October 10, 2021

THIỀN ĐÀM VỀ NGHIỆP LỰC LUÂN BÁO

Bài học từ câu chuyện con khỉ, con bướm và ông quan hiểu đạo lý

Xin nhắc lại một đạo lý vô cùng quan trọng trong câu chuyện “con bướm vỗ cánh ở rừng mưa nhiệt đớiBrazil có thể gây ra trận bão tuyết ở Phần Lan”: Mọi thứ đều có quan hệ mật thiết và hữu cơ với nhau. Hơn nữa, con bướm nhỏ bé, với đôi cánh yếu ớt mà tác động còn như thế thì ý nghĩ, lời nói và hành động của con người còn có ảnh hưởng tới mức nào? Đối với con người, có thể nói, cơn nóng giận của một người ở Vũng Tàu có thể làm tan một tảng bang lớn ở Nam Cực!  

Câu chuyện con khỉ biết rửa khoai còn cho ta biết rằng tất cả những tư tưởng, lời nói, việc làm của chúng ta đều được vũ trụ ghi vào bộ nhớ vô cùng vô tận của mình. Rồi một lúc nào đó dữ liệu này sẽ được truy xuất ra và gây ra ảnh hưởng tới chúng ta hoặc đồng bào, con cháu chúng ta.

Thế giới hiện nay dường như nhỏ lại và nhờ khoa học cũng như thông tin mà con người có thể ghi nhận được những hiện tượng như thế, nhưng người xưa đã biết từ lâu. Đấy là thuyết Tam Tài: Thiên-Địa-Nhân (Trời-Đất-Người) liên quan mật thiết, ảnh hưởng lẫn nhau và giao hòa với nhau.



Có thể kể thêm vài sự kiện nữa. Khi một nhà khoa học tại bất kỳ một phòng thí nghiệm nào trên thế giới cố gắng tổng hợp một loại tinh thể mới, họ thường nhận thấy công việc này cực kỳ khó khăn. Tuy nhiên, cứ mỗi lần có một nhà khoa học nào đó thành công, thì các đồng nghiệp của ông ta trên khắp nơi trên thế giới dường như đều có thể hoàn thành công việc tổng hợp hợp chất hoá học mới của riêng họ một cách nhanh chóng hơn. Trên thực tế, khi hợp chất đó được kết tinh càng nhiều lần, quy trình này càng trở nên dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn vào mỗi lần kế tiếp. Hoặc, khi vận động viên điền kinh Roger Bannister phá kỉ lục chạy một dặm bốn phút, anh đã khơi gợi một quan niệm hoàn toàn mới, phá vỡ quan niệm cho rằng chạy một dặm trong bốn phút là đạt đến giới hạn của con người.

Từ những hiện tượng vừa nêu, Rupert Sheldrake (1942-) đề xuất khái niệm trường tạo hình thái (morphogenetic fields) hay trường M. Vận động viên điền kinh Roger Bannister phá kỉ lục chạy một dặm bốn phút là anh đã lập ra trường M mới, nhiều vận động viên điền kinh đột nhiên bắt đầu phá vỡ kỉ lục chạy một dặm trong bốn phút. Hiện tượng này xảy ra mỗi khi nhân loại bứt phá để tạo ra một hệ hình mới, dù đấy là khả năng bay (trường M do anh em nhà Wright tạo ra), hay khả năng cai rượu (trường M do Bill W., người sáng lập hội Người nghiện rượu ẩn danh, tạo ra). Quá trình tổng hợp các tinh thể mới được nhắc tới bên trên thì cũng thế. Các mô thức làm công việc tổ chức vô hình này hành động tương tự như các mô thức năng lượng nhằm thiết lập các hình thức trên các tầng thứ khác nhau của đời sống. Trong các trường năng lượng của ý thức cũng có một cái gì đó tương tự như các trường M và đấy chính là nền tảng cho các khuôn mẫu tư duy và hình ảnh – người ta gọi hiện tượng này là “nguyên nhân mang tính tổ chức”. Sau khi một trường M nào đó được tạo ra, tất cả những người lặp lại thành tích này đều góp phần củng cố năng lượng bên trong của trường M đó.

Tất cả chúng ta đều quen thuộc với hiện tượng là những ý tưởng mới thường hay gặp nhau (một số người ở cách xa nhau đồng thời cùng nghĩ tới một ý tưởng). Bằng cách nào đó, trường M hoạt động như một nguyên tắc tổ chức, tương tự như sức hút của từ trường. Trường M không phải di chuyển đi đâu hết. Nó là trường năng lượng đứng yên nhưng lại có mặt ở khắp mọi nơi. Một khi được tạo ra, nó tồn tại dưới dạng mô hình phổ biến có sẵn trong vũ trụ. Có thể tưởng tượng rằng khi làm những việc có ích, chúng ta tạo ra hay củng cố trường trường M+ (tích cực), còn khi làm những việc xấu thì chúng ta tạo ra hay củng cố trường M- (tiêu cực).

David R. Hawkin viết (tác phẩm Power vs. Force): “Vũ trụ nín thở trong từng khoảnh khắc khi chúng ta quyết định con đường mình sẽ đi; vì vũ trụ, cốt tủy của sự sống, cực kì tỉnh thức. Mỗi hành động, suy nghĩ và lựa chọn đều góp thêm một nét vào bức tranh vĩnh viễn tồn tại với thời gian; những quyết định của chúng ta len lỏi qua vũ trụ của ý thức và sẽ tác động đến đời sống của vạn vật. Xin đừng cho rằng ý tưởng này là thần bí hoặc hão huyền, xin nhớ rằng nguyên lý cơ bản của vật lý lý thuyết hiện đại: mọi thứ trong vũ trụ đều kết nối với nhau.

Các quyết định của chúng ta củng cố cho quá trình hình thành các trường M đầy sức mạnh, đấy chính là những mô thức điểm hút ảnh hưởng đến những mô thức điểm hút khác. Ngay cả khi một người ngồi một mình trong một cái hang, thì suy nghĩ của anh ta cũng ảnh hưởng đến những người khác, dù anh ta có muốn hay không. Nếu hành động hoặc quyết định của bạn hỗ trợ cuộc sống thì nó cũng hỗ trợ cuộc sống của muôn loài, trong đó có cuộc sống của chính bạn” (hết trích).

Mà theo triết lý của nhà Phật thì đấy chính là nghiệp lực luân báo. Ý nghĩ, lời nói, việc làm, đều tạo nghiệp. Nghiệp do cá nhân làm và chỉ tác động tới cá nhân đó thì được gọi là Biệt nghiệp; còn nghiệp do nhiều người cùng làm và tác động tới cả cộng đồng thì được gọi là Cộng nghiệp. Nếu biệt nghiệp góp phần tạo ra số phận của một người thì cộng nghiệp tạo góp phần ra số phận của cả cộng đồng. Cộng nghiệp xấu có thể tạo ra thiên tai, thảm họa, chiến tranh. Những người có cùng nghiệp lực có thể quần tụ tại khu vực rồi sẽ có sóng thần hay các loại thiên tai khác, và cũng có thể đi cùng một chuyến tàu, một chuyến máy bay để rồi gặp nạn cùng nhau. Nhưng con người, do không hiểu biết lại bảo những tai họa như thế là hiện tượng tự nhiên. Thật đáng buồn thay!

Biệt nghiệp

Nói đến nghiệp báo, nhiều người thường nghĩ rằng có một lực lượng nào đó làm công việc báo oán và nếu có quả báo đi chăng thì cũng sẽ xảy ra trong tương lai rất xa, chẳng cần nghĩ tới làm gì. Nhưng không phải như thế. Thứ nhất, nghiệp báo là tự động, tương tự như lực và phản lực, có lực thì có phản lực; tạo nghiệp thì nhất định sẽ gặp quả báo. Thứ hai, quả báo có thể xảy ra trong tương lai, thậm chí trong kiếp sau, nếu ta tin rằng có kiếp sau; nhưng nhiều “quả” sẽ xảy ra trong kiếp này, thậm chí xảy ra ngay khi vừa tạo nghiệp.

Trước hết xin nói về sức khỏe. Khi ta tranh đấu với người khác để giành một chút lợi ích vật chất nào đó, ta thấy tim đập mạnh và nhanh hơn, mặt đỏ lên; hoặc khi cãi nhau với người khác chỉ vì một chuyện vặt vãnh nào đó ta cũng cảm thấy những hiện tượng tương tự. Thậm chí, có khi, trong lúc tắm hay ăn cơm, ta bỗng phát hiện ra rằng đang tức tối hay đang “cãi nhau” với một ai đó và người cũng run lên chẳng khác gì “đối tác” đang đứng ngay trước mặt mình. Thế mà những tình cảm như lo lắng, bồn chồn, ghen tị, đố kị… chính là những cái bơm đang hàng ngày hàng giờ bơm chất độc ra khắp thân thể và sẽ gây ra những chứng bệnh như đau dạ dày, suy thận, suy gan, sỏi thận, ung thư…Xét như thế, câu “Bệnh từ miệng mà vào” chỉ đúng một phần. Tâm trí không thanh tịnh, thiếu bình hòa cũng gây ra rất nhiều bệnh tật. Chỉ là chúng ta không chịu để ý mà thôi.   

Cũng về vấn đề sức khỏe, có thể bổ xung hiện tượng đầu độc nhau. Ban đầu, cách đây có thể là khá lâu rồi, một người nào đó đã dùng những chất độc hại trong trồng trọt hoặc chất tạo nạc trong chăn nuôi, tôi gọi đó là trường M-đầu độc nhau. Người cùng xóm bắt chước, rồi cả làng bắt chước… Mỗi một người bắt chước lại củng cố thêm trường M-đầu độc nhau và bây giờ cả nước đã thành “rau hai luống, lợn hai chuồng”, tức là cả nước đầu độc lẫn nhau. Người nông dân bán những thứ có chất độc hai kia tưởng là mình khôn, nhưng anh ta có biết đâu rằng sẽ nạp vào người chất độc khi mua cá được ướp bằng phân U-rê, ăn phở được tẩm phóc môn ướp xác người, giò lụa có quá nhiều hàn the ..vân vân và vân vân.

Có một số ông thích khoe chinh phục được cô này, bà kia và lấy làm khoái chí lắm. Có thể gọi đó là trường M-Sở Khanh. Trường này cũng được tăng cường khi có nhiều người cùng làm những hành động sở khanh kia. Và rồi một số ông sẽ nhận quả đắng khi biết tin vợ mình ngoại tình, con gái mình chửa hoang hay bị đưa vào động mại dâm…

Còn các ông/bà cán bộ đảng viên trên diễn đàn hùng hồn nói về cống hiến, học tập nọ kia, nhưng lại là những kẻ tham nhũng, những kẻ ăn đút lót mà không hề biết xấu hổ là gì, thậm chí tham nhũng ngay trên đau khổ của những đồng bào đang lâm vào hoàn cảnh cùng cực, như bán thuốc ung thư rởm hay bán covid test kit với giá cao hơn giá gốc 4-5 lần…. Những người đó không biết, hay biết mà bưng tai, bịt mắt trước hiện tượng đạo đức xã hội đang trượt dốc quá nhanh, mà họ chính là những người đang góp phần làm cho nó tăng tốc. Những sự kiện như bạn bè lừa nhau, anh em đánh chém nhau, hơi một tí là thượng cẳng tay hạ cẳng chân với nhau… Kể hết ra thì nhiều chuyện lắm. Trong xã hội như thế có tiền liệu có thể tiêu, có món ngon liệu có thể bình tĩnh mà thưởng thức hay không?

Với một số việc làm vừa kể, chúng ta đang biến các khu rừng nguyên sinh thành đấy trống, đồi núi trọc, đất trồng trọt bị phong hóa, nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, và trên hết, môi trường đạo đức bị xuống cấp cực kì nghiêm trọng và cực kì nhanh chóng. Nếu không chặn đứng được những hiện tượng vừa nêu thì 50 hay 100 năm nữa dải đất hình chũ S này có còn là chỗ cho con người sinh sống hay không?

Xin nói thêm một hiện tượng nữa. Các nhà tâm lý học đều biết rằng những người cảm thấy dằn vặt vì phạm lỗi có thể bị ốm, trầm cảm đến mức tự tử hoặc bị những tai nạn mà người thường có thể tránh được. Ví dụ, nghe nói có tới 11 người liên quan đến vụ án Hồ Duy Hải chết bất đắc kì tử trong những hoàn cảnh khác nhau. Có lẽ đó cũng là nghiệp lực luân báo. 

Vì không nhận thức được nghiệp lực luân báo cho nên người ta gây ra bao nhiêu đau khổ cho mình và cho nhau. Cũng chả thể trách ai, vì có người nào trong chúng ta chưa từng bỏ một ít phẩm màu vào cái thùng thuốc nhuộm lương tâm nhân loại?

