Phạm Nguyên Trường Phạm Nguyên Trường Author
Title: OSHO - Những bí mật của tính môn đệ
Author: Phạm Nguyên Trường
Rating 5 of 5 Des:
Nguyễn Đình Hách dịch (tiếp theo và hết) Và lòng sùng kính thậm chí còn tinh tế hơn tình yêu. Chính sự tồn tại của vị guru là sự giao...

Nguyễn Đình Hách dịch
(tiếp theo và hết)
Và lòng sùng kính thậm chí còn tinh tế hơn tình yêu. Chính sự tồn tại của vị guru là sự giao tiếp. Những điều nà vị đó liên tục gửi đi là những thông điệp, chúng phải được nắm bắt, được biết, được giải mã và được hiểu bởi ý thức sùng kính. Những cử chỉ đó, những điệu bộ sống động đó là một loại ngôn ngữ.
Khi mối quan hệ trở nên chín chắn thì sự giao tiếp còn sâu sắc hơn. Khi môn đệ đã nở hoa thành tính môn đệ, và anh ta hoàn toàn hiểu ý nghĩa những lời nói và cử chỉ của vị guru thì anh ta trở nên trưởng thành. Thế rồi không có những cử chỉ, không có những biểu hiện ngôn mà vẫn có thể có sự giao tiếp thầm lặng. Sự giao tiếp   ngoại cảm này là bí mật của mối quan hệ. Đó là chìa khóa bí mật nhất của mối giao cảm giữa vị guru và người môn đệ. Chỉ khi điều này trở thành điều có thể thì người môn đệ mới được chấp nhận. Thế rồi không có vấn đề về thời gian và không gian. Thế rồi dù người môn đệ ở bất kỳ đâu thì nhiều điều cũng có thể được giao tiếp với anh ta.


Tất cả những điều đó phải được chờ đợi trong kiên nhẫn. Đó là sự chờ đợi sâu sắc. Về việc thụ giáo tâm linh thì bạn không bao giờ phải vội vã, bởi vì tâm trí vội vã không thể đi quá sâu, nó không thể tĩnh lặng như vậy được. Người môn đệ không nên vội vã biết, anh ta nên chờ đợi thời điểm thích hợp - tin tưởng, chờ đợi và chuẩn bị chính mình.
Ở phương Tây họ không bao giờ hiểu tại sao người môn đệ nên phục vụ vị guru. “Tại sao anh ta lại là người phục vụ?” Họ không biết rằng phục vụ là một cách để giao cảm. Khi người môn đệ phục vụ vị guru, khi anh ta chờ đợi và phục vụ thì sự phân chia bị bỏ rơi - anh ta trở thành một với vị guru. Bây giờ cơ thể của vị guru và cơ thể của anh ta không phải là hai. Anh ta cảm nhận cái đau của vị guru, cảm nhận bệnh tật của vị guru. Anh ta cũng cảm nhận niềm vui, sự nhập định của vị guru. Dần dần anh ta trở nên hoàn toàn thu hút tới vị guru. Thông qua sự thu hút tới cơ thể của vị guru mà anh ta trở thành một với vị đó. Về mặt tâm linh, bạn không thể trở thành một nếu bạn không thể trở nên thân mật và là một với cơ thể; cơ thể là nền tảng.
Người môn đệ liên tục phục vụ vị guru và không bao giờ hỏi bất kỳ câu hỏi nào. Đây là điều kỳ diệu! Anh ta sẽ không nói, “Dạy cho tôi điều này hoặc điều kia”, bởi vì thậm chí nói điều này cũng là không tin tưởng vào vị guru. Khi có thời điểm thích hợp anh ta sẽ được nói cho biết; khi thời điểm thích hợp anh ta sẽ được dạy. Nếu thời điểm chưa thích hợp thì anh ta sẽ phải chờ. Đôi khi anh ta sẽ phải chờ đợi trong nhiều năm - thậm chí là ở thời nay. Hai mươi năm có thể trôi qua và anh ta sẽ vẫn chờ. Có thể anh ta ra đi lúc còn thanh xuân và bây giờ đã về già - nhưng vẫn chờ! Chính sự chờ đợi này, sự kiên nhẫn này lại tạo ra hoàn cảnh để người môn đệ và vị guru không phải là hai; họ là một. Ở thời điểm họ trở thành một, những gì không thể biểu đạt cũng có thể được biểu đạt.
