ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
CHUYỂN HOÁ
Trong
chương này, chúng ta muốn xem xét ảnh hưởng của cơ chế buông bỏ đối với những
lĩnh vực trong cuộc sống mà hầu hết mọi người đều quan tâm: sức khỏe, của cải
và hạnh phúc. Chúng ta sẽ thảo luận về những lĩnh vực này như chúng thường được
đa số người trải nghiệm, và so sánh với những thay đổi khi thực hành buông bỏ ngày
càng tiến triển thêm. Thay đổi là khá rõ ràng nếu quan sát cuộc sống của những
người sử dụng kỹ thuật này. Thay đổi cũng sẽ rõ ràng trong cuộc sống của chính
bạn. Đôi khi bạn sẽ không nhận thức được; do đó, bạn nên lập một danh sách mục
tiêu và đánh dấu những thành quả đạt được, để bạn luôn luôn ý thức và nhận biết
được tiến bộ. Bước tự nhận thức này là để khắc phục một trong những đặc điểm kỳ
lạ của tâm trí. Nếu chúng ta quyết định áp dụng một kỹ thuật cụ thể nào đó nhằm
cải thiện cuộc sống của mình, nhưng khi cải thiện xảy ra, tâm trí lại có xu hướng
kỳ lạ là coi thường chính kỹ thuật đã tạo ra thay đổi đó. Dường như bản ngã của
tâm trí kiêu ngạo đến mức không muốn ghi nhận công lao xứng đáng.
Xu
hướng coi thường tiến bộ nội tại này đôi khi khá buồn cười. Ví dụ, một người
đàn ông đã mắc kẹt trong cùng một vị trí công việc trong 23 năm bắt đầu sử dụng
kỹ thuật buông bỏ. Chỉ trong vài tháng, ông đột nhiên thăng tiến lên vị trí Phó
Chủ tịch và đến cuối năm, ông đã trở thành Chủ tịch công ty. Khi được hỏi liệu ông
ta có hài lòng với mình về những gì mình đã đạt được nhờ sử dụng kỹ thuật nội
tâm hay không, tâm trí ông ta hoàn toàn phủ nhận điều đó và cho rằng những
thành quả đạt được là do “sự thay đổi trong mô thức kinh doanh”. Hôn nhân của ông
ta cũng được cải thiện, và một lần nữa, tâm trí lại cho rằng những cải thiện đó
là do các lý do bên ngoài: “Thái độ của vợ tôi cuối cùng đã thay đổi”. Quan hệ
với con trai cũng được cải thiện, và tâm trí lại một lần nữa bỏ qua chuyển hoá
nội tâm và nói rằng đó là do con trai ông ta “đang trưởng thành”.
Trong
những cuộc thảo luận tiếp theo, cần lưu ý rằng chuyển từ trạng thái này sang trạng
thái cao hơn không phải là khó. Chúng chỉ có vẻ “khó” đối với chúng ta vì những
tri giác trong hiện tại. Quan trọng cần ghi nhớ là, khi buông bỏ, tri giác của
chúng ta sẽ thay đổi. Mục tiêu của chúng ta sẽ tự động được nâng lên. Cái mà lúc
này dường như là bất khả thi, sẽ trở thành quá đỗi bình thường sau khi ta thực
hành kỹ thuật này một thời gian.
Chúng
ta cũng sẽ nhận thấy rằng, khi tâm trí so sánh đời sống ở tầng thấp hơn với đời
sống ở tầng cao hơn, đôi khi sẽ xuất hiện kháng cự kỳ cục với việc mô tả tầng
hoạt động cao hơn. Tâm trí sẽ trở nên phê phán và cố gắng giữ thể diện bằng
cách chế giễu trạng thái cao hơn. Đây là một cơ hội vàng, vì chính thái độ này
ngăn cản người đó vươn tới trạng thái cao hơn của đời sống. Đọc cuốn sách này là
công việc vô cùng quý giá, vì nó sẽ tiết lộ chính xác rào cản là gì và vì sao
những mục tiêu này lại không khả thi vào lúc đó. Khi kháng cự, chỉ trích và coi
thường xuất hiện, chúng ta có thể bắt đầu buông bỏ và để chúng đi qua ngay
trong quá trình đọc về chúng. Đây là một cơ hội tuyệt vời để xác định những rào
cản bên trong, không cho chúng ta đạt được viên mãn. Đúng như Pogo[i] đã
nói: “Chúng ta đã nhận diện được kẻ thù, và kẻ đó chẳng phải ai khác ngoài
chính ta”.
Là
nhà trị liệu tâm lý và bác sĩ tâm thần chuyên nghiệp với nhiều chục năm kinh
nghiệm lâm sàng và đào tạo, hầu hết mọi người đều coi những tầng hoạt động cao
hơn này là bất khả thi. Tuy nhiên, việc học cách thức hoạt động của cơ chế
buông bỏ ở tầng thực tiễn và chứng kiến hàng trăm gia đình, bạn bè, bệnh nhân
và cựu bệnh nhân thay đổi cuộc sống của họ đã hoàn toàn thay đổi quan điểm này.
Giờ đây, những tầng hoạt động cao hơn được coi là tự động, dễ đạt được và dành
cho tất cả mọi người, thường diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn đáng ngạc
nhiên. Trên thực tế, một số tầng thành công và hạnh phúc dường như là bất khả
thi, nhưng tầng cao hơn sẽ đã xảy ra ngay khi bạn đọc xong cuốn sách này. Bạn
có thể tự nhủ ngay từ đầu rằng những tầng hoạt động cao này không chỉ khả thi
mà còn là quyền bẩm sinh. Đó là trạng thái tự nhiên vốn có mà bạn đã bị tước mất
bởi tất cả các chương trình mà tâm trí phải tiếp nhận ngay từ lúc chào đời.
