July 15, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (20)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 19 

ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG MỤC TIÊU NGHỀ NGHIỆP

 

Cảm thọ và Khả năng

Suy nghĩ của chúng ta quyết định mức độ chúng ta thể hiện tài năng và khả năng của mình, và quyết định chất lượng cũng như số lượng các thành công và thất bại của chúng ta. Nhưng cái gì quyết định và tạo được ảnh hưởng lên hướng suy nghĩ? Như chúng ta đã thấy, chính cảm thọ của chúng ta quyết định và tạo ra kiểu suy nghĩ sẽ dẫn chúng ta đến thành công hay thất bại trong bất kỳ nỗ lực nào. Cảm thọ là chìa khóa cho quá trình mở rộng hoặc thu hẹp tài năng, khả năng và hành động của chúng ta.

Nhìn chung, chúng ta có kiến ​​thức và được đào tạo tốt về các vấn đề liên quan đến thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta lại thiếu kiến ​​thức và không được đào tạo về thế giới bên trong, tức là thế giới của cảm thọ. Vì cảm thọ quyết định suy nghĩ và những suy nghĩ chúng ta lưu giữ trong tâm trí quyết định kết quả, cho nên quan trọng là phải làm rõ quan hệ giữa cảm thọ với việc giải phóng khả năng để những khả năng này đưa tới hành động mang lại thành công.

Xin làm một bản tóm tắt những gì chúng ta đã nói về thang đo tâm thức, và để cho đơn giản, chúng ta có thể phân loại ngắn gọn tất cả các cảm thọ là tiêu cực hoặc tích cực và, tất nhiên, những suy nghĩ phát sinh từ đó sẽ là tiêu cực hoặc tích cực. 

Cảm thọ tiêu cực liên quan đến công việc

Những cảm thọ này luôn luôn làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu và dao động từ hơi khó chịu đến đau đớn. Chúng khơi mào quá trình suy nghĩ và hình thành ý tưởng dẫn đến: “Tôi không thể” và “Chúng ta không thể”, dù sự kiện, tình huống hay vấn đề mà người đó đang gặp có là gì thì cũng thế. Cảm thọ tiêu cực sinh khởi khi chúng ta không thích những thứ mình thấy, nghe, nghĩ hoặc nhớ lại. Phản ứng của chúng ta đối với không thích xuất hiện dưới dạng những cảm thọ như giận dữ, u sầu và lo lắng. Thông thường chúng ta đối phó với những cảm thọ khó chịu là kìm nén chúng, và vì thế, chúng ta cho rằng những cảm thọ này là một phần không thể thiếu trong quá trình suy nghĩ của mình. Sai lầm xảy ra vì cảm thọ không thích được xử lý thông qua những suy nghĩ của chúng ta. Việc kìm nén những cảm thọ này không làm cho chúng biến mất. Ngược lại, chúng sẽ tái xuất hiện dưới dạng những suy nghĩ tiêu cực. Tiêu cực không nằm trong tình huống hay sự kiện; mà nó nằm ở phản ứng của chúng ta đối với tình huống theo cách nhìn của ta. Khi thừa nhận và từ bỏ những cảm thọ tiêu cực, tình hình có thể thay đổi nhanh chóng, từ tưởng chừng như không thể thành dễ dàng quản lý được, khả thi và thậm chí là khá hữu ích.

Một trong những cảm thọ tiêu cực nổi bật nhất, cản trở thành công trong nghề nghiệp là đố kỵ. Động lực tiềm ẩn của đố kỵ là khi chúng ta thấy người khác vượt lên, nó kích hoạt cảm giác bất an của chính chúng ta. Không chỉ đơn giản là chúng ta nhìn thấy thành tựu của người khác và cảm thấy đố kỵ. Thay vào đó, thành tựu của người khác kích hoạt trong ta cảm thọ kém cỏi hoặc tự mình không đủ năng lực. Nó kích hoạt cảm thọ: “Có lẽ tôi không hoàn thành được những việc tôi nên hoàn thành,” hoặc “Có lẽ tôi sẽ không thể hoàn thành những việc mà tôi muốn hoàn thành,” hoặc “Có lẽ người khác không đánh giá cao và không chú ý tới những thành tựu của tôi”.

