng, nhu cầu của chính chúng ta cũng tự động được đáp ứng theo. Tâm trí sáng tạo không bị cản trở sẽ tìm ra giải pháp mà mọi người đều có lợi và không ai bị thiệt.

Nếu chúng ta nhìn vào tình huống và cho rằng giải pháp đôi bên cùng có lợi là không thể thực hiện nổi, thì điều đó cảnh báo chúng ta rằng mình có một số cảm thọ bên trong chưa được buông bỏ, chúng đang ngăn cản giải pháp hoàn hảo tiềm tàng. Cần nhớ câu châm ngôn, nói rằng cái bất khả thi trở thành khả thi ngay khi chúng ta hoàn toàn phó thác cho tình huống. 

Cảm thọ và khả năng bán hàng

Vì bán hàng là một phần của nhiều ngành nghề, liên quan đến sản phẩm hoặc ý tưởng hoặc dịch vụ cá nhân của chúng ta, xem xét quan hệ giữa ba tầng tâm thức cơ bản này và khả năng bán hàng là việc nên làm.

Trạng thái thấp nhất, hay trạng thái trì trệ, bị cảm thọ thờ ơ, u sầu và sợ hãi chi phối; rõ ràng là khả năng bán hàng rất thấp nhất. Nhân viên bán hàng ở trạng thái này thường được khách hàng tiềm năng bảo rằng, ngay trong lúc này, họ không quan tâm đến sản phẩm đó. Ngay lập tức nó dẫn đến suy nghĩ tiêu cực và tự chỉ trích với những suy nghĩ như: “Họ không muốn mua sản phẩm của mình.” Bản chất của hoạt động bán hàng làm cho nhân viên bán hàng đứng trước từ chối và thất vọng. Họ có thể tạm thời thoát khỏi những cảm thọ này bằng cách nghỉ giải lao, uống cà phê hoặc trò chuyện với các nhân viên khác; tuy nhiên, cảm thọ của họ đã làm giảm khả năng tập trung và giảm khả năng tạo ra những ý tưởng sáng tạo. Tự trọng thấp làm cho người ta dễ bị tổn thương trước những thứ làm họ mất tinh thần, từ đó tạo ra ý nghĩ cho rằng mình sẽ thất bại. Lúc nào cũng suy nghĩ về thất bại, thì sẽ thất bại trong khi bán hàng. Ở tầng này, bằng cách thừa nhận những cảm thọ tiêu cực và buông bỏ phần thường mà cảm thọ đó mang lại, người đó có thể vươn lên tầng tiếp theo.

Tầng tiếp theo, là trạng thái tràn đầy năng lượng, dựa trên cảm thọ khao khát, tức giận và kiêu hãng. Hăng hái hơn và quyết tâm hơn. Điều này tạo điều kiện để tập trung tốt hơn vào mục tiêu của công việc; tuy nhiên, ở mức độ nào đó, bị các cảm thọ thúc bách, cho nên có thể dẫn đến nói quá nhiều, dành thời gian để nói với khách hàng về triển vọng nhiều hơn là lắng nghe họ. Nó thường dẫn đến việc chốt đơn hàng quá sớm, thúc ép quá mức và tạo ra các vấn đề về tiếp thị. Tuy nhiên, mục tiêu bán hàng vẫn có thể thực hiện được ở tầng này, đó là do đã khơi dậy được nguồn năng lượng cao hơn. Một trở ngại cho thành công ở tầng này là tập trung vào lợi ích cá nhân và quan điểm ẩn dấu: “Tôi thắng; họ thua.” Động cơ tư lợi này được khách hàng tiềm năng nhận biết bằng trực giác và có thể dẫn đến kháng cự. Những suy nghĩ đặc trưng ở tầng này thường theo hướng: “Tôi muốn họ mua, để được hưởng hoa hồng cao.”

Ở tầng cao nhất hay an bình, dựa trên can đảm, chấp nhận và yêu thương, khả năng tập trung của chúng ta đạt tới mức cao nhất. Nhân viên bán hàng ở tầng này có khả năng lắng nghe người khác một cách cẩn thận và đặt việc bán hàng trong bối cảnh có lợi cho người mua hơn là cho người bán. Vì tâm trí an bình và sáng tạo, họ không bao giờ thiếu ý tưởng sáng tạo về những gì sẽ tạo ra doanh số hoặc những gì sẽ biến vấn đề thành giải pháp. Người ở tầng này thường biến khách hàng thành bạn bè, và khách hàng có xu hướng trở thành khách hàng trung thành. Đạt được mục tiêu bán hàng ở tầng này được đảm bảo, vì, cái được lưu giữ trong tâm trí là tình huống tích cực, đôi bên cùng có lợi và sự chắc chắn ở bên trong rằng giải pháp đôi bên cùng có lợi có thể được tạo ra trong tình huống như thế.

Thường thì, buông bỏ trước một tình huống tưởng chừng như bất khả thi lại nhanh chóng chuyển hóa nó thành trải nghiệm tích cực. Ví dụ minh họa cho trường hợp là người phụ nữ làm việc tại một phòng trưng bày nghệ thuật. Doanh số bán hàng rất chậm; cô ta không bán được một bức tranh nào trong suốt nhiều tuần qua. Cô ấy đã áp dụng hàng loạt các phương pháp rèn luyện tâm thức và thực hành một cách vô cùng nghiêm túc. Cô ấy đã sử dụng hình dung, tư duy tích cực, kỹ thuật bán hàng nâng cao và những lời khẳng định bằng văn bản; tuy nhiên, tất cả đều không mang lại kết quả. Càng ngày cô ta càng thất vọng hơn, kèm theo cảm thọ: “Tôi không thể”. Cuối cùng, khi đã tuyệt vọng, cô ấy hoàn toàn buông bỏ và giải phóng tất cả những cảm thọ bị dồn nén. Trong thâm tâm, cô ấy đột nhiên cảm thấy tự do khỏi mọi nỗ lực, cố gắng và phấn đấu. Căng thẳng nội tâm biến mất và thay vào đó, cô cảm thấy bình yên khi đến làm việc tại phòng trưng bày vào sáng hôm đó. Trong giờ làm việc đầu tiên, cô ấy đã bán được hai bản sao của một tác phẩm điêu khắc, thú vị là tác phẩm đó có tên là “Buông bỏ”.

Các giám đốc điều hành của một số công ty đã ghi nhận những bước đột phá tương tự. Ví dụ, một đối tác trong một trong những công ty kế toán danh tiếng nhất nước này, sau khi trải nghiệm thành công với quá trình buông bỏ nội tâm, cuối cùng đã ra khỏi công ty để chia sẻ với những người khác điều mà ông cho là có lợi nhất mà ông từng gặp trong đời. Ông ta muốn giới thiệu phương pháp này cho một số tập đoàn lớn. Ông đã nghiên cứu kết quả tại một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất nước Mỹ. Nghiên cứu của ông cho thấy, trong vòng sáu tháng sau khi học kỹ thuật này, doanh số bán hàng của các đại lý bảo hiểm đã tăng 33% so với nhóm đối chứng. Ông kết luận rằng thành công trên thế gian liên quan mật thiết đến khả năng tập trung – tức là khả năng duy trì nhất tâm vào một đối tượng duy nhất tại một thời điểm, mà không bị nhiễu loạn bởi những tư tưởng hay cảm thọ khác..

Tâm trí tập trung vào suy nghĩ tích cực có sức mạnh làm tăng khả năng là suy nghĩ tích cực đó trở thành hiện thực trong cuộc đời. Những người thành công nhất trên thế giới là những người luôn đặt lợi ích cao nhất của tất cả mọi người lên hàng đầu, trong đó có chính họ. Họ biết rằng lúc nào cũng có giải pháp đôi bên cùng có lợi cho tất cả các vấn đề. Họ sống hòa thuận với chính mình, điều này giúp họ hỗ trợ tiềm năng và thành công của người khác. Họ làm công việc mà mình yêu thích, vì vậy họ luôn cảm thấy được truyền cảm hứng và sáng tạo. Họ không tìm kiếm hạnh phúc; họ nhận ra rằng hạnh phúc là kết quả tất yếu của việc làm những việc mình yêu thích. Cảm thọ thỏa mãn cá nhân đến một cách tự nhiên từ những đóng góp tích cực của họ cho cuộc sống của người khác, trong đó có gia đình, bạn bè, các nhóm và thế giới nói chung.

 


July 14, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (19)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 18 

CÁC MỐI QUAN  HỆ 

 

Vì các mối quan hệ gắn bó mật thiết với những ham muốn cơ bản về tình yêu và an toàn, chúng lập tức khơi dậy những cảm thọ sâu kín nhất của chúng ta. Vì lý do đó, các mối quan hệ này là vô cùng quý giá, không phụ thuộc vào việc chúng được đánh giá là tốt hay xấu. Trong quá trình giải phóng về mặt cảm xúc, mọi thứ đều có giá trị như nhau. Cần phải nhắc nhở chính mình rằng cảm thọ là những chương trình; nghĩa là, chúng là những phản ứng mà chúng ta học được và thường là có mục đích nào đó. Mục đích đó liên quan trực tiếp đến việc tạo ảnh hưởng lên cảm thọ của người khác và bằng cách đó, tạo ảnh hưởng tới cảm thọ của họ đối với chúng ta và hoàn thành những mục tiêu bên trong của chính mình.

