Václav Havel
QUYỀN LỰC CỦA KẺ KHÔNG QUYỀN LỰC
Tiểu luận chính trị
Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang
Hiệu đính: Nhóm Văn Lang
Nhà xuất bản Giấy Vụn
Václav Havel: Thư gửi ông Husák
Lời người dịch: Đây là
bức thư được viết vào tháng 4 năm 1975, để gửi cho ông Gustav Husák, lúc đó
đang làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tiệp Khắc; và cũng là tuyên bố công khai đầu
tiên của Havel kể từ ngày ông bị đưa vào sổ đen vào năm 1969.
Trong
các công sở và nhà máy của chúng ta, công việc đang chạy đều một cách có kỷ
cương, việc làm của các công dân mang lại những kết quả trông thấy ở mức sống
đang tăng dần, dân chúng xây nhà, mua ô tô, sinh con đẻ cái, giải trí, vui sống.
Dĩ
nhiên tất cả những điều này chưa chắc đã mang nhiều ý nghĩa khi đánh giá thành
công hay thất bại trong đường lối chính trị của các ông: sau mỗi khuấy động
xã hội, cuối cùng người dân bao giờ cũng quay lại với công việc thường ngày
của họ vì đơn giản là họ muốn sống, họ làm thế rốt cuộc vì chính bản thân
mình chứ không phải vì người lãnh đạo này hay người lãnh đạo khác.
Nhưng
người dân hoàn toàn không chỉ có đi làm, mua bán và sống theo ý mình. Họ
làm nhiều hơn thế: họ cam kết thực hiện hàng loạt chỉ tiêu lao động, rồi
hoàn thành và hoàn thành vượt mức; họ đồng loạt đi bầu cử và đồng nhất lựa
chọn những ứng cử viên mà người ta đưa ra; họ hoạt động tích cực trong những
tổ chức chính trị khác nhau; họ tham gia những cuộc mít tinh và những cuộc
diễu hành; họ tuyên bố ủng hộ tất cả những gì mà họ cho là phải ủng hộ. Không
ở đâu chúng ta có thể nhìn thấy biểu hiện bất đồng quan điểm với bất cứ
điều gì chính phủ đang làm.
Dĩ
nhiên không thể dễ dàng bỏ qua những thực tế này; ở đây cần nghiêm túc đặt
câu hỏi: liệu tất cả những điều đó có khẳng định được rằng ban lãnh đạo của
các ông đã thực hiện thành công chương trình đã đặt ra: đó là thu phục sự ủng
hộ của nhân dân và củng cố tình hình trong nước?
Câu
trả lời phụ thuộc vào cách hiểu của chúng ta thế nào là củng cố.
Nếu
như thước đo duy nhất của sự củng cố là những số liệu thống kê trong những
lĩnh vực khác nhau, hay là những tuyên bố của chính quyền hay của cảnh
sát về hoạt động chính trị của công dân và về những việc tương tự, thì
chắc chắn chúng ta khó có thể nghi ngờ về kết quả của việc củng cố tình
hình trong nước.
Nhưng
nếu chúng ta coi củng cố là một cái gì đó hơn thế nữa – là thực trạng bên
trong của xã hội thì sao? Giả sử chúng ta bắt đầu đặt câu hỏi về những
nhân tố khác, có thể là tinh tế hơn và không dễ tính toán như vậy, nhưng
không vì thế mà kém phần quan trọng, thí dụ như, từ góc độ kinh nghiệm
cá nhân của con người – cái gì thực sự nằm đằng sau những con số đó? Giả
sử chúng ta đặt cả những câu hỏi như là, thí dụ, chúng ta đã làm gì cho sự
hồi sinh của xã hội về mặt đạo đức và tinh thần, cho sự phát triển những giá
trị thực sự nhân bản trong cuộc sống, cho con người ngày càng có phẩm giá
hơn, có chỗ đứng xác thực và tự do thật sự trong thế giới này? Chúng ta sẽ thấy
gì khi chuyển sự chú ý từ tập hợp những biểu hiện chỉ là bên ngoài,
sang tập hợp những nguyên nhân và hệ quả bên trong, những mối liên hệ và
ý nghĩa của những biểu hiện đó, nói ngắn gọn là tập trung chú ý vào
toàn bộ bề mặt ẩn khuất hơn của thực tế, mà chỉ trong đó, những biểu
hiện bên ngoài ấy mới có được ý nghĩa chung cho con người? Lúc đó chúng
ta có thể nói rằng xã hội chúng ta đã được "củng cố" hay chưa?
Tôi
dám khẳng định rằng chưa. Tôi dám khẳng định rằng – mặc mọi thực tế
hấp dẫn bên ngoài – bên trong, xã hội của chúng ta không những không hề được
củng cố, mà ngược lại, đang rơi vào một cuộc khủng hoảng ngày càng sâu hơn,
một cuộc khủng hoảng mà về mặt nào đó còn nguy hiểm hơn mọi cuộc khủng
hoảng chúng ta từng biết trong lịch sử cận đại.
Tôi
sẽ cố gắng chứng minh điều mình khẳng định này.
Câu
hỏi cơ bản cần đặt ra ở đây là: vì sao trên thực tế người dân lại xử sự
như họ đã xử sự? Vì sao người ta làm tất cả những việc mà nếu gộp chung lại,
chúng sẽ tạo ra hình ảnh ấn tượng của một xã hội hoàn toàn thống nhất, hoàn
toàn ủng hộ chính phủ của mình? Tôi nghĩ rằng, đối với bất kì người
quan sát không định kiến nào thì câu trả lời là rõ ràng: điều thúc
đẩy họ chính là nỗi sợ hãi.
Vì
sợ mất việc làm, thầy giáo dạy trong trường học những điều họ không tin; vì
lo lắng cho tương lai, học trò nhắc lại những điều thầy giáo giảng; vì sợ
không được tiếp tục học tập, thanh niên gia nhập Đoàn thanh niên và tham
gia mọi hoạt động cần thiết; vì sợ rằng trong hệ thống thang bậc chính trị
quái gở này con cái sẽ không đủ tiêu chuẩn vào trường, các ông bố bà mẹ nhận
đủ thứ trách nhiệm và "tự nguyện" tham gia mọi việc mà người ta yêu cầu.
Vì sợ những hậu quả có thể, dân chúng tham gia bầu cử, bỏ phiếu cho ứng
viên do người ta đề cử và vờ như họ coi cái nghi lễ đó là những cuộc bầu
cử thật sự; vì sợ cho cuộc sống, địa vị hay tương lai, người ta đi họp hành,
biểu quyết thông qua mọi thứ mà họ phải thông qua hay chí ít là im lặng; vì sợ
mà họ làm những việc tự phê bình và sám hối nhục nhã, và điền vào không biết
bao nhiêu bảng thăm dò ý kiến khác nhau một cách không chân thực; vì sợ có kẻ
tố cáo, họ không dám thể hiện ý kiến thực sự của mình ở chỗ công cộng
và nhiều khi trong cả chốn riêng tư. Đa số vì sợ những khó khăn về tài
chính, do cố gắng cải thiện vị trí của mình và lấy lòng cấp trên mà người
ta kí tên vào những “cam kết hoàn thành nhiệm vụ”; cũng từ động cơ đó, thậm
chí nhiều khi người ta thành lập cả những tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa
mà ai cũng biết trước rằng sứ mạng chủ yếu của chúng chỉ là để báo cáo
lên cấp trên mà thôi. Vì sợ hãi, người ta tham gia tất cả những buổi lễ kỉ
niệm, biểu tình và tuần hành của nhà nước. Vì sợ sẽ không được tiếp tục
làm việc, nhiều nhà khoa học và nghệ sĩ đã thể hiện sự đồng tình với những
tư tưởng mà trên thực tế họ không tin, viết những điều mà họ không đồng ý hoặc
biết rõ là không đúng, gia nhập những tổ chức của nhà nước hoặc tham gia những
công việc mà họ cho là chẳng có giá trị gì, hay tự cắt xén và bóp méo những
công trình của mình. Để giữ thân, nhiều người thậm chí còn tố giác những người
khác rằng người ta đang làm những việc mà chính bản thân họ đã gây ra
cho người ta.
Nỗi
sợ mà tôi đang nói tới tuy nhiên không thể hình dung như nỗi sợ theo nghĩa
tâm lí bình thường, tức là không phải là một xúc cảm cụ thể và rõ ràng:
xung quanh, chúng ta không nhìn thấy đa số dân chúng run rẩy như lá cây
dương, mà thấy những khuôn mặt công dân tương đối tự tin và mãn nguyện.
Điều tôi nói đến ở đây là nỗi sợ hãi trong nghĩa sâu hơn, theo tôi là
trong khía cạnh đạo đức: đó là sự đóng góp nhận thức dù ít hay nhiều
vào nhận thức của tập thể về mối nguy hiểm thường trực đang rình rập khắp
nơi; là sự lo lắng về cái đang bị đe dọa hay có thể bị đe dọa; là sự quen
dần với mối đe dọa như với một phần thực tế của thế giới tự nhiên; là
sự tiếp thu ngày càng rộng rãi, thản nhiên và khéo léo hơn những hình
thức thích nghi bề ngoài khác nhau như biện pháp tự bảo vệ hữu hiệu duy nhất.
Nỗi
sợ hãi tất nhiên không phải là vật liệu duy nhất xây dựng nên cơ cấu xã hội
hiện nay.
Mặc
dù vậy nó vẫn là vật liệu chính, vật liệu cơ bản, không có nó thì có lẽ
không khi nào có thể đạt được sự thống nhất, kỉ luật và nhất trí bề
ngoài mà những tài liệu của chính quyền đã lấy làm cơ sở để khẳng định
việc “củng cố” trong tương quan xã hội.
Tuy
nhiên sẽ xuất hiện câu hỏi: Người dân thực ra sợ cái gì? Sợ ra tòa? Sợ tra tấn?
Sợ mất tài sản? Sợ bị trục xuất? Sợ bị hành hình? Dĩ nhiên là không. Những hình
thức áp lực dã man nhất của thế lực cầm quyền đối với người dân, may mắn
thay, đã trở thành quá khứ – ít nhất là trong hoàn cảnh hiện nay của chúng ta.
Hiện nay, việc đàn áp diễn ra dưới hình thức mềm mỏng hơn và có chọn
lọc hơn, và cho dù ngay cả ngày nay vẫn còn tồn tại những vụ án chính
trị (trong đó ai cũng biết những biện pháp thao túng của chính quyền) thì
chúng cũng chỉ đại diện cho mối đe dọa có tính cách cực đoan mà thôi, trong
khi trọng tâm chính đã được chuyển sang lĩnh vực của những áp lực đối với đời
sống. Song cốt lõi của vấn đề vẫn không mấy thay đổi: chúng ta đều biết
rằng, giá trị tuyệt đối của mối đe dọa thật ra không quan trọng bằng giá trị
tương đối của nó; vấn đề không phải là người ta bị mất cái gì một cách
khách quan, mà là cái đó – trong chuẩn mực của thế giới nơi anh ta sống,
với thang bậc giá trị của anh ta – có giá trị chủ quan như thế nào. Vì
thế, thí dụ, nếu hiện nay một người nào đó sợ mất cơ hội làm việc trong lĩnh vực
chuyên môn của mình, thì nỗi sợ hãi này cũng mạnh mẽ và có thể tạo ra phản ứng
tương tự như khi anh ta bị đe dọa tịch thu tài sản trong hoàn cảnh lịch sử
khác. Như vậy, phương thức tạo áp lực đời sống, về mặt nào đó,
thậm chí còn mang tính phổ quát hơn: trên đất nước ta, không công dân
nào không thể không bị ảnh hưởng đến đời sống (theo nghĩa rộng nhất)
– mỗi người đều có gì để mất, vì vậy mà ai cũng có lí do để sợ hãi.
Phạm
vi những thứ con người có thể bị mất rất phong phú: từ vô số những đặc
quyền đặc lợi của tầng lớp cầm quyền và tất cả những cơ hội đặc biệt
phát sinh từ quyền lực, đến cơ hội có một công việc yên ổn, được thăng
tiến và trả lương, hay cơ hội có thể được làm việc trong lĩnh vực chuyên
môn của mình, cơ hội được học tập, hay cuối cùng là cơ hội ít ra được sống
ở mức luật pháp an toàn một cách hạn chế như những công dân khác, và
không bị nằm trong tầng lớp đặc biệt của nhóm người không được hưởng cả
những điều luật vẫn được áp dụng cho phần còn lại của xã hội, nghĩa là nằm
giữa những nạn nhân của chế độ phân biệt đối xử chính trị của nhà nước Tiệp
Khắc. Vâng, mỗi người đều có cái để mất. Ngay cả người lao động khiêm tốn nhất
cũng có thể bị đưa xuống vị trí công việc thấp kém hơn và được trả lương thấp
hơn. Ngay cả anh ta cũng có thể bị trừng phạt nặng nề vì đã nói lên suy nghĩ
thực sự của mình trong cuộc họp hay ở quán bia.
