March 2, 2026

BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI (1)

 

BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI 

David R. Hawkins, M. D., Ph. D. 

Phạm Nguyên Trường dịch 

Đôi lời phi lộ của người dịch:

Tôi đã may mắn được đồng hành và chuyển ngữ tổng cộng 6 tác phẩm của Tiến sĩ David R. Hawkins, bao gồm: Power vs. Force (Trường năng lượng và những nhân tố quyết định tinh thần, sức khỏe con người); Chữa lành và Hồi phục; Siêu việt các tầng ý thức; Phân biệt thật giả; The Eye of the I (Nhận thức Toàn vẹn) – năm cuốn này đã được Thaihabooks phát hành; và cuốn thứ sáu: I: Reality and Subjectivity hiện đang nằm trong kế hoạch xuất bản.

    Những cuốn sách của David Hawkins không chỉ đơn thuần là lý thuyết, mà là tấm bản đồ để siêu việt các tầng tâm thức (trước đây dịch là ý thức). Thay vì dùng Lực cưỡng ép (Force) để thay đổi hành vi bên ngoài, ông dạy ta cách chuyển hóa từ bên trong – hay còn gọi là Tu tâm. Đó là quá trình nhận diện và buông bỏ những mô thức (tập khí) tiêu cực ở tầng năng lượng thấp như sợ hãi, giận dữ để tiến tới những trường năng lượng của Sự thật và Tình yêu. Tu tâm, theo Hawkins, chính là việc nâng cấp “hệ điều hành” tâm thức để đạt đến trạng thái tự do tự tại.

    Thú thật, thời điểm dịch những cuốn sách đầu tiên, tôi dù đã đọc qua kinh văn Phật giáo cũng như Kinh Tân Ước nhưng chưa hề thực hành tu tập. Khi ấy, tôi thấy những lời răn trong Kinh Văn rất có đạo lý, nhưng lại cảm giác chúng dành cho ai đó, cho thời đại nào đó chứ không phải dành cho chính mình. Việc dịch thuật lúc đó có thể ví như một người giỏi ngoại ngữ và tốt nghiệp trường y đi dịch sách dạy kỹ thuật mổ tim, dù hiểu lý thuyết nhưng chưa từng cầm dao mổ lần nào.

Phải sau 6 năm miệt mài đọc, dịch và tự thân “sửa mình” theo giáo lý của David Hawkins, tôi mới nhận ra những bản dịch cũ tuy không sai nhưng chưa thực sự đầy đủ. David Hawkins không chỉ là một Tiến sĩ, Bác sĩ với chỉ số IQ cực cao, ông còn là một bậc thầy tinh thông triết học phương Tây lẫn các phương pháp tu tập phương Đông. Do đó, nếu không có sự chú giải kỹ lưỡng, lợi lạc mà người dịch và người đọc thu nhận được chắc chắn sẽ có những hạn chế nhất định.

    Vì lẽ đó, khi tiếp cận tác phẩm này – một cuốn sách độc đáo mang lại cái nhìn tổng quan về toàn bộ hệ thống giáo lý của ông: từ Bản đồ Tâm thức, quá trình tiến hóa tâm thức, đến việc chữa lành, kinh doanh và siêu việt bản ngã – tôi đã quyết định dịch và chú giải một cách cẩn trọng nhất. Cuốn sách này vừa là lời giới thiệu vững chắc cho độc giả mới, vừa là bản tóm tắt giá trị cho những người đã nghiên cứu Hawkins nhiều năm.

    Kết quả là, với 160 trang chính văn (khổ A4), tôi đã viết thêm 16 trang Chú giải – chiếm đúng một phần mười dung lượng cuốn sách. Tôi tin rằng những độc giả có tâm cầu Đạo sẽ không thấy tiếc thời gian cho phần nội dung bổ trợ này. Bởi nó sẽ giúp bạn, cũng như đã từng giúp tôi, hiểu sâu sắc hơn những thuật ngữ và phép tu mà có thể trước đây chúng ta vô tình lướt qua hoặc chưa thấu thị. Với tâm nguyện đó, tôi cũng sẽ tiến hành hiệu đính và chú giải lại toàn bộ các tác phẩm của David Hawkins đã được thực hiện, hy vọng rằng trong những lần tái bản sau, Thaihabooks sẽ sử dụng những bản dịch đã được tu chỉnh này để mang lại lợi lạc lớn nhất cho cộng đồng.

    Chúc hành trình tâm linh của bạn luôn luôn thuận lợi và nhiều may mắn!  

BẢN ĐỒ TÂM THỨC[i] 

 

Quan điểm về Chúa

Quan điểm về cuộc đời

Tầng

Logarit

Cảm xúc

Quá trình

Đại ngã

Đang là

Chứng ngộ

700-1000

Không nói lên lời

Tâm thức thuần túy

Vạn hữu

Hoàn hảo

An bình

600

Phúc lạc

Ngộ đạo

Độc nhất

Đầy đủ

Niềm vui

540

An bình

Biến hình kỳ diệu

Yêu thương

Nhân từ

Tình yêu

500

Tôn kính

Mặc khải

Thông thái

Có ý nghĩa

Lý trí

400

Thấu hiểu

Trừu tượng hóa

Khoan dung

Hài hòa

Chấp nhận

350

Tha thứ

Siêu việt

Truyền cảm hứng

Hy vọng

Sẵn sàng

310

Lạc quan

Mục đích

Trao khả năng

Thỏa mãn

Trung dung

250

Tin tưởng

Giải phóng

Cho phép

Khả thi

Can đảm

200

Khẳng định

Trao quyền

Bàng quan

Đòi hỏi

Kiêu hãnh

175

Khinh khi

Thổi phồng

Hiềm khích

Đối kháng

Tức giận

150

Thù hận

Hung hăng

Từ chối

Thất vọng

Ham muốn

125

Thèm muốn

Nô dịch hóa

Trừng phạt

Kinh khiếp

Sợ hãi

100

Lo âu

Thoái lui

Khinh bỉ

Bi kịch

U sầu

75

Tiếc nuối

Chán nản

Chỉ trích

Vô vọng

Thờ ơ

50

Tuyệt vọng

Từ bỏ

Thù oán

Xấu xa

Mặc cảm tội lỗi

30

Trách móc

Hủy hoại

Miệt thị

Khốn khổ

Nhục nhã

20

Nhục nhã

Trừ khử

© The Institute for Spiritual Research, Inc., dba/ Veritas Publishing.
This chart cannot be reproduced.
  