Chỉ có một cách: Chấm dứt việc bỏ thêm phẩm màu vào thùng thuốc nhuộm nhân phẩm. Cùng nhau và từng người một 

Cộng nghiệp

Con người không thể sống tách rời cộng đồng, cho nên có một số việc được nhiều người trong cộng đồng cùng làm và như thế sẽ có ảnh hưởng tới tất mọi người trong cộng đồng, dù một  số người cụ thể có thể không làm việc đó. Đạo Phật gọi đấy là Cộng nghiệp.

Xin xem xét việc phá rừng. Không phải tất cả mọi người trong một khu vực hay trong cả nước đều tham gia phá hoại rừng. Nhưng hậu qủa như lụt lội, lở đất, lũ quét, lũ ống, hạn hán… thì cả một khu vực rộng lớn, thậm chí cả nước phải gánh chịu. Nạn ô nhiễm môi trường thì cũng thế: một số khu công nghiệp hay nhà máy xả khí thải, gây ra ô nhiễm không khí hay đổ chất thải chưa được xử lí ra sông, ra biển, làm ô nhiễm nguồn nước, mà có thể cả thế giới phải gánh chịu hậu quả.

Ngoài ra, một số hành động, ban đầu có thể chỉ do một vài người làm, chỉ gây ra hậu quả lên chính những người đó mà không gây hậu quả đáng kể lên cộng đồng; nhưng sau đó được nhiều người bắt chước và tạo thành cộng nghiệp, như đã nói trong phần biệt nghiệp.

Nếu để ý ta có thể thấy người trong một gia đình, một dòng họ đều có một số thói quen tư duy hay tính cách nào đó; các dân tộc thì cũng thế. Gustave le Bon viết: “Mỗi chủng tộc cùng sở hữu một cấu tạo tinh thần cố định như cấu tạo giải phẩu (Những quy luật tâm lý về tiến hóa của các dân tộc, trang 22). “Những đặc điểm tinh thần và trí tuệ mà sự kết hợp của chúng tạo nên tâm hồn của dân tộc là tổng hợp của toàn bộ quá khứ, là thừa kế của cả tổ tiên, những hành xử của dân tộc đó” (sách ĐD, trang 23). “Những thế hệ đã mất không chỉ đơn thuần áp đặt thể chất mà còn áp đặt những tư tưởng của họ lên chúng ta… Chúng ta gánh chịu những lỗi lầm của họ và nhận được sự tưởng thưởng từ đức hạnh của họ” (sách ĐD, trang 27).  Trang 48, ông viết tiếp: “Tính cách chứ không phải trí tuệ của mỗi dân tộc quyết định sự tiến hóa của dân tộc và điều chỉnh số phận của nó… Ảnh hưởng của tính cách rất có hiệu lực trong đời sống của dân tộc, trong khi ảnh hưởng của trí tuệ rất yếu ớt”.


Có khác gì nói rằng mỗi người đều được “hưởng” cộng nghiệp của tổ tiên, dòng họ hay dân tộc của mình. 

Là người Việt Nam, dù chưa ra khỏi biên giới thì mỗi người cũng đều biết rằng, về tính cách hay cộng nghiệp, chúng ta khác người Lào, người Thái Lan và chắc chắn là khác hẳn người Nhật, người Pháp, người Thụy Điển.. vì vậy mà chúng ta có số phận khác hẳn họ. Để khỏi dài dòng, xin trích một số nhận xét trong cuốn “Tâm lí dân tộc An Nam” của Paul Giran.  

Đây là một cuốn sách dễ làm cho rất nhiều người Việt nổi giận vì tự ái dân tộc. Paul Giran hầu như không có một nhận xét tích cực nào về dân tộc mà ông gọi là ‘An Nam’. Nếu có nhận xét tích cực, thì cách ông viết cũng làm cho người đọc thấy như là mỉa mai. Ví dụ, ông viết, người An Nam can đảm, nhưng ngay sau đó ông viết rằng đối với người Pháp thì đó là “táo bạo, mạo hiểm, và liều lĩnh” chứ không phải can đảm như cách người Pháp hiểu. Ông còn cho rằng chúng ta yếu đuối về thể chất, nghèo nàn về cảm xúc, có tâm hồn trẻ con, sợ quyền thế nhưng hám quyền, không có tính sáng tạo, tàn nhẫn và man rợ.

Giran cho rằng dân tộc An Nam vô cảm và lãnh đạm, thụ động, tàn ác bằng lòng với sự thiếu thốn, vì không có nhu cầu to tát, không có mong ước lớn, nên họ là “một dân tộc hạnh phúc” nhưng “điểm chính yếu trong sự hạnh phúc của họ là tiêu cực và rất ít ham muốn”!

Một khía cạnh tâm lí khác của người An Nam là tính nhẫn nhục và chịu đựng. Ông giải thích rằng vì tính chịu đựng tốt nên người An Nam không có ý chí phản kháng. Người An Nam rất sợ quyền lực, rất quị lụy trước người có quyền thế, cho dù là người có quyền thấp nhứt. Tuy nhiên, người An Nam rất hám quyền và thích các chức vụ trong hệ thống công quyền. Tại sao? Tại vì, theo Giran nhận xét, “nghề này thỏa mãn tình yêu quyền lực, phỉnh nịnh thiên hướng của họ, đưa đến sự trơ ỳ và phù hợp với sự thiếu sáng tạo của họ. Vì vậy, hầu hết những người An Nam thông minh hoặc giàu có đều khao khát quan trường.”

Giran viết: “Năng lực trừu tượng ở gần họ gần như hoàn toàn không có; đó là lí do tại sao các phương pháp của họ hoàn toàn tuân theo kinh nghiệm; họ không bao giờ biết rút ra các khái niệm khoa học ẩn giấu trong kinh nghiệm để nêu ra các định luật chung”. Do đó, người An Nam chỉ thích làm theo đường mòn, làm theo những gì người khác đã vạch ra, chứ không tự mình đặt ra con đường mới. Ông nhìn cách những người thợ tranh sơn mài và khảm xà cừ, và đi đến nhận xét rằng họ làm tỉ mỉ và khéo léo, nhưng đó chỉ là những thói quen, chớ không có sáng tạo. Ngay cả thiếu sót cũng trở thành một thói quen! Họ bắt chước sao cho gần như hoàn hảo”. Ông kết luận “Sự thờ ơ, không có sáng kiến, không có tinh thần sáng chế, họ chưa bao giờ là người sáng tạo… Họ có tài năng nhất định, nhưng không bao giờ là thiên tài”.

Có thể bạn không hoàn toàn đồng ý với Paul Giran, nhưng bạn phải công nhận rằng phần lớn nhận xét của ông là chính xác.  

Cách đây cả trăm năm, Phan Châu Trinh viết Mười điều bi ai của dân tộc Việt Nam mà đến nay chúng ta vẫn còn thấy đúng:

  1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
  2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.
  3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.
  4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
  5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.
  6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.
  7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.
  8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.
  9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.
  10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v...

 Dân tộc ta có tính cách, hay cộng nghiệp như thế, cho nên chúng ta mới có số phận như hiện nay.

Xin nhắc lại Le Bon: “Tính cách chứ không phải trí tuệ của mỗi dân tộc quyết định sự tiến hóa của dân tộc và điều chỉnh số phận của nó”, tức là học tập, giáo dục như hiện nay không thể thay đổi được số phận hay cộng nghiệp của dân tộc.

Một câu chuyện về nghiệp

Erơnơ Muđasep, tiến sĩ y khoa, giáo sư, giám đốc trung tâm phẫu thuật và chỉnh hình thuộc Bộ y tế Nga, thầy thuốc công huân, nhà phẫu thuật hàng đầu, nhà tư vấn danh dự của đại học Tổng hợp Luisvin (Hoa Kỳ), viện sĩ Viện hàn lâm nhãn khoa Mỹ…viết trong cuốn Trong vòng tay Sambala (trang 344):

 


“Tôi nhớ lại nhiều buổi chuyện trò với Ami Rasitôvich Saripôp là phó tổng giám đốc Trung tâm chúng tôi và đang chỉ đạo phương hướng mới trong điều chỉnh tâm lý thị lực, tức là dạy những người đã phục hồi thị lực sau khi mổ nhìn thấy, vốn là con người trí tuệ trong nghiên cứu tâm lý anh đã đi sâu tìm hiểu nghiệp. Cùng với cô bạn đồng nghiệp trẻ tuổi, Tachiana, anh đã tìm ra những điều mà nghe thấy chỉ còn biết thốt lên “Chà!”. Ví dụ, một bệnh nhân bị mất một mắt do bị bò đá cho biết nhiều thế hệ trong gia tộc anh ta có đàn ông bỏ mạng vì bò. Câu chuyện bắt đầu từ những năm 20 (thế kỷ XX, ND). Cụ anh ta lúc đó là một cán bộ Trêca nổi tiếng, trong khi thực hiện lệnh trưng thu nông sản thừa đã tịch thu bò của các làng xã và chuyển vào lò mổ, đẩy nông dân vào tình trạng đói, khổ. Con trai cán bộ Trêca đó là người trông coi đàn gia súc rượu chè be bét và đã treo cổ chết trong chuồng bò. Người con trai thứ thì bị đàn bò dẫm chết. Cháu trai chết vì ngộ độc thuốc bệnh của bò. Còn người chắt, mà cũng không thoát khỏi sự trừng phạt của con bò sữa đó thì mất một mắt và lo sợ cho con mắt còn lại đã bỏ làng đi sống ở vùng Tunđơra, nơi không có bò, và sông ở đó cho tới ngày nay, hể hả vì đã chọn được nơi trú ngụ vắng bóng loài vật hay thù hằn đó. 

Chính tôi đã mổ hai bệnh nhân, anh và em gái người Rôstóp bên sông Đông đều bị chấn thương hố mắt ở những thời điểm khác nhau và thị lực cũng đều giảm xuống 0,2; những chấn thương kiểu như vậy đã đeo bám. Cả gia tộc hai anh em này. Và còn những chuyện khác nữa. 

Kết quả nghiên cứu là Saripôp đã có kết luận: Trong chính chúng ta có thông tin của dòng họ mình mà chúng ta không có cách nào trốn tránh và muốn hay không thì vẫn ảnh hưởng tới chúng ta, sớm hay muộn nhắc ta nhớ tới chúng khi thì là hình phạt vì tội lỗi của tổ tiên, lúc thì là phận may - món quà bất ngờ của những người bà con họ hàng đã bị quên lãng từ lâu. Mà thông tin gia tộc đó thuộc thời xa xưa tới mức có thể bắt nguồn từ thời đại người thiên thần, thậm chí từ thuở khai sinh con người, khi mà Đấng Tạo Hóa đặt cho mỗi dòng họ đường thông tin gọi là nghiệp, trong đó tích tụ không chỉ thông tin về chuỗi đời bất tận mà còn có sự phân tích thường xuyên thông tin đó, nối kết quá khứ và tương lai thành một đường đời thống nhất. Trong đường nghiệp đó, không có cái gì bị bỏ quên và không có cái gì bị coi nhẹ và không bị mổ xẻ, phân tích. Không chỉ có hành động, mà cả những ý nghĩ, chính những ý nghĩ đêm ngày quấy rầy chúng ta ấy chịu sự phân tích hoàn hảo đến kinh ngạc đó. Không một ai có thể sống tách rời tổ tiên, không ai hết; mỗi người trong chúng ta đều mang dấu ấn của dòng giống mình, còn cuộc đời của chúng ta được xếp đặt theo những nguyên tắc mà chúng ta không biết và những quy luật của khởi nguyên giống nòi chung thống nhất hay nghiệp”.

