October 20, 2020

Thuật ngữ chính trị (77)

 


247. G8 – Các nước nhóm G8. G8 (viết tắt tiếng Anh: Group of Eight) là nhóm 8 quốc gia có nền công nghiệp hàng đầu trên thế giới: (Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh, Hoa Kỳ (G6, 1975), Canada (G7, 1976)) và Nga (gia nhập từ năm 1998 nhưng đến năm 2014 thì bị loại khỏi G8). Năm 2012 các nước G8 chiếm tới 50,1% GDP toàn cầu. Điểm nhấn của G8 là hội nghị thượng đỉnh về kinh tế và chính trị được tổ chức hàng năm với sự tham dự của những người đứng đầu nhà nước và các quan chức quốc tế. Việc tước tư cách thành viên G8 của Nga là đòn đáp trả từ các nước phương Tây, sau khi Nga sáp nhập bán đảo Krym ở miền Nam của Ukraina. Từ đó G8 chỉ có 7 nguyên thủ quốc gia tham gia các hội nghị thượng đỉnh.

G8 xuất phát cuộc khủng hoảng dầu hoả 1973 và suy thoái trên toàn thế giới tiếp theo cuộc khủng hoảng này. Hoa Kì sau đó đã thành lập Nhóm Thư viện (Library Group) quy tụ các quan chức tài chính cấp cao của Hoa Kì, châu Âu và Nhật Bản nhằm thảo luận các vấn đề kinh tế. Năm 1975, Tổng thống Pháp Valéry Giscard d'Estaing mời nguyên thủ của 6 nước công nghiệp hàng đầu tham dự hội nghị thượng đỉnh đầu tiên tại Rambouillet và đề xuất tổ chức hội nghị thưởng đỉnh hàng năm. Những người tham dự đồng ý tổ chức họp mặt hàng năm theo chế độ chủ tịch luân phiên, hình thành nên nhóm G6 bao gồm Pháp, Tây Đức, Ý, Nhật, Anh, Hoa Kì. Hội nghị thượng đỉnh kế tiếp tại Puerto Rico, G6 trở thành G7 với sự tham gia của Canada theo yêu cầu của Tổng thống Hoa Kì Gerald Ford.

Sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, năm 1991, Liên Xô và sau đó là Nga bắt đầu gặp nhóm G7 ngay sau khi hội nghị thượng đỉnh chính vừa kết thúc. Từ hội nghị lần thứ 20 tại Naplé, nhóm này trở thành P8 (Political 8), hay gọi không chính thức là “G7 + 1”. Nga được cho phép tham gia đầy đủ hơn kể từ hội nghị lần thứ 24 tại Birmingham, đánh dấu sự hình thành G8. Tuy nhiên Nga không được tham dự hội nghị dành cho các bộ trưởng tài chính vì nước này không phải là cường quốc kinh tế; và “G7” được dùng để chỉ cuộc họp ở cấp bộ trưởng tài chính. Hội nghị thượng đỉnh năm 2002 tại Kananaskis (Canada) thông báo Nga sẽ là chủ nhà cho hội nghị năm 2006, và như vậy hoàn tất quá trình trở thành thành viên đầy đủ của Nga.

Vì cuộc khủng hoảng Krym 2014, các nước G7 đã từ chối không tham dự hội nghị G8 được dự định tổ chức tại Sochi, Nga, vào mùa hè năm 2014. Thay vào đó, họ dự định tổ chức hội nghị ở Brussel mà không mời tổng thống Nga Putin tại Brussel.

G8 không được hỗ trợ bởi một tổ chức xuyên quốc gia, không như Liên Hiệp Quốc hay Ngân hàng Thế giới. Ghế chủ tịch của nhóm được luân phiên hàng năm giữa các nước thành viên, với trách nhiệm chủ tịch tính từ ngày 1 tháng 1. Nước giữ ghế chủ tịch tổ chức một loạt các hội nghị cấp bộ trưởng, từ đó dẫn đến hội nghị thượng đỉnh giữa các nguyên thủ trong 3 ngày vào giữa năm, cũng như việc bảo đảm an ninh cho người tham dự.

Các cuộc họp ở cấp bộ trưởng bàn về các vấn đề sức khoẻ, thi hành luật lệ và lao động, để giải quyết các vấn đề của nhóm, và toàn cầu. Nổi tiếng nhất trong số đó là G7, hiện được dùng để nói về hội nghị của các bộ trưởng tài chính của G8 trừ nước Nga, và các viên chức từ Cộng đồng châu Âu. Tuy nhiên, cũng có một cuộc họp ngắn “G8+5” giữa các bộ trưởng tài chính của G8 và Trung Quốc, México, Ấn Độ, Brasil và Nam Phi.