Chúng ta sẽ xem xét các phản ứng mang tính cảm xúc phổ biến và khảo sát mục đích thực sự của chúng. Phản ứng mang tính cảm xúc không liên quan gì tới tình yêu, vì tình yêu là trạng thái hòa hợp với người khác. Tình yêu không chỉ là cảm xúc đến rồi đi. Cái thường được coi là tình yêu trong hiểu biết thông thường của con người chủ yếu là gắn bó, phụ thuộc và chiếm hữu. 

Cảm thọ tiêu cực

Như chúng ta sẽ thấy, tất cả các cảm xúc đối tới người khác đều liên quan đến niềm tin cơ bản rằng chúng ta không trọn vẹn trong chính bản thân mình và do đó, người khác được coi và được sử dụng như phương tiện để đạt được mục đích. Mặc dù chúng ta có thể không thể tạo ảnh hưởng tới người khác theo cách mình muốn, việc sử dụng người khác vẫn diễn ra ở tầng tưởng tượng và kỳ vọng. Chúng ta cũng khám phá được rằng phần lớn những gì chúng ta trải nghiệm trong quan hệ chỉ xảy ra trong trí tưởng tượng của chúng ta. Xin bắt đầu với những cảm xúc tiêu cực nhất; chúng ta sẽ khám phá mục đích tiềm ẩn của chúng và phản ứng có thể xảy ra của người kia. 

Tức giận

Những cảm thọ đầu tiên mà chúng ta bàn tới là những cảm thọ tiêu cực nhất: căm thù, ác ý, tức giận, phẫn nộ, trả thù và bạo lực. Rõ ràng là ảo tưởng bên dưới là loại bỏ, xua đuổi, giết, phá hủy, làm tổn thương, làm cho đau đớn, doạ nạt và đe dọa. Phản ứng có thể xảy ra của đối phương là tránh né, căm ghét và phản công. Tức giận nhẹ nhàng hơn được thể hiện như là chỉ trích, phê phán, oán hận, hờn dỗi, uỷ khuất và phán xét tiêu cực về người khác. Mục đích về mặt cảm xúc là trừng phạt người khác, buộc họ phải cảm thấy hối hận, tìm cách ép buộc họ thay đổi cảm thọ hoặc hành vi, làm cho họ đau khổ, trả đũa, làm giảm giá trị và hạ thấp họ. Điều này, tất nhiên, cũng dẫn đến phản ứng của đối phương là chỉ trích ngược lại, oán hận ngược lại và tránh né.

Muốn xử lý vấn đề này thì phải nhận ra rằng hầu hết mọi người đều có những ảo tưởng như thế. Lảng tránh vấn đề, nghĩ rằng chúng là xấu hoặc chúng ta là người có lỗi, thì sẽ không giải quyết được. Chúng ta phải có đủ can đảm để đối mặt với những cảm thọ tồi tệ nhất của mình, thừa nhận rằng chúng là một phần của bản chất con người, và nhớ rằng chúng ta chỉ chịu trách nhiệm về những gì mình làm với những cảm thọ đó. Rõ ràng là những cảm thọ tiêu cực này gây ra những tổn thất rất lớn về mặt tinh thần cho chính chúng ta. Chỉ riêng lý do này thôi cũng đủ để chúng ta nhìn nhận và buông bỏ những cảm thọ đó rồi.

Nhìn vào cảm thọ ở tầng các mối quan hệ giữa người với người, chúng ta còn khám phá ra một quy luật khác của tâm thức. Cảm thọ và suy nghĩ của chúng ta luôn luôn ảnh hưởng đến người khác và ảnh hưởng tới các mối quan hệ của chúng ta, dù những suy nghĩ hay cảm thọ này có được nói ra, được thể hiện ra hay không. Ở điểm này, chúng ta sẽ không đi sâu thảo luận về cơ chế chính xác của hiện tượng này, nhưng hiện nay đây là lĩnh vực nghiên cứu của vật lý lượng tử cao cấp hiện đại, đặc biệt là lĩnh vực liên quan đến các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao và quan hệ của chúng với các suy nghĩ và các hình thức tư duy.

Từ trải nghiệm của chính mình, chúng ta có thể dễ dàng cảm nhận được sự thật của quy luật tâm thức này. Ví dụ, chúng ta vẫn thường biết khi một người nào đó tức giận với mình, ngay cả khi họ không nói gì. Khi cảm nhận được sự tức giận bị kìm nén của họ, chúng ta có thể hỏi: “Có chuyện gì không ổn sao?” Ngay cả khi họ trả lời, “Ồ, không có gì,” chúng ta vẫn nhận thức được năng lượng của tức giận và khó chịu.

Có phần hơi hụt hẫng khi khám phá ra sự thật về sự tương tác này ở tầng năng lượng, nhưng bất kỳ ai cũng có thể tự mình nhận ra điều đó bằng cách nhìn vào bên trong. Thái độ tổng thể mà chúng ta dành cho người khác tạo được ảnh hưởng đến cảm thọ và thái độ của người đó về chúng ta, dù chúng ta có thể hiện ra hay không. Phụ nữ trong xã hội chúng ta có trực giác tốt hơn nam giới; họ thường ý thức rõ hơn rằng người khác biết suy nghĩ và cảm thọ của mình. Tất nhiên, những người có khả năng ngoại cảm thực sự chỉ đơn giản là những chuyên gia về trực giác.

Khi mới khám phá ra sự thật này, chúng ta có thể hơi lo. Hầu hết mọi người đều được dạy để tin rằng suy nghĩ và cảm thọ của chúng ta là chuyện riêng tư và không liên quan đến ai khác, rằng tất cả các tâm trí đều tách biệt, và cảm thọ chỉ xảy ra trong giới hạn của cơ thể. Khi bắt đầu tìm hiểu lĩnh vực này, chúng ta phát hiện được rằng thường thì những cảm thọ mà chúng ta dành cho người khác được phản ánh lại qua thái độ của họ, và khi chúng ta thay đổi thái độ bên trong về họ, thái độ của họ cũng đột ngột thay đổi theo. Lúc nào chúng ta cũng tạo được ảnh hưởng tới người khác một cách vô thức, đấy là do những cảm thọ mà chúng ta dành cho họ. Khi trở thành người có trực giác cao hơn, chúng ta sẽ bật cười trước sự ngây thơ trước đây của mình. Và, nếu nghiên cứu sâu hơn về thế giới của các nhà ngoại cảm và cận tâm lý học, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng các nhà ngoại cảm chuyên nghiệp có thể đọc được suy nghĩ và cảm thọ, ngay cả từ phía bên kia trái đất.

Cách duy nhất để vượt qua lo âu mang tính ám ảnh ban đầu này là phải tự mình chấn chỉnh. Việc tìm ra những gì cần được thanh lọc thực ra rất đơn giản và dễ dàng: Chỉ cần nhìn vào những điều mà bạn không muốn người khác biết về mình, và bắt đầu buông bỏ chúng!

Thông qua quan sát, ta thấy rất rõ rằng những cảm thọ tiêu cực mãnh liệt này sẽ vọng lại và dội ngược lại chính chúng ta, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến các mối quan hệ của chúng ta. Đối phương đơn thuần chỉ là tấm gương phản chiếu những gì ta đang phóng chiếu lên họ. Những người mang trong lòng nhiều hận thù sẽ thấy mình đang sống trong một thế giới đầy thù hận và có rất nhiều người ghét họ. Họ nhìn đâu cũng thấy những tình huống và thế giới đầy rẫy hận thù. Cái mà họ không nhận ra chính là: họ tự tạo ra toàn bộ tình huống này.

Chúng ta nuôi hy vọng thầm kín rằng cảm thọ tức giận của mình đối với người khác sẽ trừng phạt và làm cho họ phải đau khổ. Thực tế, chúng ta chỉ đang cung cấp cho họ lý do để ghét chúng ta. Chúng ta phải sống với sự sợ hãi rằng họ sẽ trả thù và mặc cảm tội lỗi vô thức của chính mình, và thường dẫn đến bệnh tật. Sẽ phát hiện được rằng tất cả tức giận và oán hận của chúng ta đều do tri giác của chúng ta, tức là cách chúng ta nhìn nhận một tình huống nhất định nào đó. Khi buông bỏ những cảm thọ ở bên trong, thì chúng ta sẽ nhìn tình huống theo cách khác, và chúng ta thường ngạc nhiên trước cảm thọ tha thứ vừa mới xuất hiện và quan hệ đã chuyển hoá, mặc dù chúng ta không làm hay nói bất cứ điều gì để thể hiện sự thay đổi vừa xảy ra ở bên trong.

Sự kiện này rất hay xảy ra, đấy là khi ý định của chúng ta là vượt qua oán hận. Khóa học về những điều kỳ diệu dựa trên chính quá trình: thay đổi quan điểm của chúng ta về tình huống bằng cách sẵn sàng nhìn nhận nó khác đi và tha thứ. Đây là điều mà Chúa Giê-su Christ ám chỉ khi Ngài nói về sức mạnh kỳ diệu của tha thứ.

