July 4, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (11)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 10 

CAN ĐẢM

.

     Dấu hiệu đặc trưng của can đảm là kiến ​​thức và cảm thấy: “Tôi có thể”. Đó là trạng thái tích cực, chúng ta cảm thấy tự tin, khéo léo, đủ năng lực, có khả năng, tràn đầy sức sống, yêu thương và cho đi, cùng với niềm vui sống. Chúng ta có khả năng hài hước, năng động, tự tin và minh bạch. Trong trạng thái này, chúng ta cảm thấy tập trung, cân bằng, linh hoạt, hạnh phúc, độc lập và tự túc. Chúng ta có thể sáng tạo, cởi mở và đầy trí tuệ. Can đảm có nhiều năng lượng, hành động, buông bỏ, khả năng “hiện diện”, tự phát, kiên cường, tháo vát và vui vẻ. Trong trạng thái này, chúng ta có thể là người rất hiệu quả trên thế gian này.

Can đảm để buông bỏ

Tầng can đảm rất hữu ích trong cơ chế buông bỏ. Khi can đảm, chúng ta biết: “Tôi có thể nhìn vào cảm thọ của mình”; “Tôi không cần phải sợ cảm thọ của mình nữa”; “Tôi có thể xử lý cảm thọ của mình”; “Tôi có thể chịu trách nhiệm về cảm thọ của mình”; “Tôi có thể học cách chấp nhận và được giải thoát khỏi cảm thọ của mình”; “Tôi sẵn sàng chấp nhận rủi ro, buông bỏ những quan điểm cũ và khám phá những quan điểm mới”; “Tôi sẵn sàng trở thành người vui vẻ và chia sẻ trải nghiệm của mình với người khác”; “Tôi cảm thấy mình sẵn sàng và có khả năng.”

Thường thì rất dễ dàng chuyển từ bất kỳ cảm thọ tiêu cực nào lên tầng can đảm bằng cách khẳng định thái độ can đảm của chúng ta khi nhìn vào và xử lý cảm thọ của mình. Chỉ riêng thái độ sẵn sàng nhìn vào và bắt đầu xử lý cảm thọ đã làm cho lòng tự trọng của chúng ta tăng lên rồi. Ví dụ, nếu chúng ta sợ và không muốn nhìn vào nó, thì chúng ta sẽ cảm thấy mình nhỏ bé và lòng tự trọng cũng giảm đi. Nếu chúng ta sẵn sàng nhìn vào sợ hãi, xem xét nó, thừa nhận sự hiện diện của nó, thấy rằng nó đã kìm hãm cuộc đời của chúng ta đến mức nào và bắt đầu buông bỏ nó, thì lòng tự trọng của chúng ta sẽ tăng lên, dù sợ hãi có biến mất hay không.

Tất cả chúng ta đều biết rằng cần có can đảm để đối mặt với sợ hãi. Chúng ta ca ngợi những người dám đối mặt với sợ hãi và cố gắng làm điều gì đó để vượt qua. Như thế, can đảm là một trong những đặc điểm của cao thượng và làm cho con người trở thành thực sự vĩ đại. Mặc cho tất cả những lập trình tiêu cực và mặc cho tất cả sợ hãi của họ, những người can đảm vẫn tiến về phía trước, dù không có gì đảm bảo và thậm chí không biết rằng mọi thứ sẽ tốt hơn. Vì vậy, can đảm làm cho lòng tự trọng của chúng ta tăng lên và làm cho những người khác tôn trọng chúng ta. Chúng ta không còn cần phải cảm thấy xấu hổ nữa.

Xin xem xét ví dụ về người đàn ông bị chứng sợ độ cao. Anh ta đã nỗ lực để thoát khỏi sợ hãi trong vài năm và tình hình đã tốt hơn nhiều, nhưng vẫn còn rất nhiều sợ hãi. Nó thể hiện rõ khi anh ta đến Grand Canyon cùng với một người bạn. Lúc đầu, anh ta đứng cách mép vực khoảng 1,8 mét. Những năm trước, anh ấy sẽ không dám đến cách mép vực một dãy nhà. Lúc này, anh ấy đứng ở đó, do dự. Người bạn nắm lấy tay anh ta và nói, “Hãy đến gần mép vực với tôi.” Và anh ta đã làm như thế. Anh ta tiếp tục buông bỏ sợ hãi khi bước về phía trước và nhận thấy rằng mình thực sự có thể đứng ngay cạnh mép vực, mặc dù phải thừa nhận rằng, vẫn cảm thấy khá run. Khi họ đi xa khỏi mép vực, người bạn nhìn anh ta với vẻ tán thưởng và nói: “Ít nhất thì cậu cũng đã làm được! Tớ biết cần bao nhiêu can đảm.” Mặc dù anh ta chưa hoàn toàn vượt qua được sợ hãi, nhưng bằng cách vượt qua rào cản nội tâm, anh ta đã giành được lòng tự trọng của chính mình và thái độ tôn trọng của người khác.

Khi có những trải nghiệm đột phá như thế, chúng ta bắt đầu nhìn nhận sợ hãi của mình một cách khác đi và chúng ta không còn xấu hổ về nó nữa. Chúng ta không còn cho phép nó làm mất giá trị thực sự của mình. Nó làm tăng sức mạnh bên trong và thái độ tự chấp nhận của chúng ta. Cùng với thời gian, những sợ hãi tiềm ẩn, cần can đảm mới vượt qua được sẽ giảm dần đến mức chúng ta tiến lên tầng chấp nhận. 

Tự cường

Ở tầng can đảm, trọng tâm là hành động. Chúng ta đã biết rằng mình có khả năng tự đáp ứng nhu cầu của chính mình và của người khác, và chúng ta biết rằng, nếu sẵn sàng nỗ lực, chúng ta có thể đạt được những gì mình muốn. Vì vậy, những người ở tầng can đảm là những người hành động. Vì chúng ta chỉ có thể cho đi những gì mình có, những người ở tầng can đảm có khả năng hỗ trợ và khuyến khích người khác. Đấy là do họ có khả năng cho đi cũng như nhận lại, và có sự cân bằng giữa cho và nhận, nó diễn ra một cách tự nhiên.

Các tầng tâm thức thấp hơn chủ yếu quan tâm đến lợi ích. Giờ đây, ở tầng can đảm, với sức mạnh và năng lượng lớn hơn. Chúng ta có khả năng cho người khác, bởi vì người khác không còn được nhìn nhận chủ yếu như một phương tiện giúp đỡ, sinh tồn hoặc hỗ trợ nữa. Khi có can đảm, chúng ta cảm nhận được sức mạnh nội tại, và giá trị của chính mình. Chúng ta biết rằng mình có khả năng tạo ra sự khác biệt trên thế giới này, chứ không chỉ đơn thuần là thu lợi cho mình. Nhờ thái độ tự tin bên trong, chúng ta ít lo lắng về an toàn. Trọng tâm không còn là của cải mà người ta có, mà là những việc họ làm và con người mà họ đã trở thành.

Với lòng can đảm, chúng ta sẵn sàng chấp nhận rủi ro và buông bỏ những biện pháp an toàn mà trước đây chúng ta từng sử dụng. Chúng ta sẵn sàng trưởng thành và nhận được lợi ích từ những trải nghiệm mới. Trong đó có khả năng thừa nhận sai lầm mà không bị dằn vặt bởi mặc cảm tội lỗi và tự trách. Nhận thức về giá trị của chính chúng ta không bị suy giảm khi nhìn vào những lĩnh vực cần cải thiện. Chúng ta có thể thừa nhận vấn đề mà không cảm thấy mình nhỏ lại. Kết quả là, năng lượng, thời gian và nỗ lực được dành cho việc tự hoàn thiện.

Ở tầng này, những tuyên bố về ý định và mục đích trở nên mạnh mẽ hơn và kết quả mà mình mong muốn có xu hướng thành hiện thực. Chúng ta năng động và sáng tạo hơn, vì năng lượng của chúng ta không bị cạn kiệt vì những lo lắng thường trực về sự sống còn về mặt cảm xúc hoặc thể chất. Nhờ linh hoạt hơn, chúng ta sẵn sàng xem xét các vấn đề với tầm nhìn hướng tới việc thay đổi ý nghĩa và bối cảnh tổng thể. Sẵn sàng chấp nhận rủi ro để chuyển đổi các hệ hình tư duy.

Hệ hình tư duy là toàn bộ thế giới quan, và nó chỉ bị giới hạn bởi những gì chúng ta cho là khả thi. Khi những cách nhìn cũ bị thách thức, thế giới quan của chúng ta bắt đầu được mở rộng ra. Những thứ trước đây được coi là bất khả thi trở thành khả thi và cuối cùng được trải nghiệm như là một chiều kích mới của thực tại. Chúng ta có khả năng nhìn vào bên trong chính mình để khảo sát hệ thống niềm tin, đặt câu hỏi và tìm kiếm những giải pháp mới. Ở tầng can đảm, chúng ta sẵn sàng tham gia các khóa học tự hoàn thiện, học các kỹ thuật tâm thức và chấp nhận rủi ro trên hành trình bên trong để tìm kiếm Đại Ngã đích thực của chính mình, tìm kiếm thực tại bên trong. Chúng ta sẵn sàng trải nghiệm sự không chắc chắn, những giai đoạn bối rối và khó chịu tạm thời, vì, bên dưới sự khó chịu tạm thời đó, chúng ta có mục tiêu siêu việt trong dài hạn. Tâm trí hoạt động ở tầng can đảm đưa ra những tuyên bố như: “Tôi có thể xử lý được”; “Chúng ta sẽ làm được”; “Việc này sẽ được hoàn thành”; “Chúng ta có thể vượt qua được”; “Mọi chuyện rồi sẽ qua.”

Kiểm tra sức mạnh cơ bắp của một người bằng phương pháp cơ thể động học khi ở trạng thái can đảm, ở tầng “Tôi có thể xử lý được”, sẽ thấy kết quả tích cực và đủ sức mạnh để đối mặt với thử thách. Mặc dù vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ hoặc năng lượng tiêu cực—chẳng hạn như những suy nghĩ hoặc năng lượng phát ra từ đèn huỳnh quang hoặc đường hoá học—trường năng lượng sinh học rạng rỡ hơn so với các trạng thái tiêu cực thấp hơn. Vì can đảm là trường năng lượng mạnh mẽ và kiên cường hơn, cho nên các loại bệnh về thể chất ít có khả năng trở thành khía cạnh nổi bật của cuộc sống. Có thể vẫn còn những tàn dư mãn tính của những căn bệnh bắt nguồn từ những tầng tâm thức thấp hơn, nhưng nhìn chung, chúng không còn ở trạng thái ổn định. Ở tầng can đảm, luôn có cảm giác tổng quát về sức mạnh và hạnh phúc. 

Nhận thức về người khác

Lối sống ở tầng này thể hiện sự cân bằng giữa công việc, niềm vui và tình yêu. Không cần phải tham vọng quá mức hoặc “nghiện công việc”, mặc dù những người ở tầng can đảm có khả năng tạo ra nguồn năng lượng đáng kể ở đầu ra nếu tình huống đòi hỏi. Vì đã buông bỏ được nhiều tiêu cực, nên có mong muốn và khả năng yêu thương và xây dựng các quan hệ yêu thương. Giờ đây, những quan hệ này có tầm quan trọng ngang với nỗ lực sinh tồn. Nghề nghiệp được đảm bảo, và trong lĩnh vực công việc người đó còn quan tâm đến phúc lợi của người khác. Những người ở tầng này thường nói rằng họ muốn những công việc mang lại lợi ích cho thế gian. Họ muốn cảm thấy công việc của mình có ý nghĩa chứ không chỉ đơn thuần là tiền lương. Phát triển cá nhân được coi là quan trọng, và ở tầng này người ta có nhận thức rằng cuộc sống của chúng ta đang tạo được ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới những người xung quanh.

Ở các tầng tâm thức thấp hơn – với đặc điểm là vị kỷ - người ta quan tâm nhiều tới lợi ích cá nhân đến mức dành rất ít năng lượng hoặc suy nghĩ về ảnh hưởng của mình tới những người khác. Ở tầng can đảm, chúng ta không còn chỉ đồng nhất với tự ngã nhỏ bé nữa. Thế giới không còn được nhìn nhận như là những ông bố bà mẹ xấu xa, chỉ tìm cách tước đoạt hoặc trừng phạt nữa. Thay vào đó, thế giới được nhìn nhận như là thách thức và mang tới những cơ hội để trưởng thành, phát triển và trải nghiệm mới. Do đó, tầng này có đặc điểm là lạc quan và cảm giác rằng với những sự kiện, giáo dục và định hướng đúng đắn, sớm muộn gì hầu hết các vấn đề đều có thể được giải quyết một cách thỏa đáng.

