March 6, 2021

Thuật ngữ chính trị (136)

 


331. Mass media – Các phương tiện truyền thông đại chúng. Các phương tiện Truyền thông đại chúng là một loạt các công nghệ truyền thông nhằm tiếp cận tới số lượng lớn khán giả, thông qua những phương tiện thông tin đại chúng. Truyền thông đại chúng sử dụng rất nhiều công nghệ khác nhau. 

Các phương tiện thông tin bao gồm phim ảnh, đài phát thanh, băng đĩa nhạc hoặc truyền hình. Phương tiện kỹ thuật số bao gồm Internet và truyền thông trên thiết bị di động. Phương tiện truyền thông Internet bao gồm các dịch vụ như e-mail, các mạng xã hội, các website và đài phát thanh và truyền hình trên Internet. Nhiều phương tiện truyền thông đại chúng khác cũng đã hiện diện trên các website. Các phương tiện truyền thông ngoài trời truyền thông tin qua các phương tiện như ứng dụng thực tế ảo tăng cường; bảng quảng cáo; khinh khí cầu; bảng quảng cáo bay; bảng hoặc ki-ốt đặt bên trong và bên ngoài xe buýt, tòa nhà thương mại, cửa hàng, sân vận động thể thao, toa tàu điện ngầm hoặc xe lửa….. Phương tiện in truyền tải thông tin qua các đối tượng vật lý, như sách, truyện tranh, tạp chí, báo hoặc tờ rơi. Tổ chức sự kiện và diễn thuyết trước công chúng cũng có thể được coi là các hình thức truyền thông đại chúng. Những tổ chức kiểm soát các công nghệ này, như các hãng phim, các công ty xuất bản, các đài phát thanh và truyền hình, cũng được gọi là các phương tiện truyền thông đại chúng. 

Các chính phủ ngày càng khó kiểm soát và giám sát, nhất là trước sự lan tràn của truyền hình vệ tinh, truyển hình cáp, mạng Internet, mạng lưới phương tiện truyền thông đại chúng toàn cầu và sở hữu chéo trong ngành truyền thông ngày càng gia tăng. Trong khi các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông cho rằng, ngoài những cuộc bầu sử và những sự kiện lớn khác, các cuộc tranh luận và bình luận chính trị nghiêm túc chỉ thu hút được các nhóm nhỏ. Ảnh hưởng, nếu có, cũng không đáng kể và không trực tiếp. Tuy nhiên, tiếp cận với các phương tiên truyền thông đại chúng là điều kiện quan trọng sống còn đối với các đảng phái chính trị lớn, đồng thời phương tiện truyền thông còn tạo điều kiện cho các ứng cử viên đại diện cho nhóm thiểu số, với những quan điểm phi chính thống, trình bày cương lĩnh của mình.     

332. Mass society – Xã hội đại chúng. Xã hội đại chúng là bất kỳ xã hội nào trong thời hiện có nền văn hóa đại chúng và các thiết chế xã hội quy mô lớn, có tính cá nhân hóa. Có người nói: Xã hội đại chúng là xã hội mà sự thịnh vượng và bộ máy quan liêu đã làm suy yếu các mối quan hệ xã hội truyền thống. Những bài viết đầu tiên về xã hội đại chúng xuất hiện hồi thế kỷ XIX, đề cập đến xu hướng cào bằng trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp, làm suy yếu các giá trị truyền thống và quý tộc. 

Trong các tác phẩm của các nhà chính trị học đầu thế kỷ XX như Alexis de Tocqueville, thuật ngữ này được sử dụng trong các cuộc thảo luận về những lo ngại về sự thay đổi trong tổ chức chính trị ở phương Tây kể, từ sau Cách mạng Pháp. Sự quan tâm của giới tinh hoa chủ yếu tập trung vào “sự chuyên chế của đa số” hay còn gọi là sự cai trị của đám đông. 

Cuối thế kỷ XIX, trong các tác phẩm của mình, Émile Durkheim (1858-1917) liên kết thuật ngữ này với xã hội như một đám đông các cá nhân rời rạc. Trong các tác phẩm của chủ nghĩa tân-Marxist, thế kỷ XX, ví dụ như Trường phái Frankfurt, xã hội đại chúng được người ta gán cho xã hội gồm những cá nhân rời rạc được gắn kết lợi với nhau bằng nền văn hóa đại chúng phục vụ lợi ích của chủ nghĩa tư bản. 

Các tác phẩm mang tính bảo thủ trong thế kỷ XX chỉ trích xã hội đại chúng từ một góc độ khác. Ví dụ, José Ortega y Gasset (1883-1955) than thở về sự suy tàn của nền văn hóa cao trong xã hội đại chúng. 

