Phạm Duy Hiển Phạm Duy Hiển Author
Title: Chủ nghĩa cộng sản (8)
Author: Phạm Duy Hiển
Rating 5 of 5 Des:
Richard Pipes Phạm Nguyên Trường dịch IV.               Chủ nghĩa cộng sản ở phương Tây (2) Đảng Quốc xã chiếm được quyề...
Richard Pipes

Phạm Nguyên Trường dịch

IV.             Chủ nghĩa cộng sản ở phương Tây (2)



Đảng Quốc xã chiếm được quyền lực trên cơ sở cương lĩnh mà trụ cột của nó là chủ nghĩa chống cộng và bài Do Thái. Khác với Liên Xô, nước này luôn luôn che giấu sự dã man của mình đằng sau bức tường kiểm duyệt và tuyên bố tuân thủ các lý tưởng nhân đạo và dân chủ mà chính họ đã cố tình phá hoại, Quốc xã hoạt động giữa lòng châu Âu, họ không thể và cũng không muốn che giấu bản chất của những kẻ dã man cao thượng của mình. Hành động như vậy là tự chuốc lấy thái độ thù địch của những người lãnh đạo dư luận xã hội ở phương Tây, và vì Liên Xô – ít nhất là trên lời nói – có thái độ chống Quốc xã, còn các chính phủ phương Tây thì lại tìm cách trấn an nó, trong trường hợp như thế, rõ ràng là Moskva đã thu được rất nhiều lợi ích. Những gián điệp lợi hại nhất của Liên Xô trước và trong Thế chiến II chính là những người bị thái độ chống phát xít của Moskva mua chuộc. 

Quan hệ giữa chủ nghĩa Quốc xã và chủ nghĩa Cộng sản rất phức tạp, dù bề ngoài đây là hai phong trào không thể đội trời chung với nhau. Hai phong trào này không chỉ chống đối mà còn hợp tác với nhau. 

Trước hết, họ có một kẻ thù chung, đấy là các chế độ dân chủ tự do, cam kết gắn bó với các quyền công dân, tư hữu và hoà bình. Cả hai chế độ toàn trị đều coi con người là vật liệu để xây dựng một trật tự xã hội mới và hình thành nên “con người mới”. Khác với Liên Xô, Đức quốc xã chấp nhận chế độ tư hữu, nhưng không coi đấy là quyền bất khả xâm phạm mà có thể bãi bỏ bất cứ lúc nào và can thiệp một cách sâu rộng theo hướng có lợi cho nhà nước. Cả hai chế độ đều coi thường tình yêu hoà bình: Lenin coi “khẩu hiệu hoà bình” là “khẩu hiệu của các cha cố và những kẻ nhỏ nhen, ti tiện khác”. Sau khi giành được chính quyền, Lenin luôn luôn bác bỏ khả năng chung sống giữ chủ nghĩa cộng sản và “chủ nghĩa đế quốc”: một trong hai hệ thống phải chiến thắng, còn khi điều đó chưa diễn ra thì “những cuộc đụng độ kinh hoàng giữa nước cộng hoà Xô Viết và các nước tư bản là điều không thể tránh khỏi”[1]. Những lời ca ngợi chế độ quân phiệt của của Hitler và việc xây dựng các lực lượng vũ trang Đức nhằm chuẩn bị chiến tranh cũng rõ ràng và công khai, không cần phải đưa ra dẫn chứng ở đây. 

