ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
ĐẠT ĐƯỢC
NHỮNG MỤC TIÊU NGHỀ NGHIỆP
Cảm thọ và Khả năng
Suy
nghĩ của chúng ta quyết định mức độ chúng ta thể hiện tài năng và khả năng của
mình, và quyết định chất lượng cũng như số lượng các thành công và thất bại của
chúng ta. Nhưng cái gì quyết định và tạo được ảnh hưởng lên hướng suy nghĩ? Như
chúng ta đã thấy, chính cảm thọ của chúng ta quyết định và tạo ra kiểu suy nghĩ
sẽ dẫn chúng ta đến thành công hay thất bại trong bất kỳ nỗ lực nào. Cảm thọ là
chìa khóa cho quá trình mở rộng hoặc thu hẹp tài năng, khả năng và hành động của
chúng ta.
Nhìn
chung, chúng ta có kiến thức và được đào tạo tốt về các vấn đề liên quan đến thế
giới bên ngoài. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta lại thiếu kiến thức và không được
đào tạo về thế giới bên trong, tức là thế giới của cảm thọ. Vì cảm thọ quyết định
suy nghĩ và những suy nghĩ chúng ta lưu giữ trong tâm trí quyết định kết quả, cho
nên quan trọng là phải làm rõ quan hệ giữa cảm thọ với việc giải phóng khả năng
để những khả năng này đưa tới hành động mang lại thành công.
Xin làm một bản tóm tắt những gì chúng ta đã nói về thang đo tâm thức, và để cho đơn giản, chúng ta có thể phân loại ngắn gọn tất cả các cảm thọ là tiêu cực hoặc tích cực và, tất nhiên, những suy nghĩ phát sinh từ đó sẽ là tiêu cực hoặc tích cực.
Cảm thọ tiêu cực liên
quan đến công việc
Những
cảm thọ này luôn luôn làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu và dao động từ hơi khó
chịu đến đau đớn. Chúng khơi mào quá trình suy nghĩ và hình thành ý tưởng dẫn đến:
“Tôi không thể” và “Chúng ta không thể”, dù sự kiện, tình huống hay vấn đề mà
người đó đang gặp có là gì thì cũng thế. Cảm thọ tiêu cực sinh khởi khi chúng
ta không thích những thứ mình thấy, nghe, nghĩ hoặc nhớ lại. Phản ứng của chúng
ta đối với không thích xuất hiện dưới dạng những cảm thọ như giận dữ, u sầu và
lo lắng. Thông thường chúng ta đối phó với những cảm thọ khó chịu là kìm nén
chúng, và vì thế, chúng ta cho rằng những cảm thọ này là một phần không thể thiếu
trong quá trình suy nghĩ của mình. Sai lầm xảy ra vì cảm thọ không thích được xử
lý thông qua những suy nghĩ của chúng ta. Việc kìm nén những cảm thọ này không
làm cho chúng biến mất. Ngược lại, chúng sẽ tái xuất hiện dưới dạng những suy
nghĩ tiêu cực. Tiêu cực không nằm trong tình huống hay sự kiện; mà nó nằm ở phản
ứng của chúng ta đối với tình huống theo cách nhìn của ta. Khi thừa nhận và từ
bỏ những cảm thọ tiêu cực, tình hình có thể thay đổi nhanh chóng, từ tưởng chừng
như không thể thành dễ dàng quản lý được, khả thi và thậm chí là khá hữu ích.
Một
trong những cảm thọ tiêu cực nổi bật nhất, cản trở thành công trong nghề nghiệp
là đố kỵ. Động lực tiềm ẩn của đố kỵ là khi chúng ta thấy người khác vượt lên, nó
kích hoạt cảm giác bất an của chính chúng ta. Không chỉ đơn giản là chúng ta
nhìn thấy thành tựu của người khác và cảm thấy đố kỵ. Thay vào đó, thành tựu của
người khác kích hoạt trong ta cảm thọ kém cỏi hoặc tự mình không đủ năng lực.
