July 16, 2018

“Thời khắc Reagan” cho cuộc chiến tranh thương mại?

Mohamed A. El-Erian

Phạm Nguyên Trường dịch

Trong những năm 1980, Tổng thống Mỹ, Ronald Reagan, phát động cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô, kết quả là đã làm thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới và gây được ảnh hưởng tới nhiều quốc gia. Liệu cuộc chạy đua về thuế quan của Donald Trump với Trung Quốc có dẫn tới kết quả tương tự?

Vòng ra đòn và trả đũa mới nhất giữa Mỹ và Trung Quốc đã thúc đẩy thêm các cuộc tranh luận đang diễn ra trên toàn thế giới về việc liệu thế giới có đang trực diện với cuộc xung đột thương mại đơn thuần hay đang lao nhanh tới một cuộc chiến thương mại toàn diện. Nhưng cái được mang ra đặt cược có thể thậm chí còn mang tính nền tảng hơn hẳn. Ngẫu nhiên hay có chủ ý, chính quyền của Tổng thống Donald Trump có thể đã và đang dọn đường tới “thời khắc Reagan” trong quan hệ thương mại quốc tế.

Trong những năm 1980, Tổng thống Mỹ, Ronald Reagan, đã phát động cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô, kết quả là đã làm thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới và gây được ảnh hưởng tới nhiều quốc gia. Hiện nay, Trump đã tung ra cuộc đua thuế quan với Trung Quốc, một siêu cường kinh tế, có thể sẽ dẫn những hậu quả sâu rộng tương tự như thế. Tương tự như dưới trào Reagan, Mỹ có vị trí thuận lợi hơn, đủ sức giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc - nhưng rủi ro cũng khá lớn.

Ông Donald Trump thời trai trẻ và Tổng thống Reagan

Trong vụ leo thang mới nhất, Mỹ áp đặt mức thuế trị giá 34 tỷ USD lên hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Trung Quốc áp đặt thuế quan trả đũa ngay lập tức, khiến Mỹ đe dọa áp dụng nhiều biện pháp bảo hộ hơn nữa. Những hành động này cũng buộc chính quyền Trump phải áp đặt thuế quan lên hàng nhập khẩu từ những nước khác, trong đó có một số đồng minh thân cận nhất của Mỹ (ví dụ, Canada) và đe dọa rút khỏi Tổ chức Thương mại Thế giới – tổ chức củng cố hệ thống điều chỉnh dựa trên luật pháp việc luân chuyển hàng hóa, dịch vụ và vốn qua biên giới giữa các quốc gia.

Hiện đại hóa sẽ mang lại lợi ích cho nhiều thỏa thuận thương mại đã được kí kết. Và hầu hết các nhà kinh tế học đều đồng ý rằng việc Mỹ bất bình với Trung Quốc về thương mại là chính đáng, trong đó có ăn cắp tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ từ một phía, và những rào cản thương mại phi thuế quan, ví dụ, buộc các công ty nước ngoài phải tham gia các thỏa thuận liên doanh với các công ty trong nước thì mới được tiếp cận thị trường của Trung Quốc.

Nhưng hầu hết các nhà kinh tế học cũng đồng ý rằng đua nhau tăng thuế là cách giải quyết đầy mạo hiểm. Bởi vì thuế quan gây ra áp lực giảm phát (nghĩa là, thúc đẩy cùng một lúc lạm phát và trì trệ trong hoạt động kinh tế), có thể làm suy yếu đà phục hồi kinh tế toàn cầu, hiện đang chịu nhiều thách thức. Và làm phức tạp thêm chính sách tiêu chuẩn hóa tiền tệ đã diễn ra trong thời gian quá dài, trong khi lại làm tăng khả năng làm cho nền tài chính toàn cầu rơi vào tình trạng mất ổn định. Các vết nứt hệ thống được tạo ra có thể gây nguy hiểm cho toàn bộ hệ thống giao dịch đa phương dựa trên luật pháp đúng vào lúc khi mà chúng ta không có lựa chọn thay thế khả dĩ nào khác.

Nhiều nhà kinh tế học do dự, không biết phía trước sẽ là gì. Ví dụ, một nhóm các nhà kinh tế học trong khi công nhận rằng những căng thẳng hiện nay làm gia tăng nguy cơ rủi ro hoặc sai lầm trong chính sách, họ coi những căng thẳng đó là thành phần của các cuộc tham khảo và đàm phán. Họ khẳng định rằng khi tình hình trở nên căng thẳng, các cường quốc thương mại lớn trên thế giới sẽ tìm cách tránh cách tiếp cận mang tính hủy diệt lẫn nhau, và họ sẽ đàm phán để thiết lập chế độ thương mại tự do, nhưng công bằng hơn. Những chỉ dẫn ban đầu rằng EU hiện có thể đã sẵn sàng xem xét sáng kiến không đánh thuế ​​ô tô đã góp phần củng cố quan điểm này.

Một nhóm các nhà kinh tế học khác, trong khi nhắc lại những tiền lệ lịch sử, đã cảnh báo rằng các biện pháp thương mại lợi mình hại người có thể nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát, làm giảm đáng kể mức sống của người dân. Khi sự phân cực về chính trị thể hiện một cách rõ ràng, sự tức giận đối với giới quyền uy, và sự ngờ vực trước các ý kiến của giới ​​chuyên gia - do thất vọng về kinh tế và sợ hãi trước những thay đổi về văn hóa và công nghệ - những biện pháp bảo hộ được tăng cường có thể sẽ làm gia tăng chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy, và chính sách hướng nội.