Nhưng sự tương đồng còn nhiều hơn thế. Hitler thu được lợi to: ông ta dùng Liên Xô để doạ dẫm các cử tri Đức, song lại dùng nước này như một hình mẫu trong việc xây dựng chế độ độc tài của chính mình. Ông ta đã lợi dụng nỗi sợ hãi của cử tri trước khả năng cướp chính quyền của những người cộng sản trong những cuộc bầu cử mang tính quyết định vào những năm 1932-1933. Sau khi vu cho những người cộng sản đốt toà nhà quốc hội, ông ta đã đòi quốc hội phải trao cho mình những quyền đặc biệt. Nghị định về việc bảo vệ nhà nước và nhân dân, có hiệu lực cho đến khi Đế chế III sụp đổ vào năm 1945, đã đặt cơ sở pháp lý cho chế độ độc tài của Hitler, hạn chế tự do cá nhân, tự do báo chí, tự do hội họp và lập hội cũng như hạn chế quyền tư hữu và đặt cơ sở pháp lí cho việc tịch thu tài sản bất cứ lúc nào. Đây là những biện pháp chưa từng có tiền lệ ở phương Tây, chính thức trao cho lãnh tụ quyền lực vô giới hạn mà trên thực tế nhà cầm quyền ở Liên Xô đã sử dụng. 

Hitler tìm thấy ở Liên Xô mô hình nhà nước độc đảng để thực thi quyền lực mà nghị định tháng 3 năm 1933 đã trao cho ông ta. Các nhà nước như thế được gọi là “toàn trị” - thuật ngữ do nhà độc tài Benito Mussolini, đưa ra - để mô tả chế độ phát xít của mình. Mục đích của chế độ toàn trị là xoá bỏ hoàn toàn sự phân biệt giữa nhà nước và công dân (xã hội), bằng cách xâm nhập và kiểm soát tất cả các mặt của đời sống xã hội. Nó chỉ có thể đạt được mục đích như thế nếu đảng cầm quyền nắm độc quyền về chính trị và dựa vào cảnh sát mật với quyền lực không giới hạn, để quản lý. Trong nhà nước như thế, luật pháp không phải là phương tiện bảo vệ con người mà là một phần của cơ chế quản lý nhà nước. 

Thời gian gần đây một số nhà chính trị học phương Tây đưa ra những quan điểm phủ nhận tính hiện thực của mô hình toàn trị, họ cho rằng không nhà nước nào và không bao giờ có thể kiểm soát hết được như mô hình này yêu cầu. Họ khẳng định rằng ngay cả dưới thời Stalin vẫn tồn tại quyền lợi của các phe nhóm và ở mức độ nào đó người ta vẫn phải tính đến dư luận xã hội. Dù các quan điểm như thế có đúng đắn đến đâu đi nữa thì chúng cũng không thể phủ nhận được khái niệm về chủ nghĩa toàn trị. Tất cả các định nghĩa chính trị đều là tương đối. Theo lời của nhà chính trị học ở đại học Harvard, Carl J. Friedrich, thì:

Luận cứ về tính độc đáo của bất cứ cấu hình nào không có nghĩa là nó là “hoàn toàn” độc đáo, vì chẳng có gì là độc đáo hết. Tất cả các hiện tượng lịch sử đều liên quan tới các nhóm lớn những đối tượng phân tích… Cấu trúc khá đa dạng của những thành tố khác nhau… tạo ra sự độc đáo mang tính lịch sử[2].

 
Như nhiều người đã nhận thấy, “chế độ dân chủ” tức là chính quyền của nhân dân vẫn thường bị giới ăn trên ngồi trốc và những người vận động hành lang lũng đoạn. Cũng chưa bao giờ có thị trường tự do vô giới hạn: ngay cả giữa thế kỷ XIX, khi sự can thiệp của nhà nước vào lĩnh vực kinh tế chỉ ở mức độ tối thiểu thì người ta vẫn đặt ra những giới hạn và vẫn can thiệp vào lĩnh vực kinh doanh tư nhân. Cũng có thể áp dụng tiêu chuẩn như thế đối với mô hình toàn trị. 