Ở các tầng thấp hơn, tâm thức của chúng ta chỉ hướng vào những quan tâm mang tính cá nhân, nhưng ở tầng này, các vấn đề xã hội trở thành quan trọng, và năng lượng được dành để giúp vượt qua các vấn đề xã hội và giúp đỡ những người kém may mắn hơn. Vì vậy, hào phóng trở thành khả thi, không chỉ về mặt tài chính, mà còn cả về thái độ. Niềm vui đến từ việc bảo vệ các lý tưởng và từ việc hỗ trợ những nỗ lực của người khác. Năng lượng này tạo ra những công việc, doanh nghiệp, ngành công nghiệp mới, và các giải pháp chính trị và khoa học. Giáo dục, mặc dù không phải lúc nào cũng theo nghĩa học thuật, trở thành quan trọng.

Ở tầng can đảm, chúng ta thực sự bắt đầu trở nên có ý thức. Chúng ta chợt nhận ra rằng mình có tự do và khả năng lựa chọn. Chúng ta không còn là nạn nhân nữa, và tự do về mặt tâm lý, cảm xúc và tâm linh là khả thi. Do đó, thái độ cứng nhắc giảm đi đáng kể, và nhờ linh hoạt, chúng ta có khả năng quan tâm và tình yêu chân thành dành cho người khác, những người ở tầng này trở thành những bậc phụ huynh, ông chủ, nhân viên và công dân tốt.

Họ có khả năng đặt mình vào vị trí của người khác và quan tâm đến cảm thọ của người khác, cũng như phúc lợi của họ. Mặc dù những cảm thọ tiêu cực vẫn còn, nhưng chúng không chi phối hay quyết định lối sống của người đó nữa; nghĩa là, chúng ta vẫn quan tâm tới người khác ngay cả khi đang sợ hãi. Những người ở tầng này là xương sống của đất nước. Họ là những người mà chúng ta sẽ tìm tới khi cần, vì lợi ích chung. Họ là những người đáng tin và có thể dựa vào, vì họ sẵn sàng nhận trách nhiệm. Những người ở tầng này có lương tâm xã hội và lòng nhân đạo. Mặc cảm tội lỗi nhường chỗ cho phúc lợi của người khác, và đấy là cơ sở của các quyết định mang tính đạo đức

Chính tầng này sinh những câu như: “Thành công tạo ra thành công.” Nhờ vận hành hiệu quả, mà sẽ có phản hồi tích cực, sau đó là gia tăng tự tin và tạo điều kiện để tự khám phá cũng như khám phá thế giới xung quanh. Mặc dù vẫn cần nỗ lực thì mới đạt được mục tiêu, nhưng sẽ nhẹ nhàng hơn so với các tầng thấp hơn. Người ta sẽ cảm thấy hài lòng và mãn nguyện hơn vì nhận được phần thưởng lớn hơn với ít nỗ lực hơn so với vượt qua sợ hãi. Có khả năng lớn hơn hẳn không chỉ trong việc tìm kiếm giúp đỡ, mà còn sử dụng và hưởng lợi.

Tiền được sử dụng theo tinh thần xây dựng hơn hẳn, và quan tâm đến việc chi tiêu sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của người khác như thế nào. Tiền không chỉ được chi dùng cho việc thỏa mãn chính mình, khoa trương chính mình hay củng cố tự ngã; thay vào đó, nó được coi như một công cụ để thành tựu.

Đây là tầng mà nhận thức tâm linh đích thực trở thành khả thi. Do đã thoát khỏi thái độ vị kỷ và thôi đồng nhất với tự ngã nhỏ bé, người ta trải nghiệm được năng lượng cao hơn và hy vọng nhận thức sẽ được nâng lên. Ở các tầng thấp hơn, Thiên Chúa được nhìn qua lăng kính cảm xúc của tầng đó. Vì vậy, khi rơi vào trạng thái thờ ơ, nếu nghĩ về quan hệ với Thiên Chúa, thì người ta cho là vô vọng. Ở tầng u sầu, người ta cảm thấy tuyệt vọng vì hoàn toàn không được Thiên Chúa giúp đỡ. Khi bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi, người ta cảm thấy không xứng đáng với bất kỳ quan hệ nào với Thiên Chúa, và họ nghĩ là sẽ bị trừng phạt chứ không được Chúa yêu thương. Ở tầng sợ hãi, sợ hãi có thể lớn đến nỗi thậm chí người ta không dám nghĩ tới Thiên Chúa, vì vậy, chủ đề này bị xóa hẳn khỏi tâm thức, và Thiên Chúa được coi là đáng sợ, là người thích trừng phạt, báo thù, ghen tị và tức giận. Ở tầng tức giận, Thiên Chúa được coi là người sẵn sàng tước đoạt, tùy tiện, thất thường và thất bại. Ở tầng kiêu hãnh, xuất hiện thái độ tự cao tự đại về lập trường tôn giáo hoặc tâm linh của mình, với đặc điểm là cứng nhắc, thiếu linh hoạt, thiếu khoan dung, khuynh hướng độc quyền, mâu thuẫn, bè phái, tranh luận và xung đột tôn giáo.

Ở tầng can đảm, chúng ta sẵn sàng chịu trách nhiệm về lập trường tôn giáo hay tâm linh của mình. Nhận thức gia tăng và kết qua thường là chúng ta trở thành người tìm kiếm tâm linh, và thực sự tỉnh thức để theo đuổi sự thật theo nghĩa tôn giáo hoặc tâm linh. Có thể dẫn đến tái khẳng định lập trường trước đây của chúng ta, nhưng lúc này là từ một quan điểm hoàn toàn mới—mình tự lựa chọn. Nó có thể đưa tới những thay đổi, chậm rãi và từng bước một, hoặc đột ngột. Ở tầng này, tâm thức đã thức tỉnh và nhận ra rằng, lúc này niềm tin và quan điểm của chúng ta là kết quả của lựa chọn, chứ không chỉ là kết quả của lập trình mù quáng như đã từng diễn ra. Chúng ta bắt đầu tìm kiếm ý nghĩa, và nó có thể xảy ra ở tầng đạo đức và nhân văn hơn là trong lĩnh vực cụ thể, được chỉ định như tôn giáo chính thức vẫn làm. Chúng ta tìm hiểu chức năng xã hội và vai trò của mình trên thế gian, và chúng ta đặt câu hỏi về giá trị của cuộc đời mình, không chỉ đối với chính mình mà còn đối với tha nhân.

Carl Jung nói rằng một nhân cách lành mạnh là cân bằng giữa công việc, vui chơi, tình yêu và một khía cạnh của nhân cách gọi là tâm linh, mà chúng ta cũng có thể định nghĩa như là tìm kiếm ý nghĩa và giá trị. Những tìm tòi này tạo ra những xáo trộn nội tâm nhưng cũng có những khoảnh khắc chấp nhận và bình yên. Những khoảnh khắc hiểu biết bằng trực giác thôi thúc chúng ta tiếp tục công cuộc tìm kiếm, để khám phá xem liệu có điều gì vượt ra ngoài thế giới vật chất và hữu hình cùng những hiện tượng luôn luôn thay đổi của nó hay không.

Đây là tầng tâm thức tốt để nhìn vào và buông bỏ những cảm thọ tiêu cực. Ở tầng này, chúng ta có năng lượng, có khả năng, tự tin và sẵn sàng tiếp thu kiến ​​thức và vượt qua những giai đoạn học tập cần thiết. Ở tầng này, có mong muốn tự hoàn thiện và nhận ra rằng những trạng thái tâm trí tốt hơn là khả thi. Ở tầng can đảm người ta biết rằng không cần thiết phải chịu đựng đau đớn và khổ sở do những cảm thọ tiêu cực gây ra hoặc ảnh hưởng của chúng đối với những niềm vui trong cuộc đời.

Ở tầng can đảm, chúng ta không còn sẵn sàng trả giá cho tiêu cực. Chúng ta quan tâm đến ảnh hưởng của những cảm thọ tiêu cực của mình đối với hạnh phúc của những người thân cận. Hầu hết những người đã học được kỹ thuật buông bỏ sẽ tiếp tục sử dụng nó cho đến khi họ vươn tới được tầng tâm thức này. Ở tầng này, những vấn đề lớn trong cuộc đời họ giờ đây đã nằm trong tầm kiểm soát. Họ hài lòng và thành công trong nghề nghiệp. Nhu cầu vật chất được đáp ứng. Những vấn đề lớn trong các mối quan hệ đã được giải quyết. Họ không còn trải nghiệm đau đớn và khổ sở trong tâm trí hữu thức nữa, thay vào đó họ hài lòng khi thấy mình đã trưởng thành và phát triển trong những lĩnh vực nhất định.

Khi cảm thấy thoải mái, ta thường có xu hướng ngừng sử dụng kỹ thuật này và chỉ tiếp tục sử dụng trong những tình huống khẩn cấp, hoặc khi những cảm thọ tiêu cực lại trở thành đau đớn và cần được chúng ta chú ý. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều cần phải đạt được. Vì luôn luôn có một cảm thọ nào đó có thể được buông bỏ, việc tiếp tục quá trình này sẽ dẫn đến những lợi ích ngày càng lớn hơn.

Buông bỏ liên tục sẽ mang lại những thay đổi tinh tế, liên tục, đặc biệt là ở những tầng nhận thức tinh tế trong khả năng yêu thương của chúng ta. Trước đây, chúng ta đã ví sự lan tỏa của tình yêu - bắt nguồn từ khía cạnh cao hơn của chúng ta – với năng lượng của ánh mặt trời. Chúng ta nhận thấy rằng, khi những đám mây đen của tiêu cực được loại bỏ, năng lượng này và khả năng chấp nhận nó, cũng như việc nó lan tỏa ra bên ngoài, sẽ tăng lên từng bước một.

Ở tầng can đảm, khả năng yêu thương của chúng ta mạnh mẽ hơn hẳn, và nó có sức mạnh đích thực để hỗ trợ và khuyến khích người khác, tiếp thêm sức mạnh cho những điều tích cực và mang tính xây dựng bên trong chính con người họ. Việc hỗ trợ quá trình phát triển của họ mang lại cho chúng ta niềm vui khi chứng kiến ​​họ ngày càng trưởng thành và hạnh phúc hơn. Khả năng này trong chúng ta có thể ngày càng mạnh mẽ hơn. Nó có thể trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, trở thành tự thưởng cũng như mang lại nhiều lợi ích hơn cho người khác.

Chúng ta có thể vận dụng can đảm để củng cố khát vọng phát triển vượt ra ngoài trạng thái hiện tại, bởi ở tầng này, chúng ta đã bắt đầu có những linh cảm rằng bên trong mình tồn tại một điều gì đó mà bấy lâu nay ta chưa từng ngờ tới. Nó được thể hiện qua những khoảnh khắc tĩnh lặng và bình yên tuyệt đối và bất ngờ, trong đó chúng ta có được sự minh mẫn, thấu hiểu và nhạy cảm cao độ với cái đẹp.

Chúng ta khám phá ra rằng thông qua âm nhạc—chứ không phải vì âm nhạc—mà chúng ta trải nghiệm được tâm trí mình đột nhiên tĩnh lặng, và trong khoảnh khắc tĩnh lặng đó, chúng ta được phép trải nghiệm một chiều kích lớn hơn. Có thể có những giây phút thoáng qua mà chúng ta cảm thấy sự đồng nhất và hoàn toàn hòa làm một với người khác, như thể không hề có sự ngăn cách.

