July 8, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (14)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 13 

AN BÌNH

 

Ở tầng an bình, sẽ không còn xung đột nào nữa. Hoàn toàn không còn tiêu cực và yêu thương bao trùm được trải nghiệm như thanh thản, yên bình, phi thời gian, trọn vẹn, viên mãn, tĩnh lặng và mãn nguyện. Tĩnh lặng và ánh sáng nội tâm, cảm thọ được sự hợp nhất, nhất thể và tự do hoàn toàn. An bình là không thể bị xáo trộn. Hành động trở thành phi nỗ lực, tự phát, hài hòa và tràn đầy yêu thương. Có sự dịch chuyển trong tri giác về vũ trụ và quan hệ của chúng ta với vũ trụ. Đại Ngã bên trong giữ thế thượng phong. Đã siêu việt được tự ngã cá nhân, với tất cả những cảm thọ, niềm tin, bản sắc và những quan tâm của nó. Đây là trạng thái cao nhất mà tất cả những người tìm kiếm đều hướng tới, dù họ là người theo tôn giáo, người theo chủ nghĩa nhân văn, hay hoàn toàn không có một đức tin và hệ tư tưởng cụ thể nào. 

Ảnh hưởng sâu sắc của an bình

Tất cả chúng ta đều đã từng có những khoảnh khắc an bình sâu sắc, thời gian và thế giới dường như đột nhiên dừng lại, và chúng ta tiếp xúc với Vô Hạn. Trong những năm gần đây, có một số cuốn sách viết về trải nghiệm cận tử. Trong những hoàn cảnh khác nhau, trải nghiệm như thế đã xảy ra với những người đã chết và sau đó trở lại với thân thể. Đặc điểm chung là, cuộc đời của họ đã được trải nghiệm này chuyển hoá, họ không bao giờ quên được nó. Quan điểm của họ về thế giới, ý nghĩa của nó, và vai trò cá nhân của họ trong thế giới đó đã thay đổi đáng kể.

Trong bộ phim Lost Horizon (Chân trời đã mất), sau khi nhân vật chính trải nghiệm Shangri-La, và mặc dù anh ta đã trở lại thế gian, nhưng quan điểm của anh ta về thế giới đã hoàn toàn khác. Anh ta khao khát, bằng mọi giá, được trở lại Shangri-La, miền đất mà trạng thái an bình luôn luôn ngự trị. Một khi đã trải nghiệm trạng thái an bình, chúng ta không còn là nạn nhân của thế gian nữa. Thế gian không còn tạo được ảnh hưởng lên chúng ta nữa, vì chúng ta đã thoáng thấy sự thật về nó và về con người mà chúng ta thực sự đang là.

Tiếp tục buông bỏ, chúng ta sẽ bắt đầu trải nghiệm những trạng thái an bình này một cách thường xuyên hơn. Đôi khi, những trải nghiệm có thể rất sâu và kéo dài hơn. Khi mây tan, mặt trời sẽ lộ ra và ta nhận ra rằng an bình chính là sự thật vốn có. Buông bỏ là cơ chế mở ra bản chất thực sự của tồn tại.

Khi một người ở trong trạng thái an bình, họ có kết quả kiểm tra cơ bắp rất tốt, không có gì – dù là tâm trí, cảm thọ hay thể chất - có thể làm cơ bắp của họ yếu đi. Không còn đồng nhất với cơ thể và tự ngã, các rối loạn thể chất có thể được chữa lành hoặc không được chữa lành. Chúng ta không còn quan tâm tới chúng nữa; lo lắng về thể chất không còn bất kỳ ý nghĩa quan trọng nào.

Sức mạnh xuất hiện cùng với trải nghiệm an bình nội tâm. Trường năng lượng của an bình tuyệt đối là không thể lay chuyển. Người đã tìm được an bình nội tâm sẽ không còn bị đe dọa, kiểm soát, thao túng hay lập trình nữa. Trong trạng thái này, những đe dọa của thế gian không còn ảnh hưởng được tới chúng ta nữa, và, do đó, chúng ta làm chủ đời sống trên thế gian này. Trong trạng thái an bình, những đau khổ thông thường của con người là không thể xảy ra, vì chính nền tảng của khả năng bị tổn thương đã hoàn toàn được loại bỏ. 

Trao truyền năng lượng thầm lặng

Chúng ta gọi người đã vươn tới được trạng thái an bình như thế là “Chứng ngộ” và đang ở trong trạng thái của Ân phước. Bên trong và vượt ra ngoài trạng thái đó là nhiều trạng thái chứng ngộ cao cấp và các tầng nhận thức được các nhà huyền môn, giác giả, các vị thánh và thánh thần giáng thế mô tả.

Thực sự ở bên cạnh người đã chứng ngộ mang lại cho chúng ta lợi ích thầm lặng, không thể diễn tả được bằng lời. Theo truyền thống, đấy sẽ là đạo sư tâm linh cao cấp, thánh nhân hoặc giác giả. Những người tìm kiếm đi từ những nơi rất xa tới để được hiện diện trực tiếp trong trường năng lượng này. Người sùng đạo hoặc người tìm kiếm nhận được năng lượng tần số cao từ hào quang của đạo sư thông qua quá trình trao truyền năng lượng thầm lặng, được mô tả là “Truyền năng lượng của không tâm trí”, “Ân phước của Aura”, hoặc “Phước lành của đạo sư”. Quá trình trao truyền tự diễn ra và không mang tính cá nhân. Trạng thái an bình vô hạn phát ra từ trường năng lượng của đạo sư hay vị thánh là vô điều kiện. Khi Đức Phật đưa cho Đại Đệ Tử một bông hoa, đó là biểu tượng của trao truyền năng lượng. Nếu được ở bên cạnh một đạo sư vĩ đại phát ra năng lượng này thì chúng ta sẽ không bao giờ còn như trước nữa. Lợi ích lớn nhất có thể xảy ra với chúng ta là được ở bên cạnh một đạo sư vĩ đại, vì chúng ta tiếp nhận rung động bằng cách tự mình hiện diện trong trạng thái an bình và hoàn toàn phó thác. Trao truyền thầm lặng trạng thái chứng ngộ là hiện tượng phi ngôn ngữ, mang theo năng lượng, không phụ thuộc vào logic hay ngôn ngữ. Rung động bên trong hào quang của đạo sư cao cấp hoạt động như sóng tải, tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta hiểu những lời đang được nói ra. Nhưng chính sóng năng lượng mới là yếu tố xúc tác, chứ không phải lời nói. Bằng trao truyền thầm lặng, năng lượng từ đạo sư cao cấp hay vị thánh được tích hợp vào hào quang, chức năng não bộ và toàn bộ con người chúng ta.

Chính vì năng lượng an bình này được truyền ra thế giới bên ngoài cho nên nhân loại vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Nếu không có năng lượng này làm đối trọng thì nhân loại đã tự hủy diệt từ lâu. Đó là lý do vì sao sự tiến hóa nội tâm của chúng ta phụng sự toàn thể nhân loại. Bằng cách vươn tới những trạng thái cao hơn của yêu thương và an bình bên trong chính mình, chúng ta trở thành người cứu rỗi trên thế giới này. 

Phó thác cho thực tại tối thượng

Dấu hiệu đặc trưng của tầng này là vô cầu. Không cần mong muốn bất cứ điều gì, vì mọi thứ hiển lộ trong cuộc đời của chúng ta theo lối tự phát và tự động, không cần ý chí hay nỗ lực có ý thức nữa. Ở tầng này, những suy nghĩ được lưu giữ trong tâm trí có rất nhiều sức mạnh và có xu hướng hiển lộ ngay lập tức. Hiện tượng đồng bộ diễn ra liên tục. Cơ chế nhân quả và sự vận hành bên trong của vũ trụ được mặc khải một cách rõ ràng, đấy là khi chúng ta đang chứng kiến nền tảng của chính Thực tại.

Những trạng thái nhận thức rất cao này xảy ra một cách tự phát và bất ngờ, và có xu hướng tái diễn và ngày càng dài ra. Một khi đã trải nghiệm trạng thài này, ý định của chúng ta tự động làm cho trạng thái an bình trở nên vĩnh viễn.

Cách mà trạng thái này xuất hiện cũng như bản chất của nó được thể hiện rõ qua câu chuyện dưới đây - ghi lại những diễn biến sau ba năm rưỡi kiên trì thực hành phó thác. Đó là một ngày mùa đông lạnh giá. Phó thác diễn ra liên tục trong mười một ngày liền, ở tầng tâm thức mà trước đây chưa từng vươn tới, ngay cả trong quá trình phân tâm học. Nó liên quan tới nền tảng sinh tồn của bản ngã và sự đồng nhất với nó như là cá nhân. Nó liên quan đến cách chúng ta trải nghiệm sự tồn tại của chính mình và khát vọng trải nghiệm sự hiện hữu của chính mình.

Ngày qua ngày, quá trình dường như là bất tận. Nghi ngờ nổi lên: “Đây có phải là nỗ lực để làm một việc bất khà thi?” Rõ ràng là mục đích của chính nghi ngờ là cơ chế phòng vệ; nó đã được loại bỏ, và phó thác tiếp tục ở tầng cực sâu.

Rồi, khi bước vào một nhà hàng trong buổi chiều Chủ nhật lạnh lẽo và mưa phùn, ngồi một mình xuống bàn, thế rồi thế giới đột nhiên biến đổi một cách kỳ diệu. Xuất hiện cảm giác tĩnh lặng và bình yên sâu sắc. Nó vĩ đại hơn bất cứ điều gì có thể tưởng tượng được. Trải nghiệm đó vượt ra ngoài thời gian. Trên thực tế, thời gian không có ý nghĩa gì hết, cũng như không gian không tồn tại theo cách mà chúng ta thường trải nghiệm. Mọi thứ đều được kết nối với mọi thứ khác. Chỉ có một đời sống duy nhất tự thể hiện qua một Đại Ngã duy nhất trong tất cả các sinh vật. Không còn đồng nhất với thân thể và không còn quan tâm đến nó nữa. Nó không thú vị hơn bất kỳ thân thể nào khác trong căn phòng đó nữa. Tất cả các cảm xúc và sự kiện đều liên kết với nhau, và tất cả các hiện tượng xảy ra, vì mỗi vật tự hiển lộ bản chất bên trong của chính nó theo lối tự phát, như thể vận động và phát triển là mở ra một cách tự phát của tiềm năng. Tĩnh lặng không lay chuyển ấy có đặc điểm là vững như bàn thách. Rõ ràng là Đại Ngã thực sự là vô hình—không có khởi đầu, không có kết thúc—và chỉ có sự đồng nhất tạm thời với thân thể và câu chuyện đi kèm với sự đồng nhất như là cá thể.

Thật kỳ lạ khi trước đây người ta lại có thể nghĩ rằng mình là một thân thể cô lập tách biệt với những người khác, với một khởi đầu hữu hạn và một kết thúc hữu hạn. Suy nghĩ đó dường như là phi lý. Không còn cảm thọ về tự ngã tách biệt nữa, đại từ “tôi” biến mất và trở thành vô nghĩa. Thay vào đó, chỉ còn là sự nhận biết rằng mình chính là vạn vật. Nó vẫn luôn luôn như thế và sẽ mãi mãi như thế. Bản thể thực thụ nằm ngoài thời gian. Khoảng thời gian mà thân xác này hiện diện trên mặt đất chỉ tựa như một chớp mắt, khi mà sự thật về bản sắc phi thời gian bị lãng quên, tự ngã nhỏ bé làm cho nó khuất lấp đi. Rồi cách thức mà nó xảy ra đã tự hiển lộ. Đã từng mong muốn được trải nghiệm tồn tại tách biệt, và chính mong muốn này đã tự biểu hiện thành một cá nhân với bản sắc riêng cùng với cơ thế vật lý đi kèm.

Sự kết nối nội tại của vạn vật hiện rõ mồn một. Đó là vũ trụ toàn ảnh như Đức Phật và vật lý lý thuyết hiện đại mô tả, cả hai đều đồng thuận về bản chất nội tại của vũ trụ. Vì mọi thứ đều hoàn hảo, nên không còn gì để ước ao, không còn ham muốn, không cần sáng tạo, và chẳng phải trở thành bất cứ thứ gì. Chỉ còn Cái Đó, chính là tinh túy của Bản Thể mà từ đó tồn tại phát khởi. Bản Thể ấy là Cội nguồn của tồn tại, nhưng kỳ lạ thay, lại không phải là Nguyên nhân của nó.

