Václav Havel
QUYỀN LỰC CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC
Tiểu luận chính trị
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang
Hiệu đính: Nhóm Văn Lang
Nhà xuất bản Giấy Vụn
Chính trị và lương tâm
"Chính trị và lương tâm"
(tháng 2 năm 1984): Trong phần ghi chú Havel viết: “Đây là diễn
văn dành cho buổi nói chuyện ở Trường đại học Toulouse, tôi lẽ ra
đã phát biểu ở đấy trong buổi lễ nhận bằng Tiến sĩ danh dự, nếu
tôi đã được tham dự…”. Dĩ nhiên là Havel không có hộ chiếu
và không thể ra nước ngoài được. Trong buổi lễ diễn ra tại Trường đại học
Toulouse-Le Mirail vào ngày 14 tháng 5 năm 1984, ông Tom Stoppard, một nhà soạn
kịch người Anh, đã đọc thay Vaclav Havel.
I
Khi
còn là một cậu bé, tôi từng sống ở nông thôn một thời gian và tôi còn nhớ
rất rõ một trải nghiệm ngày đó: tôi thường đi bộ đến trường ở làng bên dọc
theo một con đường
nhỏ chạy qua cánh đồng, và khi ấy tôi thường nhìn thấy ở phía chân trời ống
khói khổng lồ của một nhà máy vừa mới được xây vội vàng có lẽ để
phục vụ chiến tranh, từ đó phun ra những cột khói nâu dày
đặc lan tỏa khắp bầu trời xanh. Mỗi lần nhìn thấy cảnh ấy tôi luôn luôn
có cảm giác mãnh liệt rằng đó là một điều gì rất sai
trái bởi con người đang làm nhuốm bẩn bầu trời. Tôi không biết lúc
đó đã tồn tại môn sinh thái học như một ngành khoa học hay chưa, nếu có
thì chắc chắn tôi cũng không biết gì về nó. Mặc dù vậy, việc “làm
bẩn bầu trời” làm tôi tự nhiên cảm thấy như bản thân bị động chạm và xúc phạm.
Tôi có cảm tưởng rằng con người có lỗi trong chuyện này, rằng họ đang
phá hủy một cái gì đó quan trọng, tự tiện quấy nhiễu trật tự tự nhiên, và họ
sẽ phải trả giá cho những việc làm như thế. Hiển nhiên là phản ứng của
tôi đối với việc này chủ yếu mang tính thẩm mĩ: lúc đó tôi còn chưa biết
gì về sự phát tán các chất độc hại, những chất mà một ngày nào đó sẽ phá hủy
các khu rừng, hủy diệt thú hoang và gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.
Nếu một người Trung cổ – thí dụ như lúc đi săn –
bất thình lình nhìn thấy cái gì tương tự như thế ở phía chân trời thì chắc hẳn
anh ta sẽ cho rằng đấy là công trình của Quỉ sứ và sẽ quì xuống cầu xin cho
bản thân và người thân của anh ta được cứu rỗi.
Thực
ra có gì chung giữa thế giới của con người thời trung cổ và thế giới của một
cậu bé con? Tôi nghĩ chúng có một điểm chung cơ bản. Cả cậu bé và người nông
dân đều gắn bó chặt chẽ với cái mà các nhà triết học gọi là “thế giới tự
nhiên” hay “thế giới của cuộc sống” hơn đa phần những con người hiện đại.
Họ chưa trở nên xa lạ với thế giới của kinh nghiệm thực tế của bản thân; với thế giới có
buổi sáng và buổi chiều, có dưới (đất) và trên (trời), nơi mặt trời mọc mỗi
ngày ở phía Đông rồi đi qua bầu trời và lặn ở phía Tây, nơi mà những khái niệm
như “quê nhà” và “xứ lạ”, thiện và ác, đẹp và xấu, gần và xa, trách nhiệm và
quyền lợi, còn là những cái gì đó sống động và rõ ràng; với thế giới có ranh giới giữa
những điều tin cậy quen thuộc mà chúng ta cần chăm nom giữ gìn, và những
điều nằm đằng sau phía chân trời của nó, những điều mà chúng ta chỉ nên
kính cẩn nghiêng mình trước chúng vì chúng có bản chất huyền bí. Đó chính
là thế giới tự nhiên được trực tiếp ghi nhận bởi cái “tôi” của chúng
ta và được cái “tôi” đó đích thân bảo đảm; là thế giới của những trải
nghiệm của chúng ta, thế giới vẫn còn chưa thờ ơ vì chúng ta gắn bó trực
tiếp với nó bởi tình yêu, lòng căm thù, sự kính trọng và khinh bỉ, qua truyền
thống, và qua những mối quan tâm và cảm nhận sáng tạo văn hóa nguyên sơ
của chính mình. Đấy là lãnh địa của niềm vui và nỗi buồn không thể lặp lại,
không thể chuyển giao và không thể lấy mất của chúng ta; là thế giới,
trong đó, qua đó và vì đó chúng ta phải có một phần trách nhiệm; đó là thế
giới trách nhiệm cá nhân của chúng ta. Trong thế giới này, những phạm trù như
công lí, danh dự, sự phản bội, tình bằng hữu, lòng dũng cảm hay sự cảm thông,
đều có nội dung hoàn toàn cụ thể, gắn với những con người cụ thể và có ý
nghĩa đối với cuộc đời cụ thể; nói ngắn gọn là chúng vẫn còn chút gì
quan trọng. Nền tảng của thế giới này chính là những giá trị như đã từng có
mặt từ khởi thủy và luôn tồn tại ở đây, trước khi chúng ta nói về chúng,
suy nghĩ về chúng và biến chúng thành đối tượng chất vấn của
mình. Thế giới đó có được sự gắn bó chặt chẽ bên trong nhờ giả
thiết sẵn có mang tính “trực giác” nào đó, rằng thế giới này vận hành
và nói chung có thể chỉ vì tồn tại một điều gì đó đằng sau chân
trời, một điều gì đó ở sau hay phía trên thế giới, một điều gì mà
tuy chúng ta không hiểu và không nắm được, nhưng chính vì thế mà nó tạo
nên nền tảng vững chắc cho thế giới này, mang lại cho thế giới ấy trật tự và
thước đo, đồng thời là cội nguồn bí ẩn của tất cả những qui tắc, phong tục,
điều răn, cấm đoán và tiêu chuẩn hành vi mà mọi người trên thế giới tuân theo.
Từ trong bản chất, thế giới tự nhiên đã mang trong mình giả định về cái
tuyệt đối, cái làm nền tảng và phân định ranh giới, tạo sinh khí và điều
hành thế giới, không có nó thì thế giới sẽ không thể tồn
tại, sẽ thành phi lí và vô dụng, đấy là cái tuyệt đối mà
chúng ta chỉ có thể thành kính tôn trọng. Bất kì cố gắng nào nhằm bác
bỏ nó, chiếm lĩnh nó, hay thậm chí thay thế nó bằng một cái gì khác, trong
khuôn khổ của thế giới này, đều được coi là biểu hiện của thái độ ngạo mạn mà
con người luôn phải trả giá đắt, như Don Juan và Faust từng đã phải trả.
Đối
với cá nhân tôi, ống khói làm bẩn bầu trời không chỉ đơn giản
là một sai sót đáng tiếc của một công nghệ quên không đưa “nhân
tố sinh thái học” vào trong tính toán của nó, một sai lầm
có thể dễ dàng sửa chữa bằng việc lắp một bộ lọc phù hợp để loại bỏ các
chất độc hại trong khói. Đối với tôi, nó còn là một cái gì đó lớn hơn,
đấy là biểu tượng của thời đại đang cố gắng vượt qua ranh giới của thế giới
tự nhiên và của những quy luật tự nhiên, biến thế giới ấy thành chốn
riêng tư của con người, thành việc của ý kiến chủ quan và cảm giác cá
nhân, của ảo tưởng, định kiến và thói đỏng đảnh của “chỉ riêng” một cá thể.
Đấy là biểu tượng của thời đại đã phủ nhận ý nghĩa quan trọng của kinh
nghiệm cá nhân, trong đó có kinh nghiệm về sự huyền bí và cái tuyệt đối – thế
chỗ cho cái tuyệt đối đã được cá nhân cảm nhận như là thước đo thế giới,
thời đại đó xây dựng cái tuyệt đối hoàn toàn mới, nhân tạo, không còn
tính bí ẩn, không còn những “đỏng đảnh” chủ quan, nghĩa là không còn
tính cá nhân và tính người. Đấy là cái tuyệt đối của cái gọi là tính khách
quan, của nhận thức duy lí khách quan và của lịch trình khoa học thế giới.
