VÒNG TRÒN MA THUẬT
Sách của NXB Vô
Danh
Iciệt
Nghị
luận chọn lọc & Lời bộc bạch (2014) – tạp
luận
Hà
Nội & 5 tiểu luận (2014) – tiểu luận
triết học
Về
Đồng-tính (2014) – tiểu luận triết học
Những
ngày cuối tháng 4 (2014) – tiểu thuyết
giải trí
Hai
thế kỷ Vol.1 (2015) – tiểu thuyết
Tết
& … (2015) – tạp luận & nghị luận
Về
Chính trị (2015) – tiểu luận triết học,
in nội bộ
Về
Giáo dục (2015) – tiểu luận triết học, in
nội bộ
Saigon
– Nghĩ về ăn (2015) – tạp luận, in nội bộ
Saigon
– Nghĩ về yêu (2015) – tạp luận, in nội
bộ
Những
mảnh tường vôi vỡ (2015) – tập truyện, in
nội bộ
Một
người xứ Annam (2016) – tiểu thuyết
Chiến
lược cho biểu tình (2016) – tiểu luận
Dịch
giả Phạm Nguyên Trường
1984,
G. Orwell (2015) – tiểu thuyết
Trại
súc vật, G. Orwell (2016) – tiểu thuyết
Đường
về nô lệ, F. Hayek (2016) – tiểu luận
triết học
Những
tiểu luận về chính quyền, tuyển tập (2016) – in nội bộ
Vòng
tròn ma thuật, A. Koestler (2016) – tiểu
thuyết
Võ
Phiến
Văn
học miền Nam: Tổng quan. Vol.1 (2016) – chưa
in
Phạm
Duy
Hồi
ký 1: Thuở ấu thơ & vào đời (2016) – Iciệt
biên tập, chưa in
Trần Trọng Kim
Hồi ký: Một cơn gió bụi (2015) – Iciệt biên tập
Liên hệ: https://www.facebook.com/nxbvodanh/

A. Koestler
Vòng tròn ma thuật
Phạm Nguyên Trường dịch
Đinh Bá Anh đọc bản thảo
Drakness at Noon,
A. Koestler, 1940
Bản chuyển ngữ: Vòng tròn ma thuật, Phạm
Nguyên Trường dịch, A. Koestler, 2016
Bản quyền: Thuộc
dịch giả © Phạm Nguyên Trường
Bản quyền in ấn: Được sự chấp thuận của
dịch giả cho 500 bản in, 2016.
Biên tập: Iciệt & Giấy Vụn
Tranh vẽ & hình bìa: Cá lồng đèn
Thực hiện kỹ thuật: Cá lồng đèn
NXB Vô Danh
In 500 bản, tại Đô-thành Saigon, 2016
Chân thành cảm ơn Thư viện Pétrus Ký đã hỗ trợ kinh phí cho việc in ấn, giúp phổ biến
tri thức về lĩnh vực tự do, dân chủ và pháp quyền.
MỤC LỤC
Lời
giới thiệu............................................................................................. 7
Lời giới thiệu của talawas chủ nhật cho lần xuất bản thứ nhất........... 11
Lời người dịch......................................................................................... 13
Đợt thẩm vấn thứ nhất........................................................................... 17
Đợt thẩm vấn thứ hai........................................................................... 113
Đợt thẩm vấn thứ ba............................................................................ 179
Vĩ thanh................................................................................................. 253
Thay lời bạt........................................................................................... 279
Lời giới thiệu
Vào thời điểm những cơn mưa nặng hạt bắt
đầu phủ lên dải đất miền Nam, không khí cách mạng mùa Thu miền Bắc nhận được sự
xa lánh từ dân chúng và toàn bộ cương thổ quốc gia rung lên nhịp đập; đất nước
đang lên tiếng, ở trong mỗi chúng ta, người Việt; đó là lúc, chúng ta nhận ra rằng
sức chịu đựng của người Việt đã đạt đến ngưỡng cuối cùng, niềm tin dành cho kẻ
cai trị đã mất.
Chính trị không còn là phạm trù nhạy cảm.
Chỉ trích chính quyền không còn là nỗi sợ. Nhạo báng kẻ cai trị không phải là
"phạm thượng". Và hiển nhiên, sự thay đổi không còn là mong muốn mà
phải là mệnh lệnh. Chính người dân chứ không phải tầng lớp cai trị đã đưa ra mệnh
lệnh đó.
Vậy, cái không khí mùa Thu vừa lãng mạn
vừa ngột ngạt liệu có báo trước một cuộc cách mạng nào khác không?
Tôi tin là có, ít nhất là có một cuộc
cách mạng về việc truy tầm bản chất của chế độ toàn trị. Trên mạng, nhiều tờ
báo mạng dưới góc nhìn độc lập của mình đã phô bày khuyết tật của nền chuyên
chính vô sản; facebook tham gia vào cuộc cách mạng chống lại sự kiểm duyệt truyền
thông vốn là quyền lực tuyệt đối từ xưa đến giờ của chế độ; những blogger đã dự
phần vào cuộc chiến phản biện với miệng lưỡi kẻ cai trị. Tất cả, đều góp phần
vào sự thay đổi, đầu tiên là ở sự thức tỉnh.
Trong bối cảnh đó, việc nhìn nhận lại
chiếc nôi đầu tiên của chế độ cộng sản, của người Nga và liên bang Xô Viết, sẽ
giúp cho chúng ta có cái nhìn khách quan hơn về lịch sử.
Tác phẩm này, Vòng tròn ma thuật, là một
kiệt tác viết về nỗ lực của đám trí thức thân cộng đã dấn thân vì lý tưởng của
mình và đã bị giết bởi chính lý tưởng của mình. Một giấc mơ quá lớn và đã bức tử
mọi giấc mơ khác. Đọc tác phẩm này, chúng ta có thể gợi lại những tên tuổi trí
thức hàng đầu Việt Nam đã hăng say theo Hồ Chí Minh và vây cánh của ông ta, họ
góp phần kiến tạo nên thể chế què quặt và đui mù này, họ là những khai quốc
công thần và đồng thời ký tên vào bản án khai tử cho sự tự do của chính mình.
Chẳng ai khác, chính niềm tin mù quáng của họ đã phủ bức tường sắt trong đầu mỗi
người dân, đóng cánh cửa kết nối với thế giới bên ngoài, tự kiểm thảo bản thân
mỗi ngày trong nhọc nhằn tư tưởng.
Để đổi được gì? Ngoại trừ cơn thổ huyết
của Văn Cao trên chiếc bàn kiểm thảo, một triết gia ở mức độ thế giới như Trần
Đức Thảo bị giam lỏng trong nỗi vô cảm của con người cho đến lúc chết, tài năng
Nguyễn Mạnh Tường đã bị vùi dập cho đến lúc chết chỉ vì muốn làm một người trí
thức độc lập và đứng cạnh người dân.
Không trách được họ, ngay cả những tên
tuổi lớn ở thế giới như Jean-Paul Sartre, Foucault, Russell v.v. đã nhiệt tình
năng nổ với chủ nghĩa cộng sản cho đến khi họ rời bỏ nó.
Nhưng lúc này, bi kịch của họ chưa chấm
dứt mà xem chừng còn bắt đầu một chu kỳ mới. Vòng tròn lẩn quẩn.
Lời giới thiệu của talawas chủ nhật
cho lần xuất bản thứ nhất
Sonnenfinsternis (Nhật
thực) là tên bản
gốc tiếng Đức tác phẩm quan trọng nhất của Arthur Koestler. Với việc xuất bản Nhật thực trong bản dịch tiếng Anh Darkness at Noon, tác giả đoạn tuyệt hoàn toàn với chủ nghĩa cộng
sản. Bản dịch tiếng Pháp Le Zéro et
l’Infini năm 1946 với 400.000 bản gây tiếng vang lớn và khiến Đảng
Cộng sản Pháp phải ra những biện pháp đối phó. Từ đó
đến nay, Nhật thực trở thành một
tác phẩm kinh điển của văn học thế giới thế kỉ 20, thường được
nhắc chung với Trại súc vật và 1984 của George Orwell. Tại miền Nam trước 1975, Nhật thực được Nhà xuất
bản Đen Trắng ấn hành năm 1973 với nhan đề Tội công thành, qua bản dịch từ tiếng Pháp của Quốc Ấn. Tại miền Bắc trước 1975 và
tại Việt Nam từ 1975 đến nay, tác phẩm này chưa bao giờ được ra mắt
độc giả trong bản tiếng Việt.
Giới thiệu Nhật thực qua bản dịch từ tiếng Anh của dịch giả Phạm
Nguyên Trường với nhan đề Vòng tròn ma thuật kì này, chúng tôi mong muốn gửi đến độc
giả Việt Nam hi vọng về một tương lai trong đó chúng ta vĩnh viễn
không bao giờ phải trải qua những kinh nghiệm như được miêu tả trong
tác phẩm cay đắng này nữa.
Lời người dịch
Đây
là bản dịch tác phẩm Darkness at
Noon, một trong những tác phẩm nổi
tiếng nhất của Arthur Koestler, đã được nhà xuất bản Random House xếp thứ 8
trong 100 cuốn tiểu thuyết hay nhất trong thế kỷ XX. Người dịch cho
rằng sẽ rất hợp lý nếu chuyển ngữ tên tác phẩm này thành Đêm giữa ban ngày nếu như trước
đó chưa có một tác phẩm đã rất nổi tiếng cùng tên của nhà văn
Vũ Thư Hiên. Nhưng những độc giả có đủ kiên nhẫn đọc hết tác
phẩm cũng như lời bạt thì sẽ thấy rằng Vòng tròn ma thuật hoàn toàn không phải là ngẫu hứng của
người dịch, đấy là tên nguyên bản bằng tiếng Đức (đã thất lạc) do
chính A. Koestler chọn, còn tên của bản tiếng Anh lại do
nữ dịch giả Daphne Hardy đặt ra sau này (bản tiếng Pháp tác phẩm này
lại có tên là Số không và vô cực,
còn trong bản tiếng Nga lại là Tối
đến loá mắt).
Xin
được nói thêm đôi lời về tác giả Arthur Koestler. Ông là người gốc Do Thái, sinh năm 1905 tại
Budapest, thời thanh thiếu niên ông sống và học tập ở Hung, Áo và Đức.
Koestler tham gia tích cực vào những cuộc xung đột
xã hội và tư tưởng chủ yếu của thời đại mình. Trở thành
đảng
viên cộng sản trong những năm 1930 và đã đi thăm Liên Xô một thời
gian, thất vọng và ra khỏi Đảng vào năm 1938. Cuối năm đó ông bị lực
lượng phát–xít Tây Ban Nha bắt và bị kết án tử hình. Được tha
vào phút chót nhờ sự can thiệp của chính phủ Anh, ông đến Pháp vài
năm sau thì lại bị bắt vì quan điểm chính trị. Sau khi được tha vào
năm 1940 ông đến Anh và sống ở đây đến cuối đời. Những cuốn tiểu
thuyết, những bài phóng sự cũng như các tác phẩm viết về văn hoá
và chính trị đã đưa tên tuổi ông thành một trong những nhà bình luận
quan trọng nhất về những nan đề của thế kỷ XX. Ông mất năm 1983.
Phần
lớn chú thích trong sách là của người dịch (ND).
“Kẻ
thiết lập nên chế độ chuyên chế mà không giết Brutus cũng như kẻ lập
nên nền cộng hoà mà không giết các con của Brutus thì chỉ có thể
cầm quyền trong một thời gian ngắn.” – Machiavelli (“Discorci”)
“Thưa
đại nhân, thưa đại nhân, mỗi người tất phải có một nơi mà người
ta thương hại mình chứ!” –
Dostoievski (“Tội ác và hình phạt”)
Các nhân vật trong cuốn sách này
đều là hư cấu. Nhưng hoàn cảnh lịch sử quyết định hành vi của họ
thì chân thực. Nhân vật N. S. Rubashov được tạo ra từ cuộc đời của
một số nạn nhân của cái gọi là Những vụ án ở Moskva. Tác giả có
quen biết một vài người trong số đó. Cuốn sách này được viết nhằm
tưởng nhớ hương hồn họ.
Paris,
tháng 10 năm 1938 – tháng 4 năm 1940


Đợt thẩm vấn thứ nhất
“Tất cả các nhà cầm
quyền đều có tội.” – Saint–Just
1.
Cửa
phòng giam rít lên ken két rồi đóng sập lại.
Rubashov
dựa lưng vào tường, anh đứng như thế một lúc rồi lấy thuốc lá ra
hút. Bên phải anh, trên một cái giường hẹp là hai cái chăn đã
nhàu nát và một cái nệm nhồi rơm còn mới, căng phồng. Bên trái
có một vòi nước và một cái chậu rửa bằng sắt tây đã han rỉ lỗ
chỗ. Bên dưới chậu rửa là một cái thùng dùng làm hố xí bằng gỗ,
người ta vừa mới sát trùng xong: mùi clor vẫn còn vương vất đâu
đây. Tường gạch cách âm, nhưng có thể truyền tin bằng cách gõ vào
ống dẫn nước nóng. Cửa sổ cao đúng tầm mắt, anh có thể nhìn ra
sân nhà giam mà không cần phải kiễng lên nhòm qua khung chắn song
sắt phía trên. Tạm ổn cả, anh nghĩ như thế.
Rubashov
ngáp, anh cởi áo bành tô rồi gập lại và để lên đầu giường. Sau
đó anh chăm chú nhìn khắp sân trại giam. Tuyết, dưới ánh sáng của
những ngọn đèn pha, ánh lên một màu vàng nhạt. Dọc theo các bức
tường có một con đường hẹp, nghĩa là ở đây được đi dạo. Còn lâu
mới sáng; dù có ánh đèn nhưng vẫn nhìn thấy những ngôi sao xa lấp
lánh ánh bạc. Dọc theo bức tường phía bên ngoài, đối diện với
phòng giam của anh có một người lính đang đi tuần, anh ta bước như
đang duyệt binh, đúng một trăm bước thì quay lại.
Anh
tháo ủng ngay bên cạnh cửa sổ. Sau đó anh uể oải ngồi xuống chiếc
gường sắt rồi để mẩu thuốc lá hút dở bên chân giường và cứ
ngồi yên lặng như thế một lúc. Rồi anh lại đi đến bên của sổ. Sân
trại trống vắng và cực kì yên tĩnh; người lính gác tiếp tục
bước như cũ; bên trên hàng rào nhấp nhô của tháp canh là những
vì sao của dải Ngân hà lấp lánh, nhấp nháy.
Cuối
cùng thì anh cũng đi nằm, anh duỗi thẳng hai chân và vén chăn thật
kỹ. Đồng hồ chỉ năm giờ, chắc là ở đây người ta không bắt dậy
trước bảy giờ, nhất là lại đang mùa đông. Chập chờn nửa thức nửa
ngủ, anh nghĩ rằng ít nhất phải ba bốn ngày nữa mới bị gọi lên
lấy cung. Anh tháo chiếc kính không gọng và để xuống sàn nhà rồi
khẽ nhoẻn miệng cười và nhắm mắt lại. Ấm áp và bình tĩnh đến lạ
lùng, đã nhiều tháng nay anh không được ngủ một cách yên tĩnh như
thế này.
Khi
người giám thị bật đèn và nhìn vào qua cửa sổ thì cựu Dân ủy
Rubashov vẫn còn ngủ, lưng quay vào tường, đầu gối lên tay trái, tay
phải buông thõng xuống sàn, chỉ có bàn tay là khẽ động đậy.
2.
Một
tiếng đồng hồ trước đây, Rubashov đã mơ thấy mình bị bắt trước
khi hai nhân viên của Bộ Dân uỷ Nội vụ đập cửa phòng.
Tiếng
đập càng lúc càng to, Rubashov vươn vai, cố gắng
thoát
khỏi giấc mộng thường nhật. Anh đã biết cách thoát khỏi những cơn
ác mộng hằng đêm vì giấc mơ về vụ bắt giữ thứ nhất cứ thường
xuyên quay trở lại, chính xác như lò xo đồng hồ. Đôi khi anh phải vận
tất cả ý chí để làm cho chiếc lò xo ngừng chuyển động, nhưng nay
thì anh đã bất lực: mấy tuần gần đây anh thấy người rất mệt, trán
lúc nào cũng lấm tấm mồ hôi, khó thở nữa, tiến trình như thế cứ
tiếp tục, mộng mị ngày càng kéo dài hơn.
Thường
thì anh mơ thấy tiếng gõ cửa và ngoài cầu thang có ba người, họ
đến để bắt anh. Anh nhìn thấy họ đằng sau cánh cửa đóng chặt, anh
còn nghe thấy tiếng họ cười to đến rung cả tường. Họ vận những bộ
đồng phục còn mới tinh, đấy là những bộ quân phục vệ binh của nền
Đệ tam Đế chế, ve áo và cổ tay áo có thêu huy hiệu của nền chuyên
chính non trẻ dưới dạng những cây thập tự trông như những con nhện
độc; còn trên tay họ là những khẩu súng lục quá khổ; ủng, thắt
lưng và bao kiếm nồng nặc mùi da thuộc còn mới. Thế mà bây giờ họ
đã có mặt ở đây, ngay trong phòng anh: hai anh chàng có dáng nông
dân cao ngồng, mắt hí và một người thấp béo. Họ đứng ngay cạnh
đầu giường, anh cảm thấy cả hơi thở gấp gáp trên mặt họ và nghe
thấy tiếng thở khò khè vì bệnh hen của anh chàng béo, trong không
khí yên ắng của căn phòng lúc đó, tiếng thở như vậy quả là rất
to. Một người nào đó ở tầng trên bất thình lình giật nước trong
phòng vệ sinh, tiếng nước chảy ồng ộc trong đường ống làm rung
chuyển cả căn nhà.
Thời
gian như ngừng hẳn; tiếng đập cửa ngày càng to hơn; hai người đến
bắt Rubashov thay nhau đấm vào cánh cửa, trong khi người này đấm thì
người kia thổi vào các ngón tay cho đỡ cóng. Nhưng Rubashov không
thể dậy được, mặc dù anh biết rằng điều tồi tệ nhất đã bắt đầu:
họ đã đứng ngay sát giường, thế mà anh vẫn cố mặc chiếc áo khoác
màu trắng. Ống tay áo, như cố tình trêu ngươi, bị lộn trái, không
thể nào lần ra. Rubashov làm một cố gắng cuối cùng, nhưng vô ích
và bất thình lình người anh bỗng cứng đờ ra: anh không thể cử động
được, anh hốt hoảng nhận ra rằng muốn sống còn thì anh phải tìm cho
ra cái ống tay áo đáng nguyền rủa này ngay lập tức. Sự bất lực kéo
dài dường như bất tận, Rubashov vừa thở hổn hển vừa lăn lộn trên
giường, những giọt mồ hội lạnh ướt đẫm hai bên thái dương, còn
tiếng đập cửa thì vẫn như cũ, nghe như những tiếng trống bị nén
lại vậy; cánh tay anh vẫn lục đục mò mẫm bên dưới cái gối, cố
tìm cái ống tay áo và cuối cùng, một cú đánh như trời giáng vào
đầu đã làm anh thoát khỏi cơn ác mộng.
Hôm
nay cũng thế, trong mấy năm gần đây chuyện đó đã xảy ra cả trăm
lần rồi và đây chính là lý do làm cho Rubashov bị điếc, anh mở mắt
ra với cảm giác như vừa bị người ta đập báng súng lục vào mang
tai. Vẫn còn run, cánh tay vẫn tiếp tục lần mò dưới gối để tìm
cái ống tay áo, bởi vì trước khi tỉnh ngủ hẳn anh phải trải qua một
thách thức cuối cùng nữa: tin rằng mình vừa tỉnh cơn ác mộng, còn
khi thức thì anh sẽ lại ở trong một phòng giam, nền phòng bằng đá
ẩm và lạnh, với chiếc thùng gỗ đặt dưới chân giường và lọ nước
với mấy mẩu bánh mì khô, rắn như đá ở trên đầu giường.
Và
lần này cũng vậy, cơn hoảng loạn không tha Rubashov ngay vì anh không
thể đoán được là bàn tay vừa chạm vào cái bình nước hay cái công
tắc của chiếc đèn ngủ để trên cái tủ nhỏ ở đầu giường. Đèn bật
sáng và nỗi sợ hãi lập tức tan dần. Anh hít thở sâu mấy lần, như
uống bầu không khí tự do rồi lấy khăn mặt lau cái trán và phần
hói trên đỉnh đầu lấm tấm mồ hôi. Tính khôi hài đã quay trở lại,
anh nháy mắt với bức ảnh của Anh Cả treo trên đầu giường, những
bức ảnh như thế treo khắp nơi: trên đầu giường, trên nóc tủ...
trong tất cả các căn hộ ngôi nhà Rubashov đang ở, cũng như trong tất
cả các phòng, các căn hộ trong thành phố của anh, trong tất cả các
thành phố của đất nước vô cùng rộng lớn này, bức ảnh của con
người từng đòi hỏi anh những chiến công và hi sinh vô bờ bến, còn
bây giờ nó đang giang vòng tay rộng vô bờ bến che chở cho anh.
Rubashov đã tỉnh hẳn nhưng tiếng gõ cửa thì vẫn vang lên đều đều
như cũ.
3.
Hai
người đến bắt Rubashov hội ý trên cái chiếu nghỉ thiếu ánh sáng
của cầu thang. Còn Vasily, người lao công, được gọi đến làm chứng
thì đứng trước cánh cửa vẫn còn mở của chiếc thang máy, ông cảm
thấy khó thở vì hoảng quá. Đấy là một ông lão gầy còm, ốm yếu;
trên cái cần cổ đầy gân xanh, nhô ra từ chiếc áo đại cán sờn cũ
vừa khoác vội lên trên chiếc áo sơ mi mà lão dùng làm áo ngủ, có
một vết sẹo khá rộng màu vàng trông giống như một cái tràng nhạc.
Đấy là một vết thương từ thời nội chiến, lúc đó ông chiến đấu
trong trung đoàn lừng danh do Rubashov chỉ huy. Sau đó Rubashov được ra
nước ngoài công tác, Vasily chỉ còn biết tin tức của anh qua những
bài báo mà con gái đọc cho nghe mỗi buổi tối. Những bài diễn văn
của Rubashov tại những kì đại hội Đảng thì vừa dài vừa khó hiểu,
nhưng cái chính là Vasily đã không còn nghe thấy âm hưởng của
người chỉ huy râu ria, chửi tục khủng khiếp, đến Đức Bà nhà thờ ở
Kazan trên cao xanh kia cũng phải mỉm cười. Thường thì Vasily ngủ
gục ngay giữa chừng bài diễn văn của Rubashov và chỉ thức giấc khi
cô con gái long trọng đọc những câu cuối cùng, bao giờ cũng kèm theo
những tràng vỗ tay như sấm dậy. Sau những câu khẩu hiệu: “Đảng cộng
sản muôn năm! Cách mạng muôn năm! Lãnh tụ và người Thầy vĩ đại
sống mãi!”, bao giờ Vasily cũng nói “Amen!”, nhưng nói khẽ đến mức
cô con gái không nghe thấy; ông cởi áo khoác rồi bí mật làm dấu
và đi nằm. Từ trên tường, Anh Cả vẫn nhìn Vasily như mọi khi, còn
bên cạnh Anh là một bức ảnh đã ố vàng vì năm tháng của người
chỉ huy trung đoàn Nikolai Rubashov. Họ mà nhìn thấy bức ảnh này thì
ông cũng sẽ bị bắt.
Trên
chiếu nghỉ cầu thang trước phòng Rubashov mọi vật đều yên ắng, tối
và lạnh. Một nhân viên của Bộ Dân uỷ Nội vụ, tay trẻ hơn, đề
nghị bắn vài phát vào ổ khoá. Vasily, chân trần trong đôi ủng rộng,
dựa hẳn người vào cánh cửa cầu thang máy; khi bị đánh thức ông sợ
đến nỗi không quấn nổi xà cạp nữa. Tay nhân viên già hơn không cho
nổ súng: vụ bắt giữ phải được tiến hành trong trật tự. Thỉnh
thoảng họ lại phà hơi vào các ngón tay đã lạnh cóng rồi tiếp tục
gõ cửa, người trẻ hơn còn lấy cả báng súng mà gõ nữa. Có tiếng
phụ nữ la hét ở bên dưới. “Bảo bà ta câm miệng đi!”, người trẻ
tuổi hơn nóI với Vasily. “Này”, – Vasily gào lên – “Nhân viên an ninh
đấy!”. Tiếng la hét ngừng hẳn. Người trẻ hơn đạp mạnh vào cánh
cửa. Tiếng động vang khắp hành lang. Cuối cùng thì khoá cửa bị gãy
và bung ra.
Ba
người đứng sát nhau ngay bên cạnh giường: tay trẻ hơn cầm khẩu
súng lục, tay già hơn thì đứng thẳng như đang “chào cờ” vậy; còn
Vasily thì đứng sau một chút, lưng tựa vào tường. Rubashov đưa tay
lau cái trán lấm tấm mồ hôi và khẽ nheo mắt, theo thói quen của
người cận thị, nhìn ba người vừa mới vào. “Công dân Nikolai
Zalmanovitch Rubashov”, – người trẻ tuổi dõng dạc tuyên bố – “nhân
danh Cách mạng, tôi tuyên bố anh đã bị bắt!”. Rubashov đưa tay tìm
cái kính không gọng ở bên dưới gối, anh cầm lấy kính và đứng
lên. Bây giờ, sau khi đã đeo kính anh mới có vẻ giống với Rubashov
mà lão Vasily và tay nhân viên già hơn thường thấy trong các bức
ảnh vẫn thường xuất hiện trên báo chí. Tay nhân viên già còn đứng
nghiêm hơn trước; nhưng người trẻ tuổi, vốn lớn lên dưới thời
những nhân vật mới, bước đến cạnh giường. – Cả Vasily, Rubashov và
tay nhân viên có tuổi đều nhận thấy rằng hắn chuẩn bị nói, mà
cũng có thể làm, một hành động lỗ mãng không thể chấp nhận được:
sự chậm trễ làm hắn sốt ruột.
“Này
đồng chí, cất súng đi”, Rubashov lên tiếng, “rồi cho tôi biết các anh
đến đây có việc gì.”
“Ông
chưa nghe rõ à? Ông đã bị bắt”, người trẻ tuổi nói.
“Mặc
quần áo nhanh lên.” “Các anh có lệnh không?”, Rubashov hỏi. Người
nhiều tuổi rút từ trong túi áo ra một tờ giấy, sau khi đưa cho
Rubashov anh ta lại đứng nghiêm như cũ. Rubashov yên lặng đọc.
“Thôi được”, anh lẩm bẩm. “Già vẫn
dại, mẹ kiếp...”
“Mặc
quần áo nhanh lên”, người trẻ tuổi nói. Thái độ lỗ mãng của hắn
không phải là giả tạo, thường ngày hắn vẫn có thái độ như thế.
“Chúng ta đã tạo ra thế hệ kế thừa như vậy đấy”, Rubashov chợt
nghĩ. Trong đầu anh lại hiện lên những bức tranh cổ động với những
chàng thanh niên toe toét cười. “Đưa cho tôi cái áo khoác”, Rubashov
bảo, “Đủ rồi, cất súng đi”. Mặt đỏ lên, nhưng anh chàng không trả
lời. Người nhiều tuổi hơn đưa áo khoác cho Rubashov, anh luồn cánh
tay vào ống áo. “Được rồi”, anh vừa nói vừa gượng cười. Ba người
kia không hiểu anh nói gì, vẫn giữ thái độ im lặng nặng nề như cũ.
Rubashov từ từ đứng lên và bắt đầu thu nhặt quần áo vương vãi
khắp phòng. Sau tiếng thét đứt đoạn, ngôi nhà lại chìm vào yên lặng,
nhưng cả bốn người đều có cảm giác như trong nhà này chẳng có ai
ngủ cả, họ chỉ nằm im, thậm chí nín thở, trên giường. Rồi có ai đó
ở tầng trên giật nước trong nhà vệ sinh, tiếng nước chảy ồn ào,
lục bục sôi réo trong đường ống.
4.
Dưới
chân cầu thang có một chiếc ô tô đời mới nhất do Mỹ sản xuất.
Đường phố vẫn còn tối lắm; dân cư các khu nhà bên cạnh vẫn còn
ngủ hay giả vờ ngủ; người lái xe bật đèn pha và họ lần lượt
bước vào trong xe: đầu tiên là tay nhân viên trẻ hơn, sau đó đến
Rubashov và cuối cùng là tay nhân viên có tuổi hơn. Người lái xe
cũng mặc đồng phục của Bộ Dân uỷ, anh ta mở máy và bật đài phát
thanh. Con đưởng rải nhựa chấm dứt ngay sau góc phố và mặc dù họ đi
qua trung tâm thành phố, xung quanh là những toà nhà hiện đại cao
tám, chín, thậm chí mười tầng nhưng con đường lát đá thì lại gồ ghề,
bị xẻ thành rãnh sâu hoắm phủ đầy băng và tuyết. Xe chạy chậm
không khác gì đi bộ thế mà vẫn rung và kêu ầm ầm như một chiếc ba
gác cũ.
“Chạy
nhanh lên một tí”, người trẻ tuổi hơn, có vẻ không chịu nổi sự
yên lặng bao trùm trong xe, lên tiếng.
Người
lái xe chỉ khẽ nhún vai nhưng không quay lại. Anh ta đã liếc nhìn một
cách thiếu thiện cảm khi Rubashov chui vào xe. Một lần, khi Rubashov
bất ngờ lăn ra ốm, người lái xe cấp cứu cũng đã nhìn anh hệt như
thế. Đi trên một chiếc xe rung bần bật lại chạy quá chậm qua những
dãy phố không người, như những dãy phố chết, tạo cho người ta cảm
giác thật khó chịu.
“Còn
lâu nữa không?” Rubashov vừa hỏi vừa nhìn ra con đường bị băm nham
nhở. Xuýt nữa thì anh buột miệng hỏi thêm “Bệnh xá ở đâu?”.
“Khoảng ba mươi phút”, người có tuổi đáp.
Rubashov
lôi thuốc lá ra, anh rút lấy một điếu rồi chìa bao thuốc cho những
người khác. Người trẻ hơn lắc đầu, còn người có tuổi hơn thì
rút hai điếu và đưa về phía trước một điếu cho người lái xe. Tay
lái xe gục đầu xuống cổ áo, sau đó chỉ để một tay trên vô lăng
còn tay kia thì đưa que diêm đang cháy về phía sau. Rubashov cảm thấy
yên tâm phần nào, nhưng ngay sau đó anh lại cảm thấy ngượng. “Gớm,
dễ xúc động thế”, anh thầm nghĩ. Dù sao mặc lòng, anh vẫn muốn nói
chuyện nhằm xua tan sự xa cách bao trùm lên cả bốn người.
“Tiếc
cho cái xe quá”, anh khẽ nói. “Ô tô nước ngoài phải mua bằng vàng,
thế mà đường như thế này thì chỉ mấy tháng là hỏng.” “Đúng như
thế. Đường của chúng ta còn xấu lắm”, người có tuổi hơn hưởng
ứng. Bằng vào giọng nói có thể thấy rằng anh ta đã nhận thấy sự
lúng túng của Rubashov. Rubashov cảm thấy mình như một con chó hoang
được người ta thương hại ném cho mẩu xương nên quyết định không
tiếp tục chuyện trò nữa. Nhưng người trẻ hơn đã hằn học hỏi:
“Bọn
tư bản thì đường tốt hơn à?”
Rubashov
khẽ mỉm cười.
“Thế
anh đã ra nước ngoài bao giờ chưa?”
“Tôi
biết chúng thế nào rồi. Trò tuyên truyền tư sản không tác động
được tôi đâu.”
“Không
biết anh cho tôi là người thế nào nhỉ?”, Rubashov bình tĩnh hỏi.
Nhưng rồi không giữ được nên nói thêm: “Anh nên học lại lịch sử
Đảng đi”.
Người
trẻ tuổi không trả lời, anh ta nhìm chằm chằm vào lưng người lái
xe. Từ đấy trở đi không ai nói thêm câu nào nữa. Xe bị chết máy
lần thứ ba, người lái xe vừa văng tục vừa khởi động lại. Xe nhảy
chồm chồm trên những con đường gồ ghề ngoại ô. Hai bên đường là
những căn nhà gỗ chen vai thích cánh bên nhau, mặt trăng mờ mờ,
lạnh lẽo lững lờ trôi trên những mái nhà gù gù, xiêu vẹo.
5.
Hành
lang của cái nhà tù mới xây này có những chiếc đèn rất sáng. Một
luồng ánh sáng thiếu sinh khí, sáng đến loá mắt rọi lên những bức
tường màu trắng, những cửa sổ phòng giam với những tấm bìa các
tông ghi tên tù nhân, những lỗ nhòm màu đen và khung sắt của tầng
hai. Cái ánh sáng chói chang, nhạt nhẽo và tiếng bước chân trên
nền đá lát không có tiếng vọng này có vẻ quen thuộc với Rubashov
đến nỗi ảo giác của cơn ác mộng kéo dài hồi đêm như chợt hiện
về trong tâm trí. Anh tìm mọi cách thuyết phục mình rằng tất cả
những chuyện đang diễn ra đều không thực. “Nếu ta tin rằng mình đang
ngủ”, anh nghĩ, “thì tất cả những cái này sẽ như một giấc mơ”. Anh
đã tự thuyết phục mình một cách ráo riết đến nỗi đầu tự nhiên
choáng váng và anh cảm thấy xấu hổ vô cùng. “Đã tự nhận là cứu
tinh thì hãy mang lấy cây thập giá”, anh nghĩ. “Đến phút chót”.
Chẳng bao lâu sau viên giám thị đã dừng bước, cửa phòng 404. Bên
trên lỗ nhòm có treo một cái biển màu trắng với hàng chữ: Nikolai
Zalmanovitch Rubashov. “Bài bản đấy”, anh tự nhủ; phòng giam có sẵn
tên tuổi treo ngoài cửa làm anh choáng váng. Anh định bảo viên giám
thị mang cho thêm một cái chăn, nhưng cửa đã rít lên ken két và
đóng sập lại.
6.
Viên
giám thị thỉnh thoảng lại nhìn qua lỗ nhòm. Rubashov vẫn nằm im trên
giường, chỉ có lòng bàn tay buông xuống sát nền nhà là khẽ động đậy;
ở dưới chân giường có những mẩu tàn thuốc lá và cái kính không
gọng.
Bảy
giờ, tức là hai tiếng đồng hồ sau khi Rubashov được đưa vào phòng
giam, anh bỗng giật mình thức giấc bởi một hồi còi kéo dài. Không
bị những giấc mơ thường nhật hành hạ, anh cảm thấy phấn chấn hơn.
Tiếng còi báo thức rúc lên ba lần. Sau hồi còi thứ ba, buồng giam
lại chìm vào im lặng nặng nề. Một ngày mùa đông vừa mới bắt đầu,
ánh bình minh nhợt nhạt làm nhoà đi hình thù của cái thùng gỗ, cái
chậu rửa cùng cái vòi nước. Tấm lưới thép màu đen như được in
vào khung cửa sổ hình vuông mờ ảo; phía trên, về bên trái có một
tấm kính vỡ nhưng đã được ai đó cuộn tờ báo nhét vào. Rubashov nhặt
cái kính và đầu mẩu thuốc lá lên nhưng sau đó lại nằm dài ra
giường. Anh đeo kính và bật diêm. Căn phòng vẫn yên ắng như cũ.
Trong tất cả các tầng quét vôi của cái tổ ong to lớn xây bằng đá
này mọi người đã được đánh thức, cùng vùng dậy và bước vào
ngày mới với những lời rủa xả. Nhưng những người trong phòng biệt
giam thì không nghe thấy gì hết, ngoại trừ tiếng bước chân của cai
ngục bên ngoài hành lang. Rubashov biết rằng anh sẽ phải ở trong
những phòng biệt giam như thế này cho đến ngày ra pháp trường.
Rubashov nằm ngửa, vừa chậm rãi nhả khói vừa lấy tay mân mê chòm
râu ngắn.
“Nghĩa
là đòm”, Rubashov tự nhủ. Mắt lúc lúc lại chớp chớp, nhưng anh vẫn
nằm yên nhìn mấy ngón chân trên cái bàn chân dựng đứng trước mặt.
Anh cảm thấy bình thản; lúc ấy anh đã mệt lắm và chỉ muốn ngủ để
trượt dần vào cái chết, như trượt vào giấc mơ mà không phải chui
ra khỏi cái chăn tù này. “Nghĩa là người ta sắp bắn nhà ngươi.”
Rubashov nhủ thầm với mình như thế. Anh khẽ cử động mấy ngón chân
bên trong tất và chợt nhớ đến bài thơ ví những ngón chân của Chúa
như những con hoẵng trắng trong một khu rừng nhỏ. Anh tháo kính và
lau vào ống tay áo với một động tác mà tất cả đàn em đều biết rõ.
Anh cảm thấy ấm cúng và có thể nói là hạnh phúc, anh sợ mỗi một
việc, đấy là phải dậy và đi. “Nghĩa là người ta sắp tiêu diệt nhà
ngươi”, anh lẩm bẩm và lại lấy một điếu thuốc nữa ra hút mặc dù
anh biết rằng chỉ còn tất cả ba điếu nữa thôi. Điếu thuốc đầu, khi
dạ dày còn rỗng bao giờ cũng làm anh ngây ngất; còn lúc này, chính
anh cũng đang thấy phấn chấn, một trạng thái tình cảm luôn dâng trào
trong anh mỗi khi đối diện với cái chết. Đã có thời anh cho thế là
không tốt, thậm chí hoàn toàn không chấp nhận được, nhưng lúc này
anh không nghĩ như thế. Anh lại nhìn mấy ngón chân đang động đậy
trong tất. Và mỉm cười. Tình thương đối với chính cơ thể của
mình, cái cơ thể mà lâu nay anh vẫn tỏ ra bàng quan, bỗng trào dâng
trong lòng; nhưng khi nghĩ đến cái chết không thể tránh khỏi thì anh
lại thấy cay đắng. “Đội vệ binh già sẽ chết”, anh thì thầm. “Chúng
ta là cuối cùng”. “Chúng ta rồi sẽ chết”. “Sẽ thành tro bụi... tương
lai”. Anh cố gắng ôn lại nhạc điệu câu “Sẽ thành tro bụi...”, nhưng
chỉ nhớ được lời thôi. “Đội vệ binh già sẽ chết”, anh nhắc lại và
cố gắng tưởng tượng hình ảnh của những vệ binh già đó. Nhưng chỉ
nhớ được vài người. Ông chủ tịch đầu tiên của Quốc tế, người
bị tử hình vì tội phản bội, chỉ còn để lại trong tâm trí anh hình
ảnh cái bụng bự sau tấm áo gilê kẻ ô. Ông luôn mang thắt lưng da
chứ không bao giờ đeo dây. Ông Thủ tướng thứ hai của Nhà nước
Cách mạng, cũng đã bị hành quyết, thì luôn cắn móng tay mỗi khi gặp
nguy hiểm... Lịch sử sẽ biện hộ cho các vị, Rubashov nghĩ, nhưng anh
cũng chẳng tin chuyện này lắm. Lịch sử thì có liên quan gì với
những kẻ cắn móng tay? Anh vừa rít thuốc vừa nghĩ đến những người
đã chết và cảnh đoạ đầy mà họ phải chịu trước khi chết. Anh không
căm thù Anh Cả mặc dù ông ta đáng bị như thế. Anh vẫn thường nhìn
lên bức chân dung ông ta treo ngay trên đầu giường và cố gắng tạo
trong lòng tình cảm thù địch với ông ta. Họ đã gọi ông ta bằng
nhiều tên khác nhau nhưng cuối cùng thì cái tên Anh Cả đã được
giữ lại. Nỗi kinh hoàng mà ông ta gây ra cho họ trước hết là vì ông
ta có thể đúng, tất cả những người ông ta giết, ngay cả khi viên
đạn đã nằm trong gáy, cũng phải công nhận rằng ông ta có thể đúng.
Không ai dám chắc như thế; chỉ có cái mà họ gọi là Lịch sử,
nhưng Lịch sử lại chỉ đưa ra lời phán quyết sau khi tất cả những
người bị kết án đã thành tro bụi từ lâu.
Rubashov
bỗng cảm thấy có người đang quan sát mình qua lỗ nhòm. Không cần
nhìn anh cũng biết rằng có một con mắt đang áp sát vào lỗ nhòm để
theo dõi buồng giam; rồi có tiếng tra chìa khoá vào ổ. Phải một lúc
sau cánh cửa mới mở. Giám thị, một lão già thấp bé, chân đi
săng–đan, đứng ngay cạnh cửa, hỏi:
“Tại
sao anh không dậy?”
“Tôi
bị ốm”, Rubashov đáp.
“Mai
anh mới được gặp bác sĩ. Mà bệnh gì thế?” “Đau răng”, Rubashov nói.
“Răng
à?”, viên giám thị hỏi rồi đóng sập cửa lại.
Bây
giờ thì mình có thể ngủ được, Rubashov tự nhủ, nhưng tâm trí đã
không còn được bình tĩnh như trước nữa. Hơi ấm mốc meo của cái
chăn tù làm anh khó chịu. Anh tung chăn ra và lại tiếp tục quan sát
cử động của mấy ngón chân, nhưng cảm giác bực bội lại càng tăng
thêm. Cả hai cái tất đều có lỗ thủng ở gót. Anh muốn vá tất,
nhưng nghĩ rằng phải gõ cửa và phải xin viên giám thị kim chỉ thì
anh thối chí; chắc chắn là họ không cho kim đâu. Giá có một tờ báo
lúc này thì tuyệt biết mấy. Anh rất muốn được ngửi mùi mực in,
rất muốn được nghe tiếng sột soạt của trang giấy. Có thể một cuộc
cách mạng đã nổ ra đêm qua, có thể người đứng đầu một nhà nước
nào đó đã bị giết hay người Mỹ đã tìm được cách vượt qua được
lực trọng trường. Vụ bắt giữ anh có thể chưa được đăng; nó có
thể được giữ kín trong nước một thời gian, nhưng tin tức sẽ lọt ra
nước ngoài ngay lập tức, người ta sẽ cho đăng những bức ảnh lấy từ
những tờ báo ra cách đây mười năm và họ sẽ viết đủ thứ nhảm nhí
về quan hệ giữa anh và Anh Cả. Lúc này thì anh không còn muốn đọc
báo nữa, nhưng anh lại rất muốn biết trong đầu Anh Cả đang nghĩ gì.
Anh như trông thấy ông ta ngồi cạnh một cái bàn dài, nặng nề và
nhăn nhó, khuỷu tay chống lên mặt bàn và đang chậm rãi đọc cho một
người thư ký chép. Khi đọc như thế những người khác thường đi đi
lại lại, thả những vòng khói tròn hoặc mân mê một cái thước.
Nhưng Anh Cả không đi lại, không mân mê thước, không nhả khói...
Thế rồi bỗng nhiên Rubashov thấy mình cũng đang đi đi lại lại, hoá ra
anh đã đứng lên khoảng năm phút rồi mà không biết. Anh nhận ra thói
quen cũ của mình là không bao giờ bước lên cạnh của những viên
gạch lát nền, anh đã nhớ nằm lòng cách lát nền từ lâu. Nhưng ý
nghĩ về Anh Cả vẫn lởn vởn trong đầu, và dần dần cái người ngồi
bên chiếc bàn dài và đang đọc một cách bất động đó đã biến thành
bức chân dung của chính ông ta, một bức chân dung với đôi mắt lạnh
lùng mà ai cũng biết và được treo ngay trên đầu giường trong tất
cả mọi gia đình.
Rubashov
tiếp tục đi đi lại lại trên con đường nằm giữa chiếc thùng gỗ bên
cạnh chậu rửa mặt và giường ngủ, từ cửa sổ đến cửa đi, vào rồi
lại ra, bao giờ cũng đúng sáu bước rưỡi. Theo thói quen từ khi ở
tù những lần trước, khi bước đến gần cửa anh quay phải, còn khi
đến gần cửa sổ thì anh quay trái; nếu anh không đổi hướng thì thế
nào cũng bị chóng mặt. Anh Cả đang nghĩ gì trong óc nhỉ? Trong tâm
trí anh bỗng hiện ra bức tranh về một lát cắt xuyên qua bộ não đó,
đấy là bức tranh màu xám trên một tờ giấy trải căng ra và được
ghim trên giá vẽ. Những đường cong màu xám phồng lên như những
khúc ruột và quấn vào nhau như những con rắn, sau đó chúng trở nên
nhạt nhòa giống như như những tinh vân trên các bản đồ thiên văn... Điều gì đang diễn ra
trong những đường cong màu xám đang trương phồng lên thế kia? Con
người đã biết rõ những tinh vân xa xôi kia nhưng chẳng biết gì về
những đường cong nọ. Có lẽ chính vì thế mà lịch sử vẫn có nhiều
bí ẩn hơn khoa học. Có thể sau đây, rất lâu sau đây, lịch sử sẽ
được dạy bằng các con số thống kê cùng với những mặt cắt giải
phẫu học như thế này cũng nên. Lúc đó thầy giáo sẽ vừa viết lên
bảng công thức toán học biểu hiện điều kiện sống của dân chúng
tại một nước cụ thể, trong một giai đoạn cụ thể, vừa nói: “Công
thức này cho chúng ta thấy các yếu tố khách quan quyết định tiến
trình lịch sử này”. Sau đó ông ta sẽ lấy thước chỉ vào khoảng xám
mờ ảo giữa thùy hai và thùy ba của óc Anh Cả và nói thêm: “Còn
đây là biểu hiện chủ quan của các yếu tố đó. Chính điều này đã
dẫn đến việc thiết lập chế độ toàn trị tại Đông Âu trong nửa đầu
thế kỷ XX”. Khi lịch sử chưa trở thành khoa học thì chính trị vẫn
sẽ chỉ là loại hoạt động nghiệp dư đẫm máu, chỉ là trò mê tín
dị đoan và bịp bợm...
Rubashov
nghe thấy tiếng chân đều bước ngoài hành lang. Ý nghĩ đầu tiên vụt
hiện trong óc: bắt đầu tra tấn đây. Anh đứng lại giữa phòng giam, tai
căng lên nghe ngóng. Tiếng chân bỗng ngừng lại trước cửa phòng bên
cạnh, mệnh lệnh được ban ra, rồi có tiếng chìa khóa xoay trong ổ.
Sau đó tất cả trở lại im lặng như cũ.
Rubashov
đứng như trời trồng, nín thở và chờ đợi tiếng hét đầu tiên. Anh
nhớ rằng chính tiếng hét đầu tiên, đấy là lúc người ta hét lên
vì sợ là chính chứ không phải vì đau, là khủng khiếp nhất. Sau đó
thì nhẹ nhàng hơn, người nghe sẽ quen ngay, thậm chí còn có thể
đoán được cách thức tra tấn qua tiếng rên la. Trước khi kết thúc,
đa số người, dù tính cách và
giọng nói có khác nhau đến đâu, cũng đều hành xử giống nhau: tiếng
la hét nhỏ dần và biến thành tiếng rên tắc nghẹn trong cổ họng.
Thường thì ngay sau đó sẽ có tiếng đóng cửa. Rồi lại có tiếng vặn
chìa khoá và tiếng la hét của nạn nhân tiếp theo thường vang lên
trước cả khi bị tra tấn, vừa thấy bóng dáng bọn đao phủ là họ đã
hét lên rồi.
Rubashov
đứng giữa phòng và căng thẳng chờ đợi tiếng thét đầu tiên. Anh chậm
rãi lau kính vào ống tay áo và tự nhủ rằng lần này, dù bị tra tấn
thế nào anh cũng không la. Anh nhắc đi nhắc lại câu đó như đang vừa
lần tràng vừa cầu kinh vậy. Anh đứng đợi như thế một lúc nhưng vẫn
không nghe tiếng kêu. Chỉ nghe tiếng tra chìa khoá, tiếng người thầm
thì và tiếng đóng cửa. Tiếng chân bước lại vang lên, họ đi sang
phòng kế tiếp.
Rubashov
bước lại phía cửa sổ và ghé mắt nhìn. Có mấy người đàn ông đang
đứng cạnh cửa phòng 407, đối diện với phòng anh. Đấy là người giám
thị già và ba tạp vụ, hai người xách bình trà, người thứ ba thì
xách một cái giỏ bánh mì đen, bên cạnh còn có hai người lính súng
lục lăm lăm trong tay. Hóa ra không phải tra tấn mà là họ đang phát
bữa ăn sáng...
Người
ta đưa bánh mì cho 407. Nhưng Rubashov không nhìn thấy anh ta. Chắc là
theo qui định, anh ta phải đứng cách cửa ra vào một bước chân;
Rubashov chỉ nhìn thấy hai bàn tay và hai cánh tay của anh ta mà thôi.
Hai cánh tay để trần và rất gầy, y như hai cái que thò ra bên ngoài
hành lang. Hai bàn tay thì khum lại vì đang giữ cái bát. Anh ta nắm chặt
lấy phần ăn và rút tay vào ngay lập tức. Cửa buồng giam đóng sập
lại.
Rubashov
không nhìn nữa. Anh đeo kính lên rồi hít một hơi thật dài, thâm
tâm cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Rồi, trong khi chờ bữa ăn sáng đầu tiên, anh tiếp tục vừa
đi vừa huýt sáo. Nhưng anh lại cảm thấy hơi lo, dù không biết tại
sao, khi nhớ lại đôi cánh tay gầy và bàn tay khum khum của người tù
trong buồng giam 407. Cảnh tượng hai bàn tay giơ ra và ngay cả những
cái bóng mờ trên đó cũng có vẻ như rất thân thuộc với anh, rất
thân thuộc nhưng đã tuột khỏi trí nhớ của anh, giống như một đoạn
nhạc xưa cũ hay mùi của một đoạn phố hẹp gần hải cảng vậy.
7.
Cánh
cửa các phòng giam bên cạnh cứ lần lượt mở rồi đóng, nhưng phòng
anh thì không. Rubashov bước lại gần cửa để nhìn xem họ đã đến
chưa; không hiểu sao anh lại thèm một ly trà nóng đến thế. Lúc nãy
anh đã nhìn thấy bình trà đang bốc khói và mấy lát chanh nổi lều
bều trên mặt nước. Anh tháo kính và ghé sát mắt vào lỗ nhòm. Anh
có thể nhìn thấy bốn buồng giam đối diện, từ số 401 đến số 407.
Phía trên có một hàng lan can thép, đằng sau nó là các phòng giam
tầng hai. Đoàn người đang quay trở lại, lần này theo phía bên phải;
thì ra họ phát bữa sáng cho dãy bên trái trước, bây giờ đến lượt
dãy phải. Lúc này họ đã đứng ngay trước buồng 408; Rubashov chỉ
nhìn thấy lưng của hai người mặc sắc phục có đeo súng lục bên
hông, những người khác đứng xa hơn, anh không nhìn thấy họ. Cánh
cửa đã đóng lại; lúc này họ đi sang phòng 406. Rubashov lại trông
thấy bình trà và người tạp vụ với cái giỏ chỉ còn vài lát bánh
mì. Họ không dừng lại trước buồng 406, phòng này còn trống. Đoàn
người đến gần rồi đi ngang qua cửa phòng anh rồi dừng lại trước
buồng 402.
Rubashov
lấy tay đập ầm ầm vào cánh cửa. Hai người tạp vụ cầm bình trà nhìn nhau rồi
nhìn về phía cửa buồng anh. Còn người giám thị thì đang mở khoá
buồng 402 và làm ra vẻ như không nghe thấy gì. Hai người mặc đồng
phục đứng quay lưng lại cửa sổ buồng Rubashov. Bánh mì đã được đưa
qua cửa buồng 402; đoàn người chuẩn bị đi tiếp. Rubashov đập càng dữ
dội hơn. Anh tháo giày và rồi cứ đế giày mà nện liên hồi vào
cánh cửa.
Anh
chàng mặc đồng phục cao lớn hơn ngoái đầu lơ đãng nhìn cửa buồng
Rubashov. Người giám thị đóng cửa buồng 402. Hai người tạp vụ xách
bình trà lưỡng lự trong giây lát. Không biết anh chàng mặc đồng
phục vừa ngoái lại nói gì đó với người giám thị già, chỉ thấy
người này nhún vai rồi chậm chạp đi về phía buồng Rubashov. Hai
người tạp vụ mang trà đi theo ông ta, còn người xách bánh mì thì
đứng lại nói gì đó với người tù buồng 402.
Rubashov
lùi lại, anh bỗng không còn thấy thèm ăn, cũng không có nhu cầu
uống trà nữa. Bình nước đã không còn bốc khói, mấy lát chanh nổi
lều bều trên mặt nước màu vàng nhạt trông như đã rũ ra và dúm
dó đến thảm hại.
Có
tiếng chìa khoá quay trong ổ, một con mắt ghé sát lỗ nhòm trong vài
giây rồi lập tức biến mất. Cánh cửa bật mở. Rubashov ngồi trên
giường và đang đi giày. Người giám thị giữ cửa để cho anh chàng mặc
đồng phục cao lớn bước vào buồng giam. Anh ta có một cái đầu tròn,
cạo trọc và đôi mắt trống rỗng, vô hồn. Bộ đồng phục còn cứng
kêu sột soạt, khi anh ta bước đôi giày đinh cũng kêu cót két;
Rubashov có cảm giác như ngửi thấy mùi da thuộc còn mới. Anh ta dừng
lại trước cái thùng gỗ rồi đưa mắt nhìn khắp lượt buồng giam,
cái buồng giam có vẻ như nhỏ lại sau khi anh ta bước vào.
“Anh chưa dọn phòng”, anh ta nói. “Chắc
anh biết nội qui buồng giam chứ?”
“Tại
sao tôi lại không được ăn sáng?”, Rubashov vừa nói vừa nhìn viên
sĩ quan qua chiếc kính không gọng.
“Nếu
anh muốn đề đạt gì thì phải đứng dậy”, viên sĩ quan bảo.
“Tôi
chẳng có gì để nói hay đề đạt với anh”, Rubashov vừa đáp vừa buộc
dây giày.
“Thế
thì đừng đập cửa nữa, nếu không những biện pháp kỷ luật trại giam
sẽ được áp dụng đấy”, viên sĩ quan đáp. Anh ta lại nhìn buồng giam
một lần nữa. “Tù nhân không có giẻ lau buồng”, viên sĩ quan vừa
nói vừa quay lại phía người giám thị.
Không
biết người giám thị nói gì đó với anh chàng tạp vụ chuyên xách
bánh mì, chỉ thấy người này lập tức chạy dọc hành lang. Hai người
tạp vụ còn lại đứng trước cửa tò mò nhìn căn phòng. Người sĩ
quan thứ hai đứng chống nạnh, lưng quay về phía phòng Rubashov.
“Tù
nhân còn không có cả bữa sáng nữa”, Rubashov vừa thắt giây giày
vừa nói. “Các anh định bắt tôi nhịn đói chứ gì? Biện pháp của các
anh tuyệt vời đấy nhỉ.”
“Anh
lầm rồi”, viên sĩ quan vẫn nói một cách đều đều như cũ. Rubashov
nhìn thấy một vết sẹo rộng trên cái đầu trọc và cuống chiếc Huân
chương Cách mạng trên ngực. “Hoá ra mày cũng từng tham gia nội
chiến đấy”, Rubashov tự nhủ. Nhưng chuyện đó đã qua lâu rồi, bây
giờ thì có ý nghĩa gì...
“Anh
lầm rồi. Anh không được ăn sáng vì chính anh nói là bị ốm.”
“Anh
ta bị đau răng”, người giám thị, lúc đó đang đứng tựa
lưng
vào cánh cửa, nói. Anh ta vẫn đi đôi dép và mặc bộ đồng phục nhàu
nát, đầy vết dầu mỡ như cũ.
“Thôi
được”, Rubashov nói. Anh rất muốn hỏi liệu việc buộc bệnh nhân nhịn
đói có phải là biện pháp chữa bệnh mới nhất của chế độ hay không,
nhưng đã kìm lại được. Câu chuyện đã làm anh chán ngấy rồi.
Người
tạp vụ chuyên giữ bánh mì chạy vào và đưa cho người giám thị một
chiếc giẻ lau bẩn. Viên giám ngục vứt chiếc giẻ lau vào góc buồng,
ngay cạnh cái thùng gỗ.
“Anh
còn có đề nghị gì nữa không?”, viên sĩ quan hỏi, giọng nói tỏ ra
cực kì nghiêm túc.
“Hãy
để cho tôi yên và thôi trò đóng kịch này đi”, Rubashov đáp. Viên sĩ
quan quay ra, còn người giám thị thì giơ chùm chìa khoá lên.
Rubashov quay vào và đi đến bên cửa sổ. Khi cánh cửa vừa đóng sập
lại thì cũng là lúc Rubashov hiểu rằng mình vừa quên một việc quan
trọng nhất, anh lao về phía cánh cửa và lấy tay đấm thật mạnh.
“Cho
xin mấy tờ giấy và một cái bút chì”, Rubashov gào lên. Rồi anh gỡ
kính và dán mắt vào lỗ nhòm để nhìn xem họ có dừng lại hay không.
Mặc dù anh đã gào đến vỡ họng nhưng đám người vẫn tiếp tục đi
như không có gì xảy ra. Đoàn người đi xa dần, cuối cùng anh chỉ
còn nhìn thấy lưng của viên sĩ quan có cái đầu trọc và chiếc thắt
lưng da rộng bản với khẩu súng lục lủng lẳng ngang hông.
8.
Rubashov
tiếp tục đi bách bộ; sáu bước rưỡi đi ra, rồi sáu bước rưỡi đi
vào. Sự kiện vừa rồi đã làm anh lo lắng; vừa lau kính vào ống tay áo anh vừa hồi
tưởng lại toàn bộ câu chuyện. Anh căm thù cái tay sĩ quan có vết
sẹo ở trên đầu, nếu có thể giữ mãi trong lòng mối thù này thì
tốt biết mấy, nó sẽ làm cho anh cứng rắn hơn trong cuộc đấu tranh
sẽ diễn ra nay mai. Nhưng anh lại có một thói quen tai hại là luôn đặt
mình vào vị trí của người đối diện và xem xét mọi vật theo quan
điểm của họ. Hãy tưởng tượng một tay Rubashov nào đó, dáng người
nhỏ thó, râu ria sồm soàm, vẻ mặt bất cần đời, vẫn ngồi trên
giường khi người lạ bước vào, rồi lại còn cố tình trưng ra đôi
giày với mấy cái tất ướt nữa! Dĩ nhiên tay Rubashov này đã có
nhiều cống hiến và một quá khứ oai hùng; nhưng đứng trên diễn đàn
đại hội là một việc, còn ngồi trong buồng giam thì lại là việc
hoàn toàn khác rồi. “Lão Rubashov huyền thoại đấy”, chắc tay sĩ quan
với đôi mắt đờ đẫn, vô hồn đã nghĩ như thế. “Kêu khóc đòi ăn
chẳng khác gì một thằng học trò, thật không biết xấu hổ là gì.
Phòng thì bẩn. Tất thì rách. Đúng là loại dài lưng tốn vải. Lại
còn định làm loạn: vì lý tưởng hay vì tiền thì cũng thế cả thôi.
Chúng ta không làm cách mạng vì những loại người như thế. Đúng là
hắn đã từng giúp đỡ cách mạng; nhưng đấy là ngày xưa, khi hắn còn
ra hồn người cơ; còn bây giờ hắn đã trở thành một lão già tự
mãn vô tích sự, chết là đáng rồi. Mà có thể ngay lúc đó hắn đã
như thế rồi; thời cách mạng thiếu gì bọn hăng tiết vịt, rã đám
ngay ấy mà. Nếu có lòng tự trọng thì hắn đã dọn buồng giam.”
Rubashov
lưỡng lự không biết có cần lau sàn nhà không. Anh đứng giữa phòng
giam như thế một lúc, sau đó anh đeo kính lên rồi đi lại gần cửa
sổ.
Trời
đã sáng rõ, ánh ngày màu xám nhạt làm dịu đi phần nào cái màu
vàng gay gắt của đèn pha trong sân trại; hôm nay chắc là sẽ có
tuyết. Bây giờ là gần tám giờ, nghĩa là anh
vào
đây mới có ba tiếng đồng hồ. Mấy bức tường xung quanh sân trông
như những bức tường doanh trại quân đội; các cửa sổ được chắn
lưới thép tối om om, không thể nào nhìn vào trong được. Có thể sau
mỗi cái cửa sổ đó đều có một người đang đứng và nhìn ra sân, như
anh, nhưng anh không thể nào nhận ra được. Tuyết trên sân trắng và
đẹp quá, bề mặt có một lớp băng mỏng, nếu ta bước lên đó thì sẽ
có tiếng lạo xạo dưới chân. Dọc con đường cách tường chừng mươi
bước chân xung quanh sân thỉnh thoảng lại có những chỗ tuyết được
vun thành đống. Người lính gác vẫn đi đi lại lại như cũ. Một lần,
khi quay lại anh hơi ngửa mặt và nhổ nước bọt, làm thành một hình
vòng cung rộng trước khi rơi xuống sân tuyết trắng, người lính tò
mò cúi xuống, nhìn theo.
“Một
chứng bệnh cũ”, Rubashov chợt nghĩ. “Người cách mạng không thể đặt
mình vào vị trí của người khác.”
“Hay
có thể? Thậm chí họ còn cần phải làm như thế?
Cải
tạo làm sao được thế giới nếu suốt ngày đặt mình vào vị trí của
kẻ khác?
Người
ta còn có thể cải tạo thế giới bằng cách nào?
Một
người hiểu biết và sẵn sàng tha thứ – liệu có dám kiên quyết hành
động hay không?”
“Họ
sẽ bắn mình thôi”, Rubashov tự nhủ. “Chẳng ai thèm quan tâm đến động
cơ của mình.” Anh gục đầu vào thành cửa sổ. Mảnh sân vẫn ánh lên
một màu trắng lấp lánh và yên tĩnh như cũ.
Anh
đứng như thế một lúc, để mặc cho cái lạnh của tấm kính xâm nhập
vào trán, lòng tịnh không nghĩ đến một điều gì khác. Dường như
có tiếng động, đúng là có tiếng gõ nhẹ nhưng gấp gáp đang vang lên đâu đây, ngay trong
buồng giam này.
Anh
quay lại và chăm chú lắng nghe. Tiếng gõ nhẹ đến nỗi ban đầu anh
không biết nó xuất phát từ mé tường bên trái hay mé tường bên
phải. Anh vừa chú tâm lắng nghe thì tiếng gõ chợt ngừng. Thế là anh
bắt đầu tự gõ, ban đầu anh gõ vào bức tường ngay cạnh cái thùng
gỗ, bên kia là buồng 406, nhưng không thấy trả lời. Anh quay sang bức
tường đối diện, cạnh cái giường ngủ, bên kia là buồng 402. Có
tiếng đáp. Rubashov ngồi xuống chiếc giường sắt, mắt nhìn chằm chằm
vào lỗ nhòm, tim đập thình thịch. Tiếp xúc đầu tiên bao giờ cũng
hồi hộp như thế cả.
402
bắt đầu gõ một cách đều đặn, ba tiếng cách nhau một quãng ngắn,
ngưng, rồi lại ba tiếng nữa, ngưng và ba tiếng nữa. Rubashov trả lời
bằng cách nhắc lại đúng ba nhịp như thế để tỏ ra rằng anh đã nghe
thấy. Anh sốt ruột chờ đợi, liệu người kia có biết cách truyền tín
hiệu kiểu này hay không, nếu anh ta không biết thì mất công lắm.
Bức tường dày và cách âm khá tốt thành ra để nghe rõ anh phải ghé
sát tai vào tường đồng thời không được rời mắt khỏi lỗ nhòm.
Nhưng hoá ra 402 là người có nhiều kinh nghiệm; anh ta gõ bằng một
cái gì đó khá cứng, có thể là một cái bút chì, tiếng gõ dứt
khoát, chậm rãi. Đã lâu Rubashov không phải làm như thế này, anh
phải vừa nghe vừa cố nhớ lại cái bảng hình vuông có năm ô nằm
ngang, mỗi ô là một chữ cái. 402 gõ năm tiếng, nghĩa là hàng thứ
năm: từ V đến Z; sau đó lại gõ hai tiếng, nghĩa là chữ cái thứ hai
trong hàng này: W. Ngừng một lúc lại gõ hai tiếng, hàng thứ hai đây,
từ F đến J, rồi lại ba tiếng gõ nữa, nghĩa là chữ thứ ba trong hàng
này: H. Sau đó lại gõ ba tiếng và năm tiếng; chữ thứ năm trong hàng
thứ ba: O. Tiếng gõ ngừng hẳn.
WHO[1]?
“Một
người thực tế”, Rubashov tự nhủ. “Anh ta muốn biết ngay là mình đang
nói chuyện với ai”. Đúng ra, theo qui ước thì phải hỏi xem người
đối thoại thuộc đảng phái nào, sau đó thì đến tin tức, rồi tới
thuốc lá, thức ăn; mãi sau này, nhiều ngày sau, nếu chuyện đó có
thể tiếp tục, thì người ta mới xưng tên tuổi với nhau. Nhưng
Rubashov cũng biết rằng tại những quốc gia khi mà Đảng còn bị săn
đuổi chứ chưa nắm quyền thì các đảng viên chỉ được biết bí danh
của nhau, mà bí danh lại thay đổi thường xuyên đến nỗi chẳng còn ý
nghĩa gì. Nhưng đây là trường hợp khác hẳn. Rubashov lưỡng lự,
không biết nên làm thế nào. 402 có vẻ sốt ruột; anh ta nhắc lại:
WHO?
Tại
sao phải giấu? Rubashov tự nhủ. Anh gõ đầy đủ tên mình: NICOLAS
SALMANOVITCH RUBASHOV và ngồi đợi.
Mãi
vẫn không thấy trả lời. Rubachov khẽ mỉm cười, anh mường tượng
được sự lúng túng của người bạn tù. Một phút, rồi hai phút, vẫn
không thấy trả lời; Rubashov nhún vai và đứng dậy. Anh tiếp tục đi
bách bộ trong phòng, nhưng mỗi lần đổi hướng anh đều dừng lại một
chút và chú ý lắng nghe. Không thấy gì hết. Anh lấy kính lau vào
ống tay áo rồi từ từ đi về lỗ nhòm để nhìn ra hành lang.
Hành
lang vắng ngắt. Chỉ có ánh đèn vàng vọt, nhạt dần, xung quanh không
một tiếng động nhỏ. Tại sao 402 không trả lời?
Có
thể anh ta sợ; anh ta sợ Rubashov tố cáo. Có thể anh ta chỉ là một
giáo sư hay kỹ sư chưa tham gia hoạt động chính trị bao giờ nên sợ
đủ thứ. Chắc chắn là không có kinh nghiệm hoạt động chính trị, nếu
có anh ta đã không hỏi tên ngay từ đầu.
Bị bắt vì một vụ phá hoại nào đó. Chắc chắn là anh ta bị bắt lâu
rồi nên mới gõ thạo như thế, nhưng anh ta vẫn tin là có thể chứng
minh rằng mình vô tội. Và vẫn ngây thơ tin rằng với số phận một
con người, việc anh ta có tội hay không là quan trọng mà không biết
rằng trong một cuộc chơi thì có những thứ còn quan trọng hơn rất
nhiều. Có thể là lúc này anh ta đang ngồi trên giường và đang viết
bản tường trình thứ một trăm, một bản tường trình chẳng ai thèm
đọc hoặc đang viết cho vợ bức thư thứ một trăm mà vợ anh ta cũng
chẳng được nhận; rồi vì tuyệt vọng mà anh ta đã để râu, chòm râu
đen giống hệt như Pushkin, cũng chẳng thèm rửa mặt và còn thêm thói
quen cắn móng tay cũng như bị những giấc mơ tình dục hành hạ nữa.
Trong tù sự dằn vặt dữ dội nhất chính là nhận thức rằng mình là một
người vô tội, nó làm người ta không thể quen được với hoàn cảnh,
nó làm cho người ta nghi ngờ chính đức hạnh của mình... Tiếng gõ
vừa đột ngột vang lên đâu đây.
Rubashov
ngồi xuống giường và chú ý lắng nghe, nhưng anh đã bỏ mất hai chữ
cái đầu tiên. Lần này 402 gõ nhanh hơn và kém dứt khoát hơn lần
trước, chắc là anh ta quá hồi hộp:
...NG
ĐỜI
“ĐÁNG
ĐỜI”
Thật
không ngờ. Hoá ra 402 là một người theo quan điểm chính thống. Anh ta
căm thù phe đối lập và tin rằng lịch sử đang chạy trên con đường do
Anh Cả sáng suốt lựa chọn. Anh ta tin rằng vụ bắt giữ mình chỉ là một
sự hiểu lầm, anh ta tin rằng tất cả những tai họa trong mấy năm vừa
qua, từ Tây Ban Nha cho đến Trung Quốc, từ những vụ chết đói cho đến
việc giết hại đội cận vệ già của cách mạng cũng chỉ là những sai lầm đáng tiếc hoặc là do những
kẻ như Rubashov và những tên đối lập quỉ quyệt gây ra mà thôi.
Hình ảnh chòm râu đen biến mất, thay vào đó là một người hoàn
toàn khác: râu ria nhẵn nhụi, mặt mũi nghiêm trang, buồng giam sạch
bóng, theo đúng nội qui trại. Đấy là loại người “bất tri lý”, tranh
luận làm gì cho tốn công. Nhưng cắt đứt mối liên hệ duy nhất, mà
cũng có thể là cuối cùng, với thế giới cũng không nên.
AI?
Rubashov gõ một cách chậm rãi và dứt khoát. Tiếng gõ đáp lại nghe vội
vã như díu lại với nhau: KHÔNG PHẢI VIỆC CỦA ANH
TUỲ
ANH, Rubashov trả lời và đứng lên tiếp tục đi bách bộ vì cho rằng cuộc
nói chuyện đã chấm dứt. Nhưng tiếng gõ lại vang lên, lần này to
hơn và rõ hơn nhiều, chắc là anh chàng 402 đã dùng đế giày đập
vào tường cho chắc ăn:
HOÀNG
ĐẾ VẠN TUẾ!
Hoá
ra là như thế, Rubashov tự nhủ. Hoá ra vẫn còn những tên phản cách
mạng thật sự chứ không phải như chúng ta nghĩ, không phải là Anh
Cả bịa ra để biện hộ cho những thất bại của ông ta. Bên kia bức
tường có một tên phản cách mạng thật sự, một nhân chứng sống của
Anh Cả, một kẻ đang gào như đáng lẽ hắn phải gào: Hoàng đế vạn
tuế...
AMEN,
Rubashov vừa gõ vừa khẽ mỉm cười. Lời đáp vang lên ngay lập tức,
lần này còn to hơn nữa.
THẰNG
KHỐN! Rubashov cảm thấy vui vui. Để thay đổi âm vực, anh tháo kính và
lấy rìa kim loại gõ vào tường, tiếng gõ còn chậm rãi hơn và rõ
ràng hơn mấy lần trước:
KHÔNG
HIỂU RÕ LẮM
402
đã hoá điên. Anh ta liền gõ “ĐỒ CHÓ”, nhưng bỏ quên chữ H. Cơn tức
giận bùng phát, anh ta gõ tiếp:
VÌ
SAO BỊ BẮT?
Thật
là thơ ngây, Rubashov tự nhủ. 402 lại đã có một khuôn mặt khác.
Bây giờ trông anh ta giống một sĩ quan cận vệ trẻ, đẹp trai nhưng
hơi đần. Có thể anh ta còn đeo cả kính một tròng nữa. Rubashov lại
lấy kính gõ vào tường:
LỆCH
LẠC VỀ CHÍNH TRỊ
Ngừng
một lúc. Chắc là tay sĩ quan đang tìm một câu trả lời thật cay độc.
Rồi anh ta gõ:
TUYỆT!
BỌN CHÓ BẮT ĐẦU LÀM THỊT NHAU
Rubashov
không trả lời. Thôi, đủ rồi; anh đứng lên và tiếp tục đi. Nhưng 402
lại thích tâm sự. Anh ta gõ tiếp:
RUBASHOV...
Anh
chàng đã tỏ ra suồng sã rồi đây.
CÓ,
Rubashov đáp.
Có
vẻ như 402 lưỡng lự một chút, sau đó anh ta gõ một câu dài:
ANH
NGỦ VỚI ĐÀN BÀ LẦN CUỐI CÙNG KHI NÀO?
Chắclàanhtađeokính;cóthểlàanhtadùngkínhđểgõvà
đôi mắt trần đang chớp lia lịa. Nhưng Rubashov không cảm thấy khó
chịu. Ít nhất anh ta cũng thể hiện rõ con người thật của mình,
điều đó còn thú vị hơn việc anh ta hô khẩu hiệu tôn vinh hoàng đế.
Rubashov lưỡng lự vài giây rồi gõ tiếp:
BA
TUẦN TRƯỚC
Câu
trả lời tiếp liền lập tức:
KỂ
ĐI
Quá
quắt hết chỗ nói. Rubashov đã định chấm dứt câu chuyện, nhưng sau
đó anh nghĩ lại và cho rằng người này có thể hữu ích khi cần liên
hệ với người tù ở buồng 400 và những tù nhân khác. Buồng bên
trái không có người ở; cắt đứt với anh này thì sẽ mất liên lạc
luôn. Rubashov không biết trả lời như thế nào. Sau đó anh chợt nhớ một
bài hát tiền chiến, được nghe từ thời sinh viên trong một quán ăn
có cả vũ nữ đi tất đen nhảy múa minh họa. Anh khẽ thở dài và lấy
kính gõ:
NGỰC
TRẮNG NHƯ BỌT LI SÂM BANH ĐẦY...
Anh
hi vọng rằng 402 thích. Quả đúng như thế, anh ta giục: TIẾP TỤC. CỤ
THỂ VÀO.
Không
nghi ngờ gì rằng lúc này anh ta đang hồi hộp vặt râu cằm của mình.
Râu anh ta rõ ràng là thưa, phần cuối hơi vểnh lên. Quỉ tha ma bắt
hắn đi, hắn là mắt xích duy nhất, cần phải chiều hắn vậy. Bọn sĩ
quan thường bàn chuyện gì khi ăn? Gái và ngựa chứ còn gì nữa.
Rubashov lau kính vào ống tay áo rồi gõ một cách đầy ý thức:
ĐÙI
TO NHƯ ĐÙI NGỰA HOANG.
Hết.
Chịu, không thể nào bịa thêm được nữa. Nhưng 402 có vẻ khoái.
TUYỆT!,
hắn vui vẻ đáp. Chắc chắn là hắn đã phá lên cười, nhưng Rubashov
không thể nào nghe được; chắc chắn là hắn đã vỗ đùi và vui vẻ
xoắn chòm râu thưa và vểnh lên của mình, nhưng Rubashov không trông
thấy gì. Trước mặt anh chỉ là một bức tường câm lặng.
TIẾP
TỤC, 402 lại giục.
Nhưng
anh không thể bịa thêm được nữa. HẾT, Rubashov lạnh lùng gõ, nhưng
rồi anh hối hận ngay lập tức. Không được làm hắn giận. May là 402
không giận. Hắn tiếp tục gõ:
TIẾP
TỤC ĐI...
