Václav Havel
QUYỀN LỰC CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC
Tiểu luận chính trị
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang
Hiệu đính: Nhóm Văn Lang
Nhà xuất bản Giấy Vụn
Về ý nghĩa của hiến chương 77
(Nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Hiến chương 77, tháng 7 năm 1986)
Đối với Hiến chương 77, từ ngày thành lập đến nay, một câu hỏi cơ bản luôn được đặt ra: những việc làm mạo hiểm của phong trào có mang lại lợi ích thực sự cho xã hội? Nói cách khác, Hiến chương có ý nghĩa gì không?
Theo tôi kỷ
niệm mười năm ngày thành lập Hiến chương là thách thức tự nhiên để
suy ngẫm về câu hỏi này. Việc làm đó có lẽ sẽ có tác dụng ngay cả
khi chỉ để tổng kết lại những điều đã nói, không nhất thiết để
phát hiện điều gì mới mẻ. Cũng không thể làm khác được: với bản
chất tự nhiên của mình, Hiến chương luôn tự đặt cho mình câu hỏi đó
và nghiên cứu nó một cách nghiêm túc.
Những điều đã
được công luận phán xét là phi nhân tính và đã được linh thiêng thề
thốt[1]
là sẽ không bao giờ xảy ra, sau sự can thiệp của Khối Varsava––[2],
lại được tái lập lại một cách trơ trẽn và dân chúng cũng nhanh
chóng làm quen với điều đó. Xã hội Tiệp Khắc sau khi được gia tăng
sức mạnh[3]
và sau đó thất vọng với kết quả đạt được, nhanh chóng rơi vào trạng
thái u mê. Đối mặt với việc tái lập chế độ độc tài, đa số dân
chúng không còn quan tâm đến việc công, họ từ bỏ cơ hội tác động xã
hội và tập trung lo lắng cho cuộc sống cá nhân. Họ mất lòng tin vào
ý nghĩa của việc tham gia công việc xã hội, công việc dân sự. Những
người ít thuần phục nhất đã nhận được những bản án nặng nề để
không ai còn phải hồ nghi[4].
Xã hội bị xé nhỏ, tư duy và sáng tạo tự do bị vùi vào chốn riêng
tư. Những mối quan hệ xã hội theo chiều ngang tạo không gian cho cuộc
sống xã hội đích thực bị cắt đứt. Sự im lặng hoang vu của một
quãng lịch sử bất động mang tính độc tài và thực dụng, lan tỏa
trong cả nước. Với cảm giác bị lường gạt, nhân dân đã hoàn toàn quay
lưng lại với tổng thể chính trị. Họ thấy chán ghét tất cả những ý
thức hệ, vì phải nếm trải hàng ngày những thực tế tồi tàn núp
bóng sau những lời lẽ hoa mỹ. Tinh thần đoàn kết và chia sẻ, cách
đây không lâu còn rất bền vững, hoàn toàn tan biến; chủ nghĩa vị kỷ
bao trùm tất cả, không khí sợ hãi thống trị khắp nơi. Người dân im
lặng chấp nhận giải pháp đa nhân cách cho phương trình cuộc sống mà
tình thế bày ra cho họ: bên ngoài cúi đầu vờ tuân thủ, trong thâm tâm
không còn tin vào điều gì hết.
Đó không chỉ
là khủng hoảng chính trị. Đó là khủng hoảng đạo đức.
Việc đặt câu
hỏi về ý nghĩa của Hiến chương là điều dễ hiểu: chính quyền lúc
đó không chấp nhận đối thoại Hiến chương đề nghị, họ chối từ đàm
phán và đồng thời bác bỏ những đề nghị của Hiến chương. Chính
quyền tuyên bố Hiến chương là tập hợp những “kẻ thất thế” và giao
nộp họ vào tay cảnh sát. Ngay cả xã hội cũng không tỏ thái độ đồng
nhất với tư tưởng của Hiến chương một cách rõ rệt: số người ký
Hiến chương hầu như không tăng. Không một tập thể đáng kể nào ủng hộ
Hiến chương một cách rõ ràng; cũng không có những biểu hiện cảm
tình với phong trào một cách công khai. Thậm chí có vẻ như là nhân
dân tránh né, không muốn dính dáng và cũng không quan tâm đến Hiến chương.
Hiến chương đã có được thành công gì cụ thể? Đã có gì tốt lên nhờ
những việc làm của Hiến chương? Hiến chương đã thất bại thật sự
trong việc làm của mình?
Tôi nghĩ rằng
chưa thể trả lời được chính xác câu hỏi về ý nghĩa xã hội thực tế
của Hiến chương nếu chưa hiểu rõ bản chất tình hình xã hội lúc
Hiến chương ra đời, cũng như chưa được hiểu rõ bản chất của Hiến
chương, nghĩa là Hiến chương là gì, mục đích của Hiến chương thế
nào, Hiến chương xuất hiện từ đâu và Hiến chương muốn đóng góp gì
cho tình hình xã hội chung.
Đánh giá ý
nghĩa của Hiến chương thiếu những chuẩn bị trên cũng giống như việc
đo lường mà thiếu thước đo hay dùng sai dụng cụ đo lường. Khoảng cách
không thể đo được bằng cân và trọng lượng không thể đo bằng đơn vị
mét.
Nhấn mạnh khía
cạnh đạo đức trong hành động của chính mình luôn luôn là một việc
làm mạo hiểm vì cá nhân đó dễ bị coi là kẻ tự phụ, hoặc ít nhất
là người thiếu khiêm nhường và trơ trẽn. Không gian chính để tìm hiểu
ý nghĩa của Hiến chương, đáng tiếc là không thể xác định chính xác
được nếu chưa làm sáng tỏ cơ sở đạo đức trong hoạt động của Hiến
chương – dù chỉ với mục đích duy nhất tìm sự thật và được tiến
hành một cách tỉnh táo. Tôi không thể làm gì khác ngoài chấp nhận
sự rủi ro bị coi là kẻ tự phụ.