LỜI NÓI ĐẦU 

Lần đầu tiên, khi tôi nhìn thấy Bản đồ Tâm thức của chồng mình, nó được viết trên một tấm bảng đen ở hành lang ngôi nhà. Tôi hỏi: “Đó là cái gì vậy?”

    Ông ấy nói, “Ồ, đó là Bản đồ Tâm thức.” Ông ấy giải thích với tôi rằng đã tạo ra nó để giúp mọi người hiểu thế giới. “Mỗi tầng Tâm thức có quan điểm riêng về cuộc đời, quan điểm về Thiên Chúa[ii], quan điểm về chính mình, cảm xúc, và quá trình. Trên một biểu đồ duy nhất, em thấy toàn bộ thế giới. Nó chỉ ra con đường thoát khỏi hố sâu của tuyệt vọng cho đến trạng thái Chứng ngộ[iii].”

Ngay khi David giải thích Bản đồ cho tôi, tôi đã thấy nó có thể mang lại hy vọng cho nhân loại. Trong nhiều thập kỷ, ông ấy đã làm việc trong vai trò bác sĩ tâm thần với đủ loại người đang đau khổ, thậm chí cả những trường hợp bệnh tâm thần nghiêm trọng. Ông ấy biết vai trò quan trọng của tâm thần học trong việc cung cấp cho ai đó công cụ để truyền cảm hứng, nhằm giúp họ thoát khỏi tuyệt vọng. Ông đã tạo ra Bản đồ này như một công cụ học tập và truyền cảm hứng.

Tôi nói: “Anh phải chia sẻ nó với mọi người!”

Ông ấy nói với tôi rằng không chắc mình có muốn công khai bản đồ này hay không, vì vậy tôi đã nói những lời mà tôi biết ông không thể phản bác: “David, Bản đồ này thực sự sẽ có ích cho mọi người!” Sau đó, ông xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình về Bản đồ này, đấy là cuốn Power vs. Force: The Hidden Determinants of Human Behavior. Lúc đó tôi không hề biết rằng chúng tôi sẽ dành 20 năm tiếp theo để đi khắp thế giới để chia sẻ Bản đồ Tâm thức này.

Khi đứng trên sân khấu cùng ông, tôi đã chứng kiến ông ấy nói mọi thứ một cách mạnh mẽ và đột nhiên khuôn mặt mọi người rạng rỡ hẳn lên—họ đã hiểu! Thật mãn nguyện khi thấy phản ứng đó và biết rằng cuộc đời của một người nào đó đã thay đổi. Đối với Dave, điều đó không bao giờ là về bản thân mình—ông chỉ quan tâm đến thông điệp và tác động của nó lên người khác. Ông có khiếu hài hước dễ lây lan; không thể nào nhịn cười mỗi khi ông ấy cười. Ông ấy không quan tâm đến biểu hiện bên ngoài hay việc được người khác chấp thuận, bởi vì ông biết mình là ai và mình là người như thế nào.

 LỢI ÍCH CỦA BẢN ĐỒ TÂM THỨC 

Bản đồ mà David tạo ra là thang đo tâm thức từ tầng thấp nhất của trải nghiệm của con người cho đến tầng cao nhất. Ông xây dựng nó để chúng ta hiểu tại sao trên thế gian này lại có cả năng lượng thấp và cao, và tại sao một số người lại làm những việc khủng khiếp trong khi những người khác lại yêu thương một cách thuần khiết. Thang đo đi từ 0 đến 1.000, và là thang theo hàm logarit. Dave đã thuê một nhà khoa học về thống kê để đảm bảo rằng logarit là chính xác. Sau đó, ông đưa vào các cảm xúc và các yếu tố khác đi kèm với mỗi tầng tâm thức để chúng ta hiểu được cảm giác Nhục nhã (20) so với Tình yêu (500). Một số người thích các con số, một số người khác lại thích giải thích bằng ngôn từ. Dave đã trình bày công trình của mình theo nhiều cách khác nhau để tiếp cận được những người có phong cách học tập khác nhau.

David muốn trấn an những người đang đau khổ rằng có điều gì đó tốt đẹp hơn đang đợi họ ở phía trước. Như bạn sẽ thấy, chính ông đã trải nghiệm toàn bộ Bản đồ, từ tầng thấp nhất đến tầng cao nhất. Ông sống theo nguyên tắc của Bản đồ và thể hiện nó trong đời sống, trong các bài giảng và bằng khiếu hài hước của mình. Tôi chưa từng gặp người nào có động lực mạnh mẽ như ông trong việc giúp đỡ người khác. Đó là lý do vì sao ông tạo ra Bản đồ này. Ông sử dụng nó như một công cụ truyền cảm hứng để mọi người trở nên yêu thương hơn và từ bi hơn.

Hầu như mỗi ngày, tôi đều nhận được phản hồi từ những người nói rằng Bản đồ này đã thay đổi cuộc đời họ. Một số người đã thoát khỏi sự kìm kẹp của ma tuý, rượu và các loại nghiện ngập vô vọng khác. Những người khác đã được chữa lành khỏi nhiều loại bệnh tật và những khó khăn về mặt cảm xúc. Dù vấn đề của cuộc sống có là gì, thì Bản đồ này đã chỉ cho họ con đường thoát khỏi đau khổ.

 Can đảm

Nếu đây là cuốn sách đầu tiên bạn đọc về chủ đề này, bạn không cần e ngại. Bản đồ này là công cụ đơn giản, dễ hiểu và bạn không cần phải là thiên tài thì mới hiểu được nó. Những trang tiếp theo sẽ cung cấp mọi thứ bạn cần để tiến lên trong cuộc đời này, giải thích cho bạn cách thế giới vận hành, tại sao mọi thứ lại xảy ra như vậy và làm sao bạn có thể phát huy hết tiềm năng của mình. Bản đồ này có thể giải thích một số vấn đề trong cuộc sống của bạn và cũng nhắc nhở bạn về sứ mệnh cao cả nhất của mình. Hãy đọc và tự mình nghĩ xem có thể áp dụng nó như thế nào.

