July 16, 2019

THẾ LƯỠNG NAN CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN (Phần 2 và hết)

Chương I, Tác phẩm Vạc Dầu Châu Á (trang 19 – 64)


Tương tự như Chiến tranh Lạnh, biển Đông báo trước một hình thức xung đột khác hẳn những hiện tượng mà chúng ta đã quen từ Thế chiến I cho tới chiến tranh ở Iraq hay Syria. Kể từ đầu thế kỷ XX, chúng ta đã bị tổn thương và đau khổ bởi, một mặt là những cuộc xung đột có đông người tham gia và có tính quy ước trên đất liền, mặt khác là những cuộc chiến tranh nhỏ, bất quy tắc và bẩn thỉu. Bởi vì cả hai hình thức xung đột nói trên đều làm rất nhiều thường dân bị thương vong, chiến tranh, như tôi đã trình bày, là chủ đề thảo luận không chỉ của giới tướng lĩnh, mà còn của những người theo chủ nghĩa nhân văn. Nhưng, trong tương lai, chúng ta có thể sẽ chỉ có thể thấy xung đột với hình thức tinh khiết hơn (ít nhất lại tại Đông Á), chỉ trong lĩnh vực hải quân, chẳng có mấy thông tin cho giới tri thức suy ngẫm: tương tự như cuộc đấu tranh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, nhưng không có chiến tranh trên bộ. Đây là một kịch bản lạc quan. Vì xung đột là bản chất của con người, không thể nào loại bỏ được. Chủ đề trong tác phẩm Các cuộc đàm đạo về Livy (Discourses on Levy) của Machiavelli nói rằng xung đột, nếu được kiểm soát một cách hữu hiệu, là thứ dường như sẽ đưa lòai người tiến lên chứ không phải là ở mãi trong tình trạng ổn định cứng nhắc. Một vùng biển đầy tàu chiến không hề mâu thuẫn với một kỷ nguyên tiến bộ vĩ đại ở châu Á.

Thế nhưng có thể kiểm soát một cách hữu hiệu xung đột ở biển Đông hay không? Nói cho cùng, cho đến lúc này luận cứ của tôi giả định rằng các cuộc chiến tranh lớn sẽ không xảy, thay vào đó các quốc gia sẽ tranh giành nhau từng vị trí một trên biển cả, cùng với đó là những tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau về các nguồn tài nguyên trên biển, thậm chí các quốc gia cũng có thể đồng ý thông qua đàm phán để chia sẻ một cách công bằng các nguồn tài nguyên. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc, bất chấp xu hướng hiện tại, xâm lược Đài Loan? Điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam và Trung Quốc – hai quốc gia từng đối đầu nhau từ rất lâu rồi - xảy ra chiến tranh như năm 1979, lần này là với những thứ vũ khí hiện đại hơn? Vì không chỉ có một mình Trung Quốc hiện đại hoá quân đội của mình, các nước ở Đông Nam Á nói chung cũng làm như vậy. Ngân sách quốc phòng của các nước này đã tăng thêm một phần ba trong vòng một thập kỷ, trong khi ngân sách quốc phòng của các nước châu Âu lại giảm. Tính từ năm 2000, nhập khẩu vũ khí của Indonesia, Singapore, và Malaysia gia tăng lần lượt là 84%, 146% và 722%. Chi tiêu này chủ yếu là cho các hệ thống vũ khí trên không và trên biển như tàu chiến, tàu ngầm hay các hệ thống tên lửa hiện đại. Việt Nam gần đây đã bỏ ra 2 tỷ USD để mua 6 tàu ngầm lớp Kilo tiên tiến của Nga và 1 tỷ USD để mua máy bay chiến đấu cũng của Nga. Malaysia xây dựng xong căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo, thậm chí Trung Quốc cũng đang phát triển một căn cứ ngầm có sức chứa lên tới 20 tàu ngầm hạt nhân trên đảo Hải Nam . Trong khi Hoa Kỳ đang bị phân tâm bởi các cuộc chiến trên bộ ở khu vực Đại Trung Đông, sức mạnh quân sự đang dần dịch chuyển từ châu Âu sang châu Á, nơi mà các tổ hợp công nghiệp liên kết giữa dân sự-quốc phòng mang tính chất hậu công nghiệp đang được xây dựng, tập trung vào sức mạnh hải quân.

Địa chính trị ở biển Đông khá đơn giản, ít nhất là ở một khía cạnh. Thế giới hiện nay không phải là thế giới của các liên minh đế quốc phức tạp, đa cực và luôn dịch chuyển như châu Âu thời trước Thế chiến I. Chỉ có một cường quốc, gọi là bản địa, có khả năng đe doạ ở vùng biển này: Trung Quốc, với những tấm bản đồ của mình, thể hiện tham vọng kiểm soát toàn bộ biển Đông như Hoa Kỳ đã làm với biển Ca-ri-bê trước đây. Nhưng, nỗi ám ảnh về lãnh thổ của Trung Quốc không phải là vô lý nếu xét tới vị trí địa lý và lịch sử của quốc gia này trong thế kỷ XIX và thế kỷ XX.

Toàn bộ vùng biên giới phía bắc của biển Đông được hình thành bởi lục địa Trung Quốc. Thực sự thì vùng bờ biển phía đông của Trung Quốc, từ biên giới Việt Nam ở phía tây cho tới eo biển Đài Loan ở phía đông, là một trong những trung tâm kinh tế và dân cư quan trọng nhất của Trung Quốc, trong đó có tỉnh Quảng Đông và đại đô thị Quảng Châu , tiếp giáp với Hồng Kông. Tiếp đó là đảo Hải Nam , đặc khu kinh tế lớn nhất Trung Quốc, và cũng nằm trong khu vực Vịnh Bắc Bộ giàu tài nguyên thiên nhiên, có khả năng ngăn chặn Việt Nam tiếp cận với khu vực biển Đông nằm ngoài Vịnh Bắc Bộ.

Một tấm bản đồ của Trung Quốc cho thấy toàn bộ một nửa vùng bờ biển của nước này là hướng về phía biển Đông, ở phía nam và một nửa còn lại hướng về phía biển Bột Hải, Hoàng Hải và biển Hoa Đông ở phía đông. Vì vậy, Trung Quốc luôn nhìn về vùng biển ở phía nam, được hình thành theo chiều kim đồng hồ, bởi Đài Loan, Philippines, đảo Borneo phân chia giữa Malaysia và Indonesia, bán đảo Malay phân chia giữa Malaysia và Thái Lan, và vùng bờ biển dài, trông giống như con rắn của Việt Nam – tất cả đều là những quốc gia yếu hơn Trung Quốc. Tương tự như ở Ca-ri-bê, các quốc đảo nhỏ bị Hoa Kỳ bao quanh, biển Đông cũng sẽ trở thành một đấu trường cho quá trình triển khai sức mạnh của một quốc gia khổng lồ, bao bọc một phần rất lớn khu vực này. Biển Đông cung cấp không gian lý tưởng cho quá trình bành trướng của Trung Quốc, vì hầu hết lượng dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc là từ Trung Đông , sẽ phải đi vào biển Đông, qua các eo biển của Indonesia. Là cầu nối giữa Ấn Độ Dương và vùng biển Tây Thái Bình Dương, biển Đông đóng vai trò là cửa ngõ giúp Trung Quốc tiếp cận với toàn bộ vành đai Hồi giáo, từ sa mạc Sahara cho tới quần đảo Indonesia; tương tự như Ca-ri-bê trong việc giúp cho vùng bờ đông Hoa Kỳ tiếp cận với Thái Bình Dương, qua việc xây dựng kênh đào Panama, kênh đào này cũng chẳng khác gì eo biển Malacca. Cướp biển và khủng bố đang đe doạ cửa ngõ này, việc này có liên hệ tới những quốc gia yếu kém như Philippines hay Indonesia với một dân số khổng lồ theo đạo Hồi. Địa lý quyết định sự hiện diện mạnh mẽ của hải quân Trung Quốc ở biển Đông, và đó là điều dể hiểu. Kiểm soát hữu hiệu biển Đông sẽ giúp Trung Quốc dễ dàng hơn trên con đường trở thành cường quốc hải quân trên hai đại dương: Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Trung Quốc phải tập trung vào vấn đề Đài Loan và bán đảo Triều Tiên chỉ là do những đe doạ an ninh mang tính nhất thời, nhưng biển Đông lại có vai trò quan trọng, là chìa khoá cho tương lai địa chiến lược của Trung Quốc.

Tuy nhiên, có những lý do sâu xa hơn thúc đẩy Trung Quốc tiến ra biển Đông cũng như hướng ra chuỗi đảo thứ nhất ở Thái Bình Dương: sự lạc hậu của Trung Quốc so với các nước phương tây trong lịch sử gần đây, sau hàng ngàn năm nước này được coi như là một cường quốc và một nền văn minh tầm cỡ thế giới. Không nên bỏ qua những sự kiện đã diễn ra Trung Quốc với Trung Quốc trong suốt 150 năm qua. Nếu bạn không có hiểu biết thật sự sâu sắc về kinh nghiệm lịch sử này của Trung Quốc, bạn sẽ không thể hiểu được một cách toàn diện những điều đang thúc đẩy Trung Quốc hành động ở biển Đông.

Biểu tình phản đối Trung Quốc

Trong thế kỷ XIX, khi triều đại nhà Thanh trở thành “con bệnh” của Đông Á, Trung Quốc đã để mất hầu hết lãnh thổ của mình – các nước phên dậu ở phía nam bao gồm Nepal hay Miến Điện về tay Đế quốc Anh ; Đông Dương vào tay Pháp; Đài Loan, Triều Tiên và quần đảo Sakhalin vào tay Nhật Bản ; Mãn Châu, Amuria và Ussuria vào tay Nga. Thế kỷ XX thì Đế quốc Nhật xâm lược bán đảo Sơn Đông và vùng Mãn Châu , nằm ngay ở trung tâm của Trung Quốc. Điều này, cộng thêm với các hiệp ước ô nhục mà Trung Quốc ký với nước ngoài, cho phép các quốc gia phương Tây kiểm soát nhiều thành phố khác nhau ở Trung Quốc – hay còn được gọi là các Hiệp ước Cảng (Treaty Ports) . Năm 1938, một nhà sử học ở đại học Yale , Jonathan D. Spence , đã viết trong tác phẩm The Search for Modern China, rằng chính những biến cố như trên, cùng cuộc nội chiến xảy ra sau đó giữa Đảng Cộng sản và Quốc Dân đảng theo chủ nghĩa quốc gia, khiến cho “lãnh thổ Trung Quốc, vốn là một đế quốc thống nhất dưới triều đại nhà Thanh đã bị chia ra thành 10 mảnh khác nhau”. Có một nỗi sợ âm ỉ rằng “Trung Quốc sẽ bị phân liệt, và sẽ không còn tồn tại như một quốc gia, và lịch sử hơn 4.000 năm rốt cục cũng sẽ chấm dứt.” Một nỗi sợ hãi đi kèm là Trung Quốc sẽ quay trở lại với tình trạng của thời kỳ Chiến quốc, thế kỷ III TCN; hay là thời kỳ mà “chính quyền và các liên minh thay đổi liên tục, trở thành đặc điểm điển hình trong lịch sử Trung Quốc” từ thế kỷ III đến thế kỷ VI, và lặp lại một lần nữa từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII. Trung Quốc, đã vượt qua những cơn ác mộng đó, đã đạt được đỉnh cao về sức mạnh trên bộ và ổn định lãnh thổ chưa từng có, kể từ triều đại nhà Minh thế kỷ XVI và triều đại nhà Thanh cuối thế kỷ XVIII, hiện tại đang cố gắng vươn ra biển để bảo vệ các tuyến đường hàng hải của mình tới Trung Đông và đảm bảo quyền lợi kinh tế của một dân tộc đông người. Sự thôi thúc phải mở rộng không gian chiến lược của Trung Quốc là tuyên bố nói rằng nước này sẽ không bao giờ để cho nước ngoài chiếm thế thượng phong, như họ đã phải chịu đựng suốt hai thế kỷ trước.

