July 12, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (17)

   ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 16 

LỢI ÍCH CỦA BUÔNG BỎ

Phát triển về mặt cảm xúc

Ảnh hưởng rõ ràng và dễ thấy nhất của buông bỏ những cảm thọ tiêu cực là phục hồi quá trình phát triển về mặt cảm xúc và tâm lý, cũng như giải quyết những vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài. Có niềm vui và thỏa mãn khi chúng ta bắt đầu trải nghiệm những ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc loại bỏ những rào cản đối với thành công và hài lòng trong cuộc sống. Chúng ta nhanh chóng nhận ra rằng những suy nghĩ hạn chế và niềm tin tiêu cực mà chúng ta đã ngây thơ cho là đúng, chỉ đơn thuần là kết quả của những cảm thọ tiêu cực đã được tích lũy mà thôi. Khi cảm thọ được buông bỏ, mô thức suy nghĩ sẽ thay đổi từ: “Tôi không thể” thành: “Tôi có thể” và “Tôi rất vui khi làm điều đó”. Toàn bộ các lĩnh vực trong cuộc sống có thể mở ra. Những điều từng vụng về hoặc không được thể hiện ra có thể trở thành dễ dàng và tràn đầy niềm vui.

Minh họa cho quá trình này là trải nghiệm của một người đàn ông trung niên thông minh, thành đạt, chuyên nghiệp, nhưng cả đời không thể khiêu vũ. Ông ấy rất muốn nhảy và đã nhiều lần tham gia các lớp học khiêu vũ. Nhưng mỗi lần như vậy, ông ta đều thấy mình cứng nhắc, vụng về và tự ti. Bằng ý chí mạnh mẽ, đôi khi ông cũng cố gắng thực hiện các động tác trên sàn nhảy, nhưng chưa bao giờ cảm thấy thích thú và luôn luôn cảm thấy không thoải mái. Các chuyển động của ông ta cứng nhắc và có tính toán, và toàn bộ trải nghiệm là không thỏa mãn, không giúp ích gì cho lòng tự trọng của ông ta.

Sau khoảng một năm thực hành phương pháp buông bỏ, ông ta đi dự tiệc với một người phụ nữ liên tục đề nghị ông ta đứng dậy và nhảy. “Cô biết tôi không biết nhảy mà,” ông ta nói. “Thôi nào, thử đi,” bà ta van nài. Bà ta vẫn kiên trì và nói: “Quên đôi chân của anh đi. Cứ nhìn tôi và làm theo những gì cơ thể tôi làm.” Ông ta miễn cưỡng đồng ý, và tiếp tục buông bỏ cảm giác kháng cự và lo lắng của mình.

Trên sàn nhảy, ông ta hoàn toàn buông bỏ. Trong tích tắc, cảm thọ bên trong vươn lên từ thờ ơ tới tình yêu và, trước sự ngạc nhiên của mình, ông ta đột nhiên bắt đầu nhảy như từng mơ ước và ghen tị! Nhận thức: “Mình có thể làm được!” ập tới, và ông ta chuyển từ tình yêu, lên niềm vui, thậm chí là mê ly. Niềm vui của ông ta lan tới mọi người. Bạn bè dừng lại để xem. Từ trạng thái vui sướng tột độ, ông ta đột nhiên trải nghiệm sự hòa hợp với bạn nhảy của mình. Ông ta đột nhiên nhìn thấy Đại Ngã của chính mình nhìn ra từ đôi mắt của bà ấy và nhận ra rằng thực ra chỉ có một Đại Ngã duy nhất đằng sau tất cả những tự ngã cá nhân. Ông và bà ấy trở nên kết nối theo lối thần giao cách cảm. Ông ta biết từng bước nhảy của bạn nhảy trước khi người kia thực hiện. Họ hòa hợp một cách hoàn hảo và nhảy như thể họ đã luyện tập và nhảy cùng nhau suốt nhiều năm qua. Ông ta khó lòng kìm nén được niềm vui của mình. Việc nhảy múa trở nên dễ dàng và bắt đầu diễn ra một cách tự nhiên, không cần bất kỳ suy nghĩ có ý thức nào. Càng nhảy lâu, ông ta càng cảm thấy tràn đầy năng lượng.