Trong
quá trình xây dựng hình ảnh thế giới tổng quát cho mình và hình ảnh thế
giới có giá trị tổng quát chung, khoa học hiện đại đã vượt qua ranh giới
của thế giới tự nhiên, cái thế giới mà nó chỉ coi là nhà tù của những định
kiến mà từ đó cần phải thoát ra để tiến về phía ánh sáng của chân lí đã
được kiểm nghiệm một cách khách quan, và đối với nó cái thế giới tự
nhiên ấy chỉ là di sản đáng buồn của những bậc tổ tiên lạc hậu để lại,
hay là sự tưởng tượng non nớt trẻ con của họ mà thôi. Hiển nhiên, với cách
nghĩ như thế, khoa học đã xóa bỏ chính nền tảng sâu xa nhất của thế giới
tự nhiên – như xóa bỏ một câu chuyện hoang tưởng; nó giết chết Chúa Trời
và tiếm đoạt ngai vàng bỏ trống để từ nay khoa học sẽ là
người nắm trong tay trật tự tự nhiên với tư cách là người quản lý
hợp pháp duy nhất; để nó tiếp tục là ông chủ chính danh duy nhất
của mọi chân lí xác đáng, vì chỉ có nó mới có thể vượt lên cao hơn những
chân lí chủ quan cá nhân và thay những chân lí này bằng chân
lí siêu chủ quan, siêu cá nhân, chân lí thật
sự khách quan và phổ quát.
Mặc
dù chủ nghĩa duy lí hiện đại và khoa học hiện đại là sản phẩm của con người,
và cũng như tất cả những gì con người làm ra, đều phát triển trong không gian
của thế giới tự nhiên, nhưng bây giờ chúng đã từ bỏ thế giới ấy một
cách có hệ thống, chúng phủ nhận nó, làm thoái hóa và phỉ báng nó – và
dĩ nhiên đồng thời biến nó thành thuộc địa của mình. Thế giới tự nhiên của
con người hiện đại đã bị khoa học và công nghệ chế ngự thật sự, con người
đó chỉ lên tiếng phản đối khói nhà máy khi mùi hôi hám của nó lọt vào phòng
ngủ của mình. Anh ta chắc chắn không cảm thấy bất bình với bản chất
của nó: vì anh ta biết rằng nhà máy với cái ống khói đó đang làm ra những sản
phẩm anh ta cần. Là người thuộc thời đại công nghệ, anh ta tìm những khả năng
sửa chữa trong khuôn khổ kỹ thuật – thí dụ như lắp bộ lọc cho ống khói.
Xin
hãy hiểu đúng cho: tôi không đề nghị nhân loại thủ tiêu ống khói hay cấm đoán
khoa học hoặc hoàn toàn trở lại với thời Trung cổ. (Ngoài ra không phải
ngẫu nhiên mà một số phát kiến sâu sắc nhất của khoa học hiện đại đương thời,
thật đáng ngạc nhiên, đang đặt câu hỏi với chính huyền thoại về tính
khách quan, và bằng con đường quanh co đáng kể, lại trở về với đề tài con
người và thế giới của con người). Tôi chỉ suy ngẫm – dĩ nhiên dưới
dạng những phác thảo chung sơ lược nhất – về những điều tạo nên nền
tảng cấu trúc tinh thần của nền văn minh hiện đại, nơi chúng ta cần tìm
kiếm nguyên nhân sâu xa nhất của sự khủng hoảng của nền văn minh ấy. Và
mặc dù tiêu điểm chính của những suy nghĩ này sẽ là khía
cạnh chính trị chứ không phải khía cạnh sinh thái của cuộc khủng hoảng này,
tôi cũng xin làm rõ khởi điểm của mình bằng một thí dụ lấy từ lĩnh
vực sinh thái: suốt nhiều thế kỉ, tế bào cơ bản của nông
nghiệp châu Âu là trang trại gia đình. Trong tiếng Tiệp trước đây nó được
gọi là “grunt”, tự thân từ này cũng đáng chú ý về mặt từ nguyên; nó có xuất
xứ từ từ Grund trong tiếng Đức, có nghĩa là “đất” hay “nền
tảng”, và trong tiếng Tiệp nó có thêm một chút sắc thái ngữ
nghĩa đặc biệt: khi sử dụng như một từ thông dụng đồng nghĩa thay cho từ “nền
tảng” và “trang trại”, nó nhấn mạnh tính nền tảng của trang trại, sự khả
tín và xác thực có tính truyền thống và không thể tranh cãi, bất khả tư
nghị của nền sản xuất đó. Cho dù trang trại gia đình đã là nguồn gốc
của vô
số những mâu thuẫn xã hội khác nhau và ngày càng sâu hơn,
nhưng một điều không thể phủ nhận được rằng trang trại luôn bao hàm sự
gắn bó phù hợp và hài hòa với bản chất môi trường nơi nó được dựng lên,
sự gắn bó đã được kiểm nghiệm trực tiếp bởi bao thế hệ nhà nông cũng
như được chứng thực trực tiếp bởi những thành quả lao động của họ. Nền sản
xuất trang trại còn cho thấy tỉ lệ tương quan tối ưu về mức
độ cũng như chủng loại của tất cả các thành phần của
nó; đồng ruộng, bãi chăn thả, bãi hoang, rừng cây, gia súc, gia cầm, nguồn
nước, đường đi..v.v.. Dù rằng qua nhiều thế kỉ chẳng có nông
gia nào tiến hành nghiên cứu khoa học trong nông
trại của mình, trang trại gia đình đã tạo nên một hệ
thống kinh tế và sinh thái hoạt động tương đối thỏa đáng, mọi
thứ trong khuôn khổ của nó được gắn kết với nhau bằng hàng ngàn sợi dây liên
hệ hỗ tương hợp lý, bảo đảm cho sự ổn định của trang trại cũng
như sự ổn định sản lượng của người nông dân. (Ngoài ra, khác
với “sản xuất nông nghiệp lớn” ngày nay, trang trại gia đình
truyền thống tự cung tự cấp về mặt năng lượng). Nếu như nền nông nghiệp
trước kia có phải hứng chịu một số tai họa chung chung, thì đó cũng
không phải lỗi của nó: thời tiết không thuận hòa, bệnh gia súc, chiến
tranh và những thảm họa khác nằm ngoài phạm vi tác động của người nông
dân. Việc áp dụng khoa học xã hội và khoa học nông nghiệp hiện đại chắc
chắn có thể cải tiến nền nông nghiệp trong hàng ngàn lĩnh vực: tăng năng
suất lao động, giảm lao động chân tay, và bài trừ những xung đột xã hội lớn
nhất. Nhưng điều đó chỉ khả thi với giả định rằng ngay cả công cuộc hiện đại
hóa cũng phải được dẫn dắt bằng sự khiêm nhường và kính trọng nào
đó đối với trật tự bí ẩn của tự nhiên, từ đó dẫn đến sự hài
hòa, kinh nghiệm và trách nhiệm cá nhân của con người đối với thế giới
tự nhiên. Hiện đại hóa không được đơn giản là sự xâm lược hung bạo,
đầy hoang tưởng tự đại và kiêu căng của một nền khoa học mang tính
khách quan vô nhân xưng do một nhà nông học vừa ra trường hay một quan chức
thực hiện nhằm phục vụ cho “thế giới quan khoa học”. Thế
nhưng, đấy lại chính là điều đất nước chúng tôi đã trải qua –
người ta gọi nó là quá trình “tập thể hoá”. Đó là trận cuồng phong thổi
qua làng quê Tiệp Khắc ba mươi năm trước đây để làm đảo lộn tất cả. Hậu quả
là, một mặt, hàng chục ngàn người đã hủy hoại cuộc sống trong nhà
tù, họ đã trở thành đồ hiến tế trên bàn thờ của một học thuyết khoa
học không tưởng về một tương lai tươi sáng. Mặt khác, mức độ xung
đột xã hội và khối lượng lao động nặng nhọc ở làng quê có
giảm, và năng suất lao động thật sự có tăng về định lượng.
Nhưng đó không phải là lí do để tôi bàn đến vấn đề này. Tôi nói
đến chuyện này vì một lý do khác: ba mươi năm sau khi trận cuồng phong
quét hết khỏi mặt đất những trang trại gia đình truyền thống nói trên, các nhà
khoa học mới ngạc nhiên phát hiện ra điều mà một người nông dân gần như mù chữ
cũng biết – rằng mọi thử nghiệm nhằm thủ tiêu tận gốc, vĩnh viễn và triệt
để ranh giới đã từng được kính cẩn tôn trọng của thế giới tự nhiên cùng
với truyền thống của những kinh nghiệm thận trọng của cá nhân về
thế giới ấy, đều sẽ có tác hại ngược lại. Con người sẽ phải trả giá
cho mưu toan làm chủ hoàn toàn thiên nhiên và chế nhạo những điều huyền bí
của tự nhiên; nói ngắn gọn là trả giá cho mọi thử nghiệm thủ tiêu Chúa
Trời và tự mình đóng vai của Chúa. Và điều đó đã thực sự xảy ra. Việc
cày xới những bãi hoang và san phẳng bờ bãi đã làm hủy diệt mọi
loài chim chóc và cùng với chúng, cả những loài vốn là thiên địch, chuyên ăn
sâu bọ bảo vệ mùa màng. Những cánh đồng liên hợp hàng năm làm cuốn trôi
hàng triệu mét khối đất mầu mỡ vốn được tích tụ nên qua bao thế kỉ. Phân hóa
học và thuốc trừ sâu đầu độc tất cả sản phẩm rau cỏ và làm ô
nhiễm đất và nguồn nước một cách thảm thê. Máy móc nông nghiệp hạng nặng
liên tục nén đất mầu xuống làm không khí không thẩm thấu được
và đất đai trở nên cằn cỗi. Bò trong những trang trại khổng lồ bị suy
nhược thần kinh và mất sữa. Nông nghiệp càng ngày càng đòi hỏi nhiều
hơn năng lượng từ công nghiệp – sản xuất máy móc, phân hoá
học, phí vận tải tăng cao trong thời đại phát triển chuyên môn hoá địa
phương, v.v. và v.v. Nói tóm lại, những dự báo về tương lai quả thật
đáng sợ và không ai biết những năm tháng và những thập kỉ tới sẽ mang đến cho
chúng ta những bất ngờ nào nữa.