Đề tìm cách khống chế sự trỗi dậy của Trung Quốc tại Đông Nam Á, chúng ta phải xem xét cuộc chiến tranh Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam đôi lúc vẫn được người ta so sánh với cuộc phiêu lưu thất bại tới Sicily của người Athens cuối thế kỷ V TCN, được mô tả trong cuốn sách thứ 7 của Thycidides Cuộc chiến tranh Peloponnesia (Peloponnesia War) . Mười bốn năm là thời gian kể từ khi người Athens xâm nhập Silicy lần đầu tiên cho tới thảm hoạ cuối cùng của họ tại đó: tương tự như khoảng thời gian kể từ khi chính quyền John F. Kennedy đưa quân vào Việt Nam cho tới tuyên bố rút quân của Tổng thống Gerald Ford. Hoa Kỳ đã bị đồng minh ở Việt Nam của mình lôi kéo vào cuộc chiến nằm cách nửa vòng trái đất, vì đồng minh bị lực lượng cộng sản tấn công, hệt như Athens bị lôi vào các cuộc chiến giữa đồng minh của mình và đối thủ của họ ở Sicily, vốn trung thành với Syracuse, kẻ thủ của Athens, mà Syracuse lại cũng là đồng minh của Sparta. Ban đầu chính quyền Kennedy đưa tới Việt Nam Lực lượng Đặc biệt có giới hạn, cam kết này sau đó đã gia tăng dưới thời Lyndon Johnson và lên đến nửa triệu quân chính quy. Điều này cũng tương tự như việc Athens bắt đầu can thiệp vào Sicily ban đầu với 20 chiến thuyền nhằm hỗ trợ cho liên minh chống Syracuse, nhưng sau đó đã nhanh chóng gia tăng tới 100 tàu chiến, rất nhiều tàu vận tải cũng như 5.000 lính hoplites (lính trang bị nặng với khiên và giáo dài – ND), vì thế có thể cho rằng toàn bộ danh tiếng của đế quốc hàng hải Athens sẽ phụ thuộc vào chiến thắng quân sự tại hòn đảo Sicily xa xôi. Athens tiếp tục đổ thêm quân. Cuộc phiêu lưu quân sự tại Sicily kết thúc với việc 40.000 lính Athens tử trận, 6.000 người sống sót bị bắt làm việc ở các mỏ đá của Syracuse hay bị bán làm nô lệ. Quá trình can thiệp của người Mỹ vào Việt Nam kết thúc với việc quân đội Bắc Việt chiếm được miền Nam, và người Mỹ cuối cùng tháo chạy bằng trực thăng từ mái nhà của Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn.

Toàn bộ quốc gia gần như bị tê liệt bởi sự bi quan và giới tinh hoa liên tục đỗ lỗi cho nhau về thất bại tại Sicily, và cũng cần phải mất một khoảng thời gian trước khi Athens có thể hồi phục và lại tích cực tham gia vào thế đối đầu lưỡng cực với Sparta. Sau cuộc chiến Việt Nam, Hoa Kỳ cũng trải qua hàng loạt khủng hoảng về niềm tin theo, đã lưỡng lự khi Liên Xô và đồng minh đe doạ các đồng minh của Hoa Kỳ cũng như lật đổ hàng loạt chế độ tại Nicaragua, Angola, Ethiopia, và Afghanistan. Hiện nay, số phận của Việt Nam lại một lần nữa giao nhau với số phận của Hoa Kỳ. Một lần nữa người Việt Nam lại yêu cầu người Mỹ giúp đỡ. Lần này cái cớ được đưa ra khá tế nhị và lặng lẽ, và cũng không yêu cầu các đơn vị bộ binh. Lần này họ không yêu cầu nước Mỹ tham gia đánh nhau: họ chỉ muốn Mỹ duy trì cân bằng quyền lực. Việt Nam muốn Hoa Kỳ hiện diện mạnh mẽ hơn về mặt hải quân và không quân ở biển Đông trong những thập kỷ tới. Việt Nam với số phận của mình, dù là một quốc gia nửa phụ thuộc vào Trung Quốc hay một quốc gia cố gắng kháng cự mạnh mẽ bá quyền của Trung Quốc, cho chúng ta thấy ví dụ rõ ràng về một thế giới nhiều rủi ro một khi Hoa Kỳ yếu đi; hay nếu như Hoa Kỳ trở lại thời kỳ chủ nghĩa bán-biệt lập hoặc hướng sự chú ý của mình tới một nơi nào khác.

Kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn , chúng ta biết như thế. Nhưng khả năng suy giảm của Hoa Kỳ, hay ít nhất là khả năng rút một phần các lực lượng quân sự ở các nơi khác trên thế giới về nước, cũng nên được xem xét. Nền kinh tế Hoa Kỳ đang trên đà hồi phục sau khủng hoảng kinh tế được coi là tồi tệ nhất kể từ Đại Suy thoái. Trong khi đó, giá thành của các hệ thống vũ khí cho không quân và hải quân lại đang ngày càng trở nên đắt đỏ và khó tiếp cận hơn. Giá của một tàu sân bay lớp Gerald R. Ford là 12 tỷ USD, chưa kể máy bay hay các thiết bị khác. Giá của một khu trục hạm lớp Zumwalt mới nhất là gần 4 tỷ USD. Máy bay chiến đấu F-22 Raptor cũng có giá 200 triệu USD một chiếc, còn F-35 là 135 triệu USD. Bên cạnh yếu tố chi phí cho quá trình triển lực lượng trên toàn thế giới – đặc biệt là ở Đông Á – công chúng Hoa Kỳ cũng như một số giới tinh hoa chính trị và đối ngoại có ảnh hưởng ở Washington đã cảm thấy về vai trò toàn cầu mang tính đế quốc chủ nghĩa, theo sau những chi phí quá lớn về mặt nhân lực, uy tín ngoại giao và tiền bạc cho các cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan. Chiến tranh Iraq , một cuộc phiêu liêu quân sự xa xôi giống như ở Việt Nam, dù không kết thúc một cách ô nhục hay cái giá phải trả về nhân mạng như thế, nhưng vẫn có thể so sánh với cuộc chiến ở Sicily của Athens. Liệu Hoa Kỳ có đánh mất sự tự tin của mình ở châu Á, như đã từng xảy ra sau cuộc chiến Việt Nam, hay như Athens sau cuộc phiêu lưu thất bại ở Sicily hay không?

Theo sau chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Lạnh với Liên Xô , đối thủ chính, đã giữ cho Hoa Kỳ tiếp tục tham dự vào công việc của thế giới. Nhưng, hiện nay, các mối đe doạ mơ hồ hơn. Ví dụ, sức mạnh nguy hiểm nhất ở biển Đông, Trung Quốc. Trong khi thế kỷ ô nhục (century of humiliation) dưới bàn tay của phương Tây “là giai đoạn bị acid đục thủng trên những trang sách giáo khoa của học sinh hiện nay”, như nhà sử học Piers Brendon , thuộc Đại học Cambridge , viết, “người Trung Quốc không hẳn là tù nhân của lịch sử, họ có những lý do quan trọng về mặt kinh tế để tìm kiếm sự đồng hành cùng có lợi với Hoa Kỳ”. Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Lập luận phản bác hay nhất chống lại Brendon được John Mearsheimer đưa ra trong tác phẩm The Tragedy of Great Power Politics . Ông giải thích rằng vì hệ thống quốc tế là vô chính phủ, không có người chịu trách nhiệm – không có người canh gác cho thế giới – để đảm bảo luật lệ được thực thi, thực sự không có nhiều cường quốc đúng nghĩa: mục đích của mỗi cường quốc – dù dân chủ hay không, thì các đặc trưng nội tại của chúng không có nhiều khác biệt – “là để tối đa hoá phần của mình trong hệ thống quyền lực quốc tế,” và vì thế “các quốc gia đặc biệt hùng mạnh sẽ theo đuổi bá quyền khu vực”. Hàm ý ở đây là Trung Quốc sẽ theo đuổi bá quyền khu vực như là một xu hướng tất yếu, bất chấp việc hệ thống chính trị của quốc gia này có trở nên cởi mở hơn hay không. Một nền kinh tế phát triển chậm lại của Trung Quốc sẽ chỉ làm cho quốc gia này trở nên dân tộc chủ nghĩa hơn mà thôi.

Trên thực tế, cả Brendon và Mearsheimer đều có thể đúng. Trung Quốc dường như vừa mong muốn “cùng chung sống” với Hoa Kỳ, lại vừa muốn làm bá chủ khu vực. Trung Quốc sẽ tiếp tục xây dựng một lực lượng hải quân viễn dương, cùng với không quân và tên lửa đi kèm. Các vũ khí thiết bị này sẽ tập trung chủ yếu ở biển Đông, nếu kiểm soát được khu vực sẽ giúp Trung Quốc khẳng định được bá quyền. Đồng thời, Bắc Kinh sẽ làm việc không ngừng nghỉ nhằm theo đuổi các mối quan hệ kinh tế và chính trị tốt đẹp với Washington. Washington, đến lượt mình, sẽ chống lại các bước đi của Bắc Kinh nhằm thống trị khu vực, thậm chí ngay cả khi Hoa Kỳ hợp tác với Trung Quốc trong nhiều vấn đề khác nhau. Biển Đông, cũng như biển Hoa Đông hay bán đảo Triều Tiên, sẽ là vũ đài trung tâm cho mối quan hệ căng thẳng và mâu thuẫn này. Con đường trở thành bá chủ bán đảo Triều Tiên của Trung Quốc – vì sự bất định xung quanh tương lai của Triều Tiên – là khó khăn và hoàn toàn không rõ ràng nếu so sánh với biển Đông, nơi mà Trung Quốc chỉ phải đối mặt với một khối các quốc gia tương đối yếu và bị chia rẻ, trong đó mạnh nhất là Việt Nam. Vì thế biển Đông, hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới, một lần nữa lại là ví dụ cho cái giá của sự suy giảm sức mạnh của Hoa Kỳ, hay thậm chí là việc rút một phần lực lượng của Mỹ khỏi các căn cứ quân sự. Biển Đông cho thấy rõ Hoa Kỳ có thể cung cấp cái gì cho thế giới khi nó đang gặp rủi ro, đồng thời cũng cho thấy điều tồi tệ nào có thể xảy ra với thế giới khi nó trở thành thực sự đa cực, theo nghĩa không quân và hải quân.

