July 12, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (17)

   ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 16 

LỢI ÍCH CỦA BUÔNG BỎ

Phát triển về mặt cảm xúc

Ảnh hưởng rõ ràng và dễ thấy nhất của buông bỏ những cảm thọ tiêu cực là phục hồi quá trình phát triển về mặt cảm xúc và tâm lý, cũng như giải quyết những vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài. Có niềm vui và thỏa mãn khi chúng ta bắt đầu trải nghiệm những ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc loại bỏ những rào cản đối với thành công và hài lòng trong cuộc sống. Chúng ta nhanh chóng nhận ra rằng những suy nghĩ hạn chế và niềm tin tiêu cực mà chúng ta đã ngây thơ cho là đúng, chỉ đơn thuần là kết quả của những cảm thọ tiêu cực đã được tích lũy mà thôi. Khi cảm thọ được buông bỏ, mô thức suy nghĩ sẽ thay đổi từ: “Tôi không thể” thành: “Tôi có thể” và “Tôi rất vui khi làm điều đó”. Toàn bộ các lĩnh vực trong cuộc sống có thể mở ra. Những điều từng vụng về hoặc không được thể hiện ra có thể trở thành dễ dàng và tràn đầy niềm vui.

Minh họa cho quá trình này là trải nghiệm của một người đàn ông trung niên thông minh, thành đạt, chuyên nghiệp, nhưng cả đời không thể khiêu vũ. Ông ấy rất muốn nhảy và đã nhiều lần tham gia các lớp học khiêu vũ. Nhưng mỗi lần như vậy, ông ta đều thấy mình cứng nhắc, vụng về và tự ti. Bằng ý chí mạnh mẽ, đôi khi ông cũng cố gắng thực hiện các động tác trên sàn nhảy, nhưng chưa bao giờ cảm thấy thích thú và luôn luôn cảm thấy không thoải mái. Các chuyển động của ông ta cứng nhắc và có tính toán, và toàn bộ trải nghiệm là không thỏa mãn, không giúp ích gì cho lòng tự trọng của ông ta.

Sau khoảng một năm thực hành phương pháp buông bỏ, ông ta đi dự tiệc với một người phụ nữ liên tục đề nghị ông ta đứng dậy và nhảy. “Cô biết tôi không biết nhảy mà,” ông ta nói. “Thôi nào, thử đi,” bà ta van nài. Bà ta vẫn kiên trì và nói: “Quên đôi chân của anh đi. Cứ nhìn tôi và làm theo những gì cơ thể tôi làm.” Ông ta miễn cưỡng đồng ý, và tiếp tục buông bỏ cảm giác kháng cự và lo lắng của mình.

Trên sàn nhảy, ông ta hoàn toàn buông bỏ. Trong tích tắc, cảm thọ bên trong vươn lên từ thờ ơ tới tình yêu và, trước sự ngạc nhiên của mình, ông ta đột nhiên bắt đầu nhảy như từng mơ ước và ghen tị! Nhận thức: “Mình có thể làm được!” ập tới, và ông ta chuyển từ tình yêu, lên niềm vui, thậm chí là mê ly. Niềm vui của ông ta lan tới mọi người. Bạn bè dừng lại để xem. Từ trạng thái vui sướng tột độ, ông ta đột nhiên trải nghiệm sự hòa hợp với bạn nhảy của mình. Ông ta đột nhiên nhìn thấy Đại Ngã của chính mình nhìn ra từ đôi mắt của bà ấy và nhận ra rằng thực ra chỉ có một Đại Ngã duy nhất đằng sau tất cả những tự ngã cá nhân. Ông và bà ấy trở nên kết nối theo lối thần giao cách cảm. Ông ta biết từng bước nhảy của bạn nhảy trước khi người kia thực hiện. Họ hòa hợp một cách hoàn hảo và nhảy như thể họ đã luyện tập và nhảy cùng nhau suốt nhiều năm qua. Ông ta khó lòng kìm nén được niềm vui của mình. Việc nhảy múa trở nên dễ dàng và bắt đầu diễn ra một cách tự nhiên, không cần bất kỳ suy nghĩ có ý thức nào. Càng nhảy lâu, ông ta càng cảm thấy tràn đầy năng lượng.

Đó là một trải nghiệm đỉnh cao, nó đã làm thay đổi cuộc đời người đàn ông này. Đêm đó ông ta về nhà và còn nhảy thêm nữa. Nhảy disco tự do luôn làm cho ông ta sợ hãi hơn bất kỳ thể loại nào khác, vì không có hình thức nào để ghi nhớ. Nó đòi hỏi tự phát và cảm giác tự do, điều mà trước đây ông ta chưa từng trải nghiệm. Về tới nhà, ông ta bật nhạc disco và bắt đầu nhảy múa hàng giờ liền. Ông ngắm nhìn mình trong gương, bị mê hoặc bởi sự buông lỏng của cơ thể và cảm thọ tự do ở bên trong.

Đột nhiên, ông ta nhớ lại kiếp sống trước đây với những chi tiết cực kì sống động. Ông ta từng là một vũ công giỏi, và lúc này ông ta bắt đầu nhớ lại những chỉ dẫn cụ thể mà các ông thầy đã cho ông biết trong kiếp sống đó. Khi ông ta làm theo chỉ dẫn của họ, kết quả thật đáng kinh ngạc! Ông ta phát hiện được rằng có một trung tâm cân bằng trọng lực thẳng đứng bên trong chính con người mình, và ông ta bắt đầu xoay quanh nó với sự cân bằng hoàn hảo. Chuyển động diễn ra một cách dễ dàng, và ông ta chỉ đơn giản là người chứng kiến điệu nhảy. Không còn cảm giác về “tôi” nữa. Chỉ còn lại niềm vui và chính điệu nhảy. Giờ đây, ông hiểu ngay lập tức nền tảng cốt lõi của điệu nhảy Sufi xoay tròn. Khả năng xoay tròn và quay cuồng mà không chóng mặt hay mệt mỏi—trạng thái tâm thức đó —xuất phát từ buông bỏ tự ngã cá nhân.

Bước đột phá mà người đàn ông này trải nghiệm trên sàn nhảy sau đó đã lan sang nhiều lĩnh vực khác - từng bị tắc nghẽn - trong cuộc đời của ông ta. Những lĩnh vực từng bị hạn chế, giờ đây đã mở rộng một cách nhanh chóng. Bạn bè và gia đình ông ta nhìn thấy rõ những thay đổi này và những phản hồi tích cực của họ càng làm tăng thêm lòng tự trọng và mong muốn tiếp tục buông bỏ những cảm thọ và suy nghĩ tiêu cực từng ngăn cản, không để cho ông ta trải nghiệm niềm vui sống.

Trải nghiệm này được nêu ra khá chi tiết vì một vài lý do. Nó minh họa cho thang đo tâm thức mà chúng tôi đã nói trong chương trước. Trong suốt 50 năm, người đàn ông vừa nói đã ở tầng thấp nhất trong lĩnh vực này, với niềm tin: “Tôi không thể”. Thái độ tự ti đã làm giảm lòng tự trọng của ông ta và khiến ông ta né tránh. Trong suốt nhiều năm, ông ta đã tìm cách tránh các buổi họp mặt có khiêu vũ. Ông ta giận chính mình vì thái độ tự ti đó, và ông ta tức giận khi có người nào đó rủ khiêu vũ. Thế mà chỉ trong vài giây và vài phút, ông ta đã trải nghiệm mọi cảm xúc trên toàn bộ thang đo và đi đến tận đỉnh cao. Lúc đó, tâm thức cao hơn xuất hiện cùng với nhận thức tâm linh đột ngột ở một tầng rất cao. Với tâm thức cao hơn, hiểu biết cùng với khả năng tâm linh xuất hiện (thần giao cách cảm, đồng nhịp và nhớ lại tiền kiếp). Kết quả là, hành vi của ông ta thay đổi, và động lực của nó loại bỏ một loạt rào cản và hạn chế. Xã hội cũng phản hồi một cách tích cực, rồi phản hồi tích cực củng cố động lực phát triển đang diễn ra.

Tốc độ phát triển cảm xúc được báo cáo bởi những người sử dụng cơ chế buông bỏ có liên quan đến sự kiên trì trong buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, và không có liên hệ nào với tuổi tác. Mọi người, ở mọi lứa tuổi, từ thanh thiếu niên đến cụ già tám mươi, đều nhận được lợi ích như nhau.

Những cảm thọ bị kìm nén và đè nén cần năng lượng chống lại để giữ chúng chìm xuống. Cần năng lượng để kìm nén cảm thọ của chúng ta. Khi buông bỏ những cảm thọ này, năng lượng kìm nén tiêu cực được giải phóng để sử dụng cho những mục đích tích cực. Kết quả của việc buông bỏ là năng lượng được dùng cho sáng tạo, phát triển, công việc và quan hệ giữa các cá nhân gia tăng. Chất lượng và niềm vui của những hoạt động này cũng gia tăng. Hầu hết mọi người đều kiệt sức, không đủ sức đem lại trải nghiệm chất lượng cao thực sự trừ khi các chương trình tiêu cực chống lại họ đã được giải quyết. 

Giải quyết vấn đề

Hiệu quả của cơ chế buông bỏ trong việc giải quyết vấn đề thường làm cho người ta ngạc nhiên. Hiểu được quá trình liên quan là rất quan trọng, vì nó khác hẳn các phương pháp mà người ta vẫn dùng. Cách tiếp cận đem lại kết quả nhanh chóng và dễ dàng: Đừng tìm kiếm câu trả lời; thay vào đó, hãy buông bỏ cảm thọ đằng sau câu hỏi. Khi buông bỏ cảm thọ đằng sau câu hỏi, chúng ta có thể buông bỏ bất kỳ cảm thọ nào khác mà chúng ta có thể có về vấn đề đó. Khi cuối cùng và hoàn toàn buông bỏ tất cả các yếu tố, câu trả lời sẽ ở đó chờ đợi chúng ta. Chúng ta sẽ không cần phải tìm kiếm nó. Hãy nghĩ xem, nó đơn giản và dễ dàng đến mức nào, đấy là nói, so với những nỗ lực giải quyết vấn đề dài dòng, thiếu hiệu quả thường thấy của tâm trí. Thông thường, tâm trí sẽ tìm kiếm và mò mẫm không ngừng, loay hoay với câu trả lời khả thi này rồi đến câu trả lời khả thi khác. Lý do tâm trí không thể quyết định được là vì nó đang tìm kiếm không đúng chỗ.

Hãy xem hệ thống này hoạt động như thế nào trong một ví dụ thường ngày. Giả sử chúng ta không đồng ý với người yêu về việc đi bộ xem phim nào. Chúng ta xem xét cảm thọ đằng sau vấn đề. Trong trường hợp này, giả sử chúng ta cảm thấy tức giận và oán hận, cụ thể là oán hận vì không có nhiều thời gian lãng mạn bên nhau. Điều chúng ta thực sự muốn tối nay là thời gian âu yếm bên nhau. Khi chúng ta chấp nhận ở bên trong rằng điều chúng ta thực sự muốn là sự gần gũi, đột nhiên chúng ta nhận ra rằng mình không hề muốn đi xem phim. Chúng ta chỉ muốn ở bên nhau. Hoặc điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Chúng ta có thể nhận ra rằng cảm thọ đằng sau việc muốn đi xem phim là sợ hãi, vì chúng ta không muốn dành buổi tối để nói chuyện và gần gũi với người yêu. Chúng ta thấy rằng những cảm thọ mà chúng ta đã tích tụ làm mình khó chịu. Chúng ta oán hận, vì vậy chúng ta buông bỏ mong muốn thay đổi cảm thọ đó, và cứ để nó ở đó. Không sao hết, nếu có oán hận. Khi buông bỏ kháng cự cảm thọ oán hận, chúng ta có ít mặc cảm tội lỗi hơn; chúng ta thừa nhận với người yêu rằng mình đã có oán hận. Chúng ta nói chuyện với nhau, và cảm thọ của người kia cũng được làm rõ. Cả hai chúng ta đều cảm thấy nhẹ nhõm và gần gũi hơn, rồi chúng ta nói: “Mặc kệ phim ảnh đi. Ở nhà, làm tình và đi dạo dưới ánh trăng nhé.”