Trước
khi đọc tiếp, bạn nên ngồi im và đưa ra quyết định nội tâm: buông bỏ việc chống
lại những tầng hoạt động cao hơn. Có nghĩa là quyết định ngừng phủ nhận những tầng
cao hơn đối với chính mình, và quyết định buông bỏ mọi rào cản đối với hạnh
phúc, thành công, sức khỏe, chấp nhận, yêu thương và an bình. Bằng cách làm như
thế, công việc đã hoàn thành, vì bạn đã đặt toàn bộ trải nghiệm vào bối cảnh mà
nó sẽ tự động bắt đầu diễn ra.
Sức khoẻ
Người
bình thường luôn luôn quan tâm tới cơ thể, chức năng, hiệu suất, ngoại hình và
sự sống còn của nó. Tâm trí người bình thường nằm trong vòng vây của những lo lắng,
sợ hãi về bệnh tật, đau khổ, dịch bệnh và chết; do đó, tâm trí tìm cách bảo vệ
cơ thể bằng nhiều cách khác nhau. Điều này dẫn đến việc quá chú trọng tới chế độ
ăn uống, cân nặng, tập thể dục và sức khỏe của môi trường. Với sự căng thẳng bên
trong như thế, đến cuối ngày, người bình thường thường cảm thấy mình là nạn
nhân: kiệt sức, trống rỗng và mệt mỏi.
Một
trong những hậu quả của việc quan tâm quá mức đến cơ thể chính là trạng thái mặc
cảm tự ti. Trong phạm vi trường nhận thức, sự hiện diện của cơ thể rất nổi bật,
và có sự ám ảnh về mặt tâm trí với những việc nó đang làm, vị trí và chuyển động
của nó, sự sống còn của nó, thái độ và sự chấp thuận của người khác đối với cơ
thể, ngoại hình và hành vi của nó.
Ẩn
sâu dưới tất cả những quan tâm này là đánh đồng trong vô thức: “Tôi là cơ thể”.
Đây là tầng tâm thức rất hạn hẹp. Thực tế, trong giới tâm linh, điều này được gọi
là trạng thái “vô minh”. Vì đó là nhận diện sai lầm, do nhận thức bị thu hẹp
đáng kể, giống như đeo một cái băng bịt mắt. Nó tương tự như việc có một cái mụn
trên mũi rồi tưởng rằng cả thế giới này đang xoay quanh cái mụn đó, và ta đi suốt
cả ngày với suy nghĩ về cái mụn luôn nằm trong tâm trí.
Hãy
tỉnh thức trước mức độ hao tổn năng lượng gây ra bởi sự chấp nhất không ngừng
nghỉ vào cơ thể. Tâm trí của chúng ta liên tục được lập trình với vô số hệ thống
niềm tin khác nhau về cơ thể: nó cần gì, cái gì tốt cho nó, và vô số điểm yếu của
nó. Điều này dẫn đến ám ảnh liên tục với tất cả các loại biện pháp phòng ngừa,
trong đó có các trào lưu thực phẩm tốt cho sức khỏe, đọc nhãn mác không ngừng
nghỉ để tìm kiếm những thành phần có khả năng gây độc, sợ hãi khi ở gần người
hút thuốc lá, sợ bụi và phấn hoa và tất cả các chất gây ô nhiễm được cho là có
trong môi trường. Có ám ảnh về việc bù đắp tất cả những “nguy hiểm” này bằng
nhiều biện pháp đối phó khác nhau.
Như
chúng ta đã thấy từ những thảo luận bên trên, những điểm yếu này chỉ đơn thuần
là sản phẩm của tâm trí, và cơ thể sẽ phản ứng trước những gì được lưu giữ
trong tâm trí. Điều này đã được chứng minh trong cuộc thảo luận của chúng ta về
đa nhân cách: cơ thể phản ánh trong từng khoảnh khắc những gì nhân cách và tâm
trí cụ thể đó tin tưởng.
Khi
chúng ta bắt đầu buông bỏ tất cả những nỗi sợ hãi này, loại bỏ các hệ thống niềm
tin và khẳng định lại rằng Đại Ngã đích thực của chúng ta là Vô hạn và không bị
giới hạn, chúng ta sẽ tiến đến trạng thái sức khỏe, hạnh phúc và năng lượng sống
cao hơn. Một cách hữu hiệu để tự nhắc nhở mình là: “Tôi là Hữu thể Vô hạn,
không chịu sự chi phối của ____________.” và điền vào chỗ trống bất kỳ căn bệnh
hay tác nhân nào mà tâm trí đã bị lập trình, coi đó là “nguy hiểm” tiềm tàng đối
với mình.
Sau
khi buông bỏ vô vàn sợ hãi, lo lắng và hệ thống niềm tin về cơ thể, các bệnh tật
về thể chất cũng bắt đầu tự biến mất. Cảm thọ sống động và tự do tăng lên.
Trong trạng thái hoàn toàn buông bỏ, người ta hầu như không nhận thức được cơ
thể. Nó chỉ hiện diện một cách mơ hồ trong nhận thức, và không còn bận tâm nào
về nó nữa. Nó hoạt động một cách dễ dàng, trơn tru và mà không cần chú ý nhiều.
Người
đã buông bỏ những hệ thống niềm tin hạn chế có thể ăn bất cứ thứ gì; có thể đi
bất cứ đâu; và không còn bị chi phối bởi sợ hãi các chất gây ô nhiễm, chất độc
hại, gió lùa, vi trùng, tần số điện từ, thảm, khói, bụi, lông thú, cây thường
xuân độc, phấn hoa, phẩm màu thực phẩm, v.v.[ii]
Tri giác của chúng ta về cơ thể thay đổi, và giờ đây nó dường như giống như một
con rối hoặc một con thú cưng. Tri giác chuyền từ “Tôi
là cơ thể này” thành “Tôi có cơ thể này”.