Đó là một trải nghiệm đỉnh cao, nó đã làm thay đổi cuộc đời người đàn ông này. Đêm đó ông ta về nhà và còn nhảy thêm nữa. Nhảy disco tự do luôn làm cho ông ta sợ hãi hơn bất kỳ thể loại nào khác, vì không có hình thức nào để ghi nhớ. Nó đòi hỏi tự phát và cảm giác tự do, điều mà trước đây ông ta chưa từng trải nghiệm. Về tới nhà, ông ta bật nhạc disco và bắt đầu nhảy múa hàng giờ liền. Ông ngắm nhìn mình trong gương, bị mê hoặc bởi sự buông lỏng của cơ thể và cảm thọ tự do ở bên trong.

Đột nhiên, ông ta nhớ lại kiếp sống trước đây với những chi tiết cực kì sống động. Ông ta từng là một vũ công giỏi, và lúc này ông ta bắt đầu nhớ lại những chỉ dẫn cụ thể mà các ông thầy đã cho ông biết trong kiếp sống đó. Khi ông ta làm theo chỉ dẫn của họ, kết quả thật đáng kinh ngạc! Ông ta phát hiện được rằng có một trung tâm cân bằng trọng lực thẳng đứng bên trong chính con người mình, và ông ta bắt đầu xoay quanh nó với sự cân bằng hoàn hảo. Chuyển động diễn ra một cách dễ dàng, và ông ta chỉ đơn giản là người chứng kiến điệu nhảy. Không còn cảm giác về “tôi” nữa. Chỉ còn lại niềm vui và chính điệu nhảy. Giờ đây, ông hiểu ngay lập tức nền tảng cốt lõi của điệu nhảy Sufi xoay tròn. Khả năng xoay tròn và quay cuồng mà không chóng mặt hay mệt mỏi—trạng thái tâm thức đó —xuất phát từ buông bỏ tự ngã cá nhân.

Bước đột phá mà người đàn ông này trải nghiệm trên sàn nhảy sau đó đã lan sang nhiều lĩnh vực khác - từng bị tắc nghẽn - trong cuộc đời của ông ta. Những lĩnh vực từng bị hạn chế, giờ đây đã mở rộng một cách nhanh chóng. Bạn bè và gia đình ông ta nhìn thấy rõ những thay đổi này và những phản hồi tích cực của họ càng làm tăng thêm lòng tự trọng và mong muốn tiếp tục buông bỏ những cảm thọ và suy nghĩ tiêu cực từng ngăn cản, không để cho ông ta trải nghiệm niềm vui sống.

Trải nghiệm này được nêu ra khá chi tiết vì một vài lý do. Nó minh họa cho thang đo tâm thức mà chúng tôi đã nói trong chương trước. Trong suốt 50 năm, người đàn ông vừa nói đã ở tầng thấp nhất trong lĩnh vực này, với niềm tin: “Tôi không thể”. Thái độ tự ti đã làm giảm lòng tự trọng của ông ta và khiến ông ta né tránh. Trong suốt nhiều năm, ông ta đã tìm cách tránh các buổi họp mặt có khiêu vũ. Ông ta giận chính mình vì thái độ tự ti đó, và ông ta tức giận khi có người nào đó rủ khiêu vũ. Thế mà chỉ trong vài giây và vài phút, ông ta đã trải nghiệm mọi cảm xúc trên toàn bộ thang đo và đi đến tận đỉnh cao. Lúc đó, tâm thức cao hơn xuất hiện cùng với nhận thức tâm linh đột ngột ở một tầng rất cao. Với tâm thức cao hơn, hiểu biết cùng với khả năng tâm linh xuất hiện (thần giao cách cảm, đồng nhịp và nhớ lại tiền kiếp). Kết quả là, hành vi của ông ta thay đổi, và động lực của nó loại bỏ một loạt rào cản và hạn chế. Xã hội cũng phản hồi một cách tích cực, rồi phản hồi tích cực củng cố động lực phát triển đang diễn ra.

Tốc độ phát triển cảm xúc được báo cáo bởi những người sử dụng cơ chế buông bỏ có liên quan đến sự kiên trì trong buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, và không có liên hệ nào với tuổi tác. Mọi người, ở mọi lứa tuổi, từ thanh thiếu niên đến cụ già tám mươi, đều nhận được lợi ích như nhau.

