June 24, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (1)

 

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 


ĐÔI LỜI PHI LỘ CỦA NGƯỜI DỊCH

    Một va chạm nhỏ, một lời nói vô tình có thể làm bùng phát một cơn giận hay phản ứng tiêu cực làm hỏng cả một ngày, thậm chí gây hiểu lầm hay phá hỏng quan hệ được vun đắp trong suốt nhiều năm. Gia đình nào cũng thường xảy ra những giận dữ, trách móc mà nguyên nhân chỉ là những chuyện rất vụn vặt. Trong xã hội thì càng khủng khiếp hơn: bạo lực học đường, các em học sinh có thể đánh bạn đến mức phải nhập viện, thậm chí chết người; một va chạm nhỏ trên đường phố cũng có thể trở thành một trận cuồng phong với nhiều người tham gia…

    Trong nhiều năm, người viết những dòng này luôn luôn tự hỏi: Vì sao lại có quá nhiều bạo lực đến như thế? Phải chăng đó là căn tính dân tộc, hay áp lực thời hiện đại, hay đạo đức quá suy đồi… Tất cả đều có thể. Nhưng sau khi đọc cuốn sách này, tôi ngộ ra rằng: Chúng ta đã kìm nén và ức chế quá nhiều cảm thọ/cảm xúc tiêu cực. Mỗi người dường như đều là những cái nồi áp suất, chỉ đợi điều kiện để xì hơi ra. Hiện tượng bên ngoài chỉ là cái cớ. Nguyên nhân nằm ở bên trong mỗi người.

    Cho nên, tôi không coi đây là bản dịch thuần túy, mà coi quá trình dịch là soi chiếu Tâm thức của chính mình, nói chữ là tự tu tâm tính của mình; đồng thời tôi còn so sánh với một số truyền thống tôn giáo của phương Đông để chú giải các thuật ngữ do một học giả phương Tây biên soạn.

    Cũng có suy nghĩ rằng dường như người phương Tây ít kìm nén cảm xúc hơn người phương Đông. Cụ thể, họ thường nói: “Thank You” hay “Sorry”, họ đỡ cánh cửa cho người đi sau, hay gặp nhau ở hành lang hoặc trong thang máy người ta thường nói: “Good Morning”… đây có thể đều là những cái van xả “áp”.

    Dù sao mặc lòng, buông bỏ các cảm thọ khi nó vừa sinh khởi là biện pháp vô cùng hữu hiệu, nó khác với chữa trị sau khi đã xảy ra xung đột, đã bị trầm cảm hay bị bệnh, vì nó xử lý căng thẳng ngay từ gốc rễ. Đáng tiếc là hiện nay, các nhà xuất bản không còn mặn mà với việc xuất bản những cuốn sách kiểu này nữa, nhưng người viết những dòng này cho rằng: Xử lý cảm xúc nên trở thành môn học chính khóa ngay từ các bậc học phổ thông, mà nếu không được coi là chính khóa thì cũng là ngoại khóa bắt buộc.

    Rất mong các Friends trên cõi Face lan tỏa cuốn sách cực kỳ có ích này tới càng nhiều bạn bè thì càng tốt. Xin cảm ơn.

LỜI GIỚI THIỆU

     Cuốn sách này cung cấp cơ chế giúp khai mở những khả năng bẩm sinh của chúng ta để có được hạnh phúc, thành công, sức khỏe, an lành, trực giác, yêu thương (love[i]) vô điều kiện, vẻ đẹp, an bình nội tâm và sức sáng tạo. Những trạng thái và khả năng này vốn có sẵn trong mỗi người chúng ta. Chúng không phụ thuộc vào bất kỳ hoàn cảnh bên ngoài hay đặc tính cá nhân nào; chúng không đòi hỏi phải tin vào bất kỳ hệ thống tôn giáo nào. Không một nhóm người hay hệ thống duy nhất nào sở hữu an bình nội tâm, vì nó thuộc về linh hồn (spirit[ii]) của con người, đấy là do cội nguồn của chúng ta. Đây là thông điệp phổ quát của tất cả các đạo sư, giác giả và thánh nhân vĩ đại: “Vương quốc của Đức Chúa Trời ở trong bạn.” Tiến sĩ Hawkins thường nói, “Điều bạn đang tìm kiếm không khác Đại Ngã (Self[iii]) của bạn.”

Làm sao lại khó vươn tới một cái gì đó vốn là bẩm sinh trong chúng ta—một phần không thể thiếu của hiện hữu chân thực (true being[iv]) của chúng ta? Nếu chúng ta đã được ban tặng hạnh phúc thì vì sao lại có nhiều bất hạnh đến như thế? Nếu “thiên đường” ở trong chúng ta, thì vì sao chúng ta thường “cảm thấy địa ngục”? Làm sao để chúng ta có thể thoát khỏi vũng lầy của trạng thái bất an, cái làm cho hành trình tìm kiếm an bình nội tâm của chúng ta dường như là gian nan, giống như mật mía chảy ngược dốc trong một ngày lạnh giá? Thật tuyệt vời khi nghe người ta nói rằng an bình, hạnh phúc, niềm vui, yêu thương và thành công là những điều vốn có trong linh hồn của con người. Nhưng còn tất cả tức giận, buồn bã, tuyệt vọng, phù phiếm, ghen tị, lo lắng và những phán xét nhỏ nhặt hàng ngày làm lu mờ âm thanh tĩnh lặng tinh khiết bên trong chúng ta thì sao? Liệu có thực sự có biện pháp rũ bỏ vũng lầy này và trở thành con người tự do? Nhảy múa với niềm vui không bị cản trở? Yêu thương tất cả mọi sinh linh? Sống trong sự vĩ đại của mình và phát huy hết tiềm năng cao nhất? Trở thành một kênh dẫn của ân phước và vẻ đẹp trên thế gian này?

Trong cuốn sách này, Tiến sĩ Hawkins trình bày con đường dẫn đến tự do mà chúng ta khao khát nhưng lại khó vươn tới. Dường như như vươn tới một nơi nào đó đó bằng cách “buông bỏ” nghe như trái ngược với trực giác; tuy nhiên, ông chứng thực từ những trải nghiệm, cả lâm sàng lẫn cá nhân, rằng buông bỏ (surrender[v]) là con đường chắc chắn nhất để đưa người ta đến viên mãn trọn vẹn.

Nhiều người trong chúng ta được nuôi dạy với quan niệm cho rằng thành tựu trên thế gian và thậm chí cả trong lĩnh vực tâm linh tương liên với “lao động chuyên cần”, “cố gắng hết sức mình”, “sống bằng mồ hôi nước mắt”, và những châm ngôn khắt khe khác được thừa hưởng từ nền văn hóa thấm đẫm tinh thần cùa đạo đức Tin Lành. Theo quan điểm này, muốn thành công thì phải đau khổ, vất vả và nỗ lực: “không đau khổ thì không có thành quả”. Nhưng tất cả nỗ lực và đau khổ đó đã đưa chúng ta tới đâu? Chúng ta có an bình thực sự và sâu sắc hay không? Không. Vẫn còn đó mặc cảm tội lỗi bên trong, dễ bị tổn thương trước những lời chỉ trích của người khác, vẫn khao khát được trấn an, và oán hận trói buộc chúng ta.

Nếu bạn đang đọc cuốn sách này, có lẽ bạn đã đạt tới giới hạn của mình khi sử dụng cơ chế nỗ lực. Có lẽ bạn đã nhận ra rằng càng kéo sợi dây để buộc mình vào nơi mình muốn đến, sợi dây càng trở nên rối bời và sờn rách. Có thể bạn đang tự hỏi, “Liệu có cách nào dễ dàng hơn, nhưng tốt hơn không?” Bạn có sẵn sàng buông bỏ (to let go[vi]) sợi dây đó không? Sẽ như thế nào nếu sử dụng cơ chế buông bỏ thay vì cơ chế nỗ lực?

