July 7, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (13)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 12

 

YÊU THƯƠNG

 

Ở tầng yêu thương, chúng ta là người chân thành, hào phóng, nuôi dưỡng, trìu mến, kiên định và tha thứ. Yêu thương là bảo vệ, hợp tác, nâng đỡ, toàn diện và nhân hậu. Nó có đặc điểm là ấm áp, biết ơn, trân trọng, khiêm nhường, trọn vẹn, tầm nhìn, động cơ trong sáng và ngọt ngào.

Yêu thương là một cách sống. Nó là năng lượng tỏa ra khi những rào cản đã được buông bỏ. Nó không chỉ là cảm xúc hay suy nghĩ—nó là trạng thái của hiện hữu. Yêu thương là con người mà chúng ta đã trở thành bằng cách buông bỏ. Đó là một cách sống trên thế gian: “Tôi có thể giúp gì cho bạn? Tôi có thể an ủi bạn bằng cách nào? Tôi có thể cho bạn vay tiền khi bạn túng thiếu? Tôi có thể giúp bạn tìm việc làm? Tôi có thể an ủi bạn khi gia đình bạn gặp mất mát lớn?” Yêu thương là biện pháp để chúng ta thắp sáng thế gian này. 

Yêu thương trong đời sống thường nhật 

Mỗi người đều có cơ hội đóng góp vào vẻ đẹp và sự hài hòa của thế giới bằng cách thể hiện sự tử tế đối với tất cả các sinh linh và, qua đó, hỗ trợ linh hồn của nhân loại. Những gì chúng ta cho đi một cách tự nguyện sẽ quay trở lại với chúng ta, vì chúng ta cũng là một phần của cuộc đời. Tương tự như những gợn sóng trên mặt nước, mỗi món quà đều trở lại với người cho. Những gì chúng ta khẳng định ở người khác, thực chất là chúng ta cũng khẳng định ở chính mình.

Khi chúng ta sẵn sàng ban tặng tình yêu, chúng ta sẽ nhanh chóng khám phá ra rằng xung quanh chúng ta là tình yêu và chỉ đơn giản là chúng ta chưa biết cách tiếp cận với nó. Tình yêu thực sự có mặt khắp nơi; chỉ cần nhận ra sự hiện diện của nó là đủ.

Tình yêu thể hiện bằng nhiều cách khác nhau. Cậu bé ghi nhớ một bài hát ru mà cha cậu đã hát, tám mươi năm sau cậu vẫn có thể hát lại bài hát này. Người thuỷ thủ lái tàu vượt qua một cơn bão khủng khiếp suốt ba ngày đêm, không nghỉ, không có thức ăn và nước uống, trong khi tất cả các bạn đồng ngũ của anh ta đều đã say sóng. Vị bác sĩ yêu thương và cầu nguyện cho tất cả các bệnh nhân mà họ không hề quen biết. Người mẹ vừa lau dọn chiếc quần bẩn của đứa con nhỏ bị tiêu chảy, vừa nói: “Con yêu, đó không phải lỗi của con; con không thể làm khác được.” Người vợ dậy sớm để pha cà phê mỗi sáng theo đúng ý chồng. Chú chó nhỏ đứng bên cửa đợi chủ trở về và vẫy đuôi khi chủ bước qua. Con mèo kêu rừ rừ. Con chim hót líu lo.

Người ta thường nghĩ về tình yêu như tình yêu “lãng mạn”, như trong “Anh yêu” và “Em yêu”. Nhưng tình yêu lãng mạn chỉ là một phần nhỏ trong cuộc đời con người. Ngoài tình yêu cá nhân và lãng mạn, còn có nhiều loại tình yêu khác, thấm đẫm trong trải nghiệm hàng ngày của chúng ta: yêu thú cưng, yêu gia đình và bạn bè, yêu tự do, yêu mục đích sống, yêu nước, yêu những phẩm chất tốt đẹp, yêu sáng tạo, yêu là đức tính, yêu là nhiệt tình, yêu là tha thứ, yêu là chấp nhận, yêu là động lực, yêu là trân trọng, yêu là lòng tốt, yêu là bản chất của mối quan hệ, yêu là năng lượng tập thể (ví dụ: Hội những người nghiện rượu ẩn danh), yêu là ngưỡng mộ, yêu là tôn trọng, yêu là dũng cảm, yêu là tình anh em gắn bó (bạn bè, đồng môn, đồng đội), yêu là tình bạn, yêu là lòng trung thành, yêu là tình cảm, yêu là trân trọng, yêu là tình mẫu tử hy sinh, yêu là tận tụy.

“Tình yêu muôn màu muôn vẻ”, như lời một bài hát nổi tiếng. Về mặt trải nghiệm, ta thấy đúng như thế. Khi chúng ta buông bỏ tất cả kháng cự, và loại bỏ những cảm thọ tiêu cực cản trở tình yêu, thì thế giới này sẽ rạng rỡ với vẻ đẹp huy hoàng của yêu thương. Ở tầng yêu thương, sự rạng ngời này không còn bị che lấp khỏi tầm nhìn của tâm thức nữa. 

Yêu thương chữa lành 

Yêu thương giúp chữa lành. Yêu thương biến đổi cuộc sống. Chúng ta thấy điều này trong câu chuyện có thật về một người thợ săn vịt trời, anh ta đột nhiên thay đổi khi chứng kiến hành động yêu thương. Một ngày nọ, anh ta đi săn, anh ta thường đi săn lấy vui. Như thường lệ, anh ta bắn một con vịt đang bay, và nhìn thấy nó rơi xuống đất, bị thương nặng. Anh ta cảm thấy vô cùng kinh ngạc khi thấy con vịt cái lập tức hạ xuống để che chở cho người bạn đời của mình, và dang rộng đôi cánh ra để bảo vệ nó. Nhìn thấy tình yêu của con vịt, trái tim người thợ săn đã thay đổi; anh ta không bao giờ còn đi săn nữa. Khi bạn trở thành người yêu thương, có những việc bạn không bao giờ có thể làm lại nữa.

Và có những việc bạn có thể làm trong trường năng lượng của yêu thương, nếu không có nó thì không thể làm. Hơn nữa, người ta làm một số việc cho bạn, nhưng họ sẽ không làm cho người khác. Yêu thương làm cho điều kỳ diệu trở thành khả thi mà không cần gọi nó là “kỳ diệu”. Yêu thương tạo được ảnh hưởng mang tính chuyển hoá.

Đôi khi, tốt nhất là không nên nói với người ta rằng bạn yêu họ vì họ sẽ sợ và cho rằng bạn có ý đồ gì đó hoặc muốn cái gì đó ở họ. Thành thật mà nói, một số người có thái độ sợ hãi và nghi ngờ tình yêu; vì vậy, bạn yêu những người như thế mà không cần nói với họ. Yêu thương là một cách sống, nó chuyển hoá mọi thứ xung quanh bạn, năng lượng đó có khả năng lan toả. Nó xảy ra một cách tự nhiên. Chúng ta không cần phải “làm” bất cứ việc gì, và chúng ta không cần phải gọi nó bằng bất cứ cái tên nào. Yêu thương là năng lượng, âm thầm chuyển hoá mọi hoàn cảnh.

Có nghĩa là những người đầy thù hận, khi ở bên cạnh chúng ta, đột nhiên trở nên sẵn sàng tha thứ cho người khác. Chúng ta có thể thấy người đó chuyến hoá ngay trước mắt. Trong lúc buông bỏ tức giận, họ có thể nói, “Vâng, chẳng có lý do gì để giận anh ta đến thế… anh ta còn quá trẻ, chưa hiểu biết.” Họ sẽ tìm lý do để bảo vệ người đó, thay vì tấn công anh ta. Yêu thương trao quyền cho chúng ta, và những người xung quanh chúng ta, để làm những điều mà chúng ta không thể làm được nếu không có tình yêu.

Tha thứ là một khía cạnh của yêu thương, nó cho phép chúng ta nhìn nhận các sự kiện trong cuộc đời từ quan điểm của ân phước. Chúng ta tha thứ cho chính mình về những lỗi lầm khi chúng ta còn chưa trưởng thành. Sẽ có ích khi nhìn nhận bản ngã hay phần nhỏ bé của bản thân mình như một chú gấu bông dễ thương. Chú gấu bông này không “xấu”; chúng ta không ghét hay mắng mỏ chú gấu bông nhỏ. Chúng ta yêu thương và chấp nhận nó như nó vốn là: một con vật nhỏ dễ thương chưa biết gì hơn. Chúng ta siêu việt những khía cạnh nhỏ bé của chính bản thân mình bằng cách chấp nhận và yêu thương chúng. Chúng ta nhìn nhận bản ngã là “bị hạn chế”, chứ không phải “xấu”.

Trong trường năng lượng của yêu thương, chúng ta được bao bọc bởi tình yêu, và điều đó tạo ra lòng biết ơn. Chúng ta biết ơn cuộc sống của mình và tất cả những phép màu của cuộc đời. Chúng ta biết ơn những chú chó và những chú mèo, bởi vì chúng đại diện cho tình yêu. Chúng ta biết ơn mọi hành động tử tế của người khác, biết ơn tình cảm, sự quan tâm và sự chu đáo mà họ dành cho ta.

Cuối cùng, chúng ta chỉ đơn giản là trở thành yêu thương. Mọi việc chúng ta làm và nói, mọi cử động mà chúng ta làm, đều được tiếp thêm năng lượng bởi tình yêu mà chúng ta có bên trong chính mình. Dù đang nói chuyện trước đám đông hay vuốt ve chú chó, năng lượng của tình yêu đều được cảm nhận như đang tuôn trào. Chúng ta muốn chia sẻ những gì mình đang giữ trong trái tim như là kiến thức mang tính trải nghiệm, và chúng ta giữ kiến thức này trong trái tim dành cho mọi người và mọi vật, để họ cũng cảm nhận được điều đó. Chúng ta cầu nguyện cho trải nghiệm nội tâm về tình yêu vô hạn dành cho mọi người xung quanh, bao gồm cả các con vật. Cuộc sống của chúng ta là phước lành dành cho mọi thứ xung quanh. Chúng ta thừa nhận với người khác và với những con vật mà mình nuôi rằng họ/chúng là món mà Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta.

Tình yêu xuất phát từ trái tim. Khi ở bên cạnh những người yêu thương nhau, chúng ta tiếp thu được năng lượng đó. Tình yêu của những người thân yêu, thú cưng và bạn bè chính là tình yêu của Thần tính dành cho chúng ta. Khi đi ngủ vào ban đêm, chúng ta tạ ơn vì mình được tình yêu bao bọc suốt cả ngày. Mỗi khoảnh khắc đều khả thể, đấy là nhờ có tình yêu. Chỉ nhờ tình yêu mà việc chấp bút cuốn sách này mới trở thành khả thi.

Trong trạng thái yêu thương, mỗi sáng thức dậy, chúng ta tạ ơn vì sẽ được sống thêm một ngày mới, và chúng ta tìm cách làm cho cuộc đời trở thành tốt đẹp hơn cho tất cả những người xung quanh ta. Nhờ có tình yêu, mà mọi việc trở nên tốt đẹp hơn; món trứng chiên ngon hơn; chú vịt trời con được cứu; con mèo con được ăn; và con chó con được nhận từ trại chó về nuôi và được đưa về nhà. Chúng ta chia sẻ tình yêu của mình với mọi thứ ở xung quanh, mọi hình tướng của đời sống: mèo con, chó con, những người khác, tất cả các sinh linh. Vâng, ngay cả những kẻ phản diện. Nếu nhiệm vụ của chúng ta là trông coi kẻ phản diện bị bắt, chúng ta sẽ tìm cách làm cho cuộc sống của hắn ta trở thành dễ chịu hơn. Chúng ta nói: “Tôi rất tiếc phải dí súng vào đầu anh, nhưng đó là công việc của tôi.” Chúng ta cố gắng hết sức để trở thành người lịch sự và hào phóng, không có bất cứ ngoại lệ nào.

Càng yêu, chúng ta càng có thể yêu nhiều hơn. Tình yêu là vô hạn. Tình yêu sinh ra tình yêu. Đó là lý do vì sao các bác sĩ tâm thần khuyên nên nuôi thú cưng. Ví dụ, một con chó mang tới tình yêu và mở rộng tình yêu trong trái tim của người chủ. Tình yêu kéo dài tuổi thọ. Trên thực tế, các nghiên cứu đã chứng minh rằng việc nuôi chó kéo dài tuổi thọ của chủ nhân thêm mười năm! Xin nghĩ đến tất cả những bài tập, chế độ ăn kiêng kỳ quặc và các chế độ tập luyện khác mà mọi người vẫn làm để sống thêm vài năm, trong khi chỉ cần nuôi một con chó là có thể kéo dài thêm mười năm! Tình yêu có khả năng kiến tạo mạnh mẽ. Tình yêu làm gia tăng endorphin – loại hormone giúp tăng cường sinh lực và nâng cao chất lượng sống. Cuộc đời của bạn kéo dài thêm mười năm khi nuôi một con chó, vì chó là chất xúc tác cho năng lượng của tình yêu, và năng lượng của tình yêu chữa lành và kéo dài tuổi thọ.

Khi có điều kiện phù hợp, năng lượng của yêu thương có thể chữa lành cơ thể của chúng ta. Ở tầng thể chất, do tâm trí tích cực chiếm ưu thế, các loại bệnh trên thân thể thường tự khỏi. Một số loại bệnh tự động được chữa lành mà không cần chú ý đặc biệt, và những bệnh còn lại thường phản ứng tốt với các kỹ thuật tâm thức. Những loại bệnh dai dẳng không phản ứng với biện pháp điều trị này được coi là có ý nghĩa về mặt nghiệp báo, là thông điệp ẩn dụ hoặc có vai trò quan trọng về tâm linh. Nhìn chung, nhận thức về cơ thể giảm đi, giờ đây, cơ thể tự vận hành và dường như tự chăm sóc lấy mình. Chúng ta không còn đồng nhất với cơ thể nữa. Mất hứng thú với việc giải quyết các vấn đề sức khỏe ở cấp độ thuần túy thể chất, và có những lúc nhận thức về cơ thể biến mất hoàn toàn, trừ khi chúng ta tập trung vào nó vì một lý do cụ thể nào đó.