248. Game Theory – Lý thuyết trò chơi. Lý thuyết trò chơi là nhánh toán học ứng dụng, nghiên cứu các vấn đề về xung đột và sự hợp tác giữa các tác nhân tư lợi và duy lý với mục tiêu là tối đa hóa các kết quả mà họ hi vọng sẽ nhận được. Hai nhà toán học người Áo là von Neumann và Morgenstern đã đặt nền tảng cho nhánh nghiên cứu này trong những năm 1940 và lý thuyết trò chơi đã được áp dụng cho nhiều vấn đề trong khoa học chính trị, lý thuyết chiến lược, và thậm chí cả triết học đạo đức. Ở một mức độ nào đó, nó đã được các nhà hoạch định chiến lược quốc phòng sử dụng và được áp dụng trong kinh tế học. Cốt lõi của tất cả các ứng dụng lý thuyết trò chơi là phân tích tương tác giữa các chiến lược mà các tác nhân, với ý định tối đa hóa phúc lợi của mình, buộc phải thực hiện hoặc có khả năng thực hiện, với những thông tin mà họ nắm được.

Sự tương phản quan trọng nhất là giữa hai kiểu trò chơi cơ bản, tổng kết một cách khéo léo đặc điểm lặp đi lặp lại của chính trị trong đời sống thực, làm cho thuật ngữ này đi vào diễn ngôn chính trị của mọi người. Đây là tương phản giữa trò chơi có tổng bằng không và tổng khác không. Có thể nói, ví dụ, xung đột giữa người sử dụng lao động và công đoàn có tổng bằng không, nếu công ty có thể thu được một khoản lợi nhuận cố định, mà sự hợp tác giữa hai bên không thể làm gia tăng được lợi nhuận; hoặc, có lẽ, xung đột giữa các khoa của trường đại học về tài chính có tổng bằng không nếu các khoa không thể làm bất cứ việc gì để có thể gia tăng ngân sách của nhà trường. Tính chất của trò chơi có tổng bằng không là khoản được của một người chơi (giả định rằng chỉ có hai người chơi) bằng đúng khoản mất của người kia. Phiên bản tổng khác không trong những ví dụ này là tạo điều kiện để có tổng số tiền đem phân chia tăng lên nếu những người chơi hợp tác với nhau – quan hệ tốt giữa người người sử dụng lao động và công đoàn có thể làm cho lợi nhuận gia tăng, hoặc ngân sách của trường đại học có thể gia tăng khi lòng vị tha của các khoa trong trường làm cho Bộ giáo dục cảm động, v.v. Trên thực tế, hầu hết các tình huống chính trị có lẽ không phải là trò chơi với tổng bằng không, nhưng phần lớn đều được các tác nhân “chơi” như thể đấy là cuộc chơi với tổng bằng không.

Kiểm tra khả năng lựa chọn chiến lược của những người chơi độc lập có thể cho thấy tổng bằng không là kết quả có khả năng xảy ra nhất - ở nơi mà các lựa chọn duy lý, mang lại lợi ích tối đa, nếu để cho các tác nhân độc lập với nhau thực hiện thì sẽ tạo kết quả không tối ưu cho cả hai bên! Kết quả này được thể hiện rõ nhất trong trò chơi gọi là Song đề tù nhân: hai kẻ bị tình nghi là tội phạm bị cảnh sát bắt. Cảnh sát không có đủ chứng cớ để kết án, và giam riêng mỗi người một nơi. Cảnh sát gặp từng người và thoả thuận: nếu một người đổ tội mà người kia im lặng, người im lặng sẽ bị phạt 10 năm tù và người đổ tội sẽ được thả tự do. Nếu cả hai đều im lặng, cảnh sát chỉ phạt được mỗi người 6 tháng tù vì một tội nhỏ khác. Nếu cả hai đều đổ tội cho đối phương, mỗi người sẽ bị phạt 2 năm. Họ chọn phương án nào? Các thí nghiệm trong môn tâm lý xã hội xác nhận mang tính thực nghiệm về dự đoán lý thuyết rằng cả hai đều đổ tội cho người kia, chứ không tin tưởng người kia và không khai. Do đó, kết quả do tính toán duy lý tạo ra, dù không ác ý, là cả hai bên đều không nhận được kết quả tối ưu.

