ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
PHỤ LỤC A
BẢN ĐỒ TÂM THỨC
|
Quan điểm về Chúa |
Quan điểm về cuộc đời |
Tầng |
Logarit |
Cảm xúc |
Quá trình |
|
Đại ngã |
Đang là |
Chứng ngộ |
⇑700-1000 |
Không nói lên lời |
Tâm thức thuần túy |
|
Vạn hữu |
Hoàn hảo |
An bình |
⇑600 |
Phúc lạc |
Ngộ đạo |
|
Độc nhất |
Đầy đủ |
Niềm vui |
⇑540 |
An bình |
Biến hình kỳ diệu |
|
Yêu thương |
Nhân từ |
Tình yêu |
⇑500 |
Tôn kính |
Mặc khải |
|
Thông thái |
Có ý nghĩa |
Lý trí |
⇑400 |
Thấu hiểu |
Trừu tượng hóa |
|
Khoan dung |
Hài hòa |
Chấp nhận |
⇑350 |
Tha thứ |
Siêu việt |
|
Truyền cảm hứng |
Hy vọng |
Sẵn sàng |
⇑310 |
Lạc quan |
Mục đích |
|
Trao khả năng |
Thỏa mãn |
Trung dung |
⇑250 |
Tin tưởng |
Giải phóng |
|
Cho phép |
Khả thi |
Can đảm |
⇕200 |
Khẳng định |
Trao quyền |
|
Bàng quan |
Đòi hỏi |
Kiêu hãnh |
⇓175 |
Khinh khi |
Thổi phồng |
|
Hiềm khích |
Đối kháng |
Tức giận |
⇓150 |
Thù hận |
Hung hăng |
|
Từ chối |
Thất vọng |
Ham muốn |
⇓125 |
Thèm muốn |
Nô dịch hóa |
|
Trừng phạt |
Kinh khiếp |
Sợ hãi |
⇓100 |
Lo âu |
Thoái lui |
|
Khinh bỉ |
Bi kịch |
U sầu |
⇓75 |
Tiếc nuối |
Chán nản |
|
Chỉ trích |
Vô vọng |
Thờ ơ |
⇓50 |
Tuyệt vọng |
Từ bỏ |
|
Thù oán |
Xấu xa |
Mặc cảm tội lỗi |
⇓30 |
Trách móc |
Hủy hoại |
|
Miệt thị |
Khốn khổ |
Nhục nhã |
⇓20 |
Nhục nhã |
Trừ khử |
© The Institute for Spiritual
Research, Inc., dba/ Veritas Publishing.
This chart cannot be reproduced.
PHỤ LỤC B
QUY TRÌNH KIỀM TRA CƠ BẮP
Thông tin tổng quát
Trường
năng lượng của tâm thức có vô số chiều kích. Một số tầng cụ thể tương quan với tâm
thức của con người được hiệu chỉnh từ 1 đến 1.000. (Xem Phụ lục A: Bản đồ tâm
thức). Những trường năng lượng này phản ánh và thống trị tâm thức của con người.
Vạn vật trong vũ trụ đều phát ra một tần số cụ thể hoặc trường năng lượng cực nhỏ vĩnh viễn được lưu lại trong lĩnh vực tâm thức. Do đó, mỗi người hoặc sinh vật đã từng sống và bất cứ điều gì liên quan đến họ, bao gồm bất kỳ sự kiện, suy nghĩ, việc làm, cảm giác hoặc thái độ nào đều được vĩnh viễn ghi lại và có thể được truy xuất tại bất kỳ thời điểm nào trong hiện tại hoặc tương lai.
Kỹ thuật
Phản
ứng kiểm tra cơ là phản ứng “có” hoặc “không có” (không) trước một tác nhân
kích thích cụ thể nào đó. Kiểm tra bằng cách bảo đối tượng đưa thẳng cánh tay
ra đằng trước, người kiểm tra dùng hai ngón tay ấn nhẹ xuống cổ tay của cánh
tay đang đưa ra của đối tượng. Thường thì tay kia của đối tượng cầm chất cần kiểm
tra và đặt lên vùng bụng ở phía dưới xương sườn (solar plexus – đám rối dương).
