ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
THỜ Ơ VÀ TRẦM CẢM
CHƯƠNG 4
THỜ Ơ VÀ TRẦM CẢM
Thờ
ơ là tin rằng: “Tôi không thể.” Đó là cảm thọ cho rằng chúng ta không thể làm
gì trước tình trạng của mình và không ai có thể giúp đỡ được. Đó là tuyệt vọng
và bất lực. Gắn liền với những suy nghĩ như: “Ai quan tâm chứ?”; “Có ích gì chứ?”;
“Chán quá”; “Việc gì phải bận tâm?”; “Dù sao thì tôi cũng không thể thắng được.”
Đây là vai trò được thể hiện bởi Eeyore, nhân vật ủ rũ trong bộ phim hoạt hình
“Winnie the Pooh”, khi tay này nói: “Thôi vậy. Dù sao thì cũng chẳng ích gì.” Chán
nản. Thất bại. Bất khả thi. Quá khó. Cô đơn. Bỏ cuộc. Cô lập. Xa lạ. Thu mình. Bị
cắt đứt với mọi người. Chán nản. Kiệt sức. Không thỏa mãn. Bi quan. Bất cẩn.
Không có khiếu hài hước. Vô nghĩa. Vô lý. Vô ích. Bất lực. Thất bại. Quá mệt mỏi.
Tuyệt vọng. Bối rối. Hay quên. Định mệnh. Quá muộn. Quá già. Quá trẻ. Máy móc. Số
phận. Tiêu cực. Cô đơn. Vô dụng. Lạc lõng. Vô nghĩa. U ám. Vô cảm.
Mục
đích sinh học của thờ ơ là để cầu cứu, nhưng một phần của cảm thọ đó là không
thể nào giúp đỡ được. Phần lớn người dân trên thế giới đang sống ở tầng thờ ơ.
Đối với họ, không có hy vọng là họ sẽ đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của mình,
cũng như không có sự giúp đỡ nào từ nơi khác.
Người
bình thường thường thờ ơ trong nhiều lĩnh vực của cuộc đời, nhưng chỉ đôi khi mới
phải đối mặt với thái độ thờ ơ tột cùng về toàn bộ cuộc sống của họ. Thờ ơ chứng
tỏ thiếu năng lượng sống và cận kề cái chết. Người ta quan sát được sự kiện này
trong vụ oanh tạc London thời Thế chiến II. Trẻ sơ sinh được đưa đến các nhà trẻ
và các khu vực an toàn xa xôi của nước Anh, nhu cầu về thể chất, dinh dưỡng và
y tế của các bé rất được chú ý. Tuy nhiên, những đứa trẻ sơ sinh này tỏ ra thờ
ơ và bắt đầu suy sụp; chúng mất cảm giác thèm ăn và tỷ lệ tử vong cao. Người ta
phát hiện được rằng thờ ơ, là kết quả của việc thiếu chăm sóc và gần gũi về mặt
tình cảm với mẹ. Đó là trạng thái cảm xúc chứ không phải thể chất. Thiếu tình
thương và trìu mến, chúng không còn ý chí (will[i]) sống.
Ở
nước ta, chúng ta thấy những khu vực kinh tế suy thoái, toàn bộ dân chúng khu vực
đó rơi vào trạng thái thờ ơ. Khi người dân từ những khu vực đó xuất hiện trên bản
tin truyền hình, họ thường có những lời bình luận như: “Khi tiền trợ cấp hết,
tôi đoán chúng tôi sẽ chết đói; chúng tôi chẳng còn hy vọng gì.”
Cảm
thọ thờ ơ trước kỹ thuật buông bỏ có thể biểu hiện dưới dạng kháng cự. Có thể bằng
thái độ và suy nghĩ như: “Dù thế nào thì cũng sẽ không hiệu quả”; “Có gì khác đâu?”;
“Tôi chưa sẵn sàng làm việc này”; “Tôi không cảm nhận được”; “Tôi bận lắm”;
“Tôi mệt mỏi với chuyện buông bỏ này”; “Tôi quên”; “Tôi chán quá rồi”; “Tôi buồn
ngủ quá.” Cách thoát khỏi thờ ơ là nhắc nhở mình về mục đích của mình, đó là
vươn lên tầng cao hơn và tự do hơn, trở thành hiệu quả và hạnh phúc hơn, và
buông bỏ kháng cự đối với chính kỹ thuật đó.
“Tôi không thể” và “Tôi
không muốn”
Một
cách khác để thoát khỏi thờ ơ là xem xét lợi ích mà chúng ta nhận được từ thái
độ thờ ơ. Lợi ích đó có thể nằm ở những lời bào chữa nhằm giữ thể diện, để che
đậy thái độ thực sự là sợ hãi. Vì trên thực tế, chúng ta là những sinh vật rất
có khả năng, hầu hết “Tôi không thể” thực ra là “Tôi không muốn”. Đằng sau những
câu “Tôi không thể” hay “Tôi không muốn” thường là sợ hãi. Sau đó, khi chúng ta
nhìn vào sự thật đằng sau cảm thọ đó, là chúng ta chuyển từ thờ ơ sang sợ hãi.
Sợ hãi là trạng thái năng lượng cao hơn so với thờ ơ. Ít nhất, sợ hãi bắt đầu
thúc đẩy chúng ta hành động và, trong hành động đó, chúng ta có thể lại buông bỏ
sợ hãi và chuyển lên trạng thái tức giận, hoặc tự hào hoặc can đảm, tất cả đều
là những trạng thái cao hơn so với thờ ơ.
Xin
xem xét một vấn đề điển hình của con người và theo dõi cách thức hoạt động của buông
bỏ để giải phóng chúng ta khỏi ức chế. Nói trước công chúng là một trong những ức
chế phổ biến nhất. Ở tầng thờ ơ trong lĩnh vực này, chúng ta nói: “Vâng, tôi
không thể nào nói trước công chúng. Quá sức chịu đựng của mình. Dù sao thì cũng
chẳng có người nào muốn nghe tôi nói. Tôi chẳng có gì đáng nói hết.” Nếu tự nhắc
nhở mình về ý định của chúng ta, chúng ta sẽ thấy rằng thờ ơ chỉ đơn giản là
che đậy sợ hãi. Giờ đây, ý nghĩ nói trước công chúng mới đáng sợ, chứ không phải
là vô vọng. Thế là rõ. Sự thật không phải là chúng ta “không thể”, mà chỉ đơn
giản là chúng ta “sợ”.
Khi
sợ hãi xuất hiện và được buông bỏ, chúng ta nhận thức được sự kiện là chúng ta
muốn làm chính cái mà chúng ta sợ. Giờ đây, khi nhìn vào mong muốn đó - vốn bị
cản trở bởi sợ hãi và có lẽ còn bị trầm trọng thêm bởi u sầu về những cơ hội đã
mất trong quá khứ - thì sẽ xuất hiện tức giận. Lúc này, chúng ta đã chuyển từ
thờ ơ thành u sầu, rồi thành mong muốn, và lên tới trạng thái tức giận. Tức giận
có nhiều năng lượng và khả năng hành động hơn. Tức giận thường biểu hiện dưới dạng
oán hận, chẳng hạn như oán hận vì chúng ta đã đồng ý nói trước đám đông và lúc
này cảm thấy bắt buộc phải làm việc đó.