Có một sự thân thuộc sâu sắc trong trạng thái nhận biết này. Như thể ta đã luôn biết về nó từ bấy lâu nay, như thể cuối cùng ta cũng đã được về nhà. Không còn cảm xúc hay cảm thọ nào nữa. Hoàn toàn không nhận thức về các cảm giác. Dù chúng dường như vẫn tiếp diễn, chúng không còn mang tính cá nhân hay là điều đáng bận tâm nữa.

Để làm thí nghiệm, một ý nghĩ được giữ trong tích tắc để xem điều gì sẽ xảy ra. Gần như ngay lập tức, có một hiệu ứng trong thế giới vật chất. Ví dụ, ý nghĩ về bơ hoặc cà phê khiến người phục vụ mang đến ngay lập tức, mà không cần nói một lời nào. Dường như không cần nói. Giao tiếp diễn ra ở tầng im lặng.

Tối hôm đó, cơ thể tự lái xe đến cuộc họp, mà không ai nhận thấy bất cứ điều gì khác thường. Mọi người dường như đều tràn đầy sức sống. Sự sống động ấy tỏa rạng từ chính Bản thể của họ; và Đại Ngã—vốn là một và như nhau ở tất cả mọi người—tỏa sáng qua ánh mắt của họ. Cơ thể nói chuyện với những người khác, tiếp tục một cách tự phát những cuộc trò chuyện bình thường và cư xử như bình thường. Lúc đó, cơ thể dường như tương tự như một món đồ chơi lên dây cót theo lối nghiệp báo được vận hành bởi tất cả các mô thức và chương trình quen thuộc của nó, không cần để ý tới, dù chỉ một chút thôi. Nó dường như biết phải làm gì và làm điều đó rất hiệu quả và dễ dàng. Tất cả các cuộc trò chuyện và tương tác chỉ được chứng kiến ​​như những hiện tượng, chứ không bị dẫn động. Việc từng tin rằng có một tự ngã nhỏ bé là tác giả của mọi hành động của thân thể này, giờ đây dường như chỉ là ảo tưởng hão huyền kỳ quặc. Trong thực tại, thân thể vốn chịu tác động của toàn vũ trụ, và chưa từng bao giờ có “người làm” nào đứng sau những hành động ấy. Các hiện tượng chỉ là những rung động của tâm trí, vốn không có tồn tại hay thực tại riêng biệt nào. Chỉ có Toàn thể. Chỉ có Một thể là thực sự tồn tại.

Chiều hôm sau, một ý nghĩ xuất hiện. Giờ đây, con đường dẫn đến Thực tại đã được mặc khải, có thể quay trở lại tâm thức về việc là một cá nhân, điều mà trước đây đã được chấp nhận là có thật. Hệt như không khí trong phòng không cảm nhận được nội dung của căn phòng, không còn một “tôi” nào trải nghiệm “sự tồn tại của chính mình” nữa. Trong không gian đó, không có “tôi” nào để trải nghiệm “tôi là”. Trở lại tâm thức cá nhân có nghĩa là phải đưa ra lựa chọn. Thực ra, lựa chọn tự nó được đưa ra vì không có “tôi” nào để đưa ra quyết định. Ham muốn trải nghiệm tự ngã cá nhân tự nó được tiếp thêm năng lượng. Lựa chọn buông bỏ vẫn còn, nhưng ký ức về những điều chưa hoàn thành trên thế gian lại quay trở lại. Khi cảm giác về “tôi” trở lại, các lựa chọn được chứng kiến, chứ không phải được quyết định một cách chủ động. Quá trình trở lại đang diễn ra. Nó có thể được cho phép hoặc có thể được buông bỏ. Nó đã được cho phép, và vì vậy quá trình trở về tiếp tục. Khi bình minh hôm sau ló dạng, cuộc trở về đã hoàn tất, nhưng giờ đây có cảm giác khác về bản sắc cá nhân. Sự thật về Đại Ngã đã được mặc khải. Trách nhiệm vì đã lựa chọn trải nghiệm cuộc đời một lần nữa với tư cách là một cá nhân đã được chấp nhận, nhưng không phải do ảnh hưởng của niềm tin vào tồn tại cá nhân. Trên thực tế, bằng lựa chọn có ý thức, đã nhận trách nhiệm hoàn toàn cho việc đó. Về mặt trải nghiệm, tất cả điều này đã xảy ra một cách tự động.

Trước đây, những trạng thái tâm thức vừa nói được coi là chỉ thuộc về lĩnh vực của nhà huyền môn. Tuy nhiên, hiện nay, việc nghiên cứu những trạng thái này, và thông tin thu được, được coi là mũi nhọn trong khoa học, đặc biệt là nhánh vật lý liên quan đến cơ học lượng tử và các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao. Các công trình nghiên cứu về những hạt này cho thấy chúng không phải là những vật thể theo nghĩa thông thường mà thực chất là những sự kiện của tần số năng lượng. Khoa học hiện nay đưa ra giả thuyết về tần số siêu việt, vượt ra ngoài không gian và thời gian.

Nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều phòng thí nghiệm đã chứng minh rằng não bộ tri giác bằng những phân tích toán học phức tạp về các mô thức tần số. Những phát hiện này dẫn đến cái gọi là hệ hình toàn ảnh, cho rằng mọi thứ trong vũ trụ, trong đó có tâm trí con người, đều được kết nối với mọi thứ khác. Trong toàn ảnh, mỗi phần đều chứa đựng toàn thể. Do đó, mỗi tâm trí cá nhân đều có khả năng phản ánh toàn bộ vũ trụ. Quan hệ giữa tâm thức và khoa học tạo ra lĩnh vực hoàn chỉnh ngày càng được nhiều người quan tâm hơn, được thể hiện qua việc xuất bản những cuốn sách như Holographic Paradigm (Hệ hình toàn ảnh), Wholeness and the Implicate Order (Cái toàn thể và trật tự ẩn”, The Tao of Physics (Đạo của vật lý), The Dancing Wu-Li Masters (Các bậc thầy Wu-Li nhảy múa), Mindful Universe (Vũ trụ chánh niệm), Psychoenergetic Science (Khoa học năng lượng tâm lý) và các bài báo với tiêu đề như Field Consciousness and the New Perspective on Reality (Trường tâm thức và cách nhìn nhận mới về Thực tại), The Enfolding - Unfolding Universe (Vũ trụ Thu vào - Mở ra), The Holographic Model (Mô hình toàn ảnh), Physics and Mysticism (Vật lý và chủ nghĩa thần bí) và The Medium, the Mystic, and the Physicist (Nhà Ngoại cảm, Nhà Huyền môn và Nhà Vật lý học).  

Dẫn đầu trong số các nhà nghiên cứu này là nhà thần kinh học Karl Pribram ở Đại học Stanford và nhà vật lý học đã quá cố, David Bohm, ở Đại học London, với các lý thuyết có thể được tóm tắt như sau: Não bộ của chúng ta kiến tạo nên thực tại hữu hình bằng các phép tính toán học thông qua việc giải mã các tần số đến từ một chiều kích khác—một cõi giới của thực tại nguyên sơ, có cấu trúc và đầy ý nghĩa, vượt ra ngoài thời gian và không gian. Do đó, não bộ chính là một cấu trúc toàn ảnh đang giải mã vũ trụ toàn ảnh.

Thật thú vị khi thấy các lý thuyết của vật lý lý thuyết cao cấp, vốn là sản phẩm của cái gọi là hoạt động não trái, giờ đây lại đòi hỏi một bối cảnh mới để có thể được thấu hiểu. Bối cảnh đang tiến hóa từ chính những nhà nghiên cứu khoa học bằng bán cầu não trái này lại trùng khớp với Thực tại được chứng kiến bởi các bậc chứng ngộ – những người đại diện cho chức năng não phải. Như vậy, dù chúng ta chọn leo lên từ sườn núi nào, cuối cùng tất cả đều gặp nhau tại một điểm duy nhất: đỉnh núi.

Một con đường thứ ba để lên núi là thông qua cơ chế buông bỏ, và do đó, mỗi chúng ta đều có cơ hội tự mình kiểm chứng bản chất tối thượng của Thực tại, vốn là một và như nhau, như được tiết lộ cho nhà huyền môn hay nhà vật lý học. Chúng ta có thể hình dung rằng với mỗi lần buông bỏ, chúng ta lại tiến thêm một bước lên sườn núi. Một số người sẽ leo lên cho đến khi tầm nhìn trở nên tốt hơn và chọn dừng lại ở đó. Những người khác sẽ tiếp tục leo lên cao hơn nữa. Và rồi, sẽ có những người không hài lòng cho đến khi đạt đến Đỉnh cao nhất và tự mình kiểm chứng nó, mặc dù, tại thời điểm đó, không còn cá nhân nào để kiểm chứng bất cứ điều gì, vì nó đã được buông bỏ hoàn toàn.



July 7, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (13)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 12

 

YÊU THƯƠNG

 

Ở tầng yêu thương, chúng ta là người chân thành, hào phóng, nuôi dưỡng, trìu mến, kiên định và tha thứ. Yêu thương là bảo vệ, hợp tác, nâng đỡ, toàn diện và nhân hậu. Nó có đặc điểm là ấm áp, biết ơn, trân trọng, khiêm nhường, trọn vẹn, tầm nhìn, động cơ trong sáng và ngọt ngào.

Yêu thương là một cách sống. Nó là năng lượng tỏa ra khi những rào cản đã được buông bỏ. Nó không chỉ là cảm xúc hay suy nghĩ—nó là trạng thái của hiện hữu. Yêu thương là con người mà chúng ta đã trở thành bằng cách buông bỏ. Đó là một cách sống trên thế gian: “Tôi có thể giúp gì cho bạn? Tôi có thể an ủi bạn bằng cách nào? Tôi có thể cho bạn vay tiền khi bạn túng thiếu? Tôi có thể giúp bạn tìm việc làm? Tôi có thể an ủi bạn khi gia đình bạn gặp mất mát lớn?” Yêu thương là biện pháp để chúng ta thắp sáng thế gian này. 

Yêu thương trong đời sống thường nhật 

Mỗi người đều có cơ hội đóng góp vào vẻ đẹp và sự hài hòa của thế giới bằng cách thể hiện sự tử tế đối với tất cả các sinh linh và, qua đó, hỗ trợ linh hồn của nhân loại. Những gì chúng ta cho đi một cách tự nguyện sẽ quay trở lại với chúng ta, vì chúng ta cũng là một phần của cuộc đời. Tương tự như những gợn sóng trên mặt nước, mỗi món quà đều trở lại với người cho. Những gì chúng ta khẳng định ở người khác, thực chất là chúng ta cũng khẳng định ở chính mình.

Khi chúng ta sẵn sàng ban tặng tình yêu, chúng ta sẽ nhanh chóng khám phá ra rằng xung quanh chúng ta là tình yêu và chỉ đơn giản là chúng ta chưa biết cách tiếp cận với nó. Tình yêu thực sự có mặt khắp nơi; chỉ cần nhận ra sự hiện diện của nó là đủ.

Tình yêu thể hiện bằng nhiều cách khác nhau. Cậu bé ghi nhớ một bài hát ru mà cha cậu đã hát, tám mươi năm sau cậu vẫn có thể hát lại bài hát này. Người thuỷ thủ lái tàu vượt qua một cơn bão khủng khiếp suốt ba ngày đêm, không nghỉ, không có thức ăn và nước uống, trong khi tất cả các bạn đồng ngũ của anh ta đều đã say sóng. Vị bác sĩ yêu thương và cầu nguyện cho tất cả các bệnh nhân mà họ không hề quen biết. Người mẹ vừa lau dọn chiếc quần bẩn của đứa con nhỏ bị tiêu chảy, vừa nói: “Con yêu, đó không phải lỗi của con; con không thể làm khác được.” Người vợ dậy sớm để pha cà phê mỗi sáng theo đúng ý chồng. Chú chó nhỏ đứng bên cửa đợi chủ trở về và vẫy đuôi khi chủ bước qua. Con mèo kêu rừ rừ. Con chim hót líu lo.