Tôi có thể chia sẻ trải nghiệm của một người có trình độ học vấn cao, đã thử nhiều phương pháp tự sửa mình khác nhau. Mặc dù thành công trong sự nghiệp, nhưng vẫn có những vấn đề về thể chất và cảm xúc dường như không bao giờ được cải thiện và cuối cùng đã đến điểm bùng phát. Cuộc gặp với Tiến sĩ David R. Hawkins và những tác phẩm của ông đã tạo ra hiệu ứng chữa lành bất ngờ và mạnh mẽ.

Lúc đầu, tôi đã hoài nghi. Sau khi đã tìm hiểu nhiều con đường tâm linh, triết học và tôn giáo khác nhau mà không đạt được kết quả như ý hoặc chỉ mang lại kết quả tạm thời, tôi bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm của Tiến sĩ Hawkins với suy nghĩ, “Có lẽ cũng sẽ giống như những người khác mà thôi.” Tuy nhiên, người tìm kiếm trong tôi nói: “Mình cứ thử xem. Có mất gì đâu?” Vì vậy, tôi đã đọc cuốn Power vs. Force: Trường năng lượng và những yếu tố ẩn quyết định hành vi của con người. Khi đọc xong cuốn sách này, tôi ngộ (realization[vii]) ra rằng: “Mình đã trở thành một người khác so với lúc cầm cuốn sách này lên.” Đó là năm 2003. Giờ đây, nhiều năm sau, hiệu ứng mang tính xúc tác vẫn đang tác động đến tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống của tôi.

Điều cuối cùng đã thuyết phục tôi về sự thật trong công trình của ông chính là những sự chuyển hóa trong chính tâm thức của tôi, cả về phương diện vật lý lẫn phi vật lý. Có những bằng chứng mang tính thực nghiệm mà tôi không thể phủ nhận: chữa lành chứng nghiện mà trước đây tôi không thể vượt qua, mặc dù đã có nhiều nỗ lực chân thành; thoát khỏi một số dị ứng (lông thú cưng, cây thường xuân độc, nấm mốc, sốt cỏ khô); buông bỏ những oán hận kéo dài, cùng với khả năng nhìn thấy những món quà được dấu kín trong những tổn thương của cuộc đời mà tôi đã trải qua; giảm bớt một số sợ hãi kéo dài suốt đời và chứng rối loạn lo âu tạo ra những hạn chế nghiêm trọng trong sự nghiệp và cuộc sống cá nhân của tôi; giải quyết một số xung đột nội tâm liên quan đến chấp nhận chính mình và mục đích của cuộc đời. Chính tôi và cả những người xung quanh tôi đều nhận thấy một cách cụ thể những bước đột phá lớn lao này, ở cả tầng vật lý và phi vật lý. Họ thường hỏi: “Bạn giải thích sự chuyển hoá này như thế nào?” Giờ đây, nếu gặp câu hỏi đó, tôi sẽ đề nghị họ đọc cuốn sách mới này, Letting Go: The Pathway of Surrender. (Để nó đi qua: Con đường của phó thác). Cuốn sách này trình bày những phương pháp thực tiễn của quá trình chuyển hoá nội tâm mà tôi đã trải nghiệm khi đọc những cuốn sách xuất bản trước đó của Tiến sĩ David Hawkins.

Để nó đi qua: Con đường của phó thác cung cấp cho chúng ta bản đồ dẫn đến một đời sống tự do hơn cho bất kỳ người nào sẵn sàng thực hiện cuộc hành trình. Nếu bạn áp dụng các nguyên tắc được mô tả trong cuốn sách này thì đời sống của bạn sẽ thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn. Không khó hiểu hay khó thực hiện. Không tốn kém gì hết. Không yêu cầu trang phục đặc biệt hay phải đi đến một đất nước xa xôi nào. Yêu cầu chính cho hành trình này là sẵn sàng buông bỏ chấp trước (attachment[viii]) vào những trải nghiệm trong cuộc sống hiện nay của bạn.

Như Tiến sĩ Hawkins giải thích, một phần “nhỏ” trong chúng ta chấp trước vào những thứ quen thuộc, dù nó có đau đớn hay kém hiệu quả đến mức nào. Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng tự ngã của chúng ta với chữ “s” viết thường thực sự thích một đời sống nghèo nàn và tất cả những tiêu cực đi kèm với nó: cảm thọ (feeling[ix]) không xứng đáng, bị phủ nhận, phán xét người khác và chính mình, tự cao tự đại, luôn luôn “thắng” và “đúng”, đau buồn về quá khứ, sợ hãi về tương lai, nuôi dưỡng vết thương, khao khát sự chắc chắn, và tìm kiếm tình yêu thay vì ban phát.

Liệu chúng ta có sẵn sàng tưởng tượng một cuộc sống mới cho chính mình, với đặc điểm là thành công một cách dễ dàng, không còn oán hận, biết ơn tất cả những gì đã từng xảy ra với chúng ta, có cảm hứng, yêu thương, niềm vui, những giải pháp mà hai bên cùng có lợi, hạnh phúc và thể hiện một cách sáng tạo? David Hawkins nói với chúng ta, một trong những trở ngại lớn nhất đối với hạnh phúc, là tin rằng hạnh phúc là không thể: “Chắc chắn phải có điều gì đó không ổn”; “Điều đó quá tốt, không thể là sự thật được”; “Nó có thể xảy ra với người khác nhưng không phải với tôi.”

Món quà mà một Đạo sư như David R. Hawkins mang đến cho chúng ta là: ta có thể nhìn thấy và trực tiếp trải nghiệm hiện hữu CHÍNH LÀ niềm hạnh phúc ấy; CHÍNH LÀ niềm hoan lạc vô biên ấy; CHÍNH LÀ sự bình an bất khả xâm phạm ấy. Cuốn sách được chấp bút vì chính ông đã trải nghiệm Sức mạnh đích thực (power[x]) của cơ chế mà nó mô tả. Việc đọc về và được ở bên cạnh một con người đã giải thoát như thế cho chúng ta chất xúc tác, niềm hy vọng và sự khởi đầu cho hành trình nội tâm của chính mình. Và vì vậy, mặc dù tự ngã nhỏ bé hoài nghi, vẫn có đó Đại Ngã đang vẫy gọi chúng ta. Trước tiên, chúng ta có thể nghe thấy tiếng gọi đó từ một tâm thức cao cấp như Tiến sĩ Hawkins, một người thầy, một người hướng dẫn, hoặc một giác giả đã chứng ngộ Đại Ngã. Sau đó, khi chúng ta có những trải nghiệm riêng của mình về sự thật, chữa lành và mở rộng, chúng ta nghe thấy tiếng gọi đó đến từ một nơi sâu thẳm ở bên trong. “Đại Ngã của sư phụ và Đại Ngã của đệ tử là một và như nhau,” Tiến sĩ Hawkins nói.

Ông phát phóng những sự thật của cuốn sách này. Là một người tìm kiếm nghiêm túc, nhận thấy phần lớn các tác phẩm tâm linh đương đại là khá hời hợt, tôi muốn xác minh tính xác thực của tác phẩm này. Quan trọng nhất là phải biết: tác giả có nói từ Chứng ngộ nội tâm thực sự hay không? Câu trả lời là “Có!” Những quan sát kỹ lưỡng được thực hiện trong nhiều năm phỏng vấn và thăm viếng xác nhận trạng thái cao cấp này. Trong cuốn sách này, ông nhắc nhở chúng ta về quy luật của tâm thức (consciousness[xi]): Tất cả chúng ta đều được kết nối ở tầng năng lượng, và rung động cao hơn (như yêu thương) tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến rung động thấp hơn (như sợ hãi). Tôi cảm nhận được sự thật của quy luật này mỗi khi ở bên ông; trường năng lượng của ông truyền tải tình yêu chữa lành và an bình sâu sắc. Như ông giải thích trong cuốn sách này, những trạng thái cao hơn này luôn sẵn có cho tất cả chúng ta, bất cứ lúc nào.

