ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
SỢ HÃI
Tất cả chúng ta đều biết sợ hãi với
nhiều khía cạnh khác nhau của nó. Chúng ta từng cảm thấy lo lắng và hoảng loạn mà
không rõ nguyên nhân. Chúng ta bị tê liệt và bất động trước sợ hãi, kèm theo là
tim đập nhanh và lo lắng. Lo lắng là sợ hãi mãn tính. Hoang tưởng là mức độ cực
đoan của nó. Ở những hình thức nhẹ hơn, chúng ta chỉ cảm thấy bồn chồn. Khi
nghiêm trọng hơn, chúng ta cảm thấy sợ hãi, thận trọng, bế tắc, căng thẳng,
nhút nhát, không nói nên lời, mê tín, phòng thủ, không tin, bị đe dọa, bất an, kinh
hãi, nghi ngờ, rụt rè, bị mắc kẹt, mặc cảm tội lỗi và sợ hãi khi đứng trước đám
đông. Có sợ đau đớn và sợ khổ, sợ sống, sợ yêu, sợ gần gũi, sợ bị từ chối, sợ
thất bại, sợ Thiên Chúa, sợ địa ngục, sợ bị đọa đày, sợ nghèo đói, sợ bị chế giễu
và chỉ trích, sợ bị mắc kẹt, sợ không đủ năng lực, sợ nguy hiểm, sợ bị phản đối,
sợ buồn chán, sợ trách nhiệm, sợ phải quyết định, sợ quyền lực, sợ hình phạt, sợ
thay đổi, sợ mất an ninh, sợ bạo lực, sợ mất kiểm soát, sợ chính cảm thọ về
chúng, sợ bị thao túng, sợ bị phát hiện, sợ độ cao, sợ tình dục, sợ phải sống một
mình và chịu trách nhiệm, và sợ chính sợ hãi.
Hơn nữa, còn một nguyên nhân làm cho ta sợ, nhưng mà nhiều người không nhận thức được: sợ bị trả thù. Nỗi sợ này nảy sinh từ mong muốn phản công, đánh trả, và tấn công. Khi buông bỏ sợ hãi, chúng ta nhận ra rằng đằng sau nó thường là thái độ tức giận đối với chính đối tượng làm cho ta sợ. Sẵn sàng buông bỏ sợ hãi và vượt qua nó đưa chúng ta lên tầng tiếp theo, đó là tức giận. Việc chúng ta có thể đối mặt với sự kết hợp giữa cảm thọ sợ hãi/tức giận và buông bỏ nó ngay lập tức đưa chúng ta lên tầng tự hào và can đảm.
Sợ nói trước công chúng
Một thí nghiệm tuyệt vời là buông
bỏ sợ hãi chính sợ hãi. Khi ngừng sợ hãi chính sợ hãi, chúng ta nhận thấy rằng
nó chỉ là một cảm thọ. Trên thực tế, sợ hãi dễ chịu hơn hẳn trầm cảm. Đáng ngạc
nhiên là, với một người đang bị trầm cảm nặng nề, sợ hãi tái xuất hiện lại là
đáng mừng. Thà cảm thấy sợ hãi còn hơn là hoàn toàn tuyệt vọng.
Muốn hiểu sợ hãi tự củng cố như
thế nào, chúng ta phải dừng lại và xem xét một trong những quy luật khác của tâm
thức: Những gì ta lưu giữ trong tâm trí đều có xu hướng tự hiển lộ. Có nghĩa là
chúng ta liên tục giữ trong tâm trí và liên tục dành năng lượng cho bất kỳ suy
nghĩ nào, thì nó sẽ có xu hướng xuất hiện trong cuộc sống của chúng ta đúng như
hình thức mà tâm trí chúng ta đã lưu giữ nó. Do đó, sợ hãi sinh ra những suy
nghĩ đầy sợ hãi. Chúng ta càng lưu giữ những suy nghĩ này trong tâm trí, thì sự
kiện đáng sợ càng có nhiều khả năng xảy ra trong cuộc sống của chúng ta, hiện
tượng này lại càng củng cố sợ hãi của chúng ta.
Khi còn là bác sĩ thực tập, tôi từng
sợ nói trước công chúng. Chỉ cần nghĩ đến việc phải đứng trước các đồng nghiệp
để trình bày về một trường hợp cụ thể, là giọng nói của tôi lại run lên vì sợ
hãi. Vì có sợ hãi như thế, tình huống không thể tránh khỏi là tôi phải trình
bày phác đồ điều trị trong cuộc họp. Sau khi đọc vài đoạn bệnh án, giọng tôi bắt
đầu run, yếu dần và cuối cùng là tắt hẳn. Chính sợ hãi được lưu giữ trong tâm
trí đã hiển lộ và tất nhiên, sự kiện này càng củng cố cảm giác sợ nói trước
công chúng và làm cho tôi thờ ơ trước việc nói trước đám đông. Từ đó về sau,
trong suốt nhiều năm, hệ thống niềm tin có tính hạn chế này đã hoạt động: “Tôi không
thể nói trước công chúng. Tôi không phải là người biết diễn thuyết trước công
chúng.” Tôi né tránh tất cả các cơ hội nói trước công chúng, kết quả là tôi mất
tự tin, né tránh các hoạt động và các mục tiêu trong sự nghiệp bị hạn chế.
Cùng với thời gian, sợ hãi chuyển
sang hình thức khác. Hệ thống niềm tin của tôi lúc đó là: “Tôi không muốn nói,
vì tôi có thể là một diễn giả kém cói và làm cho người ta chán.” Cuối cùng, có
lần tôi phải phát biểu trong một cuộc họp đông người. Đó là cơ hội để ngồi xuống
và tìm can đảm để đối mặt với sợ hãi. Cuộc đối thoại bên trong: “Cái xấu nhất
có thể xảy ra là gì? Vâng, anh có thể sẽ làm cho mọi người cực kỳ chán nản.” Nó
làm cho tôi nhớ lại tất cả những bài diễn văn chán ngắt của những người khác,
và sau đó tôi có thể chấp nhận là những bài diễn văn chán ngắt thực ra là phổ
biến và chắc chắn đấy không phải là ngày tận thế. Tôi đã buông bỏ thái độ kiêu
hãnh và phù phiếm đằng sau sợ hãi đó. Đúng thế, có thể bài diễn văn sẽ cực kỳ
nhàm chán.