Hiến chương 77
không hình thành từ tham vọng dựng lên một thể chế chính trị hay ý
thức hệ để chống lại một thể chế chính trị hay ý thức hệ khác.
Hiến chương cũng không mong muốn trở thành lực lượng chính trị nhằm
cạnh tranh với lực lượng chính trị đang cầm quyền; Hiến chương không
tự xem mình là một lựa chọn tốt hơn thay thế cho đội ngũ cầm quyền.
Dù rằng có nhiều người ký Hiến chương trước đây là chính trị gia,
nhiều trong số đó đang tham gia chính trường, một số có thể lại tham
gia chính trường nếu có cơ hội, mặc dù trường hợp đó khó có thể
xảy ra. Tất cả mọi điều đó không thay đổi được một thực tế là bản
thân Hiến chương – ít nhất là trong đường lối nội bộ – không phải là
một thử nghiệm để giải quyết khủng hoảng bằng con đường chính trị.
Giải pháp chính trị như vậy có lẽ sẽ là dễ hiểu đối với những
người quan sát sống trong những xã hội mở hoặc ít phân hóa đạo đức
hơn. Trong trường hợp Hiến chương, việc tìm giải pháp chính trị là
lầm lẫn vô vọng về tình hình xã hội cũng như vị trí của mình.
Giải pháp duy
nhất, có lô–gic, có ý nghĩa để công dân thoát khỏi khủng hoảng đạo
đức của xã hội phải là giải pháp đạo đức.
Chắc chắn rằng
tôi không phải là người đầu tiên và cũng không phải là người cuối
cùng xem Hiến chương như một nỗ lực cho một giải pháp như thế. Jan
Patočka[5]
đã có cái nhìn đó ngay từ buổi đầu của phong trào. Đa số mọi phản
hồi và tự phản hồi sau này của Hiến chương đều có liên quan hay khởi
nguồn từ cái nhìn này của ông.
Chúng ta có
thể thấu hiểu căn nguyên quan điểm của Hiến chương trên nền tảng bầu
không khí mà phong trào đã nảy sinh.
Vào giữa những
năm bảy mươi, bắt đầu xuất hiện – mặc dù chỉ trong môi trường của một nhóm
"thiểu số đáng kể" – những dấu hiệu của sự thức tỉnh xã hội.
Nhiều người đã bắt đầu hồi tỉnh sau cú sốc lịch sử trước đó;
nhiều người kết cuộc đã bắt đầu rũ bỏ những ảo tưởng còn sót lại
của mình và suy nghĩ một cách tự do thực sự; nhiều người đã “mệt
mỏi vì những mệt mỏi của chính mình” và bắt đầu nhận thức được
rằng không chỉ cứ chờ đợi để một ai đó (từ bên trên? từ bên ngoài?)
sẽ cải thiện tình hình; nhiều người đã chán ngấy vai trò làm đối
tượng thụ động muôn đời của lịch sử và cảm nhận ở một mức độ nào
đó sự cần thiết để lại trở thành chủ thể của lịch sử; nhiều
người đã chết ngạt trong không khí tù túng của căn hầm trú xã hội
của mình và cảm nhận lại trách nhiệm chung của mình cho số phận
của toàn thể. Bước vào tuổi nhận thức là thế hệ trẻ không bị tổn
thương bởi trải nghiệm từ cuộc chiếm đóng của Liên Xô. Những hội
nhóm khác nhau mà cho đến khi đó còn hoạt động riêng lẻ, cô lập và
dường như chỉ lo cho riêng mình đã có khát vọng nhảy ra khỏi hạn
định hiện tại của mình để bước vào đời sống công cộng. Tình đoàn
kết lại được đánh thức và nhận thức về tính không thể chia cắt của
tự do được tăng cường: người ta bắt đầu nhận ra rằng sự tấn công vào
tự do của một cá thể cũng đồng nghĩa với sự tấn công vào tự do
của tất cả, và một khi xã hội còn bị phân chia bởi sự bàng quan và
còn có những người im lặng trước việc người khác bị trấn áp, thì
sẽ không có bất kỳ ai thoát ra khỏi sự thao túng chung.
Vào năm 1976
các thành viên và cộng sự của ban nhạc rock The Plastic People of the
Universe[6]
bị bắt giam. Quyền lực lần này đã không tấn công vào những đối
kháng chính trị của mình như trong giai đoạn đầu những năm bảy mươi,
mà đã tấn công vào chính cuộc sống, chính xác hơn là tấn công vào
ý chí được bộc lộ mình một cách tự do, theo cách của riêng mình,
một cách chính đáng và xác thực. Sự nguy hiểm của lần tấn công này
được nhận diện một cách nhanh chóng và rộng rãi, và một chiến dịch
vận động đoàn kết xuất hiện khi đó đã là tấm gương phản chiếu
những thay đổi mà tôi đã nói, và là bằng chứng hiện hữu về mọi
khía cạnh của những thay đổi này, từ quyết tâm vượt qua cái bóng
của mình trong những hội nhóm khác nhau, cho đến sự nhận thức ngày
càng sâu sắc về tính không thể chia cắt của tự do. Sự chuyển mình
xảy ra lúc đó của nhóm "thiểu số đáng kể" này không phải là hoàn
toàn vô cội nguồn hay xuất hiện một cách đột nhiên, mà nó chính là
câu trả lời tất yếu của một nhận thức xã hội đang bừng tỉnh trước
hành động tấn công của giới cầm quyền. Việc đoàn kết với những
người bị nạn tất nhiên lại càng thúc đẩy nhanh chóng hơn sự thức
tỉnh đó: những rào cản đã được vượt qua và một bầu không khí cộng
đồng đã nhanh chóng nảy sinh.