Một điểm quan trọng liên quan tới trò chơi song đề tù nhân và có nhiều áp dụng trong lĩnh vực chính trị là kết quả phụ thuộc chủ yếu vào bối cảnh xung quanh. Bối cảnh có thể làm thay đổi ma trận thưởng phạt. Ví dụ, giả sử rằng cả hai bị cáo đều là thành viên của một băng nhóm tội phạm, băng nhóm này sẽ trừng phạt tàn nhẫn những tên chỉ điểm sau khi họ được tha. Trong bối cảnh như thế, dự đoán sẽ thay đổi. Trò chơi càng phức tạp và muốn lập mô hình cho bất kỳ tình huống chính trị quan trọng nào đều đòi hỏi những trò chơi phức tạp hơn hẳn, dự đoán càng bất ngờ hơn, và cũng đáng ngờ hơn. Một trong những kết quả tổng quát là những hành động chính trị quan trọng của chúng ta rất ít phụ thuộc vào những lựa chọn duy lý, hoặc khả năng sử dụng tư duy duy lý là rất hạn chế, ngay cả khi phải giải quyết các vấn đề quan trọng.

 Mặc dù mới trở thành môn học chính thức trong những năm 40 của thế kỉ trước, lý thuyết trò chơi có lịch sử khá lâu dài. Có thể thấy những thành tố của tư duy lý thuyết trò chơi trong các trước tác của Plato, Hobbes, Rousseau…

 

 

October 17, 2020

Thuật ngữ chính trị (76)

 

241. Free trade area – Khu vực thương mại tự do (FTA). Khu vực thương mại tự do là một nhóm các quốc gia, ví dụ, Khu vực tự do thương mại Bắc Mĩ (Canada, Mexico và Hoa Kì) hứa rỡ bỏ tất cả các rào cản đối với hàng hóa của nhau, mặc dù không rỡ bỏ rào cản đối với dịch chuyển tư bản và lao động. Mỗi nước tiếp tục tự quyết định quan hệ thương mại với các nước không phải thành viên của nhóm, cho nên FTA khác với liên minh thuế quan (customs union), vì liên minh thuế quan áp đặt mức thuế nhập khẩu chung cho tất cả các nước thành viên. 

 242. Free vote – Bỏ phiếu tự do. Bỏ phiếu tự do hay bỏ phiếu theo lương tâm là hình thức bỏ phiếu trong cơ quan lập pháp mà các thành viên được phép bỏ phiếu theo lương tâm của mình chứ không phải theo đường lối chính thức do đảng của họ áp đặt. Thường thì, đây là những vấn đề đạo đức, ví dụ, phá thai hoặc hình phạt tử hình.

 243. French Revolution – Cách mạng Pháp. Cách mạng Pháp (tiếng Pháp: Révolution française; 1789–1799) là giai đoạn biến động dữ dội về lịch sử và xã hội ở Pháp và các thuộc địa của nước này, khởi đầu vào năm 1789 và kết thúc vào năm 1799. Các mạng đã lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế; thiết lập chế độ cộng hòa; là tác nhân gây ra giai đoạn bạo lực chính trị kinh hoàng và đỉnh điểm là chế độ độc tài của Napoleon Bonaparte. Napoleon cũng là người đã đưa những nguyên lý của cách mạng tới những khu vực khác ở Tây Âu mà đội quân của ông ta chinh phục được, thậm chí còn đi xa hơn nữa. Được khuyến khích bởi các tư tưởng tự do và cấp tiến, như bình đẳng trước pháp luật, cuộc Cách mạng này góp phần làm cho các chế độ quân chủ chuyên chế sụp đổ và thay thế chúng bằng các chế độ cộng hòa và dân chủ tự do.

 Trước năm 1789, Pháp là nước quân chủ chuyên chế, phong kiến. Tocqueville cho rằng, giới quý tộc không phải đóng thuế, để đổi lại, họ không can thiệp vào chính sách của nhà vua. Tuy nhiên, nhà vua lại bị giới quý tộc kiềm chế, ngay cả Luis XIV (cầm quyền trong giai đoạn 1643-1714) một ông vua chuyên chế nhất trong lịch sử nước Pháp, quan hệ giữa hai bên cũng không thay đổi đáng kể. Vì giới giàu có không phải đóng thuế cho nên thường xuyên xảy ra khủng hoảng tài chính và người ta phải thoát ra bằng cách tăng thuế đánh vào dân chúng còn lại và mua quan bán tước. Vì được ưu tiên ưu đãi về thuế khóa như thế cho nên giới quý tộc Pháp không cần hệ thống đại nghị như nước Anh. Cách mạng Pháp là một trong một loạt những cuộc thay đổi chế độ vào cuối thế kỷ XVII, trong đó có Cách mạng Mĩ (1765-1783), nhưng, mặc dù có chung một số tư tưởng Khai sáng như công bằng xã hội, các vấn đề cơ bản và do đó phản ứng ở những nước này là rất khác nhau.