Thật
là nghịch lý: con người trong thời đại khoa học và công nghệ cho rằng họ sẽ
cải thiện được cuộc sống vì họ có khả năng thấu hiểu và tận dụng được cơ
chế phức tạp của tự nhiên và những qui luật hoạt động chung của nó –
nhưng cuối cùng họ mới là kẻ bị bất ngờ và mắc mưu thiên nhiên một
cách thảm hại bởi chính sự phức tạp và những qui luật ấy. Con người
nghĩ rằng có thể giải thích và chinh phục được thiên nhiên – nhưng kết quả là
họ đã phá hoại nó và tự tách rời khỏi nó. Tương lai của con
người “bên ngoài tự nhiên” sẽ ra sao? Rốt cuộc, chẳng phải chính những
phát minh khoa học mới nhất đã phát hiện rằng cơ thể của con người chẳng
qua cũng chỉ là một nút giao thông đặc biệt sầm uất của hàng tỉ vật thể
hữu cơ vi mô cùng với những va chạm và tương tác vô cùng phức tạp của
chúng, những cái đã cùng nhau tạo ra chính sinh thể hữu cơ vĩ mô
đáng kinh ngạc gọi là “sinh quyển” đang bao bọc hành tinh của chúng ta?
Kẻ
có lỗi không phải là khoa học mà là thói ngạo mạn của con người
trong thời đại khoa học. Con người đơn giản không phải là Chúa Trời, và vì
trò chơi đóng giả Chúa Trời anh ta đã bị trừng phạt thích đáng. Con
người đã phá hủy chân trời bất di bất dịch trong những liên hệ của mình, đã phủ
nhận kinh nghiệm cá nhân “tiền khách quan” về thế giới của bản thân, đẩy
lương tâm và ý thức cá nhân vào “buồng tắm” riêng, coi đấy như là một cái gì
hoàn toàn riêng tư không dính dáng đến bất kì ai. Con người vứt bỏ trách nhiệm như vứt bỏ một “ảo tưởng mang tính chủ
quan” – và thay thế tất cả bằng cách lắp đặt (như hiện nay đã rõ) một ảo
tưởng nguy hiểm nhất từ trước tới nay: đó là tưởng tượng về tính khách
quan đã được giải phóng khỏi nhân tính cụ thể, mô hình nhận thức duy lí
về vũ trụ, sơ đồ trừu tượng của cái gọi là “tính tất yếu của lịch sử”, và
tột đỉnh của mọi ảo mộng là “sự thịnh vượng cho tất cả” có thể tính
toán được chỉ bằng khoa học và có thể thực hiện được chỉ bằng công nghệ,
chỉ cần các viện nghiên cứu phát minh, rồi chuyển cho các
nhà máy công nghiệp và bộ máy quan liêu biến thành hiện thực. Việc
hàng triệu người đã trở thành nạn nhân cho ảo tưởng đó trong những trại tập trung
được quản lí khoa học không làm cho con người hiện đại của chúng ta quan tâm
(trừ khi chính anh ta tình cờ cũng bị vất vào sau hàng rào kẽm gai của
trại tập trung đó và bị nó quăng trở lại với thế giới tự nhiên của mình):
biểu hiện đồng cảm của con người với đồng loại, thuộc về lãnh địa của
những định kiến cá nhân cũ kỹ, đã bị thủ tiêu để nhường chỗ cho Khoa học,
cho tính Khách quan, cho tính Tất yếu lịch sử, cho Kĩ nghệ, cho Hệ
thống và Bộ máy – mà đấy đều là những thứ vô nhân xưng, không biết đồng cảm.
Chúng vô danh và trừu tượng, bao giờ cũng vị lợi ích, và vì thế mà luôn
vô tội một cách tiên quyết.
Còn nói
về tương lai ư? Ai còn trực tiếp quan tâm hay thậm chí đích thân lo lắng
về tương lai khi mà sự nhìn nhận mọi việc từ viễn cảnh của sự trường tồn
đã bị đẩy vào trong cái gọi là buồng tắm riêng tư, hay bị chở thẳng vào
vương quốc truyện cổ tích? Nếu một nhà khoa học thời nay có nghĩ về
những chuyện sẽ xảy ra sau đây hai trăm năm thì ông ta cũng làm điều đó như một
nhà quan sát thờ ơ, về cơ bản chẳng khác gì việc ông ta nghiên cứu quá
trình trao đổi chất của con bọ chét, hay tín hiệu điện từ của các ẩn
tinh (pulsars), hay trữ lượng khí tự nhiên toàn cầu. Còn một chính
khách đương đại thì sao? Ông ta tuyệt đối chẳng có lí do gì để bận
tâm, nhất là khi việc làm đó có thể đe dọa khả năng trúng cử của ông ta –
trong trường hợp ông ta hoạt động ở đất nước có tồn tại bầu cử.
II
Nhà
triết học Séc Václav Bělohradský đã phát triển một tư tưởng đầy thuyết phục
rằng tinh thần duy lí của khoa học hiện đại với nền tảng là tư duy trừu
tượng và giả định về tính khách quan vô nhân xưng, có không chỉ một ông tổ là
Galileo trong khoa học tự nhiên, mà còn có một ông tổ trong chính trị là
Machiavelli, người đầu tiên xây dựng (dù có nhuốm một chút mỉa mai
cay độc) lí thuyết chính trị như một công nghệ duy lý thực thi quyền lực. Có
thể nói rằng vượt qua mọi khúc ngoặt phức tạp của lịch sử, chúng ta có thể
tìm thấy nguồn gốc cội rễ của nhà nước và quyền lực chính trị hiện đại chính
tại đây, nghĩa là một lần nữa lại tại thời điểm khi mà lí trí bắt
đầu tự “giải phóng” khỏi con người, khỏi kinh nghiệm bản thân, khỏi
lương tâm cũng như trách nhiệm cá nhân, tức là tách khỏi điểm quy chiếu
duy nhất của mọi trách nhiệm trong chiều kích của thế giới tự nhiên, và có
nghĩa là tách khỏi chân trời tuyệt đối của chúng. Và giống như nhà
khoa học hiện đại đã làm cho con người cụ thể chỉ còn là chủ thể trải
nghiệm thế giới trong ngoặc đơn, nhà nước hiện đại và nền chính trị hiện đại
lại làm điều đó một cách ngày càng rõ ràng hơn nữa.
Quá
trình vô danh hóa và vô nhân xưng hóa quyền lực và
sự giản lược nó đơn thuần thành kĩ thuật cai trị và thao túng này
đương nhiên có hàng ngàn bộ mặt, hàng ngàn phương cách và thể hiện khác nhau;
lúc này nó diễn ra một cách âm thầm lặng lẽ, lúc kia ngược lại lại hoàn
toàn công khai; lúc này vòng vo qua những con đường quanh co tinh xảo, lúc
kia ngược lại nó lại thẳng băng tàn bạo. Nhưng về bản chất đấy là chuyển động
duy nhất và phổ quát. Đấy là chiều hướng cơ bản của toàn bộ nền
văn minh hiện đại, phát triển trực tiếp từ chính cơ cấu tinh thần
của nó, bám gốc vào nền văn minh đó bằng hàng ngàn cái rễ xoắn xuýt, và thực
chất đã không thể tách rời khỏi bản chất kỹ thuật, tính bầy đàn và xu
hướng tiêu dùng của nền văn minh ấy.
Các
vua chúa và lãnh tụ – dù có được đặt lên ngai vàng theo truyền thống
truyền ngôi hay do nguyện vọng của dân chúng, nhờ chiến thắng trên
chiến trường hay nhờ âm mưu khôn khéo – đều là những nhân cách đại
diện cho chính bản thân với những khuôn mặt con người cụ thể, ở mức độ
nào đó vẫn chịu trách nhiệm cá nhân về những việc làm, cả tốt lẫn
xấu, của mình. Trong thời kỳ hiện đại, thế chỗ họ là các nhà quản lí, các
quan chức, các nhân viên của bộ máy – những nhà cai trị chuyên nghiệp, chuyên
viên thao túng và chuyên gia trong lĩnh vực quản lí, giật dây và
tuyên huấn; đã bị vô nhân xưng hóa của các quan hệ quyền lực và chức
vụ; bánh răng của bộ máy nhà nước với vai trò hạn chế đã được tiền chỉ
định; công cụ “vô tội” của thứ quyền lực nặc danh “vô tội”
được hợp pháp hóa bởi khoa học, điều khiển học, ý thức hệ, luật
pháp, tính trừu tượng và tính khách quan, nghĩa là bởi tất cả, ngoại trừ trách
nhiệm cá nhân trước cộng đồng như là với những cá nhân hay đồng loại.