Sự kiện này
đã dẫn đến việc ra đời ngay sau đó của Hiến chương 77, nó đã liên kết
những con người rất khác nhau, những nhóm rất khác nhau để ấn định và
biến nhận thức đoàn kết hỗ trợ nhau và trách nhiệm đối với những
vấn đề chung thành một thực tế xã hội.
Hiến chương là
sự ra mắt công chúng quan trọng đầu tiên trong thời Husák[7].
Nó đã tập hợp các nhà văn và các cựu chính trị gia, những người
cộng sản và những người không cộng sản, những tín đồ công giáo và
những tín đồ tin lành, các trí thức và các công nhân, các giáo sư
đại học và giới trẻ bất tuân. Họ không liên kết nhau lại trên nền
tảng chính trị mà phần nhiều từ những lý do nội tâm, và những lý
do đó có tính chất con người hơn là chính trị. Trăn trở chung của họ
trước hết là trăn trở đạo đức.
Phong trào Hiến
chương đã xuất hiện như một điều tự nhiên và chỉ như vậy nó mới có
thể được hình thành. Nó không phải là kết quả của một sự suy diễn
lạnh lùng dựa vào những phân tích tình hình theo lối chính trị học.
Các thái độ đạo đức không được tạo ra bằng cách đó. Chúng đã ra
đời bằng lương tâm hơn là bằng lí trí. Hiến chương không hình thành từ
những lập luận logic, mà từ những logic bên trong của sự việc, nghĩa
là từ logic của hoàn cảnh và logic của phản ứng con người trước
hoàn cảnh đó. Đó là câu trả lời xác thực của người công dân trước
tình trạng thoái hóa đạo đức. Nó hình thành từ mong muốn chống lại
áp lực vô đạo đức của thời thế; chối bỏ căn bệnh phân liệt tâm thần
bị áp đặt; bước qua giới hạn của những tư lợi cá nhân và nỗi sợ
của chính mình; vượt lên khỏi những giao thông hào của sự riêng tư để
đăng nhập tham gia những vấn đề công cộng; không còn tiếp tục khen bộ
quần áo của nhà vua ở truồng, mà ngược lại nói sự thật; nói một
cách ngắn gọn là hành xử phù hợp với lương tâm của chính mình và
đơn giản là đứng thẳng làm người. Đó là nỗ lực ngẩng cao đầu của
kẻ bị hạ thấp phẩm giá, sự lên tiếng của kẻ bị bịt miệng, sự nổi
dậy chống sự dối trá của kẻ bị lừa dối, sự cố gắng thoát khỏi
cảnh ngộ bị điều khiển của kẻ bị thao túng. Đó là nỗ lực thực
hiện quyền mà mình được hưởng, giành lấy trách nhiệm đã bị phủ
nhận, tìm lại phẩm giá con người và sự toàn vẹn, và bằng cách như
vậy khôi phục lại sự tôn trọng vào chính bản thân mình.
Cho đến bây giờ
tôi vẫn nhớ như in những biểu hiện nhẹ nhõm vui sướng, niềm hân hoan
tự hào của sự tự khẳng định mình, thậm chí cảm giác giải phóng
sảng khoái, của nhiều thành viên khi ký tên vào Hiến chương ngày đó.
Giống như vừa trút bỏ được một cái gì đó thật nặng nề, một vỏ
bọc mà từ rất lâu phải ép mình trong đó, họ như được trực tiếp hồi
sinh bởi nhận thức ra rằng thời kỳ phẩm giá con người bị hạ thấp
và thói đạo đức giả đã kết thúc.
Những biểu
hiện như vậy không chỉ là trạng thái tâm lý nhất thời riêng lẻ. Nó
minh họa ý nghĩa của Hiến chương đối với rất nhiều người, nó nói
lên bản chất đạo đức – bản chất thật sự của lập trường mà Hiến
chương là người đại diện.
Khi nhắc đến
sự liên hệ của một cái gì đó có bản chất hay khởi nguồn từ đạo
đức thì tựu trung điều đó có nghĩa như thế nào?
Về căn bản nó
có nghĩa là việc làm của chúng ta không xuất phát từ những động cơ
“có mục đích”, khi chúng ta biết chắc chắn rằng việc làm đó sẽ có
cơ hội thành công sớm sủa, ngay lập tức, rõ ràng, có thể kiểm chứng
được (và do đó ít nhiều là thành công bề ngoài), mà chúng ta làm
chỉ đơn giản vì chúng ta cho rằng đó là một điều tốt. Động lực đạo đức
buộc chúng ta phải làm những việc tốt vì mục đích thực hiện việc tốt
đó, và vì đó là nguyên tắc.
Khác với những động
cơ vì mục đích, động cơ đạo đức được dựa trên niềm tin vững chắc rằng việc
tốt luôn luôn có ý nghĩa. Và đồng thời cũng dựa vào niềm hi vọng, rằng ý
nghĩa đó, sớm hay muộn sẽ được chứng tỏ và khẳng định bằng cách riêng
của mình. Đồng thời chúng ta cũng ý thức đầy đủ khả năng rủi ro, rằng điều
này không nhất thiết phải xảy ra, dẫu vậy nhận thức đó không hề khiến chúng
ta quay lưng với dự định ban đầu. Niềm tin chắc chắn trong tâm trí vào ý
nghĩa của việc làm đúng đắn cũng là niềm tin rằng việc làm đó có
ý nghĩa ngay cả khi nó không thành công. Nói một cách khác, động cơ đạo
đức bắt buộc chúng ta làm những việc nhất định, không kể đến việc đó có
thành công, khi nào thành công, hay thành công như thế nào, nghĩa là ngay cả
khi không có một đảm bảo là việc làm này, bằng cách nào đó, sẽ
mang lại lợi ích hay lời lãi gì cho chúng ta
.
