Václav Havel
QUYỀN LỰC CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC
Tiểu luận chính trị
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang
Hiệu đính: Nhóm Văn Lang
Nhà xuất bản Giấy Vụn
Bàn về ngôn từ
Năm
1989, Havel được Hiệp hội những người phát hành sách ở Đức trao tặng Giải
thưởng Hòa Bình. Giải thưởng được trao khiếm diện tại Hội chợ sách ở Frankfurt
vào ngày 15 tháng 10 năm 1989. Đây là bài diễn văn do Maximilian Schell[1]
đọc thay cho Havel vì ông không thể có mặt tại buổi trao giải.
Thưa các bạn,
Giải thưởng mà tôi vinh dự nhận ngày
hôm nay được gọi là Giải thưởng Hòa bình do những người phát hành sách – nói
cách khác, là những người phổ biến ngôn từ – trao tặng. Có lẽ điều đó cho
phép tôi hôm nay được nói vài suy nghĩ về mối liên hệ thần bí giữa ngôn ngữ
và hòa bình, cũng như sức mạnh huyền bí của ngôn từ trong lịch sử nhân loại
nói chung.
Khởi thủy là Lời, trang đầu tiên của
một trong những cuốn sách quan trọng nhất mà chúng ta biết nói như thế. Cuốn
sách này nói rằng Lời của Chúa là cội nguồn của mọi sự sáng tạo ở trên đời.
Nhưng chẳng lẽ điều đó lại không đúng, theo nghĩa bóng, cho mọi hành động của con người? Phải
chăng ngôn từ, nguồn gốc cội rễ của chúng ta ngày nay, chính là bản chất
của thực thể vũ trụ mà chúng ta gọi là con người? Tinh thần, tâm hồn con
người, sự tự nhận thức của chúng ta, khả năng khái quát hóa và tư duy bằng khái
niệm, khả năng nhận thức thế giới như một tổng thể (chứ không chỉ như địa
phương nơi ta sống), và cuối cùng, khả năng nhận biết rằng chúng ta sẽ chết và
tuy biết như thế nhưng vẫn sống: chẳng lẽ tất cả những điều này không phải
cũng được dàn xếp hay trực tiếp sáng tạo bởi ngôn từ?
Nếu Lời của Chúa là nguồn gốc của mọi
sáng tạo của Chúa, thì một phần sự sáng tạo của Chúa, tức là giống người, tồn
tại như nó đang là hiện nay, là nhờ một phép màu khác của Chúa – đấy là phép
màu của ngôn từ của con người. Và nếu phép màu này là chìa khóa để hiểu lịch sử
của loài người thì nó cũng là chìa khóa để hiểu lịch sử của xã hội, thậm chí
có thể nó là chìa khóa để hiểu lịch sử của loài người chính bởi nó là chìa khóa
để hiểu lịch sử của xã hội: vì nếu ngôn từ không phải là phương tiện giao thiệp
giữa hai hay nhiều cái “Tôi” thì có lẽ ngôn từ sẽ không tồn tại.
Thật ra bằng cách nào đó chúng
ta vẫn luôn biết hoặc ít nhất là linh cảm thấy
tất cả những điều này; cảm giác về ý nghĩa và trọng lượng đặc biệt
của ngôn từ rõ ràng đã tồn tại trong ý thức
của con người từ xa xưa.
Không chỉ như vậy: nhờ phép màu của
ngôn từ mà chúng ta biết, có lẽ tốt hơn các động vật khác, rằng chúng ta thật
ra biết rất ít, nói cách khác, chúng ta nhận thức được sự tồn tại của huyền bí.
Trực diện với điều huyền bí – và đồng thời nhận thức được sức mạnh mang tính
tạo dựng của ngôn từ đối với chúng ta – chúng ta không ngừng tìm cách khám phá
những điều được huyền bí che dấu và dùng ngôn từ để gây ảnh hưởng đối với
chúng. Là những người có đạo, chúng ta cầu Chúa; là những nhà phù thủy, chúng ta
tập trung hay xua đuổi các hồn ma, chúng ta dùng ngôn từ để can thiệp vào việc
của tự nhiên và việc của con người. Là những người của nền văn minh hiện đại –
dù có đạo hay không – chúng ta sử dụng ngôn từ để xây dựng các lí thuyết khoa
học và ý thức hệ chính trị, dùng chúng để đương đầu với dòng chảy bí ẩn của
lịch sử – có lúc thành công, có lúc không, hay chuyển hướng dòng chảy đó –
có lúc thành công, có lúc không. Nói cách khác, dù nhận thức được hay không, và dù giải
thích nó như thế nào, thì cũng rõ ràng là: chúng ta luôn luôn tin – một cách
chính đáng, theo một nghĩa nào đó – vào sức mạnh của ngôn từ trong việc
thay đổi lịch sử.
Vì
sao tôi lại nói là “chính đáng”?
Ngôn ngữ của con người có thực sự đủ
sức mạnh để có thể thay đổi thế giới và ảnh hưởng tới lịch sử? Và nếu khi nào
đó ngôn từ đã từng có sức mạnh như thế thì ngày nay liệu nó còn
có tác dụng như vậy hay không?
Các bạn sống trong một đất nước có
nhiều tự do ngôn luận. Ai cũng có thể sử dụng quyền tự do đó cho bất kì mục
đích gì, việc ấy chẳng làm người khác phải để ý, nói gì đến phải tìm
hiểu. Vì vậy các bạn có thể có cảm tưởng là tôi đánh giá quá cao tầm quan
trọng của ngôn từ đơn giản vì tôi sống trong một đất nước nơi ngôn từ vẫn còn
có thể đưa người ta vào tù.