 Và ông viết tiếp: “Nghiệp không rập khuôn, nó thay đổi bởi nó chính là thực thể biết suy nghĩ, nhưng suy nghĩ bằng những phạm trù của đời dòng họ liên kết cả chuỗi cuộc đời cá nhân trong gia tộc. Con người thân mến ơi, tất cả giống nòi của bạn, bao gồm người thiên thần, người ma, người Lêmuri, người Atlan và người Ariăng đều ảnh hưởng tới bạn và bạn với cuộc đời nhỏ bé, có thể là đời thứ một triệu cũng ảnh hưởng tới dòng họ của mình và thông qua đó ảnh hưởng tới cuộc đời ai đó hoặc cuộc đời tiếp sau của bạn - Và tới lúc nào đó bạn sẽ nhìn thấy đường đời của mình, khi trong nháy mắt bạn trở lại quá khứ hoặc chìm vào tương lai. Và khi đó bạn sẽ hiểu ra không chỉ sự vĩ đại và thiện tâm của Đấng Tạo Hóa mà còn thấu triệt cả ý nghĩa của khái niệm - Tâm hồn Trong sạch. Và bạn hãy tin rằng thời điểm đó chẳng đáng sợ tí nào đối với bạn; ngược lại đó là thời điểm hạnh phúc bởi lẽ thông qua dòng họ của mình, bạn có thể tiếp xúc với chính Đấng Tạo Hóa, còn bà con họ hàng, đã vĩnh viễn biến mất sẽ đứng trước bạn với vẻ mặt hoặc bình thản và tự tin hoặc bộc lộ tội lỗi trước dòng họ do Tạo Hóa xác định. Đồng thời bạn sẽ thấy mình trong các đời khác nhau và tự đánh giá vẻ mặt của mình ở đời này họặc đời kia trong vô số đời bạn. Nhưng có một điều cơ bản sẽ xẩy ra với bạn đó là bạn nhận ra tiêu chí chủ yếu để đánh giá các đời của bạn đó là tiêu chí chung của dòng họ gọi là Tâm hồn Trong sạch. Ôi, bạn sẽ buồn biết bao khi bạn thấy một đời mình đã hiến nộp cho một thứ không tinh khiết là thói tham lam, không hiểu rằng trong cuộc đời chung của dòng họ không cần đến tiền! Ôi, bạn sẽ thấy kinh tởm biết bao khi tận mắt nhìn thấy mình là kẻ đố kị, đố kị thảm hại, được tạo ra để tị nạnh với người hơn mình! Ôi, bạn sẽ khó chịu biết bao khi bạn... 

Nhưng bạn cũng sẽ cảm động, sung sướng khi nhìn thấy mình, nhất định sẽ nhìn thấy mình còn là người nhân hậu, tôt bụng, đáng yêu, có tình yêu mạnh mẽ, rất yêu không chỉ mẹ, cha, con trai, con gái mình, mà yêu... hết thảy mọi người nói chung. Bạn sẽ tập trung chú ý vào cuộc đời mà bạn đã có thể yêu con người nói chung và sẽ ngắm nghía nó, ngắm nghía lâu lắm, thưởng thức cuộc đời đó và hơi bực mình vì tất cả các cuộc đời của bạn đã không được như vậy. Chính trong cuộc đời mà bạn đã biết yêu con người nói chung bạn sẽ nổi lên là một vệt hồng rực rỡ không chỉ ở đường đời của toàn dòng họ mà còn có thể tung ra nhiều - nhiêu vệt hồng đó trong tương lai, xác định hạnh phúc cho cuộc đời tương lai của ai đó trong dòng họ của bạn hoặc... cho chính bạn... trong cuộc đời mai sau”.

 Chuyển nghiệp

Như vậy là, chúng ta đến thế giới này với trùng trùng nghiệp lực. Đấy là nghiệp do chính ta tạo ra trong cõi đời này và có thể cả trong những cõi đời trước nữa, nếu tin vào thuyết luân hồi; nghiệp do gia đình, dòng họ, tổ tiên, nòi giống tạo ra mà ta phải gánh vác bên mình suốt cuộc đời này và cả những cuộc đời sau. Những người tin vào nghiệp lực nói rằng số phận của mỗi người cũng như của cả cộng đồng là do nghiệp lực quyết định, còn những người không tin vào nghiệp thì sẽ bảo số phận là do tính cách.

Le Bon viết trong Những quy luật tâm lý về tiến hóa của các dân tộc, (trang 25-27): “Nếu muốn phát biểu bằng ngôn ngữ rõ ràng về những ảnh hưởng chi phối cá nhân và điều khiển hành vi của họ, ta có thể nói rằng chúng có ba loại ảnh hưởng. Loại thứ nhất, và chắc chắn nhất, là ảnh hưởng của tổ tiên; thứ hai, ảnh hưởng của cha mẹ trực tiếp; thứ ba, ảnh hưởng của môi trường thường được cho là mạnh nhất, tuy nhiên lại là cái yếu nhất… Dù có là gì đi nữa, mỗi cá nhân vẫn luôn luôn và trên hết là đại diện của dân tộc mình… Như vậy, chủng tộc phải được xem như một cá thể trường tồn với thời gian”. Tiếp theo, trang 52, ông viết: “Người ta có thể dễ dàng làm cho một người da đen hoặc một người Nhật Bản có bằng đại học hay trở thành luật sư, nhưng người ta chỉ ban cho y một lớp sơn bề mặt mà không có tác động gì đến cấu tạo tinh thần của y. Đây là điều không nền giáo dục nào có thể ban cho y…” .

Những người đã từng tham gia tranh luận trong vụ Trump-Biden hay đọc những bài viết của những người “cuồng Trump” và “cuồng Biden” cách đây gần một năm hẳn là sẽ hoàn toàn đồng ý với những đoạn trích bên trên của Le Bon. Điều kiện sống khó khăn ở Việt Nam và điều kiện sống sung túc ở Mỹ, nền giáo dục nhồi sọ ở Việt Nam và nền giáo dục khai phóng ở Mỹ dường như vẫn tạo ra được những con người y hệt nhau. Ngoài ra, tôi còn cho rằng nền giáo dục mà không dạy cho người ta về Nhân-Quả, Nghiệp lực là nền giáo dục thất bại vì có kiến thức mà không có tư duy về những tai họa mà kiến thức của mình có thể gây ra cho nhân quần, thì thà rằng không có kiến thức lại hơn. Có thể ví kiến thức khoa học như con diều, trí tưởng tượng của người ta như làn gió, thì nhận thức về nghiệp lực là dây diều; không có dây, con diều sẽ bay mất, và không ai biết nó sẽ gây ra những hậu quả to lớn đến mức nào

Trước đây, nghiệp lực hay tính cách được coi là những khái niệm rất tù mù. Nhưng ngày nay, tiến sĩ David R. Hawkins (Tác phẩm Power vs. Force. An Anatomy of consciousness The Hidden Determinants of Human Behavior), một bác sĩ tâm thần, bác sĩ lâm sàng, người thày tâm linh, và nhà nghiên cứu ý thức nổi tiếng thế giới, bằng kĩ thuật gọi là Cơ thể động học (Kinesiology) đã xác định được những thông số mang tính định lượng mà ông gọi là “Tầng ý thức của con người”. David Hawkin chia ý thức của con người thành 16 tầng, từ Nhục nhã (20 tính theo thang logarit) đến Chứng ngộ (700-1.000 điểm). Ông viết: “Đồ thị thể hiện phân bố các tầng năng lượng trong dân số thế giới tương tự như hình dạng của một ngôi chùa, trong đó 85% nhân loại có điểm hiệu chỉnh dưới mức tới hạn 200, trong khi tầng ý thức trung bình của toàn thể nhân loại hiện nay xấp xỉ 204. Nội lực của một số ít người gần đạt tầng cao nhất bù đắp cho năng lượng của đám đông gần đáy cho nên mới có được mức trung bình này. Chỉ 8,0% dân số thế giới hoạt động ở tầng ý thức 400, chỉ 4,0% dân số thế giới có điểm từ từ 500 trở lên và phải nhiều triệu người mới có một người đạt mức 600 trở lên”.

Chứng kiến cảnh nhiều người Việt Nam chúng ta rất thích những buổi duyệt binh hoành tráng hay những buổi đón các vận động viên bóng đá thắng lợi trở về, người viết cho rằng đa số người Việt Nam chúng ta đang ở tầng Kiêu hãnh (175), tức là thấp hơn mức trung bình của thế giới (204).

 “…trong một đời, hiếm có người nào có thể chuyển từ tầng này sang tầng khác. Trường năng lượng được hiệu chỉnh cho một người khi mới sinh chỉ tăng, trung bình, khoảng năm điểm. Việc tầng ý thức của một cá nhân đã được an bài ngay từ khi người đó mới ra đời là sự kiện nghiêm túc với những hàm ý sâu sắc. Và bản thân ý thức, trong biểu hiện của nó thành nền văn minh của nhân loại, thực sự tiến hóa rất chậm chạp, qua rất nhiều thế hệ”.

Xuất hiện câu hỏi: Có thể thay đổi được nghiệp lực?

Câu trả lời của tôi là CÓ!

David Hawkin viết: “…trong một đời, hiếm có người nào có thể chuyển từ tầng này sang tầng khác. Trường năng lượng được hiệu chỉnh cho một người khi mới sinh chỉ tăng, trung bình, khoảng năm điểm. Việc tầng ý thức của một cá nhân đã được an bài ngay từ khi người đó mới ra đời là sự kiện nghiêm túc với những hàm ý sâu sắc. Và bản thân ý thức, trong biểu hiện của nó thành nền văn minh của nhân loại, thực sự tiến hóa rất chậm chạp, qua rất nhiều thế hệ”. Cần nhớ là các điểm hiệu chỉnh không phải tăng theo cấp số cộng, mà tăng theo hàm logarit, nghĩa là 205 điểm cách rất xa 200 (510), một vài điểm cũng là cải thiện đáng kể. Đối với một người bình thường, giáo dục có vai trò cực kì quan trong. Một người xuất thân nông dân nhưng nếu chăm chỉ học hành thì có thể chuyển vào thành phố và có việc làm với đồng lương cao hơn, đấy gọi là cải thiện. Một người sinh ra ở Việt Nam, nhưng vì lí do nào đó mà trở thành công dân Mỹ thì cũng sẽ tiêu được một phần nghiệp lực mà tất cả mọi người Việt Nam ở  trong nước đều phải chịu và được hưởng một ít thiện nghiệp của người Mỹ.

Có thể đi theo con đường tâm linh, nghĩa là tu tập theo một pháp môn nào đó, gọi là tu tâm, thực sự chuyển nghiệp. Nhưng đây là con đường “phi thường”, rất khó khăn, phải từng giây từng phút theo dõi từng ý tưởng bất thiện xuất hiện trong đầu và tu khứ nó, phải từ bỏ nhiều lợi ích thế gian, mà kết quả thì lại khó thấy, trong khi lợi ích thế gian thì hiện ra sờ sờ ngay trước mắt.

Cộng đồng thì cũng thế, cũng phải tu tâm dưỡng tính, nhằm năng cao đạo đức, nâng cao phẩm hạnh của chính mình. Khó khăn hơn hơn hẳn cá nhân.

Nhưng may quá, David Hawkin còn cho biết đại ý: một người đạt điểm 700 (động cơ của Mahatma Gandhi có điểm hiệu chỉnh 760, còn Churchill có điểm 510) có thể gánh vác được 70 triệu người ở dưới mức 200, một người đạt điểm 600 có thể gánh vác được 10 triệu người ở dưới mức 200. Hy vọng rằng một vài trong số những người đang muốn cải cách xã hội có thể tu tâm dưỡng tính để đưa mình lên ngang tầm với với Churchill, nếu ngang tầm với Mahatma Gandhi thì là đại phúc của dân tộc. Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng David Hawkin còn viết: “…chỉ cần 2,6% dân số thế giới có tình trạng phân cực cơ động học bất thường (thử mạnh với trường điểm hút tiêu cực và thử yếu với trường điểm hút tích cực), là đã gây ra tới 72% các vấn đề xã hội rồi”. Xin mở ngoặc để nói rằng công việc tìm hiểu này là nhằm củng cố đức tin và tinh tấn tâm linh của chính bản thân tôi, một vài nhận xét về cải tạo xã hội chỉ là nhân tiện mà thôi.



Phụ lục

Lư hương trước tượng Đức Thánh Trần

Nghe đồn rằng từ ngày di dời lư hương trước tượng Đức Thánh Trần dân Sài Gòn gặp nhiều tai nạn, mà khủng khiếp nhất là nạn dịch cúm Tàu lần này, thế là một số người cho rằng đấy là nghiệp lực luân báo, mà cụ thể là Thánh trả thù dân Sài Gòn.

Nói như thế là không hiểu về nghiệp lưc: Nó là tự động. Thậm chí, nói như thế là hạ thấp Đức Thánh. Đối với Ngài, Nguyễn Thiện Nhân và đồng sự của ông ta chỉ là trẻ con, Ngài đâu thèm chấp, Ngài lại càng không báo thù dân lành.

Thế thì tại sao dân SG gặp nạn lớn như thế?

Có 2 nguyên nhân.

Thứ nhất, di dời lư hương làm nhiều người lo lắng, bất an, những người này lại truyền sợ hãi bất an sang người khác... cứ thế lan rộng mãi ra. Mà lo lắng bất an thì dễ bị tai nạn, dễ mắc bệnh hơn người hạnh phúc, có thân tâm an lạc. Các nhà tâm lý học và các bác sỹ đều biết điều này.