333. Materialism - Chủ nghĩa duy vật. Chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học cho rằng, vật chất có trước ý thức, tinh thần và quyết định ý thức, tinh thần. Vật chất tồn tại ngoài ý thức của con người và không phụ thuộc vào ý thức của con người. Vật chất là nguồn gốc của ý thức. 

Chủ nghĩa duy vật có liên hệ chặt chẽ với chủ nghĩa duy vật lý, với quan điểm cho rằng tất cả những gì tồn tại đều là vật chất. Chủ nghĩa duy vật lý triết học xuất phát từ chủ nghĩa duy vật với các lý thuyết về khoa học vật lý, kết hợp các quan niệm phức tạp hơn về vật chất so với vật chất thông thường (ví dụ như không-thời gian, năng lượng và lực lượng vật lý và vật chất tối). Do đó, một số người thích thuật ngữ duy vật lý hơn là chủ nghĩa duy vật, trong khi một số người khác lại coi đây là những từ đồng nghĩa. 

Chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa đa nguyên, thuyết nhị nguyên, thuyết toàn tâm và các hình thức khác của nhất nguyên luận là những triết lý mâu thuẫn với chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy vật lý.

 

March 4, 2021

Thuật ngữ chính trị (135)

 


328. Marxism-Leninism – Chủ nghĩa Marx-Lenin. Mặc dù người ta thường mô tả hệ thống chính trị được thiết lập sau Cách mạng Bolshevik, tháng 10 năm 1917, ở Nga là xã hội theo chủ nghĩa Marx, nhưng, đúng hơn, nên gọi đấy là xã hội theo chủ nghĩa Marx-Lenin. Chủ nghĩa Marx-Lenin là thuật ngữ do Stalin đặt ra nhằm mô tả sự kết hợp giữ lý thuyết Marxist với tư tưởng của Lenin - người lập ra nhà nước Xô Viết – ngọn đuốc soi đường cho cuộc Cách mạng này và trở thành niềm tin của nhà nước sau Cách mạng. Marx chưa có gì để nói về bản chất của xã hội sau cách mạng, đúng hơn là ông chưa nói rõ cần phải tổ chức và lãnh đạo cách mạng như thế nào, đấy là lý do làm cho người ta phải kết hợp tư tưởng của Lenin vào chủ nghĩa Marx. Tư tưởng của Marx nhấn mạnh tương lai rất xa vời và xã hội mà ông mô tả về cơ bản là xã hội vô chính phủ, gần như không cần chính trị hoặc nhà nước. Lenin, nhà lãnh đạo cách mạng lưu vong, đã viết rất nhiều tác phẩm về công tác chuẩn bị và lãnh đạo cách mạng, cũng như bản chất của xã hội ngay sau ngày cách mạng thành công. Về mặt lý thuyết, đóng góp của Lenin tập trung vào vai trò của đảng cộng sản - đội tiên phong của giai cấp vô sản - không chỉ lãnh đạo cách mạng mà còn kiểm soát xã hội trong giai đoạn quá độ - xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây chính là lời biện minh cho sự cai trị của đảng, đặc biệt có giá trị đối với những người Bolshevik, vì đã hợp pháp hóa sự cai trị của họ. Khái niệm chuyên chính vô sản cuối cùng đã tạo điều kiện cho Stalin và những người kế nhiệm ông không trao cho người dân những quyền dân chủ cơ bản hoặc thậm chí là hàng hóa cơ bản nhằm thỏa mãn người tiêu dùng, trên cơ sở cho rằng quần chúng chưa thể sẵn sàng để hưởng các quyền tự do - cho đến khi nhà nước Xô Viết giải thoát họ khỏi ý thức sai lầm mà các chế độ trước đây đã nhồi nhét vào đầu óc họ. Chính Marx đã coi nước Nga là nơi rất khó xảy ra cách mạng vô sản, vì ở đó hầu như chưa bắt đầu cách mạng công nghiệp, tư tưởng của Lenin chính là những điều mà cuộc cách mạng cần. Vai trò của đảng là cực kì quan trong trong chế độ cộng sản, công bằng mà nói, hầu hết các các đảng cộng sản ở phương Tây cũng theo chủ nghĩa Marx-Lenin, chứ không phải theo chủ nghĩa Marx thuần túy, đấy là nói những đảng không đi theo đường lối của Trotsky, hoặc trở thành các đảng Maoist. 

329. Masses – Quần chúng. Đám đông dân chúng bình thường trong xã hội. Lo lắng về “quần chúng” cũng lâu đời như lo lắng về chế độ dân chủ. Trong Nền dân trị Mỹ, Tocqueville thể hiện sự lo lắng của mình về những người Mỹ không có gốc rễ và không có liên kết xã hội – như họ đã và đang là hiện nay – lưu động hơn người châu Âu: “Mỗi người sống tách biệt, không quan tâm tới số phận của tất cả những người khác”. Nhưng Tocqueville lại thán phục trước sự năng động về chính trị và nhiệt tình tham gia các tổ chức tự nguyện của họ. Những mâu thuẫn như thế làm cho người ta khó đưa ra được định nghĩa về “quần chúng” và những mối đe dọa mà họ có thể gây ra cho giới tinh hoa cũng như sự ổn định của chế độ dân chủ. 