Wittgenstein đã nói ở đâu đó rằng những gì không thể được nói thì có thể được chỉ ra. Nói không cần kiên nhẫn, nhưng sự chỉ ra cần rất kiên nhẫn. Nếu tôi muốn nói một cái gì đó với bạn thì tôi có thể nói tại chính thời điểm này. Sự kiên nhẫn của bạn, sự chuẩn bị của bạn là không cần thiết. Tôi có thể nói điều đó và bạn có thể nghe. Tôi không thể chỉ nó cho bạn nếu bạn không có khả năng để nhìn.
Về cơ bản vị guru đang không nói bất kỳ điều gì mà đang cố chỉ ra một cái gì đó; và nếu người môn đệ nhận biết thì nhiều điều trở nên rõ ràng mà không có sự can thiệp nào. Nhiều điều luôn rõ ràng nhưng tâm trí lại bối rối - và tâm trí bối rối lại làm xáo trộn nhiều điều. Tâm trí bạn không thể làm méo mó những điều trần tục quá nhiều, bởi vì chúng quá khách quan đến mức chúng không phụ thuộc vào tâm trí bạn. Nhưng tâm linh lại rất chủ quan, nó phụ thuộc rất nhiều vào cách nhìn của bạn đến mức tâm trí bối rối có thể hiểu sai và làm mọi thứ bị hủy hoại.
Sự hủy hoại xuất hiện từ kiến thức chồng chất trong quá khứ của chúng ta. Tâm trí đã biết và đã tích lũy quá nhiều đến mức nó xuất hiện và làm xáo trộn mọi thứ; cái cũ đã xen vào giữa.
Những gì bạn tình cờ biết phải không được diễn giải. Mọi thứ mới phải được nhìn bởi tâm trí mới. Nếu con người có thể đặt kiến thức này sang một bên và nhìn trực tiếp, nhìn tức thì vào mọi điều như vậy thì những điều đó luôn rõ ràng. Tồn tại quá thanh khiết và rõ ràng, mọi thứ đều rõ ràng như pha lê, đó là một sự kỳ diệu, làm sao tâm trí con người lại bối rối về nó. Sự bối rối này xuất hiện thông qua sự diễn giải; nó xuất hiện từ việc sử dụng tất cả những thứ đã biết để hiểu cái thứ còn chưa biết.
Nếu chúng ta có thể hoàn toàn nhận biết bất kỳ điều gì mới được trình bày cho bạn, nếu chúng ta có thể trở nên đón nhận và nhận biết sự hiện diện của nó, thì nó sẽ đi vào tim. Những gì tôi đang nói có thể biểu hiện vô lý, nhưng đó là sự thật. Tâm trí không bao giờ nhận biết, chỉ trái tim nhận biết. Trung tâm nhận biết không bao giờ là tâm trí, nó luôn là trái tim. Trái tim luôn tinh khiết, tươi mới và nguyên sơ; nó không bao giờ chịu đựng gánh nặng quá khứ. Nhưng tâm trí chưa bao giờ là nguyên sơ, nó chưa bao giờ mới; nó luôn cũ. Nó luôn là của quá khứ, nó luôn là vô nghĩa - sự chất đống những kinh nghiệm vô nghĩa. Cho nên bất kỳ khi nào tâm trí vận hành thì bạn luôn hiểu sai - buộc phải là như vậy. Nhưng khi nó không vận hành - khi nó yên lặng, khi nó tĩnh, tuyệt đối không tồn tại, chỉ khi đó mới có nhận biết - khoảng trống được tạo ra và ô cửa tới trái tim được mở ra.
Trái tim hiểu mà không có bất kỳ sự diễn giải nào; sự hiểu của nó là trực tiếp và tức thì. Bạn hiểu - bạn BIẾT, “điều này là như vậy”. Việc đặt tâm trí ra sang một bên này tôi gọi là thiền. Nếu bạn có thể nhìn thấy nhiều điều bởi trái tim, nếu bạn có thể liên hệ với tồn tại thông qua trái tim, thì bạn đang trong thiền; nhưng nếu bạn đang luôn sống thông qua tâm trí thì bạn sẽ không bao giờ trong thiền.
Có thể nói rằng trái tim là khả năng đặc biệt cho thiền, và tâm trí là khả năng hoạt động chống lại thiền; và hai điều đó không thể hoạt động đồng thời. Nếu tâm trí đang hoạt động thì trái tim không thể. Nó  đi xa bởi vì nó không được cần đến; nó đi ngủ. Chỉ khi tâm trí không hoạt động thì trái tim mới xuất hiện trên bề mặt để thở, để nhìn. Nó xuất hiện chỉ khi tâm trí không cần đến, khi tâm trí đã bị bỏ đi. Và thời điểm mà trái tim xuất hiện trong mối liên hệ với tồn tại thì bạn cảm nhận được niềm vui, phúc lành. Mọi thứ đều trở nên linh thiêng. Đó là điều linh thiêng, và bạn biết nó.