Cho dù chúng ta đang ở đâu trong cuộc đời này, cuốn sách sẽ soi sáng “bước tiếp theo”. Cơ chế buông bỏ mà Tiến sĩ Hawkins mô tả có thể áp dụng cho toàn bộ hành trình nội tâm: từ buông bỏ những oán hận thời thơ ấu đến sự buông bỏ cuối cùng, buông bỏ chính bản ngã. Do đó, cuốn sách này có ích như nhau cho các chuyên gia quan tâm đến thành công trên thế gian này, có ích cho thân chủ đang trị liệu tìm cách chữa lành các vấn đề cảm xúc, cho bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh và người tìm kiếm tâm linh tận tâm hướng đến Chứng ngộ. Ông khuyên tất cả chúng ta: bước đi quan trọng là thừa nhận rằng chúng ta có những cảm thọ tiêu cực như là hệ quả của thân phận con người, và sẵn sàng nhìn nhận chúng mà không phán xét. Trạng thái nhận thức phi nhị nguyên (non-dual awareness[xii]) cao hơn có thể là mục tiêu của chúng ta. Nhưng làm sao xử lý cái “tự ngã nhỏ bé” nhị nguyên dai dẳng muốn chúng ta nhìn nhận bản thân mình là “tốt hơn” hay “tệ hơn” người khác?

Trong mười cuốn sách trước đó, Tiến sĩ Hawkins đã mô tả trạng thái phi nhị nguyên của Chứng ngộ với nhận thức (awareness[xiii]) thuần khiết hiếm có. Như ông nói một cách hài hước khi bắt đầu nhiều bài giảng: “Chúng ta bắt đầu từ điểm cuối”. Thật vậy, trong các bài giảng và sách của mình, ông đã làm sáng tỏ triệt để những trạng thái tâm thức cao nhất, là đỉnh cao của quá trình tiến hóa nội tâm của con người.

Giờ đây, trong cuốn sách được xuất bản vào những năm cuối đời, ông đưa chúng ta trở lại điểm xuất phát chung: thừa nhận sự tồn tại của tự ngã nhỏ bé. Chúng ta phải bắt đầu từ nơi mình đang đứng để đến được nơi mình muốn đến! Nếu chúng ta muốn đi từ đây đến đó, chúng ta sẽ không đến nơi nhanh hơn nếu tự lừa dối mình và nói rằng mình đang bắt đầu từ gần đó. Bằng cách nghĩ rằng mình gần mục tiêu hơn thực tế, chúng ta thực sự làm cho hành trình trở thành dài hơn. Như ông giải thích trong cuốn sách này, cần có can đảm và trung thực với chính mình để nhìn thấy cái tiêu cực và nhỏ bé trong con người mình. Chỉ khi chúng ta có thể thừa nhận cái tiêu cực mà mình thừa hưởng từ bản chất con người, chúng ta mới có khả năng buông bỏ và được giải thoát khỏi nó. Chỉ cần sẵn sàng thừa nhận và chấp nhận phần đó trong trải nghiệm của con người. Bằng cách chấp nhận nó, chúng ta có thể siêu việt nó - Tiến sĩ Hawkins chỉ cho chúng ta con đường.

Trong cuốn sách có tính thực tiễn cao này, ông làm sáng tỏ kỹ thuật giúp chúng ta siêu việt tự ngã nhỏ bé và vươn tới tự do mà chúng ta hằng mong ước. Ông nói, trạng thái tự do nội tâm và hạnh phúc thuần khiết này là “quyền bẩm sinh” của chúng ta. Khi đọc, chúng ta được khích lệ và truyền cảm hứng từ những ví dụ lâm sàng thực tế mà ông chia sẻ từ nhiều thập kỷ hành nghề tâm thần học của mình. Trong mỗi trường hợp, chúng ta đều thấy sức mạnh của phó thác được áp dụng vào hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống: các mối quan hệ, sức khỏe thể chất, môi trường làm việc, hoạt động giải trí, quá trình tâm linh, đời sống gia đình, tình dục, chữa lành cảm xúc và cai nghiện.

Chúng ta học được rằng câu trả lời cho những vấn đề mà mình đang gặp nằm trong chính chúng ta. Bằng cách buông bỏ những rào cản nội tâm (inner blocks[xiv]), sự thật của Đại Ngã bên trong sẽ tỏa sáng và con đường dẫn đến an bình sẽ được mặc khải. Các bậc thầy tâm linh khác cũng nhấn mạnh rằng vun đắp an bình nội tâm là giải pháp thực sự duy nhất để giải quyết những khó khăn cá nhân, cũng như các xung đột tập thể: “Trước hết, hãy giải trừ vũ khí ở bên trong, sau đó mới đến giải trừ vũ khí ở bên ngoài” (Đức Đạt Lai Lạt Ma); “Hãy là sự thay đổi mà bạn muốn thấy trên thế gian này” (Gandhi). Ý nghĩa rất rõ ràng. Vì tất cả chúng ta đều là một phần của toàn thể, khi chúng ta chữa lành điều gì đó trong chính mình, là chúng ta cũng chữa lành điều đó cho thế giới. Mỗi tâm thức cá nhân được kết nối với tâm thức tập thể ở tầng năng lượng; do đó, chữa lành cá nhân dẫn đến chữa lành tập thể. Tiến sĩ Hawkins có thể là người đầu tiên tìm cách hiểu nguyên tắc này dưới góc độ ứng dụng khoa học và lâm sàng. Mấu chốt là: bằng cách thay đổi chính mình, chúng ta thay đổi thế giới. Khi chúng ta trở thành yêu thương hơn từ bên trong, chữa lành sẽ diễn ra ở bên ngoài. Giống như mực nước biển dâng cao nâng tất cả các con tàu, thì sự toả sáng của yêu thương vô điều kiện trong trái tim mỗi người cũng nâng đỡ toàn bộ sự sống. 

**** 

Tiến sĩ David R. Hawkins là một tác giả, bác sĩ tâm thần, bác sĩ lâm sàng, đạo sư tâm linh và nhà nghiên cứu tâm thức nổi tiếng thế giới. Chi tiết về cuộc đời phi thường của ông được trình bày trong phần “Về tác giả” ở cuối sách. Tác phẩm độc đáo này của ông tỏa sáng từ một suối nguồn của tâm từ bi phổ quát và tận hiến cho việc giảm bớt đau khổ trong mọi khía cạnh của cuộc đời. Món quà mà tác phẩm của Tiến sĩ Hawkins mang lại cho quá trình tiến hóa của nhân loại vượt xa những gì có thể diễn tả bằng lời.

Trạng thái Chứng ngộ là trọn vẹn hoàn toàn trong phúc lạc, đến mức người đó sẽ không bao giờ rời bỏ nó trừ khi hoàn toàn hiến dâng tình yêu cho Thiên Chúa và cho đồng loại, để chia sẻ món quà mà mình được ban tặng. Cuốn sách này và tất cả các tác phẩm của ông trên thế gian này nói về buông bỏ là kết quả của sự hiến dâng đó. Như bạn sẽ thấy trong một chương của cuốn sách này, phó thác sâu sắc tạo điều kiện để ông khôi phục lại tâm thức cá nhân để hoàn thành những cam kết trên thế gian này. Trạng thái một thể (oneness[xv]) không thể mất đi hay bị bỏ rơi, nhưng tình yêu phi thường phải được hướng đến thách thức của việc diễn đạt bằng lời điều không thể diễn đạt. Bạn sẽ nhận thấy rằng một số đại từ của ông không phù hợp với quy tắc ngữ pháp—ví dụ, “cuộc sống của chúng ta”—nhưng chúng phản ánh đúng trải nghiệm về một trạng thái tâm linh thấu hiểu sự hợp nhất vô ngã của tất cả sự sống. Việc Tiến sĩ Hawkins quay trở lại với thế giới logic và ngôn từ để chia sẻ “Bản đồ Tâm thức” với chúng ta—để chúng ta cũng có thể hoàn thành vận mệnh của mình—nói lên rất nhiều về tình yêu vị tha của ông dành cho nhân loại. Bằng cách chỉ cho chúng ta con đường giải thoát, Tiến sĩ Hawkins cho chúng ta cơ hội vươn tới điều đó.