Cũng
có tức giận về thái độ sợ hãi của chúng ta. Trong quá khứ, sợ hãi từng cản trở,
không cho chúng ta thành công như mong đợi, và tức giận dẫn đến quyết định làm việc
gì đó để thay đổi nó. Quyết định có thể là tham gia một khóa học thuyết trình
trước công chúng. Khi đăng ký khóa học thuyết trình trước công chúng là chúng
ta chuyển sang trạng thái năng lượng của tự hào, vì cuối cùng chúng ta đã dám
đương đầu với thử thách và đang làm việc gì đó để thay đổi nó. Trên đường đến
khóa học thuyết trình, sợ hãi lại trỗi dậy. Khi liên tục thừa nhận và buông bỏ sợ
hãi, chúng ta nhận ra rằng mình có đủ can đảm để đối mặt với sợ hãi và hành động
để vượt qua nó.
Tầng
can đảm có rất nhiều năng lượng. Năng lượng thể hiện dưới dạng buông bỏ sợ hãi,
tức giận và ham muốn còn sót lại, để rồi trong khi theo học thuyết trình, chúng
ta đột nhiên trải nghiệm thái độ chấp nhận. Chấp nhận là giải thoát khỏi kháng
cự, mà trước đây từng thể hiện bằng những hình thức như sợ hãi, thờ ơ và tức giận.
Lúc này, chúng ta bắt đầu trải nghiệm niềm vui. Tự tin vì đã chấp nhận: “Tôi có
thể làm được.” Ở tầng chấp nhận, có nhận thức sâu sắc hơn về tha nhân, vì vậy
trong lớp học thuyết trình, chúng ta nhận thức được sự đau đớn, khổ sở và xấu hổ
của những người khác trong lớp học này và bắt đầu quan tâm đến họ.
Khi
tâm từ bi đối với tha nhân xuất hiện, tự ý thức rằng mình tách biệt với người
khác cũng không còn. Vị tha thì sẽ có bình an. Trên đường về nhà sau lớp học,
chúng ta trải nghiệm trạng thái mãn nguyện nội tâm, cảm giác rằng chúng ta đã
trưởng thành, chúng ta đã chia sẻ với người khác. Trong trải nghiệm chia sẻ,
chúng ta quên chính mình trong vài phút và quan tâm nhiều hơn đến hạnh phúc của
người khác. Chúng ta vui mừng trước thành tựu của người khác. Trong trạng thái
này, xuất hiện ân sủng mang tính chuyển hoá, phát hiện được tâm từ bi bên trong
chúng ta, cảm giác kết nối với người khác và từ bi trước những đau khổ của họ.
Khi quá trình này phát triển một cách đầy đủ, chúng ta có thể chia sẻ với người
khác về việc chúng ta đã từng sợ nói trước đám đông đến mức nào, những bước
chúng ta từng làm để vượt qua nỗi sợ đó, những thành công chúng ta đã đạt được,
gia tăng lòng tự trọng và những thay đổi tích cực trong các mối quan hệ của
chúng ta.
Toàn
bộ quá trình này là nền tảng của sức mạnh to lớn của các nhóm tự giúp nhau:
chia sẻ những trải nghiệm nội tâm từ tầng thấp nhất đến cao nhất trên thang cảm
xúc. Những việc ban đầu tưởng chừng là đáng sợ và choáng ngợp thì giờ đây đã được
vượt qua và xử lý, kết quả là sức sống và hạnh phúc tăng lên. Lòng tự trọng gia
tăng sau đó lan tỏa sang các lĩnh vực khác của cuộc đời, và thái độ tư tin gia
tăng thì sung túc về vật chất và khả năng làm việc cũng gia tăng. Ở tầng này,
yêu thương thể hiện qua việc chia sẻ và khuyến khích người khác, và các hoạt động
của chúng ta mang tính xây dựng chứ không còn phá hoại nữa. Năng lượng tỏa ra lúc
này là tích cực và thu hút người khác, tạo ra phản hồi tích cực và thường xuyên.
Một
khi đã trải nghiệm tiến trình thăng tiến trên thang đo cảm xúc ở bất kỳ một
phương diện cụ thể nào, chúng ta sẽ bắt đầu nhận ra rằng mình hoàn toàn có thể
áp dụng điều đó vào những khía cạnh còn đang bị trói buộc khác trong cuộc sống.
Đằng sau tất cả những câu “Tôi không thể” chỉ đơn giản là “Tôi không muốn”.
“Tôi không muốn” có nghĩa là “Tôi sợ”, “Tôi xấu hổ”, hoặc “Tôi kiêu ngạo quá,
không dám thử, vì sợ thất bại”. Đằng sau nó là tức giận với chính bản thân mình
và hoàn cảnh do kiêu hãnh gây ra. Thừa nhận và buông bỏ những cảm xúc này sẽ
giúp chúng ta có được can đảm, và cùng với đó là chấp nhận và bình an nội tâm,
ít nhất là đối với những khó khăn đã được vượt qua.
Thờ
ơ và trầm cảm là cái giá phải trả vì đã bằng lòng với và chấp nhận sự nhỏ bé của
chính mình. Đó là những gì chúng ta nhận được khi đóng vai nạn nhân và để chính
mình bị lập trình. Đó là cái giá chúng ta phải trả vì đã chấp nhận thái độ tiêu
cực. Đó là kết quả của việc chống lại phần yêu thương, can đảm và vĩ đại trong
chính mình. Đó là kết quả của việc cho phép chính mình hoặc người khác phủ nhận
con người mình; đó là hậu quả của việc tự đặt mình vào bối cảnh tiêu cực. Trên
thực tế, đó chỉ là định nghĩa về chính mình mà chúng ta vô tình cho phép nó xảy
ra. Muốn thoát khỏi tình trạng này thì phải trở nên có ý thức hơn.
“Trở
nên ý thức hơn” nghĩa là gì? Trước hết, trở nên ý thức hơn có nghĩa là bắt đầu
tìm kiếm sự thật cho chính mình, thay vì mù quáng để mình bị lập trình, dù là từ
bên ngoài hay do tiếng nói nội tâm, luôn luôn tìm cách làm suy yếu và phủ nhận,
tập trung vào tất cả những thứ yếu đuối và bất lực. Để thoát khỏi tình trạng
này, chúng ta phải nhận trách nhiệm: mình đã chấp nhận tiêu cực và sẵn sàng tin
vào nó. Vì vậy, muốn thoát khỏi tình trạng này thì phải bắt đầu đặt câu hỏi về
mọi thứ.
Có
nhiều mô hình mô tả tâm trí. Một trong những mô hình gần đây nhất là mô hình
máy tính. Chúng ta có thể xem các khái niệm, suy nghĩ và hệ thống niềm tin của
tâm trí như những chương trình. Vì chúng là chương trình, chúng có thể bị chất
vấn, hủy bỏ và đảo ngược; các chương trình tích cực có thể thay thế các chương
trình tiêu cực nếu chúng ta lựa chọn như thế. Khía cạnh nhỏ bé hơn của bản thân
chúng ta rất sẵn sàng chấp nhận lập trình tiêu cực.