Cách tiếp cận này mang lại hiệu quả trong tất cả các quá trình ban hành quyết định. Khi chúng ta loại bỏ được những cảm thọ tiềm ẩn, các quyết định sẽ trở nên thực tế và sáng suốt hơn. Xin nghĩ xem, đã bao nhiêu lần chúng ta đã thay đổi ý kiến ​​và hối tiếc về những quyết định trong quá khứ. Đó là do, đằng sau quyết định luôn có một cảm thọ chưa được nhận ra và chưa được buông bỏ. Khi hành động mà ta quyết định đã được thực hiện, thì cảm thọ tiềm ẩn sẽ thay đổi. Khi đó, từ điểm nhìn của không gian cảm thọ mới, quyết định hóa ra là sai. Sự kiện này xảy ra thường xuyên đến nỗi hầu hết mọi người đều sợ đưa ra quyết định, bởi vì trong quá khứ, họ đã quyết định sai quá nhiều lần rồi.

Thường thì, sử dụng cơ chế buông bỏ có thể nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài. Xin thử xem nó hoạt động nhanh tới mức nào. Hãy xem xét một vài vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài và ngừng tìm kiếm câu trả lời. Hãy tìm xem, ngay từ đầu, cảm thọ tiềm ẩn nào tạo ra câu hỏi. Một khi cảm thọ đó được buông bỏ, câu trả lời sẽ tự xuất hiện. 

Phong cách sống

Rất nhiều hoạt động và chấp trước của chúng ta là dựa trên sợ hãi và tức giận, mặc cảm tội lỗi và kiêu hãnh. Khi những cảm thọ tiêu cực này được buông bỏ trong bất kỳ lĩnh vực nào, là chúng ta vươn tới tầng can đảm. Ở tầng đó, những thay đổi trong cuộc sống bắt đầu xảy ra. Hoặc, nếu chúng ta chọn tiếp tục hoạt động như cũ, thì động lực cũng sẽ khác và, do đó, chúng ta sẽ trải nghiệm những kết quả khác so với trước đây. Ít nhất, phần thưởng về mặt cảm xúc cũng sẽ khác. Thay vì hài lòng một cách gượng ép, chúng ta có thể trải nghiệm niềm vui. Chúng ta có thể thấy mình đang làm cùng một công việc như trước, nhưng giờ đây chúng ta làm vì vui chứ không phải vì nghĩa vụ. Chúng ta làm việc đó vì chúng ta “muốn”, chứ không phải vì chúng ta “phải” làm. Nhu cầu năng lượng chắc chắn sẽ ít hơn hẳn.

Một khám phá thú vị mà chúng ta sẽ làm là khả năng yêu thương của chúng ta vượt xa những gì chúng ta từng mơ ước. Càng buông bỏ, chúng ta càng trở nên yêu thương hơn. Ngày càng nhiều thời gian trong cuộc đời chúng ta sẽ dành để làm những việc mà chúng ta yêu thích, với những người mà chúng ta cảm thấy ngày càng yêu thương hơn. Khi điều này xảy ra, cuộc sống của chúng ta sẽ chuyển hoá. Chúng ta trông khác đi. Mọi người phản ứng với chúng ta khác đi. Chúng ta thư thái, vui vẻ và dễ tính. Chúng ta có sức thu hút mọi người vì họ cảm thấy thoải mái và hạnh phúc khi ở bên cạnh chúng ta. Những người phục vụ và tài xế taxi đột nhiên trở nên chu đáo và lịch sự một cách kỳ lạ, và chúng ta tự hỏi: “Chuyện gì xảy ra với thế giới vậy?” Câu trả lời cho câu hỏi đó: “Chính là bạn!”

Khi buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, chúng ta sẽ tìm thấy sức mạnh của chính mình. Nó xảy ra một cách tự nhiên. Hạnh phúc luôn có đó và giờ đây nó tỏa sáng sau khi những rào cản đã được loại bỏ. Giờ đây, chúng ta tạo được ảnh hưởng tích cực đến tất cả mọi người mà chúng ta tiếp xúc. Tình yêu là rung động năng lượng cảm xúc mạnh mẽ nhất. Vì tình yêu, người ta sẽ làm mọi việc và làm những điều mà họ sẽ không bao giờ làm dù được trả bao nhiêu tiền.

Khi những rào cản tiêu cực và những câu nói: “Tôi không thể” được loại bỏ, những lĩnh vực hoàn toàn mới của cuộc sống sẽ mở ra cho chúng ta. Thành công bắt nguồn từ việc làm những gì chúng ta thích làm nhất, nhưng hầu hết mọi người lại bị trói buộc bởi những việc mà họ tưởng là mình phải làm. Khi giới hạn được loại bỏ, những con đường sáng tạo và thể hiện hoàn toàn mới sẽ mở ra.

Xin xem xét ví dụ về một cô gái trẻ có nhiều tài năng âm nhạc bẩm sinh, từng dành phần lớn thời gian cho công việc nhàm chán mà cô cảm thấy mình phải gắn bó vì phải kiếm tiền. Việc cô ấy thực sự thích là ở nhà một mình và đánh đàn. Đấy hoàn toàn vì niềm vui cá nhân. Vì thiếu tự tin, cô ấy ít khi đánh đàn cho người khác nghe, kể cả bạn bè thân thiết. Sau khi bắt đầu buông bỏ những giới hạn bên trong – tất cả những cảm thọ tiêu cực không cho cô thể hiện bản thân mình – khả năng và sự tự tin của cô phát triển nhanh chóng đến mức cô bắt đầu chơi nhạc trước công chúng. Tài năng của cô được đón nhận nồng nhiệt, và một sự nghiệp âm nhạc đầy bận rộn bắt đầu. Cô đã hoàn thành một bản thu âm chuyên nghiệp thành công đến mức cô có thể dành một nửa thời gian để làm công việc mà mình vẫn làm, và bắt đầu dành nhiều thời gian và năng lượng cho sự nghiệp đang đơm hoa kết trái, mang lại cho cô niềm vui và thỏa mãn lớn lao hơn. Mặc dù không biết gì về kinh doanh, cô đã bắt đầu công việc kinh doanh âm nhạc của chính mình và trong vòng một năm, đã phân phối các bản thu âm trên khắp cả nước, rồi sang cả châu Âu. Cô rất vui mừng khi thấy mình rất thành công khi làm những việc mình thích nhất. Sức sống và hạnh phúc ngày càng tăng của cô ấy thể hiện rõ ràng với mọi người, và thành công lan rộng sang các lĩnh vực khác trong cuộc đời của cô.

Ví dụ khác là một kỹ sư, trung niên, không có năng khiếu sáng tạo, rất ghét thơ ca. Sau khi học cách buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, đột nhiên ông thấy mình làm được thơ Haiku (một thể thơ trang trọng của Nhật Bản). Ông bắt đầu làm rất nhiều bài thơ Haiku mà không cần nhiều nỗ lực rồi sau đó phát triển khả năng viết gần như tự động.

Một ví dụ khác nữa là người phụ nữ, 60 tuổi, quyết định quay lại học đại học tại chức, mặc dù bà đang làm việc toàn thời gian. Cuối cùng, bà cũng có bằng cử nhân, rồi bằng thạc sĩ, và sau đó là bằng tiến sĩ, trở thành giám đốc điều hành quan trọng với rất nhiều trách nhiệm.

Có thể đưa ra hàng ngàn ví dụ về việc thăng tiến nhanh chóng trong đời sống của mọi người, khi họ buông bỏ được suy nghĩ: “Tôi không thể”. Có thể đột ngột giải quyết những tình huống đã kéo dài suốt nhiều năm,.

Ngược đời là, những bước đột phá và phát triển như thế có thể làm cho bạn bè và người thân cảm thấy khó chịu, vì mất thăng bằng. Chúng ta có thể đột ngột vứt bỏ những việc mà mình đã từng làm vì bị buộc phải làm, vì sợ hãi, mặc cảm tội lỗi hoặc nghĩa vụ. Những tầng tâm thức mới làm cho tri giác thay đổi và mở ra những chân trời mới. Nhiều động cơ thúc đẩy người ta có thể đột ngột trở thành vô nghĩa. Nhu cầu về tiền bạc, danh vọng, sự kính trọng, địa vị, uy tín, quyền lực, tham vọng, cạnh tranh và an toàn đều giảm. Chúng được thay thế bằng động lực của yêu thương, hợp tác, viên mãn, tự do, sáng tạo, phát triển tâm thức, hiểu biết và nhận thức tâm linh. Có xu hướng dựa nhiều hơn vào trực giác và cảm thọ hơn là suy nghĩ, lý trí và logic. Những người rất “dương” có thể khám phá ra khía cạnh “âm” của mình, và ngược lại. Những mô thức cứng nhắc nhường chỗ cho linh hoạt. An toàn và an ninh trở thành ít quan trọng hơn so với khám phá và tìm tòi. Cuộc sống cá nhân có thêm động lực, và vận động thay thế cho mô thức trì trệ.

Cơ chế buông bỏ có thể làm cho những thay đổi lớn diễn ra rất nhanh chóng, đấy là nhận xét có thể làm cho người ta ngạc nhiên. Những mô thức từng bám theo người ta suốt đời có thể đột ngột biến mất, và những kìm hãm kéo dài nhiều năm có thể được buông bỏ chỉ trong vài phút, vài giờ hoặc vài ngày. Những thay đổi nhanh chóng kéo theo sức sống gia tăng. Năng lượng sống được giải phóng do buông bỏ tiêu cực lúc này chảy vào thái độ, suy nghĩ và cảm thọ tích cực, sức mạnh cá nhân cũng tăng lên từng bước một. Suy nghĩ giờ đây trở thành hiệu quả hơn. Nhiều việc được hoàn thành với ít nỗ lực hơn. Ý định mạnh mẽ hơn, đấy là do đã loại bỏ nghi ngờ, sợ hãi và kìm hãm. Cùng với quá trình loại bỏ tiêu cực, động lực được giải phóng, do đó những giấc mơ từng là bất khả thi thì lúc này trở thành mục tiêu có thể thực hiện được. 