Nhưng so sánh với Reagan gợi ý rằng có thể có những hàm ý khác, rộng lớn hơn. Bằng cách buộc Liên Xô tham gia cuộc chạy đua vũ trang mà Mỹ chắc chắn sẽ thắng (với giá phải trả là nợ nần tăng lên và nguy cơ xung đột cao hơn), Reagan đẩy nhanh quá trình sụp đổ của cái mà ông gọi là “đế chế ác quỷ”.

Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan, phát biểu trong lễ kỷ niệm 750 năm thành phố Berlin, phía sau ông là Cổng Brandenburg, gần Bức tường Berlin | Mike Sargent / AFP Getty Images

Đó là một chiến lược táo bạo và đầy rủi ro, và cuối cùng đã làm thay đổi bản đồ chính trị châu Âu. “Đế chế” châu Âu của nó đã sụp đổ, trước khi Liên Xô tan rã, dẫn tới việc hình thành 15 quốc gia mới. Bức tường Berlin sụp đổ, nước Đức thống nhất và Nam Tư tan rã. Chẳng bao lâu sau, “vụ ly hôn nhung” của Tiệp Khắc tạo ra Cộng hòa Séc và nước Slovakia - cùng với các nước Trung và Đông Âu khác (trong đó có Hungary và Ba Lan) – những nước đã bám chặt vào phương Tây bằng cách gia nhập NATO và EU.

Cuộc chiến thương mại hiện nay sẽ làm cho tất cả các nền kinh tế đều bị thiệt hại. Nhưng Mỹ - tương đối ít phụ thuộc vào thị trường nước ngoài, có thị trường nội địa phát triển sâu rộng hơn, và nói chung, có tiềm lực kinh tế hơn hẳn các nước khác - sẽ hoạt động tốt hơn hầu hết những nước khác trong khi nền kinh tế thế giới đang teo lại. Thị trường tài chính Trung Quốc đã thiệt hại, trong khi các thị trường tài chính Mỹ vẫn đứng vững.

Lý thuyết trò chơi cho rằng các tác nhân duy lý, trong khi nhận thức được rằng chiến tranh thương mại sẽ làm họ tổn thất đến mức nào, sẽ thấy giá trị của việc từ bỏ chiến lược trả đũa, và chấp nhận nhiều đòi hỏi của Mỹ. Chiến lược này có thể làm cho Mỹ trở thành mạnh mẽ hơn và sẵn sàng hơn trong việc ngăn chặn, không để ảnh hưởng và vị thế của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu tiếp tục bị xói mòn như đã từng diễn ra suốt nhiều năm qua.

Nhưng hoàn toàn không có gì đảm bảo rằng cách tiếp cận này sẽ thành công. Muốn thành công, cần phải có sự tin tưởng lẫn nhau cao hơn là hiện nay. Xã hội Mỹ đang bị chia sẽ cần phải cùng nhau đồng hành trong suốt giai đoạn ăn miếng trả miếng, vì chiến lược trả đũa sẽ làm cho giá cả gia tăng và, trong một số trường hợp, việc làm sẽ bấp bênh hơn.

Hơn nữa, chính quyền Trump phải tránh đẩy các nước khác (đặc biệt là Trung Quốc) vào tình trạng quá khó khăn ngay lập tức, vì làm như thế có thể làm cho toàn bộ nền kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng suy thoái và thị trường suy giảm một cách hỗn loạn. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) – trên cơ sở các mối liên hệ trong cộng đồng doanh nghiệp trong nước - đã cảnh báo rằng kế hoạch đầu tư của các công ty có thể bị “cắt giảm hoặc hoãn lại” vì quan hệ thương mại toàn cầu đang ở trong tình trạng bấp bênh. Và chúng ta đừng quên rằng Trung Quốc hiện đang nắm một khối lượng lớn trái phiếu kho bạc Mỹ; nếu bị ép quá mức, nước có thể này có thể dùng nó để làm mất ổn định thị trường trái phiếu của chính phủ Mỹ, mà thị trường này lại là yếu tố then chốt đối với sức khỏe của hệ thống tài chính toàn cầu.

Còn quá sớm, chưa thể nói được “thời khắc Reagan” về thương mại sẽ diễn ra hay là không và nó có mang lại hệ thống công bằng hơn hay là không. Dù sao mặc lòng, cách tiếp cận như thế đòi hỏi chiến lược phải được thiết kế một cách cẩn thận và thực hiện một cách khéo léo – cần nhiều may mắn - được quản lý bằng hiểu biết sâu sắc về các yếu tố kinh tế, chính trị và địa chính trị. Đó là lý do tại sao chúng ta phải vượt lên câu hỏi liệu đây có phải là cuộc xung đột hay cuộc chiến tranh thương mại nhằm xây dựng những chiến lược thực tế cho “thời khắc Reagan”, nếu quả thật chúng ta muốn thấy thời khắc này.

Mohamed A. El-Erian, Cố vấn kinh tế trưởng tại Allianz, công mẹ của PIMCO, nơi ông từng là giám đốc điều hành và đồng giám đốc đầu tư, ông cũng là Chủ tịch Hội đồng phát triển toàn cầu của Tổng thống Barack Obama. Ông cũng từng là Giám đốc điều hành của Công ty Quản lý Harvard và Phó Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Ông được tạp chí Foreign Policy đưa vào danh sách 100 nhà tư tưởng hàng đàu thế giới trong những năm 2009, 2010, 2011 và 2012. Tác phẩm gần đây nhất của ông có nhan đề The Only Game in Town: Central Banks, Instability, and Avoiding the Next Collapse.

Nguồn Project-Syndycate.

Đã đăng trên Việt Nam Thời Báo.