Thú vị là, có cơ sở khoa học cho lời khuyên của Chúa Jesus Christ về việc chúc phúc và yêu thương kẻ thù của chúng ta. Ở tầng năng lượng, những cảm thọ thấp hơn có tần số rung động thấp hơn và sức mạnh thấp hơn. Khi chúng ta ở trong trạng thái năng lượng thấp hơn như tức giận, thù hận, bạo lực, mặc cảm tội lỗi, ghen tị hoặc bất kỳ cảm thọ tiêu cực nào khác, chúng ta dễ bị người khác làm tổn thương về mặt tâm linh. Ngược lại, tha thứ, biết ơn và tâm từ bi có năng lượng rung động cao hơn nhiều và sức mạnh lớn hơn nhiều. Khi chuyển từ mô thức năng lượng thấp sang mô thức năng lượng cao hơn, là chúng ta tạo ra một lá chắn bảo vệ ở tầng năng lượng, chúng ta không còn dễ bị người khác làm tổn thương về mặt tâm linh nữa. Ví dụ, khi đang tức giận, ta rất dễ bị tổn thương, đấy là do sự tức giận của đối phương làm cho ta cạn kiệt năng lượng. Ngược lại, ngược đời là nếu thực sự muốn tác động đến người khác, ta phải thực lòng yêu thương họ. Khi đó, sự tức giận của họ nhắm vào ta sẽ dội ngược lại chính họ mà không hề tạo được ảnh hưởng gì tới ta! Đây chính là trí tuệ trong lời dạy của Đức Phật trong Kinh Pháp Cú:Hận thù diệt hận thù, Ðời này không thể có, Từ bi diệt hận thù, Là định luật nghìn thu”  

Mặc cảm tội lỗi

Lĩnh vực tiêu cực “nặng ký” tiếp theo là mặc cảm tội lỗi. Mục đích tiềm ẩn ở đây là xoa dịu, trấn an, trốn tránh hình phạt bằng cách tự trừng phạt, và xin tha thứ. Quan trọng nhất trong là mong muốn được người khác trừng phạt, kết hợp với việc tự trừng phạt. Đây không phải là mong muốn có ý thức; tuy nhiên, đó là mục đích vô thức của mặc cảm tội lỗi. Chỉ cần tìm hiểu một chút, có thể dễ dàng được xác minh sự kiện này. Lần tới khi chúng ta cảm thấy có mặc cảm tội lỗi về một điều gì đó cụ thể liên quan đến người khác, hãy quan sát xem điều gì xảy ra trong lần gặp gỡ tiếp theo. Gần như chắc chắn, họ sẽ đề cập đến chính điều mà chúng ta đang lưu giữ trong tâm trí. Ví dụ, nếu chúng ta cảm thấy tội lỗi vì đến muộn trong một cuộc hẹn, thì mặc cảm ấy thường sẽ khơi gợi phản ứng chỉ trích từ phía người kia. Khi ta lưu giữ mặc cảm tội lỗi, ta tự chuốc lấy sự chỉ trích và hạ thấp từ người khác; sự tự ti của ta được phản chiếu ngược trở lại thông qua họ, dưới hình thức phủ nhận giá trị của chính mình. 

Nếu luôn luôn nghĩ rằng mình nhỏ bé và không xứng đáng, thì chúng ta sẽ nhận lại những phản ứng tương tự từ người khác, những lời nhận xét của họ thường cho thấy chúng ta cũng nhỏ bé và không xứng đáng. Nếu chúng ta nghĩ mình chỉ đáng giá một mẩu bánh mì, thì đó chính là cái chúng ta sẽ nhận được. Đây là ý nghĩa của câu nói trong Kinh Thánh: “Người nghèo càng nghèo thêm, người giàu càng giàu thêm”. Nghèo khó ở bất kỳ tầng nào, không chỉ là tài chính, đều bắt nguồn từ sự nghèo khó ở bên trong, cũng như giàu có bên ngoài bắt nguồn từ giàu có ở bên trong. Nếu chúng ta muốn người khác thôi chỉ trích và tấn công, thì giải pháp là hãy bắt đầu buông bỏ mặc cảm tội lỗi và tất cả những cảm thọ đã gây ra nó.

Để làm rõ vai trò của cảm thọ trong các mối quan hệ giữa người với người, thì cách học nhanh nhất là giả định rằng đối phương nhận thức được những suy nghĩ và cảm thọ bên trong của chúng ta. Bằng cách này, chúng ta sẽ không sai, vì họ thực sự nhận thức được theo lối trực giác những suy nghĩ và cảm thọ của chúng ta, ngay cả tại một thời điểm nhất định họ không nhận thức được theo lối hữu thức. Họ sẽ phản ứng lại như thể họ biết cảm thọ bên trong của chúng ta. Nhìn chung, quan hệ sẽ diễn ra như thể đối phương nhận thức được cảm thọ bên trong của chúng ta. Nếu chúng ta vẫn còn ảo tưởng rằng người khác không biết suy nghĩ và cảm thọ của mình, thì xin để ý đến sự kiện là chó biết rất nhanh! Chẳng lẽ chúng ta thực sự nghĩ rằng tâm thức con người lại thấp kém hơn tâm thức của một con chó hay sao? Nếu con chó có thể nhanh chóng đọc được toàn bộ thái độ bên trong của chúng ta, thì có thể chắc chắn rằng trực giác của những người xung quanh cũng đang cảm nhận được cùng một tần số rung động đó. 

Thờ ơ và u sầu

Cảm thọ thờ ơ, u sầu, trầm cảm, buồn chán, than thân trách phận, vô vọng và bất lực xuất phát từ chương trình ở bên trong: “Tôi không thể”. Mục đích của nó là khơi gợi cảm thông, giành lại lòng tin, nhận được sự ủng hộ, làm cho người khác thương hại và cầu cứu. Những cảm thọ này ảnh hưởng như thế nào tới người khác? Mặc dù ban đầu có thể có nỗ lực giúp đỡ, nhưng cuối cùng nó bị thay thế bằng thương hại và cuối cùng là né tránh. Vì sao lại né tránh? Né tránh là do nhu cầu năng lượng khổng lồ mà chúng ta đang áp đặt lên người khác. Đó là nỗ lực rút kiệt năng lượng của họ bằng cách tự đưa mình tới trước cửa nhà họ. Nó dẫn đến câu nói phổ biến, nghe có vẻ tàn nhẫn nhưng không may là lại thường đúng: “Khi bạn cười, cả thế giới cười cùng bạn; nhưng khi bạn khóc, bạn khóc một mình.”

U sầu kéo dài sẽ đẩy người khác ra xa. Họ bắt đầu tỏ ra oán hận, đấy là nói trừ khi họ ở vị trí rất cao và có khả năng dễ dàng thể hiện tâm từ bi. U sầu mãn tính dẫn đến già trước tuổi, mệt mỏi và kiệt sức, và chỉ có thể vượt qua khi ta có đủ can đảm để cho phép nó xuất hiện trong những điều kiện thích hợp và sẵn sàng phó thác cho nó và buông bỏ nó. 

Sợ hãi

Cảm thọ sợ hãi—dù đấy là căng thẳng và lo lắng, rụt rè, tự ti, thận trọng, kìm nén hay nghi ngờ—đều có mục đích là trốn tránh mối đe dọa tưởng tượng và tạo ra khoảng cách tâm lý với tình huống hoặc người đáng sợ. Ngược đời là, như chúng tôi đã từng chỉ ra, vì sợ hãi mang sức mạnh rất lớn, nên chính quá trình lưu giữ nó trong tâm trí có thể khiến những điều ta khiếp sợ thực sự bước vào cuộc đời mình. Nó giống như một lời tiên tri tự ứng nghiệm. Năng lượng của sợ hãi tạo ra một sự tập trung nội tại vào tất cả những kịch bản tiêu cực có thể xảy ra, và chính sự tập trung đó có thể kết tụ lại để biểu hiện thành những sự kiện mà chúng ta sợ hãi nhất.

Do đó, trong các mối quan hệ, sợ hãi là chúng ta trao sức mạnh đích thực của mình cho người khác và tạo điều kiện cho họ làm chính cái mà chúng ta sợ. Cách giải quyết là nhìn vào kịch bản tồi tệ nhất có thể xảy ra và xem xét những cảm thọ mà nó gây ra và bắt đầu buông bỏ chúng. Tươmg tự như các cảm thọ khác, sợ hãi có thể được phân tích thành các thành phần cấu thành của nó, và lúc đó dễ dàng buông bỏ các thành phần. Ví dụ, giả sử sợ bị tấn công. Chúng ta tự hỏi: “Kịch bản tồi tệ nhất có thể xảy ra là gì?” Với câu hỏi này, chúng ta thấy rằng cơ sở của sợ hãi là kiêu hãnh. Khi kiêu hãnh được nhận ra và buông bỏ, sợ hãi tự động biến mất. Một lần nữa, trong một mối quan hệ nào đó mà chúng ta đang trải nghiệm sợ hãi, nếu phân tích nỗi sợ này, chúng ta có thể thấy rằng đó thực sự là sợ bị phát hiện ra sự tức giận bên trong; sợ hãi là người kia sẽ trả đũa bằng tức giận. Một lần nữa, khi chúng ta buông bỏ tức giận, sợ hãi sẽ tự động biến mất.