Đây là những khoảnh khắc đột phá để trải nghiệm Đại ngã nội tâm thực sự của chúng ta. Ký ức về những khoảnh khắc đó thì không thể nào quên được. Khi chúng bắt đầu xảy ra, chúng ta không biết ý nghĩa của chúng là gì. Chúng ta nghĩ đấy là “ngẫu nhiên.” “Chỉ là gặp may.” Chúng ta gán cảm thọ đó cho những sự kiện bên ngoài, chẳng hạn như vẻ đẹp lúc chiều tà, một đoạn nhạc giao hưởng, hay một cử chỉ yêu thương. Nhưng khi tìm hiểu sâu hơn, chúng ta thấy rằng đó chỉ là những hoàn cảnh cho phép điều gì đó khác xảy ra. Đấy không phải là nguyên nhân. Những hoàn cảnh đó cho phép tâm trí đạt đến một trạng thái tĩnh lặng nhất định, và nhờ sự tĩnh lặng đó, chúng ta được phép trải nghiệm một điều gì đó khác chứ không chỉ sự ồn ào của chính tâm trí của mình với sự vận động không ngừng nghỉ của các giác quan, cảm thọ, suy nghĩ, tình cảm và ký ức.

Trong những khoảnh khắc này, khi thời gian dường như ngừng lại, chúng ta được thoáng thấy những điều khả dĩ. Những khoảnh khắc này quý giá đến mức được trân trọng suốt đời. Khi chúng xảy ra, ta trải nghiệm được điều gì đó rất ấn tượng. Phải chăng, vượt lên trên sự hỗn loạn của thế gian và tâm trí của chính chúng ta, có một sự im lặng? Một cõi bình yên luôn chờ đợi?

 


July 3, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (10)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 9 

KIÊU HÃNH

 

    Trong ngôn ngữ thông thường, kiêu hãnh (pride[i]) thường được coi là “tốt”. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy, tương tự như tất cả những cảm thọ tiêu cực khác, mà chúng ta đã thảo luận, kiêu hãnh thường thiếu vắng tình yêu. Do đó, về cơ bản, nó có tính phá hoại. Kiêu hãnh có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức như đánh giá quá cao, phủ nhận, đóng vai tử đạo, cố chấp, kiêu ngạo, khoe khoang, tự phụ, hơn người, ngạo mạn, tự cho mình là hơn người, phù phiếm, ích kỷ, tự mãn, xa cách, kiêu căng, định kiến, hẹp hòi, đạo đức giả, khinh miệt, ích kỷ, không tha thứ, nuông chiều, cứng nhắc, bề trên, phán xét, và ở những hình thái nhẹ nhàng hơn, là định kiến, dán nhãn.

Kiêu căng về trí tuệ dẫn đến vô minh, và kiêu căng tâm linh là rào cản chính đối với quá trình phát triển và trưởng thành về mặt tâm linh. Kiêu căng tôn giáo - tự đồng nhất mình với người chính trực và cho rằng mình “có một con đường chân chính duy nhất”, là nền tảng của tất cả các cuộc chiến tranh tôn giáo, ganh đua và những sự kiện bi thảm, ví dụ như Tòa án dị giáo. Sa ngã lớn nhất chính là kiêu căng tôn giáo, đấy là khi một người tự cho mình cái quyền được sát hại đồng loại chỉ vì họ không chia sẻ đức tin cụ thể của mình.

Trong mỗi chúng ta, cảm giác kiêu căng: “Tôi biết câu trả lời” cản trở quá trình trưởng thành và phát triển của chúng ta. Thú vị là cái phần ích kỷ trong tâm trí sẵn sàng hy sinh toàn bộ phần còn lại của người đó vì lợi ích của chính nó. Thay vì thừa nhận mình sai, người ta sẽ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng và bất kỳ khía cạnh nào của cuộc sống để dâng lên bàn thờ kiêu hãnh (ví dụ như chiến tranh tôn giáo và các cuộc thập tự chinh). Thái độ kiêu hãnh của đàn ông về những chương trình mà xã hội chúng ta coi là nam tính cản trở quá trình phát triển nội tâm về mặt cảm xúc và tâm lý của hầu hết đàn ông trong xã hội chúng ta. Một số phụ nữ hiện đang gia nhập hàng ngũ của chủ nghĩa ưu thế giới tính, điều này chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề và gia tăng cuộc chiến giữa các giới. 

Kiêu căng dễ bị tổn thương

Người kiêu căng luôn luôn phải phòng thủ, vì tự cao tự đại và phủ nhận rất dễ bị tổn thương. Ngược lại, người khiêm nhường không thể bị làm nhục vì họ đã miễn nhiễm với tổn thương, họ đã buông bỏ được thói kiêu căng. Thay vào đó, họ cảm thấy an toàn và tự trọng ở bên trong. Nhiều người tìm cách thay thế kiêu hãnh bằng tự trọng đích thực; tuy nhiên, tự trọng đích thực chỉ thực sự nảy sinh khi từ bỏ được kiêu ngạo. Những gì làm bản ngã phồng lên không mang lại sức mạnh nội tại. Ngược lại, chúng chỉ làm gia tăng tính dễ bị tổn thương và mức độ sợ hãi tổng quát trong ta. Khi chúng ta có thái độ kiêu căng, năng lượng của chúng ta bị tiêu hao vì phải liên tục lo lắng về việc bảo vệ lối sống, nghề nghiệp, khu phố, quần áo, năm sản xuất và nhãn hiệu xe hơi, tổ tiên, đất nước, và hệ thống niềm tin chính trị và tôn giáo của mình. Lo lắng không ngớt về diện mạo bên ngoài và cách người khác sẽ nghĩ về mình, vì vậy luôn luôn dễ bị tổn thương trước ý kiến ​​của người khác.

Khi buông bỏ được kiêu hãnh và tự cao tự đại, thì cảm giác an toàn nội tâm sẽ thay thế cho chúng. Khi chúng ta không còn cảm thấy cần phải bảo vệ hình ảnh của mình, những lời chỉ trích và công kích từ người khác sẽ giảm dần và cuối cùng chấm dứt hẳn. Khi chúng ta buông bỏ nhu cầu được công nhận hoặc chứng minh mình là người đúng, thì những thách thức chống lại chúng ta cũng sẽ không còn.

Nó đưa chúng ta đến một trong những quy luật cơ bản của tâm thức: Phòng thủ chiêu mời tấn công. Xem xét bản chất của kiêu hãnh sẽ giúp chúng ta buông bỏ nó, vì nó không còn được đánh giá cao nữa. Nó được nhìn nhận theo đúng bản chất của mình: yếu đuối. Câu nói: “Kiêu căng trước, sụp đổ sau” vẫn đúng. Kiêu hãnh tương tự như lớp băng mỏng, một sự thay thế nghèo nàn cho sức mạnh thực sự vững chắc, xuất phát từ can đảm, chấp nhận hoặc bình an.

Liệu có tồn tại cái gọi là kiêu hãnh “lành mạnh”? Khi nói về kiêu hãnh lành mạnh, là chúng ta nói về tự trọng, nhận thức nội tâm về giá trị và phẩm chất thực sự của chính người đó. Nhận thức nội tâm này khác với năng lượng của kiêu hãnh. Tự nhận thức về giá trị thực sự của mình có đặc điểm là không cần phòng thủ. Một khi chúng ta đã ý thức được sự thật về bản thể thực sự của mình—bản chất bên trong của tự ngã của chúng ta với tất cả sự ngây thơ, sự vĩ đại và cao quý đích thực của linh hồn của con người—chúng ta không còn cần có thái độ kiêu căng nữa. Chúng ta chỉ cần biết con người mà mình đang là, và tự biết như thế là đủ đối với chúng ta. Điều mà chúng ta thực sự biết không bao giờ cần phòng thủ và khác với năng lượng của kiêu hãnh mà chúng ta thảo luận trong chương này.

Hãy cùng xem xét một biểu hiện của kiêu hãnh mà chúng ta đã được lập trình và xem chúng đứng vững đến mức nào khi được khảo sát kỹ lưỡng. Tự hào về gia đình, tự hào về đất nước và tự hào về thành tích là những ví dụ điển hình. Liệu tự hào có thực sự là cảm xúc cao quý nhất của con người? Chính thực tế là nó có đặc điểm là phòng thủ đã chứng minh điều ngược lại. Khi chúng ta tự hào về tài sản của mình hoặc về một số tổ chức mà chúng ta gắn bó, chúng ta cảm thấy có nghĩa vụ phải bảo vệ. Tự hào về ý tưởng và quan điểm của chúng ta dẫn đến những tranh luận, xung đột và đau khổ không bao giờ dứt.

Trạng thái cảm xúc cao hơn tự hào là tình yêu. Nếu chúng ta yêu tất cả những điều đã nói bên trên (gia đình, đất nước, thành tích), thì điều đó có nghĩa là không có nghi ngờ gì về giá trị của chúng trong tâm trí chúng ta. Chúng ta không còn phải ở thế phòng thủ nữa. Khi sự công nhận và kiến ​​thức thực sự thay thế cho ý kiến, vốn là một phần của lòng tự hào, thì không còn chỗ cho tranh luận. Tình yêu và sự trân trọng thực sự của chúng ta đối với một điều gì đó là quan điểm vững chắc không thể bị tấn công.

Kiêu hãnh - vì nó là quan điểm dễ bị tổn thương - luôn luôn ngụ ý rằng ở đâu đó có một nghi ngờ cần được làm rõ, và đối thủ nhanh chóng tập trung vào nghi ngờ đó. Khi mọi nghi ngờ đã được xóa bỏ, ý kiến ​​và kiêu hãnh biến mất. Kiêu hãnh có chứa một hàm ý xin lỗi tinh tế, như thể bản thân sự vật không đủ tốt để tự đứng vững dựa trên giá trị của chính nó. Cái xứng đáng với tình yêu và thái độ tôn trọng của chúng ta hầu như không cần người bào chữa. Kiêu hãnh ngầm ám chỉ rằng vẫn còn chỗ cho tranh luận và giá trị của một điều gì đó có thể bị nghi ngờ.

Khi chúng ta thực sự yêu một cái gì đó và, do đó, trở thành một với nó, đấy là do chúng ta nhìn thấy sự hoàn hảo nội tại của nó. Trên thực tế, “lỗi” của nó là một phần không thể thiếu của hoàn hảo, vì tất cả những gì chúng ta thấy trong vũ trụ này đều đang trong quá trình trở thành. Trong quá trình đó, tiến hóa của nó là một phần của hoàn hảo. Do đó, bông hoa chưa nở hết không phải là một bông hoa không hoàn hảo cần được bảo vệ. Ngược lại, quá trình nở ra của nó đang diễn ra với sự hoàn hảo chính xác phù hợp với quy luật của vũ trụ. Tương tự như vậy, mỗi cá nhân trên hành tinh này đều đang phát triển, trưởng thành, học hỏi và phản ánh sự hoàn hảo đó. Chúng ta có thể nói rằng sự phát triển của quá trình tiến hóa đang diễn ra phù hợp hoàn toàn với các quy luật của vũ trụ.

Một trong những nhược điểm của thái độ kiêu hãnh, như chúng ta đã nói, là nó dễ bị tổn thương. Dễ bị tổn thương sẽ chiêu mời tấn công; do đó, trong xã hội, chúng ta chứng kiến ​​những người kiêu ngạo thường bị chỉ trích, và chính vì họ dễ bị tổn thương cho nên mới có câu: “Kiêu căng trước, sụp đổ sau”. Trong Kinh Thánh, chính kiêu căng là gót chân Achilles của Lucifer, dù hắn giành được địa vị cao đến mức nào. 

Khiêm nhường

Việc cố gắng kìm nén kiêu hãnh vì mặc cảm tội lỗi đơn giản là không hiệu quả. Việc gán nhãn năng lượng của kiêu hãnh như là “tội lỗi” và kìm nén nó trong chính mình vì mặc cảm tội lỗi, để che giấu nó, hoặc giả vờ như chúng ta không trải nghiệm nó đều không giúp được gì. Sự kiện xảy ra là năng lượng đó âm thầm biến đổi thành hình thức mới, được gọi là kiêu hãnh tâm linh.

Chúng ta không cảm thấy thoải mái khi ở bên cạnh những người kiêu ngạo; do đó, kiêu ngạo cản trở giao tiếp và biểu hiện của tình yêu. Mặc dù chúng ta yêu thương những người kiêu hãnh vì họ có những thành tích cụ thể, chúng ta yêu thương họ mặc dù họ kiêu hãnh chứ không phải vì thái độ kiêu hãnh của họ.

