January 19, 2021

Thuật ngữ chính trị (116)

 


269. Junta – Chế độ độc tài quân sự. Nguyên gốc tiếng Tây Ban Nha, hồi thế kỉ XVI, nghĩa là “hội đồng”, để chỉ các hội đồng cố vấn của chính phủ. Hiện nay, từ này có nghĩa là hội đồng quân nhân cai trị đất nước sau cuộc đảo chính quân sự. trước khi chính quyền hiến định được khôi phục. Ở Mĩ Latin, chế độ độc tài quân sự thường được những người cầm đầu lực lượng bộ binh, không quân và hải quân thành lập.

270. Jurisprudence -  Luật học. Luật Học là thuật ngữ để chỉ các ngành khoa học nghiên cứu về pháp luật. Một cách cụ thể hơn, các nhà luật học quan tâm đến việc tạo ra cách hiểu mang tính hệ thống bản chất của luật pháp cũng như quá trình phát triển của nó, trình bày những nguyên lí làm nền tảng hay phải là nền tảng của nó, trong đó có quan hệ với những thiết chế và thực hành khác, ví dụ, đạo đức, giải thích các thực hành bên trong của nó. “Luật” có thể là luật thực định (positive law), luật tự nhiên (natural law) hay thậm chí là tập hợp các quy định không nằm trong hệ thống luật pháp chính thức. Quan hệ giữa luật pháp (law) và luật học (jurisprudence) cũng tương tự như quan hệ giữ chính trị (politics) và lý thuyết chính trị (political theory).

271. Jury – Bồi thẩm đoàn (Lý thuyết). Nhóm người được giao trách nhiệm quyết định một lời tuyên bố nào đó có đúng hay không. Trong chế độ dân chủ Athens cố đại, bồi thẩm đoàn thường bao gồm 501, 1.001, hay 1.501 thành viên (số lẻ). Lúc đó, cũng như hiện nay, bồi thẩm đoàn được chọn một cách ngẫu nhiên (ít nhất là trên nguyên tắc). Condorcet là người đưa ra ý tưởng cho rằng người bị kết án phải được những người đồng bào của mình, được lựa chọn một cách ngẫu nhiên, quyết định là có tội hay không có tội. Lý thuyết về bồi thẩm đoàn của Condorcet nói rằng nếu mỗi thành viên bồi thẩm đoàn, tính trung bình, có xác suất cao là sẽ phán quyết đúng hơn là phán quyết sai, cho nên bản án do đa số ban hành là khả tín. Đa số 10 người so với 2 là đủ để nói rằng đa số là đúng. Lý thuyết bồi thẩm đoàn vẫn còn được nghiên cứu và áp dụng trong chính trị và những ngành khoa học xã hội khác.  

272. Justice – Công lý/Công bằng. Công lý trong lĩnh vực luật pháp là khái niệm về cân bằng đích thực: phiên tòa, trong đó, phải có sự cân bằng đích thực giữa khả năng của bên bị trong việc bảo vệ sự vô tội của mình và bên nguyên trong việc luận tội; một bản án chính xác thể hiện sự cân bằng giữa tội lỗi trước đó và phản ứng hiện thời. Trong lý thuyết chính trị, công bằng liên quan tới điều kiện trở thành thành viên của nhóm xã hội nào đó, cũng như việc phân chia trách nhiệm và quyền lợi giữa các thành viên của nhóm.

272. Just War- Chiến tranh chính nghĩa. Khi nào, nếu quả thật có một lúc như thế, quốc gia có chính nghĩa khi tiến hành chiến tranh? Có phải chiến tranh luôn luôn là hành động bất hợp pháp và vô đạo đức, hay có thể chấp nhận được trong những điều kiện nhất định? Lời biện minh thích hợp – là jus ad bellum – để tham gia chiến tranh là gì? Lí thuyết về chiến tranh chính nghĩa do Thánh Augustine, Thánh Thomas Aquinas, Hugo Grotius và gần đây hơn, triết gia chính trị Michael Walzer xây dựng, khẳng định rằng, một số tiêu chí có thể làm cho quyết định tham gia chiến là chính đáng . Phải có lí do chính đáng (tự vệ hoặc bảo vệ người khác, hoặc chống lại vi phạm nhân quyền trên diện rộng) và tuyên bố về mục đích của một cơ quan có thẩm quyền (từ khi thành lập Liên Hợp Quốc, cơ quan có thẩm quyền được hiểu là Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc). Các nhà lãnh đạo cần phải có mục đích đúng đắn, trong khi mong muốn chấm dứt những vụ lạm dụng và thiết lập nền hòa bình công bằng. Họ cũng cần phải sử dụng hết tất cả các khả năng khác nhằm chấm dứt các vụ lạm dụng, chỉ sử dụng chiến tranh như là biện pháp cuối cùng. Sau khi đảm bảo được các mục tiêu nhân đạo, các bên phải nhanh chóng rút lực lượng về. Nhưng, vì các quốc gia quyết định khởi chiến vì nhiều lí do khác nhau, đánh giá tính chính nghĩa của một nguyên nhân cụ thể hoặc ý định cụ thể là công việc không dễ dàng.