Người thiếu tự tin thường sợ hãi và dễ ghen tuông, bám víu, chiếm hữu và chấp trước vào các mối quan hệ, một cách tiếp cận mà lúc nào cũng mang lại thất vọng. Mục đích của những cảm thọ này là ràng buộc và kiểm soát chặt chẽ người khác, có được an toàn bằng cách ngăn ngừa mất mát và, đôi khi, để trừng phạt người khác vì chúng ta sợ mất. Một lần nữa, những thái độ như thế có xu hướng làm cho chính cái mà chúng ta đang nghĩ đến trở thành hiện thực. Lúc này, người kia cảm thấy năng lượng phụ thuộc và chiếm hữu của chúng ta đè nặng lên họ: xuất hiện thôi thúc bên trong muốn chạy trốn để được tự do, rút ​​lui, tách ra và làm chính cái mà chúng ta sợ hãi nhất. Những thái độ này dẫn đến việc liên tục muốn tạo ảnh hưởng lên người khác. Bởi vì mọi người nhận ra bằng trực giác rằng chúng ta muốn kiểm soát họ, phản ứng của họ là chống lại. Vì vậy, cách duy nhất làm cho họ không chống đối chúng ta là buông bỏ mong muốn tạo ảnh hưởng tới họ ngay từ đầu. Có nghĩa là buông bỏ những sợ hãi bên trong ngay khi chúng vừa sinh khởi. 

Kiêu hãnh

Cảm thọ kiêu hãnh thường được xã hội dung thứ, nó có nhiều hình thức: cầu toàn, gọn gàng, đúng giờ, đáng tin, “người tốt”, sạch sẽ thái quá, nghiện công việc, tham vọng quá mức, thành công, ưu việt về mặt đạo đức và lịch sự. Với hình thức thái quá, chúng ta thấy kiêu ngạo, khoe khoang, phù phiếm, tự mãn và định kiến; ở tầng tâm linh, còn có giết “những kẻ ngoại đạo”. Mục đích mang tính cảm xúc tiềm ẩn của những cảm thọ này đối với người khác là để được họ ngưỡng mộ, tránh bị chỉ trích hoặc từ chối, được chấp nhận, trở thành người quan trọng, và do đó vượt qua cảm thọ vô giá trị ở bên trong chính mình. Thật không may là, những cảm thọ được khơi dậy ở người khác thường là ghen tị, cạnh tranh, hoặc thậm chí là thù hận và dễ bị lợi dụng. Nếu nhìn vào kiêu hãnh, chúng ta thấy nó thường là thay thế cho thái độ tự trọng đích thực.

Đáng quan tâm hơn nữa là nhận ra rằng quan hệ chính mà nhiều người áp dụng những hiện tượng này là mối quan hệ với Thiên Chúa. Có một niềm tin, thường là vô thức, rằng chúng ta có thể nhận được phản ứng nhất định từ Thiên Chúa: “Chúa sẽ thương hại tôi”; “Chúa sẽ trả thù tôi”; “Chúa sẽ trừng phạt tôi”; “Chúa sẽ cảm thấy hài lòng với tôi”; “Chúa sẽ ưu ái tôi”.

Khi có thái độ tự trọng phù hợp, chúng ta được thúc đẩy bởi khiêm nhường và lòng biết ơn từ bên trong, và do đó, chúng ta không cần phải liên tục được người khác (hoặc Chúa) khen. Khi chúng ta thôi muốn được người khác yêu thích, chúng ta sẽ thấy rằng mình được yêu thích. Khi thôi chiều lòng người khác và thôi cố gắng thao túng để được họ chấp thuận, chúng ta sẽ thấy rằng họ tôn trọng chúng ta. Tự hạ thấp mình bằng các hình thức như xoa dịu, tâng bốc, kính phục, khiêm tốn và thụ động đều là những nỗ lực nhằm tạo ảnh hưởng lên người khác bằng cách chiều theo bản ngã của họ, để được ưu ái và đạt được điều mình muốn. Khiêm nhường giả tạo nói với người khác rằng: “Tôi là một người nhỏ mọn; xin hãy đối xử với tôi như thế” và tất nhiên, họ sẽ nhanh chóng làm theo.

Khá rõ ràng là, tất cả những cảm thọ vừa nói đều có tính thao túng người khác và phá hoại các mối quan hệ thực sự. Chúng đều làm giảm lòng tự trọng của chúng ta, vì tất cả đều là những trạng thái dễ bị tổn thương. Do đó, mặc dù chúng ta có thể nghĩ rằng, ở tầng tự hào, mình cảm thấy tốt và an toàn, nhưng do bản chất dễ bị tổn thương của nó, tự hào luôn luôn đi kèm với phòng thủ. Bất cứ khi nào cảm thấy bất an, chúng ta đều trở thành kiêu ngạo. Kiêu ngạo dễ bị tổn thương trước một lời nhận xét thoáng qua hoặc một cái nhíu mày. 

Thân phận con người

Về bản chất, tất cả những cảm thọ tiêu cực đều là những hình thức sợ hãi: sợ mất lòng tự trọng của mình hoặc người khác, hoặc sợ không thể sống sót và mất an toàn. Vì hầu hết các cảm thọ tiêu cực đều đi kèm với đánh giá giá trị mang tính tiêu cực, nên chúng bị kìm nén, đè nén hoặc phóng chiếu. Kìm nén, đè nén và phóng chiếu đều là những động lực phá hoại và dẫn đến căng thẳng ngày càng gia tăng và làm cho các mối quan hệ của chúng ta suy giảm.

Chúng ta thích giả vờ rằng những cảm thọ sâu kín nhất của mình là cái mà người khác không biết, nhưng có phải như thế hay không? Chúng ta đều được kết nối với nhau ở tầng tâm linh, trực giác; vì vậy, người khác đọc được và biết được cảm thọ của chúng ta. Chúng ta có thể không ý thức được điều đó, nhưng hành vi của họ đối với chúng ta cho thấy họ biết thái độ và cảm thọ bên trong của chúng ta đối với họ.

Ví dụ, giả sử chúng ta hành xử một cách mẫu mực ở nơi làm việc. Nhưng, tại sao người khác lại được thăng chức hoặc được công nhận, mà chúng ta thì không? Câu trả lời là hãy nhìn vào những cảm thọ ẩn dấu ở bên trong của chúng ta về người lãnh đạo và công việc. Liệu chúng ta có thực sự nghĩ rằng ông ta không nhận ra thái độ ghen tị, chỉ trích và oán hận bên trong chúng ta? Có thể chắc chắn rằng người khác biết được những cảm thọ và suy nghĩ bên trong của chúng ta. Những suy nghĩ mà chúng ta dành cho họ rất có thể trùng khớp với những suy nghĩ mà họ dành cho chúng ta. Nếu chúng ta nhận ra nguyên tắc này, nhiều sự kiện xảy ra trong cuộc sống sẽ bắt đầu trở thành dễ hiểu hơn. Chúng ta có thể tự hỏi: “Tôi sẽ phản ứng như thế nào nếu tôi là người kia và biết chính xác cảm thọ và suy nghĩ bên trong của mình là gì?” Câu trả lời thường giải thích hành vi của người kia. Có lẽ chúng ta không được thăng chức, vì ở tầng năng lượng, không được nói ra, người lãnh đạo biết rằng mình chỉ trích ông ta, oán hận đồng nghiệp và khao khát được chấp thuận và công nhận.

Trước khi tìm kiếm những cảm thọ tiêu cực trong chính mình, tốt nhất nên nhớ rằng những cảm thọ này không phải là Đại Ngã thực sự của chúng ta. Chúng là những chương trình đã học được mà chúng ta thừa hưởng từ việc sinh ra là một con người. Không có ngoại lệ; tất cả mọi người, từ cao quý nhất đến thấp hèn nhất, đều đang hoặc đã từng có bản ngã. Ngay cả một số ít những vị đã chứng ngộ cũng từng có bản ngã trước khi họ siêu việt được nó. Đây chính là thân phận của con người. Để có thể quan sát những cảm thọ của mình một cách trung thực, cần có thái độ không phán xét.

Trước hết, chúng ta phải nhận thức được cái gì thực sự đang diễn ra bên trong trước khi có thể làm bất cứ điều gì về nó. Khi chúng ta buông bỏ một cảm thọ, nó được thay thế bằng một cảm thọ cao hơn. Mục đích duy nhất của việc nhận ra và thừa nhận một cảm thọ là để chúng ta có thể từ bỏ nó. Buông bỏ có nghĩa là chúng ta sẵn sàng từ bỏ một cảm thọ bằng cách cho phép mình trải nghiệm nó mà không tìm cách thay đổi nó. Kháng cự là tiếp tục giữ nó lại.