Người kiểm tra nói với đối tượng kiểm tra: “Chống lại ”, nếu chất được kiểm tra
có lợi cho đối tượng, cánh tay sẽ mạnh mẽ, tức là khó ấn xuống. Nếu nó không có
lợi hoặc nó có tác dụng ngược, cánh tay sẽ yếu đi, tức là dễ bị ấn xuống. Phản ứng
diễn rất nhanh.
Quan
trọng cần lưu ý là ý định của cả người kiểm tra và người được kiểm tra đều phải
có điểm hiệu chỉnh trên 200 thì phản ứng mới chính xác.
Kinh
nghiệm từ các nhóm thảo luận trực tuyến cho thấy, nhiều nhà nghiên cứu thu được
kết quả không chính xác. Nghiên cứu thêm cho thấy, ở điểm 200, vẫn có 30% khả
năng bị lỗi. Tầng tâm thức của nhóm kiểm tra càng cao thì kết quả càng chính
xác. Tốt nhất là những người tham gia đều có thái độ vô tư, tuyên bố trước khi
nói ra điểm hiệu chính như sau: “Nhân danh điều tốt đẹp nhất, … hiệu chỉnh là
đúng. Hơn 100, hơn 200”, v.v.. Việc đặt cuộc kiểm tra vào bối cảnh “nhân danh
điều tốt đẹp nhất” làm gia tăng mức độ chính xác, vì nó siêu việt mọi lợi ích
và động cơ tư lợi cá nhân.
Suốt
nhiều năm, người ta đều nghĩ rằng bài kiểm tra này chỉ là phản ứng cục bộ của hệ
thống kinh mạch hoặc hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nhưng, một công trình
nghiên cứu sau này đã tiết lộ rằng phản ứng đó hoàn toàn không phải là phản ứng
cục bộ với cơ thể, mà là phản ứng tổng thể của bản thân tâm thức đối với năng
lượng của một chất hoặc một lời tuyên bố. Cái gì đúng, cái gì có lợi hoặc hỗ trợ
đời sống thì tạo ra phản ứng tích cực, xuất phát từ khu vực phi cá nhân của tâm
thức, vốn hiện diện trong tất cả mọi người đang sống. Cơ bắp trong cơ thể mạnh
lên chứng tỏ rằng phản ứng là tích cực. Đồng tử cũng có phản ứng (dối trá thì đồng
tử giãn ra và thật sự thì đồng tử co lại), chụp ảnh cộng hưởng từ cũng phát hiện
được thay đổi trong chức năng của não bộ. (Để cho tiện, người ta thường dùng cơ
delta làm cơ chỉ thị; tuy nhiên, có thể sử dụng bất kỳ cơ nào).
Trước
khi đưa ra câu hỏi (dưới dạng một lời tuyên bố), cần xin phép; tức là nói: “Tôi
xin phép hỏi về những điều tôi đang nghĩ”(Có/Không). Hoặc: “Công cuộc hiệu chỉnh
này nhằm phục vụ cho những điều cao cả nhất”.
Nếu
lời tuyên bố là sai hoặc một chất mà đối tượng đang cầm có hại, thì các cơ bắp
yếu đi một cách nhanh chóng nhằm phản ứng trước mệnh lệnh: “Chống lại”. Kết quả
này chứng tỏ rằng tác nhân kích thích là tiêu cực, không đúng sự thật, phản sự
sống hoặc câu trả lời là “không”. Phản ứng diễn ra rất nhanh. Sau đó, cơ thể sẽ
hồi phục nhanh chóng và cơ bắp căng lên như bình thường.
Có
ba cách kiểm tra. Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu và cũng thường được
sử dụng nhất cần hai người: người kiểm tra và đối tượng được kiểm tra. Không
gian nên yên tĩnh và không có nhạc nền. Đối tượng được kiểm tra nhắm mắt lại.