July 11, 2018

Hệ Lụy Từ Những Cuốn Giáo Trình Chính Trị

Tâm Don


Tại Việt Nam, môn sử đang trở nên rẻ rúng hơn bao giờ hết, người học chán bao nhiêu thì có lẽ người dạy cũng chán bấy nhiêu. Phải chăng, cuốn sách giáo khoa lịch sử đang trở thành cuốn giáo trình chính trị, là gốc rễ của vấn đề?


KỶ LỤC BUỒN

Ngày 9-7, báo Tuổi Trẻ online cho đăng tải bản tin với nội dung hơn 80% thí sinh TPHCM dưới trung bình môn sử trong cuộc thi THPT Quốc Gia. Bản tin cho biết: “Năm nay, môn lịch sử có đến 80,9% thí sinh ở TP.HCM điểm thi dưới trung bình, chỉ có 19,1% thí sinh đạt từ 5 điểm trở lên; số thí sinh từ 8 điểm trở lên là 0,36%”. Cũng theo bản tin này, tại khu vực thi TP HCM không có thí sinh nào đạt điểm 10 môn lịch sử.

Các môn thi khác thì sao? Theo Tuổi Trẻ, môn địa lý có hơn 35% thí sinh có điểm dưới trung bình, môn giáo dục công dân có hơn 1,4% thí sinh dưới điểm trung bình, môn vật lý có hơn 46% dưới điểm trung bình, môn hóa có hơn 50% dưới điểm trung bình, môn sinh có hơn 62% dưới điểm trung bình, môn toán có hơn 30% dưới điểm trung bình, môn văn có gần 28% dưới điểm trung bình, môn ngoại ngữ có gần 52% dưới điểm trung bình. Môn lịch sử đã đạt một kỷ luật buồn. Và có lẽ, con số thống kê ở TPHCM cũng đại diện cho “kỷ lục buồn” trên cả nước. Nhưng, kỷ lục buồn này đã thường xuyên hiện diện trước đó với rất nhiều hình thức.

Không thể phủ nhận một thực tế rằng, học sinh THPT đã chán môn học lịch sử từ lâu. Điển hình, vào năm 2013, khi học sinh biết sử là môn tự chọn trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và không phải là môn xét tuyển đại học, nhiều học sinh đã xé đề cương lịch sử rồi rải trắng sân trường. Hay gần đây hơn, trong năm 2015, môn lịch sử bị ghét đến nỗi tại trường phổ thông Yên Thành 2 (Nghệ An), chỉ có một thí sinh thi môn sử, trong khi nhà trường vẫn phải bố trí 66 cán bộ coi trông và làm đề thi. Đây không phải là vấn đề chỉ riêng một trường, một cơ sở giáo dục hay một vùng gặp phải, mà là một thực trạng chung, một vấn nạn mà cả ngành giáo dục và xã hội đang phải đương đầu.

Vào ngày 4-7-2016, trong kỳ thi THPT môn lịch sử, chỉ lèo tèo thí sinh thi môn lịch sử, nhiều điểm thi không có thí sinh nào. Cũng trong năm 2016 này, Nghệ An có 34.000 học sinh đăng ký thi PTTH quốc gia, đông nhất cả nước, nhưng chỉ có gần 3.000 học sinh thi môn sử, thấp nhất trong lịch sử thi môn này. Nhiều điểm thi của Nghệ An hoàn toàn không có học sinh thi môn sử. Cũng trong kỳ thi THPT năm 2016, tại Cần Thơ chỉ có 357 học sinh dự thi môn sử. Cách đây 30-40 năm về trước, tại Việt Nam, môn lịch sử là môn được học sinh yêu thích. Khoa sử ở các trường đại học sư phạm, cao đẳng sư phạm luôn có số giáo sinh cao hơn giáo sinh khoa văn. Và, cũng 30-40 năm về trước, người dân Việt Nam quan tâm đến lịch sử, hay bàn luận về các vấn đề lịch sử. Nhưng, tình thế đã thay đổi.

Năm 2013, học sinh Trường THPT Nguyễn Hiền (TPHCM) đã việc xé đề cương môn Sử (giadinh.net)

VÌ SAO? LỐI THOÁT NÀO?

Có ý kiến cho rằng, môn học này quá khô khan, các dữ liệu ngày/tháng/năm và nội dung dễ gây cảm giác buồn ngủ cho người nghe. Cũng có ý kiến đổ lỗi cho giáo viên giảng bài không hấp dẫn, không lôi cuốn được học sinh. Từ tâm lý thời cuộc, nhiều người cho rằng, xã hội Việt Nam đang chạy theo trào lưu làm ăn kinh tế, con người, trong đó có học sinh phổ thông, sống thực dụng hơn, nên họ không thích quay về quá khứ, không thích học môn sử. Một giáo viên dạy sử đề nghị giấu tên nói với người viết bài này rằng: “Nếu tôi dạy các em theo đúng sách giáo khoa, các em rất ngán học, rất uể oải. Tự bản thân tôi cũng thấy không hứng khởi khi phải dạy theo sách giáo khoa. Có lẽ sách giáo khoa môn sử đã có vấn đề? Nếu tôi dạy chệch sách giáo khoa một chút, không khí lớp học tự nhiên sôi nổi hẳn lên. Các em tranh luận và cãi cọ nhau hào hứng lắm. Còn trong giờ giảng bài mà tôi cập nhật cho học sinh tin tức thời sự, thông tin quốc tế thì học sinh rất phấn khích, rất chăm chú theo dõi, và có nhiều bình luận lí thú. Chắc chắn, sách giáo khoa môn sử đã có vấn đề!”.