Cảm thọ mặc cảm tội lỗi vì coi kiêu hãnh như là tội lỗi về mặt tâm linh chỉ khiến nó bị khoá lại ở trong đó và, như chúng tôi đã nói, nó thực sự không phải là câu trả lời. Câu trả lời thực sự chỉ đơn giản là buông bỏ bằng cách khảo sát bản chất thực sự của nó. Một khi chúng ta nhìn thấy kiêu hãnh là gì, thì nó trở thành một trong những cảm xúc dễ dàng từ bỏ nhất. Trước hết, chúng ta có thể tự hỏi: “Mục đích của kiêu hãnh là gì? Phần thưởng của nó là gì? Tại sao tôi lại tìm kiếm nó? Nó bù đắp cho cái gì? Tôi cần nhận ra điều gì về bản chất thực sự của mình để có thể buông bỏ kiêu hãnh mà không cảm thấy mất mát?” Câu trả lời khá rõ ràng. Càng cảm thấy mình nhỏ bé ở bên trong, chúng ta càng phải bù đắp cho cảm giác thiếu tự tin, không có vai trò quan trọng và vô giá trị bằng cách thay thế nó bằng cảm xúc kiêu ngạo.

Càng buông bỏ những cảm xúc tiêu cực, chúng ta càng ít dựa vào kiêu hãnh. Thay vào đó, sẽ có phẩm chất mà thế giới gọi là “khiêm nhường” và chúng ta cảm nhận theo lối chủ quan như bình yên. Khiêm nhường đích thực khác với cái ngược lại: “kiêu hãnh trong khiêm nhường” hay “khiêm nhường giả tạo”, thường thấy trong đời sống xã hội. Khiêm nhường giả tạo là giả vờ tự hạ thấp bản thân với mong muốn được người khác công nhận những thành tích mà mình tự hào, nhưng lại quá kiêu ngạo, không dám khoe khoang một cách công khai.

Khiêm nhường đích thực không thể được trải nghiệm bởi chính người được cho là đang sở hữu nó, vì đó không phải là một cảm xúc. Như chúng tôi đã nói, người thực sự khiêm nhường thì không thể bị làm nhục. Họ miễn nhiễm với mọi sỉ nhục. Họ không có gì để tự vệ. Không dễ bị tổn thương và do đó, người thực sự khiêm nhường không trải nghiệm những lời chỉ trích từ người khác. Thay vào đó, một người thực sự khiêm nhường coi chỉ trích của người khác chỉ đơn thuần là thể hiện những vấn đề nội tâm của người kia. Ví dụ, nếu ai đó nói: “Bạn nghĩ mình giỏi, phải thế không?”, thì người thực sự khiêm nhường sẽ thấy rằng người kia có vấn đề về đố kỵ, và câu hỏi đó ngay từ đầu đã không có cơ sở trong thực tại. Không có gì để bị xúc phạm và không cần phải phản ứng. Ngược lại, đối với người kiêu ngạo, câu hỏi này sẽ bị coi là xúc phạm và làm tổn thương cảm thọ, đáp trả gay gắt, hoặc thậm chí là, trong một số trường hợp có thể dẫn tới bạo lực. 

Niềm vui và biết ơn

Vì tự hào đôi khi được coi là động lực đưa tới thành tích, vậy ở tầng cao hơn cái gì sẽ thay thế cho nó? Một trong những câu trả lời sẽ là niềm vui. Có gì sai khi niềm vui được dùng làm phần thưởng vì có thành tích, thay cho tự hào? Tự hào kéo theo mong muốn được người khác công nhận và, do đó, dễ dẫn đến tức giận và thất vọng nếu không được đáp ứng. Nếu chúng ta đạt được một mục tiêu nhất định vì niềm vui, thích thú, tình yêu đối với thành tích và niềm vui nội tâm mà nó mang lại, chúng ta sẽ không bị ảnh hưởng bởi phản ứng của người khác.

Chúng ta có thể nhận ra khuynh hướng dễ bị tổn thương của mình bằng cách xem xét hình thức phản ứng mà chúng ta hy vọng sẽ nhận được từ người khác bằng những lựa chọn và hành vi của mình. Trong đó có cử chỉ, biểu cảm, cách ăn mặc, loại tài sản mà chúng ta lựa chọn, nhãn hiệu xe hơi chúng ta lái, loại nhà chúng ta có, địa chỉ của chúng ta, trường học mà chúng ta đã theo học hoặc con cái chúng ta đang theo học, hoặc nhãn hiệu trên các sản phẩm chúng ta mua. Thực tế, nếu nhìn vào xã hội hiện tại, chúng ta sẽ thấy kiêu ngạo lên tới mức độ lố bịch như thế nào. Nhãn hiệu giờ đây được dán bên ngoài nhiều loại quần áo và đồ dùng cá nhân. Nó vẫn chưa lan đến mức xuất hiện trên cả những cái cào hay xẻng, nhưng sớm muộn gì thì điều đó cũng có thể xảy ra! Chưa ai nghĩ đến việc đó, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể vác những cái cào và xẻng đi vòng quanh một cách phô trương với tên của các nhà thiết kế được chạm khắc rực rỡ trên đó.

Nó chỉ ra một trong những nhược điểm khác của kiêu ngạo: khả năng bị bóc lột cao tới mức nào. Kiêu ngạo đồng nghĩa với việc chúng ta có thể dễ dàng bị thao túng. Để có một thứ gì đó vô nghĩa, thì một khoản tiền lớn đã bị rút ra khỏi hầu bao của chúng ta. Tình huống này hiện nay bi hài ở chỗ người ta lại lấy làm tự hào về việc mình đã bị bóc lột nhiều đến mức nào. Trong một số nhóm xã hội, việc khoe khoang về số tiền khổng lồ để mua những món đồ nhất định đang trở thành biểu tượng của địa vị. Khi bỏ đi vẻ hào nhoáng, chúng ta có thể nói rằng người đó khá ngốc nghếch. Họ thực sự đã bị lừa hoặc quá ngây thơ và không biết bất cứ thứ gì cao hơn thế.

Kiêu căng đến mức hợm hĩnh có lẽ là thái độ ngạo mạn cao nhất. Liệu phô trương có thực sự gây được ấn tượng? Thực ra là không. Phản ứng mà chúng ta thấy chính là say mê. Mọi người thích thú với vẻ hào nhoáng bề ngoài, nhưng sâu bên trong, họ không thực sự tôn trọng, bởi vì họ biết bản chất thực sự của nó là gì. Khi thể hiện thói kiêu ngạo bằng cách phô trương, chúng ta không gây được ấn tượng với bất cứ người nào.

Điều này được bộc lộ trong một chuyến đi Canada để thăm nhà của một người khá giàu có - khéo léo thể hiện được giá trị của nhiều tài sản của mình. Trong chuyến đi đó, người ta còn nhìn thấy những đứa trẻ da đỏ người Canada suy dinh dưỡng đang chơi đùa bên cạnh những kho chứa ngũ cốc khổng lồ, đầy đến mức tràn ra ngoài, ngũ cốc được giữ lại nhằm giữ cho giá cao hơn, bằng cách tạo ra thiếu hụt giả tạo. Khi người giàu có này nói về tài sản của mình, hình ảnh những đứa trẻ còi cọc, gầy đét bỗng hiện lên trong tâm trí. Thay vì ấn tượng với của cải mà ông ta có, người ta lại cảm thấy thương hại cho quan niệm về giá trị của ông ta và cảm thông cho thái độ thiếu tự tin, buộc ông ta phải bù đắp bằng sự hời hợt đáng thương như thế.

Có nghĩa là chúng ta không thể tận hưởng những vật sở hữu đắt tiền hay sao? Không, hoàn toàn không. Điều chúng ta đang nói đến là thói kiêu ngạo. Vấn đề không phải là chúng ta có của, mà là chúng ta có thái độ kiêu ngạo, chiếm hữu và tự mãn về của cải. Chính kiêu ngạo tạo ra khoảng trống để sợ hãi len vào. Người đàn ông giàu có ở Canada được nói đến ở trên cũng có hệ thống báo động chống trộm rất đắt tiền. Kiêu ngạo, tương tự như tất cả các cảm xúc tiêu cực khác, sinh ra mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm tội lỗi sinh ra sợ hãi. Sợ hãi có nghĩa là mất mát tiềm tàng. Do đó, kiêu hãnh luôn đồng nghĩa với việc mất đi sự bình yên trong tâm hồn.

Trái ngược với thủ đắc mang tính kiêu căng là giản dị. Giản dị không có nghĩa là nghèo nàn về của cải; đúng hơn, đó là trạng thái của tâm trí. Một người phụ nữ có hàng triệu đô la, người đó có trong tay những bất động sản và tài sản khổng lồ. Tuy nhiên, với tư cách là một con người, người đó cực kỳ giản dị. Tài sản thể hiện những thứ thế giới đã mang đến cho người đó, và người đó tìm thấy niềm vui trong vẻ đẹp của chúng. Do đó, không có ai chỉ trích, cũng như không ai ghen tị với người này.

Quan trọng không phải là chúng ta có gì, mà là cách chúng ta lưu giữ nó, cách chúng ta định hình nó trong tâm thức của mình, và ý nghĩa của nó đối với chúng ta. Nhân tiện nói thêm rằng, toàn bộ bất động sản của người phụ nữ này hoàn toàn không có hệ thống báo động chống trộm hay chó canh. Trên thực tế, khi người ta nhắc nhở, thì bà ta trả lời: “Ôi trời! Nếu ai đó thực sự cần thứ gì đó đến như thế, thì họ có thể lấy đi mà!” Có một sự tương ứng giữa việc không ai từng lấy trộm bất cứ thứ gì của bà và việc bà sẵn sàng chia sẻ với người khác. Khả năng miễn nhiễm với trộm cắp của bà này có liên quan với việc bà ấy không có thái độ kiêu ngạo về những thứ mà mình có.

Chiếm hữu và chấp trước là hệ quả của kiêu hãnh. Do đó, chấp trước là một nguyên nhân tiềm tàng tạo ra đau khổ, vì chấp trước làm cho người ta sợ mất, và khi mất, chúng ta rơi trở lại trạng thái thờ ơ, trầm cảm và u sầu. Nếu chúng ta kiêu hãnh về một chiếc xe và có người lấy trộm, chúng ta sẽ trải nghiệm đau khổ, đau đớn và thống khổ. Thay vào đó, nếu chúng ta không quá coi trọng chiếc xe (về mặt cảm xúc), và chúng ta tận hưởng vẻ đẹp và sự hoàn hảo của nó, và chúng ta cảm thấy biết ơn vì đã sở hữu nó, thì việc mất cái xe này sẽ chỉ mang lại thất vọng không lớn.

Biết ơn là một trong những liều thuốc chữa thói kiêu ngạo. Nếu chúng ta may mắn được sinh ra với chỉ số IQ cao, chúng ta có thể biết ơn thay vì tự hào về nó. Đó không phải là thành tích; chúng ta đã được sinh ra với IQ cao. Nếu chúng ta biết ơn những gì đã được ban tặng và những gì đã được hoàn thành nhờ tài năng và nỗ lực mà Thiên Chúa đã ban cho, thì chúng ta sẽ có tâm trí bình an và miễn nhiễm với nỗi đau.

Tâm trí con người thật kỳ lạ và buồn cười là nó có thái độ kiêu ngạo về bất cứ thứ gì có tiền tố là “của tôi”. Chúng ta có thể kiêu hãnh một cách lố bịch về những điều tầm thường nhất và, một khi nhận ra sự hài hước của thái độ đó, thì việc buông bỏ kiêu hãnh không còn quá khó nữa.

Buồn cười là, một số người lại mắc phải nhược điểm là thói hợm hĩnh ngược. Họ tự hào về những “món hời” và những chiến tích ở cửa hàng đồ cũ. Quan điểm cá nhân của họ về những người trả giá quá cao cho mọi thứ là những người đó chẳng khác gì những con cừu cần bị xén lông và họ thường nhắc lại câu: “Người ngu chẳng mấy chốc sẽ mất hết tiền”. Trong đám người có thái độ khinh khi đang mua ở cửa hàng đồ cũ kiểu này, biểu tượng địa vị chính là món hời không thể tin nổi. Trên thực tế, họ thường cạnh tranh với nhau để xem ai tìm được món hời nhất. Thật buồn cười khi nhận thấy bộ quần áo treo trong cửa hàng đồ cũ hoàn toàn không có giá trị gì cho đến khi nó trở thành “của tôi”. Giá trị cực kỳ to lớn được gắn lên nó ngay lập tức.  