Cuối cùng, ngày định mệnh cũng đã
tới. Bài phát biểu đã được viết ra giấy, chỉ cần đọc nữa là xong. Đúng là thuyết
trình ứng khẩu thì sẽ thú vị hơn, nhưng tôi thừa nhận và chấp nhận rằng mình sợ,
vì vậy, tôi đã viết sẵn bài phát biểu. Giây phút bước lên bục cũng đã tới. Dù sợ
hãi và đọc bằng giọng đều đều, nhưng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Sau đó, một
vài người bạn nói: “Về mặt kỹ thuật, bài phát biểu khá hay đấy, nhưng nghe chán
quá.” Tuy nhiên, chính tôi lại không quan tâm; tôi vui mừng vì đã có đủ can đảm
và chấp nhận đối mặt với tình huống đó và đã thực sự làm được việc này. Người
ta chán không phải là quan trọng. Quan trọng là tôi đã làm được. Lòng tự trọng
tăng lên vì đã vượt qua được sợ hãi và rụt rè, và tôi không còn phải
né tránh các buổi thuyết trình nữa. Thực tế, phương pháp này được hình thành bằng
cách bắt đầu tất cả các bài thuyết trình với lời cảnh báo dành cho cử toạ: “Tôi
là một trong những diễn giả nhàm chán nhất và thực tế là tôi có thể khá tẻ nhạt.”
Đáng ngạc nhiên là câu này lại làm cho cử toạ bật cười. Tiếng cười của cử toạ
thể hiện chấp nhận tính nhân văn mà tất cả chúng ta đều có, và do đó, xua tan
được sợ hãi.
Cũng phát hiện được rằng hài hước
rất có giá trị trong khi diễn thuyết trước công chúng. Đó là một cách để hòa
mình vào tính nhân văn của cử toạ và khám phá lòng trắc ẩn của họ. Một khi kết
nối với họ bằng lòng trắc ẩn, chúng ta có thể cảm nhận được sự khích lệ khi họ
cổ vũ chúng ta. Chúng ta yêu mến họ vì họ làm cho chúng ta bớt sợ và chấp nhận
chúng ta, và họ cũng yêu mến chúng ta vì chúng ta đã làm chính cái mà họ sợ. Khi
quá trình thăng lên qua các tầng cảm xúc này diễn ra, thì diễn thuyết trước
công chúng trở thành thú vị hơn. Chúng ta nhận ra rằng một phần của tâm trí có
thể là khá hài hước mỗi khi có cơ hội.
Cuối cùng, sau khi đã hoàn toàn
buông bỏ, không cần đọc bài phát biểu đã chuẩn bị trước nữa và phát biểu trở thành
ngẫu hứng. Với nhiều kinh nghiệm hơn, khả năng nói trước công chúng được cải
thiện, được nhiều nơi mời thuyết trình hơn. Tạo điều kiện hoàn thành nhiều mục
tiêu nghề nghiệp mà trước đây từng bị cản trở. Có những lần xuất hiện trên các
phương tiện truyền thông quốc gia, ví dụ như các chương trình trò chuyện trên
truyền hình. Từ chỗ quá sợ hãi đến nỗi không dám đọc bệnh án trước mặt một vài
thực tập sinh, đến việc tự tin nói chuyện trên truyền hình trước hàng triệu người
xem trong chương trình The Barbara Walter’s Show là một bước tiến lớn.
Tất cả chúng ta đều thu được lợi ích to lớn nếu giải thoát được chính mình, không để sợ hãi kìm hãm thì hoạt động sẽ hiệu quả hơn, vì quá trình học hỏi tự động lan sang nhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống. Chúng ta trở thành người có năng lực hơn, tự do hơn và hạnh phúc hơn, và cùng với đó là an bình ở bên trong.
Tác dụng chữa lành của yêu thương
Trong xã hội của chúng ta, sợ hãi
lan tràn như đại dịch, đến mức nó trở thành cảm xúc chi phối chủ đạo trên thế
giới. Sợ hãi cũng là cảm xúc chủ đạo trong hàng nghìn bệnh nhân được điều trị
trong nhiều thập kỷ thực hành lâm sàng (của tôi). Sợ hãi lan rộng và có nhiều
hình thức đến mức cuốn sách này không thể liệt kê hết tất cả các hình thức muôn
hình vạn trạng của nó.
Sợ hãi liên kết với sự sống còn của
chúng ta, và vì vậy nó có vị trí đặc biệt trong tâm trí của chúng ta. Đối với hầu
hết mọi người, sợ hãi bao trùm đến mức cuộc sống của họ thực sự là một chuỗi
các cơ chế bù trừ khổng lồ để chế ngự sợ hãi. Tuy nhiên, ngay cả như thế cũng
không đủ, vì vậy, các phương tiện truyền thông liên tục đưa ra cho chúng ta những
tình huống đáng sợ, như trong bản tin sáng nay: “Nhóm khủng bố đe dọa đầu độc
nguồn cung cấp thực phẩm của chúng ta.” Những tiêu đề như vậy xuất hiện liên tục,
như thể để cho tâm trí có thêm cơ hội chế ngự cảm xúc đáng sợ nhất trong tất cả
các cảm xúc. Như lời một bài hát: “Chúng ta bị mắc kẹt giữa sợ sống và sợ chết.”
Khi tất cả các cơ chế bù trừ của
tâm trí thất bại và sợ hãi bộc lộ trong tâm thức dưới dạng lo âu hoặc ám ảnh sợ
hãi, được chẩn đoán mắc chứng rối loạn thần kinh lo âu. Đáng chú ý là thuốc an
thần Valium là loại thuốc bán chạy nhất ở Mỹ.
Sợ hãi có xu hướng leo thang. Do
đó, bệnh nhân mắc chứng ám ảnh sợ hãi thể hiện sợ hãi ngày càng lan rộng sang
nhiều khía cạnh của cuộc sống, kết quả là lĩnh vực hoạt động ngày càng thu hẹp
hơn, và trong trường hợp nghiêm trọng, hoàn toàn bất động. Đây là trường hợp của
bệnh nhân tên là Betty.
Betty 34 tuổi, nhưng trông già
hơn hẳn, vì cô gầy và xanh xao. Cô bước vào phòng khám với hai tay cầm rất nhiều
túi giấy, sau đó người ta phát hiện bên trong có 56 chai thuốc khác nhau mua ở
cửa hàng dược phẩm, vitamin, thực phẩm bổ sung, cùng với một vài túi thức ăn đặc
biệt. Cô ta bắt đầu từ việc sợ vi trùng, và chẳng mấy chốc mọi thứ xung quanh cô
dường như đều có thể bị nhiễm khuẩn. Cô ta có nhiều sợ hãi về sức khỏe, sợ mắc
các bệnh truyền nhiễm, và giờ đây đã tiến triển thành sợ ung thư. Cô ta tin vào
tất cả các câu chuyện có tính hù dọa mà cô từng đọc, vì vậy cô sợ gần như mọi
loại thức ăn, không khí mà cô hít thở, và cả việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Cô ta mặc quần áo trắng vì sợ thuốc nhuộm vải.
