January 16, 2020

MỘT KHÍA CẠNH MỚI CỦA ĐẠO ĐỨC: Ý THỨC VỀ SỰ CÔNG CHÍNH XÃ HỘI

Nguyễn Hưng Quốc


Người Việt Nam hay nói về đạo đức. Hai nền tảng chính trong ý niệm về đạo đức của người Việt Nam là tình yêu và bổn phận: Yêu nước, yêu đồng bào, yêu hàng xóm, và nhất là, yêu gia đình. Và bổn phận đối với tất cả những gì mình yêu. Đối tượng khác, biểu hiện của tình yêu và bổn phận cũng khác: với đất nước, đó là trung thành; với đồng bào hay hàng xóm, đó là sự tương trợ, với gia đình, đó là lòng hiếu thảo.

Chưa nói đến việc thực hiện các lời khuyên bảo ấy. Chỉ riêng về phương diện lý thuyết, những lời dạy về đạo đức ấy, tuy hay, rất hay, nhưng rõ ràng là bất cập.

Rất ư bất cập.

Trước hết, nó có tính một chiều. Thường là chiều từ dưới lên trên. Mọi người có bổn phận và trung thành với đất nước ư? Ừ, thì cũng được. Nhưng còn đất nước thì sao? Người Việt hay nhắc đi nhắc lại (mà hầu như không bao giờ nêu xuất xứ) câu nói nổi tiếng của John F. Kennedy: “Đừng đòi hỏi đất nước làm gì cho bạn mà bạn chỉ nên tự hỏi bạn đã làm gì được cho đất nước.” Tại sao không? Bất cứ người nào cũng có quyền đòi hỏi đất nước, được biểu hiện cụ thể qua các thiết chế chính trị, phải bảo đảm an toàn, thịnh vượng và công bằng cho mọi người. Ý thức về dân chủ chỉ thực sự vững mạnh khi người dân, mọi người dân, lên tiếng đòi hỏi điều đó. Gạt bỏ yêu cầu chính đáng đó chỉ là một sự lừa bịp. Cũng vậy, chúng ta đề cao lòng hiếu thảo; nhưng chúng ta cũng không nên quên, việc hoàn thành bổn phận của các bậc làm cha làm mẹ đối với con cái cũng thuộc phạm trù đạo đức.

Nhưng sự bất cập của quan niệm đạo đức theo kiểu cũ còn thể hiện ở khía cạnh khác, lớn hơn và cũng nghiêm trọng hơn, nhất là trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay.

Hãy để ý đến điều này: trong đời sống cũng như trong văn học, hầu như chúng ta chỉ quan tâm và động lòng với những gì thật gần gũi và thuộc về “phe ta”. Người thân hay quen của chúng ta gặp nạn, chúng ta xót xa; nhưng những người mình ghét mà gặp nạn thì phần lớn đều không giấu được sự hả hê: “Đáng kiếp!” Thấy con cháu hay hàng xóm bị bắt nạt, chúng ta tức tối; nhưng nhìn người lạ bị bắt nạt thì chúng ta lại thường dửng dưng.

Hải quân Trung Quốc hiếp đáp ngư dân Việt Nam, chúng ta bừng bừng phẫn nộ; nhưng người thiểu số ở Tây nguyên bị hà hiếp thì chúng ta lại mặc kệ. Nhìn bão lụt tàn phá một số tỉnh miền Trung, chúng ta xốn xang, nhưng nhìn những trận đói hay thiên tai giết chết cả hàng triệu người đâu đó trên thế giới, nhất là ở châu Phi xa xôi, chúng ta thường rất hờ hững.

Các cơ quan truyền thông Việt Nam có thời hay nói đến mấy chữ “nghĩa vụ quốc tế”. Nhưng thật ra đó chỉ là những âm mưu chính trị nhằm can thiệp vào nội bộ các nước khác, chủ yếu là hai nước láng giềng nhỏ và yếu là Lào và Kampuchia. Trên thực tế, chúng ta rất hiếm khi quan tâm đến những bất hạnh trên thế giới. Cứ thử mở các tờ báo tiếng Việt trong nước ra mà xem: Có bao giờ bạn thấy bất cứ tin tức hay bài bình luận nào về những nỗi khổ của các nước nghèo khó khác? Nếu có, chắc là cực kỳ hoạ hoằn.

Thành ra, có thể nói cái gọi là đạo đức của chúng ta là thứ đạo đức có điều kiện. Và do đó, rất giới hạn.

Để cho rõ, xin thử làm một sự so sánh.

Năm 2002, một thanh niên gốc Việt tại Úc, Nguyễn Tường Vân, trên đường từ thành phố Hồ Chí Minh trở về Melbourne, lúc quá cảnh ở Singapore, anh bị cảnh sát Singapore bắt vì một số bạch phiến giấu trong người. Theo luật Singapore, anh bị kết án tử hình. Trong vòng gần hai năm, từ lúc án tử hình được tuyên bố đến lúc được thi hành, có cả một cuộc vận động rầm rộ trên khắp nước Úc để yêu cầu chính phủ Singapore ân xá cho anh. Có cả hàng trăm người xuống đường để xin chữ ký của dân chúng. Nhiều luật sư nổi tiếng của Úc đứng ra biện hộ giùm cho anh. Các cơ quan truyền thông Úc, từ báo in đến truyền hình và truyền thanh loan tin liên tục về vụ án. Sức ép của dư luận mạnh đến độ chính phủ Úc, từ liên bang đến tiểu bang, đều lên tiếng can thiệp dù biết trước là sẽ thất bại trước sự cương quyết của chính phủ Singapore. Trước ngày Nguyễn Tường Vân bị treo cổ, hàng trăm người tụ tập ngoài trời, thắp nến cầu nguyện suốt đêm. Đám tang của Vân ở Melbourne có trên 2000 người tham dự.

Xin lưu ý: hầu hết những người bênh vực cho Nguyễn Tường Vân đều là người Úc da trắng.

Một câu hỏi: Tại sao người ta lại làm thế?


Họ quen biết Nguyễn Tường Vân ư? Không. Tuyệt đối không. Hầu hết, nếu không nói là tất cả, đều chỉ biết anh qua mấy dòng tiểu sử vắn tắt trên các cơ quan truyền thông: con của một phụ nữ Việt Nam tị nạn, ra đời ở Thái Lan, học đến hết trung học thì đi bán hàng để kiếm sống; cuối cùng, sa vào con đường buôn lậu ma tuý, nghe nói là để có tiền giúp người anh sinh đôi trả nợ (người này có lúc bị ghiền ma tuý).

Họ nghĩ là anh oan ức hay cho việc buôn bán ma tuý là không đáng kể? Dĩ nhiên là không. Ai cũng biết là Nguyễn Tường Vân có tội. Và ai cũng thấy việc buôn bán ma tuý là điều không thể chấp nhận được. Nhiều người còn nói thẳng: họ cảm thấy may mắn vì gần 400 gram bạch phiến mà Nguyễn Tường Vân giấu trong người bị chận bắt ở Singapore; nếu không, mang lọt vào Úc, chừng ấy bạch phiến sẽ gây nên không biết bao nhiêu là tai hại!

Vậy mà họ vẫn xuống đường đòi ân xá cho anh.

Tại sao?

Lý do: Đó là mệnh lệnh của đạo đức!

Họ bênh vực cho anh không phải vì tình cảm cá nhân mà chủ yếu xuất phát từ một nguyên tắc đạo đức: không chấp nhận án tử hình. Họ cho tử hình là dã man. Tử hình người nào cũng là dã man. Tử hình một thanh niên mới ngoài 20 tuổi và mới phạm tội lần đầu lại càng dã man. Họ làm đủ mọi cách, không phải để bênh vực một tội phạm, mà là để bảo vệ quyền sống của một con người, cho dù đó là một tội phạm. Vậy thôi.