Rubashov
đã thành thạo đến nỗi không cần đếm các tiếng gõ, chúng tự động
chuyển hóa thành lời. Anh có cảm giác như nghe rõ lời cầu khẩn của
402. Hắn lại đòi:
TIẾP
ĐI – TIẾP ĐI
Rõ
ràng là 402 còn khá trẻ, có thể hắn được sinh ra trong một gia đình
sĩ quan lâu đời, đã lưu vong và được gửi về nước với một hộ
chiếu giả và đang khổ sở lắm. Có lẽ hắn đã đeo kính lên, tay liên
tục xoắn râu cằm và nhìn chằm chằm một cách tuyệt vọng vào bức
tường trắng trước mặt.
KỂ
NỮA ĐI.
Nhìn
chằm chằm một cách tuyệt vọng vào bức tường trắng, câm lặng
trước mặt; nhìn chằm chằm vào những vết loang lổ trên tường, rồi
dần dần từ những vết loang lổ đó bỗng hiện lên hình ảnh người
đàn bà ngực như li sâm banh đầy, còn đùi thì không khác gì đùi
ngựa cái.
KỂ
NỮA ĐI. XIN ÔNG KỂ NỮA ĐI.
Có
thể lúc này hắn đang quì trên giường, tay khum lại như hai bàn tay
người tù buồng 407 lúc nhận bánh mì cũng nên.
Và
Rubashov sực nhớ lại hình ảnh tương tự như thế, đấy là đôi cánh
tay cầu khẩn gầy gò đang giơ ra. Pietà[2]...
9.
Pietà... Đấy là một buổi chiều, thứ
hai đầu tuần, trong một phòng tranh ở miền Nam nước Đức. Gian phòng
vắng ngắt, chỉ có Rubashov và một thanh niên đã hẹn gặp từ trước;
họ ngồi nói chuyện cạnh một cái bàn tròn giữa căn phòng trống,
các bức tường xung quanh treo đầy những bức tranh phụ nữ hở hang do
các họa sĩ Flemish nổi tiếng một thời vẽ. Chuyện xảy ra vào năm
1933, những tháng đầu tiên của vụ khủng bố, trước khi Rubashov bị
bắt không lâu.[3]
Phong trào ở Đức đã bị dẹp tan, các đảng viên bị đặt ra ngoài vòng
pháp luật, bị truy lùng và đánh đập cho đến chết. Đảng đã tan rã,
nó giống như một con vật ngàn đầu, ngàn tay nhưng đang mất máu một
cách nghiêm trọng. Trong những chi bộ riêng lẻ, hoạt động vẫn còn
diễn ra nhưng thực ra đấy chỉ là những cú co giật của một con thú
đã bị tử thương. Các nhóm nhỏ may mắn sống sót sau tai họa vẫn có
mặt khắp nơi và đã đi vào hoạt động bí mật. Họ hẹn gặp nhau khi
thì dưới tầng hầm, khi thì ở trong rừng, khi thì ở ga xe lửa, viện
bảo tàng và câu lạc bộ thể thao. Họ phải thường xuyên thay đổi
chỗ ở, thay đổi họ tên và cả thói quen nữa. Họ chỉ biết nhau qua
bí danh và không bao giờ được hỏi địa chỉ của nhau. Số phận người
này phụ thuộc vào người kia nhưng chả ai dám tin ai. Họ bí mật in
truyền đơn để tự khẳng định và thuyết phục người khác rằng họ
vẫn còn sống. Ban đêm họ luồn lọt trong những khu phố vắng ngoại ô
và viết lên tường những khẩu hiệu cũ để chứng tỏ rằng họ vẫn
tiếp tục hoạt động. Họ trèo lên ống khói nhà máy và treo lên đó
những lá cờ cũ để chứng tỏ rằng họ vẫn còn hiện diện đâu đây.
Chẳng có mấy người đọc truyền đơn, chỉ nhìn thấy chúng là người
ta đã phát run lên rồi; khẩu hiệu thì bị xoá ngay, cờ thì bị xé
bỏ, nhưng chúng lại xuất hiện, khi chỗ này, khi chỗ khác. Vì những
nhóm nhỏ vẫn có mặt khắp nơi, họ tự gọi mình là “tử sĩ biết đi”
và dành toàn bộ cuộc đời còn lại để chứng minh rằng mình vẫn còn
sống.
Các
nhóm này không thể liên lạc được với nhau vì đầu não của Đảng đã
bị tiêu diệt, họ phải hoạt động một cách độc lập. Nhưng rồi các
nhóm bắt đầu đưa người đi bắt liên lạc với các nhóm khác. Từ
nước ngoài các thương nhân có vẻ giàu có với hộ chiếu giả và va
li hai đáy với những tài liệu hướng dẫn bắt đầu thâm nhập khắp
nơi. Họ thường bị bắt, bị tra tấn và bị giết. Người này chết
thì có người khác đến thay. Đảng đã chết, nhưng cơn hấp hối thì
vẫn tiếp tục, các lãnh tụ ở nước ngoài vẫn đưa vào cơ thể đã
cứng ngắc của Đảng dòng điện kích hoạt để chân tay của nó tiếp
tục lên những cơn co giật.
Pietà... Rubashov đi đi lại lại trong
phòng, sáu bước rưỡi ra rồi sáu bước rưỡi vào, anh đã quên 402
rồi. Anh thấy mình đang ngồi bên chiếc bàn tròn trong phòng tranh,
nồng nặc mùi bụi và mùi véc–ni. Anh đã đi thẳng từ nhà ga đến đây,
trước giờ hẹn mấy phút. Anh tin rằng không có cái đuôi nào bám
theo cả. Anh đã cất chiếc va li đựng dụng cụ chữa răng đời mới nhất
do một công ty Đan Mạch chế tạo trong tủ chứa đồ của phòng tranh. Anh
ngồi cạnh chiếc bàn tròn, say sưa ngắm những bức vẽ phụ nữ hở hang
treo đầy trên tường và đợi.
Chàng
trai mang tên Richard, cầm đầu tổ chức Đảng trong thành phố đến muộn
mất mấy phút. Anh ta chưa gặp Rubashov bao giờ, dĩ nhiên là Rubashov
cũng chưa bao giờ gặp anh ta. Rubashov đặt trên đầu gối cuốn Faust
của Goethe, đấy là tín hiệu nhận dạng. Vừa nhận ra cuốn sách,
người thanh niên lập tức nhìn quanh rồi đến ngồi bên cạnh Rubashov.
Anh ta có vẻ ngượng nên ngồi cách xa Rubashov, mũ đặt trên đầu gối.
Anh ta vốn là thợ chữa khóa nhưng lúc này lại diện bộ com–lê màu
đen vì nếu mặc đồng phục bảo hộ mà vào bảo tàng viện thì bị nghi
ngờ ngay.
“Xin
lỗi, tôi đến muộn”, anh ta bảo.
“Không
sao”, Rubshov đáp. “Trước hết cho xem qua người của anh. Anh có mang
theo danh sách chứ?”
Chàng
trai mang tên Richard vừa lắc đầu vừa nói: “Tôi không có danh sách.
Tôi nhớ hết mọi người, cả họ tên lẫn địa chỉ.”
“Thôi
được”, Rubashov bảo. “Nhưng nếu chúng bắt được anh thì sao?”
“Danh
sách thì có”, Richard nói, “nhưng tôi đưa cho Anny giữ rồi. Cô ấy
là vợ tôi, anh ạ.”
Richard
ngừng lời và nuốt nước miếng, cục yết hầu giật lên giật xuống
liên hồi. Sau đó, đây là lần đầu tiên kể từ lúc hai người gặp
nhau, anh ta nhìn thẳng vào mặt Rubashov. Hai con ngươi anh ta hơi lồi,
đỏ đọc, với những tia máu chằng chịt; đôi gò má và cằm lún phún
râu.
“Chúng
bắt được cô ấy đêm hôm qua, anh ạ”, anh ta vừa nói vừa nhìn
Rubashov như thể Rubashov, một phái viên của Ban Chấp hành Trung
ương, thi triển được phép lạ và cứu được vợ anh ta vậy.
“Thế
à?”, Rubashov vừa hỏi vừa lau kính vào ống tay áo.
“Bản
danh sách rơi vào tay cảnh sát rồi chứ?”
“Không”,
Richard đáp, “vì khi chúng tới thì trong nhà còn có một người chị
dâu của tôi nữa, Anny đã kịp đưa bản danh sách cho chị ấy. Chị ấy
thì theo chúng ta nhưng chồng lại là cảnh sát nên không sao đâu.”
“Tốt rồi”, Rubashov nói. “Thế lúc vợ bị
bắt thì anh đang ở đâu?”
“Chuyện
là thế này”, Richard trả lời. “Đã ba tháng nay tôi không ngủ ở nhà
rồi. Chả là tôi có một người bạn làm nghề chiếu phim, khi rạp phim
đóng cửa thì tôi có thể ngủ ở trong buồng chiếu phim. Có thể trèo
từ ngoài phố, theo cầu thang cứu hỏa. Còn được xem phim miễn phí
nữa...” Anh ta lại ngừng để nuốt nước bọt. Anny cũng được anh ta cho
vé miễn phí, khi đèn tắt thì cô ấy có thể quay lại, nhìn lên
buồng chiếu. Cô ấy không nhìn thấy tôi, nhưng đôi khi tôi có thể
nhìn rõ mặt cô ấy, nhất là khi màn ảnh có nhiều ánh sáng...”
Richard
lại ngừng. Trước mặt họ là bức tranh “Ngày phán xử cuối cùng”:
những tiểu thiên thần tóc quăn, mông múp míp vừa thổi kèn vừa bay
vào những đám mưa dông. Bên trái là một bức tranh của một họa sĩ
Đức; phần lớn bức tranh bị đầu Richard và thành ghế che khuất,
Rubashov chỉ nhìn thấy một phần, đấy là đôi bàn tay gày guộc của
Đức Mẹ Đồng Trinh đưa ra phía trước và hơi khum lại như một cái
bát cùng với một khoảng trời nhỏ không một gợn mây. Richard ngồi
bất động như thế trong suốt buổi nói chuyện.
“Thế
hả?”, Rubashov nói. “Cô ấy bao nhiêu tuổi?” “Mười bảy”, Richard đáp.
“Thế
hả? Còn anh bao nhiêu?”
“Mười
chín.”
“Có
mấy cháu rồi?”, vừa hỏi Rubashov vừa nghển cổ lên nhưng anh vẫn
không nhìn thấy phần còn lại của bức tranh.
“Đây
là cháu đầu”, Richard đáp. Anh vẫn ngồi bất động như một pho tượng.
Họ
ngồi yên lặng một lúc, sau đó Rubashov yêu cầu cung cấp tên tuổi
các đảng viên. Có khoảng ba mươi người. Rubashov hỏi thêm vài câu
và ghi tên một số người vào cuốn sổ đặt hàng của hãng chế tạo
dụng cụ chữa răng Đan Mạch. Anh ghi tên những người này xen giữa
danh sách những bác sĩ chữa răng và những người nổi tiếng trong
thành phố mà anh đã ghi từ một cuốn danh bạ điện thoại. Sau đó
Richard nói:
“Bây
giờ tôi xin báo cáo công tác của chúng tôi.”
“Được”,
Rubashov đáp, “nói đi.”
Richard
báo cáo. Anh ta vẫn ngồi bất động như thế, người hơi cúi về phía
trước, hai bàn tay thô ráp và ửng đỏ đặt trên đầu gối. Anh kể về
việc treo cờ trên ống khói nhà máy, về những khẩu hiệu viết trên
tường, về những tờ truyền đơn dán trong phòng vệ sinh với một
giọng đều đều và mệt mỏi như một nhân viên kế toán báo cáo sổ
sách với ông chủ. Trước mặt anh ta là các thiên thần vừa thổi kèn
vừa bay vào những đám mây dông, còn đầu anh thì che mất một phần
bức tranh Đức Mẹ Đồng Trinh với đôi bàn tay gầy guộc đang đưa ra
phía trước; còn trên tất cả các bức tường xung quanh là những phụ
nữ da thịt, đùi vế ngồn ngộn đang nhìn xoáy vào họ.
Ngực
trắng như bọt li sâm banh đầy, Rubashov chợt nhớ lại. Anh đứng trên
hàng gạch đen thứ ba kể từ cửa sổ và chú ý lắng nghe xem 402 còn
gõ nữa không. Không một tiếng động nhỏ. Anh đến gần lỗ nhòm để
nhìn sang buồng 407 nơi ban nãy có người tù đưa bàn tay gầy gò ra
nhận mấy mẩu bánh mì. Nhưng tất cả chỉ là một tấm cửa bằng thép
xám với một lỗ nhòm màu đen bé tí. Hành lang vẫn chìm trong ánh điện
vô hồn và yên ắng như cũ, thật khó tin rằng đằng sau những cái
cánh cửa kia lại có con người đang sống.
Rubashov
bình thản lắng nghe Richard báo cáo. Trong số ba mươi người được
Richard xâu chuỗi sau thảm họa chỉ còn mười bảy người hoạt động.
Hai người, một là công nhân và vợ anh ta đã nhảy ra khỏi cửa sổ
và hi sinh trước khi bị bắt. Một người đào ngũ, và không ai biết
hiện nay anh ta đang ở đâu. Hai người bị nghi là mật vụ, nhưng cũng
không chắc lắm. Ba người ra khỏi Đảng để phản đối chính sách của
Ban Chấp hành Trung ương. Năm người, kể cả Anny bị bắt đêm qua,
trong đó ít nhất có hai người đã chết. Như vậy là chỉ còn lại
mười bảy người tiếp tục tham gia rải truyền đơn và viết biểu ngữ
lên tường.
Richard
thuật lại một cách tỉ mỉ nhằm giúp Rubashov hiểu rõ tất cả các
mối liên hệ cá nhân và những vụ việc quan trọng; anh không biết
rằng Ban Chấp hành Trung ương đã cài người của mình vào trong nhóm
và người này đã báo cáo với Rubashov từ trước rồi. Anh cũng không
biết rằng người này chính là bạn anh, tức là anh chàng nhân viên
rạp chiếu bóng mà đêm đêm anh vẫn ghé ngủ nhờ; anh cũng không biết
rằng người này chính là tình nhân của Anny. Richard không biết,
nhưng Rubashov thì biết. Phong trào đã tan rã, nhưng Cục Bảo vệ và
Cục Phản gián thì vẫn còn hoạt động và Rubashov chính là người
đứng đầu tổ chức này. Chuyện này Richard cũng không biết, anh chỉ
biết rằng Anny đã bị bắt, nhưng việc rải truyền đơn và kẻ khẩu hiệu
thì vẫn phải tiếp tục làm; anh chỉ biết rằng Rubashov là phái viên
của Trung ương, anh phải tin yêu như cha ruột mình nhưng đồng thời không
được hé lộ bất cứ biểu hiện tình cảm hay sự dao động nào, dù là
nhỏ nhất. Vì những kẻ ủy mị và dao động thì không thể thực hiện
được nhiệm vụ, sẽ bị khai trừ và rơi vào bóng tối cô đơn.
Có
tiếng chân bước ngoài hành lang. Rubashov bước lại
phía
cửa, tháo kính và ghé sát mắt vào lỗ nhòm. Hai bảo vệ có đeo súng
lục trên thắt lưng da đang dẫn giải một thanh niên có dáng nông
dân, phía sau là người giám thị tay cầm một chùm chìa khoá. Nét mặt
người tù mới không có một chút biểu hiện tình cảm nào, nhưng một
con mắt thì sưng húp còn môi thì có một vệt máu khô; khi đi ngang
buồng Rubashov anh ta bỗng giơ tay lên quệt vết máu đang rỉ ra ở mũi.
Đoàn người khuất dần, phía xa có tiếng cửa mở rồi đóng lại. Chỉ
có hai bảo vệ và người giám thị quay lại.
Rubashov
tiếp tục đi bách bộ trong phòng. Trí tưởng tượng lại đưa anh trở
về quá khứ, anh thấy mình như đang ngồi bên cái bàn tròn, Richard
vừa báo cáo xong, xung quanh thật là yên tĩnh. Anh ta vẫn ngồi bất động
như cũ, hai tay để trên đầu gối, chờ đợi. Như một con chiên vừa
xưng tội xong. Rubashov yên lặng hồi lâu. Sau đó mới khẽ hỏi:
“Hết
rồi hả?”
Richard
gật đầu, cục yết hầu lại giật mạnh.
“Có
một vài chỗ chưa rõ lắm”, Rubashov bảo. “Anh đã nói đến các khẩu hiệu
và những tờ truyền đơn mà các anh tự làm. Chúng tôi đã phê bình nội
dung những cái này nhiều lần rồi. Có một số câu Đảng không thể
nào chấp nhận được.”
Richard
hốt hoảng nhìn Rubashov, mặt anh ta đỏ lựng lên, những vệt máu trong
con ngươi càng rõ hơn và dầy thêm.
“Mặt
khác”, Rubashov tiếp tục, “chúng tôi vẫn thường xuyên gửi cho các
đồng chí tài liệu để phân phát cho quần chúng, trong đó có những
văn bản của Ban Chấp hành Trung ương. Các đồng chí có nhận được
không?”
Richard
gật đầu, mặt anh ta vẫn còn chưa hết đỏ.
“Nhưng các đồng chí đã không cho phân
phát tài liệu do chúng tôi cung cấp; trong báo cáo không thấy nói
gì đến chuyện đó cả. Trong khi đó các đồng chí lại cho phân phát
những tài liệu chưa được Đảng chấp thuận.”
“Chúng...chúng
tôi buộc...buộc phải làm...làm như...như thế”, khó khăn lắm Richard
mới nói được câu đó.
Rubashov
chăm chú ngắm chàng thanh niên, trước đó anh không hề biết rằng
chàng ta có tật nói lắp. “Kỳ nhỉ”, anh chợt nghĩ, “đây là tay nói
lắp thứ ba mình gặp trong hai tuần qua. Hoàn cảnh đã làm người ta
như thế hay là bản thân phong trào chỉ thu hút được những kẻ bất
thành nhân thế này...?”
“Các...các
đồng...đồng chí phải...phải thông...thông cảm”, Richard tiếp tục một
cách tuyệt vọng. “Tài...tài liệu của...của các đồng... đồng chí nặng...nặng
nề quá...”
“Nói
nhỏ thôi”, Rubashov gắt, “đừng quay đầu ra ngoài cửa.”
Một
chàng trai mặc đồng phục màu đen của quân cận vệ tay ôm ngang eo cô
bạn gái tóc vàng, còn tay cô ta thì đặt trên vai anh chàng vừa
bước vào phòng tranh. Họ dừng lại trước bức tranh các tiểu thiên
thần thổi kèn, lưng quay về phía Rubashov và người đồng sự.
“Nói
tiếp đi”, Rubashov nói như ra lệnh rồi lấy bao thuốc lá ra. Nhưng sau
đó chợt nhớ rằng không được hút thuốc trong viện bảo tàng, anh lại
cho thuốc lá vào túi. Richard ngồi yên như thể bị thôi miên, anh ta
nhìn trừng trừng hai người mới vào. “Nói tiếp đi”, Rubashov nhắc
lại. “Anh nói lắp từ bé à? Nói đi. Đừng nhìn họ như thế.”
“Đôi...đôi...đôi
khi”, phải cố gắng lắm Richard mới nói xong được mấy từ.
Đôi
trai gái tiếp tục ngắm tranh. Họ dừng lại trước bức tranh vẽ người
phụ nữ khỏa thân đang nằm trên giường, mặt hướng về phía người
xem. Chàng trai thì thầm cái gì đó, chắc là buồn cười, chỉ thấy
cô gái khúch khích cười và đưa mắt liếc nhanh về phía Rubashov và
Richard. Họ bước đến trước bức tranh vẽ tĩnh vật là mấy con gà
lôi đã chết với vài quả táo.
“Chúng
ta đi chứ?”, Richard thì thầm.
“Không”,
Rubashov đáp. Anh sợ rằng trong lúc bối rối như thế, nếu đứng lên
Richard nhất định sẽ bị lộ. “Họ sẽ ra bây giờ đấy. Họ đứng sau
chúng ta, không nhìn thấy đâu. Anh hãy thở thật chậm và sâu mấy
lần. Tốt lắm đấy.”
Cô
gái vẫn còn khúc khích cười trong khi hai người đang bước dần ra
ngoài. Khi đi ngang, cả hai đều quay đầu nhìn về phía Rubashov và
Richard. Sau đó, khi đã gần bước ra khỏi phòng cô gái bỗng đưa tay
chỉ vào bức tranh Pietà và họ dừng lại cạnh bức tranh.
“Tôi
nói lắp khó nghe lắm à?”, Richard khẽ hỏi, mắt nhìn xuống dưới sàn
nhà.
“Hãy
cố gắng tự chủ”, Rubashov đáp. Anh không muốn câu chuyện tỏ ra thân
mật.
“Không
sao. Chỉ một lúc là hết mà”, Richard nói, cục yết hầu lại giật lên
giật xuống không ngừng. “Anny vẫn thường diễu tôi chuyện này đấy.”
Trong
khi hai người kia chưa đi ra thì Rubashov không thể lái câu chuyện
theo đúng hướng được. Anh chàng mặc đồng phục đen đang tì hẳn lưng
vào thành ghế của Rubashov. Nhưng mối hiểm nguy lại làm cho chàng
thanh niên bớt ngại ngùng, anh ta thậm chí còn xích lại gần Rubashov
thêm một chút.
“Nhưng dù sao thì cô ấy vẫn yêu tôi”,
anh ta thì thầm, gần như không còn nói lắp nữa. “Tôi chẳng thể nào
hiểu được cô ấy. Cô ấy không thích có con, nhưng không làm thế
nào được. Có thể bọn chúng sẽ không hành hạ vì cô ấy đang có
bầu cũng nên. Tuy chưa trông rõ lắm. Chả lẽ chúng đánh cả đàn bà
chửa à?”
Richard
hất hàm về phía anh chàng mặc đồng phục. Đúng lúc đó anh chàng kia
cũng ngoái lại, bốn mắt nhìn nhau trong giây lát. Anh chàng mặc đồng
phục thầm thì gì đó với cô bạn gái; cô ta cũng quay đầu lại.
Rubashov bóp chặt bao thuốc lá, nhưng lần này không rút ra. Cô gái
cũng ghé tai anh chàng thì thầm gì đó rồi kéo bạn trai theo mình.
Hai người chậm rãi bước ra khỏi phòng, sau khi họ đã ra đến bên
ngoài người ta vẫn còn nghe thấy tiếng cô cười. Tiếng bước chân
xa dần, xa dần rồi tắt hẳn.
Richard
xoay người và nhìn theo cho đến khi họ đi khuất hẳn. Lúc anh ta xoay
nghiêng, Rubashov có điều kiện nhìn rõ bức tranh hơn; thì ra đấy là
đôi tay Đức Mẹ Đồng Trinh gầy guộc, nhỏ như bàn tay của một đứa
trẻ, đang hướng về phía cây thánh giá nắm khuất bên trong.
Rubashov
nhìn đồng hồ. Chàng thanh niên vô tình ngồi dịch ra xa một chút.
“Chúng
ta thống nhất thế này”, Rubashov nói. “Nếu tôi không lầm thì các anh
cố tình không phân phát các tài liệu do chúng tôi cung cấp vì
không đồng ý với nội dung của chúng. Nhưng chúng tôi cũng hoàn
toàn không đồng ý với nội dung các tờ truyền đơn của các anh. Hậu
quả chắc chắn là phải có.”
Richard
ngước đôi mắt đầy những tia máu đỏ nhìn Rubashov.
“Chính
đồng chí cũng biết rằng các tài liệu đó nói toàn những chuyện
nhảm nhí”, Richard chán nản trả lời. Anh ta không còn nói lắp nữa.
“Không,
tôi chẳng biết gì cả”, Rubashov đáp cộc lốc.
“Các
anh làm như chưa có chuyện gì xảy ra vậy”, Richard vẫn nói với
giọng mệt mỏi như cũ. “Chúng đã đánh cho Đảng tơi tả thế mà các
anh vẫn viết về ý chí quyết thắng giống hệt báo chí thời Đại
chiến vậy. Người ta sẽ nhổ vào những tài liệu như thế. Các anh
phải biết điều đó chứ.”
Rubashov
nhìn xéo chàng trai, anh ta hơi cúi về phía trước, khuỷu tay đặt
lên đầu gối, cằm chống lên hai nắm tay.
“Đây
là lần thứ hai anh định gán cho tôi quan điểm của anh. Tôi đề nghị
chấm dứt kiểu đó đi”, Rubashov nói.
Richard
ngước nhìn, trong tròng mắt đỏ đọc của anh ta ánh lên mối ngờ vực.
Rubashov vẫn tiếp tục nói:
“Đảng
đang trải qua giai đoạn thử thách khắc nghiệt. Các đảng cách mạng
khác cũng đã từng phải vượt qua những giai đoạn còn khó khăn hơn.
Nhân tố quyết định là ý chí quyết thắng của con người. Những kẻ
ủy mị và dao động thì không thể đứng trong hàng ngũ của chúng ta
được. Những kẻ cố tình gây ra cảnh hoảng loạn là tay sai của kẻ
thù đấy. Động cơ là gì thì cũng vậy thôi. Họ đang phá hoại phong
trào và sẽ bị xử lý thích đáng.”
Richard
quay mặt về phía Rubashov, cằm vẫn chống lên hai nắm tay như cũ.
“Hóa
ra tôi đã phá hoại phong trào”, anh ta nói. “Hoá ra tôi là tay sai
của kẻ thù. Hay là tôi được chúng trả tiền để làm chuyện đó? Cả
Anny cũng thế à...?”
“Trong các tờ truyền đơn mà anh nói là
do anh viết”, giọng Rubashov vẫn khô khan như cũ, “có những câu như:
Chúng ta đã bị thất bại, Đảng đã gặp phải tai họa, chúng ta phải
khởi sự từ đầu và phải thay đổi đường lối một cách toàn diện.
Đấy gọi là thất bại chủ nghĩa, làm giảm sức chiến đấu của Đảng.”
“Tôi
chỉ biết một điều”, Richard nói, “đấy là phải nói cho quần chúng
biết sự thật, cái sự thật mà mọi người đều đã biết rồi. Lúc này
mà còn che giấu thì thật là lố bịch.”
“Trong
đại hội vừa rồi”, Rubashov tiếp tục, “Đảng đã tuyên bố là không gặp
thất bại mà chỉ là tạm thời rút lui về mặt chiến lược và không
có lý do gì mà phải thay đổi chính sách cả.”
“Nhưng
đấy cũng là nói dối”, Richard đáp.
“Nếu
anh còn tiếp tục như thế”, Rubashov đáp, “thì tôi cho rằng chúng ta
nên kết thúc câu chuyện ở đây.”
Richard
không trả lời. Trời bắt đầu tối, đường nét của những thiên thần
và phụ nữ trong những bức tranh trên tường trở nên mờ ảo hơn.
“Xin
lỗi”, Richard nói, “ ý tôi là lãnh đạo Đảng đã lầm. Các đồng chí
nói về rút lui chiến lược trong khi một nửa đảng viên của chúng ta
đã bị giết, những người thoát nạn thì chỉ mong sống nên đã chạy
sang phía kẻ thù. Những nghị quyết mà các anh soạn ra ở ngoại quốc
chẳng mang lại lợi ích gì hết...”
Bóng
tối làm cho đường nét của Richard cũng trở nên mờ ảo. Anh ta ngừng
vài giây rồi nói tiếp:
“Việc
của Anny đêm qua cũng là ‘rút lui chiến lược’ đấy. Xin đồng chí
hiểu cho là chúng tôi đang bị săn đuổi chẳng khác gì thú vật...”
Rubashov
chờ xem anh ta còn nói gì nữa không, nhưng
Richard
ngồi yên. Bóng đêm đổ xuống rất nhanh. Rubashov cầm kính lên và lau
vào ống tay áo.
“Đảng
không bao giờ sai”, Rubashov bình thản nói. “Đồng chí có thể sai, tôi
có thể sai, mỗi người chúng ta đều có thể sai. Nhưng Đảng thì
không. Đảng là hiện thân của lý tưởng cách mạng trong tiến trình
lịch sử. Lịch sử không biết dao động là gì. Nó chỉ có tiến, tuy chậm
chạp nhưng bao giờ cũng hướng đến mục đích đã xác định. Trên mỗi
khúc quanh của lịch sử đều có vô số xác của những kẻ chậm tiến
và lầm lạc. Lịch sử không bao giờ lầm lẫn và không gì có thể
ngăn chặn được. Chỉ những ai tin tưởng tuyệt đối vào tiến trình
Lịch sử mới có thể đứng trong hàng ngũ của Đảng.”
Richard
không nói gì, cằm anh vẫn chống trên hai nắm tay, mặt quay về phía
Rubashov, bất động. Thấy anh ngồi im, Rubashov tiếp tục:
“Các
anh đã không phân phát tài liệu do chúng tôi cung cấp; các anh đã chặn
đứng tiếng nói của Đảng. Các anh đã rải những tờ truyền đơn với
những lời lẽ sai lầm và có hại. Các anh viết: ‘Các lực lượng còn
lại của phong trào cách mạng phải tập hợp lại và tất cả những lực
lượng thù địch với chính thể chuyên chế phải thống nhất lại,
chúng ta phải chấm dứt cuộc đấu tranh trong nội bộ và bắt đầu cuộc
chiến đấu mới’. Thế là sai. Đảng không thể liên kết với bọn cải
lương. Họ đã phản bội phong trào nhiều lần rồi và nhất định sẽ
còn phản bội nhiều lần nữa. Liên minh với họ cũng có nghĩa là
chôn vùi cách mạng. Các anh viết: ‘Khi nhà cháy thì mọi người phải
tham gia dập lửa, nếu cứ tranh luận về phương pháp thì nhà sẽ cháy
ra tro’. Thế là sai. Chúng ta thì phun nước cứu hỏa, trong khi những
kẻ khác lại đổ dầu vào. Cho nên trước khi đoàn kết phải nói đến phương
pháp chữa cháy đã. Không thể làm chính trị theo kiểu đó. Không thể
vội vàng, hấp tấp được. Đường lối của Đảng đã được xác định một
cách cực kỳ chính xác, như một con đường hẹp giữa hai sườn núi.
Trượt chân một cái, dù tả hay hữu cũng là xong. Cần phải kiên
định, chỉ một phút dao động là hỏng.”
Trời
càng lúc càng tối thêm, Rubashov đã không còn nhìn thấy hai bàn tay
Đức Mẹ nữa. Hai hồi chuông ré lên một cách đột ngột, mười lăm
phút nữa viện bảo tàng sẽ đóng cửa. Rubashov nhìn đồng hồ, chỉ còn
một việc: tuyên án và buổi gặp sẽ kết thúc. Richard ngồi yên lặng,
gần như bất động, khuỷu tay tì lên đầu gối.
“Vâng,
tôi chẳng biết nói thế nào nữa”, cuối cùng anh ta lên tiếng, giọng
vẫn mệt mỏi và chán nản như cũ. “Anh nói hoàn toàn đúng. Con
đường hẹp giữa hai sườn núi cũng hoàn toàn đúng. Nhưng dù sao thì
chúng ta cũng bị đánh tơi tả rồi. Những người còn sống thì đã
đào ngũ hết. Có thể là con đường của chúng ta lạnh lẽo quá chăng.
Còn đường của người ta thì có tiếng kèn, tiếng sáo; có cờ hoa và
lửa sưởi. Có phải vì thế mà họ thắng? Và vì thế mà tất cả
chúng ta thất bại chăng?”
Rubashov
không trả lời. Anh muốn nghe tiếp, rồi sau đó mới tuyên án. Dù
Richard có nói gì thì bản án cũng đã được định đoạt rồi, nhưng
anh vẫn kiên nhẫn đợi.
Bóng
tối làm cho thân hình vạm vỡ của Richard càng trở nên mờ ảo hơn.
Anh ta đã ngồi dịch ra xa thêm một chút; hai vai so lại, đôi bàn tay
gần như chụp kín lấy mặt. Rubashov cũng ngồi bất động, yên lặng
chờ đợi. Anh cảm thấy hơi đau ở hàm trên, chắc là tại cái răng
sâu. Một lúc sau Richard mới lên tiếng:
“Tôi
phải làm gì bây giờ?”
Rubashov
lấy lưỡi tìm cái răng sâu. Anh cảm thấy cần phải đưa ngón tay lúc
lắc cái răng sâu trước khi nói, nhưng kìm lại được và lạnh lùng
bảo:
“Tôi
phải thông báo rằng, theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương,
từ nay anh không còn là đảng viên nữa.”
Richard
không có phản ứng gì. Rubashov ngồi thêm một lúc rồi đứng lên.
Richard vẫn ngồi. Anh chỉ khẽ ngước mắt lên và hỏi:
“Anh
đến đây vì việc này à?”
“Chủ
yếu là thế”, Rubashov nói. Cần phải đi ngay, nhưng anh vẫn đứng
trước mặt Richard và đợi.
“Tôi
phải làm gì bây giờ?”, Richard lại hỏi. Thấy Rubashov không trả lời,
Richard tiếp tục:
“Từ
nay tôi không được ngủ ở phòng chiếu phim của bạn tôi nữa à?”
Sau
vài giây lưỡng lự, Rubashov đáp:
“Tốt
nhất là không.”
Anh
lập tức cảm thấy ân hận vì đã nói câu đó, đồng thời anh cũng
không tin rằng Richard đã hiểu đúng ý mình. Anh cúi nhìn chàng thanh
niên một lần nữa và bảo:
“Tốt
nhất là chúng ta nên đi tách ra. Thôi, xin chào.”
Richard
ngồi thẳng lên nhưng vẫn không đứng dậy. Trong bóng tối chập
choạng, Rubashov chỉ có thể đoán được những ý nghĩ đang lóe lên
trong đôi mắt đỏ ửng và hơi lồi của chàng trai trẻ mà thôi, nhưng
hình ảnh của chàng công nhân tuyệt vọng, chìm trong bóng đêm thì
sẽ còn ở lại trong tâm trí anh suốt đời.
Rubashov
bước ra khỏi phòng đó và một phòng nữa, cả hai phòng đều tối và
vắng lặng như nhau. Không một tiếng động nhỏ, tiếng bước chân trên
mặt sàn gỗ nghe rõ mồn một. Chỉ sau khi đi ra ngoài rồi anh mới sực
nhớ là mình chưa kịp xem bức tranh Pietà. Hai bàn tay Đức Mẹ gầy guộc,
khum khum đang giơ lên; đấy là tất cả những gì còn lại trong đầu.
Anh
dừng lại ngay trên tam cấp lối ra. Cái răng sâu càng đau hơn, trời
lạnh. Anh quấn chặt cái khăn màu xám cũ quanh cổ. Đèn điện trên
quảng trường trước mặt viện bảo tàng đã bật sáng, giờ này ở đây
rất vắng, một chiếc tàu điện vừa đi vừa rung chuông trên con phố
hẹp hai bên trồng đầy những cây du nhỏ. “Không biết có taxi không?”,
Rubashov vừa tự hỏi vừa bước xuống đường.
Richard
đuổi kịp Rubashov khi anh vừa đặt chân xuống phố và lầm lũi đi theo.
Rubashov tiếp tục bước, không nhanh hơn và cũng không chậm hơn, mắt
vẫn nhìn thẳng. Richard vừa cao hơn, vừa to hơn, nhưng lúc này, đi
bên cạnh Rubashov anh ta phải so vai lại và bước chậm hơn. Đi được
mấy bước và sau khi lấy hết can đảm Richard mới dám lên tiếng:
“Có
phải khi tôi hỏi liệu tôi có được đến ngủ ở chỗ người bạn và
anh nói rằng tốt nhất là không là một lời cảnh báo không?”
Rubashov
nhìn thấy một chiếc taxi, anh đứng đợi ngay khúc quanh. Richard cũng
dừng lại ngay bên cạnh.
“Tôi
đã nói hết rồi, Richard ạ”, Rubashov vừa nói vừa giơ tay ra hiệu cho
taxi dừng lại.
“Đồng...đồng...chí
không...không thể coi.. coi tôi là kẻ thù được...” Richard nói.
Chiếc taxi đã giảm tốc độ, nó chỉ còn cách họ chừng hai mươi
bước chân. Richard nhìn thẳng vào
mắt
Rubashov và nắm lấy ống tay áo anh. Rubashov cảm thấy cả hơi thở và
luồng không khí vừa ấm vừa nóng phà thẳng vào trán mình.
“Tôi
không phải là kẻ thù của Đảng”, Richard nói. “Đồng chí không được
làm thế. Bọn chó ấy sẽ giết tôi...”
Chiếc
xe đã dừng hẳn, chắc chắn là người tài xế đã nghe được mấy lời
cuối cùng. Đuổi Richard đi là việc vô ích, hơn nữa, ngay đằng
trước, chỉ cách vài chục mét đang có một viên cảnh sát. Người
lái xe, một lão già nhỏ thó, mặc một chiếc áo khoác da, lạnh lùng
liếc xéo Rubashov.
“Ra
ga”, Rubashov vừa nói vừa bước vào xe. Người tài xế ngoái lại và
vòng tay đóng chiếc cửa sau. Richard đứng trên hè phố, tay vẫn giữ
khư khư cái mũ, yết hầu chạy lên chạy xuống không ngừng. Chiếc
taxi lấy đà và tăng tốc, rồi chạy ngang qua viên cảnh sát. Rubashov
cố tình không ngoái cổ lại, nhưng anh biết rằng Richard vẫn đứng
trên hè phố, mắt không ngừng dõi theo ánh đèn đỏ phía sau xe của
anh.
Họ
đi qua những khu phố đông đúc, thỉnh thoảng người lái xe lại quay
đầu nhìn, dường như ông ta muốn khẳng định rằng ông khách vẫn còn
ngồi trên xe. Rubashov chẳng hiểu gì phố xá ở đây cho nên cũng
không biết chắc là họ có đi theo hướng ra ga hay không. Phố xá thưa
dần, rồi cuối đường có một ngôi nhà khá to với một chiếc đồng hồ
sáng rực, xe dừng lại. Đến ga rồi.
Ở
đây taxi chưa có máy tính tiền, Rubashov vừa bước ra vừa hỏi: “Tôi
phải trả bao nhiêu?” “Không cần”, người tài xế đáp. Mặt ông ta đầy
vết nhăn.
Ông
ta rút từ trong túi áo ra một chiếc khăn mùi xoa mầu đỏ và xỉ mũi ầm
ĩ.
Rubashov
chăm chú quan sát người tài xế. Anh chưa từng gặp ông ta bao giờ,
chắc chắn là như thế. Người tài xế cho khăn mùi xoa vào túi.
“Không
bao giờ chúng tôi lấy tiền của những người như các ông”, ông ta
vừa nói vừa lúc lắc tay phanh. Rồi bất ngờ ông ta đưa tay ra ngoài.
Hai bàn tay già nua, gân nổi sần sùi, móng tay cáu bẩn. “Chúc ông
vạn sự như ý”, ông ta vừa nói vừa cười ngượng nghịu. “Nếu người
bạn trẻ của ông cần gì thì xin nhớ: tôi luôn đậu trước viện bảo
tàng. Ông có thể cho anh ta số xe của tôi.”
Rubashov
bỗng nhìn thấy ở bên phải đường có một người phu khuân vác đứng
tựa lưng vào cột điện và đang chăm chú quan sát họ. Anh không bắt
tay người lái xe mà chỉ đặt vào bàn tay đang giơ ra một đồng xu rồi
im lặng bước vào nhà ga.
Một
giờ sau tàu mới chạy. Anh uống một li cà phê rẻ tiền, cái răng sâu
càng đau hơn. Vừa lên tàu là anh đã ngủ ngay lập tức, anh mơ thấy
mình đang chạy ngay trước mặt đoàn tàu. Richard và người lái xe taxi
đang lái tàu, họ muốn cán chết anh vì anh không trả đủ tiền vé.
Bánh xe ngày càng gần hơn, mà chân thì không nhấc lên được. Khi
tỉnh dậy anh thấy buồn nôn, trán lấm tấm mồ hôi lạnh; mấy người
ngồi cùng khoang nhìn anh tỏ vẻ ngạc nhiên. Bên ngoài, trời tối như
hũ nút, con tàu đang lao đi trong màn đêm của đất nước thù địch;
cần phải giải quyết xong việc của Richard; răng nhức không thể chịu
nổi. Ba tuần sau Rubashov bị bắt.
10.
Rubashov
gục đầu vào cửa sổ và nhìn ra sân trại. Chân mỏi nhừ, đầu thì
váng vất vì đi lại. Anh nhìn đồng hồ, đã mười hai giờ kém mười
lăm, nghĩa là anh đã đi đi lại lại liên tục như thế gần bốn tiếng
đồng hồ, kể từ lúc sực nhớ tới bức tranh Pietà. Đối với anh đấy không phải là chuyện lạ, anh đã
biết rằng những người bị biệt giam thường có những giấc mơ giữa
ban ngày như thế, cũng như đã biết tác dụng thôi miên của những bức
tường màu trắng. Một đảng viên trẻ, thợ cắt tóc, đã kể cho anh
nghe rằng một lần, đấy là năm tù thứ hai, năm khó khăn nhất trong
đời anh ta, anh ta từng mơ như thế liên tục bảy tiếng đồng hồ liền:
mắt vẫn mở trong khi chân thì cứ bước và anh ta đã đi như thế tổng
cộng hai mươi tám cây số trong căn phòng dài có năm bước chân,
đến nỗi hai bàn chân phồng rộp lên mà không biết.
Nhưng
lần này, thế là hơi sớm; những lần trước chuyện đó chỉ xảy ra sau
khi đã bị biệt giam mấy tuần lễ liền. Một điều lạ nữa là anh đã
mơ về quá khứ, trong khi các tù nhân biệt giam thường mơ về tương
lai, mà nếu có mơ về quá khứ thì cũng là quá khứ tưởng tượng
chứ không phải là quá khứ đã từng hiện hữu như giấc mơ vừa rồi
của anh. “Trí óc ta còn bày đặt thêm những trò gì nữa đây?”,
Rubashov tự hỏi. Kinh nghiệm cũng cho anh biết rằng đối diện với cái
chết thì tâm lý và phản xạ của người ta nhất định sẽ thay đổi,
sẽ hỗn loạn hết, như chuyển động của kim la bàn khi đem đến gần cực
cái nam châm vậy.
Trời
vẫn đầy mây, tuyết chắc chắn sẽ rơi; hai người tù đang đi dạo trong
sân trại. Một trong hai người thỉnh thoảng lại nhìn về phía cửa sổ
buồng Rubashov, chắc tin anh bị bắt đã lan ra rồi. Mặt anh ta hốc hác,
da vàng bệch, môi trên có rãnh như môi thỏ, co ro trong chiếc áo
mưa mỏng. Người thứ hai trông già hơn, quấn xung quanh người bằng một
chiếc chăn tù. Họ không nói gì trong suốt buổi đi dạo và sau khoảng
mười phút thì bị một người mặc đồng phục tay cầm dùi cui, lưng
đeo súng bắt đi vào. Cửa buồng họ đối diện với cửa sổ buồng
Rubashov; trước khi bước vào, anh chàng có môi như môi thỏ còn
ngoái lại nhìn về phía Rubashov một lần nữa. Chắc chắn là anh ta
không trông thấy Rubashov vì bên ngoài trông vào sẽ thấy rất tối,
nhưng rõ ràng anh ta có ý tìm kiếm. “Tôi trông thấy anh nhưng không
biết anh là ai; còn anh không trông thấy tôi nhưng lại biết tôi”,
Rubashov tự nhủ. Anh ngồi xuống giường và gõ cho phòng 402:
HỌ
LÀ AI?
Anh
nghĩ 402 đã tự ái và sẽ không trả lời. Nhưng hoá ra 402 trả lời
liền:
CHÍNH
TRỊ PHẠM...
Rubashov
giật mình, anh vẫn nghĩ anh chàng gày gò, môi như môi thỏ là tù
hình sự.
NHƯ
ANH? Rubashov hỏi.
KHÔNG,
NHƯ ANH, 402 đáp. Nhiều khả năng là anh ta vừa gõ vừa mỉm cười.
Câu thứ hai nghe to hơn, có thể anh ta lấy kính để gõ.
MÔI
THỎ, CẠNH TÔI, 400, BỊ TRA TẤN HÔM QUA.
Rubashov
lấy kính lau vào ống tay áo dù anh không định đeo mà chỉ dùng nó
để gõ. Anh định hỏi: “TẠI SAO?” nhưng lại gõ:
THẾ
NÀO?
TẮM
HƠI, 402 lạnh lùng đáp.
Rubashov
đã từng bị tra khảo nhiều lần, nhưng cách này thì anh mới nghe chứ
chưa biết ra sao. Nếu người ta biết đích xác chuyện gì sẽ xảy ra
thì mọi đau đớn về thể xác đều có thể chịu được, thí dụ có thể
coi đấy là một ca mổ không có thuốc tê, một vụ nhổ răng chẳng
hạn. Những điều chưa biết mới đáng sợ vì người ta sẽ không biết
sẽ phản ứng ra sao, không biết mức độ chịu đựng của mình sẽ như
thế nào. Và điều kinh khủng nhất, nỗi sợ hãi tái tê nhất chính là
lúc đó người ta có thể nói hay làm những việc mà sau này sẽ không
thể nào sửa chữa được.
VÌ
SAO?, Rubashov hỏi.
LỆCH
LẠC CHÍNH TRỊ, 402 gõ một cách chế giễu.
Rubashov
đeo kính lên và đút tay vào túi tìm bao thuốc lá. Chỉ còn hai điếu.
Sau đó anh gõ tiếp:
CÒN
ANH THÌ SAO?
CÁM
ƠN, KHÔNG SAO... 402 trả lời rồi bỏ lửng câu chuyện ở đấy.
Rubashov
nhún vai; anh châm điếu thuốc và tiếp tục đi bách bộ trong phòng. Thật
lạ là ôn lại chuyện cũ làm anh phấn chấn hơn. Tâm trạng buồn chán
đã không còn, đầu óc sáng sủa hơn, thần kinh không còn căng thẳng
nữa. Anh rửa tay, rửa mặt, súc miệng rồi lau cổ bằng chiếc khăn mùi
xoa. Anh huýt sáo, nhưng chỉ nhớ được mấy từ; anh chẳng nhớ được
trọn vẹn một bài hát nào. Cách đây vài ngày có người đã bảo:
“Nếu Anh Cả mà là nhạc sĩ thì cậu đi đứt lâu rồi”. “Rồi ông ta sẽ
cho đi thôi”, Rubashov đáp, mặc dù không tin chuyện đó lắm. Anh châm
điếu thuốc cuối cùng và bắt đầu suy tính cách hành xử nếu bị đưa
đi thẩm vấn. Anh cảm thấy bình tĩnh và tự tin như hồi còn là sinh
viên trước mỗi kỳ thi khó. Anh cố nhớ lại tất cả những gì từng
được nghe về cách tra tấn gọi là “tắm hơi”. Anh tưởng tượng ra
những tình huống cụ thể, cố gắng đi sâu vào những đau đớn mà thân
thể sẽ phải chịu đựng để loại bỏ tất cả những điều huyễn hoặc.
Điều quan trọng là không để mình bị bất ngờ. Anh tin chắc rằng
trước đây mình đã không bị bất ngờ thì nay mình cũng sẽ không để
cho chuyện đó xảy ra được; họ không thể bắt anh nói những điều mà
anh không muốn. Mong sao mọi chuyện bắt đầu càng sớm càng tốt.
Người
lái xe và Richard lại hiện lên trong đầu: họ đang đuổi theo vì cho
rằng anh đã lừa dối họ.
“Bây
giờ thì ta sẽ thanh toán hết”, anh tự nhủ và mỉm cười một cách
ngượng nghịu.
Điếu
thuốc lá đã cháy gần hết, ngón tay bỏng rát, Rubashov vất mẩu còn
lại xuống đất. Anh đã định lấy chân gí cho tắt, nhưng sau đó nghĩ
lại, anh cúi xuống nhặt mẩu thuốc lá lên rồi chà nhẹ tàn lửa vào
giữa hai tĩnh mạch màu xanh trên mu bàn tay trái. Vừa làm như thế
anh vừa nhìn đồng hồ trên cánh tay phải: đúng nửa phút sau tàn
thuốc mới tắt hẳn. Anh cảm thấy hài lòng: bàn tay không hề giật
lên lần nào trong suốt ba mươi giây vừa qua. Sau đó anh lại tiếp
tục bước.
Con
mắt ghé sát vào lỗ nhòm để quan sát anh trước đó vài phút đã bỏ
đi.
11.
Đoàn
người đưa cơm trưa đi qua hành lang, lần này họ cũng không vào
phòng Rubashov. Nhìn qua lỗ nhòm là việc chẳng hay ho gì cho nên anh
không biết bữa trưa tù nhân được ăn gì, chỉ thấy mùi bay khắp
phòng, mà mùi thì có vẻ ngon.
Thèm
thuốc lá quá. Dù thế nào cũng phải tìm cho bằng được thuốc lá,
nếu không thì không thể nào tập trung suy nghĩ được; đối với anh
hút quan trọng hơn ăn. Sau khi người ta phát thức ăn chừng nửa
tiếng thì anh bắt đầu đấm vào cánh cửa. Phải mười lăm phút sau
người giám thị già mới tới.
“Cái
gì thế?”, lão ta hỏi một cách cáu kỉnh.
“Tôi
muốn mua thuốc lá.”
“Anh
có phiếu không?”
“Người
ta tịch thu hết tiền của tôi rồi.”
“Thế
thì phải đợi để người ta đổi phiếu cho.” “Trong cái cơ sở mẫu mực
này thì phải đợi bao lâu?” “Anh có thể làm đơn.”
“Ông
cũng biết là tôi làm gì có giấy bút gì đâu”, Rubashov bảo.
“Giấy
bút cũng phải có phiếu mới được mua.”
Cơn
tức giận dâng lên trong đầu, hơi thở gấp gáp, họng như nghẹn lại,
nhưng anh đã kịp trấn tĩnh. Người giám thị già bỗng nhìn thấy ánh
mắt sáng quắc qua cặp kính; điều đó làm lão nhớ lại những bức
chân dung của Rubashov mà cách đây chưa lâu vẫn được treo khắp hang
cùng ngõ hẻm; lão cười khẩy và bước ra.
“Đồ
thối tha”, Rubashov vừa nói vừa quay vào và đi về phía cửa sổ. “Tôi
sẽ báo cáo là anh lăng mạ tôi”, lão già nói với vào rồi đóng
đóng sập cửa lại. Rubashov lấy kính lau vào ống tay áo và đứng đợi
cho đến khi hơi thở trở lại đều đặn như cũ. Không có thuốc thì
chịu làm sao được. Sau khi đứng đợi như thế chừng mười phút thì
anh bắt đầu gõ để nói chuyện với 402:
CÓ
THUỐC LÁ KHÔNG? Phải đợi một lúc 402 mới trả lời: KHÔNG PHẢI CHO
ANH
Rubashov
quay lại cửa sổ. Anh mường tượng viên sĩ quan trẻ phòng bên có ria
mép, đeo chiếc kính một tròng, ánh mắt đờ đẫn, mi mắt đỏ lựng, đang
nhìn chằm chằm vào bức tường phân chia giữa hai phòng và cười
khẩy. Hắn ta đang nghĩ gì nhỉ? Có thể hắn đang nghĩ: “Ta đã cúng cho
các ngươi tất cả rồi còn gì”. Mà cũng có thể: “Đồ khốn, bao
nhiêu người của chúng ta đã bị ngươi cho ăn đạn rồi?”. Rubashov
đứng nhìn bức tường trắng toát; anh cảm thấy rằng đằng sau bức
tường này cũng có một người đang đứng nhìn như anh; thậm chí anh
còn nghe thấy cả hơi thở của anh ta. “Ta đã bắn bao nhiêu người
rồi?”, Rubashov tự hỏi. Nhưng anh không thể nào nhớ được. Đã lâu
lắm rồi, từ thời nội chiến cơ; có thể là bảy mươi, mà cũng có
thể cả một trăm. Thế thì sao? Lúc đó phải thế, nó khác hẳn với
trường hợp của Richard, bây giờ anh cũng sẵn sàng làm như thế. Ngay
cả nếu anh biết rằng trước sau gì thì Anh Cả cũng sẽ cưỡi lên
đầu cách mạng. Ngay cả nếu biết như thế anh cũng vẫn làm.
“Với
ngươi”, Rubashov vừa nhìn vào bức tường mà phía sau cũng có một
người đang đứng – có thể lúc đó anh còn đang hút thuốc và phà khói
vào tường nữa – vừa nghĩ “với nhà ngươi, ta chẳng có nợ nần gì.
Tuyệt đối không nợ gì. Ngươi còn muốn gì nữa?”
402
lại bắt đầu gõ. Rubashov quay lại gần bức tường:
...GỬI
THUỐC, anh nghe thấy 402 gõ như thế. Rồi lại nghe anh ta đấm vào cửa
để gọi giám thị.
Rubashov
đứng lặng, nín thở. Sau vài phút thì nghe có tiếng chân người giám
thị già bước ngoài hành lang. Lão ta không mở cửa mà chỉ đứng bên
ngoài hỏi vọng vào:
“Cần
gì?”
Rubashov
không nghe thấy câu trả lời mặc dù anh rất muốn nghe giọng nói của
402. Nhưng viên giám thị lại cố tình nói to nên anh nghe rất rõ:
“Không
được, nội qui không cho phép.”
Vẫn
không nghe được câu trả lời. Rồi viên giám thị bảo:
“Tôi
sẽ báo cáo là anh lăng mạ tôi.” Tiếng chân lão giám thị bước
ngoài hành lang xa dần rồi mất hẳn.
Sau
vài phút 402 lại gõ:
HỌ
THEO DÕI KỸ ĐẤY
Rubashov
không trả lời. Anh lại đi bách bộ, cơn thèm thuốc tiếp tục dâng
lên, như có cái gì cào xé trong họng. Anh nghĩ đến 402. “Nhưng ta
cũng sẽ vẫn làm như thế”, anh tự nhủ. “Lúc đó cần và đúng là
phải làm như thế. Nhưng dù sao ta vẫn mắc nợ nhà ngươi. Người ta
phải trả giá cho cả những việc cần thiết và đúng đắn ư?”
Cổ
họng khô rát, các mạch máu trên trán căng lên, Rubashov vẫn không
ngừng đi đi lại lại như cũ và môi anh bắt đầu mấp máy theo ý nghĩ.
“Người
ta phải trả giá cho cả những hành vi đúng đắn ư? Liệu có tiêu
chuẩn đánh giá nào khác không? Liệu cái người được coi là đúng
đắn đó có mắc tội nặng hơn khi anh ta được đánh giá bằng cái tiêu
chuẩn kia hay không? Liệu anh ta có phải chịu tội gấp đôi, tức là
chịu cho mình và cho cả những kẻ không biết mình đã làm gì hay
không...?”
Rubashov
đứng như trời trồng trên viên gạch đen thứ ba, tính từ cửa sổ.
Cái
gì thế? Loạn trí à? Anh nhận ra là mình đã tự nói thành tiếng
được vài phút rồi. Nhận ra nhưng không ngưng được.
“Ta
sẽ phải trả hết.”
Và
đây là lần đầu tiên kể từ lúc bị bắt Rubashov thấy sợ. Anh đút tay
vào túi tìm thuốc lá. Không còn điếu nào.
Có
tiếng gõ nhẹ ngay bên cạnh chiếc giường ngủ, đấy là tín hiệu của
402:
MÔI
THỎ GỬI LỜI CHÀO
Anh
mường tượng trong đầu khuôn mặt vàng vọt đang ngước lên nhìn: lời
nhắn làm anh cảm thấy bất an. Anh gõ:
TÊN
ANH TA LÀ GÌ?
402
trả lời:
ANH
TA KHÔNG NÓI. CHỈ GỬI LỜI CHÀO.
12.
Buổi
chiều Rubashov còn cảm thấy khó chịu hơn. Thỉnh thoảnh anh lại rùng
mình. Cái răng sâu lại bắt đầu đau, cái răng này nằm ở bên phải
hàm trên, có liên quan đến hệ thần kinh mắt. Từ lúc bị bắt đến
bây giờ anh chưa được ăn gì nhưng vẫn không cảm thấy đói. Anh
muốn tập trung suy nghĩ, nhưng những cơn run vì lạnh, sự ngứa ngáy
ở trong cổ làm anh bức bối không chịu được. Trong đầu quanh đi quẩn
lại vẫn chỉ có hai câu: “phải có thuốc ngay không thì ta điên mất”
và “ta sẽ trả hết”.
Trí
nhớ cũng không để cho anh được yên. Những khuôn mặt, những giọng
nói cứ lần lượt hiện lên rồi lại nhòe đi, nhưng hễ anh muốn giữ
lại một hình ảnh nào đó thì lại thấy đau nhói trong tim, quá khứ
của anh vẫn còn sưng tấy và chảy máu mỗi khi chạm vào. Quá khứ
của anh là phong trào, là Đảng; hiện tại cũng như tương lai của anh
là thuộc về Đảng, gắn bó không tách rời với số phận của Đảng,
nhưng trước đây anh với Đảng đã là một. Thế mà nay quá khứ đó bị
đặt thành vấn đề. Anh bỗng phát hiện ra rằng cái cơ thể sống động
và ấm áp của Đảng hóa ra lại đầy những mụn nhọt kinh tởm, sưng
tấy và rướm máu. Đã bao giờ có những ông thánh thối tha như thế
chưa? Những kẻ đê tiện đã bao giờ làm được những điều tốt đẹp
chưa? Nếu Đảng là hiện thân của tiến trình lịch sử thì lịch sử
cũng chẳng ra gì.
Rubashov
nhìn chằm chằm vào những vệt nước trên tường buồng giam. Anh lấy
chăn quấn quanh vai và đi đi lại lại thật nhanh, mỗi khúc quanh anh
cũng quay người rất nhanh. Nhưng vẫn không hết run. Trong đầu, tiếng
ù ù không dứt, thỉnh thoảng còn nghe thấy những giọng nói nhẹ
nhàng và mập mờ nữa; anh không biết đấy là từ ngoài hành lang
truyền vào hay chỉ là ảo giác. “Đấy là do cái răng sâu, mai phải đi
bác sĩ mới được. Bây giờ phải nghĩ đến bao việc khác”, anh tự nhủ
như thế. Cần phải tìm cho ra lý do vì sao Đảng lại thoái hóa đến
như thế. Tất cả các nguyên lý của chúng ta đều đúng, vậy thì tại
sao kết quả lại sai. Đây là một thời đại bệnh hoạn. Chúng ta đã
chẩn đoán bệnh tật và nguyên nhân của nó một cách chính xác không
chê vào đâu được, nhưng con dao mổ của chúng ta động vào chỗ nào
là chỗ ấy không những không khỏi mà lại sưng tấy lên thêm. Chúng
ta là những người cứng rắn và trong sạch, đáng lẽ ra chúng ta phải
được nhân dân yêu mến mới phải. Nhưng nhân dân lại căm thù chúng
ta. Tại sao chúng ta lại bị khinh bỉ và căm thù đến như thế?
Chúng
ta nói sự thật nhưng nghe vẫn như là nói dối. Chúng ta đem lại tự
do cho nhân dân nhưng tự do trong tay chúng ta lại trông như một cái
dùi cui. Chúng ta làm cho dân ấm no hạnh phúc nhưng chúng ta đi đến
đâu thì cây khô lá úa đến đấy. Chúng ta nói về tương lai bằng
giọng cà lăm và hách dịch...
Người
anh bỗng run lên. Trong đầu anh lại hiện lên bức ảnh chụp các đại
biểu Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Họ ngồi bên một cái bàn gỗ
dài, một số người chống khuỷu tay lên bàn, một số để tay lên đầu
gối; hầu như ai cũng để râu và rất nghiêm túc, tất cả đều nhìn
vào ống kính. Phía trên đầu mỗi người đều có một vòng tròn nhỏ
ghi một con số tương ứng với họ tên ở bên dưới. Tất cả đều
trông rất nghiêm nghị, chỉ có ông chủ tịch, già nhất hội, với đôi
mắt Tắc–ta ti hí là có ánh mắt cười cợt một cách tinh quái mà
thôi. Rubashov ngồi bên cạnh ông ta, kính xệ xuống trên hai cánh
mũi. Anh Cả, vai nở và đẫy đà, ngồi ở cuối bàn. Họ, những người
đang chuẩn bị một cuộc cách mạng vĩ đại nhất, trông chẳng khác gì
các cố vấn của một hội đồng hàng tỉnh. Lúc đó họ chỉ là một
nhóm nhỏ, một giống loài hoàn toàn mới: triết gia–chiến sĩ. Nếu
các doanh nhân biết nhiều khách sạn thì họ lại biết hầu hết các
nhà tù ở châu Âu. Họ mơ ước cướp chính quyền để vĩnh viễn xóa
bỏ quyền lực, họ ước mơ cai trị nhân dân để giúp dân từ bỏ thói
quen của những kẻ bị trị. Họ đã biến tất cả các dự định của mình
thành hành động, họ đã biến tất cả ước mơ thành hiện thực. Họ đi
đâu cả rồi? Tất cả những bộ não thông tuệ từng làm thay đổi cả
tiến trình lịch sử đều đã được “xơi” một viên đạn. Người thì tự
bắn vào trán, kẻ thì bị bắn vào gáy. Ngoài anh và Anh Cả ra thì
chỉ có hai hay ba người đang lưu vong tận phương trời nào, không
nhà không cửa, thân tàn ma dại, là còn sống.
Rubashov
cảm thấy lạnh và thèm thuốc lá quá. Anh bỗng thấy mình đang đi trên
một bến cảng ở nước Bỉ, bên cạnh là anh chàng Levy Còi vui tính,
lưng hơi gù, miệng ngậm tẩu thuốc. Anh ngửi thấy mùi của bến cảng,
một cái mùi hỗn hợp giữa dầu xăng và rong biển chết, anh nghe thấy
tiềng chuông đồng hồ trên tháp tòa thị chính, rồi anh đi qua những
con phố hẹp với những ngôi nhà mà tầng trên được xây nhô ra với
các ô cửa sổ trông như chuồng gà treo đầy quần áo của các cô gái
điếm. Chuyện này xảy ra sau khi anh giao thiệp với Richard được hai
năm. Họ không tìm được chứng cớ gì để chống lại anh. Anh không
khai một lời nào, dù bị đánh đến chết lên chết xuống, dù bị đánh
gãy mấy cái răng, dù bị đánh đến ù tai, có lần bị đánh vỡ kính,
mảnh thủy tinh suýt đâm vào mắt, nhưng anh vẫn không hé răng nói
nửa lời. Anh không nói mà nếu có nói thì cũng phủ nhận hết hoặc
nói dối một cách cực kì khéo léo. Anh đi đi lại lại trong phòng
giam, anh bò trên đá lạnh trong phòng tra tấn, anh rất sợ nên luôn
chuẩn bị cách đối phó, mỗi khi tỉnh lại vì bị dội nước lạnh vào
người anh lại xin thuốc hút và tiếp tục nói dối. Anh không ngạc
nhiên khi thấy những tên đao phủ đối xử độc ác và tỏ thái độ căm
ghét mình đến thế. Bộ máy độc tài đang hoạt động hết công suất,
nhưng chúng không tìm được một chứng cứ nào. Sau khi được tha, anh
được đưa lên máy bay để trở về nước, trở về quê hương của Cách
mạng. Anh được mọi người chào đón, được tham gia vào những cuộc
mít tinh quần chúng, có cả những cuộc duyệt binh chào mừng nữa. Ngay
Anh Cả cũng thường đứng bên anh trong những buổi mít tinh như thế.
Anh
đã sống ở nước ngoài nhiều năm, mọi thứ đã thay đổi nhiều quá. Một
nửa số người chụp trong bức ảnh ngày xưa đã không còn. Tên tuổi
của họ đã không còn được nhắc tới mà nếu có nhắc thì bao giờ
cũng kèm theo những lời rủa xả – trừ một người, đấy là ông già
có đôi mắt nheo một cách tinh quái, vị lãnh tụ của những ngày xa
xưa, ông đã tỏ ra thức thời và đã chết đúng lúc. Ông được gọi
là Cha Già, còn Anh Cả là Con; nhưng người ta vẫn đồn là Anh Cả đã
chữa di chúc của ông để giành vị trí kế thừa. Những người còn
sống thì đã thay đổi đến không thể nhận ra được nữa. Họ đã cạo
râu, đã già yếu, hom hem và không còn ảo tưởng nữa, người nào
cũng có vẻ chán chường, yếm thế. Thỉnh thoảng Anh Cả lại đưa một
người trong số họ ra làm nạn nhân. Tất cả đều đấm vào ngực thùm
thụp và đều đồng thanh sám hối về những tội lỗi mà họ đã phạm. Ở
nhà chưa được nửa tháng Rubashov đã xin được ra nước ngoài công
tác. “Anh có vẻ vội đấy nhỉ”, Anh Cả vừa nói vừa nhìn anh qua làn
khói thuốc lá. Sau hai mươi năm nằm trong ban lãnh đạo Đảng nhưng
khi nói chuyện với nhau họ vẫn sử dụng các đại từ nhân xưng “anh,
tôi” như cũ. Trên đầu Anh Cả là ảnh Ông Cụ; trước đây, ở bên
cạnh còn có bức ảnh chụp các triết gia–chiến sĩ, nhưng nay bức ảnh
này bị bỏ đi rồi. Cuộc gặp chỉ kéo dài có mấy phút, nhưng khi sắp
bước ra thì Anh Cả bỗng đứng hẳn lên và bắt tay một cách rất
trịnh trọng. Sau này Rubashov vẫn thường suy nghĩ về ý nghĩa của
cái bắt tay cũng như ánh mắt giễu cợt của Anh Cả sau làn khói
thuốc lá trong lần gặp gỡ đó. Rồi anh rón rén đi ra khỏi phòng, Anh
Cả không đứng lên tiễn. Sáng hôm sau anh xuống tàu đi Bỉ.
Ngay
sau khi đỡ mệt anh liền nghĩ đến nhiệm vụ được giao. Levy Còi, bí
thư chi bộ cảng với chiếc tẩu bất ly thân, đón anh khi tàu vừa cập
bến. Anh thấy mến anh ta ngay từ lần gặp đầu tiên. Anh ta dẫn Rubashov
đi xem khu vực bến tàu và các con phố hẹp ngoằn ngoèo trong thị xã
với sự nhiệt tình và lòng tự hào như thể một mình anh ta xây dựng
nên tất cả vậy. Quán xá nào anh ta cũng có người quen; công nhân
bốc xếp, thủy thủ và cả các cô gái điếm, ai cũng muốn mời anh một
ly, còn anh thì chào họ bằng cách giơ cái tẩu thuốc lên ngang mang
tai. Ngay cả viên cảnh sát giao thông ở gần chợ cũng nháy mắt với
anh ta khi họ đi ngang, còn các thủy thủ nước ngoài, những người
không nói được tiếng Pháp thì thân mật vỗ vai anh ta. Rubashov hơi
lấy làm ngạc nhiên. Không, Levy Còi không hề bị quần chúng căm thù
hay ghét bỏ. Chi bộ của các công nhân bốc xếp là một trong những chi
bộ điển hình trên toàn thế giới.
Buổi
chiều Rubashov, Levy Còi và mấy người nữa tụ tập trong một quán ăn
trên bến cảng. Một người tên là Paul, bí thư chi bộ, cũng có mặt.
Anh ta vốn là một đô vật, đầu đã hói, mặt rỗ hoa vì bệnh đậu mùa
với đôi tai to, vểnh lên. Anh ta mang trên đầu một chiếc mũ đen, bên
ngoài chiếc áo len thủy thủ còn khoác thêm một chiếc áo ấm nữa.
Anh ta có khiếu vẫy tai, mỗi khi vẫy cái mũ trên đầu cũng nâng lên
hạ xuống theo. Một người nữa tên là Bill, vốn là thủy thủ và có
viết một cuốn tiểu thuyết về cuộc đời thủy thủ nổi tiếng suốt mấy
năm nhưng sau đó thì bị rơi vào quên lãng, hiện nay anh ta viết cho
cơ quan ngôn luận của Đảng. Những người còn lại đều là công nhân
bốc xếp, chậm chạp, uống nhiều nhưng ít nói. Thỉnh thoảng lại có một
đám người đi vào, nhóm thì ngồi, nhóm thì đứng; uống xong là họ ra
liền. Ông chủ quán, một người to béo, hễ rảnh là lại đến ngồi
cùng với họ. Ông ta biết thổi kèn acmônica. Khá nhiều người uống
đến say khướt.
Levy
Còi giới thiệu Rubashov là một “đồng chí từ Bên Nớ” sang mà không
giải thích gì thêm. Chỉ có mình anh ta biết rõ Rubashov mà thôi.
Thấy Rubashov không muốn nói chuyện, họ chỉ hỏi vài câu, chủ yếu
là về điều kiện sống ở “bên nớ”, về lương bổng, về đất đai và
sự phát triển công nghiệp. Họ có những hiểu biết rất cụ thể về
kỹ thuật, nhưng hầu như không biết gì về tình hình chung cũng như
tình hình chính trị “bên nớ”. Họ hỏi về sự phát triển của ngành
than cứ y như trẻ con hỏi về kích thước của quả nho ở vùng Đất
Thánh vậy. Một công nhân bốc xếp đã có tuổi, vẫn đứng bên cạnh
quầy rượu ngay từ đầu nhưng không đặt món gì, được Levy Còi gọi
tới, sau khi bắt tay đã nói với Rubashov: “Trông ông rất giống ông
Rubashov ngày xưa”. “Cũng nhiều người nói với tôi như thế”, Rubashov
đáp. “Rubashov ngày xưa đúng là một người giỏi”, người công nhân
già nói và dốc ngược ly lên. Tính đến hôm nay, Rubashov được trả
tự do chưa đầy một tháng và chưa đến ba tháng kể từ ngày anh biết
rằng mình sẽ không bị giết. Ông béo, chủ quán, chơi một bản nhạc
bằng đàn acmônica. Rubashov châm thuốc rồi gọi cho mỗi người một li.
Họ nâng cốc chúc mừng sức khoẻ anh và sức khoẻ của tất cả những
người ở “bên nớ”, bí thư Paul vẫy tai, mũ của anh nhảy lên nhảy
xuống nhịp nhàng.
Sau
khi mọi người đã về hết, Rubashov và Levy Còi còn ngồi lại khá
lâu. Chủ quán hạ cánh cửa và xếp chổng ngược chân ghế lên các
bàn rồi ra sau quầy đánh một giấc ngon lành, trong khi Levy Còi kể cho
Rubashov nghe về cuộc sống mình. Chuyện này thì Rubashov không yêu
cầu: nếu tất cả các đồng chí đều bắt anh phải nghe chuyện đời họ
thì sẽ rắc rối to. Anh đã định đi ngay, nhưng sau thấy mệt quá – có
lẽ anh đã không lượng đúng sức lực của mình, nên đành ngồi lại.
Hoá
ra Levy Còi không phải người Bỉ, mặc dù giọng anh giống hệt người
địa phương và biết hầu như tất cả mọi người ở đây. Anh sinh ra ở
miền nam nước Đức, đã có nghề mộc, từng chơi ghi ta và giảng lý
thuyết Darwin trong các câu lạc bộ thanh niên cách mạng. Trong cái
tháng hỗn loạn trước khi nền Độc Tài được thiết lập, đấy là lúc
Đảng rất cần vũ khí thì trong thành phố nơi Levy Còi sống đã diễn
ra một sự kiện độc đáo có một không hai: một buổi chiều chủ nhật,
năm mươi khẩu súng trường, hai mươi khẩu súng lục và hai khẩu
tiểu liên cùng với rất nhiều đạn dược được chở thẳng từ một đồn
cảnh sát giữa khu phố đông đúc trên hai xe tải chở đồ gỗ. Hai cảnh
sát mặc đồng phục đi trên xe có giấy tờ với đầy đủ dấu má ra lệnh
xếp lên xe để vận chuyển số vũ khí đó đi nơi khác. Số vũ khí này
sau đó được tìm thấy trong một vụ khám xét ga–ra ô tô của một đảng
viên ở thị trấn bên cạnh. Cảnh sát không tìm ra đầu mối vụ việc,
nhưng ngày hôm sau Levy Còi phải rút vào hoạt động bí mật. Đảng
hứa cung cấp cho anh ta căn cước và các giấy tờ tuỳ thân khác,
nhưng việc không thành vì người giao liên cùng với giấy tờ và
tiền đã không đến điểm hẹn.
“Bao
giờ cũng như thế cả”, Levy Còi nói, giọng đầy vẻ triết lý. Rubashov
im lặng.
Mặc
dù vậy, Levy Còi đã trốn thoát và cuối cùng vượt qua được biên
giới. Vì đã có lệnh truy nã và ảnh của anh với một bên vai lệch
dán ở tất cả các đồn cảnh sát nên anh phải sống chui sống lủi
suốt mấy tháng liền. Thế mà khi anh ta chuẩn bị đi gặp giao liên thì
trong túi chỉ còn đủ tiền ăn trong ba ngày. “Trước đây tôi cứ nghĩ
rằng chuyện nhai vỏ cây chỉ có trong sách vở. Gặp được cây non thì
còn khá”, Levy Còi nhận xét như thế. Rồi anh ta đi về phía quầy, có
thể cái đói trong tiềm thức đã buộc anh ta làm thế, và đem đến hai
cái xúc xích. Rubashov nhớ lại những bát canh “toàn quốc”, những vụ
tuyệt thực trong tù và cùng ăn với Levy Còi.
Levy
Còi vượt biên giới Pháp. Vì không có căn cước nên anh bị bắt
ngay lập tức, người ta bảo anh phải sang nước khác rồi thả cho muốn
đi đâu thì đi. “Họ làm như tôi có thể leo lên mặt trăng không
bằng”, Levy Còi trầm ngâm nói. Anh tìm gặp Đảng đề nhờ giúp đỡ,
nhưng ở đây không có đảng viên nào biết anh thành ra người ta nói
phải tìm hiểu ở bên Đức trước đã. Anh lại đi lang thang; sau đó mấy
ngày thì bị bắt lại và bị kết án ba tháng tù giam. Khi ngồi tù anh
làm quen với một người vốn là dân bụi đời và giải thích cho anh ta
các nghị quyết của kì đại hội Đảng vừa qua. Để trả công, người
này lại dạy cách giết rồi lột da mèo hoang để bán lấy tiền. Sau ba
tháng tù, một đêm cảnh sát đem anh đến khu rừng biên giới với Bỉ
rồi đưa cho một ít bánh mì, phó mát và một bao thuốc lá Pháp và
bảo: “Đi đi. Chừng nửa tiếng thì sang đến Bỉ. Chúng tao mà bắt được
lần nữa thì coi chừng đấy.”