Nếu
nhìn vào nguồn gốc của những suy nghĩ, bắt đầu xác định nguồn gốc của chúng, và
ngừng thói phù phiếm khi gán cho chúng là “của tôi” (và do đó là bất khả xâm phạm),
chúng ta sẽ thấy rằng suy nghĩ có thể được nhìn nhận theo lối khách quan. Chúng
ta thấy rằng nguồn gốc của chúng thường là sự nhào nặn trong thời thơ ấu, từ
cha mẹ, gia đình và thầy cô; cùng với những mảnh vụn thông tin rơi rớt mà ta nhặt
nhạnh được từ bạn bè, báo chí, phim ảnh, truyền hình, truyền thanh, giáo hội,
tiểu thuyết, và cả những dữ liệu tự động nạp vào qua các giác quan. Tất cả những
việc này diễn ra một cách vô thức mà không cần chúng ta thực hiện bất kỳ sự lựa
chọn có ý thức nào. Không chỉ vậy, mà từ vô thức, vô minh, ngây thơ và cả tin của
chúng ta, cộng với bản chất của chính tâm trí, chúng ta đã trở thành tổng hợp của
tất cả những rác rưởi tiêu cực đang lan tràn trên thế giới này. Hơn nữa, chúng
ta kết luận rằng những thứ đó áp dụng cho chính chúng ta. Khi trở thành người có
nhận thức hơn, chúng ta bắt đầu nhận ra rằng mình có lựa chọn. Chúng ta có thể
ngừng trao quyền lực cho tất cả các suy nghĩ trong tâm trí, bắt đầu nghi ngờ
chúng và tự mình tìm hiểu xem liệu chúng có thực sự có bất kỳ sự thật nào hay
không.
Cảm
giác thờ ơ gắn kết với niềm tin: “Tôi không thể”. Tâm trí không thích nghe sự
thật này, nhưng trên thực tế, hầu hết những câu: “Tôi không thể” đều là: “Tôi
không muốn”. Lý do tâm trí không muốn nghe sự thật này là vì “Tôi không thể” là
biện pháp che đậy những cảm xúc khác. Những cảm xúc này có thể được nhận thức bằng
cách đặt câu hỏi giả định cho chính mình: “Có đúng là tôi sẽ không làm chứ
không phải là tôi không thể làm? Nếu tôi chấp nhận rằng ‘Tôi không thích’, thì
sẽ xảy ra những tình huống nào và tôi sẽ cảm thấy như thế nào?”
Ví
dụ, giả sử chúng ta có một hệ thống niềm tin rằng mình không thể nhảy van. Chúng
ta tự nhủ: “Có lẽ đó là một cách che đậy. Có lẽ sự thật là tôi không muốn và
tôi sẽ không nhảy.” Biện pháp để chúng ta tìm ra những cảm thọ đó là hình dung mình
đang trải qua quá trình học nhảy. Khi chúng ta làm như thế, tất cả những cảm thọ
liên quan bắt đầu xuất hiện:
Ngượng
ngùng, kiêu ngạo, vụng về, nỗ lực to lớn khi học một kỹ năng mới, và sự miễn cưỡng
về thời gian và năng lượng. Khi thay thế “Tôi không thể” bằng “Tôi không muốn”,
chúng ta sẽ khám phá được tất cả những cảm thọ này, và sau đó có thể buông bỏ.
Chúng ta thấy rằng học khiêu vũ có nghĩa là chúng ta phải sẵn sàng buông bỏ kiêu
hãnh. Chúng ta nhìn vào cái giá phải trả và tự hỏi: “Liệu tôi có sẵn sàng tiếp
tục trả cái giá này hay không? Liệu tôi có sẵn sàng buông bỏ sợ hãi rằng mình sẽ
không thành công hay không? Liệu tôi có sẵn sàng buông bỏ việc chống lại nỗ lực
mà mình cần hay không? Liệu tôi có sẵn sàng buông bỏ sự phù phiếm để cho phép bản
mình trở thành vụng về như một người đang học hay không? Liệu tôi có thể buông
bỏ thái độ keo kiệt và nhỏ nhen của mình và sẵn sàng trả tiền cho những bài học
này và dành thời gian đi học hay không?” Khi tất cả những cảm thọ liên quan được
buông bỏ, thì rõ ràng lý do thực sự là không muốn - chứ không phải là không có
khả năng.
Cần
nhớ rằng chúng ta được tự do thừa nhận và buông bỏ cảm thọ của mình, và chúng
ta cũng được tự do không buông bỏ. Khi xem xét những câu “Tôi không thể” và nhận
ra rằng chúng thực chất là “Tôi không muốn”, không có nghĩa là chúng ta phải từ
bỏ những cảm thọ tiêu cực dẫn đến “Tôi không muốn”. Chúng ta hoàn toàn được tự
do từ chối buông bỏ. Chúng ta được tự do bám vào tiêu cực bao lâu cũng được.
Không có luật nào quy định rằng chúng ta phải từ bỏ tiêu cực. Chúng ta là những
con người tự do. Nhưng nhận ra rằng: “Tôi sẽ không làm việc gì đó” là cảm giác
hoàn toàn khác so với việc nghĩ rằng “Tôi là nạn nhân và tôi không thể làm”, tạo
ra một sự khác biệt to lớn trong nhận thức về chính mình. Ví dụ, nếu muốn, chúng
ta có thể ghét một người nào đó. Chúng ta có thể đổ lỗi cho họ. Chúng ta có thể
đổ lỗi cho hoàn cảnh. Nhưng là người có ý thức hơn và nhận ra rằng chúng ta có
quyền tự do lựa chọn thái độ như thế sẽ đưa chúng ta tới trạng thái tâm thức
cao hơn và do đó, tiến gần hơn tới sức mạnh đích thực và làm chủ hơn so với việc
trở thành nạn nhân bất lực của một cảm xúc nào đó.
Đổ lỗi
Một
trong những rào cản lớn nhất trong quá trình vượt qua chứng trầm cảm và thờ ơ
chính là đổ lỗi. Đổ lỗi là chủ đề riêng. Tìm hiểu nó là việc làm rất hữu ích.
Trước hết, có rất nhiều phần thưởng khi đổ lỗi. Chúng ta được coi là vô tội;
chúng ta vui khi than thân trách phận; chúng ta trở thành người tử đạo và nạn
nhân; và chúng ta được cảm thông.
Có
lẽ phần thưởng lớn nhất của việc đổ lỗi là chúng ta được coi là nạn nhân vô tội
và phía bên kia là người xấu. Chúng ta thấy trò chơi này được diễn đi diễn lại
trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chẳng hạn như những trò chơi đổ lỗi
bất tận được kịch tính hóa trong vô số cuộc tranh cãi, bôi nhọ, hạ bệ nhau và kiện
tụng. Ngoài phần thưởng về mặt cảm xúc, đổ lỗi còn mang lại những lợi ích đáng
kể về mặt tài chính; do đó, việc trở thành nạn nhân vô tội là khá hấp dẫn, vì
nó thường được đền bù về mặt tài chính.
