ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
QUAN HỆ GIỮA TÂM TRÍ VÀ CƠ THỂ
Ảnh hưởng của tâm trí
Nguyên
tắc cơ bản cần phải hiểu là thân thể tuân theo tâm trí; do đó, thân thể có xu
hướng biểu hiện những gì tâm trí tin tưởng. Niềm tin có thể được lưu giữ một
cách có ý thức hoặc vô thức. Nguyên tắc này xuất phát từ quy luật của tâm thức:
Chúng ta chỉ bị chi phối bởi những gì chúng ta lưu giữ trong tâm trí. Sức
mạnh duy nhất mà bất kỳ điều gì có thể chi phối chúng ta chính là sức mạnh của
niềm tin mà ta trao cho nó. “Sức mạnh” ở đây có nghĩa là năng lượng và ý chí đề
tin.
Nếu
nhìn vào Bản đồ Tâm thức (Phụ lục A), có thể dễ dàng thấy vì sao tâm trí lại mạnh
hơn thân thể. Trường năng lượng của lý trí (điểm hiệu chỉnh 400), với những niềm
tin và khái niệm của tâm trí, mạnh mẽ hơn trường năng lượng của cơ thể vật lý (điểm
hiệu chỉnh 200).
Khuynh
hướng chấp nhận những niềm tin tiêu cực của chúng ta phụ thuộc vào việc, ngay từ
đầu, ta đang lưu giữ bao nhiêu tiêu cực. Ví dụ, tâm trí tích cực sẽ không chấp
nhận những suy nghĩ tiêu cực và đơn giản là bác bỏ chúng, vì cho rằng chúng
không đúng đối với mình. Từ chối chấp nhận những ý tưởng tiêu cực phổ biến. Chúng
ta biết rằng việc “bán” tự kết tội cho một người vốn đang đầy rẫy mặc cảm tội lỗi,
hay gieo rắc sợ hãi về một căn bệnh nào đó cho một người vốn đã sợ hãi, là việc
dễ đến mức nào.
Chẳng
hạn, ý tưởng cho rằng “cảm lạnh rất dễ lây” là ví dụ điển hình. Suy nghĩ rằng
“ai cũng bị cảm lạnh” sẽ được chấp nhận bởi một người có nhiều mặc cảm tội lỗi,
sợ hãi và ngây thơ về các quy luật của tâm thức. Do mặc cảm tội lỗi vô thức,
người ta cảm thấy rằng họ “xứng đáng” bị cảm lạnh. Cơ thể tuân theo niềm tin của
tâm trí rằng cảm lạnh là do virus gây ra, “dễ lây” và truyền nhiễm. Do đó, cơ
thể, do niềm tin của tâm trí kiểm soát, biểu hiện ra triệu chứng cảm lạnh. Người
đã buông bỏ những năng lượng tiêu cực tiềm tàng của mặc cảm tội lỗi và sợ hãi sẽ
không có tâm trí sợ hãi với niềm tin: “Cảm lạnh đang lây lan; chắc tôi cũng sẽ
bị như mọi người khác.”
Đây
chính là những động lực đằng sau bệnh tật. Các cơ chế này được thực thi thông
qua những biến đổi do tâm trí gây ra trong dòng chảy năng lượng của hệ thống
năng lượng sinh học (Khí), và sự tràn ra của năng lượng bị dồn nén vào hệ thần
kinh thực vật.
Suy
nghĩ rất mạnh mẽ vì nó có tần số rung động cao. Một suy nghĩ thực chất là một vật
thể; có một mô thức năng lượng. Chúng ta càng cung cấp nhiều năng lượng cho nó,
nó càng có nhiều sức mạnh để biểu hiện ra bên ngoài cơ thể vật lý. Đây là nghịch
lý của phần lớn cái gọi là giáo dục sức khỏe. Hiệu ứng nghịch lý ở chỗ: những
tư tưởng sợ hãi được củng cố và trao cho nhiều sức mạnh đến mức các vụ đại dịch
thực chất đã được tạo ra bởi truyền thông (ví dụ như cúm lợn). Những “lời cảnh
báo” dựa trên sợ hãi về nguy hiểm đối với sức khỏe thực ra đã tạo ra môi trường
tâm trí, mà trong đó, chính cái ta sợ sẽ xảy ra.