Giải quyết các vấn đề tâm lý: So sánh với Tâm lý trị liệu

Nói chung, buông bỏ thường nhanh hơn tâm lý trị liệu. Nó thường giải phóng và kích thích quá trình phát triển tâm thức và nhận thức nhanh hơn. Tuy nhiên, tâm lý trị liệu được thiết kế tốt hơn trong việc làm sáng tỏ các mô thức tiềm ẩn. Hai biện pháp này có thể phối hợp với nhau. Cơ chế buông bỏ tạo điều kiện và đẩy nhanh tâm lý trị liệu, đồng thời nâng cao mục tiêu của nó. Tâm lý trị liệu có thể làm cho người ta thỏa mãn về mặt trí tuệ, vì bản chất ngôn ngữ và nó tập trung vào “lý do” phía sau hành vi. Tuy nhiên, đó cũng là hạn chế của nó. Thường thì, thực sự đạt được chỉ là hiểu biết về mặt trí tuệ, còn quá trình xử lý cảm thọ thì diễn ra khá chậm, thường là đau đớn và cuối cùng là né tránh. Mặt khác, cơ chế buông bỏ liên quan đến “cái gì” về mặt cảm thọ trong từng khoảnh khắc, mà không liên quan đến trí tuệ. “Lý do” sẽ tự thể hiển, khi “cái gì” đã được buông bỏ. Phân tích nguyên nhân gây ra trầm cảm là một chuyện, nhưng tiến thẳng vào tận cùng của tuyệt vọng bằng cách buông bỏ kháng cự đối với cảm thọ đó lại là chuyện hoàn toàn khác. Bằng cách cho phép cảm thọ ấy hiện diện trọn vẹn, đồng thời buông bỏ mọi cảm thọ, mọi suy nghĩ và từng phần thưởng nhỏ bé mà bạn đang nhận được từ nó, bạn trở nên tự do. Không nhất thiết phải dò xét cái “tại sao” của trầm cảm mới có thể giải thoát mình khỏi cái “đang là” của nó.

Mục tiêu của việc buông bỏ vượt xa mục tiêu của liệu pháp tâm lý. Mục đích cuối cùng của buông bỏ và phó thác là tự do hoàn toàn. Mục tiêu của liệu pháp tâm lý là điều chỉnh lại bản ngã, đưa nó về trạng thái cân bằng lành mạnh hơn. Hai hệ thống này dựa trên những hệ hình khác nhau về thực tại. Mục tiêu của liệu pháp tâm lý là thay thế các chương trình của tâm trí không thỏa đáng bằng những chương trình thỏa đáng hơn. Ngược lại, mục tiêu của buông bỏ là loại bỏ các chương trình của tâm trí và cảm thọ mang tính hạn chế. Đó là vươn tới tâm trí không bị ràng buộc và cuối cùng là siêu việt chính tâm trí để vươn lên các trạng thái tâm thức cao hơn của yêu thương và an bình.

Trong trị liệu, bệnh nhân phụ thuộc vào người trị liệu, quá trình đào tạo và kỹ thuật của họ, và họ cũng dựa vào một lý thuyết tâm lý mà cả người trị liệu và bệnh nhân đều tin tưởng. Nghiên cứu khoa học cho thấy rằng kết quả của trị liệu không liên quan gì tới trường phái tâm lý trị liệu, quá trình đào tạo hay kỹ thuật của người trị liệu; thay vào đó, kết quả liên quan đến tương tác giữa họ với nhau và mức độ mong muốn cải thiện của bệnh nhân, cũng như niềm tin và mức độ tin tưởng của bệnh nhân vào nhà trị liệu. Do đó, tâm lý trị liệu không nhận thức được các yếu tố tâm lý đang hoạt động.

Với cơ chế buông bỏ, bệnh nhân không có vai trò gì, cũng không phụ thuộc vào người khác hoặc lý thuyết nào. Nguồn gốc của các mô thức rối loạn thần kinh tự động bộc lộ khi chúng được thừa nhận, bị từ bỏ và biến mất. Cơ sở của chúng thường nằm ở những chiều sâu mà tâm lý trị liệu không thể chạm tới. Ngoại trừ một vài khuôn khổ chữa lành toàn diện (ví dụ như phân tích của Jung, tâm lý học xuyên cá nhân), trị liệu có thể dựa trên hiểu biết hạn chế về toàn bộ tâm trí. Nó thường chỉ nhắm đến một phần của bản ngã. Nó bỏ qua và không hiểu được những lực lượng to lớn, tức là lực lượng quyết định, thúc đẩy và kiểm soát tâm trí. Vì mục đích của hầu hết các liệu pháp tâm lý là điều chỉnh bản ngã, nên không có khái niệm gì về những gì nằm ngoài bản ngã.

Ngược lại, mục đích của buông bỏ là loại bỏ bản ngã. Bản ngã sợ hãi và bị giới hạn, và khi nó được buông bỏ, Đại Ngã bên trong sẽ hiện ra, và cái luôn có sức mạnh hơn sẽ được bộc lộ. Nhiều liệu pháp tâm lý không có kiến ​​thức thực sự về Đại Ngã và do đó, mù quáng trước chính Thực tại. Về hiệu quả, liệu pháp tâm lý giống như một chiếc xe ngựa, trong khi cơ chế buông bỏ giống như con tàu vũ trụ. Trong khi liệu pháp cần thời gian để từng bước một thăm dò một khu vực hạn chế, thì buông bỏ đã di chuyển xa hơn, vào một chiều kích hoàn toàn mới.

Buông bỏ có một lợi thế đặc biệt là, từ bỏ một cảm thọ tiêu cực cũng đồng nghĩa với việc giải phóng năng lượng đằng sau nhiều cảm thọ tiêu cực khác, do đó, hiệu ứng lan tỏa là liên tục. Ví dụ, một người đàn ông thành đạt và có học thức cao từng mắc chứng rất sợ độ cao – đến mức ám ảnh mãnh liệt. Đúng lúc ông ta học cách sử dụng cơ chế buông bỏ, thì ông cũng gặp nhiều vấn đề cấp bách trong cuộc sống. Sau khi học cách buông bỏ, ông mải giải quyết những cảm thọ và sợ hãi trước các vấn đề lớn trong cuộc sống và chưa có thời gian giải quyết sợ độ cao kéo dài suốt đời của mình. Sau đó, khi phải đứng trên mái nhà, ông ta rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng sợ hãi của mình đã giảm đi đáng kể. Ông rất vui mừng và đi đến mép mái nhà, rồi ngồi và bỏ chân xuống. Giờ đây, ông ta có thể trèo lên thang và ở trên mái nhà trong suốt một giờ mà không cảm thấy khó chịu. Điều này minh họa rằng, khi một sợ hãi được buông bỏ, tất cả những sợ hãi khác cũng giảm đi.

Tâm lý trị liệu nhắm tới cải thiện các mô thức rối loạn thần kinh. Nhưng, buông bỏ lại được thiết kế để triệt tiêu tận gốc những căn nguyên hình thành nên tất cả các trạng thái rối loạn  đó. Nó phá vỡ cấu trúc cơ bản của những cảm thọ và hành vi kém thích nghi. Nếu tâm lý trị liệu tìm cách cải thiện sự cân bằng trong rối loạn thần kinh, thì buông bỏ lại loại bỏ hoàn toàn rối loạn thần kinh.

Hạn chế của hầu hết các khung lý thuyết tâm lý trị liệu là người trị liệu bị giới hạn trong cái thế giới gọi là bản ngã khỏe mạnh, hoạt động tốt với tất cả những hạn chế của nó. Trong hệ hình này, một bệnh nhân khỏe mạnh được coi là người có cùng những vọng tưởng và hạn chế được xã hội và người trị liệu chấp nhận. Ngược lại, mục đích của cơ chế buông bỏ là siêu việt những vọng tưởng của thế gian và vươn tới sự thật tối thượng đằng sau nó - đó là Tự Chứng ngộ  (Self-Realization[i]) và khám phá nền tảng của chính tâm trí, nguồn gốc của mọi suy nghĩ và cảm thọ.

Mục tiêu của việc buông bỏ là loại bỏ chính nguồn gốc của mọi khổ đau và bất hạnh. Nghe có vẻ cực đoan và làm người ta kinh ngạc, và thực tế là như thế! Cuối cùng, tất cả những cảm thọ tiêu cực đều có cùng cội nguồn. Khi đủ nhiều cảm thọ tiêu cực được buông bỏ, cội nguồn đó sẽ tự bộc lộ. Khi chính cội nguồn đó được buông bỏ và không còn đồng nhất với nó, bản ngã sẽ tan biến. Do đó, cội nguồn của khổ đau mất chính nền tảng sức mạnh của nó.

Mỗi người chúng ta đều có giới hạn về số lượng cảm thọ tiêu cực mà chúng ta đã tích trữ được. Khi áp lực đằng sau một cảm thọ được buông bỏ, cảm thọ đó sẽ không còn xuất hiện nữa. Ví dụ, nếu sợ hãi liên tục được buông bỏ trong một khoảng thời gian, cuối cùng nó sẽ cạn kiệt. Khi đó, cảm thấy sợ hãi sẽ trở thành khó khăn hoặc gần như không thể. Cần tác nhân kích thích ngày càng lớn thì mới khơi dậy được nó. Sau cùng, một người đã buông bỏ được phần lớn sợ hãi thì thực sự phải nhọc công tìm kiếm mới thấy lại được cảm thọ đó. Năng lượng của sợ hãi đơn giản là không còn nữa. Tức giận cũng giảm dần theo thời gian, đến nỗi ngay cả hành động khiêu khích công khai cũng không còn khơi dậy được nó. Một người ít sợ hãi hay tức giận luôn cảm thấy chủ yếu là yêu thương và yêu thương các sự kiện, con người và những thăng trầm của cuộc đời.

Mục tiêu của buông bỏ là siêu việt. Tâm lý trị liệu chấp nhận những mức độ hành vi được coi là lành mạnh, trong khi từ quan điểm về tự do tuyệt đối, đây lại là những hành vi không thể chấp nhận được. Ví dụ, trong tâm lý trị liệu, mức độ sợ hãi, tức giận và kiêu ngạo tối thiểu có thể được coi là mức độ hoạt động cần thiết hoặc chấp nhận được và thậm chí có thể là “lành mạnh”. Nhưng như chúng ta đã thấy, tính chất phá hoại vốn có đằng sau những trạng thái thấp hơn này cuối cùng là không thể chấp nhận được—vì sức mạnh của buông bỏ có thể hoàn toàn siêu việt được chúng. Vượt ra ngoài “mức độ hoạt động chấp nhận được” đang chờ đợi vận mệnh lớn lao hơn của chúng ta: tự do tuyệt đối.



[i] Self-Realization – Kiến chân tính, nhận ra bản chất thật của mình là Chân Ngã (Self), vượt ngoài bản ngã cá nhân. Ở đây có sự chuyển dịch căn bản trong đồng nhất tính, tuy nhiên có thể vẫn còn cảm nhận vi tế về “người biết” hay “người chứng”. Enlightenment: trạng thái tan rã sâu rộng của bản ngã và sự ổn định ngày càng vững chắc trong Nhận Biết phi cá nhân. Full Enlightenment (Chứng ngộ viên mãn): sự ổn định hoàn toàn và không hồi chuyển trong Chân Ngã; không còn trung tâm chủ thể riêng biệt, không còn “người chứng ngộ”. Chỉ còn Hiện Hữu tự thân, bất biến và phi cá nhân.

 

 

July 11, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (16)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 15

 

QUAN HỆ GIỮA TÂM TRÍ VÀ CƠ THỂ 

Ảnh hưởng của tâm trí

Nguyên tắc cơ bản cần phải hiểu là thân thể tuân theo tâm trí; do đó, thân thể có xu hướng biểu hiện những gì tâm trí tin tưởng. Niềm tin có thể được lưu giữ một cách có ý thức hoặc vô thức. Nguyên tắc này xuất phát từ quy luật của tâm thức: Chúng ta chỉ bị chi phối bởi những gì chúng ta lưu giữ trong tâm trí. Sức mạnh duy nhất mà bất kỳ điều gì có thể chi phối chúng ta chính là sức mạnh của niềm tin mà ta trao cho nó. “Sức mạnh” ở đây có nghĩa là năng lượng và ý chí đề tin. 

