Ngày 10 tháng 12 năm 2014

Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (Đã đăng trong tác phẩm: Chế độ dân chủ - Nhà nước và xã hội)



Lời nói đầu 


Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của của tất cả mọi người trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lí và hòa bình trên toàn thế giới.

Xét rằng: Việc xem thường và chà đạp quyền con người đã từng dẫn đến các hành động dã man, làm xúc động lương tâm nhân loại, việc xây dựng một thế giới trong đó mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi và nghèo đói phải được tuyên xưng như là ước vọng cao cả nhất của con người.

Xét rằng: Quyền con người cần được bảo vệ bằng pháp luật để đảm bảo rằng con người không bị bắt buộc phải sử dụng biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.

Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc cần được khuyến khích và mở rộng.

Xét rằng: Các dân tộc tham gia Liên Hiệp Quốc đã tái khẳng định trong Hiến chương niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và phẩm giá của mỗi cá nhân, vào quyền bình đẳng nam nữ và đã quyết định thúc đẩy tiến bộ xã hội cũng như cải thiện điều kiện sống trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.

Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc nhằm góp phần cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản khác.

Xét rằng: Một nhận thức chung về đặc điểm của các quyền và quyền tự do có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực thi đầy đủ cam kết nêu trên.

Nay, ĐẠI HỘI ĐỒNG [Liên Hiệp Quốc] long trọng công bố TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ VỀ NHÂN QUYỀN như là tiêu chuẩn chung phải hướng tới cho tất cả mọi người và mọi quốc gia, để mỗi người, mỗi tổ chức xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, bằng con đường giảng dạy và học tập góp phần thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và quyền tự do và bảo đảm, bằng những biện pháp tiến bộ trên bình diện quốc gia cũng như quốc tế, sự thừa nhận và thực thi một cách rộng khắp và hữu hiệu các quyền đó không chỉ đối với các dân tộc của các nước hội viên Liên Hiệp Quốc mà còn đối với các dân tộc thuộc quyền ủy trị của họ.

Ngày 02 tháng 12 năm 2014

Ludwig von Mises (1881-1973) - CHỦ NGHĨA TỰ DO TRUYỀN THỐNG (Trích đoạn)


Tự do

Ý tưởng tự do đã ăn sâu bén rễ trong tất cả chúng ta đến nỗi suốt một thời gian dài không ai dám nghi ngờ. Người ta đã quen nói tới tự do với lòng sùng kính vô bờ bến, chỉ có Lenin mới dám gọi đó là “thành kiến tư sản”. Đấy chính là thành quả của chủ nghĩa tự do, mặc dù thực tế này hiện đã bị nhiều người quên. Chính từ chủ nghĩa tự do cũng có xuất xứ từ từ tự do; còn khởi kì thuỷ, đảng chống lại những người tự do [cả hai tên gọi đều xuất hiện trong cuộc đấu tranh lập hiến trong những thập kỉ đầu tiên của thế kỉ XIX ở Tây Ban Nha ] lại được gọi là “nô lệ” ("servile").

Ngày 28 tháng 11 năm 2014

A. N. Mesheriakov - Là người Nhật


Lời bạt


Sau khi hoàng đế Minh Trị băng hà, Nhật Bản càng ngày càng bị lôi cuốn vào những dự án quốc tế do các nước “tiến bộ” và “văn minh” tham gia thực hiện. Nhật tham gia vào các cuộc triển lãm quốc tế, Chiến tranh thề giới thứ nhất, tiến hành công nghiệp hoá. Nhật cũng gặp phải những khó khăn như tất cả các nước bước chân lên con đường như thế. Quá trình đô thị hoá và hiện đại hoá dẫn tới việc phá huỷ môi trường sống quen thuộc, tức là môi trường mà cội nguồn của nó là sự phân tầng dựa trên nguồn gốc xuất thân, trú quán, nghề nghiệp, giới tính và tuổi tác. Kết quả là sự đa dạng hoá ngày càng gia tăng, nhưng điều đó lại được coi là gia tăng bất ổn và hỗn loạn, đánh mất bản sắc và sự tự tin. Chủ nghĩa cá nhân ngày càng phát triển đã làm băng hoại giới trẻ, quyền và ước muốn lấn át trách nhiệm, gia đình gia trưởng tan rã thành các gia đình hạt nhân. Các tiểu văn hoá mới thế chỗ cho các những tiểu văn hoá cũ. Những kẻ truyền bá các tiểu văn hoá mới này có những thói quen khác, đọc những cuốn sách khác và ăn mặc khác trước. Người Nhật sợ bị lạc trong cái mớ hỗn độn này, người ta sợ phải ở lại một mình với sự hỗn loạn đó và với chính mình. Phương Tây được coi là nguồn gốc của sự hỗn loạn, tất cả những ảnh hưởng bệnh hoạn: chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cá nhân ích kỉ, chủ nghĩa vô chính phủ và chủ nghĩa xã hội, đều xuất phát từ đó. Nhật Bản đã tham gia khá sâu vào quá trình phân công lao động quốc tế, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cũng gây cho nước này nhiều khó khăn và làm cho tình cảm và hành động ngày càng trở thành quá khích hơn.