Nằm
chồng lên cơ thể vật lý là cơ thể năng lượng có hình dạng giống hệt cơ thể vật
lý và các mô thức của nó thực sự kiểm soát cơ thể vật lý. Sự kiểm soát này diễn
ra ở tầng suy nghĩ hoặc ý định. Vật lý lượng tử hạ nguyên tử cao cấp đã chỉ ra,
rằng quan sát tạo ảnh hưởng lên các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao.
Sức
mạnh của tâm trí đối với cơ thể đã được chứng minh bằng các nghiên cứu lâm
sàng. Ví dụ, trong một công trình nghiên cứu, một nhóm phụ nữ được cho biết rằng
họ sẽ được tiêm hormone làm cho kinh nguyệt đến sớm hơn hai tuần. Trên thực tế,
họ chỉ được tiêm giả dược là dung dịch muối. Tuy nhiên, hơn 70% phụ nữ đã bị hội
chứng tiền kinh nguyệt sớm với đầy đủ các triệu chứng về thể chất và tâm lý.
Một
minh chứng rõ ràng khác về quy luật này của tâm thức xảy ra ở những người bị rối
loạn đa nhân cách. Từng được cho là hiếm gặp, nhưng hiện nay rối loạn đa nhân
cách trở thành tương đối phổ biến; và do đó, nghiên cứu về hiện tượng này ngày
càng nhiều hơn. Người ta đã chứng minh rằng các nhân cách khác nhau trong cùng
một cơ thể có những biểu hiện thể chất khác nhau. Ví dụ, có những thay đổi
trong sóng điện não đồ, cũng như những thay đổi về thuận tay khi viết chữ, ngưỡng
đau, phản ứng điện da, chỉ số IQ, chu kỳ kinh nguyệt, chi phối của bán cầu não,
khả năng ngôn ngữ, giọng nói và thị lực. Do đó, khi nhân cách tin vào dị ứng xuất
hiện, người đó sẽ bị dị ứng; nhưng khi một nhân cách khác tiến vào cơ thể, các
triệu chứng dị ứng biến mất. Một nhân cách có thể cần đeo kính, còn nhân cách
khác thì không. Những nhân cách khác nhau này thực sự có những khác biệt đáng kể
về áp lực nội nhãn và các chỉ số sinh lý khác.
Ở
người bình thường, những hiện tượng vật lý này cũng thay đổi nếu họ bị thôi
miên. Dị ứng có thể xuất hiện hoặc biến mất chỉ bằng những gợi ý đơn giản. Những
người nhận được gợi ý rằng họ bị dị ứng với hoa hồng khi đang tiến hành thôi
miên sẽ bắt đầu hắt hơi khi họ thoát khỏi trạng thái thôi miên và nhìn thấy một
bình hoa hồng trên bàn của bác sĩ, ngay cả khi đấy là bông hoa giả.
Ngài
John Eccles, Khôi nguyên Nobel, từng tuyên bố rằng sau cả đời nghiên cứu, ông
thấy rõ ràng là não bộ không phải là nguồn gốc của tâm trí, như khoa học và y học
đã tin tưởng, mà ngược lại. Tâm trí điều khiển não bộ, nó hoạt động như một trạm
thu (tương tự như radio), những suy nghĩ tương tự như sóng radio, còn não bộ thì
giống như máy thu.
Não
bộ giống như một thiết bị thu sóng, một tổng đài tiếp nhận các dạng suy nghĩ, rồi
chuyển chúng thành chức năng thần kinh và bộ nhớ. Ví dụ, cho đến gần đây, người
ta tin rằng các chuyển động tự nguyện của cơ bắp bắt nguồn từ vỏ não vận động.