Người ta thường nghĩ về tình yêu như tình yêu “lãng mạn”, như trong “Anh yêu” và “Em yêu”. Nhưng tình yêu lãng mạn chỉ là một phần nhỏ trong cuộc đời con người. Ngoài tình yêu cá nhân và lãng mạn, còn có nhiều loại tình yêu khác, thấm đẫm trong trải nghiệm hàng ngày của chúng ta: yêu thú cưng, yêu gia đình và bạn bè, yêu tự do, yêu mục đích sống, yêu nước, yêu những phẩm chất tốt đẹp, yêu sáng tạo, yêu là đức tính, yêu là nhiệt tình, yêu là tha thứ, yêu là chấp nhận, yêu là động lực, yêu là trân trọng, yêu là lòng tốt, yêu là bản chất của mối quan hệ, yêu là năng lượng tập thể (ví dụ: Hội những người nghiện rượu ẩn danh), yêu là ngưỡng mộ, yêu là tôn trọng, yêu là dũng cảm, yêu là tình anh em gắn bó (bạn bè, đồng môn, đồng đội), yêu là tình bạn, yêu là lòng trung thành, yêu là tình cảm, yêu là trân trọng, yêu là tình mẫu tử hy sinh, yêu là tận tụy.

“Tình yêu muôn màu muôn vẻ”, như lời một bài hát nổi tiếng. Về mặt trải nghiệm, ta thấy đúng như thế. Khi chúng ta buông bỏ tất cả kháng cự, và loại bỏ những cảm thọ tiêu cực cản trở tình yêu, thì thế giới này sẽ rạng rỡ với vẻ đẹp huy hoàng của yêu thương. Ở tầng yêu thương, sự rạng ngời này không còn bị che lấp khỏi tầm nhìn của tâm thức nữa. 

Yêu thương chữa lành 

Yêu thương giúp chữa lành. Yêu thương biến đổi cuộc sống. Chúng ta thấy điều này trong câu chuyện có thật về một người thợ săn vịt trời, anh ta đột nhiên thay đổi khi chứng kiến hành động yêu thương. Một ngày nọ, anh ta đi săn, anh ta thường đi săn lấy vui. Như thường lệ, anh ta bắn một con vịt đang bay, và nhìn thấy nó rơi xuống đất, bị thương nặng. Anh ta cảm thấy vô cùng kinh ngạc khi thấy con vịt cái lập tức hạ xuống để che chở cho người bạn đời của mình, và dang rộng đôi cánh ra để bảo vệ nó. Nhìn thấy tình yêu của con vịt, trái tim người thợ săn đã thay đổi; anh ta không bao giờ còn đi săn nữa. Khi bạn trở thành người yêu thương, có những việc bạn không bao giờ có thể làm lại nữa.

Và có những việc bạn có thể làm trong trường năng lượng của yêu thương, nếu không có nó thì không thể làm. Hơn nữa, người ta làm một số việc cho bạn, nhưng họ sẽ không làm cho người khác. Yêu thương làm cho điều kỳ diệu trở thành khả thi mà không cần gọi nó là “kỳ diệu”. Yêu thương tạo được ảnh hưởng mang tính chuyển hoá.

Đôi khi, tốt nhất là không nên nói với người ta rằng bạn yêu họ vì họ sẽ sợ và cho rằng bạn có ý đồ gì đó hoặc muốn cái gì đó ở họ. Thành thật mà nói, một số người có thái độ sợ hãi và nghi ngờ tình yêu; vì vậy, bạn yêu những người như thế mà không cần nói với họ. Yêu thương là một cách sống, nó chuyển hoá mọi thứ xung quanh bạn, năng lượng đó có khả năng lan toả. Nó xảy ra một cách tự nhiên. Chúng ta không cần phải “làm” bất cứ việc gì, và chúng ta không cần phải gọi nó bằng bất cứ cái tên nào. Yêu thương là năng lượng, âm thầm chuyển hoá mọi hoàn cảnh.

Có nghĩa là những người đầy thù hận, khi ở bên cạnh chúng ta, đột nhiên trở nên sẵn sàng tha thứ cho người khác. Chúng ta có thể thấy người đó chuyến hoá ngay trước mắt. Trong lúc buông bỏ tức giận, họ có thể nói, “Vâng, chẳng có lý do gì để giận anh ta đến thế… anh ta còn quá trẻ, chưa hiểu biết.” Họ sẽ tìm lý do để bảo vệ người đó, thay vì tấn công anh ta. Yêu thương trao quyền cho chúng ta, và những người xung quanh chúng ta, để làm những điều mà chúng ta không thể làm được nếu không có tình yêu.

Tha thứ là một khía cạnh của yêu thương, nó cho phép chúng ta nhìn nhận các sự kiện trong cuộc đời từ quan điểm của ân phước. Chúng ta tha thứ cho chính mình về những lỗi lầm khi chúng ta còn chưa trưởng thành. Sẽ có ích khi nhìn nhận bản ngã hay phần nhỏ bé của bản thân mình như một chú gấu bông dễ thương. Chú gấu bông này không “xấu”; chúng ta không ghét hay mắng mỏ chú gấu bông nhỏ. Chúng ta yêu thương và chấp nhận nó như nó vốn là: một con vật nhỏ dễ thương chưa biết gì hơn. Chúng ta siêu việt những khía cạnh nhỏ bé của chính bản thân mình bằng cách chấp nhận và yêu thương chúng. Chúng ta nhìn nhận bản ngã là “bị hạn chế”, chứ không phải “xấu”.

Trong trường năng lượng của yêu thương, chúng ta được bao bọc bởi tình yêu, và điều đó tạo ra lòng biết ơn. Chúng ta biết ơn cuộc sống của mình và tất cả những phép màu của cuộc đời. Chúng ta biết ơn những chú chó và những chú mèo, bởi vì chúng đại diện cho tình yêu. Chúng ta biết ơn mọi hành động tử tế của người khác, biết ơn tình cảm, sự quan tâm và sự chu đáo mà họ dành cho ta.

Cuối cùng, chúng ta chỉ đơn giản là trở thành yêu thương. Mọi việc chúng ta làm và nói, mọi cử động mà chúng ta làm, đều được tiếp thêm năng lượng bởi tình yêu mà chúng ta có bên trong chính mình. Dù đang nói chuyện trước đám đông hay vuốt ve chú chó, năng lượng của tình yêu đều được cảm nhận như đang tuôn trào. Chúng ta muốn chia sẻ những gì mình đang giữ trong trái tim như là kiến thức mang tính trải nghiệm, và chúng ta giữ kiến thức này trong trái tim dành cho mọi người và mọi vật, để họ cũng cảm nhận được điều đó. Chúng ta cầu nguyện cho trải nghiệm nội tâm về tình yêu vô hạn dành cho mọi người xung quanh, bao gồm cả các con vật. Cuộc sống của chúng ta là phước lành dành cho mọi thứ xung quanh. Chúng ta thừa nhận với người khác và với những con vật mà mình nuôi rằng họ/chúng là món mà Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta.

Tình yêu xuất phát từ trái tim. Khi ở bên cạnh những người yêu thương nhau, chúng ta tiếp thu được năng lượng đó. Tình yêu của những người thân yêu, thú cưng và bạn bè chính là tình yêu của Thần tính dành cho chúng ta. Khi đi ngủ vào ban đêm, chúng ta tạ ơn vì mình được tình yêu bao bọc suốt cả ngày. Mỗi khoảnh khắc đều khả thể, đấy là nhờ có tình yêu. Chỉ nhờ tình yêu mà việc chấp bút cuốn sách này mới trở thành khả thi.

Trong trạng thái yêu thương, mỗi sáng thức dậy, chúng ta tạ ơn vì sẽ được sống thêm một ngày mới, và chúng ta tìm cách làm cho cuộc đời trở thành tốt đẹp hơn cho tất cả những người xung quanh ta. Nhờ có tình yêu, mà mọi việc trở nên tốt đẹp hơn; món trứng chiên ngon hơn; chú vịt trời con được cứu; con mèo con được ăn; và con chó con được nhận từ trại chó về nuôi và được đưa về nhà. Chúng ta chia sẻ tình yêu của mình với mọi thứ ở xung quanh, mọi hình tướng của đời sống: mèo con, chó con, những người khác, tất cả các sinh linh. Vâng, ngay cả những kẻ phản diện. Nếu nhiệm vụ của chúng ta là trông coi kẻ phản diện bị bắt, chúng ta sẽ tìm cách làm cho cuộc sống của hắn ta trở thành dễ chịu hơn. Chúng ta nói: “Tôi rất tiếc phải dí súng vào đầu anh, nhưng đó là công việc của tôi.” Chúng ta cố gắng hết sức để trở thành người lịch sự và hào phóng, không có bất cứ ngoại lệ nào.

Càng yêu, chúng ta càng có thể yêu nhiều hơn. Tình yêu là vô hạn. Tình yêu sinh ra tình yêu. Đó là lý do vì sao các bác sĩ tâm thần khuyên nên nuôi thú cưng. Ví dụ, một con chó mang tới tình yêu và mở rộng tình yêu trong trái tim của người chủ. Tình yêu kéo dài tuổi thọ. Trên thực tế, các nghiên cứu đã chứng minh rằng việc nuôi chó kéo dài tuổi thọ của chủ nhân thêm mười năm! Xin nghĩ đến tất cả những bài tập, chế độ ăn kiêng kỳ quặc và các chế độ tập luyện khác mà mọi người vẫn làm để sống thêm vài năm, trong khi chỉ cần nuôi một con chó là có thể kéo dài thêm mười năm! Tình yêu có khả năng kiến tạo mạnh mẽ. Tình yêu làm gia tăng endorphin – loại hormone giúp tăng cường sinh lực và nâng cao chất lượng sống. Cuộc đời của bạn kéo dài thêm mười năm khi nuôi một con chó, vì chó là chất xúc tác cho năng lượng của tình yêu, và năng lượng của tình yêu chữa lành và kéo dài tuổi thọ.

Khi có điều kiện phù hợp, năng lượng của yêu thương có thể chữa lành cơ thể của chúng ta. Ở tầng thể chất, do tâm trí tích cực chiếm ưu thế, các loại bệnh trên thân thể thường tự khỏi. Một số loại bệnh tự động được chữa lành mà không cần chú ý đặc biệt, và những bệnh còn lại thường phản ứng tốt với các kỹ thuật tâm thức. Những loại bệnh dai dẳng không phản ứng với biện pháp điều trị này được coi là có ý nghĩa về mặt nghiệp báo, là thông điệp ẩn dụ hoặc có vai trò quan trọng về tâm linh. Nhìn chung, nhận thức về cơ thể giảm đi, giờ đây, cơ thể tự vận hành và dường như tự chăm sóc lấy mình. Chúng ta không còn đồng nhất với cơ thể nữa. Mất hứng thú với việc giải quyết các vấn đề sức khỏe ở cấp độ thuần túy thể chất, và có những lúc nhận thức về cơ thể biến mất hoàn toàn, trừ khi chúng ta tập trung vào nó vì một lý do cụ thể nào đó.

Hiểu biết mang tính trực giác dần dần thay thế cho “suy nghĩ”, suy nghĩ bắt đầu biến mất. Theo thời gian, “suy nghĩ” và các quá trình trong tâm trí được thay thế bằng “cái biết” mang tính trực giác, tự phát. Bỏ qua Logic. Sự kiện này xảy ra bởi vì, ở tầng rung động cao nhất, mọi thứ trong vũ trụ đều được kết nối với mọi thứ khác. Hiểu biết của chúng ta được mở ra như là “mặc khải” từ trường liên kết này. Tri thức mang tính toàn diện hơn chứ không bị giới hạn.

Do tĩnh lặng nội tâm, chúng ta có khả năng tri giác được suy nghĩ và cảm xúc của người khác ở tầng phi ngôn ngữ. Giao tiếp phi ngôn ngữ với người khác trở thành khả thi và phổ biến. Không còn những cảm thọ tiêu cực nữa, vì đã siêu việt được tự ngã nhỏ bé, nó được Đại Ngã lớn hơn hấp thụ. Các hiện tượng mang tính cảm xúc được chuyển hóa. Ví dụ, mất mát được trải nghiệm như thất vọng hay hối tiếc nhất thời, chứ không phải là u sầu. 

