May 13, 2019

Chủ nghĩa Marx như tôi biết

Hiếu Tân

MARX & MAO

Ai đúng? Ai sai?

Mao có sai không?

Một tối đi bộ thể dục, thấy hai cụ thuộc dạng “lão thành cách mạng” vừa đi vừa nói chuyện. Một cụ nói rất gân guốc, “Tôi nói với ông, NGAY CẢ đến “cụ” Mao CŨNG CÓ THỂ sai lầm!”
Tôi cười thầm.

Mao không sai đâu.

Bây giờ, mỗi khi nói sai-đúng, ta phải hỏi trước: sai-đúng với ai, với cái gì? Không có hệ qui chiếu, mọi bàn luận cãi cọ thành vô nghĩa và vô ích.

Nói “Mao sai lầm” là một sự ngộ nhận buồn cười.

Mao Trạch Đông (1893-1976)

Khi nói Mao sai lầm, ta đã mặc nhiên cho rằng Mao theo đuổi cùng một ý chí và nguyện vọng của ta, của nhân dân. Nhưng vì Mao theo đuổi ý chí và tham vọng của chính ông ta, thì ông ta đã lời lãi đến không ngờ, đã đúng đến 1000%. Nếu hiện thực Trung Quốc những năm 1960-70 trái với ý định và ý muốn của Mao thì đúng là ông ta sai lầm. Nhưng Mao ngự trị vững như bàn thạch trên cái hiện thực ấy, cái hiện thực do ông ta chủ chốt tạo ra, và ông ta là người hả hê nhất. Tôi chưa nghe nói ở đâu Mao có khi nào ân hận, dù chỉ là đôi chút.

Marx thì sao?

Bây giờ, khi chủ nghĩa cộng sàn đã phá sản, người ta có thể đổ tất cả tội, hay tội to nhất, lên đầu Marx, cha đẻ của cái học thuyết đã sinh ra mọi tệ lậu này. Thậm chí người ta có thể hình dung Marx là một gã bê tha và dốt nát. Như thế dễ lắm. Nhưng với lịch sử, tôi muốn công bằng, và thế sẽ khó hơn. Tôi sẽ công bằng với cả Marx.

Ai nghiên cứu xã hội học và nhân (loại) học thế kỉ 20 sẽ thấy trong những lĩnh vực ấy, Marx có một chỗ đứng vững vàng. Vậy tôi sẽ đối xử với ông như với một học giả.

Lâm Ngữ Đường (trong The Importance of Living) nghĩ rằng Marx không thể hình dung sự tồn tại của một Stalin, cũng như Rousseau không thể nào biết mình lại có một đệ tử như Napoléon. Nhưng, như tôi sẽ làm sáng tỏ, Marx không thể chối bỏ trách nhiệm đã sinh ra những Stalin (và cả những Mao) lớn bé trên mặt đất này, và những gì họ làm trong lịch sử thế kỉ 20.

Marx là một nhà lí luận kiệt xuất (với nghĩa là một cái đầu nhô lên cao hơn đám đông những cái đầu), điều ấy không cần phải nói. Là người không chuyên thì đừng dại dột lao vào bộ TƯ BẢN (đời người ngắn lắm) vì nó cực kì phức tạp, tối tăm, rối rắm. Những nhà chuyên môn sâu cho ta biết trong cái khối thông tin khổng lồ ấy, tư duy của Marx là mạch lạc và nhất quán. Còn những kết luận thực tiễn rút ra từ nó là chuyện khác, và là vấn đề chính. Riêng bản thân tôi thấy ở Marx (tất nhiên, trong nhiều tác phẩm khác) một văn phong hùng hồn và lôi cuốn, một tư duy logic chặt chẽ, cả logic hình thức lẫn logic biện chứng, đôi khi gặp một tầm nhìn mới mẻ (tất nhiên là ở thời đại ấy) và đặc biệt là, khả năng tư duy trừu tượng phi thường (lát nữa tôi sẽ nói cái gì là dở trong sự trừu tượng hóa này). Tôi nhận xét những điểm này để tìm hiểu tại sao có những đầu óc sáng láng trong giới trí thức thiên tả lại mê cộng sản, chủ yếu là mê Marx đến thế. Một đặc điểm dễ thấy của trí thức mọi thời là ảo tưởng. Học thuyết Marx về cơ bản là không tưởng (trừ những chỗ thực dụng khủng khiếp, như ta sẽ thấy) mà không tưởng thì như truyện thần tiên, vì không thực nên có sức hút hồn. Ngoài ra, các nhà học giả thường mê tính hệ thống, mà học thuyết Marx về tính hệ thống thì khỏi chê. Từ ba nguồn gốc rất xa nhau: triết, chủ nghĩa nhân văn và kinh tế học, Marx lập ra một chủ thuyết thống nhất, đến mức có thể lấy từ những bộ phận khác nhau, cái này chứng minh cho cái kia. Và các nhà trí thức, các học giả bị lầm chính là ở chỗ này: Tính hệ thống đâu phải là chân lí? Cho nên những sự “chứng minh” kia chẳng nói lên cái gì cả. Một chân lí đơn giản và phổ biến: Muốn biết cái gì là đúng, là chân lí hay không, hãy đem nó đối chiếu với thực tiễn. Đem luận cứ này hỗ trợ cho luận cứ kia thì không ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của tư duy tư biện: những người mắc vào chủ nghĩa Marx đúng là như thế đấy; một khi họ ngộ ra rằng công trình của Marx là một lâu đài tạo tác, họ mới biết té ra mình tự lừa mình.

***

Vậy bằng sức mạnh trừu tượng vô song ấy, học thuyết Marx đã cống hiến cái gì cho loài người?

XOÁ BỎ TƯ HỮU TÀI SẢN là mục tiêu chủ yếu của chủ nghĩa cộng sản, được long trọng tuyên bố trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và các tác phẩm khác của những người sáng lập chủ nghĩa Marx.

Người ta đã nói quá nhiều, quá đủ về điểm này. Ở thời điểm hiện nay, mọi bạn đọc đều có thể tự đánh giá đúng-sai của nó. Việc Trung Quốc rồi Việt Nam buộc phải quay trở lại cái gọi là “kinh tế thị trường” (nghĩa là kinh tế tư bản chủ nghĩa) chính là quay lưng lại học thuyết Marx (đã bị những người marxist “chân chính” gọi là phản bội); mặt khác, “kinh tế thị trường” đòi hỏi phải công nhận quyền tư hữu tài sản của, từ những doanh nghiệp nhỏ đến những tập đoàn tư bản cá mập, cho ta một so sánh rõ ràng: nếu toàn bộ tư liệu sản xuất bị công hữu hóa, nền kinh tế mất đi động lực của nó, sản xuất đình đốn, xã hội nguy ngập. Đó là điều đã xảy ra đối với toàn bộ “chủ nghĩa xã hội hiện thực”.

Nhưng hãy quay lại thời của Marx, Marx nghĩ thế nào về điều này? Là một nhà triết học, ông suy tư, ông thấy mọi cái ác trong đời sống, sự suy đồi của xã hội, sự tha hóa của con người đều từ nguồn gốc tư hữu tài sản mà ra cả. Ông lập luận rằng trong xã hội có giai cấp, quyền tư hữu tài sản là phương tiện để giai cấp thống trị (chủ nô, phong kiến, tư sản) bóc lột, áp bức giai cấp bị trị. Và xóa bỏ tư hữu tức là xoá bỏ phương tiện bóc lột; xã hội sẽ không còn cảnh người bóc lột người. Đẹp lắm! Nhưng xoá bằng cách nào? Bằng cách tập trung toàn bộ quyền sở hữu vào trong tay nhà nước! Muốn hỏi nhẹ ông một câu, vậy cái nhà nước có quyền to như thế, nó có bóc lột thần dân của nó không? Câu hỏi này, với những người dân hôm nay là quá dễ: Sẽ có hàng ngàn câu trả lời phong phú và sôi động. Nhưng là Marx, ông sẽ trả lời: Không, nhà nước cách mạng, có tên là chuyên chính vô sản, là một nhà nước kiểu mới, nhà nước của giai cấp công nhân, vô sản. Không lẽ vô sản lại tự bóc lột mình? Thậm chí mục tiêu hướng đến còn cao hơn thế, nhà nước sẽ tiến tới tự giải thể, sẽ không còn nhà nước vì không còn giai cấp. Nhưng từ nay đến đó, nhà nước sẽ xiết chặt nắm tay của mình như một công cụ bạo lực khiếp đảm (của giai cấp vô sản, tất nhiên.) Đến đây tôi lại muốn hỏi một đại diện bất kì của giai cấp vô sản, chẳng hạn trong đoàn quân xuất khẩu lao động sang Đài Loan hoặc Libanon, mang sức lao động sang xứ người để kiếm miếng cơm và làm giàu cho đất nước: anh có biết anh đang đứng ở đâu trong cái nhà nước rõ ràng là của anh, do anh và vì anh không? Và, tin tôi đi, câu trả lời nhất định sẽ thú vị. Tổng hợp những câu trả lời khả dĩ, tôi thấy thế này, thưa ông Marx: Tôi là người tự cho là hiểu ông, và thương ông nữa, tôi bảo ông là không tưởng. Nhưng có những người nóng nảy hơn, họ không thương ông, họ bảo ông là lừa bịp.

Theo hình dung của Marx, giai cấp công nhân công nghiệp, vô sản – với đội tiên phong là đảng của mình – sẽ lãnh đạo cách mạng và khi thành công, sẽ quản trị nhà nước để tiến tới xóa bỏ nhà nước. Ta thấy rõ những con người vô sản ấy, đảng ấy, là những con người trừu tượng, lý tưởng, sản phẩm của năng lực trừu tượng hóa vô song của Marx. Nhưng sự đời lắm đỗi éo le, thực hiện cái lí thuyết của ông sẽ là và chỉ là những con người cụ thể, bằng xương bằng thịt. Đơn giản vậy thôi, nhưng kết quả là, cái nhà nước tuyệt vời nhất trong lịch sử mà ông muốn xây dựng, lí do tồn tại của nó, ban đầu đặc trưng bằng đặc quyền đặc lợi, về sau phải được bổ sung bằng tham nhũng. Đó là con đường tất yếu, lịch sử đã chứng minh, không thể nào khác được. Và cái chức năng số một, nếu không nói là duy nhất, của nhà nước ấy là bảo vệ đến cùng sự tồn tại của chính nó. Bằng chính những biện pháp mà lý thuyết của ông cung cấp. Biện pháp gì, chúng ta sẽ thấy sau đây.

NHÀ NƯỚC và PHÁP LUẬT

Đến đây, phải dừng lại một chút để suy nghĩ về lí luận Nhà nước và Pháp quyền mà Marx khởi thảo và Lenin phát triển và thực hành. Trái với tư tưởng tiến bộ của nhân loại coi Pháp luật là phương tiện đảm bảo công lí trong xã hội: mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, Marx cho rằng Pháp luật nằm trong kiến trúc thượng tầng của xã hội, chỉ là công cụ bảo vệ giai cấp thống trị. Nói nôm na là kẻ nào nắm được quyền lực chính trị sẽ nắm quyền sinh quyền sát theo ý chí của mình, bất chấp công lí và lẽ phải thông thường. Sau khi đã tập trung toàn bộ quyền lực kinh tế, chính trị và luật pháp vào trong tay nhà nước, thì nhà nước hiện nguyên hình là nhà nước cực quyền, độc tài (hay “chuyên chính”) toàn trị. Về mặt lịch sử, chế độ toàn trị có những ông tổ xa xưa của nó, toàn là thực hành (Tần Thủy hoàng, Nero...). Marx đích thực là ông tổ về lí thuyết, hiện đại, thật thế.

TỰ DO và GIẢI PHÓNG LOÀI NGƯỜI

Marx tự cho mình là người theo chủ nghĩa nhân văn. Mục đích của học thuyết của ông là giảỉ phóng loài người. Nhưng chủ thuyết của ông là sự đoạn tuyệt quyết liệt nhất, triệt để nhất với nền dân chủ – tức là phương tiện bảo đảm cho tự do – mà loài người vào thời của ông đã vươn tới được, và những năm trẻ người non dạ ông đã hiến mình cho nó. Và cho dù ông tuyên bố “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người,” hậu thế đi theo học thuyết của ông, đã thiết lập được những chế độ đủ sức tước đoạt đến quyền tối thiểu của con người và tự do tối thiểu của cá nhân. Là nhà tư tưởng tin tưởng mãnh liệt vào tư tưởng của chính mình, nhưng ông là một học giả chân thành và cầu thị, tôi tin rằng nếu lúc này sống lại, ông sẽ chịu để thực tiễn mở mắt cho ông thấy rằng ông đã sai. Vả chăng, là nhà biện chứng nhất quán, không bao giờ ông nghĩ rằng ông luôn đúng, đúng đến muôn đời, ông nhỉ.

TÔN THỜ BẠO LỰC

Không tưởng là địa hạt của mơ mộng, nó không dính dáng gì đến khoa học. Marx phê phán chủ nghĩa xã hội của Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen là không tưởng, nghĩa là không thể đạt được trong hiện thực. Ông gọi chủ nghĩa xã hội (và chủ nghĩa cộng sản) của ông là khoa học. Quả thật trong học thuyết của ông có một bộ phận là khoa học; nó là tập hợp những biện pháp để giành (và giữ) chính quyền trong thực tế, và nó đã được thực hiện thành công. Tuy nhiên, thành công ấy không phải là cơ may cho những lí tưởng nhân văn cao đẹp của ông. Trong thực tế, nó đã đi ngược lại.

 Marx và Engels

Những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành.
Marx - Engels, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.

Ý nghĩa “cách mạng” của tư tưởng trên đây nằm trong hai chữ BẠO LỰC. Nó cũng là yếu tố phân biệt quan điểm của ông với các biện pháp “không tưởng,” phi cách mạng. Nó cũng chẳng có gì chung với những ý tưởng “hữu ái,” “khoan dung” trong quan hệ giữa con người với con người mà chủ nghĩa nhân văn ôm ấp.

Bằng những tác phẩm sắc sảo phân tích các cuộc nổi dậy, Marx đã dạy cách xốc cả một khối quần chúng đau khổ đứng dậy thúc họ xông lên, sử dụng sức mạnh của họ để giành chính quyền. Ông nghiên cứu những điều kiện nổi dậy thắng lợi, những biện pháp chia rẽ và đàn áp của chính quyền. Nhờ đó, một khi đã nắm được chính quyền, họ tự tung tự tác sử dụng nó theo ý mình: Có cái gì hạn chế họ đâu? Và điều này chắc Marx không thể ngờ: họ thậm chí cũng không cần quan tâm đến những gì Marx dạy, sẵn sàng vứt bỏ nó đi nếu thấy không cần thiết. Còn với khối “quần chúng” trước đây đi theo họ nếu giờ muốn nổi dậy chống lại họ: Nhờ Marx, họ cũng là bậc thầy của chia rẽ và đàn áp.

HỆ QUY CHIẾU

Nói về hệ quy chiếu, đối với tôi, chủ nghĩa Marx là một hệ quy chiếu đáng buồn. Trong khi những auschwitz, những holocaust quy chiếu về chủ nghĩa nazi của Hitler, thì những Gulag cho dù chỉ là tham vọng độc tài cá nhân của Stalin, nhưng việc đưa Stalin, (hay Mao…) lên ngôi lại buộc ta phải quy chiếu về Marx. Ngẫm nghĩ thêm, một ví dụ nhỏ: “đất đai là sở hữu toàn dân,” nguyên nhân của những vụ cướp đất tràn lan, “cướp của dân nghèo trao cho nhà giàu” (hay doanh nghiệp, hay nhóm lợi ích, hay thế lực đồng tiền, muốn gọi tên nào cũng được) buộc ta nghĩ đến tư tưởng “xoá bỏ tư hữu tài sản” của Marx và con đường lắt léo từ nhân đến quả (ông chỉ nghĩ được đưa toàn bộ quyền sở hữu vào tay nhà nước, rồi sau đó “nhà nước” làm gì với cái quyền đó ông làm sao biết được?). Thiên tài như Marx cũng không thể nào hình dung hết những hậu quả này để chịu trách nhiệm về chúng.

Đã đăng trên Văn Việt 

Mời đọc thêm: 

Một trăm năm cách mạng Nga: Ba sai lầm chết người và một lời hứa vô căn cứ của Karl Marx.


May 6, 2019

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN GIẢ HIỆU và CÔNG CUỘC CHUYỂN HÓA Ở TRUNG QUỐC và

Tinh thần dân chủ (Spirit of Democracy, trang 227-237)

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN GIẢ HIỆU


Nếu dân chủ phải giành chiến thắng trên khắp lục địa châu Á và trên thế giới thì nó sẽ phải chiến thắng ở những nơi mà chế độ độc tài thành công nhất. Và trong khi Singapore là nhà nước phi dân chủ thành công nhất về kinh tế, thì Trung Quốc đã và đang tham gia vào cuộc thử nghiệm kéo dài trong việc kết hợp độc tài chính trị lan vào mọi ngõ ngách của đời sống trong một đất nước đông dân nhất thế giới với phát triển kinh tế và tăng trưởng với tốc độ đã từng giúp những người cầm quyền Singapore duy trì được quyền lực lâu dài đến thế.