330. Massive Retaliation –Trả đũa cấp tập. Chính sách đáp trả hành vi hiếu chiến với khả năng gây tổn thương lớn nhất có thể, kể cả việc sử dụng vũ khí hạt nhân. Trả đũa cấp tập đã trở thành chính sách chính thức của chính quyền Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Dwight D. Eisenhower, sau năm 1954, cùng với việc Hoa Kỳ dính líu vào cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Ý tưởng này khá đơn giản: Bất kỳ cuộc xâm lược nào của Liên Xô ở Châu Âu hoặc ở những nơi khác sẽ bị đáp trả bằng cuộc tấn công hạt nhân cấp tập vào chính Liên Xô. Chiến lược này là hợp lý, vì trong giai đoạn đó, phương Tây không có giải pháp thay thế thuyết phục nào khác: Về vũ khí quy ước phương Tây không so sánh được với Liên Xô, trong khi Liên Xô không thể đáp trả được vụ tấn công hạt nhân của Mỹ. Cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, khi kho vũ khí hạt nhân của Liên Xô đã gia tăng đáng kể, nhằm mục đích răn đe, Hoa Kỳ tung ra chiến lược leo thang và phản ứng linh hoạt, cuối cùng là đảm bảo rằng cả hai bên đều bị tiêu diệt hoàn toàn.

March 2, 2021

Thuật ngữ chính trị (134)

 


326. Martial Law – Thiết quân luật. Thiết quân luật là tình trạng do chính phủ dân sự công bố, trong đó, các lực lượng quân sự được trao quyền cai trị, quản lý và kiểm soát một khu vực, có thể là một địa phương hoặc cả nước, sử dụng trực tiếp lực lượng quân sự mà không có những hạn chế thông thường của quá trình ban hành quyết định theo lối dân chủ hoặc không chấp nhận các quyền công dân. Đây luôn luôn được coi là tình trạng thái tạm thời, và, khác với chế độ quân sự, nó có tính hợp pháp, vì do chính phủ dân sự quyết định và công nhận. Không nghi ngờ gì rằng, thiết quân luật là tình trạng khắc nghiệt và không được lòng dân; Sau Thế chiến II, các chế độ dân chủ lớn ở phương Tây chưa hề ban hành tình trạng thiết quân luật. Ba Lan nằm trong tình trạng thiết quân luật từ năm 1981 đến năm 1983. Tình trạng thiết quân luật có thể là hữu ích hoặc có thể chấp nhận được khi luật pháp và trật tự đã bị phá vỡ hoàn toàn - chính phủ dân sự để xảy ra tình trạng như thế có thể đã mất hết tính hợp pháp. Trong luật quốc tế, thuật ngữ này thường được dùng để nói về chính quyền của quân đội nước ngoài áp đặt lên khu vực thuộc địa. 

327. Marxism – Chủ nghĩa Marx. Chủ nghĩa Marx là phương pháp phân tích kinh tế xã hội áp dụng chủ nghĩa duy vật để giải thích quá trình phát triển lịch sử, hay còn gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhằm tìm hiểu các mối quan hệ giai cấp và mâu thuẫn xã hội cũng như quan điểm biện chứng để xem xét sự biến đổi của xã hội. Chủ nghĩa Marx có xuất xứ từ các tác phẩm của hai nhà triết học Đức thế kỷ XIX là Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895). 

Ban đầu, thuật ngữ “Chủ nghĩa Marx” được những người cánh hữu sử dụng với nghĩa xấu. Chỉ từ cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ này mới được chính những người theo chủ nghĩa Marx chấp nhận. Chính Marx cũng đã từng nói rằng ông thích dùng khái niệm “chủ nghĩa xã hội khoa học” cho học thuyết của mình. Marx phê phán những người đi trước và những cùng thời rằng họ chỉ “mơ ước” một xã hội có nhân tính, lý tính và tự do, theo các lý tưởng của cuộc Cách mạng Pháp chứ không nghiên cứu một cách khoa học về các điều kiện để làm cách mạng. Marx và Engels đã tranh luận với nhiều truyền thống tư tưởng khác nhau theo lối khoa học và phê phán. Các tư tưởng cơ bản của Marx chỉ được hệ thống hóa sau khi ông đã qua đời.