Yêu thuơng vô điều kiện 

Bằng cách buông bỏ liên tục, chúng ta trải nghiệm trạng thái yêu thương vô điều kiện (có điểm hiệu chỉnh ở tầng 540), rất hiếm có và chỉ 0,04% dân số thế giới vươn tới được tầng này mà thôi. Năng lượng này là kỳ diệu, bao trùm, không có tính chọn lọc, có tính chuyển hoá, vô biên, phi nỗ lực, rạng rỡ, tận tâm, thánh thiện, lan tỏa, nhân từ và vô ngã. Nó có đặc điểm là niềm vui nội tâm, đức tin, hân hoan, kiên nhẫn, từ bi, bền bỉ, thực chất, vẻ đẹp, sự đồng nhịp, hoàn hảo, buông bỏ, say mê, tầm nhìn và cởi mở. Chúng ta từ bỏ việc coi tự ngã cá nhân là nguyên nhân. Mọi thứ xảy ra một cách dễ dàng nhờ đồng nhịp.

Niềm vui phát ra từ trải nghiệm chủ quan ở bên trong của sự tồn tại của chính chúng ta. Sức mạnh của niềm vui là chủ quan, không bắt nguồn từ bất kỳ nguồn nào ở bên ngoài bản thân mình. Do đó, năng lượng của hoạt động thể chất là vô tận. Chúng ta có thể nhảy múa một cách hân hoan suốt đêm trong một nhà nguyện thắp nến, như thể chính Cội nguồn của Sự sống đang nhảy múa. Trong trạng thái đó, sự hoàn hảo bẩm sinh và vẻ đẹp tuyệt vời của tất cả những thứ đang tồn tại tỏa sáng như một luồng sáng rực rỡ, như thể việc truyền năng lượng tâm linh tạo điều kiện cho quá trình biến đổi từ tri giác sang tầm nhìn, từ tuyến tính sang phi tuyến tính, và từ có giới hạn sang vô hạn. Trong khi vẫn có thể hoạt động trong thế gian với những rung động cao hơn của yêu thương (trên 550), chúng ta có thể rời bỏ lĩnh vực thương mại và từ bỏ môi trường xã hội và nghề nghiệp trước đây.

Trong những trạng thái như vậy, “phép màu” trở thành phổ biến. Những thứ mà người ta gọi là “siêu nhiên” xảy ra mọi lúc, không thể dùng lý trí, logic, hay nhân quả để giải thích. Rõ ràng là không có “người” nào làm phép lạ. Phép lạ xảy ra một cách tự phát khi có điều kiện thích hợp. Không để bản ngã tâm linh phát triển bằng cách nhận ra rằng những hiện tượng này là món quà tới từ bên ngoài tự ngã cá nhân; chúng ta chỉ là kênh dẫn của Tình yêu, chứ không phải là cội nguồn của nó. Tiến bộ tâm linh được coi là kết quả của Ân phước, chứ không phải kết quả của những nỗ lực cá nhân. Biết ơn đối với trạng thái hiện tại thay thế cho kiêu hãnh về thành tích. Quá trình buông bỏ tiếp tục diễn ra ngày càng sâu sắc hơn, đấy là khi chúng ta buông bỏ tất cả nghi ngờ, tất cả các hệ thống niềm tin, tất cả tri giác, tất cả các quan điểm, tất cả các ý kiến và tất cả các chấp trước. Chúng ta sẵn sàng buông bỏ tất cả các chấp trước, thậm chí chấp trước vào trạng thái Mê ly tuyệt vời, không thể diễn tả được bằng lời.

Do khiêm nhường, mà mọi ý kiến về người khác đều được buông bỏ. Theo một cách nào đó, không người nào có thể không phải là con người mà họ đang là. Tình yêu biết sự thật này và không giữ bất kỳ quan điểm nào. Tình yêu làm nổi bật những điều tích cực ở người khác hơn là những khiếm khuyết của họ. Nó tập trung vào những điều tốt đẹp của đời sống trong mọi biểu hiện của nó. Yêu thương vô điều kiện là tình yêu mà không kỳ vọng bất cứ thứ gì từ người khác. Khi chúng ta trở thành người yêu thương, chúng ta không tạo ra giới hạn hay đòi hỏi nào đối với người khác, rằng họ phải như thế nào đó để được yêu thương. Chúng ta yêu thương họ bất kể họ là người như thế nào. Ngay cả khi họ là người khó chịu! Chúng ta cảm thấy thương hại cho những tên tội phạm, vì chúng coi cuộc sống tội lỗi là lựa chọn tốt nhất của mình.

Khi yêu thương là vô điều kiện, sẽ không còn chấp trước, kỳ vọng, mục đích bị che dấu, hay còn nhớ người cho, cho ai cái gì. Tình yêu của chúng ta là vô điều kiện, dù chúng ta là ai và họ là ai. Tình yêu được trao đi mà không có bất kỳ điều kiện nào. Không có điều kiện kèm theo. Khi cho đi, chúng ta không kỳ vọng được đáp lại. Chúng ta từ bỏ mọi kỳ vọng dù hữu thức hay vô thức về người khác.

Tình yêu soi sáng bản chất và do đó, làm nổi bật sự đáng yêu của người khác. Đấy là vì tình yêu mở rộng trái tim. Thay cho tri giác, trái tim biết. Tâm trí suy nghĩ và tranh luận, nhưng trái tim biết. Vì vậy, ngay cả khi người ta có lỗi, chúng ta vẫn yêu thương họ. Suy nghĩ nói với chúng ta một điều gì đó, nhưng trái tim nói với chúng ta một điều khác. Tâm trí có thể chỉ trích và bất đồng, nhưng trái tim vẫn yêu thương, dù chuyện gì xảy ra thì  vẫn thế. Trái tim không đặt bất kỳ điều kiện nào cho những những thứ ở ngoài kia. Chỉ có tâm trí mới làm như thế. Tình yêu không đòi hỏi bất cứ điều kiện nào.

Chìa khóa để yêu thương trở thành vô điều kiện là sẵn sàng tha thứ. Cùng với tha thứ, các sự kiện và con người được đưa vào bối cảnh mới, đơn giản là “bị hạn chế” - chứ không phải “xấu” hay “không đáng yêu”. Với thái độ khiêm nhường, chúng ta sẵn sàng từ bỏ tri giác của mình về sự kiện trong quá khứ. Chúng ta cầu nguyện để có phép màu để nhìn thấy sự thật về tình huống đó hoặc người đó, và chúng ta từ bỏ tất cả các ý kiến của mình về vấn đề đó. Chúng ta nhìn vào những phần thưởng mà mình nhận được từ việc giữ nguyên tri giác về những việc đã xảy ra, và chúng ta buông bỏ từng phần thưởng nhỏ bé đó: niềm vui của than thân trách phận, của “việc mình là người đúng”, của việc mình “bị oan”, và của oán hận.

Cuối cùng, chúng ta từ bỏ chính ý tưởng về tha thứ. Tha thứ cho một người nào đó ngụ ý rằng chúng ta vẫn coi người đó hoặc tình huống đó là “sai” và do đó, cần được tha thứ. Buông bỏ thực sự có nghĩa là buông bỏ hoàn toàn việc nhìn nhận nó theo cách đó. Khi chúng ta hoàn toàn từ bỏ tri giác của mình, buông bỏ mọi phán xét, thì toàn bộ hoàn cảnh sẽ được biến đổi và chúng ta nhìn thấy người đó đáng yêu. Vì mọi phán xét thực chất đều là tự phán xét, cho nên trong quá trình đó chúng ta đã tự giải phóng mình.

Ở tầng yêu thương vô điều kiện, chúng ta yêu thương mọi người và mọi vật — ngay cả Adolf Hitler. Chúng ta nhìn ông ta như một người bị những năng lượng tiêu cực chi phối, chúng ta sẵn sàng tha thứ cho Hitler, ông ta không thể làm gì khác được với những gì đã xảy ra với mình. Ông ta đã bị cái ác khống chế. Thay vì căm ghét cái ác, chúng ta cảm thấy buồn và từ bi khi con người bị cái tiêu cực như thế nhấn chìm. Hitler đã làm những việc mà ông ta nghĩ mình phải làm vì danh dự. Đó là bối cảnh của ông ta lúc đó. Ông ta bị những lý tưởng và niềm tin đang thịnh hành trong thời đại của mình bắt làm tù binh. Ngay cả với Hitler, chúng ta cũng có thể thấy rằng ông ta là người tận tâm, và ông ta nghĩ rằng mình đang phục vụ đất nước bằng những việc mình làm. Trong Thế chiến II, các phi công Kamikaze đã làm những việc mà họ nghĩ rằng mình nên làm cho đất nước. Mặc dù họ ném bom và giết chúng ta, nhưng chúng ta không nhất định là phải ghét họ. Chúng ta có thể tôn trọng thái độ sẵn sàng hy sinh thân mình vì đất nước. Chúng ta có thể thấy rằng bất cứ người nào vi phạm luật Yêu thương đều thực sự là nạn nhân của hệ thống niềm tin xã hội hoặc áp lực của thời đại. 

Một thể (Oneness) 

Khi yêu thương ngày càng gia tăng, toàn bộ tồn tại sẽ có ý nghĩa khác, và chúng ta nhận thức được bản thể và cốt lõi bên trong của vạn vật, chứ không chỉ thấy hình tướng của nó. Nhờ sự thay đổi tri giác như thế, mà sự hoàn hảo của vạn vật được mặc khải. Trải nghiệm này nằm ngoài thời gian; không có quá khứ hay tương lai. Ở tầng rung động cao nhất, tình yêu không còn thấy sự tách biệt giữa cá nhân và phần còn lại của vũ trụ. Chúng ta trải nghiệm hợp nhất trọn vẹn với vạn vật. Trong trạng thái này, tính hợp nhất của vạn vật mang một cảm quan về Thực tại mãnh liệt hơn hẳn những tri kiến thông thường của tự ngã trong thế gian; và trạng thái ấy chỉ có thể được mô tả là sâu thẳm vô cùng.

Khi diễn ra những chuyển biến bên trong, đối với người quan sát bên ngoài, cách sống của chúng ta có thể thay đổi hoặc không thay đổi. Tuy nhiên, thói quen và hành vi, mặc dù dường như là giống nhau, nhưng không còn bị ép buộc hay chi phối nữa. Có thể từ bỏ, điều chỉnh hoặc thay đổi thói quen hay hành vi mà không cảm thấy khó chịu quá mức. Mặt khác, quả thực có thể có những thay đổi đột ngột trong lối sống, trong đó có những thay đổi lớn về nghề nghiệp, đấy là do thay đổi về giá trị quan ở bên trong, sở thích và tầm nhìn cũng mở rộng ra. Giờ đây, khi chúng ta được kết nối với chiều kích lớn hơn, chúng ta có thể đắm chìm trong đó thông qua chiêm nghiệm, thiền định, nghệ thuật, âm nhạc, vận động, đọc sách, viết lách, giảng dạy và tham gia vào các nhóm tâm linh với những mục tiêu tương tự.

Lúc này, buông bỏ trở thành tự động và liên tục hơn trước. Những giai đoạn tĩnh lặng và vẻ đẹp nội tâm bắt đầu xuất hiện với tần suất lớn hơn, thời gian cũng dài hơn. Chúng có thể xảy ra ở tầng rất sâu. Kỳ lạ là, chúng có thể xảy ra sau những giai đoạn hỗn loạn và dằn vặt nội tâm dữ dội. Những giai đoạn xáo trộn nội tâm mãnh liệt này xảy ra, vì chúng ta không còn khoan dung với tiêu cực nữa. Giờ đây, khi có nhiều sức mạnh tâm thức hơn, chúng ta có thể hạ xuống và giải quyết các vấn đề ở những tầng sâu nhất của tâm thức. Đó có thể là những vấn đề liên quan đến cội nguồn của bản sắc hoặc khái niệm về tự ngã.