Trong văn phòng, cô không bao giờ
ngồi vì sợ ghế bẩn. Mỗi khi cần đơn thuốc, cô đều yêu cầu viết từ giữa tập giấy
kê đơn, tức là phần chưa ai chạm tay vào. Hơn nữa, cô muốn tự mình xé giấy; cô
không muốn tôi chạm vào vì có thể tôi đã bị nhiễm khuẩn do đã bắt tay với bệnh
nhân trước đó. Cô luôn luôn đeo găng tay trắng. Cô yêu cầu được điều trị qua điện
thoại vì sợ phải đến văn phòng một lần nữa.
Tuần sau, cô nói qua điện thoại rằng
sợ phải thức dậy. Cô ấy gọi điện từ nhà khi vẫn nằm trên giường vì giờ cô ấy sợ
phải đi ra ngoài đường. Lúc này cô ấy bắt đàu sợ những kẻ cướp giật, hiếp dâm
và ô nhiễm không khí. Đồng thời, cô ta sợ phải nằm trên giường ở nhà vì sợ rằng
tình trạng của mình sẽ tồi tệ thêm và, để làm tăng thêm tất cả những sợ hãi
khác, cô ta sợ rằng mình đang mất trí. Cô ấy sợ rằng thuốc sẽ không giúp được
gì và có thể gây ra tác dụng phụ, nhưng cô ấy lại sợ không uống thuốc vì sợ rằng
mình sẽ không khoẻ lên được. Giờ đây, cô ấy nói rằng sợ mình có thể bị nghẹn
thuốc và đã ngừng uống cả thuốc thông thường, chứ chưa nói đến thuốc theo đơn.
Sự sợ hãi của cô ấy làm tê liệt đến
mức tất cả các biện pháp điều trị đều bị đình trệ hoàn toàn. Cô ấy không cho
tôi nói chuyện với gia đình mình. Cô ấy sợ rằng họ sẽ phát hiện ra rằng cô ấy
đang gặp bác sĩ tâm thần và nghĩ rằng cô ấy bị điên. Tôi hoàn toàn bối rối và vắt
óc suy nghĩ hàng tuần lễ về biện pháp mà tôi có thể giúp cô ta. Cuối cùng, tôi
buông bỏ. Tôi trải nghiệm sự nhẹ nhõm của việc phó thác, khi tôi hoàn toàn thôi
cưỡng cầu: “Tôi thực sự không thể làm gì hơn để giúp cô ấy. Điều duy nhất còn lại
là cứ yêu thương cô ấy thôi”.
Và, đó là những việc tôi đã làm.
Tôi chỉ nghĩ về cô ấy với tình yêu thương, và thường xuyên gửi cho cô ấy những
suy nghĩ yêu thương. Tôi dành cho cô ấy nhiều tình yêu thương nhất có thể khi
chúng tôi nói chuyện qua điện thoại và cuối cùng, sau vài tháng “trị liệu bằng
tình yêu”, cô ấy đã có đủ sức khỏe để đến văn phòng. Cùng với thời gian, cô ấy đã
khá lên, sợ hãi cùng với những mặc cảm bắt đầu giảm dần, mặc dù cô ấy chưa bao
giờ có bất kỳ tuệ giác nào. Cô ấy nói rằng mình rất sợ khi nói về các vấn đề
tâm lý, và vì vậy, trong suốt những tháng và cuối cùng là nhiều năm điều trị,
điều duy nhất tôi làm là yêu thương cô ấy.
Trường hợp này minh họa cho khái
niệm mà chúng tôi đã bàn trong chương nói về thờ ơ; tức là, một rung động cao
hơn, chẳng hạn như tình yêu, có tác dụng chữa lành đối với rung động thấp hơn,
chẳng hạn như trong trường hợp của bệnh nhân này, đó là sợ hãi. Tình yêu là cơ
chế của trấn an, và chúng ta có thể xoa dịu sợ hãi của người khác chỉ bằng cách
ở bên cạnh họ, và bằng năng lượng yêu thương mà chúng ta phóng chiếu ra và bao
quanh họ. Không phải những điều chúng ta nói, mà chính sự có mặt của chúng ta mới
có tác dụng chữa lành.
Chúng ta có thể học một trong những
quy luật khác của tâm thức: Sợ được chữa lành bởi tình yêu. Đây là chủ đề trung
tâm của loạt sách của bác sĩ tâm thần Jerry Jampolsky (ví dụ: Love is
Letting Go of Fear - Tình yêu là buông bỏ sợ hãi). Đây cũng là nền tảng của
quá trình chữa lành ở Trung tâm Chữa lành Thái độ (Attitudinal Healing Center) ở
Manhasset, Long Island, nơi tôi là người đồng sáng lập và cố vấn về y tế. Chữa
lành thái độ liên quan đến quá trình tương tác nhóm với những bệnh nhân mắc các
bệnh hiểm nghèo và nguy kịch, và toàn bộ quá trình chữa lành là buông bỏ sợ hãi
và thay thế nó bằng yêu thương.
Cơ chế chữa lành như thế cũng được
thể hiện bởi các vị thánh vĩ đại và những người chữa lành đã chứng ngộ - chính
sự hiện diện của họ đã có sức mạnh chữa lành, vì rung động mãnh liệt của tình
yêu mà họ tỏa ra. Sức mạnh chữa lành—nền tảng của chữa lành tâm linh—cũng được
truyền tải bởi những suy nghĩ yêu thương. Vô số người trong suốt chiếu dài của lịch
sử thành văn được chữa lành bằng chính tình yêu đã trở thành huyền thoại. Ví dụ,
trong lịch sử gần đây, Mẹ Teresa được ghi nhận là đã chữa lành cho rất nhiều
người bằng chính những cơ chế của yêu thương vô điều kiện và sự hiện diện của một
người đã chứng ngộ như Bà. Đối với những người không quen với các quy luật của tâm
thức, kiểu chữa lành này dường như là kỳ diệu. Nhưng đối với những người đã làm
quen với các quy luật của tâm thức, những hiện tượng như vậy là bình thường và
có thể dự đoán được. Tầng tâm thức cao tự nó có khả năng chữa lành, chuyển hóa
và soi sáng cho những người khác. Giá trị của cơ chế buông bỏ là, bằng cách buông
bỏ những rào cản đối với tình yêu, khả năng yêu thương của chúng ta tăng lên từng
bước một, và năng lượng yêu thương có khả năng chữa lành chính chúng ta cũng
như chữa lành những người khác.
Nhược điểm duy nhất của những
phương pháp chữa lành này là, thường thì chữa lành chỉ được duy trì khi ở gần
người có khả năng tỏa ra yêu thương ở tầng cao, nhưng bệnh sẽ tái phát khi người
ta ra khỏi sự hiện diện đó, trừ khi chính họ đã học cách nâng cao tâm thức của chính
mình.