Nhà chính trị gia thời hiện đại là "trong suốt": đằng sau cái mặt nạ
khôn ngoan và diễn ngôn giả tạo chẳng có dấu vết nào của một con
người đã bám rễ vào trật tự của thế giới tự
nhiên bằng tình yêu, sự đam mê, mối quan tâm, ý kiến cá nhân, lòng
hận thù, lòng dũng cảm hay sự tàn nhẫn của mình. Tất cả những điều này đều
bị ông ta nhốt vào phòng tắm riêng. Nếu có chăng thì chúng ta cũng chỉ có
thể nhìn thấy phía sau cái mặt nạ đó một kĩ thuật gia quyền lực có tay nghề
cao hơn hoặc thấp hơn mà thôi. Hệ thống, ý thức hệ và bộ máy đã chiếm
đoạt hết của con người – cả kẻ cai trị lẫn người bị trị
– lương tâm, lương tri và tiếng nói tự nhiên, và như vậy đã tước bỏ
bản chất con người của anh ta. Các nhà nước ngày càng giống như một cỗ máy;
còn nhân dân thì biến thành những dãy số thống kê các cử tri, những nhà sản
xuất, những người tiêu dùng, các bệnh nhân, những khách du lịch hay
binh lính. Trong chính trị, khái niệm thiện và ác như những phạm
trù của thế giới tự nhiên và cũng có nghĩa là những tàn dư lỗi thời của
quá khứ – đã mất hết ý nghĩa thực chất; mục đích trở thành phương
pháp duy nhất của chính trị và thành công có thể thẩm định và
định lượng được một cách khách quan trở thành thước đo duy nhất
của nó. Quyền lực được tiên quyết là "vô tội" vì nó
không xuất phát từ một thế giới trong đó những từ như “tội
lỗi” và “vô tội” còn mang nội dung nào đó.
Biểu
hiện hoàn thiện nhất mà quyền lực vô nhân xưng này đạt được cho tới nay là
trong những hệ thống độc tài toàn trị. Như nhà triết học Bělohradský đã lưu ý,
mặc dù việc vô nhân xưng hoá quyền lực cùng với việc thuộc địa hóa
ý thức và ngôn ngữ của con người là sự nối tiếp thành công truyền
thống quan niệm có tính “vũ trụ” về đế chế, có xuất xứ từ bên ngoài châu
Âu (quan niệm đồng nhất đế chế – như là trung tâm thật sự duy nhất của
thế giới – với toàn thế giới và coi con người là tài sản riêng tuyệt đối của
đế chế), điều đó không có nghĩa là quyền lực vô nhân xưng hiện đại, như
được thể hiện sâu sắc ở hệ thống toàn trị, là hiện tượng chỉ có ở bên
ngoài châu Âu. Sự thật hoàn toàn ngược lại: chính châu Âu và Tây Âu đã cung cấp
và nhiều khi đã buộc thế giới chấp nhận những điều mà hiện nay đã trở thành
nền tảng của thứ quyền lực này: từ khoa học hiện đại, chủ nghĩa duy lí, tinh
thần sùng bái khoa học, cách mạng công nghiệp, và cách mạng nói chung như
thói cuồng tín trừu tượng, qua việc giam giữ thế giới tự nhiên trong buồng
tắm đến việc sùng bái chủ nghĩa tiêu thụ, bom nguyên tử và chủ nghĩa Mác. Và chính châu Âu – Tây
Âu dân chủ – ngày nay đang bất lực đối mặt với thành quả của những xuất khẩu
hai mặt của nó. Bằng chứng ví dụ của điều đó là tình trạng tiến thoái
lưỡng nan hiện nay – liệu có nên cưỡng lại sự bành trướng phản
hồi của những kết quả của quá trình bành trướng của chính nó hay là
chịu nhượng bộ. Liệu có cần chống lại những tên lửa được tạo nên
nhờ trước đây được châu Âu xuất khẩu tiềm năng công nghệ và tinh thần – nay
lại đang hướng ngược vào châu Âu, bằng việc cài đặt những tên lửa tương tự
và tốt hơn nữa, và như thế tuy thể hiện quyết tâm bảo vệ những giá trị còn
sót lại của châu Âu, nhưng đồng thời bước vào một trò chơi bắt buộc
và hoàn toàn phi đạo đức, hay châu Âu sẽ phải rút lui và hi vọng rằng tinh
thần trách nhiệm trước số phận của hành tinh được thể hiện như vậy sẽ
có tác động thần kì với phần còn lại của thế giới?
Tôi
nghĩ rằng nếu nói về quan hệ của Tây Âu với các chế độ toàn trị, trong mọi sai
lầm nó có thể phạm phải thì sai lầm lớn nhất có lẽ là cái mà hiển
nhiên đe dọa nó nhiều nhất, đó là: không nhận thức được bản chất cốt lõi
của chế độ toàn trị – rằng chúng là cái gương lồi phản chiếu toàn bộ nền văn
minh hiện đại và là tín hiệu cảnh báo nghiêm khắc, mà cũng có thể là cuối
cùng, kêu gọi nền văn minh xem xét lại quan niệm của nó về chính mình. Dưới
cách nhìn này thì việc Tây Âu phạm sai lầm bằng hình thức nào không còn
quan trọng nữa: có thể vì trong tinh thần của truyền thống duy lí của mình,
Tây Âu tiếp nhận các chế độ toàn trị như là thử nghiệm đặc thù mang tính địa
phương nhằm đem lại thịnh vượng cho tất cả mọi người, mà chỉ những kẻ tâm
địa xấu xa mới gán cho nó xu hướng bành trướng. Hay là – cũng trong tinh
thần của truyền thống duy lí (lần này theo quan niệm của Machiavelli, coi chính
trị là công nghệ cho các trò chơi quyền lực) –
nhưng ngược lại nó lại coi các chế độ toàn trị chỉ như mối đe dọa
bên ngoài bởi những lân bang bành trướng, có thể đẩy lùi bằng cách phô trương
lực lượng của mình mà chẳng cần suy nghĩ sâu xa hơn. Khả năng thứ nhất là khả
năng của người chấp nhận việc nhà máy thải khói lên bầu trời, dù rằng khói xấu
và hôi, vì nói cho cùng nó phục vụ cho việc tốt là sản xuất hàng hóa cần
thiết nói chung. Khả năng thứ hai ngược lại là của cá nhân cho rằng điều đó
đơn giản chỉ là thiếu sót của kĩ thuật, có thể khắc phục bằng những biện
pháp kỹ thuật, thí dụ như dùng bộ lọc nào đó hoặc dùng máy làm sạch khí thải.
Theo
tôi thực tế đáng tiếc là nghiêm trọng hơn nhiều: giống như ống khói “làm bẩn
bầu trời” không chỉ là sai lầm kỹ thuật có thể sửa chữa được hay là cái giá
phải trả cho một tương lai tiêu dùng tốt đẹp hơn, mà là biểu
tượng của một nền văn minh từ bỏ cái tuyệt đối, coi thường thế giới tự nhiên và
có thái độ khinh thị với đòi hỏi của nó. Tương tự như thế, các hệ
thống toàn trị là một cái gì có tính cảnh báo nghiêm trọng hơn là chủ nghĩa
duy lí phương Tây chịu thừa nhận. Các chế độ toàn trị trước hết thực sự là cái
gương lồi phản chiếu những hậu quả không thể tránh được của chủ nghĩa duy lí
Tây Âu, là hình ảnh phóng đại đầy lố bịch về xu hướng sâu xa của nó, là nhánh
cực đoan nhất của chính sự phát triển của nó và là sản phẩm đáng ngại của chính
quá trình bành trướng của nó. Chúng là thông tin phản ảnh sâu sắc về cuộc
khủng hoảng của chủ nghĩa duy lí. Các chế độ toàn trị không chỉ là những lân
bang nguy hiểm và càng không phải là lực lượng tiên phong của tiến bộ thế giới.
Đáng tiếc là ngược lại: chúng là lực lượng tiên phong của cuộc khủng hoảng
trên bình diện toàn cầu của nền văn minh hiện nay, ban đầu ở châu Âu, sau đó
đến Âu-Mĩ và cuối cùng là cả hành tinh. Chúng là một trong những mô hình
khả dĩ của thế giới phương Tây trong tương lai, không phải theo nghĩa là một
ngày nào đó chúng sẽ tấn công hay chinh phục phương Tây, mà theo nghĩa sâu xa
hơn, chúng minh họa một cách sống động kết cục của cái mà
ông Bělohradský gọi là “thời mạt pháp của vô nhân xưng”.