Sự thanh thản và bình yên sâu lắng cũng có thể đột ngột xuất hiện sau những giai đoạn liên tục buông bỏ kéo dài, như trong ví dụ sau đây. Tại một thời điểm, khi đang ở trong trạng thái hỷ lạc liên tục, một sự kiện đã xảy ra khiến tâm thức nhận diện được một xung đột bắt nguồn từ tầng sâu thẳm nhất trong cách chúng ta kết nối với người khác. Thật khó để đối diện và trải nghiệm trọn vẹn nỗi đau đó, nhưng vì trạng thái hiện tại đang sở hữu nguồn năng lượng rất cao, ta có khả năng để mặc cho xung đột nội tâm ấy trỗi dậy và diễn tiến tự nhiên, nhằm giải quyết dứt điểm một lần và mãi mãi. Xung đột ấy đã diễn ra liên tục trong suốt mười ngày liền. Trong suốt thời gian đó, phương pháp được áp dụng là liên tục buông bỏ xung đột và để nó đi qua mà không cố gắng thay đổi nó dưới bất kỳ hình thức nào. Có lúc, xung đột nội tâm tưởng chừng như sẽ kéo dài bất tận; tuy nhiên, những trải nghiệm trước đó với quá trình buông bỏ đã xác nhận rằng: mọi cảm thọ, sớm hay muộn, đều sẽ cạn kiệt nếu chúng ta kiên trì buông bỏ chúng.

Việc tạm thời chuyển đến một căn nhà nhỏ giữa rừng thúc đẩy quá trình này, vì ở đấy không có bất kỳ xao nhãng nào khác. Rồi nguồn gốc của xung đột ngày càng tiến sâu hơn và những cảm thọ đau đớn hơn nữa cũng trỗi dậy mạnh mẽ hơn. Có rất nhiều sự xáo trộn nội tâm, đôi khi gần như là đau đớn và tuyệt vọng. Quyết tâm không bỏ cuộc hay để cho dòng chảy của quá trình gặp bất kỳ tắc nghẽn nào, cuối cùng, tất cả đã chạm đáy và tuyệt vọng đen tối với cường độ áp đảo ập tới. Mặc dù vậy, có hiểu biết rằng mọi thứ sẽ ổn, vì sự đồng nhất không phải là với tuyệt vọng mà với chính buông bỏ.

Cuối cùng, tất cả kháng cự tuyệt vọng đã được buông bỏ hoàn toàn và trọn vẹn. Nó biến mất ngay lập tức. Tuyệt vọng, đã từng áp đảo và gần như không thể chịu đựng được, đã biến mất ngay trong chớp mắt! Thay vào đó, là bình yên sâu sắc không thể diễn tả bằng lời. Chiều kích là vô hạn, mạnh mẽ và hoàn toàn không thể lay chuyển đến mức kỳ lạ. Tĩnh lặng nội tâm sâu sắc, và tất cả tri giác về thời gian đều dừng lại. Thay vì “thời gian”, thì chỉ còn lại chuyển động của các hiện tượng trên thế gian. Ngày hôm sau, trải nghiệm tiếp tục và trên thực tế, thậm chí còn mạnh mẽ hơn.

Rồi, do tò mò, [tôi] quay trở lại thế giới thực để xem, từ trạng thái tâm thức này, đời sống thường nhật sẽ trông như thế nào. Thậm chí trong khi đi bộ trên Đại lộ Số 5 ở thành phố New York, thì tĩnh lặng, hài hòa và bình yên sâu sắc vẫn có đó. Bình yên và tĩnh lặng lan tỏa này dường như nằm bên dưới tất cả hỗn loạn, ồn ào và bối rối trên bề mặt của thành phố. Cứ như thể sức mạnh của chiều kích tĩnh lặng đó là sức mạnh tạo điều kiện cho tất cả những thứ đó xảy ra và giữ cho tất cả gắn kết trong một thể thống nhất liên tục. Trong bản chất của tĩnh lặng đó là sức mạnh vô hạn, và rõ ràng là, chính sức mạnh này đã chống lại và cân bằng tiêu cực tập thể của thành phố này. Thế giới khách quan bên ngoài chỉ là biểu hiện từ các mô thức hút và trạng thái năng lượng hiện hữu bên trong Tâm thức mà thôi. Tương tự, rõ ràng là sức mạnh gắn kết này cũng là thứ chống lại sự tiêu cực của cá tính. Nếu không chống lại, tiêu cực đó sẽ hủy hoại con người và cả cơ thể của người đó.

Chúng ta đã nói trong các phần trước rằng những cảm xúc tiêu cực gắn liền với quá trình tích tụ năng lượng ở các trung tâm năng lượng thấp hơn của cơ thể, được gọi là “các luân xa”. Khi tâm thức của chúng ta thăng hoa, do buông bỏ những thứ tiêu cực, năng lượng này có xu hướng dâng lên các trung tâm cao hơn, do đó, ở tầng tình yêu, năng lượng đã di chuyển lên luân xa tim. Khi tình yêu trở thành vô điều kiện và luôn tràn đầy niềm vui, chiều kích cá nhân của yêu thương nhường chỗ cho yêu thương của vũ trụ. Nói chung, chúng ta nói về một người đã vươn tới tầng tình yêu rằng họ là người “có trái tim rộng lượng” hoặc “tràn đầy tình cảm”. Cụm từ này thể hiện sự chuyển hướng quan tâm và trọng tâm cuộc đời của người đó sang yêu thương. Tiêu điểm chú ý thăng lên đi kèm với sự thay đổi toàn diện của tri giác, tức là có quan điểm khác hẳn so với quan điểm của người đang chìm đắm trong những cảm xúc tiêu cực.

Ví dụ, khi một người ở trong trạng thái tâm trí thấp hơn, sẽ coi một ông lão rách rưới đứng ở góc phố như một “kẻ lang thang”. Cùng với nhận định đó là những suy nghĩ tiêu cực khác như: “Ông ta có thể nguy hiểm—hãy tránh xa ông ta”; “Ông ta đang tiêu tốn tiền thuế của chúng ta—ông ta chắc chắn đang nhận trợ cấp xã hội”; “Cảnh sát nên dọn sạch đường phố khỏi những kẻ vô lại như vậy”; “Nên đưa ông ta vào tù hoặc vào bệnh viện tâm thần.”

Ngược lại, người ở tầng yêu thương có thể nhìn nhận ông già này như một người thú vị, nét mặt thể hiện nhiều kinh nghiệm sống, tính cách và sự khôn ngoan. Ông ta có thể xuất hiện như một linh hồn được giải phóng, đã làm gần như mọi việc trên thế gian và đã tiến hóa sang trạng thái hiện hữu, vượt trên hành động và sở hữu.

Đã có một cuộc gặp gỡ với một người đàn ông như thế trên Đại lộ Số 5, khi đang ở trong trạng thái hoàn toàn tĩnh lặng nội tâm được mô tả bên trên. Khi đang đi bộ trên vỉa hè, ông lão cảm nhận được trạng thái tĩnh lặng nội tâm đó chỉ bằng một cái nhìn, và, đến lượt mình, ông trở thành hoàn toàn cởi mở. Đôi mắt nhìn sâu thẳm đến nỗi không có gì bị che giấu, và tâm hồn hoàn toàn mở ra để được thấu hiểu. Rõ ràng ông ấy là một người đã nhận ra Đại Ngã đích thực bên trong con người mình và hoàn toàn bình an. Thực tế, ông ấy là một phần không thể tách rời của nguồn năng lượng mạnh mẽ, tích cực và yêu thương đang giữ cho thành phố này vững vàng.

Bằng ánh mắt, chúng tôi chia sẻ sự hợp nhất của mình—hợp nhất phi thời gian. Dù là những người xa lạ, tâm hồn chúng tôi vẫn hòa làm một và vang vọng cùng nhau. Đại Ngã duy nhất tỏa sáng. Sự hợp nhất đó là năng lượng chống lại tất cả tiêu cực của Thành phố New York trong thời điểm đó. Trong ánh mắt cởi mở là hợp nhất của vũ trụ (được hiệu chỉnh là đúng). Có một sự hiểu biết thầm lặng rằng hợp nhất phản ánh năng lượng vô hạn đối trọng với tất cả tiêu cực của Thành phố New York vào thời điểm đó, vì sức mạnh được chia sẻ là Vô hạn. Nếu không có đối trọng như thế, thành phố sẽ tự hủy diệt. Đó là trạng thái tâm thức thầm lặng, bao trùm, và vô hạn. Đó là một khoảnh khắc sâu sắc, trong đó một trong những quy luật của tâm thức đã được kiểm chứng qua trải nghiệm: Yêu thương là Quy luật Tối thượng của Vũ trụ (tuyên bố này có điểm hiệu chỉnh 750).

 


July 6, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (12)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 11

 

CHẤP NHẬN

 

    Trong trạng thái chấp nhận, chúng ta tận hưởng trải nghiệm của sự hài hòa. Chúng ta cảm thấy như thể mọi việc đang diễn ra suôn sẻ. Chúng ta cảm thấy an toàn. Chúng ta có thể phục vụ người khác mà không cảm thấy phải hy sinh chính mình. Có cảm thọ: “Tôi ổn”, “Bạn ổn”, và “Mọi thứ đều ổn”. Đó là cảm thọ thuộc về, kết nối, trọn vẹn, yêu thương, thấu hiểu, và cảm thọ được rằng người khác hiểu mình. Đó là cảm thọ quan tâm, ấm áp và tự trọng. Nhờ sự an toàn của trạng thái này, chúng ta có thể cho phép mình được là người mềm mỏng, dịu dàng và tự nhiên. Có niềm vui, và chúng ta cảm thấy “hòa hợp” và thư giãn. Có cảm thọ rằng chỉ cần là chính mình cũng đã ổn rồi. 

Mọi thứ đều hoàn hảo như chúng vốn là.

Trong trạng thái chấp nhận, có cảm thọ rằng không cần phải thay đổi bất cứ chuyện gì. Mọi thứ đều hoàn hảo và đẹp đẽ như chúng vốn là. Thế giới là để tận hưởng. Có tâm từ bi đối với người khác và đối với tất cả mọi sinh linh. Trong trạng thái này, chúng ta tự động nuôi dưỡng và hỗ trợ người khác mà không hề có cảm thọ hy sinh. Do cảm thấy an toàn và cảm thọ sung túc ở bên trong, chúng ta trở thành hào phóng và dễ dàng ban tặng, mà không mong được đền đáp hay ghi chép lại, chẳng hạn như: “Đây là những việc tôi đang làm cho bạn.” Khi ở trong trạng thái chấp nhận, chúng ta yêu thương bạn bè thay vì chỉ trích, và chúng ta sẵn sàng yêu thương họ mặc dù họ có những hạn chế - chúng ta sẵn sàng bỏ qua những hạn chế như thế.

Từ không gian này chúng ta thấy mỗi người thực sự đang làm hết sức mình với khả năng mà họ có trong lúc này. Chúng ta thấy rằng toàn bộ sự sống đang tiến hóa hướng tới sự hoàn hảo của nó, và chúng ta đang hòa hợp với các quy luật của vũ trụ và tâm thức.

Trong trạng thái này, chúng ta thực sự bắt đầu hiểu được tình yêu. Ở tầng chấp nhận, tình yêu được trải nghiệm như một trạng thái ổn định, trạng thái vĩnh viễn của mối quan hệ. Chúng ta nhìn thấy cội nguồn của tình yêu bên trong chính mình, nó tỏa ra từ bản chất của chính chúng ta và vươn ra bên ngoài để bao trọn cả những người khác. Ngược lại, trong trạng thái ham muốn, chúng ta nói về “đang yêu”, coi nó như là cội nguồn của hạnh phúc và tình yêu được cho là nằm ngoài chính mình. Khi ở tầng năng lượng thấp hơn của ham muốn, chúng ta tìm kiếm để được yêu. Dường như đó là cái mà chúng ta “nhận được”. Tuy nhiên, ở tầng chấp nhận, tình yêu của chúng ta tỏa ra một cách tự nhiên từ bản chất của chính mình, vì nhiều rào cản đối với nhận thức về tình yêu đã được buông bỏ.

Chúng ta khám phá được rằng yêu thương là bản chất bên trong của chúng ta và khi các rào cản được loại bỏ thì nó sẽ xuất hiện một cách tự phát và tự động. Đây là điều mà các đạo sư vĩ đại muốn nói về bản chất bên trong đích thực của chúng ta, Đại Ngã đích thực của chúng ta. Mục tiêu của Đại Ngã bên trong là vượt lên trên bản ngã - tổng hợp của tất cả những cảm thọ, chương trình và suy nghĩ tiêu cực của chúng ta - để chúng ta có thể trải nghiệm bản chất bên trong của chính mình.