 Cách mạng Pháp bắt đầu vào năm 1789 và phải 10 năm sau mới kết thúc. Một loạt các cuộc khủng hoảng chính trị và xã hội đã dẫn tới tình trạng này, trong đó phải kể tới: Từ năm 1700 đến 1789, dân số Pháp tăng từ 18 triệu lên 26 triệu người, rất nhiều người thất nghiệp, giá lương thực gia tăng mạnh mẽ vì nhiều năm mất mùa liên tiếp. Nợ công cao vì chi phí cho cuộc Chiến tranh Cách mạng Mĩ, nhà nước phải tăng thuế, chủ yếu đánh vào các tầng lớp nghèo khổ. Trong khi đó, những cố gắng trong những năm 1787 và 1788 của các vị bộ trưởng dưới quyền Luis XVI (cầm quyền trong giai đoạn 1774-1792) nhằm giải quyết khủng hoảng tài chính bằng cách giảm dần những khoản ưu tiên ưu đãi cho giới quý tộc (và tăng lữ) đã làm giới này nổi loạn. Họ đòi nhà vua triệu tập hội nghị Estates General - hội nghị các đẳng cấp, một hình thức quốc hội phong kiến, không có thực quyền, vào tháng 5 năm 1789. Đây là hội nghị đầu tiên kể từ năm 1614. Estates General được chia thành ba viện riêng biệt, là Quý tộc và Tăng lữ và đẳng cấp Thứ ba (Commons), đại diện cho phần lớn dân chúng. Không có viện nào đoàn kết được vì đều bao gồm cả người giàu lẫn người nghèo và có các nhóm lợi ích khác nhau. Tháng 6 năm đó, đẳng cấp Thứ ba tách ra và tự tuyên bố là Quốc hội. Sau khi một số người thuộc hai đẳng cấp kia, đặc biệt là giới tăng lữ liên kết với đẳng cấp Thứ ba thì nhà vua ra lệnh cho họ kết hợp thành một viện duy nhất. Cơ quan này liền tuyên bố là có quyền ban hành hiến pháp mới cho nước Pháp.

 Ngày 14 tháng 7, pháo đài Bastille ở Paris, được sử dụng làm nhà tù, một biểu tượng của chế độ độc đoán bị tấn công và phá hủy. Trên thực tế, mặc dù ngày 14 thánh 7 vẫn được coi là ngày quốc khánh, nhưng nhà tù này lúc đó chỉ có 7 tù nhân và có khả năng là chính chế độ đang cầm quyền đã ra lệnh phá bỏ.

 Ngày 4 tháng 8, chế độ phong kiến ở Pháp bị xóa bỏ. Cuộc cách mạng ngày càng trở nên cực  đoan hơn vì các nhóm khác nhau thay nhau giành được quyền lãnh đạo cách mạng. Tài sản của giới tăng lữ được chuyển vào tay nhà nước, các giáo sĩ bị buộc phải chấp nhận địa vị của các quan chức ngành dân chính.

Cuối cùng, năm 1791 nhà vua tìm cách chạy trốn, nhưng đã bị bắt. Năm 1792 chế độ quân chủ bị xóa sổ, nước Cộng hòa Pháp được tuyên bố thành lập, nhà vua bị đưa ra tòa. Áp dụng lịch mới, bắt đầu từ Năm thứ Nhất, có 10 tháng, được gọi theo tên các mùa. Vua Louis XVI bị hành quyết vào tháng 1 năm 1793 và Robespiere, lãnh đạo câu lạc bộ Jacobin, trở thành lãnh đạo Ủy ban An toàn Công cộng (Committee of Public Safety), từ đó, ông ta và những người theo mình đã tiến hành chiến dịch Khủng bố, hành quyết hàng ngàn người bị nghi là chống lại Cách mạng. Một năm sau, Robespiere bị lật đổ và cũng bị đưa lên đoạn đầu đài. Nhiều kế hoạch cải tổ chính quyền đã được đep ra áp dụng, nhưng tất cả đều không kéo dài được lâu. Cuối cùng, năm 1799, Napoleon đảo chính và năm 1804 được bầu làm hoàng đế.