Hiểu biết mang tính trực giác dần dần thay thế cho “suy nghĩ”, suy nghĩ bắt đầu biến mất. Theo thời gian, “suy nghĩ” và các quá trình trong tâm trí được thay thế bằng “cái biết” mang tính trực giác, tự phát. Bỏ qua Logic. Sự kiện này xảy ra bởi vì, ở tầng rung động cao nhất, mọi thứ trong vũ trụ đều được kết nối với mọi thứ khác. Hiểu biết của chúng ta được mở ra như là “mặc khải” từ trường liên kết này. Tri thức mang tính toàn diện hơn chứ không bị giới hạn.

Do tĩnh lặng nội tâm, chúng ta có khả năng tri giác được suy nghĩ và cảm xúc của người khác ở tầng phi ngôn ngữ. Giao tiếp phi ngôn ngữ với người khác trở thành khả thi và phổ biến. Không còn những cảm thọ tiêu cực nữa, vì đã siêu việt được tự ngã nhỏ bé, nó được Đại Ngã lớn hơn hấp thụ. Các hiện tượng mang tính cảm xúc được chuyển hóa. Ví dụ, mất mát được trải nghiệm như thất vọng hay hối tiếc nhất thời, chứ không phải là u sầu. 

Yêu thuơng vô điều kiện 

Bằng cách buông bỏ liên tục, chúng ta trải nghiệm trạng thái yêu thương vô điều kiện (có điểm hiệu chỉnh ở tầng 540), rất hiếm có và chỉ 0,04% dân số thế giới vươn tới được tầng này mà thôi. Năng lượng này là kỳ diệu, bao trùm, không có tính chọn lọc, có tính chuyển hoá, vô biên, phi nỗ lực, rạng rỡ, tận tâm, thánh thiện, lan tỏa, nhân từ và vô ngã. Nó có đặc điểm là niềm vui nội tâm, đức tin, hân hoan, kiên nhẫn, từ bi, bền bỉ, thực chất, vẻ đẹp, sự đồng nhịp, hoàn hảo, buông bỏ, say mê, tầm nhìn và cởi mở. Chúng ta từ bỏ việc coi tự ngã cá nhân là nguyên nhân. Mọi thứ xảy ra một cách dễ dàng nhờ đồng nhịp.

Niềm vui phát ra từ trải nghiệm chủ quan ở bên trong của sự tồn tại của chính chúng ta. Sức mạnh của niềm vui là chủ quan, không bắt nguồn từ bất kỳ nguồn nào ở bên ngoài bản thân mình. Do đó, năng lượng của hoạt động thể chất là vô tận. Chúng ta có thể nhảy múa một cách hân hoan suốt đêm trong một nhà nguyện thắp nến, như thể chính Cội nguồn của Sự sống đang nhảy múa. Trong trạng thái đó, sự hoàn hảo bẩm sinh và vẻ đẹp tuyệt vời của tất cả những thứ đang tồn tại tỏa sáng như một luồng sáng rực rỡ, như thể việc truyền năng lượng tâm linh tạo điều kiện cho quá trình biến đổi từ tri giác sang tầm nhìn, từ tuyến tính sang phi tuyến tính, và từ có giới hạn sang vô hạn. Trong khi vẫn có thể hoạt động trong thế gian với những rung động cao hơn của yêu thương (trên 550), chúng ta có thể rời bỏ lĩnh vực thương mại và từ bỏ môi trường xã hội và nghề nghiệp trước đây.

Trong những trạng thái như vậy, “phép màu” trở thành phổ biến. Những thứ mà người ta gọi là “siêu nhiên” xảy ra mọi lúc, không thể dùng lý trí, logic, hay nhân quả để giải thích. Rõ ràng là không có “người” nào làm phép lạ. Phép lạ xảy ra một cách tự phát khi có điều kiện thích hợp. Không để bản ngã tâm linh phát triển bằng cách nhận ra rằng những hiện tượng này là món quà tới từ bên ngoài tự ngã cá nhân; chúng ta chỉ là kênh dẫn của Tình yêu, chứ không phải là cội nguồn của nó. Tiến bộ tâm linh được coi là kết quả của Ân phước, chứ không phải kết quả của những nỗ lực cá nhân. Biết ơn đối với trạng thái hiện tại thay thế cho kiêu hãnh về thành tích. Quá trình buông bỏ tiếp tục diễn ra ngày càng sâu sắc hơn, đấy là khi chúng ta buông bỏ tất cả nghi ngờ, tất cả các hệ thống niềm tin, tất cả tri giác, tất cả các quan điểm, tất cả các ý kiến và tất cả các chấp trước. Chúng ta sẵn sàng buông bỏ tất cả các chấp trước, thậm chí chấp trước vào trạng thái Mê ly tuyệt vời, không thể diễn tả được bằng lời.

Do khiêm nhường, mà mọi ý kiến về người khác đều được buông bỏ. Theo một cách nào đó, không người nào có thể không phải là con người mà họ đang là. Tình yêu biết sự thật này và không giữ bất kỳ quan điểm nào. Tình yêu làm nổi bật những điều tích cực ở người khác hơn là những khiếm khuyết của họ. Nó tập trung vào những điều tốt đẹp của đời sống trong mọi biểu hiện của nó. Yêu thương vô điều kiện là tình yêu mà không kỳ vọng bất cứ thứ gì từ người khác. Khi chúng ta trở thành người yêu thương, chúng ta không tạo ra giới hạn hay đòi hỏi nào đối với người khác, rằng họ phải như thế nào đó để được yêu thương. Chúng ta yêu thương họ bất kể họ là người như thế nào. Ngay cả khi họ là người khó chịu! Chúng ta cảm thấy thương hại cho những tên tội phạm, vì chúng coi cuộc sống tội lỗi là lựa chọn tốt nhất của mình.

Khi yêu thương là vô điều kiện, sẽ không còn chấp trước, kỳ vọng, mục đích bị che dấu, hay còn nhớ người cho, cho ai cái gì. Tình yêu của chúng ta là vô điều kiện, dù chúng ta là ai và họ là ai. Tình yêu được trao đi mà không có bất kỳ điều kiện nào. Không có điều kiện kèm theo. Khi cho đi, chúng ta không kỳ vọng được đáp lại. Chúng ta từ bỏ mọi kỳ vọng dù hữu thức hay vô thức về người khác.

Tình yêu soi sáng bản chất và do đó, làm nổi bật sự đáng yêu của người khác. Đấy là vì tình yêu mở rộng trái tim. Thay cho tri giác, trái tim biết. Tâm trí suy nghĩ và tranh luận, nhưng trái tim biết. Vì vậy, ngay cả khi người ta có lỗi, chúng ta vẫn yêu thương họ. Suy nghĩ nói với chúng ta một điều gì đó, nhưng trái tim nói với chúng ta một điều khác. Tâm trí có thể chỉ trích và bất đồng, nhưng trái tim vẫn yêu thương, dù chuyện gì xảy ra thì  vẫn thế. Trái tim không đặt bất kỳ điều kiện nào cho những những thứ ở ngoài kia. Chỉ có tâm trí mới làm như thế. Tình yêu không đòi hỏi bất cứ điều kiện nào.

Chìa khóa để yêu thương trở thành vô điều kiện là sẵn sàng tha thứ. Cùng với tha thứ, các sự kiện và con người được đưa vào bối cảnh mới, đơn giản là “bị hạn chế” - chứ không phải “xấu” hay “không đáng yêu”. Với thái độ khiêm nhường, chúng ta sẵn sàng từ bỏ tri giác của mình về sự kiện trong quá khứ. Chúng ta cầu nguyện để có phép màu để nhìn thấy sự thật về tình huống đó hoặc người đó, và chúng ta từ bỏ tất cả các ý kiến của mình về vấn đề đó. Chúng ta nhìn vào những phần thưởng mà mình nhận được từ việc giữ nguyên tri giác về những việc đã xảy ra, và chúng ta buông bỏ từng phần thưởng nhỏ bé đó: niềm vui của than thân trách phận, của “việc mình là người đúng”, của việc mình “bị oan”, và của oán hận.

Cuối cùng, chúng ta từ bỏ chính ý tưởng về tha thứ. Tha thứ cho một người nào đó ngụ ý rằng chúng ta vẫn coi người đó hoặc tình huống đó là “sai” và do đó, cần được tha thứ. Buông bỏ thực sự có nghĩa là buông bỏ hoàn toàn việc nhìn nhận nó theo cách đó. Khi chúng ta hoàn toàn từ bỏ tri giác của mình, buông bỏ mọi phán xét, thì toàn bộ hoàn cảnh sẽ được biến đổi và chúng ta nhìn thấy người đó đáng yêu. Vì mọi phán xét thực chất đều là tự phán xét, cho nên trong quá trình đó chúng ta đã tự giải phóng mình.

Ở tầng yêu thương vô điều kiện, chúng ta yêu thương mọi người và mọi vật — ngay cả Adolf Hitler. Chúng ta nhìn ông ta như một người bị những năng lượng tiêu cực chi phối, chúng ta sẵn sàng tha thứ cho Hitler, ông ta không thể làm gì khác được với những gì đã xảy ra với mình. Ông ta đã bị cái ác khống chế. Thay vì căm ghét cái ác, chúng ta cảm thấy buồn và từ bi khi con người bị cái tiêu cực như thế nhấn chìm. Hitler đã làm những việc mà ông ta nghĩ mình phải làm vì danh dự. Đó là bối cảnh của ông ta lúc đó. Ông ta bị những lý tưởng và niềm tin đang thịnh hành trong thời đại của mình bắt làm tù binh. Ngay cả với Hitler, chúng ta cũng có thể thấy rằng ông ta là người tận tâm, và ông ta nghĩ rằng mình đang phục vụ đất nước bằng những việc mình làm. Trong Thế chiến II, các phi công Kamikaze đã làm những việc mà họ nghĩ rằng mình nên làm cho đất nước. Mặc dù họ ném bom và giết chúng ta, nhưng chúng ta không nhất định là phải ghét họ. Chúng ta có thể tôn trọng thái độ sẵn sàng hy sinh thân mình vì đất nước. Chúng ta có thể thấy rằng bất cứ người nào vi phạm luật Yêu thương đều thực sự là nạn nhân của hệ thống niềm tin xã hội hoặc áp lực của thời đại. 

Một thể (Oneness) 

Khi yêu thương ngày càng gia tăng, toàn bộ tồn tại sẽ có ý nghĩa khác, và chúng ta nhận thức được bản thể và cốt lõi bên trong của vạn vật, chứ không chỉ thấy hình tướng của nó. Nhờ sự thay đổi tri giác như thế, mà sự hoàn hảo của vạn vật được mặc khải. Trải nghiệm này nằm ngoài thời gian; không có quá khứ hay tương lai. Ở tầng rung động cao nhất, tình yêu không còn thấy sự tách biệt giữa cá nhân và phần còn lại của vũ trụ. Chúng ta trải nghiệm hợp nhất trọn vẹn với vạn vật. Trong trạng thái này, tính hợp nhất của vạn vật mang một cảm quan về Thực tại mãnh liệt hơn hẳn những tri kiến thông thường của tự ngã trong thế gian; và trạng thái ấy chỉ có thể được mô tả là sâu thẳm vô cùng.

Khi diễn ra những chuyển biến bên trong, đối với người quan sát bên ngoài, cách sống của chúng ta có thể thay đổi hoặc không thay đổi. Tuy nhiên, thói quen và hành vi, mặc dù dường như là giống nhau, nhưng không còn bị ép buộc hay chi phối nữa. Có thể từ bỏ, điều chỉnh hoặc thay đổi thói quen hay hành vi mà không cảm thấy khó chịu quá mức. Mặt khác, quả thực có thể có những thay đổi đột ngột trong lối sống, trong đó có những thay đổi lớn về nghề nghiệp, đấy là do thay đổi về giá trị quan ở bên trong, sở thích và tầm nhìn cũng mở rộng ra. Giờ đây, khi chúng ta được kết nối với chiều kích lớn hơn, chúng ta có thể đắm chìm trong đó thông qua chiêm nghiệm, thiền định, nghệ thuật, âm nhạc, vận động, đọc sách, viết lách, giảng dạy và tham gia vào các nhóm tâm linh với những mục tiêu tương tự.

Lúc này, buông bỏ trở thành tự động và liên tục hơn trước. Những giai đoạn tĩnh lặng và vẻ đẹp nội tâm bắt đầu xuất hiện với tần suất lớn hơn, thời gian cũng dài hơn. Chúng có thể xảy ra ở tầng rất sâu. Kỳ lạ là, chúng có thể xảy ra sau những giai đoạn hỗn loạn và dằn vặt nội tâm dữ dội. Những giai đoạn xáo trộn nội tâm mãnh liệt này xảy ra, vì chúng ta không còn khoan dung với tiêu cực nữa. Giờ đây, khi có nhiều sức mạnh tâm thức hơn, chúng ta có thể hạ xuống và giải quyết các vấn đề ở những tầng sâu nhất của tâm thức. Đó có thể là những vấn đề liên quan đến cội nguồn của bản sắc hoặc khái niệm về tự ngã.

Sự thanh thản và bình yên sâu lắng cũng có thể đột ngột xuất hiện sau những giai đoạn liên tục buông bỏ kéo dài, như trong ví dụ sau đây. Tại một thời điểm, khi đang ở trong trạng thái hỷ lạc liên tục, một sự kiện đã xảy ra khiến tâm thức nhận diện được một xung đột bắt nguồn từ tầng sâu thẳm nhất trong cách chúng ta kết nối với người khác. Thật khó để đối diện và trải nghiệm trọn vẹn nỗi đau đó, nhưng vì trạng thái hiện tại đang sở hữu nguồn năng lượng rất cao, ta có khả năng để mặc cho xung đột nội tâm ấy trỗi dậy và diễn tiến tự nhiên, nhằm giải quyết dứt điểm một lần và mãi mãi. Xung đột ấy đã diễn ra liên tục trong suốt mười ngày liền. Trong suốt thời gian đó, phương pháp được áp dụng là liên tục buông bỏ xung đột và để nó đi qua mà không cố gắng thay đổi nó dưới bất kỳ hình thức nào. Có lúc, xung đột nội tâm tưởng chừng như sẽ kéo dài bất tận; tuy nhiên, những trải nghiệm trước đó với quá trình buông bỏ đã xác nhận rằng: mọi cảm thọ, sớm hay muộn, đều sẽ cạn kiệt nếu chúng ta kiên trì buông bỏ chúng.