Nó kích hoạt cảm thọ: “Có lẽ tôi không hoàn thành được những việc tôi nên hoàn
thành,” hoặc “Có lẽ tôi sẽ không thể hoàn thành những việc mà tôi muốn hoàn
thành,” hoặc “Có lẽ người khác không đánh giá cao và không chú ý tới những
thành tựu của tôi”.
Đố
kỵ làm cho người ta đau đớn vì nó khơi dậy cảm giác: chúng ta là người không có
đủ năng lực. Và rồi, ta thường oán hận người mà thành công của họ đã vô tình
khơi dậy cảm thọ này. Một cách vô thức, oán hận này thúc đẩy khát vọng được
khen ngợi không bao giờ dứt của chúng ta, nhưng tất nhiên nó không đến với
chúng ta, vì sự thèm muốn của chúng ta lại đẩy ra xa chính cái mà chúng ta muốn.
Khi
vòng luẩn quẩn này tiếp tục, chúng ta cảm thấy ngày càng bất mãn và không hạnh
phúc khi làm việc, xa lánh đồng nghiệp. Có thể nảy sinh niềm tin: “Mọi người đều
chống lại tôi.” Các thành viên trong gia đình có thể mệt mỏi vì những lời phàn
nàn liên tục của chúng ta về tình hình công việc. Cuối ngày, chúng ta có thể
tìm cách trốn tránh bằng cách liên tục xem tivi hoặc nuông chiều bản thân quá mức
bằng ăn uống, ngủ, ma túy và rượu bia.
Làm
sao thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của đố kỵ và bất mãn? Như chúng tôi đã nói bên
trên, câu trả lời là, hướng vào bên trong. Với đố kỵ, chúng ta liên tục
nhìn vào người khác, đánh giá thành tích của họ và so sánh mình với họ. Chúng
ta thấy cái giá phải trả của việc nhìn ra bên ngoài trong bộ phim Chariots
of Fire, khi một trong những vận động viên quay lại để xem đối thủ của mình
đang ở đâu trong cuộc đua này. Khoảnh khắc anh ta rời mắt khỏi vạch đích để so
sánh mình với một vận động viên khác, là anh ta đã đánh mất một phần giây quý
giá, và nó làm cho anh ta thua cả cuộc đua. Người chiến thắng cuộc đua được
thúc đẩy bởi tình yêu thuần túy dành cho việc chạy và mong muốn làm hết sức
mình. Anh ấy không chạy để “đánh bại” người khác. Anh ta không so sánh mình với
những vận động viên khác. Anh ta chạy hết sức mình vì anh ta thích chạy.
Khi
nhìn vào bên trong, chúng ta thấy những cảm thọ tiềm ẩn nào đang ngăn cản,
không cho chúng ta thành công: cạnh tranh, nghi ngờ chính mình, bất an, không đủ
năng lực và khao khát được chấp thuận. Chúng ta có sẵn sàng đối mặt với những cảm
thọ này hay không? Một khi nhận ra cảm thọ của mình, chúng ta sẽ thấy rõ ràng là
chúng đang chống lại chúng ta. Chúng làm tiêu hao nỗ lực và cản trở thành công
của chúng ta trong cuộc sống. Nghi ngờ chính mình chặn đứng chính sự công nhận
mà ta đang tìm kiếm.
Một khi nhận thấy cái giá phải trả cho những cảm thọ tiêu cực đối với hạnh phúc và thành công của mình, chúng ta sẽ sẵn sàng buông bỏ chúng và buông bỏ những phần thưởng mà chúng mang lại cho chúng ta. Ví dụ, chúng ta sẵn sàng buông bỏ thỏa mãn nhỏ nhoi rẻ tiền mà chúng ta có được từ việc đổ lỗi cho người khác vì chúng ta không thành công. Chúng ta sẵn sàng buông bỏ thái độ thông cảm mà chúng ta nhận được từ những người đã nghe những lời than phiền của mình. Khi buông bỏ cảm thọ không đủ năng lực, chúng ta sẽ thấy rằng tâm đố kỵ cũng không còn. Chúng ta trở thành giống như người chiến thắng trong bộ phim Chariots of Fire, đấy là người yêu thích công việc của mình, vui mừng trước thành công của mình và của người khác, và có năng lượng vô giới hạn để vươn lên trong cuộc đời.