Truyền thống chiến tranh chính nghĩa nói tới những hành vi hợp pháp trong chiến tranh. Phải phân biệt giữa các chiến binh và những người không chiến đấu, người không chiến đấu phải được bảo vệ hết mức có thể. Bạo lực phải tương xứng với mục tiêu cần phải đạt. Các chiến binh phải tránh gây ra những đau khổ quá đáng cho con người và không được sử dụng vũ khí đặc biệt tàn bạo. Nhiều quy tắc của truyền thống chiến tranh chính nghĩa được mở rộng ra và được quy định trong bốn Công ước Genève 1949 và hai nghị định thư bổ sung được kí vào năm 1977. Những công ước và nghị định thư này được thiết kế nhằm bảo vệ thường dân, tù binh và thương binh, cũng như cấm một số biện pháp cụ thể của chiến tranh và một số vũ khí gây ra những đau khổ không đáng có.

Chiến tranh chính nghĩa là thông lệ vẫn đang phát triển. Các cuộc tranh luận trong giai đoạn hiện nay chủ yếu xoay quanh câu hỏi những công nghệ giết người mới hơn - vũ khí hạt nhân, mìn, bom chùm, vũ khí nhiệt áp và đặc biệt là máy bay không người lái tấn công - ảnh hưởng như thế nào tới đánh giá của chúng ta về hành vi đạo đức và luân lí trong chiến tranh. Quan tâm chính của các lí thuyết gia về chiến tranh chính nghĩa là sự kiện một số tiến bộ công nghệ làm cho khái niệm miễn trừ của người không tham gia chiến đấu, tức là bảo vệ tất cả thường dân, những người không cầm vũ khí và tù binh chiến tranh, và những đối tượng khác, trở thành rất khó khăn. Việc sử dụng vũ khí hạt nhân được xem là vấn đề đáng quan tâm khi nói tới chiến tranh chính nghĩa vì hai lý do. Thứ nhất, như đã nhận xét bên trên, khác với hầu hết các loại vũ khí thông thường, không thể hạn chế tác động phá hủy của vũ khí hạt nhân trong thời gian và không gian. Mặc dù 110.000 người Nhật đã bị giết chỉ trong vài giờ sau vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, chính phủ Nhật Bản ước tính tổng số người thiệt mạng trực tiếp do vụ đánh bom, tính đến hôm nay, là hơn 250.000. Thứ hai, tiềm năng hủy diệt của vũ khí nhiệt hạch hiện nay đơn giản là vô tiền khoáng hậu. Không ai có thể nói chắc chắn việc tấn công và đáp trả bằng loại vũ khí này, dù đã được kiềm chế, sẽ có ảnh hưởng như thế nào đối với hệ sinh thái toàn cầu. Một cuộc tấn công và đáp trả tổng lực, trong đó hàng trăm vũ khí như thế được kích hoạt một cách có chủ ý, có thể tiêu diệt hoàn toàn đời sống trên trái đất, có thể phá hủy bầu khí quyển, hoặc đẩy trái đất vào “mùa đông hạt nhân” kéo dài. Như vậy, sự tương xứng giữa phương tiện và mục đích, trụ cột thứ hai của lí thuyết về chiến tranh chính nghĩa, bị vi phạm.

Các loại vũ khí khác cùng “bản chất sát thương không phân biệt” cũng bị lí thuyết về chiến tranh không chính nghĩa phê phán quyết liệt. Hai loại được chú ý đặc biệt, là mìn sát thương và bom chùm. Mặc dù ban đầu mìn bị coi là vũ khí hợp pháp, Chiến dịch quốc tế chống mìn sát thương (International Campaign to Ban Landmines - ICBL) đã thành công trong việc làm thay đổi nhận thức về những loại vũ khí này bằng cách nhấn mạnh – như với các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác - về khả năng gây thương vong, không hề phân biệt đối tượng. Liên minh chống bom chùm (Cluster Munitions Coalition) - liên minh của các tổ chức phi chính phủ hiện diện ở hơn 100 quốc gia - cũng áp dụng cách tiếp cận và phương pháp hoạt động vừa nói. Năm 2008, Công ước về Bom chùm (Convention on Cluster Munitions) đã được kí kết. Công ước này cấm sử dụng các loại vũ khí có khả năng cao trong việc giết và làm bị thương những người không chiến đấu và cung cấp những biện pháp hỗ trợ cho việc giúp đỡ nạn nhân và xử lý vũ khí còn sót lại.

Các chiến dịch chống sử dụng mìn sát thương và bom chùm phản ánh áp lực ngày càng tăng nhằm hạn chế hoặc loại bỏ việc sử dụng các loại vũ khí và biện pháp tiến hành chiến tranh khác nhau cho phù hợp với các quy tắc của chiến tranh chính nghĩa. Một cuộc tranh luận khác, diễn ra trong thời gian gần đây, xung quanh đạo đức và luân lí trong chiến tranh diễn ra xung quanh các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái. Ban đầu, loại máy bay này được sử dụng để theo dõi hình ảnh và tiếng động trên chiến trường mà không gây rủi ro cho phi công và không sợ bị mất các máy bay đắt tiền. Nhưng từ năm 2001, việc sử dụng máy bay không người lái đã gia tăng nhanh chóng. Nhiều máy bay không người lái trong kho của Mỹ được gắn tên lửa mà những người điều khiển cách xa hàng ngàn dặm vẫn có thể phóng và điều khiển cho bay tới mục tiêu. Từ năm 2004 đến 2015, chỉ riêng ở Pakistan đã có khoảng từ 2.476 đến 3.989 người bị giết và từ 1.158 tới 1.738 người bị thương trong các cuộc không kích bằng máy bay không người lái do CIA tiến hành. Trong số đó, khoảng từ 423 đến 965 người không phải là chiến binh, trong đó có từ 172 đến 207 trẻ em. Ở Yemen và Somalia số người chết do các vụ tấn công bằng máy bay loại này cũng gia tăng.