Việc tạm thời chuyển đến một căn nhà nhỏ giữa rừng thúc đẩy quá trình này, vì ở đấy không có bất kỳ xao nhãng nào khác. Rồi nguồn gốc của xung đột ngày càng tiến sâu hơn và những cảm thọ đau đớn hơn nữa cũng trỗi dậy mạnh mẽ hơn. Có rất nhiều sự xáo trộn nội tâm, đôi khi gần như là đau đớn và tuyệt vọng. Quyết tâm không bỏ cuộc hay để cho dòng chảy của quá trình gặp bất kỳ tắc nghẽn nào, cuối cùng, tất cả đã chạm đáy và tuyệt vọng đen tối với cường độ áp đảo ập tới. Mặc dù vậy, có hiểu biết rằng mọi thứ sẽ ổn, vì sự đồng nhất không phải là với tuyệt vọng mà với chính buông bỏ.

Cuối cùng, tất cả kháng cự tuyệt vọng đã được buông bỏ hoàn toàn và trọn vẹn. Nó biến mất ngay lập tức. Tuyệt vọng, đã từng áp đảo và gần như không thể chịu đựng được, đã biến mất ngay trong chớp mắt! Thay vào đó, là bình yên sâu sắc không thể diễn tả bằng lời. Chiều kích là vô hạn, mạnh mẽ và hoàn toàn không thể lay chuyển đến mức kỳ lạ. Tĩnh lặng nội tâm sâu sắc, và tất cả tri giác về thời gian đều dừng lại. Thay vì “thời gian”, thì chỉ còn lại chuyển động của các hiện tượng trên thế gian. Ngày hôm sau, trải nghiệm tiếp tục và trên thực tế, thậm chí còn mạnh mẽ hơn.

Rồi, do tò mò, [tôi] quay trở lại thế giới thực để xem, từ trạng thái tâm thức này, đời sống thường nhật sẽ trông như thế nào. Thậm chí trong khi đi bộ trên Đại lộ Số 5 ở thành phố New York, thì tĩnh lặng, hài hòa và bình yên sâu sắc vẫn có đó. Bình yên và tĩnh lặng lan tỏa này dường như nằm bên dưới tất cả hỗn loạn, ồn ào và bối rối trên bề mặt của thành phố. Cứ như thể sức mạnh của chiều kích tĩnh lặng đó là sức mạnh tạo điều kiện cho tất cả những thứ đó xảy ra và giữ cho tất cả gắn kết trong một thể thống nhất liên tục. Trong bản chất của tĩnh lặng đó là sức mạnh vô hạn, và rõ ràng là, chính sức mạnh này đã chống lại và cân bằng tiêu cực tập thể của thành phố này. Thế giới khách quan bên ngoài chỉ là biểu hiện từ các mô thức hút và trạng thái năng lượng hiện hữu bên trong Tâm thức mà thôi. Tương tự, rõ ràng là sức mạnh gắn kết này cũng là thứ chống lại sự tiêu cực của cá tính. Nếu không chống lại, tiêu cực đó sẽ hủy hoại con người và cả cơ thể của người đó.

Chúng ta đã nói trong các phần trước rằng những cảm xúc tiêu cực gắn liền với quá trình tích tụ năng lượng ở các trung tâm năng lượng thấp hơn của cơ thể, được gọi là “các luân xa”. Khi tâm thức của chúng ta thăng hoa, do buông bỏ những thứ tiêu cực, năng lượng này có xu hướng dâng lên các trung tâm cao hơn, do đó, ở tầng tình yêu, năng lượng đã di chuyển lên luân xa tim. Khi tình yêu trở thành vô điều kiện và luôn tràn đầy niềm vui, chiều kích cá nhân của yêu thương nhường chỗ cho yêu thương của vũ trụ. Nói chung, chúng ta nói về một người đã vươn tới tầng tình yêu rằng họ là người “có trái tim rộng lượng” hoặc “tràn đầy tình cảm”. Cụm từ này thể hiện sự chuyển hướng quan tâm và trọng tâm cuộc đời của người đó sang yêu thương. Tiêu điểm chú ý thăng lên đi kèm với sự thay đổi toàn diện của tri giác, tức là có quan điểm khác hẳn so với quan điểm của người đang chìm đắm trong những cảm xúc tiêu cực.

Ví dụ, khi một người ở trong trạng thái tâm trí thấp hơn, sẽ coi một ông lão rách rưới đứng ở góc phố như một “kẻ lang thang”. Cùng với nhận định đó là những suy nghĩ tiêu cực khác như: “Ông ta có thể nguy hiểm—hãy tránh xa ông ta”; “Ông ta đang tiêu tốn tiền thuế của chúng ta—ông ta chắc chắn đang nhận trợ cấp xã hội”; “Cảnh sát nên dọn sạch đường phố khỏi những kẻ vô lại như vậy”; “Nên đưa ông ta vào tù hoặc vào bệnh viện tâm thần.”

Ngược lại, người ở tầng yêu thương có thể nhìn nhận ông già này như một người thú vị, nét mặt thể hiện nhiều kinh nghiệm sống, tính cách và sự khôn ngoan. Ông ta có thể xuất hiện như một linh hồn được giải phóng, đã làm gần như mọi việc trên thế gian và đã tiến hóa sang trạng thái hiện hữu, vượt trên hành động và sở hữu.

Đã có một cuộc gặp gỡ với một người đàn ông như thế trên Đại lộ Số 5, khi đang ở trong trạng thái hoàn toàn tĩnh lặng nội tâm được mô tả bên trên. Khi đang đi bộ trên vỉa hè, ông lão cảm nhận được trạng thái tĩnh lặng nội tâm đó chỉ bằng một cái nhìn, và, đến lượt mình, ông trở thành hoàn toàn cởi mở. Đôi mắt nhìn sâu thẳm đến nỗi không có gì bị che giấu, và tâm hồn hoàn toàn mở ra để được thấu hiểu. Rõ ràng ông ấy là một người đã nhận ra Đại Ngã đích thực bên trong con người mình và hoàn toàn bình an. Thực tế, ông ấy là một phần không thể tách rời của nguồn năng lượng mạnh mẽ, tích cực và yêu thương đang giữ cho thành phố này vững vàng.

Bằng ánh mắt, chúng tôi chia sẻ sự hợp nhất của mình—hợp nhất phi thời gian. Dù là những người xa lạ, tâm hồn chúng tôi vẫn hòa làm một và vang vọng cùng nhau. Đại Ngã duy nhất tỏa sáng. Sự hợp nhất đó là năng lượng chống lại tất cả tiêu cực của Thành phố New York trong thời điểm đó. Trong ánh mắt cởi mở là hợp nhất của vũ trụ (được hiệu chỉnh là đúng). Có một sự hiểu biết thầm lặng rằng hợp nhất phản ánh năng lượng vô hạn đối trọng với tất cả tiêu cực của Thành phố New York vào thời điểm đó, vì sức mạnh được chia sẻ là Vô hạn. Nếu không có đối trọng như thế, thành phố sẽ tự hủy diệt. Đó là trạng thái tâm thức thầm lặng, bao trùm, và vô hạn. Đó là một khoảnh khắc sâu sắc, trong đó một trong những quy luật của tâm thức đã được kiểm chứng qua trải nghiệm: Yêu thương là Quy luật Tối thượng của Vũ trụ (tuyên bố này có điểm hiệu chỉnh 750).

 


July 6, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (12)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 11

 

CHẤP NHẬN

 

    Trong trạng thái chấp nhận, chúng ta tận hưởng trải nghiệm của sự hài hòa. Chúng ta cảm thấy như thể mọi việc đang diễn ra suôn sẻ. Chúng ta cảm thấy an toàn. Chúng ta có thể phục vụ người khác mà không cảm thấy phải hy sinh chính mình. Có cảm thọ: “Tôi ổn”, “Bạn ổn”, và “Mọi thứ đều ổn”. Đó là cảm thọ thuộc về, kết nối, trọn vẹn, yêu thương, thấu hiểu, và cảm thọ được rằng người khác hiểu mình. Đó là cảm thọ quan tâm, ấm áp và tự trọng. Nhờ sự an toàn của trạng thái này, chúng ta có thể cho phép mình được là người mềm mỏng, dịu dàng và tự nhiên. Có niềm vui, và chúng ta cảm thấy “hòa hợp” và thư giãn. Có cảm thọ rằng chỉ cần là chính mình cũng đã ổn rồi. 

Mọi thứ đều hoàn hảo như chúng vốn là.

Trong trạng thái chấp nhận, có cảm thọ rằng không cần phải thay đổi bất cứ chuyện gì. Mọi thứ đều hoàn hảo và đẹp đẽ như chúng vốn là. Thế giới là để tận hưởng. Có tâm từ bi đối với người khác và đối với tất cả mọi sinh linh. Trong trạng thái này, chúng ta tự động nuôi dưỡng và hỗ trợ người khác mà không hề có cảm thọ hy sinh. Do cảm thấy an toàn và cảm thọ sung túc ở bên trong, chúng ta trở thành hào phóng và dễ dàng ban tặng, mà không mong được đền đáp hay ghi chép lại, chẳng hạn như: “Đây là những việc tôi đang làm cho bạn.” Khi ở trong trạng thái chấp nhận, chúng ta yêu thương bạn bè thay vì chỉ trích, và chúng ta sẵn sàng yêu thương họ mặc dù họ có những hạn chế - chúng ta sẵn sàng bỏ qua những hạn chế như thế.

Từ không gian này chúng ta thấy mỗi người thực sự đang làm hết sức mình với khả năng mà họ có trong lúc này. Chúng ta thấy rằng toàn bộ sự sống đang tiến hóa hướng tới sự hoàn hảo của nó, và chúng ta đang hòa hợp với các quy luật của vũ trụ và tâm thức.

Trong trạng thái này, chúng ta thực sự bắt đầu hiểu được tình yêu. Ở tầng chấp nhận, tình yêu được trải nghiệm như một trạng thái ổn định, trạng thái vĩnh viễn của mối quan hệ. Chúng ta nhìn thấy cội nguồn của tình yêu bên trong chính mình, nó tỏa ra từ bản chất của chính chúng ta và vươn ra bên ngoài để bao trọn cả những người khác. Ngược lại, trong trạng thái ham muốn, chúng ta nói về “đang yêu”, coi nó như là cội nguồn của hạnh phúc và tình yêu được cho là nằm ngoài chính mình. Khi ở tầng năng lượng thấp hơn của ham muốn, chúng ta tìm kiếm để được yêu. Dường như đó là cái mà chúng ta “nhận được”. Tuy nhiên, ở tầng chấp nhận, tình yêu của chúng ta tỏa ra một cách tự nhiên từ bản chất của chính mình, vì nhiều rào cản đối với nhận thức về tình yêu đã được buông bỏ.

Chúng ta khám phá được rằng yêu thương là bản chất bên trong của chúng ta và khi các rào cản được loại bỏ thì nó sẽ xuất hiện một cách tự phát và tự động. Đây là điều mà các đạo sư vĩ đại muốn nói về bản chất bên trong đích thực của chúng ta, Đại Ngã đích thực của chúng ta. Mục tiêu của Đại Ngã bên trong là vượt lên trên bản ngã - tổng hợp của tất cả những cảm thọ, chương trình và suy nghĩ tiêu cực của chúng ta - để chúng ta có thể trải nghiệm bản chất bên trong của chính mình.

Có nhiều con đường dẫn chúng ta đến trạng thái chấp nhận, và đây là cánh cổng dẫn đến những trạng thái cao hơn, được mô tả là các tầng tâm thức của yêu thương và an bình. Đối với nhiều người đã từng thực hành buông bỏ trong một thời gian dài, mục tiêu tối thượng này dần dần vượt lên trên tất cả những mục tiêu khác. Sống trong trạng thái yêu thương vô điều kiện và bình an vĩnh viễn trở thành mục tiêu nội tâm, quan trọng hơn bất kỳ thành tựu nào khác trên thế gian này. 

Chấp nhận mình và người khác

Ở tầng chấp nhận, do có thay đổi lớn trong cách nhìn nhận những người khác, chúng ta nhận ra sự ngây thơ bên trong, đằng sau những cuộc đấu tranh điên cuồng, đầy sợ hãi làm cho nó bị khuất lấp đi trong chính chúng ta và trong những người hàng xóm, bạn bè và gia đình. Các đạo sư vĩ đại nói rằng những tiêu cực mà chúng ta thấy ở một người hoặc trong xã hội thực sự là do sự mù quáng, vô minh và vô thức mà ra. Sự ngây thơ bên trong này, một khi đã nhận ra ở người khác, thì cũng được nhận ra ở chính mình. Tất cả những việc chúng ta đã làm là vì lúc đó chúng ta không biết cách làm nào khác tốt hơn. Nếu chúng ta biết cách làm tốt hơn vào lúc đó, thì chúng ta đã làm theo cách đó rồi. Chúng ta nói: “Lúc đó dường như đấy là ý kiến hay”. Chúng ta thấy sự mù quáng như thế ở những người khác, và chúng ta có thể bỏ qua những khiếm khuyết trong tính cách của họ và nhìn thấy đứa trẻ ngây thơ ở bên trong con người họ.

Một khi đã thấy sự ngây thơ của mình, thì chúng ta sẽ đồng cảm với người khác và không còn cảm thọ cô đơn và căng thẳng nữa. Chúng ta có thể nhìn thấy sự ngây thơ thậm chí đằng sau những hành vi hấp tấp và dường như là khủng khiếp nhất. Chúng ta nhìn vào bên trong một người và nhận thấy một con thú đầy sợ hãi, không biết cách làm nào tốt hơn. Chúng ta nhận thức được rằng, nếu bị dồn vào chân tường, chắc chắn nó sẽ tấn công và cắn chúng ta. Nó chỉ không nhận ra rằng ý định của chúng ta là an bình, và vì vậy nó vùng vẫy một cách điên cuồng.

Ở trạng thái chấp nhận, chúng ta có thể tha thứ cho quá khứ của chính mình, cũng như của người khác, và chữa lành những oán hận trong quá khứ. Chúng ta cũng có thể nhìn thấy món quà tiềm ẩn trong những sự kiện trong quá khứ mà chúng ta từng oán hận—trong đó có ý nghĩa nghiệp quả có thể có của những sự kiện này. Từ tầng này, chúng ta có thể tạo được bối cảnh khác để nhìn nhận quá khứ và từ đó chữa lành nó. Ở bước cuối cùng của tầng chấp nhận, chúng ta cảm thấy an tâm khi nghĩ về tương lai và có thể chuyển sang các tầng của yêu thương và an bình. Lý trí và logic trở thành công cụ để hiện thực hóa tiềm năng.