Anh
lang thang ở Bỉ mấy tuần. Anh lại yêu cầu Đảng giúp đỡ, nhưng họ
cũng trả lời y như ở Pháp. Khi đã chán vỏ cây anh quay sang nghề
bán da mèo. Bắt mèo không khó, một tấm da mèo không ghẻ lở có thể
đổi được nửa cái bánh mì và gói thuốc lá quấn. Nhưng bắt thì dễ
mà lột da thì khó hơn nhiều. Phải túm thật nhanh lấy tai và đuôi
rồi lấy đầu gối đè lên mình nó. “Lúc đầu buồn nôn lắm. Sau này
thì quen”, Levy Còi nói. Đáng tiếc là Levy Còi lại bị bắt vì ở đây
người ta cũng đòi phải có giấy tờ tuỳ thân. Mọi chuyện cứ thế
tái diễn: trục xuất, bắt lại, tù. Một đêm nọ, hai người cảnh sát
Bỉ đem anh đến khu rừng biên với Pháp rồi đưa cho một ít bánh mì,
phó mát và bao thuốc lá Bỉ và bảo: “Đi đi. Chừng nửa tiếng thì sang
đến Pháp. Chúng tao mà bắt được lần nữa thì coi chừng đấy.”
Suốt
năm sau anh bị, khi thì cảnh sát Pháp, lúc thì cảnh sát Bỉ, đẩy qua
đẩy lại biên giới đến ba lần. Hoá ra có hàng trăm người bị hành
xử theo kiểu “bắt cóc bỏ đĩa” như thế suốt mấy năm trời. Đã nhiều
lần anh tìm cách liên hệ với tổ chức Đảng địa phương vì anh lo
nhất là bị mất liên lạc với phong trào. “Tổ chức cũ của đồng chí
chưa chuyển sinh hoạt cho đồng chí”, những người có trách nhiệm đã
nói với anh như thế. “Chúng tôi phải đợi công văn phúc đáp. Nếu
là đảng viên thì đồng chí hãy tuân thủ kỷ luật Đảng”. Anh tiếp
tục kiếm sống bằng nghề lột da mèo và để mặc cho cảnh sát đẩy qua
đẩy lại trên biên giới giữa Pháp và Bỉ. Một năm trôi qua, Levy Còi
đã cảm thấy yếu, anh ho ra máu và cứ nằm ngủ là mơ thấy mèo. Lúc
nào anh cũng ngửi thấy mùi mèo: thức ăn, thuốc lá, thậm chí cả
phòng ngủ của mấy cô gái điếm già, họ thường cho anh tá túc qua đêm,
cũng có mùi mèo. “Chúng tôi vẫn chưa nhận được giấy giới thiệu
chuyển sinh hoạt của đồng chí”, các cán bộ Đảng vẫn nói với anh
như thế. Sang đến năm sau nữa thì tất cả những người từng biết
Levy Còi đều đã bị giết, bị bắt tù hoặc mất tích hết. “Chúng tôi
không thể giúp gì cho đồng chí được”, các cán bộ Đảng bảo anh.
“Đáng lẽ khi chưa có giấy giới thiệu thì đồng chí không nên đi. Hay
là đồng chí đã bỏ đi mà không báo cáo với Đảng? Làm sao chúng tôi
biết được? Tụi gián điệp và khiêu
khích thì nhiều lắm. Đảng phải luôn luôn cảnh giác.”
“Anh
kể với tôi tất cả những chuyện đó để làm gì?”, Rubashov hỏi, thâm
tâm lấy làm tiếc là đã ở lại.
Levy
Còi ra quầy và tự rót lấy một ly bia rồi đưa cái tẩu thuốc lên
ngang tai.
“Đây
là một bài học”, anh ta nói. “Vì đây là một trường hợp điển hình.
Có hàng trăm người như tôi. Những đảng viên trung kiên nhất đã hi
sinh như thế suốt mấy năm qua. Càng ngày Đảng càng giống như một
lão già hết hơi. Một lão già lọm khọm, chân run, mắt mờ. Làm cách
mạng thế nào được.”
“Tôi
còn có thể nói cho anh nghe nhiều chuyện nữa”, Rubashov tự nhủ, nhưng
lại ngồi im.
May
là câu chuyện của Levy Còi kết thúc có hậu. Trong một lần ngồi tù,
mà Levy Còi đi tù như cơm bữa, anh được nhốt chung một buồng với
cựu đô vật Paul. Lúc đó Paul đã là công nhân bốc xếp; anh bị bắt
là vì đã đem một miếng võ gọi là “Nelson đúp” ra để chống lại cảnh
sát trong một vụ đình công. Muốn ra đòn này thì phải đứng sau đối
thủ, luồn hai tay qua nách đối thủ rồi vòng ra sau gáy và ghì đầu
đối thủ xuống cho đến khi cổ hắn ta kêu răng rắc mới thôi. Trên
sàn đấu anh luôn nhận được những tràng pháo tay khi sử dụng miếng
võ này, nhưng đáng tiếc là trong cuộc đấu tranh giai cấp thì không
ai làm như thế cả. Levy Còi và Paul trở thành đôi bạn thân thiết
từ đấy. Hoá ra Paul là bí thư thường trực của chi bộ Đảng của
công nhân bốc xếp; sau khi mãn hạn anh ta đã kiếm được giấy tờ tuỳ
thân và sắp xếp việc làm cũng như phục hồi Đảng tịch cho Levy Còi.
Từ đó Levy Còi lại tiếp tục giảng lý thuyết Darwin và các nghị
quyết được thông qua tại Đại hội gần đây của Đảng, lần này là cho
các công nhân bốc xếp, như chưa có chuyện gì xảy ra. Anh rất vui
và lập tức quên hết những chuyện liên quan đến mèo cũng như sự
khó chịu mà các cán bộ quan liêu của Đảng từng gây ra với anh. Nửa
năm sau anh được bầu làm người đứng đầu chi bộ Đảng của các công
nhân bốc xếp. Thế là may mắn rồi.
Rubashov
nhiệt liệt chúc mừng Levy Còi vì câu chuyện đã kết thúc một cách
có hậu như thế. Nhưng anh vẫn nhớ rõ nhiệm vụ của mình, chỉ có một
điều anh chưa học được, đấy là tự dối mình, mặc dù biết rằng đấy
cũng là một phẩm chất cần thiết của người cách mạng. Anh nhìn
chằm chằm vào Levy Còi. Trong khi Levy Còi tỏ ra lúng túng vì không
hiểu tại sao Rubashov lại nhìn mình như thế và vừa mỉm cười vừa
đưa cái tẩu thuốc lên như có ý chào thì Rubashov lại nghĩ đến
những con mèo tội nghiệp. Anh kinh ngạc nhận ra rằng đầu óc mình có
vấn đề, có thể anh đã uống quá nhiều. Anh không thể nào gạt bỏ
được ý nghĩ rằng mình phải tóm lấy hai tay và hai chân Levy Còi
rồi lấy gối đè lên người anh ta. Cảm thấy như đang lên cơn sốt,
Rubashov đứng lên và đi ra ngoài. Levy Còi tiễn anh đến tận khách
sạn; vì thấy Rubashov bỗng nhiên bị trầm cảm, anh cũng không nói gì
thêm. Một tuần sau Levy Còi treo cổ tự tử.
Trước
đó đã có mấy cuộc họp chi bộ. Các vấn đề đem ra thảo luận cũng
không có gì phức tạp.
Hai
năm trước Đảng đã từng kêu gọi giai cấp công nhân toàn thế giới
đứng lên đấu tranh chống lại một chế độ độc tài vừa được thành lập
ở Trung Âu[4]
bằng cách bất hợp tác cả về chính trị lẫn kinh tế. Nghĩa là không
bốc dỡ hàng hoá xuất khẩu cũng như ngăn chặn không cho các thiết
bị, vật tư nhập khẩu dành cho công nghiệp quốc phòng của nước này
đi qua. Các tổ chức Đảng đã nhiệt tình thực hiện chỉ thị của Ban
Chấp hành Trung ương. Công nhân bốc xếp trên cái hải cảng nhỏ này
đã kiên quyết không chịu bốc dỡ hàng hoá đến và đi khỏi đất nước
độc tài nọ. Họ được các tổ chức công đoàn ủng hộ. Đã xảy ra vài
cuộc đụng độ với cảnh sát, có cả người chết và bị thương. Kết
quả cuộc đấu tranh còn chưa ngã ngũ thì có một đoàn tàu lạ gồm
năm chiếc tàu chở hàng đã cũ, màu đen cập cảng. Lá cờ của Cách
mạng phần phật bay trên boong, còn thân mỗi con tàu đều có tên một
vị lãnh tụ được viết bằng những chữ cái lạ lẫm được sử dụng ở
“bên nớ”. Các công nhân đang bãi công nhiệt liệt chào đón đoàn tàu.
Họ tham gia ngay lập tức vào việc dỡ hàng. Mấy giờ sau mọi người
mới biết rằng đấy là một số loại quặng hiếm dùng cho nền công nghiệp
quốc phòng của cái đất nước đang bị tẩy chay kia.[5]
Ban
chấp hàng Đảng bộ công nhân bốc xếp nhóm họp ngay sau đó; cãi nhau
chán không xong, các đồng chí phải dùng đến nắm đấm để giải quyết.
Các cuộc tranh luận diễn ra khắp nơi. Báo chí phản động được dịp
tha hồ chế nhạo. Cảnh sát không can thiệp, để mặc cho công nhân
cảng tự quyết định việc bốc dỡ hàng hoá của đoàn tàu lạ. Ban lãnh
đạo Đảng tuyên bố chấm dứt bãi công và hạ lệnh bốc hàng. Họ đã
giải thích rất khéo léo đường lối của nhà nước Cách mạng, nhưng
ít người tin. Tổ chức bị phân hoá, đa số đảng viên cũ bỏ sinh
hoạt. Suốt mấy tháng liền tổ chức hầu như chỉ tồn tại trên giấy;
nhưng sau đó, do nền công nghiệp trong nước suy thoái nên Đảng lại
giành được sự ủng hộ và tăng cường được sức mạnh.
Hai
năm trôi qua. Một chế độ độc tài cực kì tham lam khác ở Nam Âu bắt
đầu gây chiến nhằm cướp bóc và xâm lược châu Phi.[6]
Đảng lại kêu gọi tẩy chay. Quần chúng tham gia còn nhiệt tình hơn
cả lần trước. Chính phủ hầu hết các nước trên thế giới cũng
quyết định tham gia tẩy chay nhằm chặn đứng nguồn cung cấp nguyên liệu
cho kẻ xâm lược.
Không
có nguyên liệu, nhất là dầu hoả, kẻ xâm lược nhất định sẽ thất
bại. Đoàn tàu lạ mầu đen lại nhổ neo. Chiếc tàu lớn nhất mang tên một
người phản chiến nổi tiếng và đã bị giết. Với lá cờ cách mạng
phấp phới trên cột buồm, lần này đoàn tàu có nhiệm vụ chở dầu cho
quân xâm lược. Đoàn tàu mới nhổ neo được một ngày, Levy Còi và
các đồng chí của anh chưa biết gì. Rubashov được giao nhiệm vụ làm
công tác tư tưởng cho các đảng viên ở đây.
Ngày
thứ nhất Rubashov không nói gì, anh chỉ nghe ngóng và quan sát. Cuộc
họp chi bộ của công nhân bốc xếp được tổ chức vào sáng ngày thứ
hai.
Giống
như tất cả các văn phòng khác của Đảng trên toàn thế giới, đấy
là một căn phòng rộng, gần như trống không và rất bừa bộn, được
bài trí một cách sơ sài. Một phần là do kinh phí hạn hẹp, nhưng
chủ yếu là do quan niệm sống khắc khổ và tẻ nhạt đã trở thành
truyền thống. Trên tường dán đầy các áp phích của những cuộc vận
động bầu cử trước đây, cùng các khẩu hiệu chính trị và những bản
thông báo đã ngả màu.Trong một góc phòng người ta thấy một máy in
phủ đầy bụi băm, còn góc bên kia là một đống quần áo cũ giành cho
gia đình các công nhân tham gia đình công, bên cạnh đó là những
cuốn sách mỏng và những tờ truyền đơn cũng đã bạc màu vì năm
tháng. Giữa phòng là một cái bàn dài, thực ra đấy chỉ là hai tấm
ván đặt trên hai cái ghế ngựa mà thôi. Cửa sổ thì đầy các vệt
vôi, y như một căn nhà còn đang xây dựng dở. Ngay phía trên cái
bàn là một bóng đèn tròn treo trên sợi dây điện, một tấm bìa có
dán tờ giấy dính để bẫy ruồi cũng treo lủng lẳng ngay bên cạnh như
thế. Ngồi xung quanh bàn là Levy Còi, cựu đô vật Paul, nhà văn Bill
và ba người nữa mà Rubashov không biết tên.
Rubashov
nêu lý do cuộc họp. Anh đã quen với khung cảnh này, cái sự luộm thuộm
đã thành truyền thống làm cho anh cảm thấy như đang ở nhà mình. Rõ
ràng anh được giao một nhiệm vụ cực kì quan trọng và cần thiết, anh
thật không hiểu vì sao đêm hôm trước, trong cái nhà ăn công cộng
ồn ào anh lại cảm thấy băn khoăn như thế. Anh giải thích tình hình
một cách khách quan và mạch lạc nhưng không đề cập đến lý do của
chuyến công tác này. Vụ tẩy chay kẻ xâm lược đã bị thất bại vì
sự phản bội và lòng tham của chính phủ các nước châu Âu. Một số
nước chỉ giả vờ tẩy chay, số khác thì hoàn toàn dửng dưng. Trước
đây Nhà nước Cách mạng cung cấp phần lớn nhu cầu về nhiên liệu cho
nước này. Nếu nay ngừng cung cấp thì các nước khác sẽ nhảy vào
ngay: trên thực tế họ không mong gì hơn là đẩy Nhà nước Cách mạng
ra khỏi thị trường thế giới. Những hành động mang tính lãng mạn
chỉ đem lại những tác động tiêu cực đối với sự phát triển ngành
công nghiệp ở “Bên Nớ” và phong trào cách mạng trên toàn thế giới
mà thôi. Mọi người có thể tự rút ra kết luận.
Paul
và ba công nhân bốc xếp có chân trong chi uỷ cùng gật đầu. Họ là
những người chậm hiểu; tất cả những lời của đồng chí từ Bên Nớ đốI
với họ đều có lý cả, đối vớI họ đấy chỉ là một bài lý thuyết
suông, không có ảnh hưởng trực tiếp nào. Họ không biết anh ta đang
đưa họ đi đâu, không ai đoán được rằng có một đoàn tàu đang sắp
sửa cập cảng. Chỉ có Levy Còi và nhà văn là nhìn nhau tỏ vẻ lo
lắng mà thôi. Nhưng Rubashov đã nhận ra. Anh kết thúc bài nói chuyện
một cách lạnh lùng:
“Tôi
đã trình bày với các đồng chí tất cả các vấn đề thuộc về nguyên
tắc. Các đồng chí có trách nhiệm thực hiện tất cả các quyết định
của Ban Chấp hành Trung ương và giải thích bản chất của vấn đề cho
các đồng chí chậm tiến hơn. Đấy là toàn bộ vấn đề tôi cần phải
báo cáo với các đồng chí.”
Phòng
họp lặng đi một lúc. Rubashov bỏ kính ra và châm thuốc hút. Levi nói
như vô tình:
“Xin
cám ơn đồng chí diễn giả. Có ai có ý kiến gì không?”
Không
ai có ý kiến gì. Mãi một lúc sau mới có một công nhân bốc xếp
phát biểu một cách gượng gạo:
“Có
gì mà nói. Các đồng chí ở Bên Nớ phải biết họ cần phải làm gì
chứ. Còn chúng ta, dĩ nhiên là chúng ta phải tiếp tục tẩy chay. Các
đồng chí có thể tin chúng tôi. Hàng cho bọn lợn đó đừng hòng qua
được cảng của chúng tôi.”
Hai
người đồng nghiệp của anh ta cùng gật đầu. Đô vật Paul khẳng định:
“Đừng hòng qua”, mặt anh đanh lại, còn hai tai thì vẫy ra ý pha trò.
Lúc
đó Rubashov tưởng như đang gặp phải một lực lượng chống đối có tổ
chức, nhưng dần dần anh mới nhận ra rằng mấy người kia không hiểu
ý mình. Anh đưa mắt nhìn Levy Còi, hi vọng anh này sẽ giải thích cho
mọi người. Nhưng Levy Còi vẫn ngồi im, mắt nhìn xuống sàn. Đúng
lúc đó thì nhà văn đứng lên, mặt anh co rúm lại, giọng lạc đi:
“Chả
lẽ các đồng chí không tìm được cảng nào khác để thực hiện vụ áp
phe này à? Tại sao lần nào chúng tôi cũng phải chịu trận vậy?”
Mấy
công nhân bốc xếp ngạc nhiên nhìn Bill, họ không hiểu anh định nói
gì khi dùng từ “áp phe”, không ai có thể tưởng tượng được rằng
có một đoàn tàu màu đen đang sắp cập cảng của họ. Nhưng Rubashov đã
chuẩn bị sẵn từ trước: “Cảng này thuận lợi cả về mặt địa lý lẫn
chính trị”, anh nói. “Từ đây hàng hoá sẽ được vận chuyển bằng
đường bộ. Chẳng có lý do gì để phải che giấu cả, nhưng thận trọng
thì vẫn hơn, làm sao càng ít ồn ào càng tốt, không để bọn báo
chí phản động lợi dụng vụ này.”
Bill
lại đưa mắt cho Levy Còi. Các công nhân bốc xếp chẳng hiểu chuyện
gì, họ nhìn chằm chằm vào Rubashov. Paul bỗng gào lên:
“Anh
đang nói gì vậy?”
Tất
cả đều quay về phía Paul. Đôi mắt anh ta trừng trừng nhìn Rubashov
như muốn bật hẳn ra ngoài, còn cổ thì đầy các mạch máu phồng lên
như những chiếc đũa. Levy Còi chen vào:
“Hiểu
rồi hả?”
Rabashov
đưa mắt hết nhìn người nọ đến người kia rồi nhẹ nhàng bảo:
“Tôi
quên chưa nói cụ thể. Năm chiếc tàu chở hàng của Bộ Dân uỷ Ngoại
thương sẽ cập cảng vào sáng ngày mai, thời tiết hiện nay khá thuận.”
Thế
mà phải mấy phút sau mọi người mới hiểu hết. Không ai nói một lời
nào. Tất cả mọi cặp mắt đều đổ dồn về phía Rubashov. Một lúc sau
thì Paul từ từ đứng lên, anh ném cái mũ xuống sàn nhà rồi đi ra.
Hai người đồng nghiệp dõi mắt nhìn theo. Vẫn không ai nói câu nào.
Phải một lúc lâu sau Levy Còi mới hắng giọng và phát biểu:
“Đồng
chí diễn giả đã giải thích cặn kẽ cho chúng ta lý do của vụ áp
phe: nếu họ không làm thì sẽ có người khác. Ai muốn phát biểu nữa
không?”
Người
công nhân bốc xếp đã hứa tiếp tục tẩy chay nói một cách chán nản:
“Vẫn
một giọng điệu cũ. Khi đình công thì bao giờ cũng có người nói:
nếu tôi không làm thì người khác sẽ làm. Chúng tôi đã chán nghe
giọng đó lắm rồi. Bọn phá hoại đình công chuyên môn nói như thế.”
Không
khí cuộc họp thật nặng nề. Người ta nghe rõ tiếng Paul đóng cửa
phía bên ngoài cầu thang. Rubashov nói:
“Các
đồng chí, Nhà nước Cách mạng cần phải phát triển nền công nghiệp
của mình, ủng hộ cách mạng là nhiệm vụ vinh quang của các đồng
chí. Thói đa sầu đa cảm không có ích gì hết. Xin các đồng chí hãy
nghĩ cho kỹ.”
Người
công nhân bốc xếp đưa hẳn cằm ra đằng trước và nói một cách dứt
khoát:
“Chúng
tôi đã nghĩ kỹ rồi. Chúng tôi cũng đã nghe phát chán rồi. Các
đồng chí phải nghĩ đi mới đúng. Toàn thế giới đang trông vào các
đồng chí. Các đồng chí nói đến tinh thần đoàn kết, sự hi sinh và
kỷ luật, trong lúc đó các đồng chí lại sử dụng đội tàu vận tải
như một phương tiện phá hoại.”
Đúng
lúc đó thì Levy Còi đứng lên, mặt tái đi; anh giơ cái tẩu lên như
có ý chào Rubashov và nói rất nhanh:
“Tôi
đồng ý với ý kiến vừa rồi. Có ai muốn nói gì nữa không? Cuộc họp
kết thúc ở đây.”
Rubashov
chống nạng chậm chạp bước ra khỏi phòng. Các sự kiện tiếp theo
diễn ra đúng như kế hoạch đã định, không một lực lượng nào có
thể ngăn chặn được. Trong khi đoàn tàu tiến vào cảng thì Rubashov
gửi cho các đồng chí ở Bên Nớ mấy bức điện khẩn. Ba ngày sau tất
cả các lãnh đạo chi bộ Đảng của các công nhân bốc xếp bị khai
trừ, Levy Còi bị báo chí của Đảng tố cáo là tên gián điệp–khiêu
khích. Anh treo cổ tự sát sau đó ba ngày.
13.
Ban
đêm tình hình còn tệ hại hơn nữa. Suốt đêm hôm đó anh không thể
nào chợp mắt được. Chốc chốc anh lại run bắn người lên, cái răng
sâu nhức không thể nào chịu nổi. Anh có cảm giác như tất cả các
trung tâm thần kinh đều nhức nhối và sưng tấy lên, các hình ảnh và
lời nói từ quá khứ xa xôi cứ liên tục đập vào óc não. Đấy là
Richard mặc bộ áo vét màu đen đang nhìn anh với đôi mắt đỏ: “Các
đồng chí không được làm như thế. Bọn chó ấy sẽ giết tôi...”. Đấy
là Levy Còi với một bên vai hơi bị lệch: “Có ai muốn nói gì nữa
không?”. Có rất nhiều người muốn nói. Nhưng cách mạng lại không
chấp nhận bất kỳ sự lưỡng lự nào, nó luôn tiến về phía trước,
luôn hướng đến mục tiêu đã chọn và để lại bên mỗi khúc quanh
trên đường đi của nó xác của những kẻ chậm tiến, những kẻ không
theo kịp phong trào. Đường đi của cách mạng có nhiều bước ngoặt và
khúc quanh, đấy là qui luật sinh tồn của nó. Trên mỗi khúc quanh lại
có vô số xác người, đấy cũng là qui luật của nó. Đối với nó, động
cơ của từng cá nhân chẳng có giá trị gì. Nó cũng chẳng quan tâm
đến lương tâm, lý trí hay tình cảm của từng cá nhân. Những kẻ có
tội, nghĩa là những kẻ đi chệch khỏi đường lối của Đảng sẽ bị
hất sang bên đường, sẽ bị trừng phạt, mà hình phạt thì chỉ có một:
chết. Chết không phải là bí mật của phong trào, chẳng có gì là cao
quí ở đây cả: mọi sự lệch lạc đều đáng bị trừng phạt như thế.
Kiệt
sức, Rubashov lăn ra ngủ ngay trước khi trời sáng hẳn. Anh chỉ thức
giấc khi nghe thấy tiếng còi báo thức, ngay sau đó anh được viên
giám thị già và hai lính canh đưa đến gặp bác sĩ.
Rubashov
tưởng có thể đọc được tên người tù ở buồng 402 và tên anh chàng
Môi Thỏ, nhưng hoá ra họ dẫn anh theo hướng ngược lại. Buồng 406
còn trống. Đấy là phòng cuối cùng, đi quá một chút thì gặp một
cánh cửa bằng bê tông dày, người giám thị già ì ạch mãi mới mở
được. Họ bước vào một hành lang dài khác, người giám thị già đi
trước rồi đến Rubashov, hai người lính áp giải theo sau. Ở đây, tấm
thẻ trước mỗi cửa buồng đều có ghi tên mấy người; có tiếng nói
chuyện, tiếng cười và cả tiếng hát vọng ra hành lang, chắc chắn
đây là khu giam những tội phạm hình sự không nguy hiểm. Họ đi ngang
qua một cái buồng dùng làm chỗ cắt tóc cho tù nhân. Cửa buồng mở,
hai người tù có dáng nông dân đầu cạo trọc lóc, người thứ ba,
già hơn có cái mặt nhọn như mỏ chim thì đang cạo râu: cả ba người
cùng tò mò nhìn theo Rubashov và đoàn tuỳ tùng của anh. Rồi đến một
cái buồng có vẽ hình thập tự màu đỏ trên cánh cửa. Người giám
thị gõ cửa, ông ta cùng bước vào phòng với Rubashov, hai người
lính đứng đợi bên ngoài.
Phòng
khám quá chật và rất ngột ngạt, mùi thuốc lá và mùi phenol xông
lên nồng nặc. Cả một cái xô lẫn hai cái đĩa đều đầy cứng gạc và
bông băng bẩn. Viên bác sĩ ngồi quay lưng ra cửa, vừa xem báo vừa
nhai nhồm nhoàm khúc bánh mì kẹp mỡ lợn muối. Tờ báo phủ lên đống
dụng cụ để trên bàn. Mãi đến khi viên giám ngục đóng cửa tay bác
sĩ mới từ từ quay người lại. Trên cái đầu bé một cách bất
thường loe hoe một vài sợi tóc, trông chẳng khác gì đầu một con đà
điểu.
“Anh
ta bảo bị đau răng”, người giám thị già nói.
“Răng
à”, viên bác sĩ nói, trong khi mắt vẫn nhìn đi đâu. “Há miệng ra...
Nhanh lên...”
Rubashov
nhìm chằm chằm vào mặt anh ta. “Tôi có một đề nghị”, anh bình tĩnh
nói. “Tôi là tù chính trị, đề nghị đối xử với tôi cho phù hợp.”
Tay
bác sĩ quay sang phía người giám thị và hỏi:
“Con
gà này ở đâu ra thế?”
Sau
khi người giám thị già cho biết tên tuổi, Rubashov nhận thấy cặp
mắt tròn như mắt đà điểu của anh ta nhìn mình một cách chăm chú
hơn. Sau đó anh ta bảo:
“Má
ông bị sưng. Há miệng ra xem nào.”
Đúng
lúc đó cái răng lại không đau nữa. Rubashov há miệng ra.
“Phía
bên trái hàm trên của ông chẳng còn một cái răng nào”, tay bác sĩ
vừa nói vừa lấy tay sờ vào hàm Rubashov. Rubashov bỗng giật bắn
người lên vì đau, mặt tái mét, anh phải dựa lưng vào tường.
“Đây
rồi!”, tay bác sĩ nói. “Chân của một cái răng hàm trên bị vỡ
nhưng chưa rụng hẳn.”
Rubashov
phải đứng thở một lúc mới hoàn hồn. Cơn đau chạy xuyên từ hàm lên
mắt rồi chạy thẳng lên đỉnh đầu. Mạch máu trên thái dương giật
từng hồi. Tay bác sĩ đã lại ngồi xuống ghế và giở tờ báo ra.
“Nếu
ông muốn thì tôi sẽ nhổ cái chân răng cho”, vừa nhồm nhoàm nhai
bánh mì kẹp thịt lợn muối anh ta vừa nói. “Nhưng thuốc tê thì
không có. Việc này kéo dài từ ba mươi phút đến một tiếng.”
Rubashov
đứng dựa vào tường, tai vẫn còn ù, tiếng tay bác sĩ nghe như từ
đâu vọng lại.
“Cám
ơn”, Rubashov đáp. “Để lúc khác”, anh nói thêm.
Anh
chợt nghĩ đến anh chàng Môi Thỏ cùng từ “tắm hơi” và nhận thấy việc
mình lấy đầu thuốc lá đang cháy gí vào tay là một hành động kì quặc.
“Khó khăn đây”, anh tự nhủ.
Vừa
về đến buồng là anh nằm vật ra giường và ngủ thiếp đi ngay lập
tức.
Từ
bữa trưa hôm đó Rubashov được ăn như mọi người. Răng đã đỡ đau
hơn, có thể chịu đựng được. Anh tin rằng rồi cái chân răng sẽ tự
rụng.
Ba
ngày sau anh được đưa đi thẩm vấn.
14.
Anh
được dẫn đi vào lúc mười một giờ sáng. Chỉ cần nhìn thấy thái độ
trang nghiêm của viên giám thị là Rubashov đã biết họ định đưa mình
đi đâu. Cũng như mọi khi, trước hiểm nguy bao giờ anh cũng tỏ ra
bình tĩnh, có thể nói đấy là một tặng phẩm hiếm hoi mà số phận
đã dành cho anh.
Ba
ngày trước họ cũng đã đi theo con đường này. Cái cánh cửa bê tông
mở ra rồi nặng nề khép lại phía sau. “Lạ thật”, Rubashov tự nhủ,
“người ta có thể nhanh chóng thích nghi với mọi hoàn cảnh.” Anh có
cảm giác như đã thở hít không khí nặng nề của cái hành lang này
suốt mấy năm rồi, dường như không khí của tất cả các nhà tù mà
anh từng đi qua đều ngưng tụ lại ở đây.
Họ
đi ngang qua phòng cắt tóc, còn cửa phòng khám bệnh thì đóng, có ba
người tù và một giám thị ngái ngủ canh chừng họ đang đứng đợi ở
bên ngoài.
Bên
dưới phòng khám bệnh hoá ra còn một tầng nữa. Họ đi xuống theo một
cầu thang xoắn như cái lò xo. “Dưới đó là nhà kho hay phòng tra
tấn?”, Rubashov tự hỏi. Anh bỗng có linh cảm không hay khi nhìn thấy
cái cầu thang này. Họ đi qua một khoảng sân hẹp, hai bên là những
bức tường cao, không có một chiếc cửa sổ nào, nhưng bầu trời phía
trên thì sáng sủa, không một gợn mây. Sau đó lại đến một hành
lang, nhưng ở đây sáng sủa hơn, không còn cửa bê tông nữa, trên
những cánh cửa gỗ là những tay nắm bằng đồng đỏ sáng bóng, các
nhân viên điều tra đi đi lại lại nhộn nhịp, có cả tiếng nhạc của
đài phát thanh lẫn tiếng máy chữ. Nghĩa là họ đã đi đến khu vực
hành chính của nhà tù.
Họ
dừng lại trước một phòng nằm ở cuối hành lang, người giám thị gõ
cửa. Trong phòng có người đang gọi điện thoại; anh ta nói vọng ra
“Đợi một chút” rồi lại tiếp tục nói chuyện, chỉ nghe thấy những
câu như: “Vâng...”, “Chính thế ạ...”. Giọng nói nghe có vẻ quen,
nhưng Rubashov không xác định được đấy là ai. Đấy là một giọng đàn
ông, hơi khàn, chắc chắn là anh đã nghe ở đâu rồi. “Vào đi”, tiếng
nói từ trong phát ra; người giám thị mở cửa cho Rubashov vào rồi
đóng lại ngay. Anh trông thấy Ivanov, một người bạn học cũ và cũng
là đại đội trưởng dưới quyền chỉ huy của anh, đang ngồi sau một
cái bàn viết khá rộng. Ivanov vừa đặt ống nghe xuống vừa mỉm cười
nhìn Rubashov.
“Thế
là chúng ta lại gặp nhau”, Ivanov nói.
Rubashov
vẫn đứng cạnh cửa.
“Vui
thật”, anh đáp.
Ivanov
từ từ đứng lên, anh ta cao hơn Rubashov đến nửa cái đầu.
“Ngồi
xuống đi”, Ivanov vừa mỉm cười vừa nói.
Họ
cùng ngồi xuống, cách nhau một cái mặt bàn và chằm chằm nhìn nhau:
Ivanov vẫn mỉm cười còn Rubashov thì có vẻ căng thẳng, thận trọng.
Anh liếc nhanh về hướng cái chân phải của Ivanov bên dưới gầm bàn.
“Cái
chân này tốt lắm”, Ivanov nói. “Có khớp, lại mạ crom, không rỉ. Tôi
có thể bơi, cưỡi ngựa, lái xe ô tô và nhảy đầm nữa. Anh hút
thuốc chứ?”
Anh
ta đưa cho Rubashov một cái hộp gỗ đựng đầy thuốc lá.
Rubashov
liếc nhìn hộp thuốc lá và chợt nhớ đến lần vào bệnh viện thăm
Ivanov sau khi anh ta bị cắt chân. Ivanov nhờ anh mua cho một ít thuốc
ngủ và suốt buổi chiều hôm đó anh ta cứ khăng khăng chứng minh rằng
ai cũng có quyền tự sát. Cuối cùng Rubashov đồng ý sẽ suy nghĩ
thêm, nhưng ngay hôm đó lại bị điều sang hướng khác của mặt trận.
Nhiều năm sau anh mới gặp lại Ivanov. Anh nhìn những điếu thuốc trong
hộp thuốc lá. Chúng được quấn bằng tay, từ thuốc lá sợi, chắc là
loại thuốc lá trắng của Mỹ.
“Nếu
đây là câu chuyện giữa những người quen cũ thì được, còn nếu
trước khi thẩm vấn nghi can nào cũng được anh cho thuốc thì tôi
không hút đâu”, Rubashov nói. “Anh biết như thế mà.”
“Nhảm
nhí”, Ivanov nói.
“Thôi
được”, Rubashov vừa nói vừa châm một điếu. Anh hít thật sâu, cố ý
không để cho Ivanov nhận thấy sự khoan khoái của mình. “Bệnh tê thấp
của anh sao rồi”, anh hỏi.
“Có
vẻ như khỏi rồi, cám ơn”, Ivanov bảo, “thế vết bỏng của anh thì
sao?”
Ivanov
nhoẻn miệng cười rồi giơ tay chỉ vào tay trái của Rubashov. Giữa hai
gân máu trên mu bàn tay trái, chỗ hai ngày trước đây anh đã lấy
đầu thuốc lá cháy dở dí vào, có một vết bỏng to bằng đồng xu. Cả
hai cùng nhìn vào chỗ bị bỏng. “Làm sao hắn biết nhỉ?”, Rubashov tự
nhủ. “Chắc chắn là hắn cho người theo dõi mình rồi.” Không giận mà
chỉ thấy xấu hổ, anh hít một hơi thật dài nữa rồi ném điếu thuốc
đi.
“Buổi
nói chuyện riêng tư coi như chấm dứt ở đây”, anh nói.
Ivanov
thả ra những vòng khói tròn và tiếp tục ngắm nhìn Rubashov với nụ
cười thân thiện như cũ.
“Đừng
nóng”, Ivanov bảo.
“Tôi
đâu có nóng”, Rubashov nói. “Tôi bắt anh hay người của anh bắt tôi
đến đây?”
“Đúng,
chúng tôi bắt anh”, Ivanov nói. Anh ta gí điếu thuốc lá vào cái gạt
tàn rồi châm liền một điếu nữa và đưa hộp thuốc cho Rubashov nhưng
anh không cầm.
“Tuỳ
anh”, Ivanov nói. “Anh có nhớ câu chuyện thuốc ngủ không?”, anh ta
nhoài người lên bàn và thở cả khói vào mặt Rubashov.
“Tôi
không muốn người ta bắn anh”, Ivanov nói một cách chậm rãi và tựa
hẳn người vào lưng ghế phía sau.
“Cám
ơn”, Rubashov nói. “Tại sao các anh lại muốn bắn tôi?”
Ivanov
không trả lời. Anh vừa hút vừa lấy bút vẽ nguệch ngoạc lên tờ
giấy để trên bàn. Có vẻ như anh ta đang tìm từ thích hợp.
“Anh
hãy nghe đây”, Ivanov nói sau một hồi suy nghĩ. “Có một việc tôi
phải nói cho anh rõ. Anh vừa nhắc đi nhắc lại từ ‘các anh’, ám chỉ
Đảng và Nhà nước, đối lập với ‘tôi’, tức là Nicolas Salmanovitch
Rubashov. Về lý thuyết thì để kết tội một người cần phải lập toà
án, phải có bào chữa công khai, nhưng đối với chúng ta thì chỉ cần
như thế là đủ rồi.”
Dĩ
nhiên là Rubashov hiểu nhưng anh vẫn bị bất ngờ. Có cảm tưởng như
Ivanov vừa gảy lên những tiếng đàn đồng vọng trong tâm hồn anh. Tất
cả những gì anh tin tưởng, anh giảng dạy và chiến đấu trong suốt
bốn mươi năm qua ào ạt tràn về trong tâm trí. Cá nhân không là
gì, Đảng là tất cả; lá xa cành thì nhất định bị héo úa... Rubashov
lau kính vào ống tay áo. Ivanov đã ngồi xuống ghế, miệng tiếp tục
nhả khói nhưng không còn mỉm cười nữa. Rubashov đưa mắt nhìn quanh
và bỗng phát hiện ra một khoảng tường hình vuông, sáng hơn những
chỗ khác. Không cần suy nghĩ anh cũng biết ngay rằng đấy là chỗ đã
từng treo bức ảnh các triết gia để râu. Ivanov nhìn theo Rubashov
nhưng không để lộ bất cứ tình cảm nào.
“Xưa
rồi”, Rubashov nói. “Anh đã nói rất đúng, có một thời chúng ta đã
quen với đại từ số nhiều ‘chúng ta’ và tránh dùng đại từ nhân xưng
ở ngôi số ít. Tôi đã bỏ thói quen ấy rồi, còn anh thì chưa. Nhưng
‘chúng ta’ mà anh đang nói hôm nay là ai? Đấy là vấn đề.”
“Tôi
hoàn toàn đồng ý như thế”, Ivanov phụ họa. “Tôi rất vui là chúng ta
đã đi vào thực chất vấn đề một cách nhanh chóng như thế. Nói cách
khác: anh tin rằng ‘chúng tôi’ nghĩa là Đảng, Chính phủ và quần
chúng không còn đại diện cho quyền lợi của Cách mạng nữa?”
“Xin
để quần chúng sang một bên”, Rubashov nói.
“Anh
có thái độ coi thường quần chúng như thế từ khi nào vậy?”, Ivanov
hỏi. “Có phải từ khi anh chuyển đại từ nhân xưng từ ngôi số nhiều
sang ngôi số ít không?”
Ivanov
nhoài người lên mặt bàn và nhìn thẳng vào mặt Rubashov với ánh
mắt đầy vẻ khôi hài. Đầu anh ta che hết cái hình vuông sáng mờ mờ
trên tường và Rubashov chợt nhớ cảnh tượng khi Richard che khuất hai
bàn tay của Đức Mẹ đang chìa trong bức tranh Pietà ngày nào. Đúng lúc đó một cơn đau xuyên thấu từ
hàm trên lên trán và lan sang tai. Đau quá, anh phải nhắm mắt lại.
“Giá phải trả đấy”, anh tự nhủ. Chỉ một giây sau anh đã không còn
biết là mình có nói câu đó thành lời hay không nữa.
“Anh
nói gì thế?”, Ivanov hỏi vừa nhạo báng vừa pha chút ngạc nhiên.
Cơn
đau đã dịu bớt, sự bình thản đã trở lại trong tâm hồn anh.
“Xin
để quần chúng sang một bên”, Rubashov nhắc lại. “Anh chẳng hiểu gì
quần chúng đâu. Có thể bây giờ chính tôi cũng chẳng hiểu gì. Khi
cái ‘chúng ta’ vĩ đại còn tồn tại, đấy là lúc chúng ta hiểu quần
chúng hơn bất cứ người nào trước đây. Lúc đó chúng ta đã thâm nhập
được vào tận đáy sâu tâm hồn quần chúng và vì vậy mà chúng ta
có thể làm nên lịch sử...”
Anh
đưa tay với điếu thuốc, Ivanov bật diêm rồi nhoài người qua bàn
châm lửa.
“Lúc
đó”, Rubashov tiếp tục, “chúng ta được mệnh danh là Đảng của những
người cần lao. Những người khác quan niệm về lịch sử như thế nào?
Họ chỉ thấy những gợn sóng lăn tăn, những cơn gió lốc và những trận
cuồng phong. Những thay đổi trên bề mặt như thế làm họ ngạc nhiên
nhưng họ không thể nào giải thích nổi. Nhưng chúng ta đã lặn xuống
tận đáy, chúng ta đã thâm nhập vào khối quần chúng vô danh, họ
luôn luôn là người làm nên lịch sử; chúng ta là những người đầu
tiên phát hiện ra các qui luật vận động của lịch sử. Chúng ta đã
phát hiện ra qui luật về tính ý, qui luật về sự thay đổi một cách
chậm chạp cấu trúc tế bào, qui luật về sự bùng nổ đột ngột của
nó. Đấy chính là sức mạnh vĩ đại của học thuyết
của
chúng ta. Jacobin là những người thuộc trường phái đức hạnh, còn
chúng ta theo phái kinh nghiệm. Chúng ta đã thâm nhập vào cội nguồn
của lịch sử và đã tìm ra các qui luật của nó. Chúng ta hiểu biết
xã hội loài người hơn bất kỳ người nào khác, vì vậy mà cuộc
cách mạng của chúng ta đã thành công. Các anh là những kẻ đào huyệt
chôn tất cả rồi...”
Ivanov
dựa hẳn vào lưng ghế vừa nghe vừa vẽ nguệch ngoạc lên tờ giấy
trên mặt bàn.
“Tiếp
tục đi”, Ivanov nói, “tôi đang muốn biết anh sẽ dẫn dắt đến đâu.”
“Như
anh thấy đấy, tôi đang đi đến pháp trường đây”, Rubashov ngừng lại
và đưa mắt nhìn khoảng tường màu trắng, nơi trước đây có treo
bức ảnh của những người cận vệ già của cách mạng. Lần này Ivanov
ngồi im. “Vâng”, Rubashov tiếp tục, “đằng nào thì cũng vậy thôi. Các
anh đã chôn sống tất cả, các anh đã chôn sống đội cận vệ của nó,
đã chôn vùi trí tuệ và niềm hi vọng của cách mạng. Các anh đã
giết chết cái ‘Chúng ta’, đã tiêu diệt tinh thần tập thể. Chả lẽ
các anh vẫn tin rằng quần chúng ủng hộ các anh hay sao? Những tên độc
tài khác ở châu Âu, giống như các anh, cũng có quyền làm ra vẻ
như thế...”
Rubashov
cầm lên một điếu thuốc nữa và tự châm lửa hút vì không thấy
Ivanov đứng lên.
“Xin
lỗi, đao to búa lớn quá phải không?”, Rubashov nói tiếp. “Nhưng chả
lẽ các anh vẫn tin rằng quần chúng đang ủng hộ các anh hay sao? Họ buộc
phải chịu đựng các anh như dân chúng ở các nước khác chịu đựng
những kẻ có quyền lực mà thôi. Quần chúng đã lại trở thành những
người câm, điếc như cũ, một lần nữa họ lạI trở thành ẩn số X câm
lặng vĩ đạI của lịch sử, tương tự như mặt biển đưa đoàn tàu đi một
cách vô tình mà thôi. Ánh đèn pha chỉ còn chiếu sáng trên bề mặt,
còn bên dưới vẫn tối tăm và lặng lẽ như xưa. Trước đây chúng ta
đã từng khuấy đảo tất cả lên, nhưng thời đó đã qua rồi. Nói cách
khác”, anh dừng lại và đeo kính lên, “trong những ngày đó chúng ta
đã tạo ra lịch sử, còn hôm nay các anh đang làm chính trị. Đấy
chính là sự khác biệt.”
Ivanov
ngả hẳn người vào lưng ghế và thả ra những vòng khói thuốc lá
màu trắng.
“Xin
lỗi, nhưng tôi không hiểu rõ lắm”, anh ta nói. “Anh có thể giải
thích kỹ hơn được không?”
“Dĩ
nhiên”, Rubashov đáp. “Có nhà toán học từng nói rằng đại số là môn
khoa học của những người lười: người ta xử lý với ẩn số X như
là đã biết rõ về nó vậy. Trong trường hợp của chúng ta X là quần
chúng, là nhân dân. Người làm chính trị chỉ cần xử lý cái ẩn số
X vô danh này mà không cần quan tâm đến bản chất thật sự của nó.
Còn người làm nên lịch sử thì phải tìm hiểu xem cái X này đóng
vai trò gì trong phương trình.”
“Hay
quá”, Ivanov nói. “Nhưng đáng tiếc là trừu tượng quá. Xin trở về
với những sự vật cụ thể hơn: ý anh muốn nói rằng ‘chúng tôi’, cụ
thể là Đảng và Nhà nước không còn đại diện cho quyền lợi của
Cách mạng, không còn đại diện cho quyền lợi của quần chúng nữa hay
như anh nói không còn đại diện cho sự tiến bộ của nhân loại nữa
chứ gì?”
“Chính
thế”, Rubashov vừa mỉm cười vừa nói. Ivanov làm như không nhìn thấy
Rubashov cười.
“Anh
có quan niệm như thế từ bao giờ vậy?”
“Nói
cho ngay là dần dần: trong suốt mấy năm qua.”
“Có
thể nói cụ thể hơn được không? Một năm? Hai năm? Hay là ba năm?”
“Thật
là một câu hỏi ngớ ngẩn”, Rubashov nói. “Anh trở thành người lớn
từ khi nào? Mười bẩy tuổi? Mười tám rưỡi? Hay mười chín tuổi?”
“Anh
giả vờ làm người ngớ ngẩn thì có”, Ivanov nói. “Mỗi một bước
phát triển về mặt tinh thần đều là kết quả của những trải nghiệm
trước đó. Nếu anh thực sự quan tâm thì xin nói rằng tôi trở thành
người lớn lúc mười bảy tuổi, đấy là lần đi đày lần đầu tiên.”
“Lúc
đó anh còn là một người tử tế”, Rubashov nhận xét. “Hãy quên chuyện
đó đi.” Anh lại nhìn lên cái ô vuông màu trắng nhạt trên tường và
vứt điều thuốc lá đang hút dở xuống sàn.
“Tôi
xin nhắc lại câu hỏi”, Ivanov vừa nói vừa khẽ nhoài người ra phía
trước. “Anh đã tham gia vào lực lượng chống đối có tổ chức được
bao lâu rồi?”
Chuông
điện thoại reo. Ivanov nhấc ông nghe lên và nói: “Tôi đang bận”, rồi
lại treo vào chỗ cũ. Anh ta lại ngả người ra lưng ghế, chân duỗi
thẳng, mắt nhìn chằm chằm vào Rubashov, chờ đợi.
“Anh
biết rõ”, Rubashov đáp, “rằng tôi không bao giờ tham gia một tổ chức
chống đối nào cả.”
“Anh
buộc tôi phải xử sự theo kiểu quan liêu đấy”, vừa nói Ivanov vừa
đưa tay kéo cái ngăn bàn và lôi ra một tập giấy.
“Xin
bắt đầu từ năm 1933”, anh ta nói và xếp những tờ giấy lên mặt bàn.
“Việc thiết lập chế độ độc tài và sự tan rã của Đảng ở chính cái
đất nước mà thắng lợi có vẻ đã cận kề. Anh được cử đến đó để
tiến hành thanh lọc và tái tổ chức đội ngũ...”
Rubashov
ngả người ra phía sau và dỏng tai lên nghe lý lịch của chính mình.
Anh chợt nghĩ đến Richard, nhớ đến ánh hoàng hôn trên con phố trước
viện bảo tàng nơi anh đợi taxi.
“...Ba
tháng sau anh bị bắt. Hai năm tù giam. Không có bằng chứng, thái độ
rất mẫu mực. Được thả và vinh quang trở về...”
Ivanov
ngừng đọc, anh liếc nhìn Rubashov và tiếp tục:
“Anh
được đón tiếp rất trọng thể. Lúc đó chúng ta không gặp nhau, có
thể lúc đó anh bận nhiều việc quá... Chuyện đó tôi cũng chẳng
trách gì anh. Anh cũng chẳng có đủ thì giờ để gặp gỡ tất cả bạn
bè cũ được. Nhưng tôi đã hai lần trông thấy anh trên chủ tịch
đoàn của hai cuộc mít tinh. Lúc đó anh vẫn phải chống nạng và trông
mệt mỏi lắm. Đúng ra sau khi công cán những bốn năm ở nước ngoài
như thế, anh phải được đi an dưỡng vài ba tháng rồi sau đó nắm giữ
một chức vụ nào đó trong chính phủ. Nhưng sau có hai tuần anh đã
lại được cử ra nước ngoài công tác rồi...”
Ivanov
đột ngột chồm hẳn về phía trước và nhìn thẳng vào mắt Rubashov:
“Tại
sao?”, đây là lần đầu tiên anh ta lên giọng như thế. “Anh không cảm
thấy thoải mái ở đây, đúng không? Đã có nhiều thay đổi trong khi anh
đi vắng làm anh khó chịu, đúng không?”
Ivanov
ngừng lại chờ đợi câu trả lời; nhưng Rubashov vẫn ngồi yên, tiếp
tục chà kính vào ống tay áo.
“Chuyện
đó xảy ra không lâu sau khi nhóm đối lập đầu tiên bị kết án và
tiêu diệt. Một số người trong đó là bạn thân của anh. Quần chúng
trên khắp cả nước đã tỏ ra vô cùng căm phẫn khi họ biết được
mức độ thối nát của nhóm đối lập đó. Nhưng anh không nói một câu
nào. Sau hai tuần anh vội xin ra nước ngoài mặc dù vẫn phải chống
nạng...”
Rubashov
cảm thấy như mùi của cái hải cảng nhỏ, mùi của dầu xăng và tảo
biển thối đang phảng phất đâu đây, anh như trông thấy cựu đô vật
Paul đang vẫy tai, còn Levy Còi thì đang giơ cái tẩu thuốc lên chào
mọi người... Anh ta đã treo cổ trên một cái xà nhà. Ngôi nhà cũ
nát cứ rung lên mỗi lần có chiếc xe tải chạy qua, mỗi lần như thế
xác Levy Còi lại đung đưa cho nên lúc đầu người ta cứ tưởng anh ta
vẫn còn cử động được, sau này người ta đã kể lại với Rubshov như
thế...
“Anh
đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao và sau đó được cử giữ
chức trưởng Phái đoàn Thương mại của ta ở nước B. Ở đây anh cũng
hoàn thành nhiệm vụ. Hiệp định thương mại mới, ký với B. rõ ràng
là một thành công. Nếu nói về biểu hiện bên ngoài thì lý lịch
của anh không có một vết nhơ nào. Nhưng sáu tháng sau khi anh nhận
nhiệm sở thì hai cán bộ dưới quyền anh, trong đó có Arlova, thư ký
riêng của anh bị triệu hồi về nước vì bị nghi là có tham gia nhóm
chống đối bí mật. Cuộc điều tra sau đó đã chứng tỏ rằng họ có tội.
Đáng lẽ anh phải công khai đoạn tuyệt với họ. Nhưng anh vẫn không
nói gì...”
“Sáu
tháng sau nữa thì chính anh bị triệu hồi. Quá trình chuẩn bị cho
phiên toà thứ hai xét xử nhóm đối lập đang được tiến hành. Tại
phiên toà tên tuổi của anh được nhắc đến nhiều lần, Arlova hi vọng
anh sẽ lên tiếng bảo vệ cô ta. Trong hoàn cảnh như thế im lặng thì
chẳng khác nào thú nhận ‘lạy ông tôi ở bụi này’. Anh biết rõ như
thế, nhưng anh chỉ tuyên bố công khai sau khi Đảng đã đưa ra tối hậu
thư. Chỉ lúc đó, khi chính tính mạng của anh đã “ngàn cân treo sợi
tóc” anh mới chịu xuống nước và như thế nghĩa là Arlova coi như
xong. Anh biết rõ số phận của cô ta...”
Rubashov
yên lặng, lắng nghe, cái răng sâu lại bắt đầu đau. Anh biết rõ số
phận của Arlova, số phận của Richard, của Levy Còi. Và của chính anh
nữa. Anh đưa mắt nhìn lên cái khoảng trắng mờ trên tường, những
nhà triết học để râu và được đánh số ở trên đầu chỉ để lại có
thế thôi. Số phận của họ anh cũng biết. Lịch sử đã từng khởi động
và hứa hẹn mang lại cho nhân loại một cuộc sống đàng hoàng hơn;
nhưng ngày ấy đã qua rồi. Thế thì còn biểu diễn những trò này để
làm gì? Nếu cơ thể con người còn lưu lại được cái gì đó sau khi
chết thì ở một nơi nào đó trên cao xanh kia Arlova, với đôi mắt
hiền dịu, vẫn đang nhìn chằm chằm vào đồng chí Rubashov, người
được cô coi là thần tượng và cũng là người đã đưa cô đến đoạn
đầu đài... Cái răng sâu càng ngày càng nhức nhối hơn.
“Có
cần đọc lại lời tuyên bố của anh lúc đó không?”, Ivanov hỏi.
“Cám
ơn, không cần”, Rubashov đáp, anh nhận thấy giọng mình nghe có vẻ
khàn khàn.
“Chắc
anh còn nhớ, lời tuyên bố của anh – người ta cũng có thể coi đây là
một lờI tự thú – đã kết thúc bằng việc lên án một cách nghiêm
khắc phe đối lập và hứa trung thành tuyệt đối với đường lối của
Đảng và cá nhân Anh Cả nữa.”
“Đủ
rồi”, Rubashov mệt mỏi nói. “Anh biết rõ là những lời tuyên bố
được sản xuất như thế nào rồi mà. Nếu chưa biết thì là may cho
anh. Lạy chúa tôi, hãy thôi trò này đi.”
“Cũng
sắp hết rồi”, Ivanov bảo. “Chỉ còn phải xem xét hai năm cuối nữa
thôi. Lúc này anh đứng đầu Công ty Nhôm quốc gia. Một năm trước,
trong vụ án chống Đảng thứ ba, một số tên cầm đầu liên tục nhắc
đến tên tuổi của anh một cách rất tù mù. Không có bằng chứng cụ
thể nào cả. Nhưng mối nghi ngờ trong hàng ngũ của Đảng thì ngày một
gia tăng. Anh lại tuyên bố công khai ủng hộ đường lối của Lãnh đạo
Đảng và lên án phe đối lập bằng những lời lẽ còn mạnh mẽ hơn
trước... Chuyện này xảy ra cách đây sáu tháng. Thế mà hôm nay anh
lại nói rằng trong suốt mấy năm qua anh đã coi đường lối của lãnh
đạo là sai lầm và có hại...”
Ivanov
ngừng lời và ngả người ra đằng sau.
“Thế
nghĩa là những lời thề thốt trung thành với Đảng của anh chỉ là vờ
vịt. Anh đừng nghĩ rằng tôi đang giáo huấn. Chúng ta đều từ một lò
mà ra cả. Anh tin rằng chính sách của chúng tôi là sai còn của anh
là đúng. Tuyên bố thẳng thừng như vậy thì anh sẽ bay ra khỏi Đảng
ngay lập tức, nghĩa là anh sẽ chẳng thể nào chiến đấu cho tư tưởng
mà anh cho là đúng đắn của mình được nữa. Và anh buộc phải thả
bớt tải trọng đi để tiếp tục cuộc đấu tranh cho quan điểm duy nhất
đúng của mình. Ở địa vị của anh tôi cũng sẽ hành động y như vậy.
Cho đến nay thì mọi thứ đều hợp lý cả.”
“Thế
rồi sao?”, Rubashov hỏi.
Ivanov
nở một nụ cười thân thiện. “Tôi chỉ không hiểu”, anh ta nói. “Anh
thú nhận là đã nhiều năm nay anh cho rằng chúng tôi đã chôn vùi
Cách mạng, đồng thời anh cũng phủ nhận việc tham gia vào phe đối lập.
Anh có thực sự nghĩ rằng tôi sẽ tin là anh khoanh tay ngồi nhìn trong
khi chúng tôi, theo quan điểm của anh, đang đưa đất nước và Đảng đến
sự diệt vong?”
Rubashov
nhún vai:
“Có
thể tôi đã già quá và hết hơi rồi... Thôi thì tùy, anh muốn nghĩ
thế nào cũng được.”
Ivanov
châm một điếu thuốc nữa. Giọng anh ta càng nhẹ nhàng hơn và thuyết
phục hơn:
“Anh
thực sự nghĩ rằng tôi sẽ tin là anh đã hi sinh Arlova và ly khai họ”,
vừa nói anh ta vừa hất hàm về phía cái khoảng trắng mờ trên
tường, “là để giữ cái đầu của chính mình đấy chứ?”
Rubashov
không đáp. Thời gian nặng nề trôi. Đầu Ivanov càng cúi gần Rubashov
hơn.
“Không,
tôi không thể hiểu được anh”, anh ta bảo. “Nửa tiếng trước đây anh
đã tấn công đường lối của chúng tôi một cách điên cuồng đến nỗi
chỉ cần một câu trong đó cũng đủ đưa anh lên đoạn đầu đài rồi.
Còn bây giờ thì anh lại khẳng định, trái ngược với lô–gích sơ
đẳng nhất, rằng anh không tham gia vào nhóm đối lập chống Đảng, mặc
dù chúng tôi có đủ bằng chứng như thế.”
“Thật
à?”, Rubashov hỏi lại. “Nếu các anh có đủ bằng chứng thì còn cần
tôi thú nhận làm gì? Bằng chứng về cái gì vậy?”
“Thí
dụ”, Ivanov chậm rãi nói, “bằng chứng về việc ám sát Anh Cả.”
Lại
im lặng. Rubashov đeo kính lên.
“Xin
được hỏi một câu”, Rubashov lên tiếng. “Anh có thực sự tin vào điều
nhảm nhí ấy không hay anh chỉ giả đò thế thôi?”
Ivanov
vẫn nhìn với vẻ cười cợt, dịu dàng như cũ:
“Như
tôi đã nói với anh. Chúng tôi có đủ bằng chứng. Chính xác hơn:
đấy là lời thú tội. Chính xác hơn nữa thì đấy là lời thú tội
của một người, theo lời xúi giục của anh, đã chuẩn bị thực hiện
vụ ám sát.”
“Xin
chúc mừng”, Rubashov nói. “Thế người ấy là ai?”
Ivanov
mỉm cười.
“Một
câu hỏi không đúng chỗ.”
“Có
thể cho tôi đọc lời thú nhận của anh ta được không? Hay cho tôi đối
chất với anh ta?”
Ivanov
mỉm cười. Anh ta cố tình trêu Rubashov bằng cách phà khói thuốc lá
vào mặt. Rubashov cảm thấy khó chịu nhưng vẫn ngồi yên một chỗ.
“Anh
còn nhớ chuyện thuốc ngủ không?”, Ivanov chậm rãi nói. “Ấy, tôi đã
hỏi anh câu này rồi. Hôm nay chúng ta đã đổi chỗ cho nhau: anh là
người sắp đâm đầu xuống vực. Nhưng chớ có mong tôi giúp. Lúc đó
anh đã bảo với tôi rằng tự sát là chủ nghĩa lãng mạn tư sản. Tôi
mong rằng anh cũng sẽ không làm chuyện đó. Thế là hoà.”
Rubashov
không trả lời. Anh đang nghĩ xem liệu Ivanov nói thật hay nói dối,
cùng lúc đó bỗng nhiên anh lại có ước muốn, nói đúng hơn là sự
thôi thúc của cơ thể, được chạm tay vào cái khoảng trắng mờ trên
tường. “Thần kinh có vấn đề”, anh tự nhủ. “Bị ám ảnh. Chỉ bước
lên những viên gạch màu đen, nói những câu vô nghĩa, lau kính vào
ống tay áo, mình sẽ làm chuyện đó ở đây mất thôi...”
“Tôi
rất muốn biết”, Rubashov nói to, “anh sẽ cứu tôi như thế nào? Chứ
cách anh tra vấn tôi có vẻ như có mục đích ngược lại.”
Ivanov
vẫn mỉm cười, nét mặt còn rạng rỡ hơn trước:
“Anh
ngốc lắm”, anh ta vừa nói vừa vươn người qua mặt bàn và đưa tay
nắm lấy cúc chiếc áo vét của Rubashov. “Tôi muốn anh nổi xung lên ở
đây để không nổi xung khi không đáng nổi xung. Anh thấy là tôi không
cho gọi thư ký chứ?”
Anh
ta rút ra một điếu thuốc và đưa vào miệng Rubashov, trong khi tay kia
vẫn tiếp tục giữ chặt cái cúc áo.
“Anh
làm như trẻ con ấy. Giống như một thằng bé ưa lãng mạn”, anh ta
nói thêm. “Bây giờ chúng ta sẽ phịa ra một bản tự thú ngắn và kết
thúc, được chứ?”
Cuối
cùng Rubashov cũng tìm cách gỡ được bàn tay Ivanov. Anh nhìm chằm
chằm vào mặt anh ta.
“Thú
nhận cái gì?”, Rubashov hỏi.
Vẫn
nụ cười rạng rỡ trên môi, Ivanov nói:
“LờI
tự thú sẽ có nội dung là từ năm này, năm này trở đi anh đã tham
gia nhóm đối lập có tên thế này, thế này; nhưng hoàn toàn phủ nhận
việc tổ chức và lập kế hoạch ám sát; ngược lại, anh đã rút khỏi
nhóm đó sau khi phát hiện ra những kế hoạch khủng bố tội lỗi của
họ.”
Kể
từ đầu cuộc nói chuyện, đây là lần đầu tiên Rubashov cười:
“Nếu
anh không còn gì nói thêm nữa thì xin cho kết thúc ở đây.”
“Để
tôi nói nốt đã”, Ivanov bình tĩnh nói. “Dĩ nhiên là tôi biết rằng
anh tìm cách lảng tránh. Chúng ta sẽ cùng xem xét khía cạnh đạo đức
của vấn đề. Anh sẽ không phản bội lại ai cả. Cả nhóm đã bị bắt trước
anh lâu rồi và một nửa đã bị khử rồi, chính anh cũng đã biết rõ
như thế. Những kẻ còn lại có thể nhận những chuyện quan trọng hơn
chứ không phải cái việc vô thưởng vô phạt như thế, nói cho ngay,
nếu chúng tôi muốn thì họ có thể nhận bất cứ tội gì. Tôi hi vọng
rằng anh hiểu tôi, hi vọng rằng lòng chân thành của tôi đã thuyết
phục được anh.”
“Nói
một cách khác: chính anh cũng không tin có chuyện ám sát Anh Cả”,
Rubashov nói. Thế thì tại sao anh không cho tôi gặp cái nhân vật X
nào đó, không cho tôi gặp chính kẻ đã thú nhận chuyện đó?”
“Xin
anh suy nghĩ một chút”, Ivanov đáp. “Hãy đặt anh vào địa vị của tôi,
mà thực ra chúng ta cũng dễ dàng đổi chỗ cho nhau lắm, và tìm giúp
cho tôi câu trả lời, được chứ?”
Rubashov
trầm ngân suy nghĩ.
“Anh
đã nhận được chỉ thị phải tiến hành công việc với tôi như thế
nào rồi, phải không?”, anh hỏi.
Ivanov
lại mỉm cười:
“Không
hoàn toàn như thế. Thực ra thì vẫn chưa có quyết định là anh thuộc
trường hợp H hay T. Anh biết những thuật ngữ này chứ?”
Rubashov
gật đầu.
“Thế
là anh bắt đầu hiểu rồi đấy”, Ivanov nói. “H nghĩa là xử lý hành
chính, còn T là toà án. Đa số các vụ án chính trị được xử lý
theo lối hành chính, nói các khác những trường hợp này đưa ra công
khai thì sẽ không có lợi... Nếu anh rơi vào trường hợp H thì sẽ
không còn nằm dưới quyền tôi nữa. Phiên toà sẽ do một Hội đồng
xử kín, phiên toà sẽ diễn ra một cách nhanh chóng, không có đối
chất gì hết. Anh chắc còn nhớ ...”. Rồi Ivanov nhắc đến tên ba bốn
người và liếc nhìn lên khoảng tường trắng. Khi anh ta quay lại thì
Rubashov chợt nhận thấy những biểu hiện mệt mỏi trên nét mặt và
đôi mắt đờ đẫn của Ivanov.
Ivanov
nhắc lại bằng giọng nhẹ nhàng hơn tên của mấy người bạn cũ.
“Tôi
cũng như anh đều biết rõ họ”, anh ta tiếp tục. “Nhưng chúng tôi tin
rằng các anh sẽ đưa Cách mạng đến chỗ diệt vong, còn anh thì ngược
lại. Đấy là bản chất của vấn đề. Hành động của chúng tôi được
quyết định từ những suy luận như thế. Chúng tôi không thể để cho
những rắc rối về mặt pháp lý bó tay mình được. Trước đây anh chả
đã từng làm như thế hay sao?”
Rubashov
không đáp.
“Cái
chính là”, Ivanov tiếp tục, “làm sao để anh được vào nhóm T và tiếp
tục do tôI xử lý. Anh đã biết dựa vào đâu mà người ta lựa chọn
để đưa ra toà rồi đấy. Tôi phải chứng minh mức độ tự nguyện hợp
tác với cơ quan điều tra của anh. Anh cần phải viết bản tự kiểm
điểm và thú nhận một phần tội lỗi. Nếu anh ngoan cố, nếu anh cứ
tiếp tục đóng vai người hùng và cho rằng họ chẳng làm gì được
mình thì anh sẽ bị giết trên cơ sở những lời thú tội của một tên
X nào đó. Mặt khác, nếu anh thú nhận một phần thì cuộc điều tra sẽ
kéo dài thêm. Trên cơ sở đó tôI sẽ có thể tổ chức cho anh đốI chất;
chúng ta sẽ bác bỏ việc tổ chức ám sát và chỉ nhận những tội thật
nhẹ nhàng thôi. Ngay trong trường hợp như thế anh cũng sẽ bị ít
nhất là hai mươi năm, nhưng chỉ sau hai ba năm là sẽ được ân xá
và sau năm năm thì anh sẽ quay trở lại vũ đài như cũ. Tốt hơn hết
là anh hãy suy nghĩ thật kỹ, thật bình tĩnh trước khi trả lời.”
“Tôi
đã nghĩ kỹ rồi”, Rubashov nói. “Đề nghị của anh không phù hợp với
tôi. Lý luận của anh có thể là đúng đấy. Nhưng tôi chán kiểu lý
luận như thế lắm rồi. Tôi đã mệt mỏi và không thích đóng kịch
nữa. Xin anh hãy cho tôi trở về buồng giam.”
“Thôi
được”, Ivanov nói. “Tôi cũng không nghĩ rằng anh sẽ đồng ý ngay
đâu. Những kiểu nói chuyện như thế này không thể có hiệu quả ngay
lập tức được. Anh có hai tuần để suy nghĩ. Khi anh đã suy nghĩ xong
thì bảo họ đưa lại chỗ tôi hoặc viết cho tôi một mảnh giấy cũng
được. Tôi tin rằng anh sẽ viết.”
Rubashov
đứng lên; Ivanov cũng đứng lên, anh ta cao hơn Rubashov nửa cái đầu.
Ivanov bấm chuông. Trong khi chờ viên giám ngục tới đưa Rubashov đi,
Ivanov bảo:
“Trong
bài báo cuối cùng anh mới viết mấy tháng trước đây anh có nói
rằng mười năm tới sẽ là mười năm quyết định số phận của thế
giới. Anh có muốn tham gia vào việc đó không?”
Anh
ta nhìn từ đầu xuống chân Rubashov, miệng vẫn mỉm cười. Có tiếng
chân bước ngoài hành lang, cánh cửa bật mở. Hai giám thị bước vào
và giơ tay chào. Rubashov len vào giữa hai người để họ đưa anh trở
về buồng giam. Hành lang vắng ngắt, không một tiếng động; từ các
buồng giam vọng ra những tiếng ngáy nghe như những lời ai oán. Bên
trên dãy nhà, ánh đèn điện vàng vọt, nhợt nhạt đã bật sáng từ
lâu.

Đợt thẩm vấn thứ hai
“Khi sự tồn tại của
nhà thờ bị đe doạ thì nó sẽ từ bỏ đức hạnh. Lấy thống nhất làm
mục đích, nó sử dụng mọi phương tiện, kể cả những thủ đoạn xảo
quyệt, dối trá, phản bội, đàn áp và giết chóc. Tất cả đều vì lợi
ích của cộng đồng, cá nhân phải hi sinh cho lợi ích của cộng đồng.“
Dietrich
von Nieheim, Giám mục vùng Verden (De
schismate libri III, năm 1411)
1.
Trích
từ nhật ký của Rubashov. Ngày thứ năm kể từ khi bị bắt.
“...
Ngay trước giờ phán xử cuối cùng, chân lý tối thượng luôn bị coi
là một điều lầm lẫn. Kẻ được coi là đúng ở phút cuối thì trước
đó lại bị coi là sai và có hại.
Nhưng
ai là người đúng? Chỉ sau này mới biết. Còn hiện nay hắn phải hành
động dựa trên niềm tin của chính mình và bán linh hồn cho quỉ sứ
với hi vọng sẽ được lịch sử tha thứ.
Người
ta nói rằng Ông hoàng là cuốn
sách gối đầu giường của Anh Cả. Ông ta làm thế là đúng: Chưa có
cuốn sách nào viết về đạo đức chính trị hay hơn cuốn sách này.
Chúng ta là những người đầu tiên đã thay đạo đức quân tử của nền
tự do thế kỷ XIX bằng đạo đức cách mạng của thế kỷ XX. Dĩ nhiên
là chúng ta đúng: làm cách mạng mà còn bám vào luật lệ thì thua
là cái chắc. Trong những giai đoạn yên ắng thì có thể hành động một
cách tương đối trung thực, còn tại những bước ngoặt của lịch sử
thì chỉ có thể sử dụng một nguyên tắc duy nhất, có từ xa xưa, đấy
là: mục đích biện minh cho phương tiện. Chúng ta đã sử dụng thuyết
của Machiavelli, các chế độ độc tài phản cách mạng khác chỉ bắt
chước mà thôi. Chúng ta là những người theo Machiavelli vì cuộc đấu
tranh cho sự công bằng trên toàn thế giới, đấy chính là sự vĩ đại
của chúng ta; còn bọn chúng thì lại vì quyền lợi quốc gia ích kỷ
của chúng và đấy chính là sự lạc hậu của chúng. Đấy chính là lý
do vì sao lịch sử sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ lên án chúng...
Nhưng
hôm nay chúng ta phải dựa vào niềm tin để suy nghĩ và hành động. Vì
chúng ta đã vất bỏ tất cả các qui uớc và nguyên tắc của luật chơi
nên chúng ta buộc phải tuân theo qui tắc xuất phát từ lý trí.
Chúng
ta buộc phải tìm cho ra hậu quả chung cuộc của từng ý tưởng của
chúng ta và hành động cho phù hợp. Chúng ta đang lái một con tàu
không có gia trọng vì vậy mỗi một khúc quanh đều là vấn đề sinh
tử.
Mới
đây ông B., một nhà nông học hàng đầu cùng với ba mươi cộng sự
đã bị bắn chỉ vì cho rằng phân đạm thì tốt hơn phân ka–li trong khi
Anh Cả ủng hộ ý kiến ngược lại, vì vậy B. và các cộng sự bị
thanh trừng như những phần tử phá hoại. Trong một nền nông nghiệp
đã được quốc hữu hoá, vấn đề sử dụng phân đạm hay phân ka–li có
vai trò đặc biệt quan trọng: nó có thể đóng vai quyết định trong cuộc
chiến tranh tương lai. Nếu Anh Cả đúng thì lịch sử sẽ tha thứ cho
Anh và việc giết hại ba mươi mốt người kia chỉ là chuyện vặt.
Nhưng nếu Anh sai...
Vấn
đề chỉ là về mặt khách quan thì ai đúng. Những người tuân theo luật
chơi cũ lại có suy nghĩ khác: liệu B. có thực sự tin như thế khi
ông ta đề nghị sử dụng phân đạm hay không? Nếu ông ta không tin
thì, theo họ, ông ta đáng bị bắn ngay cả nếu sau này chứng minh
được rằng phân đạm tốt hơn. Nhưng nếu ông ta hoàn toàn tin tưởng
như thế thì ông ta phải được tha và được phép tiếp tục cổ động
cho việc sử dụng phân đạm dù đất nước có vì thế mà bị tan hoang
thì cũng phải chịu...
Dĩ
nhiên như thế là nhảm nhí. Đối với chúng ta thì niềm tin của một
cá nhân chẳng có ý nghĩa gì. Người sai sẽ phải trả giá còn
người đúng thì được tha thứ. Đấy là qui luật của niềm tin mang
tính lịch sử và đấy cũng là qui luật của chúng ta.
Lịch
sử dạy ta rằng dối trá nhiều khi lại có ích đối với nó hơn là sự
thật, vì con người là một thực thể yếu đuối và cần phải được
đưa qua sa mạc suốt bốn mươi năm trước mỗi bước phát triển của
nó[7].
Nó phải được dẫn dụ qua sa mạc bằng cả roi vọt lẫn những lời hứa
hẹn, bằng những cả doạ dẫm và an ủi mù mờ để nó không dừng lại quá
sớm và tiếp tục thờ phụng con bê vàng.
Chúng
ta đã nghiên cứu lịch sử kỹ lưỡng hơn tất cả kẻ thù của chúng
ta. Chúng ta kiên định hơn chúng. Chúng ta biết rằng đức hạnh chẳng
có giá trị gì đối với lịch sử, còn tội ác thì không bao giờ bị
trừng phạt, nhưng bất kỳ sai lầm nào cũng để lại hậu quả và sẽ
báo thù đến tận đời thứ bảy. Vì vậy chúng ta tập trung mọi nỗ lực
để ngăn chặn sai lầm và tiêu diệt mầm mống của nó ngay từ trong
trứng nước. Chưa bao giờ một nhóm ít người như thế lại nắm được
quyền lực to lớn đến như thế đối với tương lai của nhân loại. Mỗi
một tư tưởng sai lầm mà chúng ta theo sẽ biến thành tội ác chống
lại các thế hệ tương lai. Vì vậy chúng ta phải trừng phạt các tư
tưởng sai lầm như trừng phạt tội ác: giết. Chúng ta bị coi là
những kẻ điên rồ bởi vì chúng ta luôn suy nghĩ thấu đáo kết quả
chung cuộc của từng ý tưởng và hành động phù hợp với kết luận
đó. Chúng ta bị đem ra so sánh với toà án pháp đình vì, giống như
họ, chúng ta luôn cảm thấy gánh nặng trách nhiệm cứu rỗi thế giới
này. Giống như các quan toà của toà án giáo hội, chúng ta triệt hạ
không chỉ mầm mống cái ác trong việc làm mà còn triệt hạ cả mầm
mống cái ác trong ý nghĩ nữa. Chúng ta không chấp nhận bất kỳ lĩnh
vực riêng tư nào, kể cả những suy tư còn trong hộp sọ. Chúng ta buộc
phải đưa tất cả mọi việc đến kết quả cuối cùng. Đầu óc của chúng
ta căng thẳng đến nỗi bất kì một sự va chạm nào cũng có thể gây
ra đoản mạch chết người. Đấy là lý do vì sao chúng ta phải giết
lẫn nhau.
Tôi
là một người trong số họ. Tôi đã suy nghĩ và hành động theo đúng
qui luật, tôi đã giết những người mà tôi yêu quí và đã trao quyền
lực cho những kẻ mà tôi không ưa. Lịch sử đã giao cho tôi nhiệm vụ
như thế, tôi đã đánh mất niềm tin mà lịch sử đã giao cho tôi, nếu
đúng thì tôi chẳng việc gì phải ân hận, còn nếu sai thì tôi sẽ
phải trả giá.