 

Cảm ơn Tiến sĩ Hawkins vì món quà của phó thác hoàn toàn này.

 

Fran Grace, Tiến sĩ, biên tập viên.

Giáo sư Nghiên cứu Tôn giáo và

Người quản lý Phòng Thiền

Đại học Redlands, California

Giám đốc Sáng lập, Viện

Đời sống Chiêm nghiệm

Sedona, Arizona

Tháng 6 năm 201


 

 

 



[i] Love (Tình yêu / Yêu thương): Ngôn từ thế gian thường hiểu “Tình yêu” gắn liền với các trạng thái của bản ngã như sở hữu, kiểm soát và sợ mất. Đây là trạng thái nằm dưới tầng 500 trên thang đo tâm thức của David Hawkins.

Ở tầng cao hơn, “Yêu thương vô điều kiện” (Unconditional love) là yêu thương vì sự hiện hữu của đối tượng, không phụ thuộc vào phẩm chất của chính đối tượng; ví dụ dễ thấy nhất là người mẹ tới thăm người con bị tù đày — dù anh ta đã làm gì thì mẹ anh vẫn thương yêu anh chẳng khác gì đứa trẻ thuở đầu đời. Nhưng người mẹ vẫn còn mong muốn, ví dụ con sẽ cải tạo tốt, được giảm án..v..v. Đây là trạng thái nằm trên tầng 540 trên thang đo tâm thức của David Hawkins.

Còn một tầng nữa, mà các truyền thống tâm linh phương Đông thường sử dụng là “Từ bi” (Compassion) để chỉ trạng thái thuần khiết hơn — tình thương vô vị kỷ, không phân biệt đối xử và không đòi hỏi đền đáp. Theo các bậc tu hành, từ bi không phải là sự yếu đuối hay cảm thương ủy mị, mà là nguồn sức mạnh vĩ đại được xây dựng trên nền tảng của sự thấu hiểu và trí tuệ. Đây là trạng thái nằm từ tầng 600 trở lên trên thang đo tâm thức của David Hawkins.

Trong bản dịch này, tùy vào ngữ cảnh, Love sẽ được chuyển ngữ linh hoạt thành “Tình yêu” (khi nói về trạng thái cảm xúc trong hệ nhị nguyên) hoặc “Yêu thương” (khi mô tả trường năng lượng vô điều kiện, vô vị kỷ).

[ii] Trong bản dịch này, thuật ngữ Spirit được chuyển ngữ linh hoạt thành Tinh thần, Tâm linh hoặc Tánh linh tùy theo ngữ cảnh.  1. Tinh thần (Spirit - thuộc phạm vi tâm trí Mind/Mental). Phạm vi: Dưới tầng 500 (Đặc biệt là các tầng 400 - Lý trí). Bản chất: Liên quan đến tư duy, thái độ, ý chí cá nhân. Nó vẫn nằm trong sự cưỡng ép của “Bạo lực - Force” hoặc sự nỗ lực của bản ngã. Ví dụ: Tinh thần trách nhiệm, tinh thần cầu tiến. Đây là cách tâm trí vận hành để định hướng cuộc sống. 2. Tâm linh (Spirituality/Spiritual Dimension). Phạm vi: Từ tầng 500 trở lên (Tình yêu vô điều kiện, Minh triết). Bản chất: Là chiều kích thực tại phi tuyến tính. Khi nói về “Đời sống tâm linh”, chúng ta đang nói về sự kết nối với Một thể (Oneness), nơi Sức mạnh đích thực (Power) bắt đầu thay thế cho Bạo lực (Force). 3. Tánh linh (Spirit - thuộc phạm vi Bản thể (Essence/Beingness)). Phạm vi: Trạng thái phi hình tướng, các tầng cực cao hoặc trải nghiệm thực chứng trực tiếp. Bản chất: Là Bản thể gốc, cái thực thể thuần khiết thoát ly khỏi sự định nghĩa của thân xác và tâm trí. Ứng dụng: Dùng khi mô tả Spirit như một "chủ thể" phi vật chất (như khi Hawkins đi xuyên tường). Nó không phải là một “thái độ” (Tinh thần), cũng không chỉ là một “chiều kích” (Tâm linh), mà chính là Đại ngã chân thực đang trải nghiệm sự tự do.

[iii] Self (Đại ngã/Chân ngã, chữ S viết hoa) tương đồng hoàn toàn với khái niệm Bản lai diện mục (Mặt mũi xưa nay) trong Thiền tông. Nói ngắn gọn: Đó là bản thể gốc rễ của bạn trước khi bị suy nghĩ, cảm xúc và bản ngã che lấp — là cái thực tại thuần túy vẫn luôn ở đó, chưa từng sinh ra và cũng không bao giờ mất đi. Còn self (s viết thường) là tự ngã với bản chất là một tập hợp các ảo tưởng, thói quen suy nghĩ, cảm thọ và ký ức mà chúng ta lầm tưởng là “chính mình”. Nó là một cấu trúc của tâm trí dựa trên sự tách biệt (tôi và thế giới). Đặc điểm: Luôn đòi hỏi, sợ hãi, phán xét và bị giới hạn bởi thời gian. Nó hoạt động bằng Bạo lực thay vì Sức mạnh đích thực và là rào cản chính ngăn cản chúng ta nhận ra Đại Ngã. Tóm lại: Nếu Self là bầu trời vĩnh cửu, thì self chỉ là những đám mây trôi nổi, luôn biến đổi và che lấp ánh mặt trời.

[iv] True Being - trong bản dịch này không chỉ mang nghĩa “bản thể” theo triết học, mà chỉ trạng thái Hiện hữu chân thực vốn có của con người trước khi bị đồng hóa với bản ngã, ký ức và các cấu trúc tâm lý. Khái niệm này gần với: “Chân ngã” trong một số truyền thống tâm linh, “Phật tính” trong Phật giáo Đại thừa, hoặc trạng thái “I Am” thuần khiết trước mọi định danh cá nhân. Tuy nhiên, “True Being” không nên bị hiểu như một “cái tôi cao cấp hơn”, mà là chính nền tảng Hiện hữu tĩnh lặng, sáng tỏ và vô điều kiện nằm phía sau mọi trải nghiệm của bản ngã. Trong nhiều trường hợp, thuật ngữ này được chuyển ngữ linh hoạt là: Chân thể, Hiện hữu chân thực, Bản thể chân thật, Chân tính, tùy theo văn cảnh. True Being không phải là một khái niệm để suy nghĩ về, mà là một trạng thái để trực nhận.

[v] Surrender/surrender to - Trong ngữ cảnh tâm linh, surrender thường được dịch là buông bỏ/phó thác. Ở đây, nó chỉ sự từ bỏ khuynh hướng kiểm soát của bản ngã, không còn cố chấp giữ lấy ý muốn riêng của mình. Tuy nhiên, khi động từ này đi kèm với giới từ “to” (surrender to), ý nghĩa trở nên rõ ràng và tích cực hơn. Lúc này, nó không chỉ đơn thuần là buông bỏ, mà là “phó thác” — tức là trao mình cho một Thực tại cao hơn. Vì vậy trong bản dịch này: surrender → buông bỏ; surrender to → phó thác (cho…). Trong nhiều truyền thống tâm linh, trạng thái này thường được diễn đạt giản dị là: “để cho Trời quản,” “để cho Thiên Chúa lo liệu,” hoặc “để Sư phụ an bài.” Ý nghĩa cốt lõi không phải là thái độ thụ động hay buông xuôi, mà là tin cậy sâu sắc, khi cái tôi cá nhân lắng xuống và con người thuận theo sự dẫn dắt của trí tuệ hay ý định cao hơn.