So với những hành động được gọi là đạo đức mà chúng ta thường thấy ở Việt Nam như giúp đỡ người nghèo trong xóm, bênh vực kẻ yếu ngoài đường với hành động của những người Úc tranh đấu cho Nguyễn Tường Vân, chúng ta thấy ngay sự khác nhau căn bản trong quan niệm về đạo đức: Đạo đức, ở Việt Nam, có tính tình thế (gắn liền với một số quan hệ xã hội nhất định như máu mủ, hàng xóm, quen biết, v.v…), ở Úc (hay ở Tây phương nói chung), có tính nguyên tắc; ở Việt Nam, thiên về cảm tính, ở Úc, thiên về lý tính; ở Việt Nam, nó dựa trên tình thương, ở Úc, nó dựa trên ý thức về sự công chính xã hội.

A! Công chính xã hội (social justice).

Tôi nghĩ đó là sự khác biệt căn bản.


Ý niệm đạo đức của người Việt Nam, vốn chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, nhắm đến việc duy trì trật tự và sự hài hoà trong xã hội. Mà cả trật tự và hài hoà đều được xây dựng trên nền tảng đẳng cấp. Đạo đức là bảo vệ cái đẳng cấp có sẵn ấy. Là vua cho ra vua. Quan cho ra quan. Dân cho ra dân. Chồng ra chồng. Vợ ra vợ. Con ra con. Đó là thứ đạo đức mang tính chức năng luận (functional ethics): đạo đức gắn liền với một vai trò nhất định.

Ý niệm đạo đức của người Tây phương (chủ yếu trong thời hiện đại), ngược lại, được xây dựng trên nền tảng của sự công chính (justice); mà công chính lại được xây dựng trên nền tảng của ý niệm về sự công bình (fairness); và sự công bình, đến lượt nó, lại được xây dựng trên ý niệm về nhân quyền (human rights) với trọng tâm là sự bình đẳng (equality), đặc biệt sự bình đẳng về cơ hội (equality of opportunity). Đó là thứ đạo đức học dựa trên tính nguyên tắc và tính phổ quát. Người có ý thức về sự công chính xã hội không những chỉ tranh đấu cho bản thân hoặc cho người thân của mình mà còn tranh đấu cho người khác, kể cả những người hoàn toàn xa lạ, để họ cũng được đối xử một cách công bình như mình.

Tôi cho đã đến lúc ý thức về sự công chính xã hội cần được giảng dạy như một nền tảng của đạo đức học mới, từ trong học đường đến ngoài xã hội.

Nhưng trước hết nó cần được sự quan tâm của giới nghiên cứu.

Bài này chỉ là một gợi ý.


NGUYỄN HƯNG QUỐC
(VOA, 8/2010)

January 15, 2020

GIẢI ẢO

Cuộc đối thoại của một tiền bối và một nhà báo không còn trẻ nhân sự kiện Đồng Tâm


TIỀN BỐI: Ngày xưa, đảng viên là những người cực kì tốt, họ là những người sẵn sàng hi sinh tính mạng vì sự nghiệp chung, chứ đâu phải những kẻ thoái hóa biến chất chỉ nghĩ đến quyền và tiền như hiện nay.

NHÀ BÁO: Em không nghĩ thế. Xin hãy xem xét trường hợp viên tướng Qassem Soleimani của Iran vừa bị Mĩ hạ sát. Chắc chắn là, khi còn là một chiến binh bình thường, ông ta là người luôn luôn chia ngọt sẻ bùi với các chiến hữu, thậm chí sẵn sàng hi sinh tính mạng vì chiến hữu, còn khi leo lên các chức vụ cao hơn thì ông ta là lãnh tụ, là thần tượng của thánh chiến; nhưng trước mắt toàn thể nhân loại tiến bộ, ông ta là một tên khủng bố tàn ác, đáng ghét và đáng bị giết.

Những người cộng sản tiền bối mà anh nói tới thì cũng thế. Trong gian khổ, lao tù, họ sẵn sàng nhường bát cơm cuối cùng, thậm chí sẵn sàng giơ lưng chịu đòn, chịu chết cho đồng chí, đồng đội của mình. Nhưng… Vâng, nhưng họ sẵn sàng xuống tay sát hại ngay người vừa mới hôm qua còn là đồng chí, còn là người cưu mang họ, nếu cấp trên ra lệnh cho họ làm như thế vì mục đích của cách mạng. Bà Cat Hanh Long (Nguyễn Thị Năm) trong cải cách ruộng đất là ví dụ điển hình. Có rất nhiều người tương tự như bà Nguyễn Thị Năm đã bị giết, bị đấu tố như thế. Sau này họ được gọi là Địa chủ Kháng chiến. Đấy có thể cũng là lí do vì sao những người bị “tổ chức” xử lí thường im lặng chịu nhục mà không dám lên tiếng. Họ biết rằng im lặng, nhẫn nhục thì được sống, chống lại chắc chắn là sẽ bị xử lí bằng những biện pháp khốc liệt hơn nhiều, thậm chí là chết.


Tóm lại, tất cả những người lấy mục đích – mục đích có thể là thiên đường cộng sản, mục đích có thể là nhà nước quốc xã, mà cũng có thể luật Sharia của đạo Hồi - biện minh cho phương tiện – giết người, cướp của, tuyên truyền dối trá – có thể là những người tốt, là thiên thần theo tiêu chuẩn của đảng phái, của tôn giá của họ; nhưng theo tiêu chuẩn đạo đức chung của nhân loại – không giết người, không trộm cắp, không nói dối – thì đều là những kẻ vô đạo đức. Những người CS thời kì đầu mà anh nói tới thì cũng thế.

TIỀN BỐI: Đúng là tuổi trẻ tài cao, cậu đã giải ảo giúp mình. Cám ơn.

Câu chuyện tiếp theo vào ngày hôm sau.

TIỀN BỐI: Nghe bạn nói, mình đã vỡ ra chút ít. Nhưng vẫn thấy rối rắm quá. Có thể ngắn gọn hơn được không?

NHÀ BÁO: Vâng, xin nói ngắn như thế này. Nếu xét theo tiêu chuẩn của đảng của các anh thì những đảng viên thời kì đầu là những người rất có đạo đức vì họ sẵn sàng hi sinh vì lý tưởng, sẵn sàng chết vì sự nghiệp, sẵn sàng chết vì đồng đội… Nhưng nếu xét theo tiêu chuẩn đạo đức phổ quát, với 3 tiêu chí cụ thể nhất, không ai bác bỏ được: Không giết người, không tham của cải của người khác và không nói dối, thì ngay cả những đảng viên thời kì đầu cũng là những kẻ vô đạo đức, thậm chí rất vô đạo đức. Anh có đồng ý không?

TIỀN BỐI: Đúng thế. Không thể ngờ được rằng muốn làm điều thiện, mà hóa ra trên thực tế lại là làm điều ác.

NHÀ BÁO: Và, trong số những kẻ vô đạo đức đó, đấy là em nói nếu xét theo tiêu chuẩn đạo đức phổ quát, thì như Hayek viết trong cuốn Đường Về Nô Lê: “Những kẻ xấu xa nhất lại leo lên cao nhất”. Đấy là lý do vì sao có người nói: “Trong CNXH đạo đức còn ít hơn cả bánh mì”, nhưng em nói: “Trong CNXH đạo đức còn hiếm hơn cả kim cương”.


TIẾN BỐI: Thật không ngờ, cái thế hệ của mình:

“Tuổi hai mươi xung phong lên Tây Bắc
Lại xung phong vào Nam đánh giặc”

lại xây dựng lên cái xã hội mà:
“Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi”

NHÀ BÁO: Vâng, nhưng trong bài thơ đó anh vẫn nhắc tới những người Tháng Tám:

“Các anh – những người Tháng Tám
Các anh đâu rồi? Thấm mệt rồi chăng?”

Họ không thấm mệt đâu anh, đây là kết quả tất yếu anh ạ. Không thể khác được. Con đường đầy máu và nước mắt, hai bên là những khẩu hiệu tuyên truyền dối trá, không thể dẫn tới mục tiêu tốt đẹp. Những bàn tay nhuốm máu, những bàn chân lội trong máu và nước mắt làm sao có thể đưa chúng ta tới được thiên đường?

TIỀN BỐI: Giải ảo quả là đau đớn thật. Buồn quá!