Cảm thọ tích cực liên
quan đến công việc
Những
cảm thọ này luôn luôn được cảm nhận là dễ chịu và bao gồm những cảm thọ như niềm
vui, hạnh phúc và an toàn. Chúng khơi mào quá trình tư duy và hình thành ý tưởng
được thể hiện qua những suy nghĩ: “Tôi có thể” và “Chúng ta có thể”, dù sự kiện,
tình huống hay vấn đề mà người đó đang gặp phải là gì thì cũng thế.
Cảm
thọ tích cực sẽ tự nhiên xuất hiện khi cảm thọ tiêu cực không còn. Không cần phải
làm bất cứ việc gì để có cảm thọ tích cực, vì chúng là thành phần không thể thiếu
trong trạng thái tự nhiên của chúng ta. Trạng thái nội tâm tích cực này luôn có
đó, nó chỉ bị những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén làm cho khuất lấp đi mà thôi.
Mây tan, mặt trời sẽ chiếu sáng. Giải phóng khả năng, ý tưởng sáng tạo, tài năng và sự tháo vát diễn ra một cách tự động, như là kết quả của trạng thái tâm trí tích cực sau khi đã buông bỏ được những khía cạnh tiêu cực. Buông bỏ tiêu cực giải phóng cảm hứng để tạo ra một dòng chảy bất tận của những ý tưởng sáng tạo. Ví dụ, một nhà sản xuất vở nhạc kịch ở Broadway từng đoạt giải thưởng, ông này cho rằng thành công của vở diễn ăn khách này là nhờ việc buông bỏ những cảm thọ tiêu cực bằng cơ chế phó thác. Có những nhà văn, nghệ sĩ và nhạc sĩ bất ngờ thấy cảm hứng đột ngột gia tăng ngay khi nhận ra và từ bỏ niềm tin tiêu cực hoặc tự giới hạn nào đó. Tương tự, các nhà khoa học cũng kể lại trải nghiệm tương tự khi đột nhiên họ “biết” công thức chữa khỏi một căn bệnh. Dường như năng lượng của thiên tài sáng tạo luôn luôn có đó và chờ đợi chúng ta ngay khi ta buông bỏ những đám mây tiêu cực, ngăn cản không cho nó bộc lộ.
Cảm thọ và quá trình ra
quyết định
Chúng
ta có thể chia một cách đơn giản các tầng tâm thức thành ba trạng thái chính:
trì trệ, năng động và an bình. Ba trạng thái này có liên quan đến quá trình ra
quyết định. Trạng thái thứ nhất—trì trệ—phản ánh các tầng cảm xúc như thờ ơ, u
sầu và sợ hãi. Bản chất của những cảm thọ này là cản trở, không cho chúng ta tập
trung vào tình huống trước mắt và thay vào đó, làm cho chúng ta tập trung vào những
suy nghĩ của chính mình, hầu hết nằm trong phạm vi: “Tôi không biết,” “Tôi
không chắc,” và “Tôi không nghĩ là mình có thể.” Liên tục tập trung vào những
suy nghĩ luẩn quẩn vô ích này làm cho chúng ta tạm thời không thể nhận thức được
toàn bộ chiều kích và khả năng của tình huống tổng thể trước mắt.
Trong
khi những suy nghĩ và cảm thọ tiêu cực như thế đang diễn ra, chúng ta khó có thể
đưa ra bất kỳ quyết định nào. Đôi khi chúng ta trì hoãn quyết định cho đến khi cảm
thấy tốt hơn. Những lúc khác, chúng ta đưa ra quyết định mà chúng ta nghĩ là sẽ
trả lời các câu hỏi của mình hoặc giải quyết tình huống. Thật không may là, về
lâu dài, quyết định được đưa ra là không bền vững, vì nó dựa trên cảm thọ, khi
cảm thọ thay đổi, quyết định cũng phải thay đổi theo. Nó dễ làm nội tâm bất an,
mâu thuẫn, bối rối, và những người xung quanh không còn tin chúng ta nữa. Trong
ngôn ngữ máy tính, câu nói “đầu vào rác, thì đầu ra rác”, cảm thọ tiêu cực là
“đầu vào rác”, và những quyết định xuất phát từ đó cũng phải ở cùng tầng với nó.