Có hai câu hỏi chính liên quan đến việc sử dụng máy bay không người lái trong một cuộc chiến tranh chính nghĩa. Thứ nhất, có những biện pháp nào để đảm bảo chắc chắn rằng những kẻ bị coi là mục tiêu của các cuộc tấn công bằng máy bay loại này thực sự phạm tội khủng bố hoặc gây thiệt hại cho nhân viên đồng minh? Hầu hết những người bị coi là mục tiêu đều không mặc quân phục, họ cũng không phải nhân viên chính thức của nhà nước nào. Qui trình nhận dạng mục tiêu của các cơ quan tình báo Mỹ cũng cần được công bố. Thứ hai, và có liên quan là, có thể biện hộ được cho những tác hsố ại do các cuộc tấn công bằng tên lửa không người lái gây ra hay không? Ví dụ, trong các con thống kê về Pakistan bên trên, từ 17% đến 24% người bị giết trong các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái là những người không phải chiến binh.

January 16, 2021

Thuật ngữ chính trị (115)

 


266. Judicial Activism/Judicial Restraint – Tính tích cực của thẩm phán/ Kiềm chế của thẩm phán.

Tính tích cực của thẩm phán là triết lý tư pháp nói rằng các tòa án có thể và nên vượt ra ngoài các bộ luật hiện hành để xem xét những tác động xã hội rộng hơn của những quyết định do mình đưa ra. Thuật ngữ này thường được dung theo nghĩa xấu, ngụ ý rằng các thẩm phán đưa ra phán quyết dựa trên quan điểm chính trị của riêng mình, chứ không dựa vào án lệ.

Kiềm chế của thẩm là lý thuyết khuyến khích các thẩm phán giới hạn việc thực thi quyền lực của chính mình. Lý thuyết này khẳng định rằng các thẩm phán nên cân nhắc khi vượt ra ngoài các bộ luật trừ khi chúng rõ ràng là vi hiến, mặc dù cái gì được coi là vi hiến rõ ràng còn là vấn đề tranh cãi. Kềm chế tư pháp đôi khi được coi là đối lập với hoạt động tư pháp.

267. Judicial Review – Tái thẩm tư pháp.

Tái thẩm tư pháp là quá trình, trong đó các quyết định của hành pháp hoặc lập pháp phải được cơ quan tư pháp xem xét lại. Tòa án có thẩm quyền tái thẩm tư pháp có thể làm mất hiệu lực các đạo luật, quyết định của chính phủ nếu không thấy tương thích với quyền lực cao hơn: Quyết định hành pháp có thể bị vô hiệu hóa vì trái pháp luật, đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành có thể bị vô hiệu hóa do không phù hợp với hiến pháp. Tái kiểm tư pháp là một trong những biện pháp đối trọng và cân bằng trong cơ chế tam quyền phân lập: Cơ quan tư pháp giám sát các nhánh lập pháp và hành pháp khi các nhánh này hành động vượt quá thẩm quyền của mình. Các nước khác nhau có thể có thủ tục và phạm vi tái thẩm tư pháp khác nhau. Nhiều nước, trong đó có Australia, Pakistan, Nhật Bản, Ấn Độ, Đức, Italy và Hoa Kì áp dụng cơ chế tái thẩm tư pháp.

268. Judiciary - Cơ quan tư pháp. Theo luật học, cơ quan tư pháp hay hệ thống tư pháp là hệ thống tòa án nhân danh quyền tối cao hoặc nhà nước để thực thi công lý, một cơ chế để giải quyết các tranh chấp. Thuật ngữ này cũng được dùng để đề cập đến cả quan tòa ở các cấp, những người thiết lập nền móng cho một bộ máy tư pháp và cả những người trợ giúp cho hệ thống này hoạt động.

Những vấn đề liên quan đến cơ quan tư pháp thường được đem ra thảo luận:

1.      Sự độc lập của tư pháp. Người ta thường nghĩ rằng muốn có chế độ pháp quyền thì quan trọng là các quan tòa không dễ dàng bị thải hồi. Điều này thường được quy định trong hiến pháp của từng nước.

2.      Tái thẩm tư pháp nhánh lập pháp. Các bản hiến pháp thành văn cho các tòa án hay toàn bảo hiến quyền tái thẩm các bộ luật xem chúng có hợp hiến hay không.

3.      Tái thẩm tư pháp các quy định của nhánh hành pháp.

January 14, 2021

Thuật ngữ chính trị (114)

 


263. Joint Committee - Ủy ban hổn hợp. Trong các hệ thống lưỡng viện, ủy ban hỗn hợp bao gồm thành viên của cả hai viện, có thể được triệu tập nhằm phối hợp hành động và tránh trùng lắp hoặc thảo luận những vấn đề hai bên cùng quan tâm.