Khó khăn của việc thêm từ “của tôi” vào trước mọi thứ là lòng tự hào đi kèm với cảm giác sở hữu. Nó làm cho chúng ta cảm thấy có trách nhiệm phải bảo vệ mọi thứ mà chúng ta dán nhãn là “của tôi”. Chúng ta có thể giảm bớt khả năng bị tổn thương bằng cách buông bỏ ham muốn sở hữu; thay vì nói “của tôi”, chúng ta có thể dùng từ “cái”. Không phải “áo của tôi”, mà là “cái” áo. Như vậy, chúng ta sẽ nhận thấy rằng, nếu chúng ta coi một trong những suy nghĩ của mình là “ý kiến” thay vì “ý kiến ​​của tôi”, thì cảm thọ sẽ thay đổi. Tại sao mọi người lại tỏ ra nóng nảy về ý kiến ​​của mình? Chỉ vì cảm giác “của tôi”. Nếu ý kiến ​​được xem “chỉ là ý kiến”, thì sẽ không còn khả năng bị tổn thương do tức giận đầy kiêu ngạo nữa. 

Ý kiến

Nếu nhìn vào các ý kiến, ta sẽ thấy chúng có mặt khắp nơi. Mỗi người đều có hàng ngàn ý kiến ​​về hàng ngàn vấn đề, và ý kiến ​​của họ thay đổi từng giây từng phút, dễ bị ảnh hưởng bởi tất cả những xu hướng thoáng qua, tuyên truyền và trào lưu. Ý kiến ​​“thời thượng” hôm nay sẽ “lỗi thời” trong ngày mai. Ý kiến ​​sáng nay đã trở thành lỗi thời ngay trong chiều nay. Có thể tự hỏi: “Liệu mình có muốn lan truyền khả năng dễ bị tấn công của bản thân mình bằng cách đồng nhất quá nhiều với tất cả những suy nghĩ nhất thời này và gọi chúng là ‘của tôi’ hay không?” Mỗi người đều có ý kiến ​​về mọi thứ. Thế thì sao? Khi nhìn vào bản chất thực sự của các ý kiến, chúng ta sẽ thôi đánh giá chúng quá cao. Nếu nhìn lại cuộc đời, ta sẽ thấy rằng tất cả những sai lầm mà mình từng mắc phải đều dựa trên cơ sở của một ý kiến nào đó.

Chúng ta sẽ ít bị tổn thương hơn nếu đưa những suy nghĩ, ý tưởng và niềm tin của mình, vốn đều là ý kiến, vào bối cảnh khác. Chúng ta có thể coi chúng như những ý tưởng mà mình thích hoặc không thích. Một số suy nghĩ mang lại cho chúng ta niềm vui, vì vậy chúng ta thích những ý nghĩ này. Chỉ vì hôm nay chúng ta thích, không có nghĩa là chúng ta phải tranh cãi kịch liệt để bảo vệ chúng. Chúng ta thích một khái niệm khi nó còn có ích và chúng ta cảm thấy thích thú với nó. Tất nhiên, chúng ta sẽ dễ dàng loại bỏ một ý nghĩ khi nó không còn làm cho ta vui nữa. Khi nhìn vào các ý kiến của mình, chúng ta sẽ thấy rằng, ngay từ đầu, chính cảm xúc mới làm cho chúng trở thành có giá trị.

Thay vì tự hào về những suy nghĩ của mình, tại sao không chỉ đơn giản là yêu thích chúng? Tại sao không yêu thích một khái niệm nào đó vì nó đẹp, nó truyền cảm hứng, vì nó có ích? Nếu chúng ta nhìn nhận suy nghĩ của mình theo cách đó, chúng ta không còn cần phải tự hào về việc mình “là người đúng” nữa. Nếu chúng ta có cùng quan điểm về những điều mình thích và không thích, thì chúng ta sẽ không còn dễ tranh cãi nữa. Ví dụ, nếu chúng ta yêu thích nhạc của một nhà soạn nhạc nào đó, chúng ta không còn cần phải bảo vệ nó nữa. Chúng ta có thể hy vọng rằng người bạn của mình cũng sẽ yêu thích loại nhạc đó, nhưng nếu không, điều tồi tệ nhất mà chúng ta có thể cảm thấy là thất vọng nhẹ nhàng vì không thể chia sẻ cái mà mình yêu thích và đánh giá cao.

Nếu làm theo cách này, chúng ta sẽ thấy rằng mọi người không còn công kích những thứ chúng ta thích, không thích và quan niệm của chúng ta nữa. Thay vì thái độ phòng thủ, điều họ nhận được từ chúng ta lúc này là trân trọng. Họ hiểu rằng chúng ta đánh giá cao một số thứ nhất định, và đó là lý do vì sao chúng ta suy nghĩ như vậy. Nhưng họ sẽ không còn chỉ trích hay công kích chúng ta. Điều tồi tệ nhất mà chúng ta có thể nhận được có lẽ là một lời trêu chọc hoặc thái độ tò mò. Không có kiêu ngạo, thì cũng không có công kích.

Nó rất có giá trị trong những lĩnh vực như chính trị và tôn giáo, vốn dĩ dễ tạo ra tranh cãi đến mức trong xã hội lịch sự, chúng ta tìm cách né tránh, coi đó như một chiến thuật. Chúng ta sẽ thấy rằng nếu chúng ta yêu tôn giáo của mình - tôn giáo nào thì cũng thế - thì sẽ không ai công kích chúng ta. Tuy nhiên, nếu chúng ta tỏ ra kiêu ngạo, chúng ta sẽ phải tránh toàn bộ chủ đề này, bởi vì tức giận sẽ nhanh chóng xuất hiện, như một sản phẩm phụ của thái độ kiêu ngạo. Khi ta thực sự trân quý điều gì đó, ta nâng nó lên cao, thoát khỏi tầm ngắm của những lời chỉ trích mang tính hạ nhục.

Những gì ta thực sự yêu quý và tôn kính được bảo vệ bởi chính sự tôn kính của ta. Nếu ta nói với người nào đó rằng ta làm điều gì đó vì ta thích nó, thì thực sự họ chẳng thể nói gì nhiều về điều đó, có phải thế không? Nếu ta ngụ ý rằng ta làm điều đó vì ta cho rằng làm vậy là đúng, thì ta sẽ ngay lập tức thấy họ nổi giận vì họ cũng có quan điểm riêng về cái gì là đúng.

Các giá trị quan của chúng ta vốn là những lựa chọn ưu tiên. Ta gìn giữ chúng vì ta yêu quý, tận hưởng và tìm thấy niềm vui trong đó. Nếu ta giữ chúng trong tâm thế ấy, ta sẽ được yên thân để tận hưởng chúng.

Lý do làm cho kiêu hãnh tạo ra công kích là vì hàm ý rằng mình “tốt hơn người khác”, thái độ như thế là một phần không thể thiếu của kiêu hãnh. Chúng ta thấy nhiều người có chế độ ăn uống mà họ lấy làm tự hào; do đó, họ liên tục tranh cãi về tính đúng đắn của chế độ ăn uống và quan điểm dinh dưỡng của mình. Họ thậm chí còn cố gắng áp đặt chế độ ăn uống của mình lên các thành viên trong gia đình và bạn bè, ca ngợi tính ưu việt về mặt đạo đức hoặc sức khỏe của chế độ ăn uống của họ. Ngược lại, có những người tuân theo cùng một chế độ ăn uống vì họ thích làm như thế, vì nó làm cho họ cảm thấy tốt hơn, hoặc vì nó đáp ứng một số kỷ luật tâm linh nhất định nào đó; do đó, người ta không bao giờ nghe thấy họ tranh cãi, bởi vì họ không có gì cần phải bảo vệ. Nếu ai đó nói với chúng ta rằng họ ăn theo cách họ ăn vì họ thích thế, thì chúng ta chẳng thể nói gì nhiều về điều đó, có phải thế không? Ngược lại, nếu họ ngụ ý rằng cách ăn của họ là đúng và, suy rộng ra, cách ăn của chúng ta là sai, thì điều họ thực sự đang nói là họ giỏi hơn chúng ta. Và sẽ luôn luôn gây ra oán hận.

Nếu chúng ta không có thái độ kiêu ngạo về ý kiến của mình, thì chúng ta có quyền thay đổi. Đã bao nhiêu lần chúng ta bị mắc kẹt trong việc làm một cái gì đó mà chúng ta thực sự không muốn làm, bởi vì chúng ta có thái độ kiêu ngạo về một quan điểm nào đó – quả là quá ngu ngốc! Chúng ta thường xuyên muốn thay đổi suy nghĩ hoặc hướng đi của mình, nhưng lại tự nhốt mình bằng cách giữ quan điểm kiêu căng.

Điều này làm nảy sinh một trong những sự kháng cự đối với việc phó thác tâm kiêu ngạo, và đó chính là bản thân tâm kiêu ngạo. Trong vị thế của kẻ kiêu ngạo, vấn đề cốt lõi tiềm ẩn chính là sợ. Ta sợ rằng nếu mình thay đổi quan điểm, đánh giá của người khác về ta sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng xấu.

Một trong những lý do cần có thái độ khiêm nhường trước những quan điểm của chúng ta là, quan điểm của chúng ta sẽ thay đổi khi chúng ta đi sâu vào một vấn đề hoặc tình huống nào đó. Những gì thoạt nhìn dường như là đúng thường lại hoàn toàn khác khi chúng ta thực sự đi sâu vào vấn đề. Điều này, tất nhiên, sẽ làm cho các chính trị gia thất vọng vì họ đưa ra những lời hứa dựa trên vọng tưởng về những điều có thể xảy ra. Nhưng khi nắm được quyền lực, họ nhận ra rằng mọi việc lại khác xa so với những gì họ từng nghĩ. Các vấn đề đều phức tạp hơn nhiều. Tình hình thực sự là do tác động tổng hợp của nhiều thế lực có sức mạnh trong xã hội. Tất cả những gì các chính trị gia có thể thực sự hứa với chúng ta là họ sẽ sử dụng phán đoán tốt nhất có thể vì lợi ích chung, khi họ đi sâu vào từng vấn đề một.

Khía cạnh tiến hóa này của cuộc sống thực sự là tất cả những gì mà bất kỳ người nào trong chúng ta cũng có thể hứa với chính mình, và tự nhận thức như thế sẽ bảo vệ chúng ta để không vỡ mộng. Đây là sự an toàn của “tâm trí cởi mở” hay còn gọi là “tâm trí của người mới bắt đầu” trong thực hành Thiền. Khi cởi mở, chúng ta thừa nhận rằng mình không nắm rõ tất cả các sự kiện, và chúng ta sẵn sàng thay đổi quan điểm của mình khi tình hình tiến triển. Bằng cách làm như thế, chúng ta không tự nhốt mình trong đau đớn khi phải bảo vệ những sự nghiệp đã thất bại.

Điều này cũng rất đúng ngay cả trong những lĩnh vực mà chúng ta cho là dựa trên dữ liệu thực tế và có thể quan sát được, chẳng hạn như lĩnh vực khoa học. Trên thực tế, khoa học dựa trên các giả thuyết, và quan điểm khoa học luôn luôn biến đổi và thay đổi. Quan điểm khoa học - nhiều người không chuyên nghiệp cảm thấy ngạc nhiên - cũng chịu ảnh hưởng bởi các trào lưu phổ biến trong giai đoạn nào đó, mù hệ hình và áp lực chính trị. Ví dụ, trong lĩnh vực tâm thần học, chủ đề về quan hệ giữa dinh dưỡng, hóa học máu, chức năng não và bệnh tâm thần trước đây không được nhiều người biết. Các nhà khoa học và bác sĩ lâm sàng làm việc trong lĩnh vực này thấy mình thuộc nhóm “bên ngoài”. Cùng với thời gian, khi lĩnh vực nghiên cứu này được chứng minh là có giá trị, quan điểm khoa học trong dân chúng đã thay đổi. Đã có những khám phá quan trọng, và toàn bộ các ngành công nghiệp đã ra đời để cung cấp các sản phẩm sử dụng những phát hiện cơ bản về quan hệ giữa dinh dưỡng và chức năng não. Giờ đây, chủ đề này được chấp nhận là đáng kính, vì vậy các bác sĩ lâm sàng và các nhà khoa học có thể nghiên cứu trong lĩnh vực này và được chấp nhận là một phần của nhóm “bên trong”. Do đó, kiêu hãnh cũng là nguyên nhân kìm hãm tiến bộ khoa học (ví dụ, các lý thuyết về ấm nóng lên toàn cầu).