Bất cứ người nào cũng có thể sử dụng Bản đồ này, không phụ thuộc vào việc người đó theo tôn giáo nào hay không theo tôn giáo nào. Khi tôi còn học trung học, một trong những người bạn thân nhất của tôi, là người Do Thái, đã hỏi tôi: “Nếu có Thiên Chúa, tại sao chúng ta lại có nhiều chiến tranh đến như vậy?” Bản đồ này chỉ cho chúng ta biết lý do. Nó giúp chúng ta nhìn nhận thế giới một cách khách quan hơn. Chiến tranh khiến hàng triệu người phải chết vì một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân họ. Vào khoảnh khắc họ bước vào mưa bom bão đạn, họ đã vượt qua ranh giới quan trọng, bước qua tầng Can đảm trên Bản đồ này.

Dave nói rằng vấn đề lớn nhất của chúng ta, về mặt tâm linh, là bản ngã ích kỷ, và cần có can đảm và tận tâm để vượt qua nó. Đó là lòng can đảm mà chúng ta thấy ở những người lính đánh liều mạng sống của mình vì một điều gì đó cao cả hơn bản ngã của họ - đất nước, Thiên Chúa hay đồng đội. Các vận động viên làm điều đó theo cách riêng của mình khi tìm cách giành chiến thắng cho đội của mình hay đất nước của mình, thay vì muốn mình trở thành người nổi tiếng. Hoặc họ cống hiến nỗ lực của mình cho người đang mắc bệnh ung thư hoặc một căn bệnh nào đó. Khi chúng ta cống hiến những việc mình làm cho một điều gì đó lớn lao hơn bản thân chúng ta, là chúng ta đang xuất phát từ vị trí cao hơn. Bản đồ này cho chúng ta thấy rằng những điều khủng khiếp, chẳng hạn như chiến tranh, thực sự có mục đích. Chúng giúp chúng ta tiến hóa về mặt tâm linh.

 Hy vọng

Khi con người suy sụp, họ cần hy vọng. Bản đồ này mang lại cho họ hy vọng. Nó cho chúng ta thấy, nếu chúng ta đang chìm trong tự căm ghét chính mình hoặc tuyệt vọng, chúng ta có thể thay đổi cuộc đời mình bằng cách hướng tới tầng cao hơn. Chúng ta thấy bước ngoặt này mỗi ngày trong các nhóm như Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh (A.A.), với những người đang hồi phục sau khi nghiện.  Từ một nơi hoàn toàn tuyệt vọng, cuộc đời họ thay đổi một trăm tám mươi độ. Khi họ đạt đến tầng Can đảm (200) trên Bản đồ, đó là thời điểm cuộc đời họ đã thay đổi, bởi vì họ đã tìm được can đảm để nói sự thật về bản thân mình thay vì đổ lỗi cho người khác. Từ đó, tầng Sẵn sàng (310) là quan trọng. Đó là sẵn sàng học hỏi, sẵn sàng giúp đỡ người khác, sẵn sàng trưởng thành, sẵn sàng trở thành người tử tế, sẵn sàng nỗ lực.

Luôn luôn có hy vọng, ngay cả trong những ngày đen tối nhất. Có những ngày khó khăn đến nỗi, tôi tự nhủ: “Tôi không bao giờ muốn trở lại ngày hôm nay!” Bản đồ này giúp chúng ta biết rằng một ngày tồi tệ không phải là dấu chấm hết của cuộc đời. Như Scarlett O’Hara đã nói trong Cuốn theo chiều gió, “Tôi sẽ nghĩ về điều đó vào ngày mai!” Bản đồ này cho thấy tất cả chúng ta đều đang trên đường đi. Chỉ vì chúng ta không thích khung cảnh nơi chúng ta đang ở hiện nay không có nghĩa là toàn bộ chuyến đi sẽ là tồi tệ; khung cảnh tươi đẹp đang chờ đợi ở phía trước, nếu chúng ta sẵn sàng tin tưởng vào quá trình.

 Vượt qua khó khăn

Mọi người nói rằng Bản đồ này giúp họ có tâm từ bi đối với nhân loại. Họ thấy rằng phần lớn thế giới sống ở các tầng tâm thức thấp hơn như Mặc cảm tội lỗi, Sợ hãi và Tức giận, và nó có nghĩa là những người như thế không thể không nói dối, giết người và trộm cắp. Mỗi tầng có thực tại riêng của nó. Nếu bạn sống ở tầng Sợ hãi hoặc Tức giận, đó cũng là cách bạn hành động. Biết sự kiện này sẽ giúp chúng ta thôi phán xét những người hành động theo những cách mà chúng ta cho là kỳ lạ.  

Ngay cả khi bạn ở tầng Can đảm hoặc cao hơn, có lẽ không phải lúc nào bạn cũng ở tầng đó. Bạn sẽ gặp thử thách. Người nào cũng phải trải qua những giai đoạn khó khăn. Ví dụ, sau khi người thân chết, bạn có thể phải trải qua giai đoạn đau buồn sâu sắc, hoặc sợ hãi về tương lai. Trong trường hợp ly hôn, bạn có thể tức giận trong một thời gian—cho đến khi nhận ra rằng thực ra bạn sẽ tốt hơn nếu không có người đó và hoàn cảnh đó!

Như Dave viết trong cuốn sách này: cuộc sống mang đến cho chúng ta những thử thách. Chúng ta vượt qua khó khăn vì một mục đích nào đó. Khi đang vật lộn với khó khăn, thật khó nhìn thấy được ý nghĩa của nó, vì vậy chúng ta phải có niềm tin, rằng có một mục đích tổng thể nào đó. David đã dạy tôi rằng chúng ta có thể hỏi: “Mục đích của việc này là gì?” Chúng ta nhận ra rằng mình không đơn độc; có một Quyền Năng Cao Hơn đang dõi theo và giúp chúng ta trưởng thành. Ví dụ, khi chúng ta thực sự muốn điều gì đó nhưng không đạt được, sau đó chúng ta có thể nhận ra: “Tôi rất vui vì mình đã không có được điều đó!”