Các chế độ toàn trị có tham vọng rất cao, không thể nào thực hiện được một cách trọn vẹn. Nhưng ngay cả khi chỉ một phần những mục tiêu này được thực hiện thì chúng cũng tạo ra những điều kiện hoàn toàn khác biệt với những chế độ độc tài nhất trong quá khứ: 

Vì chế độ toàn trị nhắm đến các mục tiêu bất khả thi, nó cố gắng quản lý nhân tính và số phận của từng con người, cho nên nó chỉ có thể thực hiện một cách chắp vá. Tự bản chất, nó đã bao hàm những mục tiêu không thể thực hiện được một cách hoàn toàn, cho nên nó chỉ có thể là một xu hướng, một tham vọng mà thôi… Chế độ toàn trị không phải là một bộ máy được sắp xếp một cách kĩ lưỡng, không hoạt động hữu hiệu ở tất cả mọi mắt xích. Dĩ nhiên là nó muốn được như thế và nó đã tiến gần tới mô hình lý tưởng ở một số lĩnh vực nào đó; nhưng nhìn một cách tổng thể, tham vọng quyền lực của nó chỉ được hiện thực hoá một cách tương đối mơ hồ, với những mức độ khác nhau trong những lĩnh vực và tại những thời điểm khác nhau, đồng thời, những đặc trưng toàn trị và phi toàn trị đan xen với nhau. Nhưng chính vì thế mà hậu quả của những tham vọng quyền lực toàn trị càng nguy hiểm và càng nặng nề hơn: chúng vừa mù mờ, vừa nhiều, vừa khó mô tả… Có sự biến dạng như thế là vì tính bất khả thi của tham vọng quyền lực: đấy là đặc điểm của cuộc sống dưới chế độ toàn trị và làm cho người bên ngoài cảm thấy khó hiểu[3]. 

Sự khác nhau căn bản giữa chế độ toàn trị cộng sản và “phát xít” là ở chỗ cộng sản tư duy một cách toàn cầu còn phát xít thì chú ý đến dân tộc: các chế độ “phát xít’ cũng chấp nhận quan điểm đấu tranh giai cấp, nhưng đây là cuộc đấu tranh giữa các dân tộc “có của” và các dân tộc “không có của”. Điều này đã được Mussolini thể hiện rõ trong bài phát biểu trước Hạ viện vào năm 1921, một năm trước khi ông ta giành được quyền lực. Hướng đến các đại biểu cộng sản, ông ta nói: 

Giữa chúng tôi và những người cộng sản không có sự gần gũi về chính trị nhưng có sự gần gũi về tri thức. Cũng như các vị, chúng tôi cho rằng cần phải có một nhà nước tập quyền, thống nhất, nhà nước đòi hỏi kỉ luật sắt, chỉ có một khác biệt: các vị rút ra kết luận này từ khái niệm giai cấp, còn chúng tôi thì từ khái niệm dân tộc[4]. 

Một trong những nghịch lý của lịch sử là việc những người cộng sản tìm cách chống phá phương Tây lại dẫn đến kết quả hoàn toàn ngược lại. Việc cố tình gây chia rẽ phong trào xã hội chủ nghĩa lại làm suy yếu chính chủ nghĩa Marx. Trong khi đó, Liên Xô lại có ảnh hưởng rất lớn đối với chủ nghĩa “phát xít”: phát xít đã thổi phồng nguy cơ từ phía Liên Xô nhằm đe doạ và tước đoạt quyền lợi của dân chúng, đồng thời lại xây dựng chế độ toàn trị theo mô hình của Lenin và Stalin và cuối cùng, chế độ này đã gần đạt được mục tiêu là tiêu diệt chính Liên Xô. 

______________

Mặc dù trong những năm 1930, Liên Xô và hệ tư tưởng cộng sản đã thu phục được khá nhiều người ủng hộ ở phương Tây, nhưng không có bằng chứng nào chứng tỏ rằng những người có cảm tình với Liên Xô có thể trở thành một thế lực thực sự. Như đã nói bên trên, các đảng cộng sản ở phương Tây bao giờ cũng là lực lượng bị cô lập, ngay cả ở những nơi họ có thể đứng vững trên đôi chân của mình. Năm 1935, sợ hãi trước sự trỗi dậy của các chế độ chống cộng và “phát xít”, Moskva thay đổi chính sách, không còn coi các đảng xã hội chủ nghĩa là kẻ thù không đội trời chung nữa và ra lệnh cho các đảng cộng sản phải liên minh với đảng xã hội chủ nghĩa và những nhóm chống phát xít khác. Các chính phủ mau chóng yểu mệnh của Mặt trận Bình dân ở Pháp (1936-1937) và ở Tây Ban Nha (1936-1939) không đủ sức sát nhập các đảng cộng sản vào dòng chủ lưu của đời sống chính trị. 