Năm 1986, theo chỉ đạo của lãnh tụ tối cao của Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình, thủ tướng Triệu Tử Dương đã thành lập đội đặc nhiệm nhằm kiểm tra khả năng cải cách chính trị. Nhiều người trong giới ăn trên ngồi trốc trong đảng Cộng sản cầm quyền ở Trung Quốc ủng hộ công việc của lực lượng này, họ cho rằng “cải cách kinh tế không thể tiến lên được nếu không kèm theo cải cách chính trị” nhằm giải quyết tình trạng kém hiệu quả của bộ máy nhà nước tập quyền quá mức, hoàn toàn nằm dưới sự chi phối của đảng . Chính Đặng [Tiểu Bình] cũng thận trọng, ông ta chỉ coi cải cách là công cụ mà thôi. Năm 1987, ông đã loại bỏ người đứng đầu đảng Cộng sản Trung Quốc là Hồ Diệu Bang, sau khi Hồ [Diệu Bang] tỏ ra thích thú với cuộc cải cách theo chủ nghĩa tự do và quá khoan dung với những cuộc biểu tình của sinh viên. Nhưng Triệu [Tử Dương], người kế nhiệm Hồ [Diệu Bang] làm tổng bí thư và “người phụ tá đáng tin cậy” Bao Tong cũng có thiện cảm với sự nghiệp cải cách. Họ thành lập nhóm các “trí thức và quan chức theo chủ nghĩa tự do” để thảo luận về tham vọng tách đảng ra khỏi nhà nước, đưa vào một số biện pháp kiểm soát và đối trọng, thiết lập dần dần chế độ dân chủ (trong đó có cạnh tranh chính trị và tự do ngôn luận) trong nội bộ đảng Cộng sản, và xây dựng dần dần chế độ dân chủ ở cơ sở (bảo vệ hơn nữa các quyền tự do dân sự của quần chúng nhân dân). Triệu [Tử Dương] có suy nghĩ táo bạo; thậm chí ông còn đề nghị tổ chức các cuộc bầu cử có tính cạnh tranh cho các hội đồng nhân dân cấp tỉnh, tương đương với cơ quan lập pháp các bang của Hoa Kỳ, ngoại trừ sự kiện là hầu hết các tỉnh ở Trung Quốc đông dân hơn hầu hết các nước trên thế giới. Mục tiêu của ông không phải là chế độ dân chủ tự do mà là hệ thống cộng sản đã được tự do hoá trong đảng, sẽ cai trị một cách có trách nhiệm và minh bạch hơn.

Một năm sau, đội đặc nhiệm đệ trình báo cáo, thảo luận về “nhu cầu và tính cấp bách của cải cách chính trị” . Mặc dù đội đặc nhiệm chỉ đưa ra những khuyến nghị chung chung, nhưng Đặng [Tiểu Bình] đã cảnh báo: “Chúng ta không thể bỏ chuyên chính. Chúng ta không được chấp nhận ý kiến về dân chủ hóa” . Tháng 10 năm 1987, Ban chấp hành Trung ương chấp thuận những nét đại cương của cuộc cải cách và không khí cho cuộc thảo luận đã được nới lỏng vào năm 1988. Nhưng tháng 4 năm 1989, kế hoạch này bị nổ tung, sinh viên trưởng Đại học Trung Quốc và các trường khác ở Bắc Kinh đã tụ tập để tưởng niệm Hồ Diệu Bang và phản đối việc nhà nước không tổ chức kỉ niệm một cách xứng đáng ngày mất của ông. Các sinh viên đã lợi dụng bầu không khí chính trị tương đối thoải mái lúc đó để tổ chức những cuộc biểu tình có đông người tham gia hơn trên quảng trường Thiên An Môn, họ lên án tệ tham nhũng và ủng hộ các quyền tự do mà về danh nghĩa là được hiến pháp bảo đảm. Cuối cùng, nhiều sinh viên và các nhà trí thức cùng với công nhân đã tham gia những cuộc biểu tình “được tổ chức ở một phần ba đến hai phần ba trong tổng số 434 thành phố của Trung quốc” . Lời kêu gọi dân chủ và cuộc động viên hơn một trăm ngàn người biểu tình chỉ riêng ở Bắc Kinh đã làm đảng Cộng sản hoảng hốt. Ngày 20 tháng 5, chính phủ tuyên bố thiết quân luật và ngày 4 tháng 6 họ dọn dẹp quảng trường Thiên An Môn bằng một cuộc tấn công đẫm máu, đồng thời đập tan phong trào ủng hộ dân chủ. Triệu [Tử Dương] và những nhà cải cách theo đường lối tự do khác bị thanh trừng, Bao Tong bị 7 năm tù. Trải qua “kinh nghiệm cận tử” của đảng Cộng sản Trung Quốc và sau đó là vụ sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu, giới chóp bu cầm quyền ở nước này đã đè bẹp tất cả các triển vọng của các cuộc cải cách trong tương lai có thể nhìn thấy được.

Trung Quốc hiện nay là đất nước cởi mở và đa nguyên hơn hẳn hầu hết giai đoạn trong những năm 1980 và ngay sau biến cố Thiên An Môn. Những chiến dịch mang tính ý thức hệ điên cuồng đã trở thành dĩ vãng – thực vậy, phần lớn ý thức hệ cộng sản đã trở thành dĩ vãng. Các nhà tư bản giàu có được mời vào hàng ngũ của đảng, và những người cộng sản được đưa vào chính quyền cấp tỉnh hoặc là người quản lý của công ti quốc doanh đã trở thành những nhà tư sản giàu có. Khủng bố hàng loạt thời Mao [Trạch Đông], kiểm soát chặt chẽ việc di chuyển và quyền lực đã nhường chỗ cho “chiến lược ‘đàn áp có chọn lọc’ tinh vi, chỉ nhắm vào những người thách thức công khai ... chính quyền, trong khi cho công chúng nói chung được yên. Trung Quốc là một trong vài nước độc tài cho phép tình dục đồng giới và cross-dressing (nam mặc quần áo dành cho phụ nữ và ngược lại – ND), nhưng bất đồng chính trị thì không” . Nhà nước cộng sản vẫn tàn bạo như cũ, tử hình từ năm tới mười hai ngàn người một năm, nhiều hơn tất cả các nước trên thế giới cộng lại . Các nhà báo, luật sư, các nhà hoạt động trong xã hội dân sự và các nhà trí thức cũng như tất cả những người thách thức hệ thống có khả năng bị bắt và bị bỏ tù (hay bị quản thúc tại gia). Nhưng chế độ độc tài của Trung Quốc đang ngày càng có hình thức tinh vi hơn, các tổ chức xâm nhập, các nhà doanh nghiệp, các nhà trí thức và sinh viên hợp tác với chế độ và sử dụng tới 30 ngàn “cảnh sát mạng” được huấn luyện để theo dõi các trang mạng và thư điện tử. Mục tiêu đầy tham vọng của biện pháp này là thanh lọc những trang web có chứa “thông tin độc hại” mà khoảng 140 triệu người sử dụng mạng ở Trung Quốc có thể tiếp cận (trong đó có 34 triệu blogger) và sử dụng “để chống chế độ trong những giai đoạn khủng hoảng ở tầm quốc gia” . Công cụ Internet của Trung Quốc hiện đang ngăn chặn những cụm từ và từ khóa “có tính lật đổ như dân chủ, nhân quyền, Pháp Luân Công (phong trào tôn giáo chống cộng) và ngày 4 tháng 6 (ngày chính phủ đàn áp sinh viên biểu tình ở Thiên An Môn.

Với sức mạnh vô cùng to lớn của thị trường nước này, chế độ đã đe dọa, buộc những công ty nước ngoài như Google, Yahoo và Microsoft phải tự kiểm duyệt. Trong khi giúp đỡ xây dụng mạng Internet của Trung Quốc vào năm 1998, Cisco Systems đã bị “tố cáo là giúp chính quyền nước này lập trình các thiết bị để có thể lọc thông tin và theo dõi trên mạng” . Từ năm 2004, Trung Quốc đã tăng cường kiểm duyệt Internet bằng những biện pháp lọc tin hung hăng hơn, trong khi các nhà hoạt động nước ngoài tiến hành cuộc chiến tranh trên mạng để có thể vượt qua được những biện pháp này.

Có nhiều lý do để tin rằng một số hình thức của chế độ độc tài – có lẽ vẫn mang tên cộng sản, nếu không còn thực chất – có thể vẫn tồn tại trong một thời gian dài ở Trung Quốc. Vì, thứ nhất, một thế hệ cải cách kinh tế và mở cửa thị trường lớn nhất thế giới đã tạo ra được sự bùng nổ mà chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ là nó sắp kết thúc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn nằm trong khoảng từ 8 tới 10% (và thậm chí leo lên tới 10% vào năm 2006, theo số liệu chính thức) . Hai mươi lăm năm sau khi Đặng Tiểu Bình giành được quyền lực vào năm 1978, thu nhập bình quân đầu người ở Trung Quốc tăng gấp bảy lần, và khoảng 250 triệu người đã thoát khỏi cảnh đói nghèo . Số lượng báo in tăng gấp ba lần và số đầu sách tăng mười một lần. Hiện nay, cứ hai hộ gia đình thì đã có hơn một chiếc TV, thế mà năm 1978, trong một ngàn gia đình thì chỉ ba gia đình có TV mà thôi . Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2004, chỉ số phát triển con người nói chung của Trung Quốc đã tăng được khoảng 50% . Nếu phần lớn người dân không còn cảm thấy gắn bó về mặt ý thức hệ với nhà nước cộng sản, thì chí ít họ cũng có vẻ hài lòng với những điều mà hệ thống đang làm nhằm cải thiện mức sống của họ. Tuy nhiên, những người được hưởng lợi nhiều nhất lại là những người dễ gây ra rắc rối nhất, đấy là những kẻ ăn trên ngồi trốc trong lĩnh vực kinh doanh ở đô thị, những người có nghề nghiệp và các trường đại học.

Còn có những lý do về mặt chính trị để dự đoán được điều mà nhà chính trị học của đại học Columbia (Columbia University), Andrew Nathan, một chuyên gia về Trung Quốc và cũng là người ủng hộ dân chủ, gọi là sự dẻo dai của chế độ độc tài. Trong nhiều khía cạnh, hệ thống này đã vượt qua quyền lực độc đoán của cá nhân thời Mao [Trạch Đông] hay thậm chí là thời Đặng [Tiểu Bình] và ngày càng trở thành thiết chế hóa hơn. Quy trình và quy tắc kế vị các vị trí lãnh đạo và thời gian nắm quyền có giới hạn bảo đảm sự luân chuyển những người cầm quyền. Ảnh hưởng của quân đội và các cán bộ già nua đã nghỉ hưu cũng giảm đi rất nhiều. Các lãnh đạo được học hành và được đào tạo tốt hơn, trọng dụng hơn trong quá trình tuyển dụng và ít bị chia rẽ hơn. Và có nhiều phương tiện hơn để nhân dân tham gia và phàn nàn về quá trình ra quyết định, từ những cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh trong làng xã (được tiến hành lần đầu tiên năm 1987), những hội đồng nhân dân các cấp tới việc công dân có thể nộp đơn kiện về mặt hành chính các cơ quan chính phủ .

Từ đầu những năm 1990, những cải cách quản trị khác cũng đã được áp dụng nhằm đưa công tác quản lý hành chính vào khuôn khổ, giảm sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp, lập ra các cơ quan quản lý tài chính, áp dụng biện pháp cạnh tranh trong việc mua sắm của chính phủ, cải thiện công tác thu thuế – và gần đây nhất – bắt đầu dọn dẹp khu vực ngân hàng đã bị kéo căng ra đến mức nguy hiểm, với gánh nặng của các khoản nợ xấu, và bỏ tù những người phạm tội tham nhũng nhất. Dali Yang, một nhà chính trị học gốc Hoa ở Đại học Chicago (University of Chicago) khẳng định rằng những cuộc cải cách này “đã giúp nâng cao hiệu quả, cải thiện tính minh bạch và công bằng trong quản lý hành chính” và “môi trường kinh doanh” . Nathan, Yang và những người khác cho rằng ban lãnh đạo đương đại của Trung Quốc là những người thông minh, có trình độ, thực dụng, phi dân chủ – và sẽ cón nắm quyền trong một thời gian dài nữa.


CHUYỂN HÓA ĐỘC TÀI

Nhưng dài là bao lâu? Và làm sao các nhà cầm quyền cộng sản thoát ra khỏi giai đoạn độc tài? Có bốn kịch bản khả dĩ sau đây.

Chính quyền độc tài có thể kéo dài suốt nhiều thập kỉ, với quá trình chuyển hóa dần dần từ chế độ độc tài hiện tại đến chế độ “pháp quyền tư vấn” (consultative rule of law), tức là độc lập về tư pháp, đa nguyên trong lĩnh vực dân sự và những biện pháp giao tiếp giữa người dân và chính quyền nhưng không có các cuộc bầu cử có tính cạnh tranh hay, đáng sợ hơn, từ bỏ vai trò bá quyền của Đảng Cộng sản . Nói cách khác, hệ thống của Trung Quốc sẽ dần dần hội tụ với mô hình Singapore, trở thành không còn là nước cộng sản nữa và cũng không đàn áp một cách trắng trợ nữa. Nhưng ngoài sự khác biệt đập ngay vào mắt là quy mô giữa hai nước, tham nhũng ở Trung Quốc hiện đã thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực đến mức thật khó tưởng tượng làm sao có thể ngăn chặn trừ khi người dân có quyền, một cách dân chủ, buộc những người lãnh đạo phải có trách nhiệm giải trình. Và nếu Trung Quốc không thực sự hướng về phía nhà nước “pháp quyền tư vấn” với bộ máy tư pháp thực sự độc lập và không gian lớn hơn nữa cho các phương tiện truyền thông độc lập và cho các tổ chức dân sự và bất đồng chính kiến, thì phong trào quần chúng – ở quy mô mà các nhà cầm quyền Singapore thậm chí không hề nghĩ tới – chắc chắn sẽ xuất hiện nhằm đòi hỏi chế độ dân chủ đầy đủ, như đã từng xảy ra trong lịch sử Trung Quốc trong thế kỉ vừa qua . Đấy chính là lý do vì sao các nhà lãnh đạo cộng sản Trung Quốc sợ những cuộc cải cách do Mikhail Gorbachev thực hiện ở Liên Xô. Các nhà dân chủ của chính Trung Quốc cũng đồng ý như thế. Cách đây chưa lâu, một nhà khoa bảng hàng đầu đã nói với tôi: “Tiến trình cải cách của Trung Quốc tích tụ rủi ro. Trung Quốc như con tàu đang tăng tốc mà không có phanh. Nó sẽ tiếp tục chạy, vượt qua mô hình Singapore”.

Kịch bản thứ hai là một quá trình chuyển hóa dần dần thành chế độ dân chủ mà động lực là phát triển kinh tế – như đã từng xảy ra ở Đài Loan và (nhanh hơn) ở Hàn Quốc. Theo ước tính của nhà kinh tế học tại Viện Hoover, cũng là cựu chủ tịch Hội đồng tình báo quốc gia, Henry S. Rowen, thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng mạnh, thậm chí nếu có chậm lại một chút, ví dụ, 7% một năm. Tốc độ tăng trưởng đó sẽ làm tăng thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc từ 6.000 USD hiện nay (tính bằng sức mua tương đương) lên 10.000 USD (theo giá USD năm 2006) vào năm 2015 – ngang với Mexico và Malaysia hiện nay và cao hơn một chút so với thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc vào thời điểm nước này chuyển sang dân chủ vào năm 1987. Năm 2015, Rowen dựa đoán chí ít Trung Quốc cũng sẽ trở thành nước “tự do phần nào” (theo xếp hạng của Freedom House về các quyền chính trị và quyền tự do dân sự). Giả sử một tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn 5% một năm trong mười năm sau, Rowen dự đoán rằng đến năm 2025 thu nhập bình quân đầu người sẽ tăng lên đến 14.000 USD (theo giá USD năm 2006), ngang với Argentina và Ba Lan ngày hôm nay. Vào thời điểm đó, Rowen dự đoán, Trung Quốc sẽ tiến hành quá trình chuyển hóa dân chủ, mà động lực là các lực lượng nội bộ, như đã thảo luận trong Chương 4: trình độ giáo dục và thông tin gia tăng, sự phức tạp của xã hội và chủ nghĩa đa nguyên ngày càng tăng lên, ép nhà nước phải bảo đảm nhiều quyền tự do chính trị và cạnh tranh hơn thì mới duy trì tính chính danh .

Bằng chứng của điều tra dư luận ủng hộ cho phân tích của Rowen. Trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2002, mức độ ủng hộ các giá trị dân chủ ở Trung Quốc đại lục đã tăng lên đáng kể, mặc dù vẫn thấp hơn hẳn so với Hong Kong và Đài Loan. Ví dụ, số người Trung Quốc đồng ý với tuyên bố: “Người lãnh đạo chính phủ cũng giống như người đứng đầu gia đình, chúng ta phải làm theo tất cả các quyết định của ông ta” đã giảm từ 73 xuống còn 53%; những người sẵn sàng để cho “các nhà lãnh đạo liêm khiết về mặt đạo đức... quyết định tất cả mọi thứ” giảm từ 70 xuống còn 47%; những người nói rằng quan tòa nên chấp nhận những hướng dẫn của ngành hành pháp trong quá trình xét xử những vụ án quan trọng giảm từ 64 xuống còn 45% – tất cả diễn ra chỉ trong một thập kỉ. Năm 2002, tỉ lệ người bác bỏ các giá trị độc tài không khác nhiều so với Đài Loan hồi giữa những năm 1980, ngay trước khi nước này tiến hành công cuộc chuyển hóa sang dân chủ . Hơn nữa, đặc điểm của cá nhân liên quan mật thiết với sự ủng hộ các giá trị dân chủ ở Trung Quốc là trình độ học vấn. Khi người Trung Quốc được học hành tốt hơn, họ sẽ tiếp tục là những người ủng hộ các giá trị dân chủ mạnh mẽ hơn .