Nhưng
làm sao hiện tại có thể biết cái gì sẽ được coi là đúng trong
tương lai? Chúng ta đang làm công việc của các nhà tiên tri nhưng
lại không được trời ban cho những tài năng thiên phú của họ. Chúng
ta đã dùng tư duy thay thế cho trí tưởng tượng, nhưng mặc dù có
chung một điểm xuất phát, chúng ta lại đi đến những kết luận khác
nhau. Chứng minh của người này phủ nhận chứng minh của người kia,
và cuối cùng chúng ta buộc phải trở lại với niềm tin, một niềm tin
không cần chứng minh sự đúng đắn của chính mình. Đấy là thời điểm
quyết
định. Chúng ta đã vất hết gia trọng đi rồi, chỉ còn lại một cái neo
duy nhất, đấy là niềm tin vào chính mình. Hình học là biểu hiện rõ
nhất của lý trí, nhưng các tiên đề của Euclid thì phải chấp nhận
mà không thể chứng minh. Nghi ngờ nó thì toàn bộ lâu đài hình học
sẽ sụp đổ.
Anh
Cả có một niềm tin vững chắc, cuồng nhiệt và không gì có thể lay
chuyển được. Anh có một cái mỏ neo vững chắc hơn tất cả những
người khác. Cái của tôi đã bị mòn vẹt rồi...
Sự
thật là: Tôi đã không còn tin vào sự đúng đắn của mình nữa. Tôi
thua là vì như thế.
2.
Một
ngày sau cuộc hỏi cung Rubashov lần thứ nhất, điều tra viên Ivanov
cùng với người đồng nghiệp là Gletkin ngồi lại trong căng tin sau
bữa ăn trưa. Ivanov cảm thấy rất mệt, anh đặt cái chân giả lên
chiếc ghế bên cạnh và cởi cúc áo cổ ra. Anh rót vào ly mỗi người
một ít rượu rẻ tiền vừa mua trong căng tin vừa yên lặng ngắm nhìn
Gletkin – hắn ngồi ngay ngắn trên ghế, quần áo là thẳng nếp, bao
súng lục vẫn đeo bên hông mặc dù cũng mệt không khác gì Rubashov.
Gletkin dốc cạn ly, vết sẹo to tướng trên cái đầu cạo trọc hơi ửng
lên. Phòng ăn vắng ngắt, phía xa chỉ có ba sĩ quan nữa, hai người
đang chơi cờ còn người thứ ba thì đứng xem.
“Rubashov
sao rồi?”, Gletkin hỏi. “Chưa có tiến triển gì”, Ivanov đáp. “Nhưng
anh ta vẫn suy luận một cách rất lô gích. Như vậy thì trước sau gì
anh ta cũng sẽ đầu .” “Tôi không tin”, Gletkin nói.
“Nhất định”, Ivanov nói. “Khi anh ta suy
nghĩ thấu đáo mọi chuyện thì anh ta sẽ đầu hàng. Điều quan trọng
bây giờ là để cho anh ta yên và đừng đụng đến anh ta. Tôi đã bảo
mang đến cho anh ta giấy, bút và thuốc lá; những thứ này có ích cho
quá trình tư duy lắm đấy.”
“Tôi
cho làm thế là sai”, Gletkin bảo.
“Anh
không ưa anh ta”, Ivanov nói. “Mấy hôm trước anh ta đã làm anh bực
mình chứ gì?”
Gletkin
nhớ lại cảnh Rubashov ngồi trên giường và xỏ đôi tất rách, đi
giày.
“Vấn
đề không phải như thế”, hắn nói. “Cá nhân anh ta không phải là vấn
đề. Tôi nghĩ biện pháp anh đang áp dụng là sai. Sẽ chẳng có tác
dụng gì đâu.”
“Rubashov
sẽ không đầu hàng vì sợ đâu, chỉ lý lẽ mới có thể đánh gục
được anh ta mà thôi”, Ivanov đáp. “Biện pháp cứng rắn sẽ chẳng có
ích gì. Anh ta thuộc loại người càng bị áp lực thì lại càng ngoan
cố hơn.”
“Đấy
chỉ chuyện nói cho vui thôi”, Gletkin đáp. “Nói rằng có người có
thể chịu bất kỳ sự đầy đoạ nào là không đúng. Tôi chưa gặp
người nào như thế cả. Kinh nghiệm cho thấy rằng khả năng kháng cự
của hệ thần kinh là có giới hạn, đấy là qui luật tự nhiên.”
“Tốt
nhất là đừng có bị rơi vào tay anh”, Ivanov nói, miệng nở một nụ
cười gượng gạo. “Nhưng chính cuộc sống của anh đã bác bỏ lý
thuyết ấy rồi còn gì”, vừa nói Ivanov vừa liếc nhìn cái sẹo to
tướng trên đầu Gletkin.
Câu
chuyện cái sẹo của Gletkin thì nhiều người biết. Chuyện đó xảy ra
trong thời kỳ Nội chiến. Gletkin bị quân
địch
bắt được, chúng gắn một ngọn nến đang cháy lên cái đầu cạo trọc
của hắn để buộc hắn phải khai. Mấy giờ sau đồng đội của hắn chiếm
được khu vực đó, lúc đó hắn đã bất tỉnh rồi. Ngọn nến đã đã
cháy hết, nhưng Gletkin không khai nửa lời.
Gletkin
bình thản ngước nhìn Ivanov.
“Đấy
cũng chỉ là nói thế thôi”, hắn bảo. “Tôi không khai vì đã bị
ngất. Nếu tôi còn tỉnh thêm một vài phút nữa thì nhất định tôi
đã khai rồi. Vấn đề là thể chất con người nó như thế.”
Gletkin
chậm rãi uống cạn ly rượu và nói thêm: “Khi tỉnh lại tôi tin rằng
mình đã khai hết. Nhưng hai chiến sĩ cùng được giải cứu với tôi
lại nói là không. Thế là tôi được gắn huân chương. Tất cả chỉ
là ở thể chất của con người, mọi thứ khác chỉ là những chuyện
thêu dệt thêm mà thôi.”
Ivanov
nâng ly lên. Anh đã uống quá nhiều rồi.
“Anh
đã phát minh ra cái lý thuyết thể chất này từ bao giờ vậy? Nói cho
ngay, những năm đầu có được áp dụng các biện pháp cứng rắn đâu.
Thời đó chúng ta còn ảo tưởng lắm. Bỏ các biện pháp trừng phạt,
trại cải tạo thì có vườn hoa. Thật là cực kỳ nhảm nhí.”
“Tôi
không tin”, Gletkin nói. “Anh là một người ích kỷ. Một trăm năm nữa
mọi chuyện sẽ diễn ra đúng như thế. Nhưng trước hết phải tiêu diệt
kẻ thù đã. Càng nhanh càng tốt. Ảo tưởng là khi nghĩ rằng thời đó
đã đến rồi. Thời gian đầu, khi mới được điều về đây tôi cũng có
ảo tưởng như thế. Tất cả chúng ta, thực ra là toàn bộ bộ máy đều
đã nghĩ như thế. Chúng ta muốn khắp nơi đều có đầy hoa lá ngay lập
tức. Thế là sai. Sau một trăm năm nữa chúng ta mới có thể dùng lý
lẽ để cảm hoá được những kẻ vi phạm pháp luật. Còn hiện nay chúng
ta vẫn phải áp dụng các biện pháp tra tấn, phải đè bẹp kẻ thù cả
về tinh thần lẫn thể xác, nếu cần.”
“Liệu hắn có say không?”, Ivanov tự hỏi.
Nhưng vẻ mặt bình tĩnh và đôi mắt không biểu hiện một chút tình
cảm nào của hắn chứng tỏ rằng hắn chưa say. Ivanov mỉm cười và lơ
đãng hỏi:
“Nói
tóm lại, tôi là người ích kỷ còn anh là nhà luân lý học, đúng
không?”
Gletkin
không trả lời. Hắn ngồi thẳng người trên ghế, quân phục là cứng,
dây thắt lưng to bản có khẩu súng lục lủng lẳng sực mùi da mới thuộc.
“Mấy
năm trước”, Gletkin nói, sau một hồi im lặng, “một tay nông dân
được đưa đến chỗ tôi để thẩm vấn. Chuyện đó xảy ra ở dưới tỉnh,
khi chúng ta vẫn còn tin vào lý thuyết vườn hoa, như anh nói đó.
Tất cả các cuộc hỏi cung đều diễn ra trong tinh thần hữu hảo. Tay
nông dân này đã đem chôn giấu tất cả thóc lúa hắn vừa thua hoạch
được, đấy là giai đoạn đầu của quá trình hợp tác hoá. Tôi làm
theo đúng hướng dẫn. Tôi giảng giải cho anh ta rằng chúng ta cần
lương thực để nuôi dân thành thị đang ngày càng gia tăng và để
xuất khẩu, để xây dựng nền công nghiệp và đề nghị anh ta chỉ chỗ
giấu thóc. Khi mới bước vào thì cổ anh ta rụt lại vì tin là sẽ bị
đánh. Tôi biết rõ loại người như thế, bản thân tôi cũng xuất
thân từ nông dân mà. Thấy tôi không những không nện cho anh ta một
trận mà lại nói chuyện một cách thân mật và gọi anh ta là “công
dân” thì anh ta lập tức cho rằng tôi bị loạn thần kinh. Tôi đọc
được điều đó trong mắt anh ta. Tôi nói chuyện với anh ta khoảng nửa
tiếng đồng hồ. Còn anh ta thì nín thinh, thỉnh thoảng lại đưa ngón
tay lên ngoáy mũi hay ngoáy tai. Tôi tiếp tục giảng giải mặc dù nhận
ra rằng anh ta coi đây là chuyện đùa, không thèm nghe nữa. Lý luận
không thể lọt được vào tai những người như anh ta. Hàng thế kỷ
giam hãm trong chế độ gia trưởng đã làm cho họ điếc đặc hết rồi.
Tôi tuân theo đúng hướng dẫn, lúc đó tôi không thể nào nghĩ rằng
còn có những biện pháp khác... Lúc đó tôi phải xử lý từ hai mươi
đến ba mươi trường hợp mỗi ngày. Các đồng chí khác cũng thế.
Cách mạng đang lâm nguy vì những thằng nông dân như thế. Công nhân
không có gì ăn; cả tỉnh, cả huyện tan hoang vì nạn đói; không vay
được tiền để xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, kẻ thù thì sẵn
sàng tấn công bất cứ lúc nào. Hơn hai triệu đồng tiền vàng bị
giấu ở các xó xỉnh khác nhau, một nửa số lương thực vừa thu hoạch
cũng bị họ đem chôn xuống đất. Trong khi chúng ta gọi họ là các
công dân thì họ lại coi chúng ta là những anh hề. Lần hỏi cung thứ
ba diễn ra vào lúc hai giờ sáng, trước đây mỗi ngày tôi thường
làm việc mười tám tiếng đồng hồ liền. Anh ta bị gọi dậy, vẫn còn
ngái ngủ, thế là khai hết. Từ đó trở đi tôi chỉ hỏi cung vào ban
đêm. Có một con mụ còn phải đứng trước cửa phòng tôi suốt đêm
nữa cơ. Khi được đưa vào thì chân mụ đã không đứng vững nữa, mệt
quá, mới hỏi được nửa chừng thì mụ đã lăn ra ngủ. Tôi gọi dậy,
mụ ta tiếp tục nói mà không biết mình nói gì nữa. Tôi lại gọi dậy,
lần này mụ ta thú nhận tất, thậm chí còn ký biên bản mà không
thèm đọc nữa cơ. Chồng của mụ ta giấu hai khẩu súng trường trong
đống rơm, lại còn xúi giục nông dân trong làng đốt hết thóc đi vì
hắn ta mơ thấy một tên phản chúa. Người phụ nữ này phải đứng
suốt đêm ngoài hành lang là do sự cẩu thả của tay trợ lý của tôi,
nhưng từ đó trở đi tôi bảo anh ta cứ làm như thế; những thằng ngoan
cố còn bị đứng một chỗ bốn mươi tám tiếng đồng hồ liền cơ. Sau
đó thì chúng không còn giả câm giả điếc được nữa...”
Hai
người chơi cờ ở góc đằng kia xếp lại quân và bắt đầu một ván
mới. Người thứ ba đã bỏ ra ngoài. Ivanov chăm chú quan sát Gletkin.
Giọng hắn vẫn điềm đạm và vô hồn như mọi khi.
“Các đồng chí khác cũng trải qua những
giai đoạn như thế. Đấy là cách duy nhất. Vẫn tuân thủ chỉ dẫn,
không có phạm nhân nào bị đánh đập cả. Nhưng đôi khi, có thể nói
một cách vô tình, họ được chứng kiến cảnh tử hình những tù nhân
khác. Tác động phải nói là cả về thể xác lẫn tinh thần. Một thí
dụ khác: để giữ vệ sinh tù nhân phải thường xuyên đi tắm. Mùa
đông, hệ thống đun và đường ống nước nóng không phải lúc nào cũng
hoạt động tốt, vì lý do kỹ thuật, dĩ nhiên, nhưng lúc nào bị hết
nước nóng và hết trong bao lâu thì chỉ người lính áp giải mới
biết mà thôi. Mùa hè thì ngược lại, đôi khi hệ thống nước nóng
lại làm việc tốt quá, tất cả cũng vẫn phụ thuộc vào người lính
áp giải. Đấy đều là các đảng viên lâu năm, không cần phải hướng
dẫn quá cụ thể, họ hiểu ra ngay vấn đề...”
“Dĩ
nhiên là không cần”, Ivanov nói.
“Anh
hỏi tôi lý thuyết thể chất được hình thành như thế nào và tôi
đã giải đáp”, Gletkin nói. “Mọi hành động của chúng ta đều xuất
phát từ sự cần thiết, làm khác đi, như anh, là ích kỷ. Muộn rồi,
tôi phải đi đây.”
Ivanov
dốc cạn ly và đặt cái chân giả lên mặt ghế, bệnh thấp khớp lại
tiếp tục hành hạ anh. Anh cảm thấy bực mình vì đã trót khơi mào
câu chuyện vừa rồi.
Gletkin
trả tiền. Khi cô nhân viên căng tin đi khỏi, Gletkin hỏi:
“Sẽ
làm thế nào với tay Rubashov đây?”
“Tôi
đã nói rồi”, Ivanov đáp. “Hãy để cho anh ta yên.”
Gletkin
đứng lên. Tiếng ủng kêu lạo xạo. Anh ta đứng bên cạnh cái ghế mà
Ivanov đang gác chân lên.
“Tôi
công nhận là anh ta có nhiều cống hiến”, Gletkin nói.
“Nhưng
hiện nay anh ta đã trở thành nhân vật phá hoại, y hệt mấy tay nông
dân kia, nhưng nguy hiểm hơn.”
Ivanov
ngẩng lên và nhìn vào đôi mắt vô cảm của Gletkin.
“Tôi
đã nói cho anh ta suy nghĩ hai tuần”, Ivanov nói. “Trong thời gian đó
xin đừng động tới anh ta.”
Ivanov
nói như ra lệnh. Gletkin là cấp dưới của anh. Gletkin giơ tay lên
chào và bước ra khỏi căng tin, đôi ủng mới bóng loáng phát ra
những tiếng cót két sau mỗi bước chân.
Ivanov
vẫn ngồi. Anh uống thêm ly nữa rồi châm một điếu thuốc. Một lúc sau
anh mới đứng dậy và đi cà nhắc đến chỗ hai sĩ quan đang chơi cờ.
3.
Ngay
sau buổi thẩm vấn đầu tiên cuộc sống của Rubashov đã được cải thiện
một cách rõ rệt. Sáng hôm sau người giám thị già đã mang đến
giấy, bút, một bánh xà phòng và cái khăn mặt. Ông ta cũng đưa cho
anh tem phiếu của nhà tù, tương đương với số tiền họ thu khi bị
bắt và nói rằng từ nay anh có thể đặt mua thuốc lá và thức ăn
thêm ở căng tin trại giam.
Rubashov
đặt mua thuốc lá và một ít thức ăn. Người giám thị, vẫn ít nói
và nhăn nhó như cũ, đã nhanh chóng mang lại những thứ anh dặn.
Rubashov đã định cho gọi một viên bác sĩ từ bên ngoài vào, nhưng
đúng lúc đó thì lại quên. Cái răng sâu không còn đau nữa, sau khi
rửa mặt và ăn sáng anh thấy người dễ chịu hơn. Tuyết trên sân đã
được dọn hết, tù nhân đi thành từng nhóm. Mấy ngày trước không
thấy chuyện đó, có lẽ là do tuyết phủ dày quá, chỉ có Môi Thỏ và
bạn của anh ta là ngày nào cũng đi khoảng mười phút, chắc là theo
đơn của bác sĩ. Lần nào cũng vậy, trước khi đi vào hoặc đi ra, bao
giờ Môi Thỏ cũng ngẩng lên nhìn vào cửa sổ buồng Rubashov.
Nếu
không viết hoặc không đi bách bộ trong phòng thì thế nào Rubashov
cũng đứng úp trán vào sát kính cửa sổ để quan sát những người tù
đi dạo dưới sân. Nhóm thường gồm mười hai người, từng đôi đi
cách nhau đúng mười bước. Ở giữa sân có bốn lính canh, họ có
trách nhiệm theo dõi để tù nhân không nói chuyện với nhau. Các cuộc
đi dạo như thế kéo dài đúng hai mươi phút. Sau đó tù nhân được
đưa vào nhà theo cửa bên phải, trong khi một nhóm khác được dẫn ra
theo cửa bên trái.
Mấy
ngày đầu Rubashov có ý tìm người quen trong số các tù nhân đi dạo
ngoài sân, nhưng không trông thấy người nào. Thế càng tốt, lúc đó
anh muốn tránh tất cả những thứ có thể làm anh sao nhãng nhiệm vụ
đang làm. Nhiệm vụ của anh lúc này là suy nghĩ cho thật thấu đáo để
tìm ra kết luận, để liên kết quá khứ với tương lai, để thấy thái
độ của mình đối với người sống và người chết. Ivanov cho anh thời
hạn là hai tuần, còn mười ngày nữa mới hết.
Chỉ
có viết ra thì ý nghĩ mới được mạch lạc, nhưng viết lại làm anh mệt
mỏi đến nỗi anh chỉ có thể ngồi mỗi ngày từ một đến hai tiếng là
cùng. Lúc không viết thì anh đi bách bộ và để mặc cho đầu óc muốn
nghĩ gì thì nghĩ.
Rubashov
luôn luôn tin rằng anh hiểu rõ được con người mình. Không bám vào
những thành kiến cố hữu về đạo đức, cũng không có bất kì ảo
tưởng nào về hiện tượng gọi là “con người cá nhân”, anh thừa nhận
mà không cần bất cứ chứng cứ nào rằng cá nhân mang trong lòng nó
những xung năng mà nói chung người đời không muốn công nhận. Bây
giờ, khi gục đầu vào cửa sổ hay khi bất thình lình dừng lại trên
viên gạch lát nền màu đen anh bỗng phát hiện ra nhiều điều thú vị.
Hoá ra những cuộc nói chuyện được gọi một cách sai lầm là độc thoại lại chính là những cuộc
đối thoại đặc biệt, trong đó một
bên lắng nghe, còn bên kia, trái với tất cả các nguyên tắc ngữ
pháp, lại gọi phía bên kia là tôi
chứ không phải anh để chiếm
đoạt lòng tin và tìm hiểu những dự định của nó, còn bên nghe thì
cứ giữ yên lặng, thậm chí không thèm quan sát và không chịu định
vị trong không gian và thời gian. Nhưng bây giờ Rubashov lại thấy
rằng cái bên vẫn luôn giữ yên lặng đôi khi cũng lên tiếng dù
không có lý do chính đáng nào, anh lắng nghe cái giọng là lạ đó và
chợt nhận ra rằng môi mình đang mấp máy. Dần dần Rubashov nhận ra
rằng đấy không phải là chuyện lạ, đấy chỉ là một tính cách cụ
thể, xác định được trong con người cá nhân, cái tính cách bấy lâu
vẫn giữ yên lặng nay mới bắt đầu lên tiếng mà thôi.
Phát
hiện này làm Rubashov phải suy nghĩ nhiều hơn là những đề nghị của
Ivanov. Anh cho rằng vấn đề đã được giải quyết, anh sẽ không chấp nhận
ý kiến của Ivanov và sẽ ra khỏi cuộc chơi, nghĩa là anh sẽ chẳng
còn được sống thêm bao lâu nữa, mọi ý nghĩ của anh đều dựa trên
cái nền tảng ấy.
Anh
không quan tâm đến chuyện ám sát Anh Cả, anh chỉ quan tâm đến cá
nhân Ivanov mà thôi. Anh ta nói rất đúng rằng họ hoàn toàn có thể
thế chỗ cho nhau. Về mặt tinh thần, anh và Ivanov có thể được coi là
hai anh em sinh đôi, tuy không cùng một mẹ, nhưng họ cùng được nuôi
dưỡng bằng một niềm tin, môi trường khắc nghiệt của Đảng đã rèn
giũa và đào luyện nên tính cách của hai người trong những năm có
ý nghĩa quyết định nhất. Họ có chung những tiêu chuẩn về đạo đức,
có chung các quan điểm về triết học, thậm chí suy nghĩ cũng giống
nhau. Ivanov đã nói rất đúng: hai người có thể thế chỗ cho nhau và
anh cũng sẽ sử dụng những lý lẽ mà Ivanov đã dùng khi thuyết phục
anh. Luật chơi đã được qui định như thế. Khác nhau chỉ là tiểu
tiết.
Thói
quen đặt mình vào vị trí của người phản biện cứ bám chặt lấy đầu
óc Rubashov, anh thấy mình đang ngồi vào chỗ của Ivanov và nhìn mình,
trong vai một tội đồ, bằng đôi mắt của Ivanov như anh đã từng nhìn
Richard và Levy Còi vậy. Anh nhìn thấy một Rubashov đã bị cách chức,
chỉ còn là cái bóng của người đồng đội cũ và anh bỗng hiểu được
thái độ vừa dịu dàng vừa coi thường của Ivanov đối với anh. Trong
khi nói chuyện anh thường tự hỏi là Ivanov chân thành hay dối trá,
liệu anh ta có gài bẫy hay quả thật anh ta muốn chỉ cho anh một con
đường thoát. Bây giờ, khi đặt mình vào vị trí của Ivanov thì anh nhận
ra rằng thái độ của Ivanov đối với anh cũng chính là thái độ của
anh đối với Richard và Levy Còi mà thôi.
Luồng
tư tưởng của Rubashov cũng diễn ra dưới dạng độc thoại quen thuộc,
một phía vẫn hoàn toàn câm lặng. Mặc dù tất cả các cuộc độc
thoại luôn luôn là để nói với nó, nhưng nó lại không bao giờ lên
tiếng, nó chỉ tồn tại trong khái niệm ngữ pháp trừu tượng gọi là
“đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít mà thôi”. Cả những câu hỏi
trực tiếp lẫn những suy tư trừu tượng đều không thể đánh thức
được nó, nhưng nhiều khi nó lại lên tiếng mà chẳng thấy có lý do
cụ thể nào và thường đi kèm với một cú nhức răng muốn chảy nước
mắt. Có vẻ như nó quan tâm đến những lĩnh vực chẳng có liên quan
gì với nhau như hai bàn tay khum lại của bức tranh Pietà, những con mèo của Levy Còi, nhạc điệu của bài hát
với điệp khúc “Phá sạch tan tành” hay một câu nói của Arlova từng
làm anh thích thú. Cách thể hiện của nó cũng kì quặc: thí dụ như
buộc phải lau kính vào ống tay áo hay bắt phải chạm tay vào cái
khoảng tường sáng mờ trong phòng Ivanov hay mấp máy môi và nói
những câu vô nghĩa như “Ta sẽ phải trả giá” hay mụ đi trong những
giấc mơ về quá khứ.
Rubashov
cố gắng suy nghĩ thật kỹ về cái tôi mới được phát hiện này trong
khi đi bách bộ trong buồng giam, nhưng theo truyền thống của Đảng là
không được nói tới con người cá nhân cho nên anh đặt tên cho nó
là Người Đối Thoại Không Lời. Rubashov tin rằng mình chẳng sống
được bao lâu nữa nên cần phải giải quyết cho xong vấn đề này, cần
phải “suy nghĩ để tìm cho ra kết luận hữu lý”. Nhưng Người Đối
Thoại Không Lời có vẻ như lại bắt đầu ở chỗ không thể “suy nghĩ
để tìm cho ra kết luận hữu lý”. Đấy chính là bản chất của nó, nó
là bất khả tư nghị và thường tấn công người ta một cách bất
ngờ, thí dụ như những cơn đau răng hay những giấc mơ giữa ban ngày.
Rubashov đã trải qua ngày lao tù thứ bảy, tức là ngày thứ ba kể từ
buổi lấy cung đầu tiên như thế đấy; những giấc mơ giữa ban ngày đã
đưa anh trở về thời quá khứ, nói chính xác là đã nhắc anh nhớ lại
quan hệ với cô gái đã bị tử hình tên là Arlova.
Người
ta không thể nói được một cách chính xác mình đã ngủ gục khi nào,
Rubashov cũng vậy, dù đã quyết tâm, anh cũng không thể nói mình đã
lạc vào giấc mơ giữa ban ngày từ lúc nào. Buổi sáng ngày thứ bảy
anh bắt đầu ghi chép, sau đó đứng lên cho khỏi tê chân và chỉ đến
khi nghe thấy tiếng chìa khoá quay trong ổ anh mới nhận ra rằng lúc
đó đã là giữa trưa, nghĩa là anh đã đi đi lại lại suốt bốn tiếng
đồng hồ liền.
Cái
chăn tù đang quấn trên vai, thế có nghĩa là trước đây mấy tiếng
anh đã bị run vì rét và bị đau răng nữa. Anh lơ đãng ăn hết bát
thức ăn mấy người lính vừa đưa tới và tiếp tục đi ra đi vào như
cũ. Người giám thị làm nhiệm vụ theo dõi anh qua lỗ nhòm thấy chốc
chốc anh lại run lên, vai so lại, còn môi thì mấp máy không ngừng.
Rubashov
lại như được hít thở cái không khí của Phòng Đại diện Bộ Thương
mại ngày xưa với mùi da thịt quen thuộc của Arlova, một người cao
to, nhưng cân đối và có phần chậm chạp; anh như lại nhìn thấy cái
cổ đang cúi xuống bên cuốn tập mỗi khi anh đọc cho cô ghi tốc ký và
đôi mắt to đang nhìn theo khi anh đi đi lại lại trong phòng để tìm ý
tứ cho đoạn tiếp theo. Cô cũng mặc những cái áo blu trắng có thêu
những bông hoa nhỏ trên cái cổ áo dựng đứng giống như các chị em
của Rubashov thường mặc ở nhà và cũng đeo những đôi hoa tai rẻ tiền
như các chị em của anh ở trong nước, anh để ý thấy mỗi lần cô cúi
xuống thì bao giờ hoa tai cũng lủng lẳng ngay sát hai bên má cô. Quan
sát những động tác có phần chậm chạp và thụ động của cô, người
ta dễ có cảm giác rằng cô được sinh ta để làm thư ký vậy; hơn
nữa, còn có tác dụng an thần mỗi khi Rubashov bị căng thẳng vì phải
làm việc quá sức. Anh được cử đứng đầu Phòng Đại diện Bộ Thương
mại ở B. ngay sau cái chết của Levy Còi và lập tức vùi đầu vào
công việc; anh cũng thầm cảm ơn Ban Chấp hành Trung ương vì đã
được thuyên chuyển sang một công việc hành chính như thế. Đây có
thể coi là trường hợp ngoại lệ vì các cán bộ cao cấp của Quốc tế
ít khi được chuyển sang công tác đối ngoại. Có lẽ Anh Cả đã có
những dự định đặc biệt đối với Rubashov vì thường thì cán bộ hai
cơ quan này không bao giờ được gặp nhau, thậm chí họ còn thực hiện
những chính sách không chỉ khác nhau mà còn đối lập nhau nữa kia.
Dĩ nhiên những người xung quanh Anh Cả đã điều phối chính sách của
hai cơ quan này: chính sách là do sách lược trong giai đoạn đó quyết
định và tất cả cũng chỉ để giải quyết những vấn đề chiến lược
mà chỉ cấp trên mới hiểu được mà thôi.
Phải
một thời gian sau Rubashov mới quen với địa vị mới, thời gian đầu anh
cảm thấy tức cười vì từ nay anh đã có hộ chiếu thật, mang tên thật,
được tham gia vào những buổi tiếp tân; thấy cảnh sát bồng súng
đứng chào và nhất định bao giờ cũng có những người ăn vận khiêm
nhường, đội mũ đen đi bên cạnh để bảo vệ anh.
Thời
gian đầu không khí trong Phòng Đại diện, Phòng này nằm ngay cạnh
Công sứ quán, làm anh hơi lúng túng. Anh hiểu rằng trong thế giới
tư bản này người ta phải tỏ ra sang trọng và đóng đúng vai trò của
mình, nhưng trên thực tế thì người ta lại vào vai đạt quá đến nỗi
chẳng thể phân biệt được đấy là chơi hay là thật nữa. Khi viên Bí
thư thứ nhất của Toà Công sứ, người trước Cách mạng từng làm nhiệm
vụ kiếm tiền cho Đảng, nhắc nhở Rubashov về việc cần phải thay đổi
trang phục và cách sống với thái độ chẳng thể gọi là mang tình
đồng chí thì anh cảm thấy như bị xúc phạm và bất mãn.
Rubashov
có mười hai nhân viên với chức danh và nhiệm vũ rõ ràng: Phó ban
thứ nhất và thứ hai, một kế toán trưởng và trợ lý, các thư ký
và trợ lý của thư ký. Rubashov nhận thấy rằng tất cả các nhân
viên dưới quyền đều coi anh vừa là anh hùng vừa là một kẻ đầu trộm
đuôi cướp. Họ vừa kính trọng vừa có thái độ khoan dung thái quá
với mọi hành động của anh. Mỗi khi viên Bí thư Công sứ trình bày một
vấn đề gì thì bao giờ anh ta cũng cố gắng nói thật đơn giản, y như
người ta nói với bọn vô học hay trẻ con vậy. Chỉ có Arlova, thư ký
riêng của anh là không có thái độ như thế mà thôi, anh chỉ không hiểu
một chuyện, đấy là tại sao cô lại đi đôi giày cao gót, da thuộc
đàng hoàng, nhưng vẫn mặc những bộ áo váy cực kỳ đơn giản như
thế.
Phải
gần một tháng sau anh mới nói chuyện với cô. Hôm ấy, đã mệt vì
đọc và đi đi lại lại, anh bỗng nhận ra sự lặng lẽ trong phòng.
“Đồng
chí Arlova, sao chẳng bao giờ nghe thấy đồng chí nói gì cả?”, anh vừa
hỏi vừa ngồi lên chiếc ghế cạnh bàn viết.
“Nếu
đồng chí muốn”, cô đáp một cách chậm rãi, gần như ngái ngủ, “bao
giờ tôi cũng có thể nhắc lại được từ cuối cùng trong mỗi đoạn
văn của đồng chí.”
Ngày
nào cô cũng ngồi trước bàn làm việc của anh, áo blu thêu, đôi vú
nở tì lên cuốn vở, đầu hơi cúi và đôi hoa tai đeo tòng teng ngay hai
bên má. Chỉ có đôi giày da cao gót là có vẻ hơi bất thường,
nhưng cô không bao giờ bắt chéo chân như đa số phụ nữ mà anh từng
gặp. Vì anh thường đi đi lại lại trong khi đọc cho cô ghi nên anh hay
nhìn thấy cô từ đằng sau hay hai bên sườn nên hình ảnh còn đọng
lại nhiều nhất trong tâm trí anh chính là cái cổ cong của cô. Gáy
cô không có nhiều lông tơ nhưng cũng không được cạo nhẵn, da
trắng và căng.
Khi
còn trẻ Rubashov không quan tâm nhiều đến phụ nữ vì phần lớn những
người anh tiếp xúc đều là đồng chí và cái gọi là quan hệ tình
cảm chỉ xuất hiện sau những cuộc thảo luận kéo dài đến tận quá
nửa đêm, ai cũng vội vàng chạy ngay ra tàu điện thì mới lên kịp
chuyến cuối cùng.
Đã
hai tuần trôi qua kể từ cái lần bắt chuyện không thành công ấy.
Thời gian đầu Arlova luôn luôn nhắc lại từ cuối cùng của đoạn văn
mà Rubashov vừa đọc cho chép; sau này, có thể đã thấy chán, cô
không nhắc lại nữa và những lúc anh tạm nghỉ thì căn phòng lại
trở nên yên tĩnh như cũ, chỉ còn mùi nước hoa phảng phất. Một
buổi chiều, Rubashov bỗng đứng lại ngay đằng sau Arlova rồi khẽ đặt
cả hai tay lên vai cô, anh hỏi cô có đồng ý đi ăn tối cùng với anh
không. Cô không quay lại, cũng không né tránh mà chỉ khẽ gật đầu.
Rubashov không thích tán tỉnh, nhưng đêm đó đã không kìm được, vừa
mỉm cười anh vừa bảo:
“Hồi
nãy anh tưởng em sẽ chép luôn câu ấy cơ đấy.”
Đôi
bầu vú to và săn của cô dường như rất ăn nhập với bóng tối căn
phòng, có cảm giác lúc nào cô cũng hiện diện ở đây vậy. Chỉ có
đôi bông tai đã nằm yên trên gối mà thôi. Ánh mắt cô vẫn không
thay đổi khi cô nói một câu mà anh sẽ nhớ suốt đời như anh từng ghi
nhớ đôi bàn tay đang chìa ra trong bức tranh Pietà và mùi rong biển
chết trên cái hải cảng ngày nào:
“Anh
muốn làm gì em cũng được.”
“Tại
sao?”, Rubashov hỏi, anh thấy hơi ngạc nhiên, thậm chí sửng sốt nữa.
Cô
không trả lời. Có lẽ cô đã ngủ. Khi ngủ, hơi thở cô cũng nhẹ y
như lúc thức. Rubashov chưa bao giờ nghe thấy cô thở. Anh cũng chưa
bao giờ nhìn thấy cô nhắm mắt. Nét mặt cô có vẻ hơi lạ, xinh hơn.
Nhưng lạ hơn cả là bóng đen trong hai nách cô và cái cằm gục xuống
sát ngực, trông cô giống như một người đàn bà đã chết. Nhưng cái
mùi nước hoa nhẹ nhàng thì lại rất quen thuộc, quen thuộc ngay cả
khi cô đã ngủ.
Ngày
hôm sau và những ngày sau nữa, cô vẫn mặc chiếc áo blu trắng ấy và
cũng vẫn ngồi lặng lẽ bên chiếc bàn viết; đêm sau và những đêm sau
nữa hình bóng bộ ngực cô lại thấp thoáng sau cái ri đô phòng ngủ
của anh. Thân hình to lớn và điềm đạm của cô gắn bó với anh suốt
ngày đêm. Chỉ có thái độ của cô đối với công việc thì vẫn như
xưa, giọng nói và ánh mắt cũng không có gì thay đổi, chẳng kèm
theo hi vọng hay ảo tưởng nào. Đôi khi, mệt mỏi vì đi lại, Rubashov
thường dừng lại ngay sau lưng cô rồi đặt hai bàn tay lên vai cô mà
không nói gì, cô cũng không nhúc nhích; sau khi tìm được đúng ý
cần thiết anh lại tiếp tục đi quanh phòng và đọc cho cô chép.
Đôi
khi anh cũng có những lời nhận xét cay độc về chính những điều đang
đọc cho cô chép, khi đó cô ngồi yên và đợi, tay vẫn cầm bút, nhưng
cô không bao giờ cười nên Rubashov cũng chẳng hiểu cô nghĩ gì về
những nhận xét của anh. Chỉ có một lần, đấy là sau khi nghe anh kể một
câu chuyện khôi hài nguy hiểm về thói quen của Anh Cả, cô đã bất
ngờ từ tốn nhận xét: “Anh chớ nên nói những chuyện như thế trước
mặt người khác, anh phải thận trọng hơn nữa mới được”. Nhưng sau
đó, trước mặt cô thỉnh thoảng anh vẫn xả những nỗi bực tức bằng
những lời cay độc, đặc biệt là khi đọc những chỉ thị của cấp trên
đưa xuống.
Phiên
toà Đại hình thứ hai chống lại phe đối lập đang được chuẩn bị.
Không khí trong Công sứ quán đặc biệt căng thẳng. Những bức chân
dung treo trên tường đột nhiên biến mất, dù trước đó chẳng mấy
người để ý đến chúng, nhưng bây giờ, những khoảng sáng mờ hình
chữ nhật trên tường lúc nào cũng như chọc thẳng vào mắt. Các
nhân viên chỉ còn nói mỗi chuyện công việc với giọng điệu thận
trọng và lịch sự hơn trước rất nhiều. Khi ngồi quanh bàn ăn trong
căng tin, nghĩa là lúc buộc phải trao đổi thì bao giờ họ cũng dùng
những từ ngữ như trên báo Đảng, những câu nói mà trong môi trường
thân mật như thế nghe vừa lố bịch vừa nặng nề, cứ như thể sau khi
nhờ nhau đưa cho lọ muối hay lọ tiêu là họ lại động viên nhau bằng
những khẩu hiệu của Đại hội Đảng vừa rồi vậy. Cũng thường xảy ra
sự kiện là một người nào đó sợ người ta hiểu nhầm ý mình vội
kêu những người khác làm chứng: “Tôi không nói thế” hay “Ý tôi
thế này cơ”. Chuyện này làm Rubashov vừa ngạc nhiên vừa có cảm
giác như đang được xem một vở múa rối, mỗi người đều được điều
khiển từ xa và đều phải nhập đúng vai của mình. Chỉ có một mình
Arlova, vẫn yên lặng và bình thản như cũ, là không thay đổi mà
thôi.
Không
chỉ những bức chân dung trên tường bị gỡ mà những cuốn sách trong
thư viện cũng biến mất dần. Sách vở được mang đi một cách kín
đáo, thường là một ngày sau khi có chỉ thị từ bên trên. Rubashov
cũng chế giễu chuyện này trong khi đọc cho Arlova chép, nhưng vẫn như
mọi khi, cô không có phản ứng gì. Phần lớn các tác phẩm viết về
ngoại thương và tài chính đã bị lấy đi, tác giả của chúng, ông
Dân uỷ Tài chính vừa bị bắt, các báo cáo tại các kì Đại hội
Đảng về vấn đề này cũng bị thu hồi. Hầu hết các cuốn sách viết
về lịch sử cách mạng, về luật học và triết học của những tác giả
từng tham gia phong trào cách mạng, các tài liệu về cơ cấu của quân
đội nhân dân, các nghiên cứu về công đoàn và quyền đình công trong
nhà nước Cộng hoà nhân dân, gần như tất cả các công trình nghiên
cứu về cơ cấu chính trị của nhà nước đã biến mất; ngay bộ Bách khoa
toàn thư do Viện Hàn lâm Khoa học xuất bản cũng bị thu hồi, người
ta hứa sẽ hiệu đính bộ sách này trong một thời gian ngắn.
Những
cuốn sách mới đã được gửi tới, các tác phẩm kinh điển về khoa học
xã hội được in kèm rất nhiều ghi chú và bình luận, thay chỗ cho
những cuốn lịch sử bị lấy đi đã có những cuốn lịch sử mới, những
cuốn hồi ký của các nhà cách mạng quá cố bị lấy đi thì lại có
những cuốn mới thay thế, cũng là hồi ký, cũng là những nhà cách
mạng đã chết từ lâu. Rubashov nói đùa với Arlova rằng chỉ còn việc
in lại các số báo cũ nữa là xong.
Cách
đây mấy tuần lại có chỉ thị “từ trên” đưa xuống nói rằng phải cử
ra một thủ thư, người này phải chịu trách nhiệm chính trị về nội
dung các tài liệu trong thư viện của Công sứ quán. Arlova được bổ
nhiệm vào chức vụ này. Nghe thấy thế Rubashov lẩm bẩm: “Trò trẻ con”
và coi đấy là trò nhảm nhí cho đến khi tại cuộc họp chi bộ hàng
tuần ở Công sứ có mấy người đứng lên phê phán Arlova một cách
cực kì gay gắt. Ba bốn người, trong đó có Bí thư thứ nhất Công sứ
khẳng định rằng trong thư viện không có một số bài diễn văn quan
trọng của Anh Cả nhưng lại có rất nhiều sách của phe đối lập, rằng
tác phẩm của những tên phản bội, những tên gián điệp ăn lương
của nước ngoài cho đến tận thời gian gần đây vẫn nắm đầy trên giá
sách, chẳng khác gì một sự khiêu khích cố ý. Các diễn giả đều
nói ngắn gọn và mạch lạc, ngôn từ được lựa chọn một cách kỹ
lưỡng, chẳng khác gì một vở kịch. Tất cả các diễn giả đều kết luận
rằng hiện nay nhiệm vụ chính của Đảng là phải nâng cao tinh thần
cảnh giác, phải tố cáo mọi hành động lạm dụng, ai không thực hiện
các nhiệm vụ này là đồng loã với bọn phá hoại. Khi được gọi lên
phát biểu, Arlova đã nói với một giọng điềm tĩnh vốn có rằng cô
không có ý định xấu, rằng cô luôn tuân thủ các chỉ thị của cấp
trên, nhưng khác với mọi khi, đây là lần đầu tiên trước mặt những
người khác, vừa nói cô vừa nhìn chằm chằm vào mặt Rubashov. Hội
nghị đã ra nghị quyết trong đó có câu: “Nghiêm khắc nhắc nhở đồng
chí Arlova.”
Rubashov
đã nắm vững các nguyên tắc mới trong sinh hoạt Đảng, nhưng lần này
cũng cảm thấy khó chịu. Anh ngờ rằng Arlova đang gặp nguy hiểm nhưng
không thể giúp được gì vì đây là mối đe doạ ẩn danh, không thể
biết nó xuất phát từ đâu.
Không
khí trong Công sứ quán càng ngày càng căng thẳng hơn. Rubashov không
còn đưa ra những lời bình luận trong khi đọc nữa và điều đó làm cho
anh cảm thấy như là người có tội. Bề ngoài thì quan hệ giữa anh
với Arlova vẫn không có gì thay đổi, nhưng cảm giác tội lỗi vì
không còn hứng thú nói những câu khôi hài đã ngăn cản, không cho
anh đứng lại đằng sau lưng ghế của cô và đặt hai bàn tay lên vai cô
nữa. Một tuần sau thì Arlova không đến phòng anh vào buổi tối nữa,
mấy đêm sau cũng vậy. Phải ba ngày sau Rubashov mới dám hỏi lý do.
Cô nói rằng bị đau đầu, Rubashov không nói gì thêm. Từ đấy cô
không bao giờ đến nữa, trừ một lần duy nhất.
Chuyện
đó xảy ra ba tuần sau cuộc họp chi bộ, nghĩa là hai tuần sau khi cô
không còn đến phòng anh vào buổi tối nữa. Thái độ của cô vẫn bình
thường, nhưng suốt đêm đó Rubashov cứ có cảm giác rằng cô đang chờ
anh nói một lời quyết định. Song anh chỉ nói rằng anh vui vì cô đã
tới và anh cảm thấy rất mệt; anh đã nói rất đúng. Ban đêm, mấy lần
thức giấc anh đều thấy cô nằm im nhưng chưa ngủ, mắt nhìn chằm
chằm vào bóng đêm. Anh cảm thấy vô cùng đau khổ vì có lỗi với cô,
cái răng sâu đúng lúc đó lại lên cơn đau. Đấy là buổi tối cuối
cùng cô đến với anh.
Sáng
hôm sau, khi Arlova chưa tới, bằng giọng tin cậy và với những từ ngữ
được lựa chọn cẩn thận ông Bí thư thứ nhất đã thông báo cho
Rubashov biết rằng anh trai và chị dâu của Arlova đã bị bắt trước
đó một tuần. Chị dâu của Arlova là người ngoại quốc, cả hai người
bị kết tội có liên hệ với tổ quốc của cô ta nhằm giúp đỡ phe đối
lập.
Mấy
phút sau Arlova mới tới. Cũng như mọi khi, cô lại ngồi bên cạnh cái
bàn viết, đầu hơi cúi về phía trước. Rubashov đi đi lại lại ngay sau
lưng cô, anh nhìn thấy cái gáy cong cong với làn da căng mịn, rất
ít lông tơ của cô. Anh cứ nhìn như thế mãi và cảm giác khó chịu
ngày một tăng dần, tăng dần cho đến khi anh cảm thấy buồn nôn. Ở
Bên Nớ tội nhân thường bị bắn vào gáy, cái ý nghĩ ấy cứ bám
mãi vào đầu óc anh suốt ngày hôm đó.
Tại
cuộc họp chi bộ sau đó, theo đề nghị của đồng chí Bí thư thứ nhất
Công sứ quán, Arlova bị cách chức thủ thư vì không đáp ứng các
tiêu chuẩn về chính trị. Không có thảo luận cũng không ai có ý
kiến gì khác. Rubashov vì đau răng nên đã xin phép vắng mặt. Mấy
ngày sau thì Arlova và một nhân viên nữa bị gọi về nước. Tên tuổi
của họ không còn được ai nhắc đến nữa. Mấy tháng sau thì chính
Rubashov cũng bị triệu hồi, nhưng cái mùi nước hoa dìu dịu từ thân
hình to lớn, chậm chạp của cô đã bám vào bức tường căn phòng anh
và lúc nào anh cũng có cảm tưởng như còn phảng phất đâu đây.
4.
VÙN
LÊN, HỠI CÁC NÔ LỆ Ở THẾ GIAN
Kể
từ ngày thứ mười trở đi sáng nào người tù ở buồng giam 406 cũng
gõ câu đó, và bao giờ cũng gõ sai từ VÙNG thành VÙN. Rubashov đã
thử bắt chuyện với anh ta, nhưng người bạn tù không trả lời, mà
nếu có trả lời thì bao giờ cũng chỉ là một loạt chữ cái rời rạc
và kết thúc bằng câu:
VÙN
LÊN, HỠI CÁC NÔ LỆ Ở THẾ GIAN
Người
bạn tù mới được đưa tới vào đêm hôm trước.
Rubashov
thức giấc nhưng chỉ nghe thấy tiếng bước chân và tiếng khoá cửa.
Sáng hôm sau, ngay sau khi thức giấc là người tù buồng 406 đã gõ:
VÙN LÊN, HỠI CÁC NÔ LỆ Ở THẾ GIAN. Anh ta gõ nhanh và thành thạo,
kỹ thuật phải nói là tuyệt vời cho nên có thể nói rằng lỗi phát
âm câu này cũng như những câu vô nghĩa khác là khiếm khuyết về mặt
trí năng chứ không phải do nhớ sai bảng chữ cái. Chắc anh ta bị
loạn thần kinh.
Sau
bữa ăn sáng thì bao giờ anh chàng ở buồng 402 cũng muốn nói chuyện.
Giữa Rubashov và người tù ở buồng 402 đã có một mối quan hệ thân
tình. Có thể anh chàng sĩ quan đeo kính một tròng và để râu này
luôn cảm thấy cô đơn nên chỉ cần Rubashov trao đổi vài câu là anh
ta đã cảm ơn rối rít rồi. Một ngày anh ta phải xin nói chuyện đến
năm sáu lần:
NÓI
CHUYỆN NHÁ...
Rubashov
không thích nói chuyện, vả lại anh cũng chẳng biết nói gì. 402
thường kể những chuyện tiếu lâm tục tĩu vẫn lưu hành trong bọn sĩ
quan. Hết chuyện là căn phòng lại trở về tình trạng yên ắng nặng
nề như cũ. Đôi khi Rubashov mường tượng ra cảnh anh bạn tù kể xong
câu chuyện và đứng đợi, nhưng không có những trận cười mà trước
mặt anh ta chỉ là một bức tường màu trắng lặng câm. Đôi khi vừa
thương vừa muốn tỏ ra lịch sự, Rubashov gõ thật to: HA... HA! để thay
cho tiếng cười. Anh chàng kia tỏ ra rất khoái chí và lập tức đấm
đá vào tường: HA – HA! HA – HA!, với những khoảng lặng nhất định để
xem Rubashov có hưởng ứng hay không. Nếu Rubashov không đáp thì thế
nào anh ta cũng trách: ANH KHÔNG CƯỜI... Còn nếu Rubashov đáp lại
bằng một hai từ HA–HA! thì nhất định sau đó một lúc 402 sẽ nhắc
lại:
ÔI!BUỒNCƯỜIQUÁĐIMẤT.
Đôi
khi anh ta cũng chửi bới Rubashov. Đấy là những lần Rubashov không
chịu bắt chuyện, anh ta thường gõ cả một bài hát thời nội chiến
với những lời chửi bới thô tục nhằm vào các chiến sĩ quân đội
nhân dân. Cũng có khi Rubashov đang đi bách bộ hoặc đang chìm trong
những giấc mơ giữa ban ngày hay đang mải suy nghĩ một vấn đề gì đó
thì chợt nghe thấy anh ta gõ bài quốc ca của chế độ cũ.
Nhưng
402 cũng là người rất có ích. Anh ta đã ngồi tù được hơn hai năm,
nắm được nội qui và liên lạc với nhiều tù nhân khác, có vẻ như
anh ta biết tất cả mọi chuyện trong nhà tù này.
Buổi
sáng, sau khi có người chuyển đến buồng 406, Rubashov đã hỏi xem anh
ta có biết người tù mới không thì được trả lời:
RIP
VAN WINKLE
Anh
ta thích nói ỡm ờ như thế để cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn.
Câu đó làm Rubashov nhớ lại chuyện một người đàn ông ngủ liền hai
mươi lăm năm và khi tỉnh dậy thì thấy thế giới đã hoàn toàn thay
đổi.
ANH
TA BỊ MẤT TRÍ À? Rubashov hỏi.
Cảm
thấy hài lòng vì câu nói ỡm ờ của mình, 402 bắt đầu kể cho anh
nghe về người tù mới. Hoá ra người tù buồng 406 vốn là một giáo
viên xã hội học ở một nước Đông Nam Âu. Cũng như phần lớn các
nước châu Âu, tại đây phong trào cách mạng đã bùng nổ ngay sau khi
Chiến tranh Thế giới vừa kết thúc và 406 đã tham gia tích cực vào
phong trào cách mạng tại quê hương mình. Công xã được thành lập
và tồn tại trong vài tuần lễ rồi bị dìm trong biển máu. Các nhà lãnh
đạo cách mạng chỉ là dân nghiệp dư nhưng bị kết án như những kẻ
làm loạn chuyên nghiệp, 406 với hàm Bộ trưởng Bộ Giáo dục Quốc
dân bị kết án tử hình với hình thức treo cổ. Anh ta phải đóng vai
tử tù suốt một năm liền, sau đó bản án được hạ xuống thành tù
chung thân. Anh đã ngồi tù hai mươi năm rồi.
Anh
bị biệt giam gần suốt hai mươi năm, không có liên hệ gì với thế
giới bên ngoài, sách báo dĩ nhiên là cũng không. Thế giới cũng đã
quên anh; hệ thống toà án của nước này vẫn còn cổ hủ lắm. Một
tháng trước đây anh được ân xá và thế là chàng Rip Van Winkle hiện
đại, sau hai mươi năm sống trong tối tăm và cách li với thế giới,
lại được tự do thở hít khí trời như bao người khác.
Anh
lên chuyến tàu đầu tiên trong ngày hôm đó để đi đến đất nước mà
ngày xưa anh từng ao ước. Hai tuần sau anh bị bắt. Có thể hai mươi
năm biệt giam đã biến anh thành một kẻ lắm lời. Có thể anh đã kể
cho những người xung quanh rằng khi ở trong phòng biệt giam anh đã
ngày đêm tưởng tượng cuộc sống ở “Bên Nớ” sẽ phải như thế nào.
Có thể anh đã hỏi địa chỉ của những đồng chí cũ, những người mà
anh cho là anh hùng của Cách mạng, mà không biết rằng đấy chỉ là
những kẻ phản bội hay những tên gián điệp. Có thể anh đã đặt vòng
hoa trước một ngôi mộ không thích hợp mà cũng có thể anh đã muốn
gọi điện cho đồng chí Rubashov nổi danh một thời nhưng nay đã là bạn
tù với anh.
Bây
giờ thì anh không thể nói: hai mươi năm nằm mơ trong ngục tù và
hai tuần hiện thực giữa ánh ngày, cái nào tốt hơn. Có thể Rip Van
Winkle đã bị mất trí từ đó...
Thường
thì sau 402, bao giờ Rip Van Winkle cũng lại gõ tiếp điệp khúc: VÙN
LÊN, HỠI CÁC NÔ LỆ Ở THẾ GIAN khoảng năm sáu lần liền. Sau đó mới
yên lặng hẳn.
Rubashov
nằm trên giường, mắt nhắm nghiền. Người Đối Thoại Không Lời trong
anh như bừng tỉnh, hắn không nói thành lời, nhưng anh hiểu:
“Anh
phải trả giá cả chuyện này nữa, anh phải chịu trách nhiệm vì anh
đã hành động đúng vào lúc anh ta đang mơ màng.”
Ngày
hôm đó Ruabshov được đưa đi cắt tóc.
Lần
này chỉ có một người lính hộ tống mà thôi: người giám thị già
ì ạch đi phía trước rồi đến Rubashov, cuối cùng là người lính áp
giải. Họ đi qua trước cửa phòng 406 nhưng không nhìn thấy bảng tên
gắn trên cánh cửa ra vào. Trong phòng cắt tóc chỉ còn một anh thợ,
cũng là tù nhân, người kia không biết đã đi đâu từ trước. Rõ
ràng là người ta cố tình không để cho Rubashov gặp gỡ nhiều người.
Anh
ngồi vào chiếc ghế bành. Phòng tương đối sạch, có cả gương nữa.
Anh tháo kính và liếc nhìn vào gương, không có gì thay đổi, ngoại
trừ bộ râu quai nón rậm rạm phủ kín hai bên má.
Anh
thợ cắt tóc làm nhanh và rất cẩn thận. Cánh cửa phòng vẫn để ngỏ,
người giám thị già đã bỏ đi, chỉ còn anh lính gác đứng tựa vào
khung cửa, mắt anh ta dõi theo từng đường kéo, còn người thợ suốt
buổi không nói một lời nào. Đám bọt xà phòng trên má làm Rubashov
cảm thấy phấn chấn, anh chợt nhớ lại rằng trong cuộc đời thường nhật
có rất nhiều niềm vui nho nhỏ như thế. Anh rất muốn bắt chuyện với
người thợ cắt tóc, nhưng anh biết rằng người ta không cho, anh cũng
không muốn làm phiền người thợ cắt tóc, nhất là anh đã có cảm
tình ngay khi nhìn thấy khuôn mặt cởi mở của anh ta. Cứ nhìn hình
thức bên ngoài thì không ai bảo anh ta là thợ cắt tóc, phải là thợ
cơ khí hay thợ rèn thì mới đúng. Vừa bắt đầu cạo anh ta vừa hỏi:
“Có rát không... ?” và nói thêm, rất khẽ: “Công dân Rubashov.”
Đấy
là câu đầu tiên Rubashov nghe được từ khi bước vào phòng và mặc
dù người thợ cắt tóc tỏ ra hoàn toàn dửng dưng, anh vẫn nhận thấy
có nhiều ẩn ý ở đằng câu nói có vẻ như vô tình ấy. Căn phòng
đã yên ắng trở lại như cũ, người lính gác đứng ngoài cửa bật
diêm châm thuốc hút, anh thợ cắt tóc và cạo râu cho Rubashov bằng
những động tác nhanh chóng và dứt khoát. Ánh mắt hai người bỗng gặp
nhau trong một tích tắc và đúng lúc đó người thợ đưa hai ngón tay
luồn vào dưới cổ áo của Rubashov; khi anh ta rút tay ra thì cũng là
lúc Rubashov cảm thấy có một cái gì giống như mảnh giấy nhỏ cọ
vào gáy. Mấy phút sau thì cắt xong và Rubashv được đưa trở lại
buồng giam. Anh ngồi lên giường và cẩn thận nhìn vào lỗ nhòm xem
có bị theo dõi không rồi mới lấy mẩu giấy ra đọc. Trên mảnh giấy
chỉ vẻn vẹn có năm chữ, được viết một cách vội vã:
“Ngậm
miệng mà chết đi.”
Rubashov
vất mẩu giấy vào cái thùng gỗ và bắt đầu suy nghĩ mung lung. Đây
là thông điệp đầu tiên được đưa tới từ bên ngoài. Khi ngồi trong
nhà tù của các quốc gia thù nghịch anh thường nhận được những lời
kêu gọi kiểu như hãy mạnh mẽ tố cáo hoặc hãy ném vào mặt các
quan toà những lời kết án. Lịch sử đã bao giờ phải chứng kiến cảnh
những người cách mạng phải ngậm miệng chưa? Hay đây là một bước
ngoặt của lịch sử, đây là lúc người cách mạng chỉ phải làm có một
việc, chỉ có một quyền duy nhất: ngậm miệng mà chết đi?
Luồng
suy nghĩ của Rubashov bị cắt ngang vì 402 đã bắt đầu gõ vào tường
ngay khi thấy anh được đưa trở về. Anh ta sốt ruột vì muốn biết
Rubashov vừa được đưa đi đâu.
CẮT
TÓC, Rubashov giải thích.
TÔI
TƯỞNG XONG RỒI CƠ, 402 gõ một cách vội vã. SAU ANH, Rubashov trả
lời.
Cũng
như mọi khi, 402 tỏ ra là người biết nói chuyện. HA–HA!, anh ta reo
lên. ANH LÀ NGƯỜI DŨNG CẢM ĐẤY.
Thật
kỳ lạ là lời động viên cổ điển này lại làm Rubashov hài lòng. Anh
cảm thấy ghen với anh chàng 402, anh ta thuộc về giai tầng có những
tiêu chí rõ ràng về danh dự, về cách hành xử cả lúc sống lẫn lúc
chết. Có cái để mà dựa vào. Anh và các chiến hữu của mình thì
không được như thế, anh không có một tập hợp các tiêu chuẩn như
thế, tất cả hành động đều chỉ dựa vào lý trí của chính mình.
Phải
tự nghĩ lấy cả việc mình nên chết ra sao. Người quân tử sẽ làm
như thế nào: Chết trong yên lặng hay chấp nhận bị hạ nhục giữa
thanh thiên bạch nhật để tiếp tục theo đuổi mục đích của mình? Anh
đã đưa Arlova vào chỗ chết vì nghĩ rằng cuộc sống của mình sẽ có
ích cho Cách mạng hơn. Các bạn anh cũng nói như thế: Bảo toàn tính
mạng của mình cho Cách mạng quan trọng hơn là tuân theo những qui
định của đạo đức tư sản lỗi thời. Nhiệm vụ duy nhất của những
người đảm nhận vai trò cải biến lịch sử là luôn luôn sẵn sàng,
không còn nhiệm vụ nào vinh quang hơn thế. “Anh muốn làm gì với em
cũng được”, Arlova đã nói như thế và anh đã làm đúng như thế. Tại
sao anh lại phải thận trọng hơn với mình? “Số phận của loài người
sẽ được quyết định trong mười năm tới”,
Ivanov
đã nói như thế. Anh có quyền nhân danh những điều như lòng tự hào,
sự yên bình và vinh quang mà trốn tránh được hay không? Vả lại,
nếu Anh Cả có lý thì sao? Còn nếu quả thật tương lai hạnh phúc
của nhân loại đang được xây dựng ở đây, xây dựng trong máu, nước
mắt, bùn nhơ và lừa dối này thì sao? Có phải lịch sử là một cỗ
máy vô tình và bất nhân, luôn luôn sử dụng nước mắt, bùn nhơ và
dối trá để xây nền móng tương lai hay không?
Ngậm
miệng mà chết đi – tàn tạ trong bóng tối, nói thì bao giờ cũng
dễ...
Rubashov
đột ngột đứng lại trên hàng gạch đen thứ ba, tính từ cửa sổ; anh
vừa thấy mình nhắc đi nhắc lại mấy từ “ngậm miệng mà chết đi”,
nhắc đi nhắc lại bằng giọng khôi hài, chế giễu như thể muốn nhấn
mạnh tính cách vô lý của nóvậy.
Bây
giờ thì anh hiểu rằng quyết định bác bỏ đề nghị của Ivanov chưa
phải là quyết định tối hậu như lúc đầu anh nghĩ. Anh bỗng tự hỏi
không biết đã bao giờ anh thực sự có ý định bác bỏ đề nghị đó và
rút lui mà không nói một lời nào hay chưa.
5.
Cuộc
sống của Rubashov tiếp tục được cải thiện. Buổi sáng ngày thứ
mười một anh được đưa ra sân đi dạo.
Người
giám thị già cùng với người lính từng dẫn anh đi cắt tóc đến ngay
sau bữa sáng. Người giám thị chính thức thông báo rằng từ nay trở
đi mỗi ngày anh được đi dạo hai mươi phút trong sân trại giam.
Rubashov được đưa vào nhóm thứ nhất, tức là nhóm được đi dạo ngay
sau bữa sáng. Sau đó viên giám thị đọc một loạt nội qui: cấm nói
chuyện với người bên cạnh hay với bất kì tù nhân nào khác, cấm
trao đổi bằng cách ra hiệu hoặc trao đổi thông tin bằng bất cứ cách
nào khác, cấm đi ra ngoài hàng; mọi vi phạm đều bị trừng phạt bằng
cách tước quyền đi dạo, vi phạm nghiêm trọng có thể bị biệt giam
trong phòng tối đến bốn tuần. Sau đó Rubashov được đưa ra ngoài hành
lang. Đi được vài bước thì người giám thị dừng lại để mở cửa
buồng 406.
Rubashov,
lúc đó đang đứng cách cửa buồng giam mấy bước, nhìn thấy hai chân
Rip Van Winkle trên cái giường sắt trong buồng giam. Anh ta đi ủng đen,
có cúc và mặc một cái quần kẻ ca rô, phía dưới đã sờn nhưng vẫn
còn bóng như vừa là xong. Người giám thị lại đọc nội qui; hai chân
người tù từ từ đặt xuống đất và một người đàn ông già nua, nhỏ
thó xuất hiện trong khung cửa, mắt chớp chớp liên tục vì bị chói.
Râu ria bạch phếch đã lâu không cạo, bên trong áo com lê còn có một
chiếc gi lê màu đen nữa. Anh ta đứng thêm vài giây trong khung cửa,
tò mò nhìn Rubashov và khẽ gật đầu cúi chào rồi cả bốn người
tiếp tục bước. Rubashov vẫn nghĩ rằng anh ta là người thần kinh,
nhưng hoá ra không phải như thế. Mặc dù đôi lông mày cứ co giật
suốt, có thể là do bị giam trong phòng tối nhiều năm, nhưng Rip Van
Winkle lại có đôi mắt sáng và thân thiện ngây thơ như trẻ con. Anh
ta bước những bước ngắn nhưng dứt khoát, thỉnh thoảng lại đưa mắt
liếc nhìn Rubashov. Khi đi xuống thang gác, anh ta bị trượt chân, nếu
không được người lính đỡ thì đã bị ngã rồi. Rip Van Winkle lẩm
bẩm cái gì đó, vì ở xa Rubashov không nghe rõ, nhưng chắc chắn là
mấy lời cám ơn vì thấy anh lính gác mỉm cười ngượng ngịu. Chẳng
bao lâu sau họ đã ra đến ngoài sân, những người tù khác đã đứng
thành hàng đôi. Từ giữa sân,
nơi
những người lính đang đứng, vang lên hai tiếng huýt gió ngắn, tù
nhân bắt đầu cất bước.
Da
trời màu xanh nhạt, không một gơn mây, tiếng tuyết lạnh vỡ lạo xạo
dưới chân. Rubashov quên không mang theo chăn, chẳng mấy chốc anh đã
run lên cầm cập. Rip Van Winkle choàng lên người một cái chăn cũ mà
người giám thị đã đưa cho anh lúc họ bước ra sân. Anh ta vẫn yên lặng
bước những bước ngắn nhưng dứt khoát bên cạnh Rubashov, thỉnh
thoảng lại ngước nhìn bầu trời xanh nhạt ở trên đầu, cái chăn xám
phủ trùm đến tận đầu gối, trông anh ta giống như một cái chuông.
Rubashov nhìn vào cửa sổ buồng mình, nó cũng bẩn và tối như tất
cả các cửa sổ khác, chẳng nhìn thấy gì bên trong. Cửa sổ buồng 402
cũng thế, chỉ có một khoảng hình vuông đen ngòm với mấy thanh sắt
ngang dọc mà thôi. 402 không được đi dạo, không được đưa đi cắt
tóc, cũng không được đưa đi gặp điều tra viên, Rubashov chưa bao giờ
nghe thấy anh ta đi ra ngoài.
Tù
nhân bước đi một cách chậm chạp, yên lặng xung quanh sân. Môi Rip
Van Winkle cứ mấp máy suốt, đầu tiên Rubashov không hiểu ông ta nói
gì, nhưng sau đó thì anh nhận ra rằng đấy là nhạc điệu bài “Vùng
lên hỡi các nô lệ ở thế gian”. Không, Rip Van Winkle không phải là
người thần kinh, nhưng chắc chắn bảy ngàn ngày đêm trong ngục tối
đã biến ông thành một người hơi kì quặc. Rubashov đưa mắt ngắm
nhìn người bạn đồng hành và cố gắng hình dung trong đầu hoàn cảnh
của một người bị cách ly với thế giới suốt hai mươi năm ròng. Hai
mươi năm trước ô tô còn là của hiếm, radio thì chưa có, các nhà
chính trị hiện nay lúc đó còn là những kẻ vô danh tiểu tốt cả. Hai
mươi năm trước không ai có thể tiên đoán được những phong trào
quần chúng mới, những thắng lợi long trời lở đất, những con đường
quanh co, những giai đoạn thăng trầm mà nhà nước Cách mạng phải
trải qua; lúc đó tất cả mọi người đều tin rằng cánh cổng của
Thiên Đường trên trái đất đã rộng mở và loài người đang đứng
trước ngưỡng cửa của nó...
Rubashov
nhận ra rằng dù có nhiều kinh nghiệm trong việc “suy xét bằng quan
điểm của người khác” đến đâu anh cũng không thể nào hiểu được
tình cảm của Rip Van Winkle. Không cần vận dụng nhiều trí lực anh
cũng có thể hiểu được Ivanov hay Anh Cả, thậm chí ngay anh chàng sĩ
quan đeo kính một tròng ở buồng bên cạnh, nhưng Rip Van Winkle thì anh
chịu thua. Rubashov liếc nhìn người bạn đồng hành đúng lúc ông ta
quay đầu lại, hai tay ông ta giữ chặt cái chăn quàng xung quanh vai,
bước từng bước ngắn, mồm vẫn lẩm bẩm điệu nhạc “Vùng lên hỡi
các nô lệ ở thế gian”.
Khi
được dẫn trở về đến cửa buồng giam, lão giã quay lại và gật đầu
chào Rubashov. Một sự thay đổi chợt loé lên trong ánh mắt người tù
già: hoảng hốt và tuyệt vọng, Rubashov nghĩ rằng ông ta sẽ hét lên,
nhưng người giám ngục đã đóng sập ngay cửa buồng 406 lại rồi. Sau
khi vào buồng Rubashov vội vàng gõ vào tường, nhưng Rip Van Winkle
không gõ, thậm chí không trả lời.
Trong
khi đó 402, anh ta đã nhìn qua cửa sổ và thấy Rubashov đi dạo, lại
rất muốn biết cảnh đi dạo, càng cụ thể càng tốt. Rubashov phải kể
cho anh ta nghe, nào là không khí ra làm sao, có lạnh lắm không, gặp
những ai ngoài hành lang, có nói được với Rip Van Winkle câu nào
không. Anh kiên nhẫn trả lời tất cả các câu hỏi, so với 402, người
không bao giờ được đi ra ngoài thì anh dù sao cũng là người may
mắn; anh thấy thương 402 và cảm thấy như mình là người có lỗi vậy.
Ngày
hôm sau và hôm sau nữa Rubashov đều được dẫn đi dạo ngay sau bữa ăn
sáng. Rip Van Winkle đi cùng với anh trong cả ba ngày liên tiếp. Họ đi
sát bên nhau, chăn quấn quanh vai, không ai nói một lời nào; Rubashov
mải suy nghĩ, thỉnh thoảng mới ngước mắt nhìn những bạn tù hay các
ô cửa sổ nhà tù; còn người tù già, râu ria tua tủa với nụ cười
ngây thơ, thì vẫn thì thầm hát mãi bài ca muôn thuở.
Đến
tận ngày thứ ba họ vẫn không nói với nhau một câu nào, mặc dù
Rubashov nhận thấy rằng bảo vệ gần như không quan tâm đến việc tuân
thủ nội qui và các cặp khác vẫn nói chuyện gần như không ngớt miệng,
họ nói mà mắt vẫn nhìn về phía trước, môi chỉ khẽ mấp máy, đấy
có thể coi là kỹ thuật trao đổi trong tù mà Rubashov đã quen.
Lần
thứ ba Rubashov có mang theo một cuốn vở và cái bút chì, cuốn vở
thò cả ra ngoài túi áo bên trái. Sau khoảng mươi phút thì người
tù già nhìn thấy cuốn vở, mắt ông ta sáng lên. Ông ta liếc nhìn
mấy người lính đứng giữa sân, họ đang mải nói chuyện và có vẻ
như cũng chẳng để ý gì đến đám tù nhân, và rút ngay bút giấy
khỏi túi Rubashov rồi lập tức lấy cái chăn trùm lên để viết gì
đó. Một lúc sau thì thấy ông ta xé tờ giấy, gập lại và đưa cho
Rubashov còn bút và vở thì vẫn giữ lại để viết tiếp. Sau khi chắc
chắn là bảo vệ không chú ý, Rubashov mới giở tờ giấy ra. Không một
chữ nào, chỉ có một tấm bản đồ được vẽ khá chính xác. Có đủ
các thành phố chính, núi và sông, và ngọn cờ với biểu tượng của
Cách mạng tung bay.
Khi
họ đi được nửa vòng thì người tù già lại ấn một tờ giấy nữa
vào tay Rubashov. Vẫn là tấm bản đồ ấy, tấm bản đồ của Đất nước
Cách mạng. 406 nhìn Rubashov, miệng mỉm cười có ý chờ đợi. Cảm
thấy lúng túng, Rubashov bảo rằng vẽ rất khéo. Người tù già vừa
nháy mắt vừa nói:
“Nhắm mắt tôi cũng vẽ được.”
Rubashov
im lặng gật đầu.
“Anh
không tin”, người tù già vừa nói vừa khẽ mỉm cười, “nhưng tôi đã
luyện tập trong suốt hai mươi năm đấy.”
Sau
khi liếc nhìn mấy người lính gác, 406 nhắm mắt lại và chân tiếp
tục bước còn tay thì vẽ trên một tờ giấy mới bên trong tấm chăn
khoác quanh người như một cái chuông. Ông ta đi, mắt nhắm nghiền,
cằm hơi vểnh lên như một người mù thực sự. Rubashov lo lắng nhìn
mấy người lính, chỉ sợ người bạn tù sẽ vấp hoặc ngã ra ngoài
hàng. Nhưng chỉ đi được nửa vòng ông ta đã vẽ xong, đường nét
không được rõ bằng hai cái trước nhưng độ chính xác thì không
khác gì, chỉ có biểu tượng trên lá cờ là to quá khổ mà thôi.
“Anh
thấy chưa?”, 406 thì thầm, miệng cười thật tươi. Rubashov gật đầu.
Người tù già bỗng trở nên buồn hẳn, ông ta sợ. Hôm qua, lúc bị
đưa vào buồng giam Rubashov đã nhận thấy như thế.
“Làm
thế nào được”, người tù già thì thào. “Tôi đi nhầm tàu.”
“Ý
ông là sao”, Rubashov hỏi.
“Tôi
lên nhầm tàu ngay hôm ra tù. Họ nghĩ rằng tôi không nhận ra. Đừng
nói với ai là tôi biết đấy nhé”, ông ta vừa thì thầm vừa đưa mắt
về phía mấy người lính gác.
Rubashov
gật đầu. Tiếng còi báo hiệu hết giờ vang lên ngay sau đó.
Trong
khi bước qua cổng chính để vào nhà, người tù già bỗng hỏi một
cách chân thành:
“Anh
cũng lên nhầm tàu phải không?”
Rubashov
gật đầu.
“Đừng
đánh mất niềm tin. Nhất định chúng ta sẽ đi đến đó”, Rip Van Winkle
vừa nói vừa chỉ tay vào tấm bản đồ cuộn tròn trong lòng bàn tay
Rubashov.
Rồi
ông ta nhét cuốn vở và cây bút chì vào túi Rubashov. Vừa bước lên
bậc tam cấp ông ta đã lại thì thầm giai điệu của bài hát quen thuộc
rồi.
6.
Chỉ
còn một đêm nữa là thời hạn hai tuần do Ivanov đưa ra sẽ kết thúc,
khi ăn tối Rubashov bỗng cảm thấy bồn chồn. Anh cũng không biết tại
làm sao, thức ăn vẫn như cũ, phát cũng đúng giờ, thế mà anh vẫn
thấy căng thẳng làm sao ấy. Có thể là một người tạp vụ đã nhìn
anh lâu hơn mọi khi, mà cũng có thể là giọng nói của người giám
thị già trầm hơn mọi hôm cũng nên. Rubashov không biết tại sao,
nhưng anh không thể nào ghi chép được, anh cảm thấy căng thẳng, y
như người bị bệnh tê thấp trước cơn dông vậy.
Sau
giờ đi ngủ anh vẫn còn ghé mắt vào lỗ nhòm để nhìn ra hành lang; điện
yếu, ánh sáng vàng vọt, nhợt nhạt, có cảm giác như ở đây chưa bao
giờ lại vắng lặng và lạnh lùng đến thế. Rubashov hết nằm xuống rồi
lại ngồi lên, cố ép mình viết thêm vài dòng, vừa tắt điếu thuốc
này lại đốt thêm ngay điếu khác. Rồi anh đến bên cửa sổ để nhìn ra
sân: bắt đầu ấm lên, tuyết xốp và hơi xỉn, trời đầy mây, người
lính gác đeo súng vẫn đang đi tuần như mọi khi. Rồi anh lại ghé mắt
vào lỗ nhòm để quan sát hành lang: im lặng, không một bóng người,
ánh điện vàng vọt. Tuy đã muộn và trái với thói quen không nói chuyện
ban đêm, hôm nay anh lại muốn rủ 402 tâm sự.
NGỦ
CHƯA? anh bắt đầu gõ.
402
không trả lời ngay. “Ngủ rồi”, Rubashov buồn bã tự nhủ. Nhưng sau đó
có tiếng gõ đáp lại, nhỏ và chậm hơn mọi khi.
CHƯA.
ANH THẤY GÌ KHÔNG?
THẤY
GÌ LÀ SAO? Rubashov hỏi. Anh bỗng thấy khó thở, lúc đó anh nằm trên
giường và gõ bằng gờ cái kính cận.