“Vậy,” bạn có thể hỏi, “nếu việc
gửi những suy nghĩ yêu thương có sức mạnh chữa lành, tại sao chúng ta lại thấy
rất nhiều người bệnh trong bệnh viện, mà gia đình họ lại rất ân cần? Tại sao
tình yêu của gia đình lại không chữa lành được bệnh nhân?” Câu trả lời là hãy
xem xét những loại suy nghĩ mà gia đình đang gửi đến bệnh nhân. Khi bạn xem
xét, bạn sẽ thấy rằng đấy chủ yếu là những suy nghĩ đầy đau khổ và sợ hãi, kèm
theo mặc cảm tội lỗi và giằng co trong tâm thức.
Chúng ta có thể hình dung tình
yêu giống như ánh nắng mặt trời và những suy nghĩ tiêu cực giống như những đám
mây. Trong khi Đại Ngã cao hơn, vĩ đại hơn của chúng ta giống như mặt trời, tất
cả những suy nghĩ tiêu cực, nghi ngờ, sợ hãi, tức giận và oán hận mà chúng ta lưu
giữ làm lu mờ ánh sáng mặt trời và cuối cùng, ánh sáng chỉ còn rất yếu. Chính
Chúa Jesus Christ đã nói rằng tất cả chúng ta, với đức tin, đều có khả năng có
sức mạnh chữa lành. Một vị thánh, hay người có tầng tâm thức cao, theo định
nghĩa, là người đã gỡ bỏ được những đám mây tiêu cực và tỏa ra sức mạnh chữa
lành trọn vẹn của mặt trời. Đó cũng là lý do vì sao những người thánh thiện lại
có sức cuốn hút mạnh mẽ đến mức họ thu hút vô số người đến với sự hiện diện vật
lý của mình. Ví dụ, khi Sri Ramana Maharshi, một vị thánh Ấn Độ đã quá cố tổ chức
sinh nhật, 25.000 người đã đứng dưới cái nắng nhiệt đới oi bức, vai kề vai
thành một khối thống nhất để tôn vinh sự hiện diện của ông và chúc ông những điều
tốt lành.
Khi chúng ta liên tục buông bỏ kháng
sự lại sợ hãi của mình và cho phép chúng được buông bỏ, năng lượng bị ràng buộc
trong sợ hãi sẽ được giải phóng và lúc này trở thành sẵn sàng để tỏa sáng như là
năng lượng của tình yêu. Do đó, yêu thương vô điều kiện có sức mạnh lớn nhất,
và tình yêu đó là sức mạnh của những vị thánh đã được tôn vinh. Yêu thương vô
điều kiện cũng là sức mạnh của các bà mẹ và các ông bố, sự hiện diện của họ là rất
cần thiết cho việc trẻ em học cách yêu thương khi chúng lớn lên. Sigmund Freud
từng nhận xét rằng điều may mắn nhất có thể xảy ra với chúng ta khi lớn lên là
được làm con cưng của mẹ.
Còn những người không có may mắn
được trải nghiệm cảm giác được bao bọc trong tình yêu vô điều kiện trong khi đang
lớn lên thì sao? Nhiều người tin rằng nếu không có trải nghiệm này, thì bằng
cách nào đó chúng ta sẽ bị tổn thương hoặc tàn phế suốt đời; thực tế, quan niệm
này không đúng. Một người đã trải nghiệm nhiều tình yêu thương trong những năm
đầu đời sẽ ít sợ hãi hơn và có lợi thế hơn, nhưng yêu thương là có sẵn trong mỗi
chúng ta. Vì chính bản chất của tồn tại và bản chất của năng lượng sống chảy
qua chúng ta và cho phép chúng ta thở và suy nghĩ, cho nên tất cả chúng ta đều
có cùng một tầng năng lượng rung động của tình yêu bên trong chính mình.
Nếu, khi nhìn vào chính mình, chúng ta thấy rằng mình đã để cho trải nghiệm về bản chất của chính mình bị chặn lại bởi những sợ hãi quá lớn, thì chúng ta có thể khám phá lại tình yêu bên trong con người mình bằng cách sử dụng cơ chế buông bỏ và, do đó, buông bỏ những đám mây tiêu cực. Bằng cách khám phá lại tình yêu nội tâm này, chúng ta khám phá lại cội nguồn hạnh phúc đích thực.
Thu hồi “Bóng tối” (Shadow)
Một trong những rào cản đối với quá
trình phát triển cảm xúc là sợ hãi về những gì được chôn sâu trong vô thức của
chúng ta. Carl Jung gọi khu vực này, mà chúng ta không muốn nhìn nhận và thu hồi,
là “bóng tối”. Ông nói rằng tự ngã không thể được chữa lành và trọn vẹn trừ khi
chúng ta nhìn vào và thừa nhận bóng tối. Có nghĩa là ẩn sâu bên trong mỗi chúng
ta, trong cái mà Jung gọi là “vô thức tập thể[i]”, là tất cả
những gì chúng ta không muốn thừa nhận nhất về chính mình. Ông nói rằng, người
bình thường phóng chiếu bóng tối của mình ra thế giới và lên án nó, coi nó là
cái ác, nghĩ rằng vấn đề của họ là phải chiến đấu với cái ác trên thế gian này.
Trên thực tế, vấn đề chỉ đơn giản là thừa nhận sự hiện diện của những suy nghĩ
và xung động đó bên trong chúng ta. Bằng cách thừa nhận những suy nghĩ và xung
động, chúng sẽ trở thành tĩnh lặng. Khi đã tĩnh lặng, chúng sẽ không còn điều
khiển chúng ta theo lối vô thức nữa.
Khi nhìn vào sợ hãi về những điều
chưa biết, thực chất là sợ hãi về những gì nằm sâu trong vô thức, lúc này khiếu
hài hước là rất hữu ích. Một khi đã nhìn vào và thừa nhận, bóng tối không còn sức
mạnh nữa. Thực tế, chính sợ hãi trước những suy nghĩ và xung động đó mới ban
cho chúng sức mạnh. Một khi đã quen với bóng tối của mình, chúng ta không còn
phải phóng chiếu nỗi sợ của mình ra thế giới nữa, và chúng bắt đầu tan biến
nhanh chóng.
Điều gì khiến những chương trình
truyền hình bất tận — xoay quanh bạo loạn và những hình thức khác nhau của nó —
lại có sức hấp dẫn đến như thế? Đó là do những thứ đang được chiếu trên màn ảnh
— nơi an toàn — chính là toàn bộ những tưởng tượng vô thức bị cấm đoán trong
chính tâm hồn của chúng ta. Khi ta sẵn sàng nhìn vào những “bộ phim” ấy ngay
trên màn hình của chính tâm trí mình, và thấy rõ chúng thực sự bắt nguồn từ
đâu, sức hấp dẫn của loại “giải trí” này tự nhiên biến mất. Những người đã nhận
diện và chấp nhận nội dung trong phần “bóng tối” của chính mình sẽ không còn hứng
thú với tội phạm, bạo lực hay những thảm họa làm người ta sợ hãi nữa.