Hai khả năng cuối cùng cho quá trình chuyển hóa sang chế độ dân chủ ở Trung Quốc giả định rằng hệ thống này sẽ không tồn tại được lâu và cũng không tự chuyển hóa một cách từ từ như là kết quả của sự thành công của chính Trung Quốc. Nó sẽ sụp đổ, để trở thành một hình thức mới của chủ nghĩa độc tài hay chế độ dân chủ. Những quan điểm rất khác nhau này thể hiện sự thối rữa đã tích tụ trong nền tảng của sự thần kì về kinh tế của Trung Quốc, một nhà nước đảng trị mà nhà nghiên cứu chính trị học Minxin Pei khẳng định rằng sẽ không có khả năng giải quyết và cải tổ, bởi vì đảng và nhà nước chính là cốt lõi của vấn đề. Pei, một học giả thường trú tại Carnegie Endowment ở Washington, tương tự như Dali Yang, sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc và hiện là một trong những học giả hàng đầu về Trung Quốc ở Hoa Kỳ, khẳng định rằng chế độ độc tài ở Trung Quốc không còn là “phát triển” nữa. Không những thế, đấy là “nhà nước cướp bóc đã được phân quyền”, trong đó, “lợi ích cá nhân của các nhân viên của nó” – kiếm tiền khi vụ bùng nổ còn tiếp tục và làm giàu một cách nhanh chóng nhất có thể, bằng bất cứ phương tiện nào – đang từ từ phá hủy sự ổn định chính trị. Kết quả là tăng trưởng kinh tế không bền vững, “đạt được do bất bình đẳng gia tăng, hạn chế đầu tư cho nhân lực, phá hủy môi trường, và tham nhũng tràn lan” . Nhiều thành phố và thị trấn đã và đang chứng kiến tội phạm có tổ chức kiểm soát lĩnh vực kinh doanh với sự thông đồng và bảo vệ của chính quyền đến mức những khu vực này đã trở thành “nhà nước mafia khu vực” . Những người cầm quyền ở địa phương cướp bóc nông dân nghèo, thu các khoản thuế và lệ phí bất hợp pháp và bán lại đất của nông dân cho các doanh nghiệp có lợi nhuận cao . Một báo cáo của chính phủ năm 2006 “khẳng định rằng, hơn 60% các vụ mua lại đất gần đây để xây dựng là bất hợp pháp” . Tháng 9 năm 2006, “công ty kiểm toán hàng đầu của nước này cảnh báo rằng nạn cướp bóc và lạm dụng tài sản của chính phủ đã phá hoại nhiều tài sản và là mối đe dọa lớn nhất đối với các quốc gia” . Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã ra đòn với một số quan chức cao cấp, nhưng đây là những vụ thanh trừng có chọn lọc – nhằm vô hiệu hóa các đối thủ – và không thể giải quyết được quy mô của cuộc khủng hoảng. Pei và các nhà phê bình khác dự đoán rằng hệ thống này chỉ có thể tự điều chỉnh một cách hời hợt, không hơn; sớm muộn gì nó cũng thua “sự năng động mang tính tự hủy, có mặt trong hầu hết các chế độ chuyên quyền: trách nhiệm giải trình chính trị thấp, thiếu trách nhiệm trước dân, thông đồng và tham nhũng” .

Nhìn theo cách này, Trung Quốc đang bị mắc kẹt trên đường chuyển hóa và thiếu phương tiện mang tính thiết chế hoặc thiếu ý chí để hoàn thành quá trình chuyển hóa. Chẳng bao lâu nữa, những căn bệnh này sẽ cản trở, không cho kinh tế phát triển, làm gia tăng thái độ bất mãn của dân chúng, và tiếp tục bào mòn tính chính danh và năng lực của nhà nước. Pei không nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ sụp đổ trong tương lai gần. Không những thế, hệ thống có thể tiếp tục “mắc kẹt trong tình trạng trì trệ về kinh tế và chính trị kéo dài” trước khi nó sụp đổ hẳn, về mặt chính trị cũng chẳng khác gì người ta đồng loạt rút tiền ra khỏi một ngân hàng nào đó, đấy là nói nếu trước đó hệ thống không tiến hành cải cách một cách căn bản . Hiện nay, Trung Quốc đang chứng kiến một trong những dấu hiệu đáng chú ý nhất của một chế độ đã mất niềm tin vào chính nó. Năm 2006, một nhà trí thức có nhiều mối quan hệ ở Trung Quốc nói với tôi rằng ngày càng có nhiều quan chức cộng sản Trung Quốc gửi tài sản của mình ra nước ngoài. "Chúng tôi bi quan [về tương lai của chế độ]”, ông nói. “Nhưng họ còn bi quan hơn”.

Pei tin rằng chế độ sụp đổ có khả năng dẫn đến một hình thức độc tài mới (hay sự thất bại nhà nước) cũng như có thể dẫn tới chế độ dân chủ. Tuy nhiên, có một quan điểm tràn đầy hi vọng về cái đích mà “nạn tham nhũng, quản trị tồi, bất công, bất ổn, và đàn áp” sẽ dẫn tới: đấy là chế độ dân chủ . Trong tác phẩm có tính khiêu khích của mình, nhan đề Tương lai dân chủ của Trung Quốc (China’s Democratic Future), Bruce Gilley, một nhà chính trị học Canada, người đã dành gần một thập kỉ để tường trình về Trung Quốc, đã trình bày điều mà tôi nghĩ là kịch bản chuyển hóa hợp lí nhất đối với Trung Quốc.

Thành công hay thất bại thì tất cả các chế độ độc tài cũng đều bị nguyền rủa. Nếu ngoại suy của Rowen về tương lai phát triển của nền kinh tế Trung Quốc là chính xác thì năm 2025 hoặc một ngày nào đó tương tự như thế trong tương lai còn khá xa, đa phần người Trung Quốc sẽ bước vào tầng lớp trung lưu. Sau khi đã có cuộc sống tốt hơn về vật chất thì họ sẽ muốn nhiều hơn: công lí, nhân phẩm, trách nhiệm giải trình, có quyền cất lên tiếng nói của mình. Ngay cả trong cái tương lai đã được hình thành bằng những nỗ lực cải cách từ từ và quản trị tốt hơn, tầng lớp trung lưu mới này chắc chắn sẽ thể hiện sự bất bình trước nạn tham nhũng ở địa phương, những biểu hiện của sự thiên vị và áp bức, và chính phủ trung ương sẽ không thể giải quyết được những vấn đề này nếu thiếu cơ chế dân chủ, tức là cơ chế cung cấp cho cử tri ở tất cả các cấp chính quyền khả năng thay thế những nhà lãnh đạo không hoàn thành nhiệm vụ. Đây là phiên bản lạc quan. Trong kịch bản bi quan hơn: Nếu thu nhập quốc gia của Trung Quốc đạt mức như Rowen dự đóan mà bất bình đẳng và hiện tượng nghèo đói không giảm “thái độ cực đoan của người nghèo” sẽ đạt quy mô mang tính bùng nổ và thay đổi chính trị sẽ diễn ra theo cách khác, bạo lực hơn . Trong cả hai kịch bản, Gilley khẳng định, nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ phải sẽ phải đối mặt với xã hội dân sự rộng lớn hơn, tháo vát hơn và liên kết với nhau tốt hơn xã hội dân sự đã hiện diện trong cuộc nổi dậy dân chủ vào năm 1989. Đây là hậu quả không thể tránh khỏi của thế hệ của cải cách thị trường và bành trướng diễn ra nhanh đến chóng mặt trong thập kỉ vừa qua . Với sự bùng nổ của sách, báo, TV và máy tính, “Trung Quốc hiện đã tràn ngập thông tin, đã từng bị coi là có tính phản loạn như hồi những năm đầu l990” . Số lượng các NGO đăng ký chính thức với chính quyền đã tăng từ 4.500 vào năm 1988 lên hơn 300.000 vào năm 2006, và người ta cho rằng thực tế lớn hơn mười lần con số đó .

Muốn đáp ứng kì vọng của xã hội tự tin hơn, có hiểu biết hơn, liên kết chặt chẽ hơn và đòi hỏi theo tinh thần dân chủ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc chí ít cũng sẽ phải cho phép nhiều quyền tự do hơn để dân chúng tổ chức, thảo luận, và hội họp, và những cuộc bầu cử có cạnh tranh nhằm thay thế các nhà lãnh đạo không hoàn thành nhiệm vụ ở cấp chính quyền cao hơn là làng xã. Giới ăn trên ngồi trốc cầm quyền ở Trung Quốc biết cải cách sẽ dẫn đến đâu – dẫn tới chế độ dân chủ và rất có thể là đảng Cộng sản sẽ mất quyền lực – và đây là lý do vì sao họ đã và đang chống lại nó. Nhưng kháng cự mãi có thể dẫn đến cơn chấn động vì những vụ phản đối như năm 1989, nhưng lần này là từ xã hội dân sự rộng lớn hơn, liên kết hơn, có thể lật nhào chế độ ngay lập tức và quan trọng nhất là, trước khi các nhà lãnh đạo đảng có thể đảm bảo được tính mạng và tài sản của họ. Vì vậy, đến một lúc nào đó (như người ta đã làm ở Hàn Quốc và Đài Loan) khi tầng lớp cầm quyền quyết định rằng tốt hơn là chấp nhận nguy cơ mất quyền chứ đừng để xảy ra nguy cơ mất tất cả. Vì nếu tình hình xấu đi, họ cũng có thể có các cố vấn, những người nhắc nhở họ về những bài học của lịch sử chưa xa: “Những chế độ chờ đợi quá lâu đã từng chứng kiến những nhà cầm quyền bị lôi ra khỏi văn phòng và bị cho một phát đạn vào sọ” .

Tuy nhiên, hiện chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc sẵn sàng tiến hành những cuộc cải cách dân chủ một cách từ từ. Như Pei đã chỉ ra, những cuộc cải cách khiêm tốn được tung ra hồi cuối những năm 1980 đã bị ngưng lại. Những cuộc bầu cử có tính cạnh tranh cho những hội đồng làng xã ngày càng bị những ông trùm của đảng ở địa phương và bọn tội phạm hình sự thao túng. Đại hội Nhân dân Toàn quốc (quốc hội Trung Quốc) không trở thành cơ quan lập pháp và có quyền giám sát thật sự; không có dự luật nào do các đại biểu đề xuất trở thành luật, và những cuộc họp hàng năm của cơ quan này vẫn chỉ là, như tờ New York Times nhận xét trong bài xã luận gần đây, “Một chương trình được dàn dựng nhằm đóng dấu lên những quyết định đã có sẵn từ trước” . Số vụ kiện hành chính giảm hẳn, nguyên đơn phát hiện ra là trong năm vụ thì họ chỉ có cơ hội thành công trong một vụ mà thôi. Ngày càng nhiều luật sư bị giam giữ và bị chính quyền lăng mạ. Các tòa án vẫn chưa có đủ nhân viên và bị chính trị hóa quá cao . Việc cắt xén theo lối bảo thủ công cuộc cải cách chính trị dường như sẽ không được người ta uốn nắn lại, vì như Gilley giải thích, các nhà lãnh đạo cộng sản “bị giam hãm trong chính những việc họ đã làm. Họ có thể từ chối cải cách và đối mặt với những vụ phản đối hay tiến hành cải cách và mất việc” .

Sự tức giận và phản đối của dân chúng có thể xuất phát không chỉ từ sự nôn nóng muốn có dân chủ do quá trình phát triển tạo ra, như ở Hàn Quốc trong những năm 1980, mà còn từ sự phá sản của chế độ độc tài. Tương tự như những triều đại Trung Quốc trước đây, chế độ cộng sản có thể đánh mất “thiên mệnh" khi những căn bệnh do quản trị tồi gây ra đạt đến khối lượng tới hạn. Tội phạm, tham nhũng, ô dù, gian lận trong lĩnh vực ngân hàng, hành động bạo ngược của chính quyền địa phương, thiếu trách nhiệm của chính quyền quốc gia, và một loạt những căn bệnh khác đang đe dọa chế độ, như Gilley và Pei đã khẳng định. Bất bình đẳng về kinh tế gia tăng đột ngột, đến mức “ngang với những nước bất bình đẳng nhất ở Mỹ Latin hay châu Phi” và có thể trở thành một cú hích chứa đầy nọc độc . Khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và giữa thành thị và nông thôn đang gia tăng nhanh chóng. Nông thôn phát triển chậm và tỉ lệ thất nghiệp tăng vọt, thanh niên phải chuyển vào các thành phố và tạo thành một đám đông dân nhập cư không gốc rễ, sẵn sàng bị lôi kéo vào các cuộc phản đối. “Lúc nào cũng có hơn 120 triệu lao động di cư từ nông thôn tìm việc làm, lang thang trên đường trong các thành phố của Trung Quốc” . Thiếu đầu tư vào lĩnh vực y tế và giáo dục trong một thời gian dài – làm cho đất nước dễ bị những dịch bệnh như AIDS và cúm gia cầm tấn công hay lâm vào khủng hoảng vì bệnh SARS năm 2003 – đã tước đoạt của những người nghèo ngay quyền tiếp cận hạn chế đối với việc chăm sóc sức khỏe mà họ được hưởng trong chủ nghĩa cộng sản (trên thực tế). Các loại bệnh mãn tính đang bùng nổ, năm 2006 HIV được báo cáo là đã tăng 30%, bệnh viêm gan ảnh hưởng tới 10% dân số . Một phần ba đất đai của Trung Quốc đã bị xói mòn nghiêm trọng, ba phần tư số hồ và một nửa chiều dài của các dòng sông đã bị ô nhiễm; một phần ba của ba mươi ba ngàn đập thủy điện của Trung Quốc (trong đó có một trăm đập lớn) “bị cho là ‘khiếm khuyết’”. Kết quả, nạn sa mạc hóa lan rộng (tới sát Bắc Kinh), ô nhiễm hủy hoại môi trường và những trận lũ lụt có sức tàn phá rất mạnh . Lại còn tình trạng đường xá và an toàn lao động: năm 2002 hơn một trăm ngàn người chết vì tai giao thông, một trăm ngàn người bị bệnh vì thuốc diệt chuột rò rỉ ra môi trường sống của con người, số người chết trong quá trình khai thác mỏ gấp mười ba lần so với Ấn Độ . Trong thập kỉ tới, bất cứ vấn đề nào trong những vấn đề này, chưa nói tác động phức tạp giữ chúng với nhau, đều có thể bùng nổ thành khủng hoảng – hay thành cái mà Gilley gọi là “khủng hoảng di căn”, đấy là khi sự rối loạn chức năng lây lan qua ranh giới ban đầu của nó, ảnh hưởng tới các chức năng khác và cả nước”

Giới ăn trên ngồi trốc cầm quyền ở Trung Quốc – những nhà quản lý ngày càng có trình độ hơn có thể tiếp tục đối phó, đến một lúc nào đó. Nhưng vấn đề đặt ra là liệu họ có thể giải quyết được những căn bệnh đang gậm nhấm dần nền tảng của sự ổn định. Nếu họ không làm được như thế, trong lúc thành tích về kinh tế và chính trị suy giảm, bất kì một cuộc khủng hoảng nào – thị trường chứng khoán sụp đổ, thảm họa môi trường, không quản lý tốt dịch bệnh – có thể làm chế độ tan rã. Vì những lí do thuần túy thực dụng, các chủ doanh nghiệp, thậm chí ngay cả những người từng trung thành với chế độ, những người không có cam kết đặc biệt nào với dân chủ có thể là những người đầu tiên bỏ chạy. Cũng có thể nói như thế về tầng lớp trung lưu đang lớn dần, đấy là những người chứng kiến chính phủ đang lãng phí những khoản thuế khóa lấy từ những đồng tiền mà phải khó khăn lắm họ mới kiếm được. Hiện nay, doanh nhân ở một số vùng đang âm thầm cung cấp tiền cho các nhà hoạt động và các trí thức dân chủ.

Tôn giáo, trụ cột đang lớn lên của xã hội dân sự cũng là mối nguy tiềm tàng không kém đối với chính quyền Cộng sản. Pháp Luân Công là biểu hiện chống cộng công khai, một phong trào mới xuất hiện trong thời gian gần đây, dựa vào Phật giáo và các giáo lí và thực hành truyền thống khác của Trung Quốc. Chính phủ ước tính có khoảng 70 triệu tín đồ Pháp Luân Công ở Trung Quốc khi họ tung ra chiến dịch đàn áp tàn bạo vào năm 1999 . Mặc dù vẫn còn bị cấm, nhưng Pháp Luân Công vẫn giữ được lực lượng ngầm khá mạnh, sau đó tìm cách phân phối các ấn phẩm của mình – trong đó có “chín bài phê phán” (Cửu bình) đảng Cộng Sản – một cách bí mật và trên khắp lãnh thổ Trung Quốc. Kitô giáo cũng phát triển rất nhanh. Bên cạnh khoảng 35 triệu tín đồ của giáo hội được nhà nước cho phép, còn có rất nhiều người tiến hành các nghi lễ trong nhà thờ không đăng kí hoặc nhà thờ “tại gia”, số lượng các Kitô hữu có thể lên đến hơn 100 triệu, nhiều hơn số đảng viên chính thức: Hiện đảng này có 70 triệu đảng viên .Điều mà chế độ phải lo là đảng đã đánh mất phần lớn niềm tin, trong khi Kitô giáo và những tôn giáo có tổ chức khác đang chiếm lĩnh khoảng chân không vừa hình thành. Thật vậy, không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà lãnh đạo và trí thức đứng sau phong trào Thiên An Môn năm 1989 đã trở thành những tín đồ Kitô giáo sùng đạo, trong khi một số người khác gia nhập Pháp Luân Công. Rất ít hệ thống đức tin có sức động viên và đoàn kết mọi người vì sự nghiệp chung như tôn giáo.