Ủy ban hỗn hợp của Quốc hội Hoa Kì có vai trò lập pháp quan trọng. Hai viện Quốc hội thường thông qua những phiên bản khác nhau của cùng một dự luật; trong trường hợp này, ủy ban hỗn hợp, mỗi viện có 3 thành viên, thường được triệu tập. Ủy ban hỗn hợp tìm thỏa hiệp giữa các phiên bản khác nhau của cùng một dự luật, tức là phải soạn thảo lại một cách cơ bản. Ủy ban hỗn hợp còn được triệu tập để nghiên cứu hoặc thảo luận những vấn đề mà hai viện cùng quan tâm. Có một số ủy ban hỗn hợp thường trực.

264. Jubilee 2000 là phong trào quốc tế ở hơn 40 quốc gia, kêu gọi hủy bỏ các khoản nợ của thế giới thứ ba vào năm 2000. Phong trào này trùng với Đại Thánh Lễ, kỷ niệm năm 2000 của Kitô giáo. Chiến dịch được coi là rất thành công. Theo kế hoạch, Liên minh Jubilee 2000 giải thể vào cuối thiên niên kỷ.

265. Judaism - Do Thái giáo. Do Thái giáo là tôn giáo là của dân tộc Do Thái với 5 đặc điểm chính như sau: 1. Độc thần; 2. Tin vào giao ước với Chúa Trời biến họ thành “dân tộc được Chúa chọn”; 3. Bản sắc dân tộc và lãnh thổ (vùng đất hứa); 4. Luật lệ và thực hành đặc biệt; 5. Tin vào Chúa cứu thế.

Do Thái giáo là tôn giáo của một dân tộc bao gồm truyền thống tôn giáo, văn hóa và luật pháp và nền văn minh chung của người Do Thái. Do Thái giáo được coi là tôn giáo của người Do Thái, được thể hiện trong giao ước mà Đức Chúa Trời thiết lập với Con cái Israel. Do Thái giáo bao gồm nhiều Kinh sách, cách hành đạo, quan điểm thần học, chức vụ và tổ chức cộng đồng tôn giáo. Kinh Torah là một phần của Kinh văn được gọi là Tanakh hoặc Kinh thánh của người Do Thái, và truyền khẩu sau này được thể hiện trong các kinh văn như Midrash và Talmud. Do Thái giáo là tôn giáo lớn thứ mười trên thế giới, với khoảng 14,5 đến 17,4 triệu tín đồ.

Đạo Do Thái Giáo có xuất xứ từ Trung Đông, trong Thời đại đồ Đồng và được coi là một trong những tôn giáo độc thần lâu đời nhất thế giới. Do Thái giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất còn được thực hành cho đến ngày nay. Kinh thánh và rất nhiều truyền thống của Do Thái giáo có ảnh hưởng rất lớn trong các tôn giáo truyền thống Abraham nói chung như Kitô giáo, Hồi giáo, và Bahá'í giáo. Theo người Do Thái, tôn giáo này khởi nguồn bằng giao ước giữa Thiên Chúa và ông Abraham (khoảng năm 2.000 trước Công nguyên), là tổ phụ và quốc tổ của nhà nước Do Thái. Qua nhiều thời đại, Do Thái giáo gắn liền với rất nhiều luân lý tôn giáo, mà quan trọng nhất là đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất là đấng toàn năng, rất nhân từ, thông biết mọi sự, Người đã tạo dựng vũ trụ và tiếp tục thống trị nó. Theo tục truyền Do Thái, Thiên Chúa thiết lập giao ước với con cái Israel và hậu duệ của họ, cho họ biết lề luật và giới răn của Thiên Chúa thông qua ông Moses trên Núi Sinai. Do Thái giáo trân trọng việc học hỏi Kinh Thánh và tuân giữ các điều răn.

Vì đại đa số người theo Do Thái giáo là người Do Thái nên tín đồ tôn giáo này cũng còn được gọi là người Do Thái, và gọi như thế là nói đến nhóm tôn giáo mang tính chất dân tộc, vì trong Kinh thánh đã xác định họ là một “dân riêng”, một quốc gia, chứ không chỉ những người theo Đạo này. Năm 2007, dân số Do Thái vào khoảng 13,2 triệu người, trong đó có 41% sinh sống ở Israel. Năm 2015, tổng số người Do Thái trên toàn cầu vào khoảng 14,3 triệu người, tức là  0,2% tổng dân số nhân loại. Khoảng 43% người Do thái sống ở quốc gia Israel và 43% người Do Thái sống ở nước Mỹ và Canada, đa số những người Do Thái còn lại đang sinh sống ở châu Âu, và những nhóm người Do Thái dân tộc thiểu số khác sống ở vùng Nam Mỹ, châu Á, châu Phi, và châu Úc.

Trong Do Thái giáo hiện đại, giáo quyền không được trao cho một người hay một cơ quan nào, mà nằm trong Kinh thánh, giáo luật, và các thầy giảng (Rabbi) là những người diễn dịch Kinh Thánh thành giáo luật.