Khi trái tim trong mối liên hệ với thế gian thì thế gian là linh thiêng; khi tâm trí trong mối liên hệ với thế gian thì thế gian là trần tục. Tâm trí không thể biết bất kỳ điều gì trên vật chất, và trái tim không thể biết bất kỳ điều gì dưới tinh thần. Chính vì vậy những người định hướng-trái tim đã từng nói rằng thế gian là không thực, là ảo ảnh; nó là maya - chỉ là một sự biểu hiện kỳ diệu. Có một lý do cho câu nói như vậy: bởi vì trái tim không thể xuống thấp hơn tinh thần, nó không bao giờ có thể biết vật chất. Thế giới vật chất trở thành ảo ảnh, không thực, mơ - dường như nó không tồn tại.
Người định hướng-tâm trí đã từ chối tâm linh. Họ nói rằng đó là giấc mơ, là hư cấu, không thể tìm thấy ở đâu. Với họ chỉ có vật chất tồn tại; không có gì là tâm linh: tâm linh là ảo ảnh, hão huyền, ngớ ngẩn. Nietzsche đã nói ở đâu đó rằng, “Có những người đã nói rằng Jesus là một thiên tài, một người thông thái. Nhưng tôi muốn nói rằng ông ấy là một kể ngốc”.
Người phương Đông có xu hướng tình cảm, nghiêng về trái tim; người phương Tây có xu hướng lý trí, nghiêng về cái đầu. Tâm trí phương Tây đã có khả năng tạo ra dinh thự khoa học vĩ đại nhưng tâm trí phương Đông thì không thể - làm sao bạn có thể sáng tạo khoa học bởi tính hồn nhiên? Đó là điều không thể. Cho nên phương Đông đã sống phi khoa học.
Nhưng phương Tây chưa bao giờ có thể biết thiền là gì. Nhiều nhất họ chỉ có thể cầu nguyện. Nhưng cầu nguyện thì không giá trị. Bạn chỉ có thể cầu nguyện bằng tâm trí; bạn có thể không ngừng lặp lại các công thức. Nếu không có tâm trí thì người cầu nguyện sẽ trở nên tĩnh lặng. Bạn sẽ không có khả năng cầu nguyện - sẽ không có ngôn ngữ nào. Với trái tim bạn chỉ có thể là cầu nguyện.
Ở phương Tây, họ không thể phát triển khoa học tâm linh, họ không thể phát triển thiền. Họ biến thiền thành sự tập trung chú ý hoặc tư duy sâu lắng - cả hai đều không đúng - và họ đã bị lỡ giá trị. Tập trung chú ý là quá trình tinh thần. Khi tâm trí cố tập trung và toàn bộ quá trình nghĩ được hội tụ thì nó trở thành tư tưởng. Đó không phải là vấn đề của trái tim.
Thiền không phải là sự tập trung hoặc tư duy sâu lắng. Nó là sống phi tinh thần, phi tâm trí. Nó trở thành mối liên hệ với thế gian mà không bị tâm trí xen vào. Thời điểm mà tâm trí vắng mặt thì không còn rào cản giữa bạn và tồn tại, giữa bạn và điều linh thiêng, bởi vì trái tim không thể vẽ nên những đường biên, nó không thể xác định. Bằng việc xác định nhiều điều mà tâm trí tạo ra những rào cản, những đường biên, những biên giới. Nhưng với trái tim tồn tại trở nên phi biên giới. Bạn không kết thúc ở đâu, và không có ai bắt đầu ở nơi đâu. Bạn ở mọi nơi, cùng với toàn bộ tồn tại. 
Trái tim không thể cảm nhận sự đối ngẫu - đối ngẫu là một sự sáng tạo tinh thần. Tâm trí thực hiện chia, phân tích; nó không thể hoạt động mà không có sự chia. Chính vì vậy mà khoa học không ngừng phân tích phân tử, nguyên tử, điện tử: chia tồn tại thành những phần nhỏ hơn. Càng có nhiều phần chia nhỏ thì nó càng thoải mái hơn, bởi vì sau đó tồn tại trở nên được xác định rõ hơn; nó có thể thao túng, có thể biết dễ dàng hơn. Nhưng tồn tại càng trở nên mênh mông hơn, vô hạn hơn và vĩ đại hơn thì tâm trí càng cảm nhận nỗi sợ hãi nhiều hơn. Tâm trí không thể xác định tồn tại - tồn tại trở nên huyền bí.