Chủ nghĩa Marx là hệ thống lý thuyết với ý nghĩa là một thế giới quan được các chính trị gia sử dụng để định hướng thực tiễn và được các học giả sử dụng như một phương pháp luận. Học thuyết Marxist chủ yếu phản ánh sự phát triển của các tư tưởng của Marx và Engels:

1.       Phê bình một cách sâu rộng triết học truyền thống và “phủ nhận” chúng bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng. Với ý tưởng đó, các tác phẩm ban đầu của Marx bắt đầu với việc phê bình tôn giáo và phê bình các ý thức hệ, đặc biệt là của chủ nghĩa duy tâm biện chứng Đức của Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) và chủ nghĩa duy vật siêu hình của Ludwig Feuerbach (1804-1872). Ông kỳ vọng bổ sung phương pháp biện chứng của Hegel với nội dung lịch sử hiện thực và qua đó “đảo ngược” chủ nghĩa duy tâm. Mục đích của phê phán này là “Các nhà triết học chỉ giải thích thế giới khác nhau; vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới”.

2.       “Tồn tại [xã hội] quyết định ý thức”. Theo Marx, quan hệ sản xuất trong nền kinh tế là hạ tầng cơ sở cho cuộc sống tinh thần và văn hóa của xã hội hay còn được gọi là thượng tầng kiến trúc. Marx xem đấu tranh giai cấp là biện chứng của lịch sử từ khi xã hội bắt đầu phân chia thành giai cấp đến nay. Theo Marx thì “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả phường hội và thợ bạn, nói tóm lại, những kẻ áp bức và những người bị áp bức, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành một cuộc đấu tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thúc hoặc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau”.

3.       Tác phẩm chính của ông là cuốn Tư bản luận, trong đó ông chỉ ra bản chất của sự tích lũy tư bản trong chủ nghĩa tư bản, sự hình thành xã hội có giai cấp hiện đại và quá trình tập trung tư bản cũng được phân tích cả về mặt kinh tế vi mô và vĩ mô. Marx cũng phân tích những khuyết điểm của trường phái kinh tế học cổ điển của Adam Smith và David Ricardo trong việc giải thích một số hiện tượng kinh tế. Học thuyết về giá trị lao động là phần quan trọng nhất trong những phân tích này.

4.       Chuyển từ chủ nghĩa tư bản sang xã hội không có giai cấp trong chủ nghĩa cộng sản – thông qua giai đoạn quá độ là chủ nghĩa xã hội – là chủ đề của học thuyết cách mạng của Marx. Chủ nghĩa cộng sản là sự kết thúc của lịch sử xã hội có giai cấp, mở đầu cho lịch sử của xã hội phi giai cấp và tự do. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo.

Ban đầu, chủ nghĩa Marx được phổ biến trong phong trào công nhân, thế kỷ XIX, đặc biệt là phong trào dân chủ xã hội Đức đã biến các học thuyết của Marx và Engels thành cơ sở cho các chương trình hoạt động và đưa vào chương trình đào tạo thành viên. Sau đó, Vladimir Ilyich Lenin (1870-1924) kế thừa Marx, phát triển học thuyết về chủ nghĩa đế quốc, mà sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, cùng với các tư tưởng của Marx và Engels, đã trở thành ý thức hệ nhà nước của Liên bang Xô viết. Stalin gắn chủ nghĩa Lenin vào chủ nghĩa Marx thành chủ nghĩa Marx - Lenin.

Sau năm 1945, Chủ nghĩa Marx-Lenin đã có ảnh hưởng quyết định đến chủ nghĩa xã hội hiện thực trong nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có Đông và Trung Âu, Trung Quốc, Cuba, Triều Tiên và Việt Nam. Chủ nghĩa Lenin có xuất xứ từ những “tư tưởng cơ bản” của Marx và Engels và đến mức nào hay chỉ là “phát triển sai lầm” vẫn là một trong những câu hỏi được tranh cãi nhiều nhất trong quá trình xây dựng lý thuyết Marxist. 

Cùng với thời gian, chủ nghĩa Marx đã phát triển thành nhiều nhánh và trường phái tư tưởng khác nhau, mỗi nhánh hay trường phái đó đều tự nhận là người được chính Marx trao cho ý bát. Có thể liệt kê một số trường phái sau đây:

1.       Phong trào Dân chủ Xã hội mà Chủ nghĩa Marxist Áo (Austromarxism) là một hình thức đặc biệt. Hiện nay, một số đảng dân chủ xã hội hay nhóm cánh tả trong phong trào này ở các nước ở phương Tây đều công nhận các mô hình xã hội tiến bộ trong học thuyết Marx, nhưng chủ trương xây dựng xã hội mới bằng biện pháp đấu tranh hòa bình nhằm thúc đẩy tiến hóa xã hội.

2.       Chủ nghĩa Lenin (Chủ nghĩa Marx–Lenin) và các khuynh hướng dựa trên chủ nghĩa Lenin như chủ nghĩa Stalinchủ nghĩa Trotskychủ nghĩa Mao, chủ trương xây dựng xã hội mới bằng biện pháp cách mạng, thành lập nhà nước mới. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các đảng Cộng sản trong các nước trên thế giới. Các đảng Cộng sản thường có quan hệ đồng minh với các đảng Dân chủ xã hội vừa nói bên trên (do cùng chia sẻ học thuyết Marx), tạo nên lực lượng chính trị được gọi chung là cánh tả.