402
lưỡng lự giây lát. Sau đó anh gõ rất khẽ, như thể nói thầm vậy.
ANH
NÊN NGỦ ĐI THÌ TỐT HƠN...
Rubashov
cảm thấy ngượng vì phải nghe 402 nói với giọng an ủi như thế. Anh
nằm ngửa ra và chăm chú nhìn cái kính. Sự yên lặng nặng nề đến
nỗi nghe như có những tiếng ù ù sôi réo trong màng nhĩ. Tiếng gõ đột
ngột vang lên:
VUI
QUÁ, ANH THẤY NGAY MÀ.
THẤY
CÁI GÌ? Rubashov lại hỏi và vội vàng ngồi dậy.
Có
vẻ như 402 còn đang nghĩ. Sau vài phút lưỡng lự, anh ta đáp:
ĐÊM
NAY SẼ QUYẾT PHÁI ĐỐI LẬP...
Rubashov
đã hiểu. Anh ngồi dựa lưng vào tường, có ý chờ đợi. Nhưng 402
không nói gì thêm. Một lúc sau Rubashov mới gõ:
TỬ
HÌNH À?
ĐÚNG,
402 đáp một cách ngắn gọn.
LÀM
SAO ANH BIẾT, Rubashov hỏi.
MÔI
THỎ NÓI.
BAO
GIỜ? KHÔNG BIẾT, và sau một lúc im lặng, 402 gõ tiếp: SẮP RỒI. AI,
BIẾT KHÔNG? Rubashov lại hỏi
KHÔNG,
402 trả lời và sau một lúc lại gõ thêm: LỆCH LẠC VỀ CHÍNH TRỊ,
NHƯ ANH.
Rubashov
lại nằm xuống giường. Một lúc sau anh mới đeo kính lên, anh cứ nằm
yên như thế, một tay đặt dưới gáy. Xung quanh lặng ngắt như tờ.
Anh
chưa chứng kiến vụ hành quyết nào, ngoại trừ vụ hành quyết suýt
diễn ra với chính mình, nhưng đấy là từ thời Nội chiến cơ. Anh
cũng không thể tưởng tượng thời bình, khi mọi thứ đều theo kế
hoạch, thì chuyện đó sẽ diễn ra như thế nào. Anh đã loáng thoáng
nghe nói rằng việc hành quyết thường được tiến hành vào ban đêm,
dưới tầng hầm, tội nhân bị bắn vào gáy, nhưng cụ thể thế nào
thì không biết. Đối với Đảng, chết không phải là điều kỳ diệu,
không có gì thơ mộng trong đó cả. Nó là một nhân tố quan trọng đã
được bàn đến trong lĩnh vực lý luận và hoàn toàn mang tính chất
trừu tượng. Từ “chết” cũng ít khi được nói tới, từ “hành quyết”
cũng vậy, trong Đảng hay sử dụng thuật ngữ “loại bỏ”. Khái niệm này
chỉ gợi cho người ta một ý nghĩ cụ thể, duy nhất: chấm dứt các
hoạt động chính trị. Chết chỉ là khía cạnh kỹ thuật của vấn đề,
không đáng được quan tâm. Rubashov nhìm chằm chằm vào bóng đêm. Vụ
hành quyết đã xong chưa? Hay các tội nhân vẫn còn sống? Anh tháo
giày và cởi tất ra, hai bàn chân trần thò ra khỏi chăn hiện lên mờ
mờ ngay phía cuối giường. Xung quanh tuyệt đối yên lặng, yên lặng một
cách bất bình thường. Không có nghĩa là không có một tiếng động
nào mà là nó đã nuốt hết và bóp nghẹt mọi tiếng động. Yên lặng
phập phồng như tiếng trống ngũ liên. Rubashov nhìn hai bàn chân trần
và khẽ cử động mấy ngón chân. Thật kỳ lạ và khó tin, cứ như thể
hai bàn chân cũng có cuộc sống riêng vậy. Hơn lúc nào hết, bây
giờ anh mới thật sự chú ý đến thân thể mình, anh cảm thấy rõ cái
chăn ấm đang cọ vào ống chân cũng như sức nặng đang đè lên cái
cánh tay đặt làm gối. Việc loại bỏ được tiến hành ở đâu? Anh có
cảm giác là ở bên dưới, dưới chân cái cầu thang gần buồng cắt
tóc. Phảng phất đâu đây mùi da thuộc từ cái thắt lưng và tiếng sột
soạt của bộ quân phục của Gletkin. Hắn ta sẽ nói gì với các nạn
nhân? “Xin mời quay mặt vào tường?” Có từ “xin mời” không? Hay hắn
ta sẽ nói: “Đừng sợ. Không kịp đau đâu...” Cũng có thể hắn sẽ bắn
mà không báo trước gì hết, bắn từ phía sau, khi đang đi, nhưng nhất
định nạn nhân sẽ thường xuyên ngoái đầu lại chứ? Hay hắn sẽ làm
như ông bác sĩ chữa răng, tức là giấu khẩu súng lục trong ống tay
áo? Có người làm chứng không? Nạn nhân sẽ ngã về đằng trước hay
về đằng sau? Nạn nhân có kêu không? Có thể phải bắn đến phát thứ
hai không?
Rubashov
châm thuốc hút và đưa mắt nhìn hai bàn chân. Xung quanh im lặng đến
nỗi có thể nghe thấy cả tiếng giấy quấn thuốc lá cháy. Anh hít một
hơi thật sâu rồi vứt điếu thuốc đi. Nhảm nhí, anh tự nhủ. Thực ra,
không bao giờ anh tin vào khía cạnh kỹ thuật của việc “loại bỏ”.
Chết là một khái niệm trừu tượng, nhất là cái chết của chính
mình. Có thể, ở dưới kia mọi sự đã kết thúc rồi, quá khứ chẳng
còn ý nghĩa gì nữa. Trời tối đen như mực, xung quanh không một
tiếng động, 402 cũng không gõ.
Anh
chỉ mong có một người nào đó thét lên để phá vỡ sự im lặng nặng
nề bất thường này. Anh khịt mũi và chợt nhận thấy mùi nước hoa
của Arlova. Ngay cả thuốc lá cũng có mùi đặc trưng vì cô thường
để hộp đựng thuốc lá bằng da trong cái túi đựng nước hoa và son
môi cho nên thuốc cũng có mùi nước hoa... Im ắng quá, chỉ mỗi lần
trở mình mới nghe thấy tiếng cót két.
Rubashov
đã định đứng dậy để châm một điếu thuốc nữa thì nghe có tiếng gõ
vào tường.
HỌ
ĐẾN ĐẤY, tiếng gõ bảo anh như thế.
Rubashov
dỏng tai lên nghe ngóng. Nhưng chỉ có tiếng mạch máu gõ nhịp trên
thái dương mà thôi. Anh ngồi thu mình chờ đợi. Còn yên ắng hơn
nữa. Anh bỏ kính ra và bắt đầu gõ:
CHẲNG
THẤY GÌ CẢ.
Một
lúc sau vẫn không thấy 402 trả lời. Rồi đột nhiên anh ta gõ, to và
rõ ràng từng tiếng một:
SỐ
380. TRUYỀN TIẾP ĐI.
Rubashov
ngồi phịch xuống giường. Tin tức đã được những người bạn tù của
380 truyền qua mười một buồng giam. Những người tù từ buồng 380 đến
buồng 402 đã truyền tin tức cho nhau, qua màn đêm và sự im lặng. Bất
lực, bị giam trong bốn bức tường, họ chỉ có thể bày tỏ tình đoàn
kết bằng cách đó. Rubashov nhảy khỏi giường và cứ đi chân trần như
thế sang phía bức tường đối diện. Anh đứng cạnh cái thùng gỗ và vội
vã báo tin cho 406:
CHÚ
Ý. 308 SẼ BỊ BẮN. TRUYỀN TIẾP ĐI. Anh lại dỏng tai lên nghe. Thối
quá, mùi bốc lên từ cái thùng gỗ lập tức đánh bật mùi nước hoa
của Arlova. Không thấy 406 trả lời. Rubashov vội vàng nhảy lên
giường. Lần này anh gập mấy ngón tay lại để gõ chứ không dùng
gọng kính nữa.
380
TÊN LÀ GÌ?
Không
có tiếng đáp. Rubashov cho rằng, giống như anh, 402 cũng đang chạy qua
chạy lại như con thoi giữa hai bức tường trong buồng giam. Chắc chắn
là trong mười một buồng giam kia những người tù chân trần cũng đang
chạy qua chạy lại. Đấy, 402 đã quay lại rồi, anh ta thông báo:
CHÚNG
ĐANG ĐỌC BẢN ÁN. TRUYỀN TIẾP ĐI. Rubashov nhắc lại câu hỏi:
TÊN
LÀ GÌ?
Nhưng
402 vẫn không trả lời, có lẽ anh ta đã chạy sang bên kia rồi.
Rubashov nghĩ rằng truyền tin cho Rip Van Winkle là việc vô bổ nhưng
anh vẫn chuyển sang đứng cạnh cái thùng gỗ và gõ, trách nhiệm giữ
cho bản tin không bị ngắt quãng đã buộc anh phải làm như thế. Mùi
xú uế làm anh suýt bị nôn. Rồi anh nhảy lên giường và đợi. Bên
ngoài vẫn yên ắng như cũ. 402 lại gõ:
ANH
TA KÊU CỨU.
ANH
TA KÊU CỨU, Rubashov báo tin cho 406. Anh lại dỏng tai lên nghe ngóng.
Không thấy gì. Rubashov sợ rằng nhất định anh sẽ bị nôn nếu còn
phải đứng cạnh cái thùng gỗ một lần nữa.
CHÚNG
LÔI ĐI. ANH TA VỪA KÊU GÀO VỪA GIÃY TRUYỀN TIẾP ĐI, 402 thông báo.
TÊN
LÀ GÌ? Rubashov vội vàng gõ, trước cả khi 402 kết thúc. Lần này
thì có câu trả lời:
BOGROV.
ĐỐI LẬP. TRUYỀN TIẾP ĐI.
Hai
chân Rubashov như trùng hẳn xuống. Anh dựa vào tường và thông báo
cho 406:
MICHAEL
BOGROV, CỰU LÍNH THUỶ CHIẾN HẠM POTEMKIN, CHỈ HUY HẠM ĐỘI BIỂN ĐÔNG,
HUÂN CHƯƠNG CÁCH MẠNG HẠNG NHẤT, BỊ ĐƯA ĐI HÀNH QUYẾT.
Rubashov
nôn ngay vào cái thùng gỗ. Anh đứng thẳng người lên và lấy tay lau
trán và kết thúc đoạn thông báo bằng câu:
TRUYỀN
TIẾP ĐI.
Đã
lâu không gặp Bogrov, nhưng về đại thể thì Rubashov còn nhớ, đấy là
một người cực kỳ cao to, hơi thô, tay dài gần đến gối, khuôn mặt rộng,
lấm chấm tàn nhang, mũi hơi xếch. Họ cùng bị đi đày sau cuộc cách
mạng năm 1905; Rubashov dạy anh ta đọc, viết và những vấn đề cơ bản
nhất về lịch sử và cách mạng; từ đó trở đi dù ở đâu thì năm nào
Rubashov vũng nhận được hai lá thư của của Bogrov, mà bao giờ cũng
kết thúc bằng câu: “Người đồng chí mãi mãi chân thành, Bogrov”.
ĐANG
ĐẾN ĐẤY, 402 gõ vội vàng và to đến nỗi Rubashov, lúc đó đang đứng
gục đầu vào tường ngay bên cạnh cái thùng gỗ, tức là ở phía bên
kia buồng giam, cũng nghe thấy.
ĐỨNG
VÀO CẠNH LỖ NHÒM. ĐÁ VÀO CỬA, TRUYỀN TIẾP ĐI. Rubashov đứng như
trời trồng. Anh thông báo cho 406: ĐỨNG VÀO CẠNH LỖ NHÒM. ĐÁ VÀO
CỬA, TRUYỀN TIẾP ĐI. Anh lần ra phía cửa và lại dỏng tai lên nghe
ngóng. Ngoài hành lang vẫn vắng ngắt như tờ.
Vừa
lúc đó lại thấy 402 thông báo:
BẮT
ĐẦU.
Một
loạt tiếng động bùng bùng, ùng ục, như tiếng trống bị nén lại,
truyền khắp hành lang bên ngoài. Đấy không phải là những tiếng gõ
hay tiếng đập rời rạc: những người tù từ buồng 380 đến buồng 402
đứng sau cánh cửa như những người lính trong đội vệ binh danh dự
đang tạo ra một chuỗi âm thanh giống như tiếng trống trận vừa trang
trọng vừa như bị tắc nghẹn được gió đưa từ xa lại. Rubashov ghé
sát mắt vào lỗ nhòm và lấy cả hai tay đập vào cái cánh cửa sắt nặng
nề của buồng giam. Anh vô cùng ngạc nhiên khi thấy buồng 406 và
những buồng tiếp theo cũng có tiếng đập, chắc là Rip Van Winkle đã
hiểu và cũng bắt đầu đấm vào cánh cửa. Rồi anh nghe thấy tiếng mở
và đóng cửa, chắc chắn là ở phía bên trái, nhưng anh không thể
nhìn thấy cụ thể là buồng nào. Âm thanh ở phía bên trái có vẻ to
hơn trước, Rubashov cho rằng người ta vừa mở cửa ngăn khu biệt giam
với các khu khác. Lại nghe thấy tiếng đóng cửa sắt, rồi tiếng chân
bước và tiếng loạt xoạt như người ta đang kéo vật gì đó trên nền
gạch. Tiếng đập cửa ở phía bên trái càng dồn dập, tuôn trào không
ngớt, như những đợt sóng, ngày càng mạnh hơn. Khoảng cách từ buồng
401 đến buồng 407 vẫn không có gì, Rubashov không nhìn được xa hơn.
Tiếng bước chân và tiếng loạt xoạt càng rõ hơn, bây giờ anh còn
nghe thấy cả tiếng rên rỉ và tiếng khóc thút thít như của trẻ con
nữa. Chân bước càng nhanh hơn, tiếng đập cửa phía bên trái nhỏ
dần, trong khi phía bên phải lại to lên.
Rubashov
liên tục đập hai tay vào cánh cửa. Không còn cảm giác không gian và
thời gian, chỉ còn nghe thấy tiếng ầm ầm như tiếng rú của rừng xanh
hay như những con khỉ đột bị nhốt thỉnh thoảng lại đưa tay đấm vào
ngực rồi đấm vào cũi sắt. Anh dán mắt vào lỗ nhòm, vẫn chỉ thấy
ánh đèn vàng nhợt nhạt; không có gì ngoài mấy cái cánh cửa sắt
từ buồng 401 đến 407; nhưng tiếng đập, tiếng loạt xoạt, tiếng thút
thít cũng ngày một to lên. Bất thình lình có ba bóng người hiện
lên ngay trong tầm nhìn của Rubashov. Anh ngừng tay và căng mắt ra
nhìn. Chỉ vài giây sau họ đã đi khuất hẳn.
Nhưng
cảnh tượng anh vừa nhìn thấy thì không thể nào quên được. Đấy là
hai người mặc quân phục, cao to, bước đi vội vã, ở giữa là một người
bị xốc nách kéo đi theo. Người bị xốc nách trông cứng đơ như một
hình nhân, mặt úp xuống dưới, bụng làm thành một hình vòng cung,
hai chân duỗi thẳng, mũi giày miết xuống nền gạch tạo ra những
tiếng lạo xạo có thể nghe thấy từ khá xa. Mấy lọn tóc màu xám,
ướt đẫm mồ hôi buông phất phơ hai bên má, miệng mở rộng, dãi sều
ra bám ướt hai bên cằm. Khi họ đã đi khuất, tiếng rên rỉ, thút
thít cứ nhỏ dần rồi trở thành như một tiếng vọng từ xa với ba
nguyên âm “u – a – o”. Nhưng trước khi họ bước qua chỗ rẽ gần buồng
cắt tóc thì Bogrov bỗng thét thật to hai lần, lần này Rubashov nghe
thấy trọn vẹn, rõ ràng cả một từ: Ru–ba–shov.
Tất
cả lại chìm vào yên lặng. Đèn vẫn sáng như cũ, hành lang vẫn vắng
như cũ. Chỉ có nghe thấy tiếng 406 gõ:
VÙN
LÊN, HỠI CÁC NÔ LỆ Ở THẾ GIAN. Rubashov đã nằm ở trên giường lúc
nào không hay. Trong tai vẫn còn nghe thấy tiếng ù ù như trống trận,
xung quanh đã hoàn toàn yên lặng. 402 chắc đã ngủ. Bogrov chắc đã
chết rồi.
“Rubashov,
Rubashov...” Hai tiếng kêu cuối cùng của Bogrov như vẫn còn văng vẳng
bên tai. Hình ảnh thì không được rõ ràng như thế. Thật khó tưởng
tượng cái hình nhân với khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi, đôi chân cứng
đờ, kéo lê trên nền gạch lại có thể là Bogrov. Chỉ lúc này anh
mới nhớ ra lá tóc Bogrov đã bạc. Chúng đã làm gì với Bogrov? Chúng
đã làm gì với người lính thuỷ kiên cường này để đến nỗi anh ta
phải khóc thút thít như một đứa trẻ như thế? Arlova có khóc thút
thít như thế khi bị kéo đi hay không?
Rubashov
vùng dậy và gục đầu vào bức tường ngăn với buồng 402. Anh sợ sẽ
lại bị nôn. Anh chưa bao giờ tưởng tượng cảnh hành hình Arlova cụ
thể đến thế. Đối với anh, chết luôn luôn là một khái niệm trừu
tượng, mặc dù mỗi lần nghĩ đến nó anh đều có cảm giác bất an song
chưa bao giờ anh nghi ngờ vào tính hữu lý của mình. Nhưng lúc này,
cùng với cơn buồn nôn dâng lên trong cổ và những giọt mồ hôi lấm
tấm trên trán, anh chợt cảm thấy rằng đấy là cách nghĩ điên rồ.
Tiếng thút thít của Bogrov đã làm lệch cán cân. Cho đến hôm nay
Arlova chỉ là một nhân tố, một nhân tố rất nhỏ, để giải phương
trình thì phải bỏ qua. Không còn phương trình nữa. Hình ảnh Arlova
kéo lê hai bàn chân đi giày cao gót dọc theo hành lang đã phá vỡ sự
cân bằng toán học. Cái tác nhân vô nghĩa bỗng trở nên quan trọng,
tuyệt đối quan trọng; tiếng thút thít và tiếng kêu xé lòng của Bogrov
lúc gọi tên anh, tiếng của hàng chục bàn tay đập vào cánh cửa còn
vang bên tai đã nhấn chìm giọng nói của lý trí, như sóng biển nhấn
chìm tiếng kêu cứu của một kẻ chết trôi.
Kiệt
sức, Rubashov cứ ngồi thế mà thiếp đi, đầu dựa vào tường, kính vẫn
còn lủng lẳng trước đôi mắt đã nhắm nghiền.
7.
Rubashov
ú ớ nói mơ, đấy là giấc mơ về vụ bắt giữ thứ nhất, bàn tay bỏ
thõng ra ngoài giường đang cố tìm cái ống tay áo, anh chờ đợi một
cú đấm vào mang tai nhưng không thấy
Anh
tỉnh giấc vì đèn trong buồng bỗng bật sáng. Có một người đứng sát
ngay bên cạnh giường và đang chăm chú ngắm nhìn. Rubashov mới thiếp
đi được chừng mười lăm phút, nhưng sau những giấc mơ như thế bao
giờ cũng phải một lúc anh mới định thần được. Mắt nheo lại vì
chói, còn đầu óc thì duyệt lại các phương án quen thuộc. Anh đang
bị giam, nhưng không phải tại một đất nước thù nghịch, nghĩa là
vụ bắt giữ chỉ là một giấc mơ. Nghĩa là anh tự do, nhưng bên trên
giường của anh không có hình Anh Cả, còn cạnh bức tường bên kia
lại có một cái thùng gỗ. Ivanov lại đứng bên cạnh và đang phà khói
thuốc lá vào mặt anh. Đấy cũng là mơ sao? Không. Ivanov là thật,
cái thùng gỗ cũng là thật. Anh đang ở giữa quê hương, nhưng quê
hương đã trở thành thù nghịch, còn Ivanov, người bạn cũ của anh,
giờ cũng đã trở thành thù nghịch và tiếng khóc thút thít của
Arlova cũng không phải là mơ. Nhưng không, đấy không phải là Arlova,
đấy là Bogrov, người đồng chí trung thành của anh, dù bị kéo đi như
một hình nhân còn réo gọi tên anh, đấy không phải là mơ. Còn
Arlova từng nói: “Anh muốn làm gì em cũng được...” “Anh ốm à?”,
Ivanov hỏi. Rubashov nheo mắt, chói quá. “Đưa hộ tôi cái áo.” Ivanov
yên lặng quan sát. Má bên trái của Rubashov bị sưng. “Anh có muốn
uống một ly rượu không?”, Ivanov hỏi.
Không
chờ Rubashov trả lời, anh ta đến bên lỗ nhòm và nói gì đó với
người bên ngoài. Rubashov nheo mắt nhìn theo. Anh còn chưa tỉnh ngủ
hẳn. Anh đã thức, nhưng vẫn chưa định thần được.
“Anh
cũng bị bắt rồi à?”, Rubashov hỏi.
“Không”,
Ivanov khẽ đáp. “Tôi đến thăm anh. Tôi nghĩ anh bị sốt.”
“Cho
tôi xin một điếu thuốc”, Rubashov nói. Anh hút một hơi thật dài, đầu
óc đã bắt đầu tỉnh táo trở lại. Anh nằm ngửa ra rồi vừa hút thuốc
vừa nhìn lên trần nhà. Cửa buồng mở, một người giám thị đi vào,
tay mang theo chai rượu và một cái cốc. Không, đây không phải là
lão già mọi khi, tay này còn trẻ, mặc quân phục, gọng kính sáng
loáng. Anh ta chào Ivanov rồi mới đưa rượu, cốc và đi ra, không quên
đóng cửa. Nghe rõ tiếng bước chân anh ta xa dần ngoài hành lang.
Ivanov
ngồi ghé lên giường và rót rượu ra cốc. “Uống đi”, anh ta bảo.
Rubashov dốc cạn ly. Đầu óc sáng láng hẳn: vụ đi tù lần thứ nhất,
rồi lần thứ hai, Arlova, Bogrov, Ivanov, tất cả đã về đúng vị trí,
cả về thời gian lẫn không gian.
“Anh
có bị đau chỗ nào không?”, Ivanov hỏi.
“Không”,
Rubashov đáp. Anh chỉ không hiểu là Ivanov đến đây để làm gì.
“Má
anh sưng to lắm. Có thể là anh bị sốt.”
Rubashov
đứng lên và nhìn vào lỗ nhòm, hành lang vắng ngắt; rồi anh tiếp
tục đi đi lại lại vài vòng cho đến khi định thần hẳn. Anh dừng lại
ngay trước mặt Ivanov, lúc đó vẫn ngồi ở đầu giường và kiên nhẫn
thả những vòng khói trắng.
“Cậu
muốn gì?”, Rubashov hỏi.
“Tôi
muốn thảo luận với anh”, Ivanov bảo. “Nằm xuống đi, rồi làm thêm vài
ly nữa.”
Rubashov
nheo mắt, nhìn Ivanov đầy vẻ giễu cợt.
“Này,
trước đây tôi vẫn cho rằng cậu là người tốt”, Rubashov nói. “Nhưng
bây giờ tôi thấy cậu cũng là thằng chẳng ra gì. Bước ngay.”
Ivanov
vẫn ngồi yên như cũ.
“Tại
sao anh lại nói như thế?”, anh ta bảo.
Rubashov
tựa lưng vào tường ngăn với buồng 406 và nhìn xuống Ivanov, còn anh
ta thì vẫn bình thản nhả khói như cũ.
“Thứ
nhất”, Rubashov nói. “Anh biết tôi thân với Bogrov. Vì vậy mà anh đã
cho lôi Bogrov hay cái xác không hồn của cậu ấy qua cửa buồng tôi
như một lời cảnh cáo. Các anh lại còn bí mật thông báo trước vụ
hành quyết để các tù nhân khác truyền đạt lại cho tôi, chuyện xảy
ra đúng như thế. Người đạo diễn còn làm một việc tuyệt vời hơn,
đấy là báo cho Bogrov biết rằng Rubashov cũng bị nhốt ở đây ngay
trước khi lôi anh ta ra khỏi hành lang, để hi vọng cậu ta sẽ nói ra một
điều gì đó; chuyện cũng đã xảy ra đúng như vậy. Tất cả là nhằm
để gây áp lực cho tôi. Đúng trong những giờ phút đen tối như thế
thì đồng chí Ivanov cắp chai rượu xuất hiện. Tiếp theo sẽ là một cuộc
hoà giải cực kỳ cảm động, hai người sẽ ôm chầm lấy nhau, sẽ ôn
lại những kỷ niệm thời chiến tranh và rồi tôi sẽ ký biên bản thú
nhận. Rồi khi tội nhân ngủ thiếp đi thì đồng chí Ivanov, với lời tự
thú trong túi áo sẽ nhón gót đi ra khỏi phòng và sẽ được thăng
quan tiến chức trong một ngày không xa... Đủ rồi, xin mời đi ra.”
Ivanov
vẫn ngồi bất động. Anh ta nhả khói và mỉm cười, khoe ra cả mấy
chiếc răng vàng lấp lánh.
“Chả
lẽ anh lại nghĩ rằng tôi là kẻ ngốc nghếch như thế hay sao?”, Ivanov
hỏi. “Hay nói đúng hơn, chả lẽ anh cho rằng tôi là người không có
hiểu biết gì về tâm lý học hay sao?”
“Tôi
đã ngấy đến tận cổ trò của các anh rồi”, vừa nói Rubashov vừa nhún
vai. “Tôi không thể tống khứ anh ra khỏi phòng. Nếu còn chút lịch
sự thì xin hãy để tôi yên. Tôi chán ngấy tất cả các anh rồi.”
Ivanov
nhặt cái cốc lên rồi đổ đầy rượu và nốc cạn.
“Tôi
đề nghị thế này”, anh ta nói. “Cho tôi nói năm phút, anh không được
ngắt lời. Anh chú ý nghe thật kỹ những điều tôi sẽ nói sau đây. Nếu
sau đó anh vẫn muốn tôi đi ra thì tôi sẽ đi ngay lập tức.”
“Thôi
được, tôi xin nghe”, Rubashov nói. Anh đứng tựa lưng vào bức tường
trước mặt Ivanov và cố ý làm ra vẻ như đang xem đồng hồ.
“Thứ
nhất, Bogrov đã bị bắn, xin anh chớ có nghi ngờ hay ảo tưởng gì về
chuyện ấy nữa. Thứ hai, anh ta đã bị tù mấy tháng và những ngày
gần đây thì bị tra tấn liên tục. Nếu anh khai chuyện này trước toà
hay nói cho các tù nhân khác biết thì tôi cũng coi như xong đấy. Lý
do của việc xử lý như thế ta sẽ nói sau. Thứ ba, việc anh ta bị dẫn
ngang qua đây cũng như việc cho anh ta biết anh cũng bị giam ở đây là
hoàn toàn có chủ ý. Thứ tư, cái mà anh cho là những trò bẩn thỉu
thì không phải tôi làm mà là Gletkin, anh ta làm việc đó một cách
bí mật, trái với hướng dẫn của tôi.”
Ivanov
ngừng lời. Rubashov vẫn đứng dựa vào tường và không nói gì.
“Tôi
không bao giờ mắc sai lầm như vậy”, Ivanov tiếp tục.
“Không
phải vì tôi tôn trọng tình cảm của anh mà vì tôi có chiến thuật
khác, tôi hiểu tâm lý của anh. Gần đây anh có xu hướng nghĩ về
lương tâm con người và những kiểu tình cảm đại loại như thế.
Ngoài ra, câu chuyện Arlova vẫn còn nguyên đấy. Cho nên cách đối xử
với Bogrov chỉ làm cho anh căng thẳng thêm và thúc đẩy anh suy nghĩ
thêm về khía cạnh đạo đức, chỉ có thằng Gletkin mù tịt về tâm lý
mới làm như thế mà thôi. Chục hôm nay ngày nào thằng ấy cũng lải
nhải với tôi về “biện pháp cứng rắn” đối với anh đấy. Thứ nhất là
vì hắn đã bực vì anh giơ ngay trước mũi hắn mấy cái tất rách,
thứ hai là trước đây hắn thường chỉ tiếp xúc với nông dân
thôi... Hi vọng chuyện Bogrov như vậy là đã rõ. Còn chai rượu, tôi
bảo mang tới vì thấy anh chưa thật hoàn hồn đấy thôi. Tôi đâu có
muốn anh uống say. Người say dễ bị ảnh hưởng bởi những cú sốc tâm
lý, tôi đâu muốn làm chuyện đó với anh. Càng bị sốc thì anh lại
càng chú tâm vào chuyện đức hạnh. Trong khi đó tôi lại muốn anh
tỉnh táo. Tôi muốn anh suy nghĩ một cách thật bình tĩnh hoàn cảnh
của mình. Sau khi suy nghĩ kỹ như thế, tôi tin rằng anh sẽ đầu
hàng...”
Rubashov
khẽ nhún vai. Anh chưa kịp lên tiếng thì Ivanov đã nói thêm:
“Anh
khẳng định rằng sẽ không đầu hàng. Nhưng xin hỏi: Nếu anh tin rằng
đấy là việc làm đúng và cần thiết thì anh có đầu hàng không?”
Rubashov
không trả lời ngay. Anh có cảm tưởng rằng cuộc nói chuyện đang rẽ
sang hướng mà anh không nên theo. Năm phút đã trôi qua mà Ivanov vẫn
chưa bị đuổi ra. Chỉ điều đó thôi cũng chứng tỏ anh đã phản bội
Bogrov, phản bội Arlova, phản bội Richard và Levy Còi rồi.
“Đi
ra đi”, anh bảo với Ivanov. “Không có tác dụng gì đâu.” Lúc đó anh
mới nhận ra là mình đã đi đi lại lại trong phòng, ngay trước mặt
Ivanov, được một lúc rồi.
Ivanov
vẫn ngồi trên giường.
“Bằng
vào giọng nói của anh”, Ivanov bảo, “tôi thấy rằng anh đã công nhận
là tôi không có liên quan gì đến vụ Bogrov hết. Thế thì tại sao anh
lại cứ muốn đuổi tôi? Tại sao anh lại không trả lời câu hỏi của
tôi...?” Anh ta khẽ nhoài người về đằng trước và nhìn vào mặt
Rubashov một cách giễu cợt. Sau đó anh ta nói một cách chậm rãi, cố
ý nhấn mạnh từng từ một: “Vì anh
sợ tôi. Vì cách nghĩ và cách tranh luận của tôi cũng là cách nghĩ,
cách nói của anh, anh biết rõ như thế mà. Đến một lúc nào đó nhất
định anh sẽ kêu to lên rằng: “Hỡi quỉ Satan, hãy lui ra đằng sau ta!”
Rubashov
không đáp. Anh tiếp tục đi lại ngay trước mặt Ivanov. Anh cảm thấy
bất lực, không thể tìm được lý lẽ để tranh cãi với Ivanov. Cái mà
Ivanov gọi là “khía cạnh đạo đức” thì không thể trình bày được
bằng các công thức luận lý, nó là địa hạt của Người Đối Thoại
Không Lời. Nhưng đồng thời về mặt lý trí thì anh lại đồng tình
với Ivanov. Đáng lẽ ra anh không nên tham gia những cuộc thảo luận
như thế này.
“Hỡi
quỉ Satan, hãy lui ra đằng sau ta!”, Ivanov nhắc lại và rót thêm cho
mình một ly rượu nữa. “Ngày xưa người ta bị mê hoặc vì có thân.
Ngày nay thì vì có tâm. Các giá trị đã thay đổi. Nếu tôi mà viết
được một vở kịch trong đó Thiên Chúa và Ác Quỉ tranh cãi với nhau
về tâm hồn của Thánh Rubashov thì tốt quá. Sau một cuộc đời tội
lỗi, anh ta quay sang với Thiên Chúa, với Thiên Đường hai mang là chủ
nghĩa tự do tư sản và bánh mì cho Quân đội Giải phóng. Còn Quỉ sứ
là một kẻ gầy
gò,
sống cuộc đời khổ hạnh, thực dụng. Hắn đọc Machiavelli, Hegel và
Marx; lạnh lùng và tàn nhẫn. Số phận buộc hắn phải làm những điều
mà hắn ghê tởm: giết người để vĩnh viễn loại trừ sự sát sinh, sử
dụng vũ lực để loại bỏ vũ lực, reo rắc khổ đau nhân danh hạnh phúc
của toàn thể loài người, hứng chịu lòng căm thù nhân danh tình
yêu thương nhân loại. Hỡi quỉ Satan, hãy lui ra đằng sau ta! Rubashov
muốn thành một thánh tử đạo. Báo chí tự do đã từng nguyền rủa anh
ta khi sống, lại vội vàng phong thánh cho anh ta sau khi chết. Anh ta đã
tìm ra lương tâm, cái lương tâm nguy hại cho người cách mạng
chẳng khác gì chủ nghĩa nhân đạo và Thiên Đường hai mang. Lương
lâm xơi tái lý trí chẳng khác gì bệnh ung thư ăn thịt cơ thể.
Quỉ sứ đã bị đánh gục, nhưng chớ nghĩ rằng trong cơn điên nó chỉ
nghiến răng và phun lửa mà thôi. Nó là một kẻ gầy gò và khổ
hạnh, nó nhún vai vì đã trông thấy nhiều kẻ đào ngũ, che giấu sự
yếu đuối của mình bằng chủ nghĩa nhân đạo và lương tâm...”
Ivanov
ngừng lời và lại rót thêm một ly nữa. Trong khi đó Rubashov vẫn đi đi
lại lại ngay sát cửa sổ. Một lúc sau anh mới hỏi:
“Vì
sao các anh lại giết Bogrov?”
“Vì
sao à? Vì vấn đề tàu ngầm”, Ivanov nói. “Trọng tải của tàu là vấn
đề cũ, chắc anh cũng biết. Bogrov cho rằng chúng ta phải đóng những
chiếc tàu lớn và có tầm hoạt động xa. Đảng lại nghiêng về phương
án tàu nhỏ, tầm hoạt động ngắn. Số tiền đóng một tàu lớn có thể
đóng được ba tàu nhỏ. Về mặt kỹ thuật thì lý lẽ của hai bên cũng
kẻ tám lạng người nửa cân. Các chuyên gia đưa ra đủ thứ sơ đồ và
công thức để ủng hộ và phản bác, nhưng vấn đề lại nằm ở chỗ
khác. Tàu ngầm lớn là chính sách xâm lược, là xuất khẩu cách
mạng. Còn tàu nhỏ là bảo vệ bờ biển, là tự vệ và trì hoãn cách
mạng thế giới thêm một thời gian nữa. Anh Cả và Đảng ủng hộ quan
điểm sau... Bogrov có nhiều đệ tử trong lực lượng Hải quân và
tướng lĩnh. Gạt Bogrov ra chưa đủ, phải hạ bệ anh ta mới được.
Phiên xử công khai sẽ cho nhân dân thấy rằng kẻ ủng hộ tàu trọng
tải lớn là một tên phá hoại và phản bội. Chúng tôi đã buộc một
số kỹ sư đồng ý khai trước toà những điều chúng tôi cho là cần
thiết. Nhưng Bogrov không chịu hợp tác. Ngay đến những ngày cuối
cùng anh ta vẫn khăng khăng là phải đóng tàu lớn và tiến hành Cách
mạng Thế giới. Anh ta đã lạc hậu đến hai mươi năm. Anh ta không thể
hiểu rằng thời gian đang chống lại chúng ta, rằng châu Âu đang trải
qua giai đoạn thoái trào, rằng phải đợi một làn sóng cách mạng mới.
Không còn cách nào khác, đành phải loại bỏ anh ta bằng con đường
hành chính. Ở địa vị của chúng tôi thì anh cũng phải làm như thế,
đúng không?”
Rubashov
không đáp. Anh dừng lại và đứng tựa lưng vào bức tường ngăn với
buồng 406, ngay bên cạnh cái thùng gỗ. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc.
Anh tháo kính ra, đôi mắt cận thị thâm quầng chăm chú nhìn vào sát
mặt Ivanov.
“Anh
không nghe thấy tiếng khóc lóc, rên rỉ của Bogrov, đúng không?”
Ivanov
lấy điếu thuốc lá hút dở để mồi một điếu mới, chính anh ta cũng
không thể chịu được mùi hôi thối nữa.
“Không”,
Ivanov nói. “Không nghe thấy. Nhưng tôi đã nghe, đã thấy những chuyện
tương tự rồi. Thì đã sao?”
Rubashov
vẫn đứng im. Anh không thể giải thích được. Tiếng nức nở và tiếng
trống ngũ liên bị nén lại như vẫn bập bùng bên tai. Không thể
diễn tả thành lời. Cũng như không
thể
diễn tả thành lời đường cong, hơi ấm của bộ ngực Arlova. Lời nói
chẳng có ích gì. “Ngậm miệng mà chết đi”, người thợ cắt tóc đã
đưa cho anh mảnh giấy viết một câu như thế.
“Thì
đã sao?”, Ivanov nhắc lại. Anh ta duỗi thẳng chân và đợi. Không thấy
Rubashov trả lời, anh ta tiếp tục:
“Nếu
tôi có một chút xíu lòng thương hại đối với anh”, Ivanov nói, “thì
tôi đã để anh yên rồi. Nhưng may là tôi không có. Tôi uống, đôi
khi, như anh biết đấy, tôi còn hút nữa, nhưng lòng thương hại thì
tôi cố gắng tránh. Chỉ cần một chút xíu cái đó thôi là đi đứt
liền. Lương tâm dằn vặt, than thân trách phận là căn bệnh của dân
tộc này. Biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ vĩ đại của chúng ta đã
bị cái độc dược này huỷ hoại. Cho đến tuổi bốn mươi, năm mươi,
họ đều là những nhà cách mạng, thế rồi đùng một cái, mắc phải
cái bả thương hại và thế giới lập tức coi họ là những ông thánh
sống. Anh cũng bị mắc căn bệnh như thế, nhưng lại nghĩ rằng mình
là người đầu tiên, trước nay chưa từng có...” Ivanov nói khá to và
phun ra cả một đám khói thuốc lá. “Hãy thận trọng với những cơn say
như thế. Rượu có thể làm người ta say. Đáng tiếc là rất ít người,
đặc biệt là ít đàn ông biết được rằng sự nhún nhường hay đau khổ
cũng có thể làm người ta say, chẳng khác gì say rượu, giá cũng rẻ
thôi. Tỉnh lại sau cú gây mê và nhận thấy là một bên chân của
mình đã bị cắt tới đầu gối, tôi đã phát cuồng lên vì đau khổ. Anh
có nhớ đã nói với tôi những gì không?”, Ivanov rót thêm một ly nữa
và nốc cạn.
“Quan
điểm của tôi là”, anh ta tiếp tục, “không thể coi thế giới như một
loại nhà chứa của đủ thứ tình cảm ủy mị được. Đấy là điều răn
thứ nhất của chúng ta. Những khái niệm như từ bi, lương tâm, phẫn
nộ, tuyệt vọng, sám hối, chuộc tội đối với chúng ta đều là những
món hàng xa xỉ cả. Ngồi yên một chỗ mà suy tư rồi đưa gáy cho thằng
Gletkin gí súng lục vào là đơn giản hơn cả. Đối với những người
như chúng ta thì từ bỏ bạo lực, sám hối cho lòng thanh thản là hấp
lực to lớn nhất. Các nhà cách mạng vĩ đại nhất, từ Spartacus cho
tới Danton và Dostoievsky, đều bị cái món này nó lôi kéo và trở
thành những kẻ phản bội lý tưởng của mình. Hấp lực của Chúa bao
giờ cũng mạnh mẽ hơn hấp lực của Quỉ. Khi thế giới còn đầy hỗn
loạn như hiện nay thì Chúa phải được coi là chủ nghĩa vô chính
phủ và bất kì sự thoả hiệp nào với lương tâm đều phải coi là
phản bội sự nghiệp chung. Khi cái lương tâm gàn dở lên tiếng thì
hãy bịt tai lại...”
Ivanov
đưa tay ra đằng sau với chai rượu và rót một ly nữa. Khi thấy chai
rượu chỉ còn một nửa, Rubashov tự nhủ: “Mày cũng muốn quên đời đi
đấy chứ”.
“Những
tên tội phạm vĩ đại nhất trong lịch sử”, Ivanov tiếp tục, “không
phải là Nero hay Fouché mà là Gandhi và Tolstoy. Tiếng nói của lương
tâm Gandhi cản trở cuộc đấu tranh giành độc lập của Ấn Độ còn mạnh
hơn cả vũ khí của quân Anh. Tự bán mình lấy ba mươi đồng bạc là
một thương vụ đáng giá, nhưng để cho lương tâm dẫn dắt là phản bội
cả loài người. Lịch sử vốn bất nhân, lịch sử làm gì có tâm.
Muốn làm lịch sử thì không thể nào giữ được đạo lý. Anh cũng như
tôi, chúng ta biết quá rõ rồi còn gì. Anh biết rõ luật chơi như
thế mà hôm nay lại còn nói đến chuyện khóc lóc của Bogrov...”
Ivanov
dốc cạn ly và nói thêm:
“Hay
là lương tâm anh bị cắn rứt vì cô Arlova?”
Rubashov
biết tửu lượng của Ivanov: chưa thấy anh ta say bao giờ, rượu chỉ
có thể làm anh ta có vẻ hùng hồn hơn mà thôi. “Mày còn cần rượu
hơn cả tao”, Rubashov tự nhủ. Anh ngồi lên một chiếc ghế nhỏ ngay
trước mặt Ivanov. Không có gì mới, suốt đời anh đã từng bảo vệ
quan điểm như thế, với những lời lẽ như thế hoặc gần như thế.
Nhưng trước đây tiếng nói của lương tâm mà Ivanov mạt sát chỉ là
một khái niệm trừu tượng, còn nay anh đã nhận thức được rằng
Người Đối Thoại Không Lời chính là một phần của cơ thể mình.
Nhưng liệu những dằn vặt không thực tế như thế của lương tâm có
thể chấp nhận được hay không? Có cần chiến đấu chống lại “độc
dược bí mật” khi chính mình cũng đã bị ngộ độc? Năm ngoái, khi
đưa Arlova đến chỗ chết anh không thể tưởng tượng được cảnh hành
quyết sẽ diễn ra cụ thể như thế nào. Liệu anh có làm khác đi sau
khi đã nắm được một vài khía cạnh hay không? Liệu việc hi sinh
Richard, Arlova hay Levy Còi là đúng hay sai? Việc Richard nói lắp, hay bộ
ngực của Arlova cũng như tiếng kêu khóc của Bogrov thì có liên quan
gì đến việc đúng hay sai của những biện pháp đã được tiến hành?
Rubashov
lại bắt đầu đi bách bộ trong phòng. Anh bỗng nhận ra rằng tất cả
những trải nghiệm từ ngày vào tù mới chỉ là những bước đầu tiên;
rằng anh đã hoàn toàn bế tắc, đã đứng trước ngưỡng cửa cái mà
Ivanov gọi là “nhà chứa siêu hình”, anh hiểu rằng phải suy nghĩ lại
từ đầu. Vấn đề là còn bao nhiêu thời gian? Anh giằng lấy cái cốc
từ tay Ivanov và uống sạch. Ivanov trố mắt ra nhìn.
“Thế
là tốt”, Ivanov nói. “Độc thoại dưới dạng đối thoại thường là rất
hữu ích. Hi vọng rằng tôi đã vào vai kẻ quyến rũ khá đạt. Đáng
tiếc là phía kia lại không chịu lên tiếng. Nhưng không để cho
người ta lôi kéo mình vào một cuộc tranh luận chính là thủ thuật
của hắn ta. Hắn luôn luôn tấn công đúng vào lúc bất ngờ nhất,
đúng lúc con mồi có một mình và rất thích hành hạ khi nạn nhân
ngủ. Các biện pháp của nhà đạo đức học vĩ đại này luôn luôn hiệu
quả và rất vô luân...”
Nhưng
Rubashov đã không còn chú ý nghe nữa. Vừa đi anh vừa nghĩ liệu hôm
nay, nếu Arlova còn sống thì anh có đưa cô vào chỗ chết nữa hay
không. Có cảm tưởng rằng trả lời được câu hỏi này thì anh cũng
sẽ tìm được câu trả lời cho tất cả các vấn đề khác... Anh dừng
lại ngay trước mặt Ivanov và cất tiếng hỏi:
“Anh
có nhớ nhân vật Raskolnikov không?”
Ivanov
mỉm cười giễu cợt:
“Tôi
biết thế nào rồi anh cũng đi đến đây mà. Tội ác và hình phạt....
Anh đã trở thành lẩm cẩm hay định cưa sừng làm nghé thế?”
“Từ
từ. Từ từ”, Rubashov vừa nói vừa hấp tấp bước. “Tất cả chỉ là
những câu chuyện suông, nhưng tôi có cảm giác chúng ta đã tiến gần
đến bản chất vấn đề rồi. Theo tôi nhớ thì vấn đề là cậu sinh viên
Raskolnikov có quyền giết mụ già ấy không? Anh ta còn trẻ lại có
tài, đầy sinh lực; còn mụ ta là một người vô tích sự. Nhưng
phương trình này không thể giải được. Thứ nhất, hoàn cảnh đã buộc
Raskolnikov phải giết một người nữa, đây có thể nói là hậu quả
không thể thấy trước và phi lô–gích của một hành động tưởng như
đơn giản và rất hợp lô–gích. Thứ hai, bài toán không thể giải
được ngay từ đầu vì sau khi hạ sát, Raskolnikov đã nhận ra rằng nếu
lấy con người làm đơn vị tính toán thì hai cộng hai không phải là
bốn...”
“Vì
vậy”, Ivanov nói, “cuốn sách này phải đốt cho bằng hết. Anh hãy nghĩ
xem, nếu chúng ta chấp nhận cái triết lý nhân đạo vớ vẩn này, nếu
chúng ta buộc phải coi mỗi cá nhân đều là bất khả xâm phạm, nếu
chúng ta không được xử lý theo các nguyên tắc số học thì sự thể
sẽ như thế nào? Sự thể sẽ là người chỉ huy trung đoàn sẽ không
thể hi sinh tiểu đội tiền
trạm
cho toàn bộ đơn vị rút lui. Chúng ta sẽ không thể hi sinh mấy anh ngu
đần như Bogrov chẳng hạn, và như thế là các thành phố ven biển của
chúng ta có thể bị phá tan trong vòng một hai năm nữa...”
Rubashov
lắc đầu:
“Các
thí dụ anh đưa ra đều liên quan đến chiến tranh, nghĩa là những tình
huống bất thường cả.”
“Từ
ngày phát minh ra máy hơi nước”, Ivanov đáp, “toàn thế giới đã rơi
vào tình trạng bất bình thường; cách mạng và chiến tranh là những
thí dụ nhãn tiền của tình trạng này. Nhân vật Raskolnikov của anh
là một thằng ngu và một kẻ phạm tội không phải vì hắn đã giết con
mụ già ấy mà vì hắn đã làm như thế vì mục đích cá nhân, ích kỷ
của mình. Qui luật “Mục đích biện minh cho phương tiện” đã và vẫn
là qui luật duy nhất đúng của đạo đức chính trị; tất cả những chuyện
khác chỉ là những điều nói suông, vô ích mà thôi... Nếu giả sử
Raskolnikov thịt con mụ già ấy để gây quĩ ủng hộ các cuộc đình
công hay ủng hộ báo chí bí mật, theo lệnh của Đảng, thì lại là
vấn đề khác, bài toán sẽ giải được và cuốn tiểu thuyết sẽ không
được viết ra nữa, mà đối với nhân loại thì đấy là một may mắn
lớn.”
Rubashov
không đáp. Anh tiếp tục suy nghĩ xem hôm nay, sau những trải nghiệm
vừa qua, anh có thể đưa Arlova vào chỗ chết nữa hay không. Anh không
trả lời được. Về mặt lý luận thì tất cả những điều Ivanov nói
đều đúng, Người Đối Thoại Không Lời vẫn chưa lên tiếng, nhưng
chính hắn đã ngăn chặn, không cho anh tìm ra câu trả lời dứt khoát.
Ngay cả chuyện này, tức là Người Đối Thoại Không Lời không bao giờ
tham gia tranh luận mà chỉ tấn công vào đúng lúc người ta bất lực
nhất, cũng đúng nốt...
“Tôi
không thích sự lẫn lộn khái niệm”, Ivanov tiếp tục. “Chỉ có hai quan
niệm về đạo đức mà thôi, hai quan niệm này hoàn toàn trái ngược
nhau. Đạo đức Công giáo và nhân bản coi mỗi một con người cá nhân
là một thực thể thiêng liêng và khẳng định rằng mạng người là
quí giá, không thể dùng cộng trừ nhân chia để tính toán. Đạo đức
cách mạng lại xuất phát từ nguyên tắc căn bản là quyền lợi của tập
thể, mục đích của xã hội biện minh cho mọi phương tiện, nó không
chỉ cho phép mà còn đòi hỏi từng cá nhân phục tùng tập thể và hi
sinh cho tập thể, nghĩa là có thể trở thành vật hi sinh hay vật thí
nghiệm, nếu cần. Đức hạnh Công giáo cấm đưa người lên bàn mổ mà
không có thuốc gây mê, đạo đức cách mạng không những cho phép mà
còn thường xuyên áp dụng nữa. Những người không tưởng và những
nhà chính trị nghiệp dư vẫn thường tìm cách dung hoà hai quan điểm
này, nhưng trên thực tế thì chúng không thể dung hoà được. Bất cứ
nhà cầm quyền nào, ngay từ những ngày đầu tiên, cũng phải lựa chọn
và bao giờ cũng chọn phương án sau. Từ ngày Công giáo trở thành
quốc đạo, anh có thể tìm ra một nhà nước nào thực sự tuân theo
đạo đức Công giáo không? Không có nước nào như thế cả. Trong
trường hợp cần thiết, mà nhà cầm quyền luôn tìm được những
trường hợp cần thiết như thế, nhà cầm quyền sẽ tuyên bố “tình
trạng khẩn cấp” và cho áp dụng những biện pháp đặc biệt. Từ khi ra
đời, các dân tộc và các giai cấp đã phải đề phòng lẫn nhau và đấy
là lý do làm cho người ta buộc phải để dành lòng nhân ái cho những
thế hệ sau...”
Rubashov
nhìn qua cửa sổ. Một lớp băng mỏng gồ ghề màu vàng nhạt phản
chiếu ánh mặt trời lấp lánh. Người lính gác, súng khoác vai, vẫn
đi đi lại lại dọc bức tường bao quanh nhà giam. Trời không trăng,
nhưng quang đãng. Dải Ngân hà hiện lên mờ mờ bên trên hàng rào
vọng gác.
Rubashov
nhún vai.
“Cứ
cho là”, anh nói, “chủ nghĩa nhân đạo và chính trị, nhân quyền và
sự tiến bộ là những khái niệm không thể dung hoà. Cứ cho là Gandhi
là tai họa của Ấn Độ và cứ cho là trung thực trong việc lựa chọn
phương tiện sẽ làm cho chính trị trở thành bất lực. Tôi đồng ý
với anh như thế. Nhưng hãy xem đạo đức cách mạng đã đưa chúng ta
tới đâu...”
“Được”,
Ivanov đáp. “Tới đâu?”
Rubashov
lấy kính lau vào ống tay áo và nheo đôi mắt cận thị nhìn Ivanov.
“Vào
vũng bùn”, Rubashov nói. “Chúng ta đã dìm đất nước xuống vũng bùn
đầy máu và nước mắt.”
“Có
thể là như thế”, Ivanov nở nụ cười rạng rỡ. “Xin anh hãy nhớ lại
Gracchus[8],
Saint–Just và Công xã Paris. Cách mạng, cho đến nay, đều do những nhà
đạo đức học nghiệp dư tiến hành. Chính niềm tin và tính chất nghiệp
dư đã đưa họ lên đoạn đầu đài. Chúng ta là những người đầu tiên
tiến hành công việc một cách nhất quán...”
“Đúng”,
Rubashov ngắt lời. “Nhất quán đến mức nhân danh việc chia đất đai một
cách công bằng chúng ta đã cố tình để cho khoảng năm triệu nông
dân chết đói trong một năm. Nhất quán đến mức nhân danh việc giải
phóng người lao động khỏi ách bóc lột tư bản chúng ta đã đưa
mười triệu người lên vùng Cực Bắc và Viễn Đông lao động khổ sai
trong những điều kiện không khác gì nô lệ thời cổ đại. Nhất quán
đến mức để giải quyết các khác biệt về quan điểm, dù đấy là về
tàu ngầm hay phân bón, thậm chí đường lối của Đảng ở Đông Dương,
chúng ta chỉ có một biện pháp, đấy là án tử hình. Các kỹ sư của
chúng ta biết rõ rằng sai sót trong tính toán có thể đưa họ vào
nhà đá hoặc lên đoạn đầu đài, còn các cán bộ cấp trên thì sẵn
sàng đưa cấp dưới vào chỗ chết vì họ biết rằng bất kỳ sai sót
nào cũng có thể dẫn họ vào tử lộ; các nhà thơ thì giải quyết
vấn đề phương pháp sáng tác bằng cách báo cáo với cảnh sát mật
vì bên thua bao giờ cũng bị tuyên bố là phản cách mạng, là kẻ thù
của nhân dân. Trong khi hành động một cách nhất quán vì các thế hệ
tương lai, chúng ta đã buộc thế hệ hiện nay chịu đựng những thiếu
thốn khủng khiếp đến nỗi tuổi thọ đã giảm đến một phần tư. Để
bảo vệ đất nước, chúng ta buộc phải đưa ra những biện pháp đặc biệt
và áp dụng luật pháp trong thời kì quá độ mà tất cả các điều
khoản đều trái ngược với mục đích ban đầu của Cách mạng. Mức sống
của dân chúng hiện nay thấp hơn thời kì trước Cách mạng, điều kiện
lao động thì nặng nề hơn, kỷ luật lao động thì chẳng khác gì thời
nô lệ, định mức lao động còn cao hơn cả các nước thuộc địa, trẻ
con mười hai tuổi đã có thể bị kết án tử hình, luật hôn nhân còn
khắt khe hơn cả nước Anh, các lãnh tụ thì được sùng bái chẳng
khác gì các nước độc tài phản động. Báo chí và trường học của
chúng ta suốt ngày cổ vũ cho chủ nghĩa sô–vanh, chủ nghĩa quân phiệt,
chủ nghĩa giáo điều và chính sách ngu dân. Chính phủ có quyền lực
không giới hạn, một quyền lực chưa từng có trong lịch sử. Quyền tự
do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội bị bãi bỏ hoàn toàn,
chẳng cần biết đến Tuyên ngôn Nhân quyền là gì. Chúng ta đã xây
dựng được một bộ máy cảnh sát hùng mạnh với những biện pháp tra
tấn hoàn thiện nhất, mạng lưới chỉ điểm đã thấm vào mọi ngóc
ngách của xã hội. Chúng ta đang lùa đám đông quần chúng đang rên
xiết vào tương lai hạnh phúc mà ngoài chúng ta ra thì chẳng ai biết
đấy là cái gì. Thế hệ hiện nay đã kiệt sức, năng lượng của họ
đã bị phung phí hết trong thời kì Cách mạng rồi, thế hệ hiện nay
đã bị mất hết máu, chẳng còn gì ngoài tiếng rên la, ú ớ, chẳng
là gì ngoài những xác thịt tế thần... Đấy chính là hậu quả của
tính nhất quán của chúng ta. Anh gọi đấy là đạo đức cách mạng. Tôi
có cảm tưởng như là những cuộc thí nghiệm này đã lột da các nạn
nhân rồi để mặc họ đứng trơ khấc ra như thế...”
“Ừ,
thế thì đã sao?”, Ivanov vui vẻ nói. “Chả lẽ anh không thấy đấy là
điều tuyệt vời ư? Đã bao giờ có những sự kiện tuyệt vời như vậy
chưa? Chúng ta đang lột bộ da cũ của nhân loại để khoác cho nó bộ
da mới. Đấy không phải là việc của những kẻ yếu bóng vía, nhưng
đấy là một việc làm đầy hứng khởi. Anh đã biến anh thành một cô
gái lỡ thì từ khi nào thế?”
Rubashov
định nói: “Từ khi nghe thấy Bogrov gọi tên tôi”, nhưng anh nghĩ rằng
đấy là một câu trả lời vô nghĩa. Cho nên anh đáp:
“Xin
tiếp tục với ẩn dụ đó: tôi đã nhìn thấy cái thế hệ bị chúng ta lột
da, nhưng không biết sẽ lấy da mới ở đâu. Tất cả chúng ta đều nghĩ
rằng có thể tiến hành thí nghiệm với lịch sử loài người y như
làm thí nghiệm vật lý vậy. Nhưng sự khác nhau là nhà vật lý có
thể lặp lại thí nghiệm hàng ngàn lần, còn lịch sử thì chỉ có một
lần mà thôi. Có thể đưa Danton và Saint–Just lên đoạn đầu đài một
lần mà thôi, không có lần thứ hai nào nữa. Nếu sau này mới biết
rằng tàu ngầm lớn là đúng thì ta cũng đâu có làm cho Bogrov sống
lại được?”
“Thế
thì đã sao? ”, Ivanov hỏi. “Chả lẽ chúng ta lại bó tay chỉ vì không
thể nào biết trước được kết quả hay sao? Hoá ra mọi hành động đều
là xấu à? Chúng ta đem sinh mệnh của mình ra bảo đảm, không ai có
quyền đòi hỏi hơn. Kẻ thù của chúng ta không được như thế đâu.
Bất kỳ một viên tướng hết hơi nào đó cũng có thể tiến hành thí
nghiệm với hàng ngàn sinh mạng, nếu thất bại thì hắn cũng chỉ bị
cho về vườn là cùng. Bọn phản cách mạng chẳng bao giờ bị lương
tâm giày vò. Sulla[9],
Galliffet[10]
hay Koltschak[11]
chẳng bao giờ đọc Raskolnikov đâu. Chỉ trong hàng ngũ cách mạng mới
có những con gà như anh mà thôi. Kẻ thù của chúng ta sống đơn giản
hơn nhiều...”
Ivanov
nhìn đồng hồ. Đêm gần qua, cửa sổ buồng giam trở nên một màu xám
đục, tờ báo nhét vào chỗ kính vỡ bị gió kéo tuột ra, bay phất
phơ. Phía bên kia, người lính gác vẫn đi đi lại lại, một trăm
bước sang trái rồi lại một trăm bước sang phải.
“Một
người có quá trình phấn đấu như anh”, Ivanov tiếp tục, “mà lại đột
ngột phản đối cuộc thí nghiệm này thì đúng là ngây thơ. Năm nào
chả có hàng triệu người chết một cách vô ích vì dịch bệnh và đủ
thứ tai họa tự nhiên khác. Chúng ta không có quyền hi sinh mấy trăm
ngàn người cho cái thí nghiệm vĩ đại nhất trong lịch sử này hay
sao? Đấy là chưa nói tới số người bị chết vì đói, vì bệnh lao
phổi trong các mỏ than và mỏ thuỷ ngân, trong các đồn điền trồng
lúa và trồng bông đấy. Chẳng ai thèm để ý đến những người như
thế, chẳng ai thèm hỏi vì sao họ chết, nhưng nếu chúng ta bắn chừng
vài trăm người rõ ràng là có hại thì các nhà theo trường phái
nhân đạo chủ nghĩa lập tức gào lên đến sùi bọt mép ra. Đúng là
chúng ta đã loại bỏ và để cho một số nông dân chuyên ăn bám chết
đói. Đây là một cuộc phẫu thuật nhất định phải làm, nhưng trước
cách mạng năm hạn hán nào chả có bao nhiêu người chết, mà chết một
cách vô ích và vô nghĩa nữa chứ. Số người chết vì nạn lụt ở
sông Hoàng Hà bên Trung Quốc cũng phải cả mấy trăm ngàn người một
năm. Thiên nhiên sẵn sàng đưa nhân loại vào những thí nghiệm vô
nghĩa như thế thì tại sao chúng ta lại không có quyền làm thí nghiệm
với chính mình?”
Ivanov
ngừng lại, nhưng Rubashov vẫn không trả lời.
“Anh
đã đọc cuốn sách nào của Hội Bảo vệ Động vật chưa?”, Ivanov hỏi.
“Thật là choáng váng và đứng tim khi đọc đến đoạn một con chó hoang
bị cắt gan mà vẫn vừa rên rỉ vừa liếm tay kẻ đang hành hạ nó. Tôi
thấy kinh tởm và buồn nôn, chẳng khác gì anh đêm qua! Nếu những
người này mà có quyền hành thì chẳng bao giờ có thể chế tạo
được thuốc chủng ngừa bệnh tả, bệnh thương hàn hay bệnh bạch
hầu...”
Ivanov
rót nốt rượu vào cốc và uống cạn. Sau đó anh ta đi đến bên cửa
sổ.
“Sáng
rồi”, Ivanov nói. “Đừng ngang bướng như thế, Rubashov ạ. Những điều
tôi nói đều là kiến thức sơ đẳng, anh đã biết và tôi cũng biết.
Tinh thần anh có bị căng thẳng, nhưng chuyện đó qua rồi.” Anh ta đứng
sát vào Rubashov, tay choàng qua vai, giọng thật nhẹ:
“Thôi,
bây giờ đi ngủ đi, anh bạn vàng của tôi. Thời gian đã hết, phải chế
ra cho được lời tuyên bố của anh. Đừng có nhún vai như thế, tôi
biết là anh đã gần như bị thuyết phục rồi. Anh sẽ ký, đúng không?
Nếu anh từ chối thì đấy sẽ là sự hèn nhát. Mà hèn nhát thì sẽ
đưa người ta đến những khổ ải không thể nào lường trước được.”
Trời
đã rạng sáng, người lính gác vừa quay sang bên phải để vòng trở
lại. Bên trên tháp canh bầu trời hiện lên một màu xám nhạt, phía
đông có những đám mây màu hồng. Một lúc sau Rubashov mới nói “Để
tôi suy nghĩ thêm.”
Sau
khi Ivanov đi ra và cánh cửa đã đóng lại thì anh hiểu rằng mình đã
sắp bị khuất phục. Anh nằm vật ra giường, mệt mỏi nhưng đầu óc
lại rất thanh thản. Đầu óc đúng là trống rỗng, như bị vắt kiệt
hết sức lực, nhưng đồng thời lại nhẹ nhàng, thanh thoát. Trong tâm
trí, tiếng kêu thống thiết của Bogrov đã không còn vang lên một
cách gay gắt như trước nữa. Trung thành với người sống chứ không
phải với người chết, ai có thể coi đấy là phản bội?
Trong
khi Rubashov bình lặng ngủ, răng không đau và không hề mộng mị, thì
Ivanov ghé vào phòng làm việc của Gletkin. Gletkin vẫn mặc đầy đủ lệ
bộ, trước mặt là một chồng hồ sơ. Đã mấy năm nay, tuần nào anh ta
cũng làm việc ba bốn đêm liền. Thấy Ivanov vào Gletkin vội vàng đứng
lên chào theo đúng quân lệnh và đợi chỉ thị.
“Cứ
ngồi, cứ ngồi”, Ivanov nói. “Hôm nay anh ta sẽ ký. Nhưng tôi đã mất
bao nhiêu công sức mới sửa chữa được sai lầm của cậu đấy.”
Gletkin
vẫn đứng nghiêm, không nói nói một câu nào. Ivanov chợt nhớ đến vụ
lên lớp Gletkin trước khi tới buồng Rubashov, anh cũng biết rằng
Gletkin không thể tha thứ chuyện đó một cách dễ dàng như thế. Ivanov
vừa nhún vai vừa hít một hơi thật dài rồi phả khói vào mặt
Gletkin.
“Đừng
giả bộ nữa”, Ivanov lại nói. “Tất cả các vị đều bị tình cảm riêng
tư chi phối. Nếu ở vị trí của hắn thì cậu còn ngoan cố bằng mấy
ấy chứ.”
“Hắn
không có nghị lực bằng tôi”, Gletkin đáp.
“Ngu
thì có”, Ivanov đáp. “Chỉ cần như thế là cậu đã đáng bắn trước
hắn rồi.”
Ivanov
mở cửa và bước nhanh ra ngoài.
Gletkin
ngồi xuống. Hắn không tin là Ivanov đã thành công, nhưng đồng thời
lại thấy sợ. Câu cuối cùng nghe như một lời đe dọa, mà Ivanov là
người nguy hiểm, chẳng bao giờ biết hắn nói thật hay nói đùa. Có
thể chính hắn cũng không biết khi nào mình nói thật, khi nào nói
đùa nữa, bọn trí thức vô liêm sỉ đều như thế cả...
Gletkin
nhún vai, xốc lại dây thắt lưng và áo sơ mi cho chỉnh tề rồi tiếp
tục đọc, chúi mũi xuống chồng tài liệu.

Đợt thẩm vấn thứ ba
“Đôi khi lời nói chỉ
là phương tiện che đậy các sự kiện.
Nhưng không được để
cho ai biết, mà nhỡ họ có biết thì phải tìm cách biện hộ ngay lập
tức.”
Machiavelli
(Hướng dẫn cho Rafaello Girlami)
“Song các ngươi nên
nói: ‘Phải, phải; không, không
Còn quá lời ấy đều bởi
kẻ ác mà ra.”
Tin
lành. Ma-thi-ơ. V.37
1.
Trích
nhật kí Rubashov. Ngày tù thứ mười hai.
“...
VLADIMIR BOGROV đã bị hất ra khỏi cuộc chơi. Một trăm năm mươi năm
trước, vào ngày tấn công ngục Bastille, con lắc lịch sử của châu
Âu, sau bao nhiêu năm nằm im, lại được khởi động. Nó đã hân hoan
vượt ra khỏi nền chuyên chế và lao vun vút lên bầu trời tự do với
một động lực không gì ngăn cản được. Nó tiếp tục chuyển động lên
cao mãi trong lĩnh vực tự do và dân chủ trong suốt một trăm năm.
Nhưng tốc độ chuyển động ngày một giảm dần, con lắc đạt đến đỉnh
điểm và sau vài giây lấy đà, nó bắt đầu đánh ngược lại, quay về
thời kỳ chuyên chế với tốc độ ngày một nhanh hơn, với động lực
cũng mạnh mẽ chẳng khác gì lúc đi lên. Kẻ nào chỉ nhìn lên, không
kịp bám vào nó thì sẽ bị chóng mặt và rơi ra ngoài.
Muốn
không bị chóng mặt thì phải hiểu qui luật chuyển động của con lắc.
Con lắc của lịch sử đung đưa từ chế độ chuyên chế sang chế độ dân
chủ và ngược lại, từ dân chủ trở về với nền độc tài toàn trị.
Quyền
tự do cá nhân phụ thuộc vào mức độ giác ngộ chính trị của quần
chúng. Sự chuyển động của con lắc nói đến bên trên cho ta thấy rằng
chỉ một số cá nhân là theo kịp đà chuyển động của con lắc, còn
quần chúng thì không, sự giác ngộ chính trị của quần chúng tuân
theo những qui luật phức tạp hơn nhiều.
Sự
giác ngộ chính trị của quần chúng phụ thuộc vào khả năng nhận
chân được quyền lợi của chính họ. Để nhận chân quyền lợi của
mình thì họ phải có một số hiểu biết nhất định về quá trình sản
xuất và phân phối. Như vậy nghĩa là quần chúng càng hiểu rõ cấu
trúc và cơ
chế
hoạt động của xã hội thì xã hội càng được tổ chức một cách dân
chủ hơn.
Mỗi
cải tiến về kỹ thuật đều dẫn đến những thay đổi trong hệ thống kinh
tế, tạo ra những tác nhân và những liên kết mới mà quần chúng
không thể nhận thức ngay được. Nhận thức của quần chúng không thể
theo kịp mỗi khi kỹ thuật có những tiến bộ vượt bậc, vì vậy mà
giác ngộ chính trị của họ cũng lạc hậu theo. Phải hàng chục năm,
thậm chí sau nhiều thế hệ thì nhận thức của quần chúng mới dần
dần thích nghi được với những điều kiện kinh tế đã thay đổi, cho
đến lúc ấy trình độ quản lý xã hội vẫn sẽ giữ nguyên như trước
khi có những tiến bộ kỹ thuật vừa nói. Theo đó, mức độ giác ngộ
chính trị của quần chúng không thể được đo đếm bằng một giá trị
tuyệt đối mà chỉ là giá trị tương đối, nghĩa là phụ thuộc vào
giai đoạn lịch sử của xã hội đó.
Khi
quần chúng nhận thức được cơ cấu kinh tế và xã hội của mình thì
nền dân chủ nhất định sẽ chiến thắng, một cách hoà bình hay bằng
vũ lực. Xã hội sẽ tồn tại như thế cho đến khi có một bước nhảy
mới về mặt kỹ thuật – việc phát minh ra máy dệt là một thí dụ –
đưa quần chúng trở về tình trạng lạc hậu tương đối, lúc đó có
nhiều khả năng, hay nói đúng hơn, nhất định sẽ xuất hiện chế độ độc
tài.
Có
thể so sánh quá trình này với việc nâng tàu trong các âu thuyền.
Lúc đầu con tàu còn nắm ở vị trí tương đối thấp so với âu thuyền
và được nâng dần lên đến mực nước cao nhất. Nhưng cái cao nhất
này chỉ là tương đối vì âu thuyền sau lại có mực nước cao hơn,
quá trình nâng lên lại tiếp tục. Tường của âu thuyền đại diện cho
khả năng kiểm soát tự nhiên, nghĩa là tình trạng kỹ thuật của nền
văn minh, còn mực nước trong âu thuyền đại diện cho mức độ giác ngộ
chính trị của quần chúng. Giá trị tuyệt đối của mực nước trong âu
thuyền so với mực nước biển chẳng nói lên điều gì, điều cần quan
tâm ở đây chính là độ cao tương đối của mực nước trong âu
thuyền.
Việc
phát minh ra máy hơi nước mở màn cho một giai đoạn phát triển vượt
bậc về mặt kỹ thuật, kéo theo sự giật lùi cũng nhanh chóng như thế
về mặt chính trị. Thời đại công nghiệp mới xuất hiện chưa được
bao lâu, còn lâu quần chúng mới hiểu được cơ chế kinh tế cực kì
phức tạp hiện nay. Rõ ràng là mức độ giác ngộ chính trị tương
đối của quần chúng trong nửa đầu thế kỷ XX thấp hơn là năm 200
trước Công nguyên hay cuối thời kì phong kiến vì lúc đó quần chúng
hiểu biết rõ hơn thể chế kinh tế của họ.
Lý
thuyết xã hội chủ nghĩa đã mắc sai lầm vì nó tin rằng trình độ
giác ngộ chính trị của quần chúng sẽ được nâng lên một cách
thường xuyên và liên tục. Chính vì vậy mà nó không giải thích
nổi sự quật trở lại của con lắc trong giai đoạn vừa qua. Chúng ta tin
rằng sự thích ứng của quần chúng đối với hoàn cảnh sẽ diễn ra ngay
lập tức, nhưng kinh nghiệm lịch sử lại cho thấy rằng quá trình
thích ứng không phải tính bằng năm mà phải được tính bằng thế
kỷ. Hiện nay nhân dân châu Âu cũng chưa nhận thức được hết các hậu
quả mà máy hơi nước đã tạo ra cho nhân loại. Hệ thống tư bản sẽ
sụp đổ trước khi quần chúng hiểu được nó.
Nhận
thức của quần chúng ở Đất nước của Cách mạng cũng tuân theo qui luật
chung đó. Họ đã vào được âu thuyền cao hơn, nhưng lại đang nằm ở
đáy âu thuyền này. Quần chúng hoàn toàn không hiểu gì về hệ thống
kinh tế mới này. Việc nâng con tàu lên sẽ diễn ra một cách cực kì
khó khăn và đầy đau khổ. Có lẽ phải vài thế hệ nữa thì nhân dân
mới hiểu được bản chất của chế độ mới, do Cách mạng tạo ra bằng
chính bàn tay của nhân dân.
Khi
quần chúng còn chưa có hiểu biết như thế thì dân chủ là việc bất
khả thi, mức độ tự do cá nhân cũng có thể bị cắt xén, thậm chí
còn bị cắt xén hơn các nước khác. Các lãnh tụ của chúng ta buộc
phải cai trị bằng những biện pháp chuyên chế gắt gao nhất. Dùng
những tiêu chuẩn tự do cổ điển mà soi thì đây sẽ là một chế độ
dã man. Nhưng tất cả những sự kinh hoàng, dối trá và thoái hoá đập
trực tiếp vào mắt đó cũng chỉ là những biểu hiện dễ thấy và
không thể nào tránh được của cái qui luật đã được nói tới bên
trên. Những thằng ngu và những kẻ duy mỹ, tức là những kẻ chỉ biết
hỏi như thế nào chứ không bao giờ chịu hỏi tại sao, sẽ là những
kẻ chịu nhiều tai họa. Trong giai đoạn, khi mà nhận thức của quần
chúng còn tương đối thấp như hiện nay thì đứng về phe đối lập
cũng tức là tự chuốc họa vào mình.
Khi
nhận thức của quần chúng đã chín muồi thì phe đối lập không những
cần mà còn phải dựa vào quần chúng. Nhưng khi quần chúng còn lạc hậu
thì chỉ những kẻ mị dân mới làm cái việc kích động “tiếng nói
của quần chúng”. Trong tình hình như thế, phe đối lập chỉ có hai con
đường: cướp chính quyền bằng một vụ đảo chính mà không cần sự
ủng hộ của quần chúng hoặc yên lặng lao ra khỏi quả lắc, nghĩa là
“ngậm miệng mà chết đi”.
Còn
một cách thứ ba nữa, cũng nhất quán không khác gì hai cách kia, ở
nước ta nó đã trở thành hệ thống: nếu thấy không có khả năng
biến niềm tin của mình thành hiện thực thì phải phủ nhận ngay. Vì
chúng ta chỉ công nhận một tiêu chuẩn đạo đức duy nhất, đấy là lợi
ích của tập thể, cho nên tuyên bố một cách công khai việc từ bỏ
quan điểm của mình để được ở lại trong hàng ngũ của Đảng là một
việc làm vinh quang hơn hẳn cuộc chiến đấu vô vọng của người hùng
kiểu Don Quixote.
Những
vấn đề như lòng tự trọng, định kiến cũng như thái độ coi thường
chính mình, cảm giác mệt mỏi, ghê tởm và xấu hổ phải bị đào tận
gốc, trốc tận rễ...”
2.