Bời vì Hoa Kỳ đang thống trị Tây bán cầu, và cũng có dư sức mạnh để cân bằng quyền lực ở Đông bán cầu, cho nên Hoa Kỳ không chỉ gìn giữ hoà bình (mặc dù đâu đó vẫn xuất hiện các cuộc chiến tranh nhỏ) mà còn bảo vệ các tài sản chung mang tính toàn cầu, ở đây là các tuyền đường hàng hải tạo điều kiện cho thương mại quốc tế. Nếu không có các lực lượng không quân và hải quân Hoa Kỳ, toàn cầu hoá như chúng ta biết hiện nay là bất khả thi. Sự kiện là Nga vẫn đang mắc kẹt trong những nỗ lực nhằm xâm phạm chủ quyền của các quốc gia ở Đông và Trung Âu; sự kiện là Trung Đông cho tới nay ít nhất là đã tránh được những cuộc thảm sát theo kiểu Holocaust ; sự kiện là Ấn Độ và Pakistan đã không xảy ra chiến tranh tổng lực trong hàng thập kỷ, và cũng chưa bao giờ sử dụng kho vũ khí hạt nhân của mình ; sự kiện là Bắc Triều Tiên gần như đe doạ tấn công tổng lực Hàn Quốc và Nhật Bản nhưng chưa bao giờ dám thực sự làm như vậy; tất cả phần lớn đều là do chiếc ô an ninh toàn cầu của Hoa Kỳ. Những quốc gia nhỏ và dễ bị tổn thương như Israel hay Gruzia có thể tồn tại được là do các hỗ trợ quân sự mà Hoa Kỳ. Chính nhờ các lực lượng không quân và hải quân được triển khai trên khắp thế giới mà nền ngoại giao Hoa Kỳ mới có sức mạnh như hiện nay và sử dụng sức mạnh này để ủng hộ dân chủ cũng như những xã hội tự do hơn trên toàn thế giới. Quá trình cắt giảm sự hiện diện quân sự mạnh mẽ của Hoa Kỳ sẽ làm cho thế giới – đặc biệt là biển Đông – trở thành khác hẳn hiện nay.

Hoa Kỳ đang cố gắng buộc Trung Quốc phải trung thực: bằng việc hạn chế thái độ hung hăng của Trung Quốc vào những tấm bản đồ của họ, buộc giới ngoại giao và hải quân của Trung Quốc phải hành động một cách hữu lý. Điều này không có nghĩa là các hành động của Hoa Kỳ là hoàn toàn trong sạch và Trung Quốc là côn đồ. Ví dụ, Hoa Kỳ tiến hành các hoạt động do thám Trung Quốc một cách bí mật và thường xuyên ở Tây Thái Bình Dương nhưng họ sẽ khó chấp nhận nếu bị một cường quốc đối thủ nào đó như thế gần vùng biển của mình. Không phải những giá trị dân chủ của Hoa Kỳ , mà sức mạnh nhằm đối đầu với Trung Quốc là mang lại nhiều lợi ích hơn cho các quốc gia ở biển Đông. Chính sự cân bằng quyền lực giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là thứ đã giữ cho Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Philippines, Indonesia và Singapore được tự do, có thể dựa vào nước này để chống lạ nước kia. Và bên trong môi trường tự do đó, chủ nghĩa khu vực, dưới vỏ bọc là ASEAN, có thể trỗi dậy như là một quyền lực riêng. Dù sao, quyền tự do đó không phải là do Tạo Hoá ban cho. Vì cuộc đối đầu có phần gay gắt vẫn đang tiếp diễn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc – mà thế bế tắc đã tạo ra một loạt các vấn đề phức tạp, từ chiến tranh mạng cho tới chiến tranh thương mại, từ cải cách tiền tệ cho tới theo dõi tiềm lực quân sự của nhau – có khả năng đang dần nghiêng về phía Bắc Kinh do sự phát triển kinh tế quá nhanh chóng của nước này (thậm chí ngay cả khi tăng trưởng đã suy giảm), cùng với là lợi là Trung Quốc nằm ở trung tâm của Đông Á và Tây Thái Bình Dương.

Andrew F. Krepinevich, giám đốc Trung tâm phân tích Chiến lược và Ngân sách (Center for Strategic and Budgetary Assessment - CSBA) ở Washington, tin rằng các quốc gia ở khu vực Tây Thái Bình Dương đang dần dần bị “Phần Lan hoá” bởi Trung Quốc, có nghĩa rằng các nước này sẽ duy trì được độc lập trên danh nghĩa, nhưng cuối cùng vẫn sẽ đi theo các quy tắc đối ngoại do Bắc Kinh thiết lập. Ông chỉ ra rằng Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) coi mạng lưới chiến tranh của Hoa Kỳ - “dựa chủ yếu vào các vệ tinh và mạng Internet để định vị mục tiêu, phối hợp tấn công, dẫn hướng cho các loại bom thông minh và nhiều nhiệm vụ khác” – như là gót chân Achilles” của Hoa Kỳ. Người Trung Quốc, cũng theo Andrew, năm 2007 đã thử nghiệm tên lửa chống vệ tinh , và cũng được cho là đã sử dụng laser để làm mù tạm thời các vệ tinh của Hoa Kỳ, cũng như đã tiến hành tấn công trên không gian mạng vào các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ trong suốt nhiều năm qua. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có nhiều loại tên lửa đối hạm, tên lửa đạn đạo và các vũ khí chống xâm nhập/chống tiếp cận khác, có khả năng được sử dụng nhằm kiềm chế các căn cứ quân sự tiền phương của Hoa Kỳ ở châu Á . Theo Mark Helprin, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Claremont ở California (Claremont Institute), “Trung Quốc đang sở hữu khả năng tốt nhất của mình” trong việc dùng các vệ tinh thông thường cũng như nhiều loại vệ tinh nhỏ hơn, hay mạng lưới các hệ thống định vị tín hiệu theo thời gian thực trên không, trên bộ cũng như dưới mặt biển để định hướng 1.500 tên lửa đạn đạo tầm ngắn” có thể tấn công các tàu sân bay của Hoa Kỳ. Mục tiêu không phải là gây chiến, mà là để sắp xếp lại lực lượng sao cho, Đài Loan và thậm chí là cả khu vực Tây Thái Bình Dương, ngày càng không còn tin rằng lực lượng quân sự Hoa Kỳ có đủ khả năng để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Mất tín nhiệm sẽ làm cho các liên minh Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương suy yếu. Thực vậy, quá trình Phần Lan hoá Đông Nam Á có thể là mảng tối trong thế giới đa cực về mặt quân sự.

Đa cực về quân sự thực sự sẽ có lợi cho quốc gia có vị thế địa chính trị trung tâm ở khu vực mà ta đang nói tới: cụ thể là Trung Quốc ở khu vực Đông Á. Nếu vị thế quân sự là tương đương nhau, thì địa lý và dân số sẽ tạo ra lợi thế. Nói cách khác, một châu Á đa cực xét về mặt quân sự sẽ là một châu Á bị Trung Quốc thống trị. Và sự thống trị của Trung Quốc ở châu Á sẽ khác hoàn toàn với sự thống trị của Hoa Kỳ. Vì Trung Quốc không nằm cách khu vực này nửa vòng trái đất, mà trên thực tế là người tổ chức về kinh tế, dân số và địa lý của cả khu vực, sự thống trị của Trung Quốc đương nhiên là sẽ có tính áp đảo hơn hẳn. Đó là còn chưa nói tới chế độ chuyên chế của Trung Quốc, mặc dù không khắc nghiệt như nhiều chính thể độc tài khác – và có trình độ hơn hẳn đa số các chính thể độc tài - nhưng vẫn không thể mềm mỏng như mô hình cai trị của Hoa Kỳ, đến lượt nó mô hình này phần nào quyết định phong cách đế quốc của nước Mỹ.

Nhưng, không được nhầm lẫn giữa hệ thống đa cực quân sự với cân bằng quyền lực. Vì cân bằng quyền lực ở châu Á đòi hỏi sự vượt trội về quân sự của Hoa Kỳ nhằm bù đắp cho các ưu thế về mặt địa lý, dân số và kinh tế của Trung Quốc. Cũng nhất thiết có nghĩa là ưu thế quân sự của Hoa Kỳ đang suy giảm nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây. Trên thực tế, uy thế quân sự của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á có thể chống đỡ được quá trình suy giảm này, ngay cả khi có sự cắt giảm ngân sách trong tương lai, một khi các lợi thế rõ ràng của Hoa Kỳ so với quân đội Trung Quốc trong những lĩnh vực quan trọng vẫn được duy trì. Chính yếu tố này sẽ giúp duy trì cân bằng quyền lực.

Hệ thống đa cực hoạt động ổn thoả về mặt ngoại giao và kinh tế. Rõ ràng là vị thế của Hoa Kỳ ở châu Á cuối cùng sẽ dựa nhiều vào sự sẵn sàng tham gia vào các mối quan hệ thương mại tự do mới hay tham gia “hoàn toàn” vào các thể chế kinh tế đa phương ở khu vực, vì Đông Á là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế thế giới. Chỉ khi tự thâm nhập sâu hơn vào nền thương mại khu vực thì Hoa Kỳ mới có đủ lợi ích để tiếp tục bảo vệ các tuyến đường hàng hải quan trọng ở Tây Thái Bình Dương. Thế nhưng hệ thống đa cực hoàn toàn trong tất cả lĩnh vực sẽ biến biển Đông thành Ca-ri-bê của Trung Quốc và đến lượt nó đặt Trung Quốc vào vị thế kẻ thống trị ở cả Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trong hệ thống thương mại Á-Âu, chủ yếu là hàng hải, việc Trung Quốc là người dẫn đầu có thể được chấp nhận, với điều kiện là hải quân Hoa Kỳ vẫn hiện diện trong vai trò cân bằng cán cân quyền lực.


Kết luận toàn diện nhất về khung cảnh địa chính trị mới ở châu Á không phải đến từ Washington hay Bắc Kinh, mà là từ Canberra. Trong một bài viết dài 71 trang nhan đề Chuyển dịch quyền lực: Tương lai của Australia giữa Washington và Bắc Kinh (Power Shift: Australia’s Future between Washington and Beijing), Giáo sư Hugh White, chuyên gia về chiến lược tại Đại học Quốc gia Australia (Uastralian National University) và là một cựu nhân viên phân tích tình báo của chính phủ, đã mô tả đất nước ông như là một cường quốc muốn giữ “nguyên trạng”: một quốc gia đang hết sức muốn châu Á giữ nguyên hiện trạng, với việc Trung Quốc đang tiếp tục tăng trưởng, để Australia có thể buôn bán ngày càng nhiều hơn với nước này, và nước Mỹ vẫn tiếp tục là “siêu cường mạnh nhất ở châu Á,” trở thành “người bảo vệ cuối cùng” của Australia. Nhưng như White nói, vấn đề ở đây là hai việc trên không thể xảy ra cùng một lúc. Châu Á không thể tiếp tục thay đổi về mặt kinh tế mà không thay đổi về mặt chính trị và chiến lược. Cụ thể, nếu Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng kinh tế như dự báo (cho dù với một tốc độ thấp hơn nhiều), thì quốc gia này sẽ thay thế Hoa Kỳ để trở thành quốc gia thịnh vượng nhất (không phải theo thu nhập bình quân đầu người), và theo lẽ tự nhiên, sẽ không hài lòng với sự thống trị về mặt quân sự của Hoa Kỳ ở châu Á.