Mặc dù, Cách mạng là do giới được hưởng đặc quyền đặc lợi phát động, nhưng các tầng lớp trung lưu đã nhanh chóng nắm được quyền kiểm soát, rồi chuyển vào tay những người gọi là san-sculottes, tức là những người dân thường thuộc tầng lớp thấp hơn, phần lớn trong số họ đã trở thành những người theo đảng phái cực đoan và chủ chiến. Robespiere và phái Jacobin đã thắng phái Girondins và giành được quyền lực là do họ chấp nhận đòi hỏi của san-sculottes về việc kiểm soát nghiêm ngặt giá lương thực, thực phẩm, đặc biệt là giá lúa mì. Phái Jacobin không thể thực hiện được toàn bộ chính sách đã đề ra là nguyên nhân để những người san-sculottes không can thiệp khi Robespiere bị tấn công. Giá lúa mì đặc biệt quan trọng, vì ngay trong thời bình, bánh mì đã ngốn hết một nửa ngân sách của gia đình bình thường. Thời kì khó khăn chắc chắn khoản chi này sẽ nhiều hơn hẳn.

 Sau khi Robespiere bị lật đổ, quyền kiểm soát lại rơi vào tay giới trung lưu. Thành công của Napoleon thể hiện ước muốn ổn định trật tự ở trong nước và giành chiến thắng ở nước ngoài, mặc dù được cho là biện pháp duy nhất nhằm bảo vệ thành quả của cách mạng.

 Cuộc cách mạng đã làm sụp đổ chế độ phong kiến ở Pháp, đồng thời giải phóng nhân dân, phân chia ruộng đất công bằng, bãi bỏ các đặc quyền của giới tinh hoa và thiết lập quyền bình đẳng giữa tất cả các công dân. Trên phạm vi toàn cầu, Cách mạng Pháp đã dẫn tới sự bùng nổ của các cuộc cách mạng dân chủ và sự ra đời của các chế độ cộng hòa, báo hiệu sự cáo chung của chế độ phong kiến trên toàn thế giới.

 Cách mạng Pháp đem lại nguồn cảm hứng cho giới trí thức châu Âu, khiến họ tin rằng mọi người đều có thể làm cho xã hội tốt đẹp hơn. Nó trở thành điểm khởi đầu cho sự phát triển của tất cả các hệ tư tưởng chính trị hiện đại, dẫn đến sự ra đời và phổ biến của chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và nhiều tư tưởng khác. Những giá trị của cuộc Cách mạng vẫn có sức ảnh hưởng to lớn đến nền chính trị Pháp và châu Âu cho đến ngày nay. Khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” cũng như bài hát quốc ca của Pháp La Marseillaise đều ra đời trong cuộc Cách mạng này. Nhiều nhà sử học coi Cách mạng Pháp là một trong những sự kiện quan trọng nhất của lịch sử nhân loại.

 Tuy nhiên, sự quá khích của một số lãnh đạo cách mạng và quần chúng đã dẫn đến một thời kỳ đầy bạo lực, được tiếp nối bằng nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc trên toàn châu Âu. Các cuộc chiến này đem tinh thần của cách mạng Pháp phổ biến ra toàn châu Âu và làm đảo lộn trật tự cũng như thay đổi sâu sắc cơ cấu xã hội tại các nước châu Âu.

October 15, 2020

Thuật ngữ chính trị (75)

238. Freedom of speech – Tự do ngôn luận. Tự do ngôn luận là nguyên tắc củng cố cho quyền tự do của một cá nhân hoặc cộng đồng trong việc biểu đạt quan điểm và ý kiến của mình mà không bị trả đũa, kiểm duyệt hoặc xử phạt. Thuật ngữ “tự do biểu đạt” (freedom of expression) cũng được sử dụng đồng nghĩa nhưng bao gồm cả hành động tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt bất kỳ thông tin hoặc ý kiến nào bằng tất cả các phương tiện truyền thông.