Nhưng hiện nay, như Eccles đã báo cáo, ý định di chuyển được ghi nhận bởi vùng
vận động bổ sung của não bộ nằm cạnh vỏ não vận động. Do đó, não bộ được kích
hoạt bởi ý định của tâm trí chứ không phải ngược lại.
Chúng
ta thấy điều này trong nhiều nghiên cứu hình ảnh não bộ được thực hiện trên những
người đang hành thiền. Ví dụ, nghiên cứu của Tiến sĩ Richard Davidson trong thập
kỷ vừa qua ở Đại học Wisconsin (Madison) đã chứng minh rằng thực hành thiền định
về tâm từ bi và yêu thương kích thích sự gia tăng hoạt động ở vỏ não trước trán
bên trái (chứa đựng những cảm xúc tích cực như hạnh phúc) và sự đồng bộ hóa
sóng gamma biên độ cao (dấu hiệu của nhận thức mở rộng, tỉnh táo và tuệ giác).
Những thứ được lưu giữ trong tâm trí có sức mạnh làm thay đổi hoạt động của não
bộ và cấu trúc thần kinh.
Chúng
ta chịu ảnh hưởng bởi đủ loại tác động của những niềm tin vô thức và hữu thức
mà tâm trí chúng ta đang lưu giữ trên tất cả các hệ thống cơ thể. Trong đó có
niềm tin của chúng ta về những tác động được cho là của các loại thực phẩm, chất
gây dị ứng, rối loạn mãn kinh và kinh nguyệt, nhiễm trùng và tất cả các bệnh
khác liên quan đến các hệ thống niềm tin cụ thể, cùng với khuynh hướng căng thẳng
tiềm ẩn do có những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén.
Norman
Cousins, tổng biên tập tạp chí Saturday Review trong ba thập kỷ, đã chứng
minh nguyên tắc này khi ông tự chữa khỏi bệnh tật nghiêm trọng bằng tiếng cười.
Ông cho xuất bản cuốn sách Anatomy of an Illness (Giải phẫu một căn bệnh),
nói về trải nghiệm hồi phục của chính mình khỏi căn bệnh viêm khớp bằng cách bổ
sung nhiều vitamin C và cười sảng khoái khi xem phim do anh em nhà Marx thủ vai.
Ông phát hiện ra rằng tiếng cười có tác dụng gây tê, có thể làm giảm đau trong
hai giờ. Cười là một phương pháp buông bỏ. Thông qua tiếng cười, Cousins tiếp tục
buông bỏ áp lực cảm xúc tiềm ẩn và loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực. Cách làm
này dẫn đến những thay đổi rất tích cực và có lợi cho cơ thể, đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình hồi phục cuối cùng của chính ông ta.
Những niềm tin dễ làm
người ta bị bệnh
Để
xác định mức độ dễ bị bệnh của chính mình, chúng ta có thể xem xét nhưng câu hỏi
sau:
Tôi
có lo lắng về sức khỏe của mình, có những suy nghĩ sợ hãi về những điều có thể
xảy ra với mình hay không?
Tôi
có cảm thọ sợ hãi, phấn khích và nguy hiểm thầm kín khi nghe về một căn bệnh mới
đang được truyền thông loan tin và thịnh hành không?
Tôi
có mất thời gian cho việc kiểm tra sức khỏe thường xuyên, đọc về các bệnh tật,
và cảm thấy sợ hãi bởi những câu chuyện trên TV về bệnh tật hay không?
Tôi
có quan tâm đến việc nghe về bệnh tật của những người nổi tiếng hay không?
Tôi
có tin rằng môi trường và thực phẩm chứa đầy những nguy hiểm tiềm ẩn, hay thực
phẩm chứa các chất phụ gia độc hại và sẽ làm cho người ta bị bệnh hay không?