Ngoài ra, còn có hệ thống niềm tin của chính dân chủ nữa, niềm tin này có thể tương thích với và thậm chí còn kích thích bởi tôn giáo . “Nhiều người cho rằng Trung Quốc có những nhà lãnh đạo có tư tưởng tự do hơn là Liên Xô” khi nước này tiến hành công cuộc chuyển hóa . Các tư tưởng tự do và dân chủ và tác phẩm kinh điển được lưu hành ở Trung Quốc – không chỉ ở các trường đại học, mà còn trong trường học và các viện nghiên cứu của chính phủ và thậm chí cả trong đảng Cộng sản . Những lời lên án của những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân về nhà nước tự cao tự đại (trong đó có nhà kinh tế học người Áo, Friedrich Hayek) cũng rất phổ biến, và nhiều tác phẩm viết về dân chủ cũng đang được âm thầm dịch sang tiếng Trung Quốc. Nhưng, các nhà tư tưởng theo đường lối dân chủ của Trung Quốc còn quay lại với tác phẩm kinh điển của Nho giáo và Đạo giáo trong chính nền văn hóa của họ và giải thích lại những tác phẩm này theo tinh thần của những đòi hỏi của dân chủ đương thời. Cùng với các nghệ sĩ và các nhà văn, các học giả này đang tìm cách để biến “kiến thức thành văn hóa”, như một người trong số họ đã nói với tôi. Các nhà hoạt động dân bí mật của Trung Quốc cũng là những người sáng tạo, họ in và lưu hành những cuốn sách cấm và những tờ tạp chí theo đường lối cải cách và tìm cách tránh những người theo dõi người dung trên Internet, bằng cách sử dụng những từ đã mã hóa để lừa công an mạng.Thế giới ảo của e-mail, blog, điện thoại di động và tin nhắn tạo điều kiện cho người ta kết nối với nhau và giữ liên lạc từ khoảng cách rất xa thông qua một loạt những hoạt động khác nhau. Vì tất cả những lý do này, mạng lưới của xã hội dân sự trên toàn quốc, thiết yếu cho phong trào dân chủ mang tính quần chúng đang từ từ được định hình và có thể làm rung chuyển cả hệ thống khi xảy ra cuộc khủng hoảng tiếp theo.

Trong một loạt kịch bản mà Druce Gilley và các nhà quan sát khác hình dung về Trung Quốc, sự xuất hiện của phong trào dân sự quần chúng sẽ làm cho ban lãnh đạo cấp cao chia rẽ. Các nhà cải cách và những người thực dụng trong đảng sẽ tìm cách đàm phán với những người ôn hòa trong phe đối lập dân chủ. Như ở Tây Ban Nha, Mỹ Latin, Ba Lan và những nơi khác, các hiệp ước được kí kết sẽ cung cấp sự nhượng bộ “đủ sức giữ uy tín và quyền lợi” cho giới ăn trên ngồi trốc bảo thủ, cũng như giới quân sự, những người có thể ra khỏi tổ chức đảng ngay trong giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng bằng cách không lặp lại sai lầm của năm 1989 .

Lúc đó câu hỏi sẽ là liệu có tổ chức nào trong xã hội có thể đưa ra phương án thay thế về chính trị để người dân lựa chọn hay không. Hiện nay chưa có, nhưng ở Nga trong năm 1990 cũng không có. Và tôi đoán là những sự kiện xảy ra ở Nga cũng sẽ xảy ra ở Trung Quốc: một liên minh rộng rãi các lực lượng đối lập sẽ tạm thời liên kết nhau nhằm lật đổ chế độ cộng sản, trước khi mỗi nhóm sẽ đi theo con đường riêng của mình. Hoàn toàn không thể nói chắc được là Trung Quốc sẽ trở thành nước dân chủ có sức sống và hoạt động hiệu quả vào năm 2025, nhưng đến lúc đó đảng Cộng sản (nếu vẫn còn giữ được quyền lực) sẽ cai trị Trung Quốc trong bảy mươi sáu năm – lâu hơn thời gian cầm quyền của đảng Cộng sản Nga và đảng Cách mạng Thể chế Mexico (hai đảng này đều cầm quyền 70 năm). Vì vậy, tôi có thể đánh liều mà dự đoán như sau: năm 2025, Ấn Độ sẽ về cơ bản vẫn có hệ thống chính trị như ngày hôm nay, nhưng Trung Quốc thì không.

Trung Quốc: Ngày kỷ niệm được chọn lọc

Denise Y. Ho

Phạm Nguyên Trường dịch

Năm nay, ngày kỷ niệm các cuộc biểu tình của sinh viên, diễn ra trong các năm năm 1919 và 1989 ở Trung Quốc, sẽ một lần nữa cho thấy rõ thái độ trái ngược nhau của chính quyền Trung Quốc đối với hai phong trào này. Khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hướng tới 70 năm ngày thành lập vào tháng 10, đất nước này sẽ phải tiếp tục suy nghĩ về lịch sử của chính mình.
Đài tưởng niệm Anh hùng Nhân dân tại quảng trường Thiên An Môn

Đây là năm có nhiều ngày lễ lớn ở Trung Quốc. Ngày 4 tháng 5, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ kỷ niệm một trăm năm Phong trào Ngũ Tứ (4 tháng 5), tức là cuộc biểu tình do sinh viên dẫn đầu trên quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh vào năm 1919, đánh dấu việc xuất hiện chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc. Và sau đó, tháng sau, vào ngày 4 tháng 6, sẽ diễn ra lễ kỷ niệm 30 năm cuộc đàn áp đầy bạo lực các cuộc biểu tình của sinh viên ủng hộ dân chủ trên quảng trường này. Trái ngược với sự kiện kia, ngày kỷ niệm này sẽ không được công nhận, và còn ít được nhắc tới hơn nữa.

Các cuộc biểu tình năm 1919 được khắc trên bia đá trên Đài tưởng niệm các Anh hùng của Nhân dân trên quảng trường Thiên An Môn. Cùng hướng đến các lý tưởng của khoa học và dân chủ, những người biểu tình năm 1989 còn cho thấy họ là những người trung thành với dân tộc. Nhưng phong trào năm 1989 đã kết thúc bằng sự kiện là những người bên ngoài Trung Quốc gọi là vụ thảm sát Thiên An Môn, còn những người bên trong Trung Quốc thì gọi là “sự cố Thiên An Môn”. Những sự kiện diễn ra cách đây ba thập kỷ là chủ đề bị cấm đoán ở Trung Quốc, bị chính quyền xóa sạch khỏi Internet và thế hệ trẻ hầu như không biết đến. Mâu thuẫn ở đây là, Trung Quốc vinh danh ngày 4 tháng 5, nhưng lại cấm kỉ niệm ngày 4 tháng 6. Các sinh viên năm 1919 được ca ngợi là những người yêu nước nổi bật, phù hợp với truyền thống lâu đời của Trung Quốc, coi trí thức là những người gánh vác trách nhiệm xã hội. Những nhà nho lý tưởng trong thời kỳ đế chế Trung Hoa đã liều mình để nói lên sự thật với nhà cầm quyền, nhằm vạch trần tệ tham nhũng của các quan chức và thúc đẩy cải cách.

Sinh viên các trường đại học hồi đầu thế kỷ XX thừa hưởng di sản này. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Trung Quốc (CPC) xuất phát từ Phong trào Ngũ Tứ: các tạp chí sinh viên truyền bá tư tưởng Marxist, một nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Marx được thành lập ở Đại học Bắc Kinh, và khi còn là sinh viên làm việc trong thư viện trường này, chính Mao Trạch Đông đã đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin.

Vì Phong trào Ngũ Tứ đã tạo được tiếng vang rộng rãi và phổ biến ở Trung Quốc, những sinh viên biểu tình năm 1989 - tóc dài và quần jean xanh chứ không mặc áo choàng – đã cố tình nhắc tới sự kiện này. Và, tương tự như những người đi trước, họ khẳng định tinh thần yêu nước, vạch trần tệ tham nhũng của các quan chức và bất bình đẳng kinh tế mà các cuộc cải cách kinh tế giai đoạn sau Mao đã tạo ra.

Nhưng, nhà nước Trung Quốc coi cuộc biểu tình phản đối ở Thiên An Môn năm 1989 là “bạo loạn phản cách mạng”, và lên án một số kẻ âm mưu là lừa dối nhân dân. Mặc dù được thế giới quan tâm, phong trào đã kết thúc bằng một cuộc đàn áp, sau đó là sự im lặng của chính quyền và ngày càng bị xã hội quên lãng.

Tuy nhiên, ngày kỷ niệm 4 tháng 6 vẫn còn nhạy cảm về mặt chính trị, và nhà nước Trung Quốc luôn luôn có thái độ cảnh giá cao. Đã trở thành thói quen, các nhà báo nước ngoài ở Trung Quốc bị ngăn chặn, không được đưa tin về ngày kỷ niệm này - như Louisa Lim, cựu phóng viên BBC và Đài phát thanh công cộng quốc gia Bắc Kinh, đã cho thấy.

Từ năm 1989, Đảng Cộng sản TQ đã làm hết sức mình nhằm làm cho thanh niên gắn bó với nhà nước và những ưu tiên của nhà nước. Trẻ em học những bài học về “lòng yêu nước”, còn Đội Thiếu niên Tiền phong và Đoàn Thanh niên Cộng sản thì giáo dục lòng trung thành, các trường đại học thì phát triển các hệ thống phức tạp nhằm chống lại những biểu hiện lệch lạc về chính trị và tưởng thưởng cho lòng trung thành chính trị bằng công ăn việc làm. Những nỗ lực này đã khá thành công trong việc làm cho thanh niên Trung Quốc trở nên lãnh đạm về chính trị. Di sản của Phong trào Ngũ tứ đã được phân chia một cách hiệu quả, tinh thần yêu nước tách ra khỏi thái độ phản kháng.

Nhưng nhà nước không hoàn toàn thành công trong biến sinh viên Trung Quốc thành gà công nghiệp. Năm 2018, các sinh viên ủng hộ hệ tư tưởng Marxist của Đảng Cộng sản TQ đã trở thành thế hệ những người biểu tình mới nhất đụng độ với chính quyền. Mùa hè năm ngoái, các nhóm bắt đầu đưa công nhân trong các nhà máy ở miền nam Trung Quốc vào tổ chức, và kêu gọi người ta chú ý đến những vụ vi phạm và giúp công nhân thành lập công đoàn lao động độc lập. Tự coi mình là những người trung thành với Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, các sinh viên này đã phát động các chiến dịch trong khu vực này và trong khuôn viên trường đại học của họ.

Nhà nước đã bắt giữ hàng chục người. Các đoạn băng Video cho thấy các quan chức ở Đại học Bắc Kinh đã tìm cách ngăn chặn các tổ chức sinh viên, và các nhân chứng đã xác nhận cảnh sát mặc thường phục đã bắt những người lãnh đạo sinh viên theo đường lối Marxist và đưa đi mất tích.

Trớ trêu là, Trung Quốc đang đàn áp những sinh viên cánh tả có những lời nói và việc làm thể hiện những lý tưởng ban đầu của Đảng Cộng sản TQ. Hệt như các nhà lãnh đạo đầu tiên của đảng, trong đó có Mao, họ đứng về phía những người công nhân bị bóc lột và tìm cách đưa công nhân vào tổ chức, đôi khi, sinh viên còn tự mình tham gia làm việc trong các nhà máy. Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác và Mao đã dạy họ cách làm, họ điều tra hoàn cảnh xã hội và đặt câu hỏi về hiện tượng bất bình đẳng quá lớn ở Trung Quốc. Và, tuong tự như những người Ngũ Tứ tiền bối, những người Marxist trẻ tuổi hiện nay tự coi mình là những sinh viên trung thành đang nói lên sự thật với nhà cầm quyền.

Năm nay, những ngày kỷ niệm các phong trào diễn ra trong năm 1919 và 1989 sẽ có giá trị đặc biệt.

Phong trào Ngũ Tứ là phong trào yêu nước và khai sáng. Được sinh ra từ những tuyên bố như thế, cuộc biều tình ở Thiên An Môn năm 1989 đã kết thúc trong bạo lực và sự quên lãng của người đời. Không nghi ngờ gì rằng các nhà quan sát nước ngoài sẽ chỉ ra thái độ đầy mâu thuẫn của chính quyền Trung Quốc đối với ngày 4 tháng 5 và 4 tháng 6, và kết luận rằng, hiện nay Trung Quốc có quyền nhào nặn câu chuyện lịch sử của chính mình.

Nhưng vụ việc của các sinh viên theo đường lối Marxist hồi năm ngoái cho thấy tiềm lực của đối lập trung thành. Khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày thành lập vào tháng 10, nước này còn phải tiếp tục suy nghĩ về lịch sử của chính mình.

Denise Y. Ho, là giáo sư lịch sử ở Yale University, là tác giả cuốn "Curating Revolution: Politics on Display in Mao's China."

Đã đăng trên Việt Nam Thời Báo

Nguồn: China’s Selective Memory

May 2, 2019

VENEZUELA – DÂN CHỦ GIẢ HIỆU (Trích tác phẩm Tinh thần dân chủ, in năm 2008)

Larry Diamond

Phạm Nguyên Trường dịch


Tương tự như Nga, Venezuela cũng đã và đang chứng kiến quá trình bóp nghẹt dân chủ và cạnh tranh bởi một nhà độc tài cứng rắn, được đưa lên vị trí quyền lực trong một cuộc bầu cử cạnh tranh. Trên thực tế, Ivan Krastev, một người theo chủ nghĩa tự do nổi tiếng người Bulgaria, cho rằng tổng thống Venezuela, Hugo Chavez, và tổng thống Nga Putin, là những nhà độc tài hoàn hảo của thời hiện đại, một người là nhà cách mạng, còn người kia là phản cách mạng; cả hai đều sử dụng ngôn từ và thiết chế chính thức để cai trị chế độ độc tài.

Sự tuột dốc về chính trị kéo dài của Venezuela bắt nguồn từ giai đoạn thống trị bởi hai đảng đầy sức mạnh, nhưng bị chia rẽ; tức là những đảng đã ngăn chặn sự cạnh tranh về chính trị và chia nhau những khoản thu nhập từ dầu khí. Tuy nhiên, khi các thỏa thuận trong nội bộ đảng vẫn còn hiệu lực và thu nhập từ dầu khí vẫn gia tăng thì chế độ dân chủ ở Venezuela vẫn vượt qua được những giai đoạn khó khăn đối với Mỹ Latin trong những năm 1960 và 1970. Nhưng khi gía dầu thế giới giảm trong những năm 1980, nền kinh tế co lại và mức sống giảm sút trong khi tham nhũng tiếp tục ở mức cao và tội phạm tăng vọt. Tầng lớp nghèo khổ gia tăng nhanh chóng và ngày càng nghèo thêm tỏ ra bất mãn trước cảnh họ bị gạt ra bên lề xã hội, còn đất nước thì mệt mỏi trước sự bám víu vào quyền lực của hai đảng chính trị giữ thế thượng phong . Năm 1992, Chavez, lúc đó đang là trung tá, đã hai lấn tìm cách lật đổ hệ thống dân chủ trong những cuộc đảo chính đổ máu và chút nữa thì thành công (ông ta phải ngồi tù hai năm trước khi được tha). Sáu năm sau, trong cuộc bầu cử vào tháng 12 năm 1998, với cương lĩnh tranh cử mị dân, hứa hẹn thiết lập nền tảng của nước cộng hóa “Bolivar” mới, ông ta được bầu làm tổng thống. Vị tổng thống mới tiến hành ngay lập tức cuộc cách mạng của ông ta. “Ngay trong lời thề, ông ta đã đơn phương thay đổi lời tuyên thệ nhậm chức bằng cách tuyên bố rằng hiến pháp năm 1961 ‘đã tàn tạ’. Sau đó ông ta tiếp tục – cùng với sự ủng hộ của Tòa án Tối cao – vi phạm hiến pháp bằng cách tổ chức bầu cử quốc hội với quyền lực vượt lên cả hiến pháp để soạn ra hiến pháp mới”.

Cùng với những người ủng hộ giữ thế thượng phong trong quốc hội lập hiến và xã hội không thích những đảng phái cũ, Chavez nhanh chóng có được bản hiến pháp mới, giúp tăng cường mạnh mẽ quyền lực của tổng thống, kéo dài thời hạn cầm quyền và cho phép tái cử, giảm quyền lực của cơ quan lập pháp quốc gia, giải tán quốc hội và Tòa án Tối cao hiện hành. Bản hiến pháp mới được thông qua với đa số tuyệt đối trong cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 12 năm 1999, bản hiến pháp này cũng thành lập cơ quan mới gọi là “Quyền lực Công dân”, một nhánh của chính phủ (gồm các thanh tra viên, trưởng ban tài chính và công tố viên) nhằm vạch trần và ngăn chặn những vụ lạm dụng quyền lực. Nhưng Chavez và đảng cầm quyền của ông ta đã kiểm soát được tất cả các thiết chế này, cũng như kiểm soát được các tòa án, hội đồng bầu cử và cơ quan tình báo.