Dave thường nói, “Tình yêu mang đến cái đối lập với nó.” Có nghĩa là khi chúng ta quyết tâm trở thành yêu thương hơn, cuộc đời sẽ mang đến cho chúng ta những người khó yêu thương! Mỗi hành động đều mang đến một phản ứng tương đương, nhưng theo chiều ngược lại. Mỗi ngày, con người và hoàn cảnh đều thử thánh tôi. Dave dạy tôi rằng em không thể làm hài lòng tất cả mọi người, và đó là bài học khó. Đôi khi cần phải nói không. Đôi khi, khi một người nào đó cáu gắt với bạn, tốt hơn hết là nên bỏ đi chứ đừng đứng đó và tranh cãi với người có thái độ tiêu cực. Nếu bạn bỏ đi, điều này cho họ cơ hội cảm nhận tác động của hành động tiêu cực của họ. Đó có thể là một khoảnh khắc dạy bảo nếu họ sẵn sàng. Học hỏi diễn ra trong mọi khoảnh khắc của đời sống. Đôi khi chúng ta là thầy, và đôi khi chúng ta là học trò. 

CHẤP NHẬN CON NGƯỜI MÀ BẠN ĐANG LÀ 

Mục tiêu tuyệt vời là sống ở tầng Tình yêu (500), nhưng đó không phải là việc dễ. Nhiều người đến gặp tôi và nói: “Tôi đang ở tầng 500.” Họ nghĩ rằng họ đang sống ở tầng Tình yêu, nhưng đó chỉ là vọng tưởng chứ không phải sự thật. Khi bạn đọc về tầng Tình yêu trong cuốn sách này, bạn sẽ thấy rằng hầu như không có ai sống được ở tầng đó! Bạn phải gần như là một vị thánh. Nếu bạn đang ở những tầng 400, tức là tầng Lý trí, hoạt động với hiệu quả cao và tìm kiếm Sự thật vì chính Sự thật, thì bạn đang làm tốt. Bạn có thể thoáng thấy những tầng tâm thức cao hơn, nhưng để an trụ ở đó, cần một sự nhất tâm không ngừng nghỉ, và không ai có thể đưa bạn đến đó được. Bạn có thể trải nghiệm nó, và sau đó bạn phải thực hiện công việc nội tâm để vươn lên tới đó và tiếp tục ở đó. Bạn không thể ép buộc mình “vươn tới” tầng cao hơn; đó là bản ngã. Nó phải xuất phát từ ý chí, từ bản chất và trái tim của bạn.

David nói trong cuốn sách này rằng tử tế đối với người khác có vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày và quá trình tiến bộ tâm linh. Ví dụ, nếu bạn thấy một bà cụ đang gặp khó khăn với xe đẩy hàng, hãy nhường đường cho bà ấy. Có lẽ bà ấy đã mệt mỏi vì phải đứng. Hãy tử tế với người mẹ mang thai có con đang khóc trong xe đẩy. Thay vì nhìn cô ấy bằng ánh mắt khó chịu và đánh giá cô ấy là một “người mẹ chẳng ra gì”, hãy nhường đường cho cô ấy. Chậm thêm 10 phút thì có sao? Nếu mục tiêu của bạn là tiến hóa, thì tử tế là công cụ quan trọng nhất.

Một điểm khác mà Dave nhấn mạnh là không có tầng nào tốt hơn tầng nào, bởi vì mỗi tầng đều có trách nhiệm riêng của nó. Chỉ cần cố gắng trở thành người tốt nhất có thể và sống trong trạng thái đó càng lâu càng tốt. Khi bạn vươn tới tầng Chấp nhận (350), thì bạn đã chấp nhận con người mà mình đang là. Tất cả chúng ta đều tới đây với những tầng khác nhau, và cần cam kết hoàn toàn để tiến hóa lên tầng cao hơn. Mặc áo choàng trắng và nói những lời đúng đắn không có nghĩa là bạn ở tầng cao hơn; nó chỉ có nghĩa là bản ngã của bạn nghĩ rằng bạn đứng cao hơn!

Nếu bạn có khả năng trung thực và không phán xét bất cứ điều gì là “cao” hay “thấp”, thì bạn sẽ có nhận thức tốt về bản thân mình, một cảm nhận bên trong về vị trí của mình trên Bản đồ này. Nếu muốn tiến hóa, hãy nhìn vào những điểm bạn có thể cải thiện. Hãy trung thực về những điểm yếu của mình. Có thể bạn thiếu kiên nhẫn và cần phải tử tế hơn. Có thể bạn đang gắn bó hoặc nghiện một điều gì đó và cần có can đảm để từ bỏ nó. Có thể bạn là người dễ bị lợi dụng và cần phải thôi, không để cho người khác chà đạp mình nữa. Tôi thích câu: “Lần đầu, lỗi là ở bạn; lần thứ hai, lỗi là ở tôi!” Chỉ vì một người nào đó là thành viên trong gia đình hay đồng nghiệp không có nghĩa là bạn cho phép họ đối xử tệ với mình.

Đôi khi mọi người nghĩ rằng họ sẽ tiến hóa bằng cách đắm mình trong những trường năng lượng cao nhất. Họ nói với tôi: “Tôi chỉ nghe những bản nhạc và đọc những cuốn sách nằm ở vị trí cao nhất trên Bản đồ này!” Họ đánh giá mọi thứ trên thế gian này là “thấp kém”. Đây là bản ngã tâm linh tự cho mình cao hơn người khác. Nếu họ ở tầng mà họ nghĩ, họ sẽ nhận ra sai lầm của mình. Bản ngã thích là người đặc biệt. Bản ngã nói: “Tôi ở đây, còn bạn ở đó.” Đó không phải là mục đích của Bản đồ này. Nó là công cụ để bạn học hỏi và phát triển. Nếu bạn thành thật về những khó khăn mà mình đang gặp, bạn sẽ thấy cách vượt qua và tự động tiến lên trên Bản đồ.