Đố kỵ làm cho người ta đau đớn vì nó khơi dậy cảm giác: chúng ta là người không có đủ năng lực. Và rồi, ta thường oán hận người mà thành công của họ đã vô tình khơi dậy cảm thọ này. Một cách vô thức, oán hận này thúc đẩy khát vọng được khen ngợi không bao giờ dứt của chúng ta, nhưng tất nhiên nó không đến với chúng ta, vì sự thèm muốn của chúng ta lại đẩy ra xa chính cái mà chúng ta muốn.

Khi vòng luẩn quẩn này tiếp tục, chúng ta cảm thấy ngày càng bất mãn và không hạnh phúc khi làm việc, xa lánh đồng nghiệp. Có thể nảy sinh niềm tin: “Mọi người đều chống lại tôi.” Các thành viên trong gia đình có thể mệt mỏi vì những lời phàn nàn liên tục của chúng ta về tình hình công việc. Cuối ngày, chúng ta có thể tìm cách trốn tránh bằng cách liên tục xem tivi hoặc nuông chiều bản thân quá mức bằng ăn uống, ngủ, ma túy và rượu bia.

Làm sao thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của đố kỵ và bất mãn? Như chúng tôi đã nói bên trên, câu trả lời là, hướng vào bên trong. Với đố kỵ, chúng ta liên tục nhìn vào người khác, đánh giá thành tích của họ và so sánh mình với họ. Chúng ta thấy cái giá phải trả của việc nhìn ra bên ngoài trong bộ phim Chariots of Fire, khi một trong những vận động viên quay lại để xem đối thủ của mình đang ở đâu trong cuộc đua này. Khoảnh khắc anh ta rời mắt khỏi vạch đích để so sánh mình với một vận động viên khác, là anh ta đã đánh mất một phần giây quý giá, và nó làm cho anh ta thua cả cuộc đua. Người chiến thắng cuộc đua được thúc đẩy bởi tình yêu thuần túy dành cho việc chạy và mong muốn làm hết sức mình. Anh ấy không chạy để “đánh bại” người khác. Anh ta không so sánh mình với những vận động viên khác. Anh ta chạy hết sức mình vì anh ta thích chạy.

Khi nhìn vào bên trong, chúng ta thấy những cảm thọ tiềm ẩn nào đang ngăn cản, không cho chúng ta thành công: cạnh tranh, nghi ngờ chính mình, bất an, không đủ năng lực và khao khát được chấp thuận. Chúng ta có sẵn sàng đối mặt với những cảm thọ này hay không? Một khi nhận ra cảm thọ của mình, chúng ta sẽ thấy rõ ràng là chúng đang chống lại chúng ta. Chúng làm tiêu hao nỗ lực và cản trở thành công của chúng ta trong cuộc sống. Nghi ngờ chính mình chặn đứng chính sự công nhận mà ta đang tìm kiếm.

Một khi nhận thấy cái giá phải trả cho những cảm thọ tiêu cực đối với hạnh phúc và thành công của mình, chúng ta sẽ sẵn sàng buông bỏ chúng và buông bỏ những phần thưởng mà chúng mang lại cho chúng ta. Ví dụ, chúng ta sẵn sàng buông bỏ thỏa mãn nhỏ nhoi rẻ tiền mà chúng ta có được từ việc đổ lỗi cho người khác vì chúng ta không thành công. Chúng ta sẵn sàng buông bỏ thái độ thông cảm mà chúng ta nhận được từ những người đã nghe những lời than phiền của mình. Khi buông bỏ cảm thọ không đủ năng lực, chúng ta sẽ thấy rằng tâm đố kỵ cũng không còn. Chúng ta trở thành giống như người chiến thắng trong bộ phim Chariots of Fire, đấy là người yêu thích công việc của mình, vui mừng trước thành công của mình và của người khác, và có năng lượng vô giới hạn để vươn lên trong cuộc đời. 