Tự do ngôn luận được công nhận là quyền con người theo điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) và được công nhận trong luật Nhân quyền quốc tế tại Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR). Điều 19 của UDHR quy định rằng “ai cũng có quyền giữ quan điểm mà không bị can thiệp” và “ai cũng có quyền tự do biểu đạt; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin và ý kiến các loại, không kể biên giới quốc gia, bất kể bằng lời nói, bằng văn bản hay in ấn, dưới hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác tùy theo sự lựa chọn của họ”. Điều 19 trong ICCPR sau đó cải thiện điều này bằng cách chỉ ra rằng việc thực hiện các quyền này mang theo “nhiệm vụ và trách nhiệm đặc biệt” và “theo đó phải tuân theo các hạn chế nhất định” khi cần thiết “để tôn trọng quyền hoặc danh dự của những người khác” hoặc “để bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, hoặc sức khỏe hay đạo đức cộng đồng”.

Do đó, quyền tự do ngôn luận và tựm do biểu đạt có thể không được công nhận là quyền tuyệt đối và những hạn chế chung về tự do ngôn luận liên quan đến hành động phỉ báng, vu khống, tục tĩu, khiêu dâm, xúi giục, kích động, ngôn từ gây hấn, thông tin bí mật, vi phạm bản quyền, bí mật thương mại, nhãn dán thực phẩm, thỏa thuận bảo mật thông tin, quyền riêng tư, quyền được lãng quên, an ninh công cộng, và khai man. Các biện minh cho việc này bao gồm nguyên tắc gây hại, được đề xuất bởi John Stuart Mill trong tác phẩm Bàn về Tự do (On Liberty), trong đó: “mục đích duy nhất mà quyền lực có thể được thực thi một cách chính đáng đối với bất kì thành viên nào trong cộng đồng văn minh – chống lại ý muốn của anh ta với mục đích là ngăn chặn, không để anh ta làm hại người khác”.

Ý tưởng về “nguyên tắc xúc phạm” cũng được sử dụng trong việc biện minh cho các hạn chế về ngôn luận, theo đó, các hình thức biểu đạt được coi là ảnh hưởng xấu đến xã hội có thể bị hạn chế, tùy theo các yếu tố như mức độ, thời lượng, động cơ của người nói và mức độ dễ dàng trong việc tránh những hình thức biểu đạt như thế. Cùng với sự phát triển của thời đại kỹ thuật số, việc áp dụng tự do ngôn luận càng gây tranh cãi khi ngày càng có nhiều các phương tiện giao tiếp cũng như các hạn chế mới.

239. Free rider - Người hưởng thụ miễn phí. Người hưởng thụ miễn phí là người không tham gia, nhưng được hưởng lợi từ những hành động của tập thể . Mancur Olson, trong tác phẩm Logic của hành động tập thể (The Logic of Colletive Action, 1965), cho rằng, khi cần phải hành động tập thể để tạo ra hàng hóa công thì bao giờ cũng có những người duy lý và tư lợi muốn hưởng thụ miễn phí (dân gian gọi là “xài chùa”). Sư kiện là khi trở thành hàng hóa công thì “không thành viên nào trong nhóm bị loại trừ, không được hưởng lợi ích hoặc thỏa mãn mà thành quả của hành động tập thể tạo ra”. Do đó, mỗi thành viên đều có thể không muốn chia sẻ chi phí. Hơn nữa, nếu đấy là nhóm lớn, thì mỗi người đều nghĩ rằng việc họ hưởng thụ miễn phí sẽ không ảnh hưởng tới động cơ hành động của những người khác, không làm thay đổi hành vi của họ, vì việc họ không tham gia “sẽ làm gia tăng không đáng kể gánh nặng lên vai những người phải chịu chi phí”. Tuy nhiên, việc cung cấp hàng hóa công có thể bị đe dọa nếu mỗi người và mọi người đều tư duy theo cách này. Lúc đó tổ chức sẽ phải có những quy định ngăn chặn những hiện tượng hưởng thụ miễn phí. BOT là ví dụ điển hình của những biện pháp như thế.

240. Free Trade – Thương mai tự do. Thương mại tự do là hệ thống kinh tế quốc tế, trong đó không quốc gia nào áp đặt rào cản bằng thuế quan hoặc các biện pháp kiểm soát nhập khẩu khác đối với các sản phẩm từ những những nước khác và mỗi quốc gia có quyền như nhau trong việc bán hàng hóa của mình ở các quốc gia khác với những điều khoản tương tự như các nhà sản xuất bản địa. Có lẽ, từ khi hình thành các quốc gia dân tộc, chưa bao giờ thương mại được hoàn toàn tự do, và thực sự, việc giao thương giữa các khu vực trong nội bộ tất cả các quốc gia cũng không phải lúc nào cũng được tự do. Trên thực tế, liên minh các quốc gia đã tạo điều kiện cho tự do thương mại ở mức độ nào đó giữa các nước thành viên và đặt ra các rào cản tập thể nhằm chống lại các quốc gia khác. Liên minh như thế thường được gọi là liên minh thuế quan. Ví dụ quan trọng nhất hiện nay là Liên minh Châu Âu (EU). Ở đây không có rào cản hải quan hoặc thuế quan, không phân biệt đối xử giữa các nhà sản xuất ở ​​các nước thành viên khác nhau và áp dụng thuế quan thống nhất đối với hàng hóa của các quốc gia bên ngoài liên minh. Mặc dù về mặt lý thuyết là không có thuế quan, nhưng thật khó đảm bảo việc đối xử bình đẳng giữa các nhà sản xuất trong nước và nước ngoài, Tòa án Công lý Châu Âu vẫn phải xét xử rất nhiều vụ kiện về việc phân biệt đối xử trên thực tế. 