Giáo sư White nhận xét rằng, cái được cho là đã tạo ra hàng thập kỷ tràn đầy hạnh phúc ở châu Á - những thứ mà chúng ta cho là hiển nhiên - thực chất là một “phần của chiến lược ngoại giao tuyệt vời” mà Tổng thống Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger là kiến trúc sư. Nixon và Kissinger tới Bắc Kinh vào năm 1972 để ký thoả thuận với lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông, theo đó “Nước Mỹ sẽ thôi công nhận chính phủ dân quốc ở Đài Loan là chính phủ đại diện cho toàn Trung Quốc…Đổi lại, Trung Quốc chấm dứt cạnh tranh với Hoa Kỳ ở châu Á và ngừng ủng hộ những cuộc nổi dậy của cộng sản ở khu vực [ít nhất với một mức độ tương đương nhau]”. Trung Quốc cũng được Hoa Kỳ bảo vệ trong cuộc đấu tranh chống lại Liên Xô, cũng như bảo đảm chống lại nước Nhật đang trỗi dậy về kinh tế. Điều này đã giúp cho Trung Quốc trong một vài năm sau đó có đủ môi trường an ninh để tự do hoá nền kinh tế, tạo ra lợi ích to lớn cho toàn thể khu vực. Hoà bình đã nằm trong tầm tay, và hiện nay các quốc gia ở Đông Nam Á – những quốc gia “bị bỏ mặc” trước đây – sẽ bùng nổ về mặt kinh tế.

Việc Trung Quốc, dưới thời Đặng Tiểu Bình , từ bỏ mô hình kinh tế Marxist vào năm 1979 đã tạo điều kiện cho quốc gia này hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, tuy có trễ hơn phương Tây gần một thế kỷ. Một khi đã làm như thế, dân số khổng lồ của Trung Quốc đảm bảo cho đất nước trở thành một trong những nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới, làm cho môi trường an ninh ở châu Á hiện nay hoàn toàn khác so với một môi trường có phần hoà bình mà Nixon và Kissinger đã tạo dựng.

Vậy, hiện nay Trung Quốc muốn gì? White thừa nhận rằng Trung Quốc có thể mong muốn một đế quốc kiểu mới tại châu Á, tương tự như những thứ mà Hoa Kỳ đã gây dựng ở Tây Bán Cầu, như Washington đã từng đảm bảo được sự thống trị của mình ở Ca-ri-bê (Trung Quốc tin rằng họ phải thống trị ở biển Đông). Đế quốc kiểu mới này ở Tây Bán Cầu, theo lời White, có nghĩa là các lân bang của Hoa Kỳ sẽ “không ít thì nhiều có thể tự điều hành quốc gia của họ”, thậm chí Washington còn khẳng định rằng các quan điểm của mình đã “hoàn toàn được thừa nhận” và đã đi trước “tất cả các quốc gia khác ở bên ngoài Tây Bán Cầu”. Rắc rối của mô hình này là Nhật Bản, nước này sẽ không chấp nhận bá quyền của Trung Quốc, dù là bá quyền mềm mỏng đến đâu. Còn lại là mô hình “Cân bằng quyền lực ở châu Âu” (Concert of Europe) thế kỷ XIX, trong đó, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ hay có lẽ thêm một hoặc hai quốc gia khác sẽ là đóng vai trò cân bằng lẫn nhau tại châu Á. Nhưng, hiện nay, câu hỏi đặt ra là liệu Hoa Kỳ có chấp nhân mô hình này hay không vì Washington liên kết sự ổn định và thịnh vượng của châu Á với uy thế của chính mình. White cho rằng trước một Trung Quốc đang ngóc đầu dậy, từ đây trở đi sự thống trị của Hoa Kỳ có thể đồng nghĩa với một châu Á bất ổn. Sự thống trị của Hoa Kỳ được xây dựng dựa trên khái niệm cho rằng vì Trung Quốc là nhà nước toàn trị, nên quốc gia này sẽ hành động một cách “không thể chấp nhận được ở bên ngoài.” Nhưng White cho rằng lập luận đó có thể không đúng.

Nói cách khác, trong tương lai, Hoa Kỳ chứ không phải Trung Quốc mới chính là vấn đề. Chúng ta, đặc biệt là giới trí thức và phóng viên, dường như đang quan tâm một cách thái quá về bản chất nội tại của chế độ ở Trung Quốc. Nhưng chế độ đó có thể dễ dàng hành động một cách bất lương ở trong nước, nhưng đồng thời vẫn rất có trách nhiệm ở nước ngoài – một lý do nữa giải thích vì sao sự trỗi dậy của châu Á có thể xa lạ với những người theo chủ nghĩa văn thuộc mọi thành phần. Như tôi đã nói, mục tiêu của Hoa Kỳ phải là cân bằng, chứ không phải thống trị. Trong mọi trường hợp, bởi vì trong vòng bốn thập kỷ tới, châu Á sẽ có thể trở nên kém an ninh hơn bốn thập kỷ trước đây, White cho rằng Australia có thể sẽ phải “chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng và xây dựng một lực lượng quân sự có năng lực hơn”. Điều tương tự cũng đúng đối với tất cả các quốc gia ở châu Á. Biển cả sẽ đầy các loại vũ khí.


Sức mạnh hải quân được sử dụng vào việc gì? Trong nửa đầu thế kỷ XXI, biển Đông có thể trả lời cho công chúng Hoa Kỳ câu hỏi này. Trong một thời gian dài hải quân Hoa Kỳ đã tìm cách giải thích các nhiệm vụ của mình cho công chúng: tại sao hải quân lại chi hàng trăm tỷ USD để mua hàng trăm tàu chiến mà người dân bình thường chưa bao giờ thấy – trừ khi họ sống gần căn cứ quân sự - hay thậm chí chỉ được đọc trên các tờ báo. Trong thập kỷ trước, có rất nhiều bài báo viết về lục quân tham gia vào những cuộc chiến tranh như ở Afghanistan hay Iraq . Những thử thách hay khổ cực mà lục quân phải chịu đựng ám ảnh giới truyền thông: lực lượng thuỷ quân lục chiến cũng vậy, vốn được xây dựng để thực hiện các nhiệm vụ đổ bộ đường biển, nay đã trở thành một lực lượng tham gia vào các cuộc chiến tranh trên bộ tại Trung Đông . Nhưng mọi chuyện có thể thay đổi khi hai cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq kết thúc, và quá trình trỗi dậy liên tục của Trung Quốc làm cho môi trường an ninh Đông Á trở thành khác trước và ít ổn định hơn. Và bởi vì châu Á chủ yếu là không gian hàng hải, điều này sẽ giúp cho hải quân Hoa Kỳ tìm được các sứ mệnh hấp dẫn mà lực lượng này dường như còn thiếu. Nhưng câu hỏi là, liệu sứ mệnh ấy có xuất hiện đúng lúc nhằm giúp các quốc gia ở biển Đông – trung tâm hàng hải của Đông Á – không bị Phần Lan hoá hay không? John Morgan, phó Đô đốc hải quân Hoa Kỳ đã nghỉ hưu, lo ngại rằng nước Mỹ, với các khoản cắt giảm về mặt ngân sách quốc phòng sắp tới, sẽ vướng phải “sai lầm lớn về mặt hàng hải.” Đó chính là việc lực lượng hải quân Hoa Kỳ bị cắt giảm đúng vào thời điểm lịch sử, khi mà thế giới đang cần sức mạnh hải quân đó cân bằng quyền lực, giúp các quốc gia như Đài Loan hay Việt Nam được tự do. Việc giúp Việt Nam phòng thủ về mặt quân sự không được công chúng ưa thích, đặc biệt khi nhắc tới lịch sử của Hoa Kỳ với Việt Nam trong thế kỷ XX. Nhưng chính tự do sẽ là thứ mà một quốc gia như Việt Nam sẽ đưa lên thành biểu tượng, và điều này là quan trọng cho tương lai của chính nước Mỹ. Một lần nữa, không chỉ có các giá trị của chúng ta mới quan trọng, mà quan trọng là sức mạnh quân sự có khả năng hỗ trợ cho các giá trị ấy.

Đúng là, trong các vấn đề quốc tế, đằng sau mọi vấn đề về đạo đức chính là vấn đề quyền lực. Can thiệp nhân đạo ở Balkans vào những năm 1990 xảy ra là do chính quyền Serbia không phải là một cường quốc có vũ khí hạt nhân, khác với chính quyền Nga, trong cùng thời điểm đó đã vi phạm tội ác quy mô lớn như thế ở Chechnya và phương Tây đã không có bất kỳ phản ứng nào; cũng như phương Tây đã không làm gì để chống lại các vụ thanh trừng sắc tộc ở Caucasus do khu vực đó thuộc ảnh hưởng của Nga. Ở Tây Thái Bình dương trong những thập kỷ tới, đạo đức trong trường hợp này có nghĩa là từ bỏ một số giá trị tốt đẹp nhất của chúng ta để đổi lấy ổn định. Chúng ta sẽ phải làm như thế nào để chừa chỗ cho một nước Trung Quốc bán-chuyên chế, trong khi năng lực quân sự của nó tăng lên? (nếu nước này không bị sụp đổ về xã hội và kinh tế ngay từ bên trong thì lực lượng quân sự của họ sẽ tiếp tục bành trướng ) . Vì tự thân cân bằng quyền lực còn là công cụ duy trì dự do tốt hơn cả các giá trị tự do của phương Tây. Đó cũng sẽ là một bài học của biển Đông trong thế kỷ XXI – điều mà những người theo chủ nghĩa nhân văn không bao giờ muốn chấp nhận.