Một phụ huynh là ông Tôn Đức Hoài ở quận Bình Thạnh, Sài Gòn, cũng nhìn nhận rằng, sách giáo khoa lịch sử là nguyên nhân gây ra việc chán học sử ở các em học sinh. Ông nói: “Lật trang nào cũng thấy đánh nhau, cũng thấy chiến tranh và xâm lược. Tâm lý bọn trẻ bây giờ đã khác, chúng nó muốn bình yên và nhân bản. Sao không dạy cho bọn trẻ vì sao trong lịch sử các triều đại cứ thay nhau suy tàn? Vì sao không dạy cho học sinh vì sao mà đất nước mình luôn luôn có chiến tranh? Hãy đưa sự thật lịch sử đến với bọn trẻ!”. Từ lâu, nhiều nhà sử học Việt Nam đã lặng lẽ nói với nhau rằng, bộ môn lịch sử đã trở thành cuốn giáo trình tuyên truyền thô thiển về sự vĩ đại, về sự quang vinh. Môn lịch sử là môn học bị chính trị hóa sâu sắc nhất, trầm trọng nhất trong các môn học xã hội. Lịch sử Việt Nam không được viết bởi các sử gia mà được viết bởi chính quyền thông qua các “sử nô”. Và điều gì đến đã đến.

Khi một nữ thiếu niên có đời sống tâm thần không được bình thường thực hiện hành vi khủng bố lại được tôn vinh như siêu anh hùng; khi một nhân vật hoàn toàn không có thật, hoàn toàn là sản phẩm của trí tưởng tượng là Lê Văn Tám được dựng tượng vào trí óc non nớt của trẻ thơ, môn lịch sử sẽ bị chán ghét, và kéo theo đó là hệ lụy buồn thê thiết: lịch sử của dân tộc đang dần bị lãng quên. Khi mà trong sách lịch sử luôn minh định ta luôn luôn thắng, địch luôn luôn thua, khi mà số thương vong của quân địch luôn cao ngút ngàn trong khi không hề đưa ra số liệu thương vong của quân ta, môn lịch sử đã trở nên nhàm chán và dối trá. Điều gì đến đã phải đến. Viết lại lịch sử Việt Nam là một yêu cầu khẩn thiết, dù rằng lịch sử không thể thay đổi được, để gầy dựng lại những tâm hồn đã bị méo mó từ lâu, để vun đắp lại những bộ óc đã bị bóp nghẹt từ lâu, để tái tạo những nhân cách đã còi cọc từ lâu.

Đã đẳng trên Triviet,news

July 4, 2018

Facebook, Mind hay cả hai?

Tâm Don

Với những người này, dù có một hay hai tài khoản mạng xã hội, họ vẫn là họ, vẫn kiên quyết thể hiện quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt- quyền tự do đầu tiên để có những quyền tự do khác. Họ đã thấm đẫm triết lý sống: "Nếu không có tự do tư tưởng, con người chỉ là những cây sậy vô hồn", và họ sống để triết lý ấy trở thành hiện thực.


Những người thụ hưởng mạng xã hội ở Việt Nam đang tranh luận, và có ý kiến khác nhau về việc sử dụng mạng xã hội mới nổi MINDS. Dù ý kiến khác nhau, vẫn không phủ nhận một thực tế là: trong mấy ngày qua, rất nhiều người bất đồng chính kiến, nhiều nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam đã tạo tài khoản ở mạng xã hội có tên MINDS.

June 29, 2018

Trung Quốc đã bẫy và ép Sri Lanka "hai tay dâng cảng chiến lược" như thế nào?

HỒNG THỦY

(GDVN) - Bắc Kinh cho vay hàng tỉ USD sau đó đòi con nợ phải "lại quả" bằng cách thuê nhà thầu Trung Quốc với giá cao ngất ngưởng, đi sau là hàng ngàn lao động.

The New York Times ngày 25/6 có bài phân tích, Trung Quốc làm thế nào để ép Sri Lanka phải nhượng một cảng quan trọng cho họ. Tác giả cho biết:

Mỗi lần Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaksa (2005-2015) dùng dự án xây dựng một cảng lớn tại Hambantota để vay tiền và xin viện trợ từ Trung Quốc, ông luôn được Bắc Kinh đáp ứng.

Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaksa và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong lễ khánh thành dự án Thành phố cảng Colombo trị giá 1,4 tỉ USD vay Trung Quốc, ngày 18/9/2014, ảnh: China Daily.

Mặc dù nghiên cứu tiền khả thi dự án xây dựng cảng Hambantota cho thấy dự án này không hiệu quả, Ấn Độ và các quốc gia cho vay khác đã từ chối dự án này, ông Mahinda Rajapaksa vẫn làm.

Cho dù nợ công của Sri Lanka dưới thời Mahinda Rajapaksa liên tục tăng nhanh, ông vẫn quyết tâm vay tiền và xin viện trợ từ Trung Quốc.

Qua nhiều năm đàm phán với một trong những doanh nghiệp nhà nước hàng đầu Trung Quốc, Công ty Công trình cảng khẩu Trung Quốc (China Harbour), sự thất bại của dự án xây dựng cảng Hambantota đã được dự báo từ đầu.

Mặc dù một trong những tuyến hàng hải bận rộn nhất thế giới chạy qua với hàng ngàn, hàng vạn tàu thuyền, nhưng năm 2012 cảng Hambantota chỉ thu hút được 34 tàu cập bến.

Sau đó, Hambantota "rơi vào tay" Trung Quốc trong 99 năm.

Mahinda Rajapaksa phải rời khỏi Phủ Tổng thống năm 2015, nhưng chính phủ mới của Sri Lanka phải vật lộn để thanh toán những khoản nợ ông ta đã tạo ra cho đất nước mình.