NHÀ BÁO: Vâng, buồn thật.

TỰ RĂN CỦA NGƯỜI CHÉP CHUYỆN: Phải rất thận trọng!

January 11, 2020

GÓP PHẦN BẢO VỆ SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT TRONG LĨNH VỰC DỊCH THUẬT


I. Đôi lời phi lộ


1. Ngôn ngữ là trật tự tự phát, không có người thiết kế và giám sát; nôm na là sử dụng lâu thành quen. Cho nên nói bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt chỉ là cách nói tương đối, tức là theo quan điểm của người viết/người nói, chứ không phải là tiêu chí được mọi người đồng thuận hay bắt buộc phải theo. Có thể 50 hay 100 năm sau, cách nói/cách viết mà bây giờ một số người cho là không trong sáng lại được nhiều người theo, còn cách nói/cách viết mà nhiều người cho là trong sáng lại trở thành cổ hủ. Xin đọc những STT bàn về BẢO VỆ SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT TRONG LĨNH VỰC DỊCH THUẬT theo tinh thần như thế.

2. Tôi không đồng ý với quan điểm: “Người Việt có học/có đoc sách dịch bây giờ ít nhiều có học ngoại ngữ và không xa lạ với các mẫu câu này cho nên cứ giữ nguyên cấu trúc câu tiếng nước ngoài trong bản dịch”.

3. Tôi đồng ý với quan điểm: “Bản dịch tiếng Việt ngoài việc truyền tải đúng nội dung tư tưởng thì giữ được chừng nào văn phong của nguyên bản thì vẫn tốt”. Nhưng với 1 điều kiện: Người dịch cố tình làm như thế chứ không phải là do tiếng Việt còn kém, trình bày không mạch lạc, lười suy nghĩ và tìm cách biện hộ hay cãi cùn như thế. Kiểm tra việc này không khó. Chỉ cần đọc vài trang là biết ngay.

Còn 1 điều nữa: Có 1 số người cầm bút, ngoài việc thể hiện tư tưởng, họ còn tìm cách trình bày một cách viết khác lạ, chính người bản ngữ cũng thấy lạ, thấy khó hiểu. Muốn dịch những vị đó, phải rất giỏi cả ngôn ngữ nguồn lẫn ngôn ngữ đích và phải tìm mọi cách để thể hiện văn phong của họ. Nhưng theo kinh nghiệm cá nhân, đa số các tác giả Mĩ viết về kinh tế học, xã hội học hiện nay đều sử dụng ngôn ngữ bình dân và mẫu câu đơn giản. Vậy, hà cớ gì ta không dịch những tác phẩm đó bằng ngôn ngữ và mẫu câu đơn giản, đã quen với người Việt Nam.

4. Với ví dụ của anh @Võ Văn Tạo: “thành ngữ Pháp: "Quand le chat est sorti, les souris dansent": Trường phái 1: "Khi con mèo đi vắng, bầy chuột nhảy múa". Trường phái này cho rằng, dịch như vậy, vừa chuyển được nội dung, ý nghĩa, vừa cho bạn đọc VN biết, người Pháp diễn đạt nội dung đó bằng hình ảnh nào. Trường phái 2: "Vắng chủ nhà, gà vọc niêu tôm". Trường phái này cho rằng, dịch như vậy cũng thoát ý và mới là Việt hóa 100%” (hết trích). Tôi theo trường phái 2 (nếu tìm được thành ngữ tương đương trong tiếng Việt) và ghi chú: dịch thoát ý thành ngữ…). Tôi có thể tôn trọng người theo trường phái 1, với điều kiện người đó biết thành ngữ trong tiếng Việt chứ không phải là lười suy nghĩ hoặc kém tiếng mẹ đẻ, cãi cùn.

II. Bị cấu trúc Too… adjective + to verb… ám ảnh

1. He is too young to understand – dịch thành Nó còn quá trẻ để hiểu
2. It is too hard/difficult to do – dịch thành Quá khó để làm
3. He is too good to do that – dịch thành Anh ta quá tốt để làm việc đó.
4. Cấu trúc này ám ảnh người ta đến mức, có nhà báo viết: “Biên giới Mỹ - Mexico quá dài để kiểm sóat”. Có lẽ là do đọc quá nhiều những bản dịch có phần ngô nghê hay tự dịch trong đầu cấu trúc: “.. frontiers are too long to control…”

Trong khi đúng ra phải dịch những câu trên thành:
1. Nó còn quá trẻ/quá nhỏ chưa/không thể hiểu được
2. Việc này khó quá, không thể làm được
3. Anh ấy là người tốt lắm, anh ấy không làm việc/những việc như thế.
4. Biên giới Mỹ-Mexico dài quá, không thể kiểm soát nổi

III. Bị thể thụ động ám ảnh

1. A Novel written by Nguyen Cong Hoan – dịch thành: Cuốn tiểu thuyết được viết bởi Nguyễn Công Hoan
2. A delegation led by Mr. Nguyen Phu Trong – dịch thành: Đoàn đại biểu dẫn đầu bởi ông Nguyễn Phú Trọng
3. Thậm chí tôi còn gặp: Tôi được dạy bởi thày giáo rằng…

Rõ ràng, đây người dịch/người viết đã bị thể thụ động trong tiếng Anh ám. Trong khi những câu như thế trước đây được viết nhẹ nhàng hơn hẳn:
1. Cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan
2. Đoàn đại biễu do ông NPT dẫn đầu
3. Tôi được thày giáo dạy rằng/Thày giáo dạy tôi rằng….

Người dịch/người viết thậm chí bị ám ảnh đến mức gần đây, có 1 cuốn sách dịch, do những người khá “nhiều chữ” thực hiện, với lời giới thiệu như sau: TL của TD, giới thiệu bởi NHL. Sao không viết đơn giản như thừ xưa đến nay: TL của TD, NHL giới thiệu. Bớt được 1 từ và nghe thuận tai hơn?

IV. Không chịu tra từ điển

1. Observe /Observation: He observed that… dịch thành Ông ta quan sát rằng..
2. He argued that… dịch thành Ông ta lập luận rằng…
3. Câu sau: If every part of the business of society which required organised concert, or large and comprehensive views, were in the hands of the government…. Trong 1 tác phẩm quan trọng “organized concert” được dịch thành “buổi hòa nhạc có tổ chức..”

Trong khi đó đúng ra:

1. He observed that… phải là Ông ta nhận xét rằng…(chỉ cần tra tra từ điển Lạc Việt đã thấy observation có 1 nghĩa là “lời bình phẩm”.
2. He argued that… dịch thành Ông ta lập luận rằng…, không hẳn là sai, nhưng trong các cuộc trang luận mang tính ý thức hệ thì nên dịch là: “Ông ta khẳng định rằng…” Từ điển https://www.collinsdictionary.com/dictionary/english/argue, mục 4: If you argue that something is true, you state it and give the reasons why you think it is true. Các bản dịch Anh-Nga đều chuyển ngữ “argue” thành khẳng định.
3. Trong câu này dịch “organised concert” thành “buổi hòa nhạc có tổ chức” dường như cũng hợp nghĩa, nhưng đọc tiếp đoạn sau thì rõ ràng dịch sai …(chỉ cần tra tra từ điển Lạc Việt đã thấy nghĩa đầu tiên của “concert” là “hòa hợp”, còn khi dùng làm động từ thì nó có nghĩa là “phối hợp, hành động”, trong bản tiếng Nga được chuyển ngữ thành: “организованное действие сообща” nghĩa là “hành động có tổ chức”.

Tra từ điển, một lần nữa: Liên tục tra từ điển… Còn khi dịch tác phẩm lớn thì người dịch phải biết 2 ngoại ngữ và nên tham khảo bản dịch sang ngôn ngữ thứ 2.

Phải nói rằng, đôi khi việc dịch sai 1 loại bệnh hay tên 1 loài cây không ảnh hưởng gì tới cảm nhận 1 tác phẩm văn học. Nhưng hiện nay, khi mà độc giả cũng là những người biết chút ít ngoại ngữ và có thể dễ dàng tra từ điển trên mạng, thì sai 1 vài từ có thể làm mất niềm tin vào tác phẩm và dịch giả.

