July 13, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (18)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 17 

CHUYỂN HOÁ

       Mặc dù buông bỏ dường như là đơn giản và dễ dàng, nhưng ảnh hưởng cuối cùng của nó lại vô cùng mạnh mẽ. Một sự buông bỏ nhỏ bé, nhanh chóng, được thực hiện một cách gần như tình cờ, đôi khi có thể mang lại thay đổi lớn trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta có thể hình dung nó như bánh lái của một con tàu. Chỉ cần thay đổi một độ trên la bàn của con tàu, chúng ta thấy rất ít khác biệt; nhưng, khi con tàu đi trên biển hết giờ này qua giờ khác, hết ngày này qua ngày khác, thay đổi một độ trên la bàn cuối cùng sẽ đưa chúng ta đến một nơi khác hẳn, cách xa nhiều dặm so với hướng đi ban đầu.

Trong chương này, chúng ta muốn xem xét ảnh hưởng của cơ chế buông bỏ đối với những lĩnh vực trong cuộc sống mà hầu hết mọi người đều quan tâm: sức khỏe, của cải và hạnh phúc. Chúng ta sẽ thảo luận về những lĩnh vực này như chúng thường được đa số người trải nghiệm, và so sánh với những thay đổi khi thực hành buông bỏ ngày càng tiến triển thêm. Thay đổi là khá rõ ràng nếu quan sát cuộc sống của những người sử dụng kỹ thuật này. Thay đổi cũng sẽ rõ ràng trong cuộc sống của chính bạn. Đôi khi bạn sẽ không nhận thức được; do đó, bạn nên lập một danh sách mục tiêu và đánh dấu những thành quả đạt được, để bạn luôn luôn ý thức và nhận biết được tiến bộ. Bước tự nhận thức này là để khắc phục một trong những đặc điểm kỳ lạ của tâm trí. Nếu chúng ta quyết định áp dụng một kỹ thuật cụ thể nào đó nhằm cải thiện cuộc sống của mình, nhưng khi cải thiện xảy ra, tâm trí lại có xu hướng kỳ lạ là coi thường chính kỹ thuật đã tạo ra thay đổi đó. Dường như bản ngã của tâm trí kiêu ngạo đến mức không muốn ghi nhận công lao xứng đáng.

Xu hướng coi thường tiến bộ nội tại này đôi khi khá buồn cười. Ví dụ, một người đàn ông đã mắc kẹt trong cùng một vị trí công việc trong 23 năm bắt đầu sử dụng kỹ thuật buông bỏ. Chỉ trong vài tháng, ông đột nhiên thăng tiến lên vị trí Phó Chủ tịch và đến cuối năm, ông đã trở thành Chủ tịch công ty. Khi được hỏi liệu ông ta có hài lòng với mình về những gì mình đã đạt được nhờ sử dụng kỹ thuật nội tâm hay không, tâm trí ông ta hoàn toàn phủ nhận điều đó và cho rằng những thành quả đạt được là do “sự thay đổi trong mô thức kinh doanh”. Hôn nhân của ông ta cũng được cải thiện, và một lần nữa, tâm trí lại cho rằng những cải thiện đó là do các lý do bên ngoài: “Thái độ của vợ tôi cuối cùng đã thay đổi”. Quan hệ với con trai cũng được cải thiện, và tâm trí lại một lần nữa bỏ qua chuyển hoá nội tâm và nói rằng đó là do con trai ông ta “đang trưởng thành”.

Trong những cuộc thảo luận tiếp theo, cần lưu ý rằng chuyển từ trạng thái này sang trạng thái cao hơn không phải là khó. Chúng chỉ có vẻ “khó” đối với chúng ta vì những tri giác trong hiện tại. Quan trọng cần ghi nhớ là, khi buông bỏ, tri giác của chúng ta sẽ thay đổi. Mục tiêu của chúng ta sẽ tự động được nâng lên. Cái mà lúc này dường như là bất khả thi, sẽ trở thành quá đỗi bình thường sau khi ta thực hành kỹ thuật này một thời gian.

Chúng ta cũng sẽ nhận thấy rằng, khi tâm trí so sánh đời sống ở tầng thấp hơn với đời sống ở tầng cao hơn, đôi khi sẽ xuất hiện kháng cự kỳ cục với việc mô tả tầng hoạt động cao hơn. Tâm trí sẽ trở nên phê phán và cố gắng giữ thể diện bằng cách chế giễu trạng thái cao hơn. Đây là một cơ hội vàng, vì chính thái độ này ngăn cản người đó vươn tới trạng thái cao hơn của đời sống. Đọc cuốn sách này là công việc vô cùng quý giá, vì nó sẽ tiết lộ chính xác rào cản là gì và vì sao những mục tiêu này lại không khả thi vào lúc đó. Khi kháng cự, chỉ trích và coi thường xuất hiện, chúng ta có thể bắt đầu buông bỏ và để chúng đi qua ngay trong quá trình đọc về chúng. Đây là một cơ hội tuyệt vời để xác định những rào cản bên trong, không cho chúng ta đạt được viên mãn. Đúng như Pogo[i] đã nói: “Chúng ta đã nhận diện được kẻ thù, và kẻ đó chẳng phải ai khác ngoài chính ta”.

Là nhà trị liệu tâm lý và bác sĩ tâm thần chuyên nghiệp với nhiều chục năm kinh nghiệm lâm sàng và đào tạo, hầu hết mọi người đều coi những tầng hoạt động cao hơn này là bất khả thi. Tuy nhiên, việc học cách thức hoạt động của cơ chế buông bỏ ở tầng thực tiễn và chứng kiến ​​hàng trăm gia đình, bạn bè, bệnh nhân và cựu bệnh nhân thay đổi cuộc sống của họ đã hoàn toàn thay đổi quan điểm này. Giờ đây, những tầng hoạt động cao hơn được coi là tự động, dễ đạt được và dành cho tất cả mọi người, thường diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn đáng ngạc nhiên. Trên thực tế, một số tầng thành công và hạnh phúc dường như là bất khả thi, nhưng tầng cao hơn sẽ đã xảy ra ngay khi bạn đọc xong cuốn sách này. Bạn có thể tự nhủ ngay từ đầu rằng những tầng hoạt động cao này không chỉ khả thi mà còn là quyền bẩm sinh. Đó là trạng thái tự nhiên vốn có mà bạn đã bị tước mất bởi tất cả các chương trình mà tâm trí phải tiếp nhận ngay từ lúc chào đời.

Trước khi đọc tiếp, bạn nên ngồi im và đưa ra quyết định nội tâm: buông bỏ việc chống lại những tầng hoạt động cao hơn. Có nghĩa là quyết định ngừng phủ nhận những tầng cao hơn đối với chính mình, và quyết định buông bỏ mọi rào cản đối với hạnh phúc, thành công, sức khỏe, chấp nhận, yêu thương và an bình. Bằng cách làm như thế, công việc đã hoàn thành, vì bạn đã đặt toàn bộ trải nghiệm vào bối cảnh mà nó sẽ tự động bắt đầu diễn ra.

 

Sức khoẻ

Người bình thường luôn luôn quan tâm tới cơ thể, chức năng, hiệu suất, ngoại hình và sự sống còn của nó. Tâm trí người bình thường nằm trong vòng vây của những lo lắng, sợ hãi về bệnh tật, đau khổ, dịch bệnh và chết; do đó, tâm trí tìm cách bảo vệ cơ thể bằng nhiều cách khác nhau. Điều này dẫn đến việc quá chú trọng tới chế độ ăn uống, cân nặng, tập thể dục và sức khỏe của môi trường. Với sự căng thẳng bên trong như thế, đến cuối ngày, người bình thường thường cảm thấy mình là nạn nhân: kiệt sức, trống rỗng và mệt mỏi.

Một trong những hậu quả của việc quan tâm quá mức đến cơ thể chính là trạng thái mặc cảm tự ti. Trong phạm vi trường nhận thức, sự hiện diện của cơ thể rất nổi bật, và có sự ám ảnh về mặt tâm trí với những việc nó đang làm, vị trí và chuyển động của nó, sự sống còn của nó, thái độ và sự chấp thuận của người khác đối với cơ thể, ngoại hình và hành vi của nó.

Ẩn sâu dưới tất cả những quan tâm này là đánh đồng trong vô thức: “Tôi là cơ thể”. Đây là tầng tâm thức rất hạn hẹp. Thực tế, trong giới tâm linh, điều này được gọi là trạng thái “vô minh”. Vì đó là nhận diện sai lầm, do nhận thức bị thu hẹp đáng kể, giống như đeo một cái băng bịt mắt. Nó tương tự như việc có một cái mụn trên mũi rồi tưởng rằng cả thế giới này đang xoay quanh cái mụn đó, và ta đi suốt cả ngày với suy nghĩ về cái mụn luôn nằm trong tâm trí.

Hãy tỉnh thức trước mức độ hao tổn năng lượng gây ra bởi sự chấp nhất không ngừng nghỉ vào cơ thể. Tâm trí của chúng ta liên tục được lập trình với vô số hệ thống niềm tin khác nhau về cơ thể: nó cần gì, cái gì tốt cho nó, và vô số điểm yếu của nó. Điều này dẫn đến ám ảnh liên tục với tất cả các loại biện pháp phòng ngừa, trong đó có các trào lưu thực phẩm tốt cho sức khỏe, đọc nhãn mác không ngừng nghỉ để tìm kiếm những thành phần có khả năng gây độc, sợ hãi khi ở gần người hút thuốc lá, sợ bụi và phấn hoa và tất cả các chất gây ô nhiễm được cho là có trong môi trường. Có ám ảnh về việc bù đắp tất cả những “nguy hiểm” này bằng nhiều biện pháp đối phó khác nhau.

Như chúng ta đã thấy từ những thảo luận bên trên, những điểm yếu này chỉ đơn thuần là sản phẩm của tâm trí, và cơ thể sẽ phản ứng trước những gì được lưu giữ trong tâm trí. Điều này đã được chứng minh trong cuộc thảo luận của chúng ta về đa nhân cách: cơ thể phản ánh trong từng khoảnh khắc những gì nhân cách và tâm trí cụ thể đó tin tưởng.

Khi chúng ta bắt đầu buông bỏ tất cả những nỗi sợ hãi này, loại bỏ các hệ thống niềm tin và khẳng định lại rằng Đại Ngã đích thực của chúng ta là Vô hạn và không bị giới hạn, chúng ta sẽ tiến đến trạng thái sức khỏe, hạnh phúc và năng lượng sống cao hơn. Một cách hữu hiệu để tự nhắc nhở mình là: “Tôi là Hữu thể Vô hạn, không chịu sự chi phối của ____________.” và điền vào chỗ trống bất kỳ căn bệnh hay tác nhân nào mà tâm trí đã bị lập trình, coi đó là “nguy hiểm” tiềm tàng đối với mình.

Sau khi buông bỏ vô vàn sợ hãi, lo lắng và hệ thống niềm tin về cơ thể, các bệnh tật về thể chất cũng bắt đầu tự biến mất. Cảm thọ sống động và tự do tăng lên. Trong trạng thái hoàn toàn buông bỏ, người ta hầu như không nhận thức được cơ thể. Nó chỉ hiện diện một cách mơ hồ trong nhận thức, và không còn bận tâm nào về nó nữa. Nó hoạt động một cách dễ dàng, trơn tru và mà không cần chú ý nhiều.

Người đã buông bỏ những hệ thống niềm tin hạn chế có thể ăn bất cứ thứ gì; có thể đi bất cứ đâu; và không còn bị chi phối bởi sợ hãi các chất gây ô nhiễm, chất độc hại, gió lùa, vi trùng, tần số điện từ, thảm, khói, bụi, lông thú, cây thường xuân độc, phấn hoa, phẩm màu thực phẩm, v.v.[ii] Tri giác của chúng ta về cơ thể thay đổi, và giờ đây nó dường như giống như một con rối hoặc một con thú cưng. Tri giác chuyền từ “Tôi là cơ thể này” thành “Tôi có cơ thể này”.

Ngày càng rõ ràng rằng cơ thể không tự trải nghiệm chính nó. Ngược lại, chính tâm trí đang trải nghiệm cơ thể. Không có tâm trí, thì không thể tri giác được thân thể. Cánh tay không thể trải nghiệm được cánh tay là cánh tay. Chỉ có tâm trí mới có thể trải nghiệm được cánh tay là cánh tay. Đây chính là cơ sở của gây mê. Khi tâm trí ngủ, cơ thể không có cảm giác. Dần dần, chúng ta nhận ra rằng, thực tế là, cơ thể không hề có cảm giác; chỉ có tâm trí mới có khả năng thực hiện chức năng này.