Một trong những rào cản, ngăn chặn
ta làm quen với những nỗi sợ trong chính tâm trí mình là sợ dư luận. Khao khát
được người khác chấp thuận diễn ra bên trong tâm trí ta như dòng tưởng tưởng
không bao giờ dứt. Ta đồng nhất mình với ý kiến của người khác, bao gồm cả các
hình tượng quyền uy, rồi hợp nhất chúng lại theo cách khiến ta nghe thấy chúng
như thể đó là ý kiến của mình về chính mình.
Khi nhìn vào sợ hãi, cần nhớ là
Carl Jung đã thấy “kho chứa” những điều bị cấm đoán này nằm trong phần bóng tối
như một phần của vô thức tập thể. Thuật ngữ “vô thức tập thể” có nghĩa là ai
cũng có những ý nghĩ và tưởng tượng như vậy. Không có gì là riêng biệt nơi mỗi
chúng ta khi nói đến cách ta biểu tượng hóa cảm xúc của mình. Ai cũng, một cách
thầm kín, sợ rằng mình là người ngu ngốc, xấu xí, không đáng được yêu thương,
và là người thất bại.
Vô thức không lịch sự. Nó suy
nghĩ bằng những khái niệm thô thiển. Khi nó nghĩ đến cụm từ “Giết chết tên vô dụng
kia!”, vô thức thực sự muốn nói như thế. Hãy nhìn sâu vào bên trong chính mình
lần tới khi ai đó cắt ngang ngay trước mặt bạn, và hình dung xem bạn thực sự sẽ
làm gì với người đó nếu bạn thành thật với chính mình và không kiểm duyệt hình ảnh
đang hiện lên trong tâm trí. Bạn muốn tông họ văng ra khỏi đường đi, phải thế không?
Nghiền nát chúng. Đẩy chúng xuống vực. Phải thế không? Đó là cách vô thức suy
nghĩ.
Lý do mà khiếu hài hước trở thành
hữu ích là do, khi nhìn vào những hình ảnh này, chúng trở thành buồn cười.
Không có gì khủng khiếp hết; đó chỉ là cách vô thức xử lý hình ảnh. Không có
nghĩa là bạn là một người xấu xa hay bạn có khả năng trở thành tội phạm. Nó chỉ
có nghĩa là bạn đã thành thật và đối mặt với cách thức hoạt động của tâm trí động
vật trong chiều không gian này. Không có ích gì khi trở nên kịch tính, tự chỉ
trích hay bi thảm về việc đó. Vô thức thô thiển và chưa được khai hoá. Trong
khi trí tuệ của bạn đi học lớp vỡ lòng, thì vô thức của bạn vẫn ở trong rừng rậm,
nơi nó vẫn đang đu đưa trên cành cây! Nhìn vào bóng tối không phải là lúc để trở
thành kiểu cách hay khó chịu. Cũng không phải là lúc để hiểu theo nghĩa đen, bởi
vì các biểu tượng của vô thức chỉ là như thế: chúng là biểu tượng, và bản chất
của chúng là nguyên thủy. Nếu sử dụng một cách có ý thức, chúng có thể giúp
chúng ta mạnh mẽ hơn thay vì cản trở chúng ta.
Cần rất nhiều năng lượng để giữ bóng
tối đã bị chôn vùi và kìm nén vô số sợ hãi của chúng ta. Kết quả là năng lượng
bị cạn kiệt. Ở tầng cảm xúc, điều này được thể hiện như là ức chế khả năng yêu
thương.
Trong thế giới tâm thức, đồng
thanh tương ứng đồng khí tương cầu, vì vậy sợ hãi thu hút sợ hãi, cũng như ngược
lại là, tình yêu thu hút tình yêu. Chúng ta càng lưu giữ nhiều sợ hãi, thì
chúng ta càng thu hút nhiều tình huống đáng sợ vào đời sống của mình. Mỗi sợ
hãi đều đòi hỏi thêm năng lượng để tạo ra cơ chế bảo vệ cho đến khi cuối cùng,
tất cả năng lượng của chúng ta bị đưa hết vào các biện pháp phòng thủ rộng lớn
của mình. Sẵn sàng đối mặt với sợ hãi và làm việc với nó cho đến khi thoát khỏi
nó sẽ mang lại phần thưởng ngay lập tức.
Mỗi người đều có một bể sợ hãi bị
kìm nén và đè nén. Bể sợ hãi này tràn vào tất cả các lĩnh vực trong đời sống của
chúng ta, tô màu tất cả các trải nghiệm của chúng ta, làm giảm niềm vui và phản
ánh chính nó trong các cơ trên khuôn mặt, ảnh hưởng đến ngoại hình, sức mạnh thể
chất và tình trạng sức khỏe của tất cả các cơ quan trong cơ thể. Sợ hãi kéo dài
và mãn tính dần dần làm suy yếu hệ thống miễn dịch của cơ thể. Với phương pháp
kiểm tra cơ thể động học, có thể chứng minh ngay lập tức rằng, một suy nghĩ sợ
hãi gây ra suy giảm đáng kể sức mạnh cơ bắp và làm rối loạn dòng năng lượng chảy
qua các kinh mạch năng lượng tới các cơ quan quan trọng. Mặc dù chúng ta biết rằng
nó hoàn toàn gây hại cho các mối quan hệ, sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta, chúng
ta vẫn bám víu vào sợ hãi. Tại sao lại như thế?
Chúng ta có những tưởng tượng vô
thức rằng sợ hãi đang giữ cho chúng ta sống; đấy là do sợ hãi gắn liền với toàn
bộ cơ chế sinh tồn của chúng ta. Chúng ta có ý nghĩ rằng, nếu chúng ta buông bỏ
sợ hãi, cơ chế phòng vệ chính của chúng ta, chúng ta sẽ trở thành dễ bị tổn
thương theo một cách nào đó. Trên thực tế, sự thật hoàn toàn ngược lại. Sợ hãi
là thứ làm cho chúng ta mù quáng trước những nguy hiểm thực sự. Trên thực tế, chính
sợ hãi là nguy hiểm lớn nhất mà cơ thể con người phải đối mặt. Chính sợ hãi và
mặc cảm tội lỗi mang tới bệnh tật và thất bại trong mọi lĩnh vực của đời sống.