Hệ
thống áp lực nhắm vào đời sống này thậm chí đã bao trùm lên toàn bộ xã hội
và lên mỗi công dân dù dưới dạng những dọa dẫm thường ngày cụ thể hay
chỉ như một khả năng chung chung. Tuy nhiên, cũng giống hệt như những
hình thức áp lực tàn bạo hơn từng được áp dụng trong quá khứ, hệ thống đó
không thể hoạt động hữu hiệu nếu như không có một hậu phương quyền lực tự
nhiên nằm trong một lực lượng đảm bảo cho nó tính vạn năng, tính toàn
diện và quyền hành: đó là lực lượng cảnh sát nhà nước với quyền lực vô hạn
và hiện diện khắp nơi. Con nhện đáng sợ này đã chăng một mạng lưới vô
hình xuyên suốt toàn bộ xã hội, nó là điểm giao kết cục của mọi nỗi sợ
hãi, là bằng chứng cuối cùng và không thể chối cãi về sự vô vọng trong mỗi
cố gắng của công dân nhằm đương đầu với chính quyền. Và mặc dù đa số
dân chúng phần lớn không nhìn thấy tận mắt mạng lưới này và không động
chạm được nó thì ngay cả người công dân bình thường nhất cũng biết rằng nó
vẫn tồn tại, cũng thừa nhận sự hiện diện lặng lẽ của nó ở mọi nơi và mọi thời
điểm, và xử sự sao cho phù hợp – nghĩa là xử sự sao cho những cái tai và
con mắt bí mật của mạng lưới này coi mình là người vô tội. Và anh ta biết rất
rõ vì sao anh ta phải chứng tỏ như thế: con nhện này có thể tấn công vào cuộc
sống của con người ngay cả khi anh ta chưa hẳn đã nằm gọn trong đôi kìm
độc của nó; anh ta hoàn toàn không bắt buộc phải bị đưa ra thẩm vấn,
buộc tội, xét xử hay kết án. Bởi ngay cả những người lãnh đạo của anh ta
cũng bị bao bọc trong mạng lưới ấy, và trên mỗi nấc thang nơi quyết định số
phận của anh ta, bao giờ cũng có những kẻ bằng cách này hay cách khác đang
hợp tác hay buộc phải hợp tác với cảnh sát. Việc cảnh sát nhà nước thực ra
có thể can thiệp vào cuộc sống của con người vào bất kì lúc nào – trong khi
anh ta không thể có cách chống đỡ, là thực tế đủ làm cho cuộc sống
của con người mất đi tính tự nhiên và chân thực và biến cuộc sống đó thành
lối sống đạo đức giả thường trực.
Nếu
như nỗi sợ hãi là nguyên nhân của nỗ lực có tính tự vệ nhằm gìn giữ
những thứ người ta đang có, thì chúng ta ngày càng có thể nhìn thấy rõ
rằng, động cơ chủ yếu cho những nỗ lực hung hăng của con người nhằm giành lấy
những thứ họ chưa có chính là tính ích kỉ và tham vọng địa vị.
Dường
như trong thời gian cuối, hiếm khi nào hệ thống xã hội tỏ ra công khai và
trâng tráo đến thế trong việc tạo chỗ đứng cho những kẻ sẵn lòng đồng
tình với bất cứ điều gì vào bất cứ lúc nào, miễn là điều đó mang lại
lợi ích cho họ; những kẻ nhu nhược và hèn hạ, sẵn lòng làm bất cứ việc gì
nhằm thỏa mãn ham muốn quyền lực và thăng tiến cá nhân; những kẻ luồn
cúi, không ngần ngại tự hạ thấp nhân phẩm, sẵn sàng bán rẻ người thân
cận cũng như danh dự bản thân để lấy lòng cấp trên vào mọi lúc. Trong
khung cảnh như thế, không phải ngẫu nhiên khi chính ngày nay, từng ấy
quyền hành và chức vụ nhà nước lại nằm trong tay những kẻ đầy tham vọng,
cơ hội, bịp bợm và mờ ám; hay đơn giản là nằm trong tay những tên cộng
tác viên điển hình, tức là những kẻ có khả năng đặc biệt trong mọi hoàn
cảnh luôn lại tự thuyết phục mình rằng, họ làm công việc nhơ nhuốc này
nhân danh bảo vệ một cái gì đó hay ít ra để ngăn những kẻ còn xấu xa hơn bước
lên vị trí của họ. Trong khung cảnh như thế, cuối cùng cũng không phải
ngẫu nhiên khi chính ngày nay, hiện tượng tham nhũng của đủ mọi viên chức
nhà nước – sẵn lòng ăn hối lộ một cách công khai và vì bất kì việc gì,
sẵn lòng trơ trẽn đặt mọi hình thức lợi nhuận cá nhân lên trên hết
trong những quyết định của mình – đã đạt tới mức độ cao nhất mà
chúng ta có thể ghi nhận được trong thập kỉ cuối này.
Ngày
nay, số người thực sự tin tưởng vào bộ máy tuyên truyền nhà nước và vô tư ủng
hộ quyền lực lãnh đạo giảm đi chưa từng thấy. Trong khi số những kẻ đạo đức
giả ngày một tăng – ở mức độ nào đó, mỗi công dân thực ra đều buộc phải
là một kẻ đạo đức giả.
Tình
trạng đáng buồn như vậy tuy nhiên có nguyên nhân của nó: trong những năm
cuối, hiếm khi nào chế độ lại ít quan tâm tới thái độ thực sự của những công
dân mà bề ngoài tỏ ra trung thành, hay tính chân thật trong những lời tuyên bố
của họ đến như thế – ví dụ chỉ cần để ý một điều là trong những cuộc tự
phê bình hay ăn năn, chẳng ai thực sự quan tâm đến việc người ta làm có chân
thật hay không, hay họ làm việc đó chỉ vì lợi ích của mình; thậm chí có
thể nói rằng, ít nhiều người ta tự động tính đến khả năng thứ hai mà
chẳng hề thấy một biểu hiện phi đạo đức nào trong đó; hơn thế nữa, chính
những lợi ích cá nhân lại thường được sử dụng trước tiên như là lí lẽ để
thu được những tuyên bố như thế; không ai cố gắng làm cho kẻ sám hối nhận
thức được rằng anh ta đã nhầm lẫn hay có hành động sai trái, mà chỉ cố
gắng làm cho anh ta hiểu là đơn giản muốn tồn tại thì anh ta phải sám hối –
đồng thời, lợi ích của anh ta thu được từ điều đó được tô đậm lên, trong khi
vị đắng sót lại trong miệng sau hành động sám hối ấy lại được tầm
thường hóa như thể đấy chỉ là ngộ nhận. Và nếu như có một người lập dị thực
tâm sám hối và chứng tỏ điều đó chẳng hạn bằng cách từ chối trước phần
thưởng tương ứng, thì chắc rằng anh ta sẽ thành nhân vật đáng ngờ ngay cả
đối với chính chế độ này.
Thậm
chí có thể nói, theo nghĩa nào đó, tất cả chúng ta đều được hối lộ một
cách công khai. Nếu bạn nhận chức vụ này, chức vụ kia (dĩ nhiên không phải để
phụng sự đồng bào của mình mà để phục vụ lãnh đạo), bạn sẽ được ban thưởng đặc
quyền đặc lợi này, đặc quyền đặc lợi nọ. Nếu bạn gia nhập Đoàn thanh niên, bạn
sẽ có quyền lợi cũng như điều kiện được hưởng những hình thức giải trí thế
này, thế kia. Nếu bạn tham gia sáng tạo trong những cơ quan nhà nước này
kia, bạn sẽ có những cơ hội sáng tạo thực sự thế này, thế nọ. Trong thâm
tâm bạn nghĩ gì tùy thích, chừng nào bề ngoài bạn tỏ ra đồng tình, chừng
nào bạn không gây cản trở, chừng nào bạn còn đè nén được khát vọng chân lí
và bịt miệng được lương tâm của mình thì cánh cửa luôn rộng mở đối với bạn.
Tuy
nhiên, nếu như nguyên tắc thích nghi bề ngoài là nguyên tắc cơ bản để
được sử dụng trong xã hội, thì những phẩm chất nào trong con người có lẽ
sẽ được huy động, và loại người nào có lẽ sẽ được cất nhắc?
Ở
đâu đó giữa thái độ tự vệ trước thế giới – do nỗi sợ hãi điều khiển, và
sự hung hăng chinh phục thế giới – được dẫn dắt bởi ham muốn lợi ích cá
nhân, là một lĩnh vực trải rộng mà sẽ là sai lầm nếu ta bỏ qua nó,
bởi ngay cả lĩnh vực này cũng có vai trò quan trọng trong việc cùng hình
thành bầu không khí đạo đức trong “xã hội thống nhất” ngày nay: đó là thái
độ bàng quan và mọi điều liên quan với nó.
Sau
những chấn động lịch sử gần đây và sau khi thấy chế độ nào đã được thiết
lập trên đất nước, người dân dường như đã đánh mất niềm tin vào tương lai,
vào khả năng cải tổ những vấn đề xã hội, vào ý nghĩa của cuộc đấu tranh vì
chân lí và công lí. Họ từ bỏ mọi điều nằm ngoài giới hạn những lo lắng
thường nhật cho việc đảm bảo cá nhân; họ tìm mọi cách khác nhau để
trốn chạy; họ rơi vào trạng thái lãnh đạm, bàng quan với những giá trị cao
hơn cá nhân và bàng quan với đồng bào của mình, họ trở thành thụ động và chán
nản về mặt tinh thần. Và ai còn tiếp tục cố gắng chống đối, thí dụ, bằng
cách từ chối tiếp nhận nguyên tắc đạo đức giả như giải pháp để tồn tại
vì nghi ngờ giá trị của những thăng tiến được mua bằng sự vong thân với
chính mình, người đó sẽ bị môi trường ngày càng bàng quan xung quanh coi
là một kẻ kì quặc, điên khùng, một Don Quixote – và cuối cùng chắc chắn sẽ
bị tiếp nhận với ác cảm nhất định như một kẻ có hành vi khác hẳn số
đông, hơn nữa ở cá nhân đó còn có mối nguy hiểm, rằng bằng hành vi
của mình, anh ta sẽ đặt tấm gương phê phán lên trước mặt những người
xung quanh. Hoặc khả năng thứ hai là, cộng đồng bàng quan ấy bề ngoài
thì khai trừ cá nhân đó ra khỏi tập thể của mình hay tránh xa anh ta như
được yêu cầu, nhưng lại đồng tình với anh ta một cách bí mật hay
riêng tư, với hi vọng rằng, bằng việc đồng tình một cách che giấu với
người đã có hành động mà chính họ đáng lẽ phải làm nhưng không thể, họ
sẽ làm toại nguyện lương tâm của mình.
Thái
độ bàng quan này, tuy nhiên – nghịch lí thay – là một nhân tố xã hội
rất tích cực: chẳng phải nhiều người đi tới hòm phiếu bầu cử, tham dự
họp hành, tham gia những tổ chức nhà nước, không hẳn do sợ hãi mà đơn
giản là do bàng quan? Chẳng phải các hoạt động có vẻ như thành công
đến thế để ủng hộ chế độ về mặt chính trị thường chỉ là việc của
những lề thói, thói quen, hành động vô thức và lười nhác, mà ẩn nấp đằng sau
chúng thực ra không là gì khác ngoài sự buông xuôi hoàn toàn? Tham gia
tất cả những nghi thức chính trị này, những thứ mà chẳng ai tin, là việc làm
tuy vô nghĩa, nhưng ít nhất đảm bảo được sự yên ổn – thế còn không tham gia
thì sẽ có ý nghĩa gì? Sẽ không đạt được gì, hơn nữa người ta có thể sẽ mất
luôn cả sự yên ổn kia.
Đa
số dân chúng không muốn sống trong cuộc xung đột bất tận với chính quyền, chủ
yếu vì xung đột ấy không thể dẫn đến gì khác ngoài sự thất bại của cá nhân đơn
độc. Vậy thì tại sao người ta lại không làm những việc được yêu cầu? Anh ta sẽ
không mất gì cả, và dần dần anh ta sẽ thôi cả nghĩ ngợi: những việc đó không
đáng để anh ta phải suy nghĩ.
Tuyệt
vọng dẫn tới thờ ơ, thờ ơ rồi sẽ thích nghi, thích nghi dẫn tới thi hành theo
thói quen (sẽ phục vụ như bằng chứng cho việc tham gia hoạt động chính trị
quần chúng). Tổng hợp tất cả những điều đó tạo ra khái niệm đương thời về cái
gọi là cách xử thế thông thường – một khái niệm cực kì yếm thế trong bản chất.
Con
người càng thoái lui trước khả năng sửa đổi tình hình chung, càng không hề
quan tâm tới những giá trị và mục tiêu cao hơn cá nhân, nghĩa là từ bỏ cơ hội
tác động “hướng ngoại”, thì năng lượng của anh ta càng chuyển hướng sang nơi
gặp ít cản trở nhất: sang “hướng nội”. Dân chúng hiện nay quan tâm đến bản
thân, đến tổ ấm, gia đình và ngôi nhà của mình hơn rất nhiều, ở đó họ tìm thấy
sự yên ổn, ở đó họ có thể quên đi mọi trớ trêu của cuộc đời, và ở đó họ có thể
tự do thể hiện tính sáng tạo của mình. Họ kiếm về nhà những thiết bị và đồ vật
đẹp mắt, mong muốn nâng cấp nhà cửa, làm cho cuộc sống của mình trở nên dễ chịu
hơn, họ xây nhà nghỉ, chăm sóc xe cộ, quan tâm nhiều hơn tới ăn mặc, tiện nghi
gia đình, đơn giản là họ chuyển sang quan tâm trước hết đến khía cạnh vật chất
trong đời sống riêng tư của mình.