Hugo Chavez và Việt Nam

Sau khi Chavez được bầu vào tháng 7 năm 2000 với nhiệm kì kéo dài 6 năm theo bản hiến pháp mới, quyền lực của ông ta đã tăng lên. Quốc hội giao cho ông ta quyền cai trị bằng nghị định trong vòng một năm, ông ta đã sử dụng quyền này tới 49 lần. Bất bình trước những hành động tùy tiện, độc đoán của ông ta gia tăng, tháng 4 năm 2002 hàng trăm ngàn người ủng hộ cuộc tổng đình công đã đổ ra đường phố Caracas. Bạo lực bùng phát, 19 người bị giết và chẳng bao lâu sau “các sĩ quan bất đồng với sự ủng hộ của một nhóm cách doanh nghiệp lớn đã tìm cách loại bỏ ông ta” . Do tính toán sai lầm ghê gớm và phải trả giá đắt, một số nhóm thuộc xã hội dân sự dường như đã ủng hộ cuộc đảo chính, còn về phần mình, Hoa Kỳ cũng không lên án ngay lập tức. Khi chính phủ lâm thời khôi phục những chính sách của Chavez, tạm ngưng hiệu lực của hiến pháp và giải tán quốc hội, thì cuộc phản đảo chính đã thu được sự ủng hộ của quân đội và dân chúng và hai ngày sau thì đưa Chavez trở lại quyền lực.

Những cuộc phản đối mạnh mẽ vẫn tiếp diễn và chia rẽ ngày càng sâu sắc thêm. Tháng 10 năm 2002, có khoảng một triệu người tuần hành đòi Chavez tổ chức tuyển cử sớm hoặc tổ chức trưng cầu dân ý về sự cai trị của ông ta, sau đó người ta còn tổ chức một cuộc tổng đình công kéo dài tới 62 ngày. Khi vụ này thất bại, phe đối lập bắt đầu tổ chức chiến dịch nhằm bãi nhiệm ông ta (phù hợp với hiến pháp, sau khi tổng thống đã tại nhiệm được quá nửa nhiệm kì). Trong một nỗ lực nhằm làm trung gian hòa giải cho cuộc khủng hoảng, cựu tổng thống Hoa Kỳ, Jimmy Carter đề xuất cuộc trưng cầu dân ý nhằm bãi nhiệm ông ta được tổ chức vào ngày 19 tháng 8 năm 2003 – ngày đầu tiên theo luật định . Hai bên đồng ý tiến hành trưng cầu dân ý về việc bãi nhiệm, nhưng chưa thỏa thuận được khi nào thì tiến hành nếu có đủ người kí kiến nghị. Giá dầu giảm, số người ủng hộ Chavez cũng giảm đi nhanh chóng và ông ta đã dùng những cơ quan khác nhau của chính quyền nhằm ngăn chặn trưng cầu dân ý. Tên tuổi những người kí kiến nghị bị rò rỉ và được đưa lên Internet; nhiều người bị hạch sách và trở thành nạn nhân. “Nhân viên và những người nhận thầu các công trình của nhà nước bị mất việc, sĩ quan và binh sĩ bị buộc phải từ chức, những người kí kiến nghị bị thu hồi thẻ căn cước và hộ chiếu” . Việc kiểm tra chữ kí được tiến hành một cách chậm chạp và nhiêu khê. Những cản trở do chính quyền gây ra đối với cuộc trưng cầu dân ý tiếp tục gia tăng, trong khi 2 triệu cử tri mới đã được đăng kí một cách vội vã, nhiều người được đăng kí trong những hoàn cảnh đáng ngờ.

Cuối cùng, phe đối lập đã thắng thế và cuộc bỏ phiếu được tiến hành vào tháng 8 năm 2004, trong khi có nhiều hành động phi pháp, chậm trễ trong việc bỏ phiếu, địa điểm cho các quan sát viên quốc tế và các nhóm theo dõi ở trong nước “bị hạn chế nghiêm trọng”. Miriam Kornblith, một học giả dân chủ đáng kính và là thành viên của phe đối lập thiểu số có chân trong ủy ban bầu cử, kết luận: “chính phủ đã có những nỗ lực to lớn và thành công nhằm thực hiện vụ gian lận” và rằng “đây là cuộc bỏ phiếu tồi tệ nhất ở đất nước Venezuela có bề dày và phong phú về mặt kinh nghiệm và đáng ngại nhất về quyền của cử tri” . Nhưng kết quả cuộc trưng cầu dân ý cho thấy Chavez được đa số ủng hộ – do những khoản chi rất lớn của chính phủ – Tổ chức các Chính phủ châu Mỹ (Organization of American States – OAS) và Trung tâm Carter (Carter Center) đã coi cuộc bỏ phiếu là thể hiện ý chí của cử tri . Phe đối lập mất tinh thần. Trong cuộc bầu cử khu vực vào tháng 10 năm 2004, Chavez giành được sự ủng hộ của 21 trong số 23 chính quyền địa phương và 90% thành phố tự trị.

Giành thắng lợi trong cuộc trưng cầu là Chavez đã hoàn thành quá trình chuyển hóa Venezuela thành chế độ dân chủ giả hiệu. Các thiết chế ngăn chặn và kiểm tra quyền lực bị những người trung thành với ông ta vô hiệu hóa. Lực lượng vũ trang bị thanh trừng liên tục nhằm “loại bỏ những người có cảm tình với phe đối lập – cả những người thực sự lẫn những người bị nghi ngờ” và bị biến thành “đội cận vệ của hoàng đế” . “Luật mới về Tòa án Tối cao tạo điều kiện cho Chavez giới hạn sự độc lập của tòa án”, mở rộng nó và đưa người của mình vào , “biến toàn bộ ngành tư pháp thành công cụ phục vụ cách mạng” . Một đạo luật khác cho chính phủ quyền kiểm soát đài phát thanh và truyền hình. Chavez ca ngợi bộ luật này là công cụ để nhân dân Venezuela “tự giải phóng khỏi … sự độc tài của các phương tiện truyền thông đại chúng” , như George Orwell mô tả. Việc sử dụng dữ liệu cuộc trưng cầu dân ý và bỏ phiểu theo kiểu “McCarthy” đạt đến đỉnh điểm khi “hàng triệu người đối lập với chính phủ” bị “mất việc, mất hợp đồng, mất các khoản vay và không được tiếp cận với các dịch vụ công cộng” . Lo lắng về bí mật của cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 12 năm 2005 gia tăng. Vì Chavez xiết chặt gọng kìm, phe đối lập tẩy chay cuộc bầu cử, Chavez nhận được tất cả các ghế đại biểu, mặc dù chưa quá một phần tư cử tri đi bầu. Với chiến thắng như thế, vị tổng thống của cuộc cách mạng “Bolivar” tiêu diệt nốt rào cản cuối cùng đối với uy quyền của ông ta. Năm sau, ông ta tiếp tục tái cử, phe đối lập lâm vào tình trạng lộn xộn và bị săn đuổi.

Maduro và Nguyễn Phú Trọng

Trong khi tham gia tuyển cử, chính phủ của Chavez “thực sự bóp nghẹt nền kinh tế” , vung tay tài trợ cho những chương trình có tính mị dân và dành nguồn lực cho những nhóm ủng hộ ông ta với lãi suất thấp lấy từ nguồn lợi do dầu khí mang lại. Tham nhũng, phân biệt đối xử trong lao động, và sự thống trị trong lĩnh vực thông tin đại chúng đã đưa những nhóm còn lừng khừng sang phía ông ta . Hai tháng sau cuộc đầu cử tổng thống tháng 2 năm 2007, vị tổng thống vừa tái cử tuyên bố giai đoạn cai trị nữa bằng nghị định của tổng thống kéo dài 18 tháng.

Đầu năm 2006, Phil Gunson, một nhà báo nước ngoài thường trú ở Caracas, nhận xét: “[Chavez] công khai nói rằng sẽ cầm quyền đến năm 2030, và những người ủng hộ ông ta đã lập kế hoạch viết lại hiến pháp để làm điều đó, trên cơ sở không được làm thất vọng ‘ý chí của nhân dân’” . Chỉ có một thứ dường như có thể ngăn cản Chavez, đấy là mặc dù giá cả tất cả các mặt hàng đã tăng năm lần trong vòng ba năm qua, nhưng việc chi tiêu bừa bãi của ông ta đang đưa nền kinh tế tới tình trạng thâm hụt ngân sách và lạm phát trầm trọng.

April 29, 2019

Bài diễn thuyết về "Đạo làm người" gây chấn động Trung Quốc

Hải Võ 09/10/2016 (PNT nhuận sắc theo một phiên bản khác)



"Chấn động, rung động, vang dội" là bình luận trên các diễn đàn ở Trung Quốc về bài diễn thuyết được cho là đụng chạm đến những góc nhạy cảm nhất của xã hội nước này.

LTS: Bài diễn văn của giáo sư Tùng Nhật Vân tại lễ tốt nghiệp của trường Đại học Chính pháp Trung Quốc năm 2013, thời điểm bùng nổ chiến dịch chống tham nhũng "đả hổ diệt ruồi" của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, là một trong những bài nói gây bão nhất tại Trung Quốc và trên các diễn đàn quốc tế trong hơn 3 năm qua.

Đài Deutsche Welle (Đức) dẫn lời ông Kim Chung, tổng biên tập tạp chí Open (Hồng Kông) từng đánh giá: "Một trận bão tố đang nổi lên ở Trung Quốc." Trên kho tư liệu của Baidu, bài diễn văn nhận được đánh giá là "chấn động, rung động, vang dội".

Dưới đây, chúng tôi xin trích đăng nội dung bài diễn thuyết gây chấn động này. Bài gốc được đăng trên báo Sina (Trung Quốc) hôm 17/8.

***

Các em học sinh!

Hôm nay là ngày vui của các em, là ngày các em trưởng thành, là một khởi đầu mới trên đường đời của các em.

Các em sẽ đội lên đầu vòng nguyệt quế và mặc lễ phục tốt nghiệp, để biểu thị các em đã trở thành "học sĩ" (cử nhân-ND). Trong ngôn ngữ Trung Quốc truyền thống, trở thành "sĩ" nghĩa là đạt được một thân phận khác với số đông.

"Gặt hái được vị trí cao trên con đường học vấn gọi là sĩ", "người dùng tài trí gọi là sĩ". Sĩ có nhiều dạng, mà "học sĩ" chính là những người dùng học vấn và tài trí để đạt được thân phận "sĩ", được người khác tôn trọng.

Cho nên, thầy chân thành chúc mừng các em. Chúc mừng mười mấy năm học tập của các em cuối cùng đã thành "chính quả"!

Hôm nay các em tốt nghiệp bước ra cổng trường, ngày mai chính là lễ khai giảng của "đại học xã hội". Nhân sinh là từng lần một tốt nghiệp rồi lại khai giảng. Nhưng chỉ có lần tốt nghiệp và khai giảng này là bước ngoặt quan trọng nhất trong đời người.

So với hành trình dai dẳng ngày sau, quá trình học tập sinh hoạt trước đây của các em chỉ là tập đi mà thôi; so với sân khấu cuộc đời sắp tới, cuộc sống học tập trước đây chỉ là mở màn mà thôi.

Xã hội mà các em sắp bước vào là một vũ đài nhân sinh đầy màu sắc mà ở đó, các em sẽ thực hiện được giá trị của mình, hưởng thụ cuộc đời của mình. Nhưng đồng thời, xã hội cũng là một giang hồ hiểm ác, một vũng lầy dơ bẩn.

Giang hồ đó sâu không thể dò được, vượt xa khả năng tưởng tượng của các em. Các em "xông pha" giang hồ từ đây cũng giống như học đi thuở ban đầu vậy.

Giang hồ đó sẽ nhào nặn lại từ đầu sức mạnh của các em, có thể các em còn chưa ước lượng hết được. Giờ các em phải lao mình vào đó không quay đầu, trong khi không biết nó có ý nghĩa gì.



Những ngày này, các em - vừa phấn khích vừa âu lo - đều mường tượng về tương lai xán lạn, cuộc đời tươi đẹp. Những gì mà các em nghe được, đều là những lời chúc phúc đẹp đẽ và những kỳ vọng cùng ủy thác cao vời.

Nhưng là bậc phụ huynh, là người thầy giáo, là thầy Tùng [Nhật Vân] của các em, trong lòng tôi lại có chút bấp bênh, chỉ có thể nói mấy lời khuyến khích thích hợp với đại đa số các em trước giờ chia tay.

Thời Tiên Tần có một nhà tư tưởng tên Dương Chu vì cảm thán nhân sinh trắc trở trùng trùng, trong ngã rẽ lại có ngã rẽ khác khiến người ta dễ lạc lối, mà bật khóc.

Nguyễn Tịch trong Trúc Lâm Thất hiền cũng từng đối diện với trắc trở mà phải bật khóc quay đầu.

Cuộc đời nhiều ngã rẽ. Đây chính là số mệnh của con người. Nếu nghiêm túc đối đãi nhân sinh thì không thể không đối diện với những khốn khó và âu lo trước mỗi ngã rẽ hết lần này đến lần khác.

Cuộc đời là vô số lựa chọn. Bắt đầu chọn từ mục tiêu cuối cùng của nhân sinh, rồi quy hoạch phương hướng phát triển lớn, cho đến từng lựa chọn chi tiết trong sinh hoạt thường ngày, để đưa ra lựa chọn cho từng bước.

Lựa chọn của em sẽ tạo thành cuộc đời em.

Một cuộc đời đúng đắn, hay là một đời sai lầm.

Từ trước đến nay, phụ huynh, xã hội, trường học hầu như đã giúp các em hoạch định tất cả. Từ nay về sau, các em phải độc lập chọn lựa con đường sống của mình.

Con đường nhân sinh chỉ có thể một mình bước đi, không có chỗ dựa dẫm, không có thầy giáo. Chẳng may một ngày nào đó em buông xuôi theo dòng đời, thì đó cũng là lựa chọn của chính em.

Nhà triết học hiện sinh Jean-Paul Sartre từng nổi tiếng một thời ở Trung Quốc trong thập niên 1980, nhưng ngày nay rất ít người còn chú ý đến ông. Nhưng ông có một câu nói vẫn cần phải nhắc đến: "Con người là tự mình lựa chọn".

Con người lựa chọn vốn là việc của bản thân, hơn nữa phải chịu toàn bộ trách nhiệm với chọn lựa của chính mình.

Trên thế giới này, mỗi một người đều là độc nhất vô nhị. Giá trị của em trên thế giới này nằm ở chỗ em không giống số đông. Cho nên, lựa chọn đầu tiên của mỗi người, chính là nên trở thành chính mình.

Đừng thấy người khác mơ mà em cũng mơ, bị ước mơ của người khác che mắt mà cũng ước mơ giống như họ. Mỗi người đều có giấc mơ của riêng mình.

Lựa chọn trở thành chính mình nghĩa là không ngừng vượt qua chính mình. Các em phải không ngừng đánh giá lại bản thân, tự vấn bản thân, đặt ra tiêu chuẩn cao cho bản thân để truy cầu cảnh giới cao nhất.

Cuộc đời của chúng ta tương quan mật thiết với vận mệnh của xã hội này.

Mỗi thế hệ có vận mệnh của mình. Thế hệ các em có tuổi thơ và thời niên thiếu yên bình, nhưng tương lai của các em có thể phải đối mặt với những đổi thay trọng đại của xã hội Trung Quốc.

Nếu quan tâm tình hình xã hội, các em có thể nhìn thấy mây đen tích tụ trên bầu trời, có thể nghe thấy cơn bão âm ỉ giấu trong mây đen.

Những người nhạy cảm đều có thể nhìn thấy, phong vân biến hóa, sóng ngầm rung chuyển, con đường phía trước mờ mịt.

[...]

Đối diện với những biến đổi to lớn có khả năng xảy đến trong xã hội, các em sẽ lựa chọn thế nào?

Khi em đưa ra lựa chọn, em có phải là một người tỉnh táo hay không?

Trong tác phẩm "Sông lớn biển lớn - 1949", nữ sĩ Long Ứng Đài (tác giả nổi tiếng người Đài Loan-ND) ghi chép lại vô số lựa chọn của con người trong thời khắc ấy: Đi hay không đi? Đi, là một đời. Không đi, cũng là một đời. Bi kịch của vô số người đều bắt đầu từ giây phút chọn lựa ấy.

Đối diện với một số người bình thường ở trong hoàn cảnh bất đắc dĩ bị vận mệnh cuốn theo ấy, Long Ứng Đài nói một cách cảm khái: "Một giọt nước, làm sao mà biết được hướng đi của dòng chảy lớn?"

Nhưng thầy nghĩ, các em là sinh viên tốt nghiệp của Đại học Chính pháp, là cử nhân Học viện quản lý hành chính, các em nên có năng lực nhận thức phương hướng dòng chảy hơn những người bình thường.

Người ta cảm thán rằng, rừng cây tiêu điều xơ xác không thể ngăn cản được sóng xô cuồn cuộn.

Nhưng cho dù là một rừng lá, liệu em đã từng giãy giụa? Em giãy giụa theo hướng nào?

Nếu Trung Quốc lại xuất hiện một cuộc vận động Nghĩa Hòa Đoàn hay Hồng vệ binh, nếu mô hình Trùng Khánh trở thành mô hình Trung Quốc, các em có đủ tỉnh táo để nói "không"? Nếu các em không có kiến thức và dũng khí đó, có thể ít nhất làm một 'phái Tiêu Dao' (ý nói đứng ngoài sự việc-ND) vô hại hay không?