Người kiểm tra phải đưa ra câu hỏi dưới dạng một lời tuyên bố. Phản ứng của cơ
bắp chính là câu trả lời “có” hoặc “không”. Ví dụ, không được hỏi: “Đây có phải
là một con ngựa khỏe mạnh không?” Mà phải nói: “Con ngựa này khỏe”, hoặc ngược
lại: “Con ngựa này ốm yếu”.
Sau
khi đưa ra tuyên bố, người kiểm tra nói với đối tượng kiểm tra đang đang đưa thẳng
cánh tay song song với mặt đất: “Chống lại”. Người kiểm tra ấn nhanh và nhẹ hai
ngón tay lên cổ tay của cánh tay đang đưa ra. Cánh tay của đối tượng kiểm tra
giữ chắc là “có”, còn yếu đi là “không có” (không). Phản ứng xảy ra ngay tức
thì.
Phương
pháp thứ hai gọi là vòng chữ O, một người cũng có thể làm được. Cong ngón cái
và ngón giữa trên cùng một bàn tay thành hình chữ O, rồi níu chặt vào nhau. Sau
đó móc ngón trỏ của bàn tay kia vào vòng O và tìm cách kéo hai ngón tay ra xa
nhau. Lực giữa phản ứng “có” và “không” khác nhau đáng kể (Rose, 2001).
Phương pháp thứ ba là phương pháp đơn giản nhất, nhưng cũng như các phương pháp còn lại, đòi hỏi phải luyện tập thì mới thành thục. Chỉ cần nâng một vật nặng, ví dụ, cuốn từ điển dày hoặc vài viên gạch, từ mặt bàn lên tới thắt lưng. Nghĩ về một hình ảnh hoặc câu nói đúng cần tính điểm, rồi nâng vật nặng kia lên. Sau đó, ngược lại, nghĩ về một điều gì đó đã biết trước là sai. Để ý rằng, khi sự thật hiện lên trong tâm trí thì có thể nâng vật nặng một cách nhẹ nhàng, nhưng khi nghĩ đến cái sai (không đúng) thì phải cần nhiều sức hơn. Có thể dùng hai phương pháp đã nói bên trên để kiểm tra kết quả.
Hiệu chỉnh điểm của các tầng cụ thể
Điểm
tới hạn giữa tích cực và tiêu cực, giữa đúng và sai, hoặc giữa cái mang tính
xây dựng và cái phá hủy, nằm ở tầng 200 (xem Bản đồ tâm thức trong Phụ lục A).
Bất kỳ cái gì trên 200 điểm, hoặc đúng, đều làm cho đối tượng khỏe lên; bất kỳ
cái gì dưới 200 điểm, hoặc sai, đều làm cho cánh tay yếu đi.
Bất cứ điều gì trong quá khứ hoặc hiện tại, trong đó có hình ảnh hoặc lời tuyên bố, các sự kiện lịch sử, các nhân vật quan trọng, đều có thể được kiểm tra mà không cần phát biểu thành lời.
Hiệu chỉnh bằng con số
Ví dụ: “Lời dạy của Ramana Maharshi đạt hơn 700 điểm”. (Có/Không). Hoặc: “Hitler đạt hơn 200 điểm” (Có/Không). “Khi ông ta ngoài 20 tuổi”. (Có/Không). “Ngoài 30”. (Có/Không). “Ngoài 40”. (Có/Không). “Khi ông ta chết?” (Có/Không).
Ứng dụng
Không
thể dùng bài kiểm tra cơ bắp đề đoán định tương lai; nếu không, câu hỏi sẽ trở
thành vô cùng vô tận. Tâm thức không có giới hạn về thời gian và không gian;
tuy nhiên, có thể không được phép hỏi. Tất cả các sự kiện trong hiện tại hoặc
trong quá khứ đều có thể hỏi. Câu trả lời là phi cá nhân và không phụ thuộc vào
hệ thống niềm tin của cả người kiểm tra lẫn đối tượng được kiểm tra. Ví dụ,
nguyên sinh chất rút lui khỏi các tác nhân kích thích độc hại và thịt chảy máu.