Có
một ví dụ nổi tiếng về đổ lỗi xảy ra tại thành phố New York cách đây nhiều năm.
Xảy ra một vụ tai nạn trên phương tiện giao thông công cộng. Mọi người ào ra cửa
trước, rồi tụ tập thành một đám đông nho nhỏ, họ cung cấp tên và địa chỉ của mình
để được hưởng lợi về mặt tài chính trong tương lai. Những người xung quanh
nhanh chóng nhận ra trò chơi, và lén lút trèo vào cửa sau, rồi họ đi ra cửa trước
như là những người bị thương thực sự, là “những nạn nhân vô tội”. Họ thậm chí
còn không bị tai nạn, nhưng sẽ nhận được phần thưởng về mặt tài chính!
Đổ
lỗi là lời bào chữa lớn nhất trên đời. Nó cho phép chúng ta tiếp tục là người hạn
chế và nhỏ bé mà không có mặc cảm tội lỗi. Nhưng cái giá phải trả là mất tự do.
Ngoài ra, vai trò nạn nhân mang theo nhận thức về bản thân là yếu đuối, dễ bị tổn
thương và bất lực, đó là những thành phần chính của sự thờ ơ và trầm cảm.
Bước
đầu tiên để thoát khỏi đổ lỗi là nhận ra rằng chúng ta đang lựa chọn đổ lỗi. Những
người khác từng trải qua hoàn cảnh tương tự đã tha thứ, đã quên, và xử lý tình
huống tương tự theo cách hoàn toàn khác. Trước đó, chúng ta đã thấy trường hợp
của Viktor Frankl, ông quyết định tha thứ cho những tên cai ngục của Đức Quốc
xã và nhìn thấy món quà tiềm ẩn trong trải nghiệm của mình trong các trại tập
trung. Bởi vì những người khác, cũng như Frankl, quyết định không đổ lỗi, nên lựa
chọn đó cũng dành cho chúng ta. Chúng ta phải thành thật và nhận ra rằng chúng
ta đổ lỗi vì chúng ta chọn đổ lỗi. Đúng như thế, dù hoàn cảnh có vẻ chính đáng
đến đâu. Đó không phải là vấn đề đúng hay sai; đó chỉ đơn giản là vấn đề chịu
trách nhiệm trước lương tâm của chính mình. Nhận ra rằng chúng ta chọn đổ lỗi
thay vì nghĩ rằng chúng ta phải đổ lỗi là tình huống hoàn toàn khác. Trong trường
hợp này, tâm trí thường nghĩ: “Nếu người khác hoặc sự kiện khác không đáng
trách, thì tôi phải là người đáng trách.” Đổ lỗi cho người khác hoặc chính mình
đơn giản là không cần thiết.
Sức
hấp dẫn của đổ lỗi xuất hiện ngay từ thời thơ ấu, là hiện tượng xảy ra hàng
ngày trong lớp học, trên sân chơi và giữa các anh chị em trong nhà. Đổ lỗi là vấn
đề trung tâm trong các thủ tục tố tụng và kiện tụng không ngừng nghỉ, vốn là đặc
điểm của xã hội của chúng ta. Sự thực là, đổ lỗi chỉ là một trong những chương
trình tiêu cực mà chúng ta đã cho phép tâm trí mình chấp nhận vì chúng ta chưa
bao giờ dừng lại để đặt câu hỏi về nó. Tại sao mọi việc luôn phải là “lỗi” của một
người nào đó? Tại sao ngay từ đầu, toàn bộ khái niệm “sai” lại phải được đưa
vào tình huống này? Tại sao một người nào đó trong chúng ta phải sai, xấu, hoặc
có lỗi? Cái tưởng như là một ý tưởng hay vào thời điểm đó có thể hoá ra lại
không thu được kết quả tốt. Chỉ thế thôi. Những sự kiện không may có thể đã xảy
ra.
Muốn
vượt qua tâm lý đổ lỗi, thì cần phải nhìn thấu sự thỏa mãn và khoái cảm thầm kín
mà ta có được từ than thân trách phận, oán hận, tức giận và tự bào chữa, để rồi
bắt đầu buông bỏ tất cả những phần thưởng nhỏ nhặt này. Mục đích của bước đi này
là chuyển từ vị thế nạn nhân của cảm thọ sang người chủ động lựa chọn cảm thọ.
Nếu ta chỉ đơn thuần ghi nhận và quan sát, bắt đầu tháo rời và buông bỏ từng phần
cấu thành, thì đó chính là lúc ta đang thực thi lựa chọn một cách có ý thức. Bằng
cách này, chúng ta thực hiện một bước tiến lớn để thoát khỏi vũng lầy của bất lực.
Nhận
ra rằng những chương trình và cảm thọ tiêu cực của chúng ta xuất phát từ khía cạnh
nhỏ bé của chính mình sẽ giúp chúng ta vượt qua được kháng cự và nhận trách nhiệm
về những chương trình và cảm thọ tiêu cực này. Bản chất của phần nhỏ bé nhất
trong chúng ta là suy nghĩ tiêu cực, vì vậy xu hướng vô thức dễ dàng đồng ý với
quan điểm hạn hẹp của nó. Nhưng đó không phải là toàn bộ bản thể của chúng ta;
vì bên ngoài và vượt lên trên tự ngã nhỏ bé là Đại Ngã vĩ đại hơn của chúng ta.
Chúng ta có thể không ý thức được sự vĩ đại bên trong con người mình. Chúng ta
có thể không trải nghiệm được nó, nhưng nó vẫn có đó. Nếu buông bỏ kháng cự đối
với nó, chúng ta có thể bắt đầu trải nghiệm nó. Do đó, trầm cảm và thờ ơ là kết
quả của việc sẵn sàng bám víu vào tự ngã nhỏ bé và hệ thống niềm tin của nó, cộng
với kháng cự đối Đại Ngã Cao Hơn của chúng ta, trong đó có tất cả những thứ đối
lập với những cảm xúc tiêu cực.
Bản
chất của vũ trụ là vạn vật trong đó đều được đại diện bởi cái tương đương và ngược
lại của nó. Do đó, cái tương đương và ngược lại của electron là positron. Tất cả
các lực đều có phản lực, tương đương và theo chiều ngược lại. Âm được bù trừ bởi
Dương. Có sợ hãi nhưng cũng có dũng cảm. Có thù hận nhưng đối lập của nó là
tình yêu. Có nhút nhát nhưng cũng có can đảm. Có keo kiệt nhưng cũng có hào
phóng. Trong tâm lý của con người, mỗi cảm thọ đều có cái đối lập của nó. Do
đó, cách thoát khỏi tiêu cực là sẵn sàng thừa nhận và buông bỏ những cảm thọ
tiêu cực, đồng thời sẵn sàng buông bỏ chống lại cái đối lập với chúng là tích cực.