Nếu nhìn vào Bản đồ Tâm thức (Phụ lục A), có thể dễ dàng thấy vì sao tâm trí lại mạnh hơn thân thể. Trường năng lượng của lý trí (điểm hiệu chỉnh 400), với những niềm tin và khái niệm của tâm trí, mạnh mẽ hơn trường năng lượng của cơ thể vật lý (điểm hiệu chỉnh 200).

Khuynh hướng chấp nhận những niềm tin tiêu cực của chúng ta phụ thuộc vào việc, ngay từ đầu, ta đang lưu giữ bao nhiêu tiêu cực. Ví dụ, tâm trí tích cực sẽ không chấp nhận những suy nghĩ tiêu cực và đơn giản là bác bỏ chúng, vì cho rằng chúng không đúng đối với mình. Từ chối chấp nhận những ý tưởng tiêu cực phổ biến. Chúng ta biết rằng việc “bán” tự kết tội cho một người vốn đang đầy rẫy mặc cảm tội lỗi, hay gieo rắc sợ hãi về một căn bệnh nào đó cho một người vốn đã sợ hãi, là việc dễ đến mức nào.

Chẳng hạn, ý tưởng cho rằng “cảm lạnh rất dễ lây” là ví dụ điển hình. Suy nghĩ rằng “ai cũng bị cảm lạnh” sẽ được chấp nhận bởi một người có nhiều mặc cảm tội lỗi, sợ hãi và ngây thơ về các quy luật của tâm thức. Do mặc cảm tội lỗi vô thức, người ta cảm thấy rằng họ “xứng đáng” bị cảm lạnh. Cơ thể tuân theo niềm tin của tâm trí rằng cảm lạnh là do virus gây ra, “dễ lây” và truyền nhiễm. Do đó, cơ thể, do niềm tin của tâm trí kiểm soát, biểu hiện ra triệu chứng cảm lạnh. Người đã buông bỏ những năng lượng tiêu cực tiềm tàng của mặc cảm tội lỗi và sợ hãi sẽ không có tâm trí sợ hãi với niềm tin: “Cảm lạnh đang lây lan; chắc tôi cũng sẽ bị như mọi người khác.”

Đây chính là những động lực đằng sau bệnh tật. Các cơ chế này được thực thi thông qua những biến đổi do tâm trí gây ra trong dòng chảy năng lượng của hệ thống năng lượng sinh học (Khí), và sự tràn ra của năng lượng bị dồn nén vào hệ thần kinh thực vật.

Suy nghĩ rất mạnh mẽ vì nó có tần số rung động cao. Một suy nghĩ thực chất là một vật thể; có một mô thức năng lượng. Chúng ta càng cung cấp nhiều năng lượng cho nó, nó càng có nhiều sức mạnh để biểu hiện ra bên ngoài cơ thể vật lý. Đây là nghịch lý của phần lớn cái gọi là giáo dục sức khỏe. Hiệu ứng nghịch lý ở chỗ: những tư tưởng sợ hãi được củng cố và trao cho nhiều sức mạnh đến mức các vụ đại dịch thực chất đã được tạo ra bởi truyền thông (ví dụ như cúm lợn). Những “lời cảnh báo” dựa trên sợ hãi về nguy hiểm đối với sức khỏe thực ra đã tạo ra môi trường tâm trí, mà trong đó, chính cái ta sợ sẽ xảy ra.

Nằm chồng lên cơ thể vật lý là cơ thể năng lượng có hình dạng giống hệt cơ thể vật lý và các mô thức của nó thực sự kiểm soát cơ thể vật lý. Sự kiểm soát này diễn ra ở tầng suy nghĩ hoặc ý định. Vật lý lượng tử hạ nguyên tử cao cấp đã chỉ ra, rằng quan sát tạo ảnh hưởng lên các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao.

Sức mạnh của tâm trí đối với cơ thể đã được chứng minh bằng các nghiên cứu lâm sàng. Ví dụ, trong một công trình nghiên cứu, một nhóm phụ nữ được cho biết rằng họ sẽ được tiêm hormone làm cho kinh nguyệt đến sớm hơn hai tuần. Trên thực tế, họ chỉ được tiêm giả dược là dung dịch muối. Tuy nhiên, hơn 70% phụ nữ đã bị hội chứng tiền kinh nguyệt sớm với đầy đủ các triệu chứng về thể chất và tâm lý.

Một minh chứng rõ ràng khác về quy luật này của tâm thức xảy ra ở những người bị rối loạn đa nhân cách. Từng được cho là hiếm gặp, nhưng hiện nay rối loạn đa nhân cách trở thành tương đối phổ biến; và do đó, nghiên cứu về hiện tượng này ngày càng nhiều hơn. Người ta đã chứng minh rằng các nhân cách khác nhau trong cùng một cơ thể có những biểu hiện thể chất khác nhau. Ví dụ, có những thay đổi trong sóng điện não đồ, cũng như những thay đổi về thuận tay khi viết chữ, ngưỡng đau, phản ứng điện da, chỉ số IQ, chu kỳ kinh nguyệt, chi phối của bán cầu não, khả năng ngôn ngữ, giọng nói và thị lực. Do đó, khi nhân cách tin vào dị ứng xuất hiện, người đó sẽ bị dị ứng; nhưng khi một nhân cách khác tiến vào cơ thể, các triệu chứng dị ứng biến mất. Một nhân cách có thể cần đeo kính, còn nhân cách khác thì không. Những nhân cách khác nhau này thực sự có những khác biệt đáng kể về áp lực nội nhãn và các chỉ số sinh lý khác.

Ở người bình thường, những hiện tượng vật lý này cũng thay đổi nếu họ bị thôi miên. Dị ứng có thể xuất hiện hoặc biến mất chỉ bằng những gợi ý đơn giản. Những người nhận được gợi ý rằng họ bị dị ứng với hoa hồng khi đang tiến hành thôi miên sẽ bắt đầu hắt hơi khi họ thoát khỏi trạng thái thôi miên và nhìn thấy một bình hoa hồng trên bàn của bác sĩ, ngay cả khi đấy là bông hoa giả.

Ngài John Eccles, Khôi nguyên Nobel, từng tuyên bố rằng sau cả đời nghiên cứu, ông thấy rõ ràng là não bộ không phải là nguồn gốc của tâm trí, như khoa học và y học đã tin tưởng, mà ngược lại. Tâm trí điều khiển não bộ, nó hoạt động như một trạm thu (tương tự như radio), những suy nghĩ tương tự như sóng radio, còn não bộ thì giống như máy thu.

Não bộ giống như một thiết bị thu sóng, một tổng đài tiếp nhận các dạng suy nghĩ, rồi chuyển chúng thành chức năng thần kinh và bộ nhớ. Ví dụ, cho đến gần đây, người ta tin rằng các chuyển động tự nguyện của cơ bắp bắt nguồn từ vỏ não vận động. Nhưng hiện nay, như Eccles đã báo cáo, ý định di chuyển được ghi nhận bởi vùng vận động bổ sung của não bộ nằm cạnh vỏ não vận động. Do đó, não bộ được kích hoạt bởi ý định của tâm trí chứ không phải ngược lại.

Chúng ta thấy điều này trong nhiều nghiên cứu hình ảnh não bộ được thực hiện trên những người đang hành thiền. Ví dụ, nghiên cứu của Tiến sĩ Richard Davidson trong thập kỷ vừa qua ở Đại học Wisconsin (Madison) đã chứng minh rằng thực hành thiền định về tâm từ bi và yêu thương kích thích sự gia tăng hoạt động ở vỏ não trước trán bên trái (chứa đựng những cảm xúc tích cực như hạnh phúc) và sự đồng bộ hóa sóng gamma biên độ cao (dấu hiệu của nhận thức mở rộng, tỉnh táo và tuệ giác). Những thứ được lưu giữ trong tâm trí có sức mạnh làm thay đổi hoạt động của não bộ và cấu trúc thần kinh.

Chúng ta chịu ảnh hưởng bởi đủ loại tác động của những niềm tin vô thức và hữu thức mà tâm trí chúng ta đang lưu giữ trên tất cả các hệ thống cơ thể. Trong đó có niềm tin của chúng ta về những tác động được cho là của các loại thực phẩm, chất gây dị ứng, rối loạn mãn kinh và kinh nguyệt, nhiễm trùng và tất cả các bệnh khác liên quan đến các hệ thống niềm tin cụ thể, cùng với khuynh hướng căng thẳng tiềm ẩn do có những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén.

Norman Cousins, tổng biên tập tạp chí Saturday Review trong ba thập kỷ, đã chứng minh nguyên tắc này khi ông tự chữa khỏi bệnh tật nghiêm trọng bằng tiếng cười. Ông cho xuất bản cuốn sách Anatomy of an Illness (Giải phẫu một căn bệnh), nói về trải nghiệm hồi phục của chính mình khỏi căn bệnh viêm khớp bằng cách bổ sung nhiều vitamin C và cười sảng khoái khi xem phim do anh em nhà Marx thủ vai. Ông phát hiện ra rằng tiếng cười có tác dụng gây tê, có thể làm giảm đau trong hai giờ. Cười là một phương pháp buông bỏ. Thông qua tiếng cười, Cousins tiếp tục buông bỏ áp lực cảm xúc tiềm ẩn và loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực. Cách làm này dẫn đến những thay đổi rất tích cực và có lợi cho cơ thể, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hồi phục cuối cùng của chính ông ta.

 

Những niềm tin dễ làm người ta bị bệnh

Để xác định mức độ dễ bị bệnh của chính mình, chúng ta có thể xem xét nhưng câu hỏi sau:

Tôi có lo lắng về sức khỏe của mình, có những suy nghĩ sợ hãi về những điều có thể xảy ra với mình hay không?

Tôi có cảm thọ sợ hãi, phấn khích và nguy hiểm thầm kín khi nghe về một căn bệnh mới đang được truyền thông loan tin và thịnh hành không?

Tôi có mất thời gian cho việc kiểm tra sức khỏe thường xuyên, đọc về các bệnh tật, và cảm thấy sợ hãi bởi những câu chuyện trên TV về bệnh tật hay không?

Tôi có quan tâm đến việc nghe về bệnh tật của những người nổi tiếng hay không?

Tôi có tin rằng môi trường và thực phẩm chứa đầy những nguy hiểm tiềm ẩn, hay thực phẩm chứa các chất phụ gia độc hại và sẽ làm cho người ta bị bệnh hay không?

Tôi có tin rằng một số bệnh “di truyền trong gia đình mình” hay không?

Tôi có dừng lại hoặc muốn dừng lại (nhưng không dám) để chứng kiến ​​nạn nhân của tai nạn giao thông hay không?

Tôi có thích các chương trình truyền hình về bệnh viện hay không? Tôi có thích các chương trình truyền hình có cảnh đánh đập, la hét, ẩu đả, giết người, tra tấn, tội phạm và các hình thức bạo lực khác hay không?

Tôi có phải là một người luôn có mặc cảm tội lỗi hay không?

Tôi có ôm giữ nhiều tức giận hay không?

Tôi có lên án hành vi của người khác hay không?

Tôi có hay phán xét người khác hay không?

Tôi có lưu giữ oán hận và thù hận hay không?

Tôi có cảm thấy bị mắc kẹt và tuyệt vọng hay không?

Tôi có tự nhủ rằng, “Bất cứ căn bệnh nào đang xảy ra, có lẽ tôi cũng sẽ bị lây”?

Tôi có quan tâm đến của cải và biểu tượng địa vị thay vì chất lượng của các mối quan hệ hay không?

Tôi có mua nhiều bảo hiểm mà vẫn lo lắng rằng chưa đủ hay không?