Hết.

January 3, 2020

Richard Nixon tiên tri về châu Á

Francis P. Sempa

Phạm Nguyên Trường dịch


Richard Nixon đã dự đoán được cú “xoay trục” của Mỹ sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương hơn 40 năm trước khi xảy ra sự kiện này.
 
Số ra tháng 10 năm 1967, tờ Foreign Affairs của Mỹ đăng một bài báo của Richard Nixon, lúc đó đang là cựu phó tổng thống và có khả năng trở thành ứng cử viên đảng Cộng hòa cho kì bầu của Tổng thống năm 1968, với nhan đề “Châu Á sau Việt Nam” (Asia After Viet Nam). Bài báo này sau đó đã trở nên nổi tiếng vì được coi là báo trước về “mở cửa sang Trung Quốc” của chính quyền dưới thời ông. Nhưng bài báo của Nixon còn đi xa hơn thế rất nhiều. “Châu Á Sau Việt Nam” là công trình phân tích đầu bảng của Nixon – nhìn vào tương lai với những nhận thức chắc chắn về lịch sử, địa lý và chính trị quốc nội và quốc tế.

Nixon bắt đầu bài viết bằng khuyến nghị nói rằng Mỹ cần có “tầm nhìn xa hơn Việt Nam” và đánh giá cao quá trình chuyển đổi toàn cầu đang diễn ra trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ông không hạ thấp giá trị cam kết của Mỹ ở Việt Nam đối với khu vực này, cũng như tầm quan trọng của việc coi cam kết đó thông qua điều mà ông gọi là “kết thúc chấp nhận được”. Nhưng ông tin rằng các nhà hoạch định chính sách của Mỹ cần nhìn châu Á bằng những thuật ngữ rộng hơn, thuật ngữ toàn cầu – như là thành phần của “cộng đồng Thái Bình Dương rộng lớn”, trong đó Mỹ là thành viên chủ chốt.

“Từ thời Thế chiến II”, Nixon viết, “một châu Á mới đang nổi lên với tốc độ nhanh đến kinh ngạc. Châu Á, ông nhận xét, “thay đổi nhanh chóng hơn bất kỳ khu vực nào khác trên thế giới thậm chí ngay cả khi các cường quốc châu Á đang tư duy trong “các thuật ngữ khu vực” về các vấn đề và đề tài toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế của châu Á – ở những nước như Nhật Bản, Hong Kong, Đài Loan, Singapore và những nước khác – và thái độ tự tin về chính trị dẫn đến “người ta ngày càng hướng tới việc tìm kiếm các giải pháp của châu Á cho các vấn đề châu Á và công nhận rằng “châu Á có thể trở thành đối trọng với phương Tây”.

Nixon còn cảm thấy rằng các nước châu Á nhỏ hơn nhìn về Trung Quốc với sự lo lắng đang ngày càng gia tăng. Các nhà lãnh đạo châu Á, ông viết (bằng những từ ngữ quen thuộc đối với ngày hôm nay) “nhận ra rằng. . . Mỹ hiện nay không còn là kẻ áp bức nữa, mà là người bảo vệ”. “Đây là chuyển dịch quan trọng trong nhận thức của họ về đối trọng trước đe dọa”, ông khẳng định, “và chuyển dịch này có ý nghĩa quan trọng đối với tương lai”.

Nixon nhận thức được rằng một trong những di sản của cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á sẽ là Mỹ không còn muốn can thiệp quân sự vào khu vực này một lần nữa – sau này được gọi là “Hội chứng Việt Nam”. “Sự chia rẽ đầy cay đã làm tan hoang đời sống trí tuệ Mỹ”, ông viết, “dù kết quả cuộc chiến có như thế nào thì có thể cần một thời gian dài mới hàn gắn được”. Ông khuyến nghị rằng “các quốc gia bước theo con đường của những tham vọng của Trung Quốc sẽ nhanh chóng chuyển sang thiết lập khuôn khổ châu Á bản địa cho nền an ninh tương lai của chính mình”. Mỹ có thể sẽ giúp đỡ các quốc gia đó đào tạo, trang bị và tư vấn, nhưng không can thiệp quân sự công khai. Một bộ đệm mang tính khu vực do châu Á lãnh đạo, Nixon giải thích, sẽ chia tách “siêu cường ở xa (Mỹ) khỏi mối đe dọa trực tiếp”. “Chỉ có khi bộ đệm chứng tỏ là không đủ sức thì [Mỹ] mới tham gia”. Ở đây, Nixon báo trước tiến trình “Việt Nam hóa” chiến tranh và “học thuyết Nixon” (Nixon Doctrine) rộng lớn hơn mà ông đã thực hiện sau khi trở thành tổng thống.

Nixon nghĩ rằng Hội đồng Châu Á và Thái Bình Dương (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Nam Việt Nam, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Australia và New Zealand) được thành lập vào năm 1966 có thể là nền tảng của “một nhóm quân sự được thiết kế nhằm ngăn chặn đe dọa của Trung Quốc”. Thậm chí Nixon còn nhắc tới Ấn Độ như một thành viên của liên minh chống Trung Quốc trong khu vực.

Chính sách của Mỹ, Nixon khuyên, là nên tìm cách thúc đẩy sự ổn định về kinh tế và chính trị ở các quốc gia châu Á ít quyền lực hơn – những điều kiện đó quan trọng hơn là bản chất “dân chủ” của chính phủ những nước đó.

Về mặt địa chính trị, tương lai của Châu Á, Nixon dự đoán, sẽ được xác định bởi nhóm “bốn ông lớn” của châu Á-Thái Bình Dương: Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc và Mỹ. Ông kêu gọi Mỹ và Ấn Độ hợp tác chặt chẽ hơn, và đề nghị Nhật Bản đóng vai trò lớn hơn, tương xứng với sức mạnh kinh tế của nước này, trong cơ cấu an ninh của châu Á-Thái Bình Dương.

Trước hết, Nixon viết một câu để đời: “[Bất kỳ] chính sách nào của Mỹ đối với châu Á cũng phải nhanh chóng nắm bắt được hiện thực của Trung Quốc”. Nghĩa là, ông viết, “nhận thức được nguy hiểm hiện hữu và tiềm tàng từ nước Trung Quốc Cộng sản, và thực hiện các biện pháp có chủ đích nhằm đương đầu với nguy hiểm đó”. Nhưng về lâu dài, ông khẳng định, “đơn giản là chúng ta không thể để Trung Quốc vĩnh viễn nằm bên ngoài gia đình của các dân tộc, không để họ tiếp tục vun đắp trí tưởng tượng của mình, ấp ủ lòng hận thù và đe dọa các lân bang”. Trung Quốc không thể và không nên bị cô lập. Chính sách của Mỹ cần khuyến khích họ thay đổi, vì, theo lời Nixon, “thế giới không thể an toàn cho đến khi Trung Quốc thay đổi”. Điều đó có nghĩa là Trung Quốc phải tin rằng lợi ích quốc gia của chính họ “đòi hỏi phải quay lưng lại với những cuộc phiêu lưu ở nước ngoài và quay vào bên trong để tìm giải pháp cho các vấn đề trong quốc nội của chính mình”.

Trung Quốc, sau Mao, và một phần là do chính sách ngoại giao tam giác của Nixon, đã làm chính những điều Nixon thúc giục họ làm trong một thời gian – hướng nội và giải quyết nhiều vấn đề ở trong nước. Nhưng khi Trung Quốc phát triển được cả về kinh tế lẫn quân sự thì tham vọng toàn cầu của nước này đã quay trở lại. Năng lực của Trung Quốc lại một lần nữa hướng ra bên ngoài. Nhiều nhà quan sát tin rằng mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là thay thế Mỹ để trở thành người lãnh đạo trật tự thế giới.