Những cảm thọ bị kìm nén và đè nén cần năng lượng chống lại để giữ chúng chìm xuống. Cần năng lượng để kìm nén cảm thọ của chúng ta. Khi buông bỏ những cảm thọ này, năng lượng kìm nén tiêu cực được giải phóng để sử dụng cho những mục đích tích cực. Kết quả của việc buông bỏ là năng lượng được dùng cho sáng tạo, phát triển, công việc và quan hệ giữa các cá nhân gia tăng. Chất lượng và niềm vui của những hoạt động này cũng gia tăng. Hầu hết mọi người đều kiệt sức, không đủ sức đem lại trải nghiệm chất lượng cao thực sự trừ khi các chương trình tiêu cực chống lại họ đã được giải quyết. 

Giải quyết vấn đề

Hiệu quả của cơ chế buông bỏ trong việc giải quyết vấn đề thường làm cho người ta ngạc nhiên. Hiểu được quá trình liên quan là rất quan trọng, vì nó khác hẳn các phương pháp mà người ta vẫn dùng. Cách tiếp cận đem lại kết quả nhanh chóng và dễ dàng: Đừng tìm kiếm câu trả lời; thay vào đó, hãy buông bỏ cảm thọ đằng sau câu hỏi. Khi buông bỏ cảm thọ đằng sau câu hỏi, chúng ta có thể buông bỏ bất kỳ cảm thọ nào khác mà chúng ta có thể có về vấn đề đó. Khi cuối cùng và hoàn toàn buông bỏ tất cả các yếu tố, câu trả lời sẽ ở đó chờ đợi chúng ta. Chúng ta sẽ không cần phải tìm kiếm nó. Hãy nghĩ xem, nó đơn giản và dễ dàng đến mức nào, đấy là nói, so với những nỗ lực giải quyết vấn đề dài dòng, thiếu hiệu quả thường thấy của tâm trí. Thông thường, tâm trí sẽ tìm kiếm và mò mẫm không ngừng, loay hoay với câu trả lời khả thi này rồi đến câu trả lời khả thi khác. Lý do tâm trí không thể quyết định được là vì nó đang tìm kiếm không đúng chỗ.

Hãy xem hệ thống này hoạt động như thế nào trong một ví dụ thường ngày. Giả sử chúng ta không đồng ý với người yêu về việc đi bộ xem phim nào. Chúng ta xem xét cảm thọ đằng sau vấn đề. Trong trường hợp này, giả sử chúng ta cảm thấy tức giận và oán hận, cụ thể là oán hận vì không có nhiều thời gian lãng mạn bên nhau. Điều chúng ta thực sự muốn tối nay là thời gian âu yếm bên nhau. Khi chúng ta chấp nhận ở bên trong rằng điều chúng ta thực sự muốn là sự gần gũi, đột nhiên chúng ta nhận ra rằng mình không hề muốn đi xem phim. Chúng ta chỉ muốn ở bên nhau. Hoặc điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Chúng ta có thể nhận ra rằng cảm thọ đằng sau việc muốn đi xem phim là sợ hãi, vì chúng ta không muốn dành buổi tối để nói chuyện và gần gũi với người yêu. Chúng ta thấy rằng những cảm thọ mà chúng ta đã tích tụ làm mình khó chịu. Chúng ta oán hận, vì vậy chúng ta buông bỏ mong muốn thay đổi cảm thọ đó, và cứ để nó ở đó. Không sao hết, nếu có oán hận. Khi buông bỏ kháng cự cảm thọ oán hận, chúng ta có ít mặc cảm tội lỗi hơn; chúng ta thừa nhận với người yêu rằng mình đã có oán hận. Chúng ta nói chuyện với nhau, và cảm thọ của người kia cũng được làm rõ. Cả hai chúng ta đều cảm thấy nhẹ nhõm và gần gũi hơn, rồi chúng ta nói: “Mặc kệ phim ảnh đi. Ở nhà, làm tình và đi dạo dưới ánh trăng nhé.”