Tôi
có tin rằng một số bệnh “di truyền trong gia đình mình” hay không?
Tôi
có dừng lại hoặc muốn dừng lại (nhưng không dám) để chứng kiến nạn nhân của
tai nạn giao thông hay không?
Tôi
có thích các chương trình truyền hình về bệnh viện hay không? Tôi có thích các
chương trình truyền hình có cảnh đánh đập, la hét, ẩu đả, giết người, tra tấn,
tội phạm và các hình thức bạo lực khác hay không?
Tôi
có phải là một người luôn có mặc cảm tội lỗi hay không?
Tôi
có ôm giữ nhiều tức giận hay không?
Tôi
có lên án hành vi của người khác hay không?
Tôi
có hay phán xét người khác hay không?
Tôi
có lưu giữ oán hận và thù hận hay không?
Tôi
có cảm thấy bị mắc kẹt và tuyệt vọng hay không?
Tôi
có tự nhủ rằng, “Bất cứ căn bệnh nào đang xảy ra, có lẽ tôi cũng sẽ bị lây”?
Tôi
có quan tâm đến của cải và biểu tượng địa vị thay vì chất lượng của các mối
quan hệ hay không?
Tôi
có mua nhiều bảo hiểm mà vẫn lo lắng rằng chưa đủ hay không?
Tóm
lại, muốn thay đổi cơ thể thì phải thay đổi suy nghĩ và cảm thọ. Chúng ta phải
buông bỏ những suy nghĩ và hệ thống niềm tin tiêu cực và loại bỏ căng thẳng do
những cảm xúc tiêu cực cung cấp năng lượng cho chúng. Chúng ta phải loại bỏ những
lập trình tiêu cực đến từ thế giới, cũng như từ chính hệ thống niềm tin của
chúng ta.
Chúng
ta có thể thấy những ảnh hưởng tai hại của lập trình tiêu cực đầy sợ hãi ở những
người sợ hãi thực phẩm, hóa chất và các chất trong môi trường. Mỗi ngày lại có
một hóa chất hoặc chất mới được công bố là có hại. Càng sợ hãi, chúng ta càng
nhanh chóng bị lập trình, và sau đó cơ thể phản ứng một cách tương ứng. Sợ hãi
các chất, thực phẩm, không khí, năng lượng và các kích thích đủ mọi loại đã đến
mức gần như là chứng hoang tưởng về môi trường. Một số người trở nên ám ảnh về
môi trường và mọi thứ trong đó đến mức thế giới của họ ngày càng thu hẹp lại. Họ
ngày càng sợ hãi hơn. Một số người thậm chí còn gục ngã đến mức họ chạy trốn khỏi
thế giới và sống trong những bong bóng nhân tạo, nằm trong vòng vây của chính
tâm trí của mình.
Hiện
tượng này có thể xảy ra với người bình thường, thậm chí là bác sĩ. Bắt đầu với
phấn hoa, phấn hương, vảy da ngựa, lông chó mèo, bụi, lông vũ, len, sô cô la,
pho mát và các loại hạt (tất cả đều được cho là gây dị ứng). Sau đó, là đường (tăng
đường huyết) cùng với các chất phụ gia thực phẩm (gây ung thư), trứng và các sản
phẩm từ sữa (cholesterol), và nội tạng động vật (bệnh gút). Tiếp theo trong
danh sách “có hại” là phẩm màu thực phẩm, saccharine, caffeine, chất tạo màu,
nhôm, vải tổng hợp, tiếng ồn, đèn huỳnh quang, thuốc xịt côn trùng, chất khử
mùi, thực phẩm nấu ở nhiệt độ cao, khoáng chất có trong nước, clo trong nước,
nicotine, khói thuốc lá, các chất hóa dầu, khí thải ô tô, ion dương, rung động
điện tần số thấp, thực phẩm có tính axit, thuốc trừ sâu và thực phẩm có hạt.