Đó là những phẩm chất của những vật liệu dùng cho kiểm tra và chúng đều phi cá
nhân. Tâm thức thực sự chỉ biết mỗi sự thật, vì chỉ có sự thật mới thực sự tồn
tại. Tâm thức không phản ứng trước giả dối, vì giả dối không tồn tại trong Thực
tại. Tâm thức cũng sẽ không phản hồi chính xác trước những câu hỏi không chính
trực hoặc vị kỷ.
Nói một cách chính xác, phản ứng của bài kiểm tra chỉ đơn thuần là “bật” hoặc “không bật”. Tương tự như công tắc điện, chúng ta nói rằng điện đang “bật” và khi chúng ta sử dụng thuật ngữ “tắt”, chúng ta chỉ muốn nói rằng không có điện. Trên thực tế, không có gì gọi sự-tắt. Đây là tuyên bố tinh tế, nhưng quan trọng sống còn đối với việc nắm bắt bản chất của tâm thức. Tân thức có khả năng nhận biết điều duy nhất là Sự thật. Nó chỉ đơn giản là không thể phản ứng trước giả dối. Tương tự như thế, một tấm gương chỉ phản chiếu hình ảnh khi có đối tượng để phản chiếu. Nếu không có đối tượng đứng trước gương thì không có hình ảnh phản chiếu trong gương.
Hiệu chỉnh điểm cho một tầng
Các tầng đã hiệu chỉnh có quan hệ với thang tham chiếu cụ thể. Để có các số liệu tương tự như trong Phụ lục A, phải tham chiếu bảng đó hoặc đưa ra một tuyên bố kiểu như: “Trên thang tâm thức của con người từ 1 đến 1.000, trong đó 600 là Chứng ngộ, _______ đạt trên _______ (đưa ra một con số)”. Hoặc: “Trên thang tâm thức trong đó 200 là tầng Sự thật và 500 là tầng Tình yêu, thì tuyên bố này đạt trên…” (đưa ra một con số).
Thông tin tổng quát
Mọi người, nhìn chung, muốn phân biệt thật và giả. Vì thế, tuyên bố phải rất cụ thể. Tránh sử dụng các thuật ngữ chung chung, như công việc “tốt”, có thể xin vào làm. “Tốt” theo nghĩa nào? Mức lương? Điều kiện làm việc? Cơ hội thăng tiến? Cấp trên công tâm?
Thuần thục
Thường
xuyên làm kiểm tra thì sẽ thuần thục dần. Những câu hỏi phù hợp và hầu như
chính xác một cách kỳ lạ bắt đầu tuôn ra như suối. Nếu người kiểm tra và đối tượng
được kiểm tra làm việc cùng nhau trong một khoảng thời gian nào đó, thì một người
hoặc cả hai sẽ dần hình thành khả năng định vị chính xác một cách đáng kinh ngạc
những câu hỏi cần phải hỏi, ngay cả khi cả hai người đều không biết trước đề
tài được kiểm tra. Ví dụ, người kiểm tra đánh mất một vật và bắt đầu bằng câu:
“Tôi để nó trong văn phòng của mình” (Trả lời: Không). “Tôi để trong ô tô” (Trả
lời: Không). Đột nhiên, đối tượng kiểm tra gần như nhìn thấy vật đó và nói: “Hỏi
đi, nó ở phía sau cửa nhà vệ sinh”. Người kiểm tra nói: “Vật đó đang treo ở
phía sau cửa nhà vệ sinh” (Trả lời: Có). Trong tình huống thực này, đối tượng
kiểm tra thậm chí không biết rằng người kiểm tra đã dừng xe để đổ xăng và treo
áo khoác trong phòng vệ sinh của trạm xăng.
