June 18, 2018

Cuộc Cách Mạng Thông Tin Non Trẻ Của Chúng Ta

Joseph S. Nye

Phạm Nguyên Trường dịch

Giữa thế kỷ XX, người ta lo ngại rằng những tiến bộ trong lĩnh vực máy tính và truyền thông sẽ dẫn đến hình thức kiểm soát tập quyền mà George Orwell mô tả trong tác phẩm 1984. Hiện nay, hàng tỷ người đang hăng hái đưa Anh Cả (nhân vật trong tác phẩm 1984 – ND) vào túi của mình.


Người ta thường nói rằng chúng ta đang trải qua một cuộc cách mạng thông tin. Nhưng cách mạng thông tin có nghĩa là gì và nó sẽ đưa chúng ta tới đâu?

June 3, 2018

Luật an ninh mới đầy nguy hiểm của Việt Nam

Phạm Nguyên Trường dịch

Luật an ninh mạng mới của Việt Nam ít nói về an ninh mà nói nhiều về kiểm soát. Bộ luật mới là cuộc tấn công trực diện vào quyền tự do thể hiện.

May 19, 2018

Chủ nghĩa cộng sản


Richard Pipes

Phạm Nguyên Trường dịch

Richard Edgar Pipes (PolishRyszard Pipes; July 11, 1923 – May 17, 2018) vừa qua đời, đăng lại toàn bộ tác phẩm Chủ nghĩa cộng sản, như nén tâm nhang trước hương hồn ông.

Richard Pipes (1923-2018)

Điều làm người ta phấn chấn nhất trong chế độ Xô Viết là sự sụp đổ của nó.  Nếu nó thành công… thì tôi đã biết rằng mức độ chịu đựng khủng bố và nô lệ của con người là vô giới hạn.

May 17, 2018

Chủ nghĩa cộng sản (11-hết)

Richard Pipes

Phạm Nguyên Trường dịch

VI. Nhìn lại 

Chủ nghĩa Marx là một giấc mộng hão huyền vĩ đại nhất thế kỷ (XX)[1].  

Đã đến lúc trả lời cho câu hỏi được nêu ra ngay trong lời nói đầu: đâu là nguyên nhân thất bại của chủ nghĩa cộng sản – thực thi sai hay nó có những khiếm khuyết thuộc về bản chất? Các bằng chứng lịch sử nghiêng hẳn về vế thứ hai. Chủ nghĩa cộng sản không phải là một hệ tư tưởng tốt, bị người ta đối xử không đúng, mà là một hệ tư tưởng sai ngay từ đầu. 
Từ năm 1917, nghĩa là từ khi những người Bolshevik cướp được chính quyền ở nước Nga, mưu toan xây dựng xã hội theo các nguyên tắc cộng sản đã được lặp đi lặp lại hàng chục lần trên khắp thế giới. Moskva hào phóng giúp đỡ cả về tiền bạc lẫn vũ khí và định hướng. Nhưng rồi tất cả đều thất bại. Cuối cùng, chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ ngay ở nước Nga và hôm nay, nó chỉ còn tồn tại trong mấy nước: Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam và Cuba, nhưng ở đây nó cũng đang trong quá trình phân rã; để giữ chính quyền, cộng sản đã phải nhượng bộ rất nhiều. Kết quả của cuộc thí nghiệm đáng buồn đó cho phép ta giả định rằng các tiền đề hay cương lĩnh cộng sản hoặc cả hai đều có những khiếm khuyết không thể khắc phục được. 
Trước hết hãy xem xét sự tan rã của Liên Xô, nhà nước cộng sản đầu tiên và cũng là động cơ chủ yếu của toàn bộ phong trào cộng sản quốc tế. Các nghiên cứu được công bố sau năm 1991 đã đưa ra hàng loạt nguyên nhân: kinh tế trì trệ, công dân Liên Xô có điều kiện tiếp xúc với các nguồn thông tin nước ngoài, thất bại ở Afghanistan, không đủ sức theo đuổi cuộc chạy đua vũ trang v.v… Chính quyền bất lực trước phong trào bất đồng chính kiến ở trong nước và sau đó, phong trào Đoàn kết ở Ba Lan đã làm cho tinh thần ban lãnh đạo Liên Xô suy sụp. Lời thách thức chủ nghĩa cộng sản do Tổng thống Reagan tung ra đã làm cho ban lãnh đạo Liên Xô, những người vẫn tin rằng sau thất bại ở Việt Nam người Mỹ sẽ không còn hứng thú với chiến tranh lạnh nữa và sẽ lui về chủ nghĩa biệt lập, càng thêm lúng túng. Không nghi ngờ gì rằng tất cả các sự kiện đó đều có vai trò nhất định. Nhưng chúng không thể làm sụp đổ được một đế chế đầy tiềm lực, nếu như đấy là một cơ thể khoẻ mạnh. Chúng chỉ phát huy tác dụng với một cơ thể ốm yếu mà thôi.
Chủ nghĩa Marx, cơ sở lý luận của chủ nghĩa cộng sản đã mang sẵn trong mình hạt giống của sự tự huỷ, tương tự như các hạt giống mà Marx và Engels đã nhận thấy, một cách sai lầm, trong chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa Marx hình thành trên một triết lý sai lầm về lịch sử và một học thuyết tâm lý phi thực tế. 
Luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Marx về sở hữu tư nhân là hoàn toàn sai. Luận điểm này cho rằng sở hữu tư nhân, mà nó cố gắng tiêu diệt, là một hiện tượng lịch sử nhất thời, chỉ tồn tại trong giai đoạn chuyển tiếp giữa chủ nghĩa cộng sản nguyên thuỷ và giai đoạn sau chót của nó mà thôi. Các chứng cớ hiện có đều chứng tỏ rằng đất đai, nguồn gốc chủ yếu của tài sản vào thời tiền sử, nếu không nằm trong tay nhà vua thì cũng nằm trong tay các bộ lạc, gia đình hay cá nhân riêng lẻ. Gia súc cũng như thương mại và vốn liếng luôn luôn và khắp nơi đều nằm trong tay tư nhân. Từ đó có thể rút ra kết luận rằng sở hữu tư nhân không phải là một hiện tượng nhất thời mà là một thành tố thường trực của xã hội và vì thế mà không thể bãi bỏ được. 
Quan điểm của chủ nghĩa Marx về khả năng cải tạo ngay cái bản chất của con người cũng có khiếm khuyết không kém. Quan niệm này cho rằng, bằng cưỡng ép và giáo dục, có thể tạo ra những con người hoàn toàn không còn ước mơ sáng tạo, những con người sẵn sàng tan biến vào xã hội, cái xã hội mà Plato mường tượng: “riêng tư và tư hữu bị loại bỏ khỏi đời sống”. Giả sử như các chế độ cộng sản, bằng những cố gắng vô bờ bến, có đạt được điều đó thì họ cũng không thể nào giữ được thành quả. Các chuyên gia huấn luyện thú đều biết rằng sau một thời gian luyện tập các con thú có thể làm được một số trò, nhưng nếu để cho tự do thì chúng sẽ quay về với những hành vi tự nhiên. Hơn thế nữa, các đức tính tốt do học hỏi mà có không có tính di truyền, thế hệ kế tiếp sẽ bước vào thế giới với những ước mơ không phải là cộng sản và trong số đó, có ước mơ sáng tạo, một mơ ước không phải là không có ý nghĩa. Cuối cùng, chủ nghĩa cộng sản đã thất bại vì nó không thể làm thay đổi được bản chất của con người. Mussolini đã rút ra kết luận như thế vào năm 1920, lúc đó ông ta đã ra nhập đảng phát xít nhưng vẫn còn cảm tình với cộng sản: 
Lenin là một nhà điêu khắc, ông ta làm việc với con người trong khi các nhà điêu khắc khác làm việc với đá hay kim loại. Nhưng con người lại cứng hơn đá hoa cương và không thể đúc được như kim loại. Chẳng có tuyệt tác nào cả. Điêu khắc gia đã thất bại. Nhiệm vụ vượt quá năng lực của ông ta[2]
Thế giới hiện thực đã buộc các chế độ cộng sản phải coi bạo lực là biện pháp quản lý thường trực. Muốn bắt người ta từ bỏ sở hữu và hy sinh quyền lợi của mình cho quyền lợi của nhà nước thì phải trao cho các cơ quan quản lý quyền lực tuyệt đối. Chính Lenin đã hiểu như thế khi nói rằng “chuyên chính vô sản” là “chính quyền dựa trực tiếp vào bạo lực, không bị hạn chế bởi bất cứ luật lệ nào, không bị gò bó bởi bất cứ nguyên tắc nào”. 
Kinh nghiệm cho thấy, chế độ như thế có thể tồn tại được: chế độ này đã được áp đặt lên nước Nga và những nước nằm dưới quyền kiểm soát của nó như Trung Quốc, Cuba, Việt Nam, Campuchia và một loạt các nước khác ở châu Phi và châu Mỹ Latin. Nhưng cái giá phải trả là sự đau khổ không thể nào đo đếm được; những nỗi khổ đau mà nhân dân phải chịu đựng đã làm tiêu ma mục đích chính của các chế độ này, mà cụ thể là bình đẳng. 
Khi biện hộ cho chế độ dựa trên bạo lực, Lenin tin rằng đấy chỉ là tạm thời và sau khi đã hoàn thành niệm vụ, nhà nước chuyên chính sẽ cáo chung. Nhưng ông ta đã quên mất rằng cái khái niệm trừu tượng gọi là “nhà nước” lại bao gồm những con người mà dù vai trò lịch sử của họ có là gì đi nữa thì họ vẫn có những quyền lợi cá nhân. Mặc dù xã hội học Marxist cho rằng nhà nước chỉ phục vụ giai cấp hữu sản, bản thân nó không có quyền lợi gì; nhưng, trên thực tế, chẳng bao lâu sau, các viên chức của nó đã tự tạo ra một giai cấp mới. “Đảng tiên phong”, tổ chức có sứ mệnh mở đường tiến vào thời đại mới, trở thành giá trị tự thân và mục đích tự thân. 
Nhà nước, đúng hơn phải nói, đảng cộng sản, không còn cách nào khác hơn là phải nuông chiều giai cấp mới này, vì, nó chính là lực lượng bảo vệ quyền lực cho đảng. Dưới chế độ cộng sản, tầng lớp quan liêu phát triển với tốc độ chóng mặt, vì một lý do đơn giản là tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong đó có kinh tế, đều do nhà nước quản lý; để làm được điều đó, phải có một đội ngũ quan chức đông đảo. Tầng lớp quan liêu này thường xuyên trở thành lũ dê tế thần trong tất cả các chế độ cộng sản, nhưng không chế độ nào có thể thoát được họ. Ở Liên Xô, chỉ một thời gian ngắn sau khi cướp được chính quyền, chế độ đã cung cấp cho các cán bộ chủ chốt của mình những khoản ưu đãi vô tiền khoáng hậu, chính từ tầng lớp này đã hình thành cái gọi là nomenclatura, tức là giai tầng đặc quyền đặc lợi thế tập. Lý tưởng bình đẳng đã chấm dứt như thế đấy. Như vậy nghĩa là, muốn mọi người đều được bình đẳng về sở hữu thì phải tạo ra bất bình đẳng về quyền lợi. Mâu thuẫn giữa mục đích và phương tiện đã ăn sâu bén rễ trong lòng chủ nghĩa cộng sản và đời sống của tất cả các quốc gia, nơi mà nhà nước nắm trọn tất cả các phương tiện sản xuất. 
Phải công nhận rằng thỉnh thoảng người ta lại tìm cách giải thoát nhà nước và xã hội khỏi gông cùm của bộ máy quan liêu cộng sản. Lenin và Stalin đã tiến hành các vụ thanh trừng, dưới thời Stalin, các chiến dịch như thế thường trở thành những vụ giết người hàng loạt. Mao tiến hành “cách mạng văn hoá” nhằm đập tan ảnh hưởng của các nhân vật quan liêu trong đảng. Nhưng tất cả đều thất bại. Cuối cùng, bao giờ tầng lớp nomenclatura cũng vẫn chiếm được thế thượng phong vì thiếu họ thì chẳng thể làm được gì. 
Các cuộc thử nghiệm cộng sản bằng con đường dân chủ cũng đều thất bại. Như kinh nghiệm của Chile dưới thời Allende cho thấy, nếu còn tự do ngôn luận, nếu còn toà án và cơ quan lập pháp dân cử độc lập thì mọi sự xâm phạm quyền tư hữu đều không thể tạo ra được kết quả mong muốn vì lực lượng đối lập, vốn bị đàn áp khốc liệt dưới chính thể “chuyên chính vô sản”, sẽ có khả năng tổ chức kháng cự. Hàng ngũ đối lập sẽ gia tăng và dễ dàng lật đổ chính phủ cách mạng. Năm 1990, ở Nicaragua, lực lượng cộng sản-sandinist đang nắm quyền tin rằng sẽ được đa số dân chúng ủng hộ nên đã tổ chức bầu cử theo lối phổ thông đầu phiếu; nhân dân đã loại bỏ họ. 
Xu hướng quan liêu hoá, vốn là bản chất của các chế độ cộng sản, cũng là nguyên nhân dẫn tới các thất bại trong lĩnh vực kinh tế, giúp cho chế độ mau sụp đổ hoặc buộc họ chỉ giữ được cái vỏ cộng sản, nhưng phải chia tay với tất cả những gì mà cái vỏ đó che đậy. Quốc hữu hoá các phương tiện sản xuất chỉ dẫn đến kết quả là đã chuyển quyền quản lý tất cả các phương tiện đó vào tay các quan chức, những người không có kiến thức quản lý và cũng chẳng có nhu cầu quản lý cho có hiệu quả. Hậu quả tất yếu sẽ là: năng suất lao động giảm. Ngoài ra, sự thiếu năng động, vốn là bản chất của bộ máy quản lý tập trung, đã không cho phép nền kinh tế cộng sản phản ứng một cách nhạy bén với các tiến bộ kĩ thuật; đấy là lý do vì sao Liên Xô đã bỏ qua một loạt các phát minh công nghệ quan trọng nhất, mặc dù nước này đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực khoa học. Như F. Haeyk đã chỉ rõ, chỉ có thị trường mới có khả năng nắm bắt và phản ứng tức thời trước các thay đổi trong lĩnh vực kinh tế. Và chỉ hy vọng trở thành người giàu có mới có thể buộc người ta gắng sức, tức là buộc người ta cố gắng làm nhiều hơn các nhu cầu đơn giản nhất của mình. Dưới chế độ cộng sản, các tác nhân như thế đơn giản là không tồn tại, người càng tích cực thì càng khổ, vì nếu hoàn thành được nhiệm vụ năm nay, thì năm sau sẽ được giao nhiều hơn. 
Chính sách kinh tế của cộng sản gây ra những tổn thất nặng nề nhất cho lĩnh vực nông nghiệp, vốn là thành phần kinh tế chủ yếu của các nước nằm dưới quyền cai trị của cộng sản. Việc tịch thu ruộng đất của tư nhân và sau đó là quá trình hợp tác hoá đã phá vỡ trật tự truyền thống và lối sống ở làng quê, dẫn đến những vụ chết đói hàng loạt với số lượng nạn nhân nhiều chưa từng có. Chuyện đó đã xảy ra ở Liên Xô, ở Trung Quốc, ở Ethiopia, ở Campuchia; mỗi nước đều có hàng triệu người chết vì nạn đói do chính con người gây ra. Ở Bắc Triều Tiên cộng sản, trong những năm 1990, phần lớn trẻ em bị mắc những căn bệnh do đói ăn mà ra; theo các số liệu hiện có, trong nửa sau của thập kỉ 1990, gần hai triệu người Bắc Hàn đã bị chết đói. Ở nước này, tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh là 88 trên 1000, trong khi ở Hàn Quốc là 8 trên 1000; tuổi thọ của đàn ông Bắc Hàn là 48,9 trong khi ở Hàn Quốc là 70,4. Thu nhập tính trên đầu người Bắc Hàn là 900 USD, trong khi ở Nam Hàn là 13.700 USD. 
Việc chính quyền cộng sản không thể tạo được sự sung túc và bình đẳng, nghĩa là không đạt được những mục tiêu mà nó công bố, không phải là mâu thuẫn duy nhất vốn có của chủ nghĩa cộng sản. Mâu thuẫn tiếp theo phải kể là không có tự do, tự do cùng với sự dư thừa về mặt vật chất và lẽ công bằng, theo Marx, là những mục đích cuối cùng của xã hội cộng sản. Quốc hữu hoá tất cả các phương tiện sản xuất đã biến các công dân thành người lao động làm thuê cho nhà nước, nói cách khác, đã biến họ thành những người phụ thuộc vào nhà nước. Trotsky viết: “Trong một đất nước mà nhà nước là người sử dụng lao động duy nhất, đối lập có nghĩa là sẽ chết đói một cách từ từ. Nguyên tắc cũ: không làm thì không ăn đã bị thay bằng nguyên tắc mới: không tuân phục thì không ăn”. Nhà nước phải công nhận quyền của công dân đối với tài sản mà họ sở hữu - và sự tôn trọng đối với quyền sở hữu được thể hiện một cách rõ ràng – mới bảo đảm được quyền tự do. Vì sở hữu tư nhân là tiêu chuẩn pháp lý được toà án bảo vệ, điều đó cũng có nghĩa là sự công nhận tinh thần thượng tôn pháp luật của nhà nước. Nghĩa là, mục đích của cộng sản là bãi bỏ tư hữu nhất định sẽ dẫn tới tiêu diệt tự do và tôn trọng pháp luật. Việc quốc hữu hoá các phương tiện sản xuất không giải phóng con người khỏi tình trạng lệ thuộc vào vật chất, như Marx và Engels mường tượng, mà còn biến họ thành nô lệ của nhà cầm quyền và vì luôn luôn ở trong tình trạng thiếu thốn cho nên con người càng lệ thuộc vào quyền lợi vật chất hơn bao giờ hết. 
Xin chấm dứt việc khảo sát những cố gắng nhằm áp dụng chủ nghĩa cộng sản trong biên giới của từng quốc gia ở đây. Trên bình diện quốc tế, chủ nghĩa cộng sản cũng chẳng khá hơn. Coi chủ nghĩa tư bản là hiện tượng toàn cầu, những người Marxist khẳng định rằng, thanh toán nó cũng là công việc của toàn thế giới: khẩu hiệu “Vô sản các nước liên hiệp lại!”, được tung ra trong tác phẩm Tuyên ngôn cộng sản, năm 1840, được cả những người xã hội chủ nghĩa lẫn những người cộng sản vồ vập, là phương châm đoàn kết của những người lao động trên toàn thế giới. 
Nhưng sự thống nhất của giai cấp vô sản hoá ra chỉ là hoang tưởng. Dù tình hữu ái giai cấp có cao đến đâu thì tình yêu quê hương và giống nòi vẫn luôn luôn giữ thế thượng phong. Hễ bị nước ngoài đe doạ là tất cả giai cấp lập tức đoàn kết lại. Những người xã hội chủ nghĩa đã học được bài học này vào năm 1914. Lúc đó, trái với mọi lời thề nguyện, tất cả các đảng thuộc Quốc tế II, gần như không có ngoại lệ, đểu ủng hộ chính phủ “tư sản” nước mình và thông qua ngân sách chiến tranh. Lenin học lại bài học này vào năm 1920, lúc đó công nông Ba Lan đã đoàn kết đứng lên bảo vệ đất nước chống lại Hồng quân xâm nhập vào Ba Lan với mục đích “giải phóng” người lao động khỏi “bóc lột”. Những chuyện như thế còn xảy ra nhiều lần nữa. 
Có điều là, những chuyện như thế không chỉ xảy ra trong các xã hội gọi là còn giai cấp. Ngay trong các nước do cộng sản nắm quyền, tức các xã hội được coi là phi giai cấp thì sự thống trị của Liên Xô cũng luôn làm người ta khó chịu và hễ có điều kiện là họ lại tìm cách thoát ra khỏi tình trạng như thế. Sự kiện đó diễn ra lần đầu tiên ở Nam Tư, nhưng kịch tính nhất là ở Trung Quốc. Chưa đầy mười năm sau khi nắm được chính quyền, cộng sản Trung Quốc đã tuyên bố rằng họ có quyền thực hiện và tuyên truyền mô hình chủ nghĩa Marx của riêng mình và trong khi khẳng định như thế, họ gần như đã đi đến đối đầu về quân sự với Liên Xô, nước được coi anh cả và mô hình cần phải theo. Khmer Đỏ còn tiến xa hơn, khi họ tự coi mình là độc đáo và khẳng định rằng mô hình cộng sản của họ chẳng có gì chung với cả Nga lẫn Trung Quốc. Phong trào cộng sản châu Âu cũng hành động tương tự như thế, khi đòi hỏi chủ nghĩa đa nguyên (“đa trung tâm”), mà đấy là đòi hỏi vào lúc Liên Xô đang ở đỉnh cao quyền lực của mình.