Tóm lại, muốn thay đổi cơ thể thì phải thay đổi suy nghĩ và cảm thọ. Chúng ta phải buông bỏ những suy nghĩ và hệ thống niềm tin tiêu cực và loại bỏ căng thẳng do những cảm xúc tiêu cực cung cấp năng lượng cho chúng. Chúng ta phải loại bỏ những lập trình tiêu cực đến từ thế giới, cũng như từ chính hệ thống niềm tin của chúng ta.

Chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng tai hại của lập trình tiêu cực đầy sợ hãi ở những người sợ hãi thực phẩm, hóa chất và các chất trong môi trường. Mỗi ngày lại có một hóa chất hoặc chất mới được công bố là có hại. Càng sợ hãi, chúng ta càng nhanh chóng bị lập trình, và sau đó cơ thể phản ứng một cách tương ứng. Sợ hãi các chất, thực phẩm, không khí, năng lượng và các kích thích đủ mọi loại đã đến mức gần như là chứng hoang tưởng về môi trường. Một số người trở nên ám ảnh về môi trường và mọi thứ trong đó đến mức thế giới của họ ngày càng thu hẹp lại. Họ ngày càng sợ hãi hơn. Một số người thậm chí còn gục ngã đến mức họ chạy trốn khỏi thế giới và sống trong những bong bóng nhân tạo, nằm trong vòng vây của chính tâm trí của mình.

Hiện tượng này có thể xảy ra với người bình thường, thậm chí là bác sĩ. Bắt đầu với phấn hoa, phấn hương, vảy da ngựa, lông chó mèo, bụi, lông vũ, len, sô cô la, pho mát và các loại hạt (tất cả đều được cho là gây dị ứng). Sau đó, là đường (tăng đường huyết) cùng với các chất phụ gia thực phẩm (gây ung thư), trứng và các sản phẩm từ sữa (cholesterol), và nội tạng động vật (bệnh gút). Tiếp theo trong danh sách “có hại” là phẩm màu thực phẩm, saccharine, caffeine, chất tạo màu, nhôm, vải tổng hợp, tiếng ồn, đèn huỳnh quang, thuốc xịt côn trùng, chất khử mùi, thực phẩm nấu ở nhiệt độ cao, khoáng chất có trong nước, clo trong nước, nicotine, khói thuốc lá, các chất hóa dầu, khí thải ô tô, ion dương, rung động điện tần số thấp, thực phẩm có tính axit, thuốc trừ sâu và thực phẩm có hạt.

Thế giới thu nhỏ lại đến mức không còn gì an toàn để ăn. Không còn gì có thể mặc. Không có không khí để thở. Cơ thể có tất cả các loại dị ứng, phản ứng và bệnh tật để chứng minh điều đó. Việc đi ăn tối bên ngoài trở thành một thú vui của quá khứ, bởi vì thực đơn chẳng có gì ăn được, ngoại trừ rau diếp (tất nhiên là phải rửa sạch), và việc đeo găng tay trắng khi cầm dụng cụ ăn uống ở nhà hàng là bắt buộc!

Rồi, khi hiểu được sự thật cốt lõi, toàn bộ mô thức được gỡ bỏ. “Những gì được lưu giữ trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra ngoài thân thể”—trong đó có cả những niềm tin vô thức. Thủ phạm không phải là thế giới mà là tâm trí. Tất cả những lập trình tiêu cực và điều kiện hóa đầy sợ hãi đều nằm trong tâm trí, và cơ thể tuân theo tâm trí. Quy luật tâm thức này đảo ngược chứng hoang tưởng. Khi mỗi niềm tin nội tâm được xem xét và buông bỏ, tất cả các phản ứng tiêu cực của cơ thể, bệnh tật và triệu chứng đều biến mất. Nói cách khác, không phải lá cây thường xuân độc gây ra dị ứng mà là niềm tin của tâm trí rằng cây thường xuân độc có chất gây dị ứng. Khi tâm trí buông bỏ lập trình của nó, các phản ứng của cơ thể đã biến mất.

Kiểm tra cơ thể động học có thể đảo ngược hoàn toàn các mô thức phản ứng. Những gì trước đây làm cho cơ yếu đi giờ đây không còn tác dụng nữa. Mức độ nhạy cảm với căng thẳng nói chung rõ ràng đã giảm đi rất nhiều, đến mức cơ thể hoàn toàn không phản ứng với những thứ mà trước đây được coi là kích thích tiêu cực (ví dụ: đèn huỳnh quang, đường hoá học).

 

So sánh với các kỹ thuật khác

Như chúng ta đã thấy, căng thẳng phát sinh từ bên trong như là phản ứng trước tác nhân kích thích. Tác nhân gây căng thẳng thực chất là áp lực của những năng lượng cảm xúc bị kìm nén và đè nén, phản ánh tầng thức thấp tổng thể của chúng ta.

Do đó, cần thay đổi nội dung của tâm thức thì mới loại bỏ và ngăn ngừa căng thẳng. Các phương pháp điều trị căng thẳng thường được kê đơn tương tự như các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y học. Đấy là những phương pháp tìm cách khắc phục những tổn thương do căn bệnh mà chúng ta đã mắc phải gây ra, chứ không chữa trị nguyên nhân bên trong của bệnh.

Ví dụ, các hội nghị về căng thẳng thường bao gồm các chủ đề sau:

Liệu pháp hương thơm.

Hội thảo về tập thể dục.

Châm cứu làm giảm các rối loạn do căng thẳng.

Phản hồi sinh học.

Nắn chỉnh cột sống.

Điều chỉnh căng thẳng.

Dinh dưỡng.

Thể dục và tập luyện.

Liệu pháp vi lượng đồng căn.

Huấn luyện tự sinh. (Autogenic training là một kỹ thuật tự thôi miên và thư giãn sâu được phát triển bởi nhà tâm lý học người Đức Johannes Heinrich Schultz vào năm 1932 – ND).

Chữa bệnh toàn diện.

Massage và trị liệu cơ thể.

Bể nổi (Flotation tank - còn gọi là bể cách ly giác quan) là thiết bị được thiết kế để đưa con người vào trạng thái thư giãn sâu nhất có thể bằng cách loại bỏ hầu hết các kích thích từ môi trường bên ngoài – ND).

Cân bằng răng miệng.

Kỹ thuật thư giãn bằng cách sử dụng các chuyển động cơ thể.

Như chúng ta thấy bên trên, các phương pháp thông thường chỉ giải quyết hậu quả và thiệt hại do hội chứng căng thẳng gây ra. Không có phương pháp nào giải quyết được nguyên nhân cơ bản. Tất cả đều liên quan đến các thủ tục tương đối phức tạp và tốn nhiều thời gian, và không thể áp dụng ngay tại chỗ.

Ví dụ, giả sử chúng ta đang thuyết trình hoặc giảng bài. Chúng ta đang ở ngay tại chỗ. Việc dừng lại giữa bài phát biểu để tập thở, thôi miên, châm cứu hoặc sử dụng máy phản hồi sinh học là không thực tế. Bể nổi có tiện dụng không khi đang cãi nhau với người khác?

Vì những phương pháp này chỉ mang tính tạm thời, tốn nhiều thời gian và thường khá đắt tiền, nên mọi người nhiệt tình áp dụng trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó nhiệt tình giảm dần, vì về cơ bản chẳng có gì thực sự thay đổi. Nhận thức cơ bản về thế giới vẫn như cũ. Áp lực cảm xúc vẫn như cũ. Tính cách cũng vẫn thế. Hoàn cảnh sống không thay đổi. Tầng tâm thức không thay đổi. Tâm lý vẫn như cũ. Kỳ vọng vẫn như cũ và do đó, cuộc sống vẫn tiếp diễn như trước đây.

Nếu tâm thức không thay đổi, thì căng thẳng thực sự không mất đi được. Chỉ có hậu quả là giảm nhẹ mà thôi. Tất cả những kỹ thuật và phương pháp điều trị sau khi sự việc đã xảy ra này đều hữu ích và thường làm giảm bớt tình trạng bệnh tật và làm cho người ta cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng không giải quyết được gốc rễ của vấn đề. Một người có thể áp dụng tất cả các kỹ thuật này mà vẫn là người dễ bị căng thẳng như cũ. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, việc sử dụng một cách có ý thức cơ chế buông bỏ hiệu quả hơn trong việc giải quyết các bệnh mãn tính liên quan đến căng thẳng. Bệnh tật bắt đầu tự chữa lành, vì nguyên nhân mang tính cảm xúc tiềm ẩn đã được loại bỏ, và các phương pháp điều trị sau đó thường là không còn cần thiết nữa.

Trong trường hợp hiếm hoi của căn bệnh dai dẳng không được chữa khỏi bằng cách buông bỏ những suy nghĩ và cảm thọ tiêu cực, các yếu tố chưa biết như khuynh hướng nghiệp có thể đang tác động. Trong những trường hợp như thế, chúng ta buông bỏ mong muốn thay đổi hoặc kiểm soát trải nghiệm cuộc sống của mình, và chúng ta chờ đợi những khám phá nội tâm sâu sắc hơn về nguồn gốc và ý nghĩa của bệnh tật. Buông bỏ ở mức độ sâu nhất và trọn vẹn khi một người đã buông bỏ nhu cầu hoặc mong muốn được chữa lành về thể chất. Ta sẽ đạt được trạng thái an bình trước tình trạng bệnh tật khi cả ba phương diện của nó—thể xác, tâm trí và tâm linh—đều đã được giải quyết, đồng thời kết quả cuối cùng hay mong cầu bình phục đã được buông bỏ. An bình chỉ đến cùng với buông bỏ hoàn toàn bên trong trước những gì đang là.

July 10, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (15)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 14 

GIẢM CĂNG THẲNG VÀ BỆNH TẬT 

Các khía cạnh tâm lý và khả năng dễ bị căng thẳng

Mặc dù trạng thái an bình là có đó cho tất cả chúng ta, nhưng rất ít người vươn tới được trạng thái này. Trải nghiệm nội tâm của hầu hết mọi người đều là căng thẳng liên tục. Trong xã hội của chúng ta, hầu hết những căng thẳng dẫn đến rối loạn cảm xúc và thể chất đều xuất phát từ tâm lý. Phản ứng của chúng ta đối với căng thẳng phụ thuộc vào “khả năng dễ bị căng thẳng” của chúng ta, và, như chúng tôi đã chỉ ra, đây là kết quả trực tiếp của lượng cảm thọ bị kìm nén và đè nén mà chúng ta đã tích lũy được. Càng giải tỏa và buông bỏ được nhiều áp lực cảm thọ, chúng ta càng ít bị tổn thương bởi phản ứng với căng thẳng và các bệnh liên quan đến căng thẳng. 

Đối với đa số chúng ta, căng thẳng chính trong hầu như toàn bộ thời gian không phải do các tác nhân kích thích bên ngoài, mà là do áp lực của chính những cảm xúc bị kìm nén của chúng ta. Những cảm xúc bị kìm nén này trở thành tác nhân gây căng thẳng chính, do đó, ngay cả trong khi môi trường bên ngoài yên tĩnh, chúng ta vẫn tiếp tục bị căng thẳng nội tâm mãn tính.