Có thể lấy được thông tin về bất cứ thứ gì, ở bất kỳ đâu trong thời gian hoặc không gian, hiện tại hoặc quá khứ. Vấn đề là câu hỏi có được chấp thuận hay không mà thôi. (Đôi khi “không” được chấp thuận, có lẽ do nghiệp hoặc những lý do không biết khác). Bằng cách kiểm tra chéo, có thể dễ dàng khẳng định mức độ chính xác. Những người học được kỹ thuật này sẽ ngay lập tức thu được nhiều thông tin hơn hẳn những thông tin chứa trong tất cả các máy tính và thư viện trên toàn thế giới. Trước mắt họ sẽ mở ra vô vàn khả năng và triển vọng đầy ấn tượng.
Hạn chế
Kết
quả kiểm tra chỉ chính xác nếu bản thân các đối tượng kiểm tra có điểm trên 200
và dùng cho mục đích chính trực, có điểm trên 200. Điều này đòi hỏi tính khách
quan, không dính chấp và nhất quán với sự thật, chứ không phải là ý kiến chủ
quan. Vì vậy, việc cố gắng chứng minh một quan điểm sẽ cho kết quả không chính
xác. Do những nguyên nhân còn bí ẩn mà có những người không thể dùng bạn đời của
mình làm đối tượng kiểm tra và có thể phải tìm người thứ ba để hợp tác.
Điều
kiện để một người trở thành đối tượng kiểm tra là cánh tay của người đó phản ứng
mạnh khi nghĩ đến một vật hoặc người đáng yêu, và yếu đi nếu nghĩ về cái tiêu cực
(sợ hãi, ghét bỏ, tội lỗi, v.v..) (ví dụ, Winston Churchill làm cho cánh tay mạnh
lên, còn Osama bin Laden làm cho cánh tay yếu đi).
Đôi
khi, một đối tượng kiểm tra phù hợp vẫn có phản ứng ngược. Có thể xóa bỏ hiện
tượng này bằng cách đấm vào tuyến ức. (Nắm bàn tay lại, đập mạnh ba lần vào
phía trên xương ức, mỉm cười, nói “ha ha ha” và mường tượng một người nào đó hoặc
một cái gì đó đáng yêu). Sự mất cân bằng tạm thời sẽ biến mất.
Mất
cân bằng có thể là do đối tượng mới tiếp xúc với người tiêu cực, nghe nhạc rock
heavy metal, xem các chương trình truyền hình bạo lực, chơi trò chơi điện tử bạo
lực, v.v. Hiệu ứng độc hại mà năng lượng của âm nhạc tiêu cực gây ra cho hệ thống
năng lượng của cơ thể còn kéo dài tới nửa tiếng đồng hồ sau khi nhạc đã tắt.
Các chương trình quảng cáo trên truyền hình hoặc trên tivi cũng là nguồn năng
lượng tiêu cực thường gặp.
Như đã nhận xét bên trên, phương pháp phân biệt giả/thật và các tầng của sự thật được hiệu chỉnh có những yêu cầu rất nghiêm ngặt. Do những hạn chế này, trong cuốn Truth vs. Falsehood chúng tôi đã cung cấp điểm của các tầng để độc giả dễ dàng tham khảo.
Giải thích
Việc
kiểm tra sức mạnh của cơ bắp hoàn toàn độc lập với ý kiến hay niềm tin cá nhân
và là phản ứng phi cá nhân của trường tâm thức; hệt như chất nguyên sinh, các
phản ứng của nó cũng không có tính cá nhân. Đối tượng kiểm tra có phản ứng giống
nhau, dù đề tài kiểm tra được diễn đạt bằng lời hay chỉ nghĩ thầm trong đầu là
minh chứng cho nhận định vừa nêu. Như vậy là, câu hỏi không có tác động gì tới
đối tượng kiểm tra, họ thậm chí không biết đấy là gì. Để chứng minh, xin làm
bài kiểm tra sau đây:
Người kiểm tra nghĩ tới hình ảnh mà đối tượng kiểm tra không biết và tuyên bố: “Hình ảnh tôi đang nghĩ tới là tích cực” (hoặc “là đúng” hoặc “đạt trên 200 điểm”, v.v.). Theo hướng dẫn của người kiểm tra, đối tượng kiểm tra phản ứng lại lực đang ấn xuống cổ tay mình. Nếu người kiểm tra nghĩ đến hình ảnh tích cực (ví dụ, Abraham Lincoln, Chúa Jesus, Mẹ Teresa, v.v.), thì cơ cánh tay của đối tượng kiểm tra sẽ mạnh lên. Nếu người kiểm tra nghĩ tới một lời tuyên bố dối trá hay hình ảnh tiêu cực (ví dụ, bin Laden, Hitler, v.v.) thì cánh tay sẽ yếu đi. Do đối tượng kiểm tra không biết người kiểm tra nghĩ gì, cho nên niềm tin cá nhân không ảnh hưởng tới kết quả kiểm tra.