Kiêu hãnh làm cho chúng ta mù quáng trước nhiều điều mang lại lợi ích to lớn; đối với tâm trí kiêu hãnh, chấp nhận chúng đồng nghĩa với việc ngụ ý rằng chúng ta là người sai. Càng mạnh mẽ từ bên trong, chúng ta càng trở nên linh hoạt hơn, có thể mở lòng đón nhận tất cả những thứ có lợi. Kiêu hãnh ngăn cản, không cho chúng ta nhìn thấy những điều hoàn toàn hiển nhiên. Hàng ngàn người chết vì kiêu hãnh. Họ đánh đổi sức khỏe và cả mạng sống của mình. Những người nghiện ma túy và rượu sẽ chết vì thái độ phủ nhận vốn có trong kiêu hãnh: “Người khác có vấn đề, chứ không phải tôi!” Kiêu hãnh ngăn cản, không cho chúng ta nhận ra những hạn chế của chính mình và chấp nhận sự giúp đỡ cần thiết để vượt qua. Kiêu hãnh cô lập chúng ta.

Khi buông bỏ kiêu ngạo, sẽ có người giúp chúng ta giải quyết những vấn đề mà chúng ta đang phải vật lộn. Chúng ta có thể làm thí nghiệm và chứng minh tính đúng đắn của nguyên tắc này bằng cách chọn một lĩnh vực mà chúng ta đang gặp khó khăn và hoàn toàn từ bỏ tất cả những thái độ kiêu ngạo liên quan. Khi làm như vậy, một số điều làm chúng ta ngạc nhiên bắt đầu xảy ra. Buông bỏ kiêu ngạo mở ra cánh cửa để chúng ta đón nhận những điều có lợi nhất đối với mình. Chúng ta có sẵn sàng buông bỏ kiêu ngạo và cảm thấy mình hơn người khác hay không? Khi sẵn sàng buông bỏ sự an toàn giả tạo của kiêu ngạo, chúng ta sẽ trải nghiệm sự an toàn thực sự đến từ can đảm, tự chấp nhận và niềm vui.



[i] Pride được dịch linh hoạt tùy theo ngữ cảnh để lột tả đúng bản chất năng lượng của nó: 

  - Kiêu hãnh / Kiêu ngạo / Kiêu căng: Dùng khi nói về phương diện tiêu cực của bản ngã (Ego), sự tự tôn quá mức dẫn đến tách biệt và coi thường người khác.

  - Tự hào: Dùng trong những ngữ cảnh mang tính khích lệ hoặc ghi nhận thành tựu, nhưng vẫn cần quan sát để tránh rơi vào sự dính mắc của bản ngã.

Lưu ý: Bản chất của Pride là sự “phồng” lên của bản ngã, tạo ra cảm giác ưu việt giả tạo, dẫn đến tính dễ bị tổn thương và sợ hãi.


July 2, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (9)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 8 

TỨC GIẬN

     Tức giận có thể dao động từ thịnh nộ đến oán hận nhẹ nhàng. Bao gồm trả thù, phẫn nộ, bất bình, thịnh nộ, ghen tị, thù hận, ác ý, căm ghét, khinh miệt, cãi vã, thù địch, mỉa mai, thiếu kiên nhẫn, thất vọng, tiêu cực, hung hăng, bạo lực, ghê tởm, keo kiệt, nổi loạn, hành vi bùng nổ, kích động, lăng mạ, thô lỗ, âm ỉ, ủ rũ, hờn dỗi và bướng bỉnh. Những biến thể này của tức giận được thể hiện rõ qua các bản tin hàng ngày trên truyền hình.

Tức giận có thể nảy sinh về chính kỹ thuật phó thác. Tức giận vì người ta được kỳ vọng là sẽ buông bỏ những cảm xúc mà trước đây từng được đánh giá cao. Tức giận vì sợ mất mát. Tức giận với cảm xúc nói chung. Tức giận với một cảm thọ không biến mất ngay lập tức.

Tức giận có rất nhiều năng lượng; do đó, chúng ta thực sự có thể cảm thấy tràn đầy năng lượng khi chúng ta cảm thấy khó chịu hoặc tức giận. Một trong những thủ đoạn mà người ta học được là nhanh chóng chuyển từ thờ ơ và u sầu sang tức giận, rồi từ tức giận nhảy vọt lên kiêu hãnh, và sau đó là can đảm. Tức giận là có năng lượng để hành động. Nó dẫn đến hành động trên thế gian này. Khi những người “thiếu thốn” trên thế giới được ham muốn tiếp thêm năng lượng và chuyển sang tức giận về những thứ họ không có, lúc đó tức giận thúc đẩy họ thực hiện những hành động cần thiết để hoàn thành ước mơ về một đời sống tốt đẹp hơn.

Có thể xác minh nhanh chóng năng lượng tức giận bị kìm nén trong dân chúng bằng cách nhìn xem bạo lực phổ biến đến mức nào trên các phương tiện truyền thông - người xem được trải nghiệm gián tiếp việc giải tỏa sự tức giận của họ bằng cách đánh nhau, bắn nhau, đâm chém nhau, hành hình, giết hại “những kẻ xấu”.

Chúng ta thường có mặc cảm tội lỗi về sự tức giận đến mức chúng ta thấy cần phải biến đối tượng của sự tức giận của mình thành “người sai” để chúng ta có thể nói mình tức giận là “chính đáng”. Rất ít người có thể chịu trách nhiệm về sự tức giận của chính mình và chỉ cần nói: “Tôi tức giận vì tôi đang đầy tức giận đây.” 

Sử dụng tức giận theo lối tích cực

Người ta thường kìm nén tức giận, hung hăng và thù địch bên trong; coi đó là khó chịu, hạ thấp phẩm giá, thậm chí là thất bại về mặt đạo đức hoặc một bước thụt lùi về mặt tâm linh. Họ không nhận ra rằng tức giận bị kìm nén vẫn là năng lượng của tức giận và nếu không được thừa nhận và giải quyết, nó sẽ gây ra những hậu quả tai hại cho sức khỏe và tiến bộ tổng thể của họ. Ý định đằng sau tức giận là tiêu cực, và nó sẽ tạo ra những hậu quả tương tự ngay cả khi không được thể hiện ra.

Một cách tiếp cận hữu ích là nhìn nhận năng lượng của tức giận theo lối tích cực và sử dụng nó để thúc đẩy tham vọng và hành động của chúng ta một cách có lợi. Ví dụ, giả sử chúng ta tức giận với sếp của mình. Chúng ta cảm thấy oán hận. Ông ta dường như không bao giờ thừa nhận khả năng hoặc nỗ lực của chúng ta. Nhưng chúng ta biết rằng việc thể hiện tức giận và oán hận là thiếu khôn ngoan. Nó rất có thể làm cho ta mất việc hoặc ít nhất là làm cho sếp tiếp tục giận ta. Ngay cả trong trường hợp tốt nhất, thì thể hiện tức giận cũng sẽ làm cho chúng ta cảm thấy khó xử. Thay vào đó, chúng ta có thể quyết định sử dụng năng lượng đó theo lối tích cực, vì lợi ích của chính mình. Nó có thể là nguồn cảm hứng để chúng ta tạo ra một dự án mà chính sự xuất sắc của nó chứng minh cho quan điểm của chúng ta. Nó có thể là năng lượng để chúng ta vươn lên và thoát khỏi một tình huống mà chúng ta cảm thấy không thỏa đáng. Chúng ta có thể sử dụng năng lượng đó để tạo ra những cơ hội việc làm mới hoặc tìm công việc tốt hơn, thành lập một ủy ban, cải thiện tình hình việc làm của mình, thành lập công đoàn, hoặc bất cứ điều gì chúng ta nghĩ là sẽ có lợi cho mục tiêu cá nhân của mình.

Trong các quan hệ cá nhân, cũng có những cơ hội tương tự. Tức giận có thể được sử dụng để truyền cảm hứng để chúng ta cải thiện kỹ năng giao tiếp, tham gia một khóa học về quan hệ giữa người với người, hoặc tham gia một chương trình tự hoàn thiện. Tức giận có thể truyền cảm hứng cho chúng ta tái cam kết, có nhiều nỗ lực hơn và thực sự làm tốt hơn. Bằng cách này, tình huống có thể dẫn đến tái cam kết. Nó có thể truyền cảm hứng để chúng ta nhìn vào bên trong chính mình và từ bỏ tất cả những cảm xúc tiêu cực, bằng cách chấp nhận. Thay vì tức giận về sự kiện nào đó, chúng ta có thể chấp nhận nó. 

Hy sinh

Có nhiều lý do làm người ta tức giận. Như đã nói, các phức cảm tức giận thường liên kết mật thiết với sợ, và khi buông bỏ sợ hãi thì tức giận cũng sẽ không còn. Lý do khác làm người ta tức giận chính là kiêu hãnh, đặc biệt là khía cạnh mà ta gọi là phù phiếm. Thường thì, chính kiêu hãnh cá nhân là thứ nuôi dưỡng và lan tỏa tức giận.

Một trong những nguồn gốc của kiêu hãnh có liên quan đến hy sinh. Nếu các mối quan hệ của chúng ta với người khác gắn liền với tự ngã nhỏ bé dưới hình thức hy sinh, thì ta đang tự dọn đường cho những tức giận về sau; bởi vì đối phương thường không nhận thức được “sự hy sinh” của ta, và do đó, họ khó lòng đáp ứng được những kỳ vọng của ta.

Có thể lấy ví dụ từ một ngày trong cuộc sống của một cặp vợ chồng điển hình. Người vợ đã làm việc vất vả cả ngày để dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc cây cối một cách tỉ mỉ, mang hoa vào nhà, sắp xếp lại đồ đạc và làm tất cả những gì có thể để ngôi nhà trông đẹp đẽ. Khi người chồng đi làm về, anh ta không nói một lời nào về nhà cửa, thậm chí dường như cũng không để ý. Thay vào đó, anh ta mệt mỏi sau một ngày làm việc, và kể lại những khó khăn, vất vả mà mình đã trải qua. Trong đầu anh ta nghĩ về tất cả những hy sinh mà mình đã làm: những khách hàng khó chịu, quãng đường lái xe mệt mỏi trong giờ cao điểm, ông chủ cáu kỉnh và áp lực phải hoàn thành công việc đúng hạn. Anh ta nghĩ về tất cả những gì mình đã làm cho vợ con và gia đình. Trong khi anh ta đang nghĩ về tất cả những khó khăn như thế, thì người vợ cảm thấy càng lúc càng oán hận hơn, vì chồng không ghi nhận những nỗ lực của mình, và cô ta hồi tưởng lại tất cả những hy sinh mà mình đã làm trong ngày hôm đó. Cô ấy có thể đã đi ăn trưa với bạn bè. Cô ấy có thể đã đọc xong cuốn sách mình thích. Cô ấy có thể đã xem chương trình truyền hình yêu thích của mình. Thay vào đó, cô ấy đã làm tất cả những việc này vì chồng con, thế mà bây giờ anh ta không hề nói một lời nào về kết quả nỗ lực của cô. Khi cả hai cùng ôm ấp những oán hận, bất mãn và thất vọng, thì tức giận bên trong của họ càng lúc càng dâng cao; nó được thể hiện qua thái độ lạnh lùng và thờ ơ khi họ tìm tới tivi vào buổi tối và lặng lẽ đi ngủ để suy ngẫm về những bất bình của mình. Đây là cảnh tượng gia đình điển hình của người Mỹ đến nỗi nhắc lại nó ở đây gần như là quá nhàm chán. Tuy nhiên, do tính phổ biến của nó mà nó có giá trị mang tính giáo dục đối với chúng ta; chúng ta có thể xem xét nó và cố gắng làm sáng tỏ sự suy thoái trong quan hệ vợ chồng.

Những gì chúng ta muốn, khao khát và khăng khăng đòi hỏi từ người khác lại được họ cảm nhận như là áp lực. Do đó, họ sẽ chống lại. Trong ví dụ trên, cả hai người đều mong muốn được người kia công nhận. Họ mong cầu, khát khao được công nhận, nhưng lại tự tay chặn đứng điều đó ở phía đối phương. Mỗi bên đều cảm thấy bị áp lực và do đó, chống lại. Chống đối là do chúng ta luôn cảm thấy áp lực như là phủ nhận quyền lựa chọn của mình. Nó được cảm nhận như sự lấy lòng về mặt cảm xúc. Công thức vô thức là: “Hãy cho ta những thứ ta muốn, nếu không ta sẽ trừng phạt nhà ngươi bằng cách rút lui, tức giận, hờn dỗi, và oán hận.” Tất cả chúng ta đều khó chịu khi cảm thấy bị người khác tìm cách lấy lòng về mặt cảm xúc. Tất cả chúng ta đều biết thái độ phản kháng mà chúng ta cảm nhận được khi có người nào đó đang cố gắng tìm kiếm lời khen, và thái độ phản kháng diễn ra cả trên bình diện vô thức lẫn bình diện hữu thức.