Đấy
là sự thống trị tuyệt
đối của thứ quyền lực quan liêu vô nhân xưng ẩn danh và
bành trướng, chưa đến mức vô lương tâm, nhưng đã hoạt động bên ngoài khuôn
khổ của mọi lương tâm, thứ quyền lực dựa vào sự hiện diện
khắp nơi của ảo tưởng về ý thức hệ có khả năng biện minh cho bất cứ
điều gì mà chẳng cần tiếp cận với sự thật. Quyền lực như là
vũ trụ của kiểm soát, trấn áp và sợ hãi; quyền lực nhà
nước hóa, và cũng có nghĩa là làm tước bỏ nhân tính, mọi tư duy,
đạo đức và riêng tư của cá nhân; quyền lực mà từ lâu đã không
còn là việc của một nhóm những kẻ cầm quyền độc đoán mà đã chiếm hữu và nuốt
chửng từng cá thể để tất cả mọi người kết cục đều trở thành một phần của
nó, ít nhất là bằng sự im lặng của họ; quyền lực mà không ai thực
sự nắm nó, vì chính nó đã nắm được tất cả mọi người; nó là con quái
vật mà con người không điều khiển được, mà ngược lại, nó lôi con người đi theo
vận động “khách quan” (tức là tách lìa khỏi mọi chuẩn
mực nhân bản, kể cả lí trí của con người, và do đó hoàn toàn phi lí) của mình đến một nơi đáng
sợ nào đó không rõ.
Xin được nhắc lại:
quyền lực toàn trị là lời nhắc nhở đanh thép đối với nền văn minh
đương đại. Có thể ở đâu đó có những vị tướng nghĩ rằng tốt nhất là xóa
sổ các hệ thống toàn trị này khỏi thế giới thì mọi sự sẽ
đâu vào đấy. Nhưng như thế chẳng khác gì câu chuyện cô gái xấu xí muốn khỏi xấu
liền đập tan cái gương nhắc nhở đến sự xấu xí của mình. “Giải pháp cuối
cùng” đó là một trong những giấc mơ của lí trí vô nhân xưng, có khả năng – như
khái niệm “giải pháp cuối cùng” một cách hình tượng đã nhắc nhở chúng
ta – chuyển hoá dễ dàng đến mức đáng sợ giấc mơ thành hiện thực và bằng cách đó biến
hiện thực thành một giấc mơ đen tối. Nó không những không thể giải
quyết được cuộc khủng hoảng của thế giới hiện nay, mà còn làm cho vấn
đề trở thành trầm trọng hơn – tất nhiên nếu thế giới còn sống sót. Đặt thêm lên
vai nền văn minh vốn đã nặng trĩu hàng triệu xác chết nữa không những không
ngăn cản được sự hội tụ căn bản của nó đến chế độ toàn trị mà có lẽ
còn thúc đẩy quá trình đó tiến nhanh hơn nữa. Và đó sẽ là chiến thắng
Pyrrhic[1], bởi kẻ chiến thắng trong
cuộc xung đột như vậy chắc chắn sẽ giống đối thủ bại trận hơn cả mức mà ngày
nay bất cứ ai chịu thừa nhận hay tưởng tượng được. (Chỉ một thí dụ
nhỏ: xin hãy tưởng tượng phương Tây cần phải xây “Quần đảo Gulag” lớn đến mức
nào, dưới danh nghĩa
vì lợi ích quốc gia, nền dân chủ, tiến bộ và kỉ luật thời chiến, để có thể nhốt
giam tất cả những người từ chối tham gia vào nỗ lực này, dù vì ngây thơ,
nguyên tắc, sợ sệt hay lười biếng).
Không
có cái ác nào có thể tiêu diệt được bằng cách loại bỏ các triệu chứng của
nó. Cần phải loại bỏ nguyên nhân của cái ác đó.
III
Thỉnh
thoảng tôi có điều kiện đàm đạo với các nhà trí thức phương Tây, họ đến thăm
đất nước chúng tôi và quyết tâm gặp một trong số những người bất đồng chính
kiến – một phần vì thực sự quan tâm, muốn tìm hiểu và thể hiện tình đoàn kết,
phần nữa đơn giản chỉ vì tò mò: trong môi trường nói chung ảm đạm này, ngoài
những danh lam Gothic và Baroque, những người bất đồng chính kiến có lẽ là
thứ duy nhất làm khách du lịch nước ngoài quan tâm. Thường đấy là những cuộc
đàm đạo bổ ích mà qua đó tôi học hỏi và nhận thức được nhiều điều. Họ thường hỏi tôi:
Ông có nghĩ rằng ông có thể thay đổi được gì đó khi những người như ông quá ít
và không có ảnh hưởng nào hết? Ông chống chủ nghĩa xã hội hay ông chỉ muốn cải
thiện nó? Ông lên án hay ủng hộ việc lắp ráp Pershing II (tên lửa hạt nhân của Mỹ – ND) và
hành trình tên lửa ở Tây Âu? Chúng tôi có thể làm gì được cho các ông? Điều gì
thúc đẩy ông làm những việc mà ông đang làm trong khi những việc đó chỉ làm
cho ông bị theo dõi, đàn áp và bị bỏ tù mà kết quả thì chưa thấy? Ông có muốn
chủ nghĩa tư bản được phục hồi trên đất nước ông hay không?
Đấy
là những câu hỏi đầy thiện chí, xuất phát từ ước muốn tìm hiểu và chứng tỏ rằng
người hỏi thực sự quan tâm tới thế giới, quan tâm tới tình hình hiện nay và
tương lai của nó.
Tuy
nhiên, chính những câu hỏi như vậy và tương tự luôn lại tiết lộ cho tôi
thấy nhiều trí thức phương Tây đã hiểu sai một cách trầm trọng như thế nào
(và ở một góc độ nhất định họ không thể hiểu được) những chuyện đang diễn ra ở
đây, chúng tôi – những người được gọi là “bất đồng chính kiến” – đấu tranh vì
cái gì và đặc biệt là tất cả những việc này có ý nghĩa gì. Thí dụ như câu hỏi:
“Chúng tôi có thể làm gì cho các ông?” Tất nhiên là họ có thể làm rất nhiều
việc: càng được ủng hộ, quan tâm và tương trợ của những người có tư tưởng tự do
trên thế giới thì chúng tôi càng ít có nguy cơ bị bắt hơn và càng có hi vọng là
tiếng nói của chúng tôi không bị chìm trong hư không. Tuy nhiên ở đâu đó
trong sâu thẳm của câu
hỏi này có hàm chứa một sự hiểu lầm. Nói cho cùng, vấn đề hoàn
toàn không phải là việc giúp chúng tôi, một số “người bất đồng chính kiến”, để
họ ít bị giam giữ hơn. Thậm chí đấy cũng không phải là việc giúp dân tộc này,
người Séc và người Slovakia, và dàn xếp thế nào đó để họ được sống tốt và
tự do hơn: trước hết, hai dân tộc này phải tự giúp mình, họ quá hay chờ người
khác giúp, quá lệ thuộc vào sự giúp đỡ đó, và đã rất nhiều lần bị thất vọng:
hoặc là lời hứa giúp bị hủy bỏ vào phút chót, hoặc là sự giúp đỡ lại dẫn đến
kết quả trái ngược hẳn với những gì họ từng kì vọng. Nhưng trong ý nghĩa
sâu xa nhất, vấn đề ở đây là một cái gì đó khác – đó là
sự cứu rỗi cho tất cả chúng ta, trong cùng mức độ cho cả tôi
cũng như cho người đối thoại. Hay chẳng lẽ đó không phải là việc chung của
tất cả? Chẳng lẽ viễn cảnh tồi tệ hay ngược lại là niềm hy vọng của tôi không phải cũng là viễn cảnh tồi
tệ hay là niềm hy vọng của ông ta? Việc bắt tôi chẳng phải là sự tấn
công vào chính ông ta và sự lừa bịp ông ta chẳng phải là cuộc tấn công vào
tôi? Sự đàn áp con người tại Praha chẳng phải cũng là sự
đàn áp tất cả? Thái độ bàng quan hay thậm chí ảo tưởng về những gì đang diễn
ra ở đây, có chính là sự chuẩn bị cho cái khốn cùng như thế ở nơi khác? Sự
khốn cùng của họ có là giả thiết cho sự khốn cùng của chúng ta? Cuối cùng
thì vấn đề ở đây hoàn toàn không phải là một người bất đồng chính kiến nào đó
ở Tiệp Khắc đang gặp nạn, cần sự giúp đỡ (để thoát nạn, thật ra chính tôi có
thể tự giúp mình tốt nhất, bằng cách đơn giản là thôi không “bất
đồng chính kiến” nữa), mà là: số phận và những cố gắng không đi đến đâu của người bất
đồng chính kiến đó nói lên điều gì, có ý nghĩa gì, tố cáo như thế nào
về tình trạng, số phận, những cơ hội và sự nghèo đói của thế giới, trong
khía cạnh nào nó là hoặc có thể là lý do để những người khác phải suy
nghĩ, cả từ góc độ số phận của họ, mà cũng là số phận chung của
chúng ta, trong khía cạnh nào nó là lời cảnh báo, thách thức và mối hiểm
nguy hay bài học cả cho những vị khách thăm chúng tôi.