Những người không đủ tiêu chuẩn tham gia
Cả
thái độ hoài nghi (160 điểm) và nhạo báng, cũng như vô thần, đều có điểm hiệu
chỉnh dưới 200 vì chúng thể hiện định kiến tiêu cực. Ngược lại, việc tìm tòi thực
sự đòi hỏi một tâm hồn cởi mở và trung thực, không có thái độ kiêu căng về trí
tuệ. Những công trình nghiên cứu mang tính tiêu cực về phương pháp luận của
phép kiểm tra này, cũng như những người thực hiện chúng, đều có điểm hiệu chỉnh
chưa tới 200 (thường ở 160).
Một
người bình thường có thể ngạc nhiên nếu biết rằng, thậm chí các giáo sư nổi tiếng
cũng có thể và thực sự có điểm hiệu chính dưới 200. Như vậy là, các công trình
nghiên cứu mang tính tiêu cực là hệ quả của thành kiến tiêu cực. Ví dụ, đề
cương nghiên cứu của Francis Crick dẫn đến khám phá ra mô hình xoắn kép của DNA
đạt 440 điểm. Song đề cương nghiên cứu mới đây của ông nhằm chứng minh rằng tâm
thức chỉ là sản phẩm của hoạt động thần kinh chỉ đạt 135 điểm. (Crick là người
vô thần).
Thất
bại của các nhà nghiên cứu hoặc đề án nghiên cứu sai lầm có điểm hiệu chỉnh dưới
200 (thường là 160) càng khẳng định sự thật của chính phương pháp luận mà họ muốn
bác bỏ. Họ sẽ thu được và quả thật đã thu được kết quả tiêu cực; kết quả này,
ngược lại, càng chứng minh tính chính xác của bài kiểm tra nhằm phát hiện sự
khác biệt giữa thái độ chính trực không thiên vị và không chính trực.
Bất
kỳ phát hiện mới nào cũng đều có thể làm đảo lộn kế hoạch của người khác và bị
coi là đe dọa, phá vỡ các hệ thống niềm tin đang thịnh hành. Công trình nghiên
cứu tâm thức khẳng định giá trị của Thực tại tâm linh, tất nhiên, sẽ có đối
kháng, vì nó thực sự đối đầu trực diện với quyền thống trị của cốt lõi ái kỷ của
chính bản ngã, vốn ngạo mạn và cố chấp ngay từ khi mới ra đời.
Bên
dưới tầng tâm thức 200, khả năng nhận thức bị hạn chế, vì Tâm trí cấp thấp hơn
giữ thế thượng phong. Tâm trí thấp hơn có khả năng nhận ra sự kiện, nhưng chưa
có khả năng hiểu thế nào là sự thật (nó nhầm lẫn giữa cái bên trong (res
interna) với cái bên ngoài (res externa) và cũng chưa hiểu rằng sự
thật có các yếu tố sinh lý đi kèm khác hẳn với giả dối. Ngoài ra, sự thật được
cảm nhận bằng trực giác – bằng chứng là việc sử dụng phương pháp phân tích giọng
nói, nghiên cứu ngôn ngữ cơ thể, phản ứng của đồng tử, thay đổi điện não đồ,
dao động trong hơi thở và huyết áp, phản ứng gọi là Phản ứng điện da (Galvanic
skin response ), cảm xạ, và thậm chí có thể dùng kỹ thuật Huna để đo chiều dài
tia hào quang phát ra từ cơ thể. Một số người sử dụng kỹ thuật rất đơn giản: Đứng
như một con lắc (ngả về đằng trước khi thấy sự thật và ngả về sau khi thấy dối
trá).