Thứ hai, một số kẻ làm điều thất đức như đánh người, trộm cướp, buôn gian bán lận .. vốn chẳng kiêng nể gì, nay thấy chính quyền làm chuyên bất đạo như thế càng không tin vào Thánh Thần, nghiệp báo nữa, lại càng được thể làm càn và gây them lo lắng, bất an cho dân lành như vừa nói bên trên.

Đấy chính là nghiệp lực luân báo, hoàn toàn tự động. Muốn an lòng dân thì phải mang ngay lư hương trả về chỗ cũ.

Người viết còn tin rằng Nguyễn Thiện Nhân không muốn đóng đinh tên mình vào lịch sử như “hai thằng hợp tác phá đàn Nam Giao”.

Nhân giỗ Đức Thánh, nên trả ngay đi.

HẾT


August 30, 2021

Chuyện con khỉ, con bướm và ông quan hiểu rõ đạo lý

 Chuyện con khỉ


Năm 1952, các nhà khoa học Nhật Bản nghiên cứu hành vi của Macasa Fuscata, một giống khỉ ở đảo Koshima. Họ cho những chú khỉ ở đây những củ khoai lang khá ngon nhưng bám đầy cát. Một con khỉ cái 18 tháng tuổi phát hiện ra nó có thể dùng nước để rửa khoai. Sau đó nó “dạy” “chiêu” này cho mẹ của nó và những con khỉ khác cùng lứa với nó bắt chước làm theo. Một số ít những con khỉ lớn hơn cũng “tò mò” học theo và biết cách rửa sạch khoai để ăn. Mùa thu năm 1958, một vài điều khác lạ xảy ra. Một đám đông những con khỉ khác nữa cũng lại bắt chước theo và biết cách rửa khoai, ước chừng khoảng 99 con. Cho đến khi, một mức ngưỡng quan trọng xuất hiện. Con khỉ thứ 100 bắt đầu biết rửa khoai. Và từ lúc này, việc rửa khoai trước khi ăn đã lan ra những đảo khác mà không có giao tiếp, hoặc “chỉ dạy” nào giữa những chú khỉ ở đảo này với đảo kia. Việc rửa khoai đã trở thành một kỹ năng trong ý thức của bầy khỉ.

Sau đó TS Rupert Sheldrake (1942-), trong bài báo nhan đề Morphic Fields and Morphic Resonance (Những trường hình thái và cộng hưởng hình thái) đưa ra nhận định chấn động như sau: “Mỗi cá thể vừa đồng thời sử dụng vừa đồng thời đóng góp cho trí nhớ tập thể của chủng loài. Điều này cho thấy các mô thức hành vi mới có thể lan truyền nhanh chóng hơn so với lẽ thường. Ví dụ, nếu một giống chuột nào đó học được một loại hành vi mới ở Harvard (Mỹ), thì những con chuột cùng giống trên khắp thế giới có khả năng sẽ học được cùng một loại hành vi đó nhanh hơn”.

Xuất hiện câu hỏi: Tại  sao những con khỉ hay chuột cùng giống loài không nhìn thấy, không “học” đồng loại mà lại “biết” làm những hành động có lợi cho mình?

Hai cuốn sách Bằng chứng về Thiên đường của Eben Alexander (1953-) [Trần Trung Phúc Hạnh dịch, Nhã Nam phát hành] và Power vs. Force của David R. Hawkin (1927-2012) [Quế Chi – Hoàng Lan dịch, Thái Hà Book ấn hành] đều nói đại ý rằng tâm trí của chúng ta, tương tự như một cái Laptop câu thông với kho dữ liệu của cái máy tính khổng lồ của vũ trụ. Chỉ là do chúng ta luôn luôn bận bịu với những ý nghĩ chợt đến chợt đi bất tận của mình cho nên chúng ta không nhận được tín hiệu của cái máy tính khổng lồ với kho dữ liệu vô cùng vô tận kia mà thôi. Đấy có lẽ là lý do mà trong Bát chánh đạo của đạo Phật có Chánh niệm (Chú tâm vào giây phút hiện tại. Chánh niệm là ngưng hoạt động như máy lái tự động và tỉnh giác với bây giờ và ở đây), còn các nhà huyền môn như Osho, Eckhart Tolle, và các nhà sư như Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ cũng đều nói đại ý: “dừng ý nghĩ/chuyện nhảm trong đầu”. Khi dừng được những ý nghĩ bất tận ở trong đầu có thể là lúc chúng ta không cho cái Laptop trong hộp sọ của mình tiếp quá trình “tìm kiếm siêu văn bản trong bộ nhớ của chính nó” và đấy là lúc nó có thể câu thông với cái máy tính vĩ đại của vũ trụ. Đức Phật hay Chúa Jesus đều Chứng ngộ/Mặc khải trong khi thiền định sâu, các thiền sư và các nhà huyền môn của tất cả các tôn giáo cũng đều nói tới những trải nghiệm huyền diệu không thể mô tả bằng lời trong khi thiền định.

Thực ra, các nhà huyền môn còn nói rằng con người vốn có bản sự như thế, nhưng do sau này quá dựa vào kĩ thuật nên chúng ta đã “bỏ quên” kho tàng kiến thức vô giá mà vũ trụ lúc nào cũng sẵn sàng cung cấp cho chúng ta. Muốn tái lập thì phải thiền định. 

Xin nói them rằng các loài kiến, chuột, chim thường tránh bão trước khi bão lụt xảy ra; trẻ con hiện nay biết sử dụng Iphone, Ipad, hay remote TV nhanh hơn người lớn và học chữ cũng nhanh hơn hẳn các thế hệ trước; hệ thống kinh lạc và huyệt đạo mà người xưa biết chắc chắn không phải do “nghiên cứu” mà tìm được. 

Như vậy là, con khỉ không cần nói với đồng loại là ăn khoai sạch thì ngon hơn, cũng không cần dạy cho những con khỉ khác trên thế giới cách rửa khoai. Việc nó trở thành con khỉ biết rửa khoai là sự kiện vĩ đại của loài khỉ này trên khắp hoàn cầu. Con khỉ này có thể không biết lời giáo huấn của các nhà huyền môn từ cổ chí kim: “Chúng ta thay đổi thế giới không phải bằng lời nói hay việc làm mà đấy là hệ quả của con người mà chúng ta trở thành”, nói cách khác: “Hành bất ngôn cho giáo”.

Đa số nhân loại cũng không biết điều này. Bằng chứng là hàng ngày, hàng giờ biết bao nhiêu tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình trên khắp thế giới và bằng mọi thứ tiếng đang tìm cách tác động vào tâm trí con người và muốn nhân loại thay đổi theo ý những người nắm được các phương tiện đó. Từ khi có mạng xã hội thì hầu như tất cả mọi người đều tìm cách tác động lên nhau cũng với mục đích là làm cho những người kia thay đổi theo hướng tốt lên. Nhưng dường như chẳng có mấy hiệu quả. Vì, như ta thấy đạo đức xã hội ngày càng lao dốc, còn xã hội thì ngày càng hỗn loạn hơn. Hay là không có những người đủ sức làm gương hoặc là có mà do chúng ta quá bận bịu với Iphone, Ipad, với mốt nọ mốt kia… mà không nhìn thấy, không nhận ra họ?

Chuyện con bướm


Năm 1972, nhà khí tượng học và chuyên gia về lý thuyết hỗn độn Edward Norton Lorenz (1917-2008) trình bày trước American Association for the Advancement of Science (Hiệp hội phát triển khoa học Hoa Kỳ) bản tường trình với tựa đề Predictability: Does the Flap of a Butterfly's Wings in Brazil Set off a Tornado in Texas? (Dự đoán: Liệu con bướm đập cánh ở Brasil có thể gây ra cơn lốc ở Texas?). Trước đó, năm 1961, trong khi mô phỏng một dự đoán về thời tiết trên máy tính, Lorenz đã lỡ nhập số liệu là 0,506 chứ không phải 0,506127 như dự định, và do đó, đã thu được kết quả dự đoán thời tiết hoàn toàn khác so với tính toán ban đầu. Xin lưu ý: đầu vào ở đây thay đổi rất nhỏ. Từ kết quả này Lorenz rút ra kết luận: thay đổi nhỏ của dữ liệu đầu vào dẫn đến thay đổi lớn của kết quả, ví dụ, con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra cơn lốc ở Texas, thậm chỉ ở tận Phần Lan. Người ta thường gọi là Con bướm của Lorenz hay Hiệu ứng cánh bướm.

Đây là lý do vì sao các nhà sư ngày xưa rất thận trọng trong lời nói hay việc làm, thậm chí cả ý nghĩ. Vì nói, ngay cả khi nói những điều tưởng là đúng, nhưng do trình độ học vấn, tâm tính, địa vị xã hội… mà người nghe có thể hiểu sai, người này lại có thể truyền đi theo cách hiểu của mình, làm cho “tam sao thất bản” thì nghiệp chướng quả thật là to lớn. Việc làm, hành động thì còn kinh khủng hơn nữa. Ngày xưa các nhà sư không nói rõ được, nhưng chắc chắn là họ đã cảm nhận được sự kiện “con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra cơn lốc ở tận Phần Lan”.   

Ông quan hiều đạo lý (Cổ học tinh hoa tân biên)


Chuyện kể rằng, ngày xưa có một ông quan vô cùng công tâm và liêm khiết, chỉ làm theo luật và không bao giờ tơ hào một đồng một cắc nào của dân. Thế rồi, một ngày nọ, đã khá khuya, ông quan đang ngồi đọc sách thì có tiếng gõ cửa, nghe chừng gấp gáp. Ông đành bước ra mở cửa. Khách là một người trung niên, khệ nệ xách vào một va li căng phồng và một thanh gì đó, được bọc trong mấy tờ báo, mới trong đã biết là kim loại vì khá nặng.

Vị khách chắp tay cung kính nói:

-          Thưa đại quan, xin ngài tha lỗi cho sự đường đột này vì kẻ hèn biết rằng chỉ gặp ngài vào lúc đêm khuya thanh vắng thì mới thưa được chuyện với ngài.

Rồi người khách hé mở va li và bóc một mảng nhỏ tờ báo bọc thanh kim loại. Hóa ra va li chứa toàn tiền 100 đôla, còn thanh kim loại là thỏi vàng vừa được lấy ra từ kho bạc của ngân hàng dự trữ Liên bang Mỹ. 

Đợi một chút cho ông quan bình tĩnh lại, người khách tiếp tục nói:   

-          Thưa đại quan, xin ngài cho phép tôi đóng hết cửa sổ, cửa ra vào và tắt điện thoại của cả ngài và tôi thì tôi mới dám thưa chuyện.

Ông quan thấy người này khá kì quặc, nhưng cũng tắt điện thoại và bỏ lên bàn. Còn người khách thì đóng tất cả cửa sổ, cửa ra vào và cũng bỏ điện thoại lên cái bàn trước mặt.

Sau đó anh ta mới quỳ xuống và nói:

-          Thưa đại quan, dân chúng tôi biết rằng ngài là một người vô cùng công chính và liêm khiết, ngài không nhận của ai bất cứ thứ gì. Nhưng hôm nay, xin ngài đèn giời soi xét, lúc này, đêm khuya thanh vắng, không có ai biết, xin ngài nhận cho chút lễ mọn này…

Ông quan thanh liêm sầm mặt lại và nói:

-           Tuy là đêm khuya, các cửa đều đóng cả, nhưng có ông biết, tôi biết, Trời biết, Đất biết, sao lại bảo là không có ai biết?

Người khách còn cố vớt vát thêm một câu nữa:

-          Sang năm ngài sẽ nghỉ hưu, mà tôi nhìn gia cảnh…

Nhưng ông quan thanh liêm của chúng ta dứt khoát xua tay, rồi mở cửa tiễn khách.

Có thể nhận thấy đạo lý của câu chuyện này:

1.    Thứ nhất, ông quan trong truyện này biết rất rõ tâm lý của con người: Đã một lần nhận đút lót thì sẽ nhận thêm nhiều lần nữa, và sau đó thì tìm cách móc ngoặc để buộc người ta phải hối lộ. Đây là Tri Thức của người bình thường, ai cũng có thể biết.