Đây là một sự chuyển đổi tâm thức cực kì quan trọng, vì giờ đây, không còn bận tâm về cơ thể và việc bảo vệ nó nữa. Trọng tâm chú ý giờ đây chuyển sang tâm trí, vốn có sức mạnh lớn hơn. Khi thay đổi suy nghĩ, cảm thọ và tri giác của mình, chúng ta bắt đầu nhận thấy rằng cơ thể cũng thay đổi theo. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng mọi người thực sự không phản ứng với cơ thể của chúng ta mà là với thái độ bên trong, phản ứng với trạng thái năng lượng bên trong và với tầng tỉnh thức của chúng ta. Một ngày nào đó, chúng ta nhận ra rằng mọi người và mọi thứ trên thế gian thực sự đang phản ứng với tầng tâm thức, với ý định và cảm xúc bên trong mà chúng ta dành cho họ. Chúng ta cảm nhận được sức hút của những người thánh thiện như Mẹ Teresa, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Mahatma Gandhi. Chúng ta thấy rằng họ được mọi người yêu mến không phải vì ngoại hình, vốn thường không tạo được ấn tượng, mà vì sự rạng rỡ bên trong của yêu thương và an bình mà họ tỏa ra. Sự chuyển hướng tập trung từ tầng vật chất sang tầng tâm thức mang lại kết quả nhanh chóng.

Liên tục buông bỏ những cảm thọ và thái độ tiêu cực đồng nghĩa với việc mặc cảm tội lỗi liên quan với những cảm thọ này cũng liên tục được giải tỏa. Tâm thức không bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi thường không còn thu hút bệnh tật nữa. Trong vô thức, mặc cảm tội lỗi đòi hỏi trừng phạt và bệnh tật, cùng với đau đớn và khổ sở đi kèm, như là phương tiện tự trả thù thường xuyên nhất của tâm trí. Những hành động tự trả thù này có thể biểu hiện dưới dạng một tai nạn, một cơn cảm lạnh, bệnh cúm, viêm khớp, hoặc bất kỳ bệnh tật nào khác mà tâm trí tự tạo ra. Truyền hình và truyền thông đưa tin lại làm cho những căn bệnh này bùng phát thành dịch. Khi một nhân vật nổi tiếng chia sẻ với công chúng về một căn bệnh nghiêm trọng nào đó, tỷ lệ mắc bệnh đó đột ngột tăng vọt. Vô thức nắm lấy một căn bệnh và sử dụng nó để giải quyết ân oán. Cùng với việc liên tục buông bỏ mặc cảm tội lỗi ở bên trong, ngày càng có ít vấn đề cần được giải quyết hơn. Do đó, một người không có thái độ tiêu cực và không có mặc cảm tội lỗi thường không bị bệnh và không bị đau khổ.

Quá trình hồi phục có thể rất ngoạn mục. Ví dụ, bà là chủ một cơ sở xuất bản tạp chí rơi vào tình trạng vô vọng vì bệnh đa xơ cứng giai đoạn cuối. Giới y học đã làm tất cả những gì có thể và coi bà là trường hợp không thể chữa được. Đúng lúc đó, bà đã tìm được kỹ thuật giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi bằng cách nghiên cứu Sách bài tập của Khóa học về những điều kì diệu. Bằng cách thực hành khóa học tại nhà, trong đó có suy ngẫm kĩ lưỡng mỗi ngày một bài học ngắn trong suốt 365 ngày, bà bắt đầu xóa bỏ tất cả những mặc cảm tội lỗi và oán hận thông qua cơ chế tha thứ. Bằng cách liên tục tha thứ và xóa bỏ những cảm thọ tiêu cực, và do đó xóa bỏ mặc cảm tội lỗi bên trong, bệnh đa xơ cứng đã tự khỏi Tính đến thời điểm chấp bút cuốn sách này, bà đã hồi phục được nhiều năm rồi và đang có sức khỏe rất tốt, và cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống của mình.

Nói chung, sức khỏe và hạnh phúc là hệ quả tự nhiên của buông bỏ mặc cảm tội lỗi và những tiêu cực khác, cũng như buông bỏ kháng cự của chúng ta đối với những trạng thái tích cực của sức khỏe và hạnh phúc. Thông qua cơ chế buông bỏ, toàn bộ các loại bệnh tật có thể được giải quyết và trở thành người khỏe mạnh.

Như đã nói bên trên, có thể có những trường hợp hiếm hoi mà bệnh tật hoặc suy nhược tiếp tục không thuyên giảm, đấy là do những yếu tố chưa được biết tới, ví dụ như nghiệp lực. Buông bỏ liên tục mang lại chữa lành ở tầng nội tâm, vì vậy, ngay cả khi cơ thể dường như bị hạn chế và người khác có thể coi đó là “bi kịch”, thì người đó vẫn bình an và tỏa ra một trạng thái hạnh phúc nội tâm, giúp nâng đỡ những người khác. Bằng cách buông bỏ ở những tầng sâu, những người như thế đã buông bỏ than thân trách phận, mặc cảm tội lỗi và kháng cự trước những hoàn cảnh của cuộc đời. Họ đã siêu việt quan điểm cho rằng bệnh tật là rào cản đối với hạnh phúc cá nhân và coi đó như là phương tiện mang lại phước lành cho người khác. Trong những năm gần đây, những ví dụ công khai về hiện tượng này bao gồm cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người đã tiếp cận căn bệnh Parkinson dai dẳng của mình như là cơ hội về mặt tâm linh để gánh vác hoặc ở bên cạnh đau khổ này của những người khác.

 

Của cải

Đây là một chủ đề quan trọng, không chỉ vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của chúng ta, mà còn vì nó nhanh chóng và dễ dàng bộc lộ cảm thọ, suy nghĩ và thái độ của chúng ta về tiền bạc. Đối với tâm trí, có những hệ thống niềm tin hạn chế và những suy nghĩ, cảm thọ tiêu cực, tiền bạc là “vấn đề”. Nó là nguồn gốc của lo lắng và bất an, tuyệt vọng và chán nản vô tận, hoặc là phù phiếm, kiêu căng, ngạo mạn, thiếu khoan dung với người khác, ghen tị và đố kỵ. Ở mức độ tồi tệ nhất, kết quả cuối cùng của tất cả những tiêu cực này là cảm thọ rằng mình bị hạn chế, thiếu thốn và thiệt thòi về tài chính. Trong lĩnh vực này, cảm thọ “Tôi không thể” là do sợ hãi và hạn chế thường được né tránh bằng cách đơn giản là tránh né toàn bộ vấn đề tiền bạc và chấp nhận địa vị kinh tế xã hội thấp như là sự kiện “không thể tránh khỏi”.

Vô thức mang tới cho chúng ta những gì nó nghĩ là chúng ta xứng đáng. Nếu quan điểm của chúng ta về chính mình là nhỏ bé, hạn chế và keo kiệt—do mặc cảm tội lỗi đã tích lũy—thì vô thức sẽ đưa những điều kiện kinh tế như thế vào cuộc đời của chúng ta. Thái độ của chúng ta đối với tiền bạc có thể được khám phá khi chúng ta xem xét những ý nghĩa khác nhau của nó. Ví dụ, chúng ta thấy mức độ đại diện của nó cho an toàn, quyền lực, sự hào nhoáng, hấp dẫn giới tính, cạnh tranh thành công, thái độ tự trọng và giá trị của chúng ta đối với người khác và thế giới.

Sẽ rất hữu ích nếu bạn ngồi xuống với một cái bút chì và một tờ giấy và, dưới tiêu đề “Tiền bạc”, bạn bắt đầu phác thảo những ý nghĩa thực sự của nó trong tất cả các khía cạnh khác nhau của cuộc đời. Sau đó, hãy viết ra những cảm thọ liên quan đến từng lĩnh vực và bắt đầu từ bỏ từng cảm thọ và thái độ tiêu cực. Khi làm như thế, chúng ta sẽ có khám phá đáng ngạc nhiên rằng bản thân tiền bạc không phải là vấn đề cơ bản nhất. Quan trọng hơn cả tiền bạc là những thỏa mãn về mặt cảm xúc mà chúng ta hy vọng sẽ nhận được khi sử dụng số tiền đó.

Giả sử rằng, đằng sau mong muốn về tiền bạc, chúng ta phát hiện ra rằng một trong những mục tiêu của chúng ta là được tôn trọng và đánh giá cao. Trong khám phá đó, chúng ta vừa nhận ra rằng không phải bản thân tiền bạc là điều chúng ta quan tâm; thay vào đó, đó là lòng tự trọng và cảm giác về giá trị nội tại của chúng ta. Chúng ta nhận ra rằng tiền chỉ là công cụ để đạt được điều gì đó khác và trên thực tế, điều chúng ta thực sự muốn không phải là tiền mà là lòng tự trọng và sự kính trọng mà chúng ta từng nghĩ tiền sẽ mang lại. Chúng ta cũng sẽ nhận ra rằng những mục tiêu mà mình từng nghĩ tiền sẽ mang lại có thể đạt được một cách trực tiếp. Tự trọng càng cao, chúng ta càng ít cần sự chấp thuận của những người khác. Khi nhận thức được những điều này, tiền bạc sẽ mang một ý nghĩa khác trong mỗi lĩnh vực của cuộc sống. Giờ đây, tiền bạc phục vụ cho những mục tiêu cao hơn chứ không phải là mục đích tự thân.

Nếu không ý thức được ý nghĩa của tiền bạc đối với chúng ta về mặt cảm xúc, chúng ta sẽ bị nó dắt mũi. Chúng ta bị những niềm tin vô thức về tiền bạc và tất cả những chương trình liên quan đến nó dẫn dắt. Giống như một triệu phú kia cứ tích lũy thêm hàng triệu đô la. Dường như không bao giờ cảm thấy đủ. Tại sao? Bởi vì ông ta chưa bao giờ dừng lại để nhìn xem tiền bạc thực sự có ý nghĩa gì đối với mình. Nếu chúng ta bị ám ảnh với việc đuổi theo tiền bạc hay những biểu tượng giàu có khác, thì đó là do giá trị tự thân bên trong ta quá nhỏ bé, đến mức cần một lượng tiền khổng lồ mới có thể bù đắp được. Sự bất an bên trong lớn đến mức dù có bao nhiêu tiền cũng không thể khỏa lấp nổi. Có thể nói rằng, càng cảm thấy mình nhỏ bé ở bên trong, thì càng phải tích lũy nhiều quyền lực, tiền bạc và sự hào nhoáng để cố gắng bù đắp cho sự nhỏ bé ở bên trong.

Buông bỏ là chúng ta được giải thoát khỏi sự nhỏ bé, bất an và tự trọng thấp ở bên trong. Khi đó, tiền bạc chỉ đơn thuần là công cụ để vươn tới mục tiêu của chúng ta trong cuộc đời này. Chúng ta có sự an tâm ở bên trong, biết rằng luôn luôn có đủ tiền. Khi cần, chúng ta sẽ luôn luôn có được những gì mình cần, vì chúng ta có cảm giác trọn vẹn, viên mãn và hài lòng từ bên trong. Khi đó, tiền bạc trở thành nguồn vui chứ không phải lo lắng.

Ở một tầng nào đó, chúng ta thậm chí dường như thờ ơ với tiền bạc. Khi cần tiền để hoàn thành một dự án, tiền dường như tự nhiên xuất hiện từ đâu đó. Chúng ta cảm thấy bình thản về sự kiện đó, vì chúng ta được kết nối với nguồn sức mạnh đích thức của chính mình. Khi chúng ta giành lại quyền lực mà mình đã trao cho tiền bạc và nhận ra đó là sức mạnh đích thực của chính mình, thì chúng ta không còn lo lắng về tiền bạc nữa, cũng không cần phải tích lũy thêm nhiều tiền nữa. Một khi đã có công thức chế tạo vàng, chúng ta không cần phải mang cả một bao tải vàng trên vai với tất cả những lo lắng và bất an đi kèm.

Tất nhiên, cùng với việc tích lũy tiền bạc quá mức là lúc nào cũng sợ mất tiền. Thật dở khóc dở cười khi thấy ​​một người có tài sản trị giá 50 triệu đôla gần như suy sụp chỉ vì một sơ suất trong kinh doanh đã đánh mất 10 triệu đôla. Ông ta thực sự hoảng loạn. Về mặt cảm xúc, ông ta sợ rằng mình sẽ không thể sống sót trên hành tinh này chỉ với 40 triệu đô la. Người nghèo nàn ở bên trong luôn có động cơ tích lũy của cải không ngừng nghỉ. Cùng với nghèo nàn ở bên trong là thái độ ích kỷ hoặc những hệ quả của nó như phù phiếm và kiêu căng giả tạo.