Rubashov
bắt đầu viết những suy tư về “quả lắc” ngay sau hồi chuông báo thức
đầu tiên của buổi sáng sau cái đêm Bogrov bị hành quyết, cũng là
đêm mà Ivanov ghé thăm anh. Lúc người ta mang bữa sáng tới, anh chỉ
uống một ngụm cà phê mà thôi. Mấy ngày trước nét chữ của anh cứ
ngoằn ngoèo ẻo lả làm sao ấy, nhưng hôm nay đã lấy được phong độ,
nét chữ đã có vẻ cứng rắn, dứt khoát, các chữ cái nhỏ hơn, nhưng
có góc cạnh hơn. Sau khi đọc lại toàn bộ anh mới nhận thấy như
thế.
Anh
ngừng viết vào lúc mười một giờ vì đấy là giờ đi dạo. Nhưng hôm
nay đi cạnh anh không phải là Rip Van Winkle mà là một người nông
dân gầy gò, đi một đôi giày đã rách. Không thấy bóng dáng Rip Van
Winkle đâu, lúc này Rubashov mới sực nhớ lại rằng sáng nay anh đã
không nghe thấy tiếng gõ quen thuộc: “Vùn lên hỡi các nô lệ ở thế
gian”. Có lẽ ông ta đã bị đưa đi rồi, đưa đi đâu thì chỉ có Trời
mới biết; con bướm đêm tả tơi này đã sống quá lâu một cách đáng
ngạc nhiên và vô ích, có thể nó sẽ đập cánh thêm một vài lần
nữa rồi ngã xuống, tan vào với cát bụi.
Anh
nông dân lặng lẽ bước, thỉnh thoảng lại liếc nhìn Rubashov. Phải
đến vòng thứ ba, sau khi đã hắng giọng mấy lần, anh ta mới lên
tiếng:
“Tôi
bị đưa đến đây từ tỉnh D. Ngài đã đến đấy lần nào chưa?”
Rubashov
trả lời rằng chưa. Anh chỉ biết loáng thoáng rằng D. là một tỉnh ở
đâu mãi miền Đông.
“Xa
lắm”, anh nông dân nói. “Phải có lạc đà thì mới đi tới được. Ngài
làm chính trị à?”
Rubashov
trả lời rằng anh là nhà hoạt động chính trị. Đôi giày vải của anh
nông dân đã bong gần hết đế, những ngón chân trần thò cả ra ngoài.
Anh ta liên tục gật đầu mỗi khi nói, như thể đang cầu kinh vậy.
“Tôi
cũng hoạt động chính trị”, người nông dân thì thầm,
“cụ
thể tôi là phản động. Người ta bảo rằng tất cả phản động đều
phải đi đày đến mười năm. Ngài có cho rằng họ cũng bắt tôi đi đày
không?”
Anh
gật đầu và liếc nhìn mấy người lính lúc đó đang tụ tập giữa sân,
vừa dậm chân cho khỏi rét vừa nói chuyện mặc kệ đám tù nhân với
nhau.
“Thế
anh đã làm những gì?”, Rubashov hỏi.
“Tôi
bị tố cáo là phản động khi người ta tiêm cho trẻ con”, anh nông dân
đáp. “Năm nào cũng có các ngài dân ủy đến vùng chúng tôi. Năm kia
họ mang đến cho chúng tôi báo để đọc và tranh ảnh. Năm ngoái họ
mang đến máy đập lúa và bàn chải đánh răng. Năm nay thì họ mang
đến những cái ống bằng thủy tinh, có kim, nói là để tiêm trẻ con.
Có một bà mặc quần âu, trông chẳng khác gì đàn ông, bà ấy bảo
là sẽ tiêm cho tất cả trẻ con trong làng. Khi bà ấy đến nhà thì vợ
chồng tôi đóng chặt cửa lại, không cho vào. Thế là bị tố là phản
động. Sau đó chúng tôi cùng nhau đốt hết báo chí, tranh ảnh rồi phá
nát cái máy đập lúa. Một tháng sau thì có người đến đưa đi như
thế này đây.”
Rubashov
lẩm bẩm vài câu và tiếp tục suy nghĩ về vấn đề tự quản. Anh nhớ
là đã đọc ở đâu đó câu chuyện về người bản địa New Guinea, những
người có cùng trình độ với anh nông dân này nhưng lại xây dựng
được một xã hội hài hoà với những thể chế dân chủ phát triển
đáng khâm phục. Nếu so sánh xã hội của họ với con tàu thì có thể nói
con tàu của họ đã nằm trên mực nước cao nhất của cái âu thuyền
đầu tiên...
Anh
nông dân nghĩ rằng Rubashov không bắt chuyện là vì không ưa anh ta
nên càng thu mình hơn trước. Mấy ngón chân đã lạnh cóng; xám
ngoét, thỉnh thoảng anh ta lại thở dài, nét mặt vô cảm chấp nhận
sự an bài của số phận và lặng lẽ bước.
Vừa
về tới buồng giam là Rubashov lấy giấy bút ra ngay lập tức. Tin rằng
đã phát minh ra “Qui luật về sự chín muồi tương đối”, anh lao vào
viết một cách vô cùng hào hứng. Công việc hoàn thành trước bữa
ăn trưa. Ăn xong, anh khoan khoái nằm dài ra giường.
Anh
ngủ trưa khoảng một tiếng, không mộng mị và cảm thấy rất hưng
phấn sau khi được đánh thức. Đấy là 402 đang gõ vào tường, có lẽ vì
cảm thấy cô đơn. Anh ta hỏi ai đi cặp với Rubashov, nhưng Rubashov cắt
ngang và vừa mỉm cười vừa gõ bằng gọng kính:
TÔI
ĐẦU HÀNG.
Rồi
tò mò ngồi đợi hiệu quả.
Mãi
không thấy trả lời. Phải một lúc sau 402 mới đáp:
TÔI
SẴN SÀNG TREO CỔ...
Rubashov
mỉm cười. Anh gõ:
MỖI
NGƯỜI MỘT CÁCH.
Anh
tin rằng 402 sẽ chửi bới, nhưng hoá ra anh ta lại gõ rất nhẹ như có
ý chấp nhận:
TÔI
COI ANH LÀ TRƯỜNG HỢP NGỌAI LỆ. TINH THẦN QUÂN TỬ ĐÂU RỒI?
Rubashov
nằm ngửa, tay cầm kính. Tâm trạng bình tĩnh và thanh thản. Anh gõ
tiếp:
QUAN
NIỆM QUÂN TỬ CỦA CHÚNG TA KHÁC NHAU. 402 gõ rất nhanh và chính xác:
QUÂN
TỬ LÀ TRUNG THÀNH VỚI NIỀM TIN CỦA MÌNH. Rubashov cũng trả lời rất
nhanh:
QUÂN
TỬ LÀ CÓ ÍCH VÀ KHÔNG GIẢ DỐI.
Lần
này 402 gõ to hơn và dứt khoát hơn:
QUÂN
TỬ LÀ TỬ TẾ CHỨ KHÔNG PHẢI CÓ ÍCH.
TỬ
TẾ LÀ GÌ? Rubashov hỏi. Lần này anh gõ một cách chậm rãi và từ
tốn. Nhưng anh càng từ tốn bao nhiêu thì tiếng đáp trả lại càng
cuồng nhiệt bấy nhiêu.
NHỮNG
NGƯỜI NHƯ ANH KHÔNG THỂ HIỂU ĐƯỢC, 402 trả lời.
Rubashov
nhún vai:
CHÚNG
TÔI LẤY TRÍ TUỆ THAY CHO TỬ TẾ.
402
không trả lời nữa. Rubashov đọc đi đọc lại phần vừa mới viết từ
lúc ấy cho đến tận lúc ăn tối. Anh sửa chữa một hai chỗ rồi sau đó
chép lại dưới dạng một bức thư gửi cho Viện trưởng Viện Kiểm
sát. Anh gạch dưới những đoạn cuối cùng, nói về ba phương án hành
động của phe đối lập và ghi thêm như sau:
Tôi,
N. S. Rubashov, cựu Ủy viên Trung ương Đảng, cựu Dân ủy, cựu Tư lệnh
Binh đoàn 2 quân đội Cách mạng, Huân cương Cách mạng, vì những lý
do đã nói bên trên, quyết định từ bỏ hoàn toàn các quan điểm đối lập
trước đây và công khai thú nhận tất cả tội lỗi đã phạm.
3.
Rubashov
đợi đã hai ngày. Anh giao bức thư gửi ông Viện trưởng Viện Kiểm
sát Tối cao cho người giám thị già ngay khi thời hạn do Ivanov đưa ra
vừa kết thúc. Anh những tưởng sẽ được đưa đi gặp Ivanov ngay, nhưng
hoá ra đấy là việc không khẩn cấp như anh nghĩ. Có thể Ivanov còn
đang nghiên cứu “Qui luật về sự chín muồi tương đối”, mà có nhiều
khả năng là văn bản này đã được gửi lên cấp có thẩm quyền cao
hơn.
Rubashov
lấy làm khoái chí và khẽ mỉm cười khi nghĩ đến sự sửng sốt của
các “lý thuyết gia” trong Ban Chấp hành Trung ương. Trước và ngay sau
Cách mạng, khi Ông Cụ còn, không có sự phân biệt giữa “lý thuyết
gia” và “chính trị gia”. Chiến thuật trong mỗi giai đoạn được đúc
rút trực tiếp từ lý thuyết cách mạng, thông qua các cuộc tranh luận
công khai: các vấn đề chiến lược của cuộc Nội chiến, cải cách ruộng
đất, trưng thu lương thực, đổi tiền, cải tạo công nghiệp..., tóm
lại, tất cả các chính sách của nhà nước đều là lý luận cách
mạng được áp dụng vào trong thực tiễn của đời sống. Tất cả những
người có mặt trong bức ảnh từng một thời được treo trong phòng làm
việc của Ivanov đều có hiểu biết về triết học, chính trị kinh tế
học và nghệ thuật quản lý nhà nước hơn bất kỳ vị giáo sư khả
kính nào ở châu Âu. Các tham luận trong hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương và Đại hội Đảng giai đoạn Nội chiến là những luận văn ở
trình độ cao chưa từng có, chẳng khác gì các bản báo cáo khoa học
trên các tạp chí chuyên nghành. Khác biệt duy nhất: kết quả của
những cuộc thảo luận đó liên quan trực tiếp đến số phận hàng triệu
người và tương lai của cuộc Cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử.
Nhưng
đội cận về già của Cách mạng đã là quá khứ. Mà chính quyền càng
ổn định thì lại càng cứng rắn, qui luật lịch sử là như vậy. Nó
phải làm như thế để ngăn chặn các các lực lượng mà Cách mạng đã
giải phóng không quay ra chống lại Cách mạng. Thời của những kì Đại
hội đầy tính triết học đã qua rồi, những bức chân dung cũ đã bị
bóc đi rồi, tinh thần phản kháng đã được thay thế bằng thái độ thụ
động vô hồn. Lý luận cách mạng sơ cứng dần và biến thành sự sùng
bái giáo điều với những cuốn kinh đơn giản và dễ hiểu, còn Anh Cả
thì biến thành Đại Giáo chủ. Những bài báo và những bài phát biểu
của ông ta rất giống các cuốn kinh, ngay cả về mặt hình thức, tức
là gồm những câu vấn đáp với những sự kiện được đơn giản hoá
đến mức tối đa. Chắc chắn bản năng đã gợi ý cho Anh Cả sử dụng
“Qui luật về sự chín muồi tương đối của quần chúng”. Các nhà độc
tài nghiệp dư buộc các thần dân của họ hành động theo mệnh lệnh,
Anh Cả dạy cho các thần dân của mình suy nghĩ theo mệnh lệnh.
Rubashov
cảm thấy thích thú khi nghĩ tới những điều mà các “lý thuyết gia”
của Đảng sẽ nói về bức thư của anh. Trong điều kiện hiện nay thì
đấy chính là tà đạo: Anh đã phê phán cả những nhà sáng lập chủ
nghĩa, đã gọi sự vật theo đúng tên của chúng, ngay cả nhân vật
thần thánh như Anh Cả cũng được xem xét từ quan điểm lịch sử khách
quan. Những lý thuyết gia khốn nạn mà nhiệm vụ chỉ là tìm cách bốc
thơm những bước ngoặt đột ngột trong đường lối của Anh Cả là
những phát kiến mới nhất của triết học sẽ uất nghẹn mất thôi.
Thỉnh
thoảng Anh Cả cũng cho các lý thuyết gia những vố ra trò. Một lần,
Anh đã giao cho nhóm chuyên gia trong ban biên tập một tờ tạp chí kinh
tế của Đảng làm một bản báo cáo phân tích tình trạng khủng hoảng
của nền công nghiệp Mỹ. Bản báo cáo phải được hoàn tất trong vài
tháng. Quả nhiên sau đó, trong một số chuyên đề về nước Mỹ, trên
cơ sở các luận điểm của Anh Cả tại kỳ Đại hội Đảng gần đây, các
chuyên gia đã chứng minh rằng sự bùng nổ kinh tế ở Mỹ chỉ là trò
tuyên truyền, trên thực tế nước Mỹ đang trải qua một cuộc khủng
hoảng kinh tế sâu sắc, chỉ có cách mạng mới có thể cứu được nước
này mà thôi. Trong buổi tiếp một nhà báo Mỹ ngay trong ngày ra mắt
tờ tạp chí, Anh Cả đã làm tất cả phải sững sờ khi vừa nhả khói
thuốc lá vừa tuyên bố:
“Nước
Mỹ đã vượt qua khủng hoảng, nền kinh tế lại hoạt động bình thường
rồi.”
Các
thành viên ban biên tập tin chắc phen này sẽ bị sa thải, thậm chí
bị bắt. Ngay đêm ấy họ vội vàng viết một bức thư thú nhận “đã
đưa ra các phân tích sai lầm và có hại cho cách mạng”, xin được tha
thứ và hứa sẽ công khai tự phê bình khi có dịp. Chỉ có Isacovitch,
cũng trạc tuổi Rubashov, thuộc đội cận vệ già duy nhất trong ban biên
tập là không viết thư mà tự bắn một phát vào đầu. Những người
thạo tin sau đó nói rằng Anh Cả làm như thế là để loại bỏ
Isacovitch, một người mà Anh nghi là thuộc nhóm đối lập.
Cứ
y như một vở hài kịch, Rubashov tự nhủ, cái trò bịp bợm về “nâng
cao cảnh giác cách mạng” hiện nay chính là phương tiện để củng cố
quyền lực, nhưng không làm thế thì cũng không được. Kẻ nào tưởng
vở hài kịch này là thực, kẻ nào chỉ nhìn thấy những cảnh đang
diễn ra trên sân khấu mà không biết những chuyện ở hậu trường thì
sẽ càng gặp nhiều thất vọng. Trước đây chính sách của cách mạng
được quyết định trong những cuộc họp công khai, ngày nay được giải
quyết trong hậu trường, đấy cũng là một trong những hệ quả của qui
luật về sự chín muồi tương đối của quần chúng.
Rubashov
ước ao được ngồi trong một thư viện yên tĩnh, với những chiếc đèn
có tán màu xanh để tìm thêm cơ sở cho lý luận của mình. Thời gian
đi đầy, tức là lúc bắt buộc phải ngồi yên là giai đoạn có ích
nhất đối với hoạt động về mặt lý luận. Anh vừa đi ra đi vào vừa nghi
̃đến hai ba năm tới, tức là sau khi anh công khai từ bỏ quan điểm của
mình và rút ra khỏi mọi hoạt động để có thể lui về ẩn dật. Hình
thức đầu hàng không phải là vấn đề, họ muốn anh nhận lỗi và tuyên
bố rằng Anh Cả không bao giờ sai, bao nhiêu lần cũng được. Đấy chỉ
là vấn đề nghi thức: ý kiến càng đơn giản và càng được nhắc đi
nhắc lại nhiều lần càng dễ đi vào lòng quần chúng, cái được coi
là đúng phải lấp lánh như vàng ròng, còn cái bị sai thì phải bôi
đen như than.
402
không thể hiểu được chuyện này. Quan niệm hạn hẹp về người quân
tử của anh ta đã thuộc về quá khứ xa xôi. Quân tử là gì? Đấy chỉ
là qui ước gắn liền với truyền thống và luật đấu kiếm của các hiệp
sĩ. Quan niệm mới về danh dự phải là: phục vụ vô điều kiện và đi
đến cùng theo con đường đã chọn...
“Chết
vinh còn hơn sống nhục”, chắc chắn là 402 sẽ nói như thế, trong khi
tay mân mê bộ ria mép. Đấy là biểu hiện cổ điển của lòng kiêu
hãnh mang tính cá nhân. 402 chỉ nghĩ về mình, còn anh, Rubashov lại
nghĩ đến sự nghiệp chung. Vấn đề cấp thiết của anh bây giờ là
được làm việc một cách bình tĩnh trong một thư viện nào đó để
hoàn thiện cho bằng được ý tưởng mới của mình. Công việc này sẽ
phải kéo dài vài năm, đây sẽ là một tác phẩm lớn, nhưng đấy
chính là chìa khoá để hiểu lịch sử của các thể chế dân chủ và
rọi ánh sáng vào sự vận động của tâm lý quần chúng, hiện nay
nhiều người đã nhận thấy rằng tâm lý quần chúng cũng thường dao động
chẳng khác gì quả lắc đồng hồ, nhưng lý thuyết đấu tranh giai cấp
cổ điển chưa lý giải được hiện tượng đó.
Vừa
đi đi lại lại Rubashov vừa mỉm cười một mình. Điều quan trọng nhất
bây giờ là được làm việc. Anh cảm thấy tỉnh táo, đầy sung lực,
răng cũng không còn đau nữa. Đã hai ngày trôi qua, kể từ buổi nói
chuyện với Ivanov và gửi thư cho ông Viện trưởng Viện Kiểm sát,
nhưng vẫn không thấy động tĩnh gì. Hai tuần ngồi tù đầu tiên sao
mà nhanh thế, còn bây giờ thì thời gian lại trôi như rùa bò. Không
có tài liệu lịch sử thì không thể tiến xa được. Anh đứng cạnh lỗ
nhòm cả nửa tiếng đồng hồ những mong nhìn thấy người giám thị già
đến đưa đi gặp Ivanov. Nhưng hành lang vắng tanh vắng ngắt, chỉ có
ánh điện là vẫn sáng như mọi khi mà thôi.
Có
lúc anh lại nghĩ là chính Ivanov sẽ tới, anh ta sẽ hoàn tất ngay tại
đây mọi thủ tục, được thế là tốt nhất. Anh sẽ làm ngay một chai.
Anh mường tượng đến từng chi tiết cảnh họ cùng nhau soạn thảo “bản
tự kiểm điểm” đầy những lời lẽ thống thiết và những câu đùa vô
liêm sỉ mà Ivanov thỉnh thoảng lại nói chen vào. Rubashov đi đi lại
lại trong phòng, miệng mỉm cười và cứ mươi phút lại xem đồng hồ một
lần. Hôm đó chính Ivanov đã nói sẽ cho dẫn anh đến gặp ngay sau đó
cơ mà?
Rubashov
cảm thấy ruột gan nóng như lửa đốt, đêm thứ ba kể từ hôm nói chuyện
với Ivanov anh không thể nào ngủ được. Anh nằm trên giường, căng
tai nghe ngóng từng tiếng động nhỏ trong toà nhà, trằn trọc trở mình
hết bên nọ sang bên kia và lần đầu tiên kẻ từ hôm bị bắt anh ao ước
một cơ thể ấm áp của người đàn bà. Anh cố gắng thở thật đều để
mong chợp mắt đi một lúc nhưng đầu óc ngày càng mông lung hơn. Anh
chỉ muốn gõ vào tường để nói chuyện với 402, sau lần trao đổi về
chuyện “quân từ là gì?” không thấy anh ta phản ứng gì nữa.
Vào
khoảng nửa đêm, tức sau khi trằn trọc ba tiếng đồng hồ, không thể
nào kiềm chế được nữa, anh đành lấy tay gõ nhẹ vào tường. Rồi
dỏng tai lên nghe, tuyệt đối không thấy động tĩnh gì. Anh gõ thêm
lần nữa và lại nằm đợi, thâm tâm cảm thấy vô cùng nhục nhã. 402
vẫn không trả lời. Chắc chắn anh cũng đang nằm, mắt mở thao láo và
đang giết thời gian bằng cách nhai lại những kỷ niệm xưa; chả là có
lần anh ta đã thú nhận là không bao giờ ngủ trước một hoặc hai giờ
sáng, thậm chí còn quay lại với những thói quen tệ hại thời niên
thiếu nữa.
Rubashov
nằm ngửa, mắt nhìn chòng chọc vào màn đêm. Cái nệm rơm bên dưới
cứng ngắc, cái chăn thì lại quá ấm và sực mùi ẩm mốc, nhưng vừa
gạt ra là anh đã thấy lạnh run lên. Anh đã hút bảy hay tám điếu
liền, đầu mẩu thuốc nằm rải rác khắp sàn nhà. Xung quanh lặng ngắt
như tờ, thời gian như ngừng trôi, như bị bóng đêm vô hình nuốt
trọn. Rubashov nhắm mắt và tưởng tượng Arlova đang nằm bên cạnh, bộ
ngực quen thuộc của cô hiện lên lờ mờ trong bóng đêm. Anh quên mất
rằng, giống như Bogrov, cô cũng đã từng bị lôi lệch xệch qua hành
lang bên ngoài; sự im lặng nặng nề bập bùng trong màng nhĩ như
tiếng trống ngũ liên từ xa vọng lại. Hai ngàn con người bị giam
trong cái tổ ong này đang làm gì? Sự im lặng trương phồng lên bởi
những hơi thở không thành tiếng, những giấc mơ không thành hình,
những khát khao và sợ hãi bị đè nén của tất cả những con người
bị giam cầm ở đây. Nếu Lịch sử có thể cân đong đo đếm được thì
hai ngàn cơn ác mộng sẽ nặng bao nhiêu, sự thèm khát không được
thoả mãn nhân với hai ngàn sẽ có áp suất là bao nhiêu? Anh như
thực sự ngửi thấy mùi nước hoa của Arlova, toàn thân đẫm mồ hôi...
Cửa buồng giam bật mở, ánh đèn ngoài hành lang chiếu thẳng vào mắt.
Rubashov
thấy hai người lính đeo súng lục đi vào, anh chưa gặp hai người này
bao giờ. Một người bước lại gần giường, đấy là một người khá
cao, mặt thô, giọng khàn khàn và to một cách thiếu tự nhiên. Anh ta
ra lệnh cho Rubashov đi theo, còn đi đâu thì không nói.
Rubashov
đưa tay tìm cái kính rồi mới từ từ ngồi dậy. Anh đi cạnh người
lính cao kều, hắn cao hơn anh cả một cái đầu, người mỏi rã rời,
chân nặng như chì. Người lính thứ hai theo sát phía sau.
Rubashov
liếc nhìn đồng hồ, đã hai giờ sáng, nghĩa là anh đã chợp mắt được
một lúc. Họ đi về phía buồng cắt tóc, cũng là hướng mà người ta
đã lôi Bogrov đi. Người lính thứ hai đi cách anh ba bước. Rubashov
bỗng cảm thấy như có kiến bò ở gáy, phải cố gắng lắm anh mới
không ngoái lại. “Họ không thể thịt mình một cách đơn giản như vậy
được”, anh tự nhủ như thế, nhưng thâm tâm cũng không tin lắm. Lúc
này đấy không phải là vấn đề, anh chỉ mong mọi chuyện kết thúc cho
thật nhanh. Anh cố gắng định thần để xem mình có sợ hay không, nhưng
chỉ cảm thấy bức bối vì nửa muốn ngoái lại, nửa không.
Đi
quá buồng cắt tóc một chút thì thấy cái cầu thang cuốn bằng sắt.
Rubashov ngó sang người lính to lớn đi bên cạnh xem anh ta có đi chậm
lại hay không. Anh không cảm thấy sợ, chỉ hơi tò mò và gò bó,
nhưng khi vừa bước khỏi cầu thang thì hai chân anh bỗng run bắn lên,
chút nữa thì ngã. Anh còn ngạc nhiên hơn khi thấy đang tự động lau
kính vào ống tay áo, nghĩa là anh đã tháo kính ra trước khi đi đến
buồng cắt tóc mà không biết. “Toàn lừa bịp hết”, anh tự nhủ. “Có
thể lừa được cái đầu chứ bụng thì lừa làm sao nổi. Nếu bị đánh
thì mình sẽ nhận hết, nhưng mai mình sẽ phản cung...”
Đi
thêm vài bước anh lại sực nhớ “thuyết về sự chín muồi tương đối”
và quyết định đầu hàng của mình. Anh thở phào nhẹ nhõm nhưng đồng
thời tự hỏi làm sao lại có thể quên hết được một cách dễ dàng
đến thế. Người lính dừng lại và mở cửa một căn phòng. Rubashov
nhìn thấy một phòng làm việc tương tự như phòng của Ivanov, ánh
sáng chói loà từ bên trong chiếu ra làm anh nhức cả mắt. Gletkin
ngồi sau một cái bàn nhìn thẳng ra cửa.
Cửa
buồng đóng sập ngay lại, bấy giờ Gletkin mới ngẩng đầu lên. “Xin mời
ngồi”, giọng nói khô khốc của anh ta làm Rubashov nhớ lại lần họ
cãi nhau tại buồng giam của anh. Anh cũng nhận ra cái sẹo to tướng
trên đầu Gletkin, chỉ có mặt anh ta là không rõ vì ánh sáng được
phát ra từ một cái đèn pha lắp trên một cái chân khá cao đằng sau
ghế của Gletkin. Cái đèn này sáng đến nỗi phải một lúc sau Rubashov
mới nhận ra cô thư ký ngồi cạnh một cái bàn nhỏ sau bức mành.
Rubashov
ngồi xuống chiếc ghế duy nhất phía trước cái bàn viết, đối diện
với Gletkin. Đấy là một cái ghế đẩu, cao lênh khênh, rất bất tiện.
“Tôi
được phân công xét hỏi anh trong thời gian điều tra viên Ivanov đi
vắng”, Gletkin nói. Ánh sáng làm mắt Rubashov nhức nhối, nhưng nếu
quay nghiêng thì một góc con ngươi lại buốt như có kim châm. Hơn
nữa nói chuyện mà lại quay nghiêng thì vừa có vẻ vô lý vừa bất tiện
làm sao ấy.
“Tôi
muốn được Ivanov xét hỏi”, Rubashov nói.
“Điều
tra viên là do cấp trên chỉ định”, Gletkin đáp. “Anh có quyền từ
chối khai báo. Trong trường hợp của anh từ chối khai báo đồng nghĩa
với việc rút lại ý định thú tội mà anh đã viết cách đây hai ngày,
cũng có nghĩa là chấm dứt việc điều tra. Trong trường hợp đó tôi
sẽ trả anh về cho cấp có thẩm quyền và anh sẽ bị xử tại toà hành
chính.” Rubashov suy nghĩ thật nhanh. Chắc chắn là Ivanov đã gặp rắc
rối rồi. Có thể anh ta được cho đi nghỉ phép hay bị bãi chức mà
cũng có thể là đã bị bắt. Có thể là do tình bạn trước đây với
Rubashov hoặc là do trí thông minh, lòng trung thành của anh ta với Anh
Cả là dựa trên lý trí chứ không phải niềm tin mù quáng như những
kẻ khác. Ivanov là người thông minh và thuộc thế hệ cũ, Gletkin và
phương pháp của anh ta thuộc trường phái mới... Ivanov, xin anh hãy
an giấc ngàn thu. Rubashov không có thì giờ than thở, anh phải suy nghĩ
thật nhanh, nhưng ánh đèn làm anh không thể tập trung tư tưởng
được. Anh tháo kính và nheo hai mắt lại; không có kính thì trông
anh sẽ giống như một người bất lực và tâm trạng sẽ phơi bày ra
hết, đôi mắt vô hồn của Gletkin sẽ có điều kiện ghi nhận mọi thay
đổi trên nét mặt anh. Không thể lùi, nếu anh tiếp tục im lặng thì
coi như xong. Gletkin là một kẻ đáng ghét, nhưng hắn là đại diện
của thế hệ mới, thế hệ cũ phải tìm cách thoả hiệp với hắn hoặc
sẽ bị tiêu diệt, không có lựa chọn nào khác. Rubashov bỗng cảm
thấy mình già, chưa bao giờ anh có cảm giác như thế. Chưa bao giờ
anh coi mình là người đã ngoài năm mươi. Anh đeo kính lên và quay mặt
về phía Gletkin, nhưng ánh đèn chói chang làm nước mắt trào ra, anh
lại tháo kính.
“Tôi
sẵn sàng khai báo”, Rubashov nói, cố gắng giữ cho giọng nói thật
bình tĩnh. “Nhưng với điều kiện anh phải chấm dứt cái trò này đi.
Hãy bỏ cái đèn này đi, dành nó cho những kẻ lừa đảo và những tên
phản cách mạng. ”
“Anh
không có quyền ra điều kiện”, Gletkin bình thản nói. “Tôi không thể
điều chỉnh ánh sáng theo yêu cầu của phạm nhân. Có vẻ như anh vẫn
chưa nhận thức được địa vị của mình, nhất là khi anh bị kết tội
hoạt động phản cách mạng, trong mấy năm gần đây anh đã hai lần công
khai thú nhận như thế. Nếu anh vẫn tin rằng lần này cũng thoát một
cách dễ dàng như thế thì anh đã lầm to.”
“Đồ
chó”, Rubashov tự nhủ. “Đồ chó ghẻ mang danh cán bộ.” Mặt anh đỏ
bừng lên. Anh cảm thấy máu đang dồn lên mặt và biết rằng Gletkin đã
nhận ra điều đó. Gletkin bao nhiêu tuổi? Ba sáu hay ba bảy là cùng,
nghĩa là hắn đã tham gia vào cuộc Nội chiến ngay từ khi còn rất
trẻ, còn khi Cách mạng nổ ra thì vẫn còn là trẻ con. Đây là thế hệ
biết suy nghĩ sau khi cơn đại hồng thuỷ đã xảy ra. Họ không có
truyền thống, cũng chẳng có ký ức về cái thời đã đi qua. Đây là
thế hệ không có gốc rễ... Nhưng họ có lý của họ. Phải phá bỏ cội
nguồn, phải dứt đứt mọi liên hệ với khái niệm danh dự và quân tử
xưa cũ. Danh dự là phục vụ vô điều kiện, là hi sinh quên mình và
mãi mãi trung thành với con đường đã chọn.
Sự
bực tức của Rabashov dịu dần. Tay vẫn cầm kính, Rubashov quay mặt về
phía Gletkin. Vì phải nhắm mắt, anh càng thấy mình như đã phơi hết
ruột gan ra trước điều tra viên, nhưng chuyện đó cũng không làm anh
bận tâm nữa. Tuy nhắm mắt nhưng ánh đèn vẫn làm con ngươi anh nhức
nhối. Chưa bao giờ anh có cảm giác cô đơn đến như thế.
“Tôi
sẽ làm tất cả vì sự nghiệp của Đảng”, Rubashov nói. Mắt anh vẫn
nhắm, song giọng nói đã dịu trở lại. “Tôi đề nghị được nghe bản luận
tội. Cho đến lúc này tôi vẫn chưa biết mình bị tội gì.”
Anh
không nhìn được nhưng cảm thấy rất rõ sự chuyển động trong cái
thân hình khô cứng của Gletkin. Có tiếng cổ tay áo cọ vào thành
ghế loạt xoạt, hơi thở sâu hơn, rõ ràng là hắn ta đã bớt căng
thẳng hơn trước. Rubashov cho rằng Gletkin mở cờ trong bụng vì chiến
thắng bất ngờ. Điều Rubashov vừa nói đồng nghĩa với sự thăng quan
tiến chức, thế mà mới cách đây mấy phút hắn không thể biết anh sẽ
có thái độ như thế nào, số phận Ivanov vẫn còn là bài học nóng
hổi.
Rubashov
bỗng nhận ra rằng Gletkin cũng cần anh hệt như anh cần hắn. “Ta đã
nắm được cổ nhà ngươi”, anh vừa cười khẩy vừa tự nhủ. “Chúng ta
đang nắm cổ nhau, nếu có mệnh hệ gì thì ta sẽ kéo ngươi theo.”
Trong khi Rubashov nhấm nháp cái ý tưởng là mình có thể gây tai họa
được cho Gletkin thì hắn đã lấy lại vẻ cứng rắn và nghiêm túc,
tiếp tục lục lọi đống giấy tờ; nhưng sau đó anh nghĩ rằng đấy là một
ý tưởng không hay và từ từ nhắm mắt lại. Phải quét sạch mọi tàn
dư của chủ nghĩa cá nhân – tự sát là một biểu hiện khéo léo của
chủ nghĩa cá nhân chứ còn gì nữa? Dĩ nhiên tay Gletkin tin rằng trò
ma mãnh của hắn chứ không phải lý luận của Ivanov đã buộc anh đầu
hàng, có thể hắn còn làm cho cấp trên tin vào chuyện đó và nhân
thể lật đổ được Ivanov. “Đồ chó”, Rubashov tự nhủ, nhưng lần này
không còn tức tối nữa. “Quân dã man. Nhà ngươi không hiểu được việc
mình làm, nhưng khi hiểu được thì ngươi cũng sẽ toi...”. Ánh đèn
càng lúc càng chói chang hơn – Rubashov đã nghe nói rằng điều tra
viên có thể điều chỉnh được độ sáng của đèn. Anh phải quay mặt đi
và lấy tay lau nước mắt. “Quân dã man”, anh lại tự nhủ, “nhưng bây
giờ chúng ta lại đang cần những thằng dã man như thế...”
Gletkin
bắt đầu đọc bản luận tội. Cái giọng đều đều của hắn làm Rubashov
như muốn phát điên, anh vẫn quay mặt đi và nhắm tịt mắt như cũ. Anh
vẫn coi “lời thú tội” của mình chỉ là thủ tục, chỉ là một vở hài
kịch cho đủ lệ bộ, song bản án mà Gletkin đang đọc đã vượt mọi
giới hạn của sự phi lý. Chả lẽ Gletkin thực sự tin rằng anh đã dự
tính những mưu mô ấu trĩ thế hay sao? Chả lẽ hắn tin rằng trong
suốt mấy năm qua anh đã tìm mọi cách để phá đổ toà lâu đài mà anh
và đội cận vệ già đã tạo lập nền móng hay sao? Chả lẽ hắn tin
rằng tất cả những cận vệ già được đánh số trong bức ảnh – những
anh hùng thời niên thiếu của Gletkin – đều là nạn nhân của một căn
bệnh đã biến tất cả bọn họ thành những kẻ hủ bại, những kẻ chỉ
có một ước muốn duy nhất là thủ tiêu cuộc Cách mạng hay sao? Chả
lẽ hắn lại tin rằng những chiến lược gia tài ba đó lại sử dụng
các biện pháp của những cuốn tiểu thuyết trinh thám rẻ tiền như
thế hay sao?
Gletkin
đọc một cách đều đều, khô khan y như một người vừa thoát nạn mù
chữ. Lúc này hắn đang đọc đến đoạn Rubashov, khi còn công tác ở B.,
đã tiến hành thảo luận với đại diện của Chính phủ một nước thù
địch nhằm khôi phục chế độ cũ bằng vũ lực. Có cả tên nhà ngoại
giao nước ngoài cũng như thời gian và địa điểm cuộc gặp. Rubashov
chú ý lắng nghe. Anh sực nhớ là đã từng nói chuyện với nhà ngoại
giao kia, nhưng nói chuyện gì thì không nhớ. Anh tính toán thật nhanh
trong đầu ngày tháng, hoá ra đúng. Đây sẽ là sợi dây thòng lọng
treo cổ anh ư? Rubashov cười khẩy và rút khăn mùi xoa lau mắt...
Gletkin
tiếp tục đọc một cách đều đều và khô khan như cũ. Chả lẽ hắn
không nhận thấy sự vô lý đến lố bịch như thế ư? Bây giờ đến giai
đoạn Rubashov đứng đầu tổ hợp sản xuất nhôm. Gletkin dẫn ra các số
liệu chứng tỏ công tác tổ chức trong cái ngành phát triển quá nhanh
này kém đến mức không thể chấp nhận được, có cả số công nhân bị
tai nạn lao động và một loạt tai nạn máy bay mà nguyên nhân là do vật
liệu chế tạo có vấn đề. Tất cả đều là do những hành động phá
hoại đầy ác ý của Rubashov mà ra. Từ “ác ý” được nhắc đi nhắc lại
mấy lần. Rubashov chợt nghĩ hay là Gletkin điên, người điên thường
có lúc nói khôn, có lúc lại nói những điều vô nghĩa như thế.
Nhưng đây không phải là Gletkin viết, hắn chỉ đọc thôi, nhưng đọc một
cách bình thản nghĩa là hắn tin hay ít ra cũng cho rằng có thể tin
được...
Rubashov
quay đầu về phía người nữ thư ký. Đấy là một người phụ nữ nhỏ,
gày gò, đeo kính. Cô ta đang bình thản gọt bút chì và không nhìn
về phía anh một lần nào. Có lẽ cô ta cũng cho rằng những điều
khủng khiếp mà Gletkin đang đọc là có thể tin được. Trông cô ta vẫn
còn trẻ, chỉ khoảng hai lăm hay hai sáu, nghĩa là cũng trưởng thành
sau trận đại hồng thuỷ. Cái tên Rubashov thì có ý nghĩa gì đối với
thế hệ mới này? Hắn, một kẻ phá hoại, đang ngồi trước ngọn đèn
sáng đến loá mắt, còn họ thì đang đọc cho hắn nghe một cách đều
đều và nhìn hắn với cặp mắt vô tình, vô cảm như thể hắn chỉ là
một con vật thí nghiệm.
Gletkin
đã đọc đến đoạn cuối cùng. Đấy là phần quan trọng nhất: vụ mưu
sát Anh Cả. Nhân vật X bí hiểm mà Ivanov đã nhắc đến trong lần lấy
cung đầu tiên lại xuất hiện. Hoá ra đấy là trợ lý quản đốc của một
khách sạn chuyên phục vụ bữa ăn trưa cho Anh Cả. Bữa ăn nhẹ là một
phần của cuộc sống giản dị, vẫn thường được các phương tiện
tuyên truyền hết lời ca ngợi, và hôm đó X, theo chỉ đạo của
Rubashov, sẽ đầu độc Anh Cả bằng những món ăn này. Rubashov khẽ mỉm
cười, mắt vẫn nhắm; khi mở mắt thì cũng là lúc Gletkin ngừng đọc.
Sau vài phút im lặng, Gletkin nhìn thẳng vào Rubashov và nói với
giọng đều đều thường nhật:
“Anh
đã nghe bản án và công nhận là có tội.” Rõ ràng là một lời tuyên
bố chứ không phải là một câu hỏi.
Rubashov
cố gắng nhìn vào mặt hắn. Nhưng không chịu nổi đành nhắm mắt lại.
Nén cơn tức giận đang dâng lên nghẹn họng, anh chỉ nhẹ nhàng nói:
“Tôi
công nhận có tội vì không hiểu được động cơ đằng sau chính sách
hiện nay của Chính phủ nên đã có quan điểm đối lập. Tôi công nhận
có tội vì đã ngả theo lý tưởng nhân đạo chung chung mà quên mất
nhu cầu của lịch sử. Tôi đã quá chú ý đến tiếng kêu than của các
nạn nhân và không nhận thức được những lý lẽ chứng minh sự cần
thiết của sự hi sinh như thế. Tôi công nhận có tội vì đã đặt vấn
đề tội lỗi và sự trong trắng lên trên lợi ích của xã hội. Cuối
cùng, tôi công nhận có tội vì đã đặt tư tưởng của một con người
cao hơn lý tưởng của toàn thể loài người...” Giọng nói của anh
trầm đến nỗi cô thư ký phải nghển cổ lên mới nghe được.
Rubashov
ngừng lời và lại định mở mắt. Ánh sáng chói loà buộc anh phải quay
mặt đi, anh liếc nhìn về phía cô thư ký. Cô ta vừa ghi xong đoạn độc
thoại vừa rồi và tuy chỉ nhìn thấy một bên mặt của cô, anh vẫn tin
rằng cô vừa khẽ mỉm cười.
“Tôi
biết”, Rubashov tiếp tục, “những sai lầm của tôi nếu được đem ra áp
dụng thì sẽ rất có hại cho sự nghiệp Cách mạng của chúng ta. Mọi
phong trào đối lập ở những bước ngoặt của lịch sử đều tạo ra mầm
mống của sự chia rẽ trong Đảng, nghĩa là tạo ra mầm mống của nội
chiến. Khi quần chúng còn lạc hậu thì chủ nghĩa nhân đạo và chế độ
dân chủ có thể đưa Cách mạng đến chỗ diệt vong. Quan điểm đối lập
của tôi bắt rễ từ lý thuyết, bên ngoài thì có vẻ hấp dẫn, nhưng
thực chất thì lại có hại như thế. Tôi đã yêu cầu cải cách chế độ
chuyên chính, yêu cầu nhiều dân chủ hơn, yêu cầu bãi bỏ chế độ
khủng bố, và nới lỏng kỷ luật nội bộ của Đảng; tôi công nhận
rằng trong tình hình hiện nay những đòi hỏi như thế là có hại và
thực chất là phản cách mạng...”
Anh
lại ngưng, cổ họng khô còn giọng nói thì đã khản đặc. Xung quanh lặng
ngắt như tờ, nghe rõ cả tiếng bút chì đưa trên mặt giấy, đấy là
cô thư ký đang tiếp tục ghi chép. Mắt vẫn nhắm, đầu hơi nhướng
lên một chút, anh tiếp tục:
“Các
anh có thể coi tôi là phản cách mạng với ý như thế và chỉ như
thế mà thôi. Tôi chẳng có gì để nói về những tội trạng đã nêu
trong bản án mà anh vừa đọc.”
“Hết
chưa?”, Gletkin hỏi.
Giọng
hắn ta nghe cục cằn đến nỗi Rubashov trố mắt ra nhìn. Dưới ánh đèn
sáng đến loá mắt, Gletkin vẫn ngồi nghiêm túc như cũ. Cuối cùng
Rubashov đã tìm được đặc điểm của Gletkin: “sự gian ác mang vẻ mặt
nghiêm túc”.
“Anh
đã nói như thế nhiều lần rồi”, Gletkin gắt. “Trong hai bản kiểm thảo
trước đây, một cách đây hai năm và một nữa cách đây mười hai
tháng, anh đã công khai thú nhận rằng thái độ của anh “là phản cách
mạng và đi ngược lại lợi ích của nhân dân”. Cả hai lần anh đều xin
Đảng tha thứ và hứa sẽ trung thành với đường lối của lãnh đạo.
Bây giờ anh lại định chơi cái trò như thế đến lần thứ ba. Lời khai
vừa rồi của anh chỉ là một sự dối trá trắng trợn. Anh công nhận
có ’quan điểm đối lập’ nhưng lại phủ nhận những hành động mà những
quan điểm như thế nhất định sẽ tạo ra trong tương lai. Tôi đã nói
với anh là lần này anh sẽ không thoát được một cách dễ dàng như
thế đâu.”
Gletkin
ngưng cũng đột ngột như khi hắn bắt đầu. Có tiếng lạo xạo trong
chiếc đèn pha đặt phía sau cái bàn viết. Ánh sáng càng chói chang
hơn.
“Những
lời tuyên bố trước đây của tôi”, Rubashov chậm rãi nói, “là nhằm
mục đích chiến thuật. Chắc chắn là anh biết rằng một số nhà chính
trị đối lập bị buộc phải đưa ra những tuyên bố như thế để không
bị khai trừ ra khỏi Đảng. Nhưng bây giờ tôi có quan điểm khác...”
“Nghĩa
là lần này anh chân thành?”, Gletkin hỏi ngay, giọng nói không có vẻ
gì là chế giễu cả.
“Vâng”,
Rubashov bình tĩnh đáp. “Còn trước đây là nói dối?”
“Cứ
cho là như thế.”
“Để
giữ lấy cái đầu của mình chứ gì?” “Để được tiếp tục công tác.”
“Không
còn đầu thì chẳng thể công tác được. Nghĩa là để giữ cái đầu?”
“Cứ
cho là như thế.”
Trong
khoảng thời gian ngắn xen giữa câu hỏi nhát gừng của Gletkin và câu
trả lời của mình, Rubashov còn nghe rõ tiếng sột soạt của ngòi bút
chì của cô thư ký và tiếng lạo xạo của cái đèn pha. Từng luồng
ánh sáng chói loà hắt thẳng vào mặt, nóng khủng khiếp, Rubashov
phải rút khăn ra lau mồ hôi trán. Dù đã rất nhức nhối, anh vẫn cố
gắng mở mắt, song thời gian nhắm vẫn càng lúc càng dài hơn; buồn
ngủ quá và sau một loạt câu hỏi, khi Gletkin ngưng lại trong giây
lát, Rubashov bỗng nhận ra rằng cằm anh đã gục sát vào ngực. Giật
mình tỉnh giấc vì câu hỏi tiếp theo, anh không còn biết mình đã
ngủ bao lâu nữa.
“Tôi
nhắc lại”, có tiếng Gletkin nói. “Những lới sám hối trước đây của
anh là chỉ nhằm lừa dối Đảng và để bảo vệ cái sọ của mình.”
“Tôi
đã công nhận như thế rồi”, Rubashov nói.
“Đấy
cũng là mục đích khi anh công khai đoạn tuyệt với cô thư ký tên là
Arlova?”
Rubashov
gật đầu. Bây giờ không chỉ hố mắt bên phải bị nhức mà có cảm
tưởng như toàn bộ má bên phải đều đau rát không thể nào chịu
được. Ngay cái răng sâu cũng bắt đầu đau trở lại.
“Anh
có biết rằng Arlova đã nhiều lần đòi anh ra làm chứng không?”
“Có,
người ta đã nói với tôi như thế”, Rubashov đáp. Cái răng ngày càng
nhức hơn.
“Chắc
chắn là anh biết rằng lời tuyên bố của anh lúc đó, bây giờ thì anh
cho là giả dối, đã đóng vai trò quyết định trong bản án tử hình
của Arlova?”
“Người
ta đã nói với tôi như thế.”
Rubashov
có cảm giác như phía má bên phải đau như đang bị chuột rút. Suy
nghĩ trở nên chậm chạp, đầu nặng như chì, ngồi cho thẳng là cả một
vấn đề. Giọng Gletkin như xoáy vào óc:
“Như
vậy nghĩa là công dân Arlova có thể đã là người vô tội?”
“Có
thể là như thế”, Rubashov đáp với vẻ giễu cợt đầy cay đắng.
“...Và
cô ta đã bị hành quyết là do anh nói dối để bảo toàn mạng sống
của mình?”
“Có
thể là như thế”, Rubashov nói. “Đồ đểu”, anh tự nhủ một cách bực
tức đầy bất lực và mệt mỏi. “Dĩ nhiên là mày nói đúng. Vậy thì
tao với mày, thằng nào đểu hơn? Nhưng hắn đang nắm cổ mình mà mình
thì không làm gì được vì không thể chết một cách đơn giản như
thế được. Chỉ cần nó cho mình ngủ một giấc. Mày mà còn tra tấn
như thế này nữa thì tao sẽ im luôn, tao toi mà mày cũng không thoát
đâu.”
“...
Sau những việc như thế mà anh còn đòi người ta tôn trọng ư?”,
Gletkin tiếp tục. Đúng nhưng ác quá. “Anh vẫn tiếp tục phủ nhận
không phải là tội phạm được ư? Sau những việc làm như thế mà anh
còn đòi chúng tôi tin anh ư?”
Đầu
Rubashov gục xuống, anh đã chịu thua, không giữ thẳng được nữa. Dĩ
nhiên là Gletkin không thể tin anh. Chính anh cũng bắt đầu thấy lúng
túng trong một mớ bòng bong những điều dối trá có chủ đích và
những trỏ giả vờ đầy biện chứng, cũng bị lạc trong sự mù mờ giữa
chân lý và ảo tưởng nữa là hắn. Chân lý tối hậu thì ngày càng
xa, trước mắt chỉ thấy rặt những điều dối trá mà thôi. Đường thì
xa, lối rẽ thì nhiều, còn phải lộn trái lương tâm mình bao nhiêu
lần nữa đây! Làm thế nào để Gletkin tin rằng lần này anh nói thật?
Trước đây anh thường phải tranh luận, phải thuyết phục, phải nói
chuyện với một người nào đó, còn bây giờ anh chỉ muốn lăn ra ngủ,
muốn biến đi luôn cho xong...
“Tôi
không đòi hỏi gì cả”, Rubashov vừa nói vừa cố gắng ngẩng đầu lên.
“Tôi chỉ muốn chứng tỏ lòng trung thành với Đảng mà thôi.”
“Chỉ
có một cách”, giọng Gletkin lại vang lên, “đấy là thú nhận hoàn
toàn. Chúng tôi đã chán ngấy cái trò ‘quan điểm đối lập’ và động
cơ cao thượng của anh rồi. Chúng tôi yêu cầu anh thú nhận hoàn
toàn và công khai các hoạt động tội phạm sau khi anh chuyển sang lập
trường chống đối như thế. Chỉ có một cách giúp Đảng, đấy là cảnh
báo cho quần chúng thấy – trên cơ sở hoạt động của chính anh – thái
độ chống Đảng có thể đưa người ta đến những hậu quả tai hại như
thế nào.”
Rubashov
chợt nhớ đến những bữa ăn nhẹ của Anh Cả. Bên má phải có vẻ như
đã sưng phồng lên nhưng chỉ âm ỉ chứ không còn đau rát như trước
nữa. Khi nghĩ đến bữa ăn nhẹ của Anh Cả, khuôn mặt anh bỗng rúm ró
lại như vừa ngửi thấy mùi gì rất khó chịu vậy.
“Tôi
không thể thú nhận những tội lỗi mà tôi không phạm”, Rubashov dứt
khoát nói.
“Không”,
Gletkin trả lời. “Không, anh không thể làm như thế được.” Rubashov
có cảm tưởng như đây là lần đầu tiên anh nghe thấy Gletkin nói
bằng giọng chế giễu như thế.
Từ
đó trở đi Rubashov chỉ còn nhớ một cách rất mù mờ. Sau câu “anh
không thể làm như thế được”, anh nhớ rõ câu này vì chất giọng đặc
biệt của nó, thì đến một khoảng trống.
Sau
này anh có cảm tưởng là lúc ấy mình đã ngủ thiếp đi, hơn nữa còn
thấy một giấc mơ dễ chịu nữa. Giấc mơ có lẽ chỉ kéo dài vài
giây đồng hồ, gồm những phong cảnh không liên quan gì đến nhau: một
vùng đất tràn ngập ánh sáng với hàng cây già thẳng tắp bên đường
vào trang trại của bố anh, một đám mây màu trắng lững lờ trôi trên
hàng cây mà anh từng nhìn thấy ngày thơ ấu.
Sau
đó là tiếng Gletkin sang sảng ngay trên đầu, chắc chắn là hắn đã
đứng và nhoài người qua mặt bàn để nói, và trong phòng còn có
thêm một người nữa.
“...Anh
có nhận ra người này không?”
Rubashov
gật đầu. Anh nhận ra ngay Môi Thỏ dù anh ta
không
trùm áo mưa như những lần đi dạo ngoài sân trại giam. Một loạt các
con số bỗng hiện về trong trí não: 2–3, 1–1, 4–3, 1–5, 3–2, 2– 4... “Môi
Thỏ gửi lời chào”. Vì sao 402 lại truyền cho anh câu này nhỉ?
“Anh
gặp người này khi nào và ở đâu?”
Phải
khó khăn lắm Rubashov mới nói được, môi anh khô, lưỡi như đã rộp
lên và có vị đắng ở trong cổ.
“Tôi
đã nhiều lần nhìn thấy anh ta đi dạo ngoài sân trại.”
“Trước
đây anh chưa từng gặp anh ta chứ?”
Môi
Thỏ đứng ngay ở cửa ra vào, chỉ cách Rubashov vài bước chân, ánh
sáng của cái đèn pha chiếu thẳng vào người anh ta. Mặt anh ta
thường ngày vàng vọt thì nay trắng bệch ra như bôi phấn, cái mũi
nhọn hoắt, môi trên tách đôi, sưng vù, run rẩy để lộ ra cái lợi
trống không. Hai tay anh ta buông thõng đến gần đầu gối, trông chẳng
khác gì một hình nhân trước ánh đèn sân khấu. Lại một loạt con
số nữa xuất hiện trong trí não Rubashov: “4–5, 3–5, 4–3...” – “...bị tra
tấn hôm qua”. Đồng thời trong trí nhớ cũng hiện lên hình ảnh mù mờ
một người, giống như anh em sinh đôi với cái hình nhân này, mà anh
gặp đã lâu, trước khi bước vào buồng giam 404 ở đây.
“Tôi
không dám chắc”, anh lưỡng lự đáp. “Nhưng tôi có cảm giác rằng đã
từng gặp anh ta rồi.”
Ngay
khi chưa nói hết, Rubashov đã cảm thấy không nên nói câu này. Rõ
ràng là Gletkin không để cho anh có thì giờ suy nghĩ. Hắn hỏi một
cách dồn dập chẳng khác gì con chim săn mồi rỉa nạn nhân của nó.
“Lần
gặp gần đây nhất là ở đâu và lúc nào? Người ta vẫn nói là anh
có trí nhớ tốt lắm cơ mà.”
Rubashov
không đáp. Anh không thể nhớ đã nhìn thấy cái hình nhân đang mấp
máy môi giữa luồng ánh sáng chói chang kia ở đâu. Môi Thỏ đứng bất
động. Anh ta đưa lưỡi liếm chỗ môi sưng, mắt thì dáo dác hết nhìn
Rubashov lại nhìn Gletkin.
Cô
thư ký đã ngừng viết, chỉ nghe thấy tiếng rì rì của cái đèn pha
và tiếng lách cách của chiếc thắt lưng của Gletkin; hắn ta chống
khuỷu tay lên tay vịn của cái ghế, nhoài người ra phía trước và
cất tiếng hỏi:
“Anh
từ chối trả lời câu hỏi?”
“Tôi
không nhớ”, Rubashov đáp.
“Tốt
thôi”, Gletkin nói. Hắn nhoài hẳn lên bàn, toàn thân hướng thẳng
về phía Môi Thỏ và hạ lệnh:
“Anh
có thể giúp công dân Rubashov nhớ lại được không? Anh gặp ông ta
lần cuối cùng ở đâu?”
Môi
Thỏ đã trắng lại càng trắng hơn. Đôi mắt anh ta hướng về phía cô
thư ký, rõ ràng là bây giờ mới phát hiện ra cô, nhưng ngay lập
tức ánh mắt lại đảo lia lịa, như có ý tìm chỗ trốn. Sau khi liếm
chỗ môi sưng, Môi thỏ vội vã nói:
“Công
dân Rubashov xúi giục tôi đầu độc lãnh tụ Đảng ta.”
Lúc
đầu Rubashov hơi ngạc nhiên vì nghe thấy giọng nói trầm và du
dương, khó có thể nghĩ rằng một kẻ tả tơi thế kia lại có thể
nói như vậy. Trái ngược hoàn toàn với vẻ bề ngoài, giọng nói của
anh ta vẫn đầy sức sống. Phải một lúc sau Rubashov mới hiểu được
điều anh ta nói. Từ lúc trông thấy Môi Thỏ anh đã nghĩ đến chuyện
này và dự cảm được mối nguy nhưng vẫn không ngờ là mọi chuyện
lại lố bịch đến như thế. Ngay lúc đó, từ phía sau – Rubashov đã quay
mặt về phía Môi Thỏ –
Glekin
đã vội vã lên tiếng. Giọng hắn có vẻ run run:
“Chưa
ai hỏi anh cái đó. Tôi mới hỏi anh là anh gặp Rubashov ở đâu?”
“Ngu”,
Rubashov chợt nghĩ. “Lẽ ra hắn ta không được nhấn mạnh rằng đấy là
một câu không đúng chỗ. Mình sẽ không nhận ra được.” Anh có cảm
giác là đầu óc đã hoàn toàn tỉnh táo, tâm trạng cực kì phấn
khích. “Nhân chứng chỉ là một cái máy hát, thế mà lại hát sai”,
anh lại tự nhủ. Câu trả lời tiếp theo của Môi Thỏ còn du dương
hơn:
“Tôi
gặp công dân Rubashov sau buổi tiếp tân của Đại diện Bộ Thương mại
ở B. Tại đây ông ta đã xúi giục tôi đầu độc lãnh tụ Đảng ta.”
Trong
khi nói đôi mắt láo liên của anh ta hướng hẳn về phía Rubashov.
Rubashov đeo kính lên và nhìn lại một cách chăm chú như có ý dò
hỏi. Nhưng trong ánh mắt của anh ta không có vẻ gì là sự ân hận,
mà ngược lại, chứa đầy sự tin cậy và thậm chí trách móc của một
kẻ bị hành hạ đến thân tàn ma dại. Không chịu nổi, Rubashov phải
quay mặt nhìn đi chỗ khác.
Từ
phía sau, giọng Gletkin lại vang lên, vẫn tự tin và gay gắt như cũ:
“Anh
có nhớ ngày tháng không?”
“Tôi
nhớ rõ”, Môi Thỏ vẫn nói một cách dịu dàng đến mức khó tin. “Đấy
là sau buổi tiếp tân nhân kỷ niệm 20 năm ngày Cách mạng thành
công.”
Anh
ta vẫn nhìn chằm chằm vào mặt Rubashov, làm như Rubashov có thể cứu
được anh ta vậy. Rubashov đã nhớ, ban đầu còn mù mờ nhưng sau thì
rõ hẳn. Bây giờ thì anh nhớ đã gặp Môi Thỏ ở đâu. Nhưng điều đó
cũng không gợi trong anh bất kỳ tình cảm nào ngoài sự ngạc nhiên.
Quay lại phía Gletkin, mắt nheo lại vì ánh đèn, Rubashov bình tĩnh
nói:
“Anh
ta nói đúng đấy. Tôi không nhận ra con trai giáo sư Kieffer vì mới gặp
anh ta có một lần trước khi anh ta rơi vào tay các người. Phương
pháp của các người quả là hiệu nghiệm, rất đáng khen đấy.”
“Nghĩa
là anh công nhận có quen với người này, kể cả ngày tháng hai
người gặp nhau, đúng không?”
“Tôi
đã nói rồi”, Rubashov uể oải đáp. Tâm trạng phấn khích đã không
còn, trong đầu lại vang lên những tiếng ù ù như búa gõ như cũ.
“Nếu anh nói ngay từ đầu rằng đây là con của giáo sư Kieffer bất
hạnh, bạn tôi, thì tôi đã nhận ra anh ta rồi.”
“Trong
cáo trạng có đầy đủ tên tuổi ông ta”, Gletkin nói.
“Tôi
chỉ biết bí danh của ông ta, tức Giáo sư Kieffer thôi.”
“Chuyện
vặt”, Gletkin nói. Hắn lại nhoài người ra phía trước như muốn đè
bẹp Môi Thỏ. “Tiếp tục đi. Các anh bàn bạc những chuyện gì?”
“Lại
lẫn rồi”, Rubashov tự nhủ, dù lúc ấy anh đã buồn ngủ lắm. “Đấy
không phải là chuyện vặt. Nếu quả thật mình định lôi kéo người
này vào một âm mưu ngu xuẩn như thế thì chắc chắn chỉ nhắc là
mình phải nhớ ngay, cần gì tên tuổi.” Nhưng anh đã quá mệt, không
thể nào giải thích được, vả lại muốn giải thích thì anh phải quay
mặt về phía ánh đèn. Thà không nói còn hơn.
Trong
khi hai người tranh luận thì Môi Thỏ đứng yên, đầu cúi gằm, môi
trên mấp máy liên tục, khuôn mặt bệch ra dưới ánh sáng gay gắt
của ngọn đèn pha. Rubashov nhớ lại Kieffer, người bạn, người đồng
chí cũ, chuyên gia hàng đầu về lịch sử Cách mạng. Trên những ảnh
chụp các đại biểu Đại hội – tất cả đều để râu và đều có một
vòng tròn nhỏ đánh số phía trên đầu trông như vầng hào quang – ông
ngồi phía bên trái Ông Cụ. Kieffer là trợ lý của Ông Cụ về các
vấn đề sử học, là bạn chơi cờ và cũng có thể là người bạn tâm
giao duy nhất của Cụ. Là người gần gũi như thế cho nên sau khi Ông
Cụ qua đời, Kieffer được giao nhiệm vụ viết tiểu sử của Người.
Nhưng cuốn tiểu sử mà Kieffer bỏ ra mười năm mới hoàn tất đã
không bao giờ được xuất bản. Trong mười năm đó các sự kiện cách
mạng đã được giải thích một cách hoàn toàn khác, vai trò của các
nhân vật chính đã được viết lại, các giá trị đã bị xới tung lên
hết; nhưng Kieffer kiên quyết không chịu nhượng bộ, ông không chấp nhận
cách suy nghĩ của thời kì mới dưới triều của Anh Cả...
“Tôi
theo cha”, Môi Thỏ tiếp tục ngân nga, “tham dự Hội nghị Quốc tế về
Nhân chủng học, trên đường trở về có ghé vào B. vì cha tôi muốn
thăm người bạn cũ của ông, tức là công dân Rubashov...”
Rubashov
lắng nghe, tò mò pha lẫn buồn thương. Môi Thỏ nói đúng, ông bạn
già Kieffer đã ghé thăm anh, vừa để tâm sự vừa tìm lời khuyên.
Buổi tối họ ngồi với nhau có lẽ là những giây phút vui vẻ cuối
cùng trong cuộc đời Kieffer trên thế gian này.
“Chúng
tôi chỉ có một ngày”, Môi Thỏ vừa nói vừa nhìn chòng chọc vào
Rubashov như muốn được giúp đỡ và khích lệ. “Đấy chính là ngày kỷ
niệm Cách mạng, vì vậy tôi mới nhớ rõ như thế. Hôm đó Rubashov
rất bận nên chỉ gặp bố tôi có một lúc. Nhưng buối tối, khi buổi
tiếp tân tại Công sứ quán chấm dứt thì ông ta mời bố tôi đến
phòng riêng, tôi được đi theo. Ông Rubashov có vẻ mệt, mặc áo ngủ
nhưng tiếp chúng tôi rất nhiệt tình. Ông ta mang ra nào rượu vang,
rượu cô nhắc, bánh kẹo, rồi ôm lấy cha tôi và bảo: “Coi như đây
là bữa liên hoan của những người Mohican[12]
cuối cùng...”
Sau
lưng Rubashov bỗng có tiếng Gletkin ngắt lời:
“Anh
có nhận thấy rằng Rubashov cố tình chuốc rượu để dễ bề lôi kéo
anh tham gia vào âm mưu của ông ta không?”
Rubashov
có cảm giác như trên khuôn mặt tả tơi của Môi Thỏ thoáng hiện một
cái gì đó như là nụ cười: đây là lần đầu tiên anh thấy người
đứng trước mặt có nhiều nét giống chàng thanh niên mà anh từng gặp
tối hôm đó. Nhưng nụ cười đã tắt lịm ngay lập tức, Môi Thỏ chớp
mắt và thè lưỡi ra liếm đôi môi khô.
“Tôi
cũng thấy ngờ ngợ nhưng chưa hiểu được kế hoạch của ông ta.”
“Đồ
chó đẻ”, Rubashov thầm nghĩ, “chúng đã làm những gì với nhà
ngươi...”
“Tiếp
tục đi”, Gletkin lại ra lệnh.
Phải
một lúc sau Môi Thỏ mới tập trung được tư tưởng. Người ta nghe rõ
tiếng cô thư ký gọt bút chì.
“Rubashov
và bố tôi nhắc lại kỷ niệm cũ. Đã lâu họ không gặp nhau. Họ nói
về những ngày trước Cách mạng, về cuộc Nội chiến, về những người
bạn cũ mà tôi chỉ nghe nói chứ chưa gặp bao giờ. Họ thường nói
bóng gió nên không phải lúc nào tôi cũng hiểu, đôi khi họ phá lên
cười nhưng tôi cũng không biết họ cười cái gì.”
“Anh
có uống nhiều không?”, Gletkin hỏi.
Môi
Thỏ chớp mắt liên tục. Rubashov nhận thấy anh ta có vẻ lắc lư,
dường như sắp ngã đến nơi.
“Tôi
nghĩ là nhiều”, Môi Thỏ tiếp tục. “Mấy năm gần đây tôi chưa thấy
bố tôi vui như thế bao giờ.”
“Thế
đấy”, Gletkin lại lên tiếng, “ba tháng sau thì bố anh bị kết tội
phản động và ba tháng sau nữa thì bị thủ tiêu, đúng không?”
Môi
Thỏ lại liếm môi, mắt đờ đẫn nhìn vào ngọn đèn và đứng im, không
nói. Rubashov đột ngột quay hẳn lại phía Gletkin, nhưng ánh đèn chói
quá đành nhắm mắt và ngoảnh mặt sang hướng khác, rồi lấy kính lau
vào ống tay áo. Cô thư ký đã ngừng viết. Một lúc sau mới thấy
Gletkin lên tiếng:
“Lúc
đó anh đã biết những hoạt động phản cách mạng của bố mình chưa?”
Môi
Thỏ lại liếm mép.
“Có”,
anh ta đáp.
“Anh
biết là Rubashov đồng quan điểm với bố mình.” “Vâng.”
“Hãy
kể lại buổi nói chuyện. Không cần đi vào chi tiết.” Môi Thỏ vòng
hai tay ra đằng sau, vai tựa vào tường.
“Sau
đó bố tôi và ông Rubashov chuyển sang nói về thời hiện tại. Họ chê
bai công tác Đảng và các biện pháp của Lãnh tụ. Bố tôi và ông
Rubashov gọi Lãnh tụ là Anh Cả. Rubashov bảo rằng từ ngày Anh Cả
ngồi vào ghế lãnh tụ thì không khí trong Đảng trở nên ngột ngạt,
không thể nào thở được. Chính vì thế mà ông ta xin ra nước ngoài
công tác.” Gletkin quay sang Rubashov.
“Nếu
tôi không lầm thì chỉ một thời gian ngắn sau đó anh đã công khai
tuyên bố trung thành với Lãnh tụ Đảng?”
Rubashov
khẽ nghiêng người về phía ánh đèn.
“Đúng
như thế”, anh nói.
“Họ
có thảo luận ý định đó của Rubashov không?”, Gletkin hỏi Môi Thỏ.
“Có.
Bố tôi trách Rubashov và bảo rằng ông rất thất vọng. Rubashov cười
và gọi bố tôi là Don Quixote. Ông ta bảo rằng quan trọng là phải
sống đã và sẽ chờ cơ hội.”
“Câu
‘chờ cơ hội’ có nghĩa là gì?”
Môi
Thỏ lại nhìn Rubashov với ánh mắt tuyệt vọng và thật đáng thương.
Anh chỉ muốn đứng dậy và hôn vào trán anh ta. Anh vừa nhếch mép
cười cái ý nghĩ kì quặc đó thì đã nghe thấy giọng trầm bổng của
Môi Thỏ:
“Đấy
là lúc Lãnh tụ bị lật đổ.”
Gletkin
đã nhận thấy nụ cười của Rubashov, liền hỏi:
“Kỷ
niệm cũ làm anh buồn cười à?”
“Có
thể như thế”, Rubashov đáp và nhắm mắt lại.
Gletkin
xắn lại tay áo rồi tiếp tục hỏi Môi Thỏ:
“Nghĩa
là Rubashov nói đến việc lật đổ Lãnh tụ Đảng. Chuyện đó sẽ diễn ra
như thế nào?”
“Bố
tôi cho rằng sự chịu đựng sẽ có giới hạn, Đảng sẽ phế truất ông
ta hay buộc ông ta phải từ chức; phe đối lập phải tuyên truyền tư
tưởng này cho quần chúng đảng viên.”
“Thế
còn Rubashov?”
“Rubashov
cười và lại gọi bố tôi là Don Quixote ngốc nghếch. Ông ta nói rằng
không phải vô tình mà Anh Cả nắm được quyền lực, đấy là một trong
những tính chất của con người, mà cụ thể là niềm tin tuyệt đối
vào sự đúng đắn của mình và vì vậy mà cũng tuyệt đối phi luân.
Không bao giờ ông ta tự nguyện từ bỏ quyền lực, chỉ có cách là
dùng vũ lực. Chẳng thể hi vọng gì vào quần chúng đảng viên được
bởi vì Anh Cả nắm hết mọi quyền lực, tất cả các vị trí then chốt
đều do bộ máy quan liêu trung thành với ông ta nắm giữ, họ biết
rằng sẽ mất hết nếu ông bị loại và vì thế sẽ trung thành đến
cùng.”
Mặc
dù ngái ngủ, Rubashov cũng phải ngạc nhiên khi nghe thấy chàng trai
này nhắc lại một cách chính xác đến như thế ý kiến của anh hôm
đó. Chính anh cũng không còn nhớ cụ thể câu chuyện ngày hôm đó,
nhưng chắc chắn là Môi Thỏ đã kể lại một cách hoàn toàn chính
xác. Rubashov ngạc nhiên nhìn chàng trai, anh lại thấy mình tỉnh táo
trở lại.
Giọng
Gletkin đã lại oang oang ngay phía sau:
“Nghĩa
là Rubashov khẳng định rằng phải dùng vũ lực chống lại Anh Cả, ý
tôi muốn nói là chống lại Lãnh tụ Đảng?”
Môi
Thỏ gật đầu.
“Lý
lẽ của ông ta lại nhân lúc ngà ngà say đã tạo ấn tượng mạnh đối
với anh, đúng không?”
Môi
Thỏ không trả lời ngay. Một lúc sau anh ta mới đáp, giọng nói nhỏ
hơn bình thường:
“Thực
ra là tôi không uống. Nhưng tất cả những điều ông ta nói đều rất
thuyết phục đối với tôi.” Rubashov gục đầu xuống. Một mối ngờ vực
bỗng xoáy vào lòng anh, đau hệt như một vết thương, làm anh quên
hết mọi chuyện khác. “Chả lẽ anh chàng tội nghiệp này lại rút ra
những kết luận thực tiễn từ những suy nghĩ của chính ta; chả lẽ anh
ta, kẻ đang đứng trước luồng ánh sáng chói chang kia lại là hiện
thân của lý thuyết mà ta từng theo đuổi hay sao?”, Rubashov tự hỏi.
Gletkin
không để anh kết thúc luồng suy nghĩ. Cái giọng the thé của hắn đã
lại vang lên:
“...Sau
khi chuẩn bị về mặt lý luận là đến chỉ thị hành động à?”
Môi
Thỏ không đáp, chỉ chớp chớp mắt vì chói quá.
Gletkin
đứng đợi. Rubashov ngẩng đầu lên. Thời gian cứ thế trôi, chỉ nghe
thấy tiếng tí tách của chiếc đèn pha; rồi giọng Gletkin, lần này
còn khô khan và đúng mực hơn:
“Anh
có muốn giúp đỡ để nhớ lại không?”
Gletkin
cố ý phát âm một cách lãnh đạm, nhưng nghe xong Môi Thỏ bỗng giật
bắn người lên như vừa bị quất roi vào lưng vậy. Anh ta lại liếm
môi, trong ánh mắt thoáng hiện nỗi sợ hãi của một con vật bị đuổi
đến đường cùng. Sau đó giọng anh ta lại vang lên thánh thót:
“Không,
chiều hôm đó thì không, mãi sáng hôm sau, khi chúng tôi gặp riêng
thì ông ta mới nói như thế.”
Rubashov
mỉm cười. Dĩ nhiên là thằng Gletkin đã chuyển câu chuyện tưởng
tượng này sang ngày hôm sau vì tuy ngu nhưng nó cũng biết rằng
không bao giờ ông Kieffer lại chịu để cho người ta lôi kéo con mình
vào trò đầu độc như thế... Rubashov đã quên cơn choáng váng vừa
rồi, anh quay lại phía ánh đèn rồi vừa nheo mắt vừa hỏi:
“Tôi
nghĩ rằng bị đơn cũng có quyền hỏi khi đối chất?”
“Anh
có quyền”, Gletkin đáp.
Rubashov
lại quay sang phía chàng trai và nói với anh ta:
“Theo
tôi nhớ thì anh đã tốt nghiệp đại học tổng hợp ngay trước chuyến
đi.”
Đây
là lần đầu tiên Rubashov nói với Môi Thỏ; ánh mắt anh ta lại loé
lên sự tin cậy và niềm hi vọng. Môi Thỏ gật đầu.
“Thế
ra tôi nhớ không sai”, Rubashov nói. “Nếu tôi nhớ không lầm nữa thì
lúc đó anh có ý định xin vào làm việc tại Viện Nghiên cứu Lịch sử
của cha mình. Ước mơ của anh có thành hiện thực không?”
“Có”,
Môi Thỏ đáp, và sau một hồi lưỡng lự, anh ta nói thêm: “Sau khi bố
bị bắt thì tôi cũng bị cho thôi việc.”
“Rõ
rồi”, Rubashov nói. “Anh không thể ở lại Viện và phải tìm công việc
khác...”. Ngừng lại một lúc, rồi quay sang Glekin, Rubashov tiếp:
“...Điều
đó chứng tỏ rằng trước khi gặp nhau, tôi cũng như cậu thanh niên
này không thể biết anh ta sẽ làm gì trong tương lai cho nên việc
xúi giục anh ta đầu độc là không khả thi ngay cả về mặt lý thuyết.”
Tiếng
xột xoạt của ngòi bút chì trên mặt giấy đột ngột ngừng bặt. Dù
không nhìn lại, Rubashov cũng biết rằng cô thư ký đã ngừng viết và
đã quay khuôn mặt trái xoan của cô ta về phía Gletkin. Môi Thỏ cũng
nhìn chằm chằm vào Gletkin, nhưng trong ánh mắt đã không còn niềm hi
vọng nữa, chỉ còn sự bối rối và nỗi sợ hãi. Rubashov bỗng có cảm
giác như niềm hân hoan đã nhạt hẳn, có cảm tưởng như đã cắt đứt
con đường dẫn tới chiến công vang dội. Quả nhiên giọng Gletkin càng
lạnh lùng và nghiêm khắc hơn:
“Anh
còn hỏi gì nữa không?”
“Tạm
thời thì chỉ thế thôi”, Rubashov đáp.
“Không
ai khẳng định rằng anh bảo phải đầu độc”, Gletkin bình tĩnh nói. “Anh
hạ lệnh giết, người thực hiện có thể lựa chọn biện pháp.” Hắn
quay về phía Môi Thỏ: “Có phải thế không?”
“Vâng”,
Môi Thỏ đáp, giọng nói đã bớt căng thẳng.
Rubashov
nhớ là lời buộc tội có ghi “xúi giục hạ sát bằng cách đầu độc”,
nhưng anh bỗng nhận ra rằng mọi sự chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Dù
anh chàng Michael này có thực sự làm cái việc điên rồ ấy hay chỉ
dự định làm một chuyện gì đại loại như thế hay tất cả hoặc một
phần lời thú nhận đều do người ta mớm cho thì đấy cũng chỉ là để
trình diễn tại toà chứ chẳng liên quan gì đến tội lỗi của anh.