Hay
là câu hỏi về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản! Tôi phải thú nhận
rằng khi đó tôi thường có cảm giác như câu hỏi ấy đến với tôi từ đáy sâu
của thế kỉ trước (Thế kỉ XIX – ND). Tôi có cảm tưởng rằng những phạm trù
thấm đẫm ý thức hệ và rắc rối về mặt ngữ nghĩa này từ lâu đã không
còn quan trọng nữa. Mà vấn đề là hoàn toàn khác, sâu sắc hơn và có
liên quan đồng đều tới tất cả: liệu chúng ta, bằng cách nào đó, có
thể khôi phục lại thế giới tự nhiên để nó trở thành nền tảng thực sự của
chính trị, phục hồi lại kinh nghiệm cá nhân để nó trở thành thước đo tiên
khởi của sự vật, đặt đạo đức cao hơn chính trị và đặt trách nhiệm cao hơn
mục đích, mang lại ý nghĩa cho tính cộng đồng nhân loại, mang lại nội dung
cho tiếng nói con người, tái lập cái “tôi” cao quí, trọn vẹn và tự chủ để
nó trở thành tiêu điểm của mọi sự kiện xã hội, cái “tôi” tự bảo
đảm về bản
thân bởi nó gắn liền với cái gì đó cao cả hơn, cái “tôi” có khả
năng hi sinh chút gì hay trong trường hợp cần thiết nhất có thể hi sinh tất
cả mọi thứ trong cuộc sống riêng tư sung túc và nhạt nhẽo của mình – cuộc
sống dưới “sự ngự trị của ban ngày”, như Jan Patočka vẫn nói – để làm cho cuộc sống ấy có ý nghĩa. Trong cuộc đấu
tranh rất khiêm nhường nhưng đồng thời luôn có ý nghĩa quyết
định toàn cầu nhằm chống lại sự vận động của thứ quyền
lực vô nhân xưng này, nếu như do sự ngẫu nhiên của nơi cư trú chúng
ta buộc phải đối mặt với một nhà quản lí phương Tây hay với một vị quan chức
phương Đông – thì điều đó thực sự không quan trọng lắm nữa! Một khi con
người được bảo vệ, thì – có lẽ – sẽ có một hy vọng nào đó (mặc dù không có
nghĩa là đương nhiên) rằng anh ta sẽ tự tìm được những biện pháp hợp lý
hơn để cân bằng những đòi hỏi tự nhiên được cùng quyết định kinh tế về công
việc của mình và được có một địa vị xã hội được tôn trọng với động cơ cho mỗi
công việc đã được kiểm nghiệm, đó là tính năng động sáng tạo của con người, và
việc đưa được thành quả của công việc ấy vào trong những mối quan hệ thị trường
đích thực. Nhưng chừng nào con người còn chưa được bảo vệ,
thì chẳng thủ thuật kĩ thuật hay tổ chức của hoạt động kinh tế tốt hơn nào
có thể cứu được anh ta, cũng như chẳng có bộ lọc lắp đặt trên ống
khói nhà máy nào ngăn chặn được quá trình hủy hoại nhân tính đang diễn ra
khắp nơi. Xét cho cùng điều quan trọng hơn là tại sao hệ thống hoạt động
chứ không phải hệ thống đó hoạt động như thế nào; hay chẳng lẽ nó không thể hoạt động tương đối hữu hiệu để rồi phá hủy tất cả hay sao?
Nhưng
vì sao tôi lại nói tất cả những chuyện này ở đây: nhìn ra thế giới từ vị trí
mà số phận dành cho mình, tôi không thể gạt đi cảm giác là nhiều người ở
phương Tây vẫn còn chưa hiểu rõ điều gì đang thực sự là vấn đề tại thời
điểm này.
Thí
dụ, nếu xem lại hai phương án chính trị chủ yếu đang làm các nhà trí thức
phương Tây lưỡng lự, thì tôi có cảm giác rằng đấy không là gì khác ngoài
hai cách tiếp nhận trò chơi mà quyền lực vô nhân xưng mang đến, và vì vậy cũng
chỉ là hai con đường khác nhau cùng hướng tới chủ nghĩa toàn trị toàn cầu.
Cách tiếp nhận cuộc chơi thứ nhất là tiếp tục trò đùa giỡn của lí
trí vô nhân xưng với những bí ẩn của vật chất – trò chơi “đóng vai Chúa
Trời” – nghĩa là tiếp tục không ngừng phát minh và
triển khai những vũ khí có sức phá hoại triệt để nhằm “bảo vệ nền
dân chủ” và chỉ làm cho nền dân chủ càng tiếp tục suy thoái đến mức trở
thành một “giả tưởng phi sự sống”, cái mà từ lâu chủ nghĩa xã hội ở phần
Châu Âu của chúng ta đã trở thành. Cách tiếp nhận cuộc chơi thứ hai ngược lại
giống như cơn lốc xoáy đầy ma lực đã cuốn hút vào nó biết bao nhiêu con
người chân thành và tử tế, và được gọi là cuộc đấu tranh vì hòa bình. Dĩ
nhiên là không phải lúc nào cũng đúng như vậy, song nhiều khi nó gây cho tôi
cảm giác như cơn lốc xoáy này được tạo dựng cũng bởi cái quyền lực vô
nhân xưng xảo trá thâm nhập khắp nơi, cài bẫy như một phương tiện thi vị hơn
nhằm nô dịch ý thức của con người (xin chú ý: quyền lực vô nhân xưng mà tôi nói
đến là nguyên lí mang tính toàn cầu và tất cả, chứ không chỉ riêng Moskva mà
thật ra đã không còn phương tiện để tổ chức một việc tầm cỡ như phong trào
hòa bình đương thời!). Bởi trong thế giới của chủ nghĩa duy lí và ý thức hệ
này, còn có biện pháp nào làm vô hiệu hóa con người trung thực có tư
duy tự do (mối đe dọa chính của mọi quyền lực vô nhân xưng) tốt hơn là đưa cho anh
ta một luận điểm đơn giản nhất nếu có thể với tất cả những đặc tính rõ
ràng của một mục tiêu cao cả? Có thể tưởng tượng điều gì có thể cuốn
hút, sử dụng, và làm chủ một
tâm trí công bình một cách hiệu quả và bằng cách ấy dần dần làm cho nó trở
thành vô hại về mặt trí tuệ – hơn là cơ hội đấu tranh chống chiến tranh? Và
có phương pháp nào làm nguôi tâm trí một cách dối trá và khôn ngoan hơn là tạo cho người
ta ảo tưởng rằng họ có thể ngăn chặn được chiến tranh bằng cách phản đối triển
khai những vũ khí mà đằng nào cũng sẽ được triển khai? Khó có thể tưởng tượng
được biện pháp nhằm đưa tư tưởng con người đến với chủ nghĩa toàn trị dễ dàng
hơn thế: rốt cuộc việc triển khai vũ khí càng trở nên hiển nhiên, thì tâm
trí của những người dành trọn sức lực cho cuộc đấu tranh nhằm ngăn chặn việc
triển khai đó càng nhanh chóng trở nên cực đoan, cuồng tín và cuối cùng
hoàn toàn xa rời với chính nó. Và như vậy con người lên đường với ý định
cao thượng nhất lại kết thúc ở chính nơi mà quyền lực vô nhân xưng muốn có
anh ta: trên đường ray dẫn tới tư duy toàn trị, nơi anh ta không còn là chủ
bản thân và nơi anh ta từ bỏ lí trí và lương tâm của mình vì lợi ích của một
cái “giả tưởng phi sự sống” tiếp theo! Nếu đạt được mục tiêu giả
tưởng đó, thì chúng ta có gọi nó là “thịnh vượng nhân quần”, “chủ
nghĩa xã hội”, hay “hòa bình”, cũng không còn quan trọng nữa. Trên
quan điểm bảo vệ phương Tây và quyền lợi của nó, dĩ nhiên không phải đúng
đắn lắm khi ai đó nói rằng: “Thà bị nhuộm đỏ còn hơn là chết”, nhưng từ vị
trí của quyền lực vô nhân xưng toàn cầu (tức là vượt ra ngoài các khối liên
minh, hay là toàn hành tinh) như một cám dỗ thực sự ma quỉ bởi sự hiện diện
khắp nơi của nó – thì không thể mong gì hơn: khẩu hiệu đó là tín hiệu không
nhầm lẫn rằng người kêu gọi nó đã từ bỏ nhân tính của mình, từ bỏ khả năng
tự mình bảo đảm cho một điều gì cao cả, tức là khả năng sẵn sàng hi
sinh cuộc sống của bản thân trong trường hợp cấp bách cho ý nghĩa của điều
cao cả đó. Patočka từng viết rằng cuộc đời không sẵn sàng hi sinh
cho những điều làm cho nó có ý nghĩa là cuộc đời không đáng sống. Chỉ có
điều trong thế giới của những cuộc đời như thế và “hòa bình” như thế (nghĩa là
nơi “ban ngày ngự trị”) thì chiến tranh lại dễ xảy ra nhất: vì nơi đó thiếu
chướng ngại vật đạo đức duy nhất và thực sự – cái được đảm bảo bởi lòng
dũng cảm hi sinh cao cả nhất – để chống lại chiến tranh. Cánh cửa cho việc đảm
bảo quyền lợi một cách phi lí được rộng mở. Sự thiếu vắng những người anh hùng
biết rằng vì sao họ chết, là bước đầu tiên trên con đường dẫn đến núi xương,
sông máu của những người bị giết hại chẳng khác gì súc vật. Nói cách khác, khẩu
hiệu “Thà bị nhuộm đỏ còn hơn là chết”, không làm tôi khó chịu vì nó giống
như lời tuyên bố đầu hàng trước Liên Xô. Nó khiến tôi sợ hãi vì nó giống như biểu hiện
gạt bỏ ý nghĩa cuộc sống của người phương Tây và giống như lá đơn họ đăng
ký tham gia vào cái quyền lực vô nhân xưng như vậy. Khẩu hiệu
đó thực ra nói rằng: chẳng có gì đáng để con người phải hi sinh cuộc đời.