Một đặc điểm khác của tầng chấp nhận là chúng ta không còn quan tâm đến phán xét mang tính đạo đức, với “tốt” và “xấu” nữa. Chỉ đơn giản là cái gì hiệu quả và cái gì không hiệu quả. Dễ dàng nhận ra cái gì mang tính phá hoại và cái gì là tối ưu, mà không cần phán xét bất cứ cái gì là “xấu”. Chúng ta loại bỏ được mặc cảm tội lỗi, đi kèm với phán xét người khác và chính mình. Khi đó, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của câu: “Đừng xét đoán, kẻo chính mình cũng bị xét đoán”.

Ở tầng chấp nhận, ta để cho kẻ gieo rắc mặc cảm tội lỗi bên trong đi qua: đấy là kẻ luôn tìm ra lỗi ngay cả với những bản năng cơ bản nhất của chúng ta. Ta có thể tận hưởng thân thể này mà không cần khinh ghét nó theo lối đạo đức giả hay tự thỏa mãn mang tính cưỡng bách. Ta chấp nhận rằng người khác có hiểu biết về cuộc đời và quan điểm đạo đức theo cách riêng của họ, có lý đối với họ, ngay cả khi niềm tin và hành vi của họ khác hẳn chúng ta. Khi nhìn thấy sự ngây thơ trong mỗi người, ta có thể thực sự “yêu thương người lân cận như chính mình”. Theo đó, việc buông bỏ đã cho phép ta chạm tới một mục tiêu cao cả mà chẳng cần đến một nỗ lực hữu thức nào.

Tầng chấp nhận có đặc điểm là tinh thần vị tha và phụng sự. Đấy là do đã buông bỏ những cảm xúc tiêu cực tạo thành tự ngã nhỏ bé, không còn đồng nhất mình với tự ngã nữa. Thay vào đó, là sự hài hòa và bình an nội tâm được trải nghiệm như là bản chất của Đại Ngã cao cả hơn của chúng ta. Vì những chương trình tiêu cực đã bị loại bỏ, cho nên sáng tạo, cảm hứng và trực giác sẽ gia tăng.

Chúng ta cảm thấy chắc chắn là nhu cầu cá nhân của mình sẽ được đáp ứng; do đó, có sự thay đổi trong quan hệ giữa người với người: tập trung vào phúc lợi và hạnh phúc của người khác. Nó diễn ra thuận lợi bởi thực tế là, ở tầng này, chúng ta không còn cảm thấy thiếu thốn, cho không nên cần phải phụ thuộc vào người khác, chúng ta không cảm thấy mình cần phải “nhận” cái gì từ người khác nữa. Trong quan hệ của chấp nhận đầy yêu thương, chúng ta không còn coi trọng và bỏ qua những khiếm khuyết nhỏ nhặt của người khác.

Ở tầng chấp nhận, lo lắng về “làm” giảm đi, chúng ta ngày càng tập trung vào phẩm chất của chính hiện hữu, và quá trình hoàn thiện khả năng của chúng ta trong việc quan tâm và yêu thương những người khác. Mặc dù những cảm thọ tiêu cực vẫn có thể xuất hiện, nhưng ngày càng ít đi và xử lý cũng dễ dàng hơn. Nhìn chung, mọi việc lúc này trở thành dễ dàng, và hầu như không cần để ý tới các hoạt động hàng ngày nữa, vì chúng diễn ra một cách khá thuận lợi. 

Trách nhiệm cá nhân 

Dấu hiệu đặc trưng của trạng thái này là chịu trách nhiệm về tâm thức của chính mình. Quan tâm đến thiền định và các phương pháp chiêm nghiệm nội tâm khác nhau diễn ra thường xuyên hơn. Các vấn đề tâm linh và đạo đức trở thành quan trọng. Ví dụ, chúng ta có thể tham dự các khóa tu, đấy là nói nếu chúng ta là người theo tôn giáo, hoặc chúng ta có thể tham gia vào các hoạt động tâm linh hay hoạt động nhân đạo nếu chúng ta hướng tới những lĩnh vực đó.

Thế giới được coi là hài hòa, và bất kỳ thay đổi nào ở bên ngoài đều được nhận ra là sự phản chiếu ra thế giới những xung đột nội tâm của chính chúng ta. Ở tầng này, chúng ta nhận thức được rằng tất cả những cảm thọ tiêu cực đều là vấn đề của chính mình, chúng ta không còn tìm kiếm giải pháp bên ngoài mình nữa.

Người ở tầng này có thái độ nghiêm túc đối với quá trình phát triển tâm thức và nhận thức về chính mình, và tập trung vào việc trau dồi phẩm chất của chính tâm thức. Ở tầng này, chúng ta có thể bắt đầu quan tâm đến triết học, nghiên cứu khoa học và các tác phẩm kinh điển về tâm linh, tức là những tác phẩm khám phá tiềm năng cao nhất của tâm trí và linh hồn. Con người mà chúng ta đang trở thành, chứ không phải của cải chúng ta có hoặc việc chúng ta làm, ngày càng trở thành quan trong hơn. Ở tầng này, chúng ta chấp nhận thách thức trong việc hoàn thành tiềm năng nội tại lớn nhất của mình và nuôi dưỡng tiềm năng và ước mơ của những người khác.

Ở tầng này, nếu kiểm tra cơ bắp, chúng ta sẽ có phản ứng mạnh; chúng ta tương đối miễn nhiễm với những ảnh hưởng tiêu cực, chẳng hạn như ánh sáng huỳnh quang, vải tổng hợp hoặc đường hoá học. Chúng ta cam kết mạnh mẽ trong việc giữ gìn sức khỏe, và việc hoàn thiện chính mình trong mọi lĩnh vực. Các vấn đề sức khỏe thường được coi là vấn đề trong lĩnh vực tâm lý, cảm xúc hoặc tâm trí, và chúng ta tìm kiếm các nguồn lực và tìm được, giúp giải quyết các vấn đề ở tất cả các lĩnh vực này. Giờ đây, chúng ta tìm đươc sức mạnh tự chữa lành.

Ở tầng chấp nhận, chúng ta được tự do sống sống trọn vẹn trong hiện tại. Khi chúng ta chấp nhận bản chất thực sự của chính mình và quy luật của vũ trụ như được phản ánh trong thế giới của chúng ta, thì sẽ không còn hối tiếc về quá khứ, cũng không còn sợ hãi về tương lai nữa. Khi quá khứ đã được chữa lành thì cũng không còn sợ hãi về tương lai nữa. Đấy là do trong trạng thái tâm thức hướng về bản ngã, bản ngã có xu hướng phóng chiếu quá khứ lên tương lai, và nếu quá khứ được coi là tiêu cực thì nó sẽ trở thành đáng sợ khi được phóng chiếu lên tương lai mà người tưởng tượng ra. Buông bỏ những năng lượng tiêu cực như mặc cảm tội lỗi, sợ hãi, tức giận và kiêu ngạo là giảm bớt gánh nặng của quá khứ và xua tan những đám mây u ám của tương lai. Chúng ta đứng trước ngày hôm nay với thái độ lạc quan và biết ơn vì đang sống. Chúng ta thấy rằng quá khứ đã đi qua, ngày mai còn chưa tới, chúng ta chỉ có ngày hôm nay mà thôi.

Tóm lại, tầng tâm thức chấp nhận là tầng mà tất cả chúng ta đều khao khát muốn vươn lên, vì nó tạo điều kiện để chúng ta tìm thấy tự do khỏi hầu hết các vấn đề của cuộc đời và trải nghiệm viên mãn và hạnh phúc.

 

 


July 4, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (11)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 10 

CAN ĐẢM

.

     Dấu hiệu đặc trưng của can đảm là kiến ​​thức và cảm thấy: “Tôi có thể”. Đó là trạng thái tích cực, chúng ta cảm thấy tự tin, khéo léo, đủ năng lực, có khả năng, tràn đầy sức sống, yêu thương và cho đi, cùng với niềm vui sống. Chúng ta có khả năng hài hước, năng động, tự tin và minh bạch. Trong trạng thái này, chúng ta cảm thấy tập trung, cân bằng, linh hoạt, hạnh phúc, độc lập và tự túc. Chúng ta có thể sáng tạo, cởi mở và đầy trí tuệ. Can đảm có nhiều năng lượng, hành động, buông bỏ, khả năng “hiện diện”, tự phát, kiên cường, tháo vát và vui vẻ. Trong trạng thái này, chúng ta có thể là người rất hiệu quả trên thế gian này.

Can đảm để buông bỏ

Tầng can đảm rất hữu ích trong cơ chế buông bỏ. Khi can đảm, chúng ta biết: “Tôi có thể nhìn vào cảm thọ của mình”; “Tôi không cần phải sợ cảm thọ của mình nữa”; “Tôi có thể xử lý cảm thọ của mình”; “Tôi có thể chịu trách nhiệm về cảm thọ của mình”; “Tôi có thể học cách chấp nhận và được giải thoát khỏi cảm thọ của mình”; “Tôi sẵn sàng chấp nhận rủi ro, buông bỏ những quan điểm cũ và khám phá những quan điểm mới”; “Tôi sẵn sàng trở thành người vui vẻ và chia sẻ trải nghiệm của mình với người khác”; “Tôi cảm thấy mình sẵn sàng và có khả năng.”

Thường thì rất dễ dàng chuyển từ bất kỳ cảm thọ tiêu cực nào lên tầng can đảm bằng cách khẳng định thái độ can đảm của chúng ta khi nhìn vào và xử lý cảm thọ của mình. Chỉ riêng thái độ sẵn sàng nhìn vào và bắt đầu xử lý cảm thọ đã làm cho lòng tự trọng của chúng ta tăng lên rồi. Ví dụ, nếu chúng ta sợ và không muốn nhìn vào nó, thì chúng ta sẽ cảm thấy mình nhỏ bé và lòng tự trọng cũng giảm đi. Nếu chúng ta sẵn sàng nhìn vào sợ hãi, xem xét nó, thừa nhận sự hiện diện của nó, thấy rằng nó đã kìm hãm cuộc đời của chúng ta đến mức nào và bắt đầu buông bỏ nó, thì lòng tự trọng của chúng ta sẽ tăng lên, dù sợ hãi có biến mất hay không.

Tất cả chúng ta đều biết rằng cần có can đảm để đối mặt với sợ hãi. Chúng ta ca ngợi những người dám đối mặt với sợ hãi và cố gắng làm điều gì đó để vượt qua. Như thế, can đảm là một trong những đặc điểm của cao thượng và làm cho con người trở thành thực sự vĩ đại. Mặc cho tất cả những lập trình tiêu cực và mặc cho tất cả sợ hãi của họ, những người can đảm vẫn tiến về phía trước, dù không có gì đảm bảo và thậm chí không biết rằng mọi thứ sẽ tốt hơn. Vì vậy, can đảm làm cho lòng tự trọng của chúng ta tăng lên và làm cho những người khác tôn trọng chúng ta. Chúng ta không còn cần phải cảm thấy xấu hổ nữa.

Xin xem xét ví dụ về người đàn ông bị chứng sợ độ cao. Anh ta đã nỗ lực để thoát khỏi sợ hãi trong vài năm và tình hình đã tốt hơn nhiều, nhưng vẫn còn rất nhiều sợ hãi. Nó thể hiện rõ khi anh ta đến Grand Canyon cùng với một người bạn. Lúc đầu, anh ta đứng cách mép vực khoảng 1,8 mét. Những năm trước, anh ấy sẽ không dám đến cách mép vực một dãy nhà. Lúc này, anh ấy đứng ở đó, do dự. Người bạn nắm lấy tay anh ta và nói, “Hãy đến gần mép vực với tôi.” Và anh ta đã làm như thế. Anh ta tiếp tục buông bỏ sợ hãi khi bước về phía trước và nhận thấy rằng mình thực sự có thể đứng ngay cạnh mép vực, mặc dù phải thừa nhận rằng, vẫn cảm thấy khá run. Khi họ đi xa khỏi mép vực, người bạn nhìn anh ta với vẻ tán thưởng và nói: “Ít nhất thì cậu cũng đã làm được! Tớ biết cần bao nhiêu can đảm.” Mặc dù anh ta chưa hoàn toàn vượt qua được sợ hãi, nhưng bằng cách vượt qua rào cản nội tâm, anh ta đã giành được lòng tự trọng của chính mình và thái độ tôn trọng của người khác.

Khi có những trải nghiệm đột phá như thế, chúng ta bắt đầu nhìn nhận sợ hãi của mình một cách khác đi và chúng ta không còn xấu hổ về nó nữa. Chúng ta không còn cho phép nó làm mất giá trị thực sự của mình. Nó làm tăng sức mạnh bên trong và thái độ tự chấp nhận của chúng ta. Cùng với thời gian, những sợ hãi tiềm ẩn, cần can đảm mới vượt qua được sẽ giảm dần đến mức chúng ta tiến lên tầng chấp nhận. 

Tự cường

Ở tầng can đảm, trọng tâm là hành động. Chúng ta đã biết rằng mình có khả năng tự đáp ứng nhu cầu của chính mình và của người khác, và chúng ta biết rằng, nếu sẵn sàng nỗ lực, chúng ta có thể đạt được những gì mình muốn. Vì vậy, những người ở tầng can đảm là những người hành động. Vì chúng ta chỉ có thể cho đi những gì mình có, những người ở tầng can đảm có khả năng hỗ trợ và khuyến khích người khác. Đấy là do họ có khả năng cho đi cũng như nhận lại, và có sự cân bằng giữa cho và nhận, nó diễn ra một cách tự nhiên.

Các tầng tâm thức thấp hơn chủ yếu quan tâm đến lợi ích. Giờ đây, ở tầng can đảm, với sức mạnh và năng lượng lớn hơn. Chúng ta có khả năng cho người khác, bởi vì người khác không còn được nhìn nhận chủ yếu như một phương tiện giúp đỡ, sinh tồn hoặc hỗ trợ nữa. Khi có can đảm, chúng ta cảm nhận được sức mạnh nội tại, và giá trị của chính mình. Chúng ta biết rằng mình có khả năng tạo ra sự khác biệt trên thế giới này, chứ không chỉ đơn thuần là thu lợi cho mình. Nhờ thái độ tự tin bên trong, chúng ta ít lo lắng về an toàn. Trọng tâm không còn là của cải mà người ta có, mà là những việc họ làm và con người mà họ đã trở thành.