Dưới áp lực nặng nề và sau nhiều tháng đàm phán với Trung Quốc, chính phủ mới buộc phải bàn giao cảng Hambantota và 15 nghìn mẫu đất xung quanh nó cho Trung Quốc trong vòng 99 năm vào tháng Chạp năm ngoái.

Bản chất bẫy nợ của Vanh đai và Con đường bộc lộ

Vụ việc thôn tính cảng Hambantota là một trong những ví dụ sinh động nhất về việc Trung Quốc sử dụng các khoản cho vay và viện trợ của mình để đạt được ảnh hưởng trên khắp thế giới;

Đồng thời nó cũng là bằng chứng cho thấy Trung Quốc sẵn sàng sử dụng các thủ đoạn cứng rắn như thế nào để thu hồi công nợ.

Những thỏa thuận này cũng tăng cường các cáo buộc ngày càng gay gắt về sáng kiến Vành đai và Con đường của Tập Cận Bình:

Chương trình cho vay và đâu tư toàn cầu của Trung Quốc là một cái bẫy nợ nhằm vào các quốc gia dễ bị tổn thương trên khắp thế giới, thúc đẩy tham nhũng và hành vi chuyên chế tại các quốc gia mục tiêu.

The New York Times đã có một loạt bài phỏng vấn các quan chức Sri Lanka, Ấn Độ, Trung Quốc và phương Tây cùng với việc phân tích các tài liệu, thỏa thuận về dự án xây dựng cảng Hambantota.

Những thông tin này đã cho thấy rõ cách Trung Quốc và doanh nghiệp nhà nước của họ bảo vệ lợi ích của mình như thế nào tại các nước nhỏ đang khát vốn.

Có thể tóm tắt các thủ đoạn này của Bắc Kinh qua dự án xây dựng cảng Hambantota tại Sri Lanka qua mấy đặc điểm dưới đây:

Thứ nhất, can thiệp nội bộ, vận động hành lang cho những cá nhân và thế lực thân Trung Quốc lên nắm quyền.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống Sri Lanka năm 2015, các khoản tiền lớn đã chảy trực tiếp từ tài khoản của China Harbour vào tài khoản của trợ lý tranh cử, phục vụ chiến dịch tái tranh cử Tổng thống của ông Mahinda Rajapaksa.

Mahinda Rajapaksa được xem là đồng minh quan trọng của Trung Quốc, chấp nhận mọi điều kiện Bắc Kinh đưa ra và sẵn sàng làm giảm ảnh hưởng của Ấn Độ ở Nam Á.

The New York Times đã nhìn thấy kết quả điều tra của chính phủ Sri Lanka cũng như các bằng chứng chuyển khoản (của Trung Quốc cho Mahinda Rajapaksa).

Thứ hai, mục tiêu tình báo và quân sự đi kèm các dự án cho vay trong khuôn khổ Vành đai và Con đường

Mặc dù các quan chức và giới phân tích Trung Quốc lúc nào cũng khẳng định, lợi ích của họ tại cảng Hambantota thuần túy là thương mại, nhưng quan chức chính phủ Sri Lanka cho hay:

Ngay từ lúc bắt đầu đàm phán, tiềm lực tình báo và chiến lược của Hambantota đã là một phần nội dung trao đổi.

Thứ ba, lãi suất ưu đãi chỉ làm mồi, con mồi dính bẫy sẽ ép gán nợ bằng lãnh thổ

Sau mỗi lần quan chức Sri Lanka đề nghị đàm phán lại và tăng tín dụng, các khoản vay ưu đãi dành cho dự án Hambantota lúc đầu ngày càng trở nên đắt đỏ.

Những năm gần đây, Sri Lanka ngày càng bị bức bách bởi nợ công và hy vọng được xóa nợ, thì Trung Quốc càng tảng lờ;

Ngược lại, họ yêu cầu tập trung đàm phán việc chuyển giao cảng Hambantota cho Trung Quốc.

Thứ tư, gán lãnh thổ vẫn chưa hết nợ

Mặc dù thỏa thuận chuyển giao cảng Hambantota cho Trung Quốc đã xóa khoản nợ 1 tỉ USD vì dự án này, nhưng do các khoản vay khác từ Trung Quốc vẫn tiếp tục với lãi suất cao hơn rất nhiều các nguồn vốn quốc tế khác, nợ công của Sri Lanka với Trung Quốc vẫn đạt mức cao nhất từ trước đến nay.

Mahinda Rajapaksa và các trợ lý của ông ta trong vài tháng liền đã không trả lời câu hỏi của The New York Times;

Các quan chức của công ty China Harbour cũng im lặng.

Báo cáo của Bộ Tài chính Sri Lanka đã vẽ nên một bức tranh ảm đạm: năm nay, chính phủ nước này dự kiến thu ngân sách đạt khoảng 14,8 tỉ USD, thì đã phải trả nợ 12,3 tỉ USD cá vốn lẫn lãi cho các chủ nợ quốc tế.

Giáo sư Brahma Chellaney từ Trung tâm Nghiên cứu Chính sách New Delhi, Ấn Độ bình luận:

"John Adams có câu nói nổi tiếng rằng, muốn chinh phục một quốc gia thì hoặc là dùng kiếm sắc, hai là dùng nợ nần. Trung Quốc đã chọn cách thứ 2".