Rất hay xảy ra là, những người sử dụng kỹ thuật buông bỏ lại đột nhiên trở thành giàu có. Những diễn viên từng có đời sống khó khăn giờ đây được đóng những vai chính ở Hollywood. Một nhà soạn kịch bên bờ vực nghèo đói trở thành nhà sản xuất của một vở diễn vang dội trên sân khấu Broadway. Ngược lại, có những người đã trở nên tự tại với tiền bạc đến mức họ chọn cách từ bỏ phần lớn tài sản để sống cuộc đời giản đơn hơn nhiều. Họ không còn hứng thú với tiền bạc; họ đã làm chủ được nó. Những sự thỏa mãn nội tâm mà trước đây họ từng tìm kiếm thông qua tiền bạc, thí lúc này đã được thỏa mãn một cách trực tiếp, vì thế hạnh phúc bên trong không còn phụ thuộc vào của cải ở bên ngoài. Trong trạng thái tự do nội tâm như thế, người ta không còn lệ thuộc và không còn bị thế giới bên ngoài tác động nữa. Chỉ khi đã thực sự làm chủ, ta mới có thể siêu việt khỏi nó.

 

Hạnh phúc

Trong các phần về Sức khỏe và Của cải, chúng ta đã nói đến những lĩnh vực quan trọng liên quan đến hạnh phúc tổng thể. Giờ đây, chúng ta sẽ tập trung hơn vào đời sống cảm xúc ở bên trong, vì đó là nơi mà tất cả chúng ta thực sự sống. Xét cho cùng, mục đích của sức khỏe và của cải chỉ đơn giản là vì chúng ta cho rằng, và ở một mức độ nào đó, điều đó là đúng, chúng đem lại hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh phúc có thể được trải nghiệm một cách trực tiếp, và ở tầng này, nó tương đối độc lập với sức khỏe hoặc của cải.

Xin cùng xem xét một cách khách quan về quan điểm trung bình về hạnh phúc. Trước hết, hạnh phúc cực kỳ dễ bị tổn thương. Một lời nhận xét tình cờ, một lời phê bình, một cái nhíu mày, hay một chiếc xe chen ngang trước mặt chúng ta đều đủ sức và ngay lập tức phá tan hạnh phúc của người bình thường. Đe dọa mất việc, cảm thọ thiếu tin tưởng trong quan hệ nào đó, một lời nhận xét đáng ngại của bác sĩ, hay một tài xế taxi xấc xược, đều có thể làm hỏng cả ngày hôm đó của nhiều người. Vì sao hạnh phúc của chúng ta lại mong manh đến mức những sự việc thường ngày có thể “phá hỏng” cả ngày hôm đó?

Trong phần Giải phẫu cảm xúc, chúng ta đã xem xét những lý do dẫn đến kết quả này. Hệ quả của những cảm thọ, tư tưởng và thái độ tiêu cực, cùng với việc không ngừng phán xét và chỉ trích người khác, là chúng ta thường cảm thấy bị tách biệt khỏi mọi người. Vì cảm thọ cô đơn và tách biệt bên trong như thế, các mối quan hệ đều diễn ra dưới hình thức chấp trước, với tất cả những sợ hãi, giận dữ và ghen tị đi kèm với bất kỳ mối đe dọa nào đối với những chấp trước đó. Tiêu cực ở bên trong dẫn đến những niềm tin phổ biến: “Ngươi sinh ra trong cô đơn và sẽ chết trong cô đơn.” Trên thực tế, không có gì sai lầm hơn thế. Như những cuốn sách gần đây về trải nghiệm cận tử cho biết, trong cuộc sống người ta thường cảm thấy cô đơn và, vào đúng lúc chết, có một cảm giác tuyệt đối về một thể và kết nối (Eadie, 1992; Neal, 2011).

Vì có chấp trước, phụ thuộc và sự nhỏ bé ở bên trong, chúng ta có thể cảm thấy yếu đuối và bị hạn chế. Phán xét đầy tội lỗi đối với những tư tưởng và cảm thọ bên trong đã bị phóng chiếu ra thế giới bên ngoài, làm cho thế giới hiện lên như một nơi đáng sợ. Vì những sợ hãi này được lưu giữ trong tâm trí, những sự kiện và trải nghiệm đầy sợ hãi được đưa vào cuộc sống của chúng ta, theo đúng nghĩa đen của từ này. Sợ hãi dẫn đến tức giận thường trực và làm cho chúng ta trở thành dễ bị tấn công và rơi vào hỗn loạn cảm xúc bên trong. Đau đớn và khổ sở xảy ra, kèm theo tuyệt vọng mang tính chu kỳ và dễ bị rối loạn cảm xúc. Tâm trí-bản ngã nhìn nhận mọi người như là những người riêng biệt, nó ghen tị với bất kỳ người nào khác dường như hạnh phúc hơn, thành công hơn, hoặc có những quan hệ tốt hơn, thân thể đẹp hơn, hoặc có nhiều liên hệ tốt hơn. Chẳng bao lâu sau, do thiếu sự sáng suốt nội tại về những mục tiêu của mình, hỗn loạn sẽ nảy sinh, dẫn đến than thân trách phận, đố kỵ và oán hận sâu sắc hơn. Tự kết án sau đó bị phóng chiếu không ngừng ra thế giới bên ngoài, biểu hiện dưới dạng những chỉ trích từ người khác, chính điều này lại càng làm gia tăng mặc cảm tội lỗi và cảm thọ nhỏ bé ở bên trong.

Đối với một số người, lối thoát duy nhất là thông qua sự tự cao tự đại, bất dung, cố chấp, kiêu ngạo và tức giận, những biểu hiện này thể hiện dưới hình thức tàn nhẫn, hống hách, hung bạo và vô cảm với cảm thọ của người khác. Thường thì vô cảm đi kèm với những lời bào chữa, chẳng hạn như: “Tôi là người thẳng thắn, nói ra suy nghĩ của mình,” hoặc “Tôi là người thẳng thắn; bạn luôn biết vị trí của mình trong mối quan hệ với tôi.” Những lời nói này là vỏ bọc cho thái độ vô cảm, mà có thể được mô tả chính xác hơn là vụng về. Tự trọng thấp dẫn đến chỉ trích chính mình và người khác, cạnh tranh và so sánh bất tận, phân tích, khinh miệt, trí năng hóa, nghi ngờ và ảo tưởng về trả thù. Khi tất cả những cơ chế đó thất bại, sẽ xuất hiện thờ ơ và cảm thọ tuyệt vọng và bị tổn thương. Trong trạng thái như thế, chúng ta dần trở nên ngày càng xa lạ với chính mình và mọi người, bởi có quá nhiều phần trong tâm thức mà ta buộc phải che giấu. Hành vi của chúng ta dẫn đến cô lập với người khác và tạo ra mất cân bằng, do đánh giá quá cao những khía cạnh của cuộc sống dường như đang hiệu quả.

Do sự hỗn loạn bên trong như thế, người bình thường buộc phải luôn luôn ở trong trạng thái vô thức. Thật thú vị khi quan sát những phương tiện mà tâm trí đã phát minh ra để thực hiện mục đích này. Chúng ta thấy một người thức dậy vào buổi sáng và bật đài hoặc tivi để ngay lập tức đưa tâm trí ra khỏi tự ngã và tạp niệm. Mặc dù có thêm chút giải trí, nhưng những suy nghĩ và cảm thọ vẫn có xu hướng nảy sinh cho đến khi tâm trí bị cuốn vào những dự án trong ngày, công việc và các kế hoạch cần thực hiện hoặc khoái lạc khác nhau. Nó bắt đầu quan tâm tới cơ thể - tất cả việc chải chuốt, tắm rửa, xịt nước hoa, thoa phấn, khử mùi và lựa chọn cẩn thận quần áo cho ngày hôm đó. Việc lựa chọn quần áo gợi lên tất cả lịch trình trong ngày, sự bận rộn với các hoạt động đã được dồn nén vào một ngày: những cuộc hẹn hò bất tận, các cuộc điện thoại, việc vặt, các cuộc gặp gỡ, trách nhiệm gia đình và viết email. Trên đường đi làm hoặc các hoạt động trong ngày, là những cuộc trò chuyện với bạn bè, nghe đài trên xe, gọi điện thoại di động, nhắn tin và đọc báo buổi sáng trên tàu điện ngầm. Khi đến nơi, tiếp theo là quan tâm tới những sự kiện trong ngày: công việc kinh doanh, các giao dịch, mặc cả, sắp xếp, lo lắng, thao túng, tìm kiếm quyền lực không ngừng nghỉ, săn lùng “thành công”, và sợ hãi về sinh tồn lúc nào cũng có đó. Tất cả những điều này được thúc đẩy bởi mong muốn tìm kiếm ý nghĩa và an toàn, và để gia tăng lòng tự trọng và bằng mọi cách đảm bảo giá trị của bản thân mình.

Chúng ta không thật sự nhận thức được sự cuồng loạn của cuộc vật lộn cho đến khi một sự kiện bên ngoài nào đó buộc chúng ta đột nhiên phải dừng lại. Khi đó, chúng ta đối mặt với sự trống rỗng ở bên trong. Đòi hỏi không ngừng tiêu thụ các loại tiểu thuyết, tạp chí, chương trình truyền hình và mạng internet. Hoặc tránh né sự trống rỗng bằng cách liên tục đi dự tiệc tùng, trốn chạy vào ma túy, làm tê liệt tâm trí bằng vài ly rượu, xem phim ảnh và theo đuổi các trò tiêu khiển khác. Chúng ta có xu hướng làm bất cứ việc gì chỉ để tránh phải đối diện với cảm thọ trống rỗng ở bên trong.

Những hoạt động đó, tự bản thân chúng, không có gì sai. Điều chúng ta muốn xem xét chỉ là trạng thái tâm thức, trạng thái nhận thức, và cách thức mà các hoạt động được cảm nhận, theo đuổi và trải nghiệm. Trong trạng thái tự do nội tâm, những sự kiện và trải nghiệm tương tự như thế này có ý nghĩa hoàn toàn khác.

Những hoạt động giống hệt như thế có thể bắt nguồn từ cảm giác về hạnh phúc, tự trọng và trọn vẹn ở bên trong. Những mục tiêu tương tự như thế có thể được hoàn thành thông qua việc nhận ra thành tựu ở bên trong của chúng ta, chứ không phải là cạnh tranh với người khác. Các mối quan hệ trở thành sẻ chia và yêu thương chứ không phải là ghen tị, cạnh tranh và bị thúc đẩy bởi việc tìm kiếm tán dương và chấp thuận. Khi thoát khỏi những động cơ tiêu cực, chúng ta tận hưởng những mối quan hệ làm cho chúng ta hài lòng, vì chúng ta yêu thương mọi người, chứ không phải vì chúng ta chấp trước vào họ. Khi không còn ghen tị và đe dọa, chúng ta có thể cho phép người khác được tự do. Chúng ta không phải là nạn nhân của sự thao túng từ người khác bởi vì chúng ta đã tìm thấy sự thỏa mãn ở bên trong.

Buông bỏ được những suy nghĩ, cảm thọ và thái độ tiêu cực, là chúng ta lấy lại sức mạnh mà mình đã trao cho thế gian. Phần lớn sức hấp dẫn của thế gian là do sự hào nhoáng mà chúng ta đã gán cho nó. Đây là những câu hỏi để tự suy ngẫm: “Liệu đó có thực sự là tất cả số tiền mà tôi muốn, hay chỉ là sự hào nhoáng mà tôi đã gán cho nó? Tôi muốn gì từ chức danh đó, hay từ danh xưng “Tiến sĩ”, “Luật sư” và “Mục sư”? Đó có phải là trách nhiệm và những hoạt động đi kèm với nó, hay là sự hào nhoáng và thái độ kính trọng gắn liền với nó? Tôi có thực sự yêu người đó, hay tôi chỉ đang yêu sự hào nhoáng mà tôi đã gán cho người đó?” Càng buông bỏ, chúng ta càng thấy thế giới không còn hào nhoáng như trước nữa. Càng không thấy hào nhoáng, nó càng ít chi phối chúng ta hơn. Hào nhoáng không còn tạo được ảnh hưởng và không còn thao túng chúng ta được nữa. Chúng ta không còn bị những lập trình viên chuyên nghiệp của giới truyền thông và các lĩnh vực chính trị, xã hội làm cho tổn thương nữa. Trong tâm chúng ta không còn nhu cầu được người khác chấp thuận nữa.