Dave chưa bao giờ nói: “Tôi là một người thầy đã chứng ngộ,” nhưng tôi đã thấy ông sống ở tầng đó. Ông rất khiêm tốn và giản dị. Ông không coi mình là người tốt hơn bất cứ người nào khác. Ông chỉ biết mình có trách nhiệm chia sẻ con người mà mình đang là và giúp đỡ thế giới bằng mọi cách có thể. Khi bạn đã đạt được điều đó, bạn không cần phải nói gì về bản thân mình. Ở những tầng cao hơn, bạn không có hứng thú tự quảng bá chính mình. Tôi đã thấy Dave gặp gỡ những người cần ông giúp đỡ với tư cách là bác sĩ, và tất cả những gì họ tặng ông chỉ là một gói cà phê. Sau khi ông qua đời, tôi mất đến hai năm mới xử lý được tất cả số cà phê này!

Cuốn sách này là để tưởng nhớ ông, vì cuộc đời ông đã để lại cho chúng ta một minh chứng đẹp đẽ về phụng sự vô vị kỉ vì lợi ích của toàn thể nhân loại. Tôi hy vọng và cầu nguyện rằng cuốn sách này sẽ hữu ích cho hành trình của bạn. Như Dave đã nói với chúng ta: “Con đường thẳng và hẹp. Đừng lãng phí thời gian!” 

—Susan J. Hawkins,

Chủ tịch Viện Nghiên cứu Tâm linh,

do Tiến sĩ David R. Hawkins sáng lập



Ghi chú của người dịch

 

Lời nói đầu&Dẫn Nhập 

[i] Consciousness – Tâm thức. Trong phần Thuật ngữ, David Hawkins giải thích: “Tâm thức là nền tảng bất khả quy giản của tồn tại, vô hình tướng nhưng bao hàm mọi hình tướng. Nó là vô hạn, không có khởi đầu và không có kết thúc. Trường tâm thức, theo một hệ thuật ngữ khác, được gọi là Phật tính hay Tâm của Thiên Chúa (Mind of God). Có thể ví nó như một trường điện từ vô hạn và toàn năng. Mỗi vật đều có vị trí riêng của mình trong trường này, tương tự như một mạt sắt; vị trí của bạn trong trường phụ thuộc vào “điện tích” của bạn — tức là dựa trên những quyết định mà bạn đã chọn lựa. Khi bạn nói: “Tôi tha thứ cho người đó”, bạn dịch chuyển lên cao hơn trong trường này. Còn nếu bạn nói: “Tôi sẽ trả đũa kẻ xấu đó”, bạn dịch chuyển xuống thấp hơn. Rõ ràng, không thể đổ lỗi cho Thiên Chúa hay cho bất kỳ ai khác”.

Như vậy là: Consciousness không chỉ là “ý thức” theo nghĩa tỉnh táo hay thái độ đạo đức. Trong hệ thống của David R. Hawkins, Tâm thức là nền tảng bất khả quy giản của tồn tại — một Trường bản thể vô hình tướng nhưng bao hàm mọi hình tướng, không có khởi đầu và không có kết thúc.

Thang đo từ 0 đến 1.000 không đo các trạng thái tâm lý nhất thời, mà biểu thị vị trí tương đối của cá nhân trong Trường Tâm thức. Vì vậy, Level of Consciousness được dịch là Tầng Tâm thức: “Tầng” ở đây không phải là bậc thang xã hội hay cảm xúc, mà là định vị năng lượng–nhận thức trong cùng một Trường bao trùm.

Mỗi Tầng biểu lộ như một tâm tính đặc trưng — một “cặp kính” qua đó con người trải nghiệm và diễn giải thực tại. Tâm tính vì vậy không chỉ là trạng thái tâm lý cá nhân, mà là một cấu hình năng lượng với tần số rung động đặc thù, quyết định cách một cá nhân nhận thức thực tại và mức độ hòa hợp của họ với Sự thật. Khi thay đổi thói quen tư duy và hành xử hằng ngày, ta có thể dịch chuyển Tầng chủ đạo của mình. Đó chính là tu tâm tính. Nói ngắn gọn: tu tâm dưỡng tính là tiến trình làm sạch và điều chỉnh tâm tính nhằm giảm thiểu những can nhiễu của bản ngã, để Tầng Tâm thức cao hơn — vốn đã hiện diện — có thể biểu lộ rõ ràng hơn.

Tuy có một Tầng chủ đạo, Tâm thức vẫn có thể dao động tùy hoàn cảnh và mức độ trưởng thành nội tâm. Ở các tầng cao nhất (700–1.000), Tâm thức không còn được trải nghiệm như một mức độ, mà như chính bản thể tuyệt đối.

Vì lý do nhất quán với hệ thuật ngữ của tác giả, bản dịch này sử dụng “Tâm thức” cho Consciousness và “Tầng” cho Level. 

Tâm trí và Tâm thức. Cần phân biệt rõ giữa Tâm trí (Mind) và Tâm thức (Consciousness).

Tâm trí là nội dung: suy nghĩ, cảm xúc, ký ức, hình ảnh — tất cả những gì sinh khởi và thay đổi liên tục. Tâm thức là nền tảng cho phép toàn bộ nội dung ấy xuất hiện.

Tâm thức không phải là một “vật thể” mà ta sở hữu, cũng không phải một bộ phận trong não bộ. Nó là điều kiện tiên quyết của mọi trải nghiệm. Có thể hiểu Tâm thức qua ba tầng nghĩa:

1. Tâm thức như là “Ánh sáng”. Xin hình dung tâm trí như một cuốn phim đang được chiếu. Suy nghĩ và cảm xúc là nội dung của bộ phim. Tâm thức là luồng ánh sáng từ máy chiếu.

Nếu không có ánh sáng, phim không thể hiển lộ. Ánh sáng không đồng nhất với nội dung phim, nhưng độ trong và cường độ của ánh sáng quyết định chất lượng hình ảnh được thấy. Tâm thức vì vậy là nền tĩnh lặng vượt ngoài thời gian, nơi các hiện tượng sinh và diệt.