Điều quan trọng là cái hình nhân tội nghiệp kia chính là hiện thân
của con đường mà anh đã đi qua. Vai trò đã thay đổi, không phải
Gletkin mà chính là anh, Rubashov, đã làm rối sự việc bằng cách “chẻ
sợi tóc ra làm tư”. Lời buộc tội mà cho đến lúc đó anh vẫn coi là
phi lý thực ra chỉ đưa thêm vào, dù có vẻ vụng về và thô thiển,
những mắt xích còn thiếu để tạo ra một mớ lý luận hoàn hảo mà
thôi.
Nhưng
Rubashov cho rằng lời buộc tội vẫn còn một điểm chưa hoàn toàn
đúng. Song anh đã kiệt sức, không thể suy nghĩ thấu đáo và nói cho
gẫy gọn được nữa.
“Anh
còn hỏi gì nữa không?”, Gletkin lên tiếng.
Rubashov
lắc đầu.
“Anh
có thể đi được rồi”, Gletkin bảo Môi Thỏ. Hắn bấm chuông. Một nhân
viên bảo vệ bước vào, khoá tay Môi Thỏ, đưa đi. Trước khi bước ra
khỏi cửa Môi Thỏ còn ngoái lại nhìn
Rubashov,
như anh ta vẫn thường làm sau mỗi lần đi dạo ngoài sân trại. Đối
với Rubashov đây quả là một gánh nặng, anh tháo kính và lau vào ống
tay áo rồi quay mặt đi.
Khi
cánh cửa đã đóng lại thì Rubashov bỗng cảm thấy phát ghen với Môi
Thỏ. Nhưng tiếng Gletkin như đã xoáy vào màng nhĩ:
“Anh
có công nhận rằng lời khai của Kieffer phù hợp với những điểm chính
của kết luận điều tra không?”
Rubashov
lại phải quay về phía ánh đèn. Tiếng réo ù ù đập bập bùng trong
màng nhĩ, còn ánh sáng nóng và chói thì như xuyên thủng cả mí
mắt. Nhưng anh không bỏ qua mấy từ “những điểm chính”. Đấy là cách
để Gletkin sửa chữa sai lầm, chuẩn bị thay “xúi giục hạ sát bằng
cách đầu độc” sang “xúi giục hạ sát”.
“Phù
hợp ở những điểm chính”, Rubashov nói.
Có
tiếng thắt lưng lạch cạch, cô thư ký cũng ngọ nguậy trên ghế.
Rubashov biết rằng đối với họ, anh vừa nói một câu có tính quyết
định và đã thú nhận tội lỗi của mình. Làm sao bọn Neanderthal đời
mới này biết được quan điểm của anh về chân lý và sự công bằng?
“Ánh
sáng có làm anh khó chịu không?”, Gletkin bất ngờ hỏi.
Rubashov
mỉm cười. Gletkin thanh toán đây. Đấy là tâm lý của lũ người
Neanderthal. Nhưng khi ánh đèn vừa dịu đi một chút là Rubashov đã cảm
thấy nhẹ nhõm, thậm chí một cái gì đó như lòng biết ơn.
Mặc
dù ánh sáng vẫn còn gay gắt, nhưng Rubashov đã có thể nhìn thẳng
vào mặt Gletkin. Anh nhìn thấy một vết sẹo lớn trên cái đầu cạo
trọc.
“...Trừ
một điểm mà tôi cho là cực kì quan trọng”, Rubashov nói.
“Cụ
thể là điểm nào?”, Gletkin hỏi, vẫn với giọng cứng rắn và lạnh
lùng như cũ.
“Dĩ
nhiên là nó nghĩ rằng mình sẽ nói đến buổi gặp gỡ tay đôi với anh
chàng kia”, Rubashov tự nhủ. “Đối với hắn thì đây là điều quan
trọng: mọi thứ đều phải tròn trịa, dù có hơi lem luốc cũng không
sao. Dĩ nhiên hắn cho rằng như thế là đúng...”
“Điểm
này liên quan đến tôi”, Rubashov nói thành lời. “Đúng như bản luận tội,
lúc đó tôi đã nói đến sự cần thiết của bạo lực. Nhưng ý tôi
muốn nói là hành động chính trị chứ không phải là khủng bố cá
nhân.”
“Nghĩa
là nội chiến chứ gì?”, Gletkin nói.
“Không.
Hành động của quần chúng.”
“Như
chính anh cũng biết, hành động đó nhất định sẽ đưa đến nội chiến.
Đấy là sự khác biệt mà anh cho là quan trọng à?”
Rubashov
không trả lời. Trước đây vài phút anh cho đấy là điều cực kỳ quan
trọng, nhưng nay thì không. Trên thực tế, nếu phe đối lập chỉ có
thể thắng được bộ máy quan liêu của Đảng bằng một cuộc nội chiến
thì giải pháp này có gì hay hơn là trộn một ít thuộc độc vào bữa
ăn nhẹ của Anh Cả, cái chết của ông ta có thể sẽ làm cho chế độ sụp
đổ một cách mau hơn và ít tốn xương máu hơn? Giết một người chả
lẽ lại không tốt hơn là giết nhiều người hay sao? Chàng thanh niên
tội nghiệp kia có thể đã không hiểu ý anh, nhưng có thể ngay cả khi
lầm lẫn như thế anh ta vẫn hành động một cách nhất quán hơn là
thái độ của anh trong mấy năm vừa qua?
Đã
phản đối chế độ độc tài thì phải coi nội chiến là phương tiện.
Không chấp nhận nội chiến thì phải từ bỏ đối lập và chung sống
với độc tài.
Mấy
câu này anh viết đã lâu, đấy là trong cuộc bút chiến với các nhân
vật gọi là “cải lương”, hoá ra lại là bản án dành cho chính mình.
Không còn sức tranh luận với Gletkin nữa. Anh cảm thấy thanh thản sau
khi biết rằng mình đã thất bại hoàn toàn: cuộc chiến đã chấm dứt,
trách nhiệm cũng không còn, cơn buồn ngủ lập tức ập tới, không gì
cưỡng lại nổi. Tiếng ù ù ở trong đầu lập tức dịu hẳn, có cảm
giác như không phải Gletkin mà là Anh Cả đang ngồi ở kia, với ánh
mắt cười cợt đầy cảm thông khi họ bắt tay lần cuối cùng trước
lúc chia tay. Anh chợt nhớ đến hàng chữ ghi trên cổng ra vào nghĩa
trang Errancis, nơi chôn Saint–Just, Robespierre và mười sáu đồng chí
của họ:
Dormir
– Ngủ
Từ
đó cho đến hết buổi thẩm vấn, Rubashov không còn nhớ được rõ như
trước nữa. Có lẽ anh đã ngủ thiếp đi một lúc, vài phút mà cũng
có thể là vài giây, nhưng lần này thì hình như không mơ thấy gì
hết. Anh được Gletkin gọi dậy để ký biên bản. Anh cầm chiếc bút
máy và cảm thấy ghê ghê vì nó vẫn còn ấm vì vừa được lấy từ
túi áo của Gletkin ra xong. Cô thư ký đã ngừng viết, một sự im lặng
nặng nề bao trùm lên toàn bộ căn phòng. Cái đèn pha cũng không còn
kêu cọt kẹt nữa, ánh sáng cũng đã dịu, thậm chí hơi nhạt; bên
ngoài cửa sổ, một ngày mới đã bắt đầu.
Rubashov
ký. Cảm giác nhẹ nhõm và phó mặc vẫn còn mặc dù anh không biết
tại sao lại như thế, rồi vừa gà gật anh vừa đọc biên bản, trong đó
anh thú nhận rằng đã xúi giục Michael Kieffer đầu độc Lãnh tụ Đảng.
Bỗng nhiên anh có cảm giác rằng đây là một sự hiểu lầm tai hại,
chỉ muốn xoá ngay chữ ký và xé quách tờ giấy, nhưng may mà cảm
giác này trôi qua rất nhanh, anh trả tờ giấy cho Gletkin và lấy kính
lau vào ống tay áo.
Việc
tiếp theo anh còn nhớ được là đang đi ngoài hành lang, bên cạnh tay
bảo vệ cao to, không biết từ bao giờ, chính người này đã từng đưa
anh đến phòng Gletkin. Nửa thức nửa ngủ, anh đi ngang qua buồng cắt
tóc, cầu thang xoắn; nhớ lại nỗi sợ hãi lúc đi qua đây anh khẽ mỉm
cười. Sau khi nghe thấy tiếng đóng cửa anh liền khoan khoái ngã lăn
ra giường; ánh bình minh màu xám nhạt chiếu qua khung cửa sổ có tờ
báo nhét ở phía trên, anh thiếp ngủ ngay lập tức.
Khi
có người mở cửa buồng giam – trời vẫn chưa sáng hẳn – anh mới ngủ
được khoảng một tiếng đồng hồ. Anh tưởng là đã đến bữa ăn sáng;
nhưng bên ngoài không phải là người giám thị già mà là tay bảo vệ
cao to. Rubashov hiểu rằng anh phải quay lại chỗ Gletkin và việc lấy
cung sẽ tiếp tục.
Anh
lau trán và cổ bằng nước lạnh ngay cạnh bồn rửa mặt, đeo kính lên
và tiếp tục bước theo hành lang, qua buồng cắt tóc và cầu thang
xoáy mà không nhận ra rằng chính mình đã lắc lư theo nhịp bước khi
đi xuống cầu thang.
4.
Trong
đầu Rubashov, những buổi hỏi cung sau đó chỉ còn như một chuỗi các
sự kiện rất tù mù. Các cuộc thẩm vấn kéo dài liên tục mấy ngày
đêm liền, thỉnh thoảng mới được giải lao chừng một hai tiếng, nhưng
anh chỉ nhớ được những đoạn đối thoại rời rạc. Anh cũng không thể
nói chính xác chuyện đó diễn ra trong bao nhiêu lâu, có lẽ phải hơn
một tuần. Rubashov đã từng nghe nói đến biện pháp gọi là làm suy kiệt
hoàn toàn về mặt thể xác, trong đó hai hay ba điều tra viên thay nhau
liên tục thẩm vấn kẻ bị tình nghi. Nhưng Gletkin làm khác, hắn
không hề nghỉ, vừa hành hạ Rubashov hắn vừa tự ép xác mình. Đấy
là cách hắn tước đoạt cái chính nghĩa của kẻ bị đàn áp và sự
cao thượng của nạn nhân.
Chỉ
sau bốn mươi tám tiếng đồng hồ là Rubashov đã không còn phân biệt
được ngày đêm nữa. Vừa ngủ được một tiếng thì đã bị gã bảo vệ
cao to đánh thức, nhưng lúc đó anh không còn biết ánh sáng bên
ngoài cửa sổ là ánh bình minh hay hoàng hôn nữa. Hành lang, cửa
buồng giam và cầu thang xoắn, lúc nào cũng chỉ có mấy ngọn đèn điện
xám ngắt ấy. Nếu trong quá trình thẩm vấn mà thấy ngoài cửa sổ
đang sáng dần lên và Gletkin tắt đèn thì có nghĩa là trời đã sáng.
Nếu ngoài cửa sổ cứ tối dần đi và Gletkin bật đèn thì có nghĩa là
trời đã tối.
Nếu
Rubashov kêu đói thì Gletkin bảo mang bánh mì kẹp và trà vào. Nhưng
anh thường không nuốt được; nói cho ngay, anh rất đói nhưng cứ nhìn
thấy bánh mì là lại buồn nôn. Không thấy Gletkin ăn bao giờ nên
Rubashov, không hiểu vì sao, cũng cảm thấy nhục nếu nói mình đói.
Nói chung, Rubashov cảm thấy nhục khi để cho Gletkin thấy mình có
những biểu hiện sinh lý vì hắn ta không bao giờ tỏ ra mệt mỏi,
không bao giờ ngáp, không bao giờ hút, không tỏ vẻ đói khát gì cả,
lúc nào hắn cũng ngồi thẳng ngay bên cạnh cái bàn viết, quân phục
luôn chỉnh tề, thắt lưng thỉnh thoảng lại kêu lạch cạch. Nhục nhã
nhất là phải xin Gletkin cho đi vệ sinh. Gletkin cho gọi bảo vệ,
thường là anh chàng cao to, dẫn đi. Một lần Rubashov ngủ gục ngay
trong buồng vệ sinh. Từ đó bảo vệ không cho đóng cửa buồng vệ sinh
nữa.
Tâm
trạng của anh thay đổi luôn luôn, có cả chán nản lẫn phấn khích một
cách bất bình thường. Anh chỉ thực sự bị ngất có một lần, mặc dù
luôn ở tình trạng sắp sửa lăn quay ra đến nơi, nhưng lòng kiêu
hãnh đã giúp anh vượt qua tất cả. Những lúc như thế anh thường
hút một điếu thuốc, mắt nhìn vào ngọn đèn pha và buổi thẩm vấn
lại có thể tiếp tục.
Đôi
khi anh cũng lấy làm ngạc nhiên về khả năng chịu đựng của chính
mình. Nhưng anh biết rằng người ta thường không nhận thức được
khả năng chịu đựng của con người, những người bình thường không
thể ngờ được rằng họ lại có khả năng chịu đựng đến như thế. Anh
đã từng nghe nói có tù nhân không được ngủ từ mười lăm đến hai
mươi ngày, thế mà có người vượt qua được.
Khi
ký biên bản buổi thẩm vấn đầu tiên, anh nghĩ rằng thế là xong.
Nhưng đến buổi thứ hai thì anh biết rằng đấy mới chỉ là sự khởi
đầu. Bản luận tội có tất cả bảy khoản mà anh mới chỉ thú nhận có
một. Anh những tưởng đã nếm hết mùi nhục nhã. Nhưng hoá ra nhục
vinh đều có nhiều thang bậc, thắng bại cùng làm người ta choáng
váng như nhau, tất cả đều là vô đáy. Gletkin đang buộc anh bước
từng bước một xuống mãi cái vực sâu thăm thẳm đó.
Giải
thoát không phải là việc khó. Anh chỉ việc ký tất hoặc phủ nhận
tất là sẽ được yên. Nhưng cái cảm giác phức tạp, khó hiểu về
trách nhiệm không cho phép anh đi vào con đường đầy cám dỗ như thế.
Rubashov sống một cuộc đời đầy lý tưởng cho nên đối với anh “cám
dỗ” chỉ là một khái niệm mang tính lý thuyết. Còn bây giờ cám dỗ
ở cạnh anh suốt ngày và đêm, nó đi cùng anh qua dãy hành lang, nó
nằm trong luồng ánh sáng chói chang của Gletkin: sự cám dỗ chính là
hàng chữ viết trên cổng nghĩa trang của những kẻ chiến bại: Ngủ.
Thật
khó chống cự vì nó là sự cám dỗ nhẹ nhàng và thầm kín, chứ
không ồn ào, ầm ỹ và cũng không phải là sự cám dỗ xác thịt. Nó
cũng không dùng lý lẽ. Tất cả các lý lẽ đều thuộc về Gletkin, tất
cả chỉ để nhắc lại những từ được viết trên mảnh giấy mà người
thợ cắt tóc đã đưa cho anh: “Ngậm miệng mà chết đi”.
Đôi
khi, vì quá chán nản, Rubashov đã mấp máy môi, nhưng Gletkin không
nghe thấy gì. Sau đó Gletkin sẽ hắng giọng và sửa lại áo sơ mi, còn
Rubashov thì lấy kính ra lau vào ống tay áo và uể oảI gật đầu vì đã
nhận ra kẻ quyến rũ chính là Người Đối Thoại Không Lời mà anh đã
quên và mà hắn cũng chẳng có việc gì để làm ở đây...
“Nghĩa
là anh phủ nhận việc đã thay mặt phe đối lập đàm phán với đại diện
của nước ngoài trong việc trợ giúp lật đổ chế độ hiện hành? Anh
không nhận là đã sẵn sàng nhượng bộ về mặt lãnh thổ, tức là cắt
một số tỉnh của đất nước để trả giá cho sự giúp đỡ trực tiếp hoặc
gián tiếp của lực lượng can thiệp?”
Rubashov
nhất quyết phủ nhận, nhưng khi Gletkin nhắc lại ngày tháng và hoàn
cảnh của buổi gặp gỡ với nhà ngoại giao nước ngoài thì anh bỗng
nhớ lại một tình tiết của buổi nói chuyện. Vừa buồn ngủ, vừa bối
rối, anh nhìn Gletkin và nhận thấy rằng không thể nào giải thích cho
hắn hiểu được. Chuyện đó diễn ra sau buổi chiêu đãi tại Công sứ
quán ở B. Rubashov ngồi cạnh nam tước Z. lúc ấy đang là bí thư thứ
hai sứ quán của chính cái nước mà cách đây mấy tháng anh đã bị
đánh gãy răng, họ nói về một giống chuột lang quí hiếm và phát hiện
ra là cả bố nam tước Z. cũng như bố của Rubashov đều có nuôi loại
chuột này và hẳn là trước đây họ đã từng trao đổi các con giống
với nhau.
“Thế
mấy con chuột lang của ông thân sinh ra ngài hiện nay ra sao?”, nam
tước Z. hỏi
“Khi
Cách mạng nổi lên thì chúng bị làm thịt hết”, Rubashov đáp.
“Còn
của chúng tôi thị bị đóng hộp hết”, ông nam tước buồn bã nói.
Ông ta không có ý che giấu sự khinh bỉ đối với chế độ mới ở nước
mình, có lẽ chỉ vì vô tình mà nó chưa cho ông nghỉ việc mà thôi.
“Ông
và tôi đang ở trong cùng một hoàn cảnh”, ông nam tước nói và uống
cạn ly rượu.
“Chúng
ta là những kẻ sinh bất phùng thời. Chớ có nghĩ đến việc nuôi chuột
lang nữa, đây là thời của lũ hạ lưu.”
“Xin
ông đừng quên rằng tôi đứng về phía những kẻ hạ lưu”, Rubashov vừa
nói vừa mỉm cười.
“Tôi
không có ý nói như thế”, ông nam tước đáp. “Nếu nói về quan điểm
thì tôi tán thành cương lĩnh của anh lùn có ria mép[13]
của chúng tôi, nếu hắn không có thái độ nhắng nhít như thế. Xét
cho cùng, người ta chỉ có thể bị đóng đinh câu rút vì niềm tin của
chính mình mà thôi.” Họ còn ngồi uống cà phê thêm một lúc nữa và
khi đã uống đến cốc thứ hai ông nam tước lại nói: “Nếu các ông
còn làm một cuộc cách mạng nữa và lần này là để loại bỏ Anh Cả thì
xin ông hãy lưu ý đến những con chuột lang nhé.”
“Chuyện
đó khó xảy ra lắm”, Rubashov đáp và sau một hồi suy nghĩ, anh nói
thêm, “... nhưng có vẻ như bên các ông nhiều người nghĩ như thế?”
“Đa
số tin là như thế”, ông nam tước đáp. “Những vụ án diễn ra trong
thời gian vừa qua cho thấy bên nước ông đang có nhiều chuyện rất
lạ.”
“Chắc
là các ông có thảo luận các biện pháp cần thiết nếu cái sự kiện
khó tin đó xảy ra chứ?”, Rubashov hỏi.
Ông
nam tước trả lời ngay lập tức và chính xác như thể ông ta đã chờ
đợi câu hỏi từ lâu:
“Chúng
tôi đang chờ đấy. Dĩ nhiên là phải có giá nhất định.”
Lúc
đó họ đang đứng cạnh một cái bàn, tay cầm ly cà phê uống dở.
“Nghĩa
là giá cả cũng đã được quyết định rồi?”, Rubashov hỏi, thâm tâm
cảm thấy giọng nói của mình như có vẻ đóng kịch.
“Dĩ
nhiên rồi”, ông nam tuớc đáp và nói tên một tỉnh có trồng nhiều
lúa mì mà dân cư chủ yếu là các sắc dân thiểu số. Rồi họ chia
tay nhau...
Rubashov
đã quên chuyện này từ lâu, hay ít nhất anh cũng chưa bao giờ nhớ
đến nó một cách có ý thức. Đấy chỉ là câu chuyện làm quà lúc
trà dư tửu hậu, làm sao giải thích được cho Gletkin rằng đấy chỉ
là câu chuyện tầm phào? Rubashov hướng đôi mắt ngái ngủ nhìn
Gletkin lúc ấy vẫn ngồi như phỗng trước mặt. Không, không thể nói
với hắn về chuột lang được. Hắn chưa bao giờ uống cà phê với các
ông nam tước. Đọc hắn còn ngắc ngứ, nói thì ngọng. Hắn xuất thân
từ tầng lớp vô sản và chỉ thoát nạn mù chữ khi đã lớn. Hắn không
thể nào hiểu được rằng câu chuyện bắt đầu bằng những con chuột
lang có thể kết thúc, có trời mới biết, ở đâu.
“Tóm
lại, anh công nhận rằng hai người có nói chuyện với nhau?”, Gletkin
hỏi “Một câu chuyện hoàn toàn vô hại”, Rubashov mệt mỏi đáp, anh
biết rằng Gletkin đang dồn mình vào chân tường.
“Cũng
vô hại như những bài giảng hoàn toàn mang tính lý thuyết về việc lật
đổ các lãnh tụ Đảng bằng bạo lực cho anh chàng Kieffer chứ gì?”
Rubashov
lau kính vào ống tay áo. Câu chuyện này có thật là vô hại như anh
vẫn nghĩ hay không? Dĩ nhiên là anh không “đàm phán”, cũng chưa đi
đến thoả thuận nào, cũng chẳng có ai giao cho ông nam tước Z. làm
chuyện đó. Nhiều lắm thì cũng chỉ có thể gọi, như trong giới ngoại
giao thường nói, là “thăm dò” mà thôi. Nhưng sự “thăm dò” như thế
cũng là một phần trong cách suy nghĩ của anh thời đó, ngoài ra nó
còn phù hợp với truyền thống của Đảng nữa. Chính Ông Cụ, ngay
trước cách mạng, đã chả nhờ vào sự giúp đỡ của Bộ tổng tham mưu
của nước đó để trở về nước và lãnh đạo Cách mạng thành công là
gì? Chính Ông, trong khi ký hiệp ước đình chiến đầu tiên, đã chẳng
hi sinh một phần lãnh thổ để đổi lấy hoà bình là gì? “Ông Cụ đã
đổi đất lấy thời gian”, một người bạn của Rubashov lúc đó đã nhận
xét như thế. Câu chuyện “vô hại” đã quên từ lâu kia hoá ra lại ăn
khớp với toàn bộ tiến trình đến nỗi bây giờ chính Rubashov cũng
nhìn nó với con mắt của Gletkin. Có thể chính vì không quan tâm đến
loài chuột lang mà anh chàng Gletkin đọc chưa thông, viết chưa thạo,
suy nghĩ thì chậm chạp lại có thể tìm ra được những kết luận đơn
giản và dễ hiểu... Nhưng làm sao hắn biết hai người đã từng nói
chuyện với nhau? Hai người đã bị nghe trộm, khả năng này thật khó
xảy ra; hoặc ông nam tước xuất thân từ một gia đình quí tộc chính
là một kẻ khiêu khích – chỉ có Trời mới biết tại sao ông ta lại
làm như thế mà thôi. Trước đây những chuyện như thế cũng đã từng
xảy ra. Đấy là một cái bẫy, một cái bẫy đơn giản, phù hợp với
trình độ của Anh Cả và Rubashov đã lao vào chẳng khác gì một chú
chuột nhắt...
“Anh
biết rõ cuộc nói chuyện của tôi với nam tước Z”, Rubashov nói, “cho
nên chắc chắn là anh hiểu rằng cuộc nói chuyện đó không tạo ra bất
kì hậu quả nào.”
“Dĩ
nhiên là không”, Gletkin đáp. “Vì chúng tôi đã bắt giam anh đúng lúc
và đã kịp thời đập tan lực lượng đối lập trong toàn quốc. Nếu
chúng tôi không ra tay kịp thời thì vụ mưu phản đã gây ra hậu quả
rồi.”
Trả
lời sao đây? Chả lẽ lại nói rằng dù thế nào thì việc đó cũng
không thể gây ra hậu quả được vì anh, Rubashov, đã quá già, quá mệt
mỏi rồi, không thể nào hành động một cách nhất quán theo đúng
truyền thống của Đảng được, giá Gletkin ở vị trí của anh thì vấn
đề có thể sẽ khác? Chả lẽ lại nói rằng toàn bộ hoạt động của
cái gọi là lực lượng đối lập thực chất chỉ là những câu chuyện
tầm phào vì thế hệ cận vệ già, giống như anh, đã là những người
hết hơi từ lâu? Hết hơi vì những năm tháng đấu tranh bất hợp
pháp; vì những buồng giam ẩm ướt, những sự căng thẳng trước những
nỗi sợ hãi mà không bao giờ họ kể cho người khác nghe, mỗi người
phải tự hành động một mình suốt bao nhiêu năm, suốt hàng chục năm
trời ư? Hết hơi vì những năm tháng lưu vong, những cuộc đấu tranh
không khoan nhượng trong Đảng, vì sự vô nguyên tắc, vì những thất
bại thường xuyên và và sự tha hoá sau khi giành được thắng lợi
cuối cùng? Có cần nói rằng chưa bao giờ có cái gọi là phe đối lập
có tổ chức chống lại Anh Cả; tất cả chỉ là những câu chuyện tầm
phào, chỉ là trò đùa với lửa vì thế hệ cận vệ già đã cống hiến
hết mình, đã vắt kiệt tất cả tinh thần và sức lực; họ, giống như
những người đã chết trong nghĩa trang Errancis, chỉ còn một hi vọng:
ngủ yên và chờ đợi sự phán xét công bằng của hậu thế.
Trả
lời cái thằng ngốc này thế nào đây? Chả lẽ lại nói rằng hắn nói
rất đúng, nhưng hắn đã lầm ở điểm căn bản: trước mặt hắn không
phải là Rubashov mà chỉ là cái bóng của anh ta thôi? Chả lẽ lại
nói rằng vấn đề ở đây không phải là trừng phạt những việc anh đã
làm mà là trừng phạt những việc anh không chịu làm? “Người ta chỉ
có thể bị đóng đinh câu rút vì niềm tin của chính mình mà thôi”,
ông nam tước Z. đã nói như thế.
Trước
khi ký biên bản và được dẫn về buồng giam để ngã lăn ra giường
như một kẻ chết rồi – tức là trong lúc chờ lần lấy cung tiếp theo –
Rubashov đã hỏi Gletkin một câu. Việc này chẳng liên quan gì đến câu
chuyện, nhưng Rubashov biết rằng trước khi ký biên bản mới bao giờ
Gletkin cũng tỏ ra thoải mái hơn, đấy là cách hắn ta trả thưởng.
Câu hỏi có liên qua đến Ivanov.
“Công
dân Ivanov đã bị bắt”, Gletkin nói.
“Có
thể cho biết lý do được không?”, Rubashov hỏi tiếp.
“Ivanov
đã có tỏ ra vô trách nhiệm trong việc điều tra trường hợp của anh,
ngoài ra, trong khi nói chuyện riêng tư anh ta còn cho rằng chưa đủ
chứng cứ kết tội.”
“Nhưng
nếu anh ta thật sự tin như thế thì sao?”, Rubashov hỏi. “Có thể anh ta
tin rằng tôi không có tội thì sao?”
“Trong
trường hợp đó”, Gletkin đáp, “anh ta phải tạm ngưng vụ điều tra và
báo cáo với cấp trên rằng anh là người vô tội.”
Gletkin
có đùa không? Trông hắn vẫn đúng mực và lạnh lùng như cũ.
Lần
sau, vừa cầm cái bút vẫn còn hơi ấm của Gletkin, trước
khi
ký biên bản, nhân lúc cô thư ký vừa đi ra khỏi phòng, Rubashov liền
nói:
“Tôi
có thể hỏi anh câu nữa được không?”, vừa nói anh vừa nhìn vào vết
sẹo to tướng trên đầu Gletkin.
“Người
ta nói rằng anh ủng hộ các biện pháp cứng rắn. Tại sao anh không sử
dụng áp lực trực tiếp đối với tôi?”
“Anh
định nói là tra tấn?”, Gletkin lạnh lùng đáp. “Chính anh cũng biết
là luật hình sự cấm tra tấn cơ mà.”
Hắn
dừng lại ở đấy. Rubashov cũng vừa ký xong.
“Ngoài
ra”, Gletkin nói tiếp, “có những tên tội phạm thú nhận hết khi bị
tra tấn nhưng ra toà thì lại phản cung. Anh thuộc loại gan lì như
thế. Lời khai tại toà của anh chỉ có ích trên cơ sở hoàn toàn tự
nguyện.”
Đây
là lần đầu tiên Gletkin nói đến phiên toà. Nhưng trên đường trở
về buồng giam, đi sau người bảo vệ cao to, Rubashov không hề nghĩ đến
phiên toà công khai sắp diễn ra mà chỉ thầm nhắc đi nhắc lại câu
“Anh thuộc loại gan lì như thế”. Dù không muốn, nhưng câu nói đó
cũng làm anh hài lòng.
“Mình
thành lẩm cẩm và trẻ con quá”, anh vừa nghĩ như thế vừa ngả mình
xuống chiếc giường sắt trong buồng giam. Cảm giác khoan khoái còn
đọng lại cho đến khi anh ngủ thiếp đi.
Mỗi
lần, sau những cuộc tranh luận căng thẳng, rồi ký biên bản và lăn
ra giường, kiệt sức nhưng cũng mừng là sẽ được ngủ một đến hai
tiếng, bao giờ Rubashov cũng chỉ mong có một điều là Gletkin sẽ cho
ngủ một giấc thật đẫy. Anh biết rằng ước muốn này sẽ chỉ trở
thành hiện thực sau khi cuộc chiến kết thúc, sau khi mọi sự đã được
giải quyết một cách dứt điểm; anh cũng biết rõ rằng trận nào mình
cũng sẽ thua và chẳng có một chút ảo tưởng nào về kết quả chung
cuộc. Thế thì tại sao lại tự hành hạ mình và tại sao lại để cho
người ta hành hạ, tại sao không đầu hàng ngay vì đằng nào cũng thua
và đi ngủ cho rồi? Từ lâu khái niệm chết đã mất hết ý nghĩa siêu
hình vốn có của nó, chết chỉ còn có nghĩa là ngủ, một giấc ngủ
bình yên, ấm áp. Nhưng cái cảm giác trách nhiệm vừa đặc biệt vừa
lạ lùng đã buộc anh phải tỉnh thức và tiếp tục cuộc chiến đấu dù
biết rằng sẽ thất bại, dù biết rằng đấy là một cuộc chiến đấu vô
nghĩa. Anh sẽ tiếp tục chiến đấu, còn Gletkin sẽ tiếp tục buộc anh
lùi dần, lùi dần cho đến khi hắn có thể buộc anh chấp nhận những
cáo buộc ngu xuẩn nhất. Anh đã chọn con đường ấy, và anh phải đi
đến cùng. Chỉ khi đó anh mới có thể bước vào bóng tối với đôi
mắt mở rộng, lúc đó anh sẽ được quyền ngủ và không còn bao giờ
bị đánh thức nữa.
Chính
Gletkin cũng có thay đổi trong quá trình hỏi cung không ngừng nghỉ
như thế. Sự thay đổi dĩ nhiên là không nhiều nhưng đôi mắt ửng đỏ
của Rubashov đã không bỏ qua. Gletkin vẫn ngồi nghiêm chỉnh đằng sau
cái bàn viết với bộ mặt lạnh như tiền, áo bỏ trong quần, nhưng
dần dần giọng nói của hắn đã bớt vẻ hung hăng, đồng thời ngọn đèn
pha cũng được hắn vặn nhỏ dần và cuối cùng gần như trở thành
ngọn đèn thường. Hắn không bao giờ cười, đôi khi Rubashov tự hỏi
không hiểu cái bọn Neanderthal này có biết cười hay không, anh cũng
không bao giờ nhận thấy bất kì tình cảm nào trong giọng nói của
hắn. Nhưng một hôm, sau nhiều giờ tranh luận, Rubashov không còn
thuốc hút thì Gletkin, chính hắn không hút, đã móc túi lấy hộp
thuốc ra và đẩy qua mặt bàn cho Rubashov.
Rubashov
bác bỏ được một mục, đấy là mục nói về vụ phá hoại ở tổ hợp
công nghiệp nhôm. So với những tội đã thú nhận thì tội này không
có ý nghĩa gì, nhưng Rubashov đã chiến đấu một cách quyết liệt
chẳng khác gì những điểm quyết định. Họ ngồi đối diện với nhau gần
như suốt đêm. Rubashov, giọng đã khản đi vì mệt mỏi, lần lượt bác
bỏ từng chứng cớ, từng con số bằng cách dẫn ra ngày tháng và số liệu
bất ngờ hiện ra trong trí nhớ, còn Gletkin thì không thể tìm được một
kẽ hở nào trong lập luận của anh. Vì ngay trong lần hỏi cung thứ hai
hay thứ ba họ đã đi đến thoả thuận rằng nếu Gletkin chứng minh được
nguồn gốc của một tội nào đó, dù nguồn gốc đó chỉ có tính chất
lý thuyết thì hắn có toàn quyền bịa ra các chi tiết hay có quyền
“viết thêm dấu chấm lên đầu chữ I”, như Rubashov nói. Thế là vô
tình họ đã chấp nhận luật chơi đó và không còn phân biệt được
sự khác nhau giữa những việc Rubashov thực sự đã làm với hành động
mà anh có thể làm, dần dà họ không còn phân biệt được đâu là thật,
đâu là bịa nữa, không còn phân biệt được đâu là lý luận, đâu là
thực tế nữa. Thỉnh thoảng Rubashov, đấy là lúc đầu óc tỉnh táo, có
nhận ra cái luật chơi trái khoáy này; những lúc như thế anh biết
rằng mình vừa bị bỏ bùa mê, thuốc lú; nhưng Gletkin thì có vẻ như
không bao giờ tỉnh cả.
Hôm
ấy, gần sáng rồi mà Rubashov vẫn không chịu công nhận đã tiến hành
phá hoại tại tổ hợp công nghiệp nhôm, thì giọng Gletkin có vẻ hơi
mất bình tĩnh giống hệt như như cái lần anh chàng Môi Thỏ trả lời
sai vậy. Hắn đột ngột vặn to ngọn đèn lên, đã mấy hôm nay hắn
không làm như thế rồi, nhưng vừa nhìn thấy Rubashov mỉm cười là
hắn vội vặn nhỏ lại ngay. Hắn hỏi thêm vài câu nữa và sau khi thấy
không có kết quả đã buộc phải kết luận như sau: “Nghĩa là anh kiên
quyết phủ nhận đã có hành động phá hoại trong lĩnh vực mà mình
phụ trách cũng như phủ nhận một kế hoạch như thế, đúng không?”
Rubashov
gật đầu, cố gắng xua đi cơn buồn ngủ để xem Gletkin sẽ làm gì. Hắn
quay sang người thư ký và nói:
“Viết
đi: điều tra viên đề nghị loại bỏ mục này vì không đủ chứng cứ.”
Rubashov
vội vàng lấy thuốc ra hút để che giấu sự vui mừng thái quá và
không đúng lúc. Đây là lần đầu tiên anh thắng được Gletkin. Dĩ
nhiên đây chỉ là một chiến thắng cục bộ, không đáng kể, trong một
trận đánh chắc chắn là thua, nhưng dù sao đấy vẫn là chiến thắng,
đã mấy tháng nay, mà cũng có thể đã mấy năm nay anh chưa từng có
cảm giác như thế... Gletkin cầm tờ biên bản và như thường lệ, hắn
cho cô thư ký đi về.
Khi
chỉ còn hai người trong phòng, lúc đó Rubashov đã đứng lên, Gletkin
vừa đưa bút máy cho anh ký biên bản vừa nói:
“Theo
kinh nghiệm thì phe đối lập thường sử dụng biện pháp phá hoại như
là biện pháp hữu hiệu nhất nhằm gây khó khăn cho chính phủ và tạo
ra sự bất bình trong dân chúng. Tại sao anh lại ngoan cố chứng minh
rằng không sử dụng hay không có ý định sử dụng biện pháp đó?”
“Vì
chỉ có ngu mới đi đổ vấy như thế”, Rubashov đáp. “Tôi không chấp nhận
việc suốt ngày lải nhải về chuyện phá hoại, coi bọn phá hoại như
là lũ yêu tinh, mọi người chỉ còn chăm chăm vào việc tố cáo lẫn
nhau.”
Cảm
giác hân hoan, tưởng đã đánh mất từ lâu, làm Rubashov sôi nổi và
nói to hẳn lên.
“Nếu
anh bảo việc phá hoại chỉ là bịa đặt thì theo anh vì sao nền công
nghiệp của chúng ta lại lộn xộn như thế?”
“Định
mức quá cao, tiền lương quá thấp, các biện pháp trừng phạt thì dã
man”, Rubashov nói. “Tôi biết có những trường hợp công nhân bị vu
cho là phá hoại và bị bắn chỉ vì những lỗi lầm không đáng kể mà
nguyên nhân chỉ là do mệt và đói. Chỉ cần đi muộn hai phút là bị
đuổi việc rồi, sổ lao động với kỷ luật như thế thì tìm làm sao
tìm được việc mới.”
Gletkin
nhìn Rubashov với ánh mắt lạnh lùng như cũ và hỏi với giọng cũng
lạnh lùng không kém:
“Lúc
bé anh có đồng hồ không?”
Rubashov
trố mắt nhìn. Đặc điểm dễ thấy nhất của lũ Neanderthal thời hiện
đại này là chúng không biết đùa, hay nói đúng hơn, lúc nào mặt
chúng cũng hầm hầm.
“Anh
không muốn trả lời à?”
“Tất
nhiên là có”, Rubashov đáp, thâm tâm lấy làm ngạc nhiên hơn.
“Lúc
lên mấy?”
“Tôi
không nhớ rõ”, Rubashov nói, “khoảng tám chín tuổi gì đó.”
“Còn
tôi”, Gletkin nói với giọng lạnh lùng như cũ, “phải đến năm mười
sáu tuổi tôi mới biết rằng một giờ có sáu mươi phút. Khi có việc
ra thành phố dân làng tôi thường đi khỏi nhà từ sáng sớm rồi nằm
đợi tàu trong nhà ga. Tàu thường đến vào lúc giữa trưa, đôi khi
phải chiều mới tới, thỉnh thoảng có khi đến sáng hôm sau mới có
tàu. Những người nông dân như thế đang làm việc trong các nhà máy
của chúng ta. Làng tôi bây giờ có một nhà máy luyện thép lớn nhất
thế giới. Thời gian đầu công nhân thường lăn ra ngủ ngay sau khi vừa
đổ xong một mẻ gang. Phải bắn vài vụ thì mới tạm gọi là có kỷ luật.
Ở các nước khác quá trình công nghiệp hoá thường kéo dài một hai
trăm năm, người nông dân có điều kiện làm quen dần với sản xuất
công nghiệp. Ở nước ta quá trình này kéo dài có mười năm trời.
Nếu chúng ta không tống cổ hay cho những bọn như thế một viên kẹo
đồng chỉ vì những lỗi nhỏ thì chúng sẽ nằm ngủ ngay trong sân nhà
máy, đất nước sẽ rơi vào tình trạng trì trệ và trở lại tình
trạng như thời trước cách mạng. Năm ngoái có một phái đoàn phụ
nữ thành phố Manchester nước Anh tới thăm. Họ được dẫn đi thăm quan
khắp nơi, khi về nước họ đã viết mấy bài báo có tính chất tố
cáo, nói rằng các thợ dệt Manchester không thể nào chịu đựng nổi
điều kiện làm việc như ở ta. Tôi đã đọc ở đâu đó rằng nền công
nghiệp dệt ở Manchester đã có hai trăm năm lịch sử. Tôi cũng từng
đọc những tài liệu nói về điều kiện làm việc của công nhân cách
đây hai trăm năm, nghĩa là khi nền công nghiệp mới hình thành. Đồng
chí Rubashov ạ, đồng chí nói hệt như mấy mẹ trong đoàn đại biểu
phụ nữ Manchester vậy. Nhưng dĩ nhiên là anh biết nhiều việc mà họ
không biết. Cho nên lý lẽ của anh làm tôi ngạc nhiên đấy. Mặt
khác, anh với họ cũng có một điểm chung: ngay từ bé anh đã có đồng
hồ rồi...”
Rubashov
không nói gì, mắt nhìn chằm chằm vào Gletkin. Hắn nói gì thế? Chả
lẽ hắn định bộc bạch với mình à? Nhưng Gletkin đã lại ngồi thẳng
băng với bộ mặt lạnh như tiền như chưa có chuyện gì xảy ra.
“Về
mặt nào đó thì anh nói đúng”, cuối cùng Rubashov lên tiếng. “Nhưng
vì anh khơi ra vấn đề này, vậy xin nói cho tôi biết tại sao các anh
lại cần những con dê tế thần, nếu các anh biết rằng đấy là những
khó khăn khách quan, như anh vừa nói?”
“Kinh
nghiệm cho ta biết rằng”, Gletkin đáp, “phải giải thích các khó khăn
và những sự kiện phức tạp cho quần chúng
bằng
ngôn ngữ đơn giản và dễ hiểu. Theo những gì tôi biết từ lịch sử
thì nhân loại luôn luôn cần những con dê tế thần. Tôi tin rằng đấy
là một hiện tượng không thể thiếu được; ông bạn Ivanov của anh
bảo rằng nó có nguồn gốc từ tôn giáo. Theo tôi nhớ thì ông ta nói
rằng từ này xuất phát từ truyền thống của người Do Thái, mỗi năm
họ lại giết một con dê, gánh tất cả tội lỗi thay cho họ, để tế
Trời.” Gletkin ngừng lời và đưa tay chỉnh lại áo sơ mi. “Ngoài ra,
có cả những người tự nguyện làm dê tế thần nữa kia. Ở cái tuổi
mà anh đã có đồng hồ đeo tay thì tôi còn được nghe ông cố đạo
trong làng giảng rằng Jesus Christ tự gọi mình là con cừu mang trên
lưng tất cả tội lỗi của thế gian. Tôi không thể nào hiểu nổi làm
sao một người lại có thể cứu được cả thế gian. Thế mà đã hai
ngàn năm nay người ta vẫn còn tin đấy.”
Rubashov
đưa mắt nhìn thẳng vào mặt Gletkin. Hắn nói thế là nhằm mục đích
gì nhỉ? Câu chuyện này rồi sẽ đưa đến đâu? Thằng người Neanderthal
hiện đại này đã đi lạc vào những ngóc ngách nào đây?
“Có
thể là như thế”,
Rubashov
nói, “nhưng theo lý thuyết của chúng ta thì phải nói cho nhân dân
biết sự thật chứ không phải là đổ cho những tên phá hoại và gián
điệp như thế.”
“Nếu
nói với người dân làng tôi”, Gletkin đáp, “rằng họ vẫn chỉ là
những kẻ mù chữ và lạc hậu dù Cách mạng đã xảy ra, dù đã xây
dựng được những nhà máy hiện đại thì cũng chẳng ích gì. Còn nếu
nói rằng họ là những anh hùng lao động, làm việc hiệu quả hơn cả
người Mỹ, sự lộn xộn hiện nay là do lũ phá hoại và gián điệp thì
ít nhất cũng động viên được họ. Chân lý là cái có lợi, giải dối
là cái có hại. Trong cuốn sách giáo khoa lịch sử giành cho các lớp
bổ túc có nhấn mạnh rằng trong những thế kỷ đầu sau Công nguyên,
Thiên chúa giáo là một bước tiến khách quan của nhân loại. Jesus
Christ khẳng định rằng ông là con của Chúa và một nữ đồng trinh,
chuyện đó đúng sai không quan trọng, không phải là vấn đề chúng ta
quan tâm. Đấy chỉ là một biểu tượng, nhưng người nông dân của
chúng ta thì lại hiểu theo nghĩa đen. Chúng ta cũng có quyền tạo ra
những biểu tưởng hữu ích ngay cả khi những người nông dân của
chúng ta tiếp tục hiểu theo nghĩa đen.”
“Anh
lý sự chẳng khác gì Ivanov”, Rubashov nhận xét.
“Công
dân Ivanov”, Gletkin nói, “giống như anh, thuộc giới trí thức cũ. Chuyện
trò với anh ta giúp tôi bổ sung kiến thức về lịch sử. Nhưng chúng
tôi khác nhau ở chỗ tôi dùng kiến thức để phục vụ Đảng, còn Ivanov
là một kẻ giả hình.”
“Sao...?”,
Rubashov vừa hỏi vừa tháo kính ra.
“Công
dân Ivanov”, Gletkin với bộ mặt lạnh như tiền, “đã bị hành quyết
hồi đêm, đấy là quyết định của Toà Hành chính.”
Sau
khi nói chuyện, Gletkin cho Rubashov ngủ suốt hai tiếng đồng hồ liền.
Trên đường trở về buồng giam Rubashov cứ băn khoăn mãi về chuyện
vì sao anh lại tỏ ra vô tình trước tin Ivanov chết như thế. Nó chỉ
làm giảm phần nào niềm vui chiến thắng, anh chỉ bỗng cảm thấy mệt
và buồn ngủ mà thôi. Thực ra thì đã anh cảm thấy xấu hổ vì chiến
thắng vớ vẩn đó ngay trước khi biết tin Ivanov bị giết cơ. Gletkin
mạnh đến nỗi cái mà anh tưởng là chiến thắng thì lại hoá ra là
thất bại. Hắn ngồi đó, to lớn, bất động, mặt lạnh như tiền, nhưng
đấy chính là hiện thân của cái Nhà nước được những người trí
thức cũ như Ivanov và Rubashov dựng lên. Đứa con của họ, máu thịt
của họ đã biến thành một bộ máy khổng lồ, không còn kiểm soát
được nữa rồi. Gletkin chả đã công nhận hắn là hậu duệ tinh thần
của Ivanov là gì? Rubashov thầm nhắc đi nhắc lại rằng Gletkin và bọn
người Neanderthal thời hiện đại chỉ làm mỗi một việc là hoàn thành
công việc của giới trí thức cũ mà thôi. Rằng lý tưởng của họ,
dù trong miệng lưỡi của bọn người Neanderthal kia có bất nhân đến
thế nào, vẫn không hề thay đổi. Dù Ivanov có dùng cùng một lý lẽ
như thế thì trong giọng nói của anh ta vẫn có cái trầm ấm của thời
quá khứ, của cái thế giới đã trở thành dĩ vãng. Người ta có thể
phủ nhận thời trai trẻ của mình nhưng không thể nào xoá bỏ được
nó. Ivanov đã mang trên lưng gánh nặng của quá khứ, vì vậy mà
giọng nói của anh ta mới có vẻ buồn buồn như thế và đấy cũng là lý
do vì sao Gletkin gọi anh ta là kẻ giả hình. Những người như Gletkin
không cần xoá bỏ bất cứ điều gì, chúng không cần phủ nhận vì đơn
giản chúng là loại người không có quá khứ. Trên không chằng,
dưới không rễ, chúng là những kẻ không biết buồn cũng chẳng biết
vui là gì.
5.
Trích
nhật ký của N. S. Rubashov:
“...Chúng
ta, những người đang rút lui khỏi vũ đài, có quyền gì mà lại dám
coi thường những kẻ như Gletkin như thế? Chẳng khác gì tiếng cười
của lũ khỉ khi chúng trông thấy người Neanderthal đầu tiên. Những
con khỉ đã được giáo hoá chuyền từ cành nọ sang cành kia một cách
khéo léo, trong khi người Neanderthal vụng về, không thể rời khỏi mặt
đất. Những con khỉ no đủ và thảnh thơi, luôn luôn vui vẻ hay trầm
tư mặc tưởng, trong khi người Neanderthal lúc nào cũng nhăn nhăn
nhó nhó, tay lăm lăm dùi cui, sẵn sàng lao vào đối thủ. Những con
khỉ trên cây khoái trá, tha hồ chế giễu và thỉnh thoảng lại ném
vào người Neanderthal mấy trái cây ăn thừa. Khỉ đôi khi cũng hoảng
loạn, chúng chỉ ăn quả và lá non một cách tao nhã; trong khi người
Neanderthal ăn thịt sống, giết các loài vật, thậm chí giết cả đồng
loại. Người Neanderthal phá những cánh rừng nguyên sinh, lật cả những
tảng đá nặng, chống lại luật lệ và truyền thống của rừng già. Đối
với loài khỉ thì đây là một giống vật vụng về, tàn nhẫn và tiểu
nhân, một bước thụt lùi của lịch sử. Loài tinh tinh còn sống sót
vẫn hếch mũi lên mỗi khi có người xuất hiện...”
6.
Rắc
rối xảy ra vào ngày thứ năm hay thứ sáu: Rubashov bị ngất trong khi
đang lấy lời khai. Họ vừa bắt đầu thảo luận điều khoản quyết định
của bản cáo trạng, đấy là động cơ hành động của Rubashov. Trong bản
cáo trạng, động cơ được xác định đơn giản là “tư tưởng phản
cách mạng” và chỉ nói khơi khơi, như thể đấy là một sự kiện hiển
nhiên, rằng anh là gián điệp của quốc gia đối địch. Rubashov kiên
quyết phản đối qui kết như thế. Buổi thẩm vấn bắt đầu ngay từ lúc
rạng đông và đến khoảng giữa buổi sáng thì Rubshov bỗng nhiên gục
xuống rồi ngã lăn ra đất, bất tỉnh nhân sự.
Mấy
phút sau Rubashov mới tỉnh, anh nhìn thấy một tay bác sĩ đầu bé tí,
tóc lưa thưa đang cầm một chai nước tưới vào mặt, còn tay kia thì
chà sát hai bên thái dương. Mùi bạc hà cộng với mùi bánh mì đen
và tóp mỡ làm anh nôn thốc nôn tháo. Tay bác sĩ chửi ầm lên,
giọng hắn the thé, nghe rất chói tai; sau đó hắn bảo rằng cần phải
đưa Rubashov ra ngoài trời một lúc. Gletkin đứng nhìn, mặt vẫn lạnh
như tiền. Hắn bấm chuông gọi người tạp vụ, ra lệnh giặt tấm thảm
rồi mới bảo đưa Rubashov về buồng giam. Một lúc sau anh được người
giám thị già dẫn ra sân.
Bầu
không khí trong lành làm Rubashov cảm thấy ngây ngất. Anh nhận thấy
mình có hai lá phổi đang hít lấy hít để khí trời. Trời quang nhưng
ánh nắng rất yếu; mười một giờ đúng, ngày xưa, tức là trước khi
bắt đầu chuỗi ngày đêm bất tận vừa qua, đây chính là lúc anh
thường được cho ra ngoài đi dạo. Anh đúng là một thằng ngốc, lúc
đó anh đâu có biết giá trị của nó. Tại sao lại không thể sống,
không thể thở, không thể hưởng cái thú đi dạo trên tuyết và để
cho ánh mặt trời mơn man trên gò má? Tại sao lại không tìm cách
kết thúc những cơn ác mộng, kết thúc cảnh bị hành hạ dưới ánh
đèn pha và sống như bao người khác?
Lần
này đi bên cạnh vẫn là anh nông dân với đôi giày rách nọ. Anh ta
liếc nhìn Rubashov đang ngật ngưỡng bước rồi hắng giọng hai ba lần,
mắt vẫn không rời mấy người lính gác, và nói:
“Thưa
ông, lâu lắm không trông thấy ông. Trông ông yếu lắm, khéo ông
chẳng sống được lâu nữa đâu. Người ta bảo sắp có chiến tranh
rồi.”
Rubashov
không trả lời. Anh chỉ muốn cúi xuống, vốc một nắm tuyết rồi đưa
luôn vào miệng mà thôi. Đám tù nhân chậm chạp bước. Đằng trước,
cách hai mươi bước là một cặp, cao gần bằng nhau, trùm áo mưa
xám, đang lê bước, hơi thở gặp lạnh biến thành đám khói màu xám
ngay trước mũi từng người.
“Sắp
đến mùa gieo xạ rồi”, anh nông dân lại lên tiếng. “Ngay sau khi tuyết
tan chúng tôi thường xua cừu vào núi. Phải mất ba ngày mới tới
nơi. Trước đây cả làng cùng lùa cừu đi trong một ngày. Ngay lúc mặt
trời mọc là tất cả mọi con đường trong làng đã đầy cừu rồi, cả
làng cùng đi luôn. Thưa ông, có lẽ chưa bao giờ ông nhìn thấy
nhiều cừu, nhiều chó, nhiều bụi, nhiều tiếng chó sủa, nhiều tiếng
cừu be be đến như thế đâu. Lạy Chúa tôi! Vui ơi là vui cơ...”
Rubashov
ngước mắt nhìn trời, nắng vẫn còn yếu nhưng hơi ấm của mùa xuân
dường như đã phảng phất đâu đây. Phía trên hàng rào tháp canh một
đôi chim đang tung cánh, múa lượn, hình như chúng đang vờn nhau.
Anh
nông dân lại tiếp tục:
“Những
ngày, khi tuyết bắt đầu tan như thế này, thật vui biết bao. Nhưng
thưa ông, chúng ta chẳng còn được mấy nỗi nữa đâu. Họ sẽ giết
hết vì chúng ta là phản động, vì sẽ không còn những ngày hạnh
phúc như xưa nữa...”
“Anh
có cảm thấy thật sự hạnh phúc không?”, Rubashov hỏi, nhưng không
nghe được rõ câu trả lời, chỉ thấy yết hầu anh ta nâng lên hạ
xuống vài lần. Rubashov liếc nhìn anh ta và sau đó lại hỏi:
“Anh
có nhớ đoạn trong Kinh thánh nói về việc dân chúng đòi quay lại Ai Cập
không?”
Anh
nông dân gật đầu, nhưng rõ ràng là anh ta không hiểu Rubashov nói
gì. Thời gian đi dạo vừa chấm dứt, đám tù nhân bị xua ngay vào nhà.
Không
khí trong lành cũng chẳng giúp được mấy, Rubashov đã lại cảm thấy
mí mắt nặng trĩu, đầu váng vất và buồn nôn như cũ. Anh vội cúi
xuống bốc một nắm tuyết xoa lên trán và hai bên mí mắt.
Anh
tưởng sẽ được đưa về buồng giam, nhưng hoá ra lại bị dẫn ngay đến
phòng làm việc của Gletkin. Hắn vẫn ngồi sau cái bàn viết, đúng như
lúc Rubashov được đưa ra ngoài. Không biết đã lâu chưa nhỉ? Có cảm
giác như hắn không nhúc nhích tí nào trong suốt thời gian anh đi
dạo. Rèm cửa sổ đã được kéo lên, đèn vẫn còn sáng, căn phòng
giống như một cái ao tù, thời gian dường như đang dẫm chân tại
chỗ. Khi ngồi xuống cái ghế đối diện với Gletkin, Rubashov bỗng nhìn
thấy một vết bẩn trên cái thảm. Đúng rồi, anh đã bị nôn. Hoá ra
chuyện đó mới xảy ra cách đây một tiếng đồng hồ.
“Chắc
là anh đã ổn rồi”, Gletkin nói. “Lúc đó chúng ta đang nói đến vấn
đề cuối cùng, tức là động cơ hoạt động phản cách mạng của anh.”
Hắn
tò mò liếc nhìn tay phải của Rubashov lúc đó vẫn còn giữ một nắm
tuyết đang tan. Rubashov không rời ánh mắt của Gletkin, anh khẽ mỉm
cười và giơ bàn tay lên. Cả hai cùng ngắm nhìn chỗ tuyết đang tan
dần dưới ánh đèn pha.
“Động
cơ là vấn đề cuối cùng”, Gletkin nói. “Nếu anh công nhận thì coi
như chúng ta kết thúc công việc.”
Lâu
lắm rồi hắn mới vặn ánh đèn sáng chói như hôm nay. Rubashov nhắm
tịt mắt lại.
“...
Lúc đó anh có thể nghỉ ngơi”, Gletkin nói tiếp.
Rubashov
đưa tay lên thái dương, nhưng hơi lạnh đã không còn. “Nghỉ ngơi”,
mấy từ đó như còn văng vẳng bên tai Rubashov. Nghỉ và ngủ. Hãy để
cho chúng tôi quay về Ai Cập...
“Anh
biết rõ động cơ của tôi”, Rubashov nói. “Anh biêt rằng tôi hành động
không phải vì “có tư tưởng phản cách mạng”, tôi cũng không phải
là gián điệp của nước ngoài. Tất cả những việc tôi làm đều xuất
phát từ lương tâm và nhận thức của chính tôi.”
Gletkin
lôi ngăn kéo bàn, lấy ra một tập hồ sơ và bắt đầu đọc:
“...Chúng ta không
quan tâm đến niềm tin của chủ thể. Người sai sẽ phải trả giá, còn
người đúng thì sẽ được miễn thứ. Luật của chúng ta là như
thế...”, hắn ngẩng lên nhìn Rubashov và nói thêm: “Anh viết trong nhật
ký ngay sau khi bị bắt như thế.”
Rubashov
cảm thấy cái ánh sáng lập loè quen thuộc đang nhấp nháy đằng sau hai
mí mắt nhắm nghiền. Những điều anh viết trong nhật ký, qua miệng
lưỡi Gletkin, bỗng trở thành thô lỗ và trần trụi chẳng khác gì
lời cầu kinh ghi trên đĩa hát.
Gletkin
lấy ra một trang nữa rồi vừa lạnh lùng nhìn Rubashov vừa đọc thêm một
câu:
“Người trung thực là
người phục vụ hết mình mà không tự phụ và chấp nhận mọi hậu
quả.”
Rubashov
cũng nhìn chằm chằm vào mặt Gletkin.
“Tôi
không hiểu”, anh nói, “Đảng sẽ được lợi lộc gì nếu các đảng viên
tự bôi tro trát trấu vào mặt mình. Tôi đã ký tất cả những điều
anh yêu cầu. Tôi đã nhận tội vì có những hành động sai lầm. Thế
vẫn chưa đủ hay sao?”
Anh
đeo kính lên, nhưng không mở mắt ra được, rồi nói thêm với giọng mệt
mỏi, khàn khàn:
“Dù
sao thì tên tuổi Rubashov cũng là một phần của lịch sử Đảng ta. Bôi
tro trát trấu vào mặt y cũng có nghĩa là bôi tro trát trấu vào
lịch sử của Cách mạng.”
“Tôi
chỉ có thể trả lời anh bằng chính những điều anh đã viết”, Gletkin
nói”. “Anh viết như sau”:
“Quần chúng dễ dàng
tiếp thu được những ý tưởng đơn giản và được nhắc đi nhắc lại
nhiều lần. Cái đúng phải được đánh bóng cho sáng như gương, cái
sai phải được bôi cho đen như than. Để quần chúng hiểu thì các hiện
tượng chính trị cũng phải được tô cho thành loè loẹt như mấy con
tò he.”
Rubashov
ngồi im không đáp. Một lúc sau anh mới nói:
“Tôi
hiểu mục đích của anh: Tôi phải đóng vai ngạ quỉ, phải tru lên,
phải nghiến răng, thè lưỡi, một cách hoàn toàn tự nguyện. Danton
và các đồng chí của ông đã không phải làm như thế.”
Gletkin
gấp tập hồ sơ. Hắn khẽ vươn người ra phía trước và sửa lại áo sơ
mi.
“Khai
như thế trước toà là trách nhiệm cuối cùng của anh trước Đảng.”
Rubashov
không trả lời. Mắt vẫn nhắm, anh tưởng tượng như đang thiu thiu ngủ
dưới ánh nắng mặt trời. Nhưng giọng Gletkin thì không cách nào
tránh được.
“So
với những gì đang diễn ra ở đây thì Danton và Quốc ước chỉ là một
trò hề, không hơn, không kém. Tôi đã đọc vài cuốn sách viết về
mấy ông Danton này, họ vẫn đội tóc giả và chỉ quan tâm đến chuyện
bảo vệ cái danh dự hão của mình mà thôi. Đối với họ, ngay cả
trước khi chết, danh dự cá nhân còn quan trọng hơn sự nghiệp chung.”
Rubashov
vẫn không trả lời. Giọng Gletkin như xoáy vào óc não, dội vào màng
tai từ khắp cả các hướng, đập liên tục vào hộp sọ nhức buốt.
“Đây
là lần đầu tiên trong lịch sử, Cách mạng không chỉ giành mà còn
giữ được chính quyền. Đất nước chúng ta đã trở thành tiền đồn
của thời đại mới. Tiền đồn này bao gồm một phần sáu diện tích thế
giới và một phần mười dân số trái đất.”
Lúc
này giọng Gletkin vang lên không phải từ phía trước mà là từ phía
sau Rubashov. Hắn đã đứng lên và đi đi lại lại dọc theo căn phòng.
Đây là lần đầu tiên hắn làm như thế. Đôi ủng kêu cọt kẹt theo
mỗi bước chân, bộ đồng phục là phẳng thỉnh thoảng lại kêu sột
soạt, Rubashov nhận rõ mùi mồ hôi quyện lẫn mùi da thuộc.
“Khi
Cách mạng mới thành công chúng ta tin rằng nhân dân các nước khác
cũng sẽ theo gương chúng ta. Nhưng làn sóng phản cách mạng đã trỗi
dậy và suýt nữa nhấn chìm ngay chính chúng ta. Đảng chia thành hai
phe. Phe thứ nhất là những kẻ phiêu lưu. Để xuất khẩu cách mạng,
họ sẵn sàng hi sinh tất cả thành quả mà chúng ta đã giành được.
Anh thuộc nhóm này. Đảng đã nhận ra tính chất nguy hiểm của nó và
đã ra tay tiêu diệt.”
Rubashov
muốn ngẩng đầu lên để nói vài câu. Tiếng bước chân của Gletkin dội
vào óc như tiếng trống ngũ liên. Anh đã mệt lắm rồi, đành ngả
người ra đằng sau và nhắm chặt mắt lại.
“May
mà Lãnh tụ của Đảng ta”, Gletkin tiếp tục, “nhìn xa trông rộng hơn
rất nhiều. Người hiểu rằng chúng ta phải vượt qua giai đoạn thoái
trào hiện nay và bảo vệ cho bằng được tiền đồn của Cách mạng.
Người hiểu rằng giai đoạn này có thể kéo dài; mười, hai mươi mà
cũng có thể năm mươi năm nữa tình hình mới lại chín muồi cho một
làn sóng cách mạng mới. Trước khi điều đó xảy ra chúng ta là những
kẻ đơn thương độc mã. Trước khi điều đó xảy ra chúng ta chỉ có một
nhiệm vụ: tìm mọi cách để sống còn.”
Rubashov
lờ mờ nhớ lại một câu tương tự: “Người cách mạng có trách nhiệm
bảo toàn mạng sống của mình”. Ai đã nói câu đó? Chính ta đã nói?
Hay Ivanov? Ta đã hi sinh Arlova nhân danh nguyên tắc này. Và nay nó đã
đưa ta đến đâu?
“...Tìm
mọi cách để sống còn”, giọng Gletkin như xoáy vào óc não. “Chúng ta
phải bảo vệ thành quả của Cách mạng bằng mọi giá, chúng ta sẵn
sàng hi sinh tất cả. Lãnh tụ Đảng đã đưa ra khẩu hiệu thiên tài đó
và kiên trì áp dụng nó trong thực tiễn. Đường lối của Quốc Tế
phải phù hợp với chính sách của nước ta. Bất cứ kẻ nào không
hiểu điều đó cũng sẽ bị thủ tiêu. Tất cả những cán bộ tốt nhất
của chúng ta ở châu Âu cũng sẽ bị thủ tiêu. Vì quyền lợi của
Cách mạng, chúng ta sẽ kiên quyết đập tan ngay cả các tổ chức của
chúng ta ở nước ngoài. Chúng ta sẵn sàng hợp tác với các chính
phủ phản động trong việc đàn áp các phong trào cách mạng nếu nó
diễn ra không đúng lúc. Để bảo vệ tiền đồn của Cách mạng, chúng ta
sẵn sàng phản bội lại bạn bè và thoả hiệp với chính kẻ thù của
mình. Đấy là nhiệm vụ mà lịch sử đã giao phó cho chúng ta. Những
kẻ thiển cận, những nhà đạo đức học không thể nào hiểu được chuyện
này. Nhưng lãnh tụ của Cách mạng, với tầm nhìn chiến lược tài ba,
đã chỉ rõ: ai gan lì hơn thì người đó sẽ chiến thắng.”
Gletkin
dừng bước. Hắn đứng ngay phía sau ghế của Rubashov. Vết sẹo trên
cái đầu cạo trọc lấp lánh mồ hôi. Có vẻ như hắn cảm thấy ngượng
vì không giữ được vẻ điềm đạm như mọi khi; miệng thở hổn hển,
hắn lấy khăn mùi xoa lau trán rồi trở về chỗ vẫn ngồi phía sau cái
bàn viết. Hắn vặn nhỏ đèn lại và tiếp tục câu chuyện với giọng
lạnh lùng như cũ:
“Đường
lối của Đảng được xác định một cách rõ ràng. Chiến thuật của
Đảng được xác định bởi nguyên tắc: Mục đích biện minh cho phương
tiện, mọi phương tiện, không có ngoại lệ nào. Trên tinh thần đó,
Công tố viên sẽ kết án tử hình anh.”
“Công
dân Rubashov, phái của anh đã bị đập tan và bị tiêu diệt rồi. Các
anh định chia rẽ Đảng, mặc dù biết rằng chia rẽ thì nhất định sẽ
dẫn đến nội chiến. Anh biết rằng nông dân đang bất bình, họ chưa
hiểu được ý nghĩa của những hi sinh, mất mát mà họ đang phải chịu
đựng. Cuộc chiến tranh sẽ diễn ra trong nay mai, mọi dao động đều sẽ
dẫn đến những tai họa khôn lường. Vì vậy Đảng phải giữ vững sự
đoàn kết như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Đảng viên phải như
được đúc từ một khuôn với kỷ luật sắt và lòng trung thành tuyệt
đối. Công dân Rubashov, anh và những kẻ đồng hội đồng thuyền đã cố
tình phá hoại sự đoàn kết nhất trí trong Đảng. Nếu thực sự hối
cải thì anh phải giúp chúng tôi hàn gắn lại vết nứt đó. Đấy là
nhiệm vụ cuối cùng Đảng giao cho anh.”
“Nhiệm
vụ của anh rất đơn giản. Thực ra anh đã tự xác định rồi: đánh bóng
cái Đúng và bôi đen cái Sai. Đường lối của phe đối lập là sai. Nhiệm
vụ của anh là tố cáo phe đối lập, là làm cho quần chúng hiểu rằng
đối lập là tổ chức tội phạm, các lãnh tụ đối lập là những tên tội
phạm hình sự. Nói đơn giản như thế thì quần chúng sẽ hiểu được
ngay. Còn nếu anh nói về những động cơ phức tạp thì chỉ làm cho họ
rối trí thêm mà thôi. Ngoài ra anh phải nói làm sao để quần chúng
không tỏ thái độ đồng cảm hay thương hại gì hết. Thương hại hay
đồng cảm với đối lập là mối nguy lớn đối với đất nước.”
“Đồng
chí Rubashov, tôi hi vọng rằng đồng chí đã hiểu trách nhiệm của
mình trước Đảng.”
Đây
là lần đầu tiên Gletkin gọi Rubashov là “đồng chí”. Rubashov lập tức
ngẩng đầu lên. Anh cảm thấy hồi hộp, như có một luồng hơi ấm chạy
khắp thân thể, không thể nào chế ngự được. Khi đeo kính lên anh
cảm thấy gò má giật nhẹ.
“Vâng,
tôi hiểu”,Rubashov khẽ nói.
“Xin
nhớ”, Gletkin tiếp tục, “đối với anh, Đảng không hứa hẹn bất cứ
điều gì. Một số nghi phạm đồng ý hợp tác sau khi áp dụng các biện
pháp nghiệp vụ. Số khác thì được hứa sẽ tha hay sẽ tha những
người thân của họ đang bị chúng tôi giữ làm con tin. Nhưng với
đồng chí Rubashov, tôi xin nói rằng Đảng không mặc cả, cũng không
hứa hẹn bất cứ điều gì.”
“Tôi
hiểu”, Rubashov nhắc lại.
Gletkin
mở tập hồ sơ.
“Tôi
rất ấn tượng với một đoạn nhật ký của anh”, hắn nói. “Anh viết
như sau: ‘Tôi tư duy và hành động
theo lương tâm của mình. Nếu đúng thì tôi sẽ chẳng có gì phải ân
hận, còn nếu sai thì tôi sẽ phải trả giá’.”
Glekin
ngẩng lên và nhìn thẳng vào mắt Rubashov:
“Đồng
chí Rubashov ạ, đồng chí đã sai và sẽ phải trả giá. Đảng chỉ có
thể hứa với đồng chí một điều: Sau thắng lợi, một ngày nào đó, khi
các hồ sơ mật như thế này trở thành vô hại thì Đảng sẽ cho công
bố. Khi đó thế giới sẽ biết gốc gác của vở hài kịch, như anh gọi,
mà chúng ta buộc phải diễn cho phù hợp với giai đoạn lịch sử hiện
nay...”
Gletkin
ngừng lời và đưa tay sửa lại áo sơ mi rồi lúng túng nói thêm,
trong khi vết sẹo trên đằu hắn đỏ lựng lên:
“Lúc
đó, anh và bạn bè anh thuộc thế hệ cũ sẽ được quần chúng tỏ lòng
thương hại và thông cảm. Hôm nay thì chuyện đó không thể xảy ra
được.”
Vừa
nói như thế Gletkin vừa đẩy tờ biên bản về phía Rubashov, rồi đặt
cái bút máy xuống bên cạnh. Rubashov đứng lên, miệng cười méo xệch
và nói:
“Tôi
luôn tự hỏi không biết khi bọn Neanderthal xúc động thì trông sẽ
như thế nào? Bây giờ thì rõ rồi.”
“Tôi
không hiểu ý anh”, Gletkin nói và cũng đứng dậy theo.
Rubashov
ký biên bản, công nhận rằng đã phạm tội vì có tư tưởng phản
cách mạng và làm tay sai cho nước ngoài. Khi ngẩng đầu lên anh bỗng
nhìn thấy bức ảnh của Anh Cả treo trên tường và chợt nhớ lại nụ
cười thông thái và đầy vẻ giễu cợt khi hai người bắt tay nhau trong
lần gặp gỡ cuối cùng, nụ cười giả dối trên những bức ảnh treo
khắp mọi hang cùng ngõ hẻm đang nhìn xuống thế gian.
“Không
hiểu cũng không sao”, Rubashov đáp. “Có những việc mà chỉ thế hệ
cũ, những người như Ivanov, Rubashov hay Kieffer hiểu được mà thôi.
Nhưng thời ấy đã qua rồi.”
“Trước
khi ra toà thì sẽ không ai được động đến anh nữa”, sau một lúc yên
lặng, Gletkin lên tiếng với giọng lạnh lùng và khô khan như cũ. Nụ
cười của Rubashov làm anh ta lúng túng. “Anh có mong muốn gì nữa
không?”
“Ngủ”,
Rubashov đáp. Anh đứng ngay giữa khung cửa mở rộng. Bên cạnh người
bảo vệ khổng lồ, anh như già đi, nhỏ bé hơn với chòm râu thưa, cặp
kính cũ, vai so lại, trông thật tội nghiệp.
“Tôi
sẽ hạ lệnh không ai được làm ồn khi anh ngủ”, Gletkin nói.
Cánh
cửa đã đóng lại. Gletkin quay về sau chiếc bàn viết. Hắn ngồi yên
như thế một lúc. Sau đó hắn mới rung chuông gọi người thư ký.
Cô
thư ký lặng lẽ ngồi vào cái góc vẫn dành cho mình. “Đồng chí
Gletkin, xin chúc mừng thắng lợi”, cô ta nói.
Gletkin
vặn nhỏ ngọn đèn.
“Cái
này”, vừa nói hắn vừa nhìn bóng đèn, “cộng với nhiều đêm mất ngủ
và kiệt sức – tất cả chỉ có thế thôi. Vấn đề là thể chất của con
người”.
Vĩ thanh
Hãy chỉ cho chúng
tôi không chỉ mục đích mà cả đường đi. Vì đường đi và đích đến
gắn bó mật thiết với nhau.
Đường đi đã thay đổi
thì đích đến đâu còn như xưa.
Ferdinand Lassale (Franz
von Sickengen)
1.
“Khi
được hỏi có công nhận mình phạm tội hay không, bị cáo Rubashov đã
trả lời một cách rõ ràng: ‘Có’. Trả lời câu hỏi tiếp theo của
Công tố viên rằng bị cáo có phải là gián điệp của phản động quốc
tế hay không, bị cáo nói: ‘Có’, nhưng nhỏ hơn lần trước...”
Cô
con gái của ông Vasily đọc một cách chậm chạp và rõ ràng từng chữ
một. Cô trải tờ báo trên mặt bàn và đưa ngón tay chỉ vào từng
chữ đang đọc, thỉnh thoảng lại đưa tay kia lên vuốt tóc.
“Khi
được hỏi có cần luật sư biện hộ hay không, bị cáo tuyên bố không
cần. Lúc đó toà bắt đầu tiến hành đọc bản cáo trạng...” Ông Vasily
nằm trên giường, mặt quay vào tường. Vera Vasiljovna, con gái ông,
không bao giờ biết bố đang nghe hay đã ngủ. Đôi khi cô cũng nghe thấy
ông lầm bầm một câu gì đó. Nhưng cô không bao giờ để ý, tối nào
cô cũng đọc báo cho bố nghe, gọi là “để nâng cao trình độ”, ngay cả
những hôm phải ở lại họp chi bộ, về muộn, hai cha con cũng không bỏ
thói quen này.
“Kết
luận khẳng định rằng tội lỗi của bị cáo Rubashov đã được chứng
minh bằng các chứng cứ không thể chối cãi được, cũng như bằng
những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Khi Chủ toạ
phiên toà hỏi có kiến nghị gì đối với quá trình điều tra hay không
thì bị cáo trả lời: ‘Không’ và nói thêm rằng lời khai là tự nguyện
và rất ân hận vì những hành động tội ác, phản cách mạng của
mình...”
Vasily
nằm yên như chết. Bức ảnh Anh Cả treo ngay trên đầu giường ông.
Bên cạnh thò ra một chiếc đinh đã han gỉ: cách đây chưa lâu ảnh
của Rubashov, người chỉ huy trung đoàn vẫn còn treo ở đấy. Vasily thò
tay vào cái lỗ thủng trong nệm, đấy là chỗ giấu cuốn Kinh
thánh
đã nhàu nát của ông, nhưng sau khi Rubashov bị bắt thì cô con gái
phát hiện được và đem vứt vào sọt rác mất rồi.
“...Theo
yêu cầu của Công tố viên, Rubashov bắt đầu kể về quá trình chuyển
hoá từ một người đối lập với đường lối của Đảng thành một kẻ
phản cách mạng và phản bội tổ quốc. Bị cáo tuyên bố như sau:
‘Thưa Quí toà, tôi xin kể lại vì sao tôi lại đầu hàng cơ quan điều
tra và đầu hàng các vị, những người đại diện của luật pháp nước
ta. Câu chuyện của tôi sẽ chứng tỏ rằng chỉ cần xa rời đường lối
của Đảng một chút xíu thôi là nhất định sẽ dẫn đến phản bội cách
mạng. Các hoạt động bè phái chính là những bước tiến dần đến
vũng lầy tội ác đó. Câu chuyện sa ngã của tôi có thể là lời cảnh
tỉnh đối với những người mà trong giờ phút quyết định này vẫn còn
dao động, vẫn còn nghi ngờ đường lối của Đảng cũng như sự sáng
suốt của Ban Chấp hành Trung ương của chúng ta. Nhục nhã, bị dìm
xuống tận bùn đen, và bây giờ, trước khi chết tôi xin kể lại con đường
của một kẻ phản bội, coi như một bài học cho quần chúng...’”