Nhắc tại tư tưởng của bài báo nổi tiếng “X” của George Kennan về chính sách của Mỹ đối với Liên Xô, Nixon nói rằng nước Trung Quốc đầy tham vọng phải được ngăn chặn “bằng chính sách kiềm chế vững chắc… của một biện pháp đối đầu mang tính sáng tạo, được thiết kế nhằm thuyết phục Bắc Kinh rằng, phải chấp nhận những bộ luật căn bản của nền văn minh thế giới thì họ mới đạt được lợi ích của mình”. Ông viết tiếp, trong quá trình ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc, chính sách của Mỹ, “cần tiếp tục giải quyết một cách khẩn trương khi cần thiết và thái độ kiên nhẫn, phát sinh từ chủ nghĩa hiện thực”.

Nhắc lại tư tưởng của bài diễn văn “bức màn sắt” nổi tiếng của Winston Churchill ngay trước giai đoạn Chiến tranh Lạnh, Nixon kêu gọi Mỹ “định hình khung sườn cộng đồng Thái Bình Dương” nhằm chống lại cuộc xâm lăng của Trung Quốc, nhưng mục đích cuối cùng là chào đón một nước Trung Quốc khác, một đối tác trong cộng đồng của các quốc gia.

Nixon kết thúc bài viết của mình bằng đoạn nhận xét về nền chính trị bên trong nước Mỹ, rất giống với những sự kiện đang diễn ra trong ngày hôm nay. “Nhiều người Mỹ, chán nản với chiến tranh, chán nản với các đồng minh, vỡ mộng với các khoản viện trợ, mất tinh thần trước những cuộc khủng hoảng ở trong nước”, Nixon viết, “đang quay sang với lời kêu gọi trở về với chủ nghĩa biệt lập mới”. Ông cảnh báo những người đồng bào của mình rằng, phải chống lại thái độ biệt lập quá đơn phương và quá nguy hiểm này. Ông kết luận: “Thế hệ sau sẽ không thể có hòa bình hay an ninh, nếu chúng ta không nhận thức được sức mạnh to lớn của các lực lượng đang hoạt động ở châu Á”.

Trong bài báo có ảnh hưởng mạnh, Richard Nixon đã dự đoán được cú “xoay trục” của Mỹ sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương hơn 40 năm trước khi xảy ra sự kiện này.

Francis P. Sempa là tác giả những cuốn sách sau: Geopolitics: From the Cold War to the 21st Century và America’s Global Role. Ông thường xuyên viết về lịch sử và chính sách đối ngoại cho Asian Review of Books, the University Bookman, the Claremont Review of Books, The Diplomat, the South China Morning Post, Orbis, Joint Force Quarterly, Strategic Review, the New York Journal of Books, và một số ấn bản phẩm khác. Ông hiện đang là công tố viên liên bang và là giáo sư phụ trợ về chính trị học tại Wilkes University.

Đã đăng trên Việt Nam Thời Báo

Nguồn: https://thediplomat.com/2019/12/richard-nixons-asian-prophecy/

December 4, 2019

Những người giúp chữ Quốc ngữ 'làm nên'


Nguyễn Giang BBC World Service

Ở Việt Nam vừa có thêm một sáng kiến nhằm ghi công và vinh danh các vị truyền giáo Pháp, Bồ Đào Nha đã 'xây dựng, phát triển' chữ Quốc ngữ.
Pháp áp đặt chế độ bảo hộ ở Bắc Kỳ sau khi đuổi hết quân Thanh đi 

Nỗ lực tìm lại các nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc hình thành ký tự La Tinh của tiếng Việt luôn là việc cần làm và rất đáng khuyến khích.

Nhìn lại cuộc giao lưu Đông Tây ở Việt Nam, có lẽ ta cần tránh cả mặc cảm bài ngoại, đề cao người Việt quá mức cũng như tâm lý sùng bái các giáo sỹ người Âu.

Có ba lý do:

Một là việc tạo ra bộ mẫu tự La tinh cho tiếng Việt không có gì quá độc đáo, thậm chí xảy ra sau Trung văn khá lâu.

Hai là chính các nỗ lực của trí thức Việt Nam và chính sách tiến bộ, khoa học của chính quyền Pháp tại Đông Dương mới thực sự tạo đà cho chữ Quốc ngữ lan tỏa.

Ba là Đông Kinh Nghĩa Thục không đi tiên phong quảng bá Quốc ngữ mà chỉ xóa nốt rào cản tâm lý đã bị lạc hậu để trí thức bản địa yên tâm dùng Quốc ngữ.

1. La tinh hóa các tiếng ngoài châu Âu

Trong lịch sử ngôn ngữ, việc La tinh hóa (Romanisation) các tiếng ngoài châu Âu đã diễn ra khá nhiều và tiếng Việt không phải là biệt lệ.

Đến Trung Hoa vào cuối thế kỷ 16, nhà truyền giáo Matteo Ricci đã nhanh chóng soạn tự điển tiếng Trung bằng ký tự La tinh đầu tiên.

Sang đầu thế kỷ 17, ông cho xuất bản tại Bắc Kinh cuốn Tây Tự Kỳ Dị (Xizi Qiji - Miracle of Western Letters) bản tiếng Trung theo âm La Tinh.

Sách ra tại Bắc Kinh năm 1605, gần nửa thế kỷ trước khi cha Alexandre de Rhodes xuất bản ở Rome năm 1651 'Phép giảng tám ngày' tiếng Việt dạng La tinh và cuốn 'Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum'.

Cả Matteo Ricci và Michele Ruggieri đều dùng tiếng Bồ Đào Nha để phiên âm Hoa ngữ, như cách các giáo sỹ Bồ Đào Nha đầu tiên ghi ký âm tiếng Việt.

Sang năm 1626, một giáo sỹ dòng Tên khác, Nicolas Trigault (1577-1628) xuất bản cuốn 'Tây Nho Nhĩ Mục Tư (Xiru Ermu Zi) ở Hàng Châu.


 Hoàng đế Bảo Đại và Bộ trưởng Thuộc địa Albert Sarraut tại Pháp năm 1933. Ông Albert Sarraut sau khi làm Toàn quyền Đông Dương đã về nước và làm Bộ trưởng Thuộc địa trong hai nhiệm kỳ 
Đến cuối thế kỷ 19, Thomas Wade và Herbert A. Giles soạn 'Chinese-English Dictionary' năm 1892, tạo chuẩn quốc tế cho Hoa ngữ dạng La tinh.

Sau này, Mao Trạch Đông cho tạo ra bộ bính âm (pinyin) ở CHND Trung Hoa nhưng ký âm Wade và Giles đến nay vẫn được dùng ở Hong Kong và Đài Loan.

Tại Ấn Độ, tiếng Hindi dạng Devanagari được học giả, nhà thống kê và quan chức thuộc địa người Scotland, William Hunter chuyển sang hệ La tinh cuối thế kỷ 19.

Hindi hệ Hunterian vẫn được chính phủ Ấn Độ ngày nay sử dụng và từng là chuẩn để các nước Nam Á nghiên cứu khi La tinh hóa tiếng của họ.

Vua Thái Lan hồi đầu thế kỷ 20 cũng cho soạn ra bộ chữ La tinh tiếng Thái, và tham khảo từ hệ Hunterian.

Việc La tinh hóa như thế không phải là quá khó khăn mà quan trọng hơn cả là môi trường chính trị, xã hội có thuận tiện để phể biến alphabet mới.

Ví dụ tiếng Ả Rập được người Pháp chuyển sang hệ La tinh nhưng bị phái dân tộc chủ nghĩa Ả Rập bác bỏ vì coi đó là một 'âm mưu Do Thái'.

Nay, giới trẻ Trung Đông lại dùng không chính thức tiếng Ả Rập hệ La tinh cho mạng xã hội vì giản tiện khi viết trên smartphone .

Còn tại Thổ Nhĩ Kỳ, cải cách ký tự thời Ataturk năm 1932 đã nhanh chóng 'Âu hóa' văn tự hệ giống tiếng Ả Rập để chuyển sang La tinh toàn bộ như ngày nay.

Các tiếng Trung Á từng đổi hai lần, từ ký tự Ả Rập sang Cyrillic thời Liên Xô để gần đây lại chuyển sang hệ La tinh, với Kazachstan là muộn nhất, sẽ xong năm 2025.