January 12, 2021

Thuật ngữ chính trị (113)

 


259. Jacobinism – Chủ nghĩa Jacobin. Ban đầu, đây là tên được người ta gán cho tư tưởng của các thành viên Câu lạc bộ Jacobin; mà chính Câu lạc bộ này lại là tên của dòng tu có những cơ sở bị tịch thu trong thời kì Cách mạng Pháp. Câu lạc bộ này được thành lập năm 1789, dưới quyền lãnh đạo của Robespierre đã trở nên quá cực đoan. Bị đóng cửa sau khi mất quyền lực, năm 1794, rồi được tái kích hoạt và bị đóng cửa vĩnh viễn năm 1789. Họ ủng hộ việc tập trung quyền lực, dù người nắm quyền là bất cứ ai và nước cộng hòa là bất khả phân. Từ đó trở đi, Jacobin vẫn được gán cho các chính trị gia và chính đảng ủng hộ chính phủ tập quyền. Mặc dù trong thời kì Cách mạng Pháp, Jacobinism là quan điểm tả khuynh, sau này lại được các đảng hữu khuynh, thậm chí cực hữu, cũng như Đảng Cộng sản Pháp áp dụng.   

260. Jacobitism – Phong trào ủng hộ vua James II. Jacobites là những người ủng hộ James II (tên Latin: Jacobus) và khôi phục ngai vàng cho dòng họ Stuart đã bị cuộc Cách mạng Vinh Quang (1686-1689) phế truất.

261. J-Curve – Đường cong J. Trong chính trị học, đường cong J là một phần của mô hình do James Chowning Davies đưa ra nhằm giải thích các cuộc cách mạng chính trị. Davies khẳng định rằng các cuộc cách mạng là phản ứng của con người trước sự đảo chiều đột ngột sau một thời gian dài tăng trưởng kinh tế, được gọi là sự thiếu hụt tương đối (Relative deprivation). Lý thuyết thiếu hụt tương đối tuyên bố rằng, những kỳ vọng không được đáp ứng có thể là nguyên nhân gây ra các cuộc nổi dậy. Những kỳ vọng không được đáp ứng có thể bắt nguồn từ một số yếu tố, trong đó có bất bình đẳng ngày càng gia tăng, có thể có nghĩa là những người ngày càng nghèo hơn, so với những người giàu, nhận được ít hơn cái mà họ kì vọng, hoặc một giai đoạn phát triển kinh tế bền vững, làm cho mọi người đều kỳ vọng, tiếp theo là một cuộc khủng hoảng. Mô hình này thường được dùng để giải thích tình trạng bất ổn xã hội và chính trị cũng như những nỗ lực của các chính phủ nhằm kiềm chế tình trạng bất ổn.

262. Jim Crow Law - Luật Jim Crow. Luật Jim Crow là các luật lệ và thực hành nhằm chia tách người da trắng và người da đen trong các cơ sở cả công lẫn tư. Những hình thức phân biệt chủng tộc này được áp dụng ở các bang miền Nam Hoa Kì và được thi hành trong các trường học và phương tiện giao thông cũng như nhà ở cho đến khi bị tuyên bố là vi hiến vào năm 1954. Tất cả các luật Jim Crow đều bị bãi bỏ bởi Đạo luật Dân quyền, năm 1964, và Đạo luật Quyền bỏ phiếu, năm 1965.

January 9, 2021

Thuật ngữ chính trị (112)

 


257. Islamic Politics – Chính trị Hồi giáo. Từ cuối thế kỉ XIX, câu thần chú trong đạo Hồi nói rằng tôn giáo và chính trị là không thể tách rời “Islam din wa dawla” (Đạo Hồi là tôn giáo và nhà nước) là quan niệm thịnh hành và được nhiều người ở Trung Đông chia sẻ. Tuy nhiên, quá trình thế tục hóa - tách tôn giáo ra khỏi nhà nước - đã là sự kiện trong đời sống xã hội Trung Đông trong một thời gian khá dài. Điều này thề hiện rõ trong việc chính phủ ngày càng lấn át vai trò của luật Hồi giáo (Shar’a). Trong thời Đế chế Otoman và vương triều Qajar ở Iran luật lệ của nhà nước phần lớn mang tính thế tục. Nhưng người ta lại không tiến hành một cách có ý thức việc thế tục hóa dân cư. Kết quả là, trong khi chính phủ theo đuổi chính sách “biện hộ cho cả những hành động phi đạo đức” (reason of state) thì đạo Hồi vẫn là thành tố quan trọng của văn hóa và bản sắc của quần chúng ở Trung Đông. Việc phương Tây thâm nhập vào thế giới Hồi giáo từ thế kỉ XIX trở đi đã tạo ra xung đột giữa quan điểm của thế tục và tôn giáo về chính trị, vì hệ thống giáo dục và luật pháp đã bị phương Tây hóa. Chủ nghĩa thực dân lại dẫn tới lĩnh vực công mới, các tín đồ Hồi giáo tìm cách tái thiết lập diễn ngôn chính trị bằng cách sử dụng công thức “Islam din wa dawla” nhằm tái chiếm vũ đài, nơi mà từ “din” có nghĩa là nhân dân và kêu gọi bổ sung thêm những biện pháp bảo vệ mang tính hiến định giúp tạo ra tính chính danh cho cộng đồng chính trị. 