Chúng ta có thể thực hiện những hành động bảo vệ tương tự xuất phát từ yêu thương chứ không phải từ sợ hãi. Chẳng lẽ chúng ta không thể chăm sóc cơ thể mình vì trân trọng và coi trọng nó, thay vì sợ bệnh và chết? Chẳng lẽ chúng ta không thể phục vụ người khác vì yêu thương, thay vì sợ mất họ? Chẳng lẽ chúng ta không thể lịch sự và nhã nhặn với người lạ vì quan tâm đến đồng loại, thay vì sợ đánh mất thiện cảm của họ? Chẳng lẽ chúng ta không thể làm tốt công việc vì quan tâm đến chất lượng công việc và đồng nghiệp? Chẳng lẽ chúng ta không thể làm tốt công việc vì quan tâm đến người nhận dịch vụ của mình, thay vì chỉ sợ mất việc hoặc theo đuổi tham vọng cá nhân? Chẳng lẽ chúng ta không thể đạt được nhiều hơn bằng cách hợp tác, thay vì cạnh tranh đầy sợ hãi? Chẳng lẽ chúng ta không thể lái xe cẩn thận vì tự trọng và quan tâm đến sức khỏe của chính mình và những người yêu thương mình, thay vì sợ tai nạn? Xét về mặt tâm linh, chẳng phải sẽ hiệu quả hơn nếu xuất phát từ tâm từ bi và đồng cảm với đồng loại, chúng ta quan tâm đến họ, thay vì cố gắng yêu thương họ vì sợ Chúa trừng phạt nếu không làm như thế?
Mặc cảm tội lỗi
Một hình thức sợ hãi đặc biệt là
cái mà chúng tôi gọi là mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm tội lỗi luôn gắn liền với cảm
giác sai trái và khả năng bị trừng phạt, dù là thực tế hay chỉ là tưởng tượng.
Nếu không có trừng phạt nào xảy ra trong thế giới bên ngoài, nó sẽ biểu hiện dưới
dạng tự trừng phạt ở tầng cảm xúc. Mặc cảm tội lỗi đi kèm với tất cả các cảm
xúc tiêu cực, và do đó, ở đâu có sợ hãi, ở đó có mặc cảm tội lỗi. Nếu bạn có một
ý nghĩ tội lỗi và nhờ ai đó kiểm tra sức mạnh cơ bắp của mình, bạn sẽ thấy cơ bắp
ngay lập tức yếu đi. Bán cầu não của bạn đã bị mất đồng bộ và tất cả các kinh mạch
năng lượng của bạn đều bị mất cân bằng. Do đó, tự nhiên nói rằng mặc cảm tội lỗi
là có tính phá hoại.
Nếu mặc cảm tội lỗi có tính phá
hoại như thế, thì tại sao lại có những lời ca ngợi dành cho nó? Tại sao những
người được gọi là chuyên gia lại coi mặc cảm tội lỗi là có lợi? Ví dụ, một bác
sĩ tâm thần từng viết một bài báo trên tạp chí ca ngợi mặc cảm tội lỗi, tuyên bố:
“Mặc cảm tội lỗi là tốt cho bạn.” Sau đó, ông bổ sung thêm vào tuyên bố này bằng
cụm từ “mặc cảm tội lỗi thích hợp.” Xin cùng xem mặc cảm tội lỗi thực sự là gì
và xem liệu chúng ta có đồng ý hay không.
Khi băng qua đường, bạn nhìn cả
hai hướng để xem có xe nào đang đến hay không. Thái độ cảnh giác bắt nguồn từ
đâu? Khi còn nhỏ, bạn được dạy rằng băng qua đường là “xấu”. Như vậy, chúng ta
thấy rằng mặc cảm tội lỗi thực sự là sự thay thế cho nhận thức về thực tại
trong một tâm trí chưa phát triển, chẳng hạn như của một đứa trẻ. Đó là một
hành vi được học hỏi, được cho là thực dụng: để ngăn ngừa sai lầm tiếp theo hoặc
lặp lại sai lầm. 99% mặc cảm tội lỗi không liên quan gì với thực tại. Trên thực
tế, những người ngoan đạo, hiền lành và vô hại nhất thường bị dày vò bởi mặc cảm
tội lỗi. Mặc cảm tội lỗi thực chất là tự lên án và tự phủ nhận giá trị của bản
thân mình như một con người.
Mặc cảm tội lỗi cũng phổ biến như
sợ hãi, và chúng ta cảm thấy mặc cảm tội lỗi dù chúng ta đang làm gì thì cũng
thế. Một phần trong tâm trí chúng ta nói rằng chúng ta thực sự nên làm việc gì đó
khác. Hoặc, dù chúng ta đang làm gì trong lúc này, chúng ta nên làm tốt hơn. Chúng
ta nên đạt điểm chơi golf tốt hơn. Chúng ta nên đọc sách thay vì xem tivi.
Chúng ta nên làm tình tốt hơn. Nấu ăn ngon hơn. Chạy nhanh hơn. Cao hơn. Mạnh mẽ
hơn. Thông minh hơn. Có học thức hơn. Giữa sợ sống và sợ chết là mặc cảm tội lỗi
trong khoảnh khắc này. Chúng ta tìm cách trốn tránh nó bằng cách không nhận thức
được nó thông qua kìm nén, ức chế, đổ lỗi cho người khác và trốn tránh thực tại.
Tuy nhiên, việc không nhận thức
được mặc cảm tội lỗi (ức chế) không giải quyết được vấn đề. Mặc cảm tội lỗi tái
xuất hiện dưới hình thức tự trừng phạt và bằng những vụ tai nạn, bất hạnh, mất
việc làm và mất các mối quan hệ, bệnh tật, mệt mỏi, kiệt sức, và vô số biện
pháp mà tâm trí tài tình tìm ra, dẫn đến mất niềm vui, hạnh phúc và sức sống.
Mặc cảm tội lỗi tượng trưng cho
chết chóc, cũng như tình yêu tượng trưng cho sự sống. Mặc cảm tội lỗi là một phần
của tự ngã nhỏ bé và là nguyên nhân sâu xa khiến chúng ta sẵn sàng tin vào những
điều tiêu cực về chính mình. Hạnh phúc và niềm vui trong ngày có thể bị phá hủy
ngay lập tức bởi một lời nhận xét tiêu cực từ một thành viên trong gia đình, bạn
bè hoặc hàng xóm. Bệnh tật về thể chất khó có thể tồn tại nếu không có mặc cảm
tội lỗi, và mặc cảm tội lỗi là phủ nhận sự ngây thơ bên trong của chúng ta.
Tại sao chúng ta lại tin vào quá
nhiều điều vô nghĩa? Phải chăng đó chính là ngây thơ mà ra? Phải chăng khi lớn
lên, chúng ta tin rằng những gì người khác nói với mình là sự thật? Và ngay cả lúc
này, chúng ta có còn tin rằng những gì người khác nói là sự thật hay không? Phải
chăng chúng ta đã tin vào hàng vạn lời nói dối và sẵn sàng tin thêm hàng vạn lời
nói dối khác vì ở bên trong, mình vẫn là người ngây thơ? Phải chăng chính sự
ngây thơ bên trong đó là lý do làm cho chúng ta dễ bị lợi dụng? Trên thực tế,
khi nhìn sâu vào bên trong chính mình, phải chăng chính vì ngây thơ mà chúng ta
tin rằng mình có tội?