Định
hướng xã hội này một cách dễ hiểu đã dẫn đến những kết quả thuận lợi về mặt
kinh tế: dưới áp lực của nó, lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng và dịch vụ công cộng
vốn bị sao lãng nay được phát triển; nó có ảnh hưởng đến việc nâng cao mức sống
của dân chúng nói chung; về mặt kinh tế quốc dân, nó là nguồn năng lượng năng
động đáng kể, ít nhất phần nào có khả năng hoàn thành những nhiệm vụ trong việc
gia tăng tài sản vật chất xã hội mà kinh tế nhà nước cứng nhắc, quan liêu và
năng suất thấp khó có thể kham được (chỉ cần so sánh số lượng và chất lượng
công việc của các công ty xây dựng quốc doanh và tư nhân).
Chính quyền hoan nghênh và
ủng hộ việc chuyển dòng năng lượng sang lãnh địa “tư”. Nhưng vì sao?
Vì
những kết quả mang lại như một kích tố thuận lợi đối với việc phát triển
kinh tế quốc dân? Chắc chắn đó cũng là một lí do. Tuy nhiên việc toàn bộ tinh
thần của bộ máy tuyên truyền và hoạt động chính trị hiện hành, một cách kín đáo
nhưng có hệ thống, đang đẩy xu hướng “hướng nội” này thành nội dung cơ bản nhất
của cuộc sống con người trên thế gian, đã bộc lộ quá rõ, thực chất vì sao
chính quyền hoan nghênh việc chuyển dòng năng lượng như vậy: trước hết vì –
từ nguồn gốc tâm lí – đó là sự trốn chạy khỏi lãnh địa “công cộng”. Linh
cảm đúng đắn rằng, năng lượng đã được sử dụng đó – nếu được “hướng ngoại”
– sớm muộn gì cũng quay ra chống lại chính quyền (hoặc chống lại hình thức
quyền lực mà nó không có ý định từ bỏ), chính quyền không ngần ngại giả mạo
cuộc sống con người bằng cái thực ra chỉ là thế phẩm tuyệt vọng của nó.
Và thế là để điều khiển xã hội được dễ dàng, chính quyền cố tình hướng
mối quan tâm của xã hội ra khỏi chính nó, nghĩa là ra khỏi những chủ đề
mang tính xã hội: cột mọi chú ý của con người vào những lợi ích tầm thường
thuần vật chất để anh ta mất khả năng ghi nhận mức độ cưỡng ép ngày càng nặng
nề về tinh thần, chính trị và đạo đức; quy giản con người thành kẻ chỉ biết chứa
những lí tưởng của xã hội tiêu dùng thô sơ nhằm biến anh ta thành loại vật liệu
dễ sai bảo cho sự thao túng toàn diện; và nguy cơ rằng con người có thể khát
khao một số trong vô vàn những lựa chọn không dự đoán được mà anh ta với
tư cách con người được có, phải bị đè bẹp ngay từ phôi thai bằng cách giam
chặt anh ta trong giới hạn nghèo nàn của những lựa chọn dành cho người
tiêu dùng trong điều kiện hạn chế của thị trường do trung ương quản lí.
Mọi
bằng chứng đều cho thấy chính quyền đang xử sự đúng như cách xử sự của loài
sinh vật mà mục đích duy nhất của chúng là tự bảo tồn. Cố gắng bám theo con đường
ít chống đối nhất, họ hoàn toàn không quan tâm tới cái giá phải trả cho
việc làm này: đó là hành động tấn công nặng nề vào sự toàn vẹn nhân
tính, là sự cắt xén tàn nhẫn nhân tính con người.
Trong
khi ấy, chính chính quyền này vẫn dai dẳng dùng ý thức hệ cách mạng để tự
chính danh hóa nó như một chế độ, trong đó lí tưởng giải phóng con người
một cách toàn diện giữ vai trò trung tâm! Nhưng trên thực tế, ở đâu còn
tồn tại con người được phát triển nhân cách một cách đa dạng, hài hòa và
đích thực? Con người được giải phóng khỏi sự giam cầm của những bộ máy xã
hội chuyên cướp đoạt, khỏi những thang bậc giá trị cuộc sống huyễn hoặc,
khỏi những quyền tự do giả mạo, khỏi sự độc tài của của cải và quyền
lực hấp dẫn của đồng tiền? Con người được hoàn toàn tận hưởng công lí xã hội
và pháp luật, được đóng góp một cách sáng tạo vào các quyền lực kinh tế và
chính trị, con người được nâng cao trong nhân phẩm và được trở lại chính
mình? Thay vì được tự do tham gia cùng quyết định những vấn đề kinh tế, tự do
tham gia đời sống chính trị và tự do phát triển tinh thần, cuối cùng người dân
chỉ được mời chào cơ hội được tự do quyết định sắm sửa cái máy giặt hay tủ
lạnh loại nào.
Tức
là: phía trước là mặt tiền hoành tráng với những lí tưởng nhân văn cao cả,
đằng sau nó là ngôi nhà khiêm nhường của anh thị dân trưởng giả thời xã hội
chủ nghĩa. Một mặt là những khẩu hiệu khoa trương về sự phát triển chưa từng
thấy mọi quyền tự do, và sự đa dạng chưa từng có trong cấu trúc đời sống –
mặt kia là một màu xám xịt và trống rỗng chưa từng thấy của cuộc sống bị quy
giản thành cuộc săn lùng hàng hóa.
Đứng
đâu đó trên đỉnh của hệ thống áp lực thao túng, cái biến con người thành
thành viên ngoan ngoãn u mê của bầy đàn tiêu thụ – như tôi đã nhắc ở trên –
là lực lượng ngầm ẩn và toàn quyền: đó là cảnh sát nhà nước. Có lẽ
không phải ngẫu nhiên mà lực lượng này có thể minh họa một cách hình tượng
đến thế vực thẳm ngăn cách mặt tiền ý thức hệ với hiện thực hàng ngày: bất
kì ai không may có dịp tiếp xúc trực tiếp với “phong cách làm việc” của cơ
quan này, hẳn phải nực cười khi được chính thức nghe lời giải thích phỉnh phờ về
mục đích của nó: hay có thể tin rằng những rình rập nhơ bẩn của hàng ngàn kẻ
chỉ điểm nghiệp dư và cảnh sát chìm chuyên nghiệp, những tên tiểu nhân hám
danh, vụ lợi và các công chức quan liêu đầy mặc cảm, xảo quyệt, đố kị và
ác ý, mớ bòng bong hôi hám của những vụ bội phản, những chứng cớ vắng mặt ngụy
tạo, những lừa lọc, dèm pha và thủ đoạn – là phong cách của người công nhân bảo
vệ chính quyền nhân dân và những thành tựu cách mạng chống lại mưu mô của kẻ
thù? Rốt cuộc, kẻ thù lớn nhất đối với chính quyền đích thực của giai cấp
công nhân – nếu như mọi việc không bị lộn ngược từ chân lên đầu – lẽ ra phải
chính là tên tiểu nhân vụ lợi sẵn sàng làm mọi việc và chẳng ngại ngần trước
bất cứ điều gì, kẻ chạy chữa sự tự ti què quặt của mình bằng cách tố cáo đồng
bào, kẻ có thể được nhận diện dễ dàng đến thế đằng sau công việc thường
ngày của cảnh sát mật như tác giả tinh thần thực thụ cho “phong cách làm
việc” của họ!
Theo
tôi, khó có thể giải thích toàn bộ sự tương phản lố bịch giữa lí thuyết và thực
tiễn khác hơn rằng, đó là hậu quả tự nhiên của sứ mệnh đích thực của cảnh
sát nhà nước ngày nay: không phải để bảo vệ sự phát triển tự do của con người
trước những kẻ cưỡng bức, mà là bảo vệ những kẻ cưỡng bức trước mối đe dọa
từ bất kì cố gắng nào của con người để được phát triển tự do.
Mâu
thuẫn giữa học thuyết cách mạng về con người mới và đạo đức mới và quan niệm
thấp kém về cuộc sống như hạnh phúc tiêu dùng, làm thức dậy câu hỏi, thực
chất vì sao chính quyền lại bám chặt vào ý thức hệ của họ đến thế. Rõ ràng
chỉ vì, ý thức hệ – như một hệ thống truyền thông mang tính nghi thức được
thông lệ hóa – đã bảo đảm cho họ vẻ ngoài của tính chính danh, liên tục và
nhất quán, và phục vụ như chiếc mặt nạ uy tín cho hoạt động thực dụng của
họ.
Tuy
nhiên những quan tâm cụ thể thực sự của hoạt động đó đồng thời phải ngấm
vào ý thức hệ chính thức ở mọi nơi: từ trong tim gan một núi vô tận những
ngôn từ hoa mĩ về ý thức hệ mà nhà cầm quyền vẫn luôn dùng để tác động tới
con người, và phần lớn bị bỏ ngoài tai bởi giá trị thông tin trống rỗng của nó
– cuối cùng thực sự vọng đến anh ta là thông điệp duy nhất cụ thể và có
ý nghĩa như một lời khuyên thực tế: hãy tránh xa chính trị nếu có thể – đấy là
việc của chúng tôi, hãy chỉ làm những gì chúng tôi nói, đừng triết lý thừa và đừng
chõ mũi vào những việc không liên quan đến anh, ngậm miệng lại, hãy làm việc của
mình, hãy tự lo cho mình – và anh sẽ bình an.
Con
người đã nghe theo lời khuyên này: nói cho cùng, sự cần thiết lo lắng cho cuộc
sống cá nhân là điều duy nhất mà nói chung người ta có thể không khó khăn đồng
thuận với chính phủ. Vậy thì tại sao lại không tận dụng điều đó? Nhất là khi
đằng nào cũng chẳng làm được gì khác.
Toàn
bộ tình hình mà tôi vừa cố gắng thâu tóm những nét cơ bản nhất ở đây sẽ dẫn đến
những hậu quả như thế nào? Hay nói cách khác, hệ thống xây dựng trên nỗi sợ
hãi và thờ ơ, đẩy con người vào hang ổ của cuộc sống thuần vật chất và tạo cho
họ thói đạo đức giả như nguyên tắc giao tiếp chủ yếu với xã hội – sẽ có tác
động gì với nhân dân và biến người dân thành cái gì? Nền chính trị mà mục đích
duy nhất của nó là trật tự bề ngoài và sự phục tùng toàn diện – bất chấp bằng
phương tiện gì và với giá nào để đạt được điều đó, sẽ đẩy xã hội đi đến đâu?
Không
cần có trí tưởng tượng phong phú cũng có thể hiểu rằng, tình hình như thế
không thể dẫn tới điều gì khác ngoài sự xói mòn từng bước tất cả các tiêu chuẩn
đạo đức, sự mục rữa mọi thước đo của cách sử xự đúng đắn và sự suy yếu
sâu rộng niềm tin vào ý nghĩa của những giá trị như sự thật, sự trung thành
với nguyên tắc, sự thẳng thắn, tính không vụ lợi, phẩm cách và danh dự. Nó
không dẫn tới điều gì khác ngoài việc nhấn chìm cuộc sống xuống mức sống
thực vật, tức là xuống tới tình trạng thoái hóa đạo đức trầm trọng do mất
hi vọng và do khủng hoảng trong cảm nhận ý nghĩa cuộc sống. Nó không dẫn tới
điều gì khác ngoài việc làm sống lại khía cạnh bi kịch của vị trí con người
nói chung trong nền văn minh kỹ thuật hiện đại, cái liên quan tới chân trời
tuyệt đối đang dần mai một và điều mà tôi có thể gọi là sự khủng hoảng bản
sắc con người: hay chẳng lẽ hệ thống kiên quyết đòi con người phải trở thành
một con người khác lại có thể phanh hãm quá trình tan rã sự đồng nhất của
con người với chính mình?
Trật
tự đã đạt được. Cái giá phải trả là tinh thần bị tê liệt, con tim trơ lì và cuộc
sống bị tàn phá. Sự củng cố bề ngoài đã đạt được. Cái giá phải trả là khủng
hoảng xã hội về mặt đạo đức và tinh thần.