Thứ hai, ông quan trong truyện này còn biết một Pháp Lý vô cùng quan trọng: Trời-Đất-Người (Thiên-Địa-Nhân) có liên hệ mật thiết và hữu cơ với nhau. Không chỉ hiện tượng của Trời và Đất có ảnh hưởng trực tiếp tới con người, mà con người, thông qua tư tưởng, lời nói, việc làm của mình cũng tạo ảnh hưởng đến cả Trời và Đất. Đây là kiến thức của người có Trí Huệ

Người xưa thường nói “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”, tức là con người nên cố gắng hết sức mà làm việc, cuối cùng thành công hay không thành công cũng đều là do ý Trời; thành công không được tự phụ, mà thất bại cũng chẳng cần đau khổ quá. Ngày xưa, sau khi làm xong một việc lớn nào đó, những người có Trí Huệ đều nói đấy là do Trời Đất, Thần Phật phù hộ; chỉ có người thời nay, với vài kiến thức lỗ mỗ, gọi là Tri Thức, học mót được từ khoa học thực chứng, mà chính những môn khoa học này cũng còn lỗ mỗ lắm, mới dám nhận xằng là tự mình làm được việc gì đó, mới dám “ngạo nghễ” trước Đất Trời.

Không còn tôn trọng quy luật Thiên-Địa-Nhân, tức là không còn quy phạm ước thúc hành vi của con người thì điều gì họ cũng dám làm, vì để thu được càng nhiều của cải vật chất hơn mà phá hủy môi trường sống tự nhiên, tranh giành lợi ích, như thế là đang làm nghịch với ý trời, làm nghịch với quan hệ Thiên-Địa-Nhân; kết quả chắc chắn sẽ là tai họa, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh chắc chắn là sẽ xảy ra, và sẽ xảy ra thường xuyên hơn. Đấy là Nhân-Quả và Nghiệp Báo. Nhưng con người, do không hiểu biết lại bảo những tai họa như thế là hiện tượng tự nhiên. Thật đáng buồn thay! 


N

August 21, 2021

Bộ máy quan liêu (12)

Ludwig von Mises, 1944. Bureaucracy. New Haven: Yale University Press.

Phạm Nguyên Trường dịch  


Chương 7 

Biện pháp chữa trị?

 

1.Thất bại trong quá khứ 

Chúng ta phải thừa nhận sự kiện là cho đến nay, tất cả những nỗ lực nhằm ngăn chặn đà thăng tiến của quá trình quan liêu hóa và xã hội hóa đều đã thất bại. Trong hai mươi bảy năm, kể từ ngày Tổng thống Wilson đưa nước Mĩ vào cuộc chiến tranh để thế giới trở thành nơi an toàn cho chế độ dân chủ, chế độ dân chủ ngày càng đánh mất nhiều vị trí hơn[1]. Chế độ chuyên quyền đã giành được thắng lợi ở hầu hết các nước châu Âu. Ngay cả Mĩ cũng áp dụng những chính sách mà chỉ vài thập kỷ trước đó từng bị chê là “Phổ”. Nhân loại đang công khai tiến tới chế độ toàn trị. Thế hệ đang lên muốn chính phủ kiểm soát mọi lĩnh vực của cuộc sống. 

Các nhà luật học đã xuất bản được những chuyên luận tuyệt vời về việc các cơ quan hành chính độc đoán đang thế chỗ cho chế độ pháp quyền[2]. Đấy là câu chuyện về việc chính quyền tự quản bị xói mòn thì tất cả các quyền công dân của từng cá nhân cũng không còn và kết quả sẽ là chế độ siêu chuyên quyền, theo kiểu phương Đông. Nhưng những người xã hội chủ nghĩa không thèm quan tâm tới tự do và sáng kiến cá nhân. 

Không có tác phẩm văn học trào phúng nào thu được thành công hơn là những cuốn sách dày cộp của các luật sư. Một số nhà văn nổi tiếng nhất thế kỷ XIX - Balzac, Dickens, Gogol, Maupassant, Courteline - đã giáng những đòn nặng nề vào chế độ quan liêu. Aldous Huxley thậm chí còn can đảm đến mức biến thiên đường mơ ước của chủ nghĩa xã hội thành đối tượng giễu cợt[3]. Người đọc vô cùng phấn khởi. Nhưng vừa đọc xong là họ đã vội vàng xin vào làm trong các văn phòng của chính phủ. 

Một số người thích cười nhạo những đặc điểm quá nhố nhăng của bộ máy quan liêu. Đúng là lạ lùng khi chứng kiến chính phủ một nước giàu có nhất và quyền lực nhất thế giới quản lí văn phòng - Cục Kinh tế gia đình của Bộ Nông nghiệp Hoa Kì - mà một trong những nhiệm vụ của nó là thiết kế quần “cho trẻ em mới bắt đầu học cách mặc quần áo”. Nhưng, đối với nhiều người cùng thời với chúng ta, chuyện này không có gì đáng cười hết. Mục đích của họ là kiểu quản lí mà sản xuất tất, đồ lót, và tất cả những thứ hữu ích khác đều là nhiệm vụ của chính quyền. 

Tất cả những lời phê phán uyên thâm và những lời châm biếm dí dỏm đều chẳng có tác dụng gì, vì chúng không đánh trúng cốt lõi của vấn đề. Quan liêu hóa chỉ là một trong những đặc điểm cụ thể của xã hội hóa. Vấn đề chính là: Chủ nghĩa tư bản hay Chủ nghĩa xã hội? Chọn cái nào? 

Những người ủng hộ chủ nghĩa xã hội cho rằng chủ nghĩa tư bản là hệ thống bóc lột bất công, cực kì bất lợi đối với sự thịnh vượng của quần chúng và tạo ra khốn khổ, suy thoái và bần cùng hóa từng bước một quảng đại quần chúng nhân dân. Mặt khác, họ mô tả xã hội chủ nghĩa không tưởng như miền đất hứa, với “núi sôi, sông rượu”, tất cả mọi người đều sẽ hạnh phúc và giàu có. Họ đúng hay là sai? Đấy là vấn đề. 

2. Kinh tế học đối đầu với kế hoạch hóa và chủ nghĩa toàn trị. 

Đây hoàn toàn là vấn đề của kinh tế học. Không thể giải quyết được vấn đề này nếu không xem xét một cách thận trọng kinh tế học. Không sử dụng luận cứ kinh tế thì không thể vạch trần được những khẩu hiệu dối trá và những học thuyết sai lầm của những người ủng hộ những biện pháp kiểm soát của chính phủ, ủng hộ chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, kế hoạch hóa và chủ nghĩa toàn trị. Dù thích hay không thì thực tế vẫn là, các vấn đề chính của chính trị hiện nay cũng hoàn toàn là vấn đề kinh tế, không nắm được lí thuyết kinh tế thì không thể hiểu được chính trị. Chỉ người nắm vững những vấn đề chính của kinh tế học mới đủ sức xây dựng được ý kiến độc lập về các vấn đề đang được nói tới ở đây. Những người khác chỉ đơn giản là lặp lại những điều họ đã nghe được mà thôi. Họ là con mồi của những kẻ bịp bợm mị dân và những tên lang băm ngu dốt. Thái độ tự tin của họ là đe dọa nghiêm trọng nhất đối với việc bảo vệ chế độ dân chủ và nền văn minh phương Tây. 

Nhiệm vụ quan trọng nhất của người công dân trong cộng đồng dân chủ là tự học và tìm được kiến thức cần thiết để xử lí các công việc của người công dân. Quyền bầu cử không phải là đặc quyền, đặc lợi mà là bổn phận và trách nhiệm đạo đức. Cử tri thực chất là quan chức, văn phòng của anh ta là cơ quan cao nhất và hàm ý nghĩa vụ cao nhất. Người công dân để hết tâm trí vào công tác khoa học trong các lĩnh vực khác hay người nghệ sĩ để hết tâm trí vào sứ mệnh của mình có thể coi đấy là những tình tiết giảm nhẹ, nếu không thực hiện được nhiệm vụ tự học này. Có lẽ những người này có lí khi nói rằng họ phải thực hiện những nhiệm vụ quan trọng hơn. Nhưng tất cả những người trí thức khác mà lơ là, không tự học tập và tự rèn luyện để có thể hoàn thành một cách tốt nhất nhiệm vụ của người cử tri có chủ quyền thì đấy không chỉ là những người nhẹ dạ mà còn có hại. 

Thủ đoạn tuyên truyền chính của những người ủng hộ chính sách được cho là “tiến bộ” của chính phủ là lên án chủ nghĩa tư bản về tất cả những hiện tượng không vừa ý trong điều kiện hiện nay và tán dương những cái hay, cái đẹp mà chủ nghĩa xã hội đang chuẩn bị cho nhân loại. Họ chưa bao giờ tìm cách chứng minh những giáo điều ngụy biện của mình hoặc tìm cách bác bỏ những phản đối do các nhà kinh tế học nêu ra. Họ chỉ làm mỗi một việc là gán cho những người kia danh hiệu đầy phản cảm và làm cho người ta nghi ngờ về động cơ của họ. Và, thật không may là, người dân bình thường không thể nhìn rõ được những mưu gian này. 

Ví dụ, xin xem xét vấn đề thất nghiệp hàng loạt kéo dài suốt năm này qua năm khác. “Những người tiến bộ” giải thích rằng đấy là tệ nạn thuộc về bản chất của chủ nghĩa tư bản. Công chúng ngây thơ sẵn sàng chấp nhận cách giải thích này. Người ta không hiểu rằng trong thị trường lao động không bị cản trở, không bị thao túng bởi áp lực của công đoàn, cũng như bởi tiền công tối thiểu do chính phủ ấn định, thất nghiệp chỉ ảnh hưởng đến một ít người và trong thời gian ngắn. Trong chủ nghĩa tư bản tự do, thất nghiệp là hiện tượng tạm thời không quan trọng; xu hướng giữ thế thượng phong là thất nghiệp sẽ không còn. Những thay đổi trong lĩnh vực kinh tế có thể dẫn đến tình trạng thất nghiệp mới. Nhưng, với tiền công được thiết lập trên thị trường lao động tự do, tất cả những người muốn làm công ăn lương cuối cùng đều kiếm được việc làm. Thất nghiệp, như một hiện tượng hàng loạt, là kết quả của các chính sách “ủng hộ lao động” của các chính phủ và áp lực, cũng như cưỡng ép của công đoàn. 

Đối với những nhà kinh tế học, mà “những người tiến bộ” gọi là “phản động”, lời giải thích này hoàn toàn chẳng có gì đặc biệt. Ngay cả Karl Marx cũng hoàn toàn tin rằng các công đoàn không thể tăng lương cho mọi người lao động[4]. Những người Marxist giáo điều kiên quyết phản đối tất cả các nỗ lực trong việc ấn định tiền công tối thiểu suốt nhiều năm liền. Họ cho rằng những biện pháp như thế đi ngược lợi ích của tuyệt đại đa số người làm công ăn lương. 

Thật là ảo tưởng khi tin rằng các khoản chi tiêu của chính phủ có thể tạo việc làm cho những người thất nghiệp, tức là cho những người không thể kiếm được việc làm nếu không dựa vào chính sách của công đoàn hay chính phủ. Nếu các khoản chi tiêu của chính phủ được tài trợ bằng những phương pháp không tạo ra lạm phát, tức là bằng thuế khóa hoặc bằng những khoản vay từ công chúng, thì một tay nó xóa bỏ những chỗ làm việc mà vừa tạo ra bằng tay kia. Còn nếu các khoản chi tiêu được tài trợ bằng cách gây ra lạm phát, tức là bằng cách đưa thêm tiền vào lưu thông hoặc bằng cách vay các ngân hàng thương mại, thì chỉ làm giảm thất nghiệp nếu tiền công lẽo đẽo theo sau đà gia tăng giá hàng hóa, nghĩa là, nếu tiền công thực tế giảm. Chỉ có một con đường dẫn tới tăng tiền công thực tế cho tất cả những người muốn làm công ăn lương: Tích lũy từng bước tư bản mới và cải thiện các phương pháp sản xuất mà tư bản mới tạo ra. Lợi ích thực sự của người lao động trùng hợp với lợi ích của doanh nghiệp. 

Muốn nắm được các vấn đề kinh tế thì không cần phải ăn sống nuốt tươi những sự kiện và số liệu có liên hệ hoặc chẳng có liên hệ gì với nhau. Mà phải dùng tư duy duy lí để phân tích và khảo sát một cách cẩn thận các tình huống. Trước hết, cần lương tri lương năng và sáng suốt trong tư duy. Quy tắc chính là đi thẳng đến cội nguồn tất cả các hiện tượng. Không chấp nhận những lời giải thích và giải pháp hời hợt. Hãy sử dụng sức mạnh của tư duy và khả năng phản biện của mình. 

Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu cho rằng khuyến nghị nghiên cứu kinh tế là nhằm thay thế công tác tuyên truyền của các chính phủ và các đảng phái bằng hình thức tuyên truyền khác. Tuyên truyền là một trong những việc làm tồi bại nhất của bộ máy quan liêu và chủ nghĩa xã hội. Tuyên truyền bao giờ cũng là dối trá, ngụy biện và mê tín. Chân lí không cần tuyên truyền; nó tự bảo vệ được mình. Dấu hiệu đặc trưng của chân lí là nó phản ánh chính xác thực tế, nghĩa là, phản ánh tình hình như nó đang là, dù người ta có công nhận ra nó hay không. Công nhận và công bố chân lí tự nó đã là lên án tất cả những thứ không phải là chân lí rồi. Nó tiếp tục hiện diện vì sự kiện đơn giản là đấy là chân lí. 

Vì vậy, hãy để các tiên tri giả tiếp tục đi theo con đường của mình. Đừng cố gắng bắt chước các chính sách của họ. Đừng cố gắng bịt miệng và đẩy những người bất đồng chính kiến ra ngoài vòng pháp luật như các tiên tri giả kia đang làm. Những kẻ dối trá sợ sự thật và do đó, tìm mọi cách ngăn chặn người ta nói ra sự thật. Nhưng, những người ủng hộ sự thật hy vọng vào sự đúng đắn của chính mình. Sự thật không sợ những kẻ dối trá. Nó có thể thắng trong cuộc cạnh tranh. Các cán bộ tuyên truyền có thể tiếp tục truyền bá những điều họ tự bịa ra và nhồi sọ giới trẻ. Họ sẽ thất bại một cách bi thảm. 

Lenin và Hitler biết rất rõ vì sao họ xóa bỏ quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và tự do báo chí và vì sao họ đóng cửa biên giới nước mình, không cho nhập khẩu bất kì tư tưởng nào từ nước ngoài. Hệ thống của họ không thể nào tồn tại được nếu không có trại tập trung, không có những kẻ kiểm duyệt và bọn đao phủ. Công cụ chính của họ là G.P.U. và Gestapo[5]. 

Những người ủng hộ xã hội hóa và quan liêu hóa ở nước Anh nhận thức rõ chẳng khác gì các đảng viên Bolshevik và Quốc xã về sự kiện là khi còn tự do ngôn luận và tự do tư tưởng thì họ sẽ không bao giờ đạt được mục đích của mình. Giáo sư Harold I. Jaski[6] đã tuyên bố thẳng thừng rằng hạn chế quyền của Nghị viện là điều kiện cần nhằm bảo vệ giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội[7]. Sir Stafford Cripps - ứng cử viên được ưa chuộng của những người tự xưng là theo phái tự do - muốn giành chức Thủ tướng chính phủ, đã đưa ra “Đạo luật về kế hoạch hóa và giao quyền”, mà nếu được Nghị viện thông qua, thì sau đó không ai được bàn cãi và không được rút lại[8]. Nhờ đạo luật này, mà nó phải rất chung chung, tất cả “các tiểu tiết” đều để cho nội các quy định, chính phủ sẽ được trao những quyền lực không bao giờ bị thu hồi. Nghị viện không bao giờ xem xét các chỉ thị và nghị định của chính phủ, cũng không được trông cậy vào tòa án. Tất cả các cơ quan đều phải do “các đảng viên trung thành”, “những người giữ các quan điểm xã hội chủ nghĩa mà mọi người đều biết” nắm giữ[9]. “Hội đồng Giáo sĩ ủng hộ quyền sở hữu cộng đồng của nước Anh tuyên bố trong một cuốn sách mỏng - Giám mục Bradford viết lời nói đầu - rằng muốn thiết lập chủ nghĩa xã hội hiện thực và vĩnh viễn thì phải “lọai bỏ tất cả các phái đối lập chủ yếu, nghĩa là, làm cho người ta trở thành ù lì về chính trị, tước quyền bầu cử, và nếu cần, tống vào tù”[10]. Giáo sư Joan Robinson ở Đại học Cambridge, chỉ đứng sau Lord Keynes trong ban lãnh đạo trường phái Keynes, cũng sốt sắng không thua gì ông kia trong việc thiết lập chủ nghĩa xã hội[11]. Theo quan điểm cùa bà này: “khái  niệm tự do là rất tù mù. Chỉ khi không có kẻ thù đáng sợ, cả bên trong lẫn bên ngoài, thì mới được hoàn toàn tự do ngôn luận”. Bà Robinson không chỉ sợ các nhà thờ, các trường đại học, hội khoa học và các nhà xuất bản độc lập, mà còn sợ cả các nhà hát và hội âm nhạc độc lập nữa. Bà ta cho rằng tất cả các tổ chức đó chỉ được phép tồn tại “với điều kiện là chế độ đủ an toàn trước nguy cơ bị chỉ trích”[12]. Một người ủng hộ chủ nghĩa tập thể lỗi lạc nữa ở Anh, J. G. Crowther, thậm chí còn ca ngợi toàn án dị giáo[13]. Đáng tiếc là dòng họ Stuarts không sống đến ngày nay để chứng kiến ngày mà những nguyên tắc của họ giành được chiến thắng[14]! 

Như vậy là, những người ủng hộ chủ nghĩa xã hội nổi bật nhất đã ngấm ngầm thừa nhận rằng các giáo lý và kế hoạch của họ không thể đứng vững được trước những lời phê phán của của khoa học kinh tế và sẽ chắc chắn sẽ thất bại trong chế độ tự do. 

Nhưng may mắn là vẫn còn một số nước tự do, vẫn còn hi vọng là sự thật sẽ hồi sinh. 

3. Người công dân bình thường đối đầu với cán bộ tuyên truyền chuyên nghiệp của bộ máy quan liêu 

Mục đích của việc phổ biến các công trình nghiên cứu kinh tế không phải là để làm cho mọi người đều trở thành các nhà kinh tế học. Ý tưởng là trang bị cho người công dân vũ khí để họ thực hiện chức năng công dân của mình trong đời sống cộng đồng. 

Xung đột giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa toàn trị - số phận của nền văn minh phụ thuộc vào kết quả của cuộc xung đột này - sẽ không được quyết định bởi nội chiến và cách mạng. Đó là cuộc chiến giữa các tư tưởng. Dư luận xã hội sẽ quyết định ai thắng ai thua. 

Người ta gặp nhau dù bất cứ ở đâu và bất cứ khi nào để thảo luận về bất kỳ công việc gì của thành phố, bang hoặc đất nước thì dư luận xã hội liền tiến hóa và thay đổi, dù chủ đề thảo luận có tầm thường tới mức nào. Bất cứ điều gì được nói hoặc được làm trong các giao dịch giữa người mua và người bán, giữa người sử dụng lao động và người lao động, giữa chủ nợ và con nợ cũng đều ảnh hưởng tới dư luận. Dư luận được định hình trong các cuộc tranh luận của vô số cơ quan đại diện, của các ủy ban và hội đồng, hiệp hội và câu lạc bộ, trong các bài xã luận, và trong các lá thư gửi cho ban biên tập, trong những lời bào chữa của các luật sư và ý kiến của các thẩm phán. Những người chuyên nghiệp bao giờ cũng có lợi thế hơn những người không chuyên trong tất cả các cuộc thảo luận này. Lợi thế bao giờ cũng nghiêng về phía những người cống hiến tất cả sức lực của mình cho một công việc duy nhất. Mặc dù không chắc đã phải là chuyên gia và thường chắc chắn là không thông minh hơn những người nghiệp dư, nhưng họ có lợi thế của người chuyên nghiệp. Thủ thuật tranh luận cũng như quá trình huấn luyện của họ đều cao hơn người nghiệp dư. Họ đến cuộc họp với đầu óc và cơ thể thanh thản chứ không mệt mỏi sau một ngày làm việc như những người nghiệp dư. 

Bây giờ, hầu hết tất cả những người hoạt động chuyên nghiệp này đều là những người ủng hộ nhiệt tình chủ nghĩa quan liêu và chủ nghĩa xã hội. Trước hết, đấy là rất nhiều công nhân, viên chức của chính phủ và nhân viên các cơ quan tuyên truyền của các đảng phái. Ngoài ra, còn có giảng viên các trường đại học, những nơi mà người ta cho rằng công khai thừa nhận chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa xã hội hoặc phái cấp tiến của chủ nghĩa Marx là dấu hiệu của người làm khoa học hoàn hảo. Đấy là các biên tập viên và những cây bút viết cho các tờ báo và các tạp chí “tiến bộ”, các nhà lãnh đạo và người tổ chức công đoàn, và cuối cùng, là những người nhiều  tham vọng, ăn không ngồi rồi và rất muốn được đưa tên mình vào đầu đề các bài báo vì đã thể hiện được những quan điểm cấp tiến. Doanh nhân, luật sư hoặc người làm công ăn lương không phải là đối thủ của họ. 

Người không chuyên có thể chứng minh một cách xuất sắc lập luận của mình. Nhưng vô ích. Vì đối thủ của anh ta, với vẻ trang trọng của cơ quan mà anh ta là người đại diện hoặc danh hiệu giáo sư của mình, đáp trả như sau: “Sự ngụy biện trong lý luận của quý ông đã bị các giáo sư nổi tiếng người Đức, Mayer, Muller và Schmid vạch mặt từ rất lâu rồi. Chỉ có kẻ ngốc mới có thể tiếp tục bám víu vào những tư tưởng cổ lỗ sĩ và vô tích sự đó mà thôi”. Người không chuyên kia bị mất uy tín ngay trước mắt khán giả, những người hoàn toàn tin tưởng rằng anh chàng chuyên nghiệp kia hẳn là không thể sai. Người không chuyên không biết trả lời như thế nào. Anh ta chưa bao giờ nghe ai nói tới tên của những giáo sư Đức lỗi lạc nọ. Anh ta không biết rằng sách của họ chỉ là những lời lẽ bịp bơm, vô nghĩa và họ không động chạm tới vấn đề mà anh ta nêu ra. Anh ta có thể học sau. Nhưng điều đó không thể thay đổi sự kiện là anh ta đã bị đánh bại ngay tại chỗ. 

Hoặc là người không chuyên có thể chứng minh rằng dự án được đề xuất là bất khả thi. Lúc đó, người chuyên nghiệp kia sẽ phản bác: “Quý ông này ngu dốt đến mức không biết rằng chương trình đề xuất đã thu được thành công mĩ mãn ở Thụy Điển xã hội chủ nghĩa và ở Vienna “đỏ”. Một lần nữa, con người không chuyên của chúng ta phải ngậm miệng. Làm sao anh ta có thể biết rằng hầu hết những cuốn sách viết bằng tiếng Anh về Thụy Điển và Vienna đều là những sản phẩm tuyên truyền, xuyên tạc trắng trợn các sự kiện? Anh ta không có điều kiện để nhận những thông tin chính xác từ gốc. 

Tất nhiên, đỉnh điểm của thuật hùng biện của người có chuyên môn là viện dẫn nước Nga, thiên đường của công nhân và nông dân. Trong gần ba mươi năm qua, chỉ có những người cộng sản cuồng tín và những ủng hộ họ là được phép nhập cảnh nào nước Nga mà thôi. Các báo cáo của họ là những bài ca ngợi một chiều Liên Xô, hoàn toàn thiếu trung thực, số còn lại cả tin chẳng khác gì trẻ con. Nhưng, một trong những sự kiện làm cho chúng ta an tâm là một số du khách đã bỏ lại ở nước Nga xu hướng cuồng Liên Xô và sau khi trở về đã cho xuất bản những tác phẩm trung thực về đất nước này. Nhưng các nhà chuyên môn dễ dàng vứt bỏ những cuốn sách đó, và gọi tác giả của chúng là “phát xít’. 

Cần phải đào tạo các nhà lãnh đạo phong trào dân sự để họ có thể đối địch được với những người thuyết giáo chuyên nghiệp về quá trình quan liêu hóa và xã hội hóa. Chỉ thể hiện thái độ phẫn nộ và ca ngợi những ngày tháng huy hoàng xưa cũ không thể nào ngăn chặn được xu hướng quan liêu hóa. Một số người cùng thời với chúng ta thấy ngày xưa không được tốt như chúng ta nghĩ. Cái tuyệt vời của thời xưa là dựa vào xu hướng cải tiến, vốn là bản chất của hệ thống kinh tế thị trường không bị cản trở. Ngày xưa người ta không tin rằng chính phủ là thần thánh. Đây là chính là niềm vinh quang của thời đó. 