3.       Chủ nghĩa cộng sản Tây Âu (Eurocommunism) là khuynh hướng cộng sản ở Tây Âu, đã từ bỏ ý tưởng thực hiện cách mạng bạo lực nhằm thành lập nhà nước chuyên chính vô sản. Khuynh hướng chính trị này chấp nhận chế độ dân chủ phương Tây và chủ trương tiến đến chủ nghĩa cộng sản bằng các biện pháp cải cách xã hội.

4.       Chủ nghĩa Tân Marxist (Neomarxism) hay Chủ nghĩa Hậu Marxist (Postmarxism) dưới nhiều hình thức khác nhau như Trường phái Frankfurt (Frankfurt School).

 

Việc phê bình chủ nghĩa Marx đã bắt đầu cùng với sự phát triển của chủ nghĩa Marx và đã trở nên quyết liệt hơn qua việc thành hình nhiều hệ thống nhà nước viện dẫn Marx trong thế kỷ XX, đặc biệt là các chính sách cứng rắn về chính trị và sự không hiệu quả về kinh tế trong chủ nghĩa xã hội hiện thực, được coi là kết quả của học thuyết Marxist

February 27, 2021

Thuật ngữ chính trị (133)


 323. Market – Thị trường. Các nhà tư tưởng đã nghĩ tới sự tương đồng giữa trao đổi trong lĩnh vực chính trị và trao đổi trên thương trường suốt nhiều thế kỉ, nhưng hiện tượng này mới được chính thức hóa trong một trăm năm gần đây mà thôi. Hoạt động chính trị được tiến hành trên những khu chợ ít nhất là ngay từ thời Hy Lạp cổ đại. Khi so sánh với thị trường, cử tri tương đương với người tiêu dùng, lợi ích có tổ chức tương đương với người sản xuất hàng hóa, còn chính trị gia thì tương đương với doanh nhân hay chủ cửa hàng. Giống như mọi sự tương đồng khác, tuân theo một cách mù quáng so sánh giữa thị trường và chính trị có thể dẫn tới những kết luận nguy hiểm. 

324. Market Socialism – Chủ nghĩa xã hội thị trường. Chủ nghĩa xã hội thị trường là hệ thống kinh tế bao gồm sở hữu công cộng và sở hữu tập thể tư liệu sản xuất hoạt động trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường. Chủ nghĩa xã hội thị trường khác với chủ nghĩa xã hội phi thị trường ở chỗ cơ chế thị trường được sử dụng để phân bổ hàng hóa vốn và tư liệu sản xuất. Tùy thuộc vào mô hình cụ thể của chủ nghĩa xã hội thị trường mà lợi nhuận do các doanh nghiệp thuộc sở hữu công cộng tạo ra có thể được sử dụng để trả công trực tiếp cho người lao động, tích lũy cho xã hội hoặc được phân phối cho dân chúng. 

Chủ nghĩa xã hội thị trường khác với khái niệm nền kinh tế hỗn hợp, vì, khác với nền kinh tế hỗn hợp, mô hình của chủ nghĩa xã hội thị trường là hệ thống hoàn chỉnh và tự điều chỉnh. Chủ nghĩa xã hội thị trường cũng khác với các chính sách của chế độ dân chủ xã hội được thực hiện trong các nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Trong khi chế độ dân chủ xã hội nhằm tới mục tiêu là ổn định và bình đẳng hơn về kinh tế bằng các chính sách như thuế, trợ cấp và các chương trình phúc lợi xã hội, thì chủ nghĩa xã hội thị trường nhằm tới các mục tiêu tương tự bằng cách thay đổi mô hình quản lý và sở hữu doanh nghiệp. 

Mặc dù các đề xuất kinh tế về quyền sở hữu xã hội song hành với thị trường đã có từ đầu thế kỷ XIX, thuật ngữ chủ nghĩa xã hội thị trường chỉ xuất hiện trong những năm 1920 khi người ta tranh luận về tính toán trong chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội thị trường xuất hiện trong cuộc tranh luận về tính toán trong chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn kéo dài từ đầu đến giữa thế kỷ XX, giữa các nhà kinh tế học theo trường phái xã hội chủ nghĩa, những người tin rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không thể hoạt động dựa trên tính toán theo các đơn vị tự nhiên hoặc bằng cách giải hệ phương trình về phối hợp kinh tế, và thị trường kinh tế mà nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cần phải có. 