Trong khi tiến hành thiết lập liên minh chống phát xít, Stalin vẫn giữ quan hệ đúng mực đối với Mussolini và Hitler để rồi cuối cùng đã kí với Đức hiệp ước bất tương xâm vào năm 1939, thực chất lúc đó Liên Xô đã đứng về phe Trục. 

Sự gần gũi của giữa các chế độ toàn trị, dù chúng có theo chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và dân tộc chủ nghĩa, còn được thể hiện ở sự thán phục mà lãnh tụ các chế độ này dành cho nhau. Khi quân đội Đức và Liên Xô còn đang chiến đấu một mất một còn với nhau thì Hitler đã nói với những người thân cận về “thiên tài” của Stalin và bàn đến việc liên kết với ông ta để tiêu diệt các chế độ dân chủ phương Tây[5]. Mao Trạch Đông, một người cộng sản cấp tiến đến nỗi ngay cả Liên Xô cũng bị ông ta coi là kẻ phản bội, khi bị phê phán là đã giết quá nhiều đảng viên cộng sản trong cuộc Cách mạng Văn hoá, đã trả lời như sau: “Xin hãy nhớ lại Chiến tranh Thế giới II, xin hãy nhớ lại sự dã man của Hitler. Càng dã man thì nhiệt tình cách mạng lại càng cao[6]. 

_________________

Bất chấp tính mạng của người dân, Stalin đã giành được chiến thắng trong Chiến tranh Thế giới II, nhưng ông ta không làm chủ được toàn bộ châu Âu. Song phần lớn khu vực Đông Âu đã bị quân đội của ông ta chiếm đóng và thiết lập ở đó các chế độ cộng sản. Trong hai ba năm đầu sau chiến tranh, Stalin để cho các nước đó - tuy vẫn nằm dưới sự kiểm soát của cộng sản - được theo đuổi ở mức độ nào đó sự đa dạng về chính trị. Nhưng sau năm 1948, khi Josip Broz Tito, nhà lãnh đạo cộng sản Nam Tư, củng cố được nền độc lập và đoạn tuyệt với Moskva, thì Stalin lập tức buộc các nước chư hầu Đông Âu phải theo chế độ độc đảng. Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Đông Đức, Rumania và Bulgaria, về danh nghĩa, là các nước độc lập, nhưng thực chất, đã trở thành các nước vệ tinh, tay sai của Liên Xô, hoàn toàn phụ thuộc vào Liên Xô, nhất là trong lĩnh vực đối ngoại. Đế chế Xô Viết đã mở rộng và biến thành Khối Xô Viết. 

Vì không đủ sức ngăn chặn, phương Tây đành chấp nhận để Liên Xô thống trị Đông Âu. Phương Tây lẳng lặng công nhận đây là khu vực ảnh hưởng của Liên Xô, nếu Moskva thoả mãn như thế thì quan hệ giữa Đông và Tây đã có cơ hội bình ổn. Nhưng nếu những vùng đất bị chiếm đóng này sau đó trở thành nguyên cớ của cái gọi là “chiến tranh lạnh” thì chỉ tại vì, về bản chất, chủ nghĩa cộng sản không thể sống giữ ổn định và hài lòng: nó cần phải có những cuộc khủng hoảng, nó cần khuyếch trương thế lực. 