Cảm thọ tích cực liên quan đến công việc

Những cảm thọ này luôn luôn được cảm nhận là dễ chịu và bao gồm những cảm thọ như niềm vui, hạnh phúc và an toàn. Chúng khơi mào quá trình tư duy và hình thành ý tưởng được thể hiện qua những suy nghĩ: “Tôi có thể” và “Chúng ta có thể”, dù sự kiện, tình huống hay vấn đề mà người đó đang gặp phải là gì thì cũng thế.

Cảm thọ tích cực sẽ tự nhiên xuất hiện khi cảm thọ tiêu cực không còn. Không cần phải làm bất cứ việc gì để có cảm thọ tích cực, vì chúng là thành phần không thể thiếu trong trạng thái tự nhiên của chúng ta. Trạng thái nội tâm tích cực này luôn có đó, nó chỉ bị những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén làm cho khuất lấp đi mà thôi.

Mây tan, mặt trời sẽ chiếu sáng. Giải phóng khả năng, ý tưởng sáng tạo, tài năng và sự tháo vát diễn ra một cách tự động, như là kết quả của trạng thái tâm trí tích cực sau khi đã buông bỏ được những khía cạnh tiêu cực. Buông bỏ tiêu cực giải phóng cảm hứng để tạo ra một dòng chảy bất tận của những ý tưởng sáng tạo. Ví dụ, một nhà sản xuất vở nhạc kịch ở Broadway từng đoạt giải thưởng, ông này cho rằng thành công của vở diễn ăn khách này là nhờ việc buông bỏ những cảm thọ tiêu cực bằng cơ chế phó thác. Có những nhà văn, nghệ sĩ và nhạc sĩ bất ngờ thấy cảm hứng đột ngột gia tăng ngay khi nhận ra và từ bỏ niềm tin tiêu cực hoặc tự giới hạn nào đó. Tương tự, các nhà khoa học cũng kể lại trải nghiệm tương tự khi đột nhiên họ “biết” công thức chữa khỏi một căn bệnh. Dường như năng lượng của thiên tài sáng tạo luôn luôn có đó và chờ đợi chúng ta ngay khi ta buông bỏ những đám mây tiêu cực, ngăn cản không cho nó bộc lộ. 

Cảm thọ và quá trình ra quyết định

Chúng ta có thể chia một cách đơn giản các tầng tâm thức thành ba trạng thái chính: trì trệ, năng động và an bình. Ba trạng thái này có liên quan đến quá trình ra quyết định. Trạng thái thứ nhất—trì trệ—phản ánh các tầng cảm xúc như thờ ơ, u sầu và sợ hãi. Bản chất của những cảm thọ này là cản trở, không cho chúng ta tập trung vào tình huống trước mắt và thay vào đó, làm cho chúng ta tập trung vào những suy nghĩ của chính mình, hầu hết nằm trong phạm vi: “Tôi không biết,” “Tôi không chắc,” và “Tôi không nghĩ là mình có thể.” Liên tục tập trung vào những suy nghĩ luẩn quẩn vô ích này làm cho chúng ta tạm thời không thể nhận thức được toàn bộ chiều kích và khả năng của tình huống tổng thể trước mắt.

Trong khi những suy nghĩ và cảm thọ tiêu cực như thế đang diễn ra, chúng ta khó có thể đưa ra bất kỳ quyết định nào. Đôi khi chúng ta trì hoãn quyết định cho đến khi cảm thấy tốt hơn. Những lúc khác, chúng ta đưa ra quyết định mà chúng ta nghĩ là sẽ trả lời các câu hỏi của mình hoặc giải quyết tình huống. Thật không may là, về lâu dài, quyết định được đưa ra là không bền vững, vì nó dựa trên cảm thọ, khi cảm thọ thay đổi, quyết định cũng phải thay đổi theo. Nó dễ làm nội tâm bất an, mâu thuẫn, bối rối, và những người xung quanh không còn tin chúng ta nữa. Trong ngôn ngữ máy tính, câu nói “đầu vào rác, thì đầu ra rác”, cảm thọ tiêu cực là “đầu vào rác”, và những quyết định xuất phát từ đó cũng phải ở cùng tầng với nó.