Những người kí
Hiến chương không phải những kẻ không tỉnh táo, họ không nghĩ rằng chính
quyền sẽ lập tức đối thoại với họ và cả xã hội sẽ đồng tình ngay với họ,
hay tình hình đất nước sẽ đổi thay và trong thoáng chốc sẽ trở nên tốt đẹp
ngay sau khi Hiến chương xuất hiện. Ngược lại, mỗi người đều tính đến khả
năng là họ sẽ bị trừng phạt.
Dẫu vậy họ đã
dấn thân vào con đường ấy. Họ dấn thân, bởi họ cho như thế là đúng, với
niềm tin, rằng một việc đúng đắn luôn luôn là một điều đáng làm, cũng như họ
luôn hi vọng, rằng cảm giác hài lòng trong thâm tâm khi làm được một việc
lành sẽ được cộng hưởng bởi niềm vui khi được
bên ngoài thừa nhận, dù thừa nhận ấy có chậm trễ, gián tiếp và hết sức kín
đáo. Họ đã làm điều đó với nhận thức – cho phép tôi được trích câu nói nổi
tiếng của Jan Patocka – rằng có những việc xứng đáng để con người phải hi sinh,
chịu đựng.
Người muốn tìm hiểu
ý nghĩa của Hiến chương một cách đúng mức, có nghĩa là tìm hiểu cả hậu cảnh những
vấn đề mà Hiến chương nêu ra, sẽ phải tự hỏi: Hiến chương có phải là một
hành động phục hồi nhân cách? Chỉ khi câu trả lời là có, thì mới có thể tiếp
tục tìm hiểu ý nghĩa xã hội của Hiến chương. Và phải tìm ở nơi duy nhất có thể
tìm thấy nó: đó là phạm vi ảnh hưởng chính trị của một thái độ đạo đức.
Nghĩa là trong một địa hình tinh vi khó nhận thấy đối với con mắt thiếu
kiên nhẫn của người quan sát, thường quen tìm hiểu những hiệu ứng chính trị của
các hoạt động chính trị.
Chúng ta hãy
thử tìm hiểu theo hướng này.
Hiến chương 77
có thật sự là một hành động phục hồi nhân cách?
Nghiên cứu những
hoạt động cụ thể của Hiến chương, trước hết là những tài liệu của phong trào,
chúng ta nhận thấy ngay nét đặc trưng nhất: ở đây, con người với danh nghĩa công dân, trong ý nghĩa trọn vẹn và cao
đẹp nhất của từ này, đã lên tiếng. Có thể nói, Hiến chương là biểu hiện
của nhận thức, lương tâm và lòng tự tin đang dần dần bừng tỉnh của công
dân. Người công dân ở đây lên tiếng đòi quyền của mình, những quyền được thừa
nhận trên lí thuyết, nhưng bị chà đạp trong thực tế, và thực hiện các
quyền của mình một cách đầy đủ. Họ không còn xử sự như kẻ lệ thuộc, họ
đã tìm về với tự do của mình.
Có vẻ điều đó như là còn ít. Có thể không ít người mong muốn rằng Hiến chương
đưa ra ngay một chương trình chính trị – như vậy đối với họ có thể sẽ dễ hiểu
hơn.
Cơ hội đưa ra
một chương trình chính trị luôn là cơ hội mở, bất kỳ ai, bất cứ lúc nào
đều có thể tóm lấy cơ hội đó, Hiến chương không những sẽ không ngăn cản,
mà còn sẵn sàng ủng hộ việc làm như vậy. Mục tiêu của Hiến chương tuy nhiên
hoàn toàn khác. Mục tiêu của Hiến chương có vẻ giản dị hơn, nhưng về
một mặt nào đó sâu sắc hơn.
Vì thật ra những
chương trình chính trị có thể ra đời, hoạt động hay chấm dứt, thu được hay
đánh mất sự ủng hộ, và thật sự gây được ảnh hưởng tới thời cuộc chỉ trên
nền tảng xã hội khi quyền công dân thực sự được khôi phục, và đó chính là
nền tảng mà Hiến chương xây dựng. Một đám người lệ thuộc không thể phác thảo,
tuyên bố và thực thi một chương trình chính trị, chỉ có những công dân tự
do với đầy đủ thẩm quyền pháp lí mới làm được điều đó; không có công
dân thì không có chính trị. Ngôi nhà phải được xây dựng từ nền chứ
không thể xây từ mái. Khôi phục quyền công dân không phải là một "sản
phẩm chưng cất" từ chính trị, ngược lại, nó là điều kiện tiên quyết
của một nền chính trị.
Không những thế, chính trị có thể đổi thay, nhưng nhu cầu cấp thiết của
quyền công dân như điều kiện cần cho mọi nền chính trị, sẽ trường tồn.
Đó là nhu cầu không bao giờ kết thúc, không bao giờ cạn kiệt, luôn có
tính thời sự và không thể nào đạt được trọn vẹn: nó đòi hỏi lòng can đảm,
ý chí hướng tới sự thật, lương tâm, tự do tinh thần và trách nhiệm với việc
chung. Và khi nào chúng ta có thể tuyên bố được rằng con người đã đáp ứng
được chuẩn mực của những giá trị trên?
Có thể nói, theo
tinh thần lí luận của Ladislav Hejdanek[8], mục tiêu
của chính trị là hữu hạn và mục tiêu của Hiến chương là vô hạn.
Nó vô hạn vì nó có tính đạo đức.
Phải chăng sự
phục hồi tinh thần công dân chỉ là hình thức, hậu quả và là biểu hiện
của sự phục hồi đạo đức? Liệu có thể hình dung sự phục hồi tinh thần
công dân thiếu động lực đạo đức? Xét cho cùng, là công dân trong ý nghĩa lớn
lao và ràng buộc như Hiến chương yêu cầu và đòi hỏi, có nghĩa là sẵn
sàng nhận lãnh trách nhiệm ở mức độ ngay cả khi điều đó không có lợi!