Cách tiếp cận này mang lại hiệu quả trong tất cả các quá trình ban hành quyết định. Khi chúng ta loại bỏ được những cảm thọ tiềm ẩn, các quyết định sẽ trở nên thực tế và sáng suốt hơn. Xin nghĩ xem, đã bao nhiêu lần chúng ta đã thay đổi ý kiến ​​và hối tiếc về những quyết định trong quá khứ. Đó là do, đằng sau quyết định luôn có một cảm thọ chưa được nhận ra và chưa được buông bỏ. Khi hành động mà ta quyết định đã được thực hiện, thì cảm thọ tiềm ẩn sẽ thay đổi. Khi đó, từ điểm nhìn của không gian cảm thọ mới, quyết định hóa ra là sai. Sự kiện này xảy ra thường xuyên đến nỗi hầu hết mọi người đều sợ đưa ra quyết định, bởi vì trong quá khứ, họ đã quyết định sai quá nhiều lần rồi.

Thường thì, sử dụng cơ chế buông bỏ có thể nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài. Xin thử xem nó hoạt động nhanh tới mức nào. Hãy xem xét một vài vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài và ngừng tìm kiếm câu trả lời. Hãy tìm xem, ngay từ đầu, cảm thọ tiềm ẩn nào tạo ra câu hỏi. Một khi cảm thọ đó được buông bỏ, câu trả lời sẽ tự xuất hiện. 

Phong cách sống

Rất nhiều hoạt động và chấp trước của chúng ta là dựa trên sợ hãi và tức giận, mặc cảm tội lỗi và kiêu hãnh. Khi những cảm thọ tiêu cực này được buông bỏ trong bất kỳ lĩnh vực nào, là chúng ta vươn tới tầng can đảm. Ở tầng đó, những thay đổi trong cuộc sống bắt đầu xảy ra. Hoặc, nếu chúng ta chọn tiếp tục hoạt động như cũ, thì động lực cũng sẽ khác và, do đó, chúng ta sẽ trải nghiệm những kết quả khác so với trước đây. Ít nhất, phần thưởng về mặt cảm xúc cũng sẽ khác. Thay vì hài lòng một cách gượng ép, chúng ta có thể trải nghiệm niềm vui. Chúng ta có thể thấy mình đang làm cùng một công việc như trước, nhưng giờ đây chúng ta làm vì vui chứ không phải vì nghĩa vụ. Chúng ta làm việc đó vì chúng ta “muốn”, chứ không phải vì chúng ta “phải” làm. Nhu cầu năng lượng chắc chắn sẽ ít hơn hẳn.

Một khám phá thú vị mà chúng ta sẽ làm là khả năng yêu thương của chúng ta vượt xa những gì chúng ta từng mơ ước. Càng buông bỏ, chúng ta càng trở nên yêu thương hơn. Ngày càng nhiều thời gian trong cuộc đời chúng ta sẽ dành để làm những việc mà chúng ta yêu thích, với những người mà chúng ta cảm thấy ngày càng yêu thương hơn. Khi điều này xảy ra, cuộc sống của chúng ta sẽ chuyển hoá. Chúng ta trông khác đi. Mọi người phản ứng với chúng ta khác đi. Chúng ta thư thái, vui vẻ và dễ tính. Chúng ta có sức thu hút mọi người vì họ cảm thấy thoải mái và hạnh phúc khi ở bên cạnh chúng ta. Những người phục vụ và tài xế taxi đột nhiên trở nên chu đáo và lịch sự một cách kỳ lạ, và chúng ta tự hỏi: “Chuyện gì xảy ra với thế giới vậy?” Câu trả lời cho câu hỏi đó: “Chính là bạn!”

Khi buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, chúng ta sẽ tìm thấy sức mạnh của chính mình. Nó xảy ra một cách tự nhiên. Hạnh phúc luôn có đó và giờ đây nó tỏa sáng sau khi những rào cản đã được loại bỏ. Giờ đây, chúng ta tạo được ảnh hưởng tích cực đến tất cả mọi người mà chúng ta tiếp xúc. Tình yêu là rung động năng lượng cảm xúc mạnh mẽ nhất. Vì tình yêu, người ta sẽ làm mọi việc và làm những điều mà họ sẽ không bao giờ làm dù được trả bao nhiêu tiền.

Khi những rào cản tiêu cực và những câu nói: “Tôi không thể” được loại bỏ, những lĩnh vực hoàn toàn mới của cuộc sống sẽ mở ra cho chúng ta. Thành công bắt nguồn từ việc làm những gì chúng ta thích làm nhất, nhưng hầu hết mọi người lại bị trói buộc bởi những việc mà họ tưởng là mình phải làm. Khi giới hạn được loại bỏ, những con đường sáng tạo và thể hiện hoàn toàn mới sẽ mở ra.