Cùng với cuộc Cách mạng Hồi giáo ở Iran, người ta ngày càng quan tâm tới câu hỏi: Chủ nghĩa thế tục có tương thích với đạo Hồi? Giáo lí của đạo Hồi có bao hàm tất cả các các vấn đề, trong có có công việc thường ngày của dân chúng? Có cần buộc mọi người cùng phải chấp nhận luật Hồi giáo? Tín đồ Hồi giáo có được giành cho một số lĩnh vực mà họ có quyền tự quyết hay không? Mặt khác, những tín đồ phủ nhận chủ nghĩa thế tục lại tranh cãi với nhau về nền chính  trị đa nguyên và quyền con người. 

258. Isolationism – Chủ nghĩa biệt lập. Chủ nghĩa biệt lập là chiến lược trong chính sách đối ngoại, trong đó một nước nào đó tuyên bố rằng họ hoàn toàn không quan tâm đến các vấn đề quốc tế, cũng như các vấn đề của các nước khác, miễn là chúng không ảnh hưởng đến bất kì lợi ích quan trọng nào của chính mình; điều này ngụ ý địa vị trung lập trong hầu hết các xung đột có thể xảy ra. Ví dụ nổi tiếng nhất là chính sách đối ngoại của Hoa Kì trong phần lớn thế kỉ XIX và trong giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến trong thế kỷ XX. Trong những giai đoạn đó Hoa Kì đã có thái độ trung lập với hấu hết các nơi trên thế giới, trừ Tây Bán Cầu, đây là hệ quả của Học thuyết Monroe, được công bố năm 1823. 

Trên thực tế, Hoa Kì chỉ theo đuổi chủ nghĩa biệt lập nếu nó có lợi cho mình, và đã tham gia sâu vào các vấn đề của châu Á, cũng như tìm ra định nghĩa về “Tây Bán Cầu” đủ rộng để bao gồm cả Hawaii và Philippines. Chủ nghĩa biệt lập có ảnh hưởng lớn nhất ở Hoa Kì trong giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến, nước này không tham gia Hội Quốc Liên và đứng ngoài Thế chiến II cho đến khi bị Nhật Bản tấn công, cuối năm 1941. Dù có thể có lợi đối với Hoa Kì nhưng chính sách này là thảm họa đối với châu Âu, vì các nhà độc tài ở đó tin tưởng rằng Mĩ sẽ giữ vị trí trung lập. Mặc dù chủ nghĩa biệt lập vẫn còn được nhiều người Mĩ ưa chuộng, Học thuyết Truman, công bố năm 1947, với cam kết nói rằng Hoa Kì sẵn sàng giúp đỡ tất cả các dân tộc đấu tranh cho tự do, chống lại “những nhóm vũ trang hoặc áp lực từ bên ngoài”, thể hiện sự cáo chung của chủ nghĩa biệt lập, tuy không tương thích với trách nhiệm được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ). Chắc chắn là khuynh hướng biệt lập, mặc dù vẫn hiện diện, đã không ngăn cản được các vị tổng thống Hoa Kì can thiệp sâu vào các vấn đề của châu Âu. 

Tất nhiên, trên thực tế, các nước nhỏ thường theo chủ nghĩa biệt lập, và nó chỉ trở thành chiến lược có chủ ý trong khi có lựa chọn. Khi nước Anh còn là cường quốc đầy sức mạnh, đôi khi thành tố chủ nghĩa biệt lập được thể hiện dưới danh xưng “người Anh nhỏ bé”, tức là muốn từ bỏ trách nhiệm của đế chế và tập trung nỗ lực vào việc bảo vệ lợi ích trực tiếp của mình. Ngày nay, tình trạng phức tạp của nền chính trị quốc tế và sự đan xen giữa các liên minh, đặc biệt trong tình hình nhiều nước có vũ khí hạt nhân, chủ nghĩa biệt hầu như không còn khả thi nữa. Hơn nữa, với vai trò ngày càng tăng, Liên Hiệp Quốc đã tạo ra khả năng thực sự về an ninh tập thể, khuyến khích các nước tham gia đầy đủ vào nền chính trị thế giới, như đã thấy trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, sự tham gia tích cực của Liên minh Châu Âu trong các vấn đề Đông Âu và trong chính sách đối ngoại quốc tế.

January 7, 2021

Thuật ngữ chính trị (111)

 


255. Islam - Hồi giáo. Hồi giáo là tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, độc thần, dạy rằng chỉ có một Thiên Chúa (tiếng Ả Rập: Allah), và Muhammad là sứ giả của Thượng đế. Đây là tôn giáo lớn thứ hai thế giới với hơn 1,8 tỷ tín hữu, tương đương 24% dân số thế giới, và họ thường được gọi là người Hồi giáo. Hồi giáo chiếm phần lớn dân số ở 50 quốc gia. Hồi giáo dạy rằng Thiên Chúa là lòng thương xót, toàn năng và độc nhất, và Chúa đã hướng dẫn loài người qua các tiên tri, thánh thư được tiết lộ và các dấu hiệu tự nhiên. Kinh sách chính của Hồi giáo là Kinh Qur'an, được người Hồi giáo xem là nguyên văn lời của Thiên Chúa, và các giáo lý và ví dụ quy phạm (được gọi là sunnah, bao gồm các ghi chép được gọi là hadith) của Muhammad (570 – mất ngày 8 tháng 6 năm 632).