Tuy
nhiên, điều tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng này là nó đang tiếp tục nhấn sâu
hơn nữa: chỉ cần nhìn cao hơn một chút so với góc nhìn hạn chế hàng ngày,
chúng ta sẽ hoảng sợ nhận ra rằng, tất cả chúng ta đã từ bỏ nhanh chóng đến
thế nào những quan điểm mà mới hôm qua ta còn không chịu nhượng bộ: những gì
mà hôm qua nhận thức xã hội còn coi là không đúng đắn thì hôm nay lại được
tha thứ như thường, để ngày mai rõ ràng sẽ được coi là đương nhiên và ngày
kia thậm chí có thể sẽ là phép khuôn mẫu mực. Những gì mà mới hôm qua chúng
ta còn tuyên bố là không bao giờ có thể quen, hoặc đơn giản coi là không thể,
thì hôm nay chúng ta không chút ngạc nhiên chấp nhận như một thực tế. Và ngược
lại, có những điều mà chỉ cách đây không lâu còn là lẽ đương nhiên, hôm nay ta
đã coi là ngoại lệ – và chẳng bao lâu nữa – ai biết được – chúng ta sẽ coi là
lý tưởng không thể với tới.
Những
biến chuyển trong thước đo về điều “tự nhiên” và điều “bình thường”, cũng
như những thăng trầm trong cảm nhận đạo đức của xã hội mấy năm vừa qua, thật
ra lớn hơn có thể thoạt tưởng. Thường xuyên kề cận với tình trạng trơ lì
ngày càng gia tăng, đương nhiên khả năng nhận thức sự trơ lì này cũng bị trơ
lì.
Căn
bệnh như đã lan tràn từ lá và quả xuống tới thân và gốc rễ. Do đó, điều
đáng để chúng ta lo ngại nhất chính là viễn cảnh tương lai đang được tạo
dựng từ trong thực trạng hiện tại.
Xã
hội trong nội tâm phát triển hơn, phong phú và chọn lọc hơn, trước hết là do
khả năng tự nhận thức mình ngày một sâu sắc hơn, toàn diện hơn và tinh tế
hơn.
Phương
tiện cơ bản để xã hội tự nhận thức mình là văn hóa. Là một lĩnh vực hoạt
động cụ thể của con người, văn hóa có ảnh hưởng – mặc dù thường rất gián tiếp
– tới trạng thái tinh thần xã hội và đồng thời luôn chịu ảnh hưởng bởi chính
trạng thái đó.
Nơi
sự phát triển nội tâm đa dạng của xã hội bị chế độ cai trị toàn diện đè
bẹp hoàn toàn thì văn hóa tất yếu sẽ bị đàn áp trước tiên: không chỉ “tự
động” như đàn áp một điều gì có bản chất cốt lõi trái ngược hoàn toàn với
“tinh thần” của mọi thao túng xã hội, mà còn một cách “hệ thống”: từ lo sợ
chính đáng, rằng trước hết thông qua chính văn hóa như phương tiện để tự
nhận thức, xã hội sẽ nhận thức được cả mức độ bị cưỡng bức. Văn hóa giúp xã
hội mở rộng quyền tự do và khám phá sự thật – vậy thì làm sao nó có thể hấp dẫn
một chính quyền có bản chất chính là sự đàn áp những giá trị đó? Chính
quyền này chỉ công nhận một “sự thật” duy nhất: sự thật mà họ hiện tại đang cần.
Và công nhận một “tự do” duy nhất: tự do tung hô “sự thật” đó.
Thế
giới của “sự thật” không phát triển từ môi trường biện chứng của nhận
biết đích thực mà chỉ từ môi trường của những quan tâm quyền lực, là thế
giới của những tư tưởng vô sinh, những giáo điều xơ cứng, những tín điều cứng
nhắc bất di bất dịch cùng với sự chuyên quyền thực dụng như hệ quả tự nhiên
của chúng.
Đó
là thế giới của những cấm đoán, hạn chế và mệnh lệnh. Là thế giới nơi mà chính
sách văn hóa trước hết có nghĩa là những hoạt động của cảnh sát văn hóa.
Người
ta đã viết và nói nhiều về mức độ tàn phá kì dị mà nền văn hóa hiện nay của
chúng ta đang phải chịu đựng; về hàng trăm nhà văn và tác phẩm bị cấm đoán; về
hàng chục tạp chí phải đình bản; về tất cả các danh mục xuất bản và trình diễn
bị cắt xén tan hoang và mọi mối liên hệ với trạng thái tinh thần xã hội
bị cắt đứt; về các phòng triển lãm bị cướp bóc; về bảng màu kì quái của
những đàn áp và phân biệt kì thị được áp dụng trong lĩnh vực này; về tất cả
các hội đoàn văn nghệ sĩ và rất nhiều viện khoa học tồn tại cho đến nay bị
quét sạch, và thay thế chúng là những hội bù nhìn được quản lí bởi một
tốp những kẻ cuồng tín hung hăng, những kẻ háo danh có tiếng, những kẻ hèn
nhát vô vọng và những kẻ tham vọng bất tài đã nắm lấy cơ hội lớn trong
khoảng trống chân không tổng thể. Thay vì mô tả lại tất cả những chuyện
này một lần nữa, tôi sẽ cố gắng nói lên một số suy nghĩ về những khía cạnh sâu
hơn của tình trạng đó và có liên quan đến đề tài của bức thư này.
Trước
hết, dù tình hình hiện nay có xấu đến đâu, điều đó cũng không có nghĩa là văn
hóa đã hoàn toàn không còn tồn tại. Nhà hát vẫn biểu diễn, truyền hình vẫn phát
sóng hàng ngày và cả sách vẫn được xuất bản. Nhưng toàn bộ nền văn hóa hợp
pháp và công khai này có một đặc điểm căn bản: đó là sự ngoại hiện tổng
quát, bởi nó đã hoàn toàn tách rời khỏi bản chất cốt lõi nhất của văn
hóa, do văn hóa – như chính phương tiện tự nhận thức của con người và như vậy
của cả xã hội – đã bị thiến hoạn hoàn toàn. Và ngày nay nếu như một giá trị
xuất sắc không thể chối cãi xuất hiện – thí dụ – cho phép tôi tiếp tục trong
môi trường nghệ thuật – một vai diễn tuyệt vời, thì giá trị đó sẽ xuất hiện
như một điều gì được khoan dung chỉ nhờ sự tinh tế và bay bổng, và nghĩa là
trên quan điểm của chính quyền, nhờ tính tương đối vô hại trong ảnh hưởng
của nó tới sự tự nhận thức của xã hội. Nhưng ngay cả ở đây – khi ảnh
hưởng ấy vừa mới bắt đầu được cảm nhận rõ ràng hơn – thì chính quyền đã bắt
đầu chống trả theo bản năng (chúng ta từng biết đến trường hợp những nghệ
sĩ có tài bị cấm đoán, về cơ bản chỉ vì tài năng của họ quá lớn).
Nhưng
đó không phải là điều tôi muốn nói ở đây. Câu hỏi tôi quan tâm là sự ngoại
hiện ấy thể hiện như thế nào trong những lĩnh vực, nơi có công cụ để gọi tên thẳng
thắn hơn trải nghiệm của con người trên thế giới, nghĩa là nơi mà chức năng
thúc đẩy sự tự nhận thức của xã hội được thực thi một cách rõ ràng hơn.
Xin
dẫn một thí dụ, giả sử một tác phẩm văn học, một vở kịch chẳng hạn, được công
bố – việc đó đôi khi cũng xảy ra – và không thể phủ nhận sự khéo léo, tính
thuyết phục, giàu ý tưởng và ý nghĩa của nó. Dù tác phẩm như vậy ngoài ra
có như thế nào đi nữa thì chúng ta luôn biết chắc chắn một điều: dù do kiểm
duyệt hay tự kiểm duyệt, do bản tính của nhà văn hay do sự tự huyễn hoặc của
ông ta, do hậu quả của sự nhẫn nhục hay tính toán, tác phẩm đó ngay chỉ một
li cũng không vượt quá khuôn khổ những tôn sùng của những nhận thức xã
hội theo thông lệ, tầm thường, và vì vậy về bản chất là giả tạo, đưa ra và
tiếp nhận không phải là những trải nghiệm thực sự của thế giới, mà chỉ
những ảo tưởng của trải nghiệm, được hợp lại từ một mớ những trải nghiệm
vụn vặt, hời hợt, nhẵn nhụi, cũ mòn hay những cái bóng đã chết nào đó của trải
nghiệm từ lâu đã được ý thức xã hội chấp nhận và thuần hóa. Dẫu vậy – hay đúng
hơn là chính vì vậy – bao giờ cũng có hàng loạt người coi tác phẩm như thế là
thú vị, lôi cuốn, cảm động và có gì đó hấp dẫn – mặc dù nó không hề tỏa sáng
bởi ánh chớp của nhận thức đích thực, theo nghĩa là nó tiết lộ điều gì
đó chưa biết, nói lên điều gì đó chưa được nói, hoặc đưa ra những dấu vết
mới mẻ, tự phát và ấn tượng về điều cho đến nay mới chỉ là linh cảm. Nói ngắn
gọn, bằng cách mô phỏng thế giới hiện thực, tác phẩm như vậy về cốt lõi đã giả
mạo thế giới hiện thực. Còn về hình thức cụ thể của sự ngoại hiện này, không
phải ngẫu nhiên mà ở đây nó được rót ra thường xuyên nhất từ một thùng bia,
ở nước ta đã thành truyền thống – nhờ sự vô hại đã được công nhận của những
gì nó chứa bên trong – được đứng dưới ánh sáng ưu đãi của chính quyền, dù tư
sản hay vô sản: tôi muốn nói về thẩm mĩ học tầm thường định cư trong chiều kích
của thói đạo đức thân mật tiểu thị dân; về triết lí ủy mị của tính nhân đạo
láng giềng; về kiểu vui nhộn nơi góc bếp; về quan niệm tỉnh lẻ về thế giới, dựa
trên niềm tin vào lòng tốt nói chung; tôi muốn nói tới cái thẩm mĩ học mà
trụ cột của nó là sự sùng bái chủ nghĩa trung bình khôn ngoan dựa trên
nền tảng của tinh thần tự thỏa mãn dân tộc mục nát, được điều khiển
bởi nguyên tắc nghiền nhão, xé nhỏ, mài nhẵn và cuối cùng kết thúc
trong tinh thần lạc quan giả tạo của cách diễn giải thấp kém nhất câu
khẩu hiệu “sự thật chiến thắng”.
Những
tác phẩm nhằm văn học hóa tư tưởng chính trị của chính phủ – chắc chắn
như ông cũng biết – hiện nay rất hiếm, và chất lượng rõ ràng rất thấp
về mặt chuyên nghiệp. Đó không chỉ do không có ai sáng tác chúng mà
chắc chắn còn vì, về cơ bản – ngay cả khi có thể có cảm giác như ngược
đời – những tác phẩm như thế cũng không được hoan nghênh đặc biệt: trên quan
điểm triết lí sống thực sự ngày nay – tức là triết lí sống tiêu thụ –
nếu như tồn tại những tác phẩm như thế, nếu như chúng có chất lượng
chuyên nghiệp cao và thu hút được sự quan tâm của ai đó – thì chúng sẽ hướng
sự chú ý quá nhiều “ra bên ngoài”, sẽ gợi lại quá nhiều những vết thương
cũ, và bằng tính chính trị rộng rãi và quyết liệt của mình sẽ tạo nên
phản ứng chính trị một cách rộng rãi và quyết liệt, và vì thế sẽ khuấy
động quá nhiều những làn nước đáng ra phải giữ sao cho đứng yên nhất.
Đối với những mối quan tâm thật sự của nhà cầm quyền hiện nay thì
điều mà tôi gọi là thẩm mĩ học của sự tầm thường phù hợp hơn rất nhiều.
Bởi nó bỏ qua sự thật một cách kín đáo hơn, dễ chấp nhận hơn, đáng tin hơn
và nhận thức thông thường cũng tự nhiên tiếp nhận nó dễ dàng hơn, và
vì thế nó có thể thực hiện tốt hơn nhiệm vụ mà triết lí sống tiêu
thụ đã giao cho văn hóa: không kích động dân chúng bằng sự thật mà trấn an
họ bằng những điều dối trá.
Dĩ
nhiên những tác phẩm kiểu này bao giờ cũng chiếm số lượng áp đảo. Nhưng cho
đến nay, ở nước ta bao giờ cũng tồn tại ít nhất là những kẽ hở cho cả những
tác phẩm, mà có thể nói rằng bằng cách này hay cách khác chuyển tải sự
tự nhận thức của con người một cách chân thực hơn, đến được với công
chúng. Số phận những tác phẩm ấy tuy không khi nào đặc biệt dễ dàng –
chúng không chỉ gặp sự chống trả từ phía chính quyền mà còn từ những
nhận thức theo thông lệ, lười nhác và theo quán tính – nhưng cho đến nay,
luôn bằng cách bí ẩn nào đó, quanh co và ít khi ngay lập tức, những
tác phẩm này dù vậy cuối cùng cũng đến được với con người và xã hội, và
bằng cách đó thực hiện được vai trò “giúp xã hội tự nhận thức” của văn
hóa.