Trạng
thái thứ hai, cao hơn trạng trì trệ, là “năng động”. Cảm xúc tiềm ẩn trong trạng
thái này là ham muốn, tức giận, và kiêu hãnh. Bản chất của những cảm thọ này ít
gây cản trở, đấy là nói so với trạng thái thấp hơn trước đó, vì một số suy nghĩ
tích cực được phép đi qua và hòa trộn với những cảm thọ tiêu cực. Đây là trạng
thái của người “quyết tâm đạt được mục tiêu”. Mặc dù mọi công việc đều được
hoàn thành, nhưng hiệu suất không đồng đều, đấy là do có sự pha trộn giữa suy
nghĩ và ý tưởng tích cực với tiêu cực. Những cảm thọ tiêu cực như tham vọng,
ham muốn, hoặc “chứng tỏ bản thân mình” thường thúc đẩy người “quyết đoán”, và
đôi khi quá trình ra quyết định mang tính cưỡng chế hoặc bốc đồng.
Đặc
điểm của tầng tâm thức này là lợi ích cá nhân là động lực chính. Do đó, nhiều
quyết định là không bền vững, vì chúng dựa trên tình huống thắng-thua hơn là
đôi bên cùng có lợi. Quyết định đôi bên cùng có lợi sẽ xảy ra nếu ta xem xét cả
cảm thọ và phúc lợi của những người có liên quan đến tình huống đó.
Nếu
sử dụng ngôn ngữ liên quan đến các trung tâm năng lượng của cơ thể, chúng ta
nói rằng những người ở tầng này được thúc đẩy bởi “đám rối dương” (luân xa thứ
ba). Có nghĩa là họ tìm cách đạt được thành công và làm chủ thế giới. Nhưng đấy
là những người ích kỷ và do động cơ cá nhân thúc đẩy, ít quan tâm đến phúc lợi
của người khác hoặc của thế giới nói chung. Vì các quyết định của họ chủ yếu
mang lại lợi ích cho chính mình, cho nên thành công của họ cũng chỉ giới hạn ở
lợi ích cá nhân. Họ cho rằng lợi ích đối với thế giới chỉ là thứ yếu và do đó,
kết quả còn xa mới được gọi là vĩ đại.
Tầng
thứ ba và cao nhất là an bình, dựa trên cảm thọ về can đảm, chấp nhận và yêu
thương. Vì những cảm thọ này là hoàn toàn tích cực và không gây xáo trộn, cho
phép chúng ta tập trung trọn vẹn vào tình huống trước mắt và quan sát tất cả
các chi tiết liên quan. Nhờ trạng thái an bình nội tâm, cảm hứng đưa ra những ý
tưởng có thể giải quyết vấn đề. Ở trạng thái này, tâm trí không còn lo lắng, khả
năng giao tiếp và tập trung không còn bị cản trở nữa. Từ trạng thái này sẽ xuất
hiện các giải pháp cho những vấn đề được đặt ra trong bối cảnh đôi bên cùng có
lợi; vì mọi người đều được lợi, mọi người đều đóng góp năng lượng cho dự án và
thành công được chia sẻ cho tất cả. Cách tiếp cận này thường dẫn đến vĩ đại. Nó
là đặc điểm của những dự án cao cả, mang lại những cải thiện sâu rộng cho xã hội
của chúng ta. Ở tầng này, chúng ta khám phá được rằng khi nhu cầu của mọi người
được đáp ứng, nhu cầu của chính chúng ta cũng tự động được đáp ứng theo. Tâm
trí sáng tạo không bị cản trở sẽ tìm ra giải pháp mà mọi người đều có lợi và
không ai bị thiệt.
Nếu chúng ta nhìn vào tình huống và cho rằng giải pháp đôi bên cùng có lợi là không thể thực hiện nổi, thì điều đó cảnh báo chúng ta rằng mình có một số cảm thọ bên trong chưa được buông bỏ, chúng đang ngăn cản giải pháp hoàn hảo tiềm tàng. Cần nhớ câu châm ngôn, nói rằng cái bất khả thi trở thành khả thi ngay khi chúng ta hoàn toàn phó thác cho tình huống.