Tín đồ Hồi tin rằng Hồi giáo là phiên bản hoàn chỉnh và phổ quát của một đức tin nguyên thủy đã được tiết lộ nhiều lần, thông qua các tiên tri, trong đó có Adam, Abraham, Moses và Jesus. Người Hồi giáo coi Kinh Qur'an trong tiếng Ả Rập là mặc khải không thay đổi và cuối cùng của Thiên Chúa. Tương tự như các tôn giáo độc thần khác, Hồi giáo cũng rao giảng về ngày phán xử cuối cùng, người tốt sẽ được lên thiên đường, còn người xấu sẽ bị trừng phạt ở địa ngục. Các khái niệm và thực hành tôn giáo bao gồm Năm trụ cột Hồi giáo (tuyên xưng, cầu nguyện, bố thí, nhịn ăn và hành hương) và tuân theo luật Hồi giáo (sharia) là những hành vi tôn giáo bắt buộc, ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống và xã hội, từ ngân hàng và phúc lợi cho phụ nữ và môi trường. Các thành phố Mecca, Medina và Jerusalem là nơi có ba địa điểm linh thiêng nhất trong đạo Hồi.

Bên cạnh những câu chuyện mang tính thần học, Hồi giáo được lịch sử cho là có nguồn gốc từ đầu thế kỷ VII, sau CN tại Mecca, đến thế kỷ VIII các Caliphate dòng họ Omeyyad mở rộng từ Iberia ở phía tây đến sông Indus ở phía đông. Thời đại hoàng kim của Hồi giáo là thời kỳ lịch sử kéo dài từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII, trong giai đoạn trị vì của các Caliphate dòng họ Abbasid, khi phần lớn thế giới Hồi giáo trải qua thời kỳ hưng thịnh về khoa học, kinh tế và văn hóa. Quá trình bành trướng của thế giới Hồi giáo liên quan đến nhiều Caliphate và nhà nước khác nhau, như Đế chế Ottoman, buôn bán và việc chuyển đổi sang Hồi giáo bằng các hoạt động truyền giáo. 

Hầu hết người Hồi giáo là thuộc một trong hai giáo phái; Sunni (75-90%) hoặc Shia (10-20%). Khoảng 13% người Hồi giáo sống ở Indonesia, quốc gia có đông người Hồi giáo nhất thế giới; 31% người Hồi giáo sống ở Nam Á, đây là nơi có đông người Hồi giáo nhất thế giới; 20% người Hồi giáo sống ở Trung Đông, Bắc Phi, và 15% sống ở phía nam sa mạc Sahara. Người Hồi giáo còn sống ở châu Mĩ, Kavkaz, Trung Á, Trung Quốc, Châu Âu, Đông Nam Á lục địa, Philippines và Nga. Hồi giáo là tôn giáo lớn phát triển nhanh nhất trên thế giới.  

256. Islamic Fundamentalism – Chính thống Hồi giáo. Vì thuật ngữ chủ nghĩa chính thống (Fundamentalism) có nguồn gốc từ Kitô giáo, và vì nó hàm ý tiêu cực, và, vì trong bối cảnh Hồi giáo thuật ngữ này nhấn mạnh gốc gác tôn giáo của hiện tượng trong khi bỏ qua những bất bình xã hội và chủ nghĩa dân tộc vốn là cơ sở của nó, nhiều học giả thích gọi những người theo chủ nghĩa chính thống Hồi giáo là “người Hồi giáo” và nói “các phong trào Hồi giáo” chứ không nói chủ nghĩa chính thống Hồi giáo. (Các thành viên của các phong trào này tự gọi mình đơn giản là tín đồ Hồi giáo). Tuy nhiên, từ cuôi thế kỉ XX, thuật ngữ chủ nghĩa chính thống Hồi giáo đã xuất hiện trong cả sách báo dành cho đại chúng và lẫn sách báo giành cho giới hàn lâm. 

Chủ đề chủ nghĩa chính thống Hồi giáo được phương Tây quan tâm sát sao kể từ khi diễn ra cuộc Cách mạng Iran, 1978–1979 nằm hạ bệ nhà cầm quyền ở Iran, Mohammad Reza Shah Pahlavi (1919–1980), và lập ra nước cộng hòa Hồi giáo - và đặc biệt là sau cuộc tấn công nước Mĩ, ngày 11 tháng 9 năm 2001, do al-Qaeda, một mạng lưới khủng bố Hồi giáo quốc tế - tiến hành. Bản chất của những sự kiện này có thể làm cho nhiều người phương Tây tin một cách sai lầm rằng Hồi giáo và chủ nghĩa chính thống Hồi giáo liên hệ chặt chẽ với nhau, nếu không muốn nói là giống hệt nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải tất cả các tín đồ Hồi giáo đều tin rằng Qurʾān là lời của Chúa, theo nghĩa đen và không thể sai lầm, cũng như không phải tất cả đều tin rằng đạo Hồi yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt tất cả các giới luật tôn giáo và đạo đức trong Kinh Qurʾān. Quan trọng hơn, khác với những người theo chủ nghĩa chính thống Hồi giáo chân chính, hầu hết các tin đồ Hồi giáo không cam kết về mặt ý thức hệ với tư tưởng về nhà nước và xã hội được xây dựng trên luật lệ Hồi giáo. 