Vâng, tôi sống trong một đất nước nơi
mà uy quyền và ảnh hưởng mang tính phóng xạ của ngôn từ được chứng thực bằng
những vụ cấm đoán tự do ngôn luận diễn ra hàng ngày. Cách đây không lâu, cả
thế giới vừa kỉ niệm hai trăm năm cuộc Cách mạng Pháp[2],
nó làm chúng ta phải nhớ tới bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền[3] nối tiếng, trong đó có tuyên
bố rằng mọi công dân đều có quyền sở hữu máy in. Trong những ngày này, nghĩa là
đúng hai trăm năm sau ngày ra đời của bản tuyên ngôn nói trên, bạn tôi, ông František Stárek[4], bị án tù hai năm rưỡi vì đã
cho ra một tờ tạp chí văn hóa độc lập tên gọi là “Cửa sổ”– không hẳn trên một cái
máy in tư nhân mà bằng một cái máy sao chép cọc cạch cổ lỗ sĩ. Trước
đó không lâu, một người bạn khác của tôi, ông Ivan Jirous[5],
đã bị kết án mười sáu tháng tù giam vì đã tố cáo trên một bản đánh máy chữ
điều mà ai cũng biết: ở đất nước chúng tôi có nhiều án tử hình vô lí và cả ngày
nay vẫn có người bị bỏ tù oan và bạo hành đến chết. Một người bạn nữa của
tôi, ông Petr Cibulka[6], bị bỏ tù vì lưu hành những
tác phẩm xuất bản chui và những băng ghi âm các ca sĩ và ban nhạc ngoài luồng.
Vâng, tất cả đều là sự thật. Tôi thực sự sống trong một đất nước mà đại hội các nhà
văn hay những bài phát biểu tại đại hội[7]
có thể làm rung chuyển cả hệ thống. Các bạn có thể tưởng tượng được một cái gì
tương tự như thế ở Cộng hòa Liên bang Đức hay không? Vâng, tôi sống ở một đất
nước mà hai mươi mốt năm trước đã từng bị bài viết của người bạn tôi tên là
Ludvík Vaculík làm cho rung động. Và dường như để khẳng định kết luận của tôi
về sức mạnh của ngôn từ, ông đã đặt tên cho bài viết của mình là “Hai ngàn từ”[8]. Cùng với những sự kiện
khác, bài viết này là một trong những lí do cho việc quân đội năm nước xâm
chiếm đất nước tôi chỉ trong có một đêm[9].
Và hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà vào giây phút khi tôi viết những
dòng này, chế độ hiện tại ở đất nước chúng tôi đang bị rung động bởi một trang
giấy với tựa đề “Một vài câu”[10], dường như đấy cũng là hình
ảnh minh họa cho điều tôi đang nói. Vâng, tôi thực sự đang sống trong một hệ
thống mà ngôn từ có khả năng làm rung chuyển toàn bộ bộ máy cầm quyền, nơi
ngôn từ có thể mạnh hơn cả chục sư đoàn, nơi những câu chữ nói lên sự thật của
Solzhenitsyn[11] được coi là nguy hiểm đến
nỗi tác giả của chúng bị đẩy lên máy bay và đưa ra ngoại quốc. Vâng, nơi tôi
đang sống, từ “Đoàn kết”[12] có khả năng làm rung
chuyển cả khối quyền lực.
Tất cả những điều đó đều là sự
thật. Tất cả đã được viết đến nhiều lần, và người tiền nhiệm quý báu
của tôi, ông Lev Kopelev[13], cũng đã nói về chuyện đó
chính tại vị trí này.
Nhưng vấn đề tôi quan tâm có hơi khác
một chút. Tôi không định chỉ nói về vai trò cực kì quan trọng của ngôn từ trong
chế độ toàn trị. Tôi cũng không định minh họa sức mạnh bí ẩn của ngôn từ bằng cách chỉ ra những
quốc gia, nơi một vài từ có thể có giá trị hơn là cả đoàn tàu chở thuốc nổ ở
đâu đó.
Tôi muốn nói một cách tổng quát
hơn và xem xét những khía cạnh rộng hơn và gây ra nhiều tranh cãi hơn của đề
tài này.
Chúng ta sống trong thế giới, nơi có
thể xảy ra việc một người công dân Anh quốc trở thành mục tiêu được nhắm đến bởi một mũi tên độc – hoàn toàn công khai
và không hề ngượng ngùng – từ một cá nhân đầy quyền lực trong một nước khác chỉ
vì anh ta đã viết một cuốn sách nhất định nào đó[14].
Kẻ đầy quyền lực kia nghe nói đã làm như thế nhân danh hàng triệu đồng bào của
hắn ta. Nhưng không chỉ như vậy, có khả năng là trong thế giới này, một số
trong hàng triệu người đó, hi vọng rằng đấy chỉ là số ít, sẽ đồng tình với bản
án tử hình nọ.
Đó là cái gì? Điều đó có nghĩa là gì?
Đấy có phải chỉ là một làn sóng của chủ nghĩa cuồng tín, đang sống dậy dị
thường trong thời đại của những hội nghị Helsinki[15],
và được hồi sinh kì lạ do những hậu quả tiêu cực của sự mở rộng mang tính
tàn phá của nền văn minh châu Âu sang những khu vực vốn không thiết tới
việc nhập khẩu nền văn minh ngoại quốc, và do việc nhập khẩu mâu thuẫn đó mà
lâm cảnh nợ nần không thể nào trả nổi?
Chắc chắn là có tất cả những chuyện
đó.
Nhưng còn cái gì hơn thế nữa: Đó
là biểu tượng.
Biểu tượng của sự đa nghĩa đầy bí ẩn
mà sức mạnh của ngôn từ có được.
Đúng vậy, sức mạnh của ngôn từ là
không rõ ràng và không dứt khoát. Đấy không chỉ đơn thuần là sức mạnh giải phóng trong
ngôn từ của Walesa[16] hay sức mạnh mang tính cảnh
báo của Sakharov[17]. Nó cũng không chỉ là sức
mạnh của tác phẩm rõ ràng là đã bị hiểu sai của Rushdie[18].
Vì bên cạnh ngôn từ của Rushdie,
chúng ta còn có ngôn từ của Khomeini[19].
Bên cạnh những ngôn từ làm cho xã hội phấn khích bằng tính chân thực và quyền
tự do, chúng ta còn có ngôn từ mê mị lòng người, ngôn từ lừa dối, khích động,
gây phẫn nộ, đánh lạc hướng, nham hiểm, thậm chí gây ra chết chóc. Ngôn từ như
một mũi tên.