(Mô hình Trùng Khánh: Quy hoạch phát triển thành phố Trùng Khánh được đề ra năm 2010 bởi Bạc Hy Lai, nhưng được biết đến chủ yếu từ những hoạt động bề nổi-ND)


Đương đầu với dòng nước đục cuộn tới, nếu em không thể chống chọi liên tục, liệu em có thể lựa chọn đấu tranh từng lúc;

Nếu em không dám tích cực đối đầu, em vẫn có thể lựa chọn đối đầu tiêu cực;

Nếu em không thể dũng cảm biểu đạt, em có thể lựa chọn biểu đạt hàm ý;

Nếu em không dám biểu đạt hàm ý, em có thể lựa chọn im lặng.

Nếu các em không lựa chọn im lặng mà là lựa chọn hùa theo, nhưng liệu các em vẫn có thể giơ cao đánh khẽ hay không?

Khi các em chủ động hoặc bị buộc phải làm chuyện xấu, liệu nội tâm có thể sót lại chút cảm giác bất an hay tội lỗi? Chỉ một chút cảm giác bất an hoặc mang tội này thôi, vẫn là dấu hiệu cho thấy nhân tính còn chưa bị bôi xóa.

Cho dù các em không tranh đấu, nhưng đối với những người đấu tranh với cái xấu khác vẫn phải có đôi chút kính trọng. Cho dù không kính trọng cũng không được đâm sau lưng, dùng thủ đoạn hại người, trợ Trụ vi ngược (tiếp tay kẻ ác làm điều xấu-ND).

[...]

Khi các em bước ra khỏi cổng trường, các em sẽ đối diện với một xã hội đặc thù. Xã hội này đã là một thùng thuốc nhuộm lớn (có thể thay đổi con người-ND).

Năm xưa, Mặc Tử thấy người ta nhuộm vải, vải trắng đưa vào, vải ngũ sắc khi ra. Ông bật khóc.

Các em hãy hiểu tâm trạng của các thầy cô hôm nay nhìn các em vẫn còn những nét hồn nhiên thuần khiết, chuẩn bị bước vào thùng thuốc nhuộm ấy.

Chia tay trường học nghĩa là tạm biệt cuộc sống giản đơn để lao vào hồng trần cuồn cuộn, giang hồ dậy sóng.

SSau này mỗi khi các em bị tổn thương hết lần này đến lần khác, hẳn các em sẽ nhớ đến mái trường xưa, không kể là ở nơi đây đã trải qua bao nhiêu điều không vui, nơi đây đã được coi như một nơi Tịnh độ.

Đối diện với hoàn cảnh xã hội, liệu các em có làm được "cả thế gian say, mình ta tỉnh; người đời vẩn đục, chỉ ta trong"?

Thầy không ôm nhiều hy vọng về điều này, bởi chính thầy cũng không làm được. Nếu kiên trì chuẩn mực đối nhân xử thế như vậy thì chỉ có cách học theo Khuất Nguyên mà nhảy xuống sông Mịch La.

Nhưng một nguyên tắc xử thế trong Phật giáo lại có thể cho chúng ta một số chỉ dẫn, đó chính là “Tùy duyên mà hằng bất biến, bất biến mà hằng tùy duyên.” Tùy duyên mà hằng bất biến là tùy theo cơ duyên mà duyên với ngàn sai vạn biệt, nhưng bản thể của nó vẫn không thay đổi. Bất biến tùy duyên nghĩa là tuy tùy theo duyên mà hiện ra vạn hữu, nhưng bản thể của nó vẫn không thay đổi. Thầy nghĩ đây hẳn sẽ là chuẩn tắc mà đại đa số mọi người có thể thực hiện được.
Trong lĩnh vực đời sống cá nhân, thầy hy vọng các em lựa chọn lối sống lành mạnh cầu tiến, lựa chọn làm một người văn minh và có lương tri.

Đương nhiên, thẳng thắn nói với các em về hiện thực không phải là khuyên các em lựa chọn tiêu cực hay từ bỏ. Người ta thường nói, mắt ta dù màu đen nhưng lại dùng để truy tìm ánh sáng. Không có ánh sáng và hy vọng thì đó là một cuộc đời tuyệt vọng không thể tiếp tục bước đi.

Một mảng Tịnh độ trong tâm các em chỉ thuộc về các em, chỉ cần các em giữ vững nó, bất kỳ sức mạnh bên ngoài nào đều không thể xâm nhập vào được.

Từng có lời khuyên của một người phương Tây khi đối mặt với sự từ bỏ, nói rằng không phải tôi muốn thay đổi thế giới, mà tôi chỉ muốn để thế giới thay đổi chính nó. Cũng có nghĩa là, "anh không thể quyết định ngày mai Mặt trời mọc lúc mấy giờ, nhưng anh có thể quyết định thức dậy lúc mấy giờ".

Các em học sinh, các em phải vươn cao bay xa. Ngày hôm nay, các thầy cô nhìn theo bóng lưng các em bước đi, nhưng dõi theo bước chân của các em chính là nỗi lo lắng bận lòng lâu dài của các thầy cô!

Bất kể các em là những người thông minh lanh lợi hay là đơn thuần thẳng thắn, dù cho các em là đẹp trai giàu sang hay xinh đẹp quý phái, thì các em đều là học trò của thầy cô.

Các thầy cô sẽ dõi theo thành công của các em, dõi theo hạnh phúc của các em và dõi theo xem liệu các em có bước đi trên con đường ngay thẳng hay không.

Nguyện cầu trời xanh bảo hộ các em!

Các em học sinh thân yêu, hẹn gặp lại!

Nguồn Soha

April 17, 2019

NÓI CHUYỆN VỚI TRÍ THỨC LƯU MANH HÓA

Mấy lời phi lộ: 1. Loạt bài này lấy cảm hứng từ STT “CHÚNG TA vs.CHÚNG NÓ” (xem phần phụ lục 1) được nhà báo Hoàng Tư Giang share với lời bình như sau: "Chả nhẽ lòng tốt, sự tử tế của xã hội này đã kiệt quệ? Tôi không tin là như vậy. Đang suy nghĩ để viết thì thấy bài này của anh…” nhưng sau đó không thấy nhà báo HTG bênh vực người viết STT kia mà thậm chí con block luôn chủ thớt này. Ông Võ Văn Thưởng dùng những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng chưa lâm trận đã chạy như thế thì báo chí quốc doanh, dù có quy hoạch kiểu gì cũng mãi mãi sợ mạng xã hội mà thôi.
2. Có người đề nghị nêu đích danh người tham gia đối thoại trong loạt bài này. Nhưng, như đã nói, bài này lấy cảm hứng từ "CHÚNG TA vs CHÚNG NÓ" cho nên tôi dùng những đại từ như "CHÚNG TAO", "TAO", MÀY", nếu gọi đích danh người đối thoại thì dường như không được lịch sự lắm và giọng văn cũng gay gắt quá. Xin coi những đoạn trích dẫn ở đây là của một kiểu người mà chúng ta vẫn gọi là DƯ LUẬN VIÊN và chúng ta đang đối thoại với DLV nói chung.
3.  Càng nghĩ tới vụ án thằng đảng viên Linh Ấu Dâm, càng thấy bọn tuyên truyền/ủng hộ tư tưởng này: "Chúng nó cũng là chúng ta mà thôi" là bọn vô cùng khốn nạn: Đánh đồng nạn nhân với thủ phạm, đánh đồng người công chính với bọn đảng viên lưu manh. Nhiều sự đồi phong bại tục là do tư tưởng này mà ra. 
Bọn này mà được đứng trên bục giảng hoặc làm báo thì đúng là sự chế nhạo lương tri của con người.



BUỔI THỨ NHẤT

Lưu manh: CHÚNG NÓ CŨNG LÀ CHÚNG TA MÀ THÔI.


Trả lời: CHÚNG NÓ (trong đó có thể có cả mày) không phải là CHÚNG TA hay ít nhất cũng không phải là CHÚNG TAO. Milovan Djilas cách đây hơn 60 năm (1957) đã gọi CHÚNG NÓ (trong đó có thể có cả mày) là Giai cấp mới. Chỉ có CHÚNG NÓ mới có quyền lực, CHÚNG TAO (có thể không có mày) chẳng bao giờ được mon men tới gần quyền lực. CHÚNG NÓ có thể tự tung tự tác, muốn là gì thì làm, chẳng phải báo cáo với ai, chẳng phải chịu trách nhiệm trước bất cứ người nào, ngoài đồng đảng của CHÚNG NÓ mà CHÚNG NÓ thì bao che nhau. CHÚNG NÓ “nâng đỡ không trong sáng nhau”, cái này mày biết rồi, không cần nói nữa.

Tướng tấn, tá tạ, úy yến, lính chiến hai búp bê

CHÚNG NÓ xử nhau theo “lệ”, nhẹ hều: ăn cắp/làm thất thoát hàng chục, hàng trăm tỉ đồng có khi chỉ phải kiểm điểm rồi hạ cánh an toàn. Trong khi đó CHÚNG NÓ xử CHÚNG TAO bằng luật cực kì hà khắc: Con cái CHÚNG TAO ăn cắp 1 con vịt về nhậu, 7 năm tù; cái này mày cũng biết rồi.

CHÚNG NÓ có thể giống CHÚNG TAO ở một số điểm nào đó, nhưng CHÚNG NÓ thực chất không phải là CHÚNG TAO. CHÚNG NÓ (trong đó có thể có cả mày) là giai cấp cai trị, còn CHÚNG TAO (trong đó có thể không có mày) là bọn bị trị. CHÚNG NÓ bảo: “chế độ này của dân, do dân và vì dân”, nhưng CHÚNG TAO, tức là người dân, chỉ cần nói một câu không hợp với lỗ nhĩ của CHÚNG NÓ là bị CHÚNG NÓ qui cho tội “chống đối”, “phản động”… CHÚNG NÓ “ăn”, đến mức một người trong bọn CHÚNG NÓ phải kêu lên: “Ăn không từ thứ gì của dân”, trong khi CHÚNG TAO chỉ được làm hai việc: Thời chiến thì đi lính với chiến lợi phẩm là hai con búp bê, còn thời bình thì è cổ đóng đủ thứ thuế/phí/lệ để nuôi CHÚNG NÓ.


Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan bức xúc: “Người ta ăn của dân không từ cái gì nữa, từ liều vacxin con con đến tiền chữa bệnh bảo hiểm”

TẤT CẢ NHỮNG CHUYỆN NÀY MÀY ĐỀU BIẾT, TẠI SAO MÀY LẠI ĂN NÓI NGẠO NGƯỢC, ĐỂU GIẢ NHƯ THẾ?

BUỔI THỨ HAI

Lưu manh: Thực tế những gì đang xảy ra ở VN tương tự với rất nhiều nơi trên thế giới chứ đâu phải chỉ là “đặc sản riêng” của chúng ta. Các facebooker có ảnh hưởng dư sức biết điều này.

Nhờ nhà báo Mạnh Kim trả lời: Nếu Nguyễn Hữu Linh không phải là đảng viên và là cựu phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân TP. Đà Nẵng, mà chỉ là một anh xe ôm, thì phản ứng dư luận có dữ dội như vậy không? Người ta có thể chia buồn trước cái chết của ông Mười nào đó nhưng tại sao “dân mạng” lại hả hê trước cái chết của “đồng chí Đỗ Mười”?... Người dân thù ghét chính quyền là “hiện tượng” có thực. Sẽ không có một phân tích tâm lý nào đúng với bản chất vấn đề trước “hiện tượng” xã hội này nếu nguồn gốc dẫn đến hiện tượng bị phớt lờ đi. Trước khi lên án những hành động và phát biểu “vô văn hóa” của “dân mạng”, hãy đặt câu hỏi tại sao người ta thù ghét chính quyền; tâm lý thù ghét chính quyền đến từ đâu; và chính quyền có đáng để bị ghét không?

Báo Tuổi Trẻ dẫn lời luật sư Lê Cao (Đoàn luật sư TP. Đà Nẵng) cho biết, hành động ném chất bẩn vào nhà Nguyễn Hữu Linh là “không nên và pháp luật không cho phép”, rằng “có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 167”, rằng “có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự theo điều 178 Bộ luật hình sự 2015”. Tuy nhiên, có đại diện pháp luật nào đã lên tiếng cho những tiền lệ trước đó: không phải một mà là rất nhiều lần, nhà của những nhân vật đấu tranh đã từng bị tạt chất bẩn, từng bị khóa trái cửa, từng bị ném đá làm hư hỏng toàn bộ đồ đạc… Trong vài trường hợp, chất bẩn được ném vào nhà “những kẻ phản động” là phân trộn nhớt hoặc phân pha với sơn; cửa nhà họ không chỉ bị khóa trái mà ổ khóa còn bị xịt keo dán sắt; cổng nhà họ cũng bị một nhóm “lạ mặt” nào đó đến quấy nhiễu, trước sự chứng kiến của con cái họ.

Trong gần như bất kỳ xã hội nào, người dân cũng có khuynh hướng chỉ trích chính quyền, từ thuế má đến bảo hiểm y tế... Tuy nhiên, chỉ trích chính sách nhà nước khác với tâm lý thù hằn chế độ. “Ở đâu cũng có” cảnh sát đánh dân nhưng chỉ “ở đây” mới có chuyện “thanh niên tự đập mặt vào gậy cảnh sát giao thông khiến hốc mắt bị lún” hoặc “thanh niên nhập viện cấp cứu sau khi tự va vào dùi cui và súng của công an”…

Khoan vội nói đến các vấn đề chính sách vĩ mô như chuyện đất đai và quy hoạch vốn là một trong những nguồn gốc lớn nhất của bất công dẫn đến xã hội bất bình, hãy nói những chuyện “nhỏ lẻ” hơn để thấy chế độ này sai như thế nào khi nghĩ rằng bàn tay sắt có thể giải quyết mọi vấn đề. Các vụ đánh đập tàn bạo vào người biểu tình quả là có gây sợ hãi nhưng sợ hãi không là cảm giác duy nhất khi người ta xem các cảnh bọn an ninh chìm vung tay đạp chân tàn bạo. Bên cạnh sự sợ hãi là sự trào lên cảm giác oán giận và căm thù. Giận dữ là tức thì. Thù ghét thì âm ỉ. Nó trở thành cảm giác dồn nén chực chờ nổ tung. Có thể người ta không dám xuống đường nữa để biểu thị sự tức giận. Thì người ta sẽ chọn hình thức “khủng bố” bằng những quả bom ngôn từ. Thay vì tìm cách “gỡ bom”, chính quyền thường xuyên tạo ra chất nổ cho các quả bom tiếp theo.


Những trường hợp như vụ Nguyễn Hữu Linh cho thấy sự thất bại tuyệt đối của một nền chính trị. Nó cho thấy, khi công lý đã bị chính quyền chà đạp đến mức chẳng ai còn tin vào sự phán xét và trừng trị của pháp luật thì người dân sẽ có khuynh hướng cho mình quyền phán xét và quyền trừng phạt. Chưa bao giờ mà giá trị công lý bị mờ nhạt như vậy. Mà ai là thủ phạm chính làm cho công lý trở thành trò cười? Đừng chỉ đơn giản trách tại sao xã hội ngày càng trở nên hung hãn. Đừng chỉ trách “một đám dân mạng” ngày càng trở nên “vô học” hoặc “vô văn hóa” khi dễ dàng “ném đá” vào bất cứ chuyện gì. Khi chính quyền là “bà đẻ” cho những cái ác thì đừng trách cái ác quay lại “cắn” chính quyền. Trước khi lên án “tâm lý bệnh hoạn” của cái xã hội đảo điên này, cần nên tìm hiểu “virus” nào gây ra “căn bệnh xã hội” đó. Mà bản thân thầy thuốc cũng bệnh, cả cái bệnh viện cũng bệnh, còn đòi trị ai?

Tâm lý thù ghét chính quyền ngày càng in sâu vào đầu người dân. Hãy thừa nhận “hiện tượng” có thực này. Đến mức này mà còn nghĩ bàn tay sắt có thể làm khiếp nhược người dân thì là một hoang tưởng. Đến mức này mà còn chưa cấp bách sửa lại những sai lầm thì sẽ đến ngày sự giận dữ không chỉ nhắm vào một hoặc vài cá nhân, và sự cuồng nộ sẽ không chỉ giới hạn ở những tiếng chửi rủa hoặc cái cau mày. Đừng nhìn dân như “một bầy cá thể” yếu ớt. Dân tộc (nation) có trước, nhà nước (state) có sau. Dân tộc tạo ra nhà nước. Không có nhà nước nào “đẻ” ra dân tộc. (Hết trích MK)

LỜI BÌNH CỦA PNT: Những gì đang xảy ra ở VN không phải chỉ là “đặc sản riêng” của chúng ta, nhưng nó không xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới như mày viết. Đây là giọng lưỡi của LOÀI RẮN ĐỘC. Chúng tao không chấp nhận loài rắn độc, cũng như dân chủ không chấp nhận Hitler, Stalin, Pol Pot, Hugo Chavez, Maduro… và những kẻ đồng hội đồng thuyền với chúng.