Ngoài
ra chúng không có mục đích nào khác nữa. Song theo tôi, đó chính là mục
đích quan trọng nhất. Tuy vậy, chính phủ hiện nay đã làm cho việc ấy –
và có thể chứng minh rằng, đây là lần đầu tiên điều này xảy ra kể từ
Thời kì Hồi sinh của dân tộc[1] –
trở thành gần như hoàn toàn bất khả thi: hệ thống quản lí văn hóa quan liêu
ngày nay thật chính xác và kĩ lưỡng làm sao, việc giám sát mọi kẽ hở
mà qua đó những tác phẩm có ảnh hưởng có thể lọt ra thế giới thật hoàn
hảo làm sao, nỗi sợ chính quyền và nỗi sợ nghệ thuật của tốp người
giữ trong túi áo mình chìa khóa mở mọi cánh cửa, thật to lớn làm sao.
Chắc
chắn ông hiểu rằng, lúc này tôi không còn nói đến danh mục dài hàng
trang những văn nghệ sĩ bị cấm đoán hoàn toàn hay một phần, mà tôi nói đến
cái danh mục còn tồi tệ hơn rất nhiều: đấy là “danh mục khống”, trong đó,
và trước nhất, là tất cả những gì có chứa tia lửa mỏng manh của
suy nghĩ mới lạ hơn, nhận biết sắc sảo hơn, mức độ chân thành cao
hơn, ý tưởng độc đáo hơn, hình thức thuyết phục hơn, – tôi đang nói đến lệnh
bắt giữ sơ bộ tất cả những gì có mầm mống tự do, và vì vậy cũng có nghĩa
là tất cả những gì “văn hóa” theo nghĩa sâu sắc nhất của từ này. Tôi đang
nói đến lệnh bắt giữ văn hóa do chính phủ của ông ban hành.
Việc
này lại một lần nữa gợi lên câu hỏi mà tôi đã đặt ra từ đầu ở đây: Tất
cả những chuyện này – thực sự – có ý nghĩa gì? Nó sẽ dẫn đến đâu? Nó sẽ có
tác dụng như thế nào với xã hội?
Một
lần nữa, tôi xin trả lời bằng một thí dụ: như đã biết, ở nước ta hầu hết
các tạp chí văn hóa trước kia đều đã ngừng phát hành. Nếu tạp chí nào
còn sống sót thì cũng bị chỉnh sửa đến mức không đáng được coi là tờ tạp
chí nghiêm túc.
Việc
này đã dẫn tới điều gì?
Thoạt
nhìn nói chung không có chuyện gì xảy ra: xã hội vẫn tiếp tục hoạt động
– ngay cả khi không có tất cả những tạp chí văn học, nghệ thuật, sân khấu,
triết học, lịch sử và những tờ tạp chí khác. Số lượng của những tạp chí
đó – dù rằng trong thời kì khi chúng còn tồn tại – cũng chưa đáp ứng
đủ nhu cầu tiềm ẩn của xã hội, tuy nhiên chúng vẫn hiện diện và vẫn đóng
vai trò của mình. Có bao nhiêu người hiện nay còn thực sự cảm thấy thiếu
vắng những ấn bản đó? Có lẽ chỉ vài chục ngàn độc giả từng đăng kí mua
chúng, nghĩa là chỉ một phần rất nhỏ trong xã hội.
Tuy
vậy đó là sự mất mát sâu sắc hơn và có ý nghĩa hơn rất nhiều so với cảm
tưởng có thể có trên phương diện số lượng. Song phạm vi ảnh hưởng
thực sự của sự mất mát ấy – một lần nữa – lại ngầm ẩn và khó có
thể diễn đạt bằng những số liệu chính xác.
Sự
thủ tiêu bằng bạo lực một tờ tạp chí như thế – thí dụ như tạp chí lí luận sân
khấu – không chỉ là sự mất mát cho những độc giả thật sự của tờ báo ấy, hay
thậm chí cũng không chỉ là đòn tấn công nặng nề vào văn hóa kịch nghệ. Nó đồng
thời – và trước hết – là sự thủ tiêu một cơ quan tự nhận thức của xã hội,
và sự thủ tiêu như vậy nhất thiết cũng là sự can thiệp khó mô tả chính
xác vào mạng lưới phức tạp của quá trình luân chuyển, trao đổi và chuyển hóa
các chất đảm bảo duy trì sự sống cho một cơ thể nhiều tầng lớp như
xã hội hiện đại. Nó là đòn giáng vào động lực tự nhiên của các quá
trình diễn ra trong cơ thể đó; là sự làm rối loạn những tương tác cân bằng
của rất nhiều chức năng, những tương tác phản ánh mức độ phức tạp trong cấu
trúc bên trong mà cơ thể xã hội đã đạt được. Và cũng giống như khi bị thiếu
một vitamin nhất định quá lâu – nhìn từ phương diện số lượng chỉ là
một thành phần không đáng kể trong toàn bộ chế độ ăn uống của con
người – tuy vậy vẫn có thể gây bệnh tật cho anh ta, sự mất mát chỉ
một tạp chí duy nhất – từ viễn cảnh lâu dài – cuối cùng có thể gây
ra cho cơ thể xã hội những tác hại lớn hơn ta thoạt tưởng. Và tác hại
sẽ như thế nào nếu chúng ta bị mất không chỉ một tạp chí mà về cơ bản tất
cả các tạp chí?
Có
thể dễ dàng chứng tỏ rằng, ý nghĩa thực sự của nhận thức, tư tưởng và
sáng tạo trong thế giới phân tầng của xã hội có văn hóa không bao giờ
bị hoàn toàn giới hạn bởi ý nghĩa của những giá trị này đối với
nhóm người cụ thể có liên quan khởi đầu trực tiếp về mặt vật chất với
chúng, dù là tích cực hay thụ động. Số người đó hầu như bao giờ cũng chỉ là
một con số nhỏ, trong lĩnh vực khoa học còn ít hơn trong nghệ thuật, nhưng
nhận thức họ mang lại, mặc dù được chuyển tải qua nhiều bậc trung gian,
cuối cùng có thể có ảnh hưởng sâu sắc đối với toàn bộ xã hội, cũng giống như
nền chính trị có tính đến đe dọa bằng vũ khí hạt nhân có liên quan trực
tiếp tới mỗi chúng ta, trong khi đa phần chúng ta không hề trải nghiệm trực
tiếp những suy luận vật lí lí thuyết dẫn đến việc chế tạo bom nguyên tử.
Lịch sử cũng minh họa điều tương tự đối với những nhận thức nhân văn
bằng rất nhiều thí dụ về các làn sóng bộc phát bất thường trong toàn
xã hội về mặt văn hóa, chính trị và đạo đức, mà cốt lõi tinh thể
ban đầu hay chất xúc tác của những bộc phát ấy chính là hành động tự nhận
thức của xã hội, được thực hiện và được trải nghiệm một cách trực
tiếp chỉ do một nhóm cá nhân khá nhỏ và khép kín. Hành động này thậm chí
sau đó có thể nằm lại ngoài khuôn khổ tri giác trực tiếp của tổng
thể xã hội, dù vậy nó vẫn là điều kiện không thể thiếu của những bộc phát
xã hội. Vì chúng ta không bao giờ biết khi nào tia lửa kín đáo của nhận thức
được nhóm lên trong phạm vi một vài tế bào – như thể chuyên làm nhiệm
vụ tự nhận thức cho cơ thể – sẽ bất ngờ chiếu sáng con đường cho toàn xã
hội, mặc dù xã hội có thể sẽ hoàn toàn không biết được vì sao nó lại nhận
ra con đường đó. Nhưng đấy cũng chưa phải là tất cả. Thậm chí ngay cả vô số
ánh chớp nhận thức tuy không bao giờ chiếu rọi được con đường cho tổng thể
xã hội, nhưng vẫn có giá trị vô cùng quan trọng đối với nó, cho dù cái
ý nghĩa ấy không ở trong bất cứ điều gì khác, mà chỉ đơn giản rằng
chúng đã từng xuất hiện, rằng chúng đã có thể phát sáng, và rằng – chỉ
bằng cách bộc lộ mình – chúng là sự thể hiện của một nhóm những tiềm
năng xã hội nào đó – dù trong nghĩa là tiềm năng sức sáng tạo hay đơn giản
chỉ là tiềm năng tự do, rằng chúng đã cùng tạo ra và cùng đảm bảo môi trường
văn hóa cần thiết cho những ánh chớp sáng rọi hơn có thể xuất hiện.
Không gian của quá trình tự nhận thức tinh thần nói tóm lại là không thể
chia cắt; một sợi chỉ bị cắt chắc chắn sẽ làm hỏng sự nối kết của cả mạng lưới
– và điều đó tự nó đã chứng tỏ sự phụ thuộc lẫn nhau khác thường của tất cả
những tiến trình rất tinh vi trong cơ thể xã hội mà tôi đã nói tới, chứng tỏ
ý nghĩa vô cùng to lớn của mỗi quá trình, cũng như tác hại vô cùng to
lớn của sự phá vỡ mỗi quá trình đó.
Tôi
không muốn qui giản toàn bộ vấn đề vào khía cạnh duy nhất và vẫn còn
khá tầm thường này. Tuy nhiên chẳng phải ngay sự việc đó cũng đã khẳng
định rằng, “lệnh bắt giữ văn hóa” – dẫu cho tác dụng trực tiếp của
nó chỉ đổ xuống đầu một số tương đối ít người – đã có, và chủ yếu
là sẽ còn có ảnh hưởng nguy hại sâu xa đối với toàn bộ trạng thái tinh thần
và đạo đức của xã hội?
Nếu
như trong những gần đây, trong các quầy sách không xuất hiện một cuốn tiểu
thuyết tiếng Tiệp Khắc mới duy nhất nào có khả năng mở rộng tầm trải
nghiệm của chúng ta về thế giới một cách đáng kể, thì chắc chắn
điều đó cũng không hề thể hiện ở bên ngoài – độc giả sẽ không vì thế
mà đi biểu tình và cuối cùng thế nào họ cũng sẽ tìm thấy cái gì để đọc.
Song
ai đủ can đảm đánh giá ý nghĩa thật sự của sự kiện này đối với xã hội Tiệp Khắc?
Ai biết khoảng trống này sẽ biểu hiện ra sao trong bầu không khí tinh thần và
đạo đức trong những năm sắp tới? Nó sẽ làm suy yếu khả năng tự nhận thức của
chúng ta đến mức nào? Sự thiếu vắng quá trình tự nhận thức có tính văn hóa
như vậy sẽ để lại dấu ấn sâu sắc như thế nào trong những lớp người ngày
hôm nay đang bắt đầu, hay ngày mai sẽ bắt đầu tự nhận biết bản thân? Bao nhiêu
huyễn hoặc đang từ từ kết đóng trong ý thức văn hóa cộng đồng cần phải được
phá vỡ, và sẽ phải quay trở lại bao xa? Ai biết được rằng, ai, lúc nào, từ
đâu và bằng cách nào sẽ có thể tìm được sức mạnh để nhóm lên ngọn lửa sự
thật mới – khi bị mất đi triệt để đến thế không chỉ khả năng, mà cả cảm giác
có khả năng nhóm lên ngọn lửa đó?
Một
vài cuốn tiểu thuyết cùng loại những cuốn không được bày bán trong cửa hàng
tuy vậy vẫn tồn tại: chúng được lưu truyền dưới dạng viết tay. Về mặt này,
tình hình còn chưa thật tuyệt vọng; từ tất cả những điều tôi vừa trình bày có
thể thấy, ngay cả khi cuốn tiểu thuyết như vậy trong suốt nhiều năm chỉ có chừng
hai mươi người biết đến, thì sự tồn tại của nó vẫn mang ý nghĩa đặc biệt: chỉ
riêng việc có tồn tại một cuốn sách như thế, rằng nó đã có thể được viết
ra, rằng nó đang sống ít nhất trong một khu vực nhỏ hẹp của nhận thức văn
hóa, cũng đã có một ý nghĩa nào đó. Nhưng trong những lĩnh vực không thể làm việc
ngoài cái gọi là cơ cấu hợp pháp thì sao? Làm sao có thể nhận biết được mức độ
những thiệt hại thực sự, đã và đang tiếp tục được gây ra bởi sự bóp nghẹt
những khuynh hướng đáng quan tâm trong lĩnh vực sân khấu và điện ảnh, là những
ngành có ý nghĩa quan trọng đặc thù của tác nhân kích thích xã hội? Từ
góc độ viễn cảnh lâu dài, trạng thái chân không xuất hiện trong các ngành
khoa học nhân văn, trong lí thuyết và môn khoa học xã hội tiểu luận học, còn
có thể có ý nghĩa đến thế nào? Ai đủ can đảm đánh giá ở đây những hậu
quả của việc phá vỡ thô bạo các quá trình tự nhận thức lâu dài khác nhau
trên bình diện bản thể học, luân lí học, lịch sử học, tức là những lĩnh vực rất
phụ thuộc vào việc được tiếp cận với nguồn tài liệu nghiên cứu và được đối
chất thường xuyên với công chúng, và nói chung hậu quả của việc ngăn cản
thô bạo mọi dòng lưu chuyển tự nhiên hơn thông tin, tư tưởng, phát minh và giá
trị, cũng như mọi sự kết tinh thái độ công khai?
Câu
hỏi tổng quát vì thế là: Sự thiến hoạn văn hóa ngày hôm nay sẽ dẫn đến
căn bệnh bất lực về tinh thần và đạo đức đến mức nào cho cả dân tộc trong ngày
mai?