Chỉ có thể ngăn chặn các lực li tâm như thế bằng một biện pháp: giữ cho các đảng ngoại quốc đó trong tình trạng èo uột, nghĩa là, buộc các đảng đó phải lệ thuộc hoàn toàn vào Moskva; hễ được cử tri ủng hộ là các đảng này lập tức đòi được tự trị, thậm chí là đòi thoát khỏi tình trạng lệ thuộc. Đây là tình thế tiến thoái lưỡng nan: phong trào cộng sản quốc tế sẽ phải ở trong tình trạng cô lập và yếu kém, chỉ là công cụ dễ bảo nhưng thiếu hiệu quả của Moskva, hoặc là nó phải tìm được sức mạnh và gây được ảnh hưởng, nhưng sẽ giải thoát khỏi quyền lực của Moskva và phá vỡ tình đoàn kết của phong trào cộng sản quốc tế. Đây chính là trường hợp mà người ta vẫn nói: không có lựa chọn thứ ba. 
Các khiếm khuyết như thế, vốn là bản chất của chủ nghĩa cộng sản, đã được nhiều môn đồ nhận ra và đấy chính là lý do cho sự xuất hiện “chủ nghĩa xét lại” đủ mọi trường phái. Nhưng những người cộng sản trung kiên lại cho rằng, thất bại không phải là do học thuyết sai mà chỉ chứng tỏ rằng họ chưa quyết tâm thực hiện mà thôi. Đúng như định nghĩa của George Santayana: Cuồng tín là những người cố gắng gấp đôi sau khi đã quên mục đích chính của mình, những người cộng sản đã lao vào những vụ chém giết điên cuồng. Kết quả là, từ Lenin đến Stalin, từ Stalin đến Mao và Pol Pot, chủ nghĩa cộng sản đã để lại trên đường đi của mình những biển máu ngày càng lớn hơn. 
Nói chung, chủ nghĩa cộng sản đã thất bại và nhất định thất bại ít nhất là vì hai lý do chính; thứ nhất, để có công bằng, nghĩa là để đạt được mục tiêu chính của mình, chế độ phải lập ra bộ máy đàn áp và đến lượt nó, bộ máy này đòi phải có đặc quyền đặc lợi và như vậy tự nó đã phủ nhận lẽ công bằng; thứ hai, mỗi khi có mâu thuẫn thì lòng yêu quê hương và nòi giống luôn luôn lấn át tình hữu ái giai cấp, đấy là lý do vì sao chủ nghĩa cộng sản dễ hoà tan vào chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội dễ dàng kết hợp với chủ nghĩa “phát xít”. Nhận thức được điều đó, Đảng Cộng sản Liên bang Nga, hậu duệ của Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1990, đã từ bỏ khẩu hiệu kêu gọi giai cấp vô sản toàn thế giới liên hiệp lại. 
Nhà xã hội học người Đức, gốc Italy, Robert Michels, đã dự đoán được bước ngoặt như thế và dự đoán chính xác rằng: “Những người xã hội chủ nghĩa có thể chiến thắng, nhưng chủ nghĩa xã hội thì không bao giờ”. 
Còn một lý do nữa, cụ thể hơn, theo đó, các chế độ cộng sản được xây dựng theo sơ đồ của Lenin, về bản chất là mâu thuẫn với việc thực thi lý tưởng cộng sản. Xuất phát từ luận điểm về sự cáo chung tất yếu của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn cầu, Lenin đã xây dựng bộ máy quản lý của mình theo mô hình quân đội. Chế độ cộng sản ở Liên Xô và những kẻ theo đuôi họ đã thực hiện việc quân sự hoá đời sống xã hội, buộc tất cả đều phải chịu sự chỉ huy từ trung ương. Cơ cấu như thế sẽ không có khả năng động viên toàn bộ sức người sức của, cho nên không thể có phản ứng hữu hiệu trước những thách thức và không thể khuyếch trương ảnh hưởng của nó ra nước ngoài. Nó còn kém hiệu quả, phải nói là tê liệt, khi phải phản ứng trước những thách thức không thể giải quyết được bằng quân sự. Khi cuộc cách mạng thế giới mà người ta chờ đợi không diễn ra, chế độ Xô Viết, trên thực tế, trở thành xơ cứng và cùng với thời gian đã chạm trán với những khó khăn và đe doạ từ bên trong: thái độ bàng quan và tính thụ động của quần chúng, dẫn tới sự tuột dốc liên tục của nền kinh tế và lực lượng quân sự. Muốn giải quyết những khó khăn đó thì phải nới lỏng dần các biện pháp quản lý. 
Nhưng nới lỏng quản lý nhất định sẽ làm lung lay toàn bộ chế độ vì nó vốn là một tổ chức hoàn chỉnh, nó chỉ có thể tồn tại dưới sự quản lý tập trung nghiêm khắc nhất. Chỉ cần Gorbachev nới lỏng là trong lòng chế độ lập tức xuất hiện các vết rạn nứt và chẳng bao lâu sau thì tan vỡ hẳn. Theo nghĩa này, cộng sản là một chế độ không thể cải tạo được, nói cách khác, nó không có khả năng thích nghi với những điều kiện đang thay đổi. Sự thiếu năng động, vốn là bản chất của chủ nghĩa cộng sản, cuối cùng đã dẫn nó đến chỗ sụp đổ. 
______________
Vai trò của hệ tư tưởng, hay nói đúng hơn, vai trò của cái được gọi là chủ nghĩa Marx-Lenin là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi. Một số nhà khoa học cho rằng, tư tưởng chính là lực lượng dẫn dắt phong trào và các chế độ thoát thai từ phong trào đó, vì vậy, họ đã gọi Liên Xô và Trung Quốc dưới thời Mao là idiocracy, nghĩa là những hệ thống được điều khiển bởi các tư tưởng. 
Tất nhiên, chủ nghĩa cộng sản không thể xuất hiện nếu không có huyền thoại về một Thời đai Hoàng kim và nếu không có học thuyết đề ra chiến lược đưa cái thời đại đầy hạnh phúc đó quay về trái đất, do Marx lập ra và lần đầu tiên được Lenin đem áp dụng vào cuộc sống. Công nhận điều đó không có nghĩa là công nhận khái niệm ideocracy, đơn giản là vì mọi tư tưởng, dù là kinh tế hay chính trị, một khi đã được áp dụng vào cuộc sống thì nhất định chúng sẽ tạo ra quyền lực và sẽ nhanh chóng trở thành công cụ của quyền lực đó. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã được Adam Smith mô tả trong tác phẩm Wealth of Nations (Của cải của các dân tộc). Nhưng không ai có thể khẳng định rằng trong hai thế kỷ gần đây các nhà tư bản đã lựa chọn phương thức hành động dưới ảnh hưởng của quan điểm về “bàn tay vô hình” của Smith hay đã được dẫn dắt bởi bất cứ luận điểm nào khác trong lý thuyết của ông. Cảm hứng của ông phù hợp với quyền lợi của các nhà tư sản và vì thế mà họ chấp nhận, đơn giản chỉ có thế. 
Không có cơ sở để khẳng định rằng điều đó cũng đúng đối với chủ nghĩa Marx-Lenin. Quan điểm cho rằng hàng triệu đảng viên thường cũng như các quan chức nhà nước tin tưởng tuyệt đối vào lý thuyết do một nhà kinh tế học người Đức nghĩ ra từ thế kỷ XIX chỉ là quan điểm của một số trí thức, trong đó dường như có người quả thật tin rằng nhân loại thường bị các hệ tư tưởng xui khiến. Thời gian đầu, các đảng cộng sản thường có ít đảng viên và họ cũng luôn bị săn đuổi; đảng viên là người chịu nhiều hiểm nguy chứ không mong quyền lợi, vì vậy mà, đa số hoàn toàn có thể là do được tư tưởng thúc đẩy. Nhưng, sau khi đã giành được chính quyền, sau khi có quyền phân chia quyền lợi cũng như quyết định hình phạt, các đảng đó sẽ tìm được vô số cảm tình viên chỉ ủng hộ hệ tư tưởng thống trị trên đầu môi chót lưỡi. Cuộc khảo sát được thực hiện ở Liên Xô năm 1922 cho thấy chỉ có 0,6% đảng viên có bằng tốt nghiệp đại học và 6,4% có bằng tốt nghiệp trung học. Trên cơ sở các số liệu đó, một nhà sử học Nga đã đưa ra kết luận: 92,7% đảng viên không đủ kiến thức để thực hiện các nhiệm vụ mà đảng giao phó (4,7% đảng viên là người mù chữ theo đúng nghĩa đen của từ này). Năm 1921, Lenin đã phải cay đắng công nhận sự thật này, ông ta đã hạ lệnh tiến hành “làm trong sạch” để loại bỏ những kẻ “cơ hội”. Cuộc chiến đấu chống lại cái tất yếu chắc chắn sẽ thất bại ngay từ đầu. Nhà nước càng mở rộng quyền lực thì lại có nhiều những kẻ háo danh, những kẻ mà danh hiệu đảng viên chỉ có nghĩa là địa vị và tiền bạc, tìm cách chui vào đảng. Quyền lực và sự tồn vong của đảng trở thành mục đích chính. Tư tưởng chỉ còn là chiếc là nho che đậy bản chất thật sự của chế độ: trong khi ba hoa về lòng trung thành với những lý tưởng cao cả chính là lúc người ta đang theo đuổi những mục đích ích kỉ và thực hiện những hành động xấu xa nhất. 
Năm 1991, khi Liên Xô tan rã, nomenclatura, tức là những người vẫn được coi là vệ binh cho sự trong sáng của hệ tư tưởng, đã đầu hàng vô điều kiện và lập tức lợi dụng “tư hữu hoá” để thu vén và biến tất cả tài nguyên cũng như phương tiện sản xuất của đất nước thành tài sản riêng của mình. Chuyện đó thật khó xảy ra nếu bộ máy thực sự trung thành với hệ tư tưởng Marx-Lenin. 
Sergei, con của Nikita Khrushchev - người kế tục Stalin từ năm 1953 đến năm 1964 – trong tiểu sử cha mình đã đưa ra bằng chứng thú vị chứng tỏ vị trí thứ yếu của ý thức hệ Marxist trong chính sách của cộng sản. “Ngay từ ngày còn là sinh viên”, Sergei viết:
Tôi luôn cố gắng nhưng vẫn không thể hiểu nổi chủ nghĩa cộng sản chính xác là gì… Tôi đã xin bố giảng cho nghe, nhưng ông cũng chẳng đưa ra được câu trả lời rõ ràng. Tôi hiểu rằng chính ông cũng chưa thông lắm[3]
Nếu ngay cả lãnh tụ của khối cộng sản, nhà tiên tri không mệt mỏi về thắng lợi của nó trên toàn thế giới, còn không biết giải thích cho con mình bản chất của chủ nghĩa cộng sản thì còn mong gì ở những đảng viên thường? 