Xin xem xét ví dụ về một cô gái trẻ có nhiều tài năng âm nhạc bẩm sinh, từng dành phần lớn thời gian cho công việc nhàm chán mà cô cảm thấy mình phải gắn bó vì phải kiếm tiền. Việc cô ấy thực sự thích là ở nhà một mình và đánh đàn. Đấy hoàn toàn vì niềm vui cá nhân. Vì thiếu tự tin, cô ấy ít khi đánh đàn cho người khác nghe, kể cả bạn bè thân thiết. Sau khi bắt đầu buông bỏ những giới hạn bên trong – tất cả những cảm thọ tiêu cực không cho cô thể hiện bản thân mình – khả năng và sự tự tin của cô phát triển nhanh chóng đến mức cô bắt đầu chơi nhạc trước công chúng. Tài năng của cô được đón nhận nồng nhiệt, và một sự nghiệp âm nhạc đầy bận rộn bắt đầu. Cô đã hoàn thành một bản thu âm chuyên nghiệp thành công đến mức cô có thể dành một nửa thời gian để làm công việc mà mình vẫn làm, và bắt đầu dành nhiều thời gian và năng lượng cho sự nghiệp đang đơm hoa kết trái, mang lại cho cô niềm vui và thỏa mãn lớn lao hơn. Mặc dù không biết gì về kinh doanh, cô đã bắt đầu công việc kinh doanh âm nhạc của chính mình và trong vòng một năm, đã phân phối các bản thu âm trên khắp cả nước, rồi sang cả châu Âu. Cô rất vui mừng khi thấy mình rất thành công khi làm những việc mình thích nhất. Sức sống và hạnh phúc ngày càng tăng của cô ấy thể hiện rõ ràng với mọi người, và thành công lan rộng sang các lĩnh vực khác trong cuộc đời của cô.

Ví dụ khác là một kỹ sư, trung niên, không có năng khiếu sáng tạo, rất ghét thơ ca. Sau khi học cách buông bỏ những cảm thọ tiêu cực, đột nhiên ông thấy mình làm được thơ Haiku (một thể thơ trang trọng của Nhật Bản). Ông bắt đầu làm rất nhiều bài thơ Haiku mà không cần nhiều nỗ lực rồi sau đó phát triển khả năng viết gần như tự động.

Một ví dụ khác nữa là người phụ nữ, 60 tuổi, quyết định quay lại học đại học tại chức, mặc dù bà đang làm việc toàn thời gian. Cuối cùng, bà cũng có bằng cử nhân, rồi bằng thạc sĩ, và sau đó là bằng tiến sĩ, trở thành giám đốc điều hành quan trọng với rất nhiều trách nhiệm.

Có thể đưa ra hàng ngàn ví dụ về việc thăng tiến nhanh chóng trong đời sống của mọi người, khi họ buông bỏ được suy nghĩ: “Tôi không thể”. Có thể đột ngột giải quyết những tình huống đã kéo dài suốt nhiều năm,.

Ngược đời là, những bước đột phá và phát triển như thế có thể làm cho bạn bè và người thân cảm thấy khó chịu, vì mất thăng bằng. Chúng ta có thể đột ngột vứt bỏ những việc mà mình đã từng làm vì bị buộc phải làm, vì sợ hãi, mặc cảm tội lỗi hoặc nghĩa vụ. Những tầng tâm thức mới làm cho tri giác thay đổi và mở ra những chân trời mới. Nhiều động cơ thúc đẩy người ta có thể đột ngột trở thành vô nghĩa. Nhu cầu về tiền bạc, danh vọng, sự kính trọng, địa vị, uy tín, quyền lực, tham vọng, cạnh tranh và an toàn đều giảm. Chúng được thay thế bằng động lực của yêu thương, hợp tác, viên mãn, tự do, sáng tạo, phát triển tâm thức, hiểu biết và nhận thức tâm linh. Có xu hướng dựa nhiều hơn vào trực giác và cảm thọ hơn là suy nghĩ, lý trí và logic. Những người rất “dương” có thể khám phá ra khía cạnh “âm” của mình, và ngược lại. Những mô thức cứng nhắc nhường chỗ cho linh hoạt. An toàn và an ninh trở thành ít quan trọng hơn so với khám phá và tìm tòi. Cuộc sống cá nhân có thêm động lực, và vận động thay thế cho mô thức trì trệ.