Với lòng can đảm, chúng ta sẵn sàng chấp nhận rủi ro và buông bỏ những biện pháp an toàn mà trước đây chúng ta từng sử dụng. Chúng ta sẵn sàng trưởng thành và nhận được lợi ích từ những trải nghiệm mới. Trong đó có khả năng thừa nhận sai lầm mà không bị dằn vặt bởi mặc cảm tội lỗi và tự trách. Nhận thức về giá trị của chính chúng ta không bị suy giảm khi nhìn vào những lĩnh vực cần cải thiện. Chúng ta có thể thừa nhận vấn đề mà không cảm thấy mình nhỏ lại. Kết quả là, năng lượng, thời gian và nỗ lực được dành cho việc tự hoàn thiện.

Ở tầng này, những tuyên bố về ý định và mục đích trở nên mạnh mẽ hơn và kết quả mà mình mong muốn có xu hướng thành hiện thực. Chúng ta năng động và sáng tạo hơn, vì năng lượng của chúng ta không bị cạn kiệt vì những lo lắng thường trực về sự sống còn về mặt cảm xúc hoặc thể chất. Nhờ linh hoạt hơn, chúng ta sẵn sàng xem xét các vấn đề với tầm nhìn hướng tới việc thay đổi ý nghĩa và bối cảnh tổng thể. Sẵn sàng chấp nhận rủi ro để chuyển đổi các hệ hình tư duy.

Hệ hình tư duy là toàn bộ thế giới quan, và nó chỉ bị giới hạn bởi những gì chúng ta cho là khả thi. Khi những cách nhìn cũ bị thách thức, thế giới quan của chúng ta bắt đầu được mở rộng ra. Những thứ trước đây được coi là bất khả thi trở thành khả thi và cuối cùng được trải nghiệm như là một chiều kích mới của thực tại. Chúng ta có khả năng nhìn vào bên trong chính mình để khảo sát hệ thống niềm tin, đặt câu hỏi và tìm kiếm những giải pháp mới. Ở tầng can đảm, chúng ta sẵn sàng tham gia các khóa học tự hoàn thiện, học các kỹ thuật tâm thức và chấp nhận rủi ro trên hành trình bên trong để tìm kiếm Đại Ngã đích thực của chính mình, tìm kiếm thực tại bên trong. Chúng ta sẵn sàng trải nghiệm sự không chắc chắn, những giai đoạn bối rối và khó chịu tạm thời, vì, bên dưới sự khó chịu tạm thời đó, chúng ta có mục tiêu siêu việt trong dài hạn. Tâm trí hoạt động ở tầng can đảm đưa ra những tuyên bố như: “Tôi có thể xử lý được”; “Chúng ta sẽ làm được”; “Việc này sẽ được hoàn thành”; “Chúng ta có thể vượt qua được”; “Mọi chuyện rồi sẽ qua.”

Kiểm tra sức mạnh cơ bắp của một người bằng phương pháp cơ thể động học khi ở trạng thái can đảm, ở tầng “Tôi có thể xử lý được”, sẽ thấy kết quả tích cực và đủ sức mạnh để đối mặt với thử thách. Mặc dù vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ hoặc năng lượng tiêu cực—chẳng hạn như những suy nghĩ hoặc năng lượng phát ra từ đèn huỳnh quang hoặc đường hoá học—trường năng lượng sinh học rạng rỡ hơn so với các trạng thái tiêu cực thấp hơn. Vì can đảm là trường năng lượng mạnh mẽ và kiên cường hơn, cho nên các loại bệnh về thể chất ít có khả năng trở thành khía cạnh nổi bật của cuộc sống. Có thể vẫn còn những tàn dư mãn tính của những căn bệnh bắt nguồn từ những tầng tâm thức thấp hơn, nhưng nhìn chung, chúng không còn ở trạng thái ổn định. Ở tầng can đảm, luôn có cảm giác tổng quát về sức mạnh và hạnh phúc. 

Nhận thức về người khác

Lối sống ở tầng này thể hiện sự cân bằng giữa công việc, niềm vui và tình yêu. Không cần phải tham vọng quá mức hoặc “nghiện công việc”, mặc dù những người ở tầng can đảm có khả năng tạo ra nguồn năng lượng đáng kể ở đầu ra nếu tình huống đòi hỏi. Vì đã buông bỏ được nhiều tiêu cực, nên có mong muốn và khả năng yêu thương và xây dựng các quan hệ yêu thương. Giờ đây, những quan hệ này có tầm quan trọng ngang với nỗ lực sinh tồn. Nghề nghiệp được đảm bảo, và trong lĩnh vực công việc người đó còn quan tâm đến phúc lợi của người khác. Những người ở tầng này thường nói rằng họ muốn những công việc mang lại lợi ích cho thế gian. Họ muốn cảm thấy công việc của mình có ý nghĩa chứ không chỉ đơn thuần là tiền lương. Phát triển cá nhân được coi là quan trọng, và ở tầng này người ta có nhận thức rằng cuộc sống của chúng ta đang tạo được ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới những người xung quanh.

Ở các tầng tâm thức thấp hơn – với đặc điểm là vị kỷ - người ta quan tâm nhiều tới lợi ích cá nhân đến mức dành rất ít năng lượng hoặc suy nghĩ về ảnh hưởng của mình tới những người khác. Ở tầng can đảm, chúng ta không còn chỉ đồng nhất với tự ngã nhỏ bé nữa. Thế giới không còn được nhìn nhận như là những ông bố bà mẹ xấu xa, chỉ tìm cách tước đoạt hoặc trừng phạt nữa. Thay vào đó, thế giới được nhìn nhận như là thách thức và mang tới những cơ hội để trưởng thành, phát triển và trải nghiệm mới. Do đó, tầng này có đặc điểm là lạc quan và cảm giác rằng với những sự kiện, giáo dục và định hướng đúng đắn, sớm muộn gì hầu hết các vấn đề đều có thể được giải quyết một cách thỏa đáng.

Ở các tầng thấp hơn, tâm thức của chúng ta chỉ hướng vào những quan tâm mang tính cá nhân, nhưng ở tầng này, các vấn đề xã hội trở thành quan trọng, và năng lượng được dành để giúp vượt qua các vấn đề xã hội và giúp đỡ những người kém may mắn hơn. Vì vậy, hào phóng trở thành khả thi, không chỉ về mặt tài chính, mà còn cả về thái độ. Niềm vui đến từ việc bảo vệ các lý tưởng và từ việc hỗ trợ những nỗ lực của người khác. Năng lượng này tạo ra những công việc, doanh nghiệp, ngành công nghiệp mới, và các giải pháp chính trị và khoa học. Giáo dục, mặc dù không phải lúc nào cũng theo nghĩa học thuật, trở thành quan trọng.

Ở tầng can đảm, chúng ta thực sự bắt đầu trở nên có ý thức. Chúng ta chợt nhận ra rằng mình có tự do và khả năng lựa chọn. Chúng ta không còn là nạn nhân nữa, và tự do về mặt tâm lý, cảm xúc và tâm linh là khả thi. Do đó, thái độ cứng nhắc giảm đi đáng kể, và nhờ linh hoạt, chúng ta có khả năng quan tâm và tình yêu chân thành dành cho người khác, những người ở tầng này trở thành những bậc phụ huynh, ông chủ, nhân viên và công dân tốt.

Họ có khả năng đặt mình vào vị trí của người khác và quan tâm đến cảm thọ của người khác, cũng như phúc lợi của họ. Mặc dù những cảm thọ tiêu cực vẫn còn, nhưng chúng không chi phối hay quyết định lối sống của người đó nữa; nghĩa là, chúng ta vẫn quan tâm tới người khác ngay cả khi đang sợ hãi. Những người ở tầng này là xương sống của đất nước. Họ là những người mà chúng ta sẽ tìm tới khi cần, vì lợi ích chung. Họ là những người đáng tin và có thể dựa vào, vì họ sẵn sàng nhận trách nhiệm. Những người ở tầng này có lương tâm xã hội và lòng nhân đạo. Mặc cảm tội lỗi nhường chỗ cho phúc lợi của người khác, và đấy là cơ sở của các quyết định mang tính đạo đức

Chính tầng này sinh những câu như: “Thành công tạo ra thành công.” Nhờ vận hành hiệu quả, mà sẽ có phản hồi tích cực, sau đó là gia tăng tự tin và tạo điều kiện để tự khám phá cũng như khám phá thế giới xung quanh. Mặc dù vẫn cần nỗ lực thì mới đạt được mục tiêu, nhưng sẽ nhẹ nhàng hơn so với các tầng thấp hơn. Người ta sẽ cảm thấy hài lòng và mãn nguyện hơn vì nhận được phần thưởng lớn hơn với ít nỗ lực hơn so với vượt qua sợ hãi. Có khả năng lớn hơn hẳn không chỉ trong việc tìm kiếm giúp đỡ, mà còn sử dụng và hưởng lợi.

Tiền được sử dụng theo tinh thần xây dựng hơn hẳn, và quan tâm đến việc chi tiêu sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của người khác như thế nào. Tiền không chỉ được chi dùng cho việc thỏa mãn chính mình, khoa trương chính mình hay củng cố tự ngã; thay vào đó, nó được coi như một công cụ để thành tựu.

Đây là tầng mà nhận thức tâm linh đích thực trở thành khả thi. Do đã thoát khỏi thái độ vị kỷ và thôi đồng nhất với tự ngã nhỏ bé, người ta trải nghiệm được năng lượng cao hơn và hy vọng nhận thức sẽ được nâng lên. Ở các tầng thấp hơn, Thiên Chúa được nhìn qua lăng kính cảm xúc của tầng đó. Vì vậy, khi rơi vào trạng thái thờ ơ, nếu nghĩ về quan hệ với Thiên Chúa, thì người ta cho là vô vọng. Ở tầng u sầu, người ta cảm thấy tuyệt vọng vì hoàn toàn không được Thiên Chúa giúp đỡ. Khi bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi, người ta cảm thấy không xứng đáng với bất kỳ quan hệ nào với Thiên Chúa, và họ nghĩ là sẽ bị trừng phạt chứ không được Chúa yêu thương. Ở tầng sợ hãi, sợ hãi có thể lớn đến nỗi thậm chí người ta không dám nghĩ tới Thiên Chúa, vì vậy, chủ đề này bị xóa hẳn khỏi tâm thức, và Thiên Chúa được coi là đáng sợ, là người thích trừng phạt, báo thù, ghen tị và tức giận. Ở tầng tức giận, Thiên Chúa được coi là người sẵn sàng tước đoạt, tùy tiện, thất thường và thất bại. Ở tầng kiêu hãnh, xuất hiện thái độ tự cao tự đại về lập trường tôn giáo hoặc tâm linh của mình, với đặc điểm là cứng nhắc, thiếu linh hoạt, thiếu khoan dung, khuynh hướng độc quyền, mâu thuẫn, bè phái, tranh luận và xung đột tôn giáo.

Ở tầng can đảm, chúng ta sẵn sàng chịu trách nhiệm về lập trường tôn giáo hay tâm linh của mình. Nhận thức gia tăng và kết qua thường là chúng ta trở thành người tìm kiếm tâm linh, và thực sự tỉnh thức để theo đuổi sự thật theo nghĩa tôn giáo hoặc tâm linh. Có thể dẫn đến tái khẳng định lập trường trước đây của chúng ta, nhưng lúc này là từ một quan điểm hoàn toàn mới—mình tự lựa chọn. Nó có thể đưa tới những thay đổi, chậm rãi và từng bước một, hoặc đột ngột. Ở tầng này, tâm thức đã thức tỉnh và nhận ra rằng, lúc này niềm tin và quan điểm của chúng ta là kết quả của lựa chọn, chứ không chỉ là kết quả của lập trình mù quáng như đã từng diễn ra. Chúng ta bắt đầu tìm kiếm ý nghĩa, và nó có thể xảy ra ở tầng đạo đức và nhân văn hơn là trong lĩnh vực cụ thể, được chỉ định như tôn giáo chính thức vẫn làm. Chúng ta tìm hiểu chức năng xã hội và vai trò của mình trên thế gian, và chúng ta đặt câu hỏi về giá trị của cuộc đời mình, không chỉ đối với chính mình mà còn đối với tha nhân.

Carl Jung nói rằng một nhân cách lành mạnh là cân bằng giữa công việc, vui chơi, tình yêu và một khía cạnh của nhân cách gọi là tâm linh, mà chúng ta cũng có thể định nghĩa như là tìm kiếm ý nghĩa và giá trị. Những tìm tòi này tạo ra những xáo trộn nội tâm nhưng cũng có những khoảnh khắc chấp nhận và bình yên. Những khoảnh khắc hiểu biết bằng trực giác thôi thúc chúng ta tiếp tục công cuộc tìm kiếm, để khám phá xem liệu có điều gì vượt ra ngoài thế giới vật chất và hữu hình cùng những hiện tượng luôn luôn thay đổi của nó hay không.

Đây là tầng tâm thức tốt để nhìn vào và buông bỏ những cảm thọ tiêu cực. Ở tầng này, chúng ta có năng lượng, có khả năng, tự tin và sẵn sàng tiếp thu kiến ​​thức và vượt qua những giai đoạn học tập cần thiết. Ở tầng này, có mong muốn tự hoàn thiện và nhận ra rằng những trạng thái tâm trí tốt hơn là khả thi. Ở tầng can đảm người ta biết rằng không cần thiết phải chịu đựng đau đớn và khổ sở do những cảm thọ tiêu cực gây ra hoặc ảnh hưởng của chúng đối với những niềm vui trong cuộc đời.

Ở tầng can đảm, chúng ta không còn sẵn sàng trả giá cho tiêu cực. Chúng ta quan tâm đến ảnh hưởng của những cảm thọ tiêu cực của mình đối với hạnh phúc của những người thân cận. Hầu hết những người đã học được kỹ thuật buông bỏ sẽ tiếp tục sử dụng nó cho đến khi họ vươn tới được tầng tâm thức này. Ở tầng này, những vấn đề lớn trong cuộc đời họ giờ đây đã nằm trong tầm kiểm soát. Họ hài lòng và thành công trong nghề nghiệp. Nhu cầu vật chất được đáp ứng. Những vấn đề lớn trong các mối quan hệ đã được giải quyết. Họ không còn trải nghiệm đau đớn và khổ sở trong tâm trí hữu thức nữa, thay vào đó họ hài lòng khi thấy mình đã trưởng thành và phát triển trong những lĩnh vực nhất định.