Ngày 26 tháng 11 năm 2014

Friedrich A. von Hayek - Đường về nô lệ (Bản rút gọn, kì cuối)


 

Tại sao những kẻ xấu xa nhất lại leo cao nhất? 

Không nghi ngờ gì rằng hệ thống “phát xít” ở Anh hay ở Mĩ sẽ khác rất xa mô hình của Ý hay Đức; không nghi ngờ gì rằng nếu việc chuyển hoá được thực hiện một cách phi bạo lực thì chúng ta có thể hi vọng có được những nhà lãnh đạo tử tế hơn. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là hệ thống phát xít của chúng ta sẽ hoàn toàn khác hay sẽ dễ chịu hơn nguyên mẫu của chúng. Có nhiều lí do để tin rằng những đặc điểm xấu xa nhất của các hệ thống toàn trị nói trên là những hiện tượng mà chế độ toàn trị trước sau gì cũng sẽ tạo ra.

Ngày 25 tháng 11 năm 2014

Friedrich A. von Hayek - Đường về nô lệ (Bản rút gọn, kì 1)

Lời người dịch: Tác phẩm Đường về nô lệ (The Road to Serfdom) xuất bản ở Anh vào tháng 3 năm 1944 và sáu tháng sau, tức là ngày 18 tháng 9 năm 1945, thì được ấn hành ở Mĩ. Phiên bản xuất hiện trên tạp chí The Reader’s Digest, được giới thiệu dưới đây, ra đời vào tháng 4 năm 1945 dưới tiêu đề “Một trong những cuốn sách quan trọng nhất trong thế hệ chúng ta” đã góp phần đưa Hayek trở thành nhân vật danh tiếng và công trình của ông trở thành cuốn sách bán chạy nhất ở Mĩ từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1945.



“Người nào từ bỏ tự do thực sự để đổi lấy một ít an toàn tạm thời thì không xứng đáng được tự do, cũng chẳng xứng đáng được an toàn”.

Benjamin Franklin



Tác giả đã sống nửa cuộc đời tại nước Áo quê hương mình và có mối liên hệ gần gũi với hệ tư tưởng Đức, nửa sau cuộc đời ông sống ở Anh và Mĩ. Trong những năm tháng sau này, càng ngày ông càng tin tưởng rằng những lực lượng đã từng góp phần phá huỷ nền tự do ở Đức cũng đang hoạt động ở đây. 

Ngày 24 tháng 11 năm 2014

F. von Hayek - Vì sao những kẻ xấu xa nhất lại leo cao nhất?

Quyền lực dẫn đến tha hóa, quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối
Lord Acton

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét quan niệm làm chỗ dựa cho những người cho rằng chế độ toàn trị là tất yếu; nó là quan niệm làm suy sụp sức kháng cự của nhiều người khác, những người sẽ chiến đấu một mất một còn với nó nếu họ hiểu được bản chất của nó. Quan niệm này cho rằng các đặc điểm kinh tởm nhất của các chế độ toàn trị xảy ra là do sự ngẫu nhiên của lịch sử, ở đâu cũng đều do những người đê tiện và lưu manh thiết lập nên. Và nếu, thí dụ, ở Đức những người như Streicher và Killinger, Ley và Heine, Himler và Heydrich nắm được quyền lực, thì điều đó chỉ chứng tỏ rằng người Đức là một dân tộc xấu xa chứ không phải việc nổi lên của những kẻ như thế là kết quả tất yếu của hệ thống toàn trị. Chả lẽ những người tử tế, những người lo lắng cho lợi ích của cộng đồng, những người sẽ giải quyết những nhiệm vụ vĩ đại lại không thể đứng đầu hệ thống toàn trị được ư?