Tôi nghĩ là không cần phải giải thích
dài dòng cho các bạn về ma lực của một số ngôn từ, bởi các bạn đã trực tiếp
trải nghiệm cách đây không lâu những thảm họa lịch sử kinh hoàng khôn tả
đến thế nào có thể xảy ra dưới hoàn cảnh xã hội và chính trị nhất định, từ
những lời lẽ mê hoặc, đồng thời hoàn toàn điên rồ, của một nhân vật tỉnh
lẻ trung bình[20]. Mặc dù tôi không hiểu
bằng cách nào kẻ đó có thể làm cho nhiều người trong số cha mẹ các bạn
bị mê hoặc, nhưng đồng thời tôi cũng nhận thức được rằng nó phải là một cái
gì đó hết sức thuyết phục và vô cùng xảo quyệt thì mới có thể huyễn
hoặc được, dù chỉ trong phút chốc, một thiên tài vĩ đại – người đã
đưa ra ý nghĩa hiện đại và sâu sắc của những từ như "Sein",
"DaSein", và "Existenz"[21].
Tôi muốn nói: ngôn từ là hiện tượng
bí ẩn, mơ hồ, nước
đôi và xảo trá.
Ngôn từ có thể là luồng ánh sáng trong vương quốc của bóng tối, như Belinsky[22] từng mô tả vở kịch Bão tố của
Ostrovsky[23], nhưng cũng có thể là mũi
tên giết người. Tệ nhất là chúng có thể lúc là
cái này và lúc lại là cái kia, thậm chí chúng có thể là
cả hai cùng một lúc!
Ngôn từ của Lenin thật ra như thế
nào? Giải phóng hay ngược lại, lừa dối, nguy hiểm và sau cùng là nô dịch?
Điều đó cho đến nay vẫn tạo ra những tranh cãi nảy lửa giữa những người quan
tâm đến lịch sử của chủ nghĩa cộng sản và có lẽ họ sẽ còn tranh luận trong thời gian dài nữa.
Điều chủ yếu cá nhân tôi nhận thấy ở những lời lẽ đó là chúng luôn
đầy giận dữ.
Còn ngôn ngữ của Marx thì sao? Liệu
chúng có chiếu rọi ánh sáng vào cả một mặt bằng bị che giấu của cơ chế
xã hội hay chúng chỉ là phôi thai của những Gulag[24] khủng khiếp sau này? Tôi không biết: có nhiều khả năng
chúng đồng thời là cả hai.
Và ngôn từ của Freud[25]? Liệu chúng có mở ra vũ trụ
bí ẩn của tâm hồn con người hay chúng chỉ là nguồn gốc của ảo tưởng rằng có thể
loại bỏ những đau khổ và sai lầm của con người bằng cách tạm gác gánh
nặng ấy vào lời giải thích của một chuyên gia được trả lương cao, một ảo
tưởng mà nay đang làm mê hoặc cả một nửa nước Mĩ?
Nhưng tôi thậm chí còn đi xa hơn và
hỏi một câu còn có tính khiêu khích hơn: Bản chất thật sự của những lời nói
của Chúa Giêsu là gì? Chúng có phải là khởi đầu của kỉ nguyên cứu rỗi và là một
trong số những xung lực văn hóa mạnh mẽ nhất trong lịch sử thế giới hay chúng
là cội nguồn tinh thần của những cuộc Thập tự chinh, Tòa dị giáo, sự hủy diệt
nền văn hóa của người da đỏ Mĩ, và sau đó là sự bành trướng đầy mâu thuẫn của
giống da trắng, cái đã mang đến biết bao thảm kịch kể cả việc dẫn đến
hậu quả là ngày nay đa phần nhân loại bị đẩy xuống hàng khốn khổ dưới tên gọi
là “Thế giới thứ
ba”? Tôi vẫn có xu hướng nghĩ rằng lời của Ngài là cái thứ nhất, nhưng đồng
thời, tôi không thể bỏ qua hàng núi sách vở chứng tỏ rằng ngay trong dạng ban
đầu tinh khiết nhất, một điều nào đó vô tình đã được mã khóa vào Thiên chúa giáo và
với sự kết hợp của hàng ngàn hoàn cảnh khác, trong đó có bản chất tương đối
cố định của con
người, có thể tạo ra không gian tinh thần cho cả những thảm họa mà tôi vừa nhắc.
Ngôn từ cũng có lịch sử của nó.
Thí dụ, có thời kì mà đối với cả mấy
thế hệ những người bị chà đạp và áp bức, từ “chủ nghĩa xã hội” có sức hút
đồng nghĩa với một thế giới công bằng, có thời kì mà vì những lí tưởng được
thể hiện trong mấy từ đó, người ta sẵn sàng hi sinh những năm tháng thậm chí
chính cuộc đời mình. Tôi không biết ở đất nước các bạn thế nào, nhưng ở nước
tôi, từ “chủ nghĩa xã hội” đó từ lâu đã bị biến thành chiếc dùi cui tương đối quen
thuộc để cho những quan chức vô liêm sỉ, giàu có đập từ sáng tới tối lên lưng những người đồng bào
có tư tưởng tự do, dán cho họ cái nhãn là “kẻ thù của chủ nghĩa xã hội” và
“những lực lượng chống chủ nghĩa xã hội”. Trên thực tế: ở đất nước tôi hiện
nay, từ này đã từ lâu chỉ còn là một câu thần chú đáng nguyền rủa, tốt nhất nên tránh xa, nếu ta
không muốn trở thành một kẻ đáng nghi ngờ. Cách đây không lâu tôi có
tham dự một cuộc biểu tình tự phát, không do bất cứ kẻ bất đồng chính kiến
nào tổ chức, nhằm phản đối việc bán tháo một trong những khu đẹp nhất ở Praha
cho một triệu phú người Úc. Khi một diễn
giả lên tiếng phản đối đề án này và nhấn mạnh lời kêu gọi chính phủ
mạnh mẽ của mình bằng cách tuyên bố rằng ông đã chiến đấu vì tổ quốc nhân danh
chủ nghĩa xã hội, đám đông cười ồ lên. Họ cười không phải vì họ phản đối một
chế độ xã hội công bằng mà đơn giản là vì họ nghe thấy cái từ mà bao lâu nay
và trong mọi hoàn cảnh có thể cũng như không có thể, họ vẫn dùng để nguyền rủa cái
chế độ chỉ biết thao túng và lăng mạ dân chúng.