Cảm thọ và khả năng bán
hàng
Vì
bán hàng là một phần của nhiều ngành nghề, liên quan đến sản phẩm hoặc ý tưởng
hoặc dịch vụ cá nhân của chúng ta, xem xét quan hệ giữa ba tầng tâm thức cơ bản
này và khả năng bán hàng là việc nên làm.
Trạng
thái thấp nhất, hay trạng thái trì trệ, bị cảm thọ thờ ơ, u sầu và sợ hãi
chi phối; rõ ràng là khả năng bán hàng rất thấp
nhất. Nhân viên bán hàng ở trạng thái này thường được khách hàng tiềm năng bảo
rằng, ngay trong lúc này, họ không quan tâm đến sản phẩm đó. Ngay lập tức nó dẫn
đến suy nghĩ tiêu cực và tự chỉ trích với những suy nghĩ như: “Họ không muốn mua
sản phẩm của mình.” Bản chất của hoạt động bán hàng làm cho nhân viên bán hàng đứng
trước từ chối và thất vọng. Họ có thể tạm thời thoát khỏi những cảm thọ này bằng
cách nghỉ giải lao, uống cà phê hoặc trò chuyện với các nhân viên khác; tuy
nhiên, cảm thọ của họ đã làm giảm khả năng tập trung và giảm khả năng tạo ra những
ý tưởng sáng tạo. Tự trọng thấp làm cho người ta dễ bị tổn thương trước những
thứ làm họ mất tinh thần, từ đó tạo ra ý nghĩ cho rằng mình sẽ thất bại. Lúc
nào cũng suy nghĩ về thất bại, thì sẽ thất bại trong khi bán hàng. Ở tầng này,
bằng cách thừa nhận những cảm thọ tiêu cực và buông bỏ phần thường mà cảm thọ
đó mang lại, người đó có thể vươn lên tầng tiếp theo.
Tầng
tiếp theo, là trạng thái tràn đầy năng lượng, dựa trên cảm thọ khao khát, tức giận
và kiêu hãng. Hăng hái hơn và quyết tâm hơn. Điều này tạo điều kiện để tập
trung tốt hơn vào mục tiêu của công việc; tuy nhiên, ở mức độ nào đó, bị các cảm
thọ thúc bách, cho nên có thể dẫn đến nói quá nhiều, dành thời gian để nói với
khách hàng về triển vọng nhiều hơn là lắng nghe họ. Nó thường dẫn đến việc chốt
đơn hàng quá sớm, thúc ép quá mức và tạo ra các vấn đề về tiếp thị. Tuy nhiên,
mục tiêu bán hàng vẫn có thể thực hiện được ở tầng này, đó là do đã khơi dậy được
nguồn năng lượng cao hơn. Một trở ngại cho thành công ở tầng này là tập trung
vào lợi ích cá nhân và quan điểm ẩn dấu: “Tôi thắng; họ thua.” Động cơ tư lợi
này được khách hàng tiềm năng nhận biết bằng trực giác và có thể dẫn đến kháng
cự. Những suy nghĩ đặc trưng ở tầng này thường theo hướng: “Tôi muốn họ mua, để
được hưởng hoa hồng cao.”
Ở
tầng cao nhất hay an bình, dựa trên can đảm, chấp nhận và yêu thương, khả năng
tập trung của chúng ta đạt tới mức cao nhất. Nhân viên bán hàng ở tầng này có
khả năng lắng nghe người khác một cách cẩn thận và đặt việc bán hàng trong bối
cảnh có lợi cho người mua hơn là cho người bán. Vì tâm trí an bình và sáng tạo,
họ không bao giờ thiếu ý tưởng sáng tạo về những gì sẽ tạo ra doanh số hoặc những
gì sẽ biến vấn đề thành giải pháp. Người ở tầng này thường biến khách hàng
thành bạn bè, và khách hàng có xu hướng trở thành khách hàng trung thành. Đạt
được mục tiêu bán hàng ở tầng này được đảm bảo, vì, cái được lưu giữ trong tâm
trí là tình huống tích cực, đôi bên cùng có lợi và sự chắc chắn ở bên trong rằng
giải pháp đôi bên cùng có lợi có thể được tạo ra trong tình huống như thế.