Các vị truyền giáo đã có công đầu tạo ra bộ chữ Việt hệ La tinh nhưng giả sử không có họ thì việc đó cũng hoàn toàn có thể được làm sau này.

Theo Britannica, Alexandre de Rhodes muốn dùng chữ Quốc ngữ để "cải đạo Ky Tô cho toàn thể dân chúng" ở Đàng Trong và Đàng Ngoài nhưng chỉ cải đạo được cho chừng 6500 người Việt, con số không đáng kể.

Người Pháp sau khi chiếm Đông Dương đã không ủng hộ việc biến người Việt thành dân tộc Thiên Chúa Giáo.

Thủ tướng Jules Ferry của Pháp thời kỳ đánh Bắc Kỳ

Ngược lại, các lãnh đạo nền Cộng hòa Pháp khi đó nổi tiếng là chống tăng lữ (anti-clerical) và theo tinh thần giáo dục thế tục.

Họ đã đem Quốc ngữ dạy trong các trường dòng ra trường công lập cho toàn thể dân Việt, mở đường cho cách viết mới này trở thành phổ biến.

2. Vai trò của Jules Ferry và các quan chức Pháp

Hồi năm 2012, BBC News có bài nói về hai người khổng lồ của văn hóa Pháp, Jules Ferry và Marie Curie (Giants of French history: Jules Ferry and Marie Curie).

Bà Marie Sklodowska-Curie (1867-1934)) nhà khoa học Pháp gốc Ba Lan được hai giải Nobel, thì nhiều người ở Việt Nam đã biết đến.

Tên của bà được đặt cho trường học tại Đông Dương trước đây và Việt Nam hiện nay.

Còn Jules Ferry (1832-1893), thủ tướng Pháp, nhà cải cách giáo dục nổi tiếng, cũng từng có tên đặt cho đường phố ở Việt Nam nhưng sau bị xóa.

Người Việt Nam có thể chỉ coi ông là Pháp thực dân nhưng Ferry là nhân vật rất quan trọng đối với Đông Dương cuối thế kỷ 19.

Năm 1881, Jules Ferry đề ra cải cách giáo dục cho Cộng hòa Pháp, dựa trên bốn nguyên tắc: Phổ cập tiểu học; Miễn phí, Bình đẳng giới tính và Phi tôn giáo.

Cùng thời gian, chính quyền Pháp cho giải tán dòng Tên (Jesuits) và cấm mọi dòng tu và việc dạy tôn giáo nằm ngoài thỏa thuận Concordat với Vatican.

Luật Ferry trở thành tiêu chuẩn của giáo dục hiện đại ở Cộng hòa Pháp, đi trước Anh và Đức, rồi thành chuẩn cho toàn châu Âu sau này.

Là người nhiệt thành ủng hộ việc xâm chiếm thuộc địa ở Việt Nam, ông bị chính giới Pháp đặt cho cái tên 'Người Bắc Kỳ'.

Năm 1885, Jules Ferry mất chức thủ tướng sau khi quân Pháp thua lính nhà Thanh ở trận Lạng Sơn.

Nhưng hệ thống giáo dục kiểu Pháp theo cải cách Jules Ferry được đem vào Việt Nam đã thay đổi diện mạo xứ sở này.

Tính phổ cập, không phân biệt giới tính trong giáo dục là những tư tưởng quá mới lạ ở nơi đa số người dân mù chữ, phụ nữ trong cả nghìn năm không được đi học.

Các trường thuộc địa đã đưa hàng vạn em trai và em gái người Việt đến lớp, học với thầy giáo và cô giáo Pháp theo hệ giáo dục văn minh nhất châu Âu.

Trong giáo trình này, Việt văn và Quốc ngữ đóng vai trò quan trọng nhờ vào cả chính sách của Pháp và sức thuyết phục của trí thức Việt.

3. Vì sao Pháp ủng hộ Quốc ngữ?

hầy giáo và học sinh trường trung học bảo hộ Albert Sarraut, Hà Nội - ảnh tư liệu của C.A.O.M 
Thời kỳ người Âu xâm chiếm, khai thác và khai hóa các thuộc địa kéo dài hàng trăm năm nên khó có một đánh giá chung đen trắng rõ rệt.

Nhìn chung thì các thuộc địa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là lạc hậu nhất, của Anh Pháp tốt hơn, và của Hà Lan, Bỉ thì kém cỏi, ít được đầu tư.

Ngoài việc truyền đạo, khai hóa và kiến thiết, các chế độ thực dân cũng tàn phá văn hóa bản địa, bóc lột nô lệ và còn gây tội ác diệt chủng như ở Brazil.

Nhưng khi Pháp sang Việt Nam vào thế kỷ 19, văn minh tại châu Âu và ý thức về dân quyền cũng đã được nâng cao.

Paris cho sang Đông Dương không ít nhà cai trị có uy tín về văn hóa, khoa học.

GS Trịnh Văn Thảo trong 'L'ecole francaise en Indochine' nói Gustave Domoutier, Paul Bert đều là những nhà cải cách theo trường phái Jules Ferry.

Ông Domoutier, giám đốc Viện Viễn đông Bác Cổ, không chỉ nghiên cứu về núi Ba Vì, về Cổ Loa, Hoa Lư bằng tiếng Pháp mà còn soạn 'Bài tập tiếng Annam'.

Cùng thời, Paul Bert trước khi sang làm Thống sứ Trung kỳ và Bắc Kỳ đã là nhà khoa học lỗi lạc, cha đẻ của y học không gian (aviation medicine).

Ngày nay, các công trình mang tính tiên phong của ông về ảnh hưởng về mặt sinh lý của áp suất không khí và dưới nước vẫn được áp dụng cho hàng không vũ trụ.

Sau đó, toàn quyền Paul Doumer sang Đông Dương từ 1897 đến 1902 tiếp tục các công trình xây dựng Hà Nội và cải tổ hệ thống giáo dục.

Nhưng phải đến khi Albert Sarraut sang làm toàn quyền Đông Dương hai lần (1911-14, 1916-19) thì chữ Quốc ngữ mới thực sự khởi sắc.

Theo Keith Taylor, nhờ 'Kỷ nguyên Albert Sarraut' mà tiếng Việt, văn hóa và sách báo Quốc ngữ được nâng cao chưa từng có.

"Ông mời các trí thức Việt Nam đến để cùng khai thác, định nghĩa thế nào là văn hóa Việt Nam ở thể thức có thể cùng tồn tại hài hòa với văn hóa Pháp....Cùng việc bỏ hệ thống khoa cử và chữ tượng hình, chữ Quốc ngữ được đẩy lên để đóng vai trò phương tiện chuyển tải và quảng bá văn hóa."

Cô giáo Pháp dạy các nữ học sinh Việt - ảnh tư liệu của C.A.O.M 
Ý tưởng ban đầu muốn xóa toàn bộ tiếng Việt và áp dụng tiếng Pháp cho toàn Đông Dương như đã làm ở châu Phi bị bác bỏ.

Mặt khác, các trí thức như Trương Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh đã thuyết phục được người Pháp rằng tiếng Việt không phải là một thứ thổ ngữ (Patois) mà chuyển tải được các tư tưởng văn minh, tiến bộ.

Để người Việt dùng Quốc ngữ, chính quyền Pháp cũng đạt mục tiêu là phá bỏ quá khứ Hán hóa và xóa dần ảnh hưởng Trung Hoa ở Việt Nam.

Từ thời Albert Sarraut, Quốc ngữ thành ngôn ngữ hành chính bên cạnh tiếng Pháp và Hán văn.

Mô hình ba ngôn ngữ này được ông Hà Ngại, một vị quan triều Nguyễn kể lại trong cuốn 'Tiếng Tơ Đồng':

"Đến Tòa sứ Quy Nhơn, tôi được Công sứ Pháp Fries phái đến dịch án với các ông Phán toà. Án hình và án hộ do tỉnh đệ đến Tòa, bằng chữ Hán và Quốc ngữ, phải dịch ra chữ Pháp cho Công sứ duyệt. Các bản án nào cũng có một bản chữ Hán và một bản Quốc ngữ..."