Ngôn từ có thể có số phận rất trớ trêu! Có những thời
khắc của lịch sử, những con người có đầu óc tự do và dũng cảm bị đẩy vào
ngục tù vì rằng một từ nào đó có ý nghĩa đối với họ, nhưng ở thời điểm khác,
chính những người đó lại có thể bị bỏ tù vì cái từ kia đã chẳng còn ý nghĩa gì
với họ nữa, vì nó đã chuyển từ biểu tượng của một thế giới tốt đẹp hơn
thành câu niệm chú của những tên độc tài
ngu dốt.
Không có từ nào – ít nhất là theo
nghĩa ẩn dụ mà tôi dùng từ “từ” ở đây – chỉ có nghĩa như từ điển từ nguyên gán
cho nó. Mỗi từ lại phản ánh người nói ra từ đó, hoàn cảnh và lí do mà nó được
nói. Cùng một từ, có thời điểm là tia hi vọng lớn lao, nhưng lúc khác, nó lại phát những tia chớp của sự
chết chóc. Một từ có thể nói sự thật vào thời
khắc này, nhưng lại dối trá vào thời khắc ngay sau đó, lúc này nó là ánh sáng
khai minh, khi khác nó lại là những lời bịp bợm. Trong trường hợp này nó có thể
mở ra những viễn cảnh tuyệt đẹp, nhưng trong trường hợp khác nó lại có thể đặt đường ray
dẫn tới quần đảo của các trại tập
trung. Cùng một từ mà lúc này thì là hòn đá
tảng của hoà bình, trong khi lúc khác lại có thể trở thành loạt đạn
súng máy với tiếng nổ rền vang trong từng con chữ.
Gorbachev[26]
muốn duy trì chủ nghĩa xã hội bằng nền kinh tế thị trường và tự do ngôn luận,
trong khi Lí Bằng[27] bảo vệ chủ nghĩa xã hội
bằng cách tàn sát sinh viên, và Ceausescu[28]
thì bằng cách hăm dọa dân tộc của ông ta. Từ này thật sự có nghĩa là gì
trên môi của một người và trên môi hai người kia? Điều bí ẩn nào đã được bảo vệ bằng những biện pháp
khác nhau một trời một vực như thế?
Tôi đã nhắc tới cuộc Cách mạng Pháp và
bản Tuyên ngôn tuyệt vời đi kèm với nó. Bản tuyên ngôn này được một quí ông kí,
ông ta sau đó trở thành một trong những người
đầu tiên bị hành quyết nhân danh văn
bản đầy nhân tính cao cả đó[29].
Hàng trăm mà có thể hàng ngàn người đã nối tiếp ông. Tự do, Bình đẳng, Bác ái –
những ngôn từ tuyệt diệu làm sao! Và ý nghĩa của chúng mới khủng khiếp làm sao.
Tự do trong chiếc áo sơ mi không cài cúc trước giờ lên đoạn đầu đài. Bình đẳng
trong tốc độ rơi của chiếc máy chém xuống những cái cổ khác nhau. Bác ái trong
thiên đường khả nghi được
cai trị bởi Đấng chí tôn[30]!
Ngày nay, từ “cải tổ” đầy hứa hẹn đang được
nói đến ở mọi nơi. Tất cả chúng ta đều tin rằng nó nuôi dưỡng niềm hi vọng
cho châu Âu và cho toàn thế giới.
Nhưng tôi buộc phải thú nhận rằng đôi
khi tôi chợt rùng mình, mong từ này không lại trở thành một câu thần chú khác,
hay kết cục không biến thành một chiếc dùi cui nữa để cho một kẻ nào đó đập lên lưng chúng
ta. Tôi không chỉ nghĩ về đất nước tôi: khi những người cầm quyền nói từ đó,
nó có nghĩa tương tự như mấy từ “quốc vương của chúng tôi” trong cửa miệng anh
lính Svejk[31] tốt bụng vậy. Không, tôi
đang nghĩ tới việc con người dũng cảm đang ngồi trong Điện Kremlin kia, đôi
khi, và có lẽ là do tuyệt vọng, cũng buộc cho
những người công nhân đình công, những dân tộc nổi dậy, dân tộc thiểu số, hay
những thiểu số có quan điểm quá khác thường, cái tội“đe dọa cải tổ”. Tôi thông cảm với ông ta. Nhiệm vụ to lớn mà ông gánh vác quả
là một công việc cực kì khó khăn. Nó được treo trên một sợi chỉ mỏng manh và
hầu như bất cứ cái gì cũng có thể làm cho nó đứt bất cứ lúc nào và khi đó
tất cả chúng ta sẽ rơi vào vực thẳm. Mặc dù vậy, tôi vẫn tự hỏi là liệu cái “tư
duy mới” này có chứa đựng những tàn dư đáng lo ngại của những tư tưởng
xưa cũ? Có trong đó tiếng vọng của tư duy rập khuôn và những nghi thức bằng
lời của chế độ trước hay không? Từ “cải tổ” có đôi khi bắt đầu tương đồng với từ “chủ nghĩa xã
hội”, nhất là khi nó có lúc được kín đáo ném vào đầu chính những người đã
từng bị hành hạ một cách bất công bởi từ “chủ nghĩa xã hội”?
Đất nước của các bạn đã có đóng góp to
lớn vào lịch sử châu Âu hiện đại. Tôi muốn nói tới làn sóng giải trừ căng
thẳng đầu tiên: Chính sách bình thường hóa nổi tiếng[32].