Ảnh hưởng bất lợi nhất của thái độ ác cảm của những người công dân bình thường đối với những quan tâm nghiêm túc về các vấn đề kinh tế là họ sẵn sàng ủng hộ chương trình có tính thỏa hiệp. Người công dân bình thường coi xung đột giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội như thể đấy là cuộc cãi vã giữa hai nhóm  - lao động và tư bản -  mỗi bên đều tuyên bố là mình đúng hoàn toàn. Vì bản thân họ không sẵn sàng nhận xét về giá trị lập luận của mỗi bên, họ nghĩ rằng giải pháp công bằng cho cuộc tranh chấp là thỏa thuận hòa bình: Mỗi bên đều nhận được một phần đòi hỏi của mình. Do đó, những biện pháp can thiệp của chính phủ vào lĩnh vực kinh doanh được người ta coi trọng. Không nên hòan toàn chủ nghĩa tư bản, cũng không nên hoàn tòan chủ nghĩa xã hội, mà là giữa hai cái đó, trung dung. Những người ủng hộ hệ thống thứ ba này khẳng định rằng, phải là chủ nghĩa tư bản có điều tiết và phải được các biện pháp can thiệp của chính phủ đưa vào khuôn khổ. Nhưng, biện pháp can thiệp của chính phủ không được bao trùm đến mức chính phủ kiểm tất cả các hoạt động kinh tế; chỉ nên giới hạn ở việc loại bỏ một số biểu hiện quá lạm bị nhiều người phản đối, mà không ngăn chặn hoàn toàn hoạt động của doanh nhân. Do đó, sẽ xuất hiện trật tự xã hội mà người ta cho là khác xa chủ nghĩa tư bản cũng như chủ nghĩa xã hội thuần túy, trong khi vẫn giữ được những ưu điểm vốn có của mỗi hệ thống và tránh được những nhược điểm của chúng. Hầu như tất cả những những người không ủng hộ vô điều kiện chủ nghĩa xã hội thuần túy đều ủng hộ hệ thống can thiệp này và hiện nay, tất cả các chính phủ không dứt khoát và kiên quyết ủng hộ xã hội chủ nghĩa đều chấp nhận chính sách can thiệp kinh tế[15]. Hiện nay rất ít người phản đối bất kỳ hình thức can thiệp nào của chính phủ vào giá, tiền công, lãi suất và lợi nhuận và không ngần ngại khẳng định rằng họ coi là chủ nghĩa tư bản và kinh doanh tự do là hệ thống khả thi duy nhất, và có lợi cho toàn thể xã hội và tất cả các thành viên của nó. 

Tuy nhiên, lý luận của những người ủng hộ giải pháp trung dung này là hoàn toàn sai. Xung đột giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản không phải là cuộc đấu tranh giữa hai đảng nhằm tranh giành phần hơn trong thu nhập của xã hội. Xem xét vấn đề theo cách này chẳng khác gì chấp nhận tất cả các nguyên lý của chủ nghĩa Marx và những người xã hội chủ nghĩa khác. Kẻ thù của chủ nghĩa xã hội không chấp nhận quan điểm cho rằng trong chủ nghĩa xã hội sẽ không có bất kỳ nhóm người nào hoặc giai cấp nào có đời sống tốt hơn nhóm người khác hoặc giai cấp khác như trong xã hội hoàn toàn tư bản chủ nghĩa. Họ không thừa nhận luận điểm nói rằng trong chủ nghĩa xã hội công nhân có đời sống tốt hơn và do đó, bị chính sự tồn tại của hệ thống tư bản chủ nghĩa làm hại. Họ ủng hộ chủ nghĩa tư bản không phải nhân danh lợi ích ích kỷ của các doanh nhân và các nhà tư sản mà nhân danh lợi ích của tất cả mọi người trong xã hội. Không thể giải quyết cuộc xung đột lịch sử vĩ đại về vấn đề tổ chức kinh tế của xã hội như giải quyết cuộc cãi vã giữa hai doanh nhân về tiền bạc; không thể giải quyết bằng thỏa hiệp. 

Chủ nghĩa can thiệp vào kinh tế là thất sách. Áp dụng các các biện pháp riêng lẻ không thể đem lại kết quả mà người ta tìm kiếm. Những biện pháp này sẽ đưa tới tình hình, mà từ quan điểm của chính những người ủng hộ, sẽ phiền phức hơn hẳn tình hình mà họ định thay đổi trước đó. Nhiều người sẵn sàng làm công ăn lương sẽ thất nghiệp hết năm này qua năm khác, độc quyền, khủng hoảng kinh tế, năng suất suất lao động trong cả nước sẽ bị hạn chế, chủ nghĩa dân tộc về kinh tế, và chiến tranh là hậu quả không thể tránh khỏi của những biện pháp can thiệp của chính phủ vào hoạt động kinh doanh, mà những người ủng hộ giải pháp thứ ba khuyến nghị. Tất cả những tệ nạn mà những người xã hội chủ nghĩa vu cho chủ nghĩa tư bản chính là sản phẩm của chính sách không thích hợp, nhưng được cho là “tiến bộ” này. Những thảm họa có lợi cho những người xã hội chủ nghĩa cấp tiến là kết quả của những tư tưởng của những người thường nói: “Tôi không chống chủ nghĩa tư bản, nhưng ..” Những người như này gần chẳng khác gì những kẻ dẫn đầu quá trình xã hội hóa và quan liêu hóa toàn triệt. Ngu dốt gây ra thảm họa. 

Phân công lao động và chuyên môn hóa là những đặc điểm thiết yếu của nền văn minh. Nếu không có hai sự kiện này thì không thể có thịnh vượng về vật chất và tiến bộ về trí tuệ. Sự hiện diện của nhóm các nhà khoa học, học giả và nhà nghiên cứu kết hợp với nhau là kết quả của quá trình phân công lao động, cũng như sự hiện diện của bất kỳ nhóm người chuyên nghiệp nào khác. Người chuyên nghiên cứu kinh tế là nhà chuyên môn như tất cả các nhà chuyên môn khác. Những tiến bộ hơn nữa của khoa học kinh tế trong tương lai cũng là thành tựu của những người cống hiến tất cả sức mình cho nhiệm vụ này. 

Nhưng sẽ là sai lầm chết người nếu các công dân để cho các chuyên gia nắm độc quyền nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế. Vì những vấn đề quan trọng nhất của chính trị hiện nay thực chất là  vấn đề kinh tế, xa lánh các vấn đề kinh tế cũng chẳng khác gì từ bỏ quyền của mình, để cho các chuyên gia được hưởng lợi. Nếu các cử tri hoặc nghị sĩ quốc hội đối mặt với những vấn đề trong dự luật liên quan đến phòng chống dịch bệnh gia súc hoặc xây dựng một tòa nhà văn phòng, họ có thể để cho các chuyên gia thảo luận các chi tiết. Các vấn đề như bác sĩ thú y và kỹ thuật không ảnh hưởng tới các nguyên tắc cơ bản của xã hội và đời sống chính trị. Đấy là những vấn đề quan trọng nhưng không phải là quan trọng hàng đầu và có tính sống còn. Nhưng nếu không chỉ quần chúng nhân dân, mà ngay cả phần lớn những người đại diện được nhân dân bầu lên đều tuyên bố: “Chỉ các chuyên gia mới hiểu được những vấn đề tiền bạc; chúng tôi không định nghiên cứu những vấn đề đó; trong vấn đề này chúng ta phải tin tưởng các chuyên gia”, thì họ gần như đã giao chủ quyền của mình cho các chuyên gia. Vấn đề không phải là họ đã chính thức giao quyền lập pháp cho các chuyên gia hay là chưa. Dù thế nào thì các chuyên gia đã đẩy họ ra ngoài. Các viên chức quan liên sẽ hoàn thành công việc. 

Các công dân bình thường đã sai khi phàn nàn rằng các viên chức quan liêu đã nhận vơ về mình quyền lực mà họ không có; nhưng chính các công dân này và những người được họ ủy quyền đã từ bỏ chủ quyền của mình. Chính sự thiếu hiểu biết của họ về các vấn đề cơ bản của kinh tế học đã làm cho những người chuyên nghiệp trở thành những người có quyền lực cao nhất. Tất cả các chi tiết kỹ thuật và pháp lí đều có thể và phải được để cho các chuyên gia giải quyết. Nhưng dân chủ sẽ trở thành viển vông nếu những công dân xuất chúng, những nhà lãnh đạo có trí thức của cộng đồng, không thể thiết lập được ý kiến của riêng mình về những nguyên tắc chính sách căn bản về xã hội, kinh tế và chính trị. Nếu về mặt  trí tuệ, các công dân phụ thuộc vào những người làm việc trong bộ máy hành chính, thì xã hội sẽ bị chia thành hai giai cấp: các chuyên gia cầm quyền, những Barahmins (Bà-la-môn – đẳng cấp cao nhất trong Ấn giáo, ND), và những người công dân khờ dại. Sau đó sẽ là chế độ chuyên chế, dù hiến pháp và luật pháp có viết thế nào thì cũng vậy mà thôi. 

Dân chủ có nghĩa là quyền tự quyết. Nhưng làm sao người có thể quyết định được công việc của mình nếu họ quá thờ ơ, không muốn suy nghĩ để tự mình tìm ra những đánh giá độc lập về các vấn đề chính trị và kinh tế cơ bản? Dân chủ không phải là cái tốt lành để người có thể tận hưởng mà không gặp rắc rối. Ngược lại, nó là một kho báu, phải luôn luôn canh chừng và chinh phục đi chính phục lại bằng những nỗ lực rất lớn. 

Kết luận 

Phân tích các đặc điểm kỹ thuật của quản lý quan liêu và cái đối lập với nó, quản lý vì lợi nhuận, sẽ cho ta manh mối để đánh giá một cách công bằng và không thiên vị phương pháp làm việc cả hai hệ thống trong hệ thống phân công lao động. 

Cơ quan quản lý của nhà nước, cách xử lý của bộ máy cưỡng chế và ép buộc của chính phủ chắc chắn là có tính hình thức và quan liêu. Không có cuộc cải cách nào có thể loại bỏ được tính quan liêu của các cơ quan chính phủ. Lên án họ chậm chạp và lười biếng cũng vô ích. Than phiền về sự kiện là nhân viên văn phòng trung bình không khéo léo, không cẩn thận và không chăm chỉ bằng người lao động trung bình trong doanh nghiệp tư nhân cũng chẳng giải quyết được gì. (Nói cho cùng, có rất nhiều công chức với lòng nhiệt thành chẳng khác gì đức hy sinh vô vị lợi). Không có tiêu chí đánh giá không thể bác bỏ được về thành công và thất bại thì gần như không thể tìm được động lực làm cho đa số người dân cố gắng hết sức mình, trong khi tính toán dựa trên tiền bạc của doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận dễ dàng cung cấp cho chúng ta tiêu chí như thế. Chỉ trích sự kiện là các quan chức tuân thủ một cách cứng nhắc luật lệ và quy định cũng chẳng ích gì. Đấy là những quy định cần thiết, nếu không muốn bộ máy quản lý của nhà nước tuột khỏi tay những quan chức cao cấp nhất và rơi vào tay những nhân viên cấp dưới. Hơn nữa, luật là biện pháp duy nhất làm cho pháp luật được thượng tôn trong khi thực thi công vụ và bảo vệ người công dân trước những hành động độc đoán, bạo ngược. 

Người quan sát bên ngoài có thể dễ dàng lên án bộ máy quan liêu vì những khoản chi tiêu lãng phí. Nhưng quan chức có trách nhiệm bảo đảm cho dịch vụ mà anh ta phụ trách phải hoàn hảo lại phải xem xét vấn đề từ góc độ khác. Anh ta không muốn gặp quá nhiều rủi ro. Anh ta thích được an toàn và sẵn sàng chi nhiều hơn cho chắc chắn. 

Tất cả những khiếm khuyết này là thuộc về bản chất của các dịch vụ không thể kiểm tra bằng hạch toán lời và lỗ. Thật vậy, chúng ta sẽ không bao giờ biết được rằng đấy thực sự là những thiếu sót nếu chúng ta không có khả năng so sánh hệ thống quan liêu với hoạt động của doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận. Hệ thống bị nhiều người phê phán là “bần tiện”, chỉ chạy theo lợi nhuận lại làm cho mọi người có ý thức về hiệu quả và tìm cách hợp lý hóa ở mức cao nhất. Không làm thế nào khác được. Chúng ta phải chấp nhận thực tế là không thể áp dụng những biện pháp đáng tin cậy của doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận cho sở cảnh sát hoặc sở thuế vụ. 