Tôi
sợ rằng những hậu quả xã hội tai hại này sẽ còn tồn tại lâu hơn cả những
quyền lợi chính trị cụ thể đã gây ra chúng. Tội trạng lịch sử của những kẻ
đã hi sinh tương lai tinh thần của dân tộc cho lợi ích quyền lực hiện tại của
chính mình, vì thế càng lớn hơn.
Nếu
như qui luật căn bản của vũ trụ là sự gia tăng entropy (mức độ nhiễu loạn, không sắp xếp của hệ
thống – xu hướng mọi vật chất và năng lượng trong vũ trụ tiến tới
trạng thái trơ không biến đổi – ND) thì ngược lại, qui luật căn bản của đời
sống là gia tăng cấu trúc và chống lại gia tăng entropy: cuộc sống luôn cưỡng
lại sự đồng phục hóa và đơn nhất hóa; viễn cảnh phát triển của nó
không phải là đồng dạng hóa mà là sự đa dạng; cuộc sống là sự thôi thúc
vượt lên chính mình, là cuộc phiêu lưu của những điều mới lạ, là sự nổi
dậy chống lại hiện trạng; hướng phát triển tự nhiên của cuộc sống là
bí ẩn không ngừng đổi mới.
Ngược
lại, khi mục đích của chính quyền chỉ giới hạn vào việc bảo vệ sự bất
biến của bản thân bằng con đường dùng bạo lực áp đặt sự đồng thuận vĩnh viễn,
thì trong bản chất của nó luôn là sự ngờ vực bản năng đối với mỗi biểu
hiện của sự khác biệt, tính độc đáo và siêu nghiệm; là ác cảm bản năng với
tất cả những gì chưa biết, không nắm bắt được và hiện tại bí ẩn; là
bản năng hướng tới sự đồng phục hóa, sự đồng dạng và bất động; là tình
yêu sâu sắc với hiện trạng. Trong chính quyền đó, tư duy máy móc lấn át tư
duy sống động. Trật tự mà chính quyền hướng tới không phải là cuộc kiếm tìm
công khai các hình thức tự tổ chức xã hội ngày một cao hơn, đồng nghĩa với mức
độ cấu trúc phức tạp hơn, mà ngược lại, rút vào “trạng thái dễ dự đoán nhất”,
có chỉ số entropy cao nhất. Đi theo hướng tăng entropy, nghĩa là chính quyền đi
ngược với hướng đi của cuộc sống.
Như
ta đã biết, ở con người cũng tồn tại giây phút khi mức độ cấu trúc của
anh ta bất ngờ giảm xuống và con đường của người đó chuyển hướng theo chiều
tăng entropy, đó là giây phút con người bị khuất phục bởi qui luật chung của
vũ trụ: giây phút của cái chết.
Ở
đâu đó trong chính nền tảng của chính quyền đi theo con đường gia tăng
entropy (và chỉ muốn biến con người thành một cái máy tính, có thể cài vào đó
bất kì chương trình nào và bảo đảm rằng nó sẽ được thực hiện) có mặt
nguyên tắc hủy diệt. Mùi của tử khí phảng phất ngay từ khái niệm “trật tự”
mà chính quyền đó thi hành, và dưới góc nhìn của nó, mỗi biểu hiện của đời
sống chân thực, một hành động độc đáo, một biểu hiện cá tính, một suy nghĩ đặc
sắc, một ý tưởng hay ước vọng bất ngờ, đều nhất thiết chỉ là dấu hiệu cho sự
“rối loạn”, “hỗn độn” và “vô chính phủ”.
Qua
toàn bộ thực tế hoạt động chính trị của chính quyền với các khía cạnh cơ
bản như tôi đã cố gắng miêu tả lần lượt, chế độ hiện nay đã khẳng định rằng,
những lý tưởng “hòa bình”, “trật tự”, “ổn định, củng cố”, “dẫn dắt khỏi
khủng hoảng”, “ngăn chặn sụp đổ”, “trấn an kích động” v.v, mà ngay từ đầu
đã là trụ cột trong chương trình chính trị của nó, kết cục có cùng
nội dung hủy diệt cho chế độ đó cũng như cho mọi chế độ đi theo hướng
tăng entropy.
Đúng,
ở đây có trật tự: trật tự quan liêu của những bộ đồng phục xám xịt làm
tê liệt tính độc đáo, trật tự của sự máy móc đè bẹp tính không lặp lại, trật
tự của sự trì trệ mốc meo loại bỏ khả năng vượt trên chính mình. Đó là
trật tự không còn sự sống.
Đúng,
đất nước ta yên bình. Nhưng liệu đó có phải sự yên bình trong nhà xác hay
nghĩa địa?
Trong
một xã hội sống thực sự sẽ luôn luôn có chuyện gì đó xảy ra một cách tự
nhiên: sự phối hợp những hoạt động và những sự kiện hiện tại, những
chuyển động hiển hiện và ẩn khuất, liên tục tạo ra những tình huống khác
thường lôi cuốn những hoạt động tiếp theo và dấy lên những chuyển động mới.
Sự phân cực bí ẩn của cuộc sống giữa bất biến và biến thiên, giữa tất yếu và
tình cờ, giữa những điều có thể dự đoán và những điều bất ngờ, diễn ra trong thời
gian và biểu lộ bằng dòng sự kiện. Đời sống xã hội càng có cấu trúc hơn bao
nhiêu, thời gian xã hội càng có cấu trúc hơn bấy nhiêu: yếu tố độc đáo và
không lặp lại trong đó càng mạnh mẽ. Điều này hiển nhiên lại thúc đẩy khả
năng phản ánh cuộc sống trong trình tự thời gian như một dòng chảy không đảo
ngược được của những tình huống không thể thay thế, và nhờ vậy, khi nhìn ngược
lại, càng có thể hiểu rõ hơn những gì là tất yếu trong diễn biến xã hội. Cuộc
sống xã hội càng phong phú, xã hội càng nhận thức rõ hơn chiều kích của thời
gian xã hội, chiều kích của lịch sử.
Nói
cách khác, ở đâu có không gian cho diễn biến xã hội, ở đó cũng mở ra không
gian cho kí ức xã hội. Xã hội nào sống thì xã hội đó có lịch sử.
Tuy
nhiên nếu trong lịch sử, yếu tố liên tục và nhân quả liên kết mật thiết đến
thế với yếu tố không lặp lại và không thể dự đoán, thì câu hỏi được đặt ra
là, lịch sử chân thực – suối nguồn không thể dập tắt của “hỗn loạn”, cội nguồn
lâu bền của bất ổn định và cái tát hỗn xược vào trật tự – làm sao có thể tồn
tại trong thế giới được cai trị bằng chế độ “tăng entropy”.
Câu
trả lời là rõ ràng: lịch sử không thể tồn tại trong thế giới ấy. Và nó cũng
không tồn tại ở đó – ít ra là bề ngoài: khi chính cuộc sống đã bị tê
liệt thì thời gian xã hội cũng dừng lại trong đó, và vì thế lịch sử biến
mất khỏi tầm nhìn của cuộc sống.
Ngay
cả ở đất nước ta, dường như từ khi nào đó đã không còn lịch sử. Từ từ
nhưng chắc chắn, chúng ta đánh mất khái niệm thời gian. Chúng ta quên điều gì
xảy ra khi nào, điều gì xảy ra trước và điều gì xảy ra sau, có điều gì đã xảy
ra – và chế ngự trong chúng ta là cảm giác, rằng tất cả những điều đó
thật ra cũng chẳng có gì quan trọng. Khi tính độc đáo biến mất khỏi dòng chảy
của các sự kiện, và nghĩa là cả tính liên tục cũng không còn, tất cả cùng
hòa chung vào bức tranh duy nhất xám xịt của một vòng quay mãi giống nhau:
chúng ta nói rằng “chẳng có gì xảy ra hết”. Trật tự hủy diệt đã được áp đặt ở
đây, mọi biến cố đều được sắp xếp một cách hoàn hảo, và vì vậy cũng hoàn
toàn tê liệt. Khủng hoảng trong cảm nhận về trình tự thời gian trên bình
diện xã hội tất yếu dẫn đến sự khủng hoảng như vậy cả trong cuộc sống cá
nhân: mất đi tấm nền lịch sử xã hội, và như thế cũng mất đi lịch sử vị trí
cá nhân trên tấm nền lịch sử ấy, cuộc sống cá nhân hạ thấp xuống mức thời
tiền sử, nơi thời gian chỉ còn được điểm nhịp bởi những sự kiện như ngày
sinh, ngày cưới và ngày chết.
Khủng
hoảng trong cảm nhận thời gian xã hội dường như đã đẩy xã hội nói chung trở
lại thời kì nào trong tiền sử, khi nhân loại, trong nhận thức về thời
gian xã hội của mình qua suốt hàng ngàn năm đã không vượt qua giới hạn
những biểu hiện đặc trưng mang tính thời tiết trong vũ trụ của bốn mùa lặp
đi lặp lại vô cùng tận và những nghi thức tôn giáo gắn liền với chúng.
Khoảng
trống mà chiều kích bất ổn của lịch sử để lại đằng sau tuy nhiên phải được
lấp đầy: và thế là sự hỗn loạn của lịch sử chân thực được thay thế bằng
trật tự của lịch sử giả hiệu, tác giả của nó tuy nhiên không phải là cuộc sống
xã hội mà là những nhân viên lập kế hoạch; thay vì những sự kiện thực,
người ta cung cấp cho chúng ta những sự kiện ảo; chúng ta sống từ ngày lễ kỉ
niệm này qua ngày lễ kỉ niệm khác, từ lễ hội này qua lễ hội khác, từ cuộc duyệt
binh này qua cuộc duyệt binh khác, từ đại hội đồng lòng nhất trí này đến những
cuộc bầu cử đồng lòng nhất trí kia và từ những cuộc bầu cử đồng lòng
nhất trí kia lại đến đại hội đồng lòng nhất trí nọ; từ ngày Báo chí
qua ngày Pháo binh, và ngược lại. Không phải ngẫu nhiên mà nhờ sự đánh tráo lịch
sử như thế, chúng ta có thể thu được tổng quan thấu đáo về những
"biến cố" trong xã hội, cả trong quá khứ lẫn tương lai, chỉ bằng
cách ghé mắt nhìn vào quyển lịch. Và do nội dung tương đồng đến sáo mòn của
những nghi thức lặp đi lặp lại này mà thông tin thu được bằng cách như
vậy thậm chí cũng chẳng khác gì thông tin chúng ta có thể thu được
từ trải nghiệm đích thực.
Một
lần nữa: trật tự hoàn hảo đã đạt được – song được chuộc bởi việc quay
trở lại thời tiền sử. Ngoài ra còn có thể nói thêm rằng: trong khi đối với
tổ tiên chúng ta, những nghi lễ lặp lại bao giờ cũng mang ý nghĩa hiện sinh sâu
sắc, thì đối với chúng ta, chúng chỉ còn là thủ tục được thực hiện một cách
có mục đích mà thôi; chính phủ duy trì những thủ tục đó để tạo cảm giác lịch
sử đang chuyển động; công dân tham gia chúng để khỏi bị phiền hà.
Chế
độ "entropic" chỉ có một khả năng để làm tăng giá trị entropy
tổng quát trong không gian hoạt động của nó: bằng cách củng cố sự kiểm
soát tập trung, tăng cường tính cố kết, thắt chặt xã hội bằng cái áo
trói ngày càng thông dụng và ngày càng nghẹt kín của sự thao túng một
chiều. Chỉ có điều, mỗi bước đi tiếp theo hướng đó đồng thời có nghĩa
là chế độ tiếp tục làm tăng entropy của chính mình: cố gắng làm thế giới
bất động, chế độ làm cho chính nó trở thành bất động và làm cho khả năng
đương đầu với bất cứ cái mới nào cũng như khả năng chống lại những trào
lưu tự nhiên của cuộc sống của chính mình bị tê liệt. Như vậy là từ bản
chất, chế độ "entropic" kết cục phải chịu số phận trở thành nạn
nhân của nguyên tắc hủy diệt của chính nó, nạn nhân dễ bị tổn thương nhất do
sự thiếu thốn tai hại của bất kì nội lực nào có thể bắt nó trực diện với
chính mình. Quyền lực cưỡng ép cuộc sống càng xơ cứng nhanh hơn, thì ngược
lại cuộc sống – với thôi thúc không thể đè nén chống lại hướng tăng entropy
– càng có khả năng kháng cự một cách thành công hơn và sáng tạo hơn để chống
lại sự cưỡng ép nó.
Làm
tê liệt cuộc sống tức là chính quyền làm tê liệt chính mình – như vậy cuối
cùng là làm tê liệt cả khả năng làm tê liệt cuộc sống của mình.