Trung Quốc tìm cách đưa quân đội vào lãnh thổ các con nợ, càng là đồng minh càng dễ trở thành mục tiêu

Điều mà giới chức Ấn Độ lo lắng hiện nay là, rất có thể do tình trạng nợ như chúa Chổm mà Sri Lanka buộc phải chấp nhận yêu sách của Trung Quốc, đổi việc xóa nợ lấy quyền sử dụng cảng Hambantota vào mục đích quân sự;

Hợp đồng Sri Lanka cho Trung Quốc thuê cảng Hambantota và 15 ngàn mẫu đất xung quanh nó trong vòng 99 năm đã cấm Trung Quốc tiến hành hoạt động quân sự ở đây "nếu không có sự cho phép" của chính phủ Sri Lanka.

Cựu Ngoại trưởng Ấn Độ Shivshankar Menon nhận định:

"Trung Quốc đầu tư vào Hambantota là do những toan tính về an ninh, đây là lý giải hợp lý duy nhất. Mục đích cuối cùng của họ là đóng quân tại Hambantota."

Trung Quốc và Sri Lanka có quan hệ hữu hảo từ rất sớm. Sri Lanka là một trong những nước đầu tiên công nhận Cộng hòa Dân chủ nhân dân Trung Hoa sau năm 1949.

Nhưng trong cuộc xung đột gần đây hơn, cuộc nội chiến tàn bạo suốt 26 năm giữa Sri Lanka với lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil, Trung Quốc mới trở thành đồng minh không thể thiếu.

Mahinda Rajapaksa đắc cử Tổng thống Sri Lanka năm 2005, lãnh đạo đất nước này trong giai đoạn cuối của cuộc nội chiến, vì những cáo buộc vi phạm nhân quyền nên Sri Lanka dưới thời ông cầm quyền đã bị cô lập.

Hình ảnh ông Tập Cận Bình và ông Mahinda Rajapaksa tại cảng Hambantota. Ảnh: CNN.

Trong nhiệm kỳ của Mahinda Rajapaksa, Sri Lanka hoàn toàn dựa vào Trung Quốc về viện trợ kinh tế, thiết bị quân sự lẫn sự ủng hộ chính trị tại Liên Hợp Quốc, để đối phó với khả năng bị bao vây cấm vận.

Cuộc nội chiến kết thúc năm 2009, Sri Lanka thoát khỏi tình trạng hỗn loạn cũng là lúc Mahinda Rajapaksa cùng người nhà của ông ta củng cố quyền lực và địa vị.

Trong thời kỳ đỉnh cao quyền lực, 3 người anh em của Mahinda Rajapaks đã khống chế nhiều bộ ngành quan trọng trong chính phủ, cũng như 80% ngân sách quốc gia.

Trung Quốc thường đàm phán trực tiếp với những người này.

Chính vì vậy, khi Tổng thống Mahinda Rajapaksa kêu gọi xây dựng một cảng khẩu lớn ở Hambantota, những tiếng nói phản đối chỉ như châu chấu đá xe.

Hambantota là quê hương của Mahinda Rajapaksa, là một vùng đất thiếu sức sống. Và ngay từ đầu đã có những quan chức nghi ngờ dự án xây dựng cảng khẩu lớn thứ 2 của Sri Lanka tại Hambantota là thiếu sáng suốt.

Sri Lanka chỉ có diện tích lãnh thổ bằng 1/4 nước Anh với dân số 22 triệu người, cảng Colombo ở thủ đô phát triển phồn vinh vẫn còn không gian để mở rộng quy mô hoạt động.

Đơn vị được chính phủ Sri Lanka giao nghiên cứu tiền khả thi dự án xây dựng cảng Hambantota đã kết luận rõ, về mặt kinh tế việc xây dựng cảng tại Hambantota là không khả thi, không hiệu quả.

Cựu Ngoại trưởng Ấn Độ Shivshankar Menon cho biết:

"Họ đã tiếp cận chúng tôi ngay từ đầu, và các doanh nghiệp Ấn Độ đã từ chối. Dự án khi đó không có giá trị nào về mặt kinh tế, bây giờ cũng vẫn vậy."

Nhưng Mahinda Rajapaksa đã bật đèn xanh cho dự án này, sau đó trong một thông cáo báo chí, ông tuyên bố bất chấp mọi cảnh báo tiếp tục thực hiện dự án này, và Trung Quốc sẽ tham dự.

Năm 2007 Cục Cảng vụ Sri Lanka bắt đầu lên kế hoạch xây dựng cảng Hambantota mà các quan chức nước này ca ngợi là hợp lý về kinh tế, kĩ lưỡng và thận trọng.

Nguồn kinh phí đầu tiên để thực hiện dự án này đến từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (EXIM) với tổng số vốn 307 triệu USD.

Thủ đoạn ép quốc gia mục tiêu chấp nhận nhà thầu Trung Quốc giá cao và nhập khẩu lao động Trung Quốc

Tuy nhiên, một bức điện tín của Đại sứ quán Mỹ lúc đó được WikiLeeks tiết lộ cho thấy, để có được 307 triệu USD, Sri Lanka buộc phải chỉ định thầu Công ty Công trình cảng khẩu Trung Quốc (China Harbour) mà Bắc Kinh giới thiệu.

Vị trí hai cảng chiến lược của Sri Lanka.

Đây là yêu cầu điển hình của Trung Quốc với các dự án trọng điểm của họ trên khắp thế giới, chứ Trung Quốc không để đấu thầu công khai.

Theo các quan chức khu vực này, Bắc Kinh cho vay hàng tỉ USD sau đó đòi con nợ phải "lại quả" bằng cách thuê nhà thầu Trung Quốc với giá cao ngất ngưởng, đi sau là hàng ngàn lao động Trung Quốc.

Các khoản vay này còn đi kèm các điều kiện khác, điều đó cho thấy ngay từ đầu Trung Quốc đã nhắm vào giá trị chiến lược của Hambantota.