Nhưng, thiếu chân trời của sự hi sinh cao cả nhất thì mọi hi sinh đều trở thành
vô nghĩa. Có nghĩa là: chẳng có gì đáng giá nữa. Chẳng còn gì có ý nghĩa nữa.
Đó là triết lý phủ nhận toàn bộ nhân tính con người. Triết lý này tuy chỉ
trợ giúp cho chế độ toàn trị Xô Viết về mặt chính trị, nhưng chính nó lại
trực tiếp tạo dựng chế độ toàn trị phương Tây .
Nói
tóm lại tôi không thể gạt bỏ cảm giác rằng nền văn hóa phương Tây là mối đe
dọa của chính mình, mối đe dọa lớn hơn nhiều lần tên lửa SS-20 (tên lửa hạt
nhân của Liên Xô – ND). Khi một sinh viên cánh tả người Pháp với ánh mắt nhiệt
tình chân thành nói với tôi rằng Gulag là cái giá phải trả cho những lí tưởng
của chủ nghĩa xã hội còn Solzhenitsyn chỉ là kẻ hằn thù bất mãn thì tôi cảm
thấy thật sự buồn bã. Chả lẽ châu Âu không có khả năng rút ra bài học từ
lịch sử của chính mình? Chả lẽ chàng thanh niên đáng yêu đó thật sự không hiểu
rằng, ngay cả một dự án nhiều hứa hẹn nhất về “sự thịnh vượng chung cho tất cả”
cũng tự chứng tỏ sự vô nhân đạo trong khoảnh khắc khi nó đòi hỏi dẫu chỉ
một cái chết ép buộc (nghĩa là hoàn toàn không phải sự hy sinh cuộc sống
có ý thức vì ý nghĩa của nó), chả lẽ anh ta thực sự không hiểu điều đó trước
khi bị đưa vào trại cải tạo ở gần Toulouse? Chả lẽ “ngôn ngữ mới”[2] của
thế giới ngày nay đã lấn át một cách hoàn hảo ngôn ngữ tự nhiên của loài người
đến mức hai con người không thể chia sẻ với nhau thậm chí về một trải nghiệm
đơn giản nhất?
IV
Chắc chắn sau tất cả những lời phê
phán nghiêm khắc này, mọi người sẽ chờ đợi tôi phát biểu, điều gì theo tôi
thực sự là sự lựa chọn đầy đủ ý nghĩa cho người phương Tây khi đối mặt với
tình trạng chính trị tiến thoái lưỡng nan của thế giới ngày nay.
Có lẽ
như là hệ quả của tất cả những điều tôi vừa trình bày, tôi có cảm tưởng
rằng tất cả chúng ta, dù ở phương Tây, hay phương Đông, đều đang đứng trước một
nhiệm vụ cơ bản, tất cả những điều khác đều xuất phát từ đó. Nhiệm vụ đó là:
một cách thận trọng, chín chắn và chăm chú, đồng thời với tinh thần hi
sinh tận tụy, trên từng bước đi và ở mọi nơi, đương đầu với sự vận động phi
lí của quyền lực nặc danh, vô nhân xưng và vô nhân tính của những ý thức
hệ, những hệ thống, những bộ máy, quan liêu, của những ngôn ngữ giả tạo và
các khẩu hiệu chính trị; chống lại áp lực phức hợp và xa lạ về mọi
mặt của quyền lực đó – dù nó có diễn ra dưới hình thức tiêu thụ, quảng cáo,
đàn áp, công nghệ hay những lời tuyên truyền sáo rỗng (tất cả đều là anh em
ruột của chủ nghĩa cuồng tín và là cội nguồn của tư duy toàn trị); mặc mọi sự
chế nhạo, rút ra thước đo cho bản thân từ thế giới tự nhiên của mình, và trả
lại cho thế giới ấy tính định hướng đã bị phủ nhận của nó; kính trọng những giới
hạn của thế giới tự nhiên và những bí ấn đằng sau nó với sự khiêm nhường của
những hiền triết; công nhận rằng, trong trật tự của đời sống có những điều
rõ ràng vượt quá mọi thẩm quyền của chúng ta; luôn tìm lại mối liên hệ với
chân trời tuyệt đối của cuộc hiện sinh của chúng ta, cái mà, nếu chúng ta mong
muốn một chút, sẽ luôn có thể khám phá và trải
nghiệm được qua chính sự hiện sinh của mình; trong hành xử, luôn dựa vào
những kinh nghiệm, khuôn thước và nguyên tắc đã được tự mình chứng thực, không
thiên vị và không bị ý thức hệ kiểm duyệt; tin vào
tiếng nói của lương tâm hơn tất cả những suy đoán trừu tượng và không
cần dựng lên trách nhiệm nào khác ngoài trách nhiệm mà tiếng nói đó kêu gọi
chúng ta; không xấu hổ vì chúng ta có khả năng yêu thương, kết bạn, khả năng
đoàn kết, đồng cảm và tha thứ, mà ngược lại: giải phóng những giá trị căn
bản này của nhân loại khỏi cảnh lưu vong trong “đời sống cá nhân” và tiếp nhận
chúng như những giải pháp duy nhất đúng đắn để mang lại tính cộng đồng
nhân loại với ý nghĩa trọn vẹn nhất; để cho lí trí của mình dẫn dắt và
phụng sự sự thật trong mọi hoàn cảnh như phụng sự một kinh nghiệm thiết
yếu của chính mình.
Tôi biết rằng tất cả những điều này
nghe có vẻ quá chung chung, rất không cụ thể và thực tế, nhưng tôi xin cam đoan
rằng những từ ngữ có vẻ ngây thơ này được bắt nguồn từ kinh nghiệm với
thế giới rất cụ thể và không phải lúc nào cũng dễ dàng, và rằng
tôi biết điều tôi đang nói – nếu như được phép nói như vậy.
Những
chế độ toàn trị đương đại chính là đội quân tiên phong của quyền lực vô nhân
xưng, kéo thế giới đi theo con đường phi lí của nó với hai bên
đường là những giàn phóng hỏa tiễn và thiên nhiên bị tàn phá. Không thể
không nhìn thấy chúng, biện hộ cho chúng, không thể nhượng bộ chúng
hay chấp nhận luật chơi của chúng và bằng cách đó mà trở nên giống như chúng.
Tôi tin rằng cách hiệu quả nhất để đương đầu với các chế độ toàn trị đương thời
là nghiên cứu chúng một cách không định kiến, từ đó rút kinh nghiệm, và
chống lại chúng bằng sự khác biệt triệt để của mình trong cuộc chiến đấu
trường kì với cái ác, cái mà mặc dù những chế độ toàn trị là hiện thân rõ
ràng như vậy, nhưng nó vẫn ngự trị khắp nơi, thậm chí trong mỗi người chúng
ta. Mối nguy hiểm lớn nhất đối với cái ác này không phải là những tên lửa
hướng vào quốc gia này hay quốc gia kia, mà là sự phủ nhận cái ác đó một
cách nguyên tắc trong chính cấu trúc của bản tính con người ngày nay: con
người trở lại với chính mình, trở lại với trách nhiệm trước thế giới; là cách
hiểu mới mẻ về quyền con người và sự kiên trì đòi hỏi quyền lợi đó; là
sự phản kháng chống mọi biểu hiện của quyền lực vô nhân xưng và những quyền
lực được đặt bên ngoài khái niệm thiện và ác, ở mọi nơi mọi chốn, cho
dù nó có ngụy trang những mánh lới và thao túng của mình như
thế nào, chẳng hạn như là việc cần thiết tự vệ trước chế độ toàn trị.