Chúng ta có thể nghĩ rằng mình cần có một số cảm xúc tiêu cực; tuy nhiên, khi xem xét kỹ, sẽ phát hiện ra rằng đây là vọng tưởng. Những cảm xúc cao hơn mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn hẳn trong việc đáp ứng các nhu cầu của chúng ta.

Ví dụ, xin tự hỏi chúng ta sẵn sàng làm gì cho người chúng ta thực sự yêu thương? Sẽ thấy ngay rằng chúng ta sẽ làm gần như là bất cứ điều gì. Hầu như vì tình yêu chúng ta sẵn sàng làm bất cứ việc gì. Rồi xin so sánh với những việc chúng ta sẵn sàng làm đối với người đe dọa chúng ta. Sẽ thấy rằng chúng ta miễn cưỡng cho người đó càng ít càng tốt. Mặc dù những người hăm dọa dường như tạm thời thoát tội, nhưng thực chất họ đã mất tất cả, có phải thế không? Chiến thắng của họ chỉ là hời hợt, tạm thời và thậm chí không thật—chiến thắng trên bề ngoài mà thôi. Cuối cùng, thế giới sẽ quay trở lại, và những kẻ hăm dọa tự gieo mầm cho sự hủy diệt của chính mình. Những thứ chúng ta giành được bằng cảm xúc tiêu cực là chóng tàn và không chân thực. Nó không thực sự mang tới thỏa mãn. Giống như một lời khen gượng ép. Hạnh phúc thực sự là kết quả hai bên cùng thắng. Cái giá phải trả cho một tình huống có kẻ thắng và người thua là thù hận và tự trọng thấp. Về cơ bản, chúng ta không thể tự lừa dối chính mình, cũng không thể lừa dối người khác. Người khác lùc nào cũng biết khi nào chúng ta có ý định lợi dụng họ.

Nếu khó bỏ một cảm thọ nào đó, thì chỉ sẽ có ích khi nhìn vào ý định của cảm thọ đó. Mục đích của nó là gì? Tác động có chủ đích mà nó gây ra cho người khác là gì? Phản ứng có thể xảy ra ở họ là gì? Chúng ta có thực sự muốn điều đó hay không? Nếu đây là ngày cuối cùng của cuộc đời, liệu đó có thực sự là điều mà ta mong muốn? Vâng, đây chính là ngày cuối cùng trong đời sống của chúng ta – đời sống cũ với tất cả những xung đột, lo lắng và sợ hãi. Đó là cái giá mà chúng ta phải trả vì bám chấp vào quá khứ.

Khi buông bỏ những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén từ tất cả những chương trình mà chúng ta đã nội tâm hóa, chúng sẽ tự động được thay thế bằng những cảm thọ tích cực hơn. Chúng ta trở thành hạnh phúc và nhẹ nhàng hơn, và những người xung quanh chúng ta cũng thế. Xin cùng xem lại những cảm thọ tích cực này là gì và chúng có tác động như thế nào đến cảm thọ và hành vi của người khác khi họ phản ứng lại chúng ta. 

Cảm thọ tích cực

Những cảm thọ cao thượng như can đảm, sẵn sàng, tự tin, có khả năng, “có thể làm được”, hăng hái, hài hước, năng lực, tự lập và sáng tạo đều có một mục đích về mặt cảm xúc: hành động, vận hành hiệu quả và thành tựu. Đáp lại, phản ứng của người khác sẽ là hợp tác, can đảm, tôn trọng và sẵn sàng đứng cùng chúng ta. Ngoài ra, vì chúng ta đưa lòng tự trọng của họ lên, cho nên họ sẽ muốn làm bạn với chúng ta. Khi nhìn vào tất cả những điều này, chúng ta thấy rằng mình nhận được phần thưởng cao quý khi sẵn sàng buông bỏ những cảm thọ tiêu cực cản trở những cảm thọ cao thượng, giúp chúng ta dễ dàng đạt được mục tiêu và mục đích thực sự của mình.

Khi chúng ta hoạt động ở tầng chấp nhận, tận hưởng, ấm áp, dịu dàng, mềm mại, tin tưởng, sự thật bên trong và niềm tin, thì mục đích mang tính cảm xúc mà người khác đáp lại là yêu thương, tận hưởng, niềm vui, hài hòa, bình yên, thấu hiểu và chia sẻ. Phản ứng của họ đối với chúng ta sẽ là chấp nhận, hài lòng, cảm giác “hòa hợp”, cảm giác được thấu hiểu và niềm vui. Họ sẽ tự động đáp lại tình yêu của chúng ta. Rõ ràng là những cảm thọ có đi có lại này sẽ mang tới thành công trong bất kỳ dự án nào với người kia, dù đó là công việc, xã hội, cá nhân hay chỉ là tương tác thường nhật. 

Kết nối

Khi cảm thọ bên trong của chúng ta là an bình, thanh thản, tĩnh lặng, bình yên, cởi mở và giản dị, thì nó tác động lên những người xung quanh là gia tăng nhận thức của họ cùng với gia tăng nhận thức của chính chúng ta; đồng thời mang lại cho họ một cảm giác sâu sắc hơn về tự do, hoàn hảo, nhất thể và hòa làm một với chúng ta. Trong quan hệ với chúng ta, họ sẽ cảm thấy được gắn kết; họ sẽ tìm thấy sự đồng điệu; họ sẽ thấu hiểu ở tầng sâu thẳm; và họ sẽ cảm thấy giao hòa với chúng ta. Kết quả là, họ sẽ muốn ở cùng chúng ta, vì khi có chúng ta họ cảm thấy trọn vẹn, được công nhận và mãn nguyện. Họ sẽ trải nghiệm nhận thức sâu sắc hơn về Đại Ngã thực sự của chính mình. Họ sẽ cảm thấy mình cao hơn khi ở bên cạnh chúng ta hoặc khi nghĩ về chúng ta. Phản hồi của họ sẽ là yêu thương và biết ơn đối với phước lành khi chúng ta ở bên cạnh họ. Trong quan hệ như thế, các mục tiêu được hoàn thành một cách tự động và dễ dàng. Vì chúng ta không lưu giữ tiêu cực, nên chúng ta không muốn che giấu người khác bất cứ thứ gì, thái độ cởi mở như thế tạo điều kiện cho người kia buông bỏ mọi biện pháp phòng thủ. Không có gì bị che giấu vì mặc cảm tội lỗi hay sợ hãi, và kết nối về mặt tâm linh diễn ra theo lối hữu thức.

Các hiện tượng được gọi là thần giao cách cảm thường xuyên xảy ra ở tầng này. Khi chúng ta hoàn toàn hòa hợp với người khác, chúng ta không có mong muốn che giấu hay bảo vệ bất kỳ suy nghĩ hoặc cảm thọ nào. Vì người kia cũng phản ứng tương tự, cho nên chúng ta dễ dàng biết được những gì đang diễn ra trong tâm trí người kia và những trạng thái cảm thọ thoáng qua của họ. Có sự chấp nhận hoàn toàn bản chất con người của chính mình và người khác. Nếu chúng ta thực sự hòa hợp với người khác, chúng ta sẽ tha thứ cho họ khi thấy thái độ ghen tị hoặc phản ứng thoáng qua. Chúng ta nhận ra rằng đó là hoàn toàn tự nhiên. Và chúng ta biết rằng, ngược lại, họ cũng nhận thức được sự oán hận thoáng qua của chúng ta. Tuy nhiên, họ bỏ qua; họ chấp nhận bản chất con người của chúng ta, và họ hiểu được tình huống. Họ hiểu chúng ta rõ đến mức nhận ra khả năng xuất hiện oán hận thoáng qua trong những tình huống nhất định, nhưng họ cũng biết rằng chúng ta sẽ buông bỏ. Những người mà chúng ta chia sẻ quan hệ yêu thương và chấp nhận đều ổn với bản chất con người của chúng ta và của chính họ. Dù cảm xúc bề ngoài có như thế nào, chúng ta vẫn nhận thức được sự đồng điệu chung về yêu thương, chấp nhận và hòa hợp với nhau và với thế giới.

Bất kỳ người nào cũng có thể vươn tới tầng giao tiếp này. Không nhất thiết phải là người mà chúng ta có quan hệ thân thiết. Thường thì, đầu tiên, chúng ta trải nghiệm điều này với bạn bè, những người mà quan hệ ít rủi ro hơn so với các thành viên gia đình. Tình huống khác là với người yêu cũ. Với người mà chúng ta đã tiết lộ rất nhiều điều—giờ đây khi không còn những ràng buộc hay kỳ vọng về tình cảm lứa đôi—tình bạn có thể nảy nở, không còn cần che giấu bất cứ điều gì nữa. Có thể có giao tiếp cởi mở, trung thực và chính trực thực sự. Chúng ta thấy điều này không ít ở những cặp đã ly thân hoặc ly hôn. Khi những xáo trộn đã lắng xuống, họ dễ dàng hòa thuận và thậm chí có thể vẫn là những người bạn tốt nhất trong suốt nhiều năm. 