Trầm cảm và thờ ơ là kết quả của việc để cho tiêu cực ảnh hưởng tới mình. Nó hoạt
động như thế nào trong đời sống hàng ngày?
Xin
xem lại ví dụ về sinh nhật của một người nào đó đang đến gần. Vì những sự kiện
đã xảy ra trong quá khứ, chúng ta có oán hận và cảm thấy không muốn làm bất cứ việc
gì cho ngày sinh nhật đó. Bằng cách nào đó, dường như không thể ra ngoài để mua
quà mừng sinh nhật. Chúng ta bực bội vì phải chi tiền. Tâm trí tạo ra đủ loại
lý do để biện minh: “Tôi không có thời gian đi mua sắm”; “Tôi không thể quên việc
cô ta đã đối xử tệ với tôi như thế nào”; “Cô ta nên xin lỗi tôi trước.” Trong
trường hợp này, có hai thứ đang diễn ra: bám vào những thứ tiêu cực và sự nhỏ mọn
trong chính con người mình, và chống lại những thứ tích cực và sự vĩ đại trong
chính mình. Muốn thoát khỏi thờ ơ thì trước hết phải nhận ra rằng: “Tôi không
thể” thực chất là “Tôi không muốn”. Khi nhìn vào “Tôi không muốn”, chúng ta thấy
rằng nó xuất hiện là do những cảm thọ tiêu cực và khi chúng nổi lên, chúng ta
có thể thừa nhận và buông bỏ. Rõ ràng là chúng ta cũng đang chống lại những cảm
thọ tích cực. Những cảm thọ của yêu thương, hào phóng và tha thứ có thể được
xem xét từng cái một.
Chúng
ta có thể ngồi xuống và tưởng tượng phẩm chất của hào phóng và buông bỏ việc chống
lại nó. Trong chính chúng ta có cái gì là hào phóng hay không? Trong trường hợp
này, ban đầu chúng ta có thể không sẵn sàng áp dụng nó đối với người sắp sinh
nhật. Cái chúng ta có thể bắt đầu nhận ra là phẩm chất hào phóng đó có trong tâm
thức của mình. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng, khi buông bỏ kháng cự đối với cảm
thọ hào phóng, thì hào phóng sẽ có đó. Trên thực tế, trong những hoàn cảnh nhất
định, chúng ta thích cho người khác. Chúng ta bắt đầu nhớ lại những cảm thọ
tích cực ùa tới khi chúng ta thể hiện lòng biết ơn và ghi nhận những món quà mà
người khác đã tặng cho mình. Chúng ta thấy rằng mình thực sự kìm nén mong muốn
tha thứ, và khi buông bỏ kháng cự đối với tha thứ, thì sẵn sàng buông bỏ oán hận
sẽ xuất hiện. Khi làm được việc này, chúng ta ngừng đồng nhất với tự ngã nhỏ bé
của mình và nhận thức được rằng có một điều gì đó lớn lao hơn trong chúng ta.
Nó luôn có đó nhưng bị che khuất.
Có
thể áp dụng quá trình này cho bất kỳ tình huống tiêu cực nào. Nó tạo điều kiện
để chúng ta thay đổi bối cảnh và dùng nó để nhìn nhận tình huống hiện tại của
mình. Tạo điều kiện để chúng ta gán cho nó ý nghĩa mới và khác trước. Nó nâng
chúng ta từ vị thế nạn nhân bất lực thành người lựa chọn có ý thức. Trong ví dụ
vừa nói, điều đó không có nghĩa là chúng ta phải vội vàng đi mua quà mừng sinh
nhật. Nhưng điều đó có nghĩa là giờ đây chúng ta nhận thức được rằng mình đang ở
vị trí hiện tại là do lựa chọn của chính mình. Chúng ta hoàn toàn tự do, với phạm
vi hành động và lựa chọn rộng lớn hơn. Đây là trạng thái tâm thức cao hơn hẳn
so với nạn nhân bất lực bị mắc kẹt trong oán hận từ quá khứ xa xôi.
Một
trong những quy luật của tâm thức là: Chúng ta chỉ bị chi phối bởi suy nghĩ
hay niềm tin tiêu cực nếu chúng ta chủ động nói rằng nó áp dụng cho chính mình.
Chúng ta có quyền tự do lựa chọn không chấp nhận hệ thống niềm tin tiêu cực.
Nó
hoạt động như thế nào trong cuộc sống hàng ngày? Xin xem xét một ví dụ phổ biến.
Báo đưa tin tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức cao kỷ lục. Bình luận viên truyền hình
nói: “Không có việc làm nào hết.” Tại thời điểm này, chúng ta có quyền tự do từ
chối chấp nhận kiểu suy nghĩ tiêu cực này. Thay vào đó, chúng ta có thể nói:
“Thất nghiệp không áp dụng cho tôi.” Từ chối chấp nhận niềm tin tiêu cực, thì nó
không còn chi phối cuộc sống của chúng ta nữa.
Các
ví dụ từ trải nghiệm cá nhân cho thấy rằng, trong thời kỳ mà tỷ lệ thất nghiệp
cao như giai đoạn sau Thế chiến II, tìm việc làm không hề khó. Trên thực tế,
người ta có thể có hai hoặc thậm chí ba công việc cùng một lúc: rửa bát, bồi
bàn, người khuân vác hành lý, tài xế taxi, pha chế rượu, công nhân, công nhân làm
trong nhà kính và lau cửa kính. Đây là kết quả của hệ thống niềm tin nói rằng:
“Thất nghiệp chỉ áp dụng cho người khác chứ không phải tôi,” và “Có chí thì
nên.” Cũng có sẵn sàng từ bỏ thái độ kiêu ngạo để đổi lấy việc làm.
Một
ví dụ khác là hệ thống niềm tin liên quan đến dịch bệnh. Vài năm trước, trong một
đợt dịch cúm, mười bốn người quen được theo dõi sát sao. Trong số mười bốn người,
tám người bị cúm, nhưng sáu người khác thì không. Quan trọng ở đây không phải
là tám người bị cúm, mà là sáu người không bị! Trong bất kỳ dịch bệnh nào, đều
có những người không “bị nhiễm”. Ngay cả trong thời kỳ suy thoái kinh tế trầm
trọng nhất, vẫn có những người trở thành giàu có và thậm chí là triệu phú. Thời
đó, suy nghĩ về nghèo đói “dễ lây lan”, nhưng bằng cách nào đó những người này
không tin vào điều đó; do đó, nó không áp dụng đối với họ. Để tiêu cực tác động
đến cuộc sống của chúng ta, trước hết, chúng ta phải chấp nhận nó và thứ hai,
phải truyền cho nó năng lượng của niềm tin. Nếu chúng ta có khả năng biến tiêu
cực thành hiện thực trong cuộc đời, thì rõ ràng tâm trí của chúng ta cũng có khả
năng biến điều ngược lại thành sự thật.