2. Tâm thức như là “Trường năng lượng”. Tâm thức không nằm trong não bộ. Não bộ — biểu hiện sinh học của Tâm trí — có thể ví nó với thiết bị thu–phát.

Tâm thức là một Trường bao trùm. Mỗi cá nhân định vị ở một Tầng khác nhau trong Trường ấy. Ở mỗi Tầng, mức độ đồng điệu với Sự thật là khác nhau. Tầng càng cao, tâm tính càng trưởng thành; bản ngã càng lùi lại; sự sáng tỏ càng hiển lộ.

3. Tâm thức và Cái biết (awereness). Ở những Tầng thấp, Tâm thức được trải nghiệm như sự phân biệt giữa “tôi” và “cái kia”. Ở những Tầng rất cao (trên 600), sự phân biệt ấy dần tan biến.

Khi đó, Tâm thức được trải nghiệm như Nhận biết thuần khiết (pure awareness) — nơi người biết và cái được biết không còn là hai. Đó là trạng thái Nhất thể. 

Hữu thức – Tiềm thức – Vô thức.  Để tránh nhầm lẫn, cần phân biệt rõ các thuật ngữ của tâm lý học hiện đại với hệ thống của David R. Hawkins. 

Trong tâm lý học, người ta thường nói đến ba tầng của tâm trí: Hữu thức (Conscious), Tiềm thức (Subconscious) và Vô thức (Unconscious). Tuy nhiên, trong hệ thống của Hawkins, toàn bộ các khái niệm này đều thuộc về Tâm trí (Mind) — tức là nội dung của trải nghiệm — chứ không phải Tâm thức (Consciousness).

1. Tâm trí Hữu thức/Có ý thức (Conscious Mind). Tâm trí hữu thức là phần ta nhận biết trong khoảnh khắc hiện tại: suy nghĩ, cảm xúc, lựa chọn, sự chú ý. Nếu ví với máy tính, đây là màn hình hiển thị — nơi các nội dung đang vận hành xuất hiện rõ ràng. Khi ta đang tức giận, yêu thương hay vị tha, ta biết mình đang suy nghĩ và cảm nhận như vậy. Vai trò của tâm trí hữu thức đặc biệt quan trọng trong việc tu tâm tính. Chỉ thông qua quan sát hữu thức, ta mới có thể nhận ra các thói quen phản ứng và chủ động thay đổi “cặp kính màu” mà ta dùng để nhìn cuộc đời. Tuy nhiên, tâm trí hữu thức chỉ là phần nổi của cấu trúc tâm trí.

2. Tâm trí Tiềm thức (Subconscious Mind). Tiềm thức là kho ký ức, cảm xúc bị dồn nén và các phản xạ tự động. Nếu ví với máy tính, nó giống như ổ cứng cá nhân — nơi lưu trữ các “chương trình” vận hành mà ta không cần ý thức mỗi khi sử dụng. Ví dụ: Lái xe mà không cần suy nghĩ từng thao tác; Phản ứng tức giận gần như tự động trước một lời chỉ trích; Cảm giác lo âu xuất hiện mà không rõ nguyên nhân

Theo Hawkins, nhiều “chương trình” vận hành đời sống nằm ở tầng này. Khi tiềm thức chứa nhiều nội dung dựa trên sợ hãi, mặc cảm hay phòng vệ, các phản ứng ấy có thể giữ mãi người đó ở những Tầng Tâm thức thấp, vì chúng liên tục tái tạo một cách nhìn méo mó về thực tại. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh: tiềm thức không tự nó quyết định Tầng Tâm thức, mà chỉ là một phần của cấu trúc biểu hiện trong trường này mà thôi.

3. Tâm trí Vô thức (Unconscious Mind). Trong tâm lý học — đặc biệt ở Jung — vô thức bao gồm: Những nội dung bị đè nén sâu; Các nguyên mẫu; Bản năng sinh tồn; Những khuynh hướng tập thể mà cá nhân không ý thức được. Tuy nhiên, trong hệ thống của Hawkins, vô thức vẫn thuộc về Tâm trí. Nó không phải là Trường Tâm thức phổ quát. Điểm then chốt là: Tâm trí — dù hữu thức, tiềm thức hay vô thức — đều là nội dung; Tâm thức là trường nền cho phép toàn bộ nội dung ấy xuất hiện.

Vì vậy, không nên đồng nhất “vô thức tập thể” với “Trường Tâm thức”. Vô thức là một phần của cấu trúc tâm trí; Trường Tâm thức là nền tảng phi cá nhân vượt ngoài tâm trí.

 Hiệu chỉnh (Calibration) là gì? Trong hệ thống của David R. Hawkins, hiệu chỉnh không có nghĩa là “truy cập vào một cơ sở dữ liệu vô thức” hay đọc thông tin từ một tầng tiềm ẩn nào đó của tâm trí. Theo ông, cơ thể con người phản ứng với sự thật vì nó vốn đã nằm trong Trường Tâm thức. Khi một mệnh đề phù hợp với Sự thật, hệ thần kinh duy trì sức mạnh và trương lực. Khi một mệnh đề sai lệch, phản ứng sinh lý suy yếu. Phương pháp kiểm tra cơ thể động học (muscle testing) được xem như một cách xác nhận mức độ đồng điệu — hoặc không đồng điệu — của một nội dung với Trường này. Nói cách khác: Không phải ta truy cập vào một “Internet vô thức”. Mà chính hệ thần kinh phản ứng theo mức độ phù hợp của một nội dung với Sự thật trong Trường Tâm thức. 

Thiền trong bối cảnh các Tầng Tâm thức. Thiền không chỉ là thư giãn hay giảm stress. Trong bối cảnh các tầng tâm thức, thiền là quá trình làm sáng tỏ nội dung của Tâm trí, nhằm giảm dần sự chi phối của bản ngã và tăng mức độ đồng điệu với Sự thật.

Quan trọng: Thiền không “chiếu ánh sáng vào vô thức” theo nghĩa vật lý. Thiền làm tăng khả năng nhận biết (awareness), nhờ đó những nội dung từng bị che khuất có thể tự hiển lộ trong không gian nhận thức.