Có nhiều con đường dẫn chúng ta đến trạng thái chấp nhận, và đây là cánh cổng dẫn đến những trạng thái cao hơn, được mô tả là các tầng tâm thức của yêu thương và an bình. Đối với nhiều người đã từng thực hành buông bỏ trong một thời gian dài, mục tiêu tối thượng này dần dần vượt lên trên tất cả những mục tiêu khác. Sống trong trạng thái yêu thương vô điều kiện và bình an vĩnh viễn trở thành mục tiêu nội tâm, quan trọng hơn bất kỳ thành tựu nào khác trên thế gian này. 

Chấp nhận mình và người khác

Ở tầng chấp nhận, do có thay đổi lớn trong cách nhìn nhận những người khác, chúng ta nhận ra sự ngây thơ bên trong, đằng sau những cuộc đấu tranh điên cuồng, đầy sợ hãi làm cho nó bị khuất lấp đi trong chính chúng ta và trong những người hàng xóm, bạn bè và gia đình. Các đạo sư vĩ đại nói rằng những tiêu cực mà chúng ta thấy ở một người hoặc trong xã hội thực sự là do sự mù quáng, vô minh và vô thức mà ra. Sự ngây thơ bên trong này, một khi đã nhận ra ở người khác, thì cũng được nhận ra ở chính mình. Tất cả những việc chúng ta đã làm là vì lúc đó chúng ta không biết cách làm nào khác tốt hơn. Nếu chúng ta biết cách làm tốt hơn vào lúc đó, thì chúng ta đã làm theo cách đó rồi. Chúng ta nói: “Lúc đó dường như đấy là ý kiến hay”. Chúng ta thấy sự mù quáng như thế ở những người khác, và chúng ta có thể bỏ qua những khiếm khuyết trong tính cách của họ và nhìn thấy đứa trẻ ngây thơ ở bên trong con người họ.

Một khi đã thấy sự ngây thơ của mình, thì chúng ta sẽ đồng cảm với người khác và không còn cảm thọ cô đơn và căng thẳng nữa. Chúng ta có thể nhìn thấy sự ngây thơ thậm chí đằng sau những hành vi hấp tấp và dường như là khủng khiếp nhất. Chúng ta nhìn vào bên trong một người và nhận thấy một con thú đầy sợ hãi, không biết cách làm nào tốt hơn. Chúng ta nhận thức được rằng, nếu bị dồn vào chân tường, chắc chắn nó sẽ tấn công và cắn chúng ta. Nó chỉ không nhận ra rằng ý định của chúng ta là an bình, và vì vậy nó vùng vẫy một cách điên cuồng.

Ở trạng thái chấp nhận, chúng ta có thể tha thứ cho quá khứ của chính mình, cũng như của người khác, và chữa lành những oán hận trong quá khứ. Chúng ta cũng có thể nhìn thấy món quà tiềm ẩn trong những sự kiện trong quá khứ mà chúng ta từng oán hận—trong đó có ý nghĩa nghiệp quả có thể có của những sự kiện này. Từ tầng này, chúng ta có thể tạo được bối cảnh khác để nhìn nhận quá khứ và từ đó chữa lành nó. Ở bước cuối cùng của tầng chấp nhận, chúng ta cảm thấy an tâm khi nghĩ về tương lai và có thể chuyển sang các tầng của yêu thương và an bình. Lý trí và logic trở thành công cụ để hiện thực hóa tiềm năng.

Một đặc điểm khác của tầng chấp nhận là chúng ta không còn quan tâm đến phán xét mang tính đạo đức, với “tốt” và “xấu” nữa. Chỉ đơn giản là cái gì hiệu quả và cái gì không hiệu quả. Dễ dàng nhận ra cái gì mang tính phá hoại và cái gì là tối ưu, mà không cần phán xét bất cứ cái gì là “xấu”. Chúng ta loại bỏ được mặc cảm tội lỗi, đi kèm với phán xét người khác và chính mình. Khi đó, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của câu: “Đừng xét đoán, kẻo chính mình cũng bị xét đoán”.

Ở tầng chấp nhận, ta để cho kẻ gieo rắc mặc cảm tội lỗi bên trong đi qua: đấy là kẻ luôn tìm ra lỗi ngay cả với những bản năng cơ bản nhất của chúng ta. Ta có thể tận hưởng thân thể này mà không cần khinh ghét nó theo lối đạo đức giả hay tự thỏa mãn mang tính cưỡng bách. Ta chấp nhận rằng người khác có hiểu biết về cuộc đời và quan điểm đạo đức theo cách riêng của họ, có lý đối với họ, ngay cả khi niềm tin và hành vi của họ khác hẳn chúng ta. Khi nhìn thấy sự ngây thơ trong mỗi người, ta có thể thực sự “yêu thương người lân cận như chính mình”. Theo đó, việc buông bỏ đã cho phép ta chạm tới một mục tiêu cao cả mà chẳng cần đến một nỗ lực hữu thức nào.

Tầng chấp nhận có đặc điểm là tinh thần vị tha và phụng sự. Đấy là do đã buông bỏ những cảm xúc tiêu cực tạo thành tự ngã nhỏ bé, không còn đồng nhất mình với tự ngã nữa. Thay vào đó, là sự hài hòa và bình an nội tâm được trải nghiệm như là bản chất của Đại Ngã cao cả hơn của chúng ta. Vì những chương trình tiêu cực đã bị loại bỏ, cho nên sáng tạo, cảm hứng và trực giác sẽ gia tăng.

Chúng ta cảm thấy chắc chắn là nhu cầu cá nhân của mình sẽ được đáp ứng; do đó, có sự thay đổi trong quan hệ giữa người với người: tập trung vào phúc lợi và hạnh phúc của người khác. Nó diễn ra thuận lợi bởi thực tế là, ở tầng này, chúng ta không còn cảm thấy thiếu thốn, cho không nên cần phải phụ thuộc vào người khác, chúng ta không cảm thấy mình cần phải “nhận” cái gì từ người khác nữa. Trong quan hệ của chấp nhận đầy yêu thương, chúng ta không còn coi trọng và bỏ qua những khiếm khuyết nhỏ nhặt của người khác.

Ở tầng chấp nhận, lo lắng về “làm” giảm đi, chúng ta ngày càng tập trung vào phẩm chất của chính hiện hữu, và quá trình hoàn thiện khả năng của chúng ta trong việc quan tâm và yêu thương những người khác. Mặc dù những cảm thọ tiêu cực vẫn có thể xuất hiện, nhưng ngày càng ít đi và xử lý cũng dễ dàng hơn. Nhìn chung, mọi việc lúc này trở thành dễ dàng, và hầu như không cần để ý tới các hoạt động hàng ngày nữa, vì chúng diễn ra một cách khá thuận lợi. 

Trách nhiệm cá nhân 

Dấu hiệu đặc trưng của trạng thái này là chịu trách nhiệm về tâm thức của chính mình. Quan tâm đến thiền định và các phương pháp chiêm nghiệm nội tâm khác nhau diễn ra thường xuyên hơn. Các vấn đề tâm linh và đạo đức trở thành quan trọng. Ví dụ, chúng ta có thể tham dự các khóa tu, đấy là nói nếu chúng ta là người theo tôn giáo, hoặc chúng ta có thể tham gia vào các hoạt động tâm linh hay hoạt động nhân đạo nếu chúng ta hướng tới những lĩnh vực đó.

Thế giới được coi là hài hòa, và bất kỳ thay đổi nào ở bên ngoài đều được nhận ra là sự phản chiếu ra thế giới những xung đột nội tâm của chính chúng ta. Ở tầng này, chúng ta nhận thức được rằng tất cả những cảm thọ tiêu cực đều là vấn đề của chính mình, chúng ta không còn tìm kiếm giải pháp bên ngoài mình nữa.

Người ở tầng này có thái độ nghiêm túc đối với quá trình phát triển tâm thức và nhận thức về chính mình, và tập trung vào việc trau dồi phẩm chất của chính tâm thức. Ở tầng này, chúng ta có thể bắt đầu quan tâm đến triết học, nghiên cứu khoa học và các tác phẩm kinh điển về tâm linh, tức là những tác phẩm khám phá tiềm năng cao nhất của tâm trí và linh hồn. Con người mà chúng ta đang trở thành, chứ không phải của cải chúng ta có hoặc việc chúng ta làm, ngày càng trở thành quan trong hơn. Ở tầng này, chúng ta chấp nhận thách thức trong việc hoàn thành tiềm năng nội tại lớn nhất của mình và nuôi dưỡng tiềm năng và ước mơ của những người khác.

Ở tầng này, nếu kiểm tra cơ bắp, chúng ta sẽ có phản ứng mạnh; chúng ta tương đối miễn nhiễm với những ảnh hưởng tiêu cực, chẳng hạn như ánh sáng huỳnh quang, vải tổng hợp hoặc đường hoá học. Chúng ta cam kết mạnh mẽ trong việc giữ gìn sức khỏe, và việc hoàn thiện chính mình trong mọi lĩnh vực. Các vấn đề sức khỏe thường được coi là vấn đề trong lĩnh vực tâm lý, cảm xúc hoặc tâm trí, và chúng ta tìm kiếm các nguồn lực và tìm được, giúp giải quyết các vấn đề ở tất cả các lĩnh vực này. Giờ đây, chúng ta tìm đươc sức mạnh tự chữa lành.

Ở tầng chấp nhận, chúng ta được tự do sống sống trọn vẹn trong hiện tại. Khi chúng ta chấp nhận bản chất thực sự của chính mình và quy luật của vũ trụ như được phản ánh trong thế giới của chúng ta, thì sẽ không còn hối tiếc về quá khứ, cũng không còn sợ hãi về tương lai nữa. Khi quá khứ đã được chữa lành thì cũng không còn sợ hãi về tương lai nữa. Đấy là do trong trạng thái tâm thức hướng về bản ngã, bản ngã có xu hướng phóng chiếu quá khứ lên tương lai, và nếu quá khứ được coi là tiêu cực thì nó sẽ trở thành đáng sợ khi được phóng chiếu lên tương lai mà người tưởng tượng ra. Buông bỏ những năng lượng tiêu cực như mặc cảm tội lỗi, sợ hãi, tức giận và kiêu ngạo là giảm bớt gánh nặng của quá khứ và xua tan những đám mây u ám của tương lai. Chúng ta đứng trước ngày hôm nay với thái độ lạc quan và biết ơn vì đang sống. Chúng ta thấy rằng quá khứ đã đi qua, ngày mai còn chưa tới, chúng ta chỉ có ngày hôm nay mà thôi.

Tóm lại, tầng tâm thức chấp nhận là tầng mà tất cả chúng ta đều khao khát muốn vươn lên, vì nó tạo điều kiện để chúng ta tìm thấy tự do khỏi hầu hết các vấn đề của cuộc đời và trải nghiệm viên mãn và hạnh phúc.

 

 


July 4, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (11)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 10 

CAN ĐẢM

.

     Dấu hiệu đặc trưng của can đảm là kiến ​​thức và cảm thấy: “Tôi có thể”. Đó là trạng thái tích cực, chúng ta cảm thấy tự tin, khéo léo, đủ năng lực, có khả năng, tràn đầy sức sống, yêu thương và cho đi, cùng với niềm vui sống. Chúng ta có khả năng hài hước, năng động, tự tin và minh bạch. Trong trạng thái này, chúng ta cảm thấy tập trung, cân bằng, linh hoạt, hạnh phúc, độc lập và tự túc. Chúng ta có thể sáng tạo, cởi mở và đầy trí tuệ. Can đảm có nhiều năng lượng, hành động, buông bỏ, khả năng “hiện diện”, tự phát, kiên cường, tháo vát và vui vẻ. Trong trạng thái này, chúng ta có thể là người rất hiệu quả trên thế gian này.

Can đảm để buông bỏ

Tầng can đảm rất hữu ích trong cơ chế buông bỏ. Khi can đảm, chúng ta biết: “Tôi có thể nhìn vào cảm thọ của mình”; “Tôi không cần phải sợ cảm thọ của mình nữa”; “Tôi có thể xử lý cảm thọ của mình”; “Tôi có thể chịu trách nhiệm về cảm thọ của mình”; “Tôi có thể học cách chấp nhận và được giải thoát khỏi cảm thọ của mình”; “Tôi sẵn sàng chấp nhận rủi ro, buông bỏ những quan điểm cũ và khám phá những quan điểm mới”; “Tôi sẵn sàng trở thành người vui vẻ và chia sẻ trải nghiệm của mình với người khác”; “Tôi cảm thấy mình sẵn sàng và có khả năng.”