Thái độ vụ lợi - cá nhân và nhà nước – là động lực của các chế độ cộng sản và cũng chính điều đó đã thủ tiêu lý tưởng bình đẳng của họ. Các lãnh tụ Liên Xô và Trung Quốc vẫn thường xuyên né tránh các giáo lý Marxist nếu quyền lợi của họ đòi hỏi phải làm như thế! Năm 1917, Lenin cho phép công nhân chiếm nhà máy, còn nông dân thì chiếm ruộng đất, mặc dù những hành động vô chính phủ như thế là hoàn toàn trái với học thuyết Marxist. Năm 1921, ông ta cho tái lập thị trường lương thực, thực phẩm và sản xuất hàng tiêu dùng theo lối tư bản chủ nghĩa. Stalin giao cho nông dân một phần ruộng đất và cho họ được bán sản phẩm theo giá thoả thuận. Trong những năm 1930, ông ta khuyến khích thành lập ở nước ngoài các mặt trận đoàn kết dân tộc, nghĩa là khuyến khích cộng sản hợp tác với những người dân chủ-xã hội, kẻ thù không đội trời chung với chủ nghĩa cộng sản. Khrushchev chuyển từ chiến tranh giai cấp trên toàn thế giới sang “chung sống hoà bình”. Mao tuyên bố ý chí của con người có thể thắng được hiện thực khách quan, trong khi những người kế nhiệm ông ta kêu gọi dân chúng làm giàu. Tất cả đều nhân danh chủ nghĩa cộng sản. Trong tất cả các trường hợp, hệ tư tưởng đã bị hy sinh, dù là tạm thời, cho quyền lợi tối thượng của đảng, mà bao giờ và ở đâu cũng chỉ là: giữ vững và mở rộng quyền lực không giới hạn. 
______________
Các thí nghiệm xây dựng xã hội không tưởng đã phải trả giá quá đắt, không có cách nào thống kê được hết số nạn nhân. Stephane Courtois, trong tác phẩm The Black Book of Communism (Hắc thư về chủ nghĩa cộng sản) cho rằng có từ 85 đến 100 triệu người thiệt mạng, nghĩa là gấp 1,5 lần số người chết trong cả hai cuộc thế chiến. Người ta đã đưa ra nhiều luận cứ để biện hộ, trong đó lý do: không đập vỡ trứng thì làm sao có món trứng rán. Người dĩ nhiên không phải là trứng, nhưng tai hoạ ở chỗ, sau những cuộc tắm máu kinh hoàng đã chẳng có món trứng rán nào hết. 
Những người sống sót cũng phải gánh chịu nhiều mất mát. Nhằm tạo ra cho được sự đồng nhất, các chế độ cộng sản đã bỏ tù, bắt lưu đầy và bịt miệng tất cả những người không chấp nhận cái thể chế, mà đây lại thường là những người có năng lực và tháo vát nhất. Kết quả là, đã diễn ra một cuộc tiến hoá giật lùi: những kẻ không thể tự lực, những kẻ chỉ biết vâng lời lại có xác suất sống còn cao nhất. Trong khi những người tháo vát, trung thực và có suy tư về xã hội thì bị giết hại. Xã hội cộng sản đã đánh mất những công dân ưu tú nhất của mình như thế đấy, và vì vậy mà họ phải chìm đắm mãi trong cảnh đói nghèo. 
Nga là nước bị chế độ cộng sản cai trị lâu nhất và một trong những hậu quả của nó là nhân dân mất hết lòng tin vào năng lực của chính mình. Vì dưới chính quyền Xô Viết, mọi hoạt động đều phải được cấp trên chuẩn y, còn sáng kiến thì bị coi là tội lỗi, cho nên dân chúng đã đánh mất khả năng tự quyết, dù là việc lớn hay việc nhỏ (trừ việc phạm pháp); người ta luôn luôn sống trong tình trạng chờ đợi mệnh lệnh. Sau giai đoạn hồ hởi chào đón tiến trình dân chủ hoá, người ta lại cảm thấy thiếu một bàn tay sắt. Nhân dân không có khả năng, mà cũng chẳng có ước muốn được đứng trên hai chân của chính mình và tự quyết định lấy số phận của mình. Và đây là thiệt hại không nhỏ mà chủ nghĩa cộng sản đã gây ra cho nhân dân Nga, cũng nhân dân các nước đã bị chế độ cộng sản thôi miên trong một thời gian dài. Nó cũng giết chết cả sự tôn trọng đối với lao động và tinh thần trách nhiệm trước xã hội của người công dân. 
Mong muốn sở hữu là thuộc về bản năng, còn tôn trọng tài sản của người khác thì phải được giáo dục mới có. Các nghiên cứu về tâm lý trẻ em cho ta thấy rõ điều đó. Nếu một người nào đó phát hiện ra rằng quyền sở hữu của anh ta không được tôn trọng - dù đấy là từ phía chính quyền hay từ phía xã hội – thì người đó chẳng những không còn tôn trọng quyền lợi vật chất của xã hội và chính quyền nữa mà còn trở thành người truyền bá những bản năng tham tàn nhất. Chính điều đó đã xảy ra sau khi chế độ cộng sản ở Liên Xô sụp đổ và đấy cũng là cản trở cho quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường thực thụ; một nền kinh tế dựa trên sự tôn trọng quyền tư hữu. 
Marx khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản có những mâu thuẫn nội tại không thể nào giải quyết được và những mâu thuẫn này tất yếu sẽ đưa nó đến chỗ diệt vong. Trên thực tế, chủ nghĩa tư bản là hệ thống có khả năng thích nghi với các điều kiện luôn luôn thay đổi và đã học được cách vượt qua các cuộc khủng hoảng. Trong khi đó, chủ nghĩa cộng sản là hiện thân của học thuyết cứng nhắc - một giả khoa học, được cải biên thành một giả tôn giáo rồi hoá thân thành một chế độ chính trị thiếu uyển chuyển – đã chứng tỏ là không có khả năng giải thoát khỏi những ngộ nhận ăn bám vào nó và cuối cùng đã trở về với cát bụi. Việc tái sinh nó, nếu quả thật sẽ có một ngày như thế, là trái ngược hoàn toàn với bản án mà lịch sử đã tuyên và chắc chắn sẽ lại có một thất bại nữa. Hành động theo hướng đó, đồng nghĩa với sự điên rồ, như người ta đã nói: làm đi làm lại một việc với hy vọng là kết quả sẽ khác. 
ĐỌC THÊM
Có quá nhiều sách báo viết về lý thuyết và thực tiễn của chủ nghĩa cộng sản, riêng thư viện của đại học Harvard (Harvard University) cũng đã có trên 20.000 tập dành riêng cho vấn đề này. Các công trình nói về vấn đề này, cùng với những bài đăng trên báo và tạp chí chắc chắn là lên tới con số hàng trăm ngàn. Catalog của Harvard ghi nhận 3.567 đầu đề nói về Marx và 4.301 đầu đề nói về Lenin. Vì vậy, danh sách các tác phẩm liệt kê ở đấy chắc chắn là mang tính lựa chọn và khá tùy tiện. Nhưng, đa số những cuốn sách được liệt kê dưới đây cũng có danh sách các tác phẩm nên đọc cho nên độc giả quan tâm sẽ không gặp khó khăn gì trong việc tìm thêm những tác phẩm khác.
Lịch sử tư tưởng về Thời đại Vàng son được trình bày trong tác phẩm của Frank E. Manuel và Fritzie P. Manuel, Utopian Thought in the Western World (Tư tưởng không tưởng trong thế giới phương Tây – Cambridge, Mass., 1970); Alexander Gray, The Socialist Tradition: Moses to Lenin (Truyền thống xã hội chủ nghĩa: từ Moses tới Lenin – London, 1963). Tác phẩm viết về chủ nghĩa Marx và những biến thể của nó: Leszek Kolakowski, Main Currents of Marxism (Những xu hướng chính của chủ nghĩa Marx), 3 tập (Oxford, 1978); Andrej Walicki, Marxism and the Leap to the Kingdom of Freedom (Chủ nghĩa Marx và cú nhảy vào vương quốc của tự do - Satnfrod, 1995) trình bày mối liê, kết giữa lý thuyết và thực tiễn cộng sản. Quốc tế I và IIđược trình bày trong Julius Brauthal, History of International (Lịch sử Quốc tế), 2 tập, (New York, 1967.
Về nước Nga cách mạng, độc giả có thể muốn tìm hiểu qua hai tác phẩm của tôi, Russian Revolution (Cách mạng Nga – New York, 1990) và Russia Under the Bolshevik Regime (Nước Nga dưới chính quyền Bolshevik – New York, 1994). Và bản rút gọn hai cuốn này: A Concise History of the Russian Revolution (Lịch sử rút gọn về cách mạng Nga – New York, 1995). Có thể tìm thấy cách đánh giá khác về sự kiện này trong tác phẩm của Sheila Fitzpatrick: The Russian Revolution (Cách mạng Nga), in lần thứ 2 (Oxford và New York, 1994). Hai tác giả người Nga trình bày những điều tai nghe mắt thấy trong cuộc cách mạng: Ivan Bunin với Cursed Days (Những ngày bị nguyền rủa – Chicago, 1998) và Maxim Gorky với Umtimely Thoughts (Những ý tưởng không hợp thời – New haven, Conn., 1995).
Cuộc đời của người sáng lập Liên Xô, có sử dụng những nguồn tài liệu trước đây được coi là mật, do Dmitrii Volkogonov chấp bút, nhan  đề: Lenin: A New Biography (Lenin: Tiểu sử mới – New York, 1994). Volkogonov cũng là tác giả cuốn Stalin: Triumph and Tragedy (Stalin: Thành công và bi kịch – New York, 1991). Roy Medvedev với tác phẩm Let History Judge (Hãy để lịch sử phán xét – New York, 1995) viết về giai đoạn Stalin.
Lịch sử Liên Xô được hai người di cư Nga, Mikhail Heller và Aleksandr Nekrich trình bày trong Utopia in Power: The History of the Soviet Union from 1917 to the Present (Không tưởng cầm quyềnLịch sử Liên Xô từ năm 1917 đến nay - London, 1986). Thiết chế quan trọng nhất của nhà nước Xô Viết là đề tài thảo luận trong tác phẩm của Leonard Schapiro: The Communist Party of the Soviet Union (Đảng cộng sản Liên Xô), in lần thứ 2, London, 1970. Milovan Djilas, cán bộ cộng sản cao cấp của Serbia, là một trong những người đầu tiên cảnh báo về sự tồn tại của tầng lớp ăn trên nguồi trốc ở Liên Xô – tác phẩm The New Class (Giai cấp mới – New York, 1957); đặc quyền đặc lợi của giai cấp này được thảo luận trong tác phẩm của Michael Voslemsky, Nomenclatura: The Soviet Ruling Class (Nomenclatura: Giai cấp cầm quyền Xô Viết – Garden City, N.Y., 1984). Cuốn An Economic History of the USSR (Lịch sử kinh tế Liên Xô – London, 1988) là tác phẩm súc tích và đáng tin.