1. Đối với Tâm trí Tiềm thức (Subconscious Mind) – thiền “Dọn dẹp kho chứa”.  Tiềm thức vận hành bằng các chương trình lặp lại: thói quen suy nghĩ, phản ứng cảm xúc, khuôn mẫu hành vi:

a. Nhận diện thói quen. Khi ngồi yên đủ lâu, ta bắt đầu thấy rõ: Dòng suy nghĩ lo âu lặp đi lặp lại; Hối tiếc quá khứ; So sánh và tự phán xét. Những “chương trình” vốn vận hành âm thầm nay trở thành đối tượng được quan sát. Sự quan sát này làm lộ diện điều trước đây bị đồng nhất.

b. Tạo khoảng trống. Thông thường, khi một ý nghĩ tiêu cực xuất hiện, phản ứng tự động nối tiếp ngay sau đó (giận dữ, né tránh, phòng vệ). Thiền tạo ra một khoảng ngắt giữa kích thích và phản ứng. Trong khoảng ngắt đó, nhận thức xuất hiện. Khi không còn bị cuốn theo phản ứng, năng lượng của thói quen cũ dần mất đi sức cưỡng ép. Đây không phải là kìm nén, mà là không tiếp năng lượng cho phản xạ cũ.

c. Tái cấu trúc. Thiền sâu giúp hệ thần kinh chuyển sang trạng thái ổn định hơn. Trong trạng thái này, các niềm tin giới hạn dễ được nhận diện và buông bỏ hơn. Không phải “ép mình nghĩ tích cực”, mà là giảm dần sự bám víu vào những khuôn mẫu đã lỗi thời. Quá trình tái cấu trúc diễn ra tự nhiên khi đồng nhất với nội dung giảm đi. 

2. Đối với Tâm trí Vô thức (Unconscious Mind) – thiền “Soi sáng tầng sâu”

Vô thức chứa: Những xung năng bị đè nén; Những mặc cảm gốc rễ; Các cấu trúc bản ngã hình thành ngay từ khi còn bé. Khi thiền đủ sâu và đủ ổn định, những năng lượng này có thể trồi lên.

a. Giải phóng năng lượng bị dồn nén. Những cảm xúc như mặc cảm tội lỗi, xấu hổ, sợ hãi có thể xuất hiện mà không gắn với ký ức rõ ràng. Thay vì phân tích hay kháng cự, thiền cho phép chúng được: Cảm nhận; Quan sát; Tồn tại trọn vẹn; Tự lắng xuống. Điều làm cảm xúc kéo dài không phải bản thân nó, mà là sự chống cự đối với nó.

b. Nhận ra nền tảng nằm sâu hơn tâm trí. Trong thiền sâu, hành giả có thể nhận ra rằng phía sau mọi nội dung tâm trí — dù tối hay sáng — vẫn có một nền tảng tĩnh lặng không bị tổn thương. Trong ngôn ngữ của Hawkins, đó là sự tiếp xúc với tầng Tâm thức cao hơn — nơi an bình và tình yêu không phụ thuộc vào nội dung tâm trí. Đây không phải là “thoát khỏi tâm trí”, mà là không còn đồng nhất hoàn toàn với nó. 

Vì sao thiền không tự động nâng Tầng Tâm thức? Thiền, tự nó, không bảo đảm sự gia tăng Tầng Tâm thức. Một người có thể ngồi thiền nhiều năm nhưng vẫn vận hành từ kiêu ngạo, sợ hãi hay kiểm soát. Khi đó, thiền trở thành một hoạt động của bản ngã — tinh tế hơn, nhưng vẫn là bản ngã.

Trong hệ thống của David R. Hawkins, điều làm Tầng Tâm thức tăng không phải là kỹ thuật, mà là mức độ thành thật nội tâm và sẵn sàng buông bỏ. Thiền chỉ tạo điều kiện: Làm chậm phản xạ; Làm lộ nội dung bị che dấu; Tạo không gian quan sát.

Nhưng sự chuyển hóa xảy ra khi hành giả: Không biện minh cho bản ngã; Không đổ lỗi; Không che giấu động cơ; Sẵn sàng nhìn thẳng vào những chấp trước của mình.

Nếu thiền được dùng để: Tìm cảm giác đặc biệt; Củng cố hình ảnh “người tu”; Tránh né xung đột nội tâm thì nó có thể củng cố cấu trúc bản ngã thay vì làm tan rã nó. 

Thực hành: Buông bỏ và Phó thác

Trong thiền, khi một ý nghĩ hay cảm xúc sinh khởi, có hai hướng tiếp cận bổ sung cho nhau.

1. Buông bỏ (Letting Go) – Con đường của Nhận biết. Cơ chế: Thấy rõ một cảm xúc hay xung năng đang xuất hiện; Nhận diện nó là một trạng thái tạm thời; Không phân tích, không chống cự, không đồng nhất. Khi không tiếp thêm năng lượng bằng phản ứng của bản ngã, trạng thái đó tự suy yếu. Buông bỏ không phải là đàn áp. Buông bỏ là không thêm “câu chuyện” vào trải nghiệm. Đây là cách làm nhẹ dần Tiềm thức: các phản xạ cũ mất dần sức cưỡng ép khi không còn được củng cố.

2. Phó thác (Surrender) – Con đường của Tin cậy. Với những khối năng lượng quá mạnh (ví dụ mặc cảm sâu, xung năng tự hủy hoại), chỉ quan sát đôi khi chưa đủ. Phó thác là: Thừa nhận giới hạn của bản ngã; Ngừng cố kiểm soát bằng ý chí; Tin cậy vào một nguyên lý cao hơn (Thiên Chúa, Phật tính, Quy luật tự nhiên, hay đơn giản là Trí tuệ của sự sống). Điểm cốt lõi của phó thác không nằm ở ngôn từ tôn giáo, mà ở buông quyền kiểm soát của bản ngã. Dùng ý chí cưỡng ép thường chỉ tạo thêm căng thẳng. Phó thác làm tan rã đối kháng nội tâm. Trong hệ thống của David R. Hawkins, chính thái độ phó thác mới là yếu tố làm giảm Force (bạo lực) và mở ra Power (sức mạnh đích thực).