Nhưng ngay cả từ đó đôi khi cũng có
tính nước đôi. Dĩ nhiên nó là tia sáng đầu tiên của niềm hi vọng về một châu
Âu không còn chiến tranh lạnh hay bức màn sắt. Nhưng đồng thời, thật đáng buồn
thay – có những trường hợp, nó cũng đồng nghĩa với sự từ bỏ tự do, và
bằng cách đó từ bỏ điều kiện tiên quyết của một nền hòa bình thật sự. Tôi
còn nhớ rất rõ là trong những năm đầu 1970 một số đồng nghiệp và bạn bè người Tây Đức
của tôi đã tìm cách tránh tôi vì sợ rằng liên hệ với tôi – một người không được
chính phủ của mình ưa chuộng – thì có thể chọc giận chính phủ một cách vô ích
và như vậy có thể đe dọa nền tảng mong manh của quá trình bình thường hóa còn
trong thời kì trứng nước. Dĩ nhiên tôi không nhắc đến chuyện này vì bản thân mình
và chắc chắn cũng không phải để tự thán. Nói
cho cùng, khi đó tôi cảm thấy đúng hơn là
tiếc cho họ, bởi vì không phải tôi mà chính họ mới là những người đã tự nguyện
phủ nhận quyền tự do của mình. Tôi nhắc đến điều này chỉ để một lần nữa
giải thích, từ một góc nhìn khác, rằng người ta dễ dàng phản bội mục đích cao
cả của những việc làm với ý định tốt đẹp của mình như thế nào – nhờ
những từ ngữ mà ý nghĩa của chúng rõ ràng không
được bảo vệ một cách thấu đáo. Những việc như thế rất dễ xảy ra mà ta hầu như không để ý: nó xảy ra một cách kín đáo, âm
thầm, lén lút – và cuối cùng, khi nhận ra thì ta chỉ còn một lựa chọn: sự ngạc
nhiên muộn màng.
Nhưng đó chính là hình thức hiểm độc mà
ngôn từ có thể phản chúng ta nếu chúng ta không luôn thận trọng khi sử dụng chúng. Và đáng tiếc là thường xuyên chỉ một khoảnh khắc
thiếu cẩn trọng cũng có thể dẫn
đến những hậu quả bi thảm không cứu vãn được,
những hậu quả vượt ra ngoài thế giới phi vật chất của ngôn từ và xâm nhập sâu
rộng vào thế giới hoàn toàn mang tính vật chất.
Cuối cùng, tôi xin nói về một từ đẹp
đẽ, đấy là từ “hòa bình”.
Suốt bốn mươi năm qua tôi thường đọc thấy từ này viết
trên mặt tiền các tòa nhà và cửa sổ các cửa hàng ở đất nước tôi. Suốt bốn mươi
năm qua, tôi, cũng như mọi công dân trên đất nước tôi đã bị dị ứng với cái từ
đẹp đẽ đó, vì tôi biết cái từ ấy có nghĩa là gì trong suốt bốn mươi năm ấy:
đó là những đội quân ngày càng đồ sộ hơn dưới danh nghĩa bảo vệ hòa bình.
Bất chấp quá trình tước đoạt có hệ
thống ý nghĩa của từ “hòa bình” trong thời gian dài – tệ hơn nữa, lại gán cho
nó nghĩa trái ngược hẳn với nghĩa trong từ điển – một nhóm những Don Quixotes
trong phong trào Hiến chương 77[33] và một số đồng nghiệp trẻ
tuổi của họ trong Hiệp hội Hòa bình Độc lập[34]
đã đấu tranh phục hồi lại từ này và trả lại ý nghĩa ban đầu cho nó. Vì công
cuộc “cải tổ ngữ nghĩa” đó, nghĩa là đặt từ “hòa bình” trở lại trên đôi chân
của nó, đương nhiên họ đã phải trả giá: hầu như tất cả những người lãnh đạo
trẻ của Hiệp hội Hòa bình Độc lập đều phải chịu mấy tháng tù giam. Tuy nhiên
họ đã không làm một việc vô nghĩa: một từ quan trọng đã được cứu vãn
khỏi sự mất giá trị hoàn toàn của nó. Và như tôi đang cố gắng giải
thích ở đây, đó không chỉ là vấn đề cứu vớt một từ. Một cái gì đó quan
trọng hơn rất nhiều đã được cứu vớt.
Bởi tất cả những sự kiện quan trọng
trong thế giới hiện thực, dù đẹp đẽ hay quái gở – bao giờ cũng bắt đầu
trong vương quốc của ngôn từ.
Như tôi đã nói, mục đích của tôi hôm
nay không phải là chuyển đến cho các bạn trải nghiệm của một người biết rằng từ
ngữ vẫn còn có giá trị, khi mà bạn có thể bị bỏ tù vì chúng. Mục đích của tôi
là kể cho các bạn nghe một bài học mà chúng tôi, những người sống trong góc
nhỏ này của thế giới, đã học được về vai trò quan trọng của ngôn từ, một bài
học mà tôi tin là có giá trị phổ quát: cụ thể là, phải luôn luôn thận trọng với
ngôn từ và cảnh giác với chúng, và rằng trong lĩnh vực này, thận trọng không bao
giờ thừa.
Chắc chắn rằng hoài nghi ngôn từ không
có hại bằng tin cậy ngôn từ một cách thái quá.
Ngoài ra, thận trọng với ngôn từ và chỉ ra những hiểm
nguy kín đáo ngủ yên trong ngôn từ – nói cho cùng phải chăng chính là thiên
chức của người trí thức? Tôi nhớ đến ông André Glucksmann[35],
người bạn đồng nghiệp thân mến vừa đứng trước tôi ở đây hôm nay, có lần đã nói
ở Praha rằng các nhà trí thức phải như Cassandra[36]:
có nhiệm vụ theo dõi chăm chú những phát ngôn của những người cầm quyền, cảnh
giác với chúng, cảnh báo trước những mối nguy hiểm của chúng và chỉ ra những
ngụ ý xấu mà chúng có thể gợi lên hoặc mang đến.