Trên thế giới có rất nhiều phong trào Hồi giáo khác nhau. Một số tín đồ Hồi giáo sử dụng biện pháp khủng bố, còn một số thì không. Một số chương trình kinh tế và chính trị cánh tả vay mượn các tư tưởng của chủ nghĩa Marx và những biến thể khác của chủ nghĩa xã hội, trong khi những chương trình khác có tính bảo thủ hơn. Tuy nhiên, hầu hết tín đồ Hồi nhấn mạnh rằng cần phải tuân thủ quy tắc ứng xử dựa trên Kinh thánh. Họ cũng nhấn mạnh rằng tôn giáo bao gồm tất cả các khía cạnh của đời sống và do đó, tôn giáo và chính trị là không thể tách rời. Tương tự như hầu hết những người theo chủ nghĩa chính thống, họ giữ thế giới quan Mani giáo (nhị nguyên): Tin rằng mình đang tham gia vào cuộc thánh chiến, hay Jihad nhằm chống lại kẻ thù xấu xa, những người được họ miêu tả là tay sai của người Do Thái và Hội Tam Điểm. 

Các phong trào Hồi giáo có vai trò quan trọng về mặt chính trị ở hầu hết các quốc gia Hồi giáo chủ yếu vì họ thể hiện rõ những bất bình chính trị và xã hội rõ ràng hơn các chính đảng thế tục - một số đảng cánh tả đã mất uy tín sau khi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ -giai đoạn 1990 - 1991. Mặc dù chính phủ Saudi Arabia và các quốc gia sản xuất dầu mỏ khác trong khu vực Vịnh Ba Tư tuyên bố là tuân thủ nghiêm ngặt luật Hồi giáo, nhưng họ vẫn bị các phong trào Hồi giáo ở trong khu vực phản đối vì những chính sách kinh tế và chính trị thân phương Tây, cũng như của cải của đất nước tập trung quá mức trong tay các gia đình nắm quyền, và lối sống mà theo các tín đồ Hồi giáo là vô đạo đức của những gia đình này. 

Ở một mức độ nào đó, thái độ thù địch của tín đồ Hồi giáo đối với phương Tây là biểu hiện của việc bác bỏ tính hiện đại mà người ta gán cho tất cả các phong trào chính thống, vì phần lớn những hiện tượng được coi là hiện đại đều bắt nguồn từ phương Tây. (Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tín đồ Hồi không từ chối công nghệ hiện đại). Nhưng, sẽ là sai lầm nếu quy giản tất cả thái độ thù địch như thế thành bác bỏ mang tính phản động tất cả những cái mới lạ; cũng sẽ là sai lầm nếu quy giản toàn bộ cho thái độ là bài ngoại, mặc dù bài ngoại chắc chắn là có ảnh hưởng. Yếu tố quan trọng khác là sự phẫn nộ của những người Hồi giáo trước sự thống trị về chính trị và kinh tế của phương Tây ở vùng Trung Đông. Thái độ này được thể hiện rõ ràng trong các bài viết của Osama bin Laden, người sáng lập và lãnh đạo tổ chức al-Qaeda. Bin Laden liên tục lên án Hoa Kì vì đã tạo điều kiện cho việc truất hữu đất đai của người Palestine, vì đã dàn xếp các biện pháp trừng phạt quốc tế đối với Iraq, làm cho hàng trăm nghìn người Iraq chết trong những năm 1990, và vì đã tiếp tục “chiếm đóng” Saudi Arabia trong giai đoạn Chiến tranh vùng Vịnh (1990–1991). Bin Laden cũng lên án chế độ Suadi Arabia và hầu hết các chính phủ khác ở Trung Đông vì họ phục vụ quyền lợi của Hoa Kì chứ không phục vụ quyền lợi của thế giới Hồi giáo. Do đó, chủ nghĩa chính thống trong thế giới quan của bin Laden đan xen với lòng thù hận sự thống trị của phương Tây. 

Phong trào Hamas của người Palestine, thành lập vào năm 1987, là phong trào được phương Tây chú ý hơn cả. Trong tiếng Arab, Hamas có nghĩa là “nhiệt huyết”, là từ viết tắt của tên Ḥarakat al-Muqāwamah al-Islāmiyyah (“Phong trào Kháng chiến Hồi giáo”). Hamas được thành lập chủ yếu là để chống lại điều mà hầu hết người Palestine coi là Israel chiếm đất của mình. Như vậy, phong trào này rõ ràng là có tinh thần dân tộc chủa nghĩa, mặc dù phong trào cũng cam kết thành lập nhà nước Hồi giáo nghiêm ngặt. Hamas phản đối ý tưởng thành lập nhà nước Palestine ở Bờ Tây và dải Gaza, đồng thời tiến hành thánh chiến nhằm trục xuất người Israel ra khỏi toàn bộ vùng đất Palestine - từ sông Jordan đến Địa Trung Hải và từ Lebanon đến Ai Cập. Hamas tuyên bố rằng các cuộc tấn công khủng bố nhằm vào người Israel là hành động chính đáng nhằm chống lại cường quốc xâm lược. Tương tự như một số phong trào Hồi giáo khác ở Trung Đông, Hamas cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có học hành, chữa bệnh và lương thực cho người thất nghiệp, những dịch vụ mà chính quyền địa phương không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ. Những hoạt động từ thiện này là có sức hấp dẫn rất lớn đối với người dân Palestine.