3. “Thấy” và “Buông” – khác gì nhau? Với suy nghĩ nhẹ: chỉ cần thấy và để nó trôi qua. Với năng lượng sâu: cần thêm yếu tố tin cậy và thả lỏng hoàn toàn. Cả hai đều là giảm sự cưỡng ép của bản ngã. Khác nhau ở mức độ bám chấp cần được tháo gỡ. 

Khi mặc cảm tội lỗi trồi lên trong tu tập. Đây là hiện tượng rất phổ biến.

Câu trả lời cân bằng là: nó có thể đến từ cả Tiềm thức lẫn tầng sâu hơn của cấu trúc tâm trí. 1. Từ Tiềm thức: Nhiều mặc cảm không biến mất — chúng chỉ bị đè nén. Khi hành thiền: Mức độ kiểm soát của bản ngã giảm; Tâm trí trở nên yên hơn. Những ký ức từng bị né tránh bắt đầu nổi lên. Đây thường là dấu hiệu của quá trình “dọn dẹp”, không phải là thụt lùi. 2. Ở tầng sâu hơn của cấu trúc bản ngã. Mặc cảm tội lỗi đôi khi không gắn với một sự kiện cụ thể, mà là một cấu trúc tự trừng phạt. Trong hệ thống hiệu chỉnh của Hawkins, Mặc cảm tội lỗi có điểm hiệu chỉnh rất thấp (30), vì nó mang năng lượng tự hủy hoại và tự kết án.

Khi hành giả tiến bộ, những cấu trúc sâu này có thể trồi lên để được thấy và buông. Quan trọng là: Không cần giả định rằng mình đang “gánh nghiệp cho nhân loại”. Chỉ cần hiểu rằng tâm trí con người có những tầng cấu trúc phổ quát.

Cạm bẫy tinh vi của bản ngã. Khi mặc cảm xuất hiện, bản ngã có thể thì thầm: “Tại sao tu mãi mà vẫn còn như vậy?” “Chắc mình không tiến bộ.” “Mình quá tệ.” Đây là một dạng bạo lực tinh vi: tự phán xét dưới danh nghĩa tu tập. Thấy được cơ chế này đã là một bước dịch chuyển Tâm thức.

Tóm lại, Thiền không phải là: Đè nén tâm trí; Cố đạt trạng thái đặc biệt; Truy cập một “cơ sở dữ liệu bí mật”. Mà là: Tăng độ sáng rõ của Nhận biết; Giảm sự đồng nhất với nội dung của tâm trí; Làm suy yếu dần các cấu trúc bản ngã; Mở ra sự đồng điệu cao hơn với Sự thật. Và khi những điều “xấu xí” trồi lên, đó thường không phải là thất bại —mà là dấu hiệu rằng nhận biết đã đủ ổn định để thấy những gì trước đây bị che khuất.

[ii] Trong bản dịch này, từ God được dịch là Thiên Chúa, theo bối cảnh văn hóa–tôn giáo của tác giả là một Ki-tô hữu. Người đọc thuộc các truyền thống tâm linh khác có thể hiểu tương đương là Thượng Đế, Đấng Tuyệt Đối, hoặc danh xưng thiêng liêng phù hợp với niềm tin của mình. Tác giả sử dụng ngôn từ hữu thần (theistic) để diễn đạt những trải nghiệm phi hữu thần (non-theistic), nhằm bắc cầu nối giữa tôn giáo truyền thống và nhận thức tâm linh thuần túy.

[iii] Enlightenment – Chứng ngộ/Khai sáng. Người ta thường dùng thuật ngữ “Giác ngộ”, tuy nhiên người dịch cho rằng từ này có thể dẫn tới sự hiểu lầm như một trạng thái “hiểu ra” bằng trí năng. Trong văn cảnh các tác phẩm của David R. Hawkins, thuật ngữ “Chứng ngộ” được sử dụng để nhấn mạnh đây không phải là sự lĩnh hội khái niệm, mà là sự thể nghiệm trực tiếp và toàn diện. Chứng ngộ là sự tan biến hoàn toàn của bản ngã riêng biệt để nhận ra đồng nhất tính với trường Hiện hữu vĩnh hằng của Vạn Hữu, nơi Sự thật tự chiếu rạng mà không cần qua trung gian của suy luận hay diễn giải trí năng. Trong các tác phẩm của mình, David R. Hawkins còn sử dụng những thuật ngữ như Realization, Satori, Self-Realization và Awareness nhằm diễn đạt những cấp độ hoặc khía cạnh khác nhau của tiến trình tâm linh. Realization – Ngộ/Thể ngộ: là sự trực nhận nội tâm về một chân lý vốn đã hiện hữu. Đây không phải là suy luận trí thức hay lý giải kinh văn, mà là sự “thấy ra” một cách tức thời. Trong tiến trình này có thể bao gồm tiệm ngộ (thấy dần dần) và đốn ngộ (thấy bất chợt). Satori – Đốn ngộ: thuật ngữ của Thiền tông Nhật Bản, chỉ một trải nghiệm bừng sáng trực tiếp về bản chất thực tại. Satori có thể là một thoáng hiện sâu sắc, nhưng chưa hẳn đồng nghĩa với trạng thái Chứng ngộ ổn định và vĩnh viễn. Self-Realization – Chứng ngộ Chân Ngã/Kiến Chân Tính: là sự nhận ra rằng bản chất thật của mình không phải là bản ngã cá nhân, mà là Self – Đại Ngã hay Bản thể phổ quát. Đây là sự chuyển dịch căn bản từ đồng nhất với cái tôi riêng biệt sang nhận biết bản tính vô hạn. Awareness – Nhận Biết/Tỉnh thức thuần túy: trong ngữ cảnh này, Awareness không chỉ là ý thức thông thường, mà là Nhận Biết tự thân – trạng thái tỉnh giác không còn chủ thể và đối tượng tách biệt. Như vậy, các thuật ngữ trên không phải là những khái niệm rời rạc, mà là những cách diễn đạt khác nhau về những chiều sâu và mức độ khác nhau của cùng một tiến trình: sự tháo gỡ bản ngã và sự hiển lộ của Đại Ngã.