Thường
thì, buông bỏ trước một tình huống tưởng chừng như bất khả thi lại nhanh chóng
chuyển hóa nó thành trải nghiệm tích cực. Ví dụ minh họa cho trường hợp là người
phụ nữ làm việc tại một phòng trưng bày nghệ thuật. Doanh số bán hàng rất chậm;
cô ta không bán được một bức tranh nào trong suốt nhiều tuần qua. Cô ấy đã áp dụng hàng loạt các phương pháp rèn luyện tâm
thức và thực hành một cách vô cùng nghiêm túc. Cô ấy đã sử dụng hình dung, tư
duy tích cực, kỹ thuật bán hàng nâng cao và những lời khẳng định bằng văn bản;
tuy nhiên, tất cả đều không mang lại kết quả. Càng ngày cô ta càng thất vọng hơn,
kèm theo cảm thọ: “Tôi không thể”. Cuối cùng, khi đã tuyệt vọng, cô ấy hoàn
toàn buông bỏ và giải phóng tất cả những cảm thọ bị dồn nén. Trong thâm tâm, cô
ấy đột nhiên cảm thấy tự do khỏi mọi nỗ lực, cố gắng và phấn đấu. Căng thẳng nội
tâm biến mất và thay vào đó, cô cảm thấy bình yên khi đến làm việc tại phòng
trưng bày vào sáng hôm đó. Trong giờ làm việc đầu tiên, cô ấy đã bán được hai bản
sao của một tác phẩm điêu khắc, thú vị là tác phẩm đó có tên là “Buông bỏ”.
Các
giám đốc điều hành của một số công ty đã ghi nhận những bước đột phá tương tự.
Ví dụ, một đối tác trong một trong những công ty kế toán danh tiếng nhất nước
này, sau khi trải nghiệm thành công với quá trình buông bỏ nội tâm, cuối cùng
đã ra khỏi công ty để chia sẻ với những người khác điều mà ông cho là có lợi nhất
mà ông từng gặp trong đời. Ông ta muốn giới thiệu phương pháp này cho một số tập
đoàn lớn. Ông đã nghiên cứu kết quả tại một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất
nước Mỹ. Nghiên cứu của ông cho thấy, trong vòng sáu tháng sau khi học kỹ thuật
này, doanh số bán hàng của các đại lý bảo hiểm đã tăng 33% so với nhóm đối chứng.
Ông kết luận rằng thành công trên thế gian liên quan mật thiết đến khả năng tập
trung – tức là khả năng duy trì nhất tâm vào một đối tượng duy nhất tại một thời
điểm, mà không bị nhiễu loạn bởi những tư tưởng hay cảm thọ khác..
Tâm
trí tập trung vào suy nghĩ tích cực có sức mạnh làm tăng khả năng là suy nghĩ
tích cực đó trở thành hiện thực trong cuộc đời. Những người thành công nhất
trên thế giới là những người luôn đặt lợi ích cao nhất của tất cả mọi người lên
hàng đầu, trong đó có chính họ. Họ biết rằng lúc nào cũng có giải pháp đôi bên
cùng có lợi cho tất cả các vấn đề. Họ sống hòa thuận với chính mình, điều này
giúp họ hỗ trợ tiềm năng và thành công của người khác. Họ làm công việc mà mình
yêu thích, vì vậy họ luôn cảm thấy được truyền cảm hứng và sáng tạo. Họ không
tìm kiếm hạnh phúc; họ nhận ra rằng hạnh phúc là kết quả tất yếu của việc làm
những việc mình yêu thích. Cảm thọ thỏa mãn cá nhân đến một cách tự nhiên từ những
đóng góp tích cực của họ cho cuộc sống của người khác, trong đó có gia đình, bạn
bè, các nhóm và thế giới nói chung.
No comments:
Post a Comment