Tôi nghĩ rằng,
nỗ lực thường xuyên và rõ ràng của Hiến chương để phục hồi một cách
triệt để quyền công dân đủ chứng tỏ rằng lập trường cơ bản của Hiến chương
về các vấn đề xã hội là một lập trường thật sự có tính chất đạo đức.
Hiến chương 77
không có trong cương lĩnh một kế hoạch lật đổ chính phủ hay phá bỏ hệ thống
xã hội đang tồn tại. Vì thế nó cũng không là sự tấn công chống lại hệ thống
hành pháp. Ngược lại, Hiến chương nỗ lực lập lại dân quyền bằng cách yêu cầu
các điều luật phải thực sự có hiệu lực và được chấp hành; nó lưu ý cách giải
thích luật tùy tiện của người cầm quyền; và muốn pháp luật không chỉ tồn tại
trên giấy mà phải được tôn trọng và thực hiện trong thực tế. Nếu thấy điều luật
nào sai sót, Hiến chương sẽ sử dụng mọi phương tiện theo đúng luật pháp để đề
nghị sửa đổi. Vì thế quan hệ của Hiến chương với chính quyền cũng được phát
triển: Hiến chương liên tục gửi tài liệu cho các cơ quan nhà nước và chính
phủ mặc cho họ có thái độ từ chối và cho dù rằng các tài liệu đó đã được (một cách không chính thức) đem ra thảo
luận và bàn bạc.
Hành động này có
thể dễ dàng bị phê phán: mười năm viết cho nhà cầm quyền để làm gì khi
mà mười năm họ không thèm trả lời? Liệu đó có phải là hành động vô mục đích
và do vậy là vô nghĩa? Liệu bằng cách đó Hiến chương càng thừa nhận quyền
lực của những kẻ không đếm xỉa đến ý kiến nhân dân và càng gây thêm ảo tưởng về tính
hợp pháp của họ? Liệu nó có tạo ra cảm tưởng là chìa khóa cho bất cứ chuyển
biến tốt đẹp hơn nằm
đâu đó ở “trên cao”, trong tay những kẻ cầm quyền, và những người ở “dưới
thấp” không thể làm gì cả? Liệu ở đó có yếu tố của một trò chơi dân chủ giả mạo
trong chế độ hoàn toàn độc quyền và chuyên chính? Liệu chúng ta có làm như
thể công nhận “họ” có chút tiến bộ, muốn tiến bộ hơn và cũng có để ý đến ý
kiến của chúng ta, mặc dù chúng ta thừa biết rằng, họ chỉ làm cái họ muốn, và
rằng không có gì tác dụng với họ ngoài vũ lực?
Từ khía cạnh
chính trị hoặc chính trị thực dụng thì không hồ nghi gì nữa, việc làm của
chúng ta có thể được xem là như vậy. Dưới tầm nhìn dựa trên nỗ lực suy
xét ảnh hưởng chính trị của một hành động đạo đức thì việc làm đó sẽ không
biểu hiện như thế: từ khía cạnh hiện tại và mục đích tức thời thì dường như
quyền lực và tính hợp pháp của những người nắm quyền đã được thừa nhận, nhưng
từ khía cạnh lịch sử tương lai và những nguyên tắc có giá trị mãi mãi, thì ngược
lại, nhận thức công dân đã được chứng
tỏ. Chính phủ sẽ thay đổi, luật pháp sẽ thay đổi, thậm chí cả hệ thống xã
hội cũng có thể thay đổi. Nhưng cái luôn có giá trị và không bao giờ mất đi
tính thời sự chính là nguyên tắc, rằng công dân phải cùng nhận trách nhiệm
chung về số phận của tổng thể, và trong tinh thần đó phải luôn luôn hành động:
không ngừng nói lên sự thật bất kể đến khó khăn tức thời (tương ứng với
khung cảnh của thời đại); phổ biến sự thật cho mọi người và cả chính quyền,
yêu cầu chính quyền quan tâm đến sự thật; và bằng mọi cách đó (dù với
thành công nhỏ hay lớn trong thời điểm đó) mở ra một không gian thảo luận
dân chủ; duy trì, góp ý và tăng cường nguyên tắc tham gia quản lí việc công
cũng như quyền tham gia đó của tất cả công dân.
Nhiệm vụ của Hiến
chương không phải là phán xét những người cầm quyền, mà là phản ánh hiện
trạng và bằng cách đó thực hiện quyền lợi vĩnh cửu và cơ bản của
công dân.
Vì vậy một lần
nữa: ngược lại với sự hữu hạn của câu hỏi có tính chính trị, rằng việc
viết và gửi thư cho chính phủ này có nghĩa lý gì không, là sự vô hạn của
nguyên tắc đạo đức, rằng vấn đề chung của chúng ta phải thực sự là vấn đề chung
của tất cả chúng ta. Nói cách khác: hành động như người công dân tự do, ý
thức được quyền lợi và cả nghĩa vụ của mình, “nói vào việc chung”, luôn luôn
và mãi mãi là một việc làm căn bản có ý nghĩa. Không phụ thuộc vào
việc khuôn mẫu xử sự này có đi vào tiềm thức chung hay không, nhanh
hay chậm.
Ở đây, tôi không
thể và cũng không đủ trình độ chuyên môn để đánh giá nội dung hàng
trăm tài liệu mà phong trào Hiến chương 77 đã công bố trong vòng mười
năm hiện diện của mình. Tuy nhiên tôi biết rằng, ngay cả khi tổ chức này
có thể có lúc không nắm bắt hết vấn đề nó đề cập đến – lẽ tự
nhiên, không ai không thể không có nhầm lẫn – thì một điều không thể
tranh cãi là, mọi văn kiện của Hiến chương 77 đều được bắt đầu từ thiện
chí nhằm đưa ra bức tranh trung thực nhất với vấn đề liên quan .