Khi chúng ta được thúc đẩy bởi tinh thần hy sinh, là chúng ta gây áp lực cho người khác. Thậm chí khi chúng ta buộc họ phải thừa nhận, thì đó cũng là thừa nhận miễn cưỡng. Một lời khen gượng ép không làm cho ta hài lòng. Một phần của tức giận ở đây xuất phát từ lòng tự hào về tinh thần hy sinh. Chúng ta cảm thấy tự mãn về những việc chúng ta làm cho người khác, và tự hào về thành tích làm cho chúng ta dễ tức giận khi “sự hy sinh” của chúng ta không được người khác công nhận.

            Muốn giảm bớt tức giận kiểu này thì phải thừa nhận và từ bỏ thái độ kiêu hãnh, từ bỏ mong muốn tìm kiếm niềm vui từ than thân trách phận và thay vào đó, coi những nỗ lực của chúng ta vì người khác như những món quà. Chúng ta có thể trải nghiệm niềm vui khi hào phóng với người khác, coi nó như là phần thưởng dành cho chính mình. 

Công nhận

Một trong những bí quyết lớn nhất của các quan hệ chính là công nhận. Cách người khác đối xử với ta luôn chứa đựng một món quà ẩn giấu. Ngay cả khi hành vi đó dường như là tiêu cực, thì vẫn có điều gì đó có lợi cho chúng ta. Rất hay xảy ra là, điều đó xuất hiện dưới dạng một tín hiệu nhắc nhở chúng ta cần tỉnh giác hơn. Ví dụ, giả sử một người nào đó gọi chúng ta là “ngu”. Phản ứng tự nhiên của chúng ta là tức giận. Nhưng chúng ta có thể sử dụng năng lượng của thái độ tức giận một cách có ý thức: “Người đó đang yêu cầu tôi tỉnh thức hơn về cái gì?” Nếu tự hỏi câu hỏi này, chúng ta có thể nhận ra rằng mình đã quá ích kỷ; chúng ta đã thiếu quan tâm; chúng ta đã không công nhận họ; và chúng ta đã không ý thức và tỉnh thức trước những gì đang diễn ra trong mối quan hệ này.  

Nếu liên tục làm theo quy trình này, chúng ta sẽ nhận ra rằng mọi người trong cuộc đời của chúng ta đều là cái gương cho chúng ta soi. Họ thực sự đang phản chiếu lại cho chúng ta những gì chúng ta đã không thừa nhận trong chính con người mình. Họ đang buộc chúng ta phải nhìn vào những vấn đề cần được giải quyết. Khía cạnh nào của tự ngã nhỏ bé của chúng ta cần phải được từ bỏ? Có nghĩa là chúng ta phải liên tục buông bỏ thói kiêu ngạo để hóa giải thái độ tức giận, để chúng ta có thể biết ơn những cơ hội phát triển liên tục mà chúng ta được trao cho trong những trải nghiệm đang diễn ra mỗi ngày.

Để làm được như thế, chúng ta phải chống lại cám dỗ tự cho mình và người khác là “sai”. Nếu nhìn vào khía cạnh “tự ngã nhỏ bé” của chính mình, chúng ta sẽ thấy rằng việc tự cho mình và người khác “sai” là một trong những hoạt động yêu thích của tự ngã (ví dụ, chính trị và truyền thông). Đấy là do tự ngã nhỏ bé không biết những biện pháp tốt hơn để vươn tới mục tiêu của mình. Nó không nhận ra một hướng đi khác, đó là việc chủ động thay đổi hoàn cảnh bằng lựa chọn tự do cho chính mình.

Một trong những biện pháp để chúng ta tự buộc mình thoát khỏi những tình huống không thỏa mãn là tự cho mình hoặc tình huống đó là “sai”. Ví dụ, thay vì chỉ đơn giản là quyết định tìm việc làm tốt hơn, thì tự ngã nhỏ bé của chúng ta lại cho rằng công việc, ông chủ và đồng nghiệp là “sai”. Vì nghĩ về sai trái như thế, mà tình huống trở thành không thể chịu đựng được, và chúng ta bị buộc phải thay đổi nó. Sẽ dễ dàng hơn hẳn nếu chúng ta chỉ đơn giản là quyết định chuyển sang tình huống tốt hơn. Tuy nhiên, do ý thức về nghĩa vụ, và mặc cảm tội lỗi thường là rào cản ngăn ta thực hiện cách thức đơn giản hơn này. Nói cách khác, vì những lợi ích đã nhận được trong một tình huống nhất định, ta có mặc cảm tội lỗi khi rời bỏ nó. Vì vậy, vô thức đã khéo léo tạo ra toàn bộ cơ chế đổ lỗi để cưỡng ép, không cho ta thoát khỏi những tình huống bế tắc. Điều này thường xảy ra trong các quan hệ cá nhân: ta cảm thấy mình phải biến người kia thành “sai” để biện minh cho việc rời bỏ họ. Việc viện đến cơ chế đổ lỗi này đơn giản là phủ nhận quyền tự do lựa chọn của chính chúng ta.

Một trong những nguyên nhân làm cho ta tức giận là những hành động yêu thương mà chúng ta đã thể hiện với người khác, nhưng không được họ công nhận. Trong bối cảnh này, tình yêu có nghĩa là những biểu hiện yêu thương đơn giản mỗi ngày, diễn ra trong tất cả các mối quan hệ giữa người với người, ví dụ như chu đáo, quan tâm, cử chỉ lịch sự, khích lệ và giúp đỡ. Nhưng thường xuyên xảy ra là, cuộc đối thoại nội tâm về sự oán hận của chúng ta đối với việc người khác không trân trọng tình cảm mà chúng ta dành cho họ có thể kéo dài suốt nhiều năm liền. Nếu nó xảy ra với chúng ta, thì chắc hẳn nó cũng xảy ra với những người khác. Do đó, trong cuộc sống của chúng ta, có những người luôn luôn mang trong mình dòng suy nghĩ bất tận về chúng ta, liên quan đến việc chúng ta không trân trọng tình cảm mà họ dành cho chúng ta.

Toàn bộ sự tức giận này có thể được hóa giải và ngăn chặn khi chúng ta nhận ra giá trị to lớn của việc đơn giản là ghi nhận những cử chỉ mà người khác dành cho mình. Có nghĩa là ghi nhận tất cả những thông tin liên lạc của họ với chúng ta. Ví dụ, nếu bạn bè gọi điện thoại cho chúng ta, chúng ta cảm ơn họ vì đã gọi. Lý do cảm ơn là vì nó làm cho người khác cảm thấy trọn vẹn và an toàn khi ở bên cạnh chúng ta. Đó là công nhận giá trị của họ trong cuộc sống của chúng ta, và mọi người đều cảm thấy vui vẻ khi chúng ta công nhận giá trị của họ.

Bằng cơ chế công nhận đơn giản này, chỉ trong vài ngày, có thể biến đổi tất cả các mối quan hệ của một người một cách khá ấn tượng. Công nhận không nhất thiết phải diễn ra ở thế giới bên ngoài mà có thể diễn ra bên trong chính mình. Khi xem xét các mối quan hệ của mình, chúng ta có thể tự hỏi: “Tôi đã không công nhận điều gì ở những người mà tôi vẫn tiếp xúc mỗi ngày?”

Trải nghiệm rất có giá trị là chọn một người - mà theo quan điểm của chúng ta – là người hay chỉ trích chúng ta, và lúc này, bắt đầu nhìn nhận, trong chính mình, xem mình đã không công nhận họ đến mức nào. Chúng ta buông bỏ tất cả những cảm thọ tiêu cực về họ, và bắt đầu ghi nhận công lao của họ, khẳng định giá trị của họ đối với chúng ta. Giá trị của họ có thể đơn giản là họ là động lực thúc đẩy quá trình phát triển cảm xúc của chúng ta. Người vợ/chồng hay cằn nhằn hoặc người hàng xóm cau có đang tìm cách nói điều gì đó. Hầu như luôn luôn trong những tình huống như thế này, những người đó cảm thấy đóng góp của họ không được ghi nhận. Một khi giá trị của họ được ghi nhận, họ sẽ không bao giờ cằn nhằn nữa. 

Kỳ vọng

Khi chúng ta ngừng tạo áp lực lên người khác bằng những kỳ vọng của mình, là chúng ta tạo ra cơ hội để họ phản hồi tích cực với chúng ta theo lối tự phát. Chúng ta có thể - như biện pháp phòng ngừa - làm giảm bớt thái độ oán hận bằng cách chuyển những việc chúng ta đã làm cho người khác từ hy sinh thành một món quà của yêu thương. Sau đó, chúng ta có thể tự công nhận hành động này và từ bỏ những kỳ vọng của mình, điều này sẽ làm tan biến sự phản kháng ở người khác.

Thí nghiệm đơn giản sau đây minh họa cho thay đổi này. Một người đàn ông mang về từ Mexico hai chiếc áo sơ mi mới. Những chiếc áo mới này có kiểu dáng hoàn toàn khác với loại quần áo mà ông ta thường mặc. Ngày đầu tiên ông quyết định mặc một trong những chiếc áo sơ mi đó, ông thấy mình có kỳ vọng ở bên trong và niềm tự hào tinh tế khi làm điều gì đó mới mẻ và khác biệt. Tuy nhiên, thay vì buông bỏ tự hào, ông ta quyết định giữ lại; nghĩa là, ông cố tình không sử dụng kỹ thuật buông bỏ để từ bỏ niềm tự hào và chỉ đơn giản là để nó ở đó. Ông ta muốn biết sẽ xảy ra chuyện gì, mọi người sẽ phản ứng ra sao. Ngày hôm đó, ông ta tự hào mặc chiếc áo mới và quả nhiên, không ai để ý đến nó, mặc dù nó hoàn toàn khác với trang phục thường ngày của ông ta. Chắc hẳn là nó rất nổi bật, nhưng không có người nào bình luận. Khi về nhà, ông ta bật cười vì thuật ngữ mà doanh nhân Robert Ringer dùng để mô tả tình huống gọi là “lý thuyết chàng trai/cô gái” là quá đúng. (Chàng trai muốn cô gái, vì vậy, cô gái không quan tâm đến chàng trai. Ngay khi chàng trai không còn quan tâm đến cô gái nữa, cô gái lại muốn chàng trai.)

Sáng hôm sau, ông ta quyết định sẽ mặc chiếc áo mới khác, nhưng lần này ông ta từ bỏ tất cả sự phù phiếm và kỳ vọng được mọi người chú ý. Ông ta buông bỏ lòng tự hào nhỏ nhoi rằng mình đang làm việc gì đó mới mẻ và khác biệt, và ông ta công nhận tình yêu của tất cả bạn bè và những đóng góp quan trọng của họ vào hạnh phúc cuộc đời ông. Khi thực hiện xong quá trình buông bỏ, ông ta đã đạt đến trạng thái phó thác hoàn toàn đối với việc mặc chiếc áo đó. Ông ta biết rằng mình đã hoàn toàn phó thác, vì việc ngưới khác có nhận thấy chiếc áo mới hay không cũng không sao. Ngày hôm đó, bỗng chốc giống như ngày mặc áo mới! Hầu như tất cả mọi người mà ông ta gặp đều nhận xét về chiếc áo mới, hỏi ông mua ở đâu, và ông ta trở thành tâm điểm chú ý của mọi người trong suốt ngày hôm đó. Thí nghiệm này minh họa một cách hài hước: Chúng ta sẽ có được cái mình muốn khi không còn khăng khăng đòi hỏi nó!

Kỳ vọng vào người khác là hình thức lấy lòng về mặt cảm xúc. Chúng ta có thể cảm nhận được sức kháng cự của mình khi người khác đòi hỏi những “thứ” cảm xúc nhất định từ chúng ta. Chúng ta có thể thoát khỏi việc bị người khác lấy lòng về mặt cảm xúc bằng cách xem xét cách chúng ta làm điều đó với người khác, và sau đó, chúng ta có thể buông bỏ mong muốn thao túng phản ứng cảm xúc của họ đối với mình.