Khi cảm thấy thoải mái, ta thường có xu hướng ngừng sử dụng kỹ thuật này và chỉ tiếp tục sử dụng trong những tình huống khẩn cấp, hoặc khi những cảm thọ tiêu cực lại trở thành đau đớn và cần được chúng ta chú ý. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều cần phải đạt được. Vì luôn luôn có một cảm thọ nào đó có thể được buông bỏ, việc tiếp tục quá trình này sẽ dẫn đến những lợi ích ngày càng lớn hơn.

Buông bỏ liên tục sẽ mang lại những thay đổi tinh tế, liên tục, đặc biệt là ở những tầng nhận thức tinh tế trong khả năng yêu thương của chúng ta. Trước đây, chúng ta đã ví sự lan tỏa của tình yêu - bắt nguồn từ khía cạnh cao hơn của chúng ta – với năng lượng của ánh mặt trời. Chúng ta nhận thấy rằng, khi những đám mây đen của tiêu cực được loại bỏ, năng lượng này và khả năng chấp nhận nó, cũng như việc nó lan tỏa ra bên ngoài, sẽ tăng lên từng bước một.

Ở tầng can đảm, khả năng yêu thương của chúng ta mạnh mẽ hơn hẳn, và nó có sức mạnh đích thực để hỗ trợ và khuyến khích người khác, tiếp thêm sức mạnh cho những điều tích cực và mang tính xây dựng bên trong chính con người họ. Việc hỗ trợ quá trình phát triển của họ mang lại cho chúng ta niềm vui khi chứng kiến ​​họ ngày càng trưởng thành và hạnh phúc hơn. Khả năng này trong chúng ta có thể ngày càng mạnh mẽ hơn. Nó có thể trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, trở thành tự thưởng cũng như mang lại nhiều lợi ích hơn cho người khác.

Chúng ta có thể vận dụng can đảm để củng cố khát vọng phát triển vượt ra ngoài trạng thái hiện tại, bởi ở tầng này, chúng ta đã bắt đầu có những linh cảm rằng bên trong mình tồn tại một điều gì đó mà bấy lâu nay ta chưa từng ngờ tới. Nó được thể hiện qua những khoảnh khắc tĩnh lặng và bình yên tuyệt đối và bất ngờ, trong đó chúng ta có được sự minh mẫn, thấu hiểu và nhạy cảm cao độ với cái đẹp.

Chúng ta khám phá ra rằng thông qua âm nhạc—chứ không phải vì âm nhạc—mà chúng ta trải nghiệm được tâm trí mình đột nhiên tĩnh lặng, và trong khoảnh khắc tĩnh lặng đó, chúng ta được phép trải nghiệm một chiều kích lớn hơn. Có thể có những giây phút thoáng qua mà chúng ta cảm thấy sự đồng nhất và hoàn toàn hòa làm một với người khác, như thể không hề có sự ngăn cách.

Đây là những khoảnh khắc đột phá để trải nghiệm Đại ngã nội tâm thực sự của chúng ta. Ký ức về những khoảnh khắc đó thì không thể nào quên được. Khi chúng bắt đầu xảy ra, chúng ta không biết ý nghĩa của chúng là gì. Chúng ta nghĩ đấy là “ngẫu nhiên.” “Chỉ là gặp may.” Chúng ta gán cảm thọ đó cho những sự kiện bên ngoài, chẳng hạn như vẻ đẹp lúc chiều tà, một đoạn nhạc giao hưởng, hay một cử chỉ yêu thương. Nhưng khi tìm hiểu sâu hơn, chúng ta thấy rằng đó chỉ là những hoàn cảnh cho phép điều gì đó khác xảy ra. Đấy không phải là nguyên nhân. Những hoàn cảnh đó cho phép tâm trí đạt đến một trạng thái tĩnh lặng nhất định, và nhờ sự tĩnh lặng đó, chúng ta được phép trải nghiệm một điều gì đó khác chứ không chỉ sự ồn ào của chính tâm trí của mình với sự vận động không ngừng nghỉ của các giác quan, cảm thọ, suy nghĩ, tình cảm và ký ức.

Trong những khoảnh khắc này, khi thời gian dường như ngừng lại, chúng ta được thoáng thấy những điều khả dĩ. Những khoảnh khắc này quý giá đến mức được trân trọng suốt đời. Khi chúng xảy ra, ta trải nghiệm được điều gì đó rất ấn tượng. Phải chăng, vượt lên trên sự hỗn loạn của thế gian và tâm trí của chính chúng ta, có một sự im lặng? Một cõi bình yên luôn chờ đợi?

 


July 3, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (10)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 9 

KIÊU HÃNH

 

    Trong ngôn ngữ thông thường, kiêu hãnh (pride[i]) thường được coi là “tốt”. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy, tương tự như tất cả những cảm thọ tiêu cực khác, mà chúng ta đã thảo luận, kiêu hãnh thường thiếu vắng tình yêu. Do đó, về cơ bản, nó có tính phá hoại. Kiêu hãnh có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức như đánh giá quá cao, phủ nhận, đóng vai tử đạo, cố chấp, kiêu ngạo, khoe khoang, tự phụ, hơn người, ngạo mạn, tự cho mình là hơn người, phù phiếm, ích kỷ, tự mãn, xa cách, kiêu căng, định kiến, hẹp hòi, đạo đức giả, khinh miệt, ích kỷ, không tha thứ, nuông chiều, cứng nhắc, bề trên, phán xét, và ở những hình thái nhẹ nhàng hơn, là định kiến, dán nhãn.

Kiêu căng về trí tuệ dẫn đến vô minh, và kiêu căng tâm linh là rào cản chính đối với quá trình phát triển và trưởng thành về mặt tâm linh. Kiêu căng tôn giáo - tự đồng nhất mình với người chính trực và cho rằng mình “có một con đường chân chính duy nhất”, là nền tảng của tất cả các cuộc chiến tranh tôn giáo, ganh đua và những sự kiện bi thảm, ví dụ như Tòa án dị giáo. Sa ngã lớn nhất chính là kiêu căng tôn giáo, đấy là khi một người tự cho mình cái quyền được sát hại đồng loại chỉ vì họ không chia sẻ đức tin cụ thể của mình.

Trong mỗi chúng ta, cảm giác kiêu căng: “Tôi biết câu trả lời” cản trở quá trình trưởng thành và phát triển của chúng ta. Thú vị là cái phần ích kỷ trong tâm trí sẵn sàng hy sinh toàn bộ phần còn lại của người đó vì lợi ích của chính nó. Thay vì thừa nhận mình sai, người ta sẽ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng và bất kỳ khía cạnh nào của cuộc sống để dâng lên bàn thờ kiêu hãnh (ví dụ như chiến tranh tôn giáo và các cuộc thập tự chinh). Thái độ kiêu hãnh của đàn ông về những chương trình mà xã hội chúng ta coi là nam tính cản trở quá trình phát triển nội tâm về mặt cảm xúc và tâm lý của hầu hết đàn ông trong xã hội chúng ta. Một số phụ nữ hiện đang gia nhập hàng ngũ của chủ nghĩa ưu thế giới tính, điều này chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề và gia tăng cuộc chiến giữa các giới. 

Kiêu căng dễ bị tổn thương

Người kiêu căng luôn luôn phải phòng thủ, vì tự cao tự đại và phủ nhận rất dễ bị tổn thương. Ngược lại, người khiêm nhường không thể bị làm nhục vì họ đã miễn nhiễm với tổn thương, họ đã buông bỏ được thói kiêu căng. Thay vào đó, họ cảm thấy an toàn và tự trọng ở bên trong. Nhiều người tìm cách thay thế kiêu hãnh bằng tự trọng đích thực; tuy nhiên, tự trọng đích thực chỉ thực sự nảy sinh khi từ bỏ được kiêu ngạo. Những gì làm bản ngã phồng lên không mang lại sức mạnh nội tại. Ngược lại, chúng chỉ làm gia tăng tính dễ bị tổn thương và mức độ sợ hãi tổng quát trong ta. Khi chúng ta có thái độ kiêu căng, năng lượng của chúng ta bị tiêu hao vì phải liên tục lo lắng về việc bảo vệ lối sống, nghề nghiệp, khu phố, quần áo, năm sản xuất và nhãn hiệu xe hơi, tổ tiên, đất nước, và hệ thống niềm tin chính trị và tôn giáo của mình. Lo lắng không ngớt về diện mạo bên ngoài và cách người khác sẽ nghĩ về mình, vì vậy luôn luôn dễ bị tổn thương trước ý kiến ​​của người khác.

Khi buông bỏ được kiêu hãnh và tự cao tự đại, thì cảm giác an toàn nội tâm sẽ thay thế cho chúng. Khi chúng ta không còn cảm thấy cần phải bảo vệ hình ảnh của mình, những lời chỉ trích và công kích từ người khác sẽ giảm dần và cuối cùng chấm dứt hẳn. Khi chúng ta buông bỏ nhu cầu được công nhận hoặc chứng minh mình là người đúng, thì những thách thức chống lại chúng ta cũng sẽ không còn.

Nó đưa chúng ta đến một trong những quy luật cơ bản của tâm thức: Phòng thủ chiêu mời tấn công. Xem xét bản chất của kiêu hãnh sẽ giúp chúng ta buông bỏ nó, vì nó không còn được đánh giá cao nữa. Nó được nhìn nhận theo đúng bản chất của mình: yếu đuối. Câu nói: “Kiêu căng trước, sụp đổ sau” vẫn đúng. Kiêu hãnh tương tự như lớp băng mỏng, một sự thay thế nghèo nàn cho sức mạnh thực sự vững chắc, xuất phát từ can đảm, chấp nhận hoặc bình an.

Liệu có tồn tại cái gọi là kiêu hãnh “lành mạnh”? Khi nói về kiêu hãnh lành mạnh, là chúng ta nói về tự trọng, nhận thức nội tâm về giá trị và phẩm chất thực sự của chính người đó. Nhận thức nội tâm này khác với năng lượng của kiêu hãnh. Tự nhận thức về giá trị thực sự của mình có đặc điểm là không cần phòng thủ. Một khi chúng ta đã ý thức được sự thật về bản thể thực sự của mình—bản chất bên trong của tự ngã của chúng ta với tất cả sự ngây thơ, sự vĩ đại và cao quý đích thực của linh hồn của con người—chúng ta không còn cần có thái độ kiêu căng nữa. Chúng ta chỉ cần biết con người mà mình đang là, và tự biết như thế là đủ đối với chúng ta. Điều mà chúng ta thực sự biết không bao giờ cần phòng thủ và khác với năng lượng của kiêu hãnh mà chúng ta thảo luận trong chương này.

Hãy cùng xem xét một biểu hiện của kiêu hãnh mà chúng ta đã được lập trình và xem chúng đứng vững đến mức nào khi được khảo sát kỹ lưỡng. Tự hào về gia đình, tự hào về đất nước và tự hào về thành tích là những ví dụ điển hình. Liệu tự hào có thực sự là cảm xúc cao quý nhất của con người? Chính thực tế là nó có đặc điểm là phòng thủ đã chứng minh điều ngược lại. Khi chúng ta tự hào về tài sản của mình hoặc về một số tổ chức mà chúng ta gắn bó, chúng ta cảm thấy có nghĩa vụ phải bảo vệ. Tự hào về ý tưởng và quan điểm của chúng ta dẫn đến những tranh luận, xung đột và đau khổ không bao giờ dứt.

Trạng thái cảm xúc cao hơn tự hào là tình yêu. Nếu chúng ta yêu tất cả những điều đã nói bên trên (gia đình, đất nước, thành tích), thì điều đó có nghĩa là không có nghi ngờ gì về giá trị của chúng trong tâm trí chúng ta. Chúng ta không còn phải ở thế phòng thủ nữa. Khi sự công nhận và kiến ​​thức thực sự thay thế cho ý kiến, vốn là một phần của lòng tự hào, thì không còn chỗ cho tranh luận. Tình yêu và sự trân trọng thực sự của chúng ta đối với một điều gì đó là quan điểm vững chắc không thể bị tấn công.

Kiêu hãnh - vì nó là quan điểm dễ bị tổn thương - luôn luôn ngụ ý rằng ở đâu đó có một nghi ngờ cần được làm rõ, và đối thủ nhanh chóng tập trung vào nghi ngờ đó. Khi mọi nghi ngờ đã được xóa bỏ, ý kiến ​​và kiêu hãnh biến mất. Kiêu hãnh có chứa một hàm ý xin lỗi tinh tế, như thể bản thân sự vật không đủ tốt để tự đứng vững dựa trên giá trị của chính nó. Cái xứng đáng với tình yêu và thái độ tôn trọng của chúng ta hầu như không cần người bào chữa. Kiêu hãnh ngầm ám chỉ rằng vẫn còn chỗ cho tranh luận và giá trị của một điều gì đó có thể bị nghi ngờ.

Khi chúng ta thực sự yêu một cái gì đó và, do đó, trở thành một với nó, đấy là do chúng ta nhìn thấy sự hoàn hảo nội tại của nó. Trên thực tế, “lỗi” của nó là một phần không thể thiếu của hoàn hảo, vì tất cả những gì chúng ta thấy trong vũ trụ này đều đang trong quá trình trở thành. Trong quá trình đó, tiến hóa của nó là một phần của hoàn hảo. Do đó, bông hoa chưa nở hết không phải là một bông hoa không hoàn hảo cần được bảo vệ. Ngược lại, quá trình nở ra của nó đang diễn ra với sự hoàn hảo chính xác phù hợp với quy luật của vũ trụ. Tương tự như vậy, mỗi cá nhân trên hành tinh này đều đang phát triển, trưởng thành, học hỏi và phản ánh sự hoàn hảo đó. Chúng ta có thể nói rằng sự phát triển của quá trình tiến hóa đang diễn ra phù hợp hoàn toàn với các quy luật của vũ trụ.

Một trong những nhược điểm của thái độ kiêu hãnh, như chúng ta đã nói, là nó dễ bị tổn thương. Dễ bị tổn thương sẽ chiêu mời tấn công; do đó, trong xã hội, chúng ta chứng kiến ​​những người kiêu ngạo thường bị chỉ trích, và chính vì họ dễ bị tổn thương cho nên mới có câu: “Kiêu căng trước, sụp đổ sau”. Trong Kinh Thánh, chính kiêu căng là gót chân Achilles của Lucifer, dù hắn giành được địa vị cao đến mức nào. 