Vasily
trở mình rồi nằm úp mặt vào gối. Trước mắt ông hiện lên hình
ảnh người chỉ huy trung đoàn để râu, người trong trường hợp khó
khăn nhất vẫn thường văng tục làm cho các chiến sỹ phải cười đến
nôn ruột. “Bị dìm xuống tận bùn đen, và bây giờ, trước khi
chết...”. Vasily sụt sịt khóc. Kinh thánh đã không còn, nhưng nhiều
đoạn ông đã thuộc lòng từ lâu.
“...Đến
đây Công tố viên ngắt lời bị cáo và hỏi mấy câu liên quan đến số
phận của cô thư ký cũ của Rubashov, tức là công dân Arlova, người
đã bị kết án tử hình vì những hoạt động phản nghịch. Từ những
câu trả lời của bị cáo, có thể thấy rằng lúc đó, nhờ tinh thần
cảnh giác của Đảng, hắn đã bị đẩy vào bước đường cùng và vì vậy
đã đổ vấy trách nhiệm cho Arlova hòng giữ được mạng sống để tiếp
tục những hoạt động tội ác của mình. N. S. Rubashov đã công nhận
những tội ác trời không dung, đất không tha này một cách trơ tráo
và không biết xấu hổ là gì. Khi Công tố viên nhận xét: ‘Có lẽ anh
đã đánh mất hết tư cách’, thì bị cáo ngạo mạn mỉm cười và nói:
‘Có thể là như thế’. Thái độ của bị cáo đã làm cả phòng xử bất
bình, tức giận, nhưng Chủ toạ phiên toà đã kịp vãn hồi trật tự. Một
lần tất cả những người có mặt trong phòng xử đã phải bật cười,
đấy là lúc bị cáo xin toà cho giải lao mấy phút vì ‘răng đau không
thể chịu được’. Phù hợp với thủ tục pháp lý hiện hành, Chủ toạ
phiên toà nhún vai tỏ vẻ khinh bỉ rồi tuyên bố tạm nghỉ năm phút.”
Vasily
nằm ngửa, ông nhớ lại những ngày sau khi Rubashov trốn khỏi nhà tù
của quân địch và được khắp nơi chào đón như một người anh hùng.
Ông như vẫn nhìn thấy Rubashov tay chống nạng, đứng trên khán đài,
giữa một rừng cờ, hoa và tiếng reo hò không dứt, miệng mỉm cười,
tay cầm kính lau vào ống áo.
“Lính
giải Ngài vào phía trong viện, tức là sảnh đường, và nhóm cả cơ
binh lại. Họ khoác áo tía cho Ngài, đan một mão gai đội lên đầu
Ngài... Họ lại lấy cây lau đánh đầu Ngài, nhổ trên Ngài, và quì
gối lạy Ngài[14]”
“Bố
vừa nói gì thế?”, cô con gái hỏi.
“Không
có gì”, Vasily trả lời và quay mặt vào tường. Ông đưa tay lần mò
qua lỗ thủng của cái nệm nhưng cuốn Kinh thánh đã không còn. Tấm
ảnh trên tường cũng không còn. Khi cô con gái gỡ bức ảnh Rubashov
và ném vào sọt rác ông không nói gì: già quá rồi, phải đi tù nữa
thì nhục nhã lắm.
Cô
con gái ngừng đọc và đặt cái bếp lên bàn để đun nước pha trà. Mùi
dầu hoả nồng nặc khắp phòng.
“Ban
nãy bố có nghe con đọc không đấy”, cô con gái hỏi bố. Vasily nhẫn
nhục quay đầu lại phía cô con gái và nói:
“Có
chứ.”
“Bố
thấy đấy”, Vera Vasiljovna vừa đổ thêm dầu vào bếp vừa nói. “Chính
hắn công nhận là kẻ phản bội đấy chứ. Nếu không thì hắn đã không
nói như thế. Trong cuộc họp ở nhà máy chúng con đã ra nghị quyết
và tất cả sẽ ký.”
“Giỏi
nhỉ”, Vasily thở dài.
Vera
Vasiljovna liếc bố bằng đôi mắt sắc lạnh đến nỗi ông phải quay ngay
mặt vào tường. Mỗi lần con gái nhìn như thế là ông lại thấy như
mình là người có lỗi với con, cô đang rất cần căn phòng nhỏ dành
cho người tạp vụ này để có thể xây dựng gia đình. Ba tuần trước
cô đã đăng ký kết hôn với một anh công nhân cơ khí trong cùng nhà
máy, nhưng nhà ở thì chưa có, anh chồng trẻ vẫn sống trong nhà tập
thể, phải vài ba năm nữa may ra họ mới được phân nhà.
Vera
Vasiljovna châm lửa và đặt ấm nước lên bếp.
“Bí
thư chi bộ đọc cho mọi người nghe nghị quyết. Nghị quyết viết rằng
bọn phản bội phải bị trừng trị một cách đích đáng. Bất cứ kẻ nào
tỏ lòng thương hại bọn chúng cũng bị coi là phản bội và bị lên
án”, cô lạnh lùng giải thích. “Giai cấp công nhân cần phải cảnh
giác. Ai cũng được phát một bản, chúng con đang đi thu thập chữ ký.”
Vera
Vasiljovna lôi từ trong túi áo ra một tờ giấy gấp làm tư và trải ra
mặt bàn. Lúc đó Vasily đang nằm ngửa, mắt nhìn thẳng vào đầu chiếc
đinh rỉ trên tường. Ông quay đầu về hướng con gái, tờ giấy được đặt
nằm cạnh cái bếp dầu. Ông vội ngoảnh mặt đi chỗ khác.
“Nhưng
Ngài phán rằng: ‘Quả thật ta nói cùng ngươi, hôm nay, chính đêm
này, trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần[15]’”.
Nước
trong ấm đã reo lục bục. Vasily hỏi con một câu nhiều ẩn ý: “Những
người đã từng tham gia Nội chiến có phải ký không?” Vera Vasiljovna
đang cúi đầu nhìn ấm nước.
“Không
ai phải cả”, cô nói và lại liếc bố với đôi mắt sắc lạnh như lần
trước. “Ở nhà máy thì ai cũng biết hắn từng sống trong căn nhà
này. Sau cuộc họp ông bí thư chi bộ còn hỏi con là bố có thân và
có hay nói chuyện với hắn không?”
Vasily
vùng dậy. Ông ngồi trên giường và ho rũ ra, trên cái cần cổ gày
gò hằn lên những tia máu đỏ.
Cô
con gái đặt hai cái cốc lên bàn rồi lấy cái hộp giấy đựng trà dốc
vào mỗi cốc một ít.
“Bố
vừa lầm bầm cái gì nữa thế”, cô hỏi.
“Đưa
cho tao tờ giấy quỉ tha ma bắt kia xem nào”, Vasily nói.
Cô
con gái vừa đưa cho bố tờ giấy vừa hỏi:
“Có
cần đọc cho bố nghe không?”
“Không
cần”, ông già vừa ký vừa nói. “Bố không cần nghe. Đưa trà đây cho
bố.”
Cô
con gái đưa cốc nước cho bố. Môi Vasily run run, ông vừa lẩm bẩm một
mình vừa nhấm nháp từng ngụm nước màu vàng nhạt.
Sau
khi uống trà, cô con gái lại tiếp tục đọc báo. Phóng sự về phiên
toà xử Rubashov và Kieffer đã sắp hết. Việc công bố tình tiết vụ
mưu sát lãnh tụ Đảng làm cho những người tham dự phiên toà vô
cùng phẫn nộ, cả hội trường cùng đứng dậy, hô lớn mấy lần liền:
“Đồ chó dại đáng chết!” Trả lời câu hỏi của Công tố viên về động
cơ hành động, bị cáo Rubashov, lúc đó đã hoàn toàn suy sụp, nói
như một người hết hơi:
“Tôi
chỉ có thể nói rằng phe đối lập chúng tôi đặt ra mục tiêu tội lỗi
là phải lật đổ Chính phủ Cách mạng và đã sử dụng những biện pháp
phù hợp với mục đích đó, những biện pháp cũng thuộc loại hạ đẳng
và đê tiện chẳng khác gì mục đích.”
Vera
Vasiljovna đạp cái ghế ra phía sau.
“Kinh
tởm quá”, cô nói. “Nghe hắn nói đã lộn mửa lên rồi!”
Cô
đặt tờ báo sang một bên và bắt đầu thu dọn cốc chén. Vasily nhìn
theo. Trà nóng đã làm ông phấn chấn thêm.
“Đừng
có tưởng là hiểu nhé, con ơi”, ông nói. “Chỉ có trời mới hiểu
ông ta nghĩ gì mà lại nói như thế. Đảng bảo chúng mày phải khôn
khéo, nhưng khôn quá thì lại hoá ra mất cả tử tế đi. Đừng có mà
nhún vai như thế nhé”, ông tức giận nói thêm. “Bây giờ khôn ngoan
và tử tế đang đối chọi nhau, có cái này thì mất cái kia. Mưu mô
quá cũng chẳng hay ho gì đâu. ‘Vì vậy mới viết rằng: Song các
ngươi nên nói: ‘Phải, phải, không không’. Còn quá lời ấy đều bởi
kẻ ác mà ra[16]’”.
Ông
lại nằm xuống giường và quay đi để khỏi phải nhìn mặt cô con gái.
Chưa bao giờ ông dám chống đối lại cô một cách mạnh mẽ và lâu
như thế. Ở đời ai học hết được chữ ngờ, nhất là khi cô ta đang
cần phòng ở riêng để lấy chồng. Phải khôn khéo thì mới sống
được, tuổi này mà phải ra gầm cầu hay vào tù thì tội lắm. Trong
hai phải chọn lấy một: khôn ngoan hay là tử tế, vẹn cả hai đằng làm
sao được.
“Thôi
được, con sẽ đọc cho bố nghe phần cuối”, cô con gái nói.
“Công
tố viên kết thúc việc thẩm vấn Rubashov. Ông chuyển sang hỏi bị cáo
Kieffer. Bị cáo công nhận những lời khai về vụ mưu sát đưa ra
trước đây là hoàn toàn đúng sự thật. ...Khi Chủ toạ phiên toà hỏi
bị cáo Rubashov có muốn làm rõ những điều Kieffer đã khai hay không,
hắn nói: ‘Không cần’. Quá trình thẩm vấn kết thúc ở đây và Chủ
toạ tuyên bố giải lao. Sau khi giải lao, Công tố viên bắt đầu đọc
bản luận tội...”
Vasily
không nghe bản luận tội của Công tố viên. Ông nằm quay mặt vào
tường và thiếp đi lúc nào không hay. Ông không biết mình đã ngủ
bao lâu, không biết cô con gái phải châm dầu mấy lần, không biết
ngón tay cô phải chuyển cột báo mấy lần. Ông thức giấc đúng vào
lúc Công tố viên kết thúc lời buộc tội và đòi kết án tử hình cả
hai bị cáo. Có thể là cô con gái đã lên giọng, có thể cô đã
ngừng đọc một lúc, nhưng nói gì thì nói, ông đã thức giấc đúng
lúc nghe thấy câu kết luận của Công tố viên:
“Tôi
yêu cầu xử bắn tất cả những con chó điên này”.
Sau
đó các phạm nhân được nói lời cuối cùng.
“Bị
cáo Kieffer quay mặt về phía các quan toà và nói rằng vì còn trẻ,
chưa có kinh nghiệm, xin toà tha chết. Một lần nữa hắn công nhận
rằng tội ác là không thể tha thứ được, nhưng lại tìm cách đổ vấy
trách nhiệm cho Rubashov, thủ phạm của vụ đầu độc bất thành. Trình
bày được một lúc thì Kieffer bắt đầu nói lắp, làm mọi người
cười ồ lên, nhưng Chủ toà phiên toà đã vãn hồi trật tự ngay lập
tức. Sau đó đến lượt Rubashov...”
Bài
tường thuật mô tả rất rõ cảnh Rubashov “nhìn khắp lượt khán
phòng, nhưng không gặp bất kì một ánh mắt thương hại nào đành
cúi gằm mặt xuống”.
Rubashov
nói rất ngắn. Nó chỉ làm cho người ta thêm căm tức thái độ trâng
tráo của hắn trước toà mà thôi.
“Thưa
ông Chủ toạ”, bị cáo Rubashov tuyên bố, “đây là lần lên tiếng cuối
cùng của tôi trong cuộc đời này. Lực lượng đối lập đã bị đập tan
và bị tiêu diệt. Nếu phải hỏi ‘Ta chết vì cái gì?’ thì tôi không
thể trả lời nổi. Chết mà không sám hối, không hoà giải với Đảng
và Phong trào cách mạng là một cái chết vô ích. Vì vậy, trước khi
chết tôi xin được quì gối trước đất nước, trước quần chúng và
toàn thể nhân dân. Những buổi trình diễn về đấu tranh chính trị,
về tranh luận công khai và mưu mô nọ kia đã kết thúc rồi. Chúng
tôi đã bị khai tử trước khi Công tố viên đòi lấy đầu. Được làm
vua, thua làm giặc. Thưa các vị thẩm phán, tôi chỉ xin nói với các
vị một điều: tôi đã phải suy nghĩ rất lâu. Thói kiêu căng và lòng
tự hào nhắc nhủ tôi rằng hãy ngậm miệng mà chết đi, không nói gì
cả hay hãy chết một cách oai hùng, như người ta nói: con chim sắp
chết thì tiếng hót hay, hãy dốc hết tấm lòng và kết án chính
những kẻ nắm cán cân công lý. Đối với một người lính già như
tôi, đấy là việc không khó, nhưng tôi chấp nhận đầu hàng vô điều
kiện. Nhiệm vụ của tôi như thế là đã hoàn thành. Tôi đã trả giá,
tôi đã thanh toán xong món nợ với lịch sử. Lúc này mà còn xin tha
thứ thì chỉ là một trò cười. Tôi xin kết thúc ở đây.”
“...
Sau khi giải lao, Chủ toạ phiên toà tuyên đọc bản án. Hội đồng xét
xử của Toà án Tối cao tuyên bố: tử hình tất cả các bị cáo bằng
cách xử bắn, tịch thu toàn bộ tài sản cá nhân.”
Vasily
nhìn chiếc đinh rỉ thò ra trên tường và lẩm bẩm: “Thế là hết.
Amen!” và quay mặt vào tường.
2.
Thế
là hết. Rubashov biết rằng anh sẽ bị giết trước lúc nửa đêm.
Anh
đang đi bách bộ trong phòng, sáu bước rưỡi thì đến cửa sổ, rồi
quay lại cũng đúng sáu bước rưỡi. Cảnh nhốn nháo của phiên toà
vừa chấm dứt cách đây mấy phút. Anh dừng lại trên viên gạch màu
đen, viên thứ ba tính từ cửa sổ, và lắng tai nghe – không một tiếng
động, xung quanh yên tĩnh quá, chẳng khác gì trong lòng một chiếc
giếng cạn. Anh không hiểu vì
sao lòng mình lại nhẹ tênh và xung quanh lại trở nên yên tĩnh đến
như thế. Nhưng anh biết rằng sự thanh thản hiện nay sẽ là vĩnh
viễn, không gì có thể phá vỡ được nữa.
Anh
cảm thấy lòng thanh thản như thế ngay giữa phiên toà, tức là trước
khi được nói lời cuối cùng cơ. Anh tin rằng tàn tích của thói vị
kỷ và thái độ kiêu căng sẽ chẳng bao giờ làm mình bận lòng được
nữa, nhưng khi nhìn khắp phòng xử án mà chỉ thấy những bộ mặt
lãnh đạm và khinh khi thì anh lại thấy thèm một ánh mắt cảm thông
hay chí ít là thương hại; anh chỉ muốn hét lên để xua tan thái độ
lạnh lùng, băng giá đang bao trùm lên chính mình lúc đó. Anh rất
muốn kể lại những đóng góp của mình đối với Đảng, rất muốn đứng
thẳng lên và lật tung những điều dối trá mà Ivanov và Gletkin đã cố
tình khoác lên người anh, rất muốn hét vào mặt các thẩm phán, như
Danton từng hét ngày nào: “Các người đã bóp chết cả cuộc đời ta.
Hãy để nó trở thành bằng chứng tố cáo các ngươi!” Anh thuộc lòng
bài diễn văn của Danton trước Tòa án Cách mạng. Anh có thể đọc
không sót một từ nào. Anh đã học thuộc bài diễn văn này ngay từ
khi còn trẻ: “Các người muốn dìm nước Cộng hoà vào biển máu. Con
đường đến tự do còn phải trải bằng xương máu đến bao lâu nữa?
Chế độ độc tài đang tiến bước, nó đã giật tung mặt nạ, đầu nó
ngẩng cao, nó đang bước qua xác chết của chúng tôi.”
Ngôn
từ như đã ở trên đầu lưỡi. Nhưng ước muốn đó chỉ kéo dài trong
giây lát, còn khi bắt đầu nói lời cuối cùng thì anh lại thấy lòng
thanh thản vô cùng. Anh biết rằng cơ hội đã bị bỏ lỡ rồi.
Bỏ
lỡ cơ hội quay lại trên chính con đường ấy, con đường chết chóc
mà anh đã đi qua. Ngôn từ chẳng thể thay đổi được gì nữa.
Tất
cả đều đã bỏ lỡ cơ hội rồi. Khi được nói lời cuối cùng, không
có ai đủ sức biến vành móng ngựa thành diễn đàn tố cáo, không
người nào có đủ sức trình bày cho thế giới biết sự thật và ném
vào mặt quan toà những lời buộc tội, như Danton đã từng làm.
Một
số người không nói vì sợ bị đánh đập, số khác thì hi vọng giữ
được mang sống, số khác nữa thì hi vọng cứu được vợ con khỏi bàn
tay nhơ nhuốc của những kẻ như Gletkin. Những người trung thực nhất
cũng không nói, chấp nhận làm con dê tế thần, vì họ coi đấy là nhiệm
vụ cuối cùng của người đảng viên; ngoài ra, ngay cả những người
trung thực nhất, không trừ một ai, đều dính máu một Arlova nào đó
rồi. Tất cả bọn họ đều dính mắc rất chặt với quá khứ, đều bị
mắc vào mạng lưới được đan bằng những nguyên tắc đạo đức và lý
luận méo mó, gọi là mang tính Đảng; tóm lại, tất cả đều có tội, mặc
dù không phải là những tội mà họ tự nhận trong các phiên toà.
Không còn đường quay lại. Việc họ rời khỏi vũ đài diễn ra theo
đúng luật chơi do chính họ đặt ra. Ngay cả trước khi chết họ cũng
không nói được những lời chân thật. Họ phải diễn theo đúng kịch
bản, nhiệm vụ của họ là tru lên như những con chó sói khi màn đêm
buông xuống...
Hết
thật rồi. Không còn gì để làm nữa. Anh không còn phải tru lên cùng
với bày sói nữa. Anh đã trả giá, anh đã thanh toán hết nợ nần rồi.
Anh đã trở thành một người không có quá khứ, một người đã giải
thoát khỏi mọi ràng buộc. Những gì cần suy nghĩ thì đã suy nghĩ
hết rồi, đã có kết luận hết rồi, đã biến thành hiện thực hết
rồi; thời giờ còn lại là để giành cho Người Đối Thoại Không Lời,
kẻ vẫn sống bên ngoài vương quốc của tư duy. Rubashov dừng lại bên
cạnh bức tường ngăn với buồng 406. Từ ngày họ đưa Rip Van Winkle đi,
buồng này vẫn để trống. Anh tháo kính, rối dáo dác nhìn quanh và
gõ nhẹ:
2–4...
Anh
ghé tai nghe, hồi hộp và ngượng ngịu như một đứa trẻ, và lại tiếp
tục gõ:
2–4...
Anh
lại ghé tai nghe và gõ thêm một lần nữa. Không một tiếng động. Anh
chưa bao giờ cố ý gõ từ “Tôi”. Có thể là chưa bao giờ nói từ này
cũng nên. Anh lại ghé tai nghe. Vẫn không một tiếng động nào.
Anh
tiếp tục đi bách bộ. Từ lúc cảm thấy lòng thanh thản, anh chỉ còn bận
tâm trước một vài câu hỏi, anh phải tìm cách trả lời trước khi
quá muộn. Câu hỏi, có thể nói là ngây thơ, liên quan đến vấn đề
đau khổ, hay nói chính xác hơn, liên quan đến sự khác nhau giữa đau
khổ có ý nghĩa và đau khổ vô nghĩa. Rõ ràng là chỉ có những khổ
đau không thể tránh được, nghĩa là có nguồn gốc tự nhiên: sinh,
lão, bệnh, tử là có ý nghĩa mà thôi. Còn những khổ đau có nguồn
gốc xã hội, do con người tự tạo ra cho nhau, là những khổ đau vô
ích và vô nghĩa. Mục tiêu duy nhất của cách mạng là loại bỏ những
khổ đau vô ích. Nhưng hoá ra việc loại bỏ những khổ đau vô ích lại
chỉ có thể thực hiện được bằng cách dìm cả thế giới, dĩ nhiên
là trong một thời gian ngắn, vào bể trầm luân của sinh, lão, bệnh
tử. Nghĩa là câu hỏi sẽ như thế này: Có thể biện hộ được cho
cách làm như thế hay không? Rõ ràng là được, nếu ta nói đến một
“nhân loại” trừu tượng, nhưng sẽ là vô nghĩa nếu ta đem áp dụng
nguyên tắc ấy cho một con người cụ thể, một con người bằng xương
bằng thịt. Khi còn trẻ, anh tin rằng Đảng sẽ cho anh sáng mắt sáng
lòng, sẽ giúp anh trả lời mọi câu hỏi kiểu như thế. Anh đã phục
vụ Đảng suốt bốn mươi năm trời, nhưng ngay khi trở thành đảng viên
anh đã quên mất câu hỏi: Mình trở thành đảng viên để làm gì? Và
bây giờ, sau bốn mươi năm, anh lại trở về với câu hỏi của thời
trai trẻ. Đảng đòi hỏi hi sinh tất cả những gì mình có nhưng không
bao giờ cung cấp đáp án cho những câu hỏi như thế. Người Đối Thoại
Không Lời cũng không, hắn luôn giữ thái độ im lặng trước những
câu hỏi trực tiếp, những câu hỏi dù khẩn cấp và tuyệt vọng đến
đâu hắn cũng mặc.
Còn
có những cách tiếp cận khác. Đôi khi trong đầu anh bỗng hiện lên một
đoạn nhạc, hay đôi bàn tay khum khum của Đức Mẹ hoặc một phong cảnh
làng quê thời niên thiếu. Lúc đó anh có những phản ứng rất đặc biệt,
hệt như khi động vào chiếc âm thoa, người ta sẽ nghe thấy âm thanh
vọng lại, tâm hồn anh lúc đó rơi vào trạng thái mà các thông thái
gọi là “thiền”, các nhà huyền học gọi là “xuất thần”, còn các nhà
tâm lý học hiện đại thì gọi là “cảm giác yêu thương vô bờ bến”.
Khi đó người ta tan ra như một hạt muối trong biển cả, nhưng đồng
thời cả đại dương lại chứa trong một hạt muối. Hạt muối không còn
nằm trong một không gian hay một khoảng thời gian nhất định nào nữa.
Đấy là lúc ý nghĩ đánh mất hết phương hướng và bắt đầu xoay
tròn, hệt như kim la bàn xoay quanh trục, hệt như luồng ánh sáng
trong bóng đêm, tất cả các ý nghĩ và cảm giác, ngay cả nỗi đau và
niềm vui cũng chỉ còn là những tia sáng được lăng kính của ý thức
chia tách ra mà thôi.
Rubashov
đi bách bộ trong phòng. Trước đây hẳn là anh đã cảm thấy xấu hổ
với những ý nghĩ viển vông như thế. Nhưng bây giờ anh không xấu
hổ nữa. Cái chết đã biến những điều trừu tượng trở thành hiện
thực. Anh dừng lại cạnh cửa sổ và gục đầu vào mặt kính. Bên trên
vọng gác có một khoảng trời màu xanh. Khoảng trời làm anh nhớ lại
khung trời cũng màu xanh thời thơ bé, đấy là khoảng trời màu xanh
mà anh nhìn thấy giữa những cành dương khi nằm trên thảm cỏ trong
khu vườn của cha anh. Rõ ràng là ngay cả một khoảng trời màu xanh
cũng đủ tạo ra “cảm giác yêu thương vô bờ bến”. Theo các phát minh
mới nhất của thiên văn học thì thế giới không phải là vô cùng vô
tận; mặc dù không có biên giới, vũ trụ là một thực thể khép kín,
giống như mặt của một khối cầu vậy. Anh chưa bao giờ hiểu được
chuyện này, nhưng nay thì anh rất muốn hiểu. Bây giờ thì anh nhớ đã
đọc chuyện này khi nào: đấy là lần đầu bị bắt ở Đức, các đồng
chí tìm cách chuyển các tài liệu bất hợp pháp vào tù, trong đó
bên dưới ba cột báo nói về cuộc bãi công ở nhà máy dệt còn có một
bản bài báo ngắn nói rằng vũ trụ không phải là vô cùng vô tận,
nhưng phần cuối trang giấy lại bị rách. Anh không biết phần rách ấy
viết cái gì.
Rubashov
đứng cạnh cửa sổ và lấy kính gõ vào bức tường của căn phòng bỏ
không. Thuở thiếu thời anh từng mơ ước nghiên cứu thiên văn, nhưng
suốt bốn mươi năm qua anh lại làm những việc hoàn toàn khác. Nếu
Công tố viên hỏi: “Bị cáo Rubashov, anh có biết vô cùng, vô tận là
gì không?”, thì anh sẽ chẳng thể nào trả lời được. Đấy chính là
nguồn gốc tất cả mọi tội lỗi của anh... Còn có gì nghiêm trọng
hơn thế hay không?
Lúc
đó, khi nằm một mình trong buồng giam, người còn đau ê ẩm vì bị tra
tấn, nhưng vừa đọc mẩu tin anh đã cảm thấy mình rơi vào “cảm giác
yêu thương vô bờ bến”. Sau này, mỗi lần nhớ lại anh đều cảm thấy
ngượng. Đảng không khuyến khích những trạng thái kiểu như thế. Đấy
gọi là chủ nghĩa thần bí tiểu tư sản, là chui vào tháp ngà. Còn
gọi là “trốn tránh trách nhiệm”, là “trốn tránh cuộc đấu tranh giai
cấp”. “Yêu thương vô bờ bến” là phản cách mạng.
Trong
đấu tranh, người ta phải đứng bằng cả hai chân trên mặt đất. Đảng
dạy rằng vô cùng, vô tận là rất đáng ngờ về mặt chính trị, mà
“cá nhân” cũng đáng ngờ nốt. Đảng không công nhận sự tồn tại của
những khái niệm như thế. Đối với Đảng, cá nhân chỉ có nghĩa là tập
hợp N triệu người chia cho N triệu mà thôi.
Đảng
không công nhận tự do ý chí của từng cá nhân, đồng thời lại yêu
cầu mọi người phải tự nguyện hi sinh. Đảng cho rằng con người không
có khả năng lựa chọn, nhưng đồng thời lại đòi hỏi người ta luôn
phải lựa chọn cái đúng. Đảng cho rằng người ta không thể phân biệt
được thiện và ác nhưng lại luôn nói đến tội lỗi và sự phản bội.
Tất cả mọi cá nhân đều bị qui luật kinh tế chi phối, mỗi cá nhân
chỉ là những bánh răng trong một cỗ máy, không thể ngừng quay hay
có ảnh hưởng gì đến cỗ máy được, nhưng Đảng lại yêu cầu các
bánh răng vùng lên, làm cuộc cách mạng để thay đổi chính cơ chế
của bộ máy. Rõ ràng là có sự nhầm lẫn, bài toán không thể giải
được ngay từ đầu.
Anh
đã chiến đấu chống lại qui luật kinh tế đó. Đấy chính là căn bệnh
nan y của xã hội loài người, là khối u huỷ hoại cơ thể ngay từ
bên trong. Cần phải phẫu thuật, khối u đã lấy ra rồi thì mọi bệnh tật
khác sẽ tự lành. Tất cả những biện pháp khác đều chỉ là những biện
pháp cải lương, lãng mạn tiểu tư sản mà thôi. Bệnh nhân ốm sắp
chết rồi, châm cứu hay đọc kinh thì làm sao khỏi được. Chỉ còn một
cách là tính toán thật cản thận và dùng dao kéo cắt phăng khối u
đi. Nhưng hoá ra khối u cũ vừa được cắt đi thì lại sinh ra ngay
những khối u mới. Bài toán vẫn không có đáp số.
Anh
đã đi theo tiếng gọi của Đảng suốt bốn mươi năm qua. Anh vẫn luôn
giữ vững lập trường. Anh đã gột rửa khỏi đầu óc của mình những
tàn dư cuối cùng của nền đạo đức cổ truyền. Anh đã né tránh
Người Đối Thoại Không Lời và xua tan trạng thái thiền định. Cuối
cùng anh đã đi đến đâu? Các chân lý tuyệt đối đúng, đỉnh cao của
trí tuệ loài người đã đưa anh đến kết cục thật là lố bịch, lý
sự không thể bác bỏ được của Ivanov và Gletkin đã buộc anh phải
đóng một vai trong cái vở bi hài kịch gọi là toà án kia. Hay là con
người ta không nên nghĩ bất cứ chuyện gì một cách rốt ráo đến
như thế?
Rubashov
ngước nhìn khoảng trời xanh bên trên hàng rào tháp canh. Bốn mươi
năm qua anh đã lao lên phía trước như một người điên, như một
người say mê lý tưởng. Cũng có thể con người ta không nên cắt
đứt hoàn toàn khỏi những ràng buộc của quá khứ, không nên phá bỏ
những cấm kị kiểu như: “Không nên làm như thế” hay “Không được
làm như thế”, rồi tự cho mình quyền lao thẳng đến đích như anh đã
làm chăng?
Bầu
trời đã ngả sang màu vàng nhạt, tối dần, bên trên tháp canh một
bày chim đen đang chao liệng. Không, không thể giải được bài toán
ngay từ đầu. Rõ ràng là không được đưa dao vào tay người ta rồi
bảo người ta cứ thẳng đích mà tiến, dao là một dụng cụ thí nghiệm
nguy hiểm, con người hiện nay chưa đủ sức dùng. Có thể sau này, một
ngày nào đó... Nhưng hiện nay thì con người còn vụng về và trẻ
dại lắm. Con người đã hoá điên trên mảnh ruộng thí nghiệm, trên
quê hương của Cách mạng, trên tiền đồn của Tự do! Để giữ được
tiền đồn, những kẻ như Gletkin sẵn sàng làm tất cả. Thế còn bên
trong thì sao? Không, không thể xây dựng được Thiên đường bằng xi
măng cốt thép. Tiền đồn có thể đứng vững, nhưng đấy không còn là
thông điệp, không phải là mẫu hình để trưng ra với thế giới nữa.
Chế độ của Anh Cả đã làm vẩn đục lý tưởng về một Nhà nước công
bằng, chẳng khác gì các cố đạo thời Trung cổ đã làm vẩn đục lý
tưởng về một Đế chế Thiên chúa giáo. Ngọn cờ của Cách mạng đã
rũ xuống rồi.
Rubashov
lại tiếp tục đi bách bộ trong phòng. Trời sắp tối, xung quanh vẫn
vắng lặng như cũ. Chắc họ sắp đưa anh đi rồi. Bài toán đã sai ở
chỗ nào đó, không, đây là sai lầm của toàn bộ hệ thống tư duy. Anh
đã nhận thấy như thế từ lâu, từ ngày Richard bị coi là gián điệp
cơ, nhưng chưa bao giờ anh dám suy nghĩ đến cùng như thế. Có khả
năng là Cách mạng đã diễn ra quá sớm và kết quả là một quái thai.
Có thể toàn bộ vấn đề là sự lầm lẫn về thời gian. Đầu thế kỷ
thứ nhất trước Công nguyên nền văn minh La Mã cũng đã lụi tàn,
cũng đã thối nát đến tận xương tuỷ, chẳng khác gì nền văn minh
của chúng ta hiện nay, những người tiến bộ nhất lúc đó tin chắc
rằng một cuộc cách mạng vĩ đại sẽ diễn ra trong nay mai, nhưng hoá
ra cái thế giới già cỗi ấy còn lay lắt tồn tại được suốt năm thế
kỷ. Lịch sử bước rất chậm, con người đo thời gian bằng năm tháng,
còn lịch sử đo bằng thế hệ. Có thể bây giờ mới là ngày thứ hai
của Sáng thế ký. Ôi, nếu được sống thêm để viết tiếp lý thuyết
về sự chín muồi tương đối của quần chúng thì thích biết bao...!
Buồng
giam yên ắng quá. Anh nghe rõ từng bước chân mình. Sáu bước rưỡi
là đến cửa, họ sẽ bắt anh ở đấy, sáu bước rưỡi là đến cửa sổ,
đêm đang đổ xuống ở đấy. Làm sao mọi chuyện chấm dứt mau mau lên
thì tốt. Nhưng khi tự hỏi: Ta chết vì cái gì? Thì anh không trả
lời được. Sai lầm ngay trong hệ thống, có thể sai lầm nằm trong cái
tiền đề mà anh đã cho là tuyệt đối đúng, anh đã hi sinh những người
khác nhân danh cái tiền đề ấy và bây giờ những người khác cũng
nhân danh nó mà hi sinh anh, cái tiền đề ấy là: Mục đích biện minh
cho phương tiện. Chính nó đã giết chết tình huynh đệ của Cách
mạng, chính nó đã biến các chiến sĩ cách mạng thành những kẻ điên
rồ. Anh đã viết trong nhật ký: “Chúng
ta đã vứt bỏ mọi truyền thống, vứt bỏ cái gia trọng có tên là đức
hạnh ra khỏi mạn tàu; chúng ta chỉ sử dụng một nguyên tắc dẫn đạo
duy nhất, đấy là lý trí.”
Có
thể đấy chính là nguồn gốc của mọi đau khổ mà nhân dân đang phải
gánh chịu. Có thể nhân loại vẫn cần cái gia trọng mang tên là đức
hạnh. Và cũng có thể, nếu dùng một mình, lý trí chỉ là một chiếc
la bàn tồi, nó có thể dẫn ta đâm sầm vào bão tố, vào những con
đường khúc khuỷu mịt mù sương khói, chẳng còn nhìn thấy đích đâu
nữa.
Có
thể là một thời kỳ tăm tối nữa đã sắp đến gần.
Có
thể sau này, rất lâu sau này, sẽ có một phong trào mới, với ngọn
cờ mới và một niềm tin mới, một phong trào nhận thức được cả các
qui luật kinh tế lẫn “tình yêu thương vô bờ bến”. Có thể đảng
viên của cái Đảng mới này sẽ mặc áo cà sa và thuyết giảng rằng
chỉ có các phương tiện trong sáng mới có thể dẫn ta đến tương lai
tươi sáng mà thôi. Có thể họ sẽ phủ nhận cái giáo lý cho rằng một
người chỉ là kết quả của một triệu chia cho một triệu và sẽ khẳng
định qui luật tính toán dựa trên phép nhân: một triệu cá nhân kết
hợp với nhau thì đấy không còn là một đám đông hỗn loạn mà một
khối thống nhất của hàng triệu cá nhân với “tình yêu vô bờ bến”
được nhân lên hàng triệu lần, tạo ra một không gian tinh thần vô
bờ bến.
Rubashov
dừng bước và dỏng tai lên nghe. Ngoài hành lang dội lại những tiếng
động bùng bùng, ùng ục.
3.
Tiếng
động vang lên liên hồi như tiếng trống ngũ liên được gió đưa từ
xa lại, ngày một gần hơn. Rubashov đứng như trời trồng. Hai chân như
tê dại hẳn, có cảm giác như trọng lực đang kéo chặt chúng xuống
đất, không thể nhấc lên được. Anh lê về phía cửa sổ, mắt vẫn
không rời lỗ nhòm. Anh hít thật sâu rồi châm thuốc hút. Rồi anh
nghe thấy có tiếng gõ nhẹ ngay bên cạnh cái giường sắt.
CHÚNG
LÔI MÔI THỎ ĐI RỒI. HẮN GỬI LỜI CHÀO.
Hai
chân không còn cứng nữa. Anh bước về phía cửa ra vào và dùng cả
hai bàn tay đập liên hồi kì trận vào cánh cửa sắt. Thông báo cho
buồng 406 cũng vô ích. Buồng ấy để không đã lâu. Anh cứ thế đập,
trong khi mắt vẫn không rời cái lỗ nhòm.
Hành
làng vẫn sáng mờ mờ như mọi khi. Anh vẫn nhìn thấy bốn cánh cửa,
từ 401 đến 407 như mọi khi. Tiếng đập ngày càng to hơn. Có tiếng
bước chân lạo xạo trên nền gạch. Rồi Môi Thỏ xuất hiện. Anh ta
đứng đó, môi hơi run, hệt như lần đứng dưới ánh đèn trong phòng
làm việc của Gletkin; hai tay bị khoá giật cánh khuỷu ra đằng sau.
Không thể thấy mắt Rubashov đằng sau lỗ nhòm, anh ta nhìn trừng trừng
vào cánh cửa sắt làm như đấy là hi vọng cứu rỗi cuối cùng vậy. Mệnh
lệnh được đưa ra, Môi Thỏ quay lưng bước đi. Phía sau là tay bảo vệ
cao to, súng lục kè kè ngang hông. Rồi cả hai lần lượt đi khuất
hẳn.
Tiếng
đập ngừng, xung quanh trở lại yên ắng như cũ. Có tiếng gõ nhẹ ngay
cạnh cái giường sắt: ANH TA CÓ THÁI ĐỘ TỐT... Từ ngày Rubashov
tuyên bố rằng anh đã đầu hàng, họ chưa từng nói chuyện với nhau.
402 tiếp tục:
CÒN
KHOẢNG MƯỜI PHÚT NỮA. ANH THẤY THẾ NÀO?
Rõ
ràng là 402 muốn nói chuyện để anh bớt căng thẳng trong lúc chờ
đợi. Thật là một người tốt bụng. Anh ngồi xuống giường và gõ:
CHỈ
MUỐN CHẤM DỨT NGAY ĐI.
ANH
KHÔNG PHẢI LÀ LỌAI HÈN, 402 trả lời liền, ANH LÀ NGƯỜI DŨNG CẢM...
ngừng một chút, rồi gõ thêm: CỰC KÌ DŨNG CẢM... rõ ràng là anh ta
không muốn câu chuyện dừng lại ở đấy. ANH CÒN NHỚ “NGỰC TRẮNG NHƯ
BỌT LY SÂM BANH ĐẦY” KHÔNG? HA–HA! DŨNG CẢM QUÁ...
Rubashov
dỏng tai lên nghe. Không thấy gì. Chắc là 402 đã đoán được ý nghĩ
của anh:
KHÔNG
PHẢI NGHE. TÔI SẼ NÓI KHI NÀO CHÚNG TỚI. ANH SẼ LÀM GÌ NẾU ĐƯỢC
THA?
Rubashov
nghĩ một lúc rồi mới trả lời:
NGHIÊN
CỨU THIÊN VĂN.
HA–HA,
402 đáp, CÓ LẼ TÔI CŨNG THẾ. NGƯỜI TA BẢO HÀNH TINH KHÁC CŨNG CÓ
NGƯỜI. CHO TÔI ĐƯỢC KHUYÊN ANH VÀI CÂU.
ĐƯỢC,
Rubashov đáp, thâm tâm lấy làm ngạc nhiên.
XIN
ĐỪNG GIẬN. LỜI KHUYÊN CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH. XẢ ĐI. SẼ CÓ LỢI. LỰC
BẤT TÒNG TÂM MÀ.
Rubashov
khẽ mỉm cười rồi lặng lẽ bước lại phía cái thùng gỗ. Sau đó anh
ngồi lên giường và gõ:
CÁM
ƠN. Ý KIẾN TUYỆT VỜI. KẾ HỌACH CỦA ANH THÌ SAO?
402
không trả lời ngay. Sau đó anh ta mới chậm rãi gõ:
MƯỜI
TÁM NĂM NỮA. KHÔNG HẲN, CHỈ 6530 NGÀY THÔI... rồi gõ thêm: TÔI GHEN
VỚI ANH ĐẤY. Ngừng một lúc lại gõ: 6530 NGÀY ĐÊM KHÔNG ĐÀN BÀ.
Rubashov
không nói gì. Một lúc sau mới gõ:
NHƯNG
ANH CÓ THỂ ĐỌC, HỌC TẬP...
SỨC
ĐÂU, 402 đáp. Và ngay lập tức là những tiếng gõ to và vội: CHÚNG
ĐẾN ĐẤY..., ngừng một chút rồi lại gõ thêm: TIẾC QUÁ. CÂU CHUYỆN
ĐANG HAY...
Rubashov
đứng dậy, suy nghĩ một chút, rồi gõ:
ANH
ĐÃ GIÚP TÔI RẤT NHIỀU. CÁM ƠN.
Có
tiếng tra chìa khoá vào ổ. Cánh cửa bật mở. Bên cạnh tay bảo vệ
cao to là một người mặc thường phục. Người mặc thường phục gọi
tên Rubashov rồi đọc bản án. Khi họ vặn tay anh ra đằng sau và khoá
bằng còng số tám thì anh nghe thấy 402 gõ một cách vội vã:
TÔI
GHEN VỚI ANH. GHEN VỚI ANH. VĨNH BIỆT.
Tiếng
ầm ầm, bùng bục lại vang lên ngoài hành lang. Nó còn theo họ cho
đến tận cửa buồng cắt tóc. Rubashov biết rằng đằng sau mỗi cánh cửa
kia đều có một ánh mắt dõi theo, nhưng anh không quay sang trái cũng
chẳng quay sang phải. Cái còng số tám bóp chặt lấy cổ tay, gã lính
gác siết chặt quá, lúc vặn tay ra sau hắn cũng làm mạnh quá, thành
ra đau.
Đã
nhìn thấy cái cầu thang xoắn. Rubashov bước chậm lại. Người mặc
thường phục dừng bước. Đấy là một gã nhỏ con, mắt hơi lồi. Hắn
hỏi:
“Anh
muốn nói gì nữa không?”
“Không”,
Rubashov đáp và bắt đầu bước xuống cầu thang. Người mặc thường
phục đứng lại và nhìn theo bằng đôi mắt hơi lồi.
Cầu
thang hẹp và tối. Rubashov không thể nắm được tay vịn nên phải dò
từng bước cho khỏi ngã. Không còn nghe thấy tiếng đập cửa nữa. Anh
nghe thấy người lính gác đi sau mình ba bước chân.
Đã
đến đoạn cầu thang xoắn như chiếc lò xo. Rubashov phải cúi xuống để
nhìn cho rõ, chiếc kính rơi xuống cách anh hai bậc, vỡ thành mấy
mảnh rồi lăn xuống chân cầu thang. Rubashov dừng lại, lưỡng lự trong
giây lát rồi lấy chân dò đường đi xuống. Anh nghe thấy người lính
gác cúi xuống nhặt mảnh kính vỡ rồi cho vào túi nhưng không quay
đầu lại.
Không
có kính thì chẳng nhìn thấy gì, nhưng dưới chân đã là đất bằng.
Họ đang đi trong một hành lang rất dài, vì không nhìn rõ nên Rubashov
không biết nó dài đến đâu. Người lính gác vẫn đi sau anh ba bước.
Rubashov cảm thấy anh ta đang nhìn chằm chằm vào gáy mình nhưng không
quay lại. Anh thận trọng bước từng bước một.
Có
cảm giác như họ đã đi trong hành lang được mấy phút rồi. Không có
gì xảy ra cả. Nếu người lính rút súng lục ra thì chắc chắn là anh
đã nghe thấy. Nghĩa là anh vẫn an toàn. Hay là tay này bắt chước
ông bác sĩ chữa răng cho anh, giấu dụng cụ trong ống tay áo? Rubashov
cố nghĩ đến chuyện khác, nhưng không được, anh phải tập trung toàn
bộ tâm trí để không ngoái đầu nhìn lại phía sau.
Thật
lạ là cái răng đã không đau đúng vào lúc anh cảm thấy thanh thản,
tức là khi nói những lời cuối cùng trước toà hôm ấy. Hay là chỗ
chân răng sưng đã tự vỡ ra đúng lúc đó? Anh đã nói những gì?
“Trước khi chết tôi xin được quì gối trước đất nước, trước quần
chúng và toàn thể nhân dân”. Nhưng tại sao? Anh lã làm gì với họ?
Anh đã tham gia lùa họ qua sa mạc suốt bốn mươi năm, với những lời
đe dọa và những lời hứa hẹn, với những nỗi kinh hoàng tưởng tượng
và những phần thưởng cũng là tưởng tượng nốt. Vùng đất hứa ấy
bây giờ ở đâu?
Nhân
loại có cần đi đến một cái đích nào như thế hay không? Anh rất
muốn trả lời câu hỏi này trước khi quá muộn. Thánh Moses cũng
không kịp đặt chân lên vùng đất hứa. Nhưng ông đã kịp trèo lên
ngọn núi và nhìn thấy vùng đất hứa trải dài dưới chân. Chết như
thế thì có gì phải ân hận. Còn anh, Nicolas Salmanovitch Rubashov, thì
không được dẫn lên đỉnh núi, xung quanh anh, dù quay sang hướng nào
cũng chỉ thấy toàn hoang mạc và đêm đen.
Một
cú giáng như búa bổ vào gáy bất ngờ cắt đứt dòng suy nghĩ. Anh
chờ đợi nó đã lâu nhưng hoá ra nó lại đến một cách bất ngờ nhất.
Anh cảm thấy hai đầu gối khuỵu xuống và người thì quay đi nửa vòng,
nghĩa là đúng về phía sau. “Kịch quá”, anh tự nhủ như thế, “mình
có cảm thấy gì đâu.” Anh gục xuống sàn, cằm tì lên sàn đá lạnh.
Bóng đêm ập xuống, thân thể anh trở thành nhẹ bỗng, như đang dập
dềnh đung đưa trên sóng biển giữa bầu trời đêm. Bao nhiêu kỷ niệm
cũ, hệt như làn sương sớm, lần lượt theo nhau trôi dần qua ký ức.
Nghe
như có người gõ cửa, anh mơ thấy họ đang đến bắt mình, nhưng anh
đang ở nước nào?
Anh
cố gắng luồn tay vào ống áo. Ảnh của ai treo trên đầu giường mà
lại nhìn mình chằm chằm thế nhỉ? Có phải Anh Cả hay là người
khác, người có nụ cười khinh mạn hay người có đôi mắt lạnh lùng?
Một
bóng người đang cúi xuống, anh ngửi thấy mùi chiếc thắt lưng da;
nhưng phù hiệu trên cổ tay áo và trên cầu vai là cái gì? khẩu
súng lục đang giơ lên kia là nhân danh ai?
Người
anh giật tung lên vì một cú giáng vào tai. Sau đó mọi thứ trở nên
hoàn toàn yên tĩnh. Rồi có tiếng sóng biển vỗ rì rào. Những con
sóng từ xa đưa lại, nhẹ nhàng nâng anh lên và mang anh đi mãi mãi.
HẾT
Thay lời bạt
Bi
kịch của những con người gang thép
(Lược
dịch)
Sau
vụ đoạn tuyệt với những người cộng sản là một giai đoạn khủng
hoảng, chỉ còn lại mình tôi trước những hố thẳm tâm lý của chính
mình. Việc đánh mất những mối giao cảm quen thuộc rất dễ đưa người
ta đến với những kẻ thù cũ hay, thí dụ, lao đầu vào tôn giáo. Các
bạn tôi, những người đã từng trải qua tâm trạng như thế mà thoát
ra được một cách xứng đáng và vẫn giữ được sự minh mẫn và cân
bằng về tâm lý thường đều là những người có khả năng sáng tạo:
nhà văn, họa sĩ, bác học, chính khả năng sáng tạo đã giúp họ
đứng vững.
Tôi
quay về Paris vào năm 1938, trong tay đã có sẵn hợp đồng với nhà
xuất bản Jonathan Cape về việc xuất bản tác phẩm Võ sĩ giác đấu, tiểu thuyết đầu tay của tôi. Tôi tính
dùng số tiền mà nhà xuất bản tạm ứng cho tôi để thanh toán cho
dịch giả số tiền là 125 bảng, số còn lại sẽ đủ cho tôi sống một
cách đạm bạc trong vòng nửa năm để hoàn thành cuốn sách mà tôi
đang viết dở nhưng cứ bị ngưng hoài, lúc thì do không có tiền, khi
thì do hoạt động chính trị, và sự việc đã kết thúc đúng như tôi
dự liệu: tháng 6 năm 1938 tác phẩm Võ
sĩ giác đấu, sau bốn năm làm việc cật lực đã hoàn thành.
Dĩ
nhiên là tôi hiểu rằng việc thường xuyên quay trở lại với những
nhân vật và sự kiện của thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên đã có
vai trò quan trọng đối với những hoạt động sáng tác của tôi, nhất
là trong giai đoạn trước và ngay sau khi đoạn tuyệt với Đảng, nó như
một cách chữa bệnh thông qua lao động, giúp tôi lấy lại được sự
bình tĩnh và thanh thản trong tâm hồn... Trước khi đoạn tuyệt với
Đảng, tôi coi mình là nô lệ của lịch sử, còn việc viết lách là
đóng góp với lịch sử. Còn bây giờ tôi muốn trở thành nhà văn
chuyên nghiệp, đối với nhà văn
chuyên
nghiệp thì viết chỉ là một nghề. Vì vậy sau Võ sĩ giác đấu tôi liền bắt tay vào viết Vòng tròn ma thuật.
Trong
bản ghi nhớ ngắn gửi cho nhà xuất bản Cape tôi chỉ viết rằng đây
là cuốn tiểu thuyết viết về bốn năm người tù chính trị trong một
nhà nước toàn trị nọ. Sau khi bị kết án tử hình, họ đã bước qua
đường ranh của những kế hoạch bi đát và thường nhật của đời sống
và có thì giờ nhìn lại quá khứ, nhận ra rằng mình có tội, nhưng
không phải những tội lỗi mà toà đã kết án. Tội lỗi thực sự của
họ chính là: Họ đã đặt quyền lợi của cả loài người cao hơn quyền
lợi của từng con người cụ thể, họ hi sinh đức hạnh cho sự hữu lý,
lấy phương tiện làm mục đích. Họ phải chết vì theo quan điểm lịch
sử thì cái chết của họ là hữu ích, họ phải chết trong tay những
người suy nghĩ giống như họ. Tên cuốn sách vì vậy sẽ là Vòng tròn ma thuật.
Tôi
bắt đầu viết cuốn sách mà chưa mường tượng được nó sẽ phát
triển như thế nào, chỉ nhìn thấy trước mắt mình một nhân vật duy
nhất. Tôi thấy: Anh ta đang đi lại lại trong buồng giam, người không
cao, rắn chắc, chòm râu dê, luôn lấy kính lau vào ống tay áo. Đấy
là một người Bolshevik, thuộc “đội cận vệ già”, về trí tuệ thì
gần giống Bukharin còn tính cách và hình thức bên ngoài thì vừa
giống Trotsky, vừa giống Radek. Mãi tôi vẫn chưa nghĩ được tên cho
anh ta. Cái tên Rubashov xuất hiện một cách rất tình cờ, tôi không
biết nó có liên quan đến người nào, nhưng tôi chấp nhận ngay, có
thể vì nó nhắc tôi nhớ đến cái áo may ở Nga[17]
mà tôi rất thích mặc vào những buổi sáng chủ nhật. Sau này tôi
mới nhớ ra rằng Nikolas Zalmanovitch Rubashov là Tổng biên tập tờ
Davar, cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Palestine, tôi chưa gặp
ông ta bao giờ, nhưng khi ở Palestine thì tôi vẫn nghe nhắc đến ông
ta luôn. Tên cha (Zalmanovitch) lại biến nhân vật của tôi thành một
người Do Thái, lúc đó chính tôi đã không để ý, mà cũng không
thấy ai nhắc tôi chuyện này.
Như
vậy là đầu đã xuôi. Đêm đó, khi người ta đến bắt Rubashov thì anh
đang ngủ và mơ thấy vụ bắt giữ trong một đất nước toàn trị khác,
nửa tỉnh nửa mê, anh không nhận ra ngay chế độ nào trong hai chế độ
toàn trị lúc đó đang đến bắt mình lần này... Điều kì lạ là tôi
đã mô tả sự giống nhau giữa hai chế độ, chủ đề xuyên suốt tác
phẩm như thế, trước khi Stalin ký kết hiệp ước hữu nghị với Hitler
đúng một năm trời, khi mà về mặt lý trí nhiều người còn tỏ ra
yêu mến Liên Xô và phủ nhận bất kì khả năng so sánh nào với
nước Đức Quốc xã.
Mô
tả cảnh bắt bớ không phải là việc khó, tôi đã gom góp được rất
nhiều hồi ức về những sự kiện xảy ra cách đó bảy năm, chỉ cần
nới lỏng sự gò ép là chúng lập tức trở nên sống động trong trí
nhớ. Tôi không quyết định trước quá trình phát triển của câu chuyện
mà chờ đợi, vừa tò mò vừa hốt hoảng. Tôi biết trước, thí dụ,
cuối cùng Rubashov sẽ đầu hàng và thú nhận đã thực hiện những tội
ác giả tưởng, nhưng lúc đó tôi hiểu rất mù mờ nguyên nhân của
chuyện đó. Mà nguyên nhân thì chỉ xuất hiện dần dần, trong quá
trình thẩm vấn Rubashov, do Ivanov và sau đó đến Gletkin thực hiện mà
thôi. Hỏi và trả lời, tất cả đều được xác định bởi cơ chế tâm
lý của họ, chúng không xuất hiện một cách ngẫu hứng mà bằng cơ
chế của vô thức, chúng được rút ra từ lô gich viển vông, từ những
tầng sâu tâm lý, trong đó sự phân biệt giữa điều tra viên và nghi
phạm, giữa đao phủ và nạn nhân đã không còn. Dựa trên cùng một
thế giới quan, những con người này không thể nói và hành động khác
với cách họ đã nói và hành động trong tác phẩm.
Người
phương Tây, những người xa lạ với tâm lý và thế giới quan đó sẽ
cho rằng lời khai của các bị cáo trong những phiên toà ở Moskva là
những điều bí ẩn vĩ đại nhất trong thời hiện đại. Tại sao những
đảng viên Bolshevik cũ, những người tự coi cái chết chỉ là trò
đùa, lại chấp nhận những trò điên rồ như thế? Ngay cả nếu không
kể những người như Radek, tức là những kẻ chỉ muốn cứu lấy mạng
sống của mình hay những kẻ đã hủ hoá hoàn toàn như Zinoviev, hoặc
những kẻ muốn bảo vệ người thân như Kamenev, nghe nói ông này rất
yêu quí cậu con trai, nhưng trong số họ vẫn có những người “gang
thép” như Bukharin, Piatakov, Mrachkovsky, v.v..., những người có hàng
chục năm hoạt động cách mạng, đã vào tù ra khám như cơm bữa, ngay
những người đó cũng phủ nhận chính mình và đấy là điều rất khó
lý giải...
Câu
chuyện về Richard, Levy Còi và Arlova được tôi lấy từ thực tế, dĩ
nhiên là đã sửa đổi chút ít cho phù hợp với văn cảnh. Kỹ thuật
và phương pháp lấy khẩu cung của Cục Chính trị Quốc gia (GPU) đã
được mô tả rất kỹ lưỡng trong nhiều tác phẩm khác. Xin độc giả
cho phép tôi dừng lại hơi lâu một chút để nói về những lý do buộc
những con người thuộc loại “gang thép”, vẫn trong khuôn khổ lý luận
của họ, phải thú nhận những việc hoàn toàn phi lý, bằng cách, thứ
nhất, mời họ đọc lại cao trào của tác phẩm, tức là lần hỏi cung
cuối cùng do Gletkin thực hiện và thứ hai, dẫn ra một tác phẩm mà
lúc đó tôi chưa hề biết, tôi muốn nói đến cuốn sách Tôi là mật
vụ của Stalin, do Walter Krivitsky viết cùng trong thời gian tôi viết Vòng tròn ma thuật.
Krivitsky,
một tình báo viên cao cấp, đã ly khai với chế độ của Stalin, khẳng
định rằng đối với những người như ông ta, những người “nằm trong bộ
máy của Stalin” trong thời gian xảy ra những vụ án Moskva, thì lời
thú nhận của các bị cáo không có gì là bí ẩn cả. Mặc dù, như
ông ta nói, có nhiều tác nhân, nhưng tác nhân quyết định vẫn là
nhu cầu được “hoàn thành, lần cuối cùng, nhiệm vụ trước Đảng và
cách mạng”. Xin xem xét trường hợp của Mratshkovsky, đảng viên từ
năm 1905, anh hùng của cuộc Nội chiến, sau này trở thành đối lập và
bị xử trong vụ án đầu tiên.
“Tháng
6 năm 1936”, Krivitsky viết, “công việc chuẩn bị cho phiên toà công
khai đầu tiên xử phe đối lập đã hoàn tất. Có mười bốn bị cáo đã
tự thú. Các nhân vật chính là Kamenev và Zinoviev đã học thuộc vai
diễn và đã tập xong. Chỉ có hai người phủ nhận mọi lời buộc tội,
đấy là Mrachkovsky và Ivan Smirnov, đảng viên Bolshevik kỳ cựu, chỉ huy
tập đoàn quân số 5 thời Nội chiến.
Stalin
không thích khởi tố vắng mặt họ. Họ đã bị tra tấn rất dã man,
nhưng không có kết quả. Cuối cùng một trưởng phòng của Tổng cục
Chính trị trực thuộc Hội đồng Dân uỷ (OGPU) đã cho gọi một người
bạn của tôi, ông Slutsky và hạ lệnh phải thẩm vấn Mrachkovsky, bằng
bất cứ giá nào cũng phải buộc ông ta đầu hàng. Bạn tôi, người
vốn rất tôn trọng Mrachkovsky, đã kể lại chuyện này như sau:
“Tôi cạo râu trước ngày thẩm vấn”,
Slutsky nói, “khi kết thúc thì râu tôi dài như thế này. Người ta
dẫn ông vào phòng tôi. Ông ta rất yếu, yếu ngay từ hồi Nội chiến
cơ, tôi bảo ông ngồi. Ông ngồi. Tôi nói: đồng chí Mrachkovsky ạ,
thế là tôi phải thẩm vấn đồng chí.”
“Tôi
sẽ không nói đâu. Tôi không muốn nói chuyện với anh. Các anh còn
tồi hơn vạn lần cảnh sát Sa Hoàng. Hãy chứng minh rằng anh có quyền
thẩm vấn tôi. Thời cách mạng tôi chưa bao giờ nghe thấy tên anh.
Loại người như anh có bao giờ chịu ra mặt trận. Còn cái này,
Mrachkovsky chỉ lên huân chương Cờ Đỏ trên ngực tôi, là do anh ăn
cắp được. Ông đứng lên, cởi cúc áo, để lộ ra những vết sẹo trên
lồng ngực: Huân chương của tôi đây này!”
Slutsky
không đáp, chỉ đẩy về phía Mrachkovsky bao thuốc và ly nước.
Mrachkovsky vất hết xuống sàn:
“Mua
tôi hả? Đừng có hòng. Tôi căm thù Stalin, hãy nói với hắn như
thế. Hắn đã phản bội cách mạng. Chúng còn dẫn tôi đến gặp Molotov,
cũng định mua đấy. Tôi đã nhổ vào mặt hắn.”
Đã
đến lúc phải tấn công. Slutsky nói:
“Không,
đồng chí Mrachkovsky ạ, không phải tôi ăn cắp được những tấm huân
chương này đâu. Tôi được phong trong thời gian phục vụ tại mặt trận
Tashken, dưới quyền chỉ huy của đồng chí đấy. Tôi không nghĩ và
bây giờ cũng không nghĩ rằng đồng chí là tội phạm. Nhưng đồng chí
cũng công nhận là mình thuộc phe đối lập. Đảng hạ lệnh cho tôi
phải thẩm vấn đồng chí. Còn về thương tật, xin đồng chí nhìn đây.
Slutsky cũng vạch bộ ngực đầy thương tích ra. Sau đó nói tiếp: Sau
chiến tranh tôi chuyển sang ngành tình báo. Đảng chuyển tôi sang lĩnh vực này.
Tôi là người chiến sĩ của Đảng, tôi chỉ biết thực hiện nhiệm vụ.
Nếu Đảng bảo tôi phải chết, tôi cũng sẽ chết.” (Đúng như thế, một
năm rưỡi sau có thông báo rằng Slutsky đã ra đi đột ngột.)
“Anh
đã thoái hoá”, Mrachkovsky nói, “anh không còn là người chiến sĩ
của cách mạng nữa, anh là mật vụ, là cảnh sát.” Nhưng sau một lúc
lại nói thêm: “Mặc dù anh vẫn còn một chút nhân bản.”
Theo
lời Slutsky thì từ giây phút đó giữa họ đã có sự cảm thông.
Slutsky bắt đầu nói về tình trạng khó khăn của Liên Xô cả về mặt
đối nội lẫn đối ngoại, về vòng vây của chủ nghĩa tư bản, về
những kẻ thù của Đảng, những kẻ đang cố tình phá hoại uy tín của
Đảng, anh ta cũng nói rằng cần phải bảo vệ Đảng bằng mọi giá vì
chỉ có Đảng mới có thể cứu được cách mạng.
“Tôi
khẳng định với ông ta rằng tôi không nghĩ rằng ông là một kẻ phản
cách mạng. Nhưng đã mang đến và đọc cho ông ta nghe lời khai của
những người khác, chứng minh cho ông ta thấy với lòng hận thù chế độ
Xô-viết người ta có thể trượt xuống vũng bùn như thế nào. Chúng
tôi nói chuyện suốt ba ngày đêm liền. Cả hai chúng tôi đều không
ngủ. Tôi chỉ gà gật chừng ba, bốn tiếng. Tóm lại, ông ta đồng ý
rằng trong giai đoạn hiện nay chỉ duy nhất có Stalin là đủ sức lãnh
đạo Đảng mà thôi. Trong Đảng không có nhóm nào đủ sức cải tổ hay
bẻ gẫy được bộ máy của Stalin. Trong khi đó trong nước đã tích tụ
một sự bất mãn, sẵn sàng bùng nổ bất cứ lúc nào, ông ta nói như
thế, mà liên kết với những người ngoài Đảng có nghĩa là sự cáo
chung của hệ thống độc Đảng, mà ông ta lại tin tưởng vào chuyên
chính vô sản và không dám đụng chạm đến nó, ngay cả trong suy nghĩ.
Ông ta, cũng như tôi, đều đồng ý rằng người đảng viên Bolshevik
chân chính phải là người tuyệt đối trung
thành với Đảng, vì Đảng chúng tôi sẵn sàng chết, thậm chí chết một
cách nhục nhã.”
“Trong
khi làm cho Mrachkovsky kiệt sức”, Slutsky kể, “thì chính tôi cũng mỏi
mệt và bị kích động không kém, cả hai chúng tôi cùng oà lên khóc
khi nói đến sự cáo chung của lý tưởng cách mạng, chỉ có chế độ
đáng căm thù của Stalin là còn giữa được một phần nào hi vọng vào
tương lai tươi sáng, chúng tôi đã hi sinh cả tuổi trẻ vì nó và
bây giờ không thể làm gì khác hơn là cứu nó, và bằng cách đó
ngăn chặn sự nổi dậy của đám quần chúng tuyệt vọng và mất phương
hướng kia. Để làm được chuyện đó, Đảng yêu cầu các lãnh tụ phe
đối lập thú nhận công khai những hành động tội ác trời không dung,
đất không tha của mình.”
Mrachkovsky
xin gặp Smirnov, một chiến hữu và một người bạn cũ. Cảnh gặp gỡ
làm người ta tan nát hết cõi lòng: hai người chiến sĩ Tháng Mười
vừa ôm lấy nhau vừa khóc nức nở ngay trong phòng làm việc của tôi:
“Invan
Nikititch”, Mrachkovsky nói, “cho chúng đi. Cần phải như thế.”
Cuối
ngày thẩm vấn thứ tư thì ông ta ký biên bản lời khai. Ông ta đi về
buồng giam còn tôi về nhà, cả tuần sau tôi không làm được gì.
Sống cũng không được nữa.”
Phải
mấy năm sau khi xuất bản Đêm giữa
ban ngày (hay Vòng tròn ma thụât)
tôi mới đọc tác phẩm của Krivitsky vì sau khi hoàn tất tác phẩm của
mình, tôi không còn đủ sức động vào bất cứ thứ gì liên quan đến
nó nữa. Trong khi đọc tôi luôn có cảm giác bồn chồn, một thứ tình
cảm mà các nhà tâm lý học gọi là deja
vu (tiếng Pháp: đã nhìn thấy – cảm giác khi thấy những sự kiện
đã từng xảy ra trước đây). Có một sự giống nhau đến kinh ngạc với lần lấy lời
khai thứ nhất của Rubashov. Vấn đề không phải là sự tương đồng
trong lập luận của Slutsky và Ivanov, điều này không có gì lạ vì hiện
thực và tiểu thuyết đều được xác định bởi cùng một tập hợp các
khái niệm và sự kiện. Điều làm người ta ngạc nhiên là sự giống
nhau của các tình tiết: cả hai trường hợp đều bắt đầu bằng những
kỷ niệm về cuộc nội chiến mà điều tra viên lại là cấp dưới của
nghi can, cả hai đều bị thương nặng ở chân và cuối cùng chính điều
tra viên cũng bị thủ tiêu. Có cảm tưởng như tôi đang đọc cuốn
sách viết về những người anh em sinh đôi về mặt tinh thần với Ivanov
và Rubashov vậy.
Cách
tôi lý giải việc Rubashov nhận tội sau này được người ta gọi là
“Giả thuyết Rubashov” và đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài,
nhưng tôi không tham gia. Xin nhắc lại rằng phương pháp làm cho
những người như Bukharin, Mrachkovsky hay Rubashov thú nhận chỉ có hiệu
quả khi đem áp dụng cho những đảng viên Bolshevik thế hệ cũ, những
người có lòng trung thành tuyệt đối đối với Đảng mà thôi. Đối với
những người khác thì phải sử dụng các biện pháp khác, tuỳ hoàn
cảnh. Tôi phải nói như thế vì trong những cuộc tranh luận về Đêm giữa ban ngày (hay Vòng tròn ma thuật) nhiều người
cố tình khẳng định rằng tất cả những lời thú nhận đều được tôi
giải thích bằng “Giả thuyết Rubashov” cả. Hoàn toàn không phải như vậy.
Ba tù nhân trong tác phẩm của tôi, chỉ có một mình Rubashov thú nhận
tội lỗi là do lòng trung thành đối với Đảng. Môi Thỏ thú nhận là
vì không chịu được tra tấn. Còn người nông dân mù chữ thì chẳng
hiểu gì, anh ta đã quen nghe lệnh cấp trên và sẵn sàng nhắc lại bất
cứ thứ gì người ta bảo... Nhưng sau này, nhiều năm sau này, khi
diễn ra những phiên toà công khai tại những nước gọi là “dân chủ
nhân dân”, những người phản đối tôi tiếp tục khẳng định rằng vì
Hồng y Mindszenty hay ông Fogler không có cảm tình với Đảng Cộng sản
cũng phải thú nhận nên “giả thuyết Rubashov” rõ ràng là sai. Chứng
minh kiểu đó thì khác nào khi thấy cái đinh dính vào cục nam châm
còn con ruồi thì dính vào băng dính và lập tức kết luận rằng lý
thuyết về sức hút của từ trường là sai. Tôi nghĩ rằng nguyên nhân
của những lý luận kì quặc như thế – trong đa số trường hợp là của
những người có thiện ý–là do đầu óc chúng ta thường muốn qui nạp và
tìm ra một lời giải thích duy nhất, theo kiểu tìm lapis philosophicus (hòn đá minh triết) cho những hiện tượng
bí hiểm nhưng khác nhau về bản chất. Để làm rối trí người quan
sát, trong mỗi phiên toà người ta lại đưa ra một nhóm các bị cáo
đã được chọn lựa một cách kỹ lưỡng, những người “gang thép” đứng
cạnh những kẻ đã mất hết ý chí và cả những tên khiêu khích nữa,
họ hành động giống nhau, dĩ nhiên là vì những lý do khác nhau.
Tôi
bắt đầu viết Vòng tròn ma thuật
vào tháng 9 năm 1938, trong những ngày ký Hiệp định Munich, và hoàn
thành vào tháng 4 năm 1940, một tháng trước khi Đức tấn công Pháp.
Cũng giống như Võ sĩ giác đấu,
công việc cứ bị gián đoạn, có khi khá lâu vì tôi tin rằng sau
Munich thì chẳng mấy chốc Đức sẽ tấn công và Pháp cũng chỉ đứng
vững được vài tuần là cùng.
Công
việc đang đến hồi khẩn trương thì trong túi tôi lại không còn đồng
xu nào. Tôi cần khoảng nửa năm nữa để hoàn thành tác phẩm, muốn
có số tiền đủ sống trong thời gian đó tôi buộc lòng phải hi sinh
tháng 4 và tháng 5 năm 1939 để viết cuốn sách thứ ba, mà cũng là
cuốn cuối cùng, về vấn đề tình dục. Sau đó tôi có 3 tháng làm việc
yên tĩnh ở miền Nam nước Pháp, rồi lại gặp trở ngại: chiến tranh
khởi sự vào ngày 3 tháng 9 và ngày 21 tháng 10 thì tôi bị cảnh sát
Pháp bắt.
Sau
đó là một loạt tình huống vô lý theo kiểu Kafka, được tôi ghi lại
trong tác phẩm Cặn bã. Tôi phải
ở trong trại giam tại Pirenee bốn tháng trời. Tháng 1 năm 1940 tôi
được thả nhưng vẫn nằm dưới sự quản thúc của cảnh sát, tôi tiếp
tục viết suốt mấy tháng trời, tuy thường xuyên bị gọi lên thẩm
vấn và tôi sợ rằng nếu bị bắt một lần nữa thì tác phẩm coi như
hỏng.
Nhưng
có lẽ một vị thần tốt bụng đã hộ mệnh cho nó. Trong một vụ khám
xét vào tháng 3, cảnh sát đã lấy của tôi khá nhiều giấy tờ, nhưng
không hiểu sao họ lại bỏ qua bản thảo Đêm giữa ban ngày (hay Vòng
tròn ma thuật). Một bản nằm ngay trên bàn viết, tôi để ở đấy
là theo lời khuyên của Alan Edgar Poe: để vật cần giấu ở chỗ dễ
nhìn thấy nhất, đồng thời, trái ngược với lời khuyên đó, tôi nhét
một bản ở ngăn trên cùng của tủ sách. Tôi lại bị bắt một lần
nữa, bản thảo tiếng Đức vì thế mà bị mất. May là lúc đó bản dịch
tiếng Anh đã xong và đã được gửi đến London, mười ngày sau Đức tấn
công Pháp. Như vậy nghĩa là cuốn sách đã lọt qua một kẽ hở rất
nhỏ.
Nửa
năm sau tôi cũng đến Anh, cuốn sách đang ở giai đoạn in thử. Tôi bị
tống vào tù ngay khi bước lên đất Anh. Lại có một trở ngại vì tù
nhân không được quyền nhận sách từ ngoài đưa vào, nhưng vì có
bằng chứng không thể chối cãi được là tù nhân chính là tác giả
cuốn sách nên giám đốc nhà tù đã đồng ý cho tôi nhận bản in thử.
Đây là lần đầu tiên tôi biết tên tác phẩm của mình bằng tiếng
Anh. Nó được lấy cảm hứng từ câu thơ của Milton: “Bóng tối, bóng
tối giữa đêm trăng” và do Daphne Hardy, một nữ phiên dịch viên trẻ đặt,
cô vốn không phải là phiên dịch viên mà là nhà điêu khắc (trong Cặn bã cô mang biệt danh X). Daphne
trốn khỏi Pháp trước tôi và sau thời gian xa cách chúng tôi lại
được gặp nhau trong nhà tù ở London và nói chuyện với nhau qua song
sắt ngay trước mặt giám thị. Khi đưa tôi quay lại buồng giam, người
giám thị đã hỏi tôi sao lại nói chuyện với bạn gái lâu như thế
về một cuốn sách. Tôi bảo đấy là cuốn sách của tôi, viết về một
người tù bị biệt giam. “Thế thì ông đúng là một nhà tiên tri”, anh
ta nói thế rồi đóng sầm cửa lại.
Cuốn
sách ra đời khi tôi vẫn còn ở trong tù.
(Báo
Văn học, 3 tháng 8 năm 1988.
Phạm Minh Ngọc[18]
dịch theo bản tiếng Nga tại địa chỉ: http://lib.ru/INPROZ/KESTLER/
tma.txt.
[1] Ai đó?
[2]
Bức họa hoặc
tượng Đức mẹ đồng trinh bế thi hài Chúa Jesus trong lòng.
[3]
Đây là vụ
Rubashov bị Đức quốc xã bắt.
[4]
Ý nói nước
Đức Quốc xã. Trong tiểu thuyết này, tác giả không nêu danh trực
tiếp nhà nước chuyên chính Liên Xô hay nhà nước độc tài Đức Quốc
xã, mà dùng những từ khác như “chế độ độc tài mới ở Trung Âu”
(chỉ Đức) hoặc “nhà nước Cách mạng”, hoặc “Bên Nớ” (chỉ Liên Xô).
[5]
Ám chỉ sự
hợp tác bất ngờ giữa Liên Xô và Đức Quốc xã trong thời gian trước
chiến tranh thế giới thứ hai.
[6]
Ám chỉ nhà
nước phát xít Ý.
[7]
Đây là nói
sự tích Moses dẫn dân Do Thái đi suốt bốn mươi năm qua sa mạc để
đến vùng đất mà Chúa Trời hứa cho họ.
[8]
Hai anh em nhà
Gracchus, Tiberius Gracchus (162-133 trước C.N.) và Caius Gracchus (153-121
trước C. N.)
[9] Sulla (138-78 trước
C. N.)
[10] Gaston Alexandre de
Galliffet (1830 – 1903)
[11] Koltschak (1873-1920)
tướng Bạch vệ
[12] Ý nói những
người lỗi thời.
[13] Ám chỉ Adolf
Hitler, Lãnh tụ Đức Quốc xã.
[14]
Tin lành theo
Mac, XV, 16
[15] Tin lành theo Mác,
XXVI, 34
[16] Tin lành theo
Ma-thi-ơ, V, 37
[17] Rubashka, đồng âm
với tên nhân vật Rubashov: áo sơ mi.
[18] Bút danh của dịch giả Phạm
Nguyên Trường ở Talawas. (BT)