 Tạp chí Nam Phong đã đóng vai trò quan trọng để quảng bá Quốc ngữ


Hệ thống trường Pháp không chỉ dạy lịch sử Việt Nam 'từ Hồng Bàng đến nhà Nguyễn', và 'Chuyện đời xưa' (Trương Vĩnh Ký) mà còn dạy Việt văn gồm cả Chinh phụ ngâm khúc, Truyện Thuý Kiều (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim)...

Sách Quốc văn Giáo khoa thư đã thành nền tảng giáo dục cho nhiều thế hệ học sinh.

4. Đông Kinh Nghĩa Thục và sự tự ý thức


Nhưng sự phổ biến văn hóa Âu và chữ Quốc ngữ chưa lan ra cả nước vì phản ứng chống Pháp vẫn còn trong giới Nho học.

Phải đợi đến phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1917) thì Quốc ngữ mới được chấp nhận "toàn tâm toàn ý" để quảng bá tư tưởng dân tộc.

Nhưng ở Nam Kỳ, các báo Quốc ngữ của Diệp Văn Kỳ, Trương Vĩnh Ký, Sương Nguyết Án đã có mặt hàng chục năm trước, cụ thể là Gia Định Báo có từ 1865.

Từ những năm 1880, Trương Vĩnh Ký (1837-1898) và người Pháp trong Cơ quan Học chánh Nam kỳ đã soạn sách giáo khoa dạy Quốc ngữ ở cấp tiểu học.

Bởi thế Đông Kinh Nghĩa Thục ở miền Trung và miền Bắc là phong trào tự thức tỉnh của các nhà Nho để không bị thời cuộc bỏ rơi chứ họ không đi tiên phong.

Tuy nhiên, ý nghĩa chính trị của phong trào là xóa mặc cảm cuối cùng để giành lấy một phương tiện ngôn ngữ nhằm tự nâng mình lên.

Đông Kinh Nghĩa Thục cũng thúc đẩy tạo ra một thế hệ tư sản dân tộc là dùng Quốc ngữ, những người sẽ có đóng góp to lớn cho công cuộc độc lập sau này.

Cùng lúc, đây là thời kỳ thoái trào của Hán học.

Năm 1919, vua Khải Định cho bỏ khoa cử, coi chữ Quốc ngữ thành chữ viết chính thức của quốc gia.

Nhưng sự kiện quan trọng nhất cho sự phát triển của Quốc ngữ phải kể đến là sự ra đời của Nam Phong tạp chí năm 1917.

Trích báo Nam Phong 
Lần đầu tiên, các tư tưởng Đông Tây, kim cổ, lịch sử Việt Nam, Trung Hoa, cải cách Minh Trị ở Nhật Bản, hệ thống chính trị Mỹ, Pháp, vấn đề triết học Đức, nữ quyền ở Đông Dương... được Nam Phong chuyển tải hoàn toàn bằng Quốc ngữ đến người Việt Nam.

Nhà báo, học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) có viễn kiến coi Quốc ngữ là phương tiện để nâng dân tộc lên hàng văn minh và Nam Phong tạp chí đóng vai trò đó hết sức xuất sắc.

Các thầy giáo Pháp và học sinh Việt trường Petrus Ký, Sài Gòn - ảnh tư liệu C.A.O.M 
Sau khi Pháp thua Nhật, vào tháng 4/1945, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ Trần Trọng Kim soạn các sách giáo khoa, gồm cả sách toán, kỹ thuật lần đầu bằng tiếng Việt.

Bộ Quốc văn Giáo khoa thư vào áp dụng ngay trong niên học 1945-46 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Sau đó, Chính phủ VNDCCH từ tháng 9/1945 tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch xóa nạn mù chữ ở nông thôn bằng sắc lệnh 'Bình dân học vụ' nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ 1948 đến 1955, chính phủ Quốc gia Việt Nam dù phụ thuộc người Pháp vẫn lấy tiếng Việt Quốc ngữ làm ngôn ngữ số một.

Tổng quan mà nói, chữ Quốc ngữ tuy không quá đặc biệt về mặt kỹ thuật La tinh hóa, nhưng qua thăng trầm lịch sử, nhờ nỗ lực của nhiều nhân vật độc đáo, cùng chính sách Đông-Tây hội tụ đúng lúc nên đã bén rễ và còn có sức sống vượt qua chiến tranh để kết nối cả một quốc gia như ngày nay.

 Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/culture-social-45249539


December 3, 2019

Vài sự kiện lịch sử bị giải thích sai

Nhân câu chuyện đặt tên đường ở Đà Nẵng và theo gợi ý của Nguyễn Lương Hải Khôi, đọc lại vài cuốn lịch sử và phát hiện được những chuyện động trời, xin chép ra đây hầu độc giả.

1. Cố tình giải thích sai

Thế hệ chúng ta, những người lớn lên ở miền Bắc sau năm 1950 và trên cả nước sau năm 1975, được dạy: “Năm 1784, Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) đem Hoàng Tử Cảnh sang Pháp, được yến kiến Louis XVI. Năm 1787, Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn Ánh kí với De Montmorin tờ giao ước, đại khái nói rằng: Nước Pháp giúp Nguyễn Ánh một số chiến thuyền và binh sĩ, đổi lại Việt Nam phải nhường cho nước Pháp cửa Hội An và đảo Côn Lôn cũng như phải để cho người nước Pháp ra vào buôn bán tự do ở trong nước”. Đấy là lí do để các sử gia cộng sản đổ riệt cho nhà Nguyễn tội: “Rước voi về dày mả tổ” và “Cõng rắn cắn gà nhà”.


Nhưng tờ giao ước này không bao giờ được thực hiện, một phần vì Bá tước De Conway, trấn thủ Pondichéry (Ấn Độ), được giao thực hiện giao ước bất hòa với Pigneau de Behaine, không chịu làm, một phần vì chỉ sau đó mấy năm đã xảy ra Cách mạng Pháp (1789). Năm 1817, thuyền trưởng người Pháp là bá tước De Kergarion nói rằng “vua Luis XVIII sai sang xin thi hành những điều ước của Bá Đa Lộc kí năm 1787 về việc nhường Đà Nẵng và đảo Côn Lôn [không hiểu sao trang 418 VNSL ghi là cửa Hội An mà trang 448 lại ghi là “nhường Đà Nẵng”]. Vua Thế Tổ (Gia Long) sai quan ra trả lời rằng những điều ước ấy nước Pháp trước đã không thi hành thì nay bỏ không nói đến nữa” (Việt Nam Sử Lược – trang 448). Những chi tiết này chúng ta đều không được học.

Sau này, khi người Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ, buộc triều đình nhà Nguyễn kí hiệp định, gồm 12 điều nhường hẳn 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp cũng không hề nhắc tới giao ước năm 1787.

Chỉ vì chuyến đi Pháp của hoàng tử Cảnh cũng như “Bá Đa Lộc đứng lên mộ người, mua tàu và súng ống khí giới để đem sang giúp Nguyễn Vương” (VNSL – trang 419) mà nói rằng Gia Long cõng rắn cắn gà nhà thì có phải là bình luận ác ý hay không? Xin lưu ý: Các nhà buôn và các nhà truyền giáo phương Tây đã đến Việt Nam từ rất lâu rồi, họ đã biết rõ và gửi về nước các báo cáo về tình hình Việt Nam mà không cần hoàng tử Cảnh. Ngày xưa, có tài nguyên thiên nhiên quí giá mà không biết sử dụng hay không đủ lược lượng bảo vệ thì sẽ bị xâm lược. Còn ngày nay có tài nguyên và nhân công rẻ mạt thì nhất định sẽ có nước ngoài đầu tư trực tiếp. Không người “cõng” hay “rước”, họ tự đến. Qui luật muôn đời là như thế. Chỉ cách nói khác đi mà thôi.