BUỔI THỨ BA

Lưu manh: “Chúng ta cũng cần giảm kỳ vọng về vai trò của nhà nước vì cho dù sứ mệnh là cao đẹp nhưng khả năng rất kém và thường làm cho mọi thứ tệ hơn khi nhúng tay vào”

Trả lời: Mày là thằng nhiều chữ, cho nên mày viết: “cần giảm kỳ vọng về vai trò của nhà nước”, nếu ít chữ hơn chắc chắn mày đã viết: “không nên đòi hỏi nhà nước”. Nhưng tao nói cho mày biết rằng, nói chung dân chúng ở đâu cũng chẳng kì vọng gì nhiều vào nhà nước. Họ được sinh ra, họ phải kiếm sống và rồi sẽ chết một cách bình lặng. Nếu là một người dân bình thường và ở một đất nước bình thường thì nhà nước gần như có cũng như không. Nhưng đây là một nhà nước quái thai, ngay từ đầu nó đã muốn quản lí tất: Nó phê duyệt lí lịch của người ta, nó làm cải cách ruộng đất, nó cải tạo công thương nghiệp, nó bắt người ta sống bằng tem phiếu do nó phát cho, nó bắt người ta đi kinh tế mới, nó bắt người ta vào hợp tác xã, nó ngăn sông cấm chợ… Chính tao, cuối năm 1983 đã bị nó bắt 3kg chè búp ngay trên biên giới Thái Nguyên-Hà Nội. Mà mày phải biết rằng, 3kg chè lúc đó là cả một gia sản, không thể nói là tao đã choáng váng và căm thù cái quái thai đó tới mức nào. Nhiều người đã tuyệt vọng tới mức liều mình lao ra biển, chấp nhận một trong 3: “Con nuôi cá, má nuôi con, con nuôi má”. Liên Hợp Quốc nói rằng có 839.000 người liều mình như thế và 10% đã bỏ xác ngoài biển Đông sau khi đã trải qua bao nhục nhã ê chề. Tao nghĩ là mày biết tất cả những chuyện này. Chỉ đến khi CHÚNG NÓ thấy rằng nếu cứ tiếp tục làm như thế thì chính CHÚNG NÓ cũng sẽ chết đói, hoặc sẽ bị người dân thọc huyết thì CHÚNG NÓ mới buông dần ra mà thôi.


Cho nên chúng tao không “kì vọng” mà chúng tao “đòi hỏi”. Đòi hỏi thay đổi, thay đổi tận gốc rễ. Mà trước hết là thay đổi luật lệ. Ví dụ như Luật đất đai. Cái điều luật quái thai: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất…” chính là nguồn gốc khủng khiếp của tham nhũng và đang phá nát xã hội. Đấy chính là nguồn gốc của những bất bình, oan khuất ở Đồng Tâm, ở Thủ Thiêm, ở vườn rau Lộc Hưng… Chúng tao đòi những quyền tự nhiên, bất khả tương nhượng mà chúng tao có ngay từ khi lọt long mẹ mẹ. Đấy là quyền sở hữu, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, quyền lật đổ chính phủ nếu chính phủ không còn phục vụ nhân dân, như lời bài hát Trả lại cho dân đã nói hộ cho chúng tao. CHÚNG TAO ĐÒI THAY ĐỔI NHỮNG ĐIỀU ĐÓ, CHỨ CHÚNG TAO KHÔNG KÌ VỌNG, MÀY ĐÃ NGHE RÕ CHƯA?

Một chuyến vượt biển từ miền bắc Việt Nam

Cho nên lời khuyên của mày: “Chúng ta cũng cần giảm kỳ vọng về vai trò của nhà nước…” mặc dù đã được mày làm nhẹ đi bằng cái đuôi: “khả năng rất kém và thường làm cho mọi thứ tệ hơn khi nhúng tay vào” là xảo ngôn, dối trá, chẳng lừa được ai.

Nói thêm, đọc mấy chữ này của mày: “vai trò của nhà nước vì cho dù sứ mệnh là cao đẹp” tao nghĩ, có thể do mày bợ đít chính quyền quá mức cho nên hóa ngu. Tao nói cho mày biết: Nhà nước là cái xấu, cái ác mà chúng ta phải chấp nhận. Ở những quốc gia bình thường, nhà nước là cơ quan được người dân thuê, để làm những công việc mà người dân giao cho nó phải làm. Và người ta luôn luôn phải cảnh giác để các quan chức của nó không dùng quyền lực được giao để làm hại nhân dân vì họ biết rằng quyền lực làm tha hóa, quyền lực tuyệt đối làm tha hóa tuyệt đối. Chỉ có ở đất nước này CHÚNG TAO (có thể không có mày) mới bị mặc định phải coi vai trò của CHÚNG NÓ (có thể có mày) là “sứ mệnh cao đẹp” mà thôi. Tao không hiểu nên coi mày là thằng ngu hay thằng đểu đây?

BUỔI THỨ TƯ

Lưu manh: “Đối với doanh nghiệp, không nên kỳ vọng họ lấy lòng tốt đặt lên hàng đầu.”

Trả lời: Lại một lần nữa phải hỏi, mày ngu thật hay giả vờ ngu tài đến thế? Từ thuở hồng hoang đến giờ, có bà bán bắp cải mù chữ nào lại “kỳ vọng bà bán cà chua lấy lòng tốt đặt lên hàng đầu”? như mày viết. Trong khi đó, chắc chắn mày phải biết câu sau đây của Adam Smith: “Chúng ta hy vọng có bữa ăn trưa không phải vì người bán thịt, người nấu bia, hay người làm bánh mỳ có lòng tốt, mà vì họ tôn trọng quyền lợi của chính mình”. Trong xã hội thị trường tự do, dường như có một bàn tay vô hình điều khiển mọi hoạt động kinh tế: Mọi người (trong đó có tao và mày) đều phải tự cải thiện hoàn cảnh sống của mình, và trong khi làm như thế, người ta phải cung cấp cho người tiêu dùng sản phẩm chất lượng “đáng đồng tiền bát gạo”, nghĩa là hai bên cùng thắng. Hiểu chửa?

Còn bọn doanh nhân ở Việt Nam thì sao?

Hãy xem Facbooker Nguyễn Tấn Thành nói về Masan, một trong những doanh nghiệp đình đám hiện nay:
“Marketing gây ám ảnh là chiêu làm cho khách hàng ám ảnh bởi các sản phẩm trên thị trường, điều rất dễ trong tình trạng thực phẩm bẩn, chính quyền tham nhũng, báo chí vô đạo đức hiện nay . Sau đó tung sản phẩm ra như vị cứu tinh khách hàng, và nhanh chóng thống lĩnh thị trường.

Cụ thể Masan đã làm:

- Tung tin nước tương (xì dầu) đang có trên thị trường đều có chất 3-MCPD làm xã hội ám ảnh. Sau đó đưa nước tương Tam Thái Tử ra làm vị cứu tinh và chiếm lĩnh thị trường. Từ đó doanh số 2007 là 660 tỷ lên 2008 là 1992 tỷ. Tăng gấp 3 lần trong 1 năm. Thực ra Tam Thái Tử là nước tương hoá chất !

- Tung tin nước mắm có cặn để đưa nước mắm hoá chất Chinsu không cặn ra thống lĩnh thị trường, dù không được như Tam Thái Tử nhưng cũng chiếm 60%

- Tung tin mì tôm chiên dầu nhiều lần, để đưa mì "khoai tây" có thêm hương vị hoá chất khoai tây chiếm lãnh thị trường.

Cái NHÂN là sản phẩm cứu tinh của Masan đưa ra đều là sản phẩm giả, chỉ hoá chất với hương vị tổng hợp. Và với việc chi tiền truyền thông sản phẩm giả đó đánh bật sản phẩm thật, dầu đó là truyền thống. Bởi Masan biết người dùng Việt không tư duy, lại bầy đàn theo các bài báo, theo các tổ ngàn like ăn tiền Masan.

Cái QUẢ đầu tiên là hàng loạt doanh nghiệp Việt phá sản. Để Masan tăng lên 1992 tỷ từ năm trước 660 tỷ, thì các doanh nghiệp khác phải mất doanh số 1330 tỷ. Mất doanh số trong một năm như vậy thì phải vài trăm doanh nghiệp phá sản đóng cửa.

Cái QUẢ lâu dài là các hoá chất trong sản phẩm giả của Masan không gây hại tức thì mà góp phần với nhiều thứ khác làm tăng bệnh nhân ung thư, làm suy vong giống nòi Việt”. (Hết trích NTT).

Đấy là chưa nói tới thằng Dr Thanh lừa khách hàng để tống một người nông dân ngu dốt vào tù (7 năm lận).


Tao biết là mày sẽ bảo: “Ở đâu chả thế. Mỹ cũng có bọn bồi bút, dọa người ta về bệnh tật để họ phải mua thuốc đắt; lừa người ta để họ mua nước uống tăng lực, thực chất chỉ là nước đường mà thôi”. Đúng, nhưng mày phải nhớ rằng ở những nước đó báo chí hầu hết là tư nhân, người đọc có sự cảnh giác nhất định; còn ở đây tất cả các phương tiện truyền thông đều của CHÚNG NÓ (trong đó có thể có mày), người dân dễ tin hơn.

Thế mà mày bảo chúng ta “không nên kỳ vọng họ lấy lòng tốt đặt lên hàng đầu” thì có ngửi nổi hay không? Đấy là tao chưa nói đến bọn doanh nhân trong lĩnh vực bất động sản câu kết với chính quyền, sử dụng điều luật gian manh “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý…” để “thu hồi” đất, sau đó chia lô và bán với giá gấp hàng trăm, hàng ngàn lần giá đền bù cho người dân. Tao hỏi mày: Không nên kỳ vọng họ lấy lòng tốt đặt lên hàng đầu hay phải lên án bọn kinh doanh xảo trá đó, làm cho chúng phá sản và cho chúng vào tù?

Trong lĩnh vực này, lời khuyên của mày: “Việc trừng phạt những hành động gây hại cho xã hội là cần thiết, nhưng hình phạt nặng nề không phải là cách tiếp cận hay” mới nghe thì có vẻ đạo đức, nhưng thực ra là Đ. ngửi nổi.

BUỔI THỨ NĂM

Lưu manh: “Nếu muốn xã hội tốt lên thì chúng ta cần gạn đục, khơi trong nhằm làm cho phần tích cực ngày một nhiều hơn và phần không mong đợi ngày một ít đi.”

Trả lời: Mới nghe thì có vẻ đúng, nhưng trong tình hình hiện nay thì đây là lời dối trá nhằm lòe bịp giới trẻ. Tao hỏi mày: Người dân Hà Tĩnh “gạn đục” bao nhiêu năm thì mới “khơi trong” được vùng biển mà Formosa đã gây ra thảm họa môi trường? Người dân ở những vùng với những nhà máy nhiệt điện chạy than mà Trung Quốc vứt đi, nhưng CHÚNG NÓ mua về phải “gạn đục” bao nhiêu năm thì mới “khơi trong” được không khí ô nhiễm trong những vùng này? Nhiều vụ lắm, không thể nào kể hết được. Chắc chắn là mày biết những chuyện hơn tao, sao mày lại cố tình nói năng ngạo ngược như thế?


MÀY CÒN VIẾT: “Xã hội này là của chúng ta nên cần chung tay làm cho nó tốt lên chứ chẳng có “CHÚNG NÓ” nào đâu”. Tao hỏi mày: Làm sao CHÚNG TAO có thể “chung tay làm cho nó tốt lên”, trong khi CHÚNG NÓ phá hệt như bọn phá hoại chuyên nghiệp, như thể ông Trời sinh ra CHÚNG NÓ với mỗi một nhiệm vụ là phá cho tan hoang cái đất nước này thì chúng nó mởi hả dạ vậy. Chỉ xin nhắc mày mấy vụ phá hoại nổi đình nổi đám thôi nha: Vinashin thiệt hại 4 tỉ USD, Vinalines thiệt hại cũng vài tỉ, Đường sắt trên cao Hà Nội làm bao nhiêu năm chưa xong, thế mà mỗi năm phải trả cho Trung Quốc khoản nợ là 650 tỉ, tức là trung bình mỗi ngày gần 2 tỉ đồng. Chưa hết, báo Vietnmanet vừa mới cho biết 19 doanh nghiệp nhà nước nợ 1,3 triệu tỉ. Quả thật tao cũng không biết 1,3 triệu tỉ là mấy con số không, và các bà nông dân, các công ngư dân, những người công nhân gia công trong các nhà máy giày, nhà máy may mặc phải làm bao nhiêu năm thì mới đủ tiền cho CHÚNG NÓ trả những khoản nợ này. Bài báo còn viết cụ thể như sau: “Có những doanh nghiệp có nợ vay tương đối lớn, như Tập đoàn Dầu khí nợ 146.585 tỷ đồng, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản nợ 48.648 tỷ đồng, Tập đoàn Viễn thông Quân đội nợ 43.485 tỷ đồng...” Chỉ có khoan dầu lên bán mà nợ tới 146 ngàn tỉ, chỉ có xúc than lên bán mà nợ tới 48 ngàn tỉ… Mày thấy có kì quặc không? Sao không giải tán, đóng cửa những của nợ đó cho rồi?

Đường sắt trên cao Hà Nội làm bao nhiêu năm chưa xong, thế mà mỗi năm phải trả cho Trung Quốc khoản nợ là 650 tỉ

CHƯA HẾT: CHÚNG NÓ còn bán rẻ tài sản công cho tư nhân. Điển hình và nổi đình đám hiện nay là vụ Vũ Nhôm. Và mua tài sản tư nhân với giá cắt cổ: Thương vụ Mobifone mua cổ phần AVG với giá gần 8.900 tỉ đồng, nhưng Thanh tra Chính phủ bảo rằng vốn của nhà nước ở Mobifone đã bị mất khoảng 7.006 tỉ đồng. Những chuyện này mà đều biết. Mọi người cũng đều biết. Tao chỉ nhắc lại vài vụ điển hình thôi.

VẪN CHƯA HẾT: Đằng sau tất cả những vụ ô nhiễm môi trường, thất thoát, nợ công, mua đắt, bán rẻ đó là những vụ đưa và nhận hối lộ; là bẻ cong công lý làm cho xã hội chẳng biết tin vào ai, tin vào cái gì; là những kẻ giàu lên chỉ sau một đêm làm cho xã hội mất hết các chuẩn mực đạo đức… Tất cả đều là việc của CHÚNG NÓ (có thể có mày), CHÚNG TAO (có thể không có mày) mà nói thì liền bị CHÚNG NÓ cho là chống đối, liền bị CHÚNG NÓ đánh đập có khi bỏ tù.

Tao hỏi mày, CHÚNG TAO cần “gạn đục”, “chung tay” làm bao nhiêu năm thì xã hội, môi trường mới “trong” lên được?

 Tổng bí thư ĐCS VN thăm Formosa trong khi xảy ra thảm họa môi trường

BUỔI THỨ SÁU

Lưu manh: “chúng ta cần hình dung nếu mình đứng ở vị trí của họ thì sẽ như thế nào chứ không nên theo chuẩn kép bị pha trộn bởi sự ghen ăn tức ở hay tính nhỏ nhen của con người.”

Trả lời: Câu này của mày “chúng ta cần hình dung nếu mình đứng ở vị trí của họ thì sẽ như thế nào” nghe được. Bởi vì đây là cỗ máy mà ngay từ năm 1945 đã có người bảo rằng “đầu vào toàn tinh hoa, đầu ra toàn rác rưởi”. Đấy là giai đoạn những năm cuối 1940, chứ bây giờ thì đầu vào đã hầu hết là rác rưởi còn đầu ra thì là … Tao cũng không biết gọi là gì vì gọi là chó thì có người bảo chó trung thành với chủ, không hai chủ, trong khi chúng nó được dân nuôi mà phản bội dân. Gọi là phân thì có người bảo phân còn có ích chứ bọn thứ trưởng, bộ trưởng, ủy viên bộ chính trị biến hàng chục ngàn tỷ của dân thành cát bụi thì không thể gọi là phân được vì phân có ích, trong khi chúng cực kì có hại. Những người dứt khoát không thỏa hiệp, không đi bằng đầu gối không bao giờ được cỗ máy đó cho đến gần “đầu vào” chứ đừng nói là “vào”. Thảng hoặc có những người tạm gọi là tử tế, biết việc nhưng không cảnh giác, thỏa hiệp từng bước một và cuối cùng đã bị CHÚNG NÓ biến thành rác (tao nghĩ hầu hết các cán bộ dầu khí được đào tạo ở Liên Xô ban đầu đã là những người như thế). Cho nên những người như tao không bao giờ dùng “tiêu chuẩn kép bị pha trộn bởi sự ghen ăn tức ở hay tính nhỏ nhen của con người” trong khi tố cáo/lên án những người như Đinh La Thăng và những kẻ đồng hội đồng thuyền với ông ta. Mà có tố cáo/lên án thì cũng nhằm vào cái đích cao hơn, như có lần tao đã viết như sau: “Vì vậy, nói về # là không chỉ nói về # mà phải nói về cơ chế đã sinh ra #, nói về cơ chế đã sinh ra # là không chỉ nói về cơ chế đã sinh ra # mà phải nói về lý thuyết đã sinh ra cơ chế sinh ra #. Nói về lý thuyết đã sinh ra cơ chế sinh ra # là không chỉ nói về lý thuyết đã sinh ra cơ chế sinh ra # mà phải nói về những kẻ đã mang mớ lý thuyết nhảm nhí đó về Việt Nam; nói về những kẻ đã mang mớ lý thuyết nhảm nhí đó về Việt Nam là không chỉ nói về những kẻ đã mang mớ lý thuyết nhảm nhí đó về Việt Nam mà phải nói về những kẻ quyết tâm bảo vệ mớ lý thuyết và cơ chế đó để hàng ngày hàng giờ sinh ra những kẻ như #; nói về Đinh La Thăng là không chỉ nói về # mà phải nói... Cứ thế tiếp tục, bao giờ hết hơi thì thôi. Nói như thế mới đúng biện chứng pháp. Và mới nên nói!”. Mày đã hiểu chưa?