Thường thì rất dễ dàng chuyển từ bất kỳ cảm thọ tiêu cực nào lên tầng can đảm bằng cách khẳng định thái độ can đảm của chúng ta khi nhìn vào và xử lý cảm thọ của mình. Chỉ riêng thái độ sẵn sàng nhìn vào và bắt đầu xử lý cảm thọ đã làm cho lòng tự trọng của chúng ta tăng lên rồi. Ví dụ, nếu chúng ta sợ và không muốn nhìn vào nó, thì chúng ta sẽ cảm thấy mình nhỏ bé và lòng tự trọng cũng giảm đi. Nếu chúng ta sẵn sàng nhìn vào sợ hãi, xem xét nó, thừa nhận sự hiện diện của nó, thấy rằng nó đã kìm hãm cuộc đời của chúng ta đến mức nào và bắt đầu buông bỏ nó, thì lòng tự trọng của chúng ta sẽ tăng lên, dù sợ hãi có biến mất hay không.

Tất cả chúng ta đều biết rằng cần có can đảm để đối mặt với sợ hãi. Chúng ta ca ngợi những người dám đối mặt với sợ hãi và cố gắng làm điều gì đó để vượt qua. Như thế, can đảm là một trong những đặc điểm của cao thượng và làm cho con người trở thành thực sự vĩ đại. Mặc cho tất cả những lập trình tiêu cực và mặc cho tất cả sợ hãi của họ, những người can đảm vẫn tiến về phía trước, dù không có gì đảm bảo và thậm chí không biết rằng mọi thứ sẽ tốt hơn. Vì vậy, can đảm làm cho lòng tự trọng của chúng ta tăng lên và làm cho những người khác tôn trọng chúng ta. Chúng ta không còn cần phải cảm thấy xấu hổ nữa.

Xin xem xét ví dụ về người đàn ông bị chứng sợ độ cao. Anh ta đã nỗ lực để thoát khỏi sợ hãi trong vài năm và tình hình đã tốt hơn nhiều, nhưng vẫn còn rất nhiều sợ hãi. Nó thể hiện rõ khi anh ta đến Grand Canyon cùng với một người bạn. Lúc đầu, anh ta đứng cách mép vực khoảng 1,8 mét. Những năm trước, anh ấy sẽ không dám đến cách mép vực một dãy nhà. Lúc này, anh ấy đứng ở đó, do dự. Người bạn nắm lấy tay anh ta và nói, “Hãy đến gần mép vực với tôi.” Và anh ta đã làm như thế. Anh ta tiếp tục buông bỏ sợ hãi khi bước về phía trước và nhận thấy rằng mình thực sự có thể đứng ngay cạnh mép vực, mặc dù phải thừa nhận rằng, vẫn cảm thấy khá run. Khi họ đi xa khỏi mép vực, người bạn nhìn anh ta với vẻ tán thưởng và nói: “Ít nhất thì cậu cũng đã làm được! Tớ biết cần bao nhiêu can đảm.” Mặc dù anh ta chưa hoàn toàn vượt qua được sợ hãi, nhưng bằng cách vượt qua rào cản nội tâm, anh ta đã giành được lòng tự trọng của chính mình và thái độ tôn trọng của người khác.

Khi có những trải nghiệm đột phá như thế, chúng ta bắt đầu nhìn nhận sợ hãi của mình một cách khác đi và chúng ta không còn xấu hổ về nó nữa. Chúng ta không còn cho phép nó làm mất giá trị thực sự của mình. Nó làm tăng sức mạnh bên trong và thái độ tự chấp nhận của chúng ta. Cùng với thời gian, những sợ hãi tiềm ẩn, cần can đảm mới vượt qua được sẽ giảm dần đến mức chúng ta tiến lên tầng chấp nhận. 

Tự cường

Ở tầng can đảm, trọng tâm là hành động. Chúng ta đã biết rằng mình có khả năng tự đáp ứng nhu cầu của chính mình và của người khác, và chúng ta biết rằng, nếu sẵn sàng nỗ lực, chúng ta có thể đạt được những gì mình muốn. Vì vậy, những người ở tầng can đảm là những người hành động. Vì chúng ta chỉ có thể cho đi những gì mình có, những người ở tầng can đảm có khả năng hỗ trợ và khuyến khích người khác. Đấy là do họ có khả năng cho đi cũng như nhận lại, và có sự cân bằng giữa cho và nhận, nó diễn ra một cách tự nhiên.

Các tầng tâm thức thấp hơn chủ yếu quan tâm đến lợi ích. Giờ đây, ở tầng can đảm, với sức mạnh và năng lượng lớn hơn. Chúng ta có khả năng cho người khác, bởi vì người khác không còn được nhìn nhận chủ yếu như một phương tiện giúp đỡ, sinh tồn hoặc hỗ trợ nữa. Khi có can đảm, chúng ta cảm nhận được sức mạnh nội tại, và giá trị của chính mình. Chúng ta biết rằng mình có khả năng tạo ra sự khác biệt trên thế giới này, chứ không chỉ đơn thuần là thu lợi cho mình. Nhờ thái độ tự tin bên trong, chúng ta ít lo lắng về an toàn. Trọng tâm không còn là của cải mà người ta có, mà là những việc họ làm và con người mà họ đã trở thành.

Với lòng can đảm, chúng ta sẵn sàng chấp nhận rủi ro và buông bỏ những biện pháp an toàn mà trước đây chúng ta từng sử dụng. Chúng ta sẵn sàng trưởng thành và nhận được lợi ích từ những trải nghiệm mới. Trong đó có khả năng thừa nhận sai lầm mà không bị dằn vặt bởi mặc cảm tội lỗi và tự trách. Nhận thức về giá trị của chính chúng ta không bị suy giảm khi nhìn vào những lĩnh vực cần cải thiện. Chúng ta có thể thừa nhận vấn đề mà không cảm thấy mình nhỏ lại. Kết quả là, năng lượng, thời gian và nỗ lực được dành cho việc tự hoàn thiện.

Ở tầng này, những tuyên bố về ý định và mục đích trở nên mạnh mẽ hơn và kết quả mà mình mong muốn có xu hướng thành hiện thực. Chúng ta năng động và sáng tạo hơn, vì năng lượng của chúng ta không bị cạn kiệt vì những lo lắng thường trực về sự sống còn về mặt cảm xúc hoặc thể chất. Nhờ linh hoạt hơn, chúng ta sẵn sàng xem xét các vấn đề với tầm nhìn hướng tới việc thay đổi ý nghĩa và bối cảnh tổng thể. Sẵn sàng chấp nhận rủi ro để chuyển đổi các hệ hình tư duy.

Hệ hình tư duy là toàn bộ thế giới quan, và nó chỉ bị giới hạn bởi những gì chúng ta cho là khả thi. Khi những cách nhìn cũ bị thách thức, thế giới quan của chúng ta bắt đầu được mở rộng ra. Những thứ trước đây được coi là bất khả thi trở thành khả thi và cuối cùng được trải nghiệm như là một chiều kích mới của thực tại. Chúng ta có khả năng nhìn vào bên trong chính mình để khảo sát hệ thống niềm tin, đặt câu hỏi và tìm kiếm những giải pháp mới. Ở tầng can đảm, chúng ta sẵn sàng tham gia các khóa học tự hoàn thiện, học các kỹ thuật tâm thức và chấp nhận rủi ro trên hành trình bên trong để tìm kiếm Đại Ngã đích thực của chính mình, tìm kiếm thực tại bên trong. Chúng ta sẵn sàng trải nghiệm sự không chắc chắn, những giai đoạn bối rối và khó chịu tạm thời, vì, bên dưới sự khó chịu tạm thời đó, chúng ta có mục tiêu siêu việt trong dài hạn. Tâm trí hoạt động ở tầng can đảm đưa ra những tuyên bố như: “Tôi có thể xử lý được”; “Chúng ta sẽ làm được”; “Việc này sẽ được hoàn thành”; “Chúng ta có thể vượt qua được”; “Mọi chuyện rồi sẽ qua.”

Kiểm tra sức mạnh cơ bắp của một người bằng phương pháp cơ thể động học khi ở trạng thái can đảm, ở tầng “Tôi có thể xử lý được”, sẽ thấy kết quả tích cực và đủ sức mạnh để đối mặt với thử thách. Mặc dù vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ hoặc năng lượng tiêu cực—chẳng hạn như những suy nghĩ hoặc năng lượng phát ra từ đèn huỳnh quang hoặc đường hoá học—trường năng lượng sinh học rạng rỡ hơn so với các trạng thái tiêu cực thấp hơn. Vì can đảm là trường năng lượng mạnh mẽ và kiên cường hơn, cho nên các loại bệnh về thể chất ít có khả năng trở thành khía cạnh nổi bật của cuộc sống. Có thể vẫn còn những tàn dư mãn tính của những căn bệnh bắt nguồn từ những tầng tâm thức thấp hơn, nhưng nhìn chung, chúng không còn ở trạng thái ổn định. Ở tầng can đảm, luôn có cảm giác tổng quát về sức mạnh và hạnh phúc. 

Nhận thức về người khác

Lối sống ở tầng này thể hiện sự cân bằng giữa công việc, niềm vui và tình yêu. Không cần phải tham vọng quá mức hoặc “nghiện công việc”, mặc dù những người ở tầng can đảm có khả năng tạo ra nguồn năng lượng đáng kể ở đầu ra nếu tình huống đòi hỏi. Vì đã buông bỏ được nhiều tiêu cực, nên có mong muốn và khả năng yêu thương và xây dựng các quan hệ yêu thương. Giờ đây, những quan hệ này có tầm quan trọng ngang với nỗ lực sinh tồn. Nghề nghiệp được đảm bảo, và trong lĩnh vực công việc người đó còn quan tâm đến phúc lợi của người khác. Những người ở tầng này thường nói rằng họ muốn những công việc mang lại lợi ích cho thế gian. Họ muốn cảm thấy công việc của mình có ý nghĩa chứ không chỉ đơn thuần là tiền lương. Phát triển cá nhân được coi là quan trọng, và ở tầng này người ta có nhận thức rằng cuộc sống của chúng ta đang tạo được ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới những người xung quanh.

Ở các tầng tâm thức thấp hơn – với đặc điểm là vị kỷ - người ta quan tâm nhiều tới lợi ích cá nhân đến mức dành rất ít năng lượng hoặc suy nghĩ về ảnh hưởng của mình tới những người khác. Ở tầng can đảm, chúng ta không còn chỉ đồng nhất với tự ngã nhỏ bé nữa. Thế giới không còn được nhìn nhận như là những ông bố bà mẹ xấu xa, chỉ tìm cách tước đoạt hoặc trừng phạt nữa. Thay vào đó, thế giới được nhìn nhận như là thách thức và mang tới những cơ hội để trưởng thành, phát triển và trải nghiệm mới. Do đó, tầng này có đặc điểm là lạc quan và cảm giác rằng với những sự kiện, giáo dục và định hướng đúng đắn, sớm muộn gì hầu hết các vấn đề đều có thể được giải quyết một cách thỏa đáng.

Ở các tầng thấp hơn, tâm thức của chúng ta chỉ hướng vào những quan tâm mang tính cá nhân, nhưng ở tầng này, các vấn đề xã hội trở thành quan trọng, và năng lượng được dành để giúp vượt qua các vấn đề xã hội và giúp đỡ những người kém may mắn hơn. Vì vậy, hào phóng trở thành khả thi, không chỉ về mặt tài chính, mà còn cả về thái độ. Niềm vui đến từ việc bảo vệ các lý tưởng và từ việc hỗ trợ những nỗ lực của người khác. Năng lượng này tạo ra những công việc, doanh nghiệp, ngành công nghiệp mới, và các giải pháp chính trị và khoa học. Giáo dục, mặc dù không phải lúc nào cũng theo nghĩa học thuật, trở thành quan trọng.