Ngày
càng rõ ràng rằng cơ thể không tự trải nghiệm chính nó. Ngược lại, chính tâm
trí đang trải nghiệm cơ thể. Không có tâm trí, thì không thể tri giác được thân
thể. Cánh tay không thể trải nghiệm được cánh tay là cánh tay. Chỉ có tâm trí mới
có thể trải nghiệm được cánh tay là cánh tay. Đây chính là cơ sở của gây mê.
Khi tâm trí ngủ, cơ thể không có cảm giác. Dần dần, chúng ta nhận ra rằng, thực
tế là, cơ thể không hề có cảm giác; chỉ có tâm trí mới có khả năng thực hiện chức
năng này.
Đây
là một sự chuyển đổi tâm thức cực kì quan trọng, vì giờ đây, không còn bận tâm
về cơ thể và việc bảo vệ nó nữa. Trọng tâm chú ý giờ đây chuyển sang tâm trí, vốn
có sức mạnh lớn hơn. Khi thay đổi suy nghĩ, cảm thọ và tri giác của mình, chúng
ta bắt đầu nhận thấy rằng cơ thể cũng thay đổi theo. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng
mọi người thực sự không phản ứng với cơ thể của chúng ta mà là với thái độ bên
trong, phản ứng với trạng thái năng lượng bên trong và với tầng tỉnh thức của
chúng ta. Một ngày nào đó, chúng ta nhận ra rằng mọi người và mọi thứ trên thế
gian thực sự đang phản ứng với tầng tâm thức, với ý định và cảm xúc bên trong
mà chúng ta dành cho họ. Chúng ta cảm nhận được sức hút của những người thánh
thiện như Mẹ Teresa, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Mahatma Gandhi. Chúng ta thấy rằng họ
được mọi người yêu mến không phải vì ngoại hình, vốn thường không tạo được ấn
tượng, mà vì sự rạng rỡ bên trong của yêu thương và an bình mà họ tỏa ra. Sự
chuyển hướng tập trung từ tầng vật chất sang tầng tâm thức mang lại kết quả
nhanh chóng.
Liên
tục buông bỏ những cảm thọ và thái độ tiêu cực đồng nghĩa với việc mặc cảm tội
lỗi liên quan với những cảm thọ này cũng liên tục được giải tỏa. Tâm thức không
bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi thường không còn thu hút bệnh tật nữa. Trong vô
thức, mặc cảm tội lỗi đòi hỏi trừng phạt và bệnh tật, cùng với đau đớn và khổ sở
đi kèm, như là phương tiện tự trả thù thường xuyên nhất của tâm trí. Những hành
động tự trả thù này có thể biểu hiện dưới dạng một tai nạn, một cơn cảm lạnh, bệnh
cúm, viêm khớp, hoặc bất kỳ bệnh tật nào khác mà tâm trí tự tạo ra. Truyền hình
và truyền thông đưa tin lại làm cho những căn bệnh này bùng phát thành dịch.
Khi một nhân vật nổi tiếng chia sẻ với công chúng về một căn bệnh nghiêm trọng
nào đó, tỷ lệ mắc bệnh đó đột ngột tăng vọt. Vô thức nắm lấy một căn bệnh và sử
dụng nó để giải quyết ân oán. Cùng với việc liên tục buông bỏ mặc cảm tội lỗi ở
bên trong, ngày càng có ít vấn đề cần được giải quyết hơn. Do đó, một người
không có thái độ tiêu cực và không có mặc cảm tội lỗi thường không bị bệnh và
không bị đau khổ.
Quá
trình hồi phục có thể rất ngoạn mục. Ví dụ, bà là chủ một cơ sở xuất bản tạp
chí rơi vào tình trạng vô vọng vì bệnh đa xơ cứng giai đoạn cuối. Giới y học đã
làm tất cả những gì có thể và coi bà là trường hợp không thể chữa được. Đúng
lúc đó, bà đã tìm được kỹ thuật giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi bằng cách
nghiên cứu Sách bài tập của Khóa học về những điều kì diệu. Bằng cách thực
hành khóa học tại nhà, trong đó có suy ngẫm kĩ lưỡng mỗi ngày một bài học ngắn
trong suốt 365 ngày, bà bắt đầu xóa bỏ tất cả những mặc cảm tội lỗi và oán hận
thông qua cơ chế tha thứ. Bằng cách liên tục tha thứ và xóa bỏ những cảm thọ
tiêu cực, và do đó xóa bỏ mặc cảm tội lỗi bên trong, bệnh đa xơ cứng đã tự khỏi
Tính đến thời điểm chấp bút cuốn sách này, bà đã hồi phục được nhiều năm rồi và
đang có sức khỏe rất tốt, và cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống của mình.
Nói
chung, sức khỏe và hạnh phúc là hệ quả tự nhiên của buông bỏ mặc cảm tội lỗi và
những tiêu cực khác, cũng như buông bỏ kháng cự của chúng ta đối với những trạng
thái tích cực của sức khỏe và hạnh phúc. Thông qua cơ chế buông bỏ, toàn bộ các
loại bệnh tật có thể được giải quyết và trở thành người khỏe mạnh.
Như
đã nói bên trên, có thể có những trường hợp hiếm hoi mà bệnh tật hoặc suy nhược
tiếp tục không thuyên giảm, đấy là do những yếu tố chưa được biết tới, ví dụ
như nghiệp lực. Buông bỏ liên tục mang lại chữa lành ở tầng nội tâm, vì vậy,
ngay cả khi cơ thể dường như bị hạn chế và người khác có thể coi đó là “bi kịch”,
thì người đó vẫn bình an và tỏa ra một trạng thái hạnh phúc nội tâm, giúp nâng
đỡ những người khác. Bằng cách buông bỏ ở những tầng sâu, những người như thế
đã buông bỏ than thân trách phận, mặc cảm tội lỗi và kháng cự trước những hoàn
cảnh của cuộc đời. Họ đã siêu việt quan điểm cho rằng bệnh
tật là rào cản đối với hạnh phúc cá nhân và coi đó như là phương tiện mang lại
phước lành cho người khác. Trong những năm gần đây, những ví dụ công khai về
hiện tượng này bao gồm cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người đã tiếp cận căn bệnh
Parkinson dai dẳng của mình như là cơ hội về mặt tâm linh để gánh vác hoặc ở
bên cạnh đau khổ này của những người khác.