Cơ chế buông bỏ có thể làm cho những thay đổi lớn diễn ra rất nhanh chóng, đấy là nhận xét có thể làm cho người ta ngạc nhiên. Những mô thức từng bám theo người ta suốt đời có thể đột ngột biến mất, và những kìm hãm kéo dài nhiều năm có thể được buông bỏ chỉ trong vài phút, vài giờ hoặc vài ngày. Những thay đổi nhanh chóng kéo theo sức sống gia tăng. Năng lượng sống được giải phóng do buông bỏ tiêu cực lúc này chảy vào thái độ, suy nghĩ và cảm thọ tích cực, sức mạnh cá nhân cũng tăng lên từng bước một. Suy nghĩ giờ đây trở thành hiệu quả hơn. Nhiều việc được hoàn thành với ít nỗ lực hơn. Ý định mạnh mẽ hơn, đấy là do đã loại bỏ nghi ngờ, sợ hãi và kìm hãm. Cùng với quá trình loại bỏ tiêu cực, động lực được giải phóng, do đó những giấc mơ từng là bất khả thi thì lúc này trở thành mục tiêu có thể thực hiện được. 

Giải quyết các vấn đề tâm lý: So sánh với Tâm lý trị liệu

Nói chung, buông bỏ thường nhanh hơn tâm lý trị liệu. Nó thường giải phóng và kích thích quá trình phát triển tâm thức và nhận thức nhanh hơn. Tuy nhiên, tâm lý trị liệu được thiết kế tốt hơn trong việc làm sáng tỏ các mô thức tiềm ẩn. Hai biện pháp này có thể phối hợp với nhau. Cơ chế buông bỏ tạo điều kiện và đẩy nhanh tâm lý trị liệu, đồng thời nâng cao mục tiêu của nó. Tâm lý trị liệu có thể làm cho người ta thỏa mãn về mặt trí tuệ, vì bản chất ngôn ngữ và nó tập trung vào “lý do” phía sau hành vi. Tuy nhiên, đó cũng là hạn chế của nó. Thường thì, thực sự đạt được chỉ là hiểu biết về mặt trí tuệ, còn quá trình xử lý cảm thọ thì diễn ra khá chậm, thường là đau đớn và cuối cùng là né tránh. Mặt khác, cơ chế buông bỏ liên quan đến “cái gì” về mặt cảm thọ trong từng khoảnh khắc, mà không liên quan đến trí tuệ. “Lý do” sẽ tự thể hiển, khi “cái gì” đã được buông bỏ. Phân tích nguyên nhân gây ra trầm cảm là một chuyện, nhưng tiến thẳng vào tận cùng của tuyệt vọng bằng cách buông bỏ kháng cự đối với cảm thọ đó lại là chuyện hoàn toàn khác. Bằng cách cho phép cảm thọ ấy hiện diện trọn vẹn, đồng thời buông bỏ mọi cảm thọ, mọi suy nghĩ và từng phần thưởng nhỏ bé mà bạn đang nhận được từ nó, bạn trở nên tự do. Không nhất thiết phải dò xét cái “tại sao” của trầm cảm mới có thể giải thoát mình khỏi cái “đang là” của nó.

Mục tiêu của việc buông bỏ vượt xa mục tiêu của liệu pháp tâm lý. Mục đích cuối cùng của buông bỏ và phó thác là tự do hoàn toàn. Mục tiêu của liệu pháp tâm lý là điều chỉnh lại bản ngã, đưa nó về trạng thái cân bằng lành mạnh hơn. Hai hệ thống này dựa trên những hệ hình khác nhau về thực tại. Mục tiêu của liệu pháp tâm lý là thay thế các chương trình của tâm trí không thỏa đáng bằng những chương trình thỏa đáng hơn. Ngược lại, mục tiêu của buông bỏ là loại bỏ các chương trình của tâm trí và cảm thọ mang tính hạn chế. Đó là vươn tới tâm trí không bị ràng buộc và cuối cùng là siêu việt chính tâm trí để vươn lên các trạng thái tâm thức cao hơn của yêu thương và an bình.