[vi] To let go/letting go - Trong nhiều bản dịch tâm linh, letting go thường được dịch là “buông bỏ.” Tuy nhiên, cách hiểu thông thường của “buông bỏ” dễ gợi cảm giác rằng ta đang nắm giữ một điều gì đó rồi chủ động thả nó ra. Trong kinh nghiệm thực hành nội tâm, ý nghĩa của letting go lại tinh tế hơn. Nó không phải là một hành động cố ý “buông”, mà gần với việc không bám giữ, để cho mọi cảm xúc, ý nghĩ hay trạng thái tự nhiên đi qua. Vì vậy, có thể hiểu letting go trong thực hành như là “cho nó đi qua.” Tâm khi ấy giống như tấm gương: có vật thì có hình, vật đi qua thì hình tự mất. Không cần xua đuổi, cũng không cần giữ lại. Do đó, trong bản dịch này “letting go” vẫn được dùng là “buông bỏ”, nhưng người đọc nên hiểu rằng đó không phải là gắng sức để buông, mà là không nắm giữ – để mọi hiện tượng tự nhiên đi qua trong nhận biết. Trong các giáo lý Phật giáo chúng ta có thể thấy thuật ngữ đồng nghĩa là “xả/xả bỏ”. “Buông bỏ” KHÔNG phải là làm cho cảm xúc biến mất. Mà là không còn chống lại việc nó đang tồn tại. Letting Go không phải là cuốn sách thay đổi thế giới, nhưng nếu đủ người thực hành nó, thế giới xung quanh họ sẽ tự nhiên trở nên nhẹ nhàng hơn.

Trong các truyền thống tôn giáo phương Đông tha thường nghe nói: “Bất động tâm trước thất tình lục dục”. Liên quan giữa “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” và “Bất động tâm trước thất tình lục dục” chính là quan hệ giữa Phương pháp (Hành động) và Kết quả (Trạng thái). Nếu “Bất động tâm” là cái đích đến của tâm trí tự tại, thì “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” chính là chiếc chìa khóa kỹ thuật để mở cánh cửa đó.

Liên hệ này thể hiện rõ qua cấu trúc vận hành của Tâm thức như sau:

1. Bản chất của “Cảm thọ” và “Thất tình lục dục”

Để thấy rõ mắt xích liên hệ, ta cần nhìn vào tiến trình vi tế khi tâm trí tương tác với thế giới:

Lục dục (Sáu ham muốn): Khi sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, ý nghĩ).

Cảm thọ (Feeling): Một cảm thọ sẽ xuất hiện trên thân và tâm (dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính) ngay lập tức. Đây là lúc “cảm thọ sinh khởi”.

Thất tình (Bảy trạng thái cảm xúc): Nếu ta đồng nhất mình với cảm thọ đó, bản ngã sẽ nhảy vào cấu xé: dính mắc vào cái dễ chịu (mừng, thương, vui) hoặc phản kháng cái khó chịu (giận, buồn, sợ, ghét). Bảy cảm xúc này chính là các hệ lụy của tâm trí nhị nguyên.

2. Cơ chế liên quan: Cắt đứt chuỗi phản ứng dây chuyền

Khi thực hiện việc “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi”, là ta đang thực hiện một cú cắt xung lực ngay từ gốc rễ: [Tiếp xúc] [Sinh khởi Cảm thọ] (Cắt tại đây) [Thất tình không thể hình thành]. Để nó đi qua (Letting go) ở tầng vi tế: Khi một cơn giận hay một ham muốn (lục dục) vừa chớm xuất hiện dưới dạng một áp lực hay một cảm thọ trên thân thể, người tỉnh thức không đè nén, không nuôi dưỡng nó bằng suy nghĩ, mà chỉ đơn giản là nhận biết và để nó đi qua.

Hệ quả là “Bất động tâm”: Vì cảm thọ vừa sinh khởi đã bị hóa giải, nó không đủ năng lượng để phát triển thành một cơn bão cảm xúc (thất tình). Tâm trí không bị kéo đi, không bị dao động. Đó chính là trạng thái Bất động tâm.

Góc nhìn định chuẩn (Hawkins): Việc chấp trước vào “thất tình lục dục” giữ tâm thức lẩn quẩn ở các tầng năng lượng dưới tầng 200 (Sợ hãi, Khao khát, Giận dữ). Kỹ thuật “buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” là hành động liên tục xả bỏ các áp lực năng lượng thấp. Khi các trường năng lượng mang tính tiêu hao này không còn chỗ bám víu, tâm thức tự động định vị ở tầng từ 500 trở lên — tĩnh lặng và Bất động tâm (tầng 600 - An bình/An lạc) trở thành trạng thái tự nhiên, không cần nỗ lực cưỡng ép.

Nói tóm lại, “Buông bỏ cảm thọ ngay khi nó vừa sinh khởi” chính là tiến trình hành động trong từng khoảnh khắc (vi mô) để duy trì cái gốc của “Tâm bất động” trước mọi biến động của thế gian (vĩ mô).

[vii] Realization – Ngộ/Thể ngộ: là sự trực nhận nội tâm về một chân lý vốn đã hiện hữu. Đây không phải là suy luận tri thức hay lý giải kinh văn, mà là sự “thấy ra” một cách tức thời.

[viii] Attachment – Chấp trước. Chấp trước là trạng thái tâm khi con người bám víu vào một đối tượng, một ý niệm hay một cảm xúc, và tin rằng mình không thể sống an ổn nếu thiếu nó. Khi ấy, tâm không còn tự do; nó bị ràng buộc bởi nhu cầu phải giữ lấy, đạt được, hoặc bảo vệ điều mình bám víu. Chấp trước có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: chấp trước vào vật chất (tiền bạc, tài sản, địa vị); chấp trước vào tình cảm (muốn người khác phải yêu thương, công nhận mình); chấp trước vào quan điểm và niềm tin (không chấp nhận ý kiến khác); chấp trước vào hình ảnh về bản thân (muốn mình luôn đúng, luôn tốt, luôn được đánh giá cao). Điểm chung của mọi chấp trước là: tâm trở nên phụ thuộc. Khi điều mình bám víu được duy trì, ta cảm thấy vui; khi nó bị mất, bị đe dọa hoặc không đạt được, tâm lập tức sinh ra lo lắng, tức giận, sợ hãi hoặc đau khổ. Vì vậy, chấp trước chính là một trong những nguồn gốc của đau khổ. Trên con đường tu luyện, nhận ra chấp trước là một bước quan trọng. Điều cần làm không phải là cưỡng ép loại bỏ mọi thứ trong đời sống, mà là thấy rõ sự bám víu của tâm. Khi quan sát đủ sâu, ta nhận ra rằng những đối tượng mình chấp trước vốn vô thường và không thật sự thuộc về mình. Sự nhận ra này giúp tâm dần buông lỏng, không còn bị kéo đi bởi những ham muốn hay sợ hãi. Khi chấp trước giảm bớt, tâm trở nên nhẹ nhàng, tự do và rộng mở hơn. Con người vẫn sống, vẫn làm việc, vẫn yêu thương và quan tâm đến người khác, nhưng không còn bị ràng buộc bởi sự bám víu. Chính trong trạng thái ấy, an bình nội tâm mới thật sự xuất hiện.

[ix] Ghi chú về các thuật ngữ Cảm giác – Cảm thọ – Cảm xúc.

Trong tiếng Anh, có ba thuật ngữ thường bị đánh đồng nhưng lại đại diện cho các tầng vận hành hoàn toàn khác nhau của Tâm thức: Sense, Feeling và Emotion.