Nói cách khác, có thể
cưỡng hiếp, đè bẹp và làm tê liệt cuộc sống một cách lâu dài và rất
triệt để – tuy nhiên cuối cùng không thể vĩnh viễn dừng được nó: dù chậm
chạp, che giấu và thầm lặng, nó vẫn tiếp tục chảy; dù hàng ngàn lần bị
tách rời khỏi bản thân, nó vẫn luôn bằng cách nào đó quay trở lại
với chính mình; dù bị cưỡng ép đến thế nào, cuối cùng nó vẫn luôn sống
sót và vượt qua bạo quyền từng cưỡng ép nó. Không thể khác được, do bản
chất thỏa hiệp sâu xa của mỗi quyền lực "entropic”, quyền lực đó
đàn áp và có thể đàn áp được cuộc sống chỉ khi tồn tại một cuộc sống nào
đó, và như vậy sự tồn tại của nó rốt cuộc phụ thuộc hoàn toàn vào cuộc sống,
trong khi sự tồn tại của cuộc sống tuy nhiên hoàn toàn không phụ thuộc vào
nó. Sức mạnh duy nhất có thể thật sự tiêu diệt được cuộc sống trên hành
tinh của chúng ta là sức mạnh không biết đến thỏa hiệp: đó là hiệu lực phổ
quát toàn vũ trụ của định luật thứ hai trong môn nhiệt động học.
Tuy
nhiên nếu như không thể hủy diệt mãi mãi cuộc sống thì cũng không thể
chặn đứng lịch sử: bên dưới cái nắp đậy nặng nề che giấu sự bất động
và những sự kiện giả tạo là dòng nước nhỏ đang chậm rãi và kín đáo làm
xói mòn cái nắp đậy đó. Quá trình ấy có thể kéo dài, nhưng một ngày
nào đó một điều sẽ phải xảy ra: cái nắp đậy không thể kháng cự được nữa
và bắt đầu rạn vỡ.
Và
đó là thời khắc khi một cái gì không trông thấy lại bắt đầu xảy ra, một cái
gì thật sự mới mẻ và khác thường, một cái gì không được trù tính trong
bảng lịch “sự kiện” của giới cầm quyền, một cái gì làm cho chúng ta bỗng
nhiên không còn cảm giác bàng quan rằng khi nào điều đó xảy ra và rằng
điều đó đang xảy ra. Một cái gì có tính lịch sử thật sự, với ý nghĩa rằng
lịch sử bằng cách như vậy lại đòi lên tiếng.
Nhưng
bằng cách nào – trong hoàn cảnh cụ thể của chúng ta – lịch sử có thể
“lên tiếng”? Viễn cảnh như thế thực sự có ý nghĩa cụ thể như thế nào?
Tôi
không phải là nhà sử học hay nhà tiên tri, nhưng nếu như nói về cơ cấu của
những thời điểm như vậy thì tôi không thể bỏ qua một vài quan sát
nhất định.
Nơi
mà ít nhất trong mức độ nào đó có tồn tại sự cạnh tranh quyền lực công
khai, như bảo đảm thực sự duy nhất cho việc kiểm soát quyền lực (và cuối
cùng là bảo đảm cho cả tự do ngôn luận trong bất cứ hình thức nào), thì chính
quyền dù muốn hay không cũng buộc phải đối thoại liên tục và cởi mở với cuộc
sống xã hội. Chính quyền buộc phải thường xuyên giải quyết những câu hỏi đa
dạng nhất mà cuộc sống đặt ra cho họ. Ở nơi không có sự cạnh tranh như thế (và
nơi mà vì vậy tự do ngôn luận trước sau cũng bị đàn áp) – như trường hợp
các chế độ “entropic” – thì chính quyền không chịu thích nghi với cuộc sống
mà cố ép cuộc sống thích nghi với nó, tức là, thay vì thường xuyên giải
quyết công khai những xung đột, đòi hỏi và những vấn đề thực sự của cuộc
sống thì chính quyền ấy chỉ che đậy chúng. Nhưng ở đâu đó bên dưới cái
nắp đậy này, những xung đột và đòi hỏi vẫn hiện diện, tích tụ và sinh sôi
nảy nở, để đến một thời khắc nhất định, khi cái nắp đậy không thể giữ
nổi, chúng sẽ thoát ra. Đấy là thời khắc khi tấm vỏ che đậy sự bất động
bị vỡ tung và lịch sử lại bước vào vũ đài.
Và
điều gì thực sự sẽ xảy ra tiếp đó?
Mặc
dù chính quyền còn đủ sức để ngăn cản sự thể hiện công khai áp lực của
những xung đột cuộc sống – tức là ngăn cản những tranh luận hay cạnh
tranh quyền lực công khai, song họ đã không còn đủ sức hoàn toàn cưỡng lại
áp lực này được nữa. Và thế là cuộc sống đột nhập ít nhất vào nơi có thể
– trong hậu trường ẩn khuất của quyền lực, nơi nó ép buộc nên những tranh
luận bí mật và tiếp đó những cạnh tranh quyền lực bí mật. Tuy nhiên chính
quyền không được chuẩn bị cho điều đó – bất cứ tranh luận thực sự nào với cuộc
sống cũng nằm ngoài tầm năng lực của họ – và vì thế mà họ hoảng loạn:
cuộc sống gieo mầm hỗn loạn trong nội các của chính quyền dưới dạng những
xung đột, mưu mô, cạm bẫy và đối đầu cá nhân, thậm chí có thể nói, nó thâm
nhập trực tiếp vào từng đại diện của chính quyền: chiếc mặt nạ tử thi
phi cá tính mà những viên chức cấp cao khoác lên người nhằm khẳng định sự đồng
nhất với khối quyền lực thống nhất không tì vết kia bất ngờ rơi xuống, để lộ ra
sau nó những con người bằng xương bằng thịt đang tranh giành quyền lực bằng biện
pháp “nhân đạo” nhất và xâu xé lẫn nhau để tự cứu mình. Đấy là giờ khắc vốn
biết đến của những cuộc cách mạng và bạo loạn cung đình, của những thay đổi
vị trí chức vụ và luận điểm trong các bài diễn văn một cách bất ngờ và
khó hiểu nổi đối với người ngoài; là giây phút phát hiện những âm mưu
có thật hay bịa tạc và những đầu mối bí mật; giây phút công bố những tội lỗi
thật sự hay được bày đặt và đào bới những khuyết điểm xưa cũ; giây phút
hất nhau ra khỏi những quyền thế, bôi nhọ nhau hay thậm chí cả những bắt
bớ và xét xử. Nếu như cho đến giờ, tất cả những kẻ nắm giữ quyền
lực đều nói cùng một ngôn ngữ, sử dụng cùng những sáo ngữ, nói về cùng một
mục tiêu và sự hoàn thành thắng lợi mục tiêu này, thì nay khối quyền lực
thống nhất ấy bỗng nứt ra thành những cá nhân riêng biệt, những kẻ mặc dù
vẫn còn giữ ngôn ngữ chung trước đây, nhưng bây giờ bỗng dùng nó để buộc
tội nhau. Và chúng ta ngạc nhiên được biết rằng, hàng loạt người trong bọn
họ – những kẻ thất thế trong cuộc đấu tranh bí mật giành quyền lực – không
bao giờ thực sự coi trọng mục tiêu được tuyên bố và không bao giờ hoàn thành
trọn vẹn những mục tiêu đó mà hoàn toàn ngược lại – trong khi những kẻ thắng
thế là những người thực sự vì những mục tiêu ấy và là những người duy nhất
có khả năng thực hiện chúng một cách thắng lợi.
Cuốn
lịch chính thức của những sự kiện giả tạo được xây dựng trong nhiều năm một
cách duy lí dường nào thì hình dạng sự đột nhập đột ngột của lịch sử
chân thực càng phi lí dường ấy. Tất cả những thành tố không lặp lại, có một
không hai và không tính toán được của lịch sử trong thời gian dài từng bị
đè bẹp, tất cả những bí mật lịch sử trong thời gian dài từng bị phủ nhận,
trong tích tắc được đồng loạt đưa ra ánh sáng. Và nếu như qua nhiều năm
trời, chúng ta không khi nào có thể bất ngờ vì bất cứ điều gì nhỏ
nhặt, tầm thường nhất, thì nay chúng ta được tận hưởng một bất ngờ to lớn
– song đó quả là một bất ngờ đáng giá. Mọi “hỗn loạn” lịch sử trong
nhiều năm từng bị đè nén dưới trật tự giả tạo, nay đột ngột phun trào.
Như
thể chúng ta chưa từng biết đến điều đó! Như thể chúng ta chưa bao giờ
có thể chứng kiến chuyện như vậy trong phần thế giới của chúng ta! Cỗ máy
trong nhiều năm hoạt động tưởng chừng như hoàn hảo và trơn tru, không lệch
lạc hay sai sót, chỉ qua một đêm đã vỡ tan thành từng mảnh, và hệ thống tưởng
chừng sẽ thống trị mãi mãi trong hình dạng không đổi, vì không sức
mạnh nào trong môi trường với những bầu cử đồng lòng nhất trí và
biểu quyết đồng lòng nhất trí có thể nghi ngờ nó, bỗng sụp đổ không hề
báo trước. Và chúng ta ngỡ ngàng nhận ra rằng tất cả hoàn toàn không như
chúng ta từng nghĩ.
Thời
khắc khi cơn lốc xoáy đó tràn qua thế giới cũ kĩ ẩm mốc của bộ máy quyền
lực cố định, tuy nhiên hoàn toàn không chỉ là đề tài vui đùa cho chúng
ta, những người nằm bên ngoài quyền lực. Mặc dù không trực tiếp, nói cho
cùng nó vẫn luôn liên quan tới cả chúng ta: hay chẳng phải chính áp lực
lâu dài và thầm kín của cuộc sống với những nhu cầu, quyền lợi, xung đột hay
mâu thuẫn luôn bị đè nén song không bao giờ có thể đè nén nổi của cả
xã hội, là điều luôn tạo nên những chấn động quyền lực như vậy hay
sao? Không có gì đáng ngạc nhiên là xã hội trong những thời khắc như thế lại
luôn bừng tỉnh dậy, bám lấy thời khắc hay cảm nhận nó một cách nhanh
nhạy hơn, để cho thời khắc tác động và tìm cách tận dụng nó! Những cơn
chấn động này hầu như bao giờ cũng làm thức dậy niềm hi vọng hay nỗi sợ
hãi nào đó; hầu như bao giờ cũng mở ra – dù là thực sự hay giả tưởng
– không gian cho việc thực thi những xung lực và tham vọng khác nhau của cuộc sống;
và hầu như bao giờ cũng làm tăng tốc những chuyển động khác nhau trong
xã hội.
Tuy
nhiên tất cả điều này hầu như bao giờ cũng đồng thời chứa đựng trong
mình những mối rủi ro lớn thường xảy ra và không lường trước được, do cơ
cấu hoàn toàn trái tự nhiên của sự xung đột với cuộc sống như chính
những chấn động quyền lực đột ngột.
Tôi
sẽ cố gắng giải thích rõ hơn một trong những rủi ro như vậy.
Nếu
hàng ngày con người lặng im chịu sự điều khiển của cấp trên bất tài, nếu hàng
ngày con người nghiêm túc thực hiện những nghi thức mà trong thực tế là nực cười
với anh ta, nếu con người không phân vân trả lời những bản trưng cầu ý kiến
một cách trái ngược với quan điểm thực sự của mình và sẵn sàng công khai chối
bỏ bản thân, nếu con người không hề khó khăn giả vờ thiện cảm hay yêu thương những
điều mà thực ra anh ta cảm thấy bàng quan hay ghê tởm, thì tất cả những điều
đó vẫn chưa có nghĩa là trong anh ta đã vĩnh viễn khô cạn một trong những cảm
nhận quan trọng nhất của con người: cảm nhận bị lăng nhục.
Ngược
lại: mặc dù không ai nói về nó nhưng người dân cảm nhận rất chính xác cái giá
mà họ phải trả để có được sự bình yên bên ngoài: đó là nhân phẩm của họ
liên tục bị lăng nhục. Càng ít phản kháng trực tiếp chống lại sự lăng
nhục đó bao nhiêu, cho dù nhờ khả năng gạt bỏ cảm giác đó ra khỏi
nhận thức hay tự dối mình rằng chẳng có gì to tát xảy ra, hay đơn giản là
nghiến răng lại – thì trải nghiệm này càng ăn sâu trong tâm khảm họ bấy
nhiêu. Người có thể ngay lập tức cưỡng lại sự lăng nhục thì cũng có thể
quên nó nhanh, ngược lại người có thể lâu dài im lặng chịu đựng sự lăng nhục
cũng sẽ có thể ghi nhớ nó mãi. Và như vậy trên thực tế, không điều gì bị
bỏ quên. Mọi nỗi sợ hãi từng chịu đựng, mọi điều giả dối buộc phải làm, tất
cả những trò hề đáng xấu hổ và hèn mạt – và có lẽ tồi tệ nhất là cảm nhận
về sự hèn nhát bị phơi bày – tất cả những điều này đọng lại và tích tụ đâu đó
trong đáy sâu thẳm nhất của ý thức xã hội, và tất cả lặng lẽ lên men ở đấy.
Hiển
nhiên đó là tình trạng không lành mạnh: những khối nhọt không được kịp thời
xử lí sẽ dần dần mưng mủ, mủ tích tụ không thể thoát ra ngoài và chất độc
sẽ lan truyền khắp cơ thể; tình cảm tự nhiên của con người không thể giữ tính
khách quan quá lâu và việc giam cầm nó lâu ngày trong tâm trí sẽ dần dần
biến dạng thành cơn co giật bệnh hoạn, thành cái gì đó độc hại như khi
quá trình cháy không hết tạo ra chất carbon monoxide (CO).