Aleksandr Sozhenitsyn đã viết được cuốn lịch sử-tài liệu về hệ thống trại lao động khổ sai Liên Xô: The Gulag Archilelago (Quần đảo ngục tù), 3 tập, (New York, 1991-92). Câu chuyện về những vụ giết người hàng loạt được Robert Conquest trình bày trong tác phẩm The Great Terror: A Reassestment (Đại khủng bố: Đánh giá lại – New York, 1990).

Sức hấp dẫn của chủ nghĩa cộng sản đối với các trí thức nước ngoài được trình bày trong Paul Hollander, Political Pilgrims: Travels of Western Intellectuals to the Soviet Union and China and Cuba (Hành hương chính trị: Các chuyến đi của trí thức tới Liên Xô, Trung Quốc và Cuba – New York, 1981). Sự thất vọng của sáu người cầm bút nổi bật trong số đó là đề tài cuốn The God that Failed (Chúa Trời thất bại - New York, 1949), do Richard Crossman chủ biên.

Chính sách đối ngoại của Liên Xô trong nửa thế kỉ đầu tiên của nó được George Kennan trình bày trong tác phẩm Russia and the West Under Lenin và Stalin (Nước Nga và phương Tây thời Lenin và Stalin – Boston, 1961), và Adam Ulam trình bày trong tác phẩm Expansion and Coexistence: The History of Soviet Foreign Policy, 1917-67 (Bành trướng và cùng tồn tại hòa bình: Lịch sử chính sách đối ngoại của Liên Xô, 1917-1967 – New York, 1968). Quan hệ của Liên Xô với phương Tây từ Thế chiến II đến cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba năm 1962, được Lewis Gaddis trình bày trong tác phẩm We Now Know: Rethinking Cold War History (Hiện nay chúng ta biết: Tái tư duy về lịch sử Chiến tranh Lạnh – New York, 1997).

Các tài liệu quan trọng nhất của Comintern được Jane Degras thu thập trong tác phẩm The Communist International, 1919-1943 (Quốc tế cộng sản, 1919-1943), 3 tập, London 1956-71. Lịch sử Quốc tế được Franz Borkenau trình bày trong tác phẩm World Communism: A History of the Communist International (Cộng sản thế giới: Lịch sử quốc tế cộng sản – Ann Arbor, 1962), và gần đây hơn là tác phẩm của Kevin McDermott và Jeremy Agnew: The Comintern (London, 1996). 

Sự sụp đổ của Liên Xô được David Remnick, sử dụng những điều quan sát được và những cuộc thảo luận, trình bày một cách sống động trong tác phẩm Lenin's Tomb (Mộ Lenin), New York, 1993.

Lịch sử Trung Quốc cộng sản được trình bày trong phần 1 và 2, tập XIV và XV tác phẩm The Cambridge History of China (1987, 1991) do Roderick MacFarquhar biên tập. Triết lý của Mao về lịch sử được thể hiện rõ nhất trong Quatations from Chaiman Mao Tse-tung (Trước tác của Mao Chủ tịch – New York, 1968). Tiểu sử chính trị và tri thức của ông ta được Stuart Scham trình bày trong tác phẩm Mao Tse-tung (Penguin Books, 1974). Cuộc đời của Mao được Ross Terril trình bày trong tác phẩm A Biography of Mao (Tiểu sử Mao - Stanford, 1999).  