Khiêm nhường

Việc cố gắng kìm nén kiêu hãnh vì mặc cảm tội lỗi đơn giản là không hiệu quả. Việc gán nhãn năng lượng của kiêu hãnh như là “tội lỗi” và kìm nén nó trong chính mình vì mặc cảm tội lỗi, để che giấu nó, hoặc giả vờ như chúng ta không trải nghiệm nó đều không giúp được gì. Sự kiện xảy ra là năng lượng đó âm thầm biến đổi thành hình thức mới, được gọi là kiêu hãnh tâm linh.

Chúng ta không cảm thấy thoải mái khi ở bên cạnh những người kiêu ngạo; do đó, kiêu ngạo cản trở giao tiếp và biểu hiện của tình yêu. Mặc dù chúng ta yêu thương những người kiêu hãnh vì họ có những thành tích cụ thể, chúng ta yêu thương họ mặc dù họ kiêu hãnh chứ không phải vì thái độ kiêu hãnh của họ.

Cảm thọ mặc cảm tội lỗi vì coi kiêu hãnh như là tội lỗi về mặt tâm linh chỉ khiến nó bị khoá lại ở trong đó và, như chúng tôi đã nói, nó thực sự không phải là câu trả lời. Câu trả lời thực sự chỉ đơn giản là buông bỏ bằng cách khảo sát bản chất thực sự của nó. Một khi chúng ta nhìn thấy kiêu hãnh là gì, thì nó trở thành một trong những cảm xúc dễ dàng từ bỏ nhất. Trước hết, chúng ta có thể tự hỏi: “Mục đích của kiêu hãnh là gì? Phần thưởng của nó là gì? Tại sao tôi lại tìm kiếm nó? Nó bù đắp cho cái gì? Tôi cần nhận ra điều gì về bản chất thực sự của mình để có thể buông bỏ kiêu hãnh mà không cảm thấy mất mát?” Câu trả lời khá rõ ràng. Càng cảm thấy mình nhỏ bé ở bên trong, chúng ta càng phải bù đắp cho cảm giác thiếu tự tin, không có vai trò quan trọng và vô giá trị bằng cách thay thế nó bằng cảm xúc kiêu ngạo.

Càng buông bỏ những cảm xúc tiêu cực, chúng ta càng ít dựa vào kiêu hãnh. Thay vào đó, sẽ có phẩm chất mà thế giới gọi là “khiêm nhường” và chúng ta cảm nhận theo lối chủ quan như bình yên. Khiêm nhường đích thực khác với cái ngược lại: “kiêu hãnh trong khiêm nhường” hay “khiêm nhường giả tạo”, thường thấy trong đời sống xã hội. Khiêm nhường giả tạo là giả vờ tự hạ thấp bản thân với mong muốn được người khác công nhận những thành tích mà mình tự hào, nhưng lại quá kiêu ngạo, không dám khoe khoang một cách công khai.

Khiêm nhường đích thực không thể được trải nghiệm bởi chính người được cho là đang sở hữu nó, vì đó không phải là một cảm xúc. Như chúng tôi đã nói, người thực sự khiêm nhường thì không thể bị làm nhục. Họ miễn nhiễm với mọi sỉ nhục. Họ không có gì để tự vệ. Không dễ bị tổn thương và do đó, người thực sự khiêm nhường không trải nghiệm những lời chỉ trích từ người khác. Thay vào đó, một người thực sự khiêm nhường coi chỉ trích của người khác chỉ đơn thuần là thể hiện những vấn đề nội tâm của người kia. Ví dụ, nếu ai đó nói: “Bạn nghĩ mình giỏi, phải thế không?”, thì người thực sự khiêm nhường sẽ thấy rằng người kia có vấn đề về đố kỵ, và câu hỏi đó ngay từ đầu đã không có cơ sở trong thực tại. Không có gì để bị xúc phạm và không cần phải phản ứng. Ngược lại, đối với người kiêu ngạo, câu hỏi này sẽ bị coi là xúc phạm và làm tổn thương cảm thọ, đáp trả gay gắt, hoặc thậm chí là, trong một số trường hợp có thể dẫn tới bạo lực. 

Niềm vui và biết ơn

Vì tự hào đôi khi được coi là động lực đưa tới thành tích, vậy ở tầng cao hơn cái gì sẽ thay thế cho nó? Một trong những câu trả lời sẽ là niềm vui. Có gì sai khi niềm vui được dùng làm phần thưởng vì có thành tích, thay cho tự hào? Tự hào kéo theo mong muốn được người khác công nhận và, do đó, dễ dẫn đến tức giận và thất vọng nếu không được đáp ứng. Nếu chúng ta đạt được một mục tiêu nhất định vì niềm vui, thích thú, tình yêu đối với thành tích và niềm vui nội tâm mà nó mang lại, chúng ta sẽ không bị ảnh hưởng bởi phản ứng của người khác.

Chúng ta có thể nhận ra khuynh hướng dễ bị tổn thương của mình bằng cách xem xét hình thức phản ứng mà chúng ta hy vọng sẽ nhận được từ người khác bằng những lựa chọn và hành vi của mình. Trong đó có cử chỉ, biểu cảm, cách ăn mặc, loại tài sản mà chúng ta lựa chọn, nhãn hiệu xe hơi chúng ta lái, loại nhà chúng ta có, địa chỉ của chúng ta, trường học mà chúng ta đã theo học hoặc con cái chúng ta đang theo học, hoặc nhãn hiệu trên các sản phẩm chúng ta mua. Thực tế, nếu nhìn vào xã hội hiện tại, chúng ta sẽ thấy kiêu ngạo lên tới mức độ lố bịch như thế nào. Nhãn hiệu giờ đây được dán bên ngoài nhiều loại quần áo và đồ dùng cá nhân. Nó vẫn chưa lan đến mức xuất hiện trên cả những cái cào hay xẻng, nhưng sớm muộn gì thì điều đó cũng có thể xảy ra! Chưa ai nghĩ đến việc đó, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể vác những cái cào và xẻng đi vòng quanh một cách phô trương với tên của các nhà thiết kế được chạm khắc rực rỡ trên đó.

Nó chỉ ra một trong những nhược điểm khác của kiêu ngạo: khả năng bị bóc lột cao tới mức nào. Kiêu ngạo đồng nghĩa với việc chúng ta có thể dễ dàng bị thao túng. Để có một thứ gì đó vô nghĩa, thì một khoản tiền lớn đã bị rút ra khỏi hầu bao của chúng ta. Tình huống này hiện nay bi hài ở chỗ người ta lại lấy làm tự hào về việc mình đã bị bóc lột nhiều đến mức nào. Trong một số nhóm xã hội, việc khoe khoang về số tiền khổng lồ để mua những món đồ nhất định đang trở thành biểu tượng của địa vị. Khi bỏ đi vẻ hào nhoáng, chúng ta có thể nói rằng người đó khá ngốc nghếch. Họ thực sự đã bị lừa hoặc quá ngây thơ và không biết bất cứ thứ gì cao hơn thế.

Kiêu căng đến mức hợm hĩnh có lẽ là thái độ ngạo mạn cao nhất. Liệu phô trương có thực sự gây được ấn tượng? Thực ra là không. Phản ứng mà chúng ta thấy chính là say mê. Mọi người thích thú với vẻ hào nhoáng bề ngoài, nhưng sâu bên trong, họ không thực sự tôn trọng, bởi vì họ biết bản chất thực sự của nó là gì. Khi thể hiện thói kiêu ngạo bằng cách phô trương, chúng ta không gây được ấn tượng với bất cứ người nào.

Điều này được bộc lộ trong một chuyến đi Canada để thăm nhà của một người khá giàu có - khéo léo thể hiện được giá trị của nhiều tài sản của mình. Trong chuyến đi đó, người ta còn nhìn thấy những đứa trẻ da đỏ người Canada suy dinh dưỡng đang chơi đùa bên cạnh những kho chứa ngũ cốc khổng lồ, đầy đến mức tràn ra ngoài, ngũ cốc được giữ lại nhằm giữ cho giá cao hơn, bằng cách tạo ra thiếu hụt giả tạo. Khi người giàu có này nói về tài sản của mình, hình ảnh những đứa trẻ còi cọc, gầy đét bỗng hiện lên trong tâm trí. Thay vì ấn tượng với của cải mà ông ta có, người ta lại cảm thấy thương hại cho quan niệm về giá trị của ông ta và cảm thông cho thái độ thiếu tự tin, buộc ông ta phải bù đắp bằng sự hời hợt đáng thương như thế.

Có nghĩa là chúng ta không thể tận hưởng những vật sở hữu đắt tiền hay sao? Không, hoàn toàn không. Điều chúng ta đang nói đến là thói kiêu ngạo. Vấn đề không phải là chúng ta có của, mà là chúng ta có thái độ kiêu ngạo, chiếm hữu và tự mãn về của cải. Chính kiêu ngạo tạo ra khoảng trống để sợ hãi len vào. Người đàn ông giàu có ở Canada được nói đến ở trên cũng có hệ thống báo động chống trộm rất đắt tiền. Kiêu ngạo, tương tự như tất cả các cảm xúc tiêu cực khác, sinh ra mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm tội lỗi sinh ra sợ hãi. Sợ hãi có nghĩa là mất mát tiềm tàng. Do đó, kiêu hãnh luôn đồng nghĩa với việc mất đi sự bình yên trong tâm hồn.

Trái ngược với thủ đắc mang tính kiêu căng là giản dị. Giản dị không có nghĩa là nghèo nàn về của cải; đúng hơn, đó là trạng thái của tâm trí. Một người phụ nữ có hàng triệu đô la, người đó có trong tay những bất động sản và tài sản khổng lồ. Tuy nhiên, với tư cách là một con người, người đó cực kỳ giản dị. Tài sản thể hiện những thứ thế giới đã mang đến cho người đó, và người đó tìm thấy niềm vui trong vẻ đẹp của chúng. Do đó, không có ai chỉ trích, cũng như không ai ghen tị với người này.

Quan trọng không phải là chúng ta có gì, mà là cách chúng ta lưu giữ nó, cách chúng ta định hình nó trong tâm thức của mình, và ý nghĩa của nó đối với chúng ta. Nhân tiện nói thêm rằng, toàn bộ bất động sản của người phụ nữ này hoàn toàn không có hệ thống báo động chống trộm hay chó canh. Trên thực tế, khi người ta nhắc nhở, thì bà ta trả lời: “Ôi trời! Nếu ai đó thực sự cần thứ gì đó đến như thế, thì họ có thể lấy đi mà!” Có một sự tương ứng giữa việc không ai từng lấy trộm bất cứ thứ gì của bà và việc bà sẵn sàng chia sẻ với người khác. Khả năng miễn nhiễm với trộm cắp của bà này có liên quan với việc bà ấy không có thái độ kiêu ngạo về những thứ mà mình có.

Chiếm hữu và chấp trước là hệ quả của kiêu hãnh. Do đó, chấp trước là một nguyên nhân tiềm tàng tạo ra đau khổ, vì chấp trước làm cho người ta sợ mất, và khi mất, chúng ta rơi trở lại trạng thái thờ ơ, trầm cảm và u sầu. Nếu chúng ta kiêu hãnh về một chiếc xe và có người lấy trộm, chúng ta sẽ trải nghiệm đau khổ, đau đớn và thống khổ. Thay vào đó, nếu chúng ta không quá coi trọng chiếc xe (về mặt cảm xúc), và chúng ta tận hưởng vẻ đẹp và sự hoàn hảo của nó, và chúng ta cảm thấy biết ơn vì đã sở hữu nó, thì việc mất cái xe này sẽ chỉ mang lại thất vọng không lớn.

Biết ơn là một trong những liều thuốc chữa thói kiêu ngạo. Nếu chúng ta may mắn được sinh ra với chỉ số IQ cao, chúng ta có thể biết ơn thay vì tự hào về nó. Đó không phải là thành tích; chúng ta đã được sinh ra với IQ cao. Nếu chúng ta biết ơn những gì đã được ban tặng và những gì đã được hoàn thành nhờ tài năng và nỗ lực mà Thiên Chúa đã ban cho, thì chúng ta sẽ có tâm trí bình an và miễn nhiễm với nỗi đau.

Tâm trí con người thật kỳ lạ và buồn cười là nó có thái độ kiêu ngạo về bất cứ thứ gì có tiền tố là “của tôi”. Chúng ta có thể kiêu hãnh một cách lố bịch về những điều tầm thường nhất và, một khi nhận ra sự hài hước của thái độ đó, thì việc buông bỏ kiêu hãnh không còn quá khó nữa.

Buồn cười là, một số người lại mắc phải nhược điểm là thói hợm hĩnh ngược. Họ tự hào về những “món hời” và những chiến tích ở cửa hàng đồ cũ. Quan điểm cá nhân của họ về những người trả giá quá cao cho mọi thứ là những người đó chẳng khác gì những con cừu cần bị xén lông và họ thường nhắc lại câu: “Người ngu chẳng mấy chốc sẽ mất hết tiền”. Trong đám người có thái độ khinh khi đang mua ở cửa hàng đồ cũ kiểu này, biểu tượng địa vị chính là món hời không thể tin nổi. Trên thực tế, họ thường cạnh tranh với nhau để xem ai tìm được món hời nhất. Thật buồn cười khi nhận thấy bộ quần áo treo trong cửa hàng đồ cũ hoàn toàn không có giá trị gì cho đến khi nó trở thành “của tôi”. Giá trị cực kỳ to lớn được gắn lên nó ngay lập tức.  

Khó khăn của việc thêm từ “của tôi” vào trước mọi thứ là lòng tự hào đi kèm với cảm giác sở hữu. Nó làm cho chúng ta cảm thấy có trách nhiệm phải bảo vệ mọi thứ mà chúng ta dán nhãn là “của tôi”. Chúng ta có thể giảm bớt khả năng bị tổn thương bằng cách buông bỏ ham muốn sở hữu; thay vì nói “của tôi”, chúng ta có thể dùng từ “cái”. Không phải “áo của tôi”, mà là “cái” áo. Như vậy, chúng ta sẽ nhận thấy rằng, nếu chúng ta coi một trong những suy nghĩ của mình là “ý kiến” thay vì “ý kiến ​​của tôi”, thì cảm thọ sẽ thay đổi. Tại sao mọi người lại tỏ ra nóng nảy về ý kiến ​​của mình? Chỉ vì cảm giác “của tôi”. Nếu ý kiến ​​được xem “chỉ là ý kiến”, thì sẽ không còn khả năng bị tổn thương do tức giận đầy kiêu ngạo nữa. 