July 15, 2019

THẾ LƯỠNG NAN CỦA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN (Phần 1)

Chương I, Tác phẩm Vạc Dầu Châu Á (trang 19 – 64)


Đặc trưng địa lý của Châu Âu là đất liền, còn Đông Á là biển cả. Ở đây có sự khác biệt căn bản giữa thế kỷ XX và thế kỷ XXI. Khu vực bị người ta giành giật nhiều nhất trên thế giới trong thế kỷ trước nằm ở những vùng đất khô ráo của Châu Âu, đặc biệt là xung quanh các đường biên giới nhân tạo ở phía Đông và phía Tây nước Đức, nơi mà quân đội các quốc gia hoạt động liên tục không ngừng nghỉ. Tuy nhiên, cùng với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, trọng tâm nhân khẩu, kinh tế và quân sự của thế giới chuyển dịch mạnh mẽ về phía đầu bên kia của lục địa Á-Âu, nơi mà “không gian hàng hải” (maritime) chiếm thế thượng phong nằm giữa các trung tâm dân cư chủ chốt. “Không gian hàng hải” mà tôi nhắc tới ở đây có nghĩa là toàn bộ vùng biển, vùng trời và vùng không gian vũ trụ có liên quan: vì từ khi tàu sân bay xuất hiện vào những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX, các đội hình chiến đấu của không quân và hải quân đã trở nên không thể tách rời, và vai trò của không gian vũ trụ là một yếu tố cộng thêm nếu xét tới khả năng định vị và những hỗ trợ khác của vệ tinh đối với tàu chiến hay máy bay. Vì thế, thuật ngữ hải quân đã trở thành một thuật ngữ chung thể hiện quy mô của những hoạt động quân sự khác nhau. Và cũng đừng nhầm lẫn, hải quân là một thuật ngữ tác chiến. Do địa lý là yếu tố định hình và làm sáng tỏ những ưu tiên (quân sự) khác nhau, hình thể của khu vực Đông Á khẳng định sự xuất hiện của thế kỷ hải quân, và một cuộc chiến tranh trên bộ ở bán đảo Triều Tiên – mặc dù ít có khả năng xảy ra – sẽ là ngoại lệ đáng chú ý.

July 8, 2019

DÂN CHỦ LÀ DÀNH CHO CÁC VỊ THẦN



Đôi lời phi lộ: Bài báo này được viết nhân ngày 4 tháng 7 năm 2019, 243 năm ngày độc lập của nước Mĩ. Theo tôi, tác giả muốn nói rằng, do bản chất của con người mà dân chủ là hiện tượng hiếm có, khó tìm, và rất dễ bị đổ vỡ; nhân loại phải rất cảnh giác trước những kẻ mị dân như Hitler hay Hugo Chavez…, không được để cho những người đó lợi dụng các thủ tục của chế độ dân chủ để biến thành chế độ độc tài cá nhân. Có thể bài báo còn nhắm tới cả Donald Trump vì ông này vẫn bị các học giả cánh tả Mĩ coi là mị dân. Nhưng nên nhớ rằng đây là bài viết dành cho người Mĩ nên tác giả không cần nói nước Mĩ đã có 243 năm dân chủ, cũng không cần nói rằng chế độ dân chủ ở Mĩ, Pháp, Anh, Hà Lan, Đức… tuy chưa phải là dân chủ lí tưởng, nhưng vẫn tốt hơn hẳn các chế độ độ độc tài và vẫn là NGỌN ĐUỐC SOI ĐƯỜNG cho những người đang hàng ngày hàng giờ đấu tranh cho dân chủ trên khắp thế giới. Vì không viết rõ như thế, lại thêm tiêu đề: “Democracy Is for the Gods” rất dễ bị bọn có chữ nhưng chuyên “hửi” rắm độc tài phán rằng “DÂN CHỦ RÚT CUỘC CHỈ LÀ KHÔNG TƯỞNG”, đánh đồng với những thứ không tưởng khác, ví dụ, chủ nghĩa cộng sản. Theo mình, dân chủ đối với xã hội, cũng tương tự cái áo đối với một thanh niên đang lớn, phải luôn luôn thay đổi, luôn luôn làm mới, luôn luôn mở rộng thêm. Không thể đạt được dân chủ lí tưởng, nhưng dân chủ không phải là không tưởng như bọn chuyên “hửi” rắm nói. Tóm lại, đọc báo nước ngoài phải rất thận trọng. Cần đọc không chỉ nội dung mà còn phải biết người viết là ai, viết cho ai và viết trong hoàn cảnh nào. PNT


Trà Đóa dịch

“Tại sao các nền dân chủ lại thất bại?”


Chúng ta đã nghe câu hỏi này rất nhiều trong vài năm vừa qua, trong sách, trên những trang ý kiến và trên các chương trình tin tức của truyền hình cáp, và trong cuộc tranh luận công khai. Nhưng tôi hầu như luôn tìm thấy câu trả lời cho riêng mình với câu hỏi đó, bằng một câu hỏi khác: tại sao họ lại không nên hỏi như thế?

July 2, 2019

GÁNH NẶNG THUỘC ĐỊA CỦA HOA KỲ (2)

Chương VI, tác phẩm Vạc Dầu Châu Á – Robert D. Kaplan (tiếp theo và hết)



Sự kiện Bãi cạn Scarborough đã giúp người Philippines nhận ra rằng họ cần liên minh quân sự bền vững với Hoa Kỳ. Điều này phù hợp với lịch sử của hơn một thế kỷ gần đây, nhưng lại khá mới khi xét đến sự lạnh nhạt giữa hai quốc gia trong suốt thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh. Tương tự như việc Hải quân Hoa Kỳ rút khỏi Vịnh Cam Ranh của Việt Nam trong tình thế bẽ bàng vào những năm 1970 và giờ lại đang được mời quay trở lại, Hải quân Hoa Kỳ cũng đã rút khỏi Vịnh Subic trên đảo Luzon vào hồi đầu những năm 1990 và bây giờ, cũng đang được mời quay trở lại. “Đòn bẩy duy nhất mà chúng tôi có là liên minh với Hoa Kỳ, và bản thân liên minh ấy cũng mang tính bất đối xứng đối, với lợi thế của thuộc về Hoa Kỳ,” Giáo sư Aileen Baviera , Đại học Philippines nhận xét. Các quốc gia khác trong khu vực cũng đang đi đến kết luận tương tự.

July 1, 2019

GÁNH NẶNG THUỘC ĐỊA CỦA HOA KỲ (1)

Chương VI, tác phẩm Vạc Dầu Châu Á – Robert D. Kaplan


Bất cứ khi nào nghĩ đến Philippines, đôi mắt tôi lại hướng về bức tranh Tấm khăn choàng Manila của danh họa Henri Matisse, vẽ năm 1911, sau khi vị danh họa người Pháp trở về từ chuyến đi dài hai tháng sang Tây Ban Nha. Matisse đã mua tấm khăn choàng ở Seville, dùng tấm khăn ấy quàng quanh người mẫu, rồi vẽ người này đang trong tư thế bailaora của vũ điệu flamenco. Những tấm khăn choàng thêu lụa là báu vật được nhiều người ưa chuộng. Chúng được mang sang châu Âu bởi các tàu buôn Tây Ban Nha, xuất phát từ Philippines, xuyên qua Thái Bình Dương đến Tân Tây Ban Nha (Mexico), từ đây, được vận chuyển về Tây Ban Nha. Màu sắc lòe loẹt, sặc sỡ, với họa tiết cỏ cây sơn dầu đỏ, cam, xanh óng ánh của tấm Khăn choàng Manila của Matisse là hình ảnh khiến tôi liên tưởng đến vẻ hùng vĩ và gợi cảm của Hòn đảo Philippine, đến sự chiếm đóng của Tây Ban Nha qua ngả Mexico ở đây trong gần ba thế kỷ rưỡi, bắt đầu từ năm 1556.
Philippines không những phải chịu đựng hàng trăm năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân Tây Ban Nha, chế độ với những đặc trưng của Thiên Chúa giáo La Mã nặng nề thời tiền Cải cách tôn giáo, ít mang lại động lực hơn so với những gì Anh, Hà Lan và Nhật Bản đã làm ở những nơi khác trên Chuỗi đảo Thứ nhất , mà Philippines còn bị đè nặng gấp đôi bởi ảnh hưởng sâu sắc của thực dân Mexico, đại diện cho tiêu chuẩn ý thức về thể chế hiện đại thậm chí còn thấp hơn cả Tây Ban Nha.

Như những du khách thường sốc khi đến Philippines sau khi đã thăm thú những nơi khác trong khu vực Đông Á: tôi đã bị sốc sau 4 lần đến Philippines trong vòng một thập kỷ. Không có những đại lộ phân tầng, sáng bóng với kiến trúc hàng đầu của thế kỷ 21 giống như ở Malaysia, Singapore, Đài Loan hay miền ven biển Trung Quốc (chưa nói đến Nhật Bản và Hàn Quốc); không có nhịp sống như ở Việt Nam, quốc gia đã bị thực dân Pháp (Thiên chúa giáo) xâm chiếm trong gần 100 năm, cảnh quan đô thị của thủ đô Manila của Philippines chỉ là một sự tàn phá về thẩm mỹ và vật chất.

Xe ngụa ở Manila

Ấn tượng đầu tiên khi tới đây là những con đường tồi tàn, những vũng nước mưa rộng mênh mông vì hệ thống thoát nước kém, người ăn xin đứng đầy những ngã tư có đèn đỏ, những bảng hiệu neon mất chữ, những tòa nhà tiêu điều, nhếch nhác, trong giống như những cái sọt rách không mang bất kỳ một phong cách kiến trúc nào, và cũng chẳng ăn nhập gì với nhau, những thiết bị điều hòa cũ kỹ lắp bên ngoài, những khung cửa sổ đen thui, mớ bòng bong biết bao nhiêu là dây điện vắt chéo qua những cây cọ xiêu vẹo. Sự thiếu thẩm mỹ gần như toàn diện nổi lên giữa ánh nắng lấp lánh, ẩm ướt, chiếu xuyên qua màn sương và những đám mây gió mùa. Dù là những chiếc buýt jeepney màu vàng được trang trí bằng hình ảnh truyện tranh ngộ nghĩnh hay những mặt tiền tòa nhà màu sắc đặc biệt sặc sỡ đã nhuốm màu vì thời tiết, thì bộ mặt thành phố vẫn mang lại cảm giác rất nghiệp dư và rời rạc, như thể toàn bộ cảnh quan đô thị này – trừ Khu phố cổ Tây Ban Nha và những trung tâm mua sắm hạng sang – được gắn kết với nhau bằng hồ dính. Trái với những thành phố sôi động ở Việt Nam (những thành phố cũng có những vấn đề kinh tế), Manila, dù là một thành phố đông dân, lại khá ảm đạm và không mục đích. Cỏ dại và xi măng đổ nát hiện diện khắp nơi. Cảnh tượng ngổn ngang bên ngoài khu vực trung tâm không phải là của những ngôi nhà ngoại ô mà là của những khu ổ chuột với những mái nhà đen thui, mái tôn và những đống rác chất cao ngút trời.

Những nhân viên bảo vệ an ninh tư nhân, có cầu vai áo và phù hiệu làm tôi nhớ đến những nhân viên bảo vệ ở Mexico, đứng gác tại hành lang các khách sạn năm sao và các cửa hàng thức ăn nhanh cùng chó nghiệp vụ và súng săn cưa nòng. Các tòa nhà chính phủ trông thật hoang vắng, lạnh lẽo vì ánh sang chết choc phát ra từ những chiếc đèn huỳnh quang. Tất nhiên, cũng có âm thanh rộn rã trong những trung tâm mua sắm hiện đại và những chưỡi nhà hàng dàng cho giới trung lưu. Tuy nhiên, dù những cuốn cẩm nang du lịch có nói gì, thì chỉ sau vài ngày là người ta nhận ran gay rằng không hề có bất kỳ món ăn Philippines đặc trưng nào, ngoài cá, thịt heo và cơm nấu hết sức bình thường. Đây là một nền văn hóa vay mượn, không có chút gì đọng lại từ nền văn minh đa dạng hiện hữu ở những địa điểm khảo cổ tại những nơi như Việt Nam và Indonesia, chưa nói đến Trung Quốc và Ấn Độ. Trong một nền văn hóa như vậy, nổi bật lên là những khu phố xa hoa, kín cổng cao tường, trong đó, những người giàu nhờ hệ thống các thiết bị hỗ, có thể thoát khỏi cái môi trường bất thường kia.