Cựu Đại sứ Sri Lanka tại Trung Quốc Nihal Rodrigo cho biết, trong đàm phán các quan chức Trung Quốc nói rất rõ, chia sẻ tin tức tình báo là một bộ phận của dự án.

Bắc Kinh muốn biết những ai (tàu thuyền nước ngoài nào) đến và đi từ cảng này.

Can thiệp sâu vào nội bộ, thao túng lãnh đạo quốc gia "con mồi"

Vài năm sau, các quan chức Trung Quốc thông qua China Harbour không tiếc tiền đầu tư "quan hệ" với Tổng thống Mahinda Rajapaksa.

Những tháng cuối trong cuộc đua tranh cử Tổng thống Sri Lanka 2015, Đại sứ quán Trung Quốc đã làm một việc chưa từng có tiền lệ trong hoạt động ngoại giao quốc tế, tổ chức vận động tranh cử cho ông Mahinda Rajapaksa.

Trước ngày bầu cử Tổng thống Sri Lanka khoảng 1 tháng, Trung Quốc đã rót khá nhiều tiền vận động cho ông Mahinda Rajapaksa.

Một bản báo cáo nội bộ của chính phủ Sri Lanka đang điều tra về việc này cho thấy, có ít nhất 7,6 triệu USD đã chảy từ tài khoản của China Harbour tại ngân hàng Standard Chartered vào tài khoản bộ phận vận động tranh cử của ông Mahinda Rajapaksa.

Trước cuộc bầu cử 10 ngày, Trung Quốc đã rót 3,7 triệu USD ủng hộ Mahinda Rajapaksa, chi cho các hoạt động:

In và phát miễn phí áo phông và tài liệu tuyên truyền ủng hộ Mahinda Rajapaksa, kinh phí 678 ngàn USD; mua quà cho người ủng hộ 297 ngàn USD;

38 ngàn USD chi quà cho một số vị tăng lữ có ảnh hưởng để họ ủng hộ Mahinda Rajapaksa, 1,7 triệu USD đến phủ thủ tướng Sri Lanka ở Temple Trees, Colombo...

Đại bộ phận các khoản chi này đến từ tài khoản của China Harbour, mang tên HPDP Phase 2 (dự án xây dựng cảng Hambantota giai đoạn 2).

Nguồn: Giaoduc

June 28, 2018

Đất nước cần tiềm lực tự nhiên hay tiềm lực nhân văn?

Tâm Don

Việt Nam không còn tiềm lực tự nhiên để đánh thức, để phát triển, vậy cần gì để phát triển? Câu trả lời thật đơn giản: Việt Nam đang rất cần tiềm lực nhân văn đặc biệt Tự Do - Dân Chủ - Nhân Quyền. Đó là giải pháp vạn năng để sửa chữa những sai lầm của quá khứ, để phát triển trong hiện tại và thịnh vượng- hạnh phúc trong tương lai.

Đề thi văn quốc gia THPT 2018

Đề thi môn văn tốt nghiệp phổ thông trung học là bài thơ Đánh Thúc Tiềm Lực được Nguyễn Duy viết vào năm 1980-1982 trong thời kỳ đất nước quá nghèo khổ, được xếp vào hàng 5 nước nghèo khổ nhất thế giới vào thời điểm đó. Nhưng, cần phải nhận thức chính xác rằng, đất nước vào thời kỳ ấy có nhiều tiềm lực vật chất để không nghèo đói: Rừng vẫn vàng, biển vẫn bạc, tài nguyên thiên nhiên vẫn chưa được khai thác nhiều, đất đai vẫn mênh mông. Thế nhưng, vào thời điểm ấy cơ chế quan liêu bao cấp chính là dây thòng lòng bóp nghẹt tất cả.

Trong nhận thức non trẻ của các em học sinh phổ thông, có lẽ hầu hết các em tin rằng Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm lực vật chất- tài nguyên khoáng sản để đánh thức, để phát triển như nhà thơ Nguyễn Duy. Nhưng, nếu có em nào đó viết đúng sự thật rằng, tiềm lực tự nhiên của đất nước không còn nữa, bài thi của em đó có bị điểm o không? Nếu chịu khó suy xét, có thể thấy rằng, Việt Nam không còn tiềm lực vật chất để phát triển nữa. Rừng- về cơ bản đã bị quan chức và những chính sách sai lầm phá hết. Biển- về cơ bản đã chết khi nguồn lợi hải sản đã bị khai cùng thác tận, và bị đầu độc ô nhiễm nặng nề. Dầu khí biển- về cơ bản cũng đã hết, và quan trọng nhất là 67 lô dầu khí biển đang mất dần vào tay bạn vàng bốn tốt Trung Hoa. “ Rừng đã hết và biển thì đang chết” có lẽ là câu thơ đau xót nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Đất đai- về cơ bản đã nằm trong tay các thương gia trục lợi và các nhóm tư bản thân hữu. Tài nguyên khoáng sản- về cơ bản đã hết. Việt Nam có tiềm lực vật chất nào nữa để mà đánh thức, để mà phát triển? Có nên trách người ra đề không có nhận thức về những thực tiễn đau lòng? Có nên xem xét rằng, người ra đề thi đã chính trị hóa sâu sắc bài thơ để tuyên truyền, mị dân về sự giàu có tài nguyên của đất nước? Nếu đặt ra những câu hỏi này, cần phải có thái độ cảm thông với các em học sinh vì các em đã bị cung cấp một ngộ nhận.