Ý kiến

Nếu nhìn vào các ý kiến, ta sẽ thấy chúng có mặt khắp nơi. Mỗi người đều có hàng ngàn ý kiến ​​về hàng ngàn vấn đề, và ý kiến ​​của họ thay đổi từng giây từng phút, dễ bị ảnh hưởng bởi tất cả những xu hướng thoáng qua, tuyên truyền và trào lưu. Ý kiến ​​“thời thượng” hôm nay sẽ “lỗi thời” trong ngày mai. Ý kiến ​​sáng nay đã trở thành lỗi thời ngay trong chiều nay. Có thể tự hỏi: “Liệu mình có muốn lan truyền khả năng dễ bị tấn công của bản thân mình bằng cách đồng nhất quá nhiều với tất cả những suy nghĩ nhất thời này và gọi chúng là ‘của tôi’ hay không?” Mỗi người đều có ý kiến ​​về mọi thứ. Thế thì sao? Khi nhìn vào bản chất thực sự của các ý kiến, chúng ta sẽ thôi đánh giá chúng quá cao. Nếu nhìn lại cuộc đời, ta sẽ thấy rằng tất cả những sai lầm mà mình từng mắc phải đều dựa trên cơ sở của một ý kiến nào đó.

Chúng ta sẽ ít bị tổn thương hơn nếu đưa những suy nghĩ, ý tưởng và niềm tin của mình, vốn đều là ý kiến, vào bối cảnh khác. Chúng ta có thể coi chúng như những ý tưởng mà mình thích hoặc không thích. Một số suy nghĩ mang lại cho chúng ta niềm vui, vì vậy chúng ta thích những ý nghĩ này. Chỉ vì hôm nay chúng ta thích, không có nghĩa là chúng ta phải tranh cãi kịch liệt để bảo vệ chúng. Chúng ta thích một khái niệm khi nó còn có ích và chúng ta cảm thấy thích thú với nó. Tất nhiên, chúng ta sẽ dễ dàng loại bỏ một ý nghĩ khi nó không còn làm cho ta vui nữa. Khi nhìn vào các ý kiến của mình, chúng ta sẽ thấy rằng, ngay từ đầu, chính cảm xúc mới làm cho chúng trở thành có giá trị.

Thay vì tự hào về những suy nghĩ của mình, tại sao không chỉ đơn giản là yêu thích chúng? Tại sao không yêu thích một khái niệm nào đó vì nó đẹp, nó truyền cảm hứng, vì nó có ích? Nếu chúng ta nhìn nhận suy nghĩ của mình theo cách đó, chúng ta không còn cần phải tự hào về việc mình “là người đúng” nữa. Nếu chúng ta có cùng quan điểm về những điều mình thích và không thích, thì chúng ta sẽ không còn dễ tranh cãi nữa. Ví dụ, nếu chúng ta yêu thích nhạc của một nhà soạn nhạc nào đó, chúng ta không còn cần phải bảo vệ nó nữa. Chúng ta có thể hy vọng rằng người bạn của mình cũng sẽ yêu thích loại nhạc đó, nhưng nếu không, điều tồi tệ nhất mà chúng ta có thể cảm thấy là thất vọng nhẹ nhàng vì không thể chia sẻ cái mà mình yêu thích và đánh giá cao.

Nếu làm theo cách này, chúng ta sẽ thấy rằng mọi người không còn công kích những thứ chúng ta thích, không thích và quan niệm của chúng ta nữa. Thay vì thái độ phòng thủ, điều họ nhận được từ chúng ta lúc này là trân trọng. Họ hiểu rằng chúng ta đánh giá cao một số thứ nhất định, và đó là lý do vì sao chúng ta suy nghĩ như vậy. Nhưng họ sẽ không còn chỉ trích hay công kích chúng ta. Điều tồi tệ nhất mà chúng ta có thể nhận được có lẽ là một lời trêu chọc hoặc thái độ tò mò. Không có kiêu ngạo, thì cũng không có công kích.

Nó rất có giá trị trong những lĩnh vực như chính trị và tôn giáo, vốn dĩ dễ tạo ra tranh cãi đến mức trong xã hội lịch sự, chúng ta tìm cách né tránh, coi đó như một chiến thuật. Chúng ta sẽ thấy rằng nếu chúng ta yêu tôn giáo của mình - tôn giáo nào thì cũng thế - thì sẽ không ai công kích chúng ta. Tuy nhiên, nếu chúng ta tỏ ra kiêu ngạo, chúng ta sẽ phải tránh toàn bộ chủ đề này, bởi vì tức giận sẽ nhanh chóng xuất hiện, như một sản phẩm phụ của thái độ kiêu ngạo. Khi ta thực sự trân quý điều gì đó, ta nâng nó lên cao, thoát khỏi tầm ngắm của những lời chỉ trích mang tính hạ nhục.

Những gì ta thực sự yêu quý và tôn kính được bảo vệ bởi chính sự tôn kính của ta. Nếu ta nói với người nào đó rằng ta làm điều gì đó vì ta thích nó, thì thực sự họ chẳng thể nói gì nhiều về điều đó, có phải thế không? Nếu ta ngụ ý rằng ta làm điều đó vì ta cho rằng làm vậy là đúng, thì ta sẽ ngay lập tức thấy họ nổi giận vì họ cũng có quan điểm riêng về cái gì là đúng.

Các giá trị quan của chúng ta vốn là những lựa chọn ưu tiên. Ta gìn giữ chúng vì ta yêu quý, tận hưởng và tìm thấy niềm vui trong đó. Nếu ta giữ chúng trong tâm thế ấy, ta sẽ được yên thân để tận hưởng chúng.

Lý do làm cho kiêu hãnh tạo ra công kích là vì hàm ý rằng mình “tốt hơn người khác”, thái độ như thế là một phần không thể thiếu của kiêu hãnh. Chúng ta thấy nhiều người có chế độ ăn uống mà họ lấy làm tự hào; do đó, họ liên tục tranh cãi về tính đúng đắn của chế độ ăn uống và quan điểm dinh dưỡng của mình. Họ thậm chí còn cố gắng áp đặt chế độ ăn uống của mình lên các thành viên trong gia đình và bạn bè, ca ngợi tính ưu việt về mặt đạo đức hoặc sức khỏe của chế độ ăn uống của họ. Ngược lại, có những người tuân theo cùng một chế độ ăn uống vì họ thích làm như thế, vì nó làm cho họ cảm thấy tốt hơn, hoặc vì nó đáp ứng một số kỷ luật tâm linh nhất định nào đó; do đó, người ta không bao giờ nghe thấy họ tranh cãi, bởi vì họ không có gì cần phải bảo vệ. Nếu ai đó nói với chúng ta rằng họ ăn theo cách họ ăn vì họ thích thế, thì chúng ta chẳng thể nói gì nhiều về điều đó, có phải thế không? Ngược lại, nếu họ ngụ ý rằng cách ăn của họ là đúng và, suy rộng ra, cách ăn của chúng ta là sai, thì điều họ thực sự đang nói là họ giỏi hơn chúng ta. Và sẽ luôn luôn gây ra oán hận.

Nếu chúng ta không có thái độ kiêu ngạo về ý kiến của mình, thì chúng ta có quyền thay đổi. Đã bao nhiêu lần chúng ta bị mắc kẹt trong việc làm một cái gì đó mà chúng ta thực sự không muốn làm, bởi vì chúng ta có thái độ kiêu ngạo về một quan điểm nào đó – quả là quá ngu ngốc! Chúng ta thường xuyên muốn thay đổi suy nghĩ hoặc hướng đi của mình, nhưng lại tự nhốt mình bằng cách giữ quan điểm kiêu căng.

Điều này làm nảy sinh một trong những sự kháng cự đối với việc phó thác tâm kiêu ngạo, và đó chính là bản thân tâm kiêu ngạo. Trong vị thế của kẻ kiêu ngạo, vấn đề cốt lõi tiềm ẩn chính là sợ. Ta sợ rằng nếu mình thay đổi quan điểm, đánh giá của người khác về ta sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng xấu.

Một trong những lý do cần có thái độ khiêm nhường trước những quan điểm của chúng ta là, quan điểm của chúng ta sẽ thay đổi khi chúng ta đi sâu vào một vấn đề hoặc tình huống nào đó. Những gì thoạt nhìn dường như là đúng thường lại hoàn toàn khác khi chúng ta thực sự đi sâu vào vấn đề. Điều này, tất nhiên, sẽ làm cho các chính trị gia thất vọng vì họ đưa ra những lời hứa dựa trên vọng tưởng về những điều có thể xảy ra. Nhưng khi nắm được quyền lực, họ nhận ra rằng mọi việc lại khác xa so với những gì họ từng nghĩ. Các vấn đề đều phức tạp hơn nhiều. Tình hình thực sự là do tác động tổng hợp của nhiều thế lực có sức mạnh trong xã hội. Tất cả những gì các chính trị gia có thể thực sự hứa với chúng ta là họ sẽ sử dụng phán đoán tốt nhất có thể vì lợi ích chung, khi họ đi sâu vào từng vấn đề một.

Khía cạnh tiến hóa này của cuộc sống thực sự là tất cả những gì mà bất kỳ người nào trong chúng ta cũng có thể hứa với chính mình, và tự nhận thức như thế sẽ bảo vệ chúng ta để không vỡ mộng. Đây là sự an toàn của “tâm trí cởi mở” hay còn gọi là “tâm trí của người mới bắt đầu” trong thực hành Thiền. Khi cởi mở, chúng ta thừa nhận rằng mình không nắm rõ tất cả các sự kiện, và chúng ta sẵn sàng thay đổi quan điểm của mình khi tình hình tiến triển. Bằng cách làm như thế, chúng ta không tự nhốt mình trong đau đớn khi phải bảo vệ những sự nghiệp đã thất bại.

Điều này cũng rất đúng ngay cả trong những lĩnh vực mà chúng ta cho là dựa trên dữ liệu thực tế và có thể quan sát được, chẳng hạn như lĩnh vực khoa học. Trên thực tế, khoa học dựa trên các giả thuyết, và quan điểm khoa học luôn luôn biến đổi và thay đổi. Quan điểm khoa học - nhiều người không chuyên nghiệp cảm thấy ngạc nhiên - cũng chịu ảnh hưởng bởi các trào lưu phổ biến trong giai đoạn nào đó, mù hệ hình và áp lực chính trị. Ví dụ, trong lĩnh vực tâm thần học, chủ đề về quan hệ giữa dinh dưỡng, hóa học máu, chức năng não và bệnh tâm thần trước đây không được nhiều người biết. Các nhà khoa học và bác sĩ lâm sàng làm việc trong lĩnh vực này thấy mình thuộc nhóm “bên ngoài”. Cùng với thời gian, khi lĩnh vực nghiên cứu này được chứng minh là có giá trị, quan điểm khoa học trong dân chúng đã thay đổi. Đã có những khám phá quan trọng, và toàn bộ các ngành công nghiệp đã ra đời để cung cấp các sản phẩm sử dụng những phát hiện cơ bản về quan hệ giữa dinh dưỡng và chức năng não. Giờ đây, chủ đề này được chấp nhận là đáng kính, vì vậy các bác sĩ lâm sàng và các nhà khoa học có thể nghiên cứu trong lĩnh vực này và được chấp nhận là một phần của nhóm “bên trong”. Do đó, kiêu hãnh cũng là nguyên nhân kìm hãm tiến bộ khoa học (ví dụ, các lý thuyết về ấm nóng lên toàn cầu).

Kiêu hãnh làm cho chúng ta mù quáng trước nhiều điều mang lại lợi ích to lớn; đối với tâm trí kiêu hãnh, chấp nhận chúng đồng nghĩa với việc ngụ ý rằng chúng ta là người sai. Càng mạnh mẽ từ bên trong, chúng ta càng trở nên linh hoạt hơn, có thể mở lòng đón nhận tất cả những thứ có lợi. Kiêu hãnh ngăn cản, không cho chúng ta nhìn thấy những điều hoàn toàn hiển nhiên. Hàng ngàn người chết vì kiêu hãnh. Họ đánh đổi sức khỏe và cả mạng sống của mình. Những người nghiện ma túy và rượu sẽ chết vì thái độ phủ nhận vốn có trong kiêu hãnh: “Người khác có vấn đề, chứ không phải tôi!” Kiêu hãnh ngăn cản, không cho chúng ta nhận ra những hạn chế của chính mình và chấp nhận sự giúp đỡ cần thiết để vượt qua. Kiêu hãnh cô lập chúng ta.

Khi buông bỏ kiêu ngạo, sẽ có người giúp chúng ta giải quyết những vấn đề mà chúng ta đang phải vật lộn. Chúng ta có thể làm thí nghiệm và chứng minh tính đúng đắn của nguyên tắc này bằng cách chọn một lĩnh vực mà chúng ta đang gặp khó khăn và hoàn toàn từ bỏ tất cả những thái độ kiêu ngạo liên quan. Khi làm như vậy, một số điều làm chúng ta ngạc nhiên bắt đầu xảy ra. Buông bỏ kiêu ngạo mở ra cánh cửa để chúng ta đón nhận những điều có lợi nhất đối với mình. Chúng ta có sẵn sàng buông bỏ kiêu ngạo và cảm thấy mình hơn người khác hay không? Khi sẵn sàng buông bỏ sự an toàn giả tạo của kiêu ngạo, chúng ta sẽ trải nghiệm sự an toàn thực sự đến từ can đảm, tự chấp nhận và niềm vui.



[i] Pride được dịch linh hoạt tùy theo ngữ cảnh để lột tả đúng bản chất năng lượng của nó: 

  - Kiêu hãnh / Kiêu ngạo / Kiêu căng: Dùng khi nói về phương diện tiêu cực của bản ngã (Ego), sự tự tôn quá mức dẫn đến tách biệt và coi thường người khác.

  - Tự hào: Dùng trong những ngữ cảnh mang tính khích lệ hoặc ghi nhận thành tựu, nhưng vẫn cần quan sát để tránh rơi vào sự dính mắc của bản ngã.

Lưu ý: Bản chất của Pride là sự “phồng” lên của bản ngã, tạo ra cảm giác ưu việt giả tạo, dẫn đến tính dễ bị tổn thương và sợ hãi.