Các luận cứ kinh tế ủng hộ thương mại tự do khá phức tạp. Nói chung, lý thuyết kinh tế gọi là “lý thuyết về lợi thế so sánh” tuyên bố rằng, mở cửa cho cạnh tranh thương mại toàn cầu thì sản phẩm kinh tế thế giới sẽ đạt mức tối đa. Tuy nhiên, trong ngắn hạn hoặc trung hạn, một số ngành hoặc lĩnh vực kinh tế trong một quốc gia sẽ được lợi nếu được bảo hộ. Bảo hộ thậm chí có thể có lợi cho cả quốc gia, mặc dù ít có khả năng xảy ra như thế. Thông thường, câu hỏi về các mức thuế được áp dụng là vấn đề thuộc xung đột chính trị trong nước, cũng như xung đột thỉnh thoảng mới xảy ra giữa các ngành thâm dụng vốn và thâm dụng lao động về mức thuế ở Hoa Kì. Cho dù thương mại tự do là vấn đề của phe “Tả” hay phe “Hữu” ở một quốc gia thì nó cũng có thể thay đổi cùng với thời gian, tùy thuộc vào giá trị chính trị mà chính sách bảo hộ kinh tế góp phẩn bảo vệ. Ví dụ, cuối thế kỷ XIX, ở Anh, những người Bảo thủ thường muốn sử dụng hàng rào thuế quan để bảo vệ thương mại giữa các nước thành viên của Đế chế, trong khi những người theo phái tự do lại ủng hộ thương mại tự do. Tuy nhiên, Chủ nghĩa tự do là tín điều chính trị có truyền thống liên kết chặt chẽ nhất với tự do trong lĩnh vực thương mại.

Dù lý thuyết kinh tế có trừu tượng tới mức nào, việc áp đặt hay không áp đặt hàng rào thuế quan luôn luôn là vấn đề chính trị, và gây ra hậu quả quan trọng trong cả lĩnh vực chính trị lẫn kinh tế, cả quốc nội lẫn quốc tế. Trong những năm gần đây, thương mại tự do đã trở thành vấn đề xung đột giữa thế giới phát triển và thế giới kém phát triển hơn vì các rào cản, đặc biệt là xuất khẩu nông sản, làm cho các nước thuộc Thế giới thứ ba khó thu được ngoại tệ.

 

October 13, 2020

Thuật ngữ chính trị (74)

 


235. Freedom of association – Tự do hiệp hội. Quyền tự do hiệp hội là quyền của cá nhân liên kết với nhau chỉ để liên kết hoặc nhằm theo đuổi một dự án chung nào đó, ví dụ, thông qua nhà thờ, công đoàn, đảng phái chính trị, câu lạc bộ thể thao… Nhiều triết gia chính trị theo trường phái tư do coi tự do hiệp hội là quyền tự do căn bản của con người. John Stuart Mill, trong tác phẩm Bàn về tự do (On Liberty), khẳng định rằng công dân có quyền “tự do liên kết, vì bất cứ mục đích gì, miễn là không làm hại những người khác”, một công thức vẫn còn để ngỏ câu hỏi làm hại những người khác đến mức nào thì có thể biện hộ được cho sự can thiệp của nhà nước. Còn John Rawls, trong tác phẩm Chủ nghĩa tự do chính trị (Political Liberalism) thì khẳng định rằng tự do hiệp hội là “quyền tự do căn bản” vì, và mở rộng đến mức, đấy là phần mở rộng cũa tự do lương tâm.