Ở tầng can đảm, chúng ta thực sự bắt đầu trở nên có ý thức. Chúng ta chợt nhận ra rằng mình có tự do và khả năng lựa chọn. Chúng ta không còn là nạn nhân nữa, và tự do về mặt tâm lý, cảm xúc và tâm linh là khả thi. Do đó, thái độ cứng nhắc giảm đi đáng kể, và nhờ linh hoạt, chúng ta có khả năng quan tâm và tình yêu chân thành dành cho người khác, những người ở tầng này trở thành những bậc phụ huynh, ông chủ, nhân viên và công dân tốt.

Họ có khả năng đặt mình vào vị trí của người khác và quan tâm đến cảm thọ của người khác, cũng như phúc lợi của họ. Mặc dù những cảm thọ tiêu cực vẫn còn, nhưng chúng không chi phối hay quyết định lối sống của người đó nữa; nghĩa là, chúng ta vẫn quan tâm tới người khác ngay cả khi đang sợ hãi. Những người ở tầng này là xương sống của đất nước. Họ là những người mà chúng ta sẽ tìm tới khi cần, vì lợi ích chung. Họ là những người đáng tin và có thể dựa vào, vì họ sẵn sàng nhận trách nhiệm. Những người ở tầng này có lương tâm xã hội và lòng nhân đạo. Mặc cảm tội lỗi nhường chỗ cho phúc lợi của người khác, và đấy là cơ sở của các quyết định mang tính đạo đức

Chính tầng này sinh những câu như: “Thành công tạo ra thành công.” Nhờ vận hành hiệu quả, mà sẽ có phản hồi tích cực, sau đó là gia tăng tự tin và tạo điều kiện để tự khám phá cũng như khám phá thế giới xung quanh. Mặc dù vẫn cần nỗ lực thì mới đạt được mục tiêu, nhưng sẽ nhẹ nhàng hơn so với các tầng thấp hơn. Người ta sẽ cảm thấy hài lòng và mãn nguyện hơn vì nhận được phần thưởng lớn hơn với ít nỗ lực hơn so với vượt qua sợ hãi. Có khả năng lớn hơn hẳn không chỉ trong việc tìm kiếm giúp đỡ, mà còn sử dụng và hưởng lợi.

Tiền được sử dụng theo tinh thần xây dựng hơn hẳn, và quan tâm đến việc chi tiêu sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của người khác như thế nào. Tiền không chỉ được chi dùng cho việc thỏa mãn chính mình, khoa trương chính mình hay củng cố tự ngã; thay vào đó, nó được coi như một công cụ để thành tựu.

Đây là tầng mà nhận thức tâm linh đích thực trở thành khả thi. Do đã thoát khỏi thái độ vị kỷ và thôi đồng nhất với tự ngã nhỏ bé, người ta trải nghiệm được năng lượng cao hơn và hy vọng nhận thức sẽ được nâng lên. Ở các tầng thấp hơn, Thiên Chúa được nhìn qua lăng kính cảm xúc của tầng đó. Vì vậy, khi rơi vào trạng thái thờ ơ, nếu nghĩ về quan hệ với Thiên Chúa, thì người ta cho là vô vọng. Ở tầng u sầu, người ta cảm thấy tuyệt vọng vì hoàn toàn không được Thiên Chúa giúp đỡ. Khi bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi, người ta cảm thấy không xứng đáng với bất kỳ quan hệ nào với Thiên Chúa, và họ nghĩ là sẽ bị trừng phạt chứ không được Chúa yêu thương. Ở tầng sợ hãi, sợ hãi có thể lớn đến nỗi thậm chí người ta không dám nghĩ tới Thiên Chúa, vì vậy, chủ đề này bị xóa hẳn khỏi tâm thức, và Thiên Chúa được coi là đáng sợ, là người thích trừng phạt, báo thù, ghen tị và tức giận. Ở tầng tức giận, Thiên Chúa được coi là người sẵn sàng tước đoạt, tùy tiện, thất thường và thất bại. Ở tầng kiêu hãnh, xuất hiện thái độ tự cao tự đại về lập trường tôn giáo hoặc tâm linh của mình, với đặc điểm là cứng nhắc, thiếu linh hoạt, thiếu khoan dung, khuynh hướng độc quyền, mâu thuẫn, bè phái, tranh luận và xung đột tôn giáo.

Ở tầng can đảm, chúng ta sẵn sàng chịu trách nhiệm về lập trường tôn giáo hay tâm linh của mình. Nhận thức gia tăng và kết qua thường là chúng ta trở thành người tìm kiếm tâm linh, và thực sự tỉnh thức để theo đuổi sự thật theo nghĩa tôn giáo hoặc tâm linh. Có thể dẫn đến tái khẳng định lập trường trước đây của chúng ta, nhưng lúc này là từ một quan điểm hoàn toàn mới—mình tự lựa chọn. Nó có thể đưa tới những thay đổi, chậm rãi và từng bước một, hoặc đột ngột. Ở tầng này, tâm thức đã thức tỉnh và nhận ra rằng, lúc này niềm tin và quan điểm của chúng ta là kết quả của lựa chọn, chứ không chỉ là kết quả của lập trình mù quáng như đã từng diễn ra. Chúng ta bắt đầu tìm kiếm ý nghĩa, và nó có thể xảy ra ở tầng đạo đức và nhân văn hơn là trong lĩnh vực cụ thể, được chỉ định như tôn giáo chính thức vẫn làm. Chúng ta tìm hiểu chức năng xã hội và vai trò của mình trên thế gian, và chúng ta đặt câu hỏi về giá trị của cuộc đời mình, không chỉ đối với chính mình mà còn đối với tha nhân.

Carl Jung nói rằng một nhân cách lành mạnh là cân bằng giữa công việc, vui chơi, tình yêu và một khía cạnh của nhân cách gọi là tâm linh, mà chúng ta cũng có thể định nghĩa như là tìm kiếm ý nghĩa và giá trị. Những tìm tòi này tạo ra những xáo trộn nội tâm nhưng cũng có những khoảnh khắc chấp nhận và bình yên. Những khoảnh khắc hiểu biết bằng trực giác thôi thúc chúng ta tiếp tục công cuộc tìm kiếm, để khám phá xem liệu có điều gì vượt ra ngoài thế giới vật chất và hữu hình cùng những hiện tượng luôn luôn thay đổi của nó hay không.

Đây là tầng tâm thức tốt để nhìn vào và buông bỏ những cảm thọ tiêu cực. Ở tầng này, chúng ta có năng lượng, có khả năng, tự tin và sẵn sàng tiếp thu kiến ​​thức và vượt qua những giai đoạn học tập cần thiết. Ở tầng này, có mong muốn tự hoàn thiện và nhận ra rằng những trạng thái tâm trí tốt hơn là khả thi. Ở tầng can đảm người ta biết rằng không cần thiết phải chịu đựng đau đớn và khổ sở do những cảm thọ tiêu cực gây ra hoặc ảnh hưởng của chúng đối với những niềm vui trong cuộc đời.

Ở tầng can đảm, chúng ta không còn sẵn sàng trả giá cho tiêu cực. Chúng ta quan tâm đến ảnh hưởng của những cảm thọ tiêu cực của mình đối với hạnh phúc của những người thân cận. Hầu hết những người đã học được kỹ thuật buông bỏ sẽ tiếp tục sử dụng nó cho đến khi họ vươn tới được tầng tâm thức này. Ở tầng này, những vấn đề lớn trong cuộc đời họ giờ đây đã nằm trong tầm kiểm soát. Họ hài lòng và thành công trong nghề nghiệp. Nhu cầu vật chất được đáp ứng. Những vấn đề lớn trong các mối quan hệ đã được giải quyết. Họ không còn trải nghiệm đau đớn và khổ sở trong tâm trí hữu thức nữa, thay vào đó họ hài lòng khi thấy mình đã trưởng thành và phát triển trong những lĩnh vực nhất định.

Khi cảm thấy thoải mái, ta thường có xu hướng ngừng sử dụng kỹ thuật này và chỉ tiếp tục sử dụng trong những tình huống khẩn cấp, hoặc khi những cảm thọ tiêu cực lại trở thành đau đớn và cần được chúng ta chú ý. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều cần phải đạt được. Vì luôn luôn có một cảm thọ nào đó có thể được buông bỏ, việc tiếp tục quá trình này sẽ dẫn đến những lợi ích ngày càng lớn hơn.

Buông bỏ liên tục sẽ mang lại những thay đổi tinh tế, liên tục, đặc biệt là ở những tầng nhận thức tinh tế trong khả năng yêu thương của chúng ta. Trước đây, chúng ta đã ví sự lan tỏa của tình yêu - bắt nguồn từ khía cạnh cao hơn của chúng ta – với năng lượng của ánh mặt trời. Chúng ta nhận thấy rằng, khi những đám mây đen của tiêu cực được loại bỏ, năng lượng này và khả năng chấp nhận nó, cũng như việc nó lan tỏa ra bên ngoài, sẽ tăng lên từng bước một.

Ở tầng can đảm, khả năng yêu thương của chúng ta mạnh mẽ hơn hẳn, và nó có sức mạnh đích thực để hỗ trợ và khuyến khích người khác, tiếp thêm sức mạnh cho những điều tích cực và mang tính xây dựng bên trong chính con người họ. Việc hỗ trợ quá trình phát triển của họ mang lại cho chúng ta niềm vui khi chứng kiến ​​họ ngày càng trưởng thành và hạnh phúc hơn. Khả năng này trong chúng ta có thể ngày càng mạnh mẽ hơn. Nó có thể trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, trở thành tự thưởng cũng như mang lại nhiều lợi ích hơn cho người khác.

Chúng ta có thể vận dụng can đảm để củng cố khát vọng phát triển vượt ra ngoài trạng thái hiện tại, bởi ở tầng này, chúng ta đã bắt đầu có những linh cảm rằng bên trong mình tồn tại một điều gì đó mà bấy lâu nay ta chưa từng ngờ tới. Nó được thể hiện qua những khoảnh khắc tĩnh lặng và bình yên tuyệt đối và bất ngờ, trong đó chúng ta có được sự minh mẫn, thấu hiểu và nhạy cảm cao độ với cái đẹp.

Chúng ta khám phá ra rằng thông qua âm nhạc—chứ không phải vì âm nhạc—mà chúng ta trải nghiệm được tâm trí mình đột nhiên tĩnh lặng, và trong khoảnh khắc tĩnh lặng đó, chúng ta được phép trải nghiệm một chiều kích lớn hơn. Có thể có những giây phút thoáng qua mà chúng ta cảm thấy sự đồng nhất và hoàn toàn hòa làm một với người khác, như thể không hề có sự ngăn cách.

Đây là những khoảnh khắc đột phá để trải nghiệm Đại ngã nội tâm thực sự của chúng ta. Ký ức về những khoảnh khắc đó thì không thể nào quên được. Khi chúng bắt đầu xảy ra, chúng ta không biết ý nghĩa của chúng là gì. Chúng ta nghĩ đấy là “ngẫu nhiên.” “Chỉ là gặp may.” Chúng ta gán cảm thọ đó cho những sự kiện bên ngoài, chẳng hạn như vẻ đẹp lúc chiều tà, một đoạn nhạc giao hưởng, hay một cử chỉ yêu thương. Nhưng khi tìm hiểu sâu hơn, chúng ta thấy rằng đó chỉ là những hoàn cảnh cho phép điều gì đó khác xảy ra. Đấy không phải là nguyên nhân. Những hoàn cảnh đó cho phép tâm trí đạt đến một trạng thái tĩnh lặng nhất định, và nhờ sự tĩnh lặng đó, chúng ta được phép trải nghiệm một điều gì đó khác chứ không chỉ sự ồn ào của chính tâm trí của mình với sự vận động không ngừng nghỉ của các giác quan, cảm thọ, suy nghĩ, tình cảm và ký ức.

Trong những khoảnh khắc này, khi thời gian dường như ngừng lại, chúng ta được thoáng thấy những điều khả dĩ. Những khoảnh khắc này quý giá đến mức được trân trọng suốt đời. Khi chúng xảy ra, ta trải nghiệm được điều gì đó rất ấn tượng. Phải chăng, vượt lên trên sự hỗn loạn của thế gian và tâm trí của chính chúng ta, có một sự im lặng? Một cõi bình yên luôn chờ đợi?