Trong trị liệu, bệnh nhân phụ thuộc vào người trị liệu, quá trình đào tạo và kỹ thuật của họ, và họ cũng dựa vào một lý thuyết tâm lý mà cả người trị liệu và bệnh nhân đều tin tưởng. Nghiên cứu khoa học cho thấy rằng kết quả của trị liệu không liên quan gì tới trường phái tâm lý trị liệu, quá trình đào tạo hay kỹ thuật của người trị liệu; thay vào đó, kết quả liên quan đến tương tác giữa họ với nhau và mức độ mong muốn cải thiện của bệnh nhân, cũng như niềm tin và mức độ tin tưởng của bệnh nhân vào nhà trị liệu. Do đó, tâm lý trị liệu không nhận thức được các yếu tố tâm lý đang hoạt động.

Với cơ chế buông bỏ, bệnh nhân không có vai trò gì, cũng không phụ thuộc vào người khác hoặc lý thuyết nào. Nguồn gốc của các mô thức rối loạn thần kinh tự động bộc lộ khi chúng được thừa nhận, bị từ bỏ và biến mất. Cơ sở của chúng thường nằm ở những chiều sâu mà tâm lý trị liệu không thể chạm tới. Ngoại trừ một vài khuôn khổ chữa lành toàn diện (ví dụ như phân tích của Jung, tâm lý học xuyên cá nhân), trị liệu có thể dựa trên hiểu biết hạn chế về toàn bộ tâm trí. Nó thường chỉ nhắm đến một phần của bản ngã. Nó bỏ qua và không hiểu được những lực lượng to lớn, tức là lực lượng quyết định, thúc đẩy và kiểm soát tâm trí. Vì mục đích của hầu hết các liệu pháp tâm lý là điều chỉnh bản ngã, nên không có khái niệm gì về những gì nằm ngoài bản ngã.

Ngược lại, mục đích của buông bỏ là loại bỏ bản ngã. Bản ngã sợ hãi và bị giới hạn, và khi nó được buông bỏ, Đại Ngã bên trong sẽ hiện ra, và cái luôn có sức mạnh hơn sẽ được bộc lộ. Nhiều liệu pháp tâm lý không có kiến ​​thức thực sự về Đại Ngã và do đó, mù quáng trước chính Thực tại. Về hiệu quả, liệu pháp tâm lý giống như một chiếc xe ngựa, trong khi cơ chế buông bỏ giống như con tàu vũ trụ. Trong khi liệu pháp cần thời gian để từng bước một thăm dò một khu vực hạn chế, thì buông bỏ đã di chuyển xa hơn, vào một chiều kích hoàn toàn mới.

Buông bỏ có một lợi thế đặc biệt là, từ bỏ một cảm thọ tiêu cực cũng đồng nghĩa với việc giải phóng năng lượng đằng sau nhiều cảm thọ tiêu cực khác, do đó, hiệu ứng lan tỏa là liên tục. Ví dụ, một người đàn ông thành đạt và có học thức cao từng mắc chứng rất sợ độ cao – đến mức ám ảnh mãnh liệt. Đúng lúc ông ta học cách sử dụng cơ chế buông bỏ, thì ông cũng gặp nhiều vấn đề cấp bách trong cuộc sống. Sau khi học cách buông bỏ, ông mải giải quyết những cảm thọ và sợ hãi trước các vấn đề lớn trong cuộc sống và chưa có thời gian giải quyết sợ độ cao kéo dài suốt đời của mình. Sau đó, khi phải đứng trên mái nhà, ông ta rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng sợ hãi của mình đã giảm đi đáng kể. Ông rất vui mừng và đi đến mép mái nhà, rồi ngồi và bỏ chân xuống. Giờ đây, ông ta có thể trèo lên thang và ở trên mái nhà trong suốt một giờ mà không cảm thấy khó chịu. Điều này minh họa rằng, khi một sợ hãi được buông bỏ, tất cả những sợ hãi khác cũng giảm đi.

Tâm lý trị liệu nhắm tới cải thiện các mô thức rối loạn thần kinh. Nhưng, buông bỏ lại được thiết kế để triệt tiêu tận gốc những căn nguyên hình thành nên tất cả các trạng thái rối loạn  đó. Nó phá vỡ cấu trúc cơ bản của những cảm thọ và hành vi kém thích nghi. Nếu tâm lý trị liệu tìm cách cải thiện sự cân bằng trong rối loạn thần kinh, thì buông bỏ lại loại bỏ hoàn toàn rối loạn thần kinh.