Chúng ta có thể thấy rằng các yếu tố gây căng thẳng bên ngoài chỉ là những giọt nước làm tràn ly. Gánh nặng căng thẳng chính là những thứ chúng ta mang theo bên mình, mọi lúc, mọi nơi. Quá trình lập trình tâm lý trong xã hội của chúng ta rộng lớn đến mức, đối với hầu hết mọi người, ngay cả việc thư giãn và tận hưởng kỳ nghỉ cũng là vấn đề. (Mặc cảm tội lỗi nói rằng chúng ta “nên” làm điều gì đó khác.) Thất vọng khi thư giãn không xảy ra ngay lập tức. Chúng ta cảm thấy bồn chồn và theo đuổi không ngừng các hoạt động “vui vẻ” để tránh đau đớn khi đối mặt với tự ngã bên trong cùa mình. Hầu hết các giám đốc điều hành bận rộn bắt đầu thầm mong được quay lại làm việc trong khi họ đang đi nghỉ. Bên ngoài, họ có thể than phiền về khối lượng công việc nặng nề, nhưng khi trở lại với thói quen quen thuộc, một lần nữa, họ lại cảm thấy bình thường.

Ảnh hưởng của những cảm thọ bị kìm nén và đè nén cộng với các yếu tố gây căng thẳng là nguyên nhân gây ra hầu hết các bệnh về thể chất và tinh thần. Có thành phần tâm lý-cảm xúc trong tất cả các bệnh tật này và vì thế, có thể đảo ngược quá trình bệnh tật bằng cách loại bỏ các yếu tố gây căng thẳng ở bên trong. Đấy là lý do làm cho nhiều trường hợp hồi phục, được báo cáo mỗi ngày, từ những căn bệnh nghiêm trọng và có khả năng làm chết người nhờ sử dụng các kỹ thuật tâm linh-cảm xúc. Nhiều trường hợp được chữa khỏi sau khi tất cả các phương pháp chữa trị y khoa đều đã thất bại. Một trong những lý do là, ở giai đoạn “không còn có thể làm gì được nữa”, bệnh nhân từ bỏ, và họ tìm kiếm và chấp nhận bản chất và nguyên nhân cơ bản thực sự của bệnh tật.

Thừa nhận và buông bỏ những cảm thọ bị kìm nén, từng bước một làm giảm khả năng dễ bị căng thẳng của một người, do đó làm giảm khả năng dễ bị tổn thương trước các vấn đề và bệnh tật liên quan đến căng thẳng. Hầu hết những người học và thực hành kỹ thuật buông bỏ đều nhận thấy sự cải thiện từng bước một về sức khỏe thể chất và sức sống. 

Các khía cạnh y học của căng thẳng

Căng thẳng là phản ứng của chúng ta đối với đe dọa mà chúng ta nhận thức được (có thật hoặc tưởng tượng) đối với tình trạng an toàn hay sự cân bằng của cơ thể. Tác nhân kích thích có thể là bên trong hoặc bên ngoài. Có thể là về thể chất, tâm trí hay cảm xúc. Tiến sĩ Hans Selye và Tiến sĩ Walter Cannon đã tiến hành các công trình nghiên cứu cơ bản về phản ứng vật lý của cơ thể đối với căng thẳng. Selye mô tả cái mà ông gọi là “hội chứng thích nghi chung”. Phản ứng trước một tác nhân kích thích gây căng thẳng, trước hết, cơ thể sẽ phản ứng báo động, sau đó là giai đoạn kháng cự, nếu tác nhân kích thích tiếp tục, nó có thể dẫn đến giai đoạn thứ ba là hội chứng kiệt sức.

Phản ứng báo động xảy ra thông qua lộ trình: Vỏ não Vùng dưới đồi (não hạ khâu) Tuyến thượng thận Dòng máu (Cortisol[i] và Adrenalin[ii]). Ngoài ra, còn có giải phóng các hormone não và kích thích hệ thần kinh giao cảm của cơ thể. Sau đó, adrenalin đi đến tất cả các cơ quan trong cơ thể và chuẩn bị cho chúng phản ứng chiến đấu hoặc bỏ chạy. Nhiều người, đặc biệt là ở các thành phố lớn, học cách sống dựa vào cảm giác hưng phấn do adrenaline mang lại qua những thử thách liên tục. Đe dọa đến sống còn là do cạnh tranh khốc liệt làm cho adrenaline luôn được duy trì. Cuối tuần hoặc trong các kỳ nghỉ họ thường cảm thấy chán nản. Họ nghiện phấn khích và kích thích bất thường. Họ quen với hưng phấn nhẹ do nồng độ cortisol cao tạo ra.

Giai đoạn thứ hai, kháng cự, là nỗ lực của cơ thể để khôi phục lại cân bằng nội môi - liên quan đến những thay đổi về hormone và sự dịch chuyển trong quá trình trao đổi chất và cân bằng khoáng chất. Thường thì có natri cùng với hiện tượng giữ nước trong các mô. Ví dụ, mắt cá chân của một số giám đốc điều hành sưng to dần, rồi đến tối thứ Sáu, thì đi tiểu nhiều lần. Họ phàn nàn rằng yếu đi do nồng độ hormone cortisol giảm đột ngột. Ngoài tác dụng gây hưng phấn, cortisol còn gây tê; do đó, trong giai đoạn giảm cortisol, những người đi nghỉ trong dịp cuối tuần có thể nhận thấy các triệu chứng về thể chất mà họ đã bỏ qua trong những ngày làm việc căng thẳng, và họ có thể phàn nàn về nhiều cơn đau nhức trong những ngày cuối tuần nhưng trong những ngày làm việc thì không bị.

Giai đoạn thứ ba là kiệt sức. Nếu căng thẳng tiếp tục không giảm, vượt quá khả năng của các cơ chế đối phó trong cơ thể, cuối cùng chúng sẽ bắt đầu đổ vỡ. Tình trạng kiệt quệ tuyến thượng thận bắt đầu xuất hiện. Hệ thống phòng vệ của cơ thể đã trở nên quá yếu, không thể chống lại tác động của căng thẳng. Hệ thống miễn dịch bị ức chế. Các cơ quan bắt đầu có những thay đổi bệnh lý do tiếp xúc lâu dài với các hormone gây căng thẳng. Nguồn năng lượng dự trữ của cơ thể bị cạn kiệt, dẫn đến bệnh tật và cuối cùng là chết.

Trong phản ứng báo động cấp tính, nhu động dạ dày tạm dừng, quá trình tiêu hóa đình trệ và lượng máu cung cấp cho niêm mạc dạ dày giảm xuống. Khi căng thẳng tiếp tục kéo dài, do sự mất cân bằng của hệ thần kinh và những thay đổi về nội tiết tố, tình trạng tăng tiết axit và sản sinh quá mức các enzyme tiêu hóa sẽ xảy ra. Các enzyme tiêu hóa và axit hydrochloric tăng cao này tác động lên lớp niêm mạc dạ dày-ruột vốn đã bị suy yếu, dẫn đến loét và tạo ra các vết loét do căng thẳng. Nếu căng thẳng tiếp tục, các vết loét có thể bị xuất huyết hoặc thủng, gây ra những thảm họa y tế. Trong các trường hợp khác, phản ứng với căng thẳng bất thường và mãn tính có thể là sự đình trệ sản sinh axit hydrochloric hoặc enzyme, dẫn đến chứng khó tiêu mãn tính và suy dinh dưỡng.

Ngoài đường tiêu hóa, hệ tim mạch cũng phản ứng với căng thẳng bằng phản ứng báo động. Khi căng thẳng trở thành mãn tính, tim, mạch máu và thận có thể bị tổn thương dẫn đến tăng huyết áp và/hoặc bệnh mạch vành. Cuối cùng, căng thẳng là nguyên nhân gây ra đột quỵ, đau tim và tăng huyết áp, tất cả đều là những nguyên nhân chính gây tử vong ở Mỹ. 

Phản ứng của hệ thống năng lượng đối với căng thẳng và kinh mạch

Cơ thể có ba hệ thống thần kinh: 1) Mạng lưới thần kinh tự chủ, chịu sự kiểm soát của tâm trí hữu thức và phân phối chủ yếu đến các cơ tự chủ; 2) hệ thống thần kinh không tự chủ hoặc hệ thống thần kinh thực vật (giao cảm và phó giao cảm), thường hoạt động theo lối vô thức và kiểm soát các cơ quan và chức năng sinh lý của cơ thể, chẳng hạn như nhịp tim, lưu lượng máu và phân phối máu, tiêu hóa và các phản ứng hóa học của cơ thể; 3) hệ thống kinh mạch, truyền năng lượng sinh học đến tất cả các cấu trúc và các cơ quan nội tạng của cơ thể. Trong y học phương Tây người ta ít biết tới hệ thống thứ ba này, nhưng y học và xã hội phương Đông đã hiểu rõ từ lâu.

Trong hệ thống kinh mạch, có một dòng chảy của các năng lượng sống (vitals energies thường gọi là Khí) xuyên suốt cơ thể vật lý thông qua một bản thiết kế năng lượng (energy blueprint) không nhìn thấy được của cơ thể. Hệ thống năng lượng này được mô tả là có 12 kênh chính nằm trên bề mặt cơ thể vật lý, chạy dọc theo 12 đường kinh mạch chính. Từ những kênh này, có nhiều nhánh dẫn vào các hệ thống cơ quan khác nhau của cơ thể. Sự phân bổ năng lượng bất thường vào các kinh mạch dẫn đến rối loạn chức năng của các cơ quan bị ảnh hưởng và cuối cùng là bệnh tật phát triển.

Năng lượng sinh học thiết yếu này chính là dòng chảy của sự sống. Nó phản ứng cực kỳ nhanh với căng thẳng. Năng lượng sinh học này phản ứng tức thì, đấy là do các yếu tố biến động trong cuộc sống của chúng ta - những thay đổi trong tri giác, suy nghĩ và cảm thọ của chúng ta. Phương pháp đo lường thông thường các phản ứng của cơ thể diễn ra tương đối chậm. Một suy nghĩ thoáng qua, có thể kèm theo nỗi đau cảm xúc, không tạo ra thay đổi có thể đo lường được trong huyết áp hoặc mạch đập của cơ thể; tuy nhiên, nó ngay lập tức được ghi nhận trong hệ thống năng lượng sinh học, nhiều thay đổi ở đây có thề được quan sát một cách nhanh chóng bằng các phương pháp khoa học, tâm linh và lâm sàng.       

Cân bằng tổng thể của hệ thống kinh mạch của cơ thể được điều chỉnh bởi hoạt động của tuyến ức. Hệ thống năng lượng sinh học liên hệ mật thiết với hệ thống miễn dịch của cơ thể thông qua tuyến ức. Căng thẳng mãn tính làm suy yếu hệ miễn dịch của cơ thể, ức chế tuyến ức và làm mất cân bằng hệ thống năng lượng sinh học. Tăng cường tuyến ức hoặc bổ sung dưỡng chất cho tuyến ức sẽ giúp cân bằng lại hệ thống năng lượng sinh học. Giải thích chi tiết về vấn đề này được trình bày trong các cuốn sách Behavioral Kinesiology (Cơ thể động học hành vi) và Life Energy (Năng lượng sống) của Tiến sĩ John Diamond. 

Các biện pháp can thiệp để giảm căng thẳng

Công trình nghiên cứu tại U.C.L.A. do Liebeskind và Shavit thực hiện trong những năm 1980 đã làm rõ hơn quan hệ giữa căng thẳng, ức chế hệ miễn dịch và phát triển của bệnh ung thư bằng cách chứng minh tác động của căng thẳng gián đoạn đối với quá trình giải phóng các chất opioids trong não, gọi là endorphin[iii]. Căng thẳng dưới dạng những cú sốc gián đoạn ức chế hệ miễn dịch. Khi phản ứng miễn dịch mạnh, endorphin trong não được giải phóng, được gọi là các tế bào “sát thủ” chống ung thư, tấn công và tiêu diệt các tế bào khối u non đang phát triển. Nhưng khi hoạt động miễn dịch bị ức chế và endorphin giảm, hoạt động của các tế bào “sát thủ” chống ung thư cũng giảm đi.