Thế
giới thu nhỏ lại đến mức không còn gì an toàn để ăn. Không còn gì có thể mặc.
Không có không khí để thở. Cơ thể có tất cả các loại dị ứng, phản ứng và bệnh tật
để chứng minh điều đó. Việc đi ăn tối bên ngoài trở thành một thú vui của quá
khứ, bởi vì thực đơn chẳng có gì ăn được, ngoại trừ rau diếp (tất nhiên là phải
rửa sạch), và việc đeo găng tay trắng khi cầm dụng cụ ăn uống ở nhà hàng là bắt
buộc!
Rồi,
khi hiểu được sự thật cốt lõi, toàn bộ mô thức được gỡ bỏ. “Những gì được lưu giữ
trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra ngoài thân thể”—trong đó có cả những niềm
tin vô thức. Thủ phạm không phải là thế giới mà là tâm trí. Tất cả những lập
trình tiêu cực và điều kiện hóa đầy sợ hãi đều nằm trong tâm trí, và cơ thể
tuân theo tâm trí. Quy luật tâm thức này đảo ngược chứng hoang tưởng. Khi mỗi
niềm tin nội tâm được xem xét và buông bỏ, tất cả các phản ứng tiêu cực của cơ
thể, bệnh tật và triệu chứng đều biến mất. Nói cách khác, không phải lá cây thường
xuân độc gây ra dị ứng mà là niềm tin của tâm trí rằng cây thường xuân độc có
chất gây dị ứng. Khi tâm trí buông bỏ lập trình của nó, các phản ứng của cơ thể
đã biến mất.
Kiểm
tra cơ thể động học có thể đảo ngược hoàn toàn các mô thức phản ứng. Những gì
trước đây làm cho cơ yếu đi giờ đây không còn tác dụng nữa. Mức độ nhạy cảm với
căng thẳng nói chung rõ ràng đã giảm đi rất nhiều, đến mức cơ thể hoàn toàn
không phản ứng với những thứ mà trước đây được coi là kích thích tiêu cực (ví dụ:
đèn huỳnh quang, đường hoá học).
So sánh với các kỹ thuật
khác
Như
chúng ta đã thấy, căng thẳng phát sinh từ bên trong như là phản ứng trước tác
nhân kích thích. Tác nhân gây căng thẳng thực chất là áp lực của những năng lượng
cảm xúc bị kìm nén và đè nén, phản ánh tầng thức thấp tổng thể của chúng ta.
Do
đó, cần thay đổi nội dung của tâm thức thì mới loại bỏ và ngăn ngừa căng thẳng.
Các phương pháp điều trị căng thẳng thường được kê đơn tương tự như các phương
pháp điều trị trong lĩnh vực y học. Đấy là những phương pháp tìm cách khắc phục
những tổn thương do căn bệnh mà chúng ta đã mắc phải gây ra, chứ không chữa trị
nguyên nhân bên trong của bệnh.
Ví
dụ, các hội nghị về căng thẳng thường bao gồm các chủ đề sau:
Liệu
pháp hương thơm.
Hội
thảo về tập thể dục.
Châm
cứu làm giảm các rối loạn do căng thẳng.
Phản
hồi sinh học.
Nắn
chỉnh cột sống.
Điều
chỉnh căng thẳng.
Dinh
dưỡng.
Thể
dục và tập luyện.
Liệu
pháp vi lượng đồng căn.
Huấn
luyện tự sinh. (Autogenic training là một kỹ thuật tự thôi miên và thư giãn sâu
được phát triển bởi nhà tâm lý học người Đức Johannes Heinrich Schultz vào năm
1932 – ND).
Chữa
bệnh toàn diện.
Massage
và trị liệu cơ thể.
Bể
nổi (Flotation tank - còn gọi là bể cách ly giác quan) là thiết bị được thiết kế
để đưa con người vào trạng thái thư giãn sâu nhất có thể bằng cách loại bỏ hầu
hết các kích thích từ môi trường bên ngoài – ND).