Trạng thái thứ hai, cao hơn trạng trì trệ, là “năng động”. Cảm xúc tiềm ẩn trong trạng thái này là ham muốn, tức giận, và kiêu hãnh. Bản chất của những cảm thọ này ít gây cản trở, đấy là nói so với trạng thái thấp hơn trước đó, vì một số suy nghĩ tích cực được phép đi qua và hòa trộn với những cảm thọ tiêu cực. Đây là trạng thái của người “quyết tâm đạt được mục tiêu”. Mặc dù mọi công việc đều được hoàn thành, nhưng hiệu suất không đồng đều, đấy là do có sự pha trộn giữa suy nghĩ và ý tưởng tích cực với tiêu cực. Những cảm thọ tiêu cực như tham vọng, ham muốn, hoặc “chứng tỏ bản thân mình” thường thúc đẩy người “quyết đoán”, và đôi khi quá trình ra quyết định mang tính cưỡng chế hoặc bốc đồng.

Đặc điểm của tầng tâm thức này là lợi ích cá nhân là động lực chính. Do đó, nhiều quyết định là không bền vững, vì chúng dựa trên tình huống thắng-thua hơn là đôi bên cùng có lợi. Quyết định đôi bên cùng có lợi sẽ xảy ra nếu ta xem xét cả cảm thọ và phúc lợi của những người có liên quan đến tình huống đó.

Nếu sử dụng ngôn ngữ liên quan đến các trung tâm năng lượng của cơ thể, chúng ta nói rằng những người ở tầng này được thúc đẩy bởi “đám rối dương” (luân xa thứ ba). Có nghĩa là họ tìm cách đạt được thành công và làm chủ thế giới. Nhưng đấy là những người ích kỷ và do động cơ cá nhân thúc đẩy, ít quan tâm đến phúc lợi của người khác hoặc của thế giới nói chung. Vì các quyết định của họ chủ yếu mang lại lợi ích cho chính mình, cho nên thành công của họ cũng chỉ giới hạn ở lợi ích cá nhân. Họ cho rằng lợi ích đối với thế giới chỉ là thứ yếu và do đó, kết quả còn xa mới được gọi là vĩ đại.

Tầng thứ ba và cao nhất là an bình, dựa trên cảm thọ về can đảm, chấp nhận và yêu thương. Vì những cảm thọ này là hoàn toàn tích cực và không gây xáo trộn, cho phép chúng ta tập trung trọn vẹn vào tình huống trước mắt và quan sát tất cả các chi tiết liên quan. Nhờ trạng thái an bình nội tâm, cảm hứng đưa ra những ý tưởng có thể giải quyết vấn đề. Ở trạng thái này, tâm trí không còn lo lắng, khả năng giao tiếp và tập trung không còn bị cản trở nữa. Từ trạng thái này sẽ xuất hiện các giải pháp cho những vấn đề được đặt ra trong bối cảnh đôi bên cùng có lợi; vì mọi người đều được lợi, mọi người đều đóng góp năng lượng cho dự án và thành công được chia sẻ cho tất cả. Cách tiếp cận này thường dẫn đến vĩ đại. Nó là đặc điểm của những dự án cao cả, mang lại những cải thiện sâu rộng cho xã hội của chúng ta. Ở tầng này, chúng ta khám phá được rằng khi nhu cầu của mọi người được đáp ứng, nhu cầu của chính chúng ta cũng tự động được đáp ứng theo. Tâm trí sáng tạo không bị cản trở sẽ tìm ra giải pháp mà mọi người đều có lợi và không ai bị thiệt.

Nếu chúng ta nhìn vào tình huống và cho rằng giải pháp đôi bên cùng có lợi là không thể thực hiện nổi, thì điều đó cảnh báo chúng ta rằng mình có một số cảm thọ bên trong chưa được buông bỏ, chúng đang ngăn cản giải pháp hoàn hảo tiềm tàng. Cần nhớ câu châm ngôn, nói rằng cái bất khả thi trở thành khả thi ngay khi chúng ta hoàn toàn phó thác cho tình huống. 