Chúng ta hãy để ý một việc: qua nhiều
thế kỉ, chúng ta – người Đức và người Séc – đã gặp đủ loại khó khăn trong
cuộc sống chung ở Trung Âu. Tôi không thể nói thay các bạn, nhưng tôi nghĩ là
tôi có thể thay mặt người Séc mà nói một cách có trách nhiệm rằng, về phía
người Séc, những hằn thù dân tộc, thiên kiến, và giận hờn xưa cũ, được nuôi
dưỡng bằng nhiều cách khác nhau suốt hàng thế kỉ, đã tan biến dần trong vài
chục năm qua. Và không phải ngẫu nhiên mà điều đó đã xảy ra khi chúng tôi bị
tròng vào cái ách của chế độ toàn trị. Chế độ này đã gieo vào lòng chúng tôi sự
ngờ vực sâu sắc đối với mọi sự khái quát hóa, mọi
lời nói có tính ý thức hệ khuôn sáo, mọi giáo điều, mọi khẩu hiệu, mọi
khuôn mẫu tư tưởng và mọi sự kích động nhắm vào những thang bậc tình cảm khác
nhau, từ thấp nhất đến cao nhất của chúng tôi, nhờ đó đa số chúng tôi đã có sức
đề kháng mạnh mẽ trước mọi cám dỗ ngay cả khi nó có sức mê hoặc mà những lời
kêu gọi dân tộc và dân tộc chủ nghĩa vẫn thường có. Cái quan tài ngột ngạt của
những ngôn từ trống rỗng từng bóp nghẹt chúng tôi trong một thời gian dài như
thế đã gieo vào lòng chúng tôi mối nghi ngờ sâu sắc trước thế giới của những
ngôn từ lừa bịp đến mức, bây giờ chúng tôi có thể nhìn thấy thế giới của con
người đúng như thực trạng: đấy là một cộng đồng phức tạp của hàng ngàn và hàng
triệu con người riêng biệt, độc đáo, với bên cạnh hàng trăm đức tính tốt đẹp
là hàng trăm khiếm khuyết và những xu hướng tiêu cực, mà không bao giờ có thể
dùng chiếc bàn là của những lời nói trống rỗng hay ngôn từ biến chất để là
phẳng cộng đồng đó thành một khối đồng nhất - ví dụ như
“giai cấp”, “dân tộc” hay “lực lượng chính trị”
– để rồi tán dương hay lên án, yêu
thương hay căm thù, phỉ báng hay ca ngợi như một tổng thể.
Đấy chỉ là một thí dụ nhỏ vì sao cần thận trọng với ngôn từ. Tôi chọn thí dụ này cho phù hợp với hoàn cảnh, tức
là cho thời khắc khi mà một người Séc có vinh dự được nói chuyện với cử tọa đa
số là người Đức.
Khởi đầu của mọi việc đều là lời.
Đấy là điều kỳ diệu mà chúng ta được
hưởng bởi chúng ta là những con người.
Nhưng đồng thời đấy cũng là cạm bẫy và
thử thách, thủ đoạn đánh lừa và bài sát hạch.
Ý nghĩa của nó có lẽ lớn hơn so với
trong ý nghĩ của các bạn, những người được hưởng nhiều quyền tự do ngôn luận, tức là trong môi trường mà
ngôn từ có vẻ không quá quan trọng đến
thế.
Nhưng ngôn từ là quan trọng.
Ở đâu cũng quan trọng.
Một từ lúc này có thể là khiêm nhường,
nhưng lúc khác lại là cao ngạo. Và một từ khiêm nhường có thể dễ dàng và kín
đáo chuyển hóa thành cao ngạo, trong khi chuyển một từ cao ngạo thành khiêm
nhường là một quá trình phức tạp và khó khăn. Tôi đã thử chứng tỏ điều đó bằng
cách viện dẫn số phận của từ “hòa bình” tại đất nước chúng tôi.
Gần đến điểm cuối của thiên niên kỉ
thứ hai, thế giới, nhất là châu Âu, đang đứng ở ngã tư đường đặc biệt: một thời
gian rất lâu mới có từng đó lý do để hi vọng rằng mọi việc rồi sẽ kết thúc
tốt đẹp, và đồng thời cũng chưa bao giờ có nhiều lí do đến thế để lo sợ rằng nếu
mọi sự xấu đi thì một thảm họa có tính kết cục là không tránh khỏi.
Sẽ không khó để chứng minh rằng
những mối đe dọa chính mà thế giới ngày nay đang trực diện, từ chiến tranh hạt
nhân, thảm họa sinh thái đến thảm họa văn minh xã hội (ý tôi muốn nói đến vực
thẳm ngày càng sâu giữa người giàu và người nghèo, nước giàu và nước nghèo),
đều đang che dấu trong lòng chúng một nguyên nhân cốt lõi: sự chuyển hóa một
cách kín đáo thông điệp vốn dĩ khiêm nhường thành thông điệp cao ngạo.
Con người bắt đầu tin tưởng một cách
cao ngạo rằng anh ta là tuyệt đỉnh và là chúa tể của tạo hóa, anh ta đã hiểu rõ
tự nhiên và có thể làm với nó tất cả những gì anh ta muốn.
Con người bắt đầu suy nghĩ một cách
cao ngạo rằng nhờ có lí trí, con người có khả
năng
hiểu được toàn bộ lịch sử của chính
mình và tạo dựng cuộc sống hạnh phúc cho tất cả mọi người, và thậm chí điều đó đã cho phép con
người quyền quét sạch những kẻ không ưa kế hoạch của anh ta ra khỏi đường đi
của mình – nhân danh một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người – cái tương
lai mà anh ta có chiếc chìa khóa duy nhất đúng.
Con người bắt đầu suy nghĩ một cách
cao ngạo rằng khi anh ta có thể chia tách được hạt nhân nguyên tử, anh ta hoàn
hảo đến mức cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân sẽ chẳng là hiểm họa đối với
anh ta, nói chi đến chiến tranh hạt nhân.