Cân
bằng răng miệng.
Kỹ
thuật thư giãn bằng cách sử dụng các chuyển động cơ thể.
Như
chúng ta thấy bên trên, các phương pháp thông thường chỉ giải quyết hậu quả và
thiệt hại do hội chứng căng thẳng gây ra. Không có phương pháp nào giải quyết
được nguyên nhân cơ bản. Tất cả đều liên quan đến các thủ tục tương đối phức tạp
và tốn nhiều thời gian, và không thể áp dụng ngay tại chỗ.
Ví
dụ, giả sử chúng ta đang thuyết trình hoặc giảng bài. Chúng ta đang ở ngay tại
chỗ. Việc dừng lại giữa bài phát biểu để tập thở, thôi miên, châm cứu hoặc sử dụng
máy phản hồi sinh học là không thực tế. Bể nổi có tiện dụng không khi đang cãi
nhau với người khác?
Vì
những phương pháp này chỉ mang tính tạm thời, tốn nhiều thời gian và thường khá
đắt tiền, nên mọi người nhiệt tình áp dụng trong một thời gian ngắn, nhưng sau
đó nhiệt tình giảm dần, vì về cơ bản chẳng có gì thực sự thay đổi. Nhận thức cơ
bản về thế giới vẫn như cũ. Áp lực cảm xúc vẫn như cũ. Tính cách cũng vẫn thế.
Hoàn cảnh sống không thay đổi. Tầng tâm thức không thay đổi. Tâm lý vẫn như cũ.
Kỳ vọng vẫn như cũ và do đó, cuộc sống vẫn tiếp diễn như trước đây.
Nếu tâm thức không thay đổi, thì căng thẳng thực sự không mất đi được. Chỉ có hậu quả là giảm nhẹ mà thôi. Tất cả những kỹ
thuật và phương pháp điều trị sau khi sự việc đã xảy ra này đều hữu ích và thường
làm giảm bớt tình trạng bệnh tật và làm cho người ta cảm thấy dễ chịu hơn,
nhưng không giải quyết được gốc rễ của vấn đề. Một người có thể áp dụng tất cả
các kỹ thuật này mà vẫn là người dễ bị căng thẳng như cũ. Theo kinh nghiệm của
chúng tôi, việc sử dụng một cách có ý thức cơ chế buông bỏ hiệu quả hơn trong
việc giải quyết các bệnh mãn tính liên quan đến căng thẳng. Bệnh tật bắt đầu tự
chữa lành, vì nguyên nhân mang tính cảm xúc tiềm ẩn đã được loại bỏ, và các
phương pháp điều trị sau đó thường là không còn cần thiết nữa.
Trong
trường hợp hiếm hoi của căn bệnh dai dẳng không được chữa khỏi bằng cách buông
bỏ những suy nghĩ và cảm thọ tiêu cực, các yếu tố chưa biết như khuynh hướng
nghiệp có thể đang tác động. Trong những trường hợp như thế, chúng ta buông bỏ
mong muốn thay đổi hoặc kiểm soát trải nghiệm cuộc sống của mình, và chúng ta
chờ đợi những khám phá nội tâm sâu sắc hơn về nguồn gốc và ý nghĩa của bệnh tật.
Buông bỏ ở mức độ sâu nhất và trọn vẹn khi một người đã buông bỏ nhu cầu hoặc
mong muốn được chữa lành về thể chất. Ta sẽ đạt được trạng thái an bình trước
tình trạng bệnh tật khi cả ba phương diện của nó—thể xác, tâm trí và tâm linh—đều
đã được giải quyết, đồng thời kết quả cuối cùng hay mong cầu bình phục đã được
buông bỏ. An bình chỉ đến cùng với buông bỏ hoàn toàn bên trong trước những gì
đang là.
No comments:
Post a Comment