Động lực của châu Á, bắt đầu từ những năm 1970, có thể cảm nhận được rõ ràng qua mọi thứ, từ những con tàu cao tốc ở Trung Quốc và Đài Loan, đến cơn sốt xây dựng ở Việt Nam và Malaysia, hay những hàng cây ven đường được cắt tỉa rất đẹp ở Singapore. Thế nhưng, ít nhất là cho đến lúc này, động lực ở châu Á đã bỏ qua Philippines.

Một nhà kinh tế hoạc phương Tây làm việc ở Manila nói với tôi: “Đây vẫn còn là một nền kinh tế Mỹ Latin yếu kém, chứ không phải là một nền kinh tế châu Á. Đúng là cuộc suy thoái toàn cầu năm 2008 không ảnh hưởng nhiều tới Philippines, nhưng trước hết đó là vì nước này chưa bao giờ hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu”. Ông nói tiếp: những gì anh thấy, “là tốc độ tăng trưởng kinh tế được coi là ổn định, gần đây lên tới hơn 6% mỗi năm, song lại bị suy yếu đi bởi tốc độ tăng trưởng dân số 1,7%, không giống như những nền kinh tế khu vực vành đai Thái Bình Dương khác, những nền kinh tế mà trong mấy thập niên liền có tốc độ tăng trưởng cao hơn gần 1/3 Philippines, nhưng dân số không tăng tới mức đó. Điều quan trọng là tỷ lệ tăng trưởng GDP “đáng kinh ngạc”, lên tới 76,5% trong những năm gần đây lại thuộc về 40 gia tộc giàu nhất Philippines”. Câu chuyện về giới tinh hoa ở Manila đang giàu trong khi những người khác phải trả giá là câu chuyện đã cũ từ lâu.

Trong khi các nền kinh tế phát triển mạnh ở châu Á có nền tảng sản xuất mạnh mẽ và được xây dựng dựa trên xuất khẩu, thì trái ngược hẳn với mô hình tiêu chuẩn 75% của châu Á, ở Philippines, xuất khẩu chỉ chiếm 25% hoạt động kinh tế. Và 25% đó cũng chủ yếu là các linh kiện điện tử giá trị thấp, chuối và dừa. Nhà kinh tế học nói trên đưa ra số liệu thống kê nhanh như sau: Philippines đứng thứ 129/182 quốc gia về chỉ số minh bạch quốc tế , trở thành nền kinh tế tham nhũng nhất châu Á, thậm chí còn hơn cả Indonesia; theo chỉ số dễ-tiến-hành-hoạt-động-kinh-doanh của Ngân hàng Thế giới, Philippines đứng thứ 136/183; trong mọi bảng xếp hạng và hạng mục, Philippines – với dân số đứng thứ 12 trên thế giới – luôn là nền kinh tế lớn tệ hại nhất ở châu Á.

Không ai có thể phủ nhận là tình hình đang được cải thiện. Gần đây, Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Thụy Sĩ đã xếp Philippines vào hạng giữa bảng đánh giá xếp hạng mức độ cạnh tranh toàn cầu. Tuy nhiên, đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nạn nạn tham nhũng, những quy định hạn chế quyền sở hữu của người nước ngoài, cùng thủ tục giấy tờ bất tận đã làm cho Philippines trở thành quốc gia khó chịu nhất trong không gian hàng hải châu Á. Không có quốc gia nào ở châu Á, có lẽ chỉ trừ Myanmar, Campuchia, và Indonesia, lại có các thiết chế yếu kém hơn và tắc trách hơn.
Có lẽ, không có quốc gia rộng lớn nào khác trên thế giới được Hoa Kỳ đầu tư về chính trị, quân sự và kinh tế trong suốt nhiều thập kỷ liền như thế mà lại tạo ra được ít khác biệt đến như thế.

Cuộc đổ bộ của Hoa Kỳ vào Philippines bắt đầu vào rạng sáng ngày 01 tháng 5 năm 1898, khi hải đoàn gồm chín con tàu của Phó Đô đốc George Dewey, hành quân qua màn đêm qua Đảo Corregidor đến gần Bán đảo Bataan, tiến vào Vịnh Manila và tiêu diệt hải đoàn mạnh hơn của Tây Ban Nha. Như nhiều sự kiện đáng chú ý trong lịch sử, chiến thắng của Dewey vừa là đỉnh điểm của các lực lượng chính trị và kinh tế rộng lớn, vừa là một tình huống bất ngờ, không dễ gì xảy ra. Nó không hẳn được thúc đẩy bởi những sự kiện tại Thái Bình Dương, mà là do vụ đàn áp của Tây Nha Ban đối ở Cuba đã khiến Tổng thống Hoa Kỳ William McKinley – bị thúc giục bởi những người theo chủ nghĩa bành trướng, bao gồm trong đó có trợ lý Bộ trưởng Bộ Hải quân Hoa Kỳ Theodore Roosevelt – tuyên chiến với Đế quốc Tây Ban Nha.

Cuộc xâm lược Philippines đánh dấu việc lần đần tiên Hoa Kỳ cố ý tiến hành chinh phục một khu vực lãnh thổ ở nước ngoài và cuối cùng, chiếm đóng luôn lãnh thổ đó. Phải hơn một thế kỷ sau, cho đến cuộc xâm lược Iraq, điều này mới xảy ra một lần nữa. Mặc dù bắt đầu bằng chiến thắng mở màn đầy vẻ vang của Phó Đô đốc Dewey, nhưng trong vòng vài tháng, cuộc xung đột lớn đầu tiên của Hoa Kỳ ở bên ngoài lục địa của nó đã biến thành cơn ác mộng về quân sự, cũng như đã gây ra sự rạn nứt trong nội bộ Hoa Kỳ như trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Tiếp sau cuộc đổ bộ thành công vào Vịnh Manila của Dewey, quân đội Hoa Kỳ đã giúp quân nổi dậy Philippines giành lại quần đảo bị từ tay Tây Ban Nha. Nhưng cũng tương tự như ở Iraq và những nơi khác, người Mỹ đã sai lầm khi nghĩ rằng người dân bản xứ hoan nghênh việc đánh đuổi chế độ chuyên quyền bạo ngược và sẽ vẫn thân thiện một khi chế độ ấy đã bị lật đổ. Sau khi Tây Ban Nha bị đánh bại, căng thẳng giữa chính quyền mới ở Philippines do Emilio Aguinaldo, nhà lãnh đạo trẻ tuổi người Tagalog, đứng đầu và quân giải phóng Hoa Kỳ tăng lên, mặc dù cho Aguinaldo đang dần mất kiểm soát lực lượng năm bè bẩy mối của ông ta. Đến tháng 2 năm 1899, tình trạng hỗn loạn ở Philippines và chủ nghĩa lý tưởng bị đặt nhầm chỗ của Hoa Kỳ đã bùng phát thành một cuộc chiến tranh toàn diện giữa quân đội Hoa Kỳ và lực lượng du kích trong nước của Philippines.

Ngày 04 tháng 7 năm 1902, khi Tổng thống Roosevelt tuyên bố chiến tranh Philippines kết thúc, 4.234 binh lính Hoa Kỳ đã thiệt mạng trong cuộc xung đột và 2.818 người khác bị thương. Tổng cộng, 200.000 người đã thiệt mạng, chủ yếu là dân thường Philippines. Cuộc chiến ở miền nam Philippines theo Hồi giáo còn tiếp diễn trong nhiều năm nữa. Người ta có thể khẳng định rằng cuộc chiến đó là hoàn toàn không cần thiết, một sai lầm chính trị ngớ ngẩn bậc nhất của chính quyền McKinley, trong đó chủ nghĩa lý tưởng và sự ngây thơ của Hoa Kỳ đã đưa nó nước này vào con đường phá hủy và tàn bạo.
Theo sau chiến thắng quân sự lộn xộn và tàn bạo này là hàng thập kỷ thống cai trị của Hoa Kỳ, một chế độ được nhà báo, nhà sử học Stanley Karnow gọi là “mô hình khai sáng” so với chủ nghĩa thực dân châu Âu. Samuel Tan, nhà sử học người Philippines, người chỉ trích chính sách của Hoa Kỳ trên những khía cạnh khác, cũng đồng tình và mô tả sự cai trị của Hoa Kỳ như một động cơ lịch sử đã mang chút ít hiện đại đến cho quần chúng nhân dân Philippines.

Người Mỹ bị cấm mua những khu đất lớn, họ tránh các những đề án, ví dụ như độc quyền thuốc phiện. Họ lấy đất của những nhà thờ giàu có cấp cho nông dân, họ xây dựng đường bộ, đường sắt, cảng, đập và công trình thủy lợi. Từ 1900 đến 1920, nhờ viện trợ của Hoa Kỳ dành cho y tế và giáo dục mà dân số Philippines đã tăng lên gấp đôi chỉ trong vòng 1 thế hệ, số người biết đọc biết viết đã tăng từ 20 lên 50%.

Theo chiều ngược lại, Philippines đã tác động đến vận mệnh của Hoa Kỳ trong suốt thế kỷ XX ở một mức độ mà ít có quốc gia xa xôi nào làm được. Thẩm phán bang Ohio, William Howard Taft, lãnh đạo Hội đồng Philippines và đây là bước để ông leo lên chức cụ tổng thống Hoa Kỳ. Đại úy John “Black Jack” Pershing, người chỉ huy đoàn quân viễn chinh chống lại Pancho Villa ở Mexico và chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ trong Thế chiến I, sau chiến công xuất sắc mà ông giành được khi chỉ huy đội quân chống quân nổi dậy Hồi giáo ở miền nam Philippines đã vượt lên 900 sĩ quan khác để được thăng cấp Chuẩn tướng. Douglas MacArthur, con trai của Tướng Arthur MacArthur, đã tới đến Philippines để chỉ huy cho lữ đoàn của Hoa Kỳ và trở lại lần thứ hai để đảm trách vai trò cố vấn quân sự cho chính quyền nước này. Một trong những phụ tá của Douglas MacArthur ở Manila là thiếu tá Dwight D. Eisenhower, người đã mài dũa kỹ năng phân tích của mình cho Thế chiến II bằng cách tổ chức quân đội quốc gia cho Philippines. Chiến thắng của Nhật Bản trước lực lượng của Tướng Douglas MacArthur ở Philippines, chiến lũy cuối cùng của MacArthur ở Corregidor, Vịnh Manila trước khi rút chạy sang Australia, những tội ác tiếp theo của Nhật Bản đối với cả tù binh chiến tranh người Mỹ lẫn người Philippines trong “Tháng 3 Chết chóc” trong khu vực gần bán đảo Bataan, và lần trở lại Philippines khải hoàn của MacArthur trong trận chiến trên vịnh Leyte - tất cả đã trở thành một phần trong huyền thoại theo kiểu Homer của Thế chiến II và tạo ra một di sản lịch sử chung cho cả người Mỹ lẫn người Philippines.