Giai đoạn cầm quyền của Pol Pot trong lịch sử cambodia được trình bày trong tác phẩm do Karl D. Jackson biên tập, nhan đề Cambodia 1975-1978: Rendezvous with Death (Princeton, 1989).

Về Castro và chủ nghĩa Castro, có thể đọc Theodore Draper: Castroism: Theory and Pratice (Chủ nghĩa Castro: Lý thuyết và thực hành), New York, 1965 và tác phẩm mới hơn: Back from the Future: Cuba Under Castro (Trở về từ tương lai: Cuba dưới chế độ của Castro – Princeton, 1994).

Chủ nghĩa cộng sản ở Đông Phi là đề tài thảo luận trong tác phẩm của Peter Woodward: The Horn of Africa (Vùng sừng châu Phi), London and New York, 1996 và của Paul Henze: Horn of Africa: From War to Peace (Sừng châu Phi: Từ chiến tranh tới hòa bình – New York, 1991).

Về giai đoạn cộng sản ở Chile, độc giả có thể tham khảo Robert J. Alexander, The Tragedy of Chile (Bi kịch của Chile – Westport, Conn., 1978) và Paul E. Sigmund, The Overthrow of Allende and Politics of Chile, 1964-1976 (Vụ lật đổ Allende và Nền chính trị Chile, 1964-1976, Pittsburgh, 1977).

Số người chết do chủ nghĩa cộng sản gây ra trong thế kỉ XX được trình bày và đánh giá trong tác phẩm, trong tác phẩm The Black Book of Communism (Hắc thư về chủ nghĩa cộng sản – Cambridge, Mass., 1999) do Stéphane Courtois chủ biên.



[1] Leszek Kolakowski, Main Current in Marxism (Dòng chủ lưu trong chủ nghĩa Marx), vol, III (Oxford, 1978), trang 495, 521

[2] Mussolini, Oprea omnia, Tập XV (Florence, 1954), trang 93
[3] Sergei Khrushchev, Nikita Khrushchev (University Park, Pa., 2000), trang 701

May 16, 2018

Chủ nghĩa cộng sản (10)

Richard Pipes

Phạm Nguyên Trường dịch

V.                Thế giới Thứ ba (2)


Những người Marxist-Leninist coi học thuyết của mình là khoa học, họ cố gắng phân tích kinh nghiệm của mình và học hỏi qua những sai lầm, không chỉ trong cách hiểu mục đích cuối cùng, mà theo họ là không thể hồ nghi, mà còn trong chiến lược và chiến thuật đấu tranh cho mục đích cuối cùng nữa. Lenin đã học được từ Marx rằng, để chống lại phản cách mạng thì phải đàn áp một cách không thương xót toàn bộ cơ cấu mang tính thiết chế của chủ nghĩa tư bản. Sau khi đánh giá chủ nghĩa xét lại của những người kế nhiệm Stalin, Mao đi đến kết luận rằng, phá bỏ thiết chế vẫn chưa đủ, cần phải cải tạo chính con người. Dĩ nhiên là, chủ nghĩa Marx luôn luôn coi việc cải tạo con người là mục đích tối thượng và cuối cùng. Nhưng Mao lại quyết định rằng, đấy là việc phải làm ngay, ông ta đã buộc cả hệ thống quản lý của mình phải biến cái mục đích ấy thành hiện thực. 
Trung Cộng đã thiết lập chế độ toàn trị gần giống với mô hình Xô Viết. Ban đầu Mao đã sao chép chính sách kinh tế của Stalin, ông ta cũng tiến hành tập thể hoá nông nghiệp và thực hiện kế hoạch công nghiệp hoá năm năm. Dĩ nhiên là có những khác biệt. Một trong những khác biệt đó là: nền chuyên chế Xô Viết, hậu duệ của chế độ Sa hoàng, không quan tâm đến việc thần dân của họ nghĩ gì, miễn là họ tỏ vẻ nhất trí và giả đò làm tín đồ là được; Trung Cộng kiên quyết đạt cho bằng được sự thống nhất, cả về tri thức lẫn tinh thần, của toàn thể nhân dân*. Cội nguồn của quan điểm như thế là từ Khổng giáo, một triết thuyết nhấn mạnh đến sự hoàn thiện và đòi hỏi rằng cơ sở của chế độ cai trị là đạo đức chứ không phải là sự ép buộc. Nhưng quan điểm đó lại xuất phát trực tiếp từ những lo lắng của Mao rằng, nếu không cải tổ hoàn toàn trí óc của các thần dân để họ có thể nắm vững được học thuyết của Marx, của Lenin và của chính ông ta thì Trung Quốc cũng sẽ có số phận giống như Liên Xô, nghĩa là sẽ rơi vào chủ nghĩa xét lại và sẽ đi chệch khỏi con đường chân chính. 
* Nhiều nhà quan sát cho rằng đặc điểm nổi bật của lòng trung thành của dân chúng đối với học thuyết được áp đặt bằng bạo lực. Quan niệm sai lầm như thế có thể là do trong suốt 40 năm đầu tiên, người nước ngoài chỉ nhận được hầu như tất cả thông tin về Liên Xô từ chính các nguồn của Liên Xô, mà những nguồn này bao giờ cũng nhấn mạnh sự thống nhất về tư tưởng và lòng trung thành của tất cả mọi người với ý thức hệ cộng sản. Thực tế hoàn toàn không phải như thế.  
Lý luận của Mao đã mở đường cho những thí nghiệm không thể tưởng tượng nổi, tất cả đều thất bại với giá phải trả là sinh mạng của không biết bao nhiêu nạn nhân và sự thịnh vượng của quốc gia. Các công dân Trung Quốc, đặc biệt là những người lao động trí óc, bị nghi là có tư tưởng lạc hậu hay chống đối, đều phải học tập “cải tạo” một cách có hệ thống, thường là trong các trại tập trung, nơi họ phải trải qua quá trình gọi là “tẩy não”. Đấy là sự tra tấn về mặt tinh thần để buộc họ phải khuất phục. 
Các tiền đề lý luận như thế cũng là nguyên nhân của chính sách Đại Nhảy Vọt, khởi đầu vào năm 1958. Mong muốn chứng tỏ cho thế giới thấy rằng Trung Quốc đã tìm được con đường thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu tốt hơn và nhanh chóng hơn người Nga, Mao tuyên bố rằng Trung Quốc dự định vượt Anh về sản lượng than và thép trong vòng năm năm. Để làm điều đó, hơn nửa tỉ người bị lùa vào các “công xã nhân dân”, nơi người ta vừa làm nông nghiệp vừa tham gia sản xuất công nghiệp trong những điều kiện sản xuất gia đình cực kì thô sơ. Kế hoạch này, ví dụ điển hình của việc Mao sẵn sàng bỏ qua hiện thực kinh tế, được xây dựng trên cơ sở của cái định luật được trình bày trong Quotations from Chairman Mao (Trước tác của Mao Chủ Tịch - thường gọi là Cuốn sách đỏ của Mao và là tác phẩm duy nhất lưu hành ở Trung Quốc lúc đó). Định luật này nói rằng nhân dân Trung Quốc là một tờ giấy trắng (tabula rasa). 
Bên cạnh những đặc điểm khác, 600 triệu nhân dân Trung Quốc còn có đặc điểm là “nghèo nà và trong trắng”. Tưởng như đấy là xấu, nhưng trên thực tế đấy lại là tốt. Vì nghèo nên muốn thay đổi, muốn hành động, muốn làm cách mạng. Còn trên một tờ giấy trắng, chưa một vết nhơ nào, ta có thể viết những chữ tượng hình đẹp nhất và rõ ràng nhất, có thể vẽ những bức tranh đẹp nhất và rực rỡ nhất[1]
Người ta đã nói về một dân tộc có lịch sử dựng nước hàng ngàn năm như thế đấy. 
Khi người ta đã quyết tâm thì không khó khăn nào có thể cản trở được: một trong những khẩu hiệu của đại nhảy vọt nói: “Chúng ta sẽ dạy cho mặt trời mặt trăng đổi chỗ cho nhau; chúng ta sẽ tạo ra những thiên đường mới và vùng đất mới cho con người”. Như vậy nghĩa là, chủ nghĩa Marx, vốn được xây dựng như một học thuyết hoàn toàn duy vật, nhưng nhờ cố gắng của một nhà độc tài tự nhận là Marxist ở Trung Quốc đã biến thành lý thuyết của chủ nghĩa duy tâm không tưởng, buộc hiện thực phải khuất phục ý chí của con người. 
Đại nhảy vọt đã làm cho hoạt động kinh tế gặp rối loạn đến mức người ta phải từ bỏ chính sách này. Riêng số người chết đủ làm ta kinh hoàng. Sau khi Mao chết, các nhà nhân khẩu học Mỹ mới có điều kiện tiếp xúc với các tài liệu của Trung Quốc và họ khẳng định rằng, ít nhất đã có 30 triệu người chết đói, thế mà lúc đó thế giới không hề hay biết[2]. Nhưng, thất bại không làm Mao nản chí, lòng ham mê làm những việc vĩ đại của ông ta đã trở thành bệnh hoạn. Năm 1966, cảm thấy ngày càng bị cô lập, Mao phát động một chiến dịch mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử, lần này là để chống lại những người lao động trí óc và các quan chức của Đảng mà ông ta sợ là có khả năng đưa Trung Quốc vào con đường phản bội như Liên Xô. Thanh niên thành phố được huy động vào các đội Hồng Vệ binh để tiến hành cái gọi là Đại Cách mạng Văn hoá Vô sản, nhưng đúng hơn phải gọi là cuộc phản cách mạng tai hại về văn hoá. Việc một nhà cầm quyền vừa bị bệnh vĩ cuồng, vừa muốn khuấy động tinh thần cách mạng của dân chúng đã làm ngưng đọng hẳn đời sống văn hoá của quốc gia quả là một sự kiện chưa từng có tiền lệ. Trong suốt mấy năm, Trung Quốc, một trong những nền văn minh lâu đời nhất, đã bị những đội quân man rợ phá hoại, vì chúng được dạy rằng bất cứ thứ gì nằm ngoài sự hiểu biết của chúng đều đáng bị đập tan. Vào lúc cao trào của chiến dịch, các trường học bị đóng cửa, tất cả sách vở, trừ sách giáo khoa và trước tác của Mao, đều bị tịch thu. Nhạc phương Tây cũng bị cấm. Hồng Vệ binh bắt các trí thức, nhiều người bị đấu tố, bị tra tấn, thậm chí bị giết. Hàng ngàn cán bộ Đảng cũng bị hành hạ như thế. Vụ tấn công vào tri thức như thế chỉ chấm dứt sau khi Mao, năm 1976. Hậu quả là cả một thế hệ không chỉ thất học mà còn bị què quặt cả về đạo đức lẫn tâm lý. 