Phương pháp khoa học để giải quyết một vấn đề huyền bí là phân tích - phân tích một vấn đề và tháo gỡ điều huyền bí nữa. Nếu toàn bộ thế giới có thể được phân tích thì hẳn không còn điều huyền bí nữa. Nhưng điều huyền bí vẫn giữ nguyên không được giải quyết, bởi vì để làm sáng tỏ nó cần phải có sự tổng hợp.
Bỏ rơi mọi sự xác định, bỏ rơi những đường biên, và mọi thứ trở nên huyền bí. Thế rồi bạn là một với điều huyền bí; thế rồi mọi thứ đều linh thiêng. Đó là giải pháp duy nhất và con đường duy nhất để nhận biết tồn tại. Hãy bỏ rơi những định nghĩa khoa học, và một thế giới không những định nghĩa, không những đường biên, trở thành tồn tại: cái toàn bộ được kết hợp, cái đồng nhất hữu cơ, cái nhất thể được kết tinh. Cái nhất thể này - cảm nhận nó, nhận biết nó, sống với nó - đó là điều tôi ngụ ý về Thượng Đế.
Thiền là con đường để biết Thượng Đế. Tâm trí là con đường để biết vật chất. Tâm trí và thiền là hoàn toàn đối nghịch - những bình diện khác nhau. Bạn không thể có cả hai con đường. Bạn có thể chạm tới tâm trí nhưng thời điểm đó trái tim sẽ không hoạt động. Bạn có thể chạm tới trái tim, nhưng thời điểm đó tâm trí sẽ không hoạt động. Bạn có thể sử dụng cả hai, nhưng không đồng thời: chúng là những đối cực.
Không thiền, mọi thứ là có lý và cũng là vô lý bởi vì nó là vô nghĩa. Với thiền, mọi thứ là vô lý nhưng lại ý nghĩa. Thời điểm sống ý nghĩa, thì cuộc sống tồn tại. Khi nó vô nghĩa, khi nó được hiểu một cách hợp lý nhưng vô nghĩa, thì nó không tồn tại. Nó chỉ có thể như xác chết. Đây là nghịch lý: với tâm trí bạn có thể hiểu nhưng lại mất ý nghĩa; với trái tim, bạn không thể hiểu nhưng ý nghĩa được nhận biết, được cảm nhận, được nhận ra.
Với tâm trí mọi thứ có thể được phân loại và kiểm soát, nhưng thông qua nó bạn trở nên bị vô hiệu, và kết cục là không có gì huyền bí. Khi mà tâm trí đã hiểu mọi thứ thì không còn gì ngoài tự sát, bởi vì không ai có thể sống mà không có điều huyền bí. Sự sống càng huyền bí thì nó càng đáng sống.
Tôi giáo là biết điều huyền bí và vẫn không hủy hoại nó. Con đường tôn giáo để là rất khác - đó không phải là logic hoặc không phải là lý trí; nó tuyệt đối mới mẻ. Nhưng tâm trí của chúng ta trở nên không thoải mái với nó bởi vì chúng ta quá ám ảnh với lý trí. Phần rất nhỏ bé này của tâm trí, lý trí, đã trở thành toàn bộ của chúng ta, của tất cả chúng ta.
Cuộc sống không phải là lý trí; nó cơ bản là phi lý - và sự phi lý này của cuộc sống và tồn tại là điều huyền bí. Nếu mọi thứ trở nên huyền bí với bạn, thì bạn ở đây và bây giờ cùng đấng linh thiêng. Với thiền, điều huyền bí được làm sống lại: bạn lại có được mối liên hệ với điều huyền bí.
Thiền thuộc về trái tim, và trái tim có những phương pháp riêng để hiểu những gì là tuyệt đối khác với lý trí, tuyệt đối khác với tâm trí. Tôi muốn tất cả các bạn biết nhiều hơn về trái tim.
Mối quan hệ guru / môn đệ là một sự thấu hiểu của trái tim. Phương Đông có quá nhiều chìa khóa bí mật, nhưng thậm chí chỉ một chìa cũng đủ, bởi vì một chìa cũng có thể mở hàng nghìn, hàng nghìn ổ khóa. Mối quan hệ giữa vị guru và người môn đệ là một chìa như vậy.




Về tác giả

Advertisement

Post a Comment

 
Top