Hạn chế của hầu hết các khung lý thuyết tâm lý trị liệu là người trị liệu bị giới hạn trong cái thế giới gọi là bản ngã khỏe mạnh, hoạt động tốt với tất cả những hạn chế của nó. Trong hệ hình này, một bệnh nhân khỏe mạnh được coi là người có cùng những vọng tưởng và hạn chế được xã hội và người trị liệu chấp nhận. Ngược lại, mục đích của cơ chế buông bỏ là siêu việt những vọng tưởng của thế gian và vươn tới sự thật tối thượng đằng sau nó - đó là Tự Chứng ngộ  (Self-Realization[i]) và khám phá nền tảng của chính tâm trí, nguồn gốc của mọi suy nghĩ và cảm thọ.

Mục tiêu của việc buông bỏ là loại bỏ chính nguồn gốc của mọi khổ đau và bất hạnh. Nghe có vẻ cực đoan và làm người ta kinh ngạc, và thực tế là như thế! Cuối cùng, tất cả những cảm thọ tiêu cực đều có cùng cội nguồn. Khi đủ nhiều cảm thọ tiêu cực được buông bỏ, cội nguồn đó sẽ tự bộc lộ. Khi chính cội nguồn đó được buông bỏ và không còn đồng nhất với nó, bản ngã sẽ tan biến. Do đó, cội nguồn của khổ đau mất chính nền tảng sức mạnh của nó.

Mỗi người chúng ta đều có giới hạn về số lượng cảm thọ tiêu cực mà chúng ta đã tích trữ được. Khi áp lực đằng sau một cảm thọ được buông bỏ, cảm thọ đó sẽ không còn xuất hiện nữa. Ví dụ, nếu sợ hãi liên tục được buông bỏ trong một khoảng thời gian, cuối cùng nó sẽ cạn kiệt. Khi đó, cảm thấy sợ hãi sẽ trở thành khó khăn hoặc gần như không thể. Cần tác nhân kích thích ngày càng lớn thì mới khơi dậy được nó. Sau cùng, một người đã buông bỏ được phần lớn sợ hãi thì thực sự phải nhọc công tìm kiếm mới thấy lại được cảm thọ đó. Năng lượng của sợ hãi đơn giản là không còn nữa. Tức giận cũng giảm dần theo thời gian, đến nỗi ngay cả hành động khiêu khích công khai cũng không còn khơi dậy được nó. Một người ít sợ hãi hay tức giận luôn cảm thấy chủ yếu là yêu thương và yêu thương các sự kiện, con người và những thăng trầm của cuộc đời.

Mục tiêu của buông bỏ là siêu việt. Tâm lý trị liệu chấp nhận những mức độ hành vi được coi là lành mạnh, trong khi từ quan điểm về tự do tuyệt đối, đây lại là những hành vi không thể chấp nhận được. Ví dụ, trong tâm lý trị liệu, mức độ sợ hãi, tức giận và kiêu ngạo tối thiểu có thể được coi là mức độ hoạt động cần thiết hoặc chấp nhận được và thậm chí có thể là “lành mạnh”. Nhưng như chúng ta đã thấy, tính chất phá hoại vốn có đằng sau những trạng thái thấp hơn này cuối cùng là không thể chấp nhận được—vì sức mạnh của buông bỏ có thể hoàn toàn siêu việt được chúng. Vượt ra ngoài “mức độ hoạt động chấp nhận được” đang chờ đợi vận mệnh lớn lao hơn của chúng ta: tự do tuyệt đối.



[i] Self-Realization – Kiến chân tính, nhận ra bản chất thật của mình là Chân Ngã (Self), vượt ngoài bản ngã cá nhân. Ở đây có sự chuyển dịch căn bản trong đồng nhất tính, tuy nhiên có thể vẫn còn cảm nhận vi tế về “người biết” hay “người chứng”. Enlightenment: trạng thái tan rã sâu rộng của bản ngã và sự ổn định ngày càng vững chắc trong Nhận Biết phi cá nhân. Full Enlightenment (Chứng ngộ viên mãn): sự ổn định hoàn toàn và không hồi chuyển trong Chân Ngã; không còn trung tâm chủ thể riêng biệt, không còn “người chứng ngộ”. Chỉ còn Hiện Hữu tự thân, bất biến và phi cá nhân.

 

 

No comments:

Post a Comment