Của cải
Đây
là một chủ đề quan trọng, không chỉ vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của
chúng ta, mà còn vì nó nhanh chóng và dễ dàng bộc lộ cảm thọ, suy nghĩ và thái
độ của chúng ta về tiền bạc. Đối với tâm trí, có những hệ thống niềm tin hạn chế
và những suy nghĩ, cảm thọ tiêu cực, tiền bạc là “vấn đề”. Nó là nguồn gốc của
lo lắng và bất an, tuyệt vọng và chán nản vô tận, hoặc là phù phiếm, kiêu căng,
ngạo mạn, thiếu khoan dung với người khác, ghen tị và đố kỵ. Ở mức độ tồi tệ nhất,
kết quả cuối cùng của tất cả những tiêu cực này là cảm thọ rằng mình bị hạn chế,
thiếu thốn và thiệt thòi về tài chính. Trong lĩnh vực này, cảm thọ “Tôi không
thể” là do sợ hãi và hạn chế thường được né tránh bằng cách đơn giản là tránh
né toàn bộ vấn đề tiền bạc và chấp nhận địa vị kinh tế xã hội thấp như là sự kiện
“không thể tránh khỏi”.
Vô
thức mang tới cho chúng ta những gì nó nghĩ là chúng ta xứng đáng. Nếu quan điểm
của chúng ta về chính mình là nhỏ bé, hạn chế và keo kiệt—do mặc cảm tội lỗi đã
tích lũy—thì vô thức sẽ đưa những điều kiện kinh tế như thế vào cuộc đời của
chúng ta. Thái độ của chúng ta đối với tiền bạc có thể được khám phá khi chúng
ta xem xét những ý nghĩa khác nhau của nó. Ví dụ, chúng ta thấy mức độ đại diện
của nó cho an toàn, quyền lực, sự hào nhoáng, hấp dẫn giới tính, cạnh tranh
thành công, thái độ tự trọng và giá trị của chúng ta đối với người khác và thế
giới.
Sẽ
rất hữu ích nếu bạn ngồi xuống với một cái bút chì và một tờ giấy và, dưới tiêu
đề “Tiền bạc”, bạn bắt đầu phác thảo những ý nghĩa thực sự của nó trong tất cả
các khía cạnh khác nhau của cuộc đời. Sau đó, hãy viết ra những cảm thọ liên
quan đến từng lĩnh vực và bắt đầu từ bỏ từng cảm thọ và thái độ tiêu cực. Khi
làm như thế, chúng ta sẽ có khám phá đáng ngạc nhiên rằng bản thân tiền bạc
không phải là vấn đề cơ bản nhất. Quan trọng hơn cả tiền bạc là những thỏa mãn
về mặt cảm xúc mà chúng ta hy vọng sẽ nhận được khi sử dụng số tiền đó.
Giả
sử rằng, đằng sau mong muốn về tiền bạc, chúng ta phát hiện ra rằng một trong
những mục tiêu của chúng ta là được tôn trọng và đánh giá cao. Trong khám phá
đó, chúng ta vừa nhận ra rằng không phải bản thân tiền bạc là điều chúng ta
quan tâm; thay vào đó, đó là lòng tự trọng và cảm giác về giá trị nội tại của
chúng ta. Chúng ta nhận ra rằng tiền chỉ là công cụ để đạt được điều gì đó khác
và trên thực tế, điều chúng ta thực sự muốn không phải là tiền mà là lòng tự trọng
và sự kính trọng mà chúng ta từng nghĩ tiền sẽ mang lại. Chúng ta cũng sẽ nhận
ra rằng những mục tiêu mà mình từng nghĩ tiền sẽ mang lại có thể đạt được một
cách trực tiếp. Tự trọng càng cao, chúng ta càng ít cần sự chấp thuận của những
người khác. Khi nhận thức được những điều này, tiền bạc sẽ mang một ý nghĩa
khác trong mỗi lĩnh vực của cuộc sống. Giờ đây, tiền bạc phục vụ cho những mục
tiêu cao hơn chứ không phải là mục đích tự thân.
Nếu
không ý thức được ý nghĩa của tiền bạc đối với chúng ta về mặt cảm xúc, chúng
ta sẽ bị nó dắt mũi. Chúng ta bị những niềm tin vô thức về tiền bạc và tất cả
những chương trình liên quan đến nó dẫn dắt. Giống như một triệu phú kia cứ
tích lũy thêm hàng triệu đô la. Dường như không bao giờ cảm thấy đủ. Tại sao? Bởi
vì ông ta chưa bao giờ dừng lại để nhìn xem tiền bạc thực sự có ý nghĩa gì đối
với mình. Nếu chúng ta bị ám ảnh với việc đuổi theo tiền bạc hay những biểu tượng
giàu có khác, thì đó là do giá trị tự thân bên trong ta quá nhỏ bé, đến mức cần
một lượng tiền khổng lồ mới có thể bù đắp được. Sự bất an bên trong lớn đến mức
dù có bao nhiêu tiền cũng không thể khỏa lấp nổi. Có thể nói rằng, càng cảm thấy
mình nhỏ bé ở bên trong, thì càng phải tích lũy nhiều quyền lực, tiền bạc và sự
hào nhoáng để cố gắng bù đắp cho sự nhỏ bé ở bên trong.