Chính vì ngây thơ trong sáng nơi
nội tâm mà ta đã tin theo tất cả những điều tiêu cực của thế gian, để chúng bóp
nghẹt sức sống, làm lu mờ nhận biết về con người thật sự của mình, và khiến ta
chấp nhận sự nhỏ bé đáng thương mà ta đã an phận trong đó. Chẳng phải mỗi chúng
ta đều mang sự hồn nhiên của một đứa trẻ sơ sinh — không thể tự vệ, không có khả
năng phân biệt — nên chỉ có thể để mình bị “lập trình”, như một chiếc máy tính
hay sao?
Nhận ra sự kiện này có nghĩa là
trở thành có ý thức. Chúng ta nghe nói về các chương trình nâng cao tâm thức và
các buổi hội thảo cuối tuần để mở rộng tâm thức. Điều này có nghĩa là gì? Để có
được một số công thức phức tạp mới? Để bị lập trình bằng ý tưởng về sự thật huyền
nhiệm của người khác?
Hầu hết các chương trình nâng cao
tâm thức đều quy về điểm cốt yếu sau đây: hãy nhận thức được những gì chúng ta
đang tin, những gì mỗi ngày chúng ta đang chấp nhận. Hãy nhìn vào những gì
chúng ta đã bị lập trình và bắt đầu đặt câu hỏi về nó, tháo gỡ nó và buông bỏ
nó. Hãy thức tỉnh và giải phóng mình khỏi bị bóc lột và nô lệ bởi những lập
trình tiêu cực của thế gian. Chúng ta sẽ thấy rõ bản chất của nó, đó là nỗ lực
của những người khác nhằm kiểm soát chúng ta; bóc lột chúng ta; lấy tiền bạc, dịch
vụ, năng lượng, lòng trung thành của chúng ta; và chiếm đoạt tâm trí chúng ta. Cơ
chế mà điều này xảy ra đã được minh họa rất sinh động trong bộ phim Tron,
trong đó chính chức năng của “điều khiển trung tâm” (master control) là từng bước
lập trình để nô dịch.
Khi chúng ta thấy sự thật về cách
lập trình diễn ra, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta là một chiếc máy tính thuần
túy, trống rỗng. Chúng ta là không gian ngây thơ mà trong đó lập trình đang diễn
ra. Khi nhìn vào tất cả những điều này, chúng ta sẽ cảm thấy tức giận. Tức giận
còn tốt hơn là cam chịu, thờ ơ, trầm cảm và u sầu! Nó có nghĩa là nắm lấy quyền
kiểm soát tâm trí của chúng ta thay vì giao phó nó cho tivi, báo chí, tạp chí,
hàng xóm, những cuộc trò chuyện trên tàu điện ngầm, những lời nhận xét tình cờ
của người phục vụ, những thứ rác rưởi đi vào và những thứ rác rưởi đi ra. Những
gì đã đi vào ngân hàng ký ức của chúng ta là rác rưởi, và khi chúng ta thấy điều
này, chúng ta sẽ bớt sợ hãi hơn hẳn. Chúng ta sẽ tận hưởng việc bắt đầu để cho
cảm thọ trỗi dậy, nhìn nhận chúng đúng với bản chất của chúng, dọn sạch mọi thứ
rác rưởi, và buông bỏ tất cả.
Một khi đã nhìn sâu vào bên trong
chính mình và tìm thấy sự ngây thơ bẩm sinh bên trong, chúng ta sẽ thôi căm
ghét chính mình. Chúng ta sẽ ngừng lên án chính mình và ngừng tin vào những lời
lên án của người khác và những nỗ lực tinh vi của họ nhằm phủ nhận giá trị của
chúng ta với tư cách là một con người. Đã đến lúc lấy lại sức mạnh của chính
mình và ngừng trao nó cho bất kỳ kẻ lừa đảo nào lợi dụng sự sợ hãi của chúng ta
để moi tiền từ ví của chúng ta hoặc nô dịch chúng ta cho mục đích của họ, sống
dựa vào năng lượng của chúng ta. Thật dễ dàng thoát khỏi tất cả những sợ hãi đó
vì giờ đây chúng ta có quyền lựa chọn.
Chúng ta sợ rằng cuộc hành trình
khám phá nội tâm sẽ dẫn chúng ta đến sự thật khủng khiếp, tồi tệ nào đó. Trong
quá trình lập trình tâm trí của chúng ta, đây là một trong những rào cản mà thế
giới đã dựng lên nhằm ngăn cản, không cho chúng ta tìm ra sự thật thực sự. Có một
điều mà thế giới không muốn chúng ta biết, đó là sự thật về chính mình. Tại
sao? Vì khi đó chúng ta sẽ được tự do. Chúng ta sẽ không còn bị kiểm soát, thao
túng, bóc lột, vắt kiệt, nô lệ hóa, bị giam cầm, bị phỉ báng, hay bị tước đoạt
quyền lực nữa. Do đó, hành trình khám phá nội tâm bị bao phủ bởi một bầu không
khí bí ẩn và điềm báo xấu.
Sự thật thực sự về hành trình này
là gì? Sự thật thực sự là, khi chúng ta hướng vào bên trong và loại bỏ hết ảo
tưởng này đến ảo tưởng khác, hết lời nói dối này đến lời nói dối khác, hết
chương trình tiêu cực này đến chương trình tiêu cực khác, thì gánh nặng sẽ ngày
càng nhẹ hơn. Nhận thức về sự hiện diện của tình yêu ngày càng mạnh mẽ hơn.
Chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Cuộc sống ngày càng trở nên dễ dàng hơn.
Tất cả các bậc thầy vĩ đại từ thuở
ban đầu đều nói hãy nhìn vào bên trong và tìm ra sự thật, vì sự thật về bản chất
thực sự của chúng ta sẽ giải phóng chúng ta. Nếu những gì cần tìm thấy bên
trong chính chúng ta là điều gì đó đáng trách, điều gì đó thối nát, xấu xa và
tiêu cực, thì tất cả các bậc thầy vĩ đại trên thế giới sẽ không khuyên chúng ta
tìm kiếm ở đó. Ngược lại, họ sẽ bảo chúng ta tránh xa nó bằng mọi giá. Chúng ta
sẽ khám phá ra rằng tất cả những điều mà thế giới gọi là “ác” đều nằm ngay trên
bề mặt; chúng nằm ngay trên cùng, như lớp mỏng bên ngoài. Bên dưới những sai lầm
này là sự lầm lẫn. Chúng ta không thối nát— mà chỉ là vô minh.