Tuy nhiên, toàn bộ vấn đề sẽ có ý nghĩa hoàn toàn khác nếu ta chú ý tới những nỗ lực cuồng tín nhằm biến toàn bộ bộ máy sản xuất và phân phối thành bộ máy quan liêu khổng lồ. Lý tưởng của Lenin, coi dịch vụ bưu chính do chính phủ quản lí là mô hình tỗ chức kinh tế của xã hội và làm cho tất cả mọi người đều trở thành một bánh răng trong bộ máy quan liêu khổng lồ[16] buộc chúng ta phải vạch trần sự thua kém của các phương pháp quan liêu so với các phương pháp của doanh nghiệp tư nhân. Xem xét kỹ lưỡng như vậy chắc chắn không phải là để chê bai công việc của nhân viên thuế vụ, cán bộ hải quan và lính tuần tra hoặc coi thường thành tích của họ. Nhưng, cần phải chỉ ra rằng nhà máy luyện cán thép khác với sứ quán, nhà máy giày khác với văn phòng đăng kí kết hôn ở những khía cạnh cốt yếu nào và vì sao tái tổ chức tiệm bánh theo mô hình trạm bưu điện thì có hại. 

Sự kiện được dùng trong ngôn ngữ đầy thiên vị là thay thế nguyên tắc tìm kiếm lợi nhuận bằng nguyên tắc phục vụ sẽ làm cho người ta từ bỏ phương pháp duy nhất buộc người ta phải duy lí và tính toán khi sản xuất các nhu yếu phẩm. Lợi nhuận mà doanh nhân kiếm được chứng tỏ rằng anh ta đã phục vụ người tiêu dùng, tức là phục vụ tất cả mọi người. Nhưng không có phương pháp tính toán nào có thể quyết định được là hoạt động của văn phòng chính phủ là thành công hay thất bại. 

Trong bất kỳ hệ thống xã hội chủ nghĩa nào, chỉ hội đồng quản trị sản xuất trung ương mới có quyền ra lệnh và tất cả những người khác sẽ phải thực hiện mệnh lệnh mà họ nhận được. Tất cả mọi người, trừ Sa hoàng nắm quyền sản xuất, sẽ phải tuân thủ vô điều kiện các hướng dẫn, luật lệ, quy tắc và quy định do cơ quan cấp trên ban hành. Tất nhiên, trong hệ thống quy định bao trùm này, mọi người có thể có quyền đề nghị thay đổi. Nhưng con đường từ khi có đề nghị như thế cho tới khi cơ quan có thẩm quyền cao nhất chấp nhận, trong trường hợp tốt nhất, cũng xa vời và diệu vợi như con đường đưa đề xuất trong bức thư gửi cho biên tập viên hoặc bài báo trên tờ tạp chí định kỳ về việc sửa đổi một điều luật nào đó đến lúc cơ quan lập pháp thông qua. 

Trong tiến trình lịch sử, đã từng có nhiều phong trào đòi cải cách các thiết chế xã hội với lòng nhiệt huyết và cuồng tín. Người ta đã chiến đấu vì đức tin tôn giáo, vì muốn bảo tồn nền văn minh, vì quyền tự do, vì quyền tự quyết, vì muốn xóa bỏ chế độ nông nô và nô lệ, vì công bằng và công lý trong thủ tục xét xử. Ngày nay, hàng triệu người bị mê hoặc bởi ý tưởng biến cả thế giới thành một văn phòng, biến tất cả mọi người trở thành quan chức, và xóa sổ mọi sáng kiến tư nhân. Trong trí tưởng tượng của người ta, thiên đường của tương lai là bộ máy quan liêu bao trùm lên tất cả. Đây là phong trào cải cách mạnh mẽ nhất mà lịch sử từng biết tới, là trào lưu tư tưởng đầu tiên, với mục tiêu là quan liêu hóa mọi thứ trên đời, được không chỉ một phần nhân loại mà được người dân thuộc mọi chủng tộc, mọi quốc gia, mọi tôn giáo và nền văn minh ủng hộ. Bưu điện là hình mẫu cho quá trình xây dựng thiên đường trên cõi thế (nguyên văn New Jerusalem - ND). Nhân viên bưu điện là nguyên mẫu của con người tương lai. Biết bao nhiêu máu đã đổ để thực hiện lý tưởng này. 

Trong cuốn sách này, chúng tôi không thảo luận về con người mà thảo luận hệ thống tổ chức xã hội. Chúng tôi không có ý nói rằng nhân viên bưu điện kém cỏi hơn bất cứ người nào khác. Cần phải nhận thức được rằng chiếc áo khoác gò bó của tổ chức quan liêu làm tê liệt sáng kiến cá nhân, trong khi, trong xã hội tư bản thị trường, người có tinh thần đổi mới có cơ hội thành công. Bộ máy quan liêu tạo ra trì trệ và giữ mãi những biện pháp cổ lỗ sĩ, trong khi xã hội tư bản thị trường tạo ra tiến bộ và cải thiện. Chủ nghĩa tư bản là phát triển không ngừng, còn chủ nghĩa xã hội thì không. Không thể phủ nhận được luận cứ này, những người Bolshevik đã và đang bắt chước những cách tân khác nhau của Mĩ. Tất cả các dân tộc phương Đông cũng đã làm như thế. Nhưng, sự kiện này không có nghĩa là tất cả các nước văn minh phải bắt chước các phương thức tổ chức xã hội của người Nga. 

Những người ủng hộ chủ nghĩa xã hội tự gọi mình là những người tiến bộ, nhưng họ đề nghị người ta áp dụng hệ thống với những đặc điểm là tuyệt đối tuân thủ thủ tục đã có và chống lại bất kì sự cải tiến nào. Họ tự gọi mình là những người theo phái tự do, nhưng họ muốn xóa bỏ tự do. Họ tự gọi mình là những người dân chủ, nhưng họ khao khát chế độ độc tài. Họ tự gọi mình là những người cách mạng, nhưng họ muốn tạo ra chính phủ toàn trí toàn năng. Họ hứa hẹn phước lành của Vườn Địa Đàng, nhưng họ lập kế hoạch để biến cả thế giới thành sở bưu chính khổng lồ. Một người duy nhất đứng trên, còn tất cả những người khác đều là nhân viên cấp dưới trong một văn phòng, không tưởng này mới hấp dẫn làm sao! Sự nghiệp của cuộc chiến đấu mới cao cả làm sao! 

Lý trí là vũ khí duy nhất trong cuộc đấu tranh chống lại cơn mê loạn này. Cần phải dùng lương tri lương năng thì mới ngăn chặn, không để nhân loại trở thành con mồi của những tưởng tượng hão huyền và những khẩu hiệu sáo rỗng.

 



[1] Wilson Thomas Woodrow (1856-1924) - tổng thống Hoa Kỳ giai đoạn 1913-1921. Đi ngược lại trào lưu của chủ nghĩa biệt lập đang dâng lên ở trong nước, Wilson vẫn kiên trì theo đuổi đường lối “sẵn sàng tham chiến”. Ngày 6 tháng 4 năm 1917, Hoa Kỳ tuyên chiến với Đức – chú thích bản tiếng Nga, ND.

[2] Có thể chỉ cần trích dẫn hai tác phẩm tuyệt vời nhất thuộc loại này: The New Despotism (Chế độ chuyên chế mới) của Lord Hewart of Bury – người đứng đầu tối cao pháp viện Anh (New York, 1929), Our Wonderland of Bureaucracy (Xứ sở quan liêu của chúng ta) của James M. Beck, Thứ trưởng Bộ tư pháp Hoa Kì (New York, 1932). Cần phải nói rằng tác phẩm của James M. Beck được xuất bản trước khi Chính sách Kinh tế Mới được công bố.

[3] Ý nói tác phẩm Thế giới mới tươi đẹp (The brave New World), xuất bản năm 1932 của Aldous Huxley (1894-1963) – chú thích bản tiếng Nga, ND. 

[4] Mises trình bày không chính xác quan điểm của Marx. Không phủ nhận khả năng đạt được - với sự trợ giúp của công đoàn - tăng lương cao hơn mức tối thiểu, cần để bảo đảm đời sống của người lao động, Marx tin rằng “xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không dẫn đến tăng mà dẫn đến giảm mức lương trung bình ... Công đoàn là trung tâm kháng cự trước cuộc tấn công của tư bản ... Nói chung, họ thất bại, vì họ tự giới hạn mình trong cuộc đấu tranh theo lối du kích nhằm chống lại những hậu quả của hệ thống hiện hành, chứ không đồng thời tìm cách thay đổi nó” (К. Маркс, Ф. Энгельс, Toàn tập, T. 16, tr. 155) – chú thích bản tiếng Nga, ND.

[5] GPU – Cục bảo vệ chính trị trực thuộc Bộ nội vụ (NKVD) Liên xô. Cơ quan này được thành lập năm 1922 trong quá trình tổ chức lại Ủy ban đặc biệt toàn Nga, là cơ quan bảo vệ an ninh quốc gia; thực hiện chức năng của cơ quan cảnh sát chính trị. Gestapo - Geheime staatspolizei (tiếng Đức), cảnh sát bí mật của nhà nước, được thành lập sau khi Hitler giành được quyền lực. Sau khi quốc xã sụp đổ, cơ quan này bị Tòa án quân sự quốc tế coi là tổ chức tội phạm – chú thích bản tiếng Nga, ND.

[6] Laski Harold Joseph (1893-1950) - một trong những lý luận gia của “chủ nghĩa xã hội dân chủ”, từ 1936 đến 1949 thành viên ban chấp hành Đảng Lao động Anh – chú thích bản tiếng Nga, ND.

[7] Laski, Democracy in Crisis (Chế độ dân chủ trong khủng hoảng) (London, 1933), p. 87. Xin mời đọc phản biện đầy uy lực những tư tưởng phản dân chủ của Laski: Rappard, The Crisis of Democracy (Cuộc khủng hoảng chế độ dân chủ) (Chicago, 193 8), pp. 21 3-2 16.

[8] Cripps Richard Stafford (1889-1952) - chính khách người Anh: từ năm 1931 đến năm 1950, nắm nhiều chức bộ trưởngcác bộ khác nhau. Trong những năm 30 (TK XX) – là lãnh đạo cánh tả của Đảng Lao động. Ông ủng hộ mặt trận thống nhất với những người cộng sản, vì vậy mà năm 1939 bị Đảng Lao động khai trừ (được phục hồi đảng tịch năm 1945) – chú thích bản tiếng Nga, ND.

[9] Xin mời đọc bài báo tuyệt vời của James Truslow Adams, “Planners See  where Planning Leads” [Những người lập kế hoạch biết kế hoạch dẫn tới đâu] trong Barron's National Business and Financial Weekly of  January 3 I, 1944, tr. 3.

[10] Tác phẩm vừa dẫn.

[11] Keynes John Maynard (1883-1946) - Nhà kinh tế học người Anh, người tạo ra một trong những khái niệm có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX (mang tên ông). Theo Keynes, để ngăn chặn khủng hoảng, duy trì nhu cầu hữu hiệu và toàn dụng lao động, cần có sự tác động tích cực của chính phủ đối với nền kinh tế bằng các đơn đặt hàng, thuế, lạm phát được điều tiết..v.v.. Robinson Joan Violett (1903-1983) - nhà kinh tế học người Anh, theo trường phái Keynes. Đầu những năm 30 (TK XX), bà đưa ra lý thuyết về cạnh tranh không hoàn hảo, theo đó, sự xuất hiện của các công ty độc quyền làm cho những tác nhân tự phát của nền kinh tế không hoạt động được nữa, nhà nước cần can thiệp vào hoạt động kinh tế - chú thích bản tiếng Nga, ND.

[12] Joan Robinson, Private Enterprise or Public Control [Doanh nghiệp tư nhân hay Kiểm soát của nhà nước (Sổ tay cho các nhóm Thảo luận, do English Universities Press Ltd xuất bản, dành cho Hiệp hội Giáo dục Công dân), trang 13-14. Lạ lùng là trong Lời nói đầu tác phẩm này, Hiệp hội tuyên bố “chúng tôi ủng hộ dân chủ” và chỉ ra rằng mục tiêu của họ là huấn luyện công dân “tôn trọng các quyền bình đẳng và tự do của những người khác”.

[13]G. Crowther, Social Relations of Science [Quan hệ xã hội của khoa học] (Macmillan, 1941 ), pp. 33 1,  333.

[14] Vương triều Scotland và nước Anh, là những người Công giáo cuồng tín. James II, vị vua Công giáo cuối cùng, đã tìm cách biến Công giáo thành quốc giáo, không cho tín đồ các tôn giáo khác nắm những chức vụ trong chính quyền – chú thích bản tiếng Nga, ND.

[15] L. Mises sử dụng thuật ngữ interventionism (tiếng Latinh interventio - can thiệp) trong nhiều tác phẩm của mình để nói về hệ thống điều tiết kinh tế của nhà nước. Theo Mises, chủ nghĩa xã hội là một trong những hình thức của chủ nghĩa can thiệp – chú thích bản tiếng Nga, ND.

[16] Lenin, State and Revolution [Nhà nước và cách mạng], New York ed., 1935, tr. 44.