Chúng ta bắt đầu yêu thương mọi người vì con người mà họ đang là, chứ không phải vì những việc họ có thể làm cho chúng ta. Chúng ta không còn cần phải lợi dụng người khác hay cố gắng lấy lòng họ nữa. Khi mức độ mặc cảm tội lỗi của chúng ta giảm đi, thì lòng tự trọng của chúng ta tăng lên. Các mối quan hệ giờ đây dựa trên sự chính trực, và chúng ta không còn là đối tượng của lấy lòng về mặt cảm xúc. Hệ quả là, chúng ta ngừng cố gắng lấy lòng người khác bằng áp lực cảm xúc. Vì các mối quan hệ dựa trên sự trung thực, chúng tồn tại và hoạt động trên một bình diện cao hơn, nên không còn sợ bị xa lánh hay cảm thọ cô đơn nữa. Người đã buông bỏ không còn cần người khác để thỏa mãn bản thân mình mà ở bên cạnh họ vì lựa chọn, vì tình yêu và niềm vui. Tâm từ bi dành cho tha nhân và cho nhân tính của họ sẽ chuyển hoá cuộc sống và mọi mối quan hệ.

 

Tự do nội tâm

Cuộc sống sẽ như thế nào khi ta liên tục buông bỏ? Điều gì là khả thi?

Trong trạng thái buông bỏ, chúng ta là người không phụ thuộc vào thế giới bên ngoài, không coi nó nguồn gốc của thỏa mãn, vì đã tìm được nguồn gốc của hạnh phúc bên trong chính mình. Hạnh phúc được chia sẻ với những người khác, vì vậy trong các mối quan hệ, người buông bỏ sẽ hỗ trợ, cảm thông, khuyến khích, kiên nhẫn và khoan dung. Có một sự trân trọng tự nhiên dành cho phẩm giá cùng giá trị của người khác, đồng thời là sự thấu hiểu cảm thọ của họ. Chúng ta từ bỏ các cuộc tranh giành quyền lực, cố gắng là người “đúng”, và chứng minh quan điểm của mình. Chúng ta tự động không phán xét và hỗ trợ người khác để họ phát triển, học hỏi, trải nghiệm và viên mãn tiềm năng của chính mình. Đón nhận tha nhân với thái độ tự tại và bao dung. Chúng ta cảm thấy thư thái, tràn đầy sức sống và năng lượng. Các sự kiện trong cuộc đời diễn ra một cách tự động và dễ dàng. Chúng ta không còn phản ứng bằng động cơ hy sinh hay “ban phát” cái gì đó cho người khác; thay vào đó, chúng ta nhìn nhận mình như là người phục vụ đầy yêu thương người khác và thế giới. Các sự kiện trong cuộc đời được coi là cơ hội chứ không phải là thách thức. Tính cách dịu dàng và cởi mở, sẵn sàng buông bỏ và phó thác không ngừng vì quá trình nội tâm mở ra và tiến triển không ngừng.

Khi quá trình này mở ra, chúng ta cảm nhận được sự chuyển hoá ở bên trong. Nó sẽ dẫn đến cảm thọ biết ơn, vui vẻ và chắc chắn về mục tiêu không thay đổi của mình. Sống trọn vẹn trong hiện tại chứ không còn bận tâm đến quá khứ hay tương lai nữa. Có sự tin cậy mà không cần phòng vệ, vì sức mạnh đích thực của mình từng bị phóng chiếu ra thế giới bên ngoài nay đã được thu hồi lại. Từ đó, nảy sinh một cảm thọ bên trong về sự vững chãi và không bị tổn thương, dẫn tới sự an nhiên tĩnh lặng từ bên trong.

Ban đầu, có sự đồng nhất: “Tôi là cơ thể.” Khi cơ chế buông bỏ tiếp tục hoạt động, chúng ta ngày càng nhận thức rõ ràng rằng: “Tôi là tâm trí đang trải nghiệm cơ thể, chứ không phải là cơ thể này.” Khi buông bỏ được càng nhiều cảm thọ và hệ thống niềm tin, thì cuối cùng sẽ xuất hiện nhận thức: “Tôi cũng không phải là tâm trí mà là cái chứng kiến ​​và trải nghiệm tâm trí, trải nghiệm cảm xúc và cơ thể.”

Thông qua quán chiếu nội tâm, ta nhận ra sự hiện diện của một cái gì đó luôn bất biến và hằng hữu, dù thế giới bên ngoài, hay ngay cả với cơ thể, cảm xúc và tâm trí của chính mình có xảy ra sự kiện gì thì cũng thế. Chúng ta khám phá được Đại Ngã ở bên trong. Chúng ta khám phá được trạng thái tĩnh lặng của Nhận thức - nền tảng để mọi chuyển động, hoạt động, âm thanh, cảm xúc và suy nghĩ diễn ra - đấy là an bình vĩnh cửu. Khi đã đồng nhất với Nhận thức này, chúng ta không còn bị thế giới, thân thể, hay tâm trí chi phối nữa, và với Nhận thức này, ta cảm nhận được sự bình tĩnh, tĩnh lặng ở bên trong và cảm giác an bình sâu lắng. Ta nhận ra rằng đây chính là cái mà chúng ta luôn tìm kiếm nhưng lại không biết, vì đã đi lạc trong mê cung. Chúng ta từng đánh đồng một cách sai lầm chính mình với các hiện tượng bên ngoài của cuộc sống bận rộn—thân thể và những trải nghiệm của nó, nghĩa vụ, công việc, chức danh, các hoạt động, vấn đề và cảm thọ. Nhưng lúc này chúng ta nhận ra rằng chúng ta chính là không gian vĩnh hằng, các hiện tượng vừa nói đang diễn ra ở trong không gian này. Chúng ta không phải là những hình ảnh lập lòe đang diễn kịch trên màn ảnh, mà chính là màn ảnh – một nhân chứng không phán xét về bộ phim cuộc đời đang diễn ra, không có khởi đầu và không có kết thúc, với tiềm năng vô hạn. Những nhận thức tiến bộ này về bản chất thực sự của chúng ta chuẩn bị nền tảng cho Chứng ngộ Cao nhất về sự đồng nhất giữa Tâm thức với chính Thần Tính.



[i] Pogo là nhân vật chính trong bộ truyện tranh châm biếm cùng tên của họa sĩ Walt Kelly. Đây là một chú chuột túi (opossum) sống tại đầm lầy Okefenokee, nổi tiếng với những suy ngẫm sâu sắc về bản chất con người. Câu nói kinh điển: “We have met the enemy, and he is us.” (Chúng ta đã chạm trán kẻ thù, và kẻ thù đó chính là chúng ta). Ý nghĩa: Nhận diện kẻ thù: - Kẻ thù không phải là thế lực bên ngoài, mà chính là những rào cản bên trong, sự phán xét và kháng cự bên trong tâm trí. - Chuyển hóa: Việc nhận ra “kẻ thù là chính mình” là bước đầu tiên để thực hành buông bỏ  và phá vỡ các rào cản đối với sự viên mãn. - Tính thời điểm: Câu nói nhắc nhở rằng chúng ta thường là người tự gây ra những giới hạn cho chính mình thông qua các thói quen của Tâm trí hữu thức.

[ii] Câu này không nên được hiểu theo nghĩa tuyệt đối về mặt sinh học mà nên hiểu là người đó có thể ăn và chịu đựng tất cả những gì mà mọi người khác có thể ăn hay chịu đựng được. David R. Hawkins không ám chỉ rằng một người “buông bỏ” sẽ trở nên miễn nhiễm với mọi tác nhân vật lý như độc tố, vi trùng hay dị ứng. Ý chính ở đây là: người đó không còn bị chi phối bởi nỗi sợ đối với những yếu tố này. Khi nỗi sợ lắng xuống, tâm không còn vô thức phóng chiếu nguy hiểm lên thế giới, và vì thế có thể sống một cách tự nhiên, nhẹ nhàng hơn — không còn bị ám ảnh hay né tránh một cách cực đoan. Điều này không phủ nhận các quy luật sinh học, mà chỉ nhấn mạnh sự tự do nội tâm khỏi những phản ứng sợ hãi.

July 12, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (17)

   ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 16 

LỢI ÍCH CỦA BUÔNG BỎ

Phát triển về mặt cảm xúc

Ảnh hưởng rõ ràng và dễ thấy nhất của buông bỏ những cảm thọ tiêu cực là phục hồi quá trình phát triển về mặt cảm xúc và tâm lý, cũng như giải quyết những vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài. Có niềm vui và thỏa mãn khi chúng ta bắt đầu trải nghiệm những ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc loại bỏ những rào cản đối với thành công và hài lòng trong cuộc sống. Chúng ta nhanh chóng nhận ra rằng những suy nghĩ hạn chế và niềm tin tiêu cực mà chúng ta đã ngây thơ cho là đúng, chỉ đơn thuần là kết quả của những cảm thọ tiêu cực đã được tích lũy mà thôi. Khi cảm thọ được buông bỏ, mô thức suy nghĩ sẽ thay đổi từ: “Tôi không thể” thành: “Tôi có thể” và “Tôi rất vui khi làm điều đó”. Toàn bộ các lĩnh vực trong cuộc sống có thể mở ra. Những điều từng vụng về hoặc không được thể hiện ra có thể trở thành dễ dàng và tràn đầy niềm vui.

Minh họa cho quá trình này là trải nghiệm của một người đàn ông trung niên thông minh, thành đạt, chuyên nghiệp, nhưng cả đời không thể khiêu vũ. Ông ấy rất muốn nhảy và đã nhiều lần tham gia các lớp học khiêu vũ. Nhưng mỗi lần như vậy, ông ta đều thấy mình cứng nhắc, vụng về và tự ti. Bằng ý chí mạnh mẽ, đôi khi ông cũng cố gắng thực hiện các động tác trên sàn nhảy, nhưng chưa bao giờ cảm thấy thích thú và luôn luôn cảm thấy không thoải mái. Các chuyển động của ông ta cứng nhắc và có tính toán, và toàn bộ trải nghiệm là không thỏa mãn, không giúp ích gì cho lòng tự trọng của ông ta.

Sau khoảng một năm thực hành phương pháp buông bỏ, ông ta đi dự tiệc với một người phụ nữ liên tục đề nghị ông ta đứng dậy và nhảy. “Cô biết tôi không biết nhảy mà,” ông ta nói. “Thôi nào, thử đi,” bà ta van nài. Bà ta vẫn kiên trì và nói: “Quên đôi chân của anh đi. Cứ nhìn tôi và làm theo những gì cơ thể tôi làm.” Ông ta miễn cưỡng đồng ý, và tiếp tục buông bỏ cảm giác kháng cự và lo lắng của mình.

Trên sàn nhảy, ông ta hoàn toàn buông bỏ. Trong tích tắc, cảm thọ bên trong vươn lên từ thờ ơ tới tình yêu và, trước sự ngạc nhiên của mình, ông ta đột nhiên bắt đầu nhảy như từng mơ ước và ghen tị! Nhận thức: “Mình có thể làm được!” ập tới, và ông ta chuyển từ tình yêu, lên niềm vui, thậm chí là mê ly. Niềm vui của ông ta lan tới mọi người. Bạn bè dừng lại để xem. Từ trạng thái vui sướng tột độ, ông ta đột nhiên trải nghiệm sự hòa hợp với bạn nhảy của mình. Ông ta đột nhiên nhìn thấy Đại Ngã của chính mình nhìn ra từ đôi mắt của bà ấy và nhận ra rằng thực ra chỉ có một Đại Ngã duy nhất đằng sau tất cả những tự ngã cá nhân. Ông và bà ấy trở nên kết nối theo lối thần giao cách cảm. Ông ta biết từng bước nhảy của bạn nhảy trước khi người kia thực hiện. Họ hòa hợp một cách hoàn hảo và nhảy như thể họ đã luyện tập và nhảy cùng nhau suốt nhiều năm qua. Ông ta khó lòng kìm nén được niềm vui của mình. Việc nhảy múa trở nên dễ dàng và bắt đầu diễn ra một cách tự nhiên, không cần bất kỳ suy nghĩ có ý thức nào. Càng nhảy lâu, ông ta càng cảm thấy tràn đầy năng lượng.

Đó là một trải nghiệm đỉnh cao, nó đã làm thay đổi cuộc đời người đàn ông này. Đêm đó ông ta về nhà và còn nhảy thêm nữa. Nhảy disco tự do luôn làm cho ông ta sợ hãi hơn bất kỳ thể loại nào khác, vì không có hình thức nào để ghi nhớ. Nó đòi hỏi tự phát và cảm giác tự do, điều mà trước đây ông ta chưa từng trải nghiệm. Về tới nhà, ông ta bật nhạc disco và bắt đầu nhảy múa hàng giờ liền. Ông ngắm nhìn mình trong gương, bị mê hoặc bởi sự buông lỏng của cơ thể và cảm thọ tự do ở bên trong.