Ngày 21 tháng 11 năm 2014

A. N. Mesheriakov - Là người Nhật


Lời nói đầu

Cũng như những thế kỉ trước, thế kỉ XX là thế kỉ của những điều không tưởng. Vấn đề là, những điều không tưởng của thế kỉ XX khác hẳn với những điều không tưởng của quá khứ. Khác không chỉ ở tính chất của những ước mơ mà còn ở quy mô của những mưu toan nhằm hiện thực hóa chúng nữa. Sự phát triển của khoa học, kĩ thuật, giao thông và thông tin liên lạc đã dẫn đến việc hiện đại hóa công nghệ quản lí, cho phép huy động vào công cuộc xây dựng tương lai tươi sáng một lượng người lớn chưa từng có, nó tạo điều kiện cho nhà nước thâm nhập vào mọi ngóc ngách của đời sống, khiến số lượng nạn nhân cũng ở mức độ chưa từng có. Đô thị hóa làm cho cơ chế kìm hãm và nền đạo đức cũ sụp đổ, những giá trị và định hướng cũ mất dần ý nghĩa. Dân chúng rất dễ bị lừa mị, nhân dân biến thành đám đông ngay trong chớp mắt.

Ngày 19 tháng 11 năm 2014

Jan Leyunyelm (Thụy Điển) - Putin là tù binh của những huyền thoại của chính mình về Ukraine



Phạm Nguyên Trường dịch

Chuyên gia người Thụy Điển, ông, cựu trưởng phòng nghiên cứu nước Nga (FOI) trực thuộc Viện nghiên cứu quốc phòng của Thụy Điển, bình luận về kết quả Hội nghị thượng đỉnh G20 và việc ra về sớm của Tồng thống Nga Vladimir Putin

Ngày 16 tháng 11 năm 2014

Anatoly Tille – Chế độ phong kiến ở Liên Xô (tiếp theo và hết)

Chương 10. Luật hình sự


Chính sách về hình pháp
  
Lịch sử của “chính quyền Xô viết” là một chuỗi dài, không thể nào kể hết, những tội ác chống lại nhân dân, là một vụ diệt chủng thật sự mà Hitler không thể nào so sánh được. Thực chất nó là một chính quyền tội phạm. Danh sách những tội ác mà nó đã phạm ở nước ngoài cũng dài vô tận (Hungary, Tiệp Khắc, Ba Lan, Afghanistan, các nước vùng Baltic…)

Thu nạp cống vật là bản chất của hệ thống phong kiến được che đậy bởi mẽ ngoài “xã hội chủ nghĩa” này. Vì vậy, từ quan điểm pháp lí, tất cả những “nhà hoạt động Đảng và nhà nước” được đưa vào hệ thống đều là những kẻ ăn hối lộ, những tên tội phạm. Không phải vô tình mà sau những cuộc cách mạng dân chủ ở Đông Âu vào mùa thu năm 1989, người ta được biết rõ những vụ ăn cắp và hối lộ ở ngay những cấp lãnh đạo cao nhất. Gần như ở đâu cũng đòi đưa các nhà lãnh đạo cũ ra tòa.

Ngày 15 tháng 11 năm 2014

Anatoly Tille – Chế độ phong kiến ở Liên Xô (Tiếp theo)


Chương 9. Luật lao động

Tại sao tôi chỉ nói về hai lĩnh vực pháp luật mà cụ thể là luật lao động và luật hình sự? Cách mạng “xã hội chủ nghĩa” Tháng Mười được những người Bolshevik tiến hành nhân danh giai cấp vô sản, nhân danh việc giải phóng họ khỏi ách áp bức và bóc lột của giai cấp tư sản. Hai lĩnh vực này sẽ cho ta thấy một cách rõ ràng nhất giai cấp công nhân đã nhận được NHỮNG GÌ từ cuộc cách mạng đó. Lĩnh vực thứ nhất phản ánh một cách tốt nhất những điều kiện lao động, nghỉ ngơi và ăn ở, lĩnh vực thứ hai phản ánh những biện pháp buộc người lao động chấp nhận những điều kiện phi nhân trong lao động và trong đời sống của họ. Người ta có thể nói về một giai cấp nữa, đấy là tầng lớp nông dân. Nhưng chẳng có gì đáng nói về cái gọi là “luật nông trang”, còn luật lao động được áp dụng cho cả nhân viên nông trường, nhân viên của các cơ sở nông nghiệp khác, cũng như những người làm thuê trong các nông trang. Nó cũng được áp dụng một cách hạn chế đối với các nông trang viên, những người đã trở thành nông nô từ lâu.

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Truy cập

free counters