Cảm thọ và khả năng bán hàng

Vì bán hàng là một phần của nhiều ngành nghề, liên quan đến sản phẩm hoặc ý tưởng hoặc dịch vụ cá nhân của chúng ta, xem xét quan hệ giữa ba tầng tâm thức cơ bản này và khả năng bán hàng là việc nên làm.

Trạng thái thấp nhất, hay trạng thái trì trệ, bị cảm thọ thờ ơ, u sầu và sợ hãi chi phối; rõ ràng là khả năng bán hàng rất thấp nhất. Nhân viên bán hàng ở trạng thái này thường được khách hàng tiềm năng bảo rằng, ngay trong lúc này, họ không quan tâm đến sản phẩm đó. Ngay lập tức nó dẫn đến suy nghĩ tiêu cực và tự chỉ trích với những suy nghĩ như: “Họ không muốn mua sản phẩm của mình.” Bản chất của hoạt động bán hàng làm cho nhân viên bán hàng đứng trước từ chối và thất vọng. Họ có thể tạm thời thoát khỏi những cảm thọ này bằng cách nghỉ giải lao, uống cà phê hoặc trò chuyện với các nhân viên khác; tuy nhiên, cảm thọ của họ đã làm giảm khả năng tập trung và giảm khả năng tạo ra những ý tưởng sáng tạo. Tự trọng thấp làm cho người ta dễ bị tổn thương trước những thứ làm họ mất tinh thần, từ đó tạo ra ý nghĩ cho rằng mình sẽ thất bại. Lúc nào cũng suy nghĩ về thất bại, thì sẽ thất bại trong khi bán hàng. Ở tầng này, bằng cách thừa nhận những cảm thọ tiêu cực và buông bỏ phần thường mà cảm thọ đó mang lại, người đó có thể vươn lên tầng tiếp theo.

Tầng tiếp theo, là trạng thái tràn đầy năng lượng, dựa trên cảm thọ khao khát, tức giận và kiêu hãng. Hăng hái hơn và quyết tâm hơn. Điều này tạo điều kiện để tập trung tốt hơn vào mục tiêu của công việc; tuy nhiên, ở mức độ nào đó, bị các cảm thọ thúc bách, cho nên có thể dẫn đến nói quá nhiều, dành thời gian để nói với khách hàng về triển vọng nhiều hơn là lắng nghe họ. Nó thường dẫn đến việc chốt đơn hàng quá sớm, thúc ép quá mức và tạo ra các vấn đề về tiếp thị. Tuy nhiên, mục tiêu bán hàng vẫn có thể thực hiện được ở tầng này, đó là do đã khơi dậy được nguồn năng lượng cao hơn. Một trở ngại cho thành công ở tầng này là tập trung vào lợi ích cá nhân và quan điểm ẩn dấu: “Tôi thắng; họ thua.” Động cơ tư lợi này được khách hàng tiềm năng nhận biết bằng trực giác và có thể dẫn đến kháng cự. Những suy nghĩ đặc trưng ở tầng này thường theo hướng: “Tôi muốn họ mua, để được hưởng hoa hồng cao.”

Ở tầng cao nhất hay an bình, dựa trên can đảm, chấp nhận và yêu thương, khả năng tập trung của chúng ta đạt tới mức cao nhất. Nhân viên bán hàng ở tầng này có khả năng lắng nghe người khác một cách cẩn thận và đặt việc bán hàng trong bối cảnh có lợi cho người mua hơn là cho người bán. Vì tâm trí an bình và sáng tạo, họ không bao giờ thiếu ý tưởng sáng tạo về những gì sẽ tạo ra doanh số hoặc những gì sẽ biến vấn đề thành giải pháp. Người ở tầng này thường biến khách hàng thành bạn bè, và khách hàng có xu hướng trở thành khách hàng trung thành. Đạt được mục tiêu bán hàng ở tầng này được đảm bảo, vì, cái được lưu giữ trong tâm trí là tình huống tích cực, đôi bên cùng có lợi và sự chắc chắn ở bên trong rằng giải pháp đôi bên cùng có lợi có thể được tạo ra trong tình huống như thế.