Lựa chọn tích cực
Một
hiệu ứng đáng ngạc nhiên của sẵn sàng buông bỏ tiêu cực bên trong là khám phá
ra rằng có cực đối lập với những cảm thọ tiêu cực. Có thực tại bên trong mà
chúng ta có thể gọi là “sự vĩ đại bên trong” hay “Đại Ngã Cao Hơn”. Nó có sức mạnh
lớn hơn hẳn so với tiêu cực bên trong. Đổi lại việc buông bỏ những phần thưởng
mà chúng ta nhận được từ quan điểm tiêu cực, giờ đây chúng ta cảm thấy ngạc
nhiên bởi những phần thưởng tích cực bắt nguồn từ sức mạnh đích thực của những
cảm thọ tích cực. Ví dụ, khi chúng ta buông bỏ đổ lỗi, chúng ta trải nghiệm tha
thứ.
Đại
Ngã Cao Hơn của chúng ta, mà chúng ta có thể nói là sự tổng hợp của những cảm thọ
cao cả hơn, có khả năng gần như vô hạn. Nó có thể tạo ra cơ hội việc làm. Nó có
thể tạo ra những tình huống để hàn gắn các mối quan hệ. Nó có sức mạnh đích thực
để tạo ra cơ hội cho những quan hệ yêu thương, cơ hội tài chính và chữa lành về
thể chất. Khi chúng ta ngừng trao quyền lực và năng lượng cho tất cả các chương
trình tiêu cực bắt nguồn từ suy nghĩ của chính mình, là chúng ta ngừng trao sức
mạnh của mình cho người khác và bắt đầu lấy lại nó. Nó làm cho lòng tự trọng
tăng lên, khả năng sáng tạo quay trở lại và mở ra một tầm nhìn tích cực về
tương lai, thay thế cho sợ hãi.
Chúng
ta có thể làm thí nghiệm với người mà do
oán hận, chúng ta có quan hệ không tốt. Chúng ta có thể ngồi xuống và tự nhủ rằng
đây chỉ là thí nghiệm. Chúng ta tự nhủ, mục đích của việc này, chỉ đơn giản là
để học hỏi; nghĩa là, chúng ta muốn làm quen với các quy luật của tâm thức và
quan sát các hiện tượng xảy ra. Chúng ta thừa nhận những phần thưởng mà mình đã
nhận được từ những cảm thọ tiêu cực. Chúng ta buông bỏ từng thành phần và đồng
thời, buông bỏ kháng cự đối với phần bên trong con người mình, phần sẵn sàng
hàn gắn quan hệ. Lúc này, không cần phải có bất kỳ liên hệ cá nhân nào với người
kia. Chúng ta đang làm thí nghiệm này vì lợi ích của chính mình chứ không phải
vì họ.
Khi
nhìn vào bên trong chính mình, chúng ta tự hỏi: “Tức giận đang che giấu cái
gì?” Bên dưới tức giận, chúng ta có thể tìm thấy sợ hãi. Bên cạnh sợ hãi, chúng
ta cũng tìm thấy ghen tị. Chúng ta nhận thấy cạnh tranh và tất cả những thành
phần nhỏ bé khác của phức hợp cảm thọ cản trở quan hệ của chúng ta. Đồng thời
buông bỏ những thứ tiêu cực và buông bỏ kháng cự những thứ tích cực sẽ dẫn đến
thay đổi năng lượng bên trong, và đi kèm với nó là thay đổi tinh tế trong thái
độ tự trọng của chúng ta. Buông bỏ kháng cự của chúng ta đối với mong muốn để
điều gì đó tích cực xảy ra trong quan hệ này là tất cả những việc cần làm. Sau
đó, chúng ta chỉ cần ngồi xuống và quan sát những sự kiện đang xảy ra. Trong
thí nghiệm này, chúng ta không quan tâm đến việc người kia có “hiểu” hay không.
Chúng ta chỉ quan tâm đến cái chúng ta hiểu được. Chúng ta chỉ quan tâm đến việc
thay đổi quan điểm của chính mình trong vấn đề này, rồi sau đó, chúng ta chỉ cần
quan sát những sự kiện xảy ra. Một trải nghiệm rất bổ ích thường xảy ra sau đó,
và nó sẽ có những hình thức khác nhau, tùy hoàn cảnh.
Một
nguyên nhân khác tạo ra thờ ơ là dư vị của trải nghiệm quá tải đầy đau thương
trước đó nhưng chưa được giải quyết. Tâm trí phóng chiếu vào tương lai với kỳ vọng
rằng quá khứ sẽ lặp lại. Khi khám phá ra động lực vô thức này, chúng ta có thể
chọn nhìn nhận lại phức hợp cảm xúc, chia nó ra thành các thành phần, buông bỏ những
khía cạnh tiêu cực và buông bỏ kháng cự đối với những khía cạnh tích cực. Khi
làm như thế, quan điểm của chúng ta về tương lai sẽ thay đổi. Chúng ta có thể
tha thứ cho mình rằng, vào lúc bị choáng ngợp về mặt cảm xúc trước đó, chúng ta
đơn giản là không biết cách xử lý. Có rất nhiều dư vị làm cho chúng ta bị tê liệt
về mặt cảm xúc vào lúc đó. Nhưng, vì trong tiềm thức không có khái niệm thời
gian, chúng ta có thể chọn bất cứ lúc nào trong hiện tại để chữa lành sự kiện
trong quá khứ. Khi chúng ta trải qua quá trình chữa lành cảm xúc của chính mình
vì lợi ích của bản thân mình, thì sự kiện trong quá khứ giờ đây bắt đầu có ý
nghĩa khác. Đại Ngã Cao Hơn của chúng ta bắt đầu tạo ra một bối cảnh mới cho sự
kiện này. Chúng ta có thể nhìn thấy món quà bị che dấu. Cuối cùng, chúng ta có
thể thừa nhận với lòng biết ơn rằng nó đã cho chúng ta cơ hội mới để học hỏi, để
phát triển và để có trí tuệ.
Một
trong những lĩnh vực phổ biến nhất mà chúng ta thấy tổn thương về mặt cảm xúc
là sau khi ly hôn. Thường thì nó kéo theo cảm giác cay đắng và suy giảm khả
năng xây dựng quan hệ yêu thương mới. Việc không muốn buông bỏ đổ lỗi tiếp tục
gây ra tổn thương về mặt cảm xúc, có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí suốt đời.
Khi
đối mặt với cay đắng, cái chúng ta thực sự phát hiện ra là vùng tổn thương chưa
được chữa lành trong cấu trúc cảm xúc của chính mình, và nỗ lực mà chúng ta bỏ
ra để chữa lành nó sẽ mang lại những phần thưởng to lớn. Trong bất kỳ tình huống
nào liên quan đến đau khổ, chúng ta đều phải tự hỏi: “Tôi sẵn sàng trả giá bao
lâu? Những khuynh hướng nghiệp báo ban đầu là gì? Đổ lỗi bao nhiêu là đủ? Liệu
cần chấm dứt nó vào lúc nào? Tôi sẽ bám vào nó trong bao lâu? Tôi sẵn sàng hy
sinh bao nhiêu cho người khác vì những lỗi lầm của họ - dù có thật hay tưởng tượng?