Ảnh hưởng của cảm thọ tích cực

Rõ ràng là trạng thái tâm thức cao hơn có ảnh hưởng sâu sắc đến các mối quan hệ của chúng ta, vì một trong những quy luật của tâm thức là “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.” Trạng thái nội tâm của chúng ta thực sự lan tỏa tới người khác. Chúng ta có thể tạo được ảnh hưởng tích cực tới người khác ngay cả khi thân thể chúng ta không ở bên cạnh họ. Cảm thọ là năng lượng và tất cả năng lượng đều phát ra rung động. Chúng ta giống như những trạm thu phát. Càng lưu giữ ít tiêu cực, chúng ta càng nhận thức rõ hơn về người khác thực sự nghĩ gì về mình. Càng yêu thương hơn, chúng ta càng thấy xung quanh mình đầy tình yêu thương. Thay thế một cảm thọ tiêu cực bằng một cảm thọ tích cực hơn là lý do đề người ta có thể trải nghiệm nhiều phép lạ trong suốt cuộc đời. Phép lạ sẽ trở thành thường xuyên hơn khi người ta tiếp tục buông bỏ.

Càng buông bỏ, thì cuộc sống của chúng ta cũng trở nên ngày càng dễ dàng hơn. Hạnh phúc và niềm vui liên tục tăng lên, đó là trạng thái có thể trải nghiệm được mà ngày càng ít lệ thuộc vào những tác động từ thế giới bên ngoài. Giảm bớt nhu cầu và kỳ vọng vào người khác. Chúng ta ngừng tìm kiếm “ở bên ngoài” những thứ mà giờ đây chúng ta cảm nhận được như thể đến từ bên trong chính mình. Chúng ta buông bỏ vọng tưởng rằng người khác là cội nguồn hạnh phúc của mình. Thay vì tìm kiếm những món quà từ người khác, giờ đây chúng ta tìm cách cho đi. Lúc này, những người khác tìm cách ở bên cạnh chúng ta, thay vì tránh né chúng ta. Trong tác phẩm A Christmas Carol của Charles Dickens, Scrooge trải nghiệm niềm vui của việc cho đi thay vì tìm kiếm quà tặng từ người khác. Niềm vui của quá trình chuyển hoá đó có sẵn cho tất cả chúng ta.

Carl Jung đã viết về hiện tượng gọi là “tính đồng nhịp” (synchronicity[i]), mà cũng có thể được gọi là “trùng hợp”, để giải thích các sự kiện mà, đối với trí năng, dường như không liên quan. Khi chúng ta buông bỏ nhiều hơn và nhiều hơn nữa, loại trải nghiệm này sẽ trở thành phổ biến. Minh họa cho hiện tượng này là trải nghiệm sau đây, do một giám đốc điều hành doanh nghiệp, đã thực hành kỹ thuật buông bỏ trong khoảng một năm, kể lại. 

Tôi là Chủ tịch của một tập đoàn không lớn với khoảng 50 nhân viên. Chúng tôi đã bồi dưỡng một chàng trai trẻ đầy triển vọng để anh ta lãnh đạo một trong những bộ phận của công ty. Tuy nhiên, hóa ra anh chàng này lại rất thiếu chín chắn. Thay vì đáp lại bằng thái độ biết ơn và hợp tác vì tất cả những việc mà tập đoàn đã làm cho mình, thì anh ta lại phản ứng bằng cách trở thành kiêu ngạo, đòi hỏi và có phần hoang tưởng. Anh ta tuyên bố rằng trong kỳ tới, sẽ xông vào cuộc họp của Hội đồng quản trị và tạo ra hỗn loạn lớn với những lời buộc tội và đòi hỏi vô lý của mình. Mặc dù có thể dễ dàng bác bỏ tất cả những lời buộc tội của anh ta, nhưng toàn bộ sự việc nghe có vẻ như một trải nghiệm kinh hoàng. Trong suốt mấy ngày, anh ta tỏ ra đầy thù hận với những lời đe dọa của mình. Vào lúc 1 giờ chiều trong ngày diễn ra cuộc họp Hội đồng quản trị, tôi đang lái xe trên đường cao tốc và cảm thấy cực tức giận dữ về anh ta. Đột nhiên tôi buông bỏ tất cả; tôi hoàn toàn phó thác cho anh ta. Tôi bắt đầu nhìn thấy đứa trẻ sợ hãi trong chính anh ta, và tôi bắt đầu gửi đến anh ta tình yêu. Tất cả những lo lắng của tôi biến mất, và tôi cảm thấy tình yêu, và sự đồng cảm dành cho anh ta. Tôi nhìn vào đồng hồ, lúc đó là 12 giờ 30 phút. Khi tôi đến văn phòng, và cô thư ký nói rằng anh này đã vào văn phòng và tuyên bố rằng sẽ hủy bỏ toàn bộ sự việc; anh ta đã thay đổi ý định vào phút chót. Tôi hỏi anh ta vào văn phòng lúc mấy giờ. Cô thứ ký nói rằng đã ghi nhớ chính xác thời gian, vì cuộc họp Hội đồng quản trị sắp diễn ra. Cô ấy nhìn đồng hồ khi anh chàng bước vào và thông báo về việc thay đổi ý định. Chính xác là 12 giờ 32 phút trưa hôm đó. 

Buông bỏ kỳ vọng

Khi chúng ta tạo áp lực lên người khác để đạt được điều mình muốn, thì họ tự động chống lại, vì chúng ta đang cố gắng tạo áp lực lên họ. Chúng ta càng thúc ép, họ lại càng chống cự mạnh mẽ hơn. Mặc dù, vì sợ hãi, họ có thể thực sự nhượng bộ trước yêu cầu của chúng ta, nhưng đó không phải là chấp nhận từ bên trong và sau đó, chúng ta sẽ mất những gì đã giành được. Chống cự có mặt trong tất cả chúng ta. Chúng ta có thể nhận thức được nó vì nó hoạt động theo lối vô thức, và chúng ta né tránh nhận thức đó bằng cách đưa ra những lời bào chữa và giải thích hợp lý.

Như đã đề cập bên trên, trong cuốn sách nhan đề Winning Through Intimidation (Chiến thắng bằng cách đe dọa), Robert Ringer gọi là “lý thuyết con trai/con gái”. (Chàng trai gặp cô gái. Ngay khi cô ấy nhận ra anh ta muốn mình, cô ấy trở thành khó gần. Vì vậy, nếu chàng trai quyết định rút lui, thì cô ấy lại muốn anh ta, và ngược lại, anh ta lại tỏ ra  lạnh lùng.) Khi chúng ta dùng hiện tượng này để giải thích thái độ kháng cự trong bán hàng, một cách giải quyết là cho rằng trách nhiệm của chúng ta là nỗ lực, nhưng không tìm cách quyết định kết quả. Một cách khác là buông bỏ cảm thọ về những gì chúng ta muốn từ người khác, và buông bỏ áp lực mà chúng ta áp đặt lên họ, ví dụ như kỳ vọng và mong muốn. Khi đó, họ có không gian tâm lý để trở thành dễ chịu hoặc thậm chí tự mình khởi xướng kết quả đáng mong muốn, tức là kết quả mà chúng ta đã mong muốn ngay từ đầu.

Một ví dụ về động lực này là một người đàn ông đang áp dụng kỹ thuật buông bỏ trong quá trình ly hôn. Anh ta và vợ đã tranh cãi gay gắt về một thứ mà anh ta muốn. Còn cô vợ thì liên tục nói “Không” với yêu cầu của anh ta. Vì vậy, trong lúc đó, anh ta đã buông bỏ thứ mình muốn. Lúc này anh ta thấy ổn nếu cô ấy không đưa cho anh ta, và cũng ổn nếu cô ấy đưa cho anh ta. Ngay khi anh ta buông bỏ ý nghĩ đó, cô vợ đột nhiên quay sang anh ta và đề nghị, không chỉ đưa cho anh ta, mà còn đóng gói và gửi đi.

Sự kiện này minh họa một cách rất đơn giản nhưng chắc chắn là tinh tế và chủ động để làm rõ các mối quan hệ. Trước hết, hãy xem bạn đang cảm thấy thế nào trong lòng về một người nào đó trong một tình huống nhất định nào đó. Giả sử rằng người kia nhận thức được những suy nghĩ và cảm xúc đó. Sau đó, hãy tự đặt mình vào vị trí của họ và xem bạn sẽ phản ứng như thế nào. Bạn sẽ thấy rằng hành vi của họ có lẽ chính xác là những gì bạn sẽ làm nếu ở trong hoàn cảnh của họ. Mục tiêu là buông bỏ tất cả những cảm thọ đó cho đến khi bạn có thể đạt đến trạng thái suy nghĩ và cảm thọ tích cực về vấn đề đó. Khi đã ở trong trạng thái tích cực, bây giờ hãy xem bạn sẽ phản ứng như thế nào nếu là người kia, khi đã nhận thức được những cảm thọ mới này. Có khả năng là hành vi của họ sẽ thay đổi đúng như bạn kỳ vọng. Có thể sẽ có độ trễ nhất định; nhưng nếu bạn tiếp tục quan sát, thay đổi rất có thể sẽ xảy ra. Ngay cả khi không xảy, bạn cũng sẽ không còn buồn phiền về tình huống đó nữa. Đôi khi “phần thưởng” không đến, nhưng chúng ta có thể nói: “Đây là cái mà vũ trụ nợ tôi vào đúng thời điểm.” Thực tế, biết rằng đôi khi một việc tốt không được đền đáp lại là một phần của sự vĩ đại.