Các mô hình đầu tiên của chủ nghĩa xã hội thị trường có xuất xừ từ công trình của Adam Smith và các lý thuyết của kinh tế học cổ điển, trong đó có những đề xuất về hợp tác xã, hoạt động trong nền kinh tế thị trường tự do. Mục đích của những đề xuất này là nhằm loại bỏ hiện tượng người bóc lột người: Tạo điều kiện cho người lao động nhận được toàn bộ sản phẩm lao động của mình, loại bỏ các tác động làm méo mó thị trường khi quyền sở hữu và của cải tập trung trong tay các chủ sở hữu tư nhân. 

325. Marshall Plan - Kế hoạch Marshall. Kế hoạch Marshall là kế hoạch quan trọng của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập nền tảng vững chắc hơn cho các nước Tây Âu, với mục đích chống cộng sau Thế chiến II. Tên chính thức là “Kế hoạch phục hưng châu Âu” (European Recovery Program - ERP), nhưng Kế hoạch Marshall thường được gọi theo tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall, người đã khởi xướng và ban hành kế hoạch này. Kế hoạch Marshall là thành quả lao động của các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong đó có đóng góp đặc biệt của William L. Clayton và George F. Kennan. 

Kế hoạch tái thiết được hình thành tại cuộc hội nghị đại diện của các nước Châu Âu, ngày 12 tháng 7 năm 1947. Kế hoạch Marshall đề xuất gói viện trợ tương đương cho Liên Xô và đồng minh của nước này, nhưng không được chấp nhận. Kế hoạch này được tiến hành trong vòng 4 năm, kể từ tháng 7 năm 1947. Trong thời gian đó, có khoảng 17 tỷ đô la Mỹ viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật nhằm giúp khôi phục các quốc gia châu Âu tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD. Nhiều nước châu Âu đã nhận được viện trợ trước khi Kế hoạch Marshall được khởi động – từ năm 1945 – có kèm theo các điều kiện chính trị. 

Trước khi kết thúc dự án, kinh tế của các nước nằm trong Kế hoạch, trừ Tây Đức, đã phát triển vượt mức trước chiến tranh. Trong vòng hai thập kỷ tiếp theo, nhiều vùng ở Tây Âu tiếp tục đạt được mức tăng trưởng chưa từng có trước đó. Kế hoạch Marshall cũng được xem là một trong các thành tố của quá trình hội nhập châu Âu, vì nó xóa bỏ hàng rào thuế quan và thiết lập các cơ quan điều phối kinh tế trên lục địa này.

 

Trong những năm gần đây, các nhà sử học tỏ ra nghi ngờ về cả động cơ bên trong cũng như hiệu quả của Kế hoạch Marshall. Một số nhà sử học cho rằng hiệu quả của Kế hoạch Marshall thực ra là từ chính sách laissez-faire (thị trường tự do) tạo điểu kiện cho thị trường tự cân bằng thông qua phát triển kinh tế.

February 25, 2021

Thuật ngữ chính trị (132)

 


320. Manifesto – Tuyên ngôn. Tuyên ngôn thường được coi là tuyên bố chính thức về chính sách, mà người ta dự định thực hiện, do các đảng phái chính trị tung ta trong giai đoạn khởi đầu các chiến dịch vận động tranh cử. Trên thực tế, tuyên ngôn có thể có nghĩa rộng hơn, bao hồm tất cả các tuyên bố về chính trị mà người ta dự định thực hiện hoặc thậm chí một lời kêu gọi ủng hộ trong tình hình cách mạng, ví dụ, Tuyên ngôn Cộng sản do Marx và Engels chấp bút năm 1848. Các tuyên ngôn khác nhau khác nhau về độ dài, văn phong cách và mức độ quan trọng về chính trị, nhưng trước các cuộc bầu cử, hầu hết các đảng chính trị trong các hệ thống dân chủ đều tung ra một số văn kiện tương đương với bản tuyên ngôn. 

321. Manipulation – Lèo lái. Biến tình hình thành lợi thế. Nhất là sử dụng các biện pháp mang tính thủ tục, ví dụ, thay đổi trật tự trong chương trình nghị sự hoặc luật lệ bầu cử, hoặc đưa ra những đề nghị mới, không phải vì những đề nghị này có giá trị mà nhằm chia rẽ liên minh thắng cử. 