Con người đã mắc sai lầm chí tử trong
tất cả những trường hợp này. Thật là tồi tệ. Nhưng trong tất cả mọi trường
hợp, con người đều đã bắt đầu nhận ra sai lầm. Và như thế là tốt.
Sau khi nhận được mọi bài học, tất
cả chúng ta cần phải cùng chiến đấu chống lại những từ ngữ cao ngạo và thận
trọng trước con vi trùng xảo quyệt của thói cao ngạo đội lốt dưới ngôn từ tưởng
như khiêm nhường.
Rõ ràng đây không phải chỉ là nhiệm vụ
của ngôn ngữ học. Kêu gọi trách nhiệm với ngôn từ và trách nhiệm trước ngôn từ
là nhiệm vụ cơ bản mang tính đạo đức.
Nhưng nhiệm vụ như vậy đương nhiên nằm
ngoài chân trời của thế giới mà chúng ta có thể nhìn thấy được, nó nằm ở
tận nơi nào đó ngự trị bởi Chúa Lời, cái đã là sự khởi đầu của tất cả và
cái không phải là ngôn từ của con người.
Tôi sẽ không giải thích tại sao lại
như thế. Bởi tôi không thể giải thích điều đó một cách tuyệt diệu như
Immanuel Kant[37] – bậc tiền bối của các bạn
– đã từng làm.
Xin cám ơn sự chú ý của các bạn.
Phạm
Nguyên Trường dịch từ bản tiếng Anh
Chính trị
[1]Maximilian Schell (1930): diễn viên, đạo diễn và nhà làm
phim người Áo.
[2]Cách mạng Pháp (1789 – 1799): là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Pháp, diễn ra từ năm 1789 đến 1799, khi lực lượng
dân chủ và cộng
hòa đã lật đổ chế độ quân
chủ chuyên chế và kết thúc chế
độ phong kiến trong xã hội Pháp. Nó được xem như là một bước ngoặt lớn của lịch
sử của châu Âu, đánh dấu sự chuyển đổi xóa bỏ quyền lực tuyệt đối để thiết
lập quyền công dân và tất cả mọi người dân như là một lực lượng chính trị lớn.
[3]Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền: được ban hành vào ngày 26 tháng 8 năm 1789 của Quốc hội
lập hiến Pháp và bước đầu tiên để tạo ra các hiến pháp đầu tiên của Pháp. Bản
Tuyên ngôn có ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức châu Âu về các quyền công dân.
[4]Francis Starek (1952): nhà văn Séc và nhà bất đồng chính
kiến, tham gia ký và hoạt
động tổ chức, lưu hành Hiến chương 77.
[5]Ivan Martin Jirous (1944 – 2011): nhà thơ, nhà văn, nhà báo và nhà phê bình nghệ thuật người Séc.
[6]Petr Cibulka (1950):
nhà báo và nhà hoạt động Séc. Ông là một trong những người đã ký Hiến
chương 77.
[7]Đại hội các
nhà văn Tiệp Khắc lần thứ 4 tổ chức tháng 6 năm 1967 tại Praha đã bắt đầu phong trào
chống đối chính sách của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc và các sự kiện tiếp theo
trong năm 1968.
[8]Ludvík Vaculík – Lời hiệu triệu hai
ngàn từ gửi công nhân, nông dân, viên chức, các nhà khoa học, những người hoạt
động nghệ thuật và tất cả những người khác – do Phạm Minh Ngọc chuyển ngữ
(talawas.blog)
[9]Cuộc xâm lược Tiệp Khắc theo hiệp định Varsava: cuộc xâm lược Tiệp Khắc
bởi quân đội năm nước xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên bang Xô Viết năm 1968.
[10]Bản
kiến nghị “Một vài câu”: được soạn thảo bởi Phong trào Hiến chương 77 từ năm
1989 tại Tiệp Khắc, bao gồm yêu cầu thả tù nhân chính trị, tự do hội
họp, thảo luận và ngôn luận, xóa bỏ kiểm duyệt báo chí và truyền
thông.
[11]Aleksandr Solzhenitsyn Isayevich
(1918 – 2008) : tiểu thuyết gia, nhà viết
kịch và nhà sử học Xô Viết. Các tác phẩm viết về hệ thống trại cải tạo và tù ngục của Liên Xô, trong đó nổi tiếng
nhất là tiểu thuyết Quần đảo
Gulag, bị cấm in. Ông
đoạt giải Nobel Văn học năm 1970.
[12]Công đoàn Đoàn kết
Balan: thành lập năm 1980, có tầm
quan trọng như một phong trào xã hội góp phần vào sự sụp đổ của chế độ cộng sản
ở Balan.
[13]Lev Zalmanovich Kopelev (1912 – 1997):
nhà văn và nhà bất đồng chính kiến Liên
Xô.
[14]Salman Rushdie (1947): nhà văn
người Anh gốc Ấn-Hồi giáo. Do cuốn tiểu thuyết Những vần thơ của Satăng (The
Satanic Verses -1988), Rushdie bị đe dọa tử hình, và vào tháng Hai năm 1989 bị
Ayatollah Ruhollah Khomeini, lãnh đạo tối cao của Iran tuyên án tử hình Hồi
giáo.
[15]Hội nghị Helsinki 1973 – 1975: hội nghị về An ninh và Hợp tác ở châu Âu. Mục đích chính
của Hội nghị là xóa bỏ Chiến tranh Lạnh và thoả thuận cho hòa bình và ổn định
giữa Đông và Tây Âu.
[16]Lech Wałęsa (1942): nhà chính
trị người Ba Lan, nhà đấu tranh cho nhân quyền, lãnh đạo công đoàn Đoàn Kết, tổng thống Cộng hòa Ba Lan trongnhững năm 1990 – 1995.
[17]Andrej Dmitrijevič Sacharov (1921 – 1989): nhà vật
lýhàng đầu của Liên Xô, người bất đồng chính kiến và bảo vệ nhân quyền, nhận giải Nobel Hòa bình năm 1975, nhà lãnh đạo tinh thần
để thay đổi Nga thành đất nước dân chủ.