Ảnh hưởng của suy nghĩ và cảm thọ của chúng ta, trong sách báo, gọi là “luật nhân quả,” hay “Gieo nhân nào gặt quả ấy.” Thường thì chúng ta không thấy luật này hoạt động vì có độ trễ nhất định. Ví dụ, một người quen đã mượn 200 đô la và sau đó không trả lại như đã hứa. Trong hơn một năm, đã có thái độ oán hận và tránh mặt vì cảm thấy khó chịu, và nó càng trở thành trầm trọng hơn bởi mặc cảm tội lỗi vì, ngay từ đầu, đã giữ oán hận. Cuối cùng, khi nhận ra rằng người duy nhất chịu đựng oán hận chính là người đang ôm giữ nó, nó làm cho tâm hồn không được thanh khản, thì cũng là lúc đã sẵn sàng buông bỏ rồi. Lúc đó, dễ dàng buông bỏ và tha thứ cho người vay. Coi 200 đô la như khoản giúp đỡ người bạn đang gặp khó khăn. Chỉ trong vòng vài tháng, bất ngờ gặp lại người đó, và người này đột nhiên nói: “Tôi đã lo lắng về số tiền tôi nợ bạn. Đây là toàn bộ 200 đô la.” Không cần đòi mà đã được trả toàn bộ khoản vay này.

Chúng ta ngăn cản, không để mình nhận những thứ mình muốn từ người khác bằng những kỳ vọng hoặc oán hận đối với họ. Từ bỏ những kỳ vọng của chúng ta đối với người khác trước khi tham gia vào một tình huống cụ thể với họ là việc làm rất hiệu quả. Cảm xúc thực chất là những nỗ lực tinh vi để ép buộc người khác và áp đặt ý chí của chúng ta lên họ, và họ chống lại theo lối vô thức.

Muốn các mối quan hệ diễn ra một cách thuận lợi và làm cho ta hài lòng thì cách tốt nhất là tưởng tượng một cách đầy yêu thương kết quả tốt đẹp nhất có thể. Đảm bảo rằng đó là tình huống hai bên cùng thắng. Buông bỏ mọi cảm thọ tiêu cực và chỉ cần lưu giữ hình ảnh đó trong tâm trí. Chúng ta có thể biết mình đã thực sự buông bỏ hay chưa khi cảm thấy ổn trong cả hai trường hợp, nghĩa là chấp nhận nếu nó xảy ra và chấp nhận nếu nó không xảy ra. Vì vậy, buông bỏ không có nghĩa là thụ động. Đó là chủ động theo hướng tích cực.

Khi buông bỏ, thì áp lực về thời gian cũng không còn. Thất vọng là do muốn có một cái gì đó ngay lập tức thay vì để nó diễn ra một cách tự nhiên, vào thời điểm thích hợp. Kiên nhẫn là một tác dụng phụ, tự động của buông bỏ, và chúng ta biết rằng hòa hợp với những người kiên nhẫn là công việc khá dễ dàng. Để ý thì thấy, cuối cùng, những người kiên nhẫn thường đạt được điều họ mong muốn.

Một trong những kháng cự đối với buông bỏ là vọng tưởng cho rằng, nếu buông bỏ ham muốn và kỳ vọng, thì chúng ta sẽ không đạt được điều mình muốn. Chúng ta sợ rằng mình sẽ mất, nếu không tiếp tục gây áp lực để có được nó. Tâm trí luôn nghĩ rằng, biện pháp để có được một điều gì đó là phải muốn nó. Thực tế, nếu khảo sát vấn đề, chúng ta sẽ thấy rằng các sự kiện là do các quyết định, và các lựa chọn dựa trên ý định của chúng ta. Những gì chúng ta nhận được là kết quả của những lựa chọn này, mặc dù chúng là vô thức, chứ không phải là những gì chúng ta nghĩ là mình muốn. Khi buông bỏ áp lực của ham muốn, chúng ta sẽ có thể đưa ra những lựa chọn và quyết định khôn ngoan hơn.

Chúng ta thường lầm tưởng rằng hạnh phúc của mình phụ thuộc vào việc kiểm soát các sự kiện, và chính các sự kiện thực tế lại làm cho chúng ta phiền não. Thực ra, chính cảm thọ và suy nghĩ của chúng ta về những sự kiện đó mới là nguyên nhân thực sự làm chúng ta phiền não. Sự kiện, tự nó, là trung tính. Sức mạnh mà chúng ta gán cho chúng phụ thuộc vào thái độ chấp nhận hoặc không chấp nhận và trạng thái cảm thọ tổng thể của chúng ta. Nếu bị mắc kẹt trong một cảm thọ nào đó, thì đấy là do chúng ta vẫn thầm tin rằng nó sẽ mang lại điều gì đó cho mình. 

Quan hệ tình dục

Do có rất nhiều tài liệu viết về tình dục và cơ hội cho những trải nghiệm tình dục là khá đa dạng, cho nên hầu hết mọi người hiện nay tự coi mình là người được giải phóng về tình dục. Nhưng giải phóng chủ yếu là ở tầng trí năng và hành vi; bên trong vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế về mặt cảm xúc, trải nghiệm, cũng như giới hạn của các giác quan. Tất cả các trải nghiệm đều diễn ra trong tâm thức; do đó, trải nghiệm tình dục, giống như bất kỳ trải nghiệm nào khác, được quyết định bởi tầng nhận thức tổng thể và tự do nội tâm của chúng ta.

Mức độ hạn chế trong trải nghiệm tình dục của chúng ta càng rõ ràng hơn khi chúng ta càng buông bỏ cảm thọ về nó. Khi chúng ta hoàn toàn phó thác cho tình dục, thì tương tự như thêm một chiều thứ ba vào những gì trước đây chỉ là trải nghiệm hai chiều. Một người phụ nữ đã nói: “Giống như trước đây tôi chỉ nghe  thấy tiếng vĩ cầm, sau đó có thêm tiếng cello, rồi tiếng sáo, v.v., đến nỗi giờ đây trải nghiệm trở nên hoàn toàn đầy đủ và toàn diện.”

Bên cạnh khoái cảm cảm xúc gia tăng từ tự do thể hiện, buông bỏ mang lại thay đổi trong chính trải nghiệm về mặt giác quan. Đối với hầu hết mọi người, đặc biệt là đàn ông, kích thích tình dục và khoái cảm cực khoái chủ yếu là cảm giác ở bộ phận sinh dục. Khi càng trở nên tự do hơn, vị trí của cực khoái bắt đầu mở rộng và lan ra toàn bộ vùng xương chậu và bụng, chân và tay, và cuối cùng là toàn bộ cơ thể. Thường thì, sau khi đạt được cực khoái, thì sẽ đến giai đoạn ổn định, và sau đó đột nhiên và bất ngờ, vị trí cực khoái mở rộng ra ngoài cơ thể, như thể không gian xung quanh cơ thể đang trải nghiệm cực khoái thay vì chính người đó. Cuối cùng, không có giới hạn nào cho cực khoái. Nó dường như mở rộng đến vô tận và được trải nghiệm từ bất kỳ trung tâm hay vị trí cụ thể nào. Như thể không có một cá nhân nào đang có mặt. Cực khoái đang tự trải nghiệm chính nó.

Mở rộng này diễn ta dễ dàng hơn bằng cách nhận thức rằng nhăn mặt và nín thở là những hạn chế do sợ mất kiểm soát và những nỗ lực nhằm hạn chế trải nghiệm. Nếu thở chậm và sâu, mỉm cười thay vì nhăn mặt, sợ hãi sẽ trở thành có ý thức và có thể được buông bỏ.

Tình dục không còn mang tính cưỡng chế nữa. Tự do không chỉ có nghĩa là tự do để thỏa mãn mà còn là tự do không có quan hệ tình dục hay đạt cực khoái. Khi buông bỏ, chúng ta không bị điều khiển bởi ham muốn đạt cực khoái. Làm thế là giải phóng những trải nghiệm và nhận thức mang tính sáng tạo, vì tâm trí không tập trung vào chính cực khoái. Được giải thoát khỏi sự thống trị của ham muốn đạt cực khoái cho phép những trải nghiệm tình dục được mô tả trong văn học tâm linh là “Tình dục Tantra”. Hầu hết người phương Tây đọc một chút về nó và có lẽ đã thử, nhưng sau đó họ bỏ cuộc vì họ tiếp cận nó theo cách dẫn đến sự kìm nén chứ không phải là tự do hơn.