Ngay cả nhà
chính trị tài giỏi nhất đôi khi cũng phải điều chỉnh – cho dù rất
ít hay thậm chí vô thức – cách diễn giải các sự kiện xã hội cho
thích hợp với triển vọng quyền lực, xuất phát từ ham muốn quyền
lực nhất định của mình. Nhóm Hiến chương 77, ngược lại, do không lấy
quyền lợi chính trị làm mục tiêu, có thể tự do đấu tranh cho một lẽ phải thật sự không thiên vị.
Tức là sự thật và lẽ phải không bị chi phối bởi điều nó sẽ có hay
không có lợi cho ai.
Sự thật hoàn
toàn và đầy đủ, như chúng ta đều biết, chỉ tồn tại trong một vương
quốc không tưởng. Nếu như Hiến chương 77 dù vậy vẫn quyết tâm đi bằng
con đường, dù không thực tế và không khôn khéo, để tìm ra một sự
thật khách quan, thì điều đó một lần nữa đã thể hiện định hướng
đạo đức của nó và sự vô hạn của những mục tiêu xuất phát từ định
hướng đạo đức này: nếu như việc tìm kiếm sự thật là điều căn bản
đúng đắn và có ý nghĩa, thì trên nguyên tắc, không thể hạn chế nó
từ bất cứ phương diện nào.
Chính nguyên
tắc này đôi khi cũng gây nên một số bàn cãi: ai đó có thể cho rằng,
giả sử chúng ta đôi khi tỏ ra trung thành hơn với một mục đích hay
một thế lực chính trị nào đó, thì hoạt động của chúng ta có thể
sẽ có hiệu quả chính trị hơn. Điều đó có thể đúng. Nhưng bằng biểu
hiện trung thành như vậy, Hiến chương sẽ phản lại lòng tin của chính
mình. Chúng ta không thể nắm giữ một quan điểm, đồng thời chối bỏ
hệ quả tự nhiên của nó.
Như tôi đã nói
trên, Hiến chương 77 xuất hiện ngoài ra cũng từ ý thức về sự không thể tách rời giữa tự do và
quyền lợi.
Nguyên tắc đó
là điều kiện tự nhiên, là một bộ phận và là hệ quả của việc phục
hồi quyền công dân: không thể là công dân (ít nhất là trong ý nghĩa
dân chủ và theo định nghĩa mạnh của khái niệm này) đồng thời cản
trở quyền công dân của người khác; trong nỗ lực thực hiện quyền công
dân của chính mình không thể thiếu được sự tôn trọng chính những
quyền đó của người khác; nếu chỉ một cá nhân bị tước đoạt quyền
đó, thì quyền của tất thảy đều bị cắt xén. Điều đó có nghĩa là
tất cả mọi người, về phương diện công dân, đều bình đẳng trước pháp
luật, trước xã hội và trước cả chính quyền; không có cá nhân nào,
trên danh nghĩa quan điểm, đức tin, xuất thân, giới tính, thành viên
trong nhóm xã hội, nhóm sở thích hay tương tự, được ưu tiên có quyền
lợi và nghĩa vụ nhiều hơn hay ít hơn cá nhân khác. Việc thực hiện
hay sử dụng quyền lợi và nghĩa vụ đó ra sao, cách đáp lại sự công
bằng về cơ hội như thế nào, phụ thuộc trước hết vào chính cá nhân
đó.
Dựa trên nguyên
tắc này, tính đa nguyên của Hiến chương 77 cũng được phát triển như
một qui tắc nội bộ hay tư tưởng chung (hay là tư tưởng chung phản ánh
vào nội bộ). Nếu một thành viên của Hiến chương, một lúc nào đó có
tiếng nói được lắng nghe nhiều hơn thành viên khác, thì điều đó chỉ
nhờ do bản chất công việc cụ thể và sự tích cực của cá nhân đó,
nhất quyết không vì cá nhân đó là thành viên của tổ chức với định
hướng tôn giáo hay chính trị nhất định nào. Thẩm quyền, uy tín của
mỗi cá nhân là có điều kiện và có thế nói là ‘được phong tặng’,
ngoài ra nó không xuất phát từ nguyên tắc lựa chọn nào khác.
Hiến chương 77
không phải là một liên minh. Nó không giống như tổ chức Mặt trận Dân
tộc thời kì hậu chiến, một tổ chức mà thực ra là nhóm đặc quyền
thế lực của một số người, loại trừ người ngoài tổ chức khỏi quyền
lực chính trị. Hiến chương 77 cũng không phải là một hiệp hội khép
kín, mà là một phong trào mở. Ai cũng có thể tham gia ký tên, và
chỉ phụ thuộc vào người đó làm tròn bổn phận đã nhận bằng chính
chữ ký của mình như thế nào.
Sự cởi mở,
bình đẳng triệt để của phong trào Hiến chương 77, được nảy sinh từ
sự khoan dung và hiển nhiên càng làm sự khoan dung đó trở nên sâu sắc
hơn, đã đại diện cho một hiện tượng có một không hai trong lịch sử
hiện đại của Tiệp Khắc. Nó không nhất thiết mang lại lợi ích tức
thời trong phạm vi rộng hơn.
Nhưng không phải
vì thế mà ý nghĩa đạo đức, và do vậy cả ý nghĩa chính trị tiềm tàng của nó bị
giảm đi: cho dù trên thực tế chỉ giới hạn trong khuôn khổ cộng đồng của mình,
Hiến chương đã làm sống lại lí tưởng chung, đã soi rọi ra xa ngoài biên giới của
mình, để cuối cùng được lưu lại trong ý thức và kí ức của xã hội như một tiền lệ
cho các phong trào tương tự, nó là khuôn mẫu, là thách thức và kinh nghiệm, mà
tạm thời chúng ta không thể phán đoán được hết mọi hệ quả của nó trong tương
lai. Lần đầu tiên đã chứng tỏ – cho dù chỉ trong một mô hình nhỏ – rằng ngay cả
trong điều kiện của chúng ta, sự hợp tác của tất cả dân chúng một cách triệt
để dân chủ là điều có thể. Giả sử ngày mai Hiến chương 77 không còn tồn tại nữa,
thì người ta cũng không thể dễ dàng lấy đi những kinh nghiệm này khỏi tiềm thức
cộng đồng.