Buông
bỏ là chúng ta được giải thoát khỏi sự nhỏ bé, bất an và tự trọng thấp ở bên
trong. Khi đó, tiền bạc chỉ đơn thuần là công cụ để vươn tới mục tiêu của chúng
ta trong cuộc đời này. Chúng ta có sự an tâm ở bên trong, biết rằng luôn luôn
có đủ tiền. Khi cần, chúng ta sẽ luôn luôn có được những gì mình cần, vì chúng
ta có cảm giác trọn vẹn, viên mãn và hài lòng từ bên trong. Khi đó, tiền bạc trở
thành nguồn vui chứ không phải lo lắng.
Ở
một tầng nào đó, chúng ta thậm chí dường như thờ ơ với tiền bạc. Khi cần tiền để
hoàn thành một dự án, tiền dường như tự nhiên xuất hiện từ đâu đó. Chúng ta cảm
thấy bình thản về sự kiện đó, vì chúng ta được kết nối với nguồn sức mạnh đích
thức của chính mình. Khi chúng ta giành lại quyền lực mà mình đã trao cho tiền
bạc và nhận ra đó là sức mạnh đích thực của chính mình, thì chúng ta không còn
lo lắng về tiền bạc nữa, cũng không cần phải tích lũy thêm nhiều tiền nữa. Một
khi đã có công thức chế tạo vàng, chúng ta không cần phải mang cả một bao tải vàng
trên vai với tất cả những lo lắng và bất an đi kèm.
Tất
nhiên, cùng với việc tích lũy tiền bạc quá mức là lúc nào cũng sợ mất tiền. Thật
dở khóc dở cười khi thấy một người có tài sản trị giá 50 triệu đôla gần như
suy sụp chỉ vì một sơ suất trong kinh doanh đã đánh mất 10 triệu đôla. Ông ta
thực sự hoảng loạn. Về mặt cảm xúc, ông ta sợ rằng mình sẽ không thể sống sót
trên hành tinh này chỉ với 40 triệu đô la. Người nghèo nàn ở bên trong luôn có
động cơ tích lũy của cải không ngừng nghỉ. Cùng với nghèo nàn ở bên trong là
thái độ ích kỷ hoặc những hệ quả của nó như phù phiếm và kiêu căng giả tạo.
Rất
hay xảy ra là, những người sử dụng kỹ thuật buông bỏ lại đột nhiên trở thành
giàu có. Những diễn viên từng có đời sống khó khăn giờ đây được đóng những vai
chính ở Hollywood. Một nhà soạn kịch bên bờ vực nghèo đói trở thành nhà sản xuất
của một vở diễn vang dội trên sân khấu Broadway. Ngược lại, có những người đã
trở nên tự tại với tiền bạc đến mức họ chọn cách từ bỏ phần lớn tài sản để sống
cuộc đời giản đơn hơn nhiều. Họ không còn hứng thú với tiền bạc; họ đã làm chủ
được nó. Những sự thỏa mãn nội tâm mà trước đây họ từng tìm kiếm thông qua tiền
bạc, thí lúc này đã được thỏa mãn một cách trực tiếp, vì thế hạnh phúc bên
trong không còn phụ thuộc vào của cải ở bên ngoài. Trong trạng thái tự do nội tâm
như thế, người ta không còn lệ thuộc và không còn bị thế giới bên ngoài tác động
nữa. Chỉ khi đã thực sự làm chủ, ta mới có thể siêu việt khỏi nó.
Hạnh phúc
Trong
các phần về Sức khỏe và Của cải, chúng ta đã nói đến những lĩnh vực quan trọng
liên quan đến hạnh phúc tổng thể. Giờ đây, chúng ta sẽ tập trung hơn vào đời sống
cảm xúc ở bên trong, vì đó là nơi mà tất cả chúng ta thực sự sống. Xét cho
cùng, mục đích của sức khỏe và của cải chỉ đơn giản là vì chúng ta cho rằng, và
ở một mức độ nào đó, điều đó là đúng, chúng đem lại hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh
phúc có thể được trải nghiệm một cách trực tiếp, và ở tầng này, nó tương đối độc
lập với sức khỏe hoặc của cải.
Xin
cùng xem xét một cách khách quan về quan điểm trung bình về hạnh phúc. Trước hết,
hạnh phúc cực kỳ dễ bị tổn thương. Một lời nhận xét tình cờ, một lời phê bình, một
cái nhíu mày, hay một chiếc xe chen ngang trước mặt chúng ta đều đủ sức và
ngay lập tức phá tan hạnh phúc của người bình
thường. Đe dọa mất việc, cảm thọ thiếu tin tưởng trong quan hệ nào đó, một lời
nhận xét đáng ngại của bác sĩ, hay một tài xế taxi xấc xược, đều có thể làm hỏng
cả ngày hôm đó của nhiều người. Vì sao hạnh phúc của chúng ta lại mong manh đến
mức những sự việc thường ngày có thể “phá hỏng” cả ngày hôm đó?
Trong
phần Giải phẫu cảm xúc, chúng ta đã xem xét những lý do dẫn đến kết quả này. Hệ
quả của những cảm thọ, tư tưởng và thái độ tiêu cực, cùng với việc không ngừng
phán xét và chỉ trích người khác, là chúng ta thường cảm thấy bị tách biệt khỏi
mọi người. Vì cảm thọ cô đơn và tách biệt bên trong như thế, các mối quan hệ đều
diễn ra dưới hình thức chấp trước, với tất cả những sợ hãi, giận dữ và ghen tị
đi kèm với bất kỳ mối đe dọa nào đối với những chấp trước đó. Tiêu cực ở bên
trong dẫn đến những niềm tin phổ biến: “Ngươi sinh ra trong cô đơn và sẽ chết trong
cô đơn.” Trên thực tế, không có gì sai lầm hơn thế. Như những cuốn sách gần đây
về trải nghiệm cận tử cho biết, trong cuộc sống người ta thường cảm thấy cô đơn
và, vào đúng lúc chết, có một cảm giác tuyệt đối về một thể và kết nối (Eadie,
1992; Neal, 2011).