Đột nhiên, ông ta nhớ lại kiếp sống trước đây với những chi tiết cực kì sống động. Ông ta từng là một vũ công giỏi, và lúc này ông ta bắt đầu nhớ lại những chỉ dẫn cụ thể mà các ông thầy đã cho ông biết trong kiếp sống đó. Khi ông ta làm theo chỉ dẫn của họ, kết quả thật đáng kinh ngạc! Ông ta phát hiện được rằng có một trung tâm cân bằng trọng lực thẳng đứng bên trong chính con người mình, và ông ta bắt đầu xoay quanh nó với sự cân bằng hoàn hảo. Chuyển động diễn ra một cách dễ dàng, và ông ta chỉ đơn giản là người chứng kiến điệu nhảy. Không còn cảm giác về “tôi” nữa. Chỉ còn lại niềm vui và chính điệu nhảy. Giờ đây, ông hiểu ngay lập tức nền tảng cốt lõi của điệu nhảy Sufi xoay tròn. Khả năng xoay tròn và quay cuồng mà không chóng mặt hay mệt mỏi—trạng thái tâm thức đó —xuất phát từ buông bỏ tự ngã cá nhân.

Bước đột phá mà người đàn ông này trải nghiệm trên sàn nhảy sau đó đã lan sang nhiều lĩnh vực khác - từng bị tắc nghẽn - trong cuộc đời của ông ta. Những lĩnh vực từng bị hạn chế, giờ đây đã mở rộng một cách nhanh chóng. Bạn bè và gia đình ông ta nhìn thấy rõ những thay đổi này và những phản hồi tích cực của họ càng làm tăng thêm lòng tự trọng và mong muốn tiếp tục buông bỏ những cảm thọ và suy nghĩ tiêu cực từng ngăn cản, không để cho ông ta trải nghiệm niềm vui sống.

Trải nghiệm này được nêu ra khá chi tiết vì một vài lý do. Nó minh họa cho thang đo tâm thức mà chúng tôi đã nói trong chương trước. Trong suốt 50 năm, người đàn ông vừa nói đã ở tầng thấp nhất trong lĩnh vực này, với niềm tin: “Tôi không thể”. Thái độ tự ti đã làm giảm lòng tự trọng của ông ta và khiến ông ta né tránh. Trong suốt nhiều năm, ông ta đã tìm cách tránh các buổi họp mặt có khiêu vũ. Ông ta giận chính mình vì thái độ tự ti đó, và ông ta tức giận khi có người nào đó rủ khiêu vũ. Thế mà chỉ trong vài giây và vài phút, ông ta đã trải nghiệm mọi cảm xúc trên toàn bộ thang đo và đi đến tận đỉnh cao. Lúc đó, tâm thức cao hơn xuất hiện cùng với nhận thức tâm linh đột ngột ở một tầng rất cao. Với tâm thức cao hơn, hiểu biết cùng với khả năng tâm linh xuất hiện (thần giao cách cảm, đồng nhịp và nhớ lại tiền kiếp). Kết quả là, hành vi của ông ta thay đổi, và động lực của nó loại bỏ một loạt rào cản và hạn chế. Xã hội cũng phản hồi một cách tích cực, rồi phản hồi tích cực củng cố động lực phát triển đang diễn ra.

Tốc độ phát triển cảm xúc được báo cáo bởi những người sử dụng cơ chế buông bỏ có liên quan đến sự kiên trì trong buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, và không có liên hệ nào với tuổi tác. Mọi người, ở mọi lứa tuổi, từ thanh thiếu niên đến cụ già tám mươi, đều nhận được lợi ích như nhau.

Những cảm thọ bị kìm nén và đè nén cần năng lượng chống lại để giữ chúng chìm xuống. Cần năng lượng để kìm nén cảm thọ của chúng ta. Khi buông bỏ những cảm thọ này, năng lượng kìm nén tiêu cực được giải phóng để sử dụng cho những mục đích tích cực. Kết quả của việc buông bỏ là năng lượng được dùng cho sáng tạo, phát triển, công việc và quan hệ giữa các cá nhân gia tăng. Chất lượng và niềm vui của những hoạt động này cũng gia tăng. Hầu hết mọi người đều kiệt sức, không đủ sức đem lại trải nghiệm chất lượng cao thực sự trừ khi các chương trình tiêu cực chống lại họ đã được giải quyết. 

Giải quyết vấn đề

Hiệu quả của cơ chế buông bỏ trong việc giải quyết vấn đề thường làm cho người ta ngạc nhiên. Hiểu được quá trình liên quan là rất quan trọng, vì nó khác hẳn các phương pháp mà người ta vẫn dùng. Cách tiếp cận đem lại kết quả nhanh chóng và dễ dàng: Đừng tìm kiếm câu trả lời; thay vào đó, hãy buông bỏ cảm thọ đằng sau câu hỏi. Khi buông bỏ cảm thọ đằng sau câu hỏi, chúng ta có thể buông bỏ bất kỳ cảm thọ nào khác mà chúng ta có thể có về vấn đề đó. Khi cuối cùng và hoàn toàn buông bỏ tất cả các yếu tố, câu trả lời sẽ ở đó chờ đợi chúng ta. Chúng ta sẽ không cần phải tìm kiếm nó. Hãy nghĩ xem, nó đơn giản và dễ dàng đến mức nào, đấy là nói, so với những nỗ lực giải quyết vấn đề dài dòng, thiếu hiệu quả thường thấy của tâm trí. Thông thường, tâm trí sẽ tìm kiếm và mò mẫm không ngừng, loay hoay với câu trả lời khả thi này rồi đến câu trả lời khả thi khác. Lý do tâm trí không thể quyết định được là vì nó đang tìm kiếm không đúng chỗ.

Hãy xem hệ thống này hoạt động như thế nào trong một ví dụ thường ngày. Giả sử chúng ta không đồng ý với người yêu về việc đi bộ xem phim nào. Chúng ta xem xét cảm thọ đằng sau vấn đề. Trong trường hợp này, giả sử chúng ta cảm thấy tức giận và oán hận, cụ thể là oán hận vì không có nhiều thời gian lãng mạn bên nhau. Điều chúng ta thực sự muốn tối nay là thời gian âu yếm bên nhau. Khi chúng ta chấp nhận ở bên trong rằng điều chúng ta thực sự muốn là sự gần gũi, đột nhiên chúng ta nhận ra rằng mình không hề muốn đi xem phim. Chúng ta chỉ muốn ở bên nhau. Hoặc điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Chúng ta có thể nhận ra rằng cảm thọ đằng sau việc muốn đi xem phim là sợ hãi, vì chúng ta không muốn dành buổi tối để nói chuyện và gần gũi với người yêu. Chúng ta thấy rằng những cảm thọ mà chúng ta đã tích tụ làm mình khó chịu. Chúng ta oán hận, vì vậy chúng ta buông bỏ mong muốn thay đổi cảm thọ đó, và cứ để nó ở đó. Không sao hết, nếu có oán hận. Khi buông bỏ kháng cự cảm thọ oán hận, chúng ta có ít mặc cảm tội lỗi hơn; chúng ta thừa nhận với người yêu rằng mình đã có oán hận. Chúng ta nói chuyện với nhau, và cảm thọ của người kia cũng được làm rõ. Cả hai chúng ta đều cảm thấy nhẹ nhõm và gần gũi hơn, rồi chúng ta nói: “Mặc kệ phim ảnh đi. Ở nhà, làm tình và đi dạo dưới ánh trăng nhé.”

Cách tiếp cận này mang lại hiệu quả trong tất cả các quá trình ban hành quyết định. Khi chúng ta loại bỏ được những cảm thọ tiềm ẩn, các quyết định sẽ trở nên thực tế và sáng suốt hơn. Xin nghĩ xem, đã bao nhiêu lần chúng ta đã thay đổi ý kiến ​​và hối tiếc về những quyết định trong quá khứ. Đó là do, đằng sau quyết định luôn có một cảm thọ chưa được nhận ra và chưa được buông bỏ. Khi hành động mà ta quyết định đã được thực hiện, thì cảm thọ tiềm ẩn sẽ thay đổi. Khi đó, từ điểm nhìn của không gian cảm thọ mới, quyết định hóa ra là sai. Sự kiện này xảy ra thường xuyên đến nỗi hầu hết mọi người đều sợ đưa ra quyết định, bởi vì trong quá khứ, họ đã quyết định sai quá nhiều lần rồi.

Thường thì, sử dụng cơ chế buông bỏ có thể nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài. Xin thử xem nó hoạt động nhanh tới mức nào. Hãy xem xét một vài vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài và ngừng tìm kiếm câu trả lời. Hãy tìm xem, ngay từ đầu, cảm thọ tiềm ẩn nào tạo ra câu hỏi. Một khi cảm thọ đó được buông bỏ, câu trả lời sẽ tự xuất hiện. 

Phong cách sống

Rất nhiều hoạt động và chấp trước của chúng ta là dựa trên sợ hãi và tức giận, mặc cảm tội lỗi và kiêu hãnh. Khi những cảm thọ tiêu cực này được buông bỏ trong bất kỳ lĩnh vực nào, là chúng ta vươn tới tầng can đảm. Ở tầng đó, những thay đổi trong cuộc sống bắt đầu xảy ra. Hoặc, nếu chúng ta chọn tiếp tục hoạt động như cũ, thì động lực cũng sẽ khác và, do đó, chúng ta sẽ trải nghiệm những kết quả khác so với trước đây. Ít nhất, phần thưởng về mặt cảm xúc cũng sẽ khác. Thay vì hài lòng một cách gượng ép, chúng ta có thể trải nghiệm niềm vui. Chúng ta có thể thấy mình đang làm cùng một công việc như trước, nhưng giờ đây chúng ta làm vì vui chứ không phải vì nghĩa vụ. Chúng ta làm việc đó vì chúng ta “muốn”, chứ không phải vì chúng ta “phải” làm. Nhu cầu năng lượng chắc chắn sẽ ít hơn hẳn.

Một khám phá thú vị mà chúng ta sẽ làm là khả năng yêu thương của chúng ta vượt xa những gì chúng ta từng mơ ước. Càng buông bỏ, chúng ta càng trở nên yêu thương hơn. Ngày càng nhiều thời gian trong cuộc đời chúng ta sẽ dành để làm những việc mà chúng ta yêu thích, với những người mà chúng ta cảm thấy ngày càng yêu thương hơn. Khi điều này xảy ra, cuộc sống của chúng ta sẽ chuyển hoá. Chúng ta trông khác đi. Mọi người phản ứng với chúng ta khác đi. Chúng ta thư thái, vui vẻ và dễ tính. Chúng ta có sức thu hút mọi người vì họ cảm thấy thoải mái và hạnh phúc khi ở bên cạnh chúng ta. Những người phục vụ và tài xế taxi đột nhiên trở nên chu đáo và lịch sự một cách kỳ lạ, và chúng ta tự hỏi: “Chuyện gì xảy ra với thế giới vậy?” Câu trả lời cho câu hỏi đó: “Chính là bạn!”

Khi buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, chúng ta sẽ tìm thấy sức mạnh của chính mình. Nó xảy ra một cách tự nhiên. Hạnh phúc luôn có đó và giờ đây nó tỏa sáng sau khi những rào cản đã được loại bỏ. Giờ đây, chúng ta tạo được ảnh hưởng tích cực đến tất cả mọi người mà chúng ta tiếp xúc. Tình yêu là rung động năng lượng cảm xúc mạnh mẽ nhất. Vì tình yêu, người ta sẽ làm mọi việc và làm những điều mà họ sẽ không bao giờ làm dù được trả bao nhiêu tiền.

Khi những rào cản tiêu cực và những câu nói: “Tôi không thể” được loại bỏ, những lĩnh vực hoàn toàn mới của cuộc sống sẽ mở ra cho chúng ta. Thành công bắt nguồn từ việc làm những gì chúng ta thích làm nhất, nhưng hầu hết mọi người lại bị trói buộc bởi những việc mà họ tưởng là mình phải làm. Khi giới hạn được loại bỏ, những con đường sáng tạo và thể hiện hoàn toàn mới sẽ mở ra.