Để bảo đảm tính chính xác trong việc chuyển tải các trạng thái năng lượng, trong bản dịch này, tôi phân định ranh giới giữa chúng như sau:

Sense - Thuộc tầng vận hành của Sắc uẩn. Đây là cấp độ sinh lý thuần túy, liên quan đến việc tiếp nhận dữ liệu vật lý thông qua ngũ quan như âm thanh, ánh sáng, xúc chạm, mùi vị…

Feeling (Cảm thọ): Gần với Thọ uẩn (Vedanā) trong Phật giáo, đôi khi được dịch là cảm nhận/cảm thấy, tuỳ ngữ cảnh. Đây là sự lĩnh nạp trực tiếp một trạng thái năng lượng đang hiện hữu trong thân–tâm, trước khi tâm trí diễn giải nó thành câu chuyện hay phản ứng tâm lý. Feeling mang tính trực tiếp, nguyên sơ và tương đối “tĩnh” — chẳng hạn như cảm giác nặng nơi ngực, sự co thắt, nóng ran, trống rỗng… Đây cũng là tầng then chốt trong thực hành “để nó đi qua” (letting go).

Emotion (Cảm xúc): Gần với tầng hoạt động của Hành uẩn (Sankhara) — tức các phản ứng tâm lý đã được cấu trúc hóa bởi ký ức, bản ngã, phán xét và diễn giải. Emotion thường gắn với một “câu chuyện” hoặc đối tượng cụ thể; ví dụ, từ một cảm thọ khó chịu ban đầu, tâm trí phát triển thành sự giận dữ đối với một người nào đó.

Để phân biệt Cảm thọ với Cảm xúc, xin xem xét ví dụ sau: Khi bị ai đó xúc phạm, trước tiên có thể xuất hiện một luồng năng lượng nóng, co thắt hoặc áp lực dâng lên trong thân–tâm. Đó là tầng cảm thọ (feeling). Chỉ sau đó, khi tâm trí bắt đầu diễn giải: “Người đó coi thường tôi”, “Tôi phải đáp trả”… thì trạng thái ấy mới trở thành cảm xúc tức giận (emotion). Điểm rất quan trọng trong thực hành buông bỏ của Hawkins là: Người ta thường cố giải quyết emotion, trong khi giải phóng thực sự xảy ra ở tầng feeling.

Bảng đối soát tóm tắt:

Thuật ngữ

Chuyển ngữ

Bản chất

Hệ quy chiếu (Ngũ uẩn)

Sense

Cảm giác/Giác quan

Tiếp nhận dữ liệu vật lý

Sắc uẩn

Feeling

Cảm thọ

Lĩnh nạp năng lượng trực tiếp (Tĩnh)

Thọ uẩn

Emotion

Cảm xúc

Phản ứng của bản ngã & câu chuyện (Động)

Gần với Hành uẩn

 

[x] Power - Sức mạnh đích thực - là sức mạnh nội tại phát sinh từ sự hòa hợp với Sự thật. Đại diện cho các tầng tâm thức từ 200 trở lên. Đây là nguồn năng lượng nội tại, phát sinh từ sự hòa hợp với các nguyên lý vĩnh cửu và Sự thật. Sức mạnh đích thực có tính chất hợp nhất, nuôi dưỡng sự sống và không tạo ra phản lực.

[xi]   Consciousness – Tâm thức. David Hawkins từng giải thích: “Tâm thức là nền tảng bất khả quy giản của tồn tại, vô hình tướng nhưng bao hàm mọi hình tướng. Nó là vô hạn, không có khởi đầu và không có kết thúc. Trường tâm thức, theo một hệ thuật ngữ khác, được gọi là Phật tính hay Tâm của Thiên Chúa (Mind of God). Có thể ví nó như một trường điện từ vô hạn và toàn năng. Mỗi vật đều có vị trí riêng của mình trong trường này, tương tự như một mạt sắt; vị trí của bạn trong trường phụ thuộc vào “điện tích” của bạn — tức là dựa trên những quyết định mà bạn đã chọn lựa. Khi bạn nói: “Tôi tha thứ cho người đó”, bạn dịch chuyển lên cao hơn trong trường này. Còn nếu bạn nói: “Tôi sẽ trả đũa kẻ xấu đó”, bạn dịch chuyển xuống thấp hơn. Rõ ràng, không thể đổ lỗi cho Thiên Chúa hay cho bất kỳ ai khác”.

Như vậy là: Consciousness không chỉ là “ý thức” theo nghĩa tỉnh táo hay thái độ đạo đức. Trong hệ thống của David R. Hawkins, Tâm thức là nền tảng bất khả quy giản của tồn tại — một Trường bản thể vô hình tướng nhưng bao hàm mọi hình tướng, không có khởi đầu và không có kết thúc.

Thang đo từ 0 đến 1.000 không đo các trạng thái tâm lý nhất thời, mà biểu thị vị trí tương đối của cá nhân trong Trường Tâm thức. Vì vậy, Level of Consciousness được dịch là Tầng Tâm thức: “Tầng” ở đây không phải là bậc thang xã hội hay cảm xúc, mà là định vị năng lượng–nhận thức trong cùng một Trường bao trùm.

Mỗi Tầng biểu lộ như một tâm tính đặc trưng — một “cặp kính” qua đó con người trải nghiệm và diễn giải thực tại. Tâm tính vì vậy không chỉ là trạng thái tâm lý cá nhân, mà là một cấu hình năng lượng với tần số rung động đặc thù, quyết định cách một cá nhân nhận thức thực tại và mức độ hòa hợp của họ với Sự thật. Khi thay đổi thói quen tư duy và hành xử hằng ngày, ta có thể dịch chuyển Tầng chủ đạo của mình. Đó chính là tu tâm tính. Nói ngắn gọn: tu tâm dưỡng tính là tiến trình làm sạch và điều chỉnh tâm tính nhằm giảm thiểu những can nhiễu của bản ngã, để Tầng Tâm thức cao hơn — vốn đã hiện diện — có thể biểu lộ rõ ràng hơn.

Tuy có một Tầng chủ đạo, Tâm thức vẫn có thể dao động tùy hoàn cảnh và mức độ trưởng thành nội tâm. Ở các tầng cao nhất (700–1.000), Tâm thức không còn được trải nghiệm như một mức độ, mà như chính bản thể tuyệt đối. Vì lý do nhất quán với hệ thuật ngữ của tác giả, bản dịch này sử dụng “Tâm thức” cho Consciousness và “Tầng” cho Level.

Tâm trí và Tâm thức. Cần phân biệt rõ giữa Tâm trí (Mind) và Tâm thức (Consciousness).

Tâm trí là nội dung: suy nghĩ, cảm xúc, ký ức, hình ảnh — tất cả những gì sinh khởi và thay đổi liên tục. Tâm thức là nền tảng cho phép toàn bộ nội dung ấy xuất hiện.

Tâm thức không phải là một “vật thể” mà ta sở hữu, cũng không phải một bộ phận trong não bộ. Nó là điều kiện tiên quyết của mọi trải nghiệm. Có thể hiểu Tâm thức qua ba tầng nghĩa:

1. Tâm thức như là “Ánh sáng”. Xin hình dung tâm trí như một cuốn phim đang được chiếu. Suy nghĩ và cảm xúc là nội dung của bộ phim. Tâm thức là luồng ánh sáng từ máy chiếu.

Nếu không có ánh sáng, phim không thể hiển lộ. Ánh sáng không đồng nhất với nội dung phim, nhưng độ trong và cường độ của ánh sáng quyết định chất lượng hình ảnh được thấy. Tâm thức vì vậy là nền tĩnh lặng vượt ngoài thời gian, nơi các hiện tượng sinh và diệt.

2. Tâm thức như là “Trường năng lượng”. Tâm thức không nằm trong não bộ. Não bộ — biểu hiện sinh học của Tâm trí — có thể ví nó với thiết bị thu–phát.

Tâm thức là một Trường bao trùm. Mỗi cá nhân định vị ở một Tầng khác nhau trong Trường ấy. Ở mỗi Tầng, mức độ đồng điệu với Sự thật là khác nhau. Tầng càng cao, tâm tính càng trưởng thành; bản ngã càng lùi lại; sự sáng tỏ càng hiển lộ.