Liên minh quân sự thời chiến đã lung lay ngay khi Thế chiến II bước vào giai đoạn cuối, tức là ngay khi kết quả đã trở nên rõ ràng. Liên minh này thực sự tan rã vào năm 1945-1946, sau khi Liên Xô tuyên bố huỷ bỏ hiệp ước bất tương xâm, kí năm 1925, với Thổ Nhĩ Kì và đưa ra cho nước này những đòi hỏi không thể chấp nhận được về mặt lãnh thổ. Chẳng bao lâu sau cộng sản lại phát động cuộc nội chiến ở Hy Lạp. Anh nhận trách nhiệm bảo vệ cả hai nước này, nhưng do bị chiến tranh làm cho kiệt quệ, Anh đã không thể theo đuổi chính sách như thế một cách lâu dài. Năm 1947, theo sáng kiến của Tổng thống Harry Truman, nước Mỹ nhận trách nhiệm kiềm chế Liên Xô, ban đầu là theo học thuyết Truman về việc giúp đỡ Thổ Nhĩ Kì và Hy Lạp (tháng 3 năm 1947), sau đó, trên cơ sở Kế hoạch Marshall (tháng 6-7 năm 1947), giúp đỡ đáng kể vế tài chính cho công cuộc tái thiết Tây Âu. Tháng 4 năm 1949, Mỹ đi một bước chưa từng có trong lịch sử: Lập ra liên minh phòng thủ nhằm chống kẻ thù xâm lược từ bên ngoài với sự tham gia của mười nước Tây Âu và Canada (Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương hay NATO). Rõ ràng kẻ thù bên ngoài ở đây chính là khối Xô Viết. Tổng hành dinh khối NATO đặt ở Paris, tướng Dwight Eisenhower, người Mỹ, là tổng tư lệnh đầu tiên của tổ chức này. Năm 1950, sau khi quân đội cộng sản Bắc Triều Tiên tấn công Nam Triều Tiên, lúc đó người ta đã nghi ngờ và nay thì chắc chắn là theo chỉ đạo của Moskva, các nước đồng minh lập tức tuyên bố Tây Đức là nước độc lập có chủ quyền và mời nước này tham gia NATO (tháng 5 năm 1955). Moskva đáp trả bằng cách thành lập Khối quân sự Warsaw, gồm tám nước cộng sản châu Âu. Chiến tranh lạnh đã được hợp thức hoá. 

Biết bao nhiêu mực đã đổ ra nhằm tái tạo lịch sử chiến tranh lạnh. Một số nhà sử học cho là tại Mỹ, một số lại cho rằng cả phương Đông và phương Tây đều có lỗi. Không thể phủ nhận rằng phương Tây, trước hết là Mỹ, đứng đầu liên minh, đôi khi đã phản ứng quá mức trước hiểm hoạ của khối cộng sản: dù mối đe doạ của khối cộng sản có như thế nào đi chăng nữa, nguy cơ của việc cộng sản chiếm được nước Mỹ có thể nói là bằng không. Nhưng nay, khi sự cuồng nhiệt đã dịu bớt, có cảm tưởng rằng Moskva phải chịu phần lớn trách nhiệm. Chính Moska đã tuyên bố công khai và rõ ràng ý định ủng hộ các cuộc nội chiến và thiết lập chế độ cộng sản trên toàn thế giới; mục 17 trong các nguyên tắc kết nạp vào Comintern ghi rõ: “Quốc tế Cộng sản tuyên bố một cuộc chiến tranh không khoan nhượng với toàn bộ thế giới tư bản…”. Bất cứ khi nào có điều kiện Liên Xô đều cố gắng thực thi ý định này, ngay cả khi, để chiều lòng các nước đồng minh phương Tây trong Thế chiến II, họ buộc phải giải tán Comintern. 