Càng được giải phóng thực sự, chúng ta càng được thúc đẩy bởi tình yêu hơn là bởi ham muốn thỏa mãn. Sự thay đổi động lực này, từ thèm muốn và khao khát sang chia sẻ niềm vui và hạnh phúc với nhau, mang lại những thay đổi to lớn trong bản chất của quan hệ tình dục. Sự thân mật với người khác trở nên bao trùm và thú vị hơn. Có sự hòa hợp lớn hơn với tình dục của người khác và sự thỏa mãn trực giác về phong cách thỏa mãn của nhau. Một cặp bày tỏ điều đó như sau:

Cứ như thể chúng tôi chỉ chứng kiến ​​những gì cơ thể mình đang làm. Cứ như thể chúng tôi chính là không gian mà tất cả đang diễn ra. Ngay khi một người có ham muốn hay tưởng tượng, người kia tự động mà không cần suy nghĩ, bắt đầu hành động để thực hiện nó. Cứ như thể có kết nối về mặt tâm linh. Chúng tôi thừa nhận những cảm thọ bên trong về những tưởng tượng và buông bỏ những lo lắng về phản ứng của người kia. Tình dục trở thành đa dạng và thường xuyên hơn. Trước đây chủ yếu là tối thứ Sáu và thứ Bảy. Giờ đây, làm tình có thể diễn ra trong nhiều ngày liên tiếp, hoặc đôi khi cả tuần mà không có. Luôn luôn mới mẻ. Không bao giờ lặp lại. Đáng kinh ngạc là ngày càng tốt hơn. Lần cực khoái sau dường như thú vị hơn lần trước, nhưng thường thì làm tình lại thú vị đến mức không cần phải đạt cực khoái. Nếu nó xảy ra thì cũng ổn, và nếu không thì cũng ổn. Thời gian thân mật bên nhau thật thỏa mãn và giải phóng, dù kết quả cuối cùng là gì thì cũng thế.

Một người đàn ông nói:

Trước đây tôi chưa từng thực sự nhận ra rằng tình dục đã chi phối các mối quan hệ của mình đến mức nào. Nó thực sự mang tính cưỡng bách. Tôi luôn sợ mình sẽ bỏ lỡ cơ hội làm tình. Tôi không muốn bỏ lỡ cơ hội để tận hưởng khoái cảm. Giờ đây, thói quen của tôi đa dạng hơn; thực tế là, bây giờ tôi không có mô thức nào hết. Khi nó xảy ra, nó xảy ra và thật tuyệt vời khi nó xảy ra. Khi nó không xảy ra, tôi thậm chí không nghĩ đến nó. Trước đây, tôi luôn nghĩ đến tình dục. Phụ nữ thường nói: “Không”. Nhưng giờ đây, vì tôi không còn quan tâm nhiều đến nó nữa, họ thường đề nghị hoặc nói: “Có” nếu tôi đề nghị. Bây giờ, tôi thấy mình quan tâm đến họ nhiều hơn là bản thân mình. Trước đây, tôi chỉ lợi dụng họ cho mục đích ích kỷ của riêng mình và, theo trực giác, phụ nữ biết điều đó. Bây giờ tôi cảm thấy rất yêu thương họ. Tôi thực sự quan tâm đến hạnh phúc và sự an lành của họ, ngay cả khi đó chỉ là một lần gặp gỡ. Thật nhẹ nhõm khi không còn phải nói dối nữa.

Từ những ví dụ vừa nói, rõ ràng là có thay đổi trong tâm thức từ thiếu thốn sang sung túc. Khi chúng ta ích kỷ và chỉ tập trung vào việc tìm kiếm khoái cảm về mặt cảm xúc hoặc thể chất trong quá trình làm ​​tình với người khác, thì chúng ta cảm thấy tức giận, thất vọng và bị tước đoạt. Càng yêu thương nhiều hơn, chúng ta càng nhận được nhiều hơn những gì người khác cho mình, và chúng ta khám phá ra rằng yêu thương hiện diện xung quanh và mọi lúc mọi nơi đều có những cơ hội cho những quan hệ đầy yêu thương. Một người phụ nữ chia sẻ trải nghiệm sau đây:

Lúc nào tôi cũng thừa cân và không đẹp. Trong suốt cuộc đời này, tôi đã luôn khước từ chính mình. Tôi ghen tị và ghét những người phụ nữ hấp dẫn về mặt tình dục. Tôi cũng ghét cả đàn ông vì họ tránh né tôi. Tôi thường than thân trách phận. Tôi thậm chí đã thử áp dụng tâm lý trị liệu, nhưng đã bỏ cuộc khi nhận ra rằng nhà trị liệu tâm lý dường như quan tâm đến những bệnh nhân nữ trẻ đẹp hơn là tôi. Tôi đã thử nhiều phương pháp khác nhau và ít nhất đã vượt qua được thái độ than thân trách phận và trầm cảm; tôi đã có việc làm tốt hơn. Nhưng đàn ông vẫn không quan tâm đến tôi, và tôi không thành công trong chuyện tình dục và tình cảm.

Sử dụng phương pháp buông bỏ, cô ấy đi sâu vào tất cả những cảm thọ tiêu cực mà mình có về chính mính và các mối quan hệ thân mật; cô ấy cho phép những cảm thọ đó xuất hiện từng cái một, và buông bỏ chúng. Cô ấy buông bỏ những cảm thọ như muốn được người khác chú ý và chấp nhận, sợ hãi khi thể hiện bản thân, sợ bị từ chối, và thậm chí cả sợ được yêu thương sâu sắc. Có một cảm thọ ẩn sâu bên dưới: “Tôi không xứng đáng được yêu thương; ai có thể yêu tôi chứ?” Trong vòng một tuần sau khi buông bỏ những cảm thọ này, cô ấy đã có một cuộc hẹn hò. Cô ấy giải thích:

Tôi phấn khích đến nỗi mất cả cảm giác thèm ăn. Chúng tôi đã có một khoảng thời gian tuyệt vời và rồi đột nhiên tôi nhận ra bí mật. Tôi đang cho đi tình yêu thay vì tìm kiếm nó. Cuộc sống của tôi đã thay đổi hoàn toàn. Thay vì muốn được chú ý và yêu thương đến mức tuyệt vọng, tôi biết mình có sức mạnh để cho đi. Khi bước vào một căn phòng, tôi thấy toàn những người đàn ông cô đơn, khao khát tình yêu. Họ trông giống hệt như tôi trước đây, vì vậy tôi biết họ đang cảm thấy như thế nào và phải nói gì với họ, làm thế nào để thể hiện bản thân. Tôi đặt mình vào vị trí của họ và nhìn trái tim họ tan chảy. Tôi từng làm họ sợ hãi bỏ chạy vì tôi quá đói. Hiểu chứ? Đói! Đó là vấn đề của tôi. Giờ đây tôi cảm thấy no đủ, và tôi chia sẻ sự no đủ đó và những gì tôi đã học được. Cuộc sống xã hội của tôi trở nên thú vị đến nỗi tôi không còn thời gian để ăn nữa. Tôi đã giảm được 35 pounds trong một năm. Tôi thậm chí chưa bao giờ ăn kiêng. Tôi chỉ đơn giản là mất hứng thú với việc ăn uống. Tôi đoán đó là vì giờ đây tôi đang được thỏa mãn theo một cách thực sự có ý nghĩa đối với tôi. Có lẽ tôi hơi điên điên vì sự mới mẻ này, nhưng chẳng bao lâu nữa tôi sẽ ổn định lại. Hiện giờ có một người đàn ông mà tôi thực sự quan tâm.

Do đó, tình dục phản ánh trạng thái tâm thức tổng thể của chúng ta. Khi chúng ta buông bỏ sợ hãi và những giới hạn, lĩnh vực đó trong cuộc sống của chúng ta sẽ mở rộng và trở nên ngày càng thỏa mãn hơn, nhưng lại không phải là điều kiện cần để hạnh phúc. Tự do và sáng tạo thay thế cho cưỡng chế và giới hạn. Tình dục trở thành một con đường khác để thể hiện bản thân tốt hơn và nâng cao nhận thức. Niềm vui của sự giao hòa và hiểu biết phi ngôn ngữ thay thế cho sự thúc đẩy ích kỷ để giải tỏa căng thẳng và mục tiêu hạn chế của khoái cảm tình dục và thổi phồng bản ngã. Bí quyết, như người phụ nữ ở trên đã nói, nằm ở nhận thức rằng khi chúng ta tìm cách cho đi thay vì nhận lại, tất cả các nhu cầu của chính chúng ta đều được tự động đáp ứng. Như một người nhận xét: “Những người bạn của tôi, từng thực hành kỹ thuật này đã kể cho tôi nghe về nhiều vấn đề, nhưng không có người yêu không phải là một trong số đó!”



[i] Synchronicity - Tính đồng nhịp  hay đồng phương tương tính được Carl Jung định nghĩa là một “nguyên lý liên hệ phi nhân quả” hay nguyên lý trùng ứng hoặc nguyên tắc kết nối phi nhân quả còn được gọi là sự đồng hiện hay ngẫu nhiên có ý nghĩa là một khái niệm được nhà tâm thần học Carl Jung, người sáng lập ra tâm lý học phân tích đề ra để mô tả các sự kiện trùng hợp về mặt thời gian và dường như có liên quan có ý nghĩa, nhưng lại thiếu mối liên hệ nhân quả có thể khám phá được. Đây chính là nguyên lý về sự trùng hợp có ý nghĩa của hai hay nhiều sự kiện, trong đó không tồn tại một mối liên hệ nhân quả nào giữa chúng.