Xin xem xét ví dụ về một cô gái trẻ có nhiều tài năng âm nhạc bẩm sinh, từng dành phần lớn thời gian cho công việc nhàm chán mà cô cảm thấy mình phải gắn bó vì phải kiếm tiền. Việc cô ấy thực sự thích là ở nhà một mình và đánh đàn. Đấy hoàn toàn vì niềm vui cá nhân. Vì thiếu tự tin, cô ấy ít khi đánh đàn cho người khác nghe, kể cả bạn bè thân thiết. Sau khi bắt đầu buông bỏ những giới hạn bên trong – tất cả những cảm thọ tiêu cực không cho cô thể hiện bản thân mình – khả năng và sự tự tin của cô phát triển nhanh chóng đến mức cô bắt đầu chơi nhạc trước công chúng. Tài năng của cô được đón nhận nồng nhiệt, và một sự nghiệp âm nhạc đầy bận rộn bắt đầu. Cô đã hoàn thành một bản thu âm chuyên nghiệp thành công đến mức cô có thể dành một nửa thời gian để làm công việc mà mình vẫn làm, và bắt đầu dành nhiều thời gian và năng lượng cho sự nghiệp đang đơm hoa kết trái, mang lại cho cô niềm vui và thỏa mãn lớn lao hơn. Mặc dù không biết gì về kinh doanh, cô đã bắt đầu công việc kinh doanh âm nhạc của chính mình và trong vòng một năm, đã phân phối các bản thu âm trên khắp cả nước, rồi sang cả châu Âu. Cô rất vui mừng khi thấy mình rất thành công khi làm những việc mình thích nhất. Sức sống và hạnh phúc ngày càng tăng của cô ấy thể hiện rõ ràng với mọi người, và thành công lan rộng sang các lĩnh vực khác trong cuộc đời của cô.

Ví dụ khác là một kỹ sư, trung niên, không có năng khiếu sáng tạo, rất ghét thơ ca. Sau khi học cách buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, đột nhiên ông thấy mình làm được thơ Haiku (một thể thơ trang trọng của Nhật Bản). Ông bắt đầu làm rất nhiều bài thơ Haiku mà không cần nhiều nỗ lực rồi sau đó phát triển khả năng viết gần như tự động.

Một ví dụ khác nữa là người phụ nữ, 60 tuổi, quyết định quay lại học đại học tại chức, mặc dù bà đang làm việc toàn thời gian. Cuối cùng, bà cũng có bằng cử nhân, rồi bằng thạc sĩ, và sau đó là bằng tiến sĩ, trở thành giám đốc điều hành quan trọng với rất nhiều trách nhiệm.

Có thể đưa ra hàng ngàn ví dụ về việc thăng tiến nhanh chóng trong đời sống của mọi người, khi họ buông bỏ được suy nghĩ: “Tôi không thể”. Có thể đột ngột giải quyết những tình huống đã kéo dài suốt nhiều năm,.

Ngược đời là, những bước đột phá và phát triển như thế có thể làm cho bạn bè và người thân cảm thấy khó chịu, vì mất thăng bằng. Chúng ta có thể đột ngột vứt bỏ những việc mà mình đã từng làm vì bị buộc phải làm, vì sợ hãi, mặc cảm tội lỗi hoặc nghĩa vụ. Những tầng tâm thức mới làm cho tri giác thay đổi và mở ra những chân trời mới. Nhiều động cơ thúc đẩy người ta có thể đột ngột trở thành vô nghĩa. Nhu cầu về tiền bạc, danh vọng, sự kính trọng, địa vị, uy tín, quyền lực, tham vọng, cạnh tranh và an toàn đều giảm. Chúng được thay thế bằng động lực của yêu thương, hợp tác, viên mãn, tự do, sáng tạo, phát triển tâm thức, hiểu biết và nhận thức tâm linh. Có xu hướng dựa nhiều hơn vào trực giác và cảm thọ hơn là suy nghĩ, lý trí và logic. Những người rất “dương” có thể khám phá ra khía cạnh “âm” của mình, và ngược lại. Những mô thức cứng nhắc nhường chỗ cho linh hoạt. An toàn và an ninh trở thành ít quan trọng hơn so với khám phá và tìm tòi. Cuộc sống cá nhân có thêm động lực, và vận động thay thế cho mô thức trì trệ.

Cơ chế buông bỏ có thể làm cho những thay đổi lớn diễn ra rất nhanh chóng, đấy là nhận xét có thể làm cho người ta ngạc nhiên. Những mô thức từng bám theo người ta suốt đời có thể đột ngột biến mất, và những kìm hãm kéo dài nhiều năm có thể được buông bỏ chỉ trong vài phút, vài giờ hoặc vài ngày. Những thay đổi nhanh chóng kéo theo sức sống gia tăng. Năng lượng sống được giải phóng do buông bỏ tiêu cực lúc này chảy vào thái độ, suy nghĩ và cảm thọ tích cực, sức mạnh cá nhân cũng tăng lên từng bước một. Suy nghĩ giờ đây trở thành hiệu quả hơn. Nhiều việc được hoàn thành với ít nỗ lực hơn. Ý định mạnh mẽ hơn, đấy là do đã loại bỏ nghi ngờ, sợ hãi và kìm hãm. Cùng với quá trình loại bỏ tiêu cực, động lực được giải phóng, do đó những giấc mơ từng là bất khả thi thì lúc này trở thành mục tiêu có thể thực hiện được. 

Giải quyết các vấn đề tâm lý: So sánh với Tâm lý trị liệu

Nói chung, buông bỏ thường nhanh hơn tâm lý trị liệu. Nó thường giải phóng và kích thích quá trình phát triển tâm thức và nhận thức nhanh hơn. Tuy nhiên, tâm lý trị liệu được thiết kế tốt hơn trong việc làm sáng tỏ các mô thức tiềm ẩn. Hai biện pháp này có thể phối hợp với nhau. Cơ chế buông bỏ tạo điều kiện và đẩy nhanh tâm lý trị liệu, đồng thời nâng cao mục tiêu của nó. Tâm lý trị liệu có thể làm cho người ta thỏa mãn về mặt trí tuệ, vì bản chất ngôn ngữ và nó tập trung vào “lý do” phía sau hành vi. Tuy nhiên, đó cũng là hạn chế của nó. Thường thì, thực sự đạt được chỉ là hiểu biết về mặt trí tuệ, còn quá trình xử lý cảm thọ thì diễn ra khá chậm, thường là đau đớn và cuối cùng là né tránh. Mặt khác, cơ chế buông bỏ liên quan đến “cái gì” về mặt cảm thọ trong từng khoảnh khắc, mà không liên quan đến trí tuệ. “Lý do” sẽ tự thể hiển, khi “cái gì” đã được buông bỏ. Phân tích nguyên nhân gây ra trầm cảm là một chuyện, nhưng tiến thẳng vào tận cùng của tuyệt vọng bằng cách buông bỏ kháng cự đối với cảm thọ đó lại là chuyện hoàn toàn khác. Bằng cách cho phép cảm thọ ấy hiện diện trọn vẹn, đồng thời buông bỏ mọi cảm thọ, mọi suy nghĩ và từng phần thưởng nhỏ bé mà bạn đang nhận được từ nó, bạn trở nên tự do. Không nhất thiết phải dò xét cái “tại sao” của trầm cảm mới có thể giải thoát mình khỏi cái “đang là” của nó.

Mục tiêu của việc buông bỏ vượt xa mục tiêu của liệu pháp tâm lý. Mục đích cuối cùng của buông bỏ và phó thác là tự do hoàn toàn. Mục tiêu của liệu pháp tâm lý là điều chỉnh lại bản ngã, đưa nó về trạng thái cân bằng lành mạnh hơn. Hai hệ thống này dựa trên những hệ hình khác nhau về thực tại. Mục tiêu của liệu pháp tâm lý là thay thế các chương trình của tâm trí không thỏa đáng bằng những chương trình thỏa đáng hơn. Ngược lại, mục tiêu của buông bỏ là loại bỏ các chương trình của tâm trí và cảm thọ mang tính hạn chế. Đó là vươn tới tâm trí không bị ràng buộc và cuối cùng là siêu việt chính tâm trí để vươn lên các trạng thái tâm thức cao hơn của yêu thương và an bình.

Trong trị liệu, bệnh nhân phụ thuộc vào người trị liệu, quá trình đào tạo và kỹ thuật của họ, và họ cũng dựa vào một lý thuyết tâm lý mà cả người trị liệu và bệnh nhân đều tin tưởng. Nghiên cứu khoa học cho thấy rằng kết quả của trị liệu không liên quan gì tới trường phái tâm lý trị liệu, quá trình đào tạo hay kỹ thuật của người trị liệu; thay vào đó, kết quả liên quan đến tương tác giữa họ với nhau và mức độ mong muốn cải thiện của bệnh nhân, cũng như niềm tin và mức độ tin tưởng của bệnh nhân vào nhà trị liệu. Do đó, tâm lý trị liệu không nhận thức được các yếu tố tâm lý đang hoạt động.

Với cơ chế buông bỏ, bệnh nhân không có vai trò gì, cũng không phụ thuộc vào người khác hoặc lý thuyết nào. Nguồn gốc của các mô thức rối loạn thần kinh tự động bộc lộ khi chúng được thừa nhận, bị từ bỏ và biến mất. Cơ sở của chúng thường nằm ở những chiều sâu mà tâm lý trị liệu không thể chạm tới. Ngoại trừ một vài khuôn khổ chữa lành toàn diện (ví dụ như phân tích của Jung, tâm lý học xuyên cá nhân), trị liệu có thể dựa trên hiểu biết hạn chế về toàn bộ tâm trí. Nó thường chỉ nhắm đến một phần của bản ngã. Nó bỏ qua và không hiểu được những lực lượng to lớn, tức là lực lượng quyết định, thúc đẩy và kiểm soát tâm trí. Vì mục đích của hầu hết các liệu pháp tâm lý là điều chỉnh bản ngã, nên không có khái niệm gì về những gì nằm ngoài bản ngã.

Ngược lại, mục đích của buông bỏ là loại bỏ bản ngã. Bản ngã sợ hãi và bị giới hạn, và khi nó được buông bỏ, Đại Ngã bên trong sẽ hiện ra, và cái luôn có sức mạnh hơn sẽ được bộc lộ. Nhiều liệu pháp tâm lý không có kiến ​​thức thực sự về Đại Ngã và do đó, mù quáng trước chính Thực tại. Về hiệu quả, liệu pháp tâm lý giống như một chiếc xe ngựa, trong khi cơ chế buông bỏ giống như con tàu vũ trụ. Trong khi liệu pháp cần thời gian để từng bước một thăm dò một khu vực hạn chế, thì buông bỏ đã di chuyển xa hơn, vào một chiều kích hoàn toàn mới.

Buông bỏ có một lợi thế đặc biệt là, từ bỏ một cảm thọ tiêu cực cũng đồng nghĩa với việc giải phóng năng lượng đằng sau nhiều cảm thọ tiêu cực khác, do đó, hiệu ứng lan tỏa là liên tục. Ví dụ, một người đàn ông thành đạt và có học thức cao từng mắc chứng rất sợ độ cao – đến mức ám ảnh mãnh liệt. Đúng lúc ông ta học cách sử dụng cơ chế buông bỏ, thì ông cũng gặp nhiều vấn đề cấp bách trong cuộc sống. Sau khi học cách buông bỏ, ông mải giải quyết những cảm thọ và sợ hãi trước các vấn đề lớn trong cuộc sống và chưa có thời gian giải quyết sợ độ cao kéo dài suốt đời của mình. Sau đó, khi phải đứng trên mái nhà, ông ta rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng sợ hãi của mình đã giảm đi đáng kể. Ông rất vui mừng và đi đến mép mái nhà, rồi ngồi và bỏ chân xuống. Giờ đây, ông ta có thể trèo lên thang và ở trên mái nhà trong suốt một giờ mà không cảm thấy khó chịu. Điều này minh họa rằng, khi một sợ hãi được buông bỏ, tất cả những sợ hãi khác cũng giảm đi.

Tâm lý trị liệu nhắm tới cải thiện các mô thức rối loạn thần kinh. Nhưng, buông bỏ lại được thiết kế để triệt tiêu tận gốc những căn nguyên hình thành nên tất cả các trạng thái rối loạn  đó. Nó phá vỡ cấu trúc cơ bản của những cảm thọ và hành vi kém thích nghi. Nếu tâm lý trị liệu tìm cách cải thiện sự cân bằng trong rối loạn thần kinh, thì buông bỏ lại loại bỏ hoàn toàn rối loạn thần kinh.

Hạn chế của hầu hết các khung lý thuyết tâm lý trị liệu là người trị liệu bị giới hạn trong cái thế giới gọi là bản ngã khỏe mạnh, hoạt động tốt với tất cả những hạn chế của nó. Trong hệ hình này, một bệnh nhân khỏe mạnh được coi là người có cùng những vọng tưởng và hạn chế được xã hội và người trị liệu chấp nhận. Ngược lại, mục đích của cơ chế buông bỏ là siêu việt những vọng tưởng của thế gian và vươn tới sự thật tối thượng đằng sau nó - đó là Tự Chứng ngộ  (Self-Realization[i]) và khám phá nền tảng của chính tâm trí, nguồn gốc của mọi suy nghĩ và cảm thọ.