Cách chống chủ nghĩa toàn trị hữu hiệu nhất là đơn giản đẩy nó ra khỏi tâm hồn
mình, ra khỏi môi trường quanh mình, ra khỏi xứ sở của mình, đẩy nó ra khỏi
con người đương đại. Cách giúp đỡ những người đang chịu khổ nạn trong
nhà nước toàn trị hữu hiệu nhất là phản kháng lại cái ác này ở khắp mọi nơi
trên thế giới, cái ác đã cấu thành hệ thống toàn trị, cái là cội nguồn sức
mạnh của nó và từ đó đội “tiên phong” của hệ thống toàn trị đã trưởng
thành. Nếu không có gì để tạo dựng nên đội quân tiên phong hay những mầm mống
cực đoan, thì hệ thống đó sẽ không còn đất để sống. Trách nhiệm được khôi
phục lại của con người là chướng ngại vật tự nhiên nhất trước mỗi hành động
vô trách nhiệm; thí dụ, nếu tiềm năng tinh thần và kĩ nghệ của thế
giới tiên tiến được truyền bá một cách thực sự có trách nhiệm – chứ
không phải chỉ là dưới áp lực của lợi ích ích kỉ về lợi nhuận – thì có thể ngăn
chặn, không để cho tiềm năng đó biến thành vũ khí hủy diệt một
cách tùy tiện: nhất định rằng hành động để phòng ngừa nguyên nhân có ý
nghĩa gấp nhiều lần việc xử lý hậu quả mà thông thường cũng không thể bằng cách
nào khác hơn là bằng chính những phương tiện của hệ thống này, nghĩa là
đều phi đạo đức như nhau. Đi theo con đường đó là tiếp tục truyền bá cái ác
của thái độ vô trách nhiệm và như vậy là tạo ra chính độc tố nuôi sống chủ
nghĩa toàn trị.
Tôi
ủng hộ “chính trị phi chính trị”. Nghĩa là chính trị không phải như công nghệ
quyền lực và thao túng với quyền lực, hay công nghệ quản lý con người mang
tính điều khiển học hay như kĩ sảo của tính mục đích, thực dụng và mánh khóe, mà chính trị như một
trong những biện pháp tìm tòi và đạt được ý nghĩa trong cuộc sống,
bảo vệ và phụng sự cho ý nghĩa ấy; chính trị như đạo đức được áp dụng trong
thực tế, như sự phụng sự cho sự thật, như sự quan tâm chăm sóc thật sự nhân
bản đối với đồng loại được dẫn dắt bởi những thước đo mang tính con
người. Trong thế giới ngày nay, có lẽ đó là biện pháp rất không thực tế và
rất khó áp dụng trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên tôi không biết một lựa
chọn nào tốt hơn thế.
V
Khi
bị kết án và chịu án tù sau đó, tôi đã trực tiếp nhận biết được ý nghĩa và
sức mạnh quý báu của tình đoàn kết quốc tế. Tôi sẽ mãi mãi biết ơn tất cả
những biểu hiện của tình đoàn kết đó. Tuy vậy, tôi không nghĩ rằng, chúng tôi,
những người đang tìm cách nói lên sự thật trong hoàn cảnh của mình nơi đây,
đang ở vị thế “bất đối xứng”, rằng chúng tôi là những người mãi yêu cầu và chờ
đợi sự giúp đỡ, mà sẽ không có khả năng giúp đỡ lại những người đang giúp đỡ
chúng tôi.
Tôi
tin rằng, cá nhân được gọi là “người bất đồng chính kiến” trong khối Xô Viết,
đang phải nếm trải một kinh nghiệm đặc thù đương đại nhất định, đó là kinh
nghiệm của cuộc sống trong tiền đồn cực cùng của quyền lực đương đại đã mất
đi nhân tính. “Người bất đồng chính kiến” như thế có cơ hội và thậm chí có
trách nhiệm phản ánh, chứng thực kinh nghiệm này và truyền đạt lại cho những
người may mắn không phải nếm trải nó. Như vậy cả chúng tôi cũng có cơ hội giúp
đỡ, bằng cách nhất định, những người đang giúp đỡ chúng tôi, giúp đỡ họ vì
quyền lợi chung sâu sắc của chúng ta, vì quyền lợi của con người.
Kinh nghiệm căn bản ấy là, điều mà tôi
gọi là “chính trị phi chính trị” là điều có thể và rằng nó có thể có hiệu
quả, mặc dù do bản chất của nó, việc tính toán trước bất cứ
hiệu quả gì là bất khả thi. Dĩ nhiên hiệu quả này có hình thù tương đối
khác với cái mà ở phương Tây người ta hiểu là thành công về mặt chính trị. Hiệu
quả này thường ngầm ẩn, gián tiếp, dài hạn và khó cân đong đo đếm; nhiều khi nó
chỉ tồn tại trong không gian không nhìn thấy được của ý thức xã hội, của lương
tâm, của vô thức, trong khi đó có lẽ hầu như không thể xác định được
nó mang lại giá trị ra sao trong không gian đó, và nó đóng góp đến
mức độ nào trong sự chuyển động nếu có của xã hội. Nhưng thực tế là – và
tôi cho rằng, đây là một kinh nghiệm có tính nguyên tắc và quan
trọng phổ quát – dù chỉ một con người,
dường như không có chút quyền lực nào, dám nói to lên sự thật và sẵn sàng bảo
vệ sự thật bằng chính bản ngã và chính cả sinh mạng của mình, sẵn sàng trả
giá đắt cho sự thật của mình, thì anh ta, ngạc nhiên thay, lại có sức
mạnh lớn hơn là hàng ngàn cử tri vô danh trong những điều kiện khác, ngay cả
khi về mặt hình thức anh ta đã bị tước quyền đầu phiếu. Rõ ràng là ngay cả
trong thế giới ngày nay, và thậm chí là ngay tại tiền đồn của chế độ toàn
trị, nơi cuồng phong đang xoay vần, vẫn có thể dùng trải nghiệm cá nhân và thế giới
tự nhiên để đương đầu với quyền lực “vô tội” và lột trần tội lỗi của nó,
như tác giả cuốn Quần đảo ngục tù (The Gulag Archipelago) đã làm. Rõ
ràng là sự thật và đạo đức có thể đặt nền móng cho một giải pháp
chính trị mới và ngay cả ngày nay chúng có thể có một quyền
năng chính trị không thể phủ nhận được: lời cảnh báo của một nhà khoa
học can trường đơn lẻ, bị vây hãm ở vùng sâu xa nào đó và bị cộng
đồng đầy khích động xung quanh khủng bố, còn được nghe thấy qua những ranh
giới lục địa và đánh thức lương tâm những kẻ có quyền uy nhất trên
thế giới rõ ràng hơn cả những đội quân lính đánh thuê tuyên truyền có
thể tự đánh thức mình. Rõ ràng là những khái niệm hoàn toàn mang tính cá
nhân như thiện và ác vẫn giữ được nội dung rành mạch của chúng và
trong những hoàn cảnh nhất định, chúng có thể làm rung chuyển quyền lực tưởng
chừng không lay chuyển nổi với toàn bộ quân đội, cảnh sát và bộ máy quan
liêu của nó. Rõ ràng là chính trị hoàn toàn không chỉ
luôn là việc của những chính trị gia chuyên nghiệp, và rằng chỉ một người
thợ điện bình thường, với trái tim được đặt đúng chỗ, có lòng tôn kính một điều
gì đó cao cả hơn anh ta và không sợ hãi, cũng có thể ảnh hưởng tới lịch sử
dân tộc mình.
Vâng,
“chính trị phi chính trị” là khả thi. Là chính trị “từ dưới lên”. Chính trị của
con người, chứ không phải của bộ máy. Chính trị xuất phát từ trái tim, chứ
không phải từ những luận điểm trừu tượng. Không phải ngẫu nhiên mà kinh nghiệm
đầy hi vọng ấy phải được thực hiện chính tại đây, nơi tiền đồn u
ám này. Sống dưới “sự ngự trị của ban ngày”, chúng ta phải lặn
xuống đáy giếng mới nhìn thấy được những vì sao.
Khi viết về Hiến chương 77, Jan
Patočka đã sử dụng khái niệm “tình đoàn kết của những người bị chấn động”. Đấy
là ông muốn nói đến những người dám đứng lên chống lại quyền lực vô nhân
xưng với một vũ khí duy nhất mà họ có: nhân tính của chính mình. Chẳng
lẽ viễn cảnh của một tương lai tốt đẹp hơn lại không phụ thuộc vào
một điều gì đó tương tự như cộng đồng quốc tế của những người bị chấn động,
những người bất chấp những ranh giới giữa các quốc gia, giữa
các hệ thống chính trị và các khối quyền lực, những người đứng
ngoài trò chơi chính trị truyền thống, không tha thiết đến tên tuổi và chức
vụ, những người cố gắng tạo nên sức mạnh chính trị thực sự từ hiện tượng
vốn bị các kỹ nghệ gia quyền lực ngày nay chế nhạo, đó là lương tâm con
người, hay sao?
[1]Chiếnthắng Pyrrhic là lấy từ tên vua Pyrrhus của Epirus, quân
đội của vị hoàng đế này đã bị thiệt hại nghiêm trọng, không thể phục hồ iđược,
sau khi đánh thắng người La Mã tại Heraclea vào năm 280 trước Công nguyên và tại
Asculum vào năm 279 trước Công nguyên trong cuộc chiến gọi là Chiến tranh
Pyrrhic–ND.
[2]‘newspeak’ – Thuật ngữ do nhà văn người Anh. G.
Orwell đặt ra trong tác phẩm
‘1984’.
No comments:
Post a Comment