Mặc dù, ở Trung Quốc bất kì người nào dám lên tiếng phê phán Đại nhảy vọt hoặc Đại Cách mạng Văn hoá đều có thể bị bỏ tù, ở phương Tây lại có một số trí thức bày tỏ cảm tình với sự dã man của Mao và cố gắng tìm sự thông thái trong những cuốn sách vô vị của ông ta. 
Đặng Tiểu Bình, người kế nhiệm Mao, đã đặt dấu chấm hết cho những thí nghiệm man rợ đó. Năm 1979, ông ta bắt đầu cuộc cải cách chính trị theo đường lối của thị trường tự do, làm sống lại tinh thần kinh doanh. Kể từ đó, Trung Quốc, về tư tưởng và hình thức cai trị thì vẫn là nhà nước cộng sản, nhưng đã chuyển sang con đường tư hữu hoá, nghĩa là, về thực chất đã từ bỏ một trong những nguyên tắc chủ yếu của chủ nghĩa cộng sản: bãi bỏ tư hữu. 
__________________
Các phong trào và các chế độ cách mạng luôn luôn có xu hướng ngày càng trở thành cấp tiến hơn, ngày càng tàn nhẫn hơn. Chuyện đó diễn ra là do đáng lẽ sau khi gặp một số thất bại các nhà lãnh đạo phải xem xét lại các tiền đề biện hộ cho sự tồn tại của mình thì họ lại tiến hành thực thi các ý tưởng của mình bằng những biện pháp cứng rắn hơn, vì tin rằng nguyên nhân của thất bại là do thiếu kiên quyết. Cuối cùng, sau bao nhiêu cố gắng mà kết quả vẫn chỉ là con số không, chế độ bước vào đoạn mệt mỏi, thế hệ kế tục các cha-già-khai-quốc trở thành những kẻ tự mãn và sẵn sàng hưởng thụ, nhưng chuyện đó chỉ xảy ra sau khi chế độ đã trải qua những hình thức phi nhân nhất. 
Nếu bản chất của chế độ Quốc xã thể hiện rõ nhất trong Holocaust [tàn sát hàng loạt người Do Thái – ND) thì chế độ Khmer Đỏ (1975-1978), hiện thân của chủ nghĩa cộng sản dưới dạng thuần khiết nhất, cho thấy rõ hình hài của nó sau khi đã được đưa đến mức độ hoàn thiện. Các lãnh tụ của nó, trên đường đi đến mục đích của mình là thành lập xã hội công bằng thực sự đầu tiên trên thế giới, đã không dừng lại trước bất cứ trở lực nào. Để hoàn tất nhiệm vụ này, họ sẵn sàng giết người, nếu cần thì bao nhiêu người cũng giết. Đấy là biểu hiện của tính kiêu ngạo vốn là bản chất của hệ tư tưởng cộng sản, biểu hiện của niềm tin vào sức mạnh vô địch của nhóm tinh hoa trí thức đi theo chủ nghĩa Marx và không chấp nhận bất cứ giới hạn nào trong việc sử dụng vũ lực để cải tạo xã hội. Kết quả là sự tàn phá không thể nào tưởng tượng nổi. 
Các lãnh tụ Khmer Đỏ từng du học ở Paris, từng làm quen với quan niệm của Rousseau về “con người tự nhiên”, cũng như của Frantz Fanon và Jean-Paul Sartre về sử dụng bạo lực trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân (“Cần phải giết”, Sartre viết. “Lật đổ thằng Tây nghĩa là kết liễu cùng một lúc cả kẻ áp bức lẫn người bị áp bức”.) Sau khi trở về vùng núi Đông Bắc Campuchia, họ đã lập ra các đơn vị vũ trang gắn bó với nhau bằng kỉ luật sắt, binh lính phần lớn là thanh thiếu niên mù chữ hoặc gần như mù chữ, là con cái các gia đình nông dân nghèo khổ nhất. Binh lính, thường từ mười hai đến mười bốn tuổi, bị nhồi sọ liên tục lòng thù hận đối với tất cả những người không giống họ, nhất là với người thành thị và người thiểu số gốc Việt. Để giáo dục “cái thú sát sinh và chiến tranh” người ta đã cho chúng làm quen dần, giống như binh lính SS, bằng cách bắt phải hành hạ và giết các con vật. 
Đầu năm 1975 là thời kì hoàng kim của họ, đấy là lúc Khmer Đỏ lật đổ được chế độ Lon Nol do Mỹ dựng lên và chiếm được thủ đô Phnom Pênh. Đa số dân chúng không có khái niệm gì về tương lai đang chờ đợi mình, vì Khmer Đỏ vẫn tuyên truyền rằng sẽ tha cho tất cả những người từng phục vụ chế độ cũ và sẽ đoàn kết tất cả các giai cấp để chống lại “bọn đế quốc” và địa chủ. Nhưng vừa chiếm được Phnom Penh, quân Khmer Đỏ lập tức thực hiện chiến dịch đàn áp dự dội nhất. Coi thành phố là sào huyệt của mọi thứ tội lỗi – “Thành phố là hắc điếm của bọn phản bội và lừa đảo”, Fanon đã nói như thế - Khmer Đỏ hạ lệnh cho tất cả mọi người (2,5 triệu dân) phải rời khỏi thủ đô và các trung tâm đô thị khác. Người tản cư, về các vùng nông thôn, chỉ được mang theo những gì họ có thể vác trên vai. Sau một tuần, tất cả các thành phố Campuchia đều đã trở thành chỗ không người. Bốn triệu người, tức là 60% dân số, lâm vào cảnh lưu đầy, phải sống trong những điều kiện cực kì khó khăn, lao động nặng nhọc và đói khát. Tất cả các trường trung học và đại học đều đóng cửa. 
Tiếp đó là những vụ thảm sát. Dù khâm phục và học tập Mao trong nhiều lĩnh vực, nhưng Pol Pot không để mất thì giờ cho việc “cải tạo”, mà lập tức tiến hành thủ tiêu những người mà ông ta cho là kẻ thù thực sự hay kẻ thù tiềm năng của chế độ mới: tất cả các công chức và quân nhân của chế độ cũ, các điền chủ, giáo viên, nhà buôn, tu sĩ Phật giáo và ngay cả công nhân có tay nghề. Những người thuộc các thành phần như thế bị coi là công dân loại hai và bị tước hết mọi quyền lợi, kể cả quyền được phát lương thực; họ bị mang đi hành quyết hoặc phải lao động khổ sai và chết vì kiệt sức. Số nạn nhân có thể chiếm đến hơn hai phần ba dân số cả nước. Họ thường xuyên bị bắt, bị hỏi cung và tra tấn cho đến khi phải vu cáo những người khác rồi bị giết. Có những trường hợp toàn bộ gia đình, kể cả trẻ em, cùng bị hành quyết vì Pol Pot cho rằng tư tưởng đối địch và tình cảm lạc hậu là do địa vị xã hội, học vấn hoặc nghề nghiệp của người ta mà ra, đấy là “các loại vi trùng độc hại” sẽ gây ra bệnh dịch. Đảng viên bị nghi là có khả năng nhiễm bệnh cũng bị thủ tiêu. Quân Việt Nam sau khi đánh đuổi được Khmer Đỏ đã phát hiện được hàng núi đầu lâu của các nạn nhân. 
Nông dân cũng không được yên thân, họ bị dồn vào các “hợp tác xã”, được xây dựng theo mô hình Trung Quốc. Nhà nước tịch thu tất cả lương thực thực phẩm do các công xã làm ra, rồi chất vào kho, như thời các Pharaoh Ai Cập, và phân phối lại theo ý mình. Trật tự truyền thống ở làng quê bị phá vỡ, lương thực thiếu hụt, nạn đói xảy ra trên diện rộng sau các vụ hạn hán vào năm 1978-1979. 
Số người bị giết ngày một nhiều thêm. Người ta bị giết chỉ vì đi làm muộn, vì phàn nàn về khẩu phần ăn, vì phê phán chính phủ hay quan hệ nam nữ trước hôn nhân. Sự dã man có thể so sánh với tội ác của Quốc xã. Ở biên giới với Việt Nam: 
Lính Khmer Đỏ có thể bắt phụ nữ Việt Nam, hiếp rồi sau đó tống nòng súng hay báng súng vào cửa mình họ. Chúng rạch bụng phụ nữ có chửa, lôi con ra rồi dùng nó để đập vào mặt người phụ nữ đang hấp hối. Bọn thanh niên còn tìm thú vui bằng cách cắt vú những phụ nữ Việt Nam có thân hình đồ sộ[3]
Có tin nói rằng có những trường hợp chúng bắt trẻ con giết chính cha mẹ mình. 
Số người bị giết làm người ta hoảng sợ. Theo các số liệu có thể tin cậy được, dân số Campuchia trước khi quân Khmer Đỏ chiếm được chính quyền là 7,5 triệu người, đến khi Việt Nam đánh đuổi được Khmer Đỏ, cuối năm 1978, dân số nước này đã giảm xuống chỉ còn 5,8 triệu người. Nếu để phát triển tự nhiên, sau bốn năm số dân đáng lẽ phải là hơn 8 triệu[4]. Nói cách khác, chế độ Pol Pot đã làm thiệt mạng khoảng 2 triệu người, tức là hơn một phần tư dân số cả nước. Nạn nhân chủ yếu là những thành phần có học và có tay nghề cao. Cuộc thí nghiệm đen tối này được gọi là “tai hoạ gần như vô tiền khoáng hậu của nhân loại, nó có thể xảy ra là vì các lý thuyết gia đã áp đặt kế hoạch khổng lồ của mình cho dân tộc Khmer”[5]*. 
* Một số trí thức phương Tây không muốn lên án cộng sản vì vụ tàn sát chưa từng có này, mà lại đổ cho người Mỹ. Trong giai đoạn 1969– 1973, Mỹ đã ném bom Campuchia nhằm tiêu diệt lực lượng Việt Cộng đang đóng ở nước này. Nhưng thật khó hiểu vì sao lóng hận thù Mỹ lại dẫn đến vụ tàn sát hai triệu người của chính dân tộc mình.
Cần phải nói rằng trên khắp thế giới đã không có một cuộc biểu tình phản đối nào và Liên Hợp Quốc cũng không đưa ra nghị quyết lên án nào. Thế giới đã tỏ ra bình thản vì người ta cho rằng các tội ác đó được thực hiện nhân danh những mục đích cao cả. 
_____________
Chế độ theo đường lối Marxist của Salvador Allende ở Chile trong những năm 1970-1973 là một trường hợp đặc biệt, tức là người ta định thực hiện một cuộc cách mạng cộng sản trong một nước dân chủ và bằng những biện pháp dân chủ. 
Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo nắm quyền ở Chile trong suốt những năm 1960, lãnh tụ của họ, Eduardo Frei Montalva, đã thực hiện chính sách cấp tiến trong cả lĩnh vực kinh tế lẫn xã hội. Cụ thể, Frei đã tiến hành cải cách ruộng đất, trưng mua ruộng của các điền chủ lớn. Frei cũng quốc hữu hoá phần lớn ngành công nghiệp khai thác mỏ. Các biện pháp này đã dẫn đến kết quả là xã hội bị chia rẽ, phái hữu cho rằng các biện pháp đã đi quá xa trong khi phái tả lại cho rằng chưa đủ. Chính phủ Frei còn bị nạn lạm phát làm mất lòng dân thêm, trước cuộc bầu cử diễn ra vào năm 1970, lạm phát đã là 37%. 
Trong cuộc bầu cử năm đó, ba ứng viên Tổng thống nhận được số phiều gần như bằng nhau. Bác sĩ Salvador Allende, người theo quan điểm Marxist, đại diện cho Đảng Thống nhất Dân tộc, Liên minh Cộng sản và Xã hội chủ nghĩa nhận được nhiều phiếu nhất (36,3%). Người thứ hai, ứng viên bảo thủ, nhận được 34,9% phiếu bầu. Vì không ứng viên nào giành được đa số nên vấn đề được đưa ra giải quyết tại Quốc hội. Trong hai tháng sau đó, Allende đã kí thoả thuận với Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo để đảng này ủng hộ ông với điều kiện là ông chấp nhận tuân thủ Hiến pháp Chile, trong đó có việc tôn trọng pháp luật và bảo đảm đa nguyên chính trị. Sau khi đưa điều đó vào Luật về việc bảo vệ Hiến pháp, Quốc hội Chile đồng ý để Allende giữ chức Tổng thống.