Nhìn từ bối cảnh cao hơn, những nguyên tắc giữ thế thượng phong là giả dối không thể bác bỏ được Sự thật, cũng như bóng tối không thể bác bỏ được ánh sáng. Cái phi tuyến tính không bị giới hạn của cái tuyến tính tác động. Sự thật là hệ hình khác với logic và do đó, không thể chứng minh được, vì những thứ có thể chứng minh được chỉ có điểm hiệu chỉnh trong khoảng từ 400 đến 500 mà thôi. Phương pháp luận trong nghiên cứu ý thức đạt điểm 600, tức nằm ở vùng tiếp giáp giữa các chiều kích tuyến tính và phi tuyến tính.
Những hiện tượng thiếu nhất quán
Sau
một thời gian, cũng những người kiểm tra đó có thể thu được kết quả khác nhau,
những người kiểm tra khác nhau cũng có thể thu được điểm hiệu chỉnh khác nhau
vì một số lý do:
1.
Hoàn cảnh, con người, chính trị, chính sách và thái độ thay đổi theo thời gian.
2. Trong lúc nghĩ về cái gì đó, người
ta thường sử dụng các giác quan khác nhau, ví dụ thị giác, thính giác, hoặc cảm
xúc. Do đó, khi bạn nghĩ tới mẹ mình, bạn có thể tưởng tượng ra hình ảnh, cảm
xúc, giọng nói, v.v., hoặc Henry Ford có thể được hiệu chỉnh điểm số như một
người cha, một nhà công nghiệp, hay dựa trên ảnh hưởng của ông đối với nước Mỹ,
hoặc chủ nghĩa bài Do Thái của ông, v.v..
3. Tầng tâm thức càng cao thì độ chính xác càng lớn (Các tầng trên 400 là chính xác nhất). Người thực hiện có thể xác định bối cảnh và kiên trì sử dụng phương thức thịnh hành nào đó. Một nhóm kiểm tra sử dụng cùng một kỹ thuật sẽ nhận được kết quả nhất quán trong nội bộ nhóm. Thực hành càng nhiều thì sẽ càng thuần thục. Tuy nhiên, có một số người không có thái độ vô tư, khoa học, và không thể suy xét một cách khách quan, và do đó, đối với họ, phương pháp kiểm tra này sẽ không chính xác. Tâm huyết và hướng đến sự thật phải được đặt lên trên ý kiến cá nhân và nỗ lực nhằm chứng minh ý kiến của mình là “đúng”.
Lưu ý
Người
ta đã phát hiện được rằng kỹ thuật này không có tác dụng đối với những người có
điểm hiệu chỉnh dưới 200, nhưng gần đây, người ta còn phát hiện thêm rằng kỹ
thuật này không có hiệu quả nếu những người tham gia kiểm tra theo thuyết vô thần.
Nguyên nhân có thể rất đơn giản: Chủ nghĩa vô thần có điểm hiệu chỉnh dưới 200;
và theo quan hệ nghiệp lực luân báo, tư cách của người phủ nhận bị chính hành động
phủ nhận chân lý hoặc Thánh thần (Chúa) của anh ta bác bỏ, hệt như lòng căm thù
phủ nhận tình yêu.
Gần
đây người ta còn phát hiện được rằng, tầng ý thức của những người tham gia kiểm
tra càng cao thì mức độ chính xác càng cao. Những người có điểm từ 400 trở lên
cho kết quả kiểm tra chính xác nhất (Jeffrey và Colyer, 2007).