[18]Xem chú
thích 14
[19]Xem chú
thích 14
[20]Adolf Hitler (1889 – 1945)
[21]Martin Heidegger (1889 – 1976) : nhà triết học Đức, một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất của
thế kỷ 20, nhưng cũng là người bị chỉ trích về lập trường của mình về chủ nghĩa
phát xít. Người đưa ra học thuyết Bản thể luận
về tồn tại con người, về cấu trúc của tồn tại con
người, định nghĩa các khái niệm
"Sein", "Dasein",
"Existenz": tồn tại
người, hiện hữu, tồn tại.
[22]Vissarion Grigoryevich Belinsky (1811 – 1848) : nhà phê bình văn học, nhà báo, nhà triết học
hiện thực dân chủ cách mạng, có ảnh hưởng lớn trong lãnh vực báo chí dân chủ
cách mạng trong và ngoài nước Nga.
[23]Vở kịch Bão
tố của nhà viết kịch Nga Aleksandr Nikolayevich Ostrovsky (1823 – 1886) là một tác phẩm
phê bình xã hội, đặc biệt đối với tầng lớp thương gia Nga.
[24]Gulag: từ ‘Quần đảo
Gulag’ – tên một tác phẩm nổi tiếng của Aleksandr Solzenicyn
viết theo kinh nghiệm của bản thân tác giả về các trại cải tạo ở Nga, từ sau
cách mạng tháng Mười 1918 đến khi Stalin mất năm1956, dành cho tù chính trị và
tù hình sự đặc biệt.
[25]Sigmund Freud (1856 – 1939): bác sĩ về
thần kinh và tâm lý người Áo. Ông được
công nhận là người đặt nền móng và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về phân
tâm học.
[26]Mikhail Sergeyevich Gorbachev (1931): tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên xô từ năm 1985 tới 1991. Những nỗ lực thực hiện cải
cách của ông giúp chấm dứt Chiến
tranh Lạnh, nhưng cũng góp phần kết
thúc quyền uy tối cao của Đảng
Cộng sản Liên xô và giải thể Liên
bang Xô Viết. Ông đã được trao Giải
Nobel Hoà bình năm 1990.
[27]Lí Bằng (1987 – 1998): chính trị gia Trung quốc, thủ tướng
từ năm 1987-1998, người ban lệnh đàn áp biểu tình ở quảng trường Thiên An
môn năm 1989.
[28]Nicolae Ceauşescu (1918 – 1989): tổng Thư ký Đảng Lao động Romania, sau này là Đảng
Cộng sản Romania từ năm 1965 đến năm 1989, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước từ năm
1967 và Chủ tịch Romania từ năm 1974 đến năm 1989. Chế độ cầm quyền của
Ceauşescu có đặc trưng ở sự tăng tệ sùng bái cá nhân, chủ nghĩa quốc gia cực
đoan.
[29]Vua Louis XVI
(1754 – 1793): vị vua duy nhất trong lịch sử nước Pháp đã bị
hành quyết, vào năm 1793, bởi chế độ Cộng hòa dưới thời Cách mạng Pháp.
[30]Napoléon Bonaparte (1769 – 1821): thống lĩnh quân đội
trongthời kỳ Cách mạng Pháp.
Năm 1799 Napoléon tổ chức đảo chính, lập nên chế độ tổng tài. Sự kiện Napoléon
xưng Hoàng đế vào năm 1804 đã đặt dấu chấm hết cho giai đoạn Cộng hòa, thành quả
tiêu biểu của Cách mạng Pháp.
[31]Josef Svejk: nhân
vật chính trong bộ sách của Jaroslav Hasek viết trong những năm 1920 về khoảng
thời gian trước chiến tranh thế giới thứ nhất. Svejk tượng trưng cho một tính
cách dân dã, láu lỉnh, mà dám làm, nhờ đó nhân vật chính bằng nhiều kiểu ngô
nghê, đã vượt qua hàng loạt những tình huống hiểm nguy căng thẳng khác nhau, để
sống sót bằng mọi giá, và được coi là tiêu biểu cho tính cách Tiệp.
[32]Chính sách bình thường hóa: những cố gắng đầu tiên bằng con đường đàm
phán nhàm bình thường hóa quan hệ giữa Tây và Đông Đức xuất hiện từ năm 1969.
[33]Hiến chương
77: phong trào đấu tranh phi hình thức
xuất hiện từ đầu năm 1977, nhằm đấu tranh đòi chính quyền tôn trọng quyền con
người được ghi nhận trong Hiến pháp 1960 và trong các hiệp ước và công ước đã
được Tiệp Khắc kí kết, bao gồm các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế và văn
hóa.
[34]Hiệp hội Hòa bình Độc lập: thành lập tháng tư năm 1988
kêu gọi giảm trừ quân bị cho xã hội, công khai hoạt động của mình ngày
21/8/1988 dịp kỷ niệm 20 năm ngày Tiệp Khắc bị quân đội các nước thuộc khối
Vacsava chiếm đóng.
[35]Andre Glucksmann (1937): triết gia và chính trị gia người
Pháp, người có ảnh hưởng mạnh đến triết học chính trị cánh hữu của thế kỷ 20.
Năm 1968 ông đứng trong hàng ngũ của phái cực tả, có ý định lật đổ nhà nước
theo phái vô chính phủ và Maoism. Từ những năm 70 ngả dần sang bên cánh hữu và
bắt đầu phê phán chế độ độc tài toàn trị, phản đối chế độ cộng sản tại các nước
Trung Âu và quan tâm đến các phong trào chống đối chính quyền ở khắp nơi trên
thế giới.
[36]Cassandra: theo thần thoại Hy lạp là người có khả năng
nhìn thấy những hiểm họa sẽ xảy ra trong tương lai.
[37]Immanuel Kant (1724 – 1804): với Học thuyết đạo đức được xem là triết
gia quan trọng nhất của nước Đức, và là một trong những triết gia lớn nhất
của thời kỳ cận đại.
No comments:
Post a Comment