Báo cáo trên tạp chí Science (223: 188–190) nêu rõ: “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng hệ thần kinh trung ương, bằng cách điều chỉnh chức năng miễn dịch, thực hiện một số biện pháp kiểm soát quá trình khởi phát và phát triển của bệnh.” Báo cáo tiếp tục cho biết cảm thọ bất lực có liên quan đến việc giảm hoạt động của tế bào diệt ung thư và tăng trưởng khối u. Trầm cảm ở động vật cũng như con người làm giảm phản ứng miễn dịch, và cảm giác bất lực này liên quan đến mức độ kiểm soát mà người và động vật cảm thấy mình có đối với các sự kiện gây căng thẳng. Những phát hiện này giúp giải thích vì sao trầm cảm và cảm thọ bất lực lại liên quan đến ung thư. Nghiên cứu sâu hơn xác nhận rằng phản ứng căng thẳng được coi là điều kiện tiên quyết chính cho bệnh tật ở động vật và con người (Sapolsky, 2010).

Tác động tổng thể của căng thẳng lên hệ miễn dịch dẫn đến việc ngăn chặn hệ thống miễn dịch của cơ thể do sự sản sinh các tự kháng thể (autoantibodies[iv]). Nếu các tự kháng thể này bị ngăn chặn, thì chức năng miễn dịch sẽ hoạt động trở lại. Do đó, có thể đảo ngược việc ngăn chặn hệ thống miễn dịch. Ví dụ, nghiên cứu được thực hiện tại Viện Pasteur ở Paris đã giúp sản xuất loại huyết thanh gọi là Bogomoletz, khi được tiêm vào da, sẽ kích hoạt lại hệ thống miễn dịch. Phương pháp điều trị này được gọi là phương pháp IBR (Immuno-Biologic-Rejuvenation - Trẻ hóa sinh học miễn dịch). Một lượng nhỏ huyết thanh được tiêm vào da trong ba ngày liên tiếp, kết quả là kích hoạt ngay lập tức hệ thống miễn dịch.

Người ta cũng thấy việc kích hoạt các phản ứng có lợi cho sức khỏe của cơ thể trong các biện pháp can thiệp phi y tế, chẳng hạn như tương quan giữa thực hành thiền định với giảm căng thẳng và trầm cảm. Ví dụ, công trình nghiên cứu được thực hiện trên các sinh viên đại học cho thấy thiền định dẫn đến giảm phản ứng viêm do căng thẳng - liên quan đến giảm chứng trầm cảm ở các sinh viên này. Nghiên cứu cũng cho thấy những sinh viên tham gia đều đặn trong khóa huấn luyện thiền định kéo dài sáu tuần đã cải thiện được chức năng của hệ thống miễn dịch. Các sinh viên trong nhóm đối chứng, chỉ nhận được thông tin mang tính giáo dục về căng thẳng mà không được hướng dẫn kỹ thuật, có rất ít hoặc không có cải thiện về thể chất hoặc tâm lý (Pace và cộng sự, 2009).

Các công trình nghiên cứu chưa được công bố trong những năm 1980, mà tôi từng là cố vấn về mặt lâm sàng, chứng tỏ kỹ thuật nội tâm hiệu quả hơn so với các phương pháp giảm căng thẳng thuần túy y học. Các phương pháp y học như thư giãn từng bước một có tác dụng tích cực; tuy nhiên, tác dụng cải thiện nhịp tim và huyết áp sẽ lớn hơn và bền vững hơn nếu các cơ chế nội tâm được áp dụng một cách hữu thức.

Những kết quả khoa học này sẽ không làm cho những người đã học cách sử dụng các kỹ thuật nội tâm như kỹ thuật buông bỏ - buông bỏ nội tâm có thể áp dụng cho mọi tình huống – cảm thấy ngạc nhiên. Họ cho biết rằng mình có khả năng xử lý căng thẳng tốt hơn vì họ bình tĩnh hơn trong những tình huống khó khăn sau khi học cách buông bỏ những cảm thọ tiêu cực ngay khi chúng vừa sinh khởi. 

Kiểm tra cơ thể động học

Kiểm tra cơ thể động học hay kiểm tra cơ bắp là một môn học bổ ích trong việc nghiên cứu quan hệ trực tiếp giữa tâm trí và cơ thể. Quy trình kiểm tra cơ bản hiện nay khá phổ biến, nó cung cấp nhiều thông tin hữu ích mà lại dễ học. Những người chẩn đoán sử dụng phương pháp kiểm tra cơ thể động học để kiểm tra sự cân bằng của hệ thống kinh lạc, các kinh mạch và chức năng tổng thể của hệ thống năng lượng sinh học của cơ thể.

Kiểm tra cơ thể động học chủ yếu liên quan đến kiểm tra cơ bắp, vì sự sụt giảm đột ngột về năng lượng sinh học được biểu hiện bằng sự suy yếu nhanh chóng của cơ bắp. Phản ứng này có thể được gây ra bởi bất kỳ năng lượng tiêu cực nào xuất hiện trong phạm vi (vùng lân cận) của hệ thống năng lượng sinh học. Tác nhân kích thích có thể là vật lý, chẳng hạn như đường hoá học, đèn huỳnh quang, thực phẩm và vải tổng hợp, và một số nhịp điệu do các nhóm nhạc heavy metal hoặc rap tạo ra. Tuy nhiên, tác nhân kích thích đáng chú ý nhất đối với chúng ta là hiệu ứng làm suy yếu tức thì của một suy nghĩ hoặc cảm thọ tiêu cực. Suy nghĩ hoặc cảm thọ tiêu cực ngay lập tức làm suy yếu cơ thể và tạo ra mất cân bằng trong dòng chảy năng lượng của cơ thể.

Vì phương pháp kiểm tra cơ bắp này minh họa một cách tuyệt vời và sinh động liên hệ giữa tâm trí và cơ thể, nên việc tìm hiểu quy trình và trải nghiệm nó theo lối cá nhân là rất có giá trị; do đó, chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết về quy trình kiểm tra - cực kỳ đơn giản và chỉ cần hai người. Quan trọng cần lưu ý là cả người kiểm tra và người được kiểm tra đều phải có tầng tâm thức trên Can đảm (điểm chỉnh 200) để có phản hồi chính xác từ quy trình kiểm tra (xem Phụ lục B); nghĩa là, những người tận tâm với sự thật sẽ biết sự thật. 

Kỹ thuật kiểm tra cơ thể động học

Người được kiểm tra đứng thẳng, một tay duỗi thẳng sang bên và giơ lên ​​ngang vai. Người thứ hai đóng vai người kiểm tra. Người kiểm tra dùng hai ngón tay ấn nhanh trong vài giây vào phía sau cổ tay của người được kiểm tra để cảm nhận sức mạnh của cơ bắp. Đồng thời khi ấn xuống, người kiểm tra còn yêu cầu người được kiểm tra chống lại bằng toàn bộ sức lực của mình. Quan trọng là người kiểm tra không cười với người được kiểm tra, và không nói chuyện hay nghe nhạc. Tốt nhất là để người được kiểm tra nhìn vào vật trung tính như một bức tường trống hoặc nhắm mắt lại. Sau vài lần thử, người kiểm tra sẽ cảm nhận được sức mạnh cơ bắp của người được kiểm tra.

Để minh họa, chỉ cần yêu cầu người được kiểm tra nghĩ về một tình huống khó chịu về mặt cảm xúc hoặc nhớ đến người mà mình cảm thấy khó chịu. Trong khi người được kiểm tra lưu giữ suy nghĩ khó chịu ở trong đầu, người kiểm tra ấn xuống trong vài giây để kiểm tra sức mạnh của cánh tay người được kiểm tra, cánh tay vẫn đang được giữ thẳng nằm ngang. Đồng thời, người được kiểm tra chống cự với toàn bộ sức lực. Sẽ nhận thấy sự suy yếu đột ngột của cơ delta; khi kiểm tra, sẽ cho thấy mất đi khoảng 50% sức mạnh cơ bắp.

Bây giờ hãy yêu cầu người được kiểm tra nghĩ về người mà anh ta yêu thương và kiểm tra lại. Anh ta sẽ sẽ trở nên mạnh mẽ ngay lập tức. Đây là hiện tượng rất ấn tượng và vô cùng quý giá. Việc kiểm tra có thể được lặp lại với nhiều thứ tiêu cực khác nhau được người được kiểm tra cầm ở tay kia, ở trong miệng, hoặc đặt trên đỉnh đầu hoặc vùng rối dương. Để làm như thế, yêu cầu người được kiểm tra nhìn vào đèn huỳnh quang hoặc quảng cáo trên truyền hình trong khi kiểm tra, hoặc kiểm tra sự khác biệt giữa tác động của nhạc cổ điển so với nhạc heavy metal hoặc nhạc rap; bánh mì tự làm so với bánh mì làm bằng máy; đường so với mật ong; vải tổng hợp so với vải bông, len hoặc lụa; đồ ăn vặt so với thực phẩm hữu cơ tốt cho sức khỏe; vitamin C tổng hợp so với vitamin C hữu cơ từ quả tầm xuân. Có thể thực hiện thêm các xét nghiệm để kiểm tra phản ứng của từng cá nhân với nước ngọt dùng cho ăn kiêng, thuốc lá, xà phòng, thức ăn yêu thích và các vật dụng khác mà chúng ta thường xuyên tiếp xúc.

Khi kiểm tra các vật dụng khác nhau và tác động của suy nghĩ và cảm xúc, sẽ nhanh chóng nhận thấy rõ rằng mọi thứ trong vũ trụ đều có rung động và rung động đó có tác dụng làm cho người ta mạnh lên hoặc yếu đi. Ví dụ, để chứng minh tác dụng làm yếu đi của thực phẩm mang năng lượng tiêu cực như đường hoá học, không cần thiết phải cho thức ăn vào miệng. Nó sẽ làm người ta yếu đi nếu đặt trên tay kia hoặc trên đỉnh đầu.

Khi sử dụng cơ chế buông bỏ và giải phóng cảm thọ tiêu cực, kiểm tra cơ bắp mà chúng ta đã mô tả sẽ thay đổi từ yếu sang mạnh. Khi những suy nghĩ hoặc hệ thống niềm tin tiêu cực được buông bỏ, chúng không còn sức mạnh để làm cạn kiệt năng lượng của chúng ta nữa.

Đây là quy luật cơ bản của tâm thức: Chúng ta chỉ bị chi phối bởi những gì chúng ta lưu giữ  trong tâm trí. Cơ thể sẽ phản ứng với những gì chúng ta tin tưởng. Nếu chúng ta tin rằng một chất nào đó có hại cho mình, thì thường cơ thể sẽ phản ứng yếu khi kiểm tra bằng phương pháp kiểm tra cơ bắp. Cùng một chất đó lại có thể làm cho người khác - tin rằng nó tốt cho họ - trở thành mạnh mẽ. Do đó, những thứ làm cho chúng ta căng thẳng chủ yếu mang tính chủ quan. Phương pháp kiểm tra cơ bắp phản hồi với các hệ thống niềm tin, cả vô thức lẫn hữu thức. Quá trình kiểm tra thường tiết lộ rằng, một người vô thức cảm nhận hoặc tin tưởng điều ngược lại với những gì họ nghĩ rằng họ tin tưởng một cách có ý thức. Ví dụ, một người có thể tin một cách hữu thức rằng họ muốn được chữa lành, nhưng trong vô thức lại đang bám chấp vào những phần thưởng của bệnh tật. Một bài kiểm tra cơ đơn giản sẽ tiết lộ sự thật của vấn đề. 