Vì
có chấp trước, phụ thuộc và sự nhỏ bé ở bên trong, chúng ta có thể cảm thấy yếu
đuối và bị hạn chế. Phán xét đầy tội lỗi đối với những tư tưởng và cảm thọ bên
trong đã bị phóng chiếu ra thế giới bên ngoài, làm cho thế giới hiện lên như một
nơi đáng sợ. Vì những sợ hãi này được lưu giữ trong tâm trí, những sự kiện và
trải nghiệm đầy sợ hãi được đưa vào cuộc sống của chúng ta, theo đúng nghĩa đen
của từ này. Sợ hãi dẫn đến tức giận thường trực và làm cho chúng ta trở thành dễ
bị tấn công và rơi vào hỗn loạn cảm xúc bên trong. Đau đớn và khổ sở xảy ra,
kèm theo tuyệt vọng mang tính chu kỳ và dễ bị rối loạn cảm xúc. Tâm trí-bản ngã
nhìn nhận mọi người như là những người riêng biệt, nó ghen tị với bất kỳ người
nào khác dường như hạnh phúc hơn, thành công hơn, hoặc có những quan hệ tốt
hơn, thân thể đẹp hơn, hoặc có nhiều liên hệ tốt hơn. Chẳng bao lâu sau, do thiếu
sự sáng suốt nội tại về những mục tiêu của mình, hỗn loạn sẽ nảy sinh, dẫn đến than
thân trách phận, đố kỵ và oán hận sâu sắc hơn. Tự kết án sau đó bị phóng chiếu
không ngừng ra thế giới bên ngoài, biểu hiện dưới dạng những chỉ trích từ người
khác, chính điều này lại càng làm gia tăng mặc cảm tội lỗi và cảm thọ nhỏ bé ở
bên trong.
Đối
với một số người, lối thoát duy nhất là thông qua sự tự cao tự đại, bất dung, cố
chấp, kiêu ngạo và tức giận, những biểu hiện này thể hiện dưới hình thức tàn nhẫn,
hống hách, hung bạo và vô cảm với cảm thọ của người khác. Thường thì vô cảm đi
kèm với những lời bào chữa, chẳng hạn như: “Tôi là người thẳng thắn, nói ra suy
nghĩ của mình,” hoặc “Tôi là người thẳng thắn; bạn luôn biết vị trí của mình trong
mối quan hệ với tôi.” Những lời nói này là vỏ bọc cho thái độ vô cảm, mà có thể
được mô tả chính xác hơn là vụng về. Tự trọng thấp dẫn đến chỉ trích chính mình
và người khác, cạnh tranh và so sánh bất tận, phân tích, khinh miệt, trí năng
hóa, nghi ngờ và ảo tưởng về trả thù. Khi tất cả những cơ chế đó thất bại, sẽ
xuất hiện thờ ơ và cảm thọ tuyệt vọng và bị tổn thương. Trong trạng thái như thế,
chúng ta dần trở nên ngày càng xa lạ với chính mình và mọi người, bởi có quá
nhiều phần trong tâm thức mà ta buộc phải che giấu. Hành vi của chúng ta dẫn đến
cô lập với người khác và tạo ra mất cân bằng, do đánh giá quá cao những khía cạnh
của cuộc sống dường như đang hiệu quả.
Do
sự hỗn loạn bên trong như thế, người bình thường buộc phải luôn luôn ở trong trạng
thái vô thức. Thật thú vị khi quan sát những phương tiện mà tâm trí đã phát
minh ra để thực hiện mục đích này. Chúng ta thấy một người thức dậy vào buổi
sáng và bật đài hoặc tivi để ngay lập tức đưa tâm trí ra khỏi tự ngã và tạp niệm.
Mặc dù có thêm chút giải trí, nhưng những suy nghĩ và cảm thọ vẫn có xu hướng nảy
sinh cho đến khi tâm trí bị cuốn vào những dự án trong ngày, công việc và các kế
hoạch cần thực hiện hoặc khoái lạc khác nhau. Nó bắt đầu quan tâm tới cơ thể -
tất cả việc chải chuốt, tắm rửa, xịt nước hoa, thoa phấn, khử mùi và lựa chọn cẩn
thận quần áo cho ngày hôm đó. Việc lựa chọn quần áo gợi lên tất cả lịch trình
trong ngày, sự bận rộn với các hoạt động đã được dồn nén vào một ngày: những cuộc
hẹn hò bất tận, các cuộc điện thoại, việc vặt, các cuộc gặp gỡ, trách nhiệm gia
đình và viết email. Trên đường đi làm hoặc các hoạt động trong ngày, là những
cuộc trò chuyện với bạn bè, nghe đài trên xe, gọi điện thoại di động, nhắn tin
và đọc báo buổi sáng trên tàu điện ngầm. Khi đến nơi, tiếp theo là quan tâm tới
những sự kiện trong ngày: công việc kinh doanh, các giao dịch, mặc cả, sắp xếp,
lo lắng, thao túng, tìm kiếm quyền lực không ngừng nghỉ, săn lùng “thành công”,
và sợ hãi về sinh tồn lúc nào cũng có đó. Tất cả những điều này được thúc đẩy bởi
mong muốn tìm kiếm ý nghĩa và an toàn, và để gia tăng lòng tự trọng và bằng mọi cách đảm bảo giá trị của bản thân mình.
Chúng
ta không thật sự nhận thức được sự cuồng loạn của cuộc vật lộn cho đến khi một
sự kiện bên ngoài nào đó buộc chúng ta đột nhiên phải dừng lại. Khi đó, chúng
ta đối mặt với sự trống rỗng ở bên trong. Đòi hỏi không ngừng tiêu thụ các loại
tiểu thuyết, tạp chí, chương trình truyền hình và mạng internet. Hoặc tránh né
sự trống rỗng bằng cách liên tục đi dự tiệc tùng, trốn chạy vào ma túy, làm tê
liệt tâm trí bằng vài ly rượu, xem phim ảnh và theo đuổi các trò tiêu khiển
khác. Chúng ta có xu hướng làm bất cứ việc gì chỉ để tránh phải đối diện với cảm
thọ trống rỗng ở bên trong.