Cho nên CHÚNG TAO không “kì vọng” vào cỗ mày đó, mà CHÚNG TAO đòi hỏi. CHÚNG TAO đòi hỏi phải tháo cỗ máy ra và lắp lại một cách triệt để, chúng tao không chấp nhận việc CHÚNG NÓ chỉ chiếm khoảng 10% cử tri mà lại ngồi trên 95% số ghế trong cái cơ quan mà CHÚNG NÓ bảo là quyền lực cao nhất. Thế vẫn chưa hết, cái cơ quan quyền lực gọi là cao nhất này lại còn nắm dưới một cơ quan cao nữa, nhưng vô hình, mà một người trong bọn CHÚNG NÓ đã phải gọi là “vua tập thể”. Chúng tao không chấp nhận “vua” nữa, “vua cá nhân” hay “vua tập thể” thì cũng vậy thôi. Nhưng, nói thực với mày, “vua cá nhân” có khi còn tốt hơn, vì lúc ông ta làm sai còn có chỗ mà chỉ trỏ, chứ bọn “vua tập thể” là vô hình, chửi chúng nó cũng bằng không.


Tóm lại, CHÚNG TAO muốn mọi người cùng bình đẳng trước pháp luật, chứ không muốn sống trong TRẠI SÚC VẬT, nơi, “Tất cả các con vật đều bình đẳng, nhưng có một số con bình đẳng hơn những con khác” nữa.

Dư luận viên - Zombie

Lời cuối: Bài viết của mày toàn những ngôn từ nhảm nhí, vạch hết những điều nhảm nhí của mày thì chẳng còn thì giờ làm việc gì khác nữa. Thành ra tao chấm dứt ở đây. Tao chỉ nhắn mày câu này: Không phụ thuộc vào khu vực, không phụ thuộc vào dân tộc, không phụ thuộc vào văn hóa hay tôn giáo, quốc gia thành công hay thất bại là do thể chế chính trị. Đấy là nội dung tác phẩm Tại sao các quốc gia thất bại, tất cả những người quan tâm tới chính trị đều nên đọc. Mày phải rất thận trọng với những lời lẽ tráo trở, mị dân, dư luận viên như thế này bởi vì các bạn trẻ bây giờ giỏi lắm, họ có thể biến mày thành zombie chỉ trong vài nốt nhạc. Hãy thận trọng!

HẾT.

Phụ lục 1

CHÚNG TA vs.CHÚNG NÓ





Gieo nhân nào gặp quả nấy! Một xã hội có thể nhìn thấy sự nhiễu nhương ở khắp nơi là sản phẩm hay điều chính CHÚNG TA gây nên chứ không phải “CHÚNG NÓ” - nhà nước bất tài và doanh nhân tham lam đâu. Hơn thế, suy cho cùng “CHÚNG NÓ” cũng chính là CHÚNG TA mà thôi.

Do vậy, cách thức đơn giản nhất có thể làm cho mọi thứ tốt lên là chúng ta cần ý thức hơn nữa về quyền lợi gắn với nghĩa vụ của mình bằng việc tăng phần tích cực của cuộc sống. Cần gầy dựng những nơi nuôi dưỡng và nâng niu những điều tốt đẹp và giảm bớt cái nhìn tiêu cực về cuộc sống vốn dĩ nó vậy.

Chúng ta cũng cần giảm kỳ vọng về vai trò của nhà nước vì cho dù sứ mệnh là cao đẹp nhưng khả năng rất kém và thường làm cho mọi thứ tệ hơn khi nhúng tay vào.

Đối với doanh nghiệp, không nên kỳ vọng họ lấy lòng tốt đặt lên hàng đầu. Điều cần thiết là cùng chung tay tạo dựng ra những cộng đồng có ý thức biết nói không với những cách làm ăn vô đạo và nâng niu những giá trị tốt đẹp.

NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY MÀ ĐAU ĐỚN LÒNG

Nhìn vào cách hành xử của các bạn trẻ sẽ thấy tương lai của xã hội. Những hành động bạo lực phi nhân tính; sự bốc đồng gắn với tâm lý thích nổi loạn dẫn đến việc tán dương những việc làm không tốt cho xã hội.

Sự vô sỉ của một số ít có chức, có quyền hay có tiền đang làm cho các giá trị xã hội đảo điên, phải trái, trắng đen lẫn lộn.

Lòng tốt cùng những giá trị nhân văn của cuộc sống đang ở trong cảnh “thiếu oxy” trầm trọng.

Nhiều thứ chỉ là đạo đức giả và niềm tin bị mai một. Những phát biểu vì cái chung của các quan chức, lời dạy dỗ hay ho của thầy cô, mẹ cha đang trở nên vô nghĩa.

Cõi trần như vậy nên không ít người đã tìm sự cứu rỗi trong cõi tâm linh. Sự sùng đạo và tín ngưỡng chừng mực làm cho cuộc sống tích cực. Tuy nhiên, mê tín dị đoan hay những hành động quá quắt sẽ làm cho xã hội nhiễu nhương hơn.

Làm gì có chuyện đi ăn cướp rồi đi cúng chùa lại có được phúc hay đấng quyền năng nào lại chứng giám cho những tâm địa xấu xa.

“CHÚNG NÓ” CŨNG LÀ CHÚNG TA MÀ THÔI

Với những gì được phản ảnh thì lỗi thuộc “CHÚNG NÓ”. Nôm na là: “Mọi chuyện tệ như vậy là do sự kém cỏi của nhà nước chỉ toàn một lũ bất tài và tham nhũng cùng với lòng tham của bọn doanh nhân có thể bán mua mọi thứ chỉ vì tiền.”

Đúng là trong khu vực công có rất nhiều kẻ tham nhũng và bất tài cùng với những người làm kinh doanh sẵn sàng bán trời không văn tự đang làm cho tình trạng nhà nước đụng đến đâu là hỏng đến đó.

Tuy nhiên, xã hội nào cũng có những người đeo đuổi lý tưởng và giá trị của mình để làm cho xã hội tốt đẹp hơn cho dù vẫn phải mưu sinh và chấp nhận làm một số việc trong chừng mực nào đó để đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình.

Lý tưởng là có những cán bộ công chức theo đúng nghĩa công bộc của dân, sẵn sàng làm việc quên mình cho dù với đồng lương chết đói. Đáng tiếc, “giống người này” chưa xuất hiện trên hành tinh của chúng ta.

Do vậy, chúng ta không nên mặc định nhà nước và kinh doanh là xấu xa mà cần có cái nhìn khách quan về từng người, từng vấn đề bao gồm cả hai mặt chứ không phải chỉ có mặt tăm tối mà thôi.

Hơn thế, “CHÚNG NÓ” thực chất là “CHÚNG TA”.

Trên thực tế, mỗi chúng ta đều phải làm việc hay mưu sinh mà việc làm chủ yếu đến từ khu vực kinh doanh hay nhà nước.

Hơn thế, những người ở vị trí có thể làm điều “xấu xa” đều là người thân hay bạn bè của chúng ta và rất nhiều chúng ta cũng muốn có được vị trí như họ mà.

Để có thể tìm ra giải pháp khả dĩ, chúng ta cần hình dung nếu mình đứng ở vị trí của họ thì sẽ như thế nào chứ không nên theo chuẩn kép bị pha trộn bởi sự ghen ăn tức ở hay tính nhỏ nhen của con người.

THỪA CĂM HẬN, THIẾU YÊU THƯƠNG

Với những điều quá quắt đang xảy ra, tâm lý chung, nhất là ở xã hội duy tình như Việt Nam, là muốn trừng phạt thật nặng những người mắc lỗi/phạm tội, nhất là những kẻ có thế, có quyền.

Việc trừng phạt những hành động gây hại cho xã hội là cần thiết, nhưng hình phạt nặng nề không phải là cách tiếp cận hay. Do vậy, các quốc gia càng tiên tiến thì càng chọn cách cảm hoá thiện lành thay vì trừng phạt tàn khốc.

Không cần phải quá giàu có để có được sự văn minh mà chỉ cần ý thức và sự chung tay của cộng đồng mà bằng chứng đã có từ cổ xưa ở nhiều cộng đồng.

Xã hội chúng ta hiện nay đang thiếu trầm trọng những nơi trú ngụ và nuôi dưỡng phần thiện lành của con người. Kết quả trả lời hai câu hỏi mà tôi đặt ra dưới đây cho thấy rất rõ điều này:

1.Đâu là những nơi (cá nhân, cộng đồng hay tổ chức) mà các bạn trẻ có thể tìm đến để có tư duy và cái nhìn tích cực về cuộc sống ở Việt Nam hiện nay?

2. Các bạn trẻ nên theo các facebooker nổi tiếng (có hàng nghìn like mỗi post) nào để có tư duy và cái nhìn tích cực về cuộc sống ở Việt Nam hiện nay?

Hơn 130 comment, nhưng đã không thể chỉ ra “nơi trú ngụ” để các bạn trẻ có thể nuôi dưỡng tâm hồn và có cái nhìn tích cực về cuộc sống.

Những gì các facebooker nổi tiếng mà tôi biết rằng có sự am hiểu về hệ thống hiện tại và cũng đã đi ra bên ngoài rất nhiều đưa lên phục vụ ‘độc giả’ của mình là một màu xám xịt.

Ví dụ như thông tin về nhà nước chẳng hạn. Toàn là tham nhũng, bất tài và xấu xa với các mưu mô quỷ quyệt mà chỉ ở mình VN mới có vậy. Thêm vào đó, những giải pháp nêu ra cần phải có những công chức chỉ vì cái chung, sẵn sàng làm việc quên mình cho dù với đồng lương chết đói.

“Giống người này” chưa xuất hiện trên hành tinh của chúng ta nên những kỳ vọng về một hệ thống công quyền như vậy là duy ý chí mà thực ra hệ thống hiện tại ở Việt Nam cũng đang giả định như vậy và trục trặc đang xảy ra.

Thực tế những gì đang xảy ra ở VN tương tự với rất nhiều nơi trên thế giới chứ đâu phải chỉ là “đặc sản riêng” của chúng ta. Các facebooker có ảnh hưởng dư sức biết điều này.

NÊN GẠN ĐỤC KHƠI TRONG

Trên thực tế, nếu xếp tất cả các quốc gia trên thế giới về sự phát triển và văn minh thì Việt Nam ở nhóm giữa nhờ những cải thiện đáng kể sau hơn 30 năm đổi mới.

Rõ ràng “CHÚNG NÓ” (nhà nước và thị trường) đang có rất nhiều vấn đề cần phải sửa, nhưng cũng rất nhiều thứ tích cực nên được nhìn nhận. Nếu muốn xã hội tốt lên thì chúng ta cần gạn đục, khơi trong nhằm làm cho phần tích cực ngày một nhiều hơn và phần không mong đợi ngày một ít đi.

Bằng không, nếu cứ giữ cái quán tính hiện tại thì chúng ta đang có được cái mình đáng có rồi mà 😞

Xã hội này là của chúng ta nên cần chung tay làm cho nó tốt lên chứ chẳng có “CHÚNG NÓ” nào đâu.

Chúc cả nhà thứ sáu vui vẻ!

Hoàng Tư Giang chia sẻ và thêm: Chả nhẽ lòng tốt, sự tử tế của xã hội này đã kiệt quệ? Tôi không tin là như vậy. Đang suy nghĩ để viết thì thấy bài này của anh.....

Phụ lục 2


GIẢNG DÂN CHỦ TỰ DO CHO BỌN HÓNG HỚT CƠM THỪA CANH CẶN (đã hoàn thiện đến mức có thể dùng làm cẩ
m nang)

Mấy lời phi lộ: Bài này lấy cảm hứng từ một STT (xem phụ lục) mà nhà báo Hoàng Tư Giang còm: “Dân chủ của tao do tao và vì tao!”, nhưng sau đó không thấy nhà báo HTG bênh vực người viết STT kia mà thậm chí có block luôn chủ thớt này. Ông Võ Văn Thưởng dùng những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng chưa lâm trận đã chạy như thế thì báo chí quốc doanh, dù có quy hoạch kiểu gì cũng mãi mãi sợ mạng xã hội mà thôi.

1. Giới thiệu

Trong những kẻ kiếm cơm không phải bằng lao động chân tay, ta có thể thấy có hai loại người ngu sau đây:

a. NGU THẬT. Có thể nói họ là những người thành thạo công việc chuyên môn của mình, nhưng khi bàn sang các vấn đề chính trị-xã hội thì trình độ của họ chỉ ngang với anh lái xe trung bình. Tôi gọi đây là NGU ĐÁNG THƯƠNG. Cần có thái độ khoan dung và khai dân trí cho họ.

b. NGU GIẢ. Họ là những người làm việc trong lĩnh vực truyền thông, không thiếu kiến thức về chính trị-xã hội, nhưng đây là bọn đi hai hàng, dùng tư duy nước đôi và xảo ngôn để bợ đít chính quyền, tiếp tục dìm quần chúng ít học trong u mê tăm tối. Họ không phải là hạng người ngu, mà phải nói là khôn, khôn đến mức trở thành ngu, trở thành DƯ LUẬN VIÊN. Tôi gọi đây là NGU ĐÁNG KHINH. Nhưng khi bị gọi là DLV là đám này lập tực giẫy nảy lên như đỉa phải vôi: “Em chã!” Tôi đã suy nghĩ mấy ngày để trau chuốt kĩ lưỡng bài giảng này, đủ sức làm co bọn DLV cao cấp nhất, đáng khinh nhất phải ngậm miệng.

XIN TẶNG TẤT CẢ CÁC BẠN!

1. Dẫn nhập
Muốn nói đến dân chủ tự do thì phải có hai điều kiện tiên quyết:
1. Tư duy độc lập.
2. Không hóng hớt cơm thừa canh cặn.
Thiếu hai điều kiện tiên quyết đó – dù có học vị tiến sĩ, học hàm giáo sư hay đang đứng trên bục giảng đại học – mà nói về dân chủ thì cũng chỉ như những con VẸT hay DƯ LUẬN VIÊN mà thôi.

Hóng hớt cơm thừa canh cặn

NHỚ NHA!

3. Nội dung

Trong lĩnh vực tư tưởng/ngôn ngữ, những người có tư tưởng dân chủ tự do khi thấy những kẻ tuyên truyền cho CN phát xít, chủ nghĩa CS hay tuyên truyền tư tưởng Hồi giáo cực đoan… sẽ không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực hoặc đề nghị công an rọ mõm chúng lại, nhưng họ hoàn toàn có quyền gọi chúng là phát xít, CS, Hồi giáo cực đoan… với thái độ khinh bỉ hoặc không cho chúng bén mảng tới gần mình.

Tương tự như thế, những người phản biện hiện nay có thể gọi những kẻ bợ đít chính quyền để kiếm chút cơm thừa canh cặn, tức là những kẻ tuyên truyền những luận điệu xảo trá nhằm cố tình giữ mãi quần chúng ít học trong vòng tăm tối u mê là DƯ LUẬN VIÊN, dù chúng có đầu quân/nhận lương của AK47 hay là không. Dù có BẰNG CẤP ĐẦY MÌNH, THẬM CHÍ LÀ ĐANG ĐỨNG TRÊN BỤC GIẢNG ĐẠI HỌC, ĐANG LÀM TRONG BAN BIÊN TẬP CỦA NHỮNG TỜ BÁO LỚN nhưng lúc nào cũng cúc cung tận tụy bợ đít chính quyền để kiếm chút cơm thừa canh cặn thì mãi mãi chỉ là và rất xứng đang được gọi là DƯ LUẬN VIÊN.

Dư luận viên chỉ là một loài vẹt

Dân chủ tự do là xã hội đa nguyên, có đủ thứ ý kiến/quan điểm, nhưng không có nghĩa là không phân chia giới tuyến. Ngay cả trong những nước dân chủ tự do nhất người ta cũng phân ra phổ chính trị, từ cực tả tới cực hữu. Trong những xã hội đó, một người bảo thủ không bao giờ gửi bài viết của mình cho tờ báo cánh tả, ví dụ thế. Mà có gửi thì một người nào đó trong ban biên tập cũng bảo: “Thằng này bảo thủ lắm” và vứt vào sọt rác mà không thèm đọc một chữ nào. Chỉ khác các nước độc tài là họ không đi báo công an và người có bản thảo bị vất đi có thể gửi cho tờ báo khác hoặc tự mình ra báo để đăng tải quan điểm của mình. Thế thôi!

Phổ chính trị

Nhắc lại: Dân chủ tự do là xã hội đa nguyên, có đủ thứ ý kiến/quan điểm, nhưng không có nghĩa là không phân chia giới tuyến, không chụp mũ nhau (đôi khi chụp sai có thể phải ra tòa) và không có quyền lên án bọn phát xít, CS, Hồi giáo cực đoan và dư luận viên đủ mọi loại.

P/S. Có người hỏi: “Viết như thế có năng lời quá hay không?” Trả lời: “Có người nói bọn DLV cao cấp nguy hiểm gấp triệu lần những thằng lưu manh có sức hút với giới trẻ như kiểu Khá Bảnh, cho nên phải vạch mặt chúng. Chúng là bọn rất đáng khinh, phải dùng ngôn từ và văn phong phù hợp với địa vị của chúng”.


PHỤ LỤC: Xin vái các bác đang nghĩ mình đấu tranh cho tự do dân chủ nhưng lại gán ghép hay nhục mạ người khác quan điểm. Các bác hoặc quá ngây thơ hoặc quá ngạo mạn khi nghĩ rằng có cái kiểu “dân chủ phải theo ý tôi”. Đó là độc tài các bác ạ!

Còm của nhà báo Hoàng Tư Giang: “Dân chủ của tao do tao và vì tao!”