Mục tiêu của việc buông bỏ là loại bỏ chính nguồn gốc của mọi khổ đau và bất hạnh. Nghe có vẻ cực đoan và làm người ta kinh ngạc, và thực tế là như thế! Cuối cùng, tất cả những cảm thọ tiêu cực đều có cùng cội nguồn. Khi đủ nhiều cảm thọ tiêu cực được buông bỏ, cội nguồn đó sẽ tự bộc lộ. Khi chính cội nguồn đó được buông bỏ và không còn đồng nhất với nó, bản ngã sẽ tan biến. Do đó, cội nguồn của khổ đau mất chính nền tảng sức mạnh của nó.

Mỗi người chúng ta đều có giới hạn về số lượng cảm thọ tiêu cực mà chúng ta đã tích trữ được. Khi áp lực đằng sau một cảm thọ được buông bỏ, cảm thọ đó sẽ không còn xuất hiện nữa. Ví dụ, nếu sợ hãi liên tục được buông bỏ trong một khoảng thời gian, cuối cùng nó sẽ cạn kiệt. Khi đó, cảm thấy sợ hãi sẽ trở thành khó khăn hoặc gần như không thể. Cần tác nhân kích thích ngày càng lớn thì mới khơi dậy được nó. Sau cùng, một người đã buông bỏ được phần lớn sợ hãi thì thực sự phải nhọc công tìm kiếm mới thấy lại được cảm thọ đó. Năng lượng của sợ hãi đơn giản là không còn nữa. Tức giận cũng giảm dần theo thời gian, đến nỗi ngay cả hành động khiêu khích công khai cũng không còn khơi dậy được nó. Một người ít sợ hãi hay tức giận luôn cảm thấy chủ yếu là yêu thương và yêu thương các sự kiện, con người và những thăng trầm của cuộc đời.

Mục tiêu của buông bỏ là siêu việt. Tâm lý trị liệu chấp nhận những mức độ hành vi được coi là lành mạnh, trong khi từ quan điểm về tự do tuyệt đối, đây lại là những hành vi không thể chấp nhận được. Ví dụ, trong tâm lý trị liệu, mức độ sợ hãi, tức giận và kiêu ngạo tối thiểu có thể được coi là mức độ hoạt động cần thiết hoặc chấp nhận được và thậm chí có thể là “lành mạnh”. Nhưng như chúng ta đã thấy, tính chất phá hoại vốn có đằng sau những trạng thái thấp hơn này cuối cùng là không thể chấp nhận được—vì sức mạnh của buông bỏ có thể hoàn toàn siêu việt được chúng. Vượt ra ngoài “mức độ hoạt động chấp nhận được” đang chờ đợi vận mệnh lớn lao hơn của chúng ta: tự do tuyệt đối.



[i] Self-Realization – Kiến chân tính, nhận ra bản chất thật của mình là Chân Ngã (Self), vượt ngoài bản ngã cá nhân. Ở đây có sự chuyển dịch căn bản trong đồng nhất tính, tuy nhiên có thể vẫn còn cảm nhận vi tế về “người biết” hay “người chứng”. Enlightenment: trạng thái tan rã sâu rộng của bản ngã và sự ổn định ngày càng vững chắc trong Nhận Biết phi cá nhân. Full Enlightenment (Chứng ngộ viên mãn): sự ổn định hoàn toàn và không hồi chuyển trong Chân Ngã; không còn trung tâm chủ thể riêng biệt, không còn “người chứng ngộ”. Chỉ còn Hiện Hữu tự thân, bất biến và phi cá nhân.

 

 

July 11, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (16)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 15

 

QUAN HỆ GIỮA TÂM TRÍ VÀ CƠ THỂ 

Ảnh hưởng của tâm trí

Nguyên tắc cơ bản cần phải hiểu là thân thể tuân theo tâm trí; do đó, thân thể có xu hướng biểu hiện những gì tâm trí tin tưởng. Niềm tin có thể được lưu giữ một cách có ý thức hoặc vô thức. Nguyên tắc này xuất phát từ quy luật của tâm thức: Chúng ta chỉ bị chi phối bởi những gì chúng ta lưu giữ trong tâm trí. Sức mạnh duy nhất mà bất kỳ điều gì có thể chi phối chúng ta chính là sức mạnh của niềm tin mà ta trao cho nó. “Sức mạnh” ở đây có nghĩa là năng lượng và ý chí đề tin. 

Nếu nhìn vào Bản đồ Tâm thức (Phụ lục A), có thể dễ dàng thấy vì sao tâm trí lại mạnh hơn thân thể. Trường năng lượng của lý trí (điểm hiệu chỉnh 400), với những niềm tin và khái niệm của tâm trí, mạnh mẽ hơn trường năng lượng của cơ thể vật lý (điểm hiệu chỉnh 200).

Khuynh hướng chấp nhận những niềm tin tiêu cực của chúng ta phụ thuộc vào việc, ngay từ đầu, ta đang lưu giữ bao nhiêu tiêu cực. Ví dụ, tâm trí tích cực sẽ không chấp nhận những suy nghĩ tiêu cực và đơn giản là bác bỏ chúng, vì cho rằng chúng không đúng đối với mình. Từ chối chấp nhận những ý tưởng tiêu cực phổ biến. Chúng ta biết rằng việc “bán” tự kết tội cho một người vốn đang đầy rẫy mặc cảm tội lỗi, hay gieo rắc sợ hãi về một căn bệnh nào đó cho một người vốn đã sợ hãi, là việc dễ đến mức nào.

Chẳng hạn, ý tưởng cho rằng “cảm lạnh rất dễ lây” là ví dụ điển hình. Suy nghĩ rằng “ai cũng bị cảm lạnh” sẽ được chấp nhận bởi một người có nhiều mặc cảm tội lỗi, sợ hãi và ngây thơ về các quy luật của tâm thức. Do mặc cảm tội lỗi vô thức, người ta cảm thấy rằng họ “xứng đáng” bị cảm lạnh. Cơ thể tuân theo niềm tin của tâm trí rằng cảm lạnh là do virus gây ra, “dễ lây” và truyền nhiễm. Do đó, cơ thể, do niềm tin của tâm trí kiểm soát, biểu hiện ra triệu chứng cảm lạnh. Người đã buông bỏ những năng lượng tiêu cực tiềm tàng của mặc cảm tội lỗi và sợ hãi sẽ không có tâm trí sợ hãi với niềm tin: “Cảm lạnh đang lây lan; chắc tôi cũng sẽ bị như mọi người khác.”

Đây chính là những động lực đằng sau bệnh tật. Các cơ chế này được thực thi thông qua những biến đổi do tâm trí gây ra trong dòng chảy năng lượng của hệ thống năng lượng sinh học (Khí), và sự tràn ra của năng lượng bị dồn nén vào hệ thần kinh thực vật.

Suy nghĩ rất mạnh mẽ vì nó có tần số rung động cao. Một suy nghĩ thực chất là một vật thể; có một mô thức năng lượng. Chúng ta càng cung cấp nhiều năng lượng cho nó, nó càng có nhiều sức mạnh để biểu hiện ra bên ngoài cơ thể vật lý. Đây là nghịch lý của phần lớn cái gọi là giáo dục sức khỏe. Hiệu ứng nghịch lý ở chỗ: những tư tưởng sợ hãi được củng cố và trao cho nhiều sức mạnh đến mức các vụ đại dịch thực chất đã được tạo ra bởi truyền thông (ví dụ như cúm lợn). Những “lời cảnh báo” dựa trên sợ hãi về nguy hiểm đối với sức khỏe thực ra đã tạo ra môi trường tâm trí, mà trong đó, chính cái ta sợ sẽ xảy ra.

Nằm chồng lên cơ thể vật lý là cơ thể năng lượng có hình dạng giống hệt cơ thể vật lý và các mô thức của nó thực sự kiểm soát cơ thể vật lý. Sự kiểm soát này diễn ra ở tầng suy nghĩ hoặc ý định. Vật lý lượng tử hạ nguyên tử cao cấp đã chỉ ra, rằng quan sát tạo ảnh hưởng lên các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao.

Sức mạnh của tâm trí đối với cơ thể đã được chứng minh bằng các nghiên cứu lâm sàng. Ví dụ, trong một công trình nghiên cứu, một nhóm phụ nữ được cho biết rằng họ sẽ được tiêm hormone làm cho kinh nguyệt đến sớm hơn hai tuần. Trên thực tế, họ chỉ được tiêm giả dược là dung dịch muối. Tuy nhiên, hơn 70% phụ nữ đã bị hội chứng tiền kinh nguyệt sớm với đầy đủ các triệu chứng về thể chất và tâm lý.

Một minh chứng rõ ràng khác về quy luật này của tâm thức xảy ra ở những người bị rối loạn đa nhân cách. Từng được cho là hiếm gặp, nhưng hiện nay rối loạn đa nhân cách trở thành tương đối phổ biến; và do đó, nghiên cứu về hiện tượng này ngày càng nhiều hơn. Người ta đã chứng minh rằng các nhân cách khác nhau trong cùng một cơ thể có những biểu hiện thể chất khác nhau. Ví dụ, có những thay đổi trong sóng điện não đồ, cũng như những thay đổi về thuận tay khi viết chữ, ngưỡng đau, phản ứng điện da, chỉ số IQ, chu kỳ kinh nguyệt, chi phối của bán cầu não, khả năng ngôn ngữ, giọng nói và thị lực. Do đó, khi nhân cách tin vào dị ứng xuất hiện, người đó sẽ bị dị ứng; nhưng khi một nhân cách khác tiến vào cơ thể, các triệu chứng dị ứng biến mất. Một nhân cách có thể cần đeo kính, còn nhân cách khác thì không. Những nhân cách khác nhau này thực sự có những khác biệt đáng kể về áp lực nội nhãn và các chỉ số sinh lý khác.

Ở người bình thường, những hiện tượng vật lý này cũng thay đổi nếu họ bị thôi miên. Dị ứng có thể xuất hiện hoặc biến mất chỉ bằng những gợi ý đơn giản. Những người nhận được gợi ý rằng họ bị dị ứng với hoa hồng khi đang tiến hành thôi miên sẽ bắt đầu hắt hơi khi họ thoát khỏi trạng thái thôi miên và nhìn thấy một bình hoa hồng trên bàn của bác sĩ, ngay cả khi đấy là bông hoa giả.

Ngài John Eccles, Khôi nguyên Nobel, từng tuyên bố rằng sau cả đời nghiên cứu, ông thấy rõ ràng là não bộ không phải là nguồn gốc của tâm trí, như khoa học và y học đã tin tưởng, mà ngược lại. Tâm trí điều khiển não bộ, nó hoạt động như một trạm thu (tương tự như radio), những suy nghĩ tương tự như sóng radio, còn não bộ thì giống như máy thu.

Não bộ giống như một thiết bị thu sóng, một tổng đài tiếp nhận các dạng suy nghĩ, rồi chuyển chúng thành chức năng thần kinh và bộ nhớ. Ví dụ, cho đến gần đây, người ta tin rằng các chuyển động tự nguyện của cơ bắp bắt nguồn từ vỏ não vận động. Nhưng hiện nay, như Eccles đã báo cáo, ý định di chuyển được ghi nhận bởi vùng vận động bổ sung của não bộ nằm cạnh vỏ não vận động. Do đó, não bộ được kích hoạt bởi ý định của tâm trí chứ không phải ngược lại.

Chúng ta thấy điều này trong nhiều nghiên cứu hình ảnh não bộ được thực hiện trên những người đang hành thiền. Ví dụ, nghiên cứu của Tiến sĩ Richard Davidson trong thập kỷ vừa qua ở Đại học Wisconsin (Madison) đã chứng minh rằng thực hành thiền định về tâm từ bi và yêu thương kích thích sự gia tăng hoạt động ở vỏ não trước trán bên trái (chứa đựng những cảm xúc tích cực như hạnh phúc) và sự đồng bộ hóa sóng gamma biên độ cao (dấu hiệu của nhận thức mở rộng, tỉnh táo và tuệ giác). Những thứ được lưu giữ trong tâm trí có sức mạnh làm thay đổi hoạt động của não bộ và cấu trúc thần kinh.

Chúng ta chịu ảnh hưởng bởi đủ loại tác động của những niềm tin vô thức và hữu thức mà tâm trí chúng ta đang lưu giữ trên tất cả các hệ thống cơ thể. Trong đó có niềm tin của chúng ta về những tác động được cho là của các loại thực phẩm, chất gây dị ứng, rối loạn mãn kinh và kinh nguyệt, nhiễm trùng và tất cả các bệnh khác liên quan đến các hệ thống niềm tin cụ thể, cùng với khuynh hướng căng thẳng tiềm ẩn do có những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén.