Những
hoạt động đó, tự bản thân chúng, không có gì sai. Điều chúng ta muốn xem xét chỉ
là trạng thái tâm thức, trạng thái nhận thức, và cách thức mà các hoạt động được
cảm nhận, theo đuổi và trải nghiệm. Trong trạng thái tự do nội tâm, những sự kiện
và trải nghiệm tương tự như thế này có ý nghĩa hoàn toàn khác.
Những
hoạt động giống hệt như thế có thể bắt nguồn từ cảm giác về hạnh phúc, tự trọng
và trọn vẹn ở bên trong. Những mục tiêu tương tự như thế có thể được hoàn thành
thông qua việc nhận ra thành tựu ở bên trong của chúng ta, chứ không phải là cạnh
tranh với người khác. Các mối quan hệ trở thành sẻ chia và yêu thương chứ không
phải là ghen tị, cạnh tranh và bị thúc đẩy bởi việc tìm kiếm tán dương và chấp
thuận. Khi thoát khỏi những động cơ tiêu cực, chúng ta tận hưởng những mối quan
hệ làm cho chúng ta hài lòng, vì chúng ta yêu thương mọi người, chứ không phải
vì chúng ta chấp trước vào họ. Khi không còn ghen tị và đe dọa, chúng ta có thể
cho phép người khác được tự do. Chúng ta không phải là nạn nhân của sự thao
túng từ người khác bởi vì chúng ta đã tìm thấy sự thỏa mãn ở bên trong.
Buông
bỏ được những suy nghĩ, cảm thọ và thái độ tiêu cực, là chúng ta lấy lại sức mạnh
mà mình đã trao cho thế gian. Phần lớn sức hấp dẫn của thế gian là do sự hào
nhoáng mà chúng ta đã gán cho nó. Đây là những câu hỏi để tự suy ngẫm: “Liệu đó
có thực sự là tất cả số tiền mà tôi muốn, hay chỉ là sự hào nhoáng mà tôi đã
gán cho nó? Tôi muốn gì từ chức danh đó, hay từ danh xưng “Tiến sĩ”, “Luật sư”
và “Mục sư”? Đó có phải là trách nhiệm và những hoạt động đi kèm với nó, hay là
sự hào nhoáng và thái độ kính trọng gắn liền với nó? Tôi có thực sự yêu người
đó, hay tôi chỉ đang yêu sự hào nhoáng mà tôi đã gán cho người đó?” Càng buông
bỏ, chúng ta càng thấy thế giới không còn hào nhoáng như trước nữa. Càng không
thấy hào nhoáng, nó càng ít chi phối chúng ta hơn. Hào nhoáng không còn tạo được ảnh hưởng và không còn
thao túng chúng ta được nữa. Chúng ta không còn bị những lập trình viên chuyên
nghiệp của giới truyền thông và các lĩnh vực chính trị, xã hội làm cho tổn
thương nữa. Trong tâm chúng ta không còn nhu cầu được người khác chấp thuận nữa.
Chúng
ta bắt đầu yêu thương mọi người vì con người mà họ đang là, chứ không phải vì
những việc họ có thể làm cho chúng ta. Chúng ta không còn cần phải lợi dụng người
khác hay cố gắng lấy lòng họ nữa. Khi mức độ mặc cảm tội lỗi của chúng ta giảm
đi, thì lòng tự trọng của chúng ta tăng lên. Các mối quan hệ giờ đây dựa trên sự
chính trực, và chúng ta không còn là đối tượng của lấy lòng về mặt cảm xúc. Hệ
quả là, chúng ta ngừng cố gắng lấy lòng người khác bằng áp lực cảm xúc. Vì các
mối quan hệ dựa trên sự trung thực, chúng tồn tại và hoạt động trên một bình diện
cao hơn, nên không còn sợ bị xa lánh hay cảm thọ cô đơn nữa. Người đã buông bỏ
không còn cần người khác để thỏa mãn bản thân mình mà ở bên cạnh họ vì lựa chọn,
vì tình yêu và niềm vui. Tâm từ bi dành cho tha nhân và cho nhân tính của họ sẽ
chuyển hoá cuộc sống và mọi mối quan hệ.
Tự do nội tâm
Cuộc
sống sẽ như thế nào khi ta liên tục buông bỏ? Điều gì là khả thi?
Trong
trạng thái buông bỏ, chúng ta là người không phụ thuộc vào thế giới bên ngoài,
không coi nó nguồn gốc của thỏa mãn, vì đã tìm được nguồn gốc của hạnh phúc bên
trong chính mình. Hạnh phúc được chia sẻ với những người khác, vì vậy trong các
mối quan hệ, người buông bỏ sẽ hỗ trợ, cảm thông, khuyến khích, kiên nhẫn và
khoan dung. Có một sự trân trọng tự nhiên dành cho phẩm giá cùng giá trị của
người khác, đồng thời là sự thấu hiểu cảm thọ của họ. Chúng ta từ bỏ các cuộc tranh
giành quyền lực, cố gắng là người “đúng”, và chứng minh quan điểm của mình. Chúng
ta tự động không phán xét và hỗ trợ người khác để họ phát triển, học hỏi, trải
nghiệm và viên mãn tiềm năng của chính mình. Đón nhận tha nhân với thái độ tự tại
và bao dung. Chúng ta cảm thấy thư thái, tràn đầy sức sống và năng lượng. Các sự
kiện trong cuộc đời diễn ra một cách tự động và dễ dàng. Chúng ta không còn phản
ứng bằng động cơ hy sinh hay “ban phát” cái gì đó cho người khác; thay vào đó,
chúng ta nhìn nhận mình như là người phục vụ đầy yêu thương người khác và thế
giới. Các sự kiện trong cuộc đời được coi là cơ hội chứ không phải là thách thức.