Rõ ràng, lợi ích
của Hiến chương không thể đo được bằng những tiêu chuẩn chính trị thông thường.
Nhưng không có nghĩa là lợi ích đó không tồn tại.
Một nhà chính trị
sẽ luôn cố gắng thuyết phục người dân tin vào sự đúng đắn trong đường lối của
mình, cố chiếm cảm tình của họ, hô hào và thuyết phục, hứa hẹn bằng
cách này hay cách khác, thu hút dân chúng bằng cách dẫn dắt và kêu gọi, thậm
chí đôi khi bằng mệnh lệnh và đe dọa, tập hợp và huy động, đòi hỏi người dân bỏ
phiếu, ủng hộ, tín nhiệm và trung thành với mình.
Hiến chương không hề có những hành động
như thế, thậm chí cũng không tìm kiếm thêm người ký tên. Mặc dù bất cứ cá
nhân nào và vào bất cứ lúc nào đều có thể tham gia, nhưng Hiến Chương không
bao giờ và không khi nào tổ chức việc đi thu nạp người. Hiến chương không ép buộc,
không thuyết phục cũng như không hô hào bất cứ ai. Hiến chương không cố gắng
truyền bá, không đại diện cho bất cứ ai, cũng không lên án hay chỉ trích người
không ủng hộ nó.
Nếu Hiến chương
vẫn được coi là lời kêu gọi tới nhân dân, thì đó chỉ có thể là lời kêu gọi gián tiếp. Những việc Hiến
chương làm, Hiến chương đều tự chịu trách nhiệm và chấp nhận nguy hiểm, và
bằng hành động của mình Hiến chương chỉ nhắc nhở việc mà ai cũng có thể
làm được, không hơn. Đó là, ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất,
chúng ta vẫn có thể hành xử như những công dân, lên tiếng đòi hỏi quyền
lợi công dân của mình, và cố gắng thực hiện nó. Ngay cả ở những nơi mà sự dối
trá được thể chế hóa, mỗi công dân vẫn có thể nói ra sự thật. Mỗi một công dân
đều có thể nhận trách nhiệm chung với số phận của tập thể mà không phải nghe mệnh
lệnh từ trên xuống. Đơn giản là ai cũng có thể bắt đầu từ chính mình và ngay lập
tức.
Thật sự, khát vọng
của Hiến chương không phải là phô trương về số người ủng hộ, bày binh bố trận,
dựa vào đám đông để lấy ảnh hưởng, và sau đó điều khiển họ.
Các nhà báo nước
ngoài đôi khi nói với tôi rằng Hiến chương không có ý nghĩa xã hội rộng lớn
khi chỉ có ít người kí tên như thế. Nó nhắc tôi nhớ đến câu hỏi nổi tiếng của
Stalin ‘Đức Giáo Hoàng có bao nhiêu quân đoàn?’ Tất nhiên là tôi sẽ không so
sánh chúng ta với Vatican, tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng sức mạnh tiềm tàng của
Hiến chương cũng như các phong trào tương tự trong khối Xô Viết là ở chỗ khác
chứ không phải là ở số lượng.
Khát vọng của Hiến
chương là hành động theo lương tâm và niềm tin của chính mình, và chỉ ra cho
người khác thấy rằng họ cũng có cơ hội như vậy. Nó nhắc nhở họ về phẩm giá
con người của mình. Nó nhắc nhở họ về sự thật.
Hiến chương không
cho rằng phương pháp làm việc của mình là khả dĩ nhất và tốt nhất, khiến mọi
người cần làm giống như thế. Việc chấp nhận lời kêu gọi gián tiếp của Hiến
chương như thế nào, hay khi đã chấp nhận lời kêu gọi đó thì làm gì và làm bằng
cách nào, hoặc là qua những cảm hứng của Hiến chương có hướng tới một
việc gì cụ thể, phù hợp với hoàn cảnh riêng hay không, là việc của mỗi
cá nhân. Nếu bất cứ ai làm bất cứ điều gì tốt cho xã hội thì tức là đã làm tốt
cho Hiến chương. Cái quan trọng đối với Hiến chương là việc chung chứ
không phải việc riêng của nó. Việc chung của xã hội chính là việc của
Hiến chương.
Vì vậy sẽ không
đúng khi ta đánh giá ý nghĩa của Hiến chương theo việc nó đang hoạt động như
thế nào hay vị trí của nó ra sao. Điều quyết định ở đây là những nguyên tắc –
mà trên tinh thần đó Hiến chương luôn cố gắng hoạt động – chiếm được “vị
trí” thế nào trong xã hội.
Có lẽ từ mọi
điều trên có thể suy ra được rằng, chúng ta cần tìm ý nghĩa của mười năm hoạt
động của Hiến chương 77 trước tiên là trong những lĩnh vực khó có thể biểu thị
được của ý thức và tiềm thức xã hội, trong những bước chuyển ngầm của tinh thần
chung và trong ý thức đạo đức chung, những thứ mà nhiều khi do sự hối hả của
cuộc sống hàng ngày, và do không có khả năng so sánh rõ ràng với điều kiện xã
hội trước đây, chúng ta không ý thức hết được. Và dĩ nhiên cả ở trong những
dấu vết hiển hiện của những biến chuyển vô hình đó.
ở một
mức độ nào đó ước vọng ẩn kín
đó, tuy
một cách kín đáo làm cho chính quyền biến chuyển theo nó
1.