Một cách nữa để ngăn ngừa tức giận là tự mình quyết định không chấp nhận thái độ phủ nhận từ người khác hoặc từ những khía cạnh nhỏ bé của bản thân mình. Quyết định này có thể được thể hiện bằng tuyên bố khẳng định: “Tôi sẽ không còn chấp nhận thái độ phủ nhận từ chính mình hay từ người khác nữa.” Khi tuyên bố này kết hợp với thói quen công nhận tất cả những điều tích cực trong chính mình và người khác, các mối quan hệ sẽ nhanh chóng thay đổi, nguồn gốc tiềm tàng của tức giận đã được loại bỏ. 

Oán hận kéo dài  

Tức giận và oán hận kéo dài, không được nhận ra, sẽ tái xuất hiện trong cuộc sống của chúng ta thành trầm cảm, tức là tức giận hướng vào chính mình. Nếu bị đẩy sâu hơn vào vô thức, nó có thể tái xuất hiện thành các bệnh tâm thần. Đau nửa đầu, viêm khớp và tăng huyết áp, thường được người ta trích dẫn như là những ví dụ về tức giận kéo dài bị kìm nén. Khi học được biện pháp buông bỏ tức giận ở bên trong thì những triệu chứng này thường nhẹ đi. Ví dụ, trong một công trình nghiên cứu, các chỉ số huyết áp của những người tham gia được đo trước và sau khi họ được hướng dẫn cách buông bỏ cảm xúc tiêu cực. Tất cả những người huyết áp cao, sau khi họ bắt đầu buông bỏ áp lực về mặt cảm xúc đã tích tụ trong nhiều năm, thì huyết áp, cả tâm thu và tâm trương (chỉ số trên và dưới), đều giảm. Dự án Tha thứ, do Đại học Stanford tiến hành, xác nhận rằng thôi tức giận và oán hận mang lại những lợi ích cho hệ tim mạch. Trong chương trình này, cha mẹ của những đứa trẻ bị giết trong vụ bạo lực giữa người Tin Lành và người Công giáo ở Ireland sau khi học cách buông bỏ thái độ cay đắng đối với “kẻ thù”, thì các chỉ số về sức khỏe tim mạch và sự dẻo dai về thể chất của họ đều được cải thiện đáng kể (Luskin, 2003). Tha thứ đã chữa lành trái tim họ—theo đúng nghĩa đen của từ này. Như chúng tôi đã nói bên trên, bằng phương pháp kiểm tra cơ bắp, chúng ta có thể chứng minh được ngay lập tức rằng, tức giận và oán hận có hại đối với cơ thể, cảm xúc, dòng năng lượng và hoạt động đồng bộ của hai bán cầu não. Tức giận giết chết chính người tức giận, chứ không phải người được gọi là “kẻ thù”.

Tâm trí muốn chúng ta nghĩ rằng có “tức giận chính đáng”, gọi là “phẫn nộ có đức”. Nếu nhìn vào “phẫn nộ có đức”, chúng ta sẽ thấy rằng nó dựa trên thói phù phiếm và kiêu ngạo. Trong một tình huống, chúng ta thích nghĩ rằng mình là người đúng trong khi người khác “sai”. Lúc đó, chúng ta có được một chút thỏa mãn rẻ mạt, nhất thời, nhưng kiểm tra cơ bắp cho thấy cái giá mà toàn bộ sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta phải trả. Bệnh tật và chết non lá cái giá mà chúng ta phải trả vì đã để tức giận và oán hận kéo dài. Liệu có đáng để đổi lấy chút thỏa mãn nhỏ nhoi khi tự cho mình là người đúng?

Cái giá mà chúng ta sẵn sàng trả trong những trường hợp này đôi khi làm người ta phải ngạc nhiên. Giả sử chúng ta đã cho một người nào đó vay tiền, nhưng người đó mãi vẫn chưa trả. Nó làm cho chúng ta oán hận mãi không thôi, còn mỗi khi gặp người đó trong các buổi giao tiếp xã hội, thì chúng ta cố gắng nói với người đó càng ít càng tốt. Nếu thành thật với chính mình, chúng ta có thể sẽ thấy rằng mình đang cảm thấy thỏa mãn khi cho rằng mình đúng còn người kia sai. Trên thực tế, chúng ta đang thích thú với điều đó đến mức một phần trong ta thực sự không muốn người đó trả hết nợ, vì, lúc đó, chúng ta sẽ không còn có thể tận hưởng niềm vui thầm kín trong việc cho rằng người đó sai. Hoàn toàn đúng trong trường hợp một người cho vay vài trăm đôla. Người cho vay trong thâm tâm đã quyết định là thành thật về tất cả những sự thỏa mãn nhỏ nhoi khi mình là người đúng, và biến người kia thành sai, rồi từ bỏ từng phần phần thưởng đó của bản ngã. Rõ ràng, những phần thường đó của bản ngã đã ngăn cản người kia trả nợ. Bằng cách liên tục buông bỏ, toàn bộ vấn đề đã được giải quyết một cách trọn vẹn, và chuyển sang coi khoản cho vay như một món quà. Thừa nhận rằng, người kia thực sự cần tiền. Vì sao không đơn giản coi đó như một món quà và từ bỏ kỳ vọng được trả nợ? Lúc này, thay vì oán hận, lòng biết ơn giữ thế thượng phong vì đã có cơ hội giúp đỡ người khác trong lúc họ thực sự cần. Thế là, trong vòng 48 giờ, một tấm séc đã được gửi đến qua đường bưu điện với toàn bộ số tiền, kèm theo lời xin lỗi về sự chậm trễ trong việc trả nợ!

Trải nghiệm này và nhiều trải nghiệm tương tự chứng tỏ rằng tất cả chúng ta đều được kết nối về mặt tâm linh. Quan điểm của chúng ta về người khác buộc họ phải áp dụng quan điểm phòng thủ tương đương. Do đó, tha thứ và quên đi không phải là thái độ lạc quan mù quáng, mà là thừa nhận hợp lý về thực tại mang tính cảm xúc. Những tương tác bên trong giữa người với người được quyết định bởi cơ cấu của năng lượng rung động mà cảm xúc của họ phát vào không gian. Năng lượng của rung động, và hình thức tư tưởng gắn liền với nó, tạo ra những ghi chép có thể đọc được.

Mặc dù trải nghiệm phổ biến mỗi ngày như thế này hầu như không phải là điều gì mới mẻ đối với hầu hết phụ nữ; trong xã hội chúng ta, phụ nữ thường có trực giác nhạy bén hơn, nhưng nó lại làm cho khá nhiều đàn ông cảm thấy bị sốc và ngạc nhiên. Trong xã hội chúng ta, đàn ông thường thiên về bán cầu não trái và lý trí, logic hơn là trực giác, vốn được coi là chức năng của bán cầu não phải.

Khi tiếp tục buông bỏ những thứ tiêu cực và mang lại chữa lành cảm xúc ở bên trong, bán cầu não trái và bán cầu não phải sẽ hoạt động cân bằng. Đàn ông cũng sẽ xuất hiện khả năng trực giác; và họ thường ngạc nhiên một cách thú vị khi bắt đầu nhận ra nó. Có thể ngay lập tức “đọc” được một tình huống hoàn toàn khó hiểu đối với lý trí và logic sẽ làm người ta ngạc nhiên và thấy thoả mãn. Lý tưởng là tạo ra giả thuyết để làm việc bằng trực giác, rồi sau đó sử dụng lý trí và logic để kiểm tra. Làm như thế, tất nhiên, sẽ giảm bớt được tức giận do hiểu lầm và tính toán sai, và tăng khả năng làm chủ cảm xúc một cách khéo léo.

Một cách khác để xoá tan tức giận là sẵn sàng từ bỏ nó. Sẵn sàng là quyết định tổng thể của chúng ta nhằm tìm ra biện pháp tốt hơn, ngừng dựa vào tức giận, và tiến tới can đảm và chấp nhận. Sẵn sàng bắt đầu quá trình từ bỏ tức giận. Những người học võ đều biết, tức giận là yếu đuối và dễ bị tổn thương; nó được coi là công cụ mà chúng ta trao cho đối thủ. Kiểm tra cơ bắp có thể cho chúng ta biết lý do. Người tức giận đánh mất một nửa sức mạnh cơ bắp và do đó, mất phản xạ nhanh nhạy chỉ trong tích tắc, mà đấy là yếu tố rất quan trọng trong cận chiến.

Trong xã hội của chúng ta, người ta thường coi nóng giận như là đặc điểm “nam tính”. Chúng ta từng nghe thấy mọi người tự hào kể lại việc họ đã “mắng cho thằng đó một trận”. Chúng ta có thể tự hỏi: “Ai cần kẻ thù? Chẳng phải đời sống của chúng ta đã có quá nhiều ảnh hưởng tiêu cực mà không cần thêm kẻ thù nào nữa hay sao?” Đặc biệt, khi nhìn vào sự kiện là, tất cả các cảm xúc đều tạo ra năng lượng rung động trong vũ trụ, vậy thì việc tự đưa mình vào vòng vây của những suy nghĩ tiêu cực về những người mà chúng ta coi là kẻ thù thì mang lại lợi ích gì? Vì sao lại phải coi họ là kẻ thù bằng cách tích trữ những oán hận và tiêu cực trong chính con người mình? Có lẽ, khi nhìn lại những trải nghiệm cá nhân của mình, chúng ta thấy rằng nỗ lực biến những người mà chúng ta từng coi là kẻ thù thành bạn bè sau này sẽ mang lại thỏa mãn và phần thưởng. Trong mọi trường hợp, đây là lợi ích tích cực cho đời sống của chúng ta. Trong chương sau của cuốn sách cuộc đời, chúng ta sẽ không bao giờ biết mình sẽ cần làm bạn với người nào.

Chúng ta cần nhận thức được rằng mình đã vô tình trở thành những người “thu thập bất công”. Các bản tin trên truyền thông đầy rẫy những hình thức oán hận kéo dài này. Chúng ta thấy “thu thập bất công” trong quan hệ quốc tế, tức là biến quốc gia “sai trái” thực sự trở thành mục tiêu. Chúng ta đã bị lập trình theo lối vô thức để tin rằng “thu thập bất công” là “bình thường”. Trái ngược với thói quen này, vốn có tính phá hoại và làm suy yếu, kỹ thuật buông bỏ giải phóng chúng ta khỏi việc ghi nhớ kỹ lưỡng những “sai trái” mà người khác đã gây ra cho mình. Thời gian và tâm điểm chú ý của chúng ta được giải phóng để nhìn thấy vẻ đẹp và cơ hội xung quanh ta.

Tức giận là thắt, chứ không phải cởi. Nó kết nối chúng ta với người khác và giữ họ trong mô thức cuộc đời chúng ta. Chúng ta bị mắc kẹt trong mô thức tiêu cực cho đến khi buông bỏ năng lượng của tức giận và những phần thưởng nhỏ bé của nó như phẫn nộ chính đáng, cảm giác bị đối xử bất công và ước muốn báo thù. Có thể không phải cùng một người liên tục xuất hiện trong cuộc đời của chúng ta. Nếu không phải người đó, thì những người khác sẽ xuất hiện, với cùng phẩm chất là làm cho chung ta tức giận và oán hận. Nó sẽ tiếp tục lặp đi lặp lại cho đến khi, cuối cùng, chúng ta xử lý được tức giận bên trong con ngưới mình. Sau đó, đột nhiên, những người có cùng phẩm chất đó không còn xuất hiện trong cuộc đời của chúng ta nữa. Do đó, tức giận có thể buộc một người nào đó đứng cách xa chúng ta về mặt thể chất, nhưng về mặt tinh thần, nó ràng buộc họ với chúng ta chặt chẽ hơn, cho đến khi chúng ta hoàn toàn buông bỏ tức giận và oán hận.

Buông bỏ tức giận mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích. Chúng ta được tự do trải nghiệm sự thoải mái và dễ chịu về mặt cảm xúc, lòng biết ơn đối với những cơ hội hàng ngày để phát triển và chữa lành, sự quan tâm lẫn nhau với người khác mà không có những “ràng buộc” tinh tế, cải thiện về sức khỏe và nhiều năng lượng sống hơn. Những bước đột phá này cho phép chúng ta tiến tới trạng thái tự do nội tâm hiệu quả và dễ dàng hơn.