Tính cách dịu dàng và cởi mở, sẵn sàng buông bỏ và phó thác không ngừng vì quá
trình nội tâm mở ra và tiến triển không ngừng.
Khi
quá trình này mở ra, chúng ta cảm nhận được sự chuyển hoá ở bên trong. Nó sẽ dẫn
đến cảm thọ biết ơn, vui vẻ và chắc chắn về mục tiêu không thay đổi của mình. Sống
trọn vẹn trong hiện tại chứ không còn bận tâm đến quá khứ hay tương lai nữa. Có
sự tin cậy mà không cần phòng vệ, vì sức mạnh đích thực của mình từng bị phóng
chiếu ra thế giới bên ngoài nay đã được thu hồi lại. Từ đó, nảy sinh một cảm thọ
bên trong về sự vững chãi và không bị tổn thương, dẫn tới sự an nhiên tĩnh lặng
từ bên trong.
Ban
đầu, có sự đồng nhất: “Tôi là cơ thể.” Khi cơ chế buông bỏ tiếp tục hoạt động, chúng
ta ngày càng nhận thức rõ ràng rằng: “Tôi là tâm trí đang trải nghiệm cơ thể,
chứ không phải là cơ thể này.” Khi buông bỏ được càng nhiều cảm thọ và hệ thống
niềm tin, thì cuối cùng sẽ xuất hiện nhận thức: “Tôi cũng không phải là tâm trí
mà là cái chứng kiến và trải nghiệm tâm trí, trải nghiệm cảm xúc và cơ thể.”
Thông
qua quán chiếu nội tâm, ta nhận ra sự hiện diện của một cái gì đó luôn bất biến
và hằng hữu, dù thế giới bên ngoài, hay ngay cả với cơ thể, cảm xúc và tâm trí
của chính mình có xảy ra sự kiện gì thì cũng thế. Chúng ta khám phá được Đại
Ngã ở bên trong. Chúng ta khám phá được trạng thái tĩnh lặng của Nhận thức - nền
tảng để mọi chuyển động, hoạt động, âm thanh, cảm xúc và suy nghĩ diễn ra - đấy
là an bình vĩnh cửu. Khi đã đồng nhất với Nhận thức này, chúng ta không còn bị
thế giới, thân thể, hay tâm trí chi phối nữa, và với Nhận thức này, ta cảm nhận
được sự bình tĩnh, tĩnh lặng ở bên trong và cảm giác an bình sâu lắng. Ta nhận
ra rằng đây chính là cái mà chúng ta luôn tìm kiếm nhưng lại không biết, vì đã đi
lạc trong mê cung. Chúng ta từng đánh đồng một cách sai lầm chính mình với các
hiện tượng bên ngoài của cuộc sống bận rộn—thân thể và những trải nghiệm của
nó, nghĩa vụ, công việc, chức danh, các hoạt động, vấn đề và cảm thọ. Nhưng lúc
này chúng ta nhận ra rằng chúng ta chính là không gian vĩnh hằng, các hiện tượng
vừa nói đang diễn ra ở trong không gian này. Chúng ta không phải là những hình ảnh
lập lòe đang diễn kịch trên màn ảnh, mà chính là màn ảnh – một nhân chứng không
phán xét về bộ phim cuộc đời đang diễn ra, không có khởi đầu và không có kết
thúc, với tiềm năng vô hạn. Những nhận thức tiến bộ này về bản chất thực sự của
chúng ta chuẩn bị nền tảng cho Chứng ngộ Cao nhất về sự đồng nhất giữa Tâm thức
với chính Thần Tính.
[i] Pogo là nhân vật chính
trong bộ truyện tranh châm biếm cùng tên của họa sĩ Walt Kelly. Đây là một chú
chuột túi (opossum) sống tại đầm lầy Okefenokee, nổi tiếng với những suy ngẫm
sâu sắc về bản chất con người. Câu nói kinh điển: “We have met the enemy, and
he is us.” (Chúng ta đã chạm trán kẻ thù, và kẻ thù đó chính là chúng ta). Ý
nghĩa: Nhận diện kẻ thù: - Kẻ thù không phải là thế lực bên ngoài, mà chính là
những rào cản bên trong, sự phán xét và kháng cự bên trong tâm trí. - Chuyển
hóa: Việc nhận ra “kẻ thù là chính mình” là bước đầu tiên để thực hành buông bỏ và phá vỡ các rào cản đối với sự viên mãn. -
Tính thời điểm: Câu nói nhắc nhở rằng chúng ta thường là người tự gây ra những
giới hạn cho chính mình thông qua các thói quen của Tâm trí hữu thức.
[ii] Câu này không nên được hiểu
theo nghĩa tuyệt đối về mặt sinh học mà nên hiểu là người đó có thể ăn và chịu
đựng tất cả những gì mà mọi người khác có thể ăn hay chịu đựng được. David R.
Hawkins không ám chỉ rằng một người “buông bỏ” sẽ trở nên miễn nhiễm với mọi
tác nhân vật lý như độc tố, vi trùng hay dị ứng. Ý chính ở đây là: người đó
không còn bị chi phối bởi nỗi sợ đối với những yếu tố này. Khi nỗi sợ lắng xuống,
tâm không còn vô thức phóng chiếu nguy hiểm lên thế giới, và vì thế có thể sống
một cách tự nhiên, nhẹ nhàng hơn — không còn bị ám ảnh hay né tránh một cách cực
đoan. Điều này không phủ nhận các quy luật sinh học, mà chỉ nhấn mạnh sự tự do
nội tâm khỏi những phản ứng sợ hãi.