Mặc cảm tội lỗi đến mức nào là đủ? Tự trừng phạt đến mức nào là đủ? Khi nào tôi
sẽ từ bỏ niềm vui thầm kín của việc tự trừng phạt? Khi nào bản án sẽ kết thúc?”
Khi thực sự xem xét kỹ lưỡng, chúng ta sẽ luôn luôn nhận ra rằng vì vô mimh, ngây thơ, thiếu trong sáng và thiếu đào
luyện ở bên trong mà mình đã tự trừng phạt chính mình.
Chúng
ta có thể tự hỏi: “Tôi đã từng được đào tạo về các kỹ thuật tự chữa lành cảm
xúc chưa? Khi đi học, họ có dạy tôi các khóa học về tâm thức hay không? Có ai từng
nói với tôi rằng tôi có quyền tự do lựa chọn những thứ đi vào tâm trí mình
không? Tôi có từng được dạy rằng tôi có thể từ chối tất cả những lập trình tiêu
cực hay chưa? Có ai từng nói với tôi về các quy luật của tâm thức hay không?” Nếu
không, tại sao tôi lại tự trách mình vì đã ngây thơ tin vào những thứ nào đó? Tại
sao không dừng việc tự trách mình ngay trong lúc này?
Tất
cả chúng ta đều làm những việc mà mình nghĩ là tốt nhất vào thời điểm đó. “Lúc
đó dường như đấy là một ý tưởng hay” là điều chúng ta có thể nói về những hành
động trong quá khứ của mình và của người khác. Tất cả chúng ta đều bị lập trình
một cách vô thức mà không có sự đồng ý có ý thức của mình. Do nhầm lẫn, vô minh
và ngây thơ, chúng ta đã chấp nhận những chương trình tiêu cực. Chúng ta để
chúng điều khiển chính mình. Nhưng giờ đây chúng ta có thể quyết định dừng lại.
Chúng ta có thể chọn hướng đi khác. Chúng ta có thể chọn trở nên có nhận thức
hơn, có ý thức hơn, có trách nhiệm hơn và sáng suốt hơn. Chúng ta có thể từ chối
ngồi đó như một chiếc máy ghi âm trống rỗng, tiếp nhận mọi chương trình mà thế
giới đưa cho chúng ta. Thế giới luôn luôn sẵn sàng lợi dụng sự ngây thơ của
chúng ta và chơi đùa với sự nhỏ bé của chúng ta, với tất cả sự phù phiếm và sợ
hãi của nó.
Khi
chúng ta nhận thức được cách mình bị thao túng, lợi dụng và lừa gạt, tức giận sẽ
xuất hiện. Hãy sẵn sàng đối mặt với nó. Tức giận là bình thường. Thà tức giận
còn hơn là thờ ơ. Trong cơn giận, chúng ta có rất nhiều năng lượng. Chúng ta có
thể làm việc gì đó. Chúng ta có thể hành động. Chúng ta có thể thay đổi suy
nghĩ. Chúng ta có thể đảo ngược hướng đi. Sau đó, thật dễ dàng để chuyển từ tức
giận sang can đảm. Ở tầng can đảm, chúng ta có thể nhìn nhận, xem xét và quan
sát cách mọi việc diễn ra.
Chúng
ta bắt đầu thấy rằng sự nhỏ mọn của mình là món đồ mà chúng ta tự rước vào mình.
Trong quá trình tìm hiểu, chúng ta sẽ tình cờ tìm thấy sự ngây thơ bên trong của
chính mình. Khi khám phá lại được điều đó, chúng ta có thể buông bỏ rất nhiều mặc
cảm tội lỗi. Khi mặc cảm tội lỗi biến mất, thì nhu cầu tự trừng phạt cũng biến
mất theo, và nó giúp chúng ta thoát khỏi thờ ơ và trầm cảm. Chúng ta có thể lựa
chọn khẳng định lại chính mình, giá trị của mình, và phẩm chất của mình. Và
chúng ta có thể thấy những người khác cũng bị lập trình y như chúng ta. Họ cũng
đang làm những việc mà họ nghĩ là tốt nhất vào thời điểm đó. Chúng ta không cần
phải đổ lỗi cho họ hay cho chính mình nữa. Chúng ta có thể từ bỏ trò chơi đổ lỗi
vì nó đã lỗi thời và không có hiệu quả.
Chọn bạn mà chơi
Một
kỹ thuật giá trị khác để thoát khỏi thờ ơ, trầm cảm và những tình huống bị chi
phối bởi suy nghĩ: “Tôi không thể”, chính là chủ động tìm đến những người đã giải
quyết được vấn đề mà ta đang phải chật vật đối phó. Đây là một trong những sức
mạnh to lớn của các nhóm tự giúp nhau. Khi rơi vào trạng thái tiêu cực, chúng
ta đã dành rất nhiều năng lượng cho những suy nghĩ tiêu cực, còn những suy nghĩ
tích cực thì rất yếu. Những người có tần số rung động cao hơn không bị ảnh hưởng
bởi năng lượng từ những suy nghĩ tiêu cực của họ và có những suy nghĩ tích cực
tràn đầy năng lượng. Chỉ cần ở bên cạnh họ thôi cũng đã có lợi rồi. Trong một số
nhóm tự giúp nhau, nó được gọi là “giao lưu với những người chiến thắng”. Lợi
ích ở đây nằm ở tầng tâm linh của tâm thức, có sự chuyển giao năng lượng tích cực
và thắp sáng lại những suy nghĩ tích cực tiềm ẩn của chính mình. Trong một số
nhóm tự giúp nhau, nó được gọi là “tiếp thu nhờ thẩm thấu”. Không cần phải biết
nó xảy ra như thế nào, chỉ cần biết rằng nó thực sự xảy ra.
Đây
là hiện tượng khá phổ biến. Ví dụ, trong xã hội của chúng ta, hầu hết mọi người
đều được huấn luyện để tư duy logic và thiên về bán cầu não trái. Tuy nhiên, một
số người bẩm sinh đã thiên về bán cầu não phải. Những người thiên về bán cầu
não phải thường có trực giác mạnh mẽ hơn, sáng tạo hơn, có khả năng giao tiếp theo
lối thần giao cách cảm và nhận thức về các hình thức tư duy và rung động năng
lượng. Trong đó, có khả năng nhìn thấy trường năng lượng sinh học xung quanh cơ
thể con người, gọi là hào quang. Khi ở bên cạnh những người có những khả năng như
thế, thì chia sẻ những khả năng đó là khả thi.
Hiện
tượng này hoàn toàn đúng, ngay cả với một nhà khoa học nam giới đầy hoài nghi, tư
duy theo lối logic và thiên về não trái, khi ở cùng những người có khả năng
nhìn thấy hào quang. Khi làm theo hướng dẫn của họ về cách quan sát, thật ngạc
nhiên là thực sự có một trường ánh sáng hiện hữu quanh đầu người ta. Đặc biệt,
hào quang quanh một người đàn ông trông gần giống như một luồng ngoại chất
(ectoplasm) treo lơ lửng chủ yếu ở phía tai trái. Tuy nhiên, ở phía bên phải đầu
thì hầu như không thấy gì hết. Để xác định xem hiện tượng này là thực hay chỉ
là trí tưởng tượng, tôi đã kiểm chứng bằng cách hỏi một người gần đó vốn rất
tinh thông việc nhìn hào quang. Cô ấy cũng nhìn thấy một vầng hào quang rất rộng
ở một bên và gần như không có ở bên kia.