Còn khi Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì thì các sử gia cộng sản lại vin vào câu: “Phan Lâm mãi quốc triều đình khí dân”, tức là các văn thân, sĩ phu và nhân dân còn muốn chiến đấu nhưng nhà Nguyễn thông qua Phan Thanh Giản và Lâm Duy Tiếp đã kí hiệp ước nhượng 3 tình Nam Kì cho Pháp để kết tội nhà Nguyễn bán nước. Tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm là việc rất nên ca ngợi và biểu dương, nhưng những người trong cuộc biết rõ tương quan lực lượng, cho nên năm 1867, khi quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kì, Phan Thanh Giản biết thế không chống nổi đã xin đầu hàng rồi uống thuốc độc tự tử.

Việt Nam không phải là nước duy nhất và cuối cùng ở châu Á bị các cường quốc phương Tây xâm lược và phải chịu nô dịch. Các nước ở châu Á thất bại là vì châu Á lạc hậu hơn hẳn châu Âu về mặt kĩ thuật. Hãy xem cuộc Chiến tranh nha phiến năm 1839-1842: Nước Anh ngang ngược bắt Trung Quốc phải cho họ mang thuốc phiện vào bán. Không cho, họ đánh đến mức phải cho, rồi phải mở 5 thương cảng và nhượng Hong Kong cho họ. Cái này nhiều người đã biết, không nhắc lại nữa.

Không chỉ Trung Quốc, Ấn Độ, một nước lớn khác cũng bị cường quốc phương Tây là nước Anh xâm lược. Cuộc xâm lược của Anh ở Ấn Độ ít người biết. Xin trích dẫn một cuộc chiến đấu giữa quân Anh và quân Ấn: “Clive với ba ngàn quân, một phần ba trong số đó là người Anh đối đầu với viên thái thú với mười lăm ngàn kị binh và ba mươi ngàn lính bộ binh. Chênh lệch về pháo binh cũng gần như thế. Clive đã chiến đấu với lực lượng chênh lệch như thế và ngày 23 tháng 6 năm 1757 đã giành chiến thắng ở Plassey – đấy cũng là ngày mà sau này mọi người coi là ngày thành lập đế chế Anh ở Ấn Độ” (Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử - trang 389). Lòng yêu nước không thôi không thể đối đầu với sức mạnh vật chất và kĩ thuật.

Kết tội nhà Nguyễn cõng rắng cắn gà nhà và bán nước có phải là cố tình giải thích sai, chưa nói là ngậm máu phun người hay không?

2. Lờ đi một sự kiện cực kì quan trọng

Chưa hết. Sau khi quân Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai (1882), triều đình Tự Đức đã xin nhà Thanh cứu viện: “Theo yêu cầu của Nam Triều gửi tới triều đình Trung Hoa, vì có cuộc tranh chấp xảy ra ở Hà Nội, xin một số quân viện là hai mươi ngàn người. Hoàng đế Trung Hoa đã phúc đáp bằng những chữ: Khả, sĩ bắc phong tái biện (nôm na là đồng ý) (Nước Đại Nam đối diện với Pháp & Trung Hoa, trang 341).

Việt Nam sử lược (trang 558) nói về việc cầu cứu nước tàu như sau: “Triều-đình ta bấy giờ nghĩ nước Pháp cố ý chiếm-đoạt, và lại tưởng rằng nước Tàu có thể bênh-vực được mình, cho nên mới sai ông Phạm thận Duật sang Thiên-tân cầu-cứu”. Trần Trọng Kim bình luận như sau: “Chẳng qua là người mình hay có tính ỷ-lại, cho nên mới đi kêu-cầu người ta, chớ không biết rằng người Tàu giữ nước Tàu không xong còn đi cứu ai được”. Rồi ông viết tiếp: “Tuy vậy, không những là Tàu không cứu được mình mà lại còn muốn nhân dịp để mượn tiếng sang lấy nước mình. Xem như khi thành Hà-nội thất-thủ, quan tổng-đốc Lưỡng Quảng là Trương thụ Thanh làm mật sớ về tâu với vua nhà Thanh, đại lược nói rằng : “Nước Nam và nước Tàu tiếp giáp với nhau mà thế-lực nước Nam thật là suy-hèn, không có thể tự-chủ được nữa, vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ các tỉnh ở thượng-du. Đợi khi có biến thì ta chiếm lấy những tỉnh ở về phía Bắc sông Hồng-hà”. Bởi vậy Triều-đình nhà Thanh mới sai Tạ kính Bưu, Đường cảnh Tùng đem quân sang đóng ở Bắc-ninh và ở Sơn-tây, sau lại sai quan bố-chính Quảng-tây là Từ diên Húc đem quân sang tiếp-ứng”.

Quân Trung Quốc kéo vào Bắc kì, chiến tranh Pháp-Thanh bùng nổ. Tuy quân Pháp đã đuổi đuổi được phần lớn quân Thanh về Trung Quốc. Nhưng để tránh chiến tranh kéo dài, chính phủ Pháp sai François-Ernest Fournier sang Thiên Tân ký với Lý Hồng Chương bản thỏa thuận sơ bộ được gọi là Hòa ước Thiên Tân 1884, trong nội dung bản hoà ước sơ bộ giữa Pháp và nhà Thanh năm 1884, có điều khoản nhà Thanh công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Dựa vào bản thỏa thuận sơ bộ năm 1884 ở Thiên Tân, hai bên đã đi đến ký kết bản hiệp ước chính thức, được gọi là Hòa ước Thiên Tân 1885, Chính phủ Pháp sai Patenôtre - Đại diện Cộng hòa Pháp đến Huế sửa lại Hòa ước Quý Mùi 1883 trước đó giữa Pháp và nhà Nguyễn.

Sự kiện này đã bị lờ đi, không sách nào nhắc tới. Người học, người đọc sách do nhà nước in cảm thấy hụt hẫng, không biết tại sao lại có những sự kiện như quân Cờ đen giết Francis Garnier (1873), giết Henri Rivière (1883), rồi Hòa ước Quý Mùi (1883), Hòa ước Thiên Tân (1884), Hòa ước Patenôtre (1884), rồi phân định biên giới với nhà Thanh….

Vì vậy mà Nguyễn Lương Hải Khôi khi “làm “phỏng vấn” nhỏ một số bậc thức giả, bao gồm cả những người nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, một câu hỏi duy nhất: Trước thế kỷ 20, cuộc xâm lược cuối cùng của Trung Quốc đối với Việt Nam là cuộc xâm lược nào? Trong sự kiện ấy, ai là tổng chỉ huy của quân đội Trung Quốc? Ai là người đánh bại đội quân xâm lược đó?

Hầu hết người được hỏi đều trả lời: Đó là cuộc xâm lược của Mãn Thanh thời Hoàng đế Càn Long vào năm 1789, chỉ huy đội quân xâm lược là Tôn Sỹ Nghị, người đánh bại đội quân xâm lược đó là Hoàng đế Quang Trung.

Chỉ có một học giả duy nhất trả lời đúng: Cuộc xâm lược cuối cùng là vào thế kỷ 19, thời Từ Hy thái hậu của Mãn Thanh, chỉ huy đội quân xâm lược là Phùng Tử Tài, còn người đánh bại cuộc xâm lược đó của Trung Quốc là… thực dân Pháp” (hết trích).

3. Vĩ thanh: 

Khi khoa học, nhất là các môn khoa học xã hội, trong đó có lịch sử, đã bị buộc phải có “tính đảng”, “tính giai cấp” thì dĩ nhiên là không còn là khoa học nữa. Cho nên nếu bạn có nghe thấy ai đó nói rằng ông kia, ông kia là nhà… nhớn thì bạn cũng chỉ nên “kính nhi viễn chi” chứ đừng phản bác, cũng đừng a dua theo làm gì. Bởi vì phần lớn trong số họ và phần lớn thời gian trong cuộc đời mỗi người, họ chỉ là những bồ chứa sách và cái loa tuyên truyền cho chế độ mà thôi. Nói thế nghĩa là ta có thể thông cảm phần nào cho 11 giáo sư, tiến sĩ, “bảo hoàng hơn cả vua” trong việc phản đối đặt tên đường hai vị linh mục Tây ở Đà Nẵng. “LẠY CHA, XIN THA CHO HỌ, VÌ HỌ KHÔNG BIẾT VIỆC HỌ LÀM”. Chúa Jesus từng nói như thế.

HẾT.