Khi sợ hãi mặc cảm tội lỗi và
năng lượng đi kèm với nó được giải tỏa, chúng ta sẽ nhận thấy các bệnh tật và
triệu chứng trên cơ thể bắt đầu biến mất. Khả năng yêu thương chính mình dưới
hình thức lòng tự trọng gia tăng trở lại, và cùng với nó là khả năng yêu thương
người khác. Được giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi tái tạo năng lượng sống. Có thể
thấy một cách rõ rệt ở nhiều người bằng trải nghiệm tôn giáo mà được chuyển
hoá hoàn toàn. Giải thoát đột ngột khỏi mặc cảm tội lỗi bằng cách tha thứ là
nguyên nhân dẫn đến hàng ngàn trường hợp hồi phục khỏi các bệnh nghiêm trọng và
ngày càng nặng thêm. Chúng ta có đồng ý với quan niệm tôn giáo của họ hay không
không quan trọng. Quan trọng cần lưu ý là giảm bớt mặc cảm tội lỗi đi kèm với sự
hồi sinh của năng lượng sống, hạnh phúc và sức khỏe về mặt thể chất.
Khi nói đến chữa lành chính mình
và nâng cao sức khỏe cảm xúc, “thì nên thận trọng”. Chúng ta nhận thức được tất
cả những kẻ gieo rắc mặc cảm tội lỗi trong đời sống của mình và những ảnh hưởng
có hại mà họ gây ra.
Chúng ta có thể tự hỏi, liệu mình
không thể đạt được cùng một động lực hay hành vi xuất phát từ yêu thương thay
vì sợ hãi và mặc cảm tội lỗi? Có phải mặc cảm tội lỗi là lý do duy nhất khiến
chúng ta không dám đâm người hàng xóm? Tại sao chúng ta không thể từ chối đâm
người hàng xóm vì yêu thương và quan tâm đến họ như một con người ngây thơ,
đang nỗ lực trưởng thành nhưng cũng có thể mắc sai lầm giống như chính chúng
ta? Liệu việc tuân theo những giáo lý tôn giáo, dù là gì đi nữa, sẽ hiệu quả
hơn nếu được thực hiện xuất phát từ yêu thương và biết ơn, thay vì mặc cảm tội
lỗi và sợ hãi? Chúng ta có thể tự hỏi, rốt cuộc chúng ta cần mặc cảm tội lỗi để
làm gì? Chúng ta nhận được lợi ích gì từ mặc cảm tội lỗi? Phải chăng chúng ta
quá ngu ngốc đến nỗi chỉ hành động vì mặc cảm tội lỗi? Phải chăng chúng ta quá
vô thức? Phải chăng quan tâm đến cảm xúc của người khác không thể thay thế mặc
cảm tội lỗi như là động lực cho hành vi đúng đắn của con người?
Khi xem xét những vấn đề này và
nhìn vào nguồn gốc xã hội của chúng, chúng ta thấy rằng thời Trung Cổ vẫn chưa
kết thúc. Tòa án dị giáo chỉ đơn thuần khoác lên mình những hình thức tàn bạo mới
và tinh vi hơn. Chúng ta đã vô tình chấp nhận một hệ thống tiêu cực đang thống
trị hành tinh này. Việc kết tội và đổ lỗi cho người khác thực sự là một hình thức
tàn bạo, có phải thế không? Chúng ta đã cho phép người khác lập trình mình những
phương pháp tự hành hạ chính mình, và chúng ta có thể thấy rằng mình đã trả đũa
bằng cách mời gọi người khác tự hành hạ chính họ. Chúng ta đã để cho mình bị
thao túng bởi mặc cảm tội lỗi, và chúng ta lại sử dụng chính cơ chế mặc cảm tội
lỗi đó để cố gắng bóc lột và kiểm soát người khác.
Mức độ mà chúng ta không cho phép
mình trải nghiệm thực tại của Đại ngã đích thực được thể hiện qua thái độ ghen
tị đối với những người đã thực sự làm được việc đó. Chúng ta ghen với sự sống động
của họ trong những lĩnh vực mà chúng ta cảm thấy bất lực. Sự thật đáng suy ngẫm
này được thể hiện qua câu chuyện về người đàn ông đi dọc bãi biển và gặp một
ngư dân với một xô đầy cua. Ông ta nói với người đánh cá: “Ông nên đậy cái xô lại,
nếu không cua sẽ bò ra ngoài.” “Không cần đâu,” người đánh cá già thông thái
nói. “Ông thấy đấy, khi một con cua bò lên thành xô để ra ngoài, những con cua
khác sẽ vươn lên tóm lấy nó và kéo nó xuống. Vì vậy, không cần phải đậy nắp
đâu.”
Khi tiếp tục buông bỏ, chúng ta sẽ
trở nên nhẹ nhàng hơn và tự do hơn, chúng ta sẽ, không may là, nhận ra rằng bản
chất của thế giới giống như cái xô cua đó. Và, khi đó, toàn bộ mức độ tiêu cực
của nó sẽ trở nên rõ ràng. Khi chúng ta hoàn toàn nhận thức được món hàng mà
người ta đã bán cho mình, rất có thể chúng ta sẽ cảm thấy tức giận và khao khát
mãnh liệt được giải thoát khỏi những ràng buộc của tiêu cực.
[i] Vô thức tập thể
(Collective Unconscious): Thuật ngữ do nhà tâm thần học Carl Jung khởi xướng,
chỉ tầng sâu nhất của tâm thức con người, nằm bên dưới và bao quanh vô thức cá
nhân. Khác với vô thức cá nhân của Sigmund Freud (vốn được hình thành từ những
trải nghiệm và ký ức bị kìm nén của riêng mỗi người), vô thức tập thể là kho
tàng phi cá nhân, chứa đựng những xung năng bản năng và các nguyên mẫu
(Archetypes) — những hình mẫu cổ xưa, biểu tượng bẩm sinh được di truyền qua
nhiều thế hệ của nhân loại. Kho tàng này mang tính phổ quát, được chia sẻ chung
bởi toàn nhân loại mà không phụ thuộc vào chủng tộc hay văn hóa. Về bản chất,
các nguyên mẫu trong vô thức tập thể là những “cấu trúc rỗng” bẩm sinh; mỗi nền
văn hóa, thông qua dòng chảy lịch sử, sẽ “lấp đầy” các cấu trúc này bằng những
hình ảnh, biểu tượng và hệ thống thần thoại đặc sắc của riêng mình. Khái niệm
này lý giải vì sao những mô-típ thần thoại, tôn giáo và biểu tượng tương đồng lại
xuất hiện đồng loạt trên khắp thế giới, đồng thời giải thích xu hướng hành xử
giống nhau của con người trước các đại tự sự của đời sống (như sinh tử, người
hùng, người mẹ). Vô thức tập thể vận hành như một trường năng lượng phi thời
gian, định hình sâu sắc cuộc sống của mỗi cá nhân khi họ vô tình sống theo các
biểu tượng của nó và khoác lên chúng ý nghĩa từ trải nghiệm thực tế. Hệ quả này
tương thích một cách sâu sắc với nhận định của nhà tâm lý học người Pháp
Gustave Le Bon: dù được đặt vào bất kỳ nền văn hóa tân tiến nào, con người vẫn
mang theo và bộc lộ những xung năng hành vi cốt lõi của tổ tiên từ thời viễn cổ.
No comments:
Post a Comment