3. Tâm thức và Nhận thức/Cái biết (awereness). Ở những Tầng thấp, Tâm thức được trải nghiệm như sự phân biệt giữa “tôi” và “cái kia”. Ở những Tầng rất cao (trên 600), sự phân biệt ấy dần tan biến.

Khi đó, Tâm thức được trải nghiệm như là Cái biết thuần khiết (pure awareness) — nơi người biết và cái được biết không còn là hai. Đó là trạng thái Một thể.

 

Hữu thức – Tiềm thức – Vô thức

Để tránh nhầm lẫn, cần phân biệt rõ các thuật ngữ của tâm lý học hiện đại với hệ thống của David R. Hawkins. Trong tâm lý học, người ta thường nói đến ba tầng của tâm trí: Hữu thức (Conscious), Tiềm thức (Subconscious) và Vô thức (Unconscious). Tuy nhiên, trong hệ thống của Hawkins, toàn bộ các khái niệm này đều thuộc về Tâm trí (Mind) — tức là nội dung của trải nghiệm — chứ không phải Tâm thức (Consciousness).

1. Tâm trí hữu thức là phần ta nhận biết trong khoảnh khắc hiện tại: suy nghĩ, cảm xúc, lựa chọn và chú ý. Nếu ví với máy tính, đây là màn hình hiển thị — nơi các nội dung đang vận hành xuất hiện rõ ràng. Khi ta đang tức giận, yêu thương hay vị tha, ta biết mình đang suy nghĩ và cảm thọ như vậy. Vai trò của tâm trí hữu thức đặc biệt quan trọng trong quá trình tu tập, bởi chỉ thông qua quan sát, ta mới nhận ra các thói quen phản ứng và dần thay đổi “cặp kính” mà mình dùng để nhìn cuộc đời. Tuy vậy, đây chỉ là phần nổi của cấu trúc tâm trí.

2. Bên dưới là tầng tiềm thức — nơi lưu giữ ký ức, cảm thọ bị dồn nén và các phản xạ tự động đã được điều kiện hoá. Nó giống như “ổ cứng cá nhân”, nơi chứa các chương trình vận hành mà ta không cần ý thức mỗi khi sử dụng: lái xe mà không cần suy nghĩ từng thao tác, phản ứng tức giận gần như tự động trước một lời chỉ trích, hay cảm giác lo âu xuất hiện mà không rõ nguyên nhân. Nhiều “chương trình” vận hành đời sống nằm ở tầng này. Khi tiềm thức chứa nhiều nội dung dựa trên sợ hãi, mặc cảm hay phòng vệ, các phản ứng ấy có thể giữ con người ở những tầng tâm thức thấp, vì chúng liên tục tái tạo một cách nhìn méo mó về thực tại. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh: tiềm thức không tự nó quyết định mức độ nhận thức, mà chỉ là một phần của cấu trúc biểu hiện trong trường này mà thôi. Những hành động xảy ra “nhanh hơn suy nghĩ” — như phản xạ phanh xe khi gặp nguy hiểm — thực chất là các chương trình tiềm thức đã được điều kiện hoá, không phải là hành động vô thức; chúng vẫn diễn ra trong sự hiện diện của Tâm thức, nhưng không đi qua tiến trình suy nghĩ của tâm trí hữu thức.

3. Ở tầng sâu hơn, trong tâm lý học — đặc biệt ở Carl Jung — vô thức bao gồm những nội dung bị đè nén sâu, các nguyên mẫu, bản năng sinh tồn và những khuynh hướng tập thể mà cá nhân không ý thức được. Vô thức tập thể không lưu trữ các hành vi cụ thể như giết người hay ăn thịt người, mà chứa các khuynh hướng bản năng và những mô thức phổ quát; các hành vi cực đoan chỉ là biểu hiện của những xung lực này trong những điều kiện nhất định. Tuy nhiên, trong hệ thống của Hawkins, vô thức vẫn thuộc về Tâm trí. Nó không phải là Trường Tâm thức phổ quát. Điểm then chốt là: Tâm trí — dù hữu thức, tiềm thức hay vô thức — đều là nội dung; còn Tâm thức là trường nền cho phép toàn bộ nội dung ấy xuất hiện và được nhận biết. Vì vậy, không nên đồng nhất “vô thức tập thể” với “Trường Tâm thức”. Vô thức chỉ là một phần của cấu trúc tâm trí, trong khi Tâm thức là nền tảng phi cá nhân vượt ngoài mọi cấu trúc ấy. Cũng theo đó, không nên hiểu Trường Tâm thức như một “cơ sở dữ liệu” tương tự vô thức tập thể. Vô thức tập thể vẫn là nội dung của tâm trí (dù mang tính tập thể), còn Tâm thức không phải là nơi lưu trữ nội dung, mà là nền tảng trong đó mọi nội dung xuất hiện và được nhận biết.

Hiệu chỉnh: Trong hệ thống của Hawkins, “hiệu chỉnh” (calibration) không phải là việc truy cập vào một kho dữ liệu tiềm ẩn nào đó của tâm trí. Thay vào đó, cơ thể con người phản ứng với sự thật vì nó vốn đồng điệu với Trường Tâm thức. Khi một mệnh đề phù hợp với Sự thật, hệ thần kinh duy trì sức mạnh và trương lực; khi một mệnh đề sai lệch, phản ứng sinh lý suy yếu. Phương pháp kiểm tra cơ thể động học (muscle testing) vì vậy được xem như một cách xác nhận mức độ đồng điệu — hoặc không đồng điệu — của một nội dung với Trường này. Nói cách khác, không phải ta “truy cập” vào một “Internet vô thức”, mà chính hệ thần kinh phản ứng theo mức độ phù hợp của một nội dung với Sự thật trong Tâm thức.

Thiền: Trong thực hành thiền quán, điều quan trọng không phải là phân biệt một trải nghiệm thuộc về tiềm thức hay vô thức, mà là nhận ra bất cứ điều gì đang xuất hiện trong nhận biết. Những gì xuất hiện có thể là một cảm thọ thoáng qua như sợ hãi hay khó chịu, một ý nghĩ mang tính phán xét hoặc lo âu, hay một xung lực muốn phản ứng, muốn né tránh. Dù nguồn gốc của chúng nằm ở đâu, tất cả chỉ trở thành đối tượng của thực hành khi chúng hiện ra trong ánh sáng của nhận biết. Vì vậy, ta không trực tiếp “làm việc” với các tầng trừu tượng như tiềm thức hay vô thức, mà chỉ với những nội dung cụ thể của tâm trí khi chúng trồi lên. Chỉ những gì được thấy mới có thể được buông.

Buông bỏ, theo nghĩa này, không phải là loại bỏ hay đè nén, mà là không đồng nhất với nội dung đang xuất hiện. Cảm thọ vẫn có thể còn đó, ý nghĩ vẫn có thể tiếp diễn, nhưng không còn một “cái tôi” bám lấy chúng như “của tôi” hay “là tôi”. Chính sự không nắm giữ này cho phép năng lượng phía sau các nội dung ấy tự giải toả. Khi thực hành sâu hơn, hành giả có thể nhận ra không chỉ cảm thọ hay ý nghĩ, mà cả phản xạ muốn kiểm soát, muốn can thiệp, thậm chí muốn “buông bỏ cho đúng cách”. Sâu hơn nữa, chính cảm thọ về một “người đang trải nghiệm” cũng trở thành đối tượng được thấy. Đến đây, việc buông bỏ không còn là một hành động có chủ ý, mà chỉ là sự không còn nắm giữ. Mọi nội dung — dù đến từ đâu — đều đến rồi đi trong một nền tảng tĩnh lặng không đổi. Nền tảng ấy không phải là tiềm thức hay vô thức, mà là chính Tâm thức — nơi mọi trải nghiệm xuất hiện và được nhận biết, nhưng tự nó không bị ảnh hưởng bởi bất cứ điều gì xuất hiện trong đó.