Tự do hiệp hội cũng có nghĩa là được quyền không tham gia một nhóm, hay một hội cũng như quyền được ra khỏi nhóm hay hội đó. Trong khi các nhóm, hội đoàn, tổ chức tự nguyện là các thành tố hạt nhân của xã hội dân sự, các chế độ độc đoán luôn luôn tìm cách cản trở sự liên kết tự do của người dân, khống chế sự hoạt động của các hội tự nguyện.

Các hội có hình thức đa dạng, đó có thể là các câu lạc bộ, hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các quỹ, công đoàn, tổ chức tôn giáo, chính đảng và công ty. Do sự đa dạng của các nhóm, pháp luật của các quốc gia thường có quy định điều chỉnh riêng một số nhóm, hội bằng các luật riêng như: luật về doanh nghiệp - công ty, luật về công đoàn - nghiệp đoàn, luật về các đảng phái chính trị, luật về các tổ chức tôn giáo.

Hội có thể có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân. Nếu không có tư cách pháp nhân, hội có thể bị giới hạn một số quyền nhất định (như quyền sở hữu tài sản...). Trong phong trào lao động quốc tế, tự do hiệp hội được xem là quyền của công nhân được tổ chức và thương lượng tập thể. Tự do hiệp hội trong nghĩa này được xem là một nhân quyền căn bản được công nhận và bảo vệ trong một số tuyên ngôn, công ước, trong đó co Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Tổ chức Lao động Quốc tế… Công ước quốc tế về quyền tự do lập hội và bảo vệ quyền lập hội 1948 (Công ước 87 của ILO), tại Điều 2, xác định mọi người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền thành lập và gia nhập các tổ chức mà họ tự lựa chọn mà không phải xin phép trước.

 236. Freedom of information – Tự do thông tin. Quyền tự do thông tin bao gồm quyền tìm kiếm, thu thập, phổ biến và quyền được thông tin. Trong đó, quyền được thông tin dùng để chỉ quyền của công chúng được biết thông tin của nhà nước, theo cách chủ động công khai từ phía nhà nước hoặc thực hiện quyền yêu cầu từ phía người dân, nhằm thoả mãn nhu cầu thông tin của mình, cũng như bảo vệ và thực hiện các quyền khác được pháp luật ghi nhận.

 Quyền được thông tin tạo cơ sở cho người dân trong việc giám sát sự công khai, minh bạch hoạt động của nhà nước. Điều này trở thành một nhu cầu và quyền cơ bản, cấp thiết cần phải đảm bảo được thực hiện đối với mọi công dân. Đây cũng là một thành tố không thể tách rời của chế độ dân chủ, công khai, minh bạch là biểu hiện của xã hội được quản lý, vận hành theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền.

 237. Freedom of religion – Tự do tôn giáo. Tự do tín ngưỡng hay tự do tôn giáo thường được coi là nguyên tắc ủng hộ quyền tự do của cá nhân hay cộng đồng trong việc công khai hoặc bí mật thực hành, thờ phụng, rao giảng, hay tu tập một tôn giáo hay tín ngưỡng. Khái niệm này thường được thừa nhận là bao gồm cả việc tự do thay đổi tôn giáo hoặc tự do không theo một tôn giáo nào. Tại nhiều quốc gia, tự do tín ngưỡng được nhiều người coi là một quyền cơ bản của con người.

Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền định nghĩa tự do tín ngưỡng như sau: “Mỗi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tâm, và tín ngưỡng; quyền này bao gồm tự do thay đổi tín ngưỡng, và tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình một cách cá nhân hoặc công khai trong việc rao giảng, thực hành, thờ phụng, và tu tập”.

 Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị viết: “Quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình chỉ phải chịu các giới hạn chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác”.

Tại những quốc gia có quốc giáo, tự do tín ngưỡng thường được hiểu là chính phủ cho phép thực hành các hoạt động của các tôn giáo khác với quốc giáo, và không đàn áp các tín đồ thuộc các tôn giáo khác.

 Về phương diện cá nhân (không phải chính phủ), sự khoan dung tôn giáo thường được hiểu là thái độ chấp nhận tín ngưỡng của những người khác. Lòng khoan dung tôn giáo không đòi hỏi người ta phải coi tôn giáo của những người khác cũng đúng đắn như của mình; thay vào đó là quan điểm cho rằng mỗi công dân chấp nhận rằng những người khác có quyền giữ và thực hành các đức tin của riêng mình.

 Tự do tín ngưỡng là một khái niệm luật pháp có quan hệ, nhưng không đồng nhất, với khoan dung tôn giáo, sự phân tách giữa giáo hội và nhà nước, hay nhà nước thế tục.