Như vậy là khởi kì thuỷ “con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội” do Allende lựa chọn đã có những rào chắn, cản trở việc thực hiện các cải cách cấp tiến của những người xã hội chủ nghĩa và cộng sản đã bầu cho ông ta. Tuy là người hâm mộ Fidel Castro, nhưng dường như Allende chỉ là một người mộng mơ lý tưởng chứ không phải là một nhà cách mạng cuồng tín. Trong khi đó, những người giáo điều ủng hộ ông ta quyết tâm thiết lập “chuyên chính vô sản” theo mô hình Liên Xô lại cứ cố đẩy ông sang phía tả, mỗi khi ông gặp thất bại, làm cho ông càng ngày càng trở thành cấp tiến hơn. Allende cho rằng có thể đạt được các mục tiêu xã hội chủ nghĩa bằng những biện pháp hòa bình, với điều kiện là những cuộc cải cách đang được tiến hành sẽ càng ngày càng được nhiều người ủng hộ hơn. Đảng Cộng sản ủng hộ chiến lược này, vì họ tin rằng ở Chile, họ có thể đạt được mục tiêu bằng con đường hoà bình. Nhưng điều đó đã không xảy ra, một phần vì các đạo luật xã hội chủ nghĩa do Allende ban hành đã làm cho đa số dân chúng càng ngày càng xa lánh ông, phần khác, là vì các đạo luật đó đã làm cho nền kinh tế suy sụp hoàn toàn. 
Trong “Chính phủ thống nhất dân tộc”, Allende giao cho những người cộng sản lãnh đạo các bộ kinh tế, những người này lập tức tiến hành quốc hữu hoá những gì còn sót lại trong ngành khai khoáng, hệ thống ngân hàng và phần lớn ngành công nghiệp chế biến. Các biện pháp này đều được thực hiện trên cơ sở những chỉ thị nhằm tránh né cơ quan lập pháp. Việc tịch thu tài sản các mỏ đồng của công ty Anaconda & Kennecott đã chặn đứng việc đầu tư của các công ty ngoại quốc. Liên Xô lập tức ra tay nghĩa hiệp, bằng cách cung cấp cho Allende một khoản vay lên đến nửa tỷ USD. Một số nước khác cũng đề nghị giúp đỡ, nhưng vẫn không cứu được nền tài chính đã tan hoang của Chile. Để có tiền trang trải cho các khoản chi tiêu khác nhau, trong đó có việc nâng lương, chính phủ đành phải quay về với máy in tiền, dưới thời Frei lạm phát chưa bao giờ đạt mức độ như thế: số tiền mới được tung ra trong ba năm cầm quyền của Allende đã tăng lên đến mười lăm lần, còn lạm phát tăng lên đến 300% chỉ trong một năm. 
Cùng với quá trình quốc hữu hoá các xí nghiệp công nghiệp, chính phủ còn tiến hành tập thể hoá trong lĩnh vực nông nghiệp. Để thực hiện mục tiêu này, chính phủ đã tỏ ra dễ dãi trước các vụ chiếm đất, thậm chí còn khuyến khích những việc như thế. Kết quả, sản xuất lương thực giảm sút nghiêm trọng, sản lượng lúa mì giảm một nửa. Thiếu hụt lương thực trở thành trầm trọng: trước ngày chính phủ Allende sụp đổ, dự trữ bột mì của cả nước chỉ còn đủ dùng trong bốn ngày. 
Các cuộc biểu tình phản đối ngày một nhiều hơn. Mạnh mẽ nhất là các chủ nhân xe tải, đây là các chủ doanh nghiệp nhỏ phản đối kế hoạch của chính phủ đưa công ty vận tải quốc doanh ra cạnh tranh với họ. Hai cuộc đình công với 700 ngàn người tham gia đã làm ngưng trệ hoàn toàn hệ thống giao thông, rất nhiều ngành kinh tế vì thế cũng không thể hoạt động được. Trong các nước cộng sản chính cống, những hành động như thế sẽ bị coi là âm mưu phản cách mạng, theo chỉ đạo của CIA và bị đàn áp. Nhưng Chile dưới quyền Allende, dù chính phủ kiểm soát đài phát thanh và phần lớn báo chí, tự do ngôn luận vẫn còn mạnh, đàn áp có thể dẫn đến bạo loạn trong toàn quốc. Các đảng đối lập vẫn hoạt động và tiếp tục chỉ trích chính phủ. Điều quan trọng là quốc hội và toà án tối cao vẫn hoạt động.
Tháng 8 năm 1973, Hạ viện thông qua nghị quyết kết luận rằng Allende vi hiến, bằng cách tự ý giành quyền lập pháp, coi thường pháp luật và gây cản trở tự do ngôn luận với 81 phiếu thuận và 45 phiếu chống. Toà án tối cao cũng ra phán quyết lên án Allende vì đã buộc các cơ quan tư pháp phục vụ mục đích chính trị. Vì trong Hiến pháp Chile không có điều khoản luận tội và cách chức Tổng thống (Impeachment) nên Hạ viện đã đề nghị quân đội khôi phục luật pháp quốc gia. Mười tám ngày sau, quân đội, đứng đầu là tướng Augusto Pinochet, đã dùng vũ lực lật đổ Allende*. Nền độc tài được thành lập sau đó đã thực hiện những vụ khủng bố dã man nhắm vào những người xã hội chủ nghĩa và cộng sản thua cuộc. 
* Trái với tin đồn vẫn thịnh hành, CIA không có vai trò gì trong việc hạ bệ Allende. Chính phủ Hoa Kì và các công ty tư nhân đã tìm cách giúp đỡ những lực lượng phi cộng sản trong cuộc bầu cử năm 1970 bằng cách giúp đỡ về tài chính, để cân bằng với những khoản việc trợ của Liên Xô và Cuba cho Allende. Sau này Washington cũng trợ giúp tài chính cho báo chí chí độc lập với chính phủ, nhưng tiếp xúc với các quân nhân lật đổ Allende thì không. Đây hoàn toàn là công việc nội bộ của Chile. Xem thêm James R. Whelan, Out of the Ashes (tạm dịch: Thoát khỏi đống tro tàn), Washington, DC, 1989, р. р. 1027–1048.
__________________
Cuba là nhà nước cộng sản đầu tiên và duy nhất đứng vững được ở châu Mỹ Latin, đây là trường hợp điển hình về nền độc tài cá nhân của một chính khách có tính háo danh vô bờ bến, người đã dùng tư tưởng cộng sản để biện hộ cho tính háo danh của mình. “Về mặt lịch sử… chủ nghĩa Castro là lãnh tụ đi tìm cho mình một phong trào, phong trào đòi quyền lực và quyền lực đang tìm hệ tư tưởng riêng của mình[6]
Trái với các quan niệm vẫn thịnh hành, Cuba thời tiền cộng sản không phải là nước lạc hậu cũng chẳng phải là nước chủ yếu sống bằng nông nghiệp. Mức sống của người dân đứng thứ hai ở châu Mỹ Latin (chỉ sau Venezuela có trữ lượng dầu mỏ lớn); dân chúng đa số đều biết đọc biết viết và sống ở thành phố*. Nói rằng nền kinh tế Cuba dựa vào đường là cũng không đúng: đường, trên thực tế, là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu nhưng chỉ chiếm một phần ba, thậm chí ít hơn một phần ba, thu nhập quốc dân. Nói cách khác, Cuba không phải là nước nghèo nàn và lạc hậu, những thứ vốn được coi là tiền đề cho cách mạng cộng sản. 
* Sự phát triển của các sự kiện ở Chile và Cuba dường như trái ngược với những điều đã được trình bày ở đầu chương này, tức là cộng sản thường thành công ở những nước không có chế độ tư hữu và chưa biết tới dân chủ. Nhưng ở hai nước này, cộng sản giành được quyền lực không phải bằng cách mạng xã hội. Ở Chile, họ đã thiết lập được chính phủ bằng con đường hòa bình, trên cơ sở thỏa thuận với đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, và họ đã lập tức vi phạm thỏa thuận này. Ở Cuab, như sẽ được chỉ ra sau đây, họ giành được quyền lực vì đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của toàn dân, chống lại nhà độc tài bị nhân dân căm thù nhằm phục hồi chế độ dân chủ.
Cộng sản chiếm được Cuba là do các cuộc khởi nghĩa do giai cấp trung lưu nổi lên chống lại chế độ độc tài của F. Batista, vì năm 1952 ông ta đã bãi bỏ hiến pháp do chính ông ta công bố trong giai đoạn cầm quyền hợp pháp trước đó (1933-1944). Fidel Castro là con một điền chủ giầu có, sinh viên đại học luật La Habana, đã giành được quyền lực trong làn sóng phản đối đó. Là người có tư tuởng tả khuynh, nhưng phải nói rằng ông ta không phải là cộng sản: hơn thế nữa, ông ta chẳng có có tư tưởng gì, ông ta chỉ là kẻ đam mê quyền lực mà thôi. Chủ nghĩa Marx-Lenin là do Che Guevara, nhà cách mạng người Argentina, nhồi nhét cho ông ta. Cương lĩnh của Castro nhắm đến sự đoàn kết tất cả các giai cấp xung quanh ông ta, nhấn mạnh, trước hết, nhu cầu phục hồi hiến pháp 1940. 
Nhưng, ngay sau khi giành được quyền lực độc tài, vốn là kết quả của cuộc cách mạng toàn dân, Castro lập tức “ngả” sang phía tả. Ông ta thiết lập chính phủ độc đảng, rồi thực hiện cải cách ruộng đất mang tính cấp tiến và sau khi được Liên Xô khuyến khích, ông ta đã tiến hành quốc hữu hoá tất cả tài sản các công ty Mỹ trên đất Cuba, Tổng thống Eisenhower đáp trả bằng biện pháp cấm vận thương mại. Cấm vận càng làm cho Cuba lệ thuộc vào Liên Xô hơn. Ban đầu, tuy ủng hộ Castro, nhưng Moskva vẫn tỏ ra thận trọng và dè chừng trước phản ứng của Mỹ, nhưng rồi đã bị lôi kéo vào đường lối của Cuba, nhất là sau khi Castro tuyên bố,  Cuba là “nước xã hội chủ nghĩa”. Thất bại của vụ xâm nhập Vịnh Con Lợn do Mỹ tổ chức (tháng 4 năm 1961), rồi vụ khủng hoảng trên vùng biển Caribê (tháng 10 năm 1962) đã dẫn đến kết quả là Washington buộc phải tôn trọng chủ quyền của Cuba và hòn đảo này trở thành một phần của khối Xô Viết. Trong thời gian diễn ra khủng hoảng, Fidel từng yêu cầu Liên Xô tấn công phủ đầu Mỹ bằng vũ khí nguyên tử, nhân danh chiến thắng của sự nghiệp “xã hội chủ nghĩa”[7] trên toàn thế giới - ông ta sẵn sàng hy sinh đất nước Cuba. Moskva trở thành chỗ dựa kinh tế chủ yếu của Cuba, Liên Xô mua phần lớn số đường do Cuba sản xuất với giá cao hơn thị trường thế giới, và cung cấp cho nước này dầu lửa và rất nhiều loại hàng hoá công nghiệp khác, cũng như các khoản vay khá hào phóng. Theo các số liệu do Raul Castro, em trai Fidel, cung cấp, thì trước khi sụp đổ, Liên Xô đã viện trợ không hoàn lại cho Cuba thiết bị quân sự trị giá 10 tỷ USD. Về kinh tế, Cuba gần như phụ thuộc hoàn toàn vào Liên Xô. 