Liên hệ giữa tâm thức, căng thẳng và bệnh tật

Như chúng ta đã thấy, khả năng dễ bị căng thẳng và khả năng dễ bị tổn thương có liên quan trực tiếp đến hoạt động cảm xúc chung của chúng ta. Càng ở vị trí cao hơn trên thang đo tâm thức, chúng ta càng ít đáp trả bằng những phản ứng căng thẳng. Có thể lấy một tình huống đơn giản trong cuộc sống hàng ngày để minh họa sự khác biệt trong phản ứng.

Ví dụ, vừa đỗ xe và ngay khi vừa bước ra, chiếc xe phía trước lùi vào xe chúng ta cùng với tiếng động mạnh. Cản trước và phần trước của chắn bùn xe của ta bị móp. Đây là điều mà các tầng tâm thức khác nhau có thể nói:

Nhục nhã: “Thật xấu hổ. Mình lái xe tệ quá. Mình thậm chí không biết đỗ xe. Mình sẽ chẳng bao giờ làm nên trò trống gì.”

Mặc cảm tội lỗi: “Mình đáng bị như vậy. Mình thật ngu ngốc! Mình đáng lẽ phải đỗ xe cẩn thận hơn.”

Thờ ơ: “Có ích gì chứ? Chuyện như thế này lúc nào cũng xảy ra với mình. Chắc chắn mình cũng sẽ không được bảo hiểm bồi thường đâu. Nói chuyện với gã đó cũng chẳng ích gì. Hắn ta sẽ kiện mình mất thôi. Cuộc đời thật tệ hại.”

U sầu: “Giờ thì xe hỏng rồi. Sẽ không bao giờ sửa được như cũ nữa. Cuộc đời thật đáng nản. Chắc chắn sẽ mất một khoản tiền lớn vì chuyện này.”

Sợ hãi: “Thằng đó chắc đang rất tức giận. Có lẽ hắn ta sẽ đánh mình. Mình sợ phải cãi nhau với hắn ta. Chắc hắn ta sẽ kiện. Chắc là mình sẽ không bao giờ sửa được xe nữa. Thợ sửa xe lúc nào cũng chặt chém. Công ty bảo hiểm chắc sẽ thoát, và mình sẽ là người gánh chịu hậu quả.”

Ham muốn: “Có thể kiếm được một khoản lớn từ vụ này. Mình nghĩ sẽ ôm cổ và giả vờ bị chấn thương ở cổ. Anh rể mình là luật sư. Chúng ta sẽ kiện cho đến khi thằng ngốc này cháy túi. Mình sẽ được khoản bồi thường cao nhất và sửa chữa ở chỗ rẻ hơn.”

Tức giận: “Thằng ngu! Mình sẽ dạy cho hắn một bài học. Hắn đáng bị đấm vào mũi. Mình sẽ kiện cho đến khi hắn cháy túi và làm cho hắn phải chịu đau khổ. Máu mình đang sôi lên đây. Mình run lên vì tức giận. Mình có thể giết chết thằng khốn nạn này!”

Kiêu hãnh: “Nhìn đường mà đi chứ, đồ ngốc! Trời ơi! Thế giới này đầy rẫy những thằng ngốc vụng về! Sao hắn dám làm hỏng chiếc xe mới của mình! Hắn nghĩ hắn là ai chứ? Chắc hắn mua bảo hiểm rẻ tiền; lạy Chúa, bảo hiểm của mình là cao nhất.”

Can đảm: “Ồ, thôi được rồi, cả hai chúng ta đều có bảo hiểm. Mình sẽ ghi lại số xe và xử lý ổn thỏa thôi. Chỉ phiền chút thôi, nhưng mình có thể xử lý được. Mình sẽ nói chuyện với người lái xe và giải quyết bên ngoài tòa án.”

Trung dung: “Những chuyện như thế này vẫn thường xảy ra. Không thể lái xe 20.000 dặm một năm mà không thỉnh thoảng gặp phải va chạm nhỏ.”

Sẵn sàng: “Làm sao mình có thể giúp anh ta bình tĩnh? Anh ta không cần phải cảm thấy khó chịu về chuyện này. Chúng ta chỉ cần trao đổi thông tin bảo hiểm là được và làm lành với nhau.”

Chấp nhận: “May là không việc gì. Ít nhất thì không có ai bị thương. Chỉ mất tiền thôi. Công ty bảo hiểm sẽ lo. Mình nghĩ rằng anh ta khó chịu. Đương nhiên rồi. Không thể tránh khỏi. Lạy Chúa, vì mình không phải là người điều hành vũ trụ này. Chỉ phiền chút thôi.”

Lý trí: “Thực tế một chút đi. Mình muốn giải quyết vấn đề này càng nhanh càng tốt để có thể tiếp tục công việc. Biện pháp hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề của chúng ta là gì?”

Yêu thương: “Hy vọng anh ta không cảm thấy khó chịu. Mình sẽ trấn an anh ta. (Nói với người lái xe kia), ‘Bình tĩnh đi. Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Cả hai chúng ta đều có bảo hiểm. Tôi hiểu mà. Chuyện tương tự cũng từng xảy ra với tôi. Chỉ là một vết lõm nhỏ và chúng ta sẽ sửa xong ngay trong ngày hôm nay thôi. Đừng lo lắng – chúng ta sẽ không báo cáo nếu anh không muốn. Chúng ta có thể khấu trừ khoản đó và tránh tăng phí bảo hiểm. Không có gì phải khó chịu hết.’” (Trấn an người lái xe đang khó chịu, đặt tay lên vai anh ta như một sự đồng cảm.)

An bình: “Vâng, may quá! Tôi cũng định sửa tiếng kêu lạch cạch ở cản trước, còn cái chắn bùn đã bị lõm một chút rồi. Vậy là giờ tôi sẽ được sửa miễn phí. ‘Này, anh có phải là anh rể của George không? Anh chính là người tôi muốn gặp. Tôi có một số thứ cần giúp đỡ.’” “Một cơ hội kinh doanh tuyệt vời mà tôi nghĩ anh có thể đảm nhiệm giúp tôi. Cả hai chúng ta sẽ cùng có lợi. Anh trông có vẻ là người phù hợp để nghiên cứu vấn đề này cho chúng tôi. Uống cà phê và bàn bạc thêm nhé? Nhân tiện, đây là thẻ bảo hiểm của tôi. Này, cùng công ty với anh đấy. Thật là trùng hợp. Mọi chuyện đang diễn ra tốt đẹp. Không vấn đề gì.” (Vừa đi vừa nói với người bạn mới, không còn ai nghĩ tới vụ tai nạn nữa.)

Những phản ứng bên trên minh họa cho những gì chúng ta đã nói. Chính chúng ta tự tạo ra phản ứng căng thẳng, đấy là kết quả của những thứ chúng ta đang kìm nén ở bên trong. Những cảm thọ bị kìm nén quyết định hệ thống niềm tin và tri giác của chúng ta về chính mình và người khác. Đến lượt mình, chúng tạo ra các sự kiện và biến cố trên thế giới - mà sau đó chúng ta lại đổ lỗi cho những phản ứng của mình. Đây là hệ thống vọng tưởng tự củng cố chính nó. Đây là cái mà các giác giả ngụ ý khi nói: “Tất cả chúng ta đều đang sống trong vọng tưởng.” Tất cả những gì chúng ta trải nghiệm đều là những suy nghĩ, cảm thọ và niềm tin của chính chúng ta được phóng chiếu lên thế gian, chúng là nguyên nhân thực sự tạo ra những sự kiện mà chúng ta thấy.

Hầu hết mọi người, một lúc nào đó, đều đã trải nghiệm tất cả các tầng tâm thức khác nhau, nhưng nói chung, chúng ta có xu hướng hoạt động chủ yếu ở một tầng nào đó trong một giai đoạn khá dài. Hầu hết mọi người đều bận bịu với việc sinh tồn dưới tất cả những hình thức tinh tế của nó, và vì vậy họ chủ yếu thể hiện sợ hãi, tức giận và ham muốn tranh giành lợi ích. Họ chưa học được rằng yêu thương là công cụ sinh tồn mạnh mẽ nhất.

Thú vị là, như chúng tôi đã nói trong một chương trước, nuôi một con chó cưng có thể kéo dài tuổi thọ thêm 10 năm. Yêu thương, trìu mến, chăm sóc một sinh linh khác và bầu bạn với chú chó cưng làm giảm bớt những tác động tiêu cực của căng thẳng. Tình yêu kích thích endorphin và năng lượng sống, chữa lành cho cuộc sống dễ bị căng thẳng.

 



[i] Cortisol - hormone căng thẳng được tiết ra bởi tuyến thượng thận. Cơ chế vận hành: Cortisol tăng vọt khi Tâm thức rơi vào trạng thái kháng cự, sợ hãi, hoặc nỗ lực tiêu cực. Căng thẳng mãn tính giữ nồng độ Cortisol ở mức cao, làm suy giảm hệ miễn dịch, tiêu hao năng lượng và làm mờ mịt tri giác. Hóa giải: Khi thực hành phó thác, buông bỏ áp lực nội tâm, trạng thái căng thẳng tiêu tan, nồng độ Cortisol tự động cân bằng trở lại, giúp phục hồi sinh lực tự nhiên mà không cần đến các nỗ lực cưỡng ép bên ngoài.

[ii] Adrenalin là hormone và chất dẫn truyền thần kinh được tiết ra bởi tủy tuyến thượng thận, đóng vai trò cốt lõi trong phản ứng “chiến đấu hoặc bỏ chạy”. Cơ chế vận hành: Adrenalin tăng vọt khi Tâm thức rơi vào các tầng năng lượng thấp mang tính kháng cự như sợ hãi, giận dữ, căng thẳng hoặc các nỗ lực tiêu cực. Nó kích hoạt trạng thái báo động toàn thân (nhịp tim tăng, mạch máu co lại, cơ bắp gồng lên), tiêu tốn một lượng sinh lực khổng lồ và làm tri giác bị thu hẹp vào mục tiêu tự vệ ngắn hạn. Hóa giải: Thông qua việc thực hành phó thác và buông bỏ, Tâm thức thoát khỏi trạng thái tự vệ. Khi áp lực nội tâm biến mất, việc tiết Adrenalin được đình chỉ, cơ thể tự động chuyển sang trạng thái cân bằng và phục hồi sinh lực tự nhiên mà không cần đến các nỗ lực cưỡng ép bên ngoài.

[iii] Endorphin là chất dẫn truyền thần kinh nhóm opioid nội sinh, được sản sinh bởi hệ thần kinh trung ương và tuyến yên, đóng vai trò như một chất giảm đau và kiến tạo trạng thái an lạc tự nhiên của cơ thể. Cơ chế vận hành: Khác với Adrenalin hay Cortisol vốn bùng phát trong trạng thái kháng cự, Endorphin được giải phóng khi Tâm thức đạt đến hòa hợp, bao dung, hoặc sau khi vượt qua một áp lực lớn mà không có phản kháng. Nó làm dịu các cơn đau vật lý, xoa dịu tâm trí và mang lại cảm giác hân hoan, thư thái sâu sắc. Hóa giải và Nuôi dưỡng: Bằng cách thực hành phó thác, buông bỏ các cảm thọ tiêu cực, các rào cản căng thẳng bị dỡ bỏ. Khi áp lực nội tâm không còn, cơ thể tự động giải phóng Endorphin một cách tự nhiên, giúp phục hồi sinh lực, mang lại trạng thái tự tại và an lành mà không cần kích thích từ các yếu tố cưỡng ép bên ngoài.