Norman Cousins, tổng biên tập tạp chí Saturday Review trong ba thập kỷ, đã chứng minh nguyên tắc này khi ông tự chữa khỏi bệnh tật nghiêm trọng bằng tiếng cười. Ông cho xuất bản cuốn sách Anatomy of an Illness (Giải phẫu một căn bệnh), nói về trải nghiệm hồi phục của chính mình khỏi căn bệnh viêm khớp bằng cách bổ sung nhiều vitamin C và cười sảng khoái khi xem phim do anh em nhà Marx thủ vai. Ông phát hiện ra rằng tiếng cười có tác dụng gây tê, có thể làm giảm đau trong hai giờ. Cười là một phương pháp buông bỏ. Thông qua tiếng cười, Cousins tiếp tục buông bỏ áp lực cảm xúc tiềm ẩn và loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực. Cách làm này dẫn đến những thay đổi rất tích cực và có lợi cho cơ thể, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hồi phục cuối cùng của chính ông ta.

 

Những niềm tin dễ làm người ta bị bệnh

Để xác định mức độ dễ bị bệnh của chính mình, chúng ta có thể xem xét nhưng câu hỏi sau:

Tôi có lo lắng về sức khỏe của mình, có những suy nghĩ sợ hãi về những điều có thể xảy ra với mình hay không?

Tôi có cảm thọ sợ hãi, phấn khích và nguy hiểm thầm kín khi nghe về một căn bệnh mới đang được truyền thông loan tin và thịnh hành không?

Tôi có mất thời gian cho việc kiểm tra sức khỏe thường xuyên, đọc về các bệnh tật, và cảm thấy sợ hãi bởi những câu chuyện trên TV về bệnh tật hay không?

Tôi có quan tâm đến việc nghe về bệnh tật của những người nổi tiếng hay không?

Tôi có tin rằng môi trường và thực phẩm chứa đầy những nguy hiểm tiềm ẩn, hay thực phẩm chứa các chất phụ gia độc hại và sẽ làm cho người ta bị bệnh hay không?

Tôi có tin rằng một số bệnh “di truyền trong gia đình mình” hay không?

Tôi có dừng lại hoặc muốn dừng lại (nhưng không dám) để chứng kiến ​​nạn nhân của tai nạn giao thông hay không?

Tôi có thích các chương trình truyền hình về bệnh viện hay không? Tôi có thích các chương trình truyền hình có cảnh đánh đập, la hét, ẩu đả, giết người, tra tấn, tội phạm và các hình thức bạo lực khác hay không?

Tôi có phải là một người luôn có mặc cảm tội lỗi hay không?

Tôi có ôm giữ nhiều tức giận hay không?

Tôi có lên án hành vi của người khác hay không?

Tôi có hay phán xét người khác hay không?

Tôi có lưu giữ oán hận và thù hận hay không?

Tôi có cảm thấy bị mắc kẹt và tuyệt vọng hay không?

Tôi có tự nhủ rằng, “Bất cứ căn bệnh nào đang xảy ra, có lẽ tôi cũng sẽ bị lây”?

Tôi có quan tâm đến của cải và biểu tượng địa vị thay vì chất lượng của các mối quan hệ hay không?

Tôi có mua nhiều bảo hiểm mà vẫn lo lắng rằng chưa đủ hay không?

Tóm lại, muốn thay đổi cơ thể thì phải thay đổi suy nghĩ và cảm thọ. Chúng ta phải buông bỏ những suy nghĩ và hệ thống niềm tin tiêu cực và loại bỏ căng thẳng do những cảm xúc tiêu cực cung cấp năng lượng cho chúng. Chúng ta phải loại bỏ những lập trình tiêu cực đến từ thế giới, cũng như từ chính hệ thống niềm tin của chúng ta.

Chúng ta có thể thấy những ảnh hưởng tai hại của lập trình tiêu cực đầy sợ hãi ở những người sợ hãi thực phẩm, hóa chất và các chất trong môi trường. Mỗi ngày lại có một hóa chất hoặc chất mới được công bố là có hại. Càng sợ hãi, chúng ta càng nhanh chóng bị lập trình, và sau đó cơ thể phản ứng một cách tương ứng. Sợ hãi các chất, thực phẩm, không khí, năng lượng và các kích thích đủ mọi loại đã đến mức gần như là chứng hoang tưởng về môi trường. Một số người trở nên ám ảnh về môi trường và mọi thứ trong đó đến mức thế giới của họ ngày càng thu hẹp lại. Họ ngày càng sợ hãi hơn. Một số người thậm chí còn gục ngã đến mức họ chạy trốn khỏi thế giới và sống trong những bong bóng nhân tạo, nằm trong vòng vây của chính tâm trí của mình.

Hiện tượng này có thể xảy ra với người bình thường, thậm chí là bác sĩ. Bắt đầu với phấn hoa, phấn hương, vảy da ngựa, lông chó mèo, bụi, lông vũ, len, sô cô la, pho mát và các loại hạt (tất cả đều được cho là gây dị ứng). Sau đó, là đường (tăng đường huyết) cùng với các chất phụ gia thực phẩm (gây ung thư), trứng và các sản phẩm từ sữa (cholesterol), và nội tạng động vật (bệnh gút). Tiếp theo trong danh sách “có hại” là phẩm màu thực phẩm, saccharine, caffeine, chất tạo màu, nhôm, vải tổng hợp, tiếng ồn, đèn huỳnh quang, thuốc xịt côn trùng, chất khử mùi, thực phẩm nấu ở nhiệt độ cao, khoáng chất có trong nước, clo trong nước, nicotine, khói thuốc lá, các chất hóa dầu, khí thải ô tô, ion dương, rung động điện tần số thấp, thực phẩm có tính axit, thuốc trừ sâu và thực phẩm có hạt.

Thế giới thu nhỏ lại đến mức không còn gì an toàn để ăn. Không còn gì có thể mặc. Không có không khí để thở. Cơ thể có tất cả các loại dị ứng, phản ứng và bệnh tật để chứng minh điều đó. Việc đi ăn tối bên ngoài trở thành một thú vui của quá khứ, bởi vì thực đơn chẳng có gì ăn được, ngoại trừ rau diếp (tất nhiên là phải rửa sạch), và việc đeo găng tay trắng khi cầm dụng cụ ăn uống ở nhà hàng là bắt buộc!

Rồi, khi hiểu được sự thật cốt lõi, toàn bộ mô thức được gỡ bỏ. “Những gì được lưu giữ trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra ngoài thân thể”—trong đó có cả những niềm tin vô thức. Thủ phạm không phải là thế giới mà là tâm trí. Tất cả những lập trình tiêu cực và điều kiện hóa đầy sợ hãi đều nằm trong tâm trí, và cơ thể tuân theo tâm trí. Quy luật tâm thức này đảo ngược chứng hoang tưởng. Khi mỗi niềm tin nội tâm được xem xét và buông bỏ, tất cả các phản ứng tiêu cực của cơ thể, bệnh tật và triệu chứng đều biến mất. Nói cách khác, không phải lá cây thường xuân độc gây ra dị ứng mà là niềm tin của tâm trí rằng cây thường xuân độc có chất gây dị ứng. Khi tâm trí buông bỏ lập trình của nó, các phản ứng của cơ thể đã biến mất.

Kiểm tra cơ thể động học có thể đảo ngược hoàn toàn các mô thức phản ứng. Những gì trước đây làm cho cơ yếu đi giờ đây không còn tác dụng nữa. Mức độ nhạy cảm với căng thẳng nói chung rõ ràng đã giảm đi rất nhiều, đến mức cơ thể hoàn toàn không phản ứng với những thứ mà trước đây được coi là kích thích tiêu cực (ví dụ: đèn huỳnh quang, đường hoá học).

 

So sánh với các kỹ thuật khác

Như chúng ta đã thấy, căng thẳng phát sinh từ bên trong như là phản ứng trước tác nhân kích thích. Tác nhân gây căng thẳng thực chất là áp lực của những năng lượng cảm xúc bị kìm nén và đè nén, phản ánh tầng thức thấp tổng thể của chúng ta.

Do đó, cần thay đổi nội dung của tâm thức thì mới loại bỏ và ngăn ngừa căng thẳng. Các phương pháp điều trị căng thẳng thường được kê đơn tương tự như các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y học. Đấy là những phương pháp tìm cách khắc phục những tổn thương do căn bệnh mà chúng ta đã mắc phải gây ra, chứ không chữa trị nguyên nhân bên trong của bệnh.

Ví dụ, các hội nghị về căng thẳng thường bao gồm các chủ đề sau:

Liệu pháp hương thơm.

Hội thảo về tập thể dục.

Châm cứu làm giảm các rối loạn do căng thẳng.

Phản hồi sinh học.

Nắn chỉnh cột sống.

Điều chỉnh căng thẳng.

Dinh dưỡng.

Thể dục và tập luyện.

Liệu pháp vi lượng đồng căn.

Huấn luyện tự sinh. (Autogenic training là một kỹ thuật tự thôi miên và thư giãn sâu được phát triển bởi nhà tâm lý học người Đức Johannes Heinrich Schultz vào năm 1932 – ND).

Chữa bệnh toàn diện.

Massage và trị liệu cơ thể.

Bể nổi (Flotation tank - còn gọi là bể cách ly giác quan) là thiết bị được thiết kế để đưa con người vào trạng thái thư giãn sâu nhất có thể bằng cách loại bỏ hầu hết các kích thích từ môi trường bên ngoài – ND).

Cân bằng răng miệng.

Kỹ thuật thư giãn bằng cách sử dụng các chuyển động cơ thể.

Như chúng ta thấy bên trên, các phương pháp thông thường chỉ giải quyết hậu quả và thiệt hại do hội chứng căng thẳng gây ra. Không có phương pháp nào giải quyết được nguyên nhân cơ bản. Tất cả đều liên quan đến các thủ tục tương đối phức tạp và tốn nhiều thời gian, và không thể áp dụng ngay tại chỗ.

Ví dụ, giả sử chúng ta đang thuyết trình hoặc giảng bài. Chúng ta đang ở ngay tại chỗ. Việc dừng lại giữa bài phát biểu để tập thở, thôi miên, châm cứu hoặc sử dụng máy phản hồi sinh học là không thực tế. Bể nổi có tiện dụng không khi đang cãi nhau với người khác?

Vì những phương pháp này chỉ mang tính tạm thời, tốn nhiều thời gian và thường khá đắt tiền, nên mọi người nhiệt tình áp dụng trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó nhiệt tình giảm dần, vì về cơ bản chẳng có gì thực sự thay đổi. Nhận thức cơ bản về thế giới vẫn như cũ. Áp lực cảm xúc vẫn như cũ. Tính cách cũng vẫn thế. Hoàn cảnh sống không thay đổi. Tầng tâm thức không thay đổi. Tâm lý vẫn như cũ. Kỳ vọng vẫn như cũ và do đó, cuộc sống vẫn tiếp diễn như trước đây.

Nếu tâm thức không thay đổi, thì căng thẳng thực sự không mất đi được. Chỉ có hậu quả là giảm nhẹ mà thôi. Tất cả những kỹ thuật và phương pháp điều trị sau khi sự việc đã xảy ra này đều hữu ích và thường làm giảm bớt tình trạng bệnh tật và làm cho người ta cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng không giải quyết được gốc rễ của vấn đề. Một người có thể áp dụng tất cả các kỹ thuật này mà vẫn là người dễ bị căng thẳng như cũ. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, việc sử dụng một cách có ý thức cơ chế buông bỏ hiệu quả hơn trong việc giải quyết các bệnh mãn tính liên quan đến căng thẳng. Bệnh tật bắt đầu tự chữa lành, vì nguyên nhân mang tính cảm xúc tiềm ẩn đã được loại bỏ, và các phương pháp điều trị sau đó thường là không còn cần thiết nữa.

Trong trường hợp hiếm hoi của căn bệnh dai dẳng không được chữa khỏi bằng cách buông bỏ những suy nghĩ và cảm thọ tiêu cực, các yếu tố chưa biết như khuynh hướng nghiệp có thể đang tác động. Trong những trường hợp như thế, chúng ta buông bỏ mong muốn thay đổi hoặc kiểm soát trải nghiệm cuộc sống của mình, và chúng ta chờ đợi những khám phá nội tâm sâu sắc hơn về nguồn gốc và ý nghĩa của bệnh tật. Buông bỏ ở mức độ sâu nhất và trọn vẹn khi một người đã buông bỏ nhu cầu hoặc mong muốn được chữa lành về thể chất. Ta sẽ đạt được trạng thái an bình trước tình trạng bệnh tật khi cả ba phương diện của nó—thể xác, tâm trí và tâm linh—đều đã được giải quyết, đồng thời kết quả cuối cùng hay mong cầu bình phục đã được buông bỏ. An bình chỉ đến cùng với buông bỏ hoàn toàn bên trong trước những gì đang là.