Đổi lại, Castro ủng hộ mọi hành động của Liên Xô trên trường quốc tế, từ vụ can thiệp vào Tiệp Khắc cho đến vụ xâm lược Afghanistan; ông ta cũng để cho Moskva đặt các trạm tình báo chuyên nghe trộm và lãnh trách nhiệm truyền bá chủ nghĩa cộng sản vào Trung và Nam Mỹ. Tại đại hội thành lập ở La Habana năm 1967, Tổ chức đoàn kết Mỹ Latin (OLAS) ra lời kêu gọi tiến hành chiến tranh du kích tại tất cả các nước Mỹ Latin. 
Ở trong nuớc, Fidel áp dụng chế độ theo đúng mô hình Liên Xô. Trong vòng mười năm sau khi ông ta cầm quyền, tất cả các lĩnh vực kinh tế, trừ ngành nông nghiệp, đều bị quốc hữu hoá, chỉ một phần ba ngành nông nghiệp còn nằm trong tay các điền chủ nhỏ và trung bình. Đảng nắm độc quyền cai trị đất nước. 
Công nhân bị buộc phải tham gia các tổ chức công đoàn do nhà nước quản lý, công nhân bị tước quyền thành lập các tổ chức độc lập, không được quyền đàm phán với người sử dụng lao động và không được quyền đình công. Có một số thành tựu đáng kể trong lĩnh vực xã hội, như giáo dục, y tế và nhà ở, nhưng chủ yếu là do tài sản tích cóp được trong thời tiền cộng sản. Bất đồng ý kiến được giải quyết theo hai cách: cho xuất ngoại phần lớn tầng lớp trung lưu và tổ chức các toà án cách mạng, cũng như các trại “cải tạo lao động” theo mô hình Liên Xô. 
Mặc dù thần thánh hoá lãnh tụ là việc “thường ngày” của cộng sản, nhưng phần lớn các lãnh tụ cộng sản, giống như thánh thần, lại không thích xuất đầu lộ diện. Nhưng đấy không phải là trường hợp của Castro: ông ta hiện diện khắp nơi, buộc quần chúng phải nghe ông ta thuyết phục, động viên, đe doạ nhiều giờ đồng hồ liền. Lời lẽ khoa trương của ông ta thường nhấn mạnh xu hướng bài Mỹ, ông ta coi Mỹ là cội nguồn của cái ác và là nguồn gốc của tất cả những khó khăn của Cuba. 
Mức sống của dân chúng liên tục giảm, một phần là do sự phản đối một cách thụ động của công nhân và nông dân, một phần là do những người năng động và có học đã di cư sang Mỹ. Chế độ hoàn toàn phụ thuộc vào sự giúp đỡ của Liên Xô. 
Những tưởng như với tình hình như thế, sau khi Liên Xô tan rã và chính phủ Yeltsin từ chối giúp đỡ thì chế độ của Castro chắc chắn sẽ cáo chung. Nhưng, hoá ra ông ta đã vượt qua được. Để có thể sống còn, ông ta buộc phải nhượng bộ các nhà tư sản nước ngoài, buộc phải tạo cho họ một số điều kiện đầu tư nhất định. Đồng USD được tự do lưu chuyển. Chế độ đã phải tìm mọi cách để phát triển ngành du lịch, chế độ không những tìm mọi cách quảng bá các bãi biển và khu nghỉ dưỡng giá rẻ mà còn quảng bá cả sắc đẹp và sự dễ dãi của các cô gái Cuba nữa. Năm 1992, trong bài phát biểu trước Quốc hội, Castro còn ca ngợi cả tính ưu việt của gái điếm địa phương, ông ta tuyên bố rằng Cuba là nước có tỉ lệ người mắc bệnh AIDS thấp nhất thế giới. Nhờ những chiến dịch như thế, năm 1999 đã có 1,7 triệu du khách tới Cuba, làm cho nước này trở thành “một trong những địa chỉ nổi tiếng nhất cho các sex-tour, chẳng khác gì Thái Lan”[8]
__________________
Nếu trong những giai đoạn đầu, người ta còn thấy ở Mao, thậm chí ở cả Pol Pot, một vài lý tưởng xã hội chủ nghĩa nào đó, thì ở các phần khác của Thế giới Thứ ba, đặc biệt là ở châu Phi lòng đam mê lý tưởng hoàn toàn vắng bóng. Các chính khách háo danh ở đây chỉ có những hiểu biết tối thiểu về chủ nghĩa cộng sản và lịch sử của phong trào này, họ viện đến Marx và Lenin nhằm hai mục tiêu: làm giàu cá nhân và nhận viện trợ của khối cộng sản trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù cả bên trong lẫn bên ngoài. 
Mengistu Haile Mariam của Ethiopia, kẻ, trong giai đoạn từ 1974 đến 1991 đã biến nước mình thành tay sai của Liên Xô, là thí dụ điển hình của lối hành xử bịp bợm đó. Vốn là thành viên của một nhóm sĩ quan quân đội bất mãn vì con đường hoạn lộ, tháng 9 năm 1974, thiếu tá Mengistu tham gia vào một cuộc bạo loạn lật đổ quốc vương Haile Selassie. Chính quyền rơi vào tay uỷ ban gọi là Derg, Mengistu là một nhân vật quan trọng của uỷ ban này. Chẳng bao lâu sau, xung đột bùng lên ngay trong nội bộ Derg, ba tháng sau, Mengistu tiến hành đảo chính quân sự và giành được quyền lực. Ông ta tuyên bố Ethiopia là nước xã hội chủ nghĩa và ngay lập tức tiến hành quốc hữu hoá các ngân hàng và các công ty bảo hiểm. Tháng 3 năm 1975, ông ta huỷ bỏ quyền tư hữu ruộng đất và buộc nông dân phải ra nhập các công xã được xây dựng theo mô hình của Mao. 
Năm 1976, Mengistu khởi sự cuộc “khủng bố đỏ”: rất nhiều nạn nhân, hàng ngàn người, vốn là sinh viên theo trường phái Marxist. Khoảng mười ngàn nhân viên các cơ quan đặc vụ của Liên Xô và Đông Đức được gửi tới để giúp tiến hành chiến dịch giết người này. Trước đó, Liên Xô, bằng cách ủng hộ chế độ “chủ nghĩa xã hội khoa học” do tập đoàn quân phiệt dựng lên ờ Somalia, đã chiếm được tiền đồn ở vùng Sừng châu Phi, nay bỏ rơi nước này để chuyển sang ủng hộ Ethiopia. Năm 1977, khi quân Somalia xâm nhập Ethiopia nhằm chiếm vùng Agadena, khối cộng sản đã dành cho nước này một sự giúp đỡ to lớn, trong đó có việc gửi tới đây gần 15 ngàn lính đánh thuê Cuba. Nhờ sự trợ giúp quân sự đó mà khối cộng sản giành được ảnh hưởng đáng kể ở Ethiopia. Sự giúp đỡ của khối cộng sản đóng vai trò quyết định trong việc giáng trả cuộc xâm lược của Somalia, cũng như đàn áp phong trào giải phóng dân tộc ở Eritrea. 
Nền kinh tế vốn đã suy sụp do chính sách tập thể hoá cưỡng bức, lại còn bị những trận hạn hán liên tiếp hoành hành, kết quả: trong các năm 1984-1985 đã xảy ra nạn đói với gần một triệu người thiệt mạng. Địa vị của Mengistu lung lay ngay sau khi Đông Đức sụp đổ vào năm 1989; năm 1991, sau khi Liên Xô tan rã ông ta rơi vào tình trạng cô lập hoàn toàn. Bị lật đổ ngay trong năm 1991, ông ta phải chạy sang tị nạn ở nước Zimbabwe. Thế là chấm dứt câu chuyện về “thí nghiệm Marxist-Leninist thành công nhất ở châu Phi”[9]
Ngoài chế độc tài quân sự tàn nhẫn bắt chước Liên Xô và Trung Quốc, nhưng được cải biến cho phù hợp với nhu cầu chính trị, thật khó tìm thấy bất cứ dấu hiệu gì của cái gọi là chủ nghĩa xã hội trong cái nước mệnh danh là “xã hội chủ nghĩa này”. 
_____________
Trong những năm 1970 và 1980, trong Thế giới Thứ ba cũng như ở châu Âu và Nhật Bản đã xuất hiện các phong trào khủng bố, tấn công vào các thiết chế dân chủ và chủ nghĩa tư bản, nhân danh chủ nghĩa Marx-Lenin, Stalin hay Mao, mặc dù trên thực tế, các phong trào này có nhiều điểm chung với chủ nghĩa vô chính phủ hơn. 
Điển hình là Đảng Cộng sản Peru, thường được biết đến với tên “Con Đường Sáng”, do Abimael Guzmán Reynoso, một cựu giáo sư triết học thành lập, có nhiều trí thức trẻ tham gia. Đảng này chuyên kích động sự bất bình của người da đỏ và dùng khủng bố như là biện pháp thực hiện cương lĩnh Maoist của mình. Các vụ khủng bố do Đảng này thực hiện đã làm 25 ngàn người thiệt mạng và gây ra nhiều thiệt hại cho nền kinh tế Peru. Năm 1992, Guzmán bị bắt, phong trào hoàn toàn tan rã. 
Trong một loạt nước châu Mỹ Latin khác, ví dụ như Columbia, “chủ nghĩa Marx” đã và vẫn là bình phong che đậy cho các băng đảng vũ trang (gọi là Lực lượng Vũ trang Cách mạng và Quân đội Giải phóng Quốc gia) chuyên khủng bố, bắt cóc, tống tiền và buôn lậu ma tuý. Theo các tài liệu hiện có, từ năm 1964 đến nay, hai tổ chức này đã làm 120 ngàn người Columbia thiệt mạng và 2 triệu người khác phải rời bỏ nhà cửa. 
_________________
Có thể thấy sự tương đồng đáng kinh ngạc giữa những nước cộng sản không chỉ trong cách thức thành lập chế độ mà cả trong những hậu quả do các chế độ ấy gây ra. Mức sống suy giảm đáng kể kéo theo nạn đói, hạn hán dường như cũng có một mối liên hệ siêu nhiên nào đó với các chế độ cộng sản. Việc bãi bỏ quyền tự do và quyền công dân nhân danh công bằng, bao giờ cũng kéo theo sự xuất hiện một lãnh tụ tối cao, gọi là đại nguyên soái hay leader maximo, tập trung trong tay tất cả quyền lực mà ông ta đã tước đoạt của các thần dân và được các thần dân coi là thánh sống. Cái thành quả như thế rõ ràng là trái ngược hẳn với quan điểm của chủ nghĩa Marx, theo đó, chủ nghĩa cộng sản là kết quả hoạt động của các lực lượng kinh tế phi cá tính và là tác nhân vun đắp một nền tự do vô bờ bến cho tất cả mọi người. 


[1] Quotation from Chairman Mao Tse-tung (Trước tác của Chủ tịch Mao Trạch Đông) trang 19-20 
[2] Jasper Becker, Hungry Ghost: China’s Secret Famine (Ma đói: Nạn đói bí mật của Trung Quốc), London, 1996, trang XI
[3] Kenneth M. Quinn trong Jackson, Cambodia, trang 238
[4] Jackson, Cambodia, trang 3 và 150
[5] Charles M. Twininng trong Jackson, Cambodia, trang 110
[6] Draper, Castroism (Chủ nghĩa Castro), trang 48-49
[7] Sergei Khrushchev, Nikita Khrushchev (University Park, Pa., 2000), trang 627
[8] Silvana Paternostro in The New Republic (Cộng hòa mới), July 10-17, 2000, trang 20
[9] Peter Woodward, The Horn of Africa (Vùng sừng châu Phi), London and New York, 1996 trang, 99