Nếu cần tìm thêm chứng cứ nào nữa thì chỉ xin nói rằng ngay sau khi Liên Xô tan rã, và nước Nga từ bỏ chủ nghĩa cộng sản để bước vào con đường dân chủ thì chiến tranh lạnh cũng lập tức chấm dứt. Boris Yeltsin, Tổng thống mới của nước Nga đã nói trước Hạ viện Mỹ, tháng 6 năm 1992, như sau: 

Thế giới có thể thở phào nhẹ nhõm. Thần tượng cộng sản, kẻ gieo rắc động loạn, lòng thù hận và sự dã man chưa từng có trên khắp thế giới, kẻ làm cho nhân loại phải sợ hãi đã sụp đổ rồi. Nó đã sụp đổ và không bao giờ ngóc đầu lên được nữa[7]. 

Ai phải chịu trách nhiệm về chiến tranh lạnh? Dường như, chí ít là đối với Yeltsin, đấy không còn là vấn đề nữa. 

________________________

Chủ nghĩa cộng sản đã sản sinh ra rất nhiều phong trào khủng bố, những phong trào này gần như, thậm chí chẳng có quan hệ gì với chủ nghĩa Marx hay chủ nghĩa xã hội; chúng chỉ tự khoác lên mình các danh xưng như thế hòng che đậy những hoạt động tội phạm: bắt cóc, giết người, tống tiền. Điển hình là nhóm Baader-Meinhold ở Đức (sau này mới rõ là do tình báo Đông Đức bảo trợ), các Binh đoàn Đỏ ở Italy, nhóm Hành động Trực tiếp ở Pháp và Hồng quân ở Nhật, hoạt động trong suốt những năm 1970. Hình thành từ các nhóm trí thức nhỏ, với mục đích làm lung lay “chủ nghĩa tư bản”, các đảng này đã tiến hành các vụ khủng bố nhắm vào các doanh nhân và các chính khách nổi tiếng. Sau này tất cả đều bị tiêu diệt. 

Các trào lưu vô chính phủ bột phát, thể hiện nỗi tuyệt vọng của những kẻ cuồng tín trước đường lối có vẻ như xu thời của lãnh đạo Liên Xô thời hậu Stalin đối với phương Tây tư bản chủ nghĩa, lại được các lãnh tụ của Thế giới Thứ ba như Mao Trạch Đông và Che Guevara ủng hộ. Trong khi đó, dòng chủ lưu của đường lối chính trị cấp tiến châu Âu lại đi theo hướng ngược lại, tức là làm cho chủ nghĩa cộng sản thích ứng với thực tiễn của xã hội hiện đại. Trong những năm 1970, phong trào này được người ta gọi là chủ nghĩa cộng sản châu Âu (Eurocommunism).

Ngay sau Thế chiến II, các đảng cộng sản châu Âu, lợi dụng uy tín rất cao của Liên Xô vì những đóng góp to lớn cho chiến thắng, đã thu hút được rất nhiều ủng hộ viên mới. Ở nhiều nước châu Âu, cộng sản đã từng tham gia vào các chính phủ liên hiệp. Nhưng ảnh hưởng của họ đã suy giảm trong những năm 1950-1960. Điều đó là do một số nguyên nhân sau đây: việc tố cáo những tội ác của Stalin do Khrushchev tiến hành, việc đàn áp những cuộc thử nghiệm những mô hình cộng sản đặc thù của Tiệp Khắc và Hungary, đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với phong trào bài Do Thái ở Ba Lan. 

Chủ nghĩa cộng sản châu Âu, bằng cách đoạn tuyệt với những cuộc đàn áp và tình trạng trì trệ về kinh tế ở Liên Xô, là mưu toan làm cho chủ nghĩa cộng sản trở nên hấp dẫn hơn đối với cử tri. Các đảng cộng sản Italy, Pháp và Tây Ban Nha, có nhiều ảnh hưởng trong tầng lớp trí thức, muốn thực hiện đường lối phù hợp với truyền thống chính trị châu Âu. Năm 1976, Santiago Carrilo, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Tây Ban Nha đã xác định mục tiêu của phong trào này như sau: 

Các đảng theo xu hướng “cộng sản châu Âu” đồng thuận về tính tất yếu của việc tiến lên chủ nghĩa xã hội theo con đường dân chủ, đa đảng, đại nghị và các thiết chế đại diện khác, chủ quyền của nhân dân được thực hiện thông qua các cuộc phổ thông đầu phiếu được tiến hành theo định kì, công đoàn độc lập với nhà nước, tự do theo phe đối lập, bảo vệ quyền con người, tự do tôn giáo, tự do trong sáng tạo khoa học, văn học và nghệ thuật và sự tham gia rộng rãi nhất của quần chúng trong mọi cấp và mọi lĩnh vực hoạt động xã hội. 