Không
có gì đáng ngạc nhiên là trong giây phút, khi cái nắp đậy bên ngoài rạn nứt
và dòng dung nham cuộc đời tuôn trào ra ngoài, bên cạnh những nỗ lực được cân
nhắc kỹ lưỡng nhằm sửa chữa những bất công trước đây, bên cạnh mong ước sự thật
và mong ước những cải cách phù hợp với nhu cầu cuộc sống, còn xuất hiện cả
các tố chất của lòng căm thù bầm gan, của cơn giận dữ đòi trả hận và của khát
vọng sôi sục đòi được đền bù ngay lập tức tất cả những sỉ nhục đã phải chịu
đựng! (Trong khi đó, tính vội vàng và thiếu thỏa đáng so với tình huống của ước
muốn đó, phần lớn bắt nguồn từ cảm giác mơ hồ, rằng cơn bùng nổ ấy thực ra
đã đến quá muộn, khi nó đã chẳng còn ý nghĩa, vì nó đã đánh mất động lực
tức thời và cùng với nó cả nguy cơ tức thời, và khi mà về bản chất nó chỉ
còn là thế phẩm cho cái gì đó đáng lẽ phải xảy ra trong thời gian hoàn toàn
khác).
Không
có gì đáng ngạc nhiên là những người đại diện cho chính quyền sau nhiều năm
từng quen với sự đồng thuận tuyệt đối, quen được ủng hộ nhất trí và vô điều
kiện, quen với một tổng thể đồng nhất của sự giả tạo toàn diện và phổ quát,
trong thời khắc này đã choáng váng trước cơn bộc phát của những tình cảm bị
đè nén đến nỗi họ cảm thấy bị đe dọa chưa từng thấy, và trong mối đe dọa đối
với mình – như với người bảo lãnh duy nhất cho sự tồn tại của thế giới – họ
nhìn thấy mối đe dọa chưa từng thấy đối với cả thế giới, đến nỗi
họ không lưỡng lự kêu gọi hàng triệu binh sĩ ngoại quốc đến cứu mình và cứu
cả hành tinh.
Cách
đây không lâu chúng ta vừa trải qua một vụ bùng nổ như vậy. Những kẻ suốt
bao năm từng nhục mạ và xúc phạm con người và sau đó choáng váng đến thế
khi con người bị xúc phạm tìm cách lên tiếng, hôm nay lại gọi toàn bộ sự
kiện này là “sự bùng nổ cảm xúc”. Nhưng thực ra cảm xúc nào bùng nổ? Ai đã biết
sự sỉ nhục kéo dài và sâu rộng đến thế nào từng diễn ra trước sự kiện bùng nổ
đó, và ai hiểu được cơ chế tâm lí xã hội của phản ứng tiếp sau quá trình
chịu đựng sự sỉ nhục lâu dài, còn phải cảm thấy sửng sốt hơn nữa trước
dáng dấp tương đối bình lặng, thực tế và thậm chí trung thành của toàn bộ
vụ “bùng nổ”. Mặc dù vậy như đã biết, chúng ta đã phải trả cái giá rất đắt
cho “thời khắc sự thật” này.
Nhà
cầm quyền hiện nay khác xa chính quyền từng cai trị trước vụ bùng nổ vừa
mới đây. Không chỉ vì chính quyền kia, như được gọi, là “nguyên bản”, còn
cái kế nhiệm chỉ là dạng mô phỏng hình thức và không có khả năng nhận
thức được rằng, cái “nguyên bản” kia trong khi đó đã đánh mất sự huyễn
hoặc của mình đến mức độ nào. Nhưng trước hết là vì, trong khi quyền
lực trước kia dựa vào nền tảng xã hội thực sự và không nhỏ của sự ủng hộ
tin cậy (mặc dù dần dần giảm sút) của một bộ phận dân chúng, và dựa vào sự hấp
dẫn thực sự và không nhỏ (dù cũng bốc hơi dần) của những lợi ích xã hội mà nó
hứa hẹn ban đầu, thì chế độ hiện nay chỉ còn dựa duy nhất vào bản năng bảo
tồn của nhóm thiểu số cai trị và nỗi sợ hãi của đa số bị trị mà thôi.
Trong
bối cảnh như vậy, khó có thể hình dung tất cả các phương án diễn biến
có thể giả định của “thời khắc sự thật” nếu nó xảy ra trong tương lai, cụ
thể là sự nhục mạ xã hội toàn diện đến thế và công khai đến thế, một ngày nào
đó có thể sẽ đòi đền đáp dưới hình thức nào; và càng hoàn toàn không thể
đánh giá được phạm vi và chiều sâu những hậu quả bi kịch, mà thời khắc đó có thể
và kết cục có lẽ sẽ phải mang đến cho hai dân tộc chúng ta.
Về
mặt này, con người phải sửng sốt khi quyền lực nhân danh là khoa học nhất từ
trước tới nay lại hoàn toàn không có khả năng hiểu được những quy luật cơ bản
trong hoạt động của mình và tự rút ra bài học từ lịch sử của bản thân.
Như
đã thấy, tôi không sợ rằng, với sự nhậm chức của những nhà lãnh đạo hiện nay,
cuộc sống ở Tiệp Khắc sẽ kết thúc và lịch sử sẽ dừng vĩnh viễn. Cho đến nay,
trong lịch sử, sau mỗi hoàn cảnh và sau mỗi thời đại lại tiếp đến hoàn cảnh mới
và thời đại mới. Và cho đến nay, dù tốt hay xấu cho con người, hoàn cảnh mới
hay thời đại mới bao giờ cũng khác xa mọi hình dung về tương lai của những
người tổ chức và cai trị trong giai đoạn trước.
Tôi
lo sợ một điều khác. Thực ra toàn bộ bức thư này nói về điều mà tôi thật sự lo
sợ – đó là những hậu quả nặng nề và lâu dài phi lí mà toàn bộ sự cưỡng bức
ngày hôm nay sẽ gây ra cho hai dân tộc chúng ta trong tương lai. Tôi sợ cái
giá mà tất cả chúng ta sẽ phải trả cho việc đàn áp khốc liệt lịch sử, cho sự
ruồng rẫy tàn bạo và không cần thiết đã đẩy cuộc sống xuống đáy sâu xã hội và
đáy sâu tâm hồn con người, cho việc "đình chỉ" thô bạo mọi cơ hội
được sống ít ra tự nhiên một chút như một xã hội. Và có lẽ từ những điều
tôi trình bày, có thể thấy tôi không chỉ lo lắng về cái giá mà chúng ta vẫn
liên tục phải trả bằng những đắng cay hàng ngày do sự cưỡng bức xã hội và
xúc phạm nhân phẩm, cũng không chỉ về cái giá đắt mà chúng ta phải trả dưới
dạng suy thoái kéo dài về mặt tinh thần và đạo đức xã hội, mà tôi còn lo lắng
về cái giá khó có thể định đoán hôm nay, mà thời khắc khi cuộc sống và
lịch sử lần tới lên tiếng đòi quyền lợi, có thể mang đến cho tất cả
chúng ta.
Trách
nhiệm của nhà lãnh đạo chính trị đối với tình hình đất nước thường khác nhau
và hiển nhiên không bao giờ là tuyệt đối. Ông ta không lãnh đạo một mình mà cả
những người xung quanh ông ta cũng mang một phần trách nhiệm. Không quốc gia
nào sống trong chân không, cho nên chính sách của một quốc gia dù thế nào
chăng nữa, bao giờ cũng bị ảnh hưởng bởi chính sách của các quốc gia khác. Tất
nhiên những nhà lãnh đạo trước kia cũng có nhiều đóng góp vì chính sách của
họ đã tạo điều kiện dẫn tới tình hình đất nước hiện nay. Cuối cùng cả những người
công dân cũng gánh không ít trách nhiệm – dù như cá nhân riêng lẻ, nghĩa là như
những sinh thể đầy đủ thẩm quyền, bằng những quyết định cá nhân hàng ngày
cùng góp phần tạo dựng nên tình hình chung, hay về mặt tập thể như một tổng thể
mang tính lịch sử xã hội nhất định, bị giới hạn bởi những điều kiện nơi
nó phát triển, nhưng đồng thời ngược lại lại định ra giới hạn cho những điều
kiện đó.
Mặc
cho những hạn chế này, mà dĩ nhiên cũng là hạn chế trong hoàn cảnh của chúng
ta hiện nay, là một nhà lãnh đạo chính trị, trách nhiệm của ông vẫn vô cùng to
lớn: ông đã đồng quyết định tạo nên bầu không khí mà tất cả chúng ta sống
trong đó, và vì vậy ông có ảnh hưởng trực tiếp đến cái giá cuối cùng mà
xã hội ta sẽ phải trả cho quá trình “củng cố” ngày nay.
Người
Séc và người Slovakia, cũng như bất kì dân tộc nào khác, mang sẵn trong mình những
tiềm năng song song đa dạng nhất: chúng ta đã có, đang có và sẽ tiếp tục có những
người anh hùng, cũng như đã có, đang có và sẽ tiếp tục có những tên chỉ điểm và
những kẻ phản bội. Chúng ta có khả năng phát triển trí tưởng tượng và sáng tạo,
có khả năng vươn mình tới những hành động bất ngờ về mặt tinh thần và đạo đức,
có khả năng chiến đấu vì sự thật và hi sinh vì người khác; nhưng cũng hệt như vậy,
chúng ta có khả năng trở nên hoàn toàn thờ ơ, không quan tâm đến bất kì điều
gì khác ngoài cái dạ dày của mình và chỉ lo ngáng chân nhau. Và mặc dù tâm hồn
con người không phải là cái bình nửa lít ai muốn đổ thứ gì vào cũng được
(tưởng tượng ngạo mạn về con người này thường được thấy trong những bài diễn
văn chính thức dưới dạng câu từ cực kì sáo mòn, rằng “chúng tôi” – tức là
chính phủ – cần phải "truyền bá" điều này cho nhân dân), tuy vậy
vẫn phụ thuộc rất nhiều vào những người lãnh đạo để cho xu hướng nào giữa những
xu hướng đối chọi nhau đang tiềm ẩn trong xã hội sẽ được động viên, những tiềm
năng nào sẽ có cơ hội được thực thi, và tiềm năng nào ngược lại sẽ bị đè bẹp.
Cho
đến nay những điều xấu xa nhất trong chúng ta đã được kích hoạt và phát triển một
cách có hệ thống – tính ích kỉ, đạo đức giả, bàng quan, hèn nhát, sợ hãi, nhẫn
nhục, mong muốn tránh né mọi trách nhiệm cá nhân mà không cần biết tới hậu
quả chung.
Trong
khi đó, ban lãnh đạo đất nước hiện nay có thể đưa ra những chính sách tác
động lên xã hội để khuyến khích không phải mặt tiêu cực mà là mặt tích cực
trong chúng ta.
Cho
đến nay, ông và chính phủ của ông đã chọn con đường dễ dàng nhất cho mình,
nhưng cũng là con đường nguy hiểm nhất cho xã hội: đó là con đường gìn giữ
hình thức bên ngoài với cái giá là tình trạng suy thoái bên trong, con đường
dẫn tới sự bất biến với cái giá là cuộc sống dần mòn diệt vong, con đường
chỉ nhằm bảo vệ quyền lực của bản thân với cái giá là sự đào sâu khủng hoảng
xã hội về đạo đức, tinh thần, và hạ thấp nhân phẩm một cách có hệ
thống.
Trong
khi đó, ngay cả trong phạm vi giới hạn của mình, ông vẫn có cơ hội làm được
nhiều việc để tối thiểu là cải thiện tương đối tình hình: có thể đó là
con đường nhọc nhằn hơn, ít được trọng vọng hơn, kết quả của nó không
thể hiện ngay, có thể gặp chống đối ở chỗ này chỗ khác, nhưng nhất định
rằng, từ góc độ lợi ích và tương lai thực sự của xã hội chúng ta, đó sẽ là
con đường có ý nghĩa hơn nhiều.
Là
công dân của đất nước, qua bức thư này, tôi công khai và thẳng thắn đề nghị ông
và những người đại diện hàng đầu của chế độ hiện nay xem xét một cách nghiêm
túc những mối tương quan mà tôi đã cố gắng lưu ý, để trên tinh thần đó, các
ông cân nhắc mức độ trách nhiệm lịch sử của mình và có những hành động phù hợp.
[1] Thời kì Hồi sinh dân
tộc Séc: quá trình diễn ra trong Đế chế Áo vào cuối thế kỷ 18 tới năm 1848
do tầng lớp trí thức Séc bấy giờ chủ trương. Mục đích chính là nâng
cao ngôn ngữ Séc thành ngôn ngữ của học vấn, khuyến khích người dân Séc
về ý thức dân tộc. Thời kì này là một phần quan trọng trong quá trình chuyển
hóa xã hội phong kiến thành xã hội dân sự. – ND
No comments:
Post a Comment