322. Maoism – Chủ nghĩa Mao. Chủ nghĩa Mao, chủ yếu là tuân theo những tư tưởng trong Mao Trạch Đông ngữ lục, gọi là Tư tưởng của Mao Chủ tịch, là phiên bản cấp tiến của chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc trong giai đoạn nằm dưới quyền cai trị của ông ta. Chủ nghĩa Mao cũng được những người cấp tiến trên toàn thế giới quan tâm và vẫn tạo được ảnh hưởng đối với nhiều người theo phái cực tả ở Pháp, Đức và thậm chí ở Mỹ. Điểm quan trọng nhất của chủ nghĩa Mao là bác bỏ hoàn toàn quyền miễn trừ của đảng cộng sản cầm quyền trước những lời chỉ trích, và nhu cầu làm việc trực tiếp với và lắng nghe “nhân dân”. Chủ nghĩa Mao là học thuyết phản đối tầng lớp tinh hoa, bác bỏ không chỉ hệ thống cấp bậc trong tổ chức, mà còn bác bỏ ngay cả thẩm quyền của giới chuyên môn kỹ thuật. Do đó, chủ nghĩa Mao là Chủ nghĩa Marx dân túy, đối đầu trực tiếp với nguyên tắc tập trung dân chủ, và kêu gọi bác bỏ vĩnh viễn thẩm quyền. Chủ nghĩa Mao cỏn nhấn mạnh công xã và tổ chức các đơn vị kinh tế và xã hội quy mô nhỏ, thay cho các tổ chức quy mô lớn, trong đó đời sống cá nhân có tính riêng tư nhiều hơn. Đây là học thuyết có sức hấp dẫn đối với những người thiếu kiên nhẫn và vô chính phủ, không được những người muốn tiến dần từng bước một ưa chuộng, đấy là lý do vì sao nó lại được các sinh viên cách mạng ở Paris, năm 1968, ưa chuộng đến thế. Đối với Chủ nghĩa Cộng sản chính thống, Chủ nghĩa Mao là học thuyết cực kỳ nguy hiểm, giới lãnh đạo Trung Quốc, sau Mao và lãnh đạo các đảng cộng sản phương Tây và phương Đông đều tìm cách xóa bỏ nó. Về mặt kỹ thuật, đây là học thuyết không tưởng, nhưng hình thức diễn đạt của nó - do người viết sử dụng những câu cách ngôn cổ điển của văn hóa Trung Quốc - làm cho nó dễ thuộc, dễ nhớ hơn những biệt ngữ khó hiểu của chủ nghĩa Marx hiện đại. Vì Mao là người lãnh đạo cách mạng, muốn xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở đất nước nông nghiệp, chưa công công nghiệp hóa, cho nên chủ nghĩa Mao tạo được ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cộng sản trong Thế giới thứ ba, và đặc biệt là ở Châu Á.

February 23, 2021

Thuật ngữ chính trị (131)

 


317. Majority System – Hệ thống đa số. Hệ thống đa số đơn giản là hệ thống, trong đó, phải có đa số phiếu bầu (50% + 1) thì đạo luật, hoặc quyết định mới có thể được thông qua, quyết định mới được thi hành, ứng cử viên mới được bầu hoặc đề nghị mới được chấp nhận. Hệ thống đa số có thể được áp dụng trong các ủy ban, trong các cơ quan lập pháp, trong khu vực bầu cử và bất cứ ở đâu, khi cần phải có quy trình kiểm phiếu để bầu lên hoặc xác nhận một ứng cử viên hoặc một đề nghị nào đó. Đa số phiếu bầu giữ vị trí linh thiêng – mặc dù về mặt lý thuyết là khá bấp bênh – trong tín điều dân chủ, dựa trên luận cứ cho rằng quyết định mà người đồng ý đông hơn người phản đối là quyết định hợp pháp về mặt chính trị. Có một loạt vấn đề lý thuyết – đa số có bao gồm, ví dụ, tất cả những người có quyền bỏ phiếu, hay chỉ bao gồm những người có mặt và bỏ phiếu? Các vấn đề khác xuất hiện, khi người ta xem xét đa số phiếu có thực sự đại diện cho một sở thích rõ ràng hay chỉ đơn giản là một sở thích được ưa chuộng trong một tập hợp các lựa chọn thay thế không được nhiều người ưa chuộng. Đây luôn luôn là lý do để nhiều người phản đối sử dụng các cuộc trưng cầu dân ý, coi đó là công cụ ban hành quyết định, và đặc biệt rắc rối khi tiến hành các cuộc bầu cử quan chức: Luật lệ bỏ phiếu phức tạp, nhiều vòng bầu cử hay phải sử dụng cả hai biện pháp, để đảm bảo rằng người chiến thắng thực sự được đa số cử tri ưa thích hơn tất cả những ứng viên khác (xem đại diện theo tỷ lệ). Tuy nhiên, quy tắc đa số đã ăn sâu bến rễ vững chắc trong quan điểm chính trị. Trong những hệ thống khác nhau, một trong những vấn đề quan trọng nhất là đa tuyệt đối, nghĩa là, phải có tỷ lệ cố định lớn hơn 50% + 1 cử tri ủng hộ thì vấn đề mới được thông qua hoặc ứng cử viên mới được bầu. 