Thế giới đã qua rồi cái thời phát triển bằng tài nguyên khoáng sản, họ thấu hiểu “lời nguyền tài nguyên” là gì(Lời nguyền tài nguyên là một thuật ngữ chỉ việc khai thác tài nguyên chỉ làm lợi cho một nhóm người, không có lợi cho cộng đồng và đất nước, tàn phá môi trường…). Nước Nga của hoàng đế đỏ Putin đầy rẫy tài nguyên khoáng sản quý hiếm, đất hiếm và tồn tại bằng khai khoáng nhưng có giàu mạnh chút nào đâu. Lục địa đen cũng đầy rẫy tài nguyên khoáng sản nhưng vẫn đắm chìm vào đói nghèo và lạc hậu. Trong khi đó, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và hàng chục quốc gia khác không có tài nguyên khoáng sản, hoặc kiên quyết không khai thác tài nguyên khoáng sản vẫn phát triển như vũ bão, vẫn giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc. Từ cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, Mỹ, Anh và nhiều quốc gia khác đã kiên quyến nói không với khai thác mỏ để phát triển bằng kinh tế tri thức, bằng sáng tạo. Nước Mỹ dồi dào khoáng sản nhưng Mỹ không khai thác. Nước Mỹ nhập nguyên liệu phôi thép từ Liên xô cũ và nay là CHLB Nga về và chỉ sau vài tuần nước Mỹ đã có những sản phẩm thép đặc hữu có giá trị cao ngất. Giá trị cao ngất đó đến từ trí tuệ và sáng tạo chứ không đến từ khai thác và luyện thô. Nước Mỹ có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt vào hàng cao nhất thế giới, nhưng nước Mỹ chỉ khai thác nhỏ giọt, chủ yếu nhập khẩu. Trí tuệ và sức sáng tạo không ngưng nghỉ của nước Mỹ đã giúp cho nước Mỹ kiên định với con đường “giọt dầu cuối cùng của thế giới là giọt dầu của nước Mỹ”. Kiên định con đường ấy, nước Mỹ đã sản sinh ra công nghệ khai thác dầu đá phiến với hệ số thu hồi dầu cao gấp đôi các công nghệ hiện có, qua đó giảm giá thành, nâng cao sản lượng. Chính công nghệ này đã giúp giá dầu xuống thấp trong 4 năm nay. Với nước Mỹ, trí tuệ và sáng tạo làm nên thành tựu chứ không phải là tiềm lực tự nhiên.

Câu chuyện thành công- thất bại của các quốc gia không phải là câu chuyện tiềm lực tự nhiên, tài nhiên khoáng sán, mà chính là câu chuyện của các tiềm lực nhân văn, mà cụ thể là thể chế chính trị ưu việt hay thể chế chính trị tồi tệ, câu chuyện của tự do hay nô lệ, câu chuyện tôn trọng nhân quyền hay chà đạp nhân quyền.

Các quốc gia tự do, dân chủ và tôn trọng nhân quyền đều là những quốc gia giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, New Zealand, Úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc......Ở đó, họ có đa nguyên và đa nguyên chính trị, có tự do bầu cử, có tam quyền phân lập để giám sát quyền lực, để chống tha hóa quyền lực. Ở đó có tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do học thuật, tự do xuất bản, tự do biểu diễn, tự do sáng tác… Tự do là nền móng của sáng tạo, mà sáng tạo lại là nền tảng của phát triển và thịnh vượng, và họ giàu có là điều tất nhiên. Ở các quốc gia đó, quyền con người- nhân quyền được nhà nước và cộng đồng tôn trọng tuyệt đối. Khi nhân quyền được coi trọng và tôn trọng, con người luôn có hứng khởi để sống, để làm việc, để sáng tạo và cống hiến.

Nếu soi chiếu đơn giản các đặc trưng cơ bản của tự do- dân chủ- nhân quyền, hãy can đảm đặt câu hỏi: Việt Nam đã có tự do- dân chủ -nhân quyền hay chưa? Câu trả lời chính xác là, đó là mặt hàng xa xỉ mà nhân dân Việt Nam đang mong mỏi. Và khi chưa có mặt hàng xa xỉ đó, Việt Nam vẫn cứ phải lầm lũi trong đói nghèo, khổ đau và bất hạnh như những quốc gia thiếu vắng tự do- dân chủ- nhân quyền khác!

Việt Nam không còn tiềm lực tự nhiên để đánh thức, để phát triển, vậy cần gì để phát triển? Câu trả lời thật đơn giản: Việt Nam đang rất cần tiềm lực nhân văn đặc biệt Tự Do- Dân Chủ- Nhân Quyền. Đó là giải pháp vạn năng để sửa chữa những sai lầm của quá khứ, để phát triển trong hiện tại và thịnh vượng- hạnh phúc trong tương lai.

Bài đăng trên Việt Nam Thời báo

Biển Đông trở thành ao nhà của Trung Quốc

Phạm Nguyên Trường dịch

Không rõ “hậu quả” mà Mỹ hứa hẹn là gì.



Cách đây chưa đầy ba năm, Tập Cận Bình đứng bên cạnh Barack Obama trong Vườn Hoa Hồng ở Nhà Trắng và đã nói dối một cách trơ tráo và trắng trợn. Nhắm đối phó với những lo ngại đang gia tăng về những nỗ lực xây dựng các đảo nhận tạo của Trung Quốc trên Biển Đông - hình ảnh vệ tinh cho thấy bảy hòn đảo nhân tạo đang mọc lên trên những địa điểm khác nhau – chủ tịch nước này đã sử dụng những lời lẽ đường mật. Trung Quốc hoàn toàn không, Tập nói, “có ý định tiến hành quân sự hóa” trên các hòn đảo của mình. Hoạt động xây dựng của họ trên biển không “nhắm tới hoặc gây ảnh hưởng lên” bất kỳ quốc gia nào.