Thật là những ý tưởng tuyệt vời, nhưng đối với Lenin thì đấy đều là những điều đáng bị rút phép thông công cả. Vì vậy sẽ hoàn toàn không đúng nếu coi phong trào này là một sự “thể hiện mềm dẻo của chủ nghĩa cộng sản”: những thử nghiệm ngắn hạn và bất thành nhằm đưa chủ nghĩa cộng sản vào dòng chủ lưu của đời sống chính trị thực chất là sự đoạn tuyệt với tất cả những điều mà chủ nghĩa cộng sản từng bảo vệ. 

Chủ nghĩa cộng sản châu Âu chỉ là một vụ bùng phát nhất thời. Trong những năm 1980, tất cả các đảng cộng sản châu Âu lại bị hất ra bên lề. Những năm 1978-1979, chính là giai đoạn hoàng kim của họ, lúc đó họ đã nhận được 30,4% phiếu bầu ở Italy và 20,6% phiếu bầu ở Pháp. Nhưng, trong các nước công nghiệp phát triển nhất, số lượng cử tri ủng họ họ vẫn là không đáng kể: 0,05% ở Anh và 0,3% ở Tây Đức[8]. Xu thế suy giảm vẫn còn tiếp tục. 

Sau khi Liên Xô tan rã, các đảng cộng sản châu Âu cũng trải qua nhiều thay đổi và phân hoá. Các đảng và các phái cứng rắn gán sự tan rã này cho sự thoả hiệp của Gorbachev với chủ nghĩa tư bản và tiếp tục đi theo đường lối của Stalin. Một số khác đã quay lưng lại với chủ nghĩa cộng sản truyền thống. Ví dụ, Đảng Cộng sản Italy, đảng có nhiều đảng viên và ít giáo điều nhất, đã lặng lẽ đổi tên là Đảng Dân chủ của những người cánh tả. Phần lớn các đảng khác cũng đã chia tay với các khẩu hiệu và biểu tượng của chủ nghĩa cộng sản. 

Chủ nghĩa cộng sản là một lý tưởng không có tương lai: nền văn hoá chính trị phương Tây đã tập hợp lại trong cuộc đấu tranh chống lại hệ tư tưởng cứng rắn, tuy có xuất xứ từ phương Tây, nhưng lại được hoàn thiện ở môi trường ngoài phương Tây. Chủ nghĩa cộng sản đã hoà tan vào xã hội dân chủ phương Tây và sau đó thì lặng lẽ rút khỏi vũ đài chính trị. 






[1] V. I. Lenin, Toàn tập, tập 49 trang 1 và tập 38, trang 139
[2] Carl J. Friedrich, ed. Totalitarism (Chủ nghĩa toàn trị), Cambridge, Mass., 1954, trang 49
[3] Hans Buchheim, Totalitarian Rule (Chế độ toàn trị), Middletown, Conn., 1968, trang 38-39
[4] Benito Mussolini, Opera omnia, vol XVII (Frence, 1955), trang 295
[5] Picker, ed., Hitlers Tischgespräche, trang 133
[6] The New York Times, August 11, 1990, trang A2 
[7] Ibid., June 18, 1992, trang A18
[8] David Childs, ed., The Changing Face of Western Communism (Bộ mặt đang thay đổi của chủ nghĩa cộng sản phương Tây, London, 1980, trang 276

Về tác giả

Advertisement

Post a Comment

 
Top