Đây là chưa nói đến sự can thiệp sâu của các nhà hoạch địnhnhững người lập chính sách Hoa Kỳ trong việc hỗ trợ chính quyền Philippines bằng viện trợ và tư vấn kể từ Thế chiến II, đặc biệt là vai trò quan trọng của Hoa Kỳ trong việc phế truất nhà độc tài Ferdinand Marcos một cách hòa bình vào năm 1986. Hoa Kỳ không chỉ vật lộn với chế độ độc tài của Marcos, công việc đòi hỏi sự tham gia của các sĩ quan và nhà ngoại giao Mỹ từ những năm 1960 đến 1980, mà Hoa Kỳ còn có nhiệm vụ hỗ trợ Manila nhằm chống lại phong trào nổi dậy của chủ nghĩa cộng sản và của quân Hồi giáo đang lên cao ngay lúc nàykéo dài cho đến tận ngày hôm nay.

Thật vậy, không thể nghi ngời Hoa Kỳ đang hoặc đã từng là một nước đế quốc xâm chiếm Philippines, nơi mà lãnh sự quán của Hoa Kỳ, tòa bạch ốc nguy nga, tráng lệ nằm đối diện Vịnh Manila chiếm giữ khu nhà đất đẹp nhất khu vực trung tâm, tương tự như các hội đồng cấp cao và lãnh sự quán Anh, Pháp chiếm giữ tại ở các quốc gia thuộc địa cũ của mình; nơi người Mỹ có khu nghỉ mát riêng giống tương tự như những khu nghỉ mát của người Anh ở Ấn Độ; nơi những sĩ quan quân đội, doanh nhân và chính khách hàng đầu của quốc gia bản địa này đều tốt nghiệp Học viện Quân sự Hoa Kỳ ở West Point, cũng tương tự như việc những nhân vật vai vế tại các nước thuộc địa cũ của Anh tốt nghiệp Sandhurst; và nơi mà vị anh hùng lãng mạn của quốc gia không phải là một người Philippines mà là nhân vật tựa như thần Promethues, Douglas MacArthur, người mà, theo suy nghĩ của người Philippines, đã giải cứu đất nước khỏi sự tàn sát của những chiếm đóng người Nhật.
Thử tưởng tượng về Iraq chín thập kỷ về sau, nếu Hoa Kỳ vẫn tiếp tục can thiệp sâu vào những vấn đề ở đó với tư cách là một cường quốc thống trị từ bên ngoài tới ngoài. Lúc đó, Iraq sẽ trở thành Philippines. Philippines, trong gần hết thế kỷ XX, là thuộc địa của Hoa Kỳ về mọi mặt trừ cái tên, là quốc gia có chính sách quốc phòng và ngoại giao ủng hộ Mỹ hiển nhiên từ rất lâu.

Với di sản như thế, người ta cho rằng số phận của Philippines và việc nước này có bị Trung Quốc Phần Lan hóa hay không, tương tự như hướng đi chiến lược của Hoa Kỳ với tư cách là một siêu cường hơn là so với số phận của Iraq và việc liệu quốc gia này có tiếp tục phải chịu sự thống trị của Iran hay không. Xin đừng nhầm, Philippines rất quan trọng: quốc gia này có vai trò án ngữ bờ đông Biển Đông, tương tự như Việt Nam án ngữ bờ tây và Trung Quốc án ngữ bờ bắc. Với số dân gần 100 triệu người, Philippines thậm chí còn đông dân hơn cả Việt Nam.

Và cho đến bây giờ, mặc dù có đã được nhận những khoản kinh phí viện trợ hàng năm khổng lồ của Hoa Kỳ trong suốt thế kỷ qua, Philippines vẫn là một trong những xã hội tham nhũng, bất thường, khó uốn nắn và nghèo đói nhất ở trong không gian hàng hải ở châu Á, với những khu ổ chuột chẳng khác gì châu Phi, thuyết định mệnh và sự phân chia giai cấp mang phong cách Mỹ Latin. Quả thực, Philippines được người ta miêu tả như là một “nền cộng hòa may rủi”, nơi các chính trị gia “có quyền mà không có đức”, lãnh đạo bằng phương tiện là “vốn” và “tội ác”.

Philippines trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI, vẫn tham nhũng như vậy, phần lớn là di sản của một người, Ferdinand Marcos, con người đại diện cho cực đối lập của với Lý Quang Diệu, và ở mức độ ít hơn với Mahathir bin Mohamad và Tưởng Giới Thạch. Trong khi những nhân vật kia để lại đằng sau là các quốc gia hoạt động hiệu quả, với các thể chế hết sức trong sạch, có phẩm chất trở thành các nền dân chủ hiệu quả, thì những Marcos để lại sau lưng nạn hối lộ, đút lót, chủ nghĩa ô dù và sự cảnh đổ nát. Khác với Singapore, Đài Loan, và ở mức độ nhỏ hơn là Malaysia, Marcos và Philippines hoàn toàn không có các giá trị của Khổng giáo. Trong khi những nhân vật kia có tư duy của những triết gia chính trị vĩ đại, thể hiện qua việc chứng tỏ rằng trong một vài trường hợp, chế độ chuyên chế hạn chế có thể dẫn đến hiệu quả chính trị, thì Marcos lại là người đại diện cho đa số các trường hợp hơn, trong đó, chế độ chuyên chế dẫn đến tội ác và sự thối nát về chính trị. Ba nhân vật kia, mỗi người đều là những người đặc biệt theo quyền cách riêng của mình, tuổi thơ của họ làm cho họ phải đổi thay để thích nghi với những sự thật không mấy dễ chịu về xã hội cần phải được điều chỉnh của họ. Họ nhìn xuyên màn khí độc của những hợp lý hóa thường gặp để luôn luôn có thể thấy thực tế nghiệt ngã mà họ phải đương đầu: thể hiện rõ nhất Lý Quang Diệu và Mahathir, và còn Tưởng Giới Thạch thì không rõ bằng. Đó là thiên tài năng đặc biệt của họ; trong khi thế giới của Marcos trở thành là sự tự dối mình. Lý Quang Diệu và Mahathir là những nhà lãnh đạo hiệu quả, mang phong cách của các nhà quản trị doanh nghiệp; Tưởng Giới Thạch thì tìm cách đạt được điều đó trong những năm cuối đời ở Đài Loan. Còn Marcos thì làm hoàn toàn ngược lại. Hãy lắng nghe ý kiến của Stanley Karnow, nhà báo – nhà sử học mà người ta cho là vĩ đại nhất của nước Mỹ về khu vực Đông Nam Á cuối thế kỷ XX:

“Bị cô lâp trong cung điện ngột ngạt của mình, Marcos cuối cùng đã không còn tiếp xúc được với thực tế nữa. Đến năm 1985, chính quyền tham nhũng của ông ta đã mất hết uy tín, nhưng niềm tin mù quáng của ông ta vào khả năng bất khả chiến bại của mình đã thúc đẩy ông ta lập kế hoạch bầu cử… báo hiệu sự sụp đổ của ông ta… Marcos sụp đổ dưới gánh nặng từ sự quản lý yếu kém và dễ bị mua chuộc của mình, cách quản lý như thế làm cho quốc gia phá sản. Để cạnh tranh với những nhà cầm quyền Khmer huyền thoại, đầu của những vị này được tạc bằng đá và rồi xếp thành hàng trên các kiến trúc trong quần thể Angkor , Marcos đã yêu cầu tạc tượng bán thân của mình vào sườn đồi trung tâm Luzon. Ông ta bịa ra một loạt các vị tổ tiên là quý tộc, chiến binh, nông dân, nghệ sĩ, thực dân và có tinh thần quốc gia dân tộc chủ nghĩa, như thể tinhthần từ của những người ấy tập trung hết cả vào ông ta”.

Trong hơn hai thập kỷ cầm quyền, Marcos và vợ, Imelda, không đánh cắp hàng trăm triệu USD, mà họ đã ăn cắp hàng tỷ. Thiên tài văn hóa là khi nhà lãnh đạo cô phân lập được những thuộc tính mạnh mẽ nhất của nền văn hóa nhằm đưa xã hội lên cấp độ cao hơn. Lý Quang Diệu đã làm như vậy với nền văn hóa Trung Hoa hải ngoại; Mahathir đã làm như vậy với nền văn hóa Mã Lai, kết hợp nhất nền văn hóa này với những thuộc tính kỷ luật của Hồi giáo toàn cầu. Nhưng Marcos lại đại diện cho di sản tệ hại nhất của Tây Ban Nha – chế độ chuyên chế, thuyết định mệnh và tiền cải cách tôn giáo, do đó, ông ta đã không làm được gì mang tính cách mạng và thú vị cho đất nước Philippines, ngoài việc trì hoãn cái ngày mà quốc gia này cũng có thể trở thành một con hổ châu Á.

Với tình trạng đình trệ vô định của kỷ nguyên hậu Marcos, Marcos cũng không còn bị mọi người ở đây căm ghét nữa. Một trong những luật sư hàng đầu của quốc gia này nói với tôi: “Trong suốt những năm đầu của chế độ độc tài Marcos, chúng tôi đã từng kì vọng. Marcos thực sự có đã có những khả năng và cơ hội để thay đổi nền văn hóa. Nhưng với ý thức về quyền lực của người vùng Java, ông ta tin rằng quyền lực gắn liền với thể xác của ông ta. Đây không phải là ý thức quyền lực kiểu Machiavelli, trong đó, đức hạnh không phải là khả năng thu hút quần chúng mà là việc làm và những lựa chọn khó khăn.” Vị luật sư nói tiếp, suốt từ khi Marcos lên cầm quyền: “nền dân chủ của chúng tôi chỉ dân chủ hóa tham nhũng. Không hề có chút gì Khổng giáo ”, tức là hệ thống giá trị lý giải cho các xã hội tự điều chỉnh và phát triển mạnh ở hầu hết khu vực Đông Á; cũng không có “kỷ luật Hồi giáo” nào - thứ lỷ luật có ích cho những người Mã La ở Malaysia và Indonesia. “Trong văn hóa của chúng tôi: chúng tôi không làm mất mặt xấu nhau; thay vì trừng phạt, chúng tôi thỏa hiệp và giải quyết theo hướng khác. Đây là bi kịch của chúng tôi.” Một nhóm các nhà báo Philippines nói với tôi rằng, chính sự thiếu kỷ luật đã khiến họ nghi ngờ khả năng duy trì một mặt trận mạnh mẽ và thống nhất nhằm chống lại Trung Quốc.

Những đặc điểm văn hóa ấy, tất nhiên, có thể thay đổi, và còn có thể thay đổi một cách cực kỳ nhanh chóng. Song việc này đòi hỏi phải có những chính sách tốt, đòi hỏi phải có nhà lãnh đạo xuất chúng.