Khả
năng nhìn thấy hào quang chỉ xuất hiện khi ở bên cạnh những người cũng có khả
năng đó. Sau khi đi ra khỏi nhóm có những người có thể nhìn thấy hào quang thì
khả năng này cũng không còn. Trong những năm sau, khi ở cùng những người bạn có
thể nhìn thấy hào quang, khả năng này đã quay trở lại. Một lần, khi ở bên cạnh một
nhà tâm lý học nữ giới trong một phòng khám—công việc của bà này là chẩn đoán
tâm linh bằng cách quan sát hào quang của mọi người và sự thay đổi màu sắc của
chúng—đột nhiên, xuất hiện không chỉ khả năng nhìn thấy hào quang, mà còn nhìn
thấy chúng với màu sắc rực rỡ và nhìn thấy hào quang thay đổi theo cảm xúc. Chỉ
bằng cách trò chuyện với nhà tâm lý học, khả năng đó đột nhiên xuất hiện.
Cứ
như thể khi chúng ta ở gần hào quang của những người có những khả năng nhất định,
một số khả năng có thể được chuyển giao. Nói một cách đơn giản, chúng ta bị ảnh
hưởng tích cực hoặc tiêu cực bởi những người mà chúng ta kết giao. Rất khó vượt
qua được ức chế nếu chúng ta chọn ở bên cạnh những người cũng có vấn đề tương tự.
Hiện
tượng này thể hiện rõ trong trường hợp một người phụ nữ đã ly hôn đến xin tư vấn.
Bà ta muốn biết liệu mình có nên trị liệu tâm lý hay không. Những triệu chứng của
bà ta là loét dạ dày tái phát và đau nửa đầu. Khi bà kể câu chuyện này thì phát
hiện được tâm trạng cay đắng sâu sắc về vụ ly hôn đầy bất hạnh và gây ra nhiều
vết thương lòng. Bà ta nói rằng đã tham gia một nhóm nâng cao tâm thức. Bà ta
mô tả nhóm này gần như toàn là những người phụ nữ đã ly hôn, cay đắng, giận dữ
và căm thù đàn ông. Như một nhóm người, họ nhận được rất nhiều phần thưởng từ thái
độ tiêu cực của mình. Trên thực tế, cuộc sống của họ thật buồn và đáng thương,
khi họ phải vật lộn để lấy lại lòng tự trọng thông qua những hành động cực đoan
và sự mất cân bằng cảm xúc.
Sau
khi nghe câu chuyện của bà này và tìm hiểu hoàn cảnh sống, chúng tôi nói rằng
thay vì trị liệu tâm lý, bà ấy nên làm theo một lời khuyên đơn giản trong vòng
ba tháng. Nếu không có hiệu quả, bà ấy có thể xem xét lại nhu cầu trị liệu tâm
lý. Lời khuyên đó chỉ đơn giản là thôi giao du với nhóm người này và với những
người bạn đầy cay đắng, đã ly hôn của bà ấy, và thay vào đó, kết giao với những
người đã thành công trong việc tái thiết lập các mối quan hệ dù trước đây họ đã
ly hôn.
Lúc
đầu, bà này phản đối và khẳng định rằng mình không có điểm chung nào với những
thành viên trong nhóm. Sau đó, bà ta thừa nhận hai sự thật cơ bản. Thứ nhất, xây
đắp quan hệ với những người tích cực sẽ giúp tiết kiệm được nhiều năng lượng. Thứ
hai, một trong những quy luật của tâm thức là “đồng thanh tương ứng, đồng khí
tương cầu”; cay đắng thu hút cay đắng, trong khi tình yêu thu hút tình yêu. Bà ấy
tự hỏi: “Thái độ cay đắng của tôi đã đưa tôi đến đâu? Tôi đã nhận được điều gì
tích cực và hữu ích từ thái độ đó hay chưa?” Sau một thời gian, bà ấy không còn
dành thời gian cho nhóm của mình nữa và bắt đầu theo đuổi các mối quan hệ với
những người lành mạnh và cân bằng hơn.
Khi
ở bên cạnh những người vui vẻ hơn, bà ấy phấn khởi nhận ra rằng mình đang giữ
trong lòng không biết bao nhiêu tiêu cực. Bà ta bắt đầu nhận thức được rằng
mình đang cố ý giữ tiêu cực và quyết định giữ chúng, và bắt đầu nhìn vào cái
giá phải trả cho những tiêu cực này. Toàn bộ cuộc sống xã hội của bà ấy đã thay
đổi. Bà ấy vui vẻ và hạnh phúc hơn. Chứng đau nửa đầu cũng biến mất. Cuối cùng,
bà ấy lại có người yêu và nói đùa rằng yêu đương là phương thuốc tốt nhất mà bà
ấy đã tìm được để chữa bệnh loét dạ dày!
Nếu
rơi vào trạng thái thờ ơ, chúng ta có thể khám phá được chương trình nằm bên dưới
bằng cách tự hỏi mình đang tìm cách chứng minh cái gì. Có phải chúng ta đang cố
gắng chứng minh rằng cuộc sống thật xấu xa? Đây là một thế giới vô vọng? Đó không
phải lỗi của chúng ta? Không thể tìm được tình yêu? Hạnh phúc là bất khả thi? Chúng
ta đang tìm cách biện minh cho cái gì? Chúng ta sẵn sàng trả giá bao nhiêu để
được “là người đúng”? Khi chúng ta thừa nhận và buông bỏ những cảm thọ khi
chúng vừa sinh khởi để trả lời những câu hỏi này, thì câu trả lời sẽ bắt đầu xuất
hiện.
[i] Will – Ý chí là khả năng lựa
chọn, quyết tâm và kiên trì theo đuổi một điều đã xác định, ngay cả khi gặp khó
khăn hay cám dỗ. Ý chí giúp con người biến ý định thành hành động và duy trì
hành động đó theo thời gian. Theo David R. Hawkins, ý chí là một năng lực quan
trọng trong sự phát triển của con người, nhưng chỉ phát huy trọn vẹn giá trị
khi được định hướng bởi Sự thật và những phẩm chất tích cực của tâm thức. Một ý
chí mạnh nhưng bị chi phối bởi tham vọng, sợ hãi hoặc bản ngã vẫn có thể dẫn đến
những hành động mang tính cưỡng lực (Force). Ngược lại, khi ý chí phục vụ cho
tình yêu thương, sự chính trực và tinh thần phụng sự, nó trở thành phương tiện
để biểu hiện Power (Sức mạnh đích thực). Trong bản dịch này, Will được dịch là
Ý chí để phân biệt với Intention (Ý định) – là chủ đích hoặc động cơ bên trong
thúc đẩy hành động.
No comments:
Post a Comment