Trong thực hành, buông bỏ (letting go) và phó thác (surrender) là hai hướng tiếp cận bổ sung cho nhau. Buông bỏ là con đường của nhận biết: thấy rõ một trạng thái đang xuất hiện, không phân tích, không chống cự, không thêm câu chuyện — và vì thế, nó tự suy yếu khi không còn được nuôi dưỡng bởi phản ứng của bản ngã. Đây là cách làm nhẹ dần tiềm thức, khi các phản xạ cũ mất đi sức cưỡng ép. Phó thác là con đường của tin cậy: khi đối diện với những khối năng lượng mạnh, ta thừa nhận giới hạn của bản ngã, ngừng cố kiểm soát bằng ý chí, và phó thác quyền điều khiển cho một nguyên lý sâu hơn — có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau, nhưng thực chất là Trí tuệ của chính sự sống. Dùng ý chí cưỡng ép thường chỉ tạo thêm đối kháng nội tâm; phó thác làm tan rã sự đối kháng đó. Trong hệ thống của Hawkins, chính thái độ phó thác này mở ra từ “bạo lực (force)” sang “Sức mạnh đích thực (power)” — từ cưỡng ép sang sức mạnh nội tại. Với những nội dung nhẹ, chỉ cần thấy và để chúng trôi qua; với những năng lượng sâu hơn, cần thêm tin cậy và buông bỏ hoàn toàn. Dù theo cách nào, cốt lõi vẫn là giảm dần sự nắm giữ của bản ngã — và để cho mọi thứ trở về với sự tĩnh lặng vốn có.

Khi mặc cảm tội lỗi trồi lên trong tu tập. Đây là hiện tượng rất phổ biến. Câu trả lời cân bằng là: nó có thể đến từ cả Tiềm thức lẫn tầng sâu hơn của cấu trúc tâm trí. 1. Từ Tiềm thức: Nhiều mặc cảm không biến mất — chúng chỉ bị đè nén. Khi hành thiền: Mức độ kiểm soát của bản ngã giảm; Tâm trí trở nên yên lặng hơn. Những ký ức từng bị né tránh bắt đầu nổi lên. Đây thường là dấu hiệu của quá trình “dọn dẹp”, không phải là thụt lùi. 2. Ở tầng sâu hơn của cấu trúc bản ngã. Mặc cảm tội lỗi đôi khi không gắn với một sự kiện cụ thể, mà là một cấu trúc tự trừng phạt. Trong hệ thống hiệu chỉnh của Hawkins, Mặc cảm tội lỗi có điểm hiệu chỉnh rất thấp (30), vì nó mang năng lượng tự hủy hoại và tự kết án.

Khi hành giả tiến bộ, những cấu trúc sâu này có thể trồi lên để được thấy và buông. Quan trọng là: Không cần giả định rằng mình đang “gánh nghiệp cho nhân loại”. Chỉ cần hiểu rằng tâm trí con người có những tầng cấu trúc phổ quát.

Cạm bẫy tinh vi của bản ngã. Khi mặc cảm xuất hiện, bản ngã có thể thì thầm: “Tại sao tu mãi mà vẫn còn như vậy?” “Chắc mình không tiến bộ.” “Mình quá tệ.” Đây là một dạng bạo lực tinh vi: tự phán xét dưới danh nghĩa tu tập. Thấy được cơ chế này đã là một bước dịch chuyển Tâm thức.

Tóm lại, Thiền không phải là: Đè nén tâm trí; Cố đạt trạng thái đặc biệt; Truy cập một “cơ sở dữ liệu bí mật”. Mà là: Tăng độ sáng rõ của Nhận biết; Giảm sự đồng nhất với nội dung của tâm trí; Làm suy yếu dần các cấu trúc bản ngã; Mở ra sự đồng điệu cao hơn với Sự thật. Và khi những điều “xấu xí” trồi lên, đó thường không phải là thất bại —mà là dấu hiệu rằng nhận biết đã đủ ổn định để thấy những gì trước đây bị che khuất.

[xii] Non-dual awareness (Nhận thức phi nhị nguyên).  Bản chất: Là trạng thái nhận thức vượt lên trên mọi sự phân chia đối lập (đúng/sai, tốt/xấu, ta/người). Đây là nền tảng của Sức mạnh đích thực (Power). Đặc điểm: Xóa nhòa ranh giới giữa “người quan sát” và “cái được quan sát”. Tương ứng với trạng thái Một thể (Oneness) và Vô ngã (Non-doership). Liên kết hệ thống: Đối lập với Positionality (Cố chấp vào lập trường của bản ngã). Là kết quả của quá trình thực hành Phó thác sâu sắc.

[xiii] Awareness — 1. Nhận thức thuần túy, không diễn giải; Tỉnh thức (Awakening/Mindfulness). Từ này thiên về một trạng thái hoặc một quá trình. Định nghĩa: Là sự “tỉnh dậy” sau một cơn mê của bản ngã. Khi bạn bắt đầu quan sát được cảm thọ tiêu cực và không để nó cuốn đi, đó là tỉnh thức. Đặc điểm: Thường dùng cho các tầng tâm thức từ 200 (Can đảm) đến dưới 600. Nó mang tính chủ động: “Tôi đang tỉnh thức”, “Tôi đang thực hành tỉnh thức”. Trong tiếng Anh: Thường tương ứng với Awakened hoặc Mindful. 2. Cái Biết (Awareness/Pure Awareness) Từ này thiên về bản chất hoặc nền tảng vĩnh cửu. Định nghĩa: Là cái “không gian” hay cái “ánh sáng” cho phép mọi sự tỉnh thức diễn ra. Nó không phải là một hành động, nó là một thực tại có sẵn. Ngay cả khi bạn đang ngủ hay đang giận, Cái Biết vẫn luôn ở đó, tĩnh lặng và quan sát. Đặc điểm: Thường dùng cho tầng tâm thức từ 600 (An bình) trở lên. Nó không có chủ thể: không phải “Tôi có Cái biết” mà là “Tôi LÀ Cái Biết”.

[xiv] Inner Blocks (Rào cản nội tâm) – Phật giáo gọi là “nội kết”. Nội kết là những “nút thắt” năng lượng tâm trí bị dồn nén, hình thành khi ta không thể hoặc không sẵn sàng một cảm xúc hay trải nghiệm tiêu cực“đi qua” (Letting go). Cơ chế hình thành: Thuộc về Tiềm thức (Subconscious Mind): Lưu trữ những ký ức và cảm xúc chưa được chuyển hóa. Sử dụng Force (Bạo lực): Bản ngã dùng lực để đè nén, che giấu hoặc kháng cự, dẫn đến tiêu hao năng lượng và tạo ra các phản ứng không tự nguyện. Biểu hiện của Nội kết: Positionality: Tạo ra những lập trường cứng nhắc, định kiến và phán xét. Phản ứng không tự nguyện: Gây ra những cơn tức giận, sợ hãi hoặc tự hủy hoại mà ý thức (Conscious mind) không kiểm soát được. Rào cản năng lượng: Ngăn chặn cá nhân tiếp cận với Sức mạnh đích thực (Power) và an bình nội tại. Phương pháp Hóa giải: 1.  Nhận thức phi nhị nguyên (Non-dual awareness): Quan sát khối nội kết mà không phân chia đúng/sai, không nỗ lực thay đổi nó ngay lập tức. 2. Phó thác (Surrender): Chấp nhận sự hiện diện của khối năng lượng đó và cho phép nó tự giải tỏa khi đi ngang qua tâm thức. 3. Vô sở cầu nhi tự đắc: Không mong cầu kết quả tức thì, để quá trình tháo gỡ diễn ra tự nhiên theo quy luật của Trường năng lượng.

No comments:

Post a Comment