Hiến chương nói
sự thật. Ngày nay ai cũng biết điều đó bất kể quan điểm của
họ về việc này như thế nào. Dân
chúng biết,
ngoài nước
biết và nhà nước biết.
Hơn nữa nhà nước cũng biết là
dân chúng và ngoài nước biết,
vì thế họ buộc phải có có một vài hành động. Tuy
quần chúng phần
lớn chỉ biết tới các văn bản tài liệu của
Hiến chương qua các chương trình
phát thanh nước ngoài, nhưng hiện tại chỉ như vậy cũng đủ: việc theo dõi các chương trình phát thanh nước ngoài ngày nay phổ biến tới mức có thể mang tới những hình dung cơ bản về Hiến chương.
2.
Hiến chương ngày nay – sau khi quyền lực nhà
nước đã
tỏ rõ quan điểm đối với phong
trào này là
một giải pháp cực
đoan – nói chung khó chấp
nhận và noi theo. Chính vì vậy mà nó tạo ra – dù không chủ định và cũng không luôn được ghi nhận một cách
có ý thức – một chân trời đạo đức và trên nền đó,
bằng cách này hay
cách khác (thậm chí bằng cách hoàn toàn tương phản) tự định nghĩa mình; một thứ điểm
biến giới hạn có thể tiếp cận từ mọi nơi mà không cần thiết phải trùng nhập. Bằng
cách đó Hiến chương phục hồi một
hệ thống tọa độ nhất
định, tạo ra các chuẩn mực,
cung cấp một điểm mốc để
từ đó xác định quan điểm và hướng đi. (Nhiều
lần tôi gặp trường hợp những người, với các mức độ khác nhau đã phải biến đổi và thích
nghi ít nhiều theo quyền lực,
nhấn mạnh rằng, nếu
không có Hiến chương, họ còn phải uốn mình nhiều hơn nữa.) Người ta cảm thấy,
nói một cách hình tượng, Hiến chương ở ngay sau lưng mình. Hơn nữa đối với nhiều người, nó
là một chỗ dựa vững chắc có tác dụng trấn an, để nếu một khi họ
phải đi đến xung đột với quyền
lực độc đoán và nếu bị thất bại, thì đó là nơi họ có thể tìm
thấy sự bênh vực. Ngày nay, việc hình dung sự không tồn tại của Hiến
chương gây ra một cảm giác trống rỗng và sự tương đối hoàn toàn của
tất cả các giá trị công dân.
[1] Chú thích ND: Sau
thời Stalin, những người cộng sản tuyên bố và thề thốt là họ sang
thời kỳ mới, đoạn tuyệt với thời Stalin và những chuyện như bịa
tội, gán cung, kết án, thanh trừng v.v sẽ không thể xảy ra được
nữa.
[2] Chú
thích ND: Cuộc xâm lược của quân đội Hiệp ước Varsava vào Tiệp Khắc (còn gọi
là Cuộc tiến vào của quân đội các nước đồng minh hay chiến dịch sông Đa-nuýp)
là cuộc đổ bộ quân sự của quân đội 5 nước Hiệp ước Varsava đứng đầu là Liên Xô
theo yêu cầu của cánh bảo thủ trong đảng cộng sản. Nó dẫn đến sự đàn áp những cố
gắng của Tiệp Khắc nhằm cải tổ XHCN – được gọi là Mùa Xuân Praha. Nó dẫn đến việc
bắt và giam giữ những lãnh đạo đứng đầu của Tiệp Khắc. Liên Xô duy trì quân đội
ở Tiệp Khắc đến năm 1991.
[3] Chú thích ND: ý nói phong trào Mùa
Xuân Praha 1968 bị dập tắt sau khi Tiệp Khắc bị quân đội Khối Varsava ––xâm
lược. Mùa Xuân Praha được đánh dấu cho giai đoạn cởi mở chính trị tại Tiệp Khắc
vào năm 1968.
[4] Chú thích ND: về cách phản ứng của bộ
máy quyền lực.
[5] Chú thích ND: Jan Patočka
(1907– 1977): triết gia, người kí Hiến chương 77 (1.1.1977) là một trong ba
phát ngôn viên đầu tiên của Hiến chương (cùng với V. Havel và J. Hájek). Trong
những bài viết cuối cùng của mình về Hiến chương ông thường nhấn mạnh đến khía
cạnh đặc biệt của đạo đức và quyền công dân (trong tinh thần triết lí của riêng
mình). Sau khi gặp bộ trưởng ngoại giao Hà Lan Van der Stoel, ông bị an ninh hỏi
cung liên tục. Một lần sau một cuộc hỏi cung căng thẳng ông phải đi viện và chết
vì đột quị não. Đám tang của ông trở thành một sự kiện quan trọng trong việc phản
đối chống cộng sản.
[6] The Plastic People of the
Universe (PPU) là một ban nhạc rock nổi tiếng của phong trào underground tại Tiệp
Khắc những năm 1968 đến 1988, một ban nhạc tiên phong làm gương cho những ban
nhạc khác noi theo. Ban nhạc sáng tạo này vào những năm 70 và 80 đã vô tình trở
thành đối lập chống chế độ cộng sản tại Tiệp Khắc. Do thái độ thẳng thắn của
mình, ban nhạc thường xuyên bị đàn áp và thậm chí đã bị bỏ tù.
[7] Gustav Husák: nguyên chủ
tịch nước, tổng bí thư đảng cộng sản Tiệp Khắc. Gustav Husák được
lãnh đạo Liên xô đưa lên vị trí cao nhất trong bộ máy đảng sau sự
kiện 68. Tháng 11. 1989, sau chiến thắng Cách mạng Nhung,
Gustav Husák bị buộc từ chức chủ tịch nước.
[8] Chú thích ND: Ladislav
Hejdanek (10.5.1927) – triết học gia người Séc, một trong các phát ngôn viên của
Hiến chương 77.
No comments:
Post a Comment