Ngoài Marcos, vấn nan đề nan giải chính của Philippines là địa lý. Trước khi nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Ferdinand Magellan đặt chân lên đảo Cebu vào năm 1521, quần đảo Philippines không phải là một thực thể chính trị gắn bó với nhau. Sự tương phản rất rõ ràng với Việt Nam, một đất nước có ý thức dân tộc cách đấy cả ngàn năm. Trước khi Magellan tới, quần đảo Philippines đại thể bao gồm ba nhóm đảo có với rất ít điểm chung. Đảo Luzon ở phía bắc là nơi sinh sống chủ yếu của người Tagalog, có cội nguồn từ khu vực Đông Nam Á. Ở phía nam là đảo Mindanao và quần đảo Sulu, nơi sinh sống của người Moro theo Hồi giáo, tộc người có nhiều điểm chung về mặt văn hóa và sắc tộc với người ở Malaysia và Indonesia hơn là với người ở đảo Luzon. Điều này đã dẫn đến chủ nghĩa khủng bố và phong trào nổi dậy Hồi giáo, và chiến dịch chống nổi dậy được Hoa Kỳ trực tiếp giúp đỡ. Luzon ở phía bắc và Mindanao ở phía nam liên kết với nhau một cách lỏng lẻo bằng nhóm đảo Visayas nằm rải rác, rong đó có đảo Cebu. Việc phải bảo vệ 35.405,57 km (22.000 dặm) đường bờ biển, chật vật với những mối đe dọa từ bên trong, sản phẩm của sự đa dạng sắc tộc và tôn giáo, khiến Philippines trở nên đặc biệt dễ bị tổn thương trước sự xâm nhập của một cường quốc bên ngoài như Trung Quốc. Philippines giống một đế chế đổ nát được điều khiển từ Luzon hơn là một quốc gia. Quả thật, dù là một quốc gia quần đảo nhưng lục quân của Philippines lại có quân số gấp ba hải quân, chứng tỏ tình trạng mất an toàn ở trong nước. Chính vì đặc điểm địa lý mà giờ đây Philippines không có lựa chọn nào khác ngoài việc tìm kiếm sự bảo trợ từ Hoa Kỳ để chống lại Trung Quốc.

Đúng là Philippines đã đóng cửa Căn cứ Hải quân của Hoa Kỳ ở Vịnh Subic vào năm 1992, đồng thời căn cứ Clark Airfield (cũng nằm trên đảo Luzon) cũng bị đóng cửa vào năm đó. Nhưng đó là trước khi sức mạnh hải quân của Trung Quốc trở nên thực sự rõ ràng. Chỉ hai năm sau, Trung Quốc đưa quân lên các dải đá ngầm do Philippines kiểm soát trên quần đảo Trường Sa và từ giữa những năm 1990 trở đi, Trung Quốc tiến hành mở rộng lực lượng không quân và hải quân một cách mạnh mẽ, cùng với một thái độ hung hăng hơn trên Biển Đông. Sự thống trị về mặt địa chính trị ngày càng gia tăng của Trung Quốc đối với Manila được đẩy mạnh bởi thực tế thực tế Trung Quốc chính là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Philippines. Bên cạnh đó, cộng đồng người Hoa kiều có rất nhiều của cải và ảnh hưởng ở Philippines.

Trên phương diện khác, chủ nghĩa dân tộc dễ kích động ở Philippines trước sự trỗi dậy về mặt quân sự của Trung Quốc, theo phương diện khác, cũng chính là biểu hiện tính dễ bị tổn thương về địa lý của quốc gia này. Biển là đường giao thông huyết mạch cho mọi hoạt động kinh tế của Philippines, từ đánh bắt thủy hải sản đến khai thác năng lượng. Philippines nhập khẩu toàn bộ dầu bằng đường biển, trong khi toàn bộ nguồn cung khí thiên tự nhiên của quốc gia này được khai thác trên thềm lục địa gần Vịnh Manila. Do đó, khả năng bị tước mất đi quyền tiếp cận các mỏ hydrocarbon mới ở Biển Đông, như ở quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough, cũng như bị tước mất quyền tiếp cận các ngư trường hiện tại do sự dịch chuyển trong cán cân quyền lực trong không gian hàng hải là cơn ác mộng về an ninh quốc gia đối với Manila.

Khi tôi ở đây thì sự dễ bị tổn thương của một quốc gia sắp thất bại trước dưới cặp mắt đầy đe dọa của Trung Quốc đang được Washington khai thác nhằm làm sống lại, dưới hình thức khác, nền tảng chiến lược người Mỹ đã từng có ở đây, trên bờ đông Biển Đông trong gần một thế kỷ, kể từ năm 1899 cho đến khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.

Xích lô ở Manila

Chuyến sang thăm Philippines gần đây nhất của tôi vào mùa hè năm 2012 diễn ra đúng vào giai đoạn xảy ra căng thẳng quân sự trên Biển Đông, sự kiện mà trong các bản tin trên thế giới chỉ bị lấn át bởi cuộc nội chiến ở Syria và khủng hoảng nợ công ở châu Âu mà thôi. Sự bế tắc trong cuộc đối đầu giữa tàu thuyền của Philippines và tàu thuyền của Trung Quốc, bắt đầu từ mùa xuân năm 2012, tại Bãi cạn Scarborough, cách 193,1km (120 dặm) về hướng Tây đảo Luzon, đã chứng minh cho sự tự tin vào chính sách “cây gậy nhỏ” của Trung Quốc khi đối phó với một địch thủ yếu kém và đáng thương như Philippines. Thay vì tàu chiến thứ thiệt, trong nhiều tuần, Bắc Kinh đã phái hơn 20 tàu tuần tra biển hạng nhẹ, không vũ trang (tương đương với những tàu cảnh sát biển bờ biển), đến hiện trường. Qua đó, Trung Quốc ám chỉ rằng nước này xem quyền lực trên biển là một “thể liên tục”, bao gồm nhiều phương án lựa chọn, vì ngay cả tàu buôn và tàu đánh cá cũng có thể thả thủy lôi và theo dõi tàu chiến của nước ngoài. (Như các giáo sư James Holmes và Toshi Yoshihara, Đại học Hải Chiến Hoa Kỳ khẳng định, trên thực tế, Trung Quốc đang tập hợp các tàu bảo vệ bờ biển hiện đại nhất “giống như xúc xích”, còn các đơn vị tuần tra trên biển thì đang tiếp nhận các tàu hải quân bỏ không). Việc sử dụng tàu lớn ở đầu yếu của “thể liên tục” đã củng cố thêm cho thông điệp của Trung Quốc rằng nước này chỉ đang kiểm soát các vùng nước đã sở hữu, chứ không phải đang cạnh tranh với các lực lượng hải quân khác để chiếm các vùng nước mới. Và không một ai có thể nghi ngờ khả năng có thể gia tăng một cách nhanh chóng sức mạnh của Trung Quốc trên các vùng biển trong vùng lân cận. Đối mặt với các tàu không vũ trang của Trung Quốc là niềm kiêu hãnh của hải quân Philippines - con tàu thời những năm 1960 mà Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hoa Kỳ đã bỏ đi, được đặt lại với cái tên là Gregorio del Pilar. Sự mất cân đối này quả thật chua xót, dấu hiệu về sức mạnh ngày càng gia tăng của Trung Quốc và thất bại của đất nước Philippines thời hiện đại, không có đủ lực lượng hải quân là hệ quả của những thấy bại về xã hội và kinh tế. Tất nhiên, sự kiện kích động phản ứng mãnh liệt và cảm tính của người Philippines đối với Trung Quốc chính là việc họ hiểu ra hoạt động hải quân của Trung Quốc ở Bãi cạn Scarborough chính là thái độ hết sức hợm mình, một điều làm họ vô cùng nhục nhã.

Còn 1 kì nữa.

June 29, 2019

Philippines – hi vọng và khủng hoảng dân chủ

Trích tác phẩm Tinh thần dân chủ (Spirit of Democracy của Larry Diamond – chưa in)

HI VỌNG

Năm 1986, đã xảy ra “phép màu”. Lần đầu tiên của hiện tượng mà sau này được gọi là “Cách mạng Sức mạnh của nhân Nhân dân” (People Power Revolution) trong làn sóng thứ ba, lực lượng đối lập Philippines đã động viên được nhân dân với chiến thuật phản kháng bất bạo động nhằm chia rẽ chế độ và lật đổ nhà độc tài. Tháng 11 năm 1985, tổng thống Ferdinand Marcos, dưới áp lực ở trong nước và quốc tế vì đã cướp phá đất nước và đàn áp bất đồng chính kiến suốt hai thập niên, đã tìm cách củng cố tính chính danh của ông ta bằng cách kêu gọi bầu cử tổng thống trong một ngày không xa. Phe đối lập đã bị khích động từ tháng 8 năm 1983 -– lãnh đạo phe dân chủ rất được lòng dân, ông Benigno Aquino, bị ám sát ngay trên sân bay Manila khi ông vừa từ Hoa Kỳ trở về, sau một thời gian sống lưu vong ở nước ngoài. Ủy ban điều tra của chính phủ quy trách nhiệm cho tham mưu trưởng lục quân, tướng Fabian Ver (người từng là tài xế và bảo vệ của Marcos), nhưng ông ta đã được tòa án thiên vị tha bổng và được trở lại nhiệm sở, làm cho tình trạng náo động càng gia tăng. Tin rằng có thể thắng trong một cuộc kiểm tra nhanh mức độ ủng hộ của dân chúng, Marcos tuyên bố tổ chức “cuộc tuyển cử bất ngờ” nhằm “khôi phục lại niềm tin” vào quyền lực của ông ta. Nhưng dưới áp lực về mặt đạo đức của tổng giám mục được nhân dân kính trọng, Hồng y Jaime Sin, phe đối lập vốn vẫn chia rẽ đã tập hợp lại xung quanh bà Corazon, góa phụ của ông Aquino. Và khi Marcos trắng trợn gian lận, trò bịp này đã bị Phong trào Công dân Toàn quốc Ủng hộ Bầu cử Tự do (NAMFREL) -– bằng những cố gắng chưa từng thấy – cũng như các nhà quan sát quốc tế, vạch trần. Thượng nghị sĩ Richard Lugar, lãnh đạo nhóm các nhà quan sát cuộc bầu cử do tổng thống Reagan thành lập và Nhà thờ Công giáo đã kí xác nhận bản báo cáo về cuộc bầu cử do NAMFREL đưa ra. Cả Marcos và Aquino cùng tuyên bố chiến thắng, Aquino kêu gọi bất tuân dân sự, tẩy chay và những hình thức phản đối bất bạo động khác nhằm “hạ bệ kẻ tiếm quyền”, các tướng lĩnh có đầu óc cải cách rời bỏ Marcos và công nhận Aquino là tổng thống dân cử hợp pháp. Nghe theo lời kêu gọi của Hồng y Sin, hàng trăm ngàn người Philippine đã đổ ra đại lộ nối liền hai căn cứ khởi nghĩa ở Manila (EDSA) với nhau và quỳ gối cầu nguyện. Đám đông liên kết giới quân nhân với các bà xơ sơ tay lần tràng hạt – sau này được gọi là “Phép màu ở EDSA” -– đã ngăn chặn được đoàn xe tăng và những đơn vị còn trung thành với Marcos, không cho họ tiến lên. Marcos không còn được ai ủng hộ nữa, ông ta phải sống lưu vong.