318. Maladministration – Thiếu sót trong quản lý gây hậu quả nghiêm trọng. Thiếu sót trong quản lý gây hậu quả nghiêm trọng là những hành động của cơ quan dân chính, của các bộ trưởng, của các viên chức chính quyền địa phương hoặc bất kỳ quan chức nào khác khi ban hành quyết định ảnh hưởng đến xã hội nếu những hành động đó là đã bị mua chuộc hay bất hợp pháp. Khi quyết định không phù hợp với luật pháp và những người ban hành có thể chứng tỏ rằng họ có có khiếm khuyết nghiêm trọng, thiếu sót trong quản lý gây hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, nhưng, nói chung, không đủ năng lực không bị coi là thiếu sót trong quản lý gây hậu quả nghiêm trọng. Các vấn đề thường gặp trong thiếu sót trong quản lý gây hậu quả nghiêm trọng có khả năng là những hiện tượng mà thông luật gọi hành động vượt quá thẩm quyền: Quan chức ban hành quyết định mà theo luật thì họ không quyền ban hành. Cũng có thể xảy ra trường hợp, quan chức, mặc dù có quyền ban hành quyết định, nhưng lại chú ý tới những vấn đề lẽ ra phải bỏ qua hoặc bỏ qua những bằng chứng quan trọng. Trong những lĩnh vực pháp lý khác nhau, thiếu sót trong quản lý gây hậu quả nghiêm trọng bị xử lý bằng những biện pháp khác nhau. Hai biện pháp thường được áp dụng là các tòa án hành chính đặc biệt, hoặc thông qua hệ thống thanh tra. Cáo buộc về thiếu sót trong quản lý gây hậu quả nghiêm trọng có thể tạo ra hậu quả rất nghiêm trọng đối với chính phủ, đặc biệt ở các nước, như ở Vương quốc Anh, với lý thuyết về trách nhiệm của bộ trưởng. Về lý thuyết, ở những nước này, thiếu sót trong quản lý gây hậu quả nghiêm trọng có thể buộc bộ trưởng phải từ chức vì những hành động của công chức mà họ có thể không hề biết. 

319. Mandate - Ủy quyền. Các đảng giành thắng lợi trong các cuộc tổng tuyển cử thường tuyên bố là được ủy quyền, ngay cả khi họ chỉ giành được đa số không lớn. Nếu một đảng hay ứng cử viên đã ứng cử trên cơ sở một tập hợp các chính sách thì sau khi thắng cử họ được nhân dân ủy quyền thực hiện các chính sách đó. Do đó, các chính phủ thường tuyên bố rằng họ được “ủy quyền” thực hiện một số việc ngay cả khi không có lý do chính đáng để tin rằng chính sách mà họ nói tới liên quan rất nhiều tới chiến thắng của họ trong cuộc tuyển cử. Ý nghĩa ban đầu là một nhóm người, có thể là bộ phận cử tri của đảng chính trị hoặc tổ chức công đoàn - khi được đề nghị cử đại diện tới hội nghị toàn quốc – giao cho những người đại diện những hướng dẫn mà họ phải thực hiện trong khi thảo luận hoặc biểu quyết theo cách đã chọn về một số vấn đề cụ thể nào đó. Ủy ​​quyền cho người đại diện là vấn đề quan trọng trong lý thuyết dân chủ. Một quan điểm cho rằng những người bầu chọn người đại diện được quyền ủy quyền cho họ bỏ những lá phiếu cụ thể để trực tiếp đại diện cho quan điểm của đa số trong đơn vị bầu cử. Quan điểm khác là lý thuyết về sự ủy quyền, do Edmund Burke trình bày, nói rằng việc lựa chọn người đại diện là vấn đề chọn người tốt nhất mà người ta có thể tìm được, và sau đó tin tưởng vào đánh giá của người đó về các vấn đề sẽ phát sinh. Vấn đề có ủy quyền hay không có ủy quyền, người được ủy quyền bị ràng buộc đến mức nào, và khi nào thì kết quả trong cuộc tuyển cử cấp cho người thắng cử ủy quyền như thế đang là vấn đề tranh luận sôi nổi trong các lý thuyết hiện đại về dân chủ, cả trong nghị viện lẫn trong các đảng phái. 

Về mặt pháp lý, ủy quyền là trao cho người nào đó quyền làm một việc cụ thể nào đó với tư cách là đại diện của cơ quan có quyền tự làm việc đó. Sau Thế chiến I, Hội Quốc Liên thành lập các vùng lãnh thổ ủy trị, giao quyền kiểm soát hành chính các lãnh thổ thuộc địa của đế quốc Đức và Thổ Nhĩ Kỳ bại trận cho một số cường quốc trong phe chiến thắng. Nhiệm vụ là quản lý các vùng lãnh thổ này vì lợi ích của người dân ở đó và mục đích cuối cùng là trao trả độc lập cho nhân dân những cùng lãnh thổ này. Hệ thống ủy trị tương tự cũng được Liên Hợp Quốc thành lập.