Thường thì, buông bỏ trước một tình huống tưởng chừng như bất khả thi lại nhanh chóng chuyển hóa nó thành trải nghiệm tích cực. Ví dụ minh họa cho trường hợp là người phụ nữ làm việc tại một phòng trưng bày nghệ thuật. Doanh số bán hàng rất chậm; cô ta không bán được một bức tranh nào trong suốt nhiều tuần qua. Cô ấy đã áp dụng hàng loạt các phương pháp rèn luyện tâm thức và thực hành một cách vô cùng nghiêm túc. Cô ấy đã sử dụng hình dung, tư duy tích cực, kỹ thuật bán hàng nâng cao và những lời khẳng định bằng văn bản; tuy nhiên, tất cả đều không mang lại kết quả. Càng ngày cô ta càng thất vọng hơn, kèm theo cảm thọ: “Tôi không thể”. Cuối cùng, khi đã tuyệt vọng, cô ấy hoàn toàn buông bỏ và giải phóng tất cả những cảm thọ bị dồn nén. Trong thâm tâm, cô ấy đột nhiên cảm thấy tự do khỏi mọi nỗ lực, cố gắng và phấn đấu. Căng thẳng nội tâm biến mất và thay vào đó, cô cảm thấy bình yên khi đến làm việc tại phòng trưng bày vào sáng hôm đó. Trong giờ làm việc đầu tiên, cô ấy đã bán được hai bản sao của một tác phẩm điêu khắc, thú vị là tác phẩm đó có tên là “Buông bỏ”.

Các giám đốc điều hành của một số công ty đã ghi nhận những bước đột phá tương tự. Ví dụ, một đối tác trong một trong những công ty kế toán danh tiếng nhất nước này, sau khi trải nghiệm thành công với quá trình buông bỏ nội tâm, cuối cùng đã ra khỏi công ty để chia sẻ với những người khác điều mà ông cho là có lợi nhất mà ông từng gặp trong đời. Ông ta muốn giới thiệu phương pháp này cho một số tập đoàn lớn. Ông đã nghiên cứu kết quả tại một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất nước Mỹ. Nghiên cứu của ông cho thấy, trong vòng sáu tháng sau khi học kỹ thuật này, doanh số bán hàng của các đại lý bảo hiểm đã tăng 33% so với nhóm đối chứng. Ông kết luận rằng thành công trên thế gian liên quan mật thiết đến khả năng tập trung – tức là khả năng duy trì nhất tâm vào một đối tượng duy nhất tại một thời điểm, mà không bị nhiễu loạn bởi những tư tưởng hay cảm thọ khác..

Tâm trí tập trung vào suy nghĩ tích cực có sức mạnh làm tăng khả năng là suy nghĩ tích cực đó trở thành hiện thực trong cuộc đời. Những người thành công nhất trên thế giới là những người luôn đặt lợi ích cao nhất của tất cả mọi người lên hàng đầu, trong đó có chính họ. Họ biết rằng lúc nào cũng có giải pháp đôi bên cùng có lợi cho tất cả các vấn đề. Họ sống hòa thuận với chính mình, điều này giúp họ hỗ trợ tiềm năng và thành công của người khác. Họ làm công việc mà mình yêu thích, vì vậy họ luôn cảm thấy được truyền cảm hứng và sáng tạo. Họ không tìm kiếm hạnh phúc; họ nhận ra rằng hạnh phúc là kết quả tất yếu của việc làm những việc mình yêu thích. Cảm thọ thỏa mãn cá nhân đến một cách tự nhiên từ những đóng góp tích cực của họ cho cuộc sống của người khác, trong đó có gia đình, bạn bè, các nhóm và thế giới nói chung.

 


No comments:

Post a Comment