ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
HAM MUỐN
Một lần nữa, điểm mấu chốt của tự do là liệu chúng ta đã lựa chọn một cách có ý thức để thỏa mãn một mong muốn nhất định hay chỉ đang bị điều khiển một cách mù quáng bởi các chương trình và hệ thống niềm tin vô thức.
Ham muốn như là trở ngại
Thường
là thiếu hiểu biết về chức năng của mong muốn và ham muốn. Ảo tưởng chính được
thể hiện trong câu: “Cách duy nhất để tôi có được điều mình muốn là phải khao
khát nó; nếu tôi buông bỏ khao khát, thì tôi sẽ không có được cái mình muốn.” Thực
tế, điều ngược lại mới đúng. Khao khát, đặc biệt là khao khát mãnh liệt (ví dụ,
thèm muốn), thường cản trở, không cho chúng ta đạt được điều mình muốn.
Tại
sao lại như thề? Thực ra, một cái gì đó đến với cuộc đời của chúng ta là vì
chúng ta đã lựa chọn nó. Đó là kết quả của ý định của chúng ta, hoặc chúng ta
đã đưa ra quyết định. Nó đến với cuộc đời của chúng ta mà không phụ thuộc vào khao
khát. Khao khát thực sự là trở ngại cho việc đạt được hoặc có được nó. Đấy là
do, khao khát theo nghĩa đen có nghĩa là “tôi không có”. Nói cách khác, nếu
chúng ta nói rằng chúng ta khao khát cái gì đó, là chúng ta đang nói rằng nó
không phải của chúng ta. Khi chúng ta nói rằng nó không phải của chúng ta,
chúng ta tạo ra một khoảng cách tâm lý giữa mình và cái mình muốn. Khoảng cách
này biến thành trở ngại làm tiêu hao năng lượng.
Điều
không thể trở thành có thể ngay khi chúng ta hoàn toàn buông bỏ. Đấy là do khao
khát cản trở việc nhận được nó và dẫn đến sợ hãi không có nó. Về bản chất, năng
lượng của ham muốn là phủ nhận quan điểm nói rằng chỉ cần yêu cầu, thì tất cả những gì chúng ta muốn sẽ là
của chúng ta.
Đây
là một cách nhìn khác về việc đạt được mục tiêu so với cách nhìn mà chúng ta
quen từ quá trình lập trình của thế gian. Chúng ta quen với việc hình dung tham
vọng và thành công gắn liền với làm việc chăm chỉ và những phẩm chất của đạo đức
Tin Lành cổ điển. Trong đó có hy sinh chính mình, khổ hạnh, nỗ lực và cố gắng hết
sức, cắm đầu vào công việc, thắt chặt chi tiêu, nỗ lực hết mình và tất cả sự khắc
nghiệt của công việc khó khăn. Khi nhìn vào bức tranh này, nghe có vẻ gian khổ,
có phải thế không? Vâng, đúng thế. Nó liên quan đến đấu tranh, và đấu tranh xuất
phát từ rào cản mà chúng ta tự đặt ra vì ham muốn.
Xin
so sánh biện pháp của tâm thức thấp hơn, gian khổ hơn nhằm vươn tới mục tiêu với
trạng thái tâm thức cao hơn, trong đó chúng ta đã nhận ra và buông bỏ ham muốn,
và ở trong trạng thái tự do hơn. Trong trạng thái tự do hơn, cái được lựa chọn
sẽ hiển lộ trong cuộc sống của chúng ta mà không cần nỗ lực. Chúng ta từ bỏ cảm
xúc ham muốn và thay vào đó, chỉ đơn giản là chọn mục tiêu, hình dung nó bằng yêu
thương, và cho phép nó xảy ra vì thấy rằng nó đã thuộc về chúng ta.
Vì
sao nó đã là của chúng ta? Ở trạng thái tâm thức thấp hơn, vũ trụ được nhìn nhận
là tiêu cực và phủ nhận, gây thất vọng và miễn cưỡng. Giống như những ông bố bà
mẹ keo kiệt. Ở trạng thái tâm thức cao hơn, trải nghiệm của chúng ta về vũ trụ
thay đổi. Giờ đây, nó giống như những ông bố bà mẹ cho đi, yêu thương, chấp thuận
vô điều kiện, muốn chúng ta có mọi thứ mà mình muốn, và chỉ cần chúng ta yêu cầu
thì nó là của chúng ta. Nó tạo ra bối cảnh khác. Nó mang lại cho vũ trụ một ý
nghĩa khác.
Mặc
dù thế giới có thể keo kiệt và thù địch với những người khác, nhưng không có lý
do gì để chúng ta chấp nhận hệ hình này. Khi chúng ta chấp nhận nó, chúng ta tạo
ra điều đó trong đời sống của chính mình. Khi chúng ta trải nghiệm buông bỏ ham
muốn, chúng ta bắt đầu thấy rằng những gì chúng ta đã chọn sẽ tới với cuộc đời
của chúng ta gần như là thần kỳ. “Những thứ chúng ta lưu giữ trong tâm trí có
xu hướng hiển lộ.” Như đã nói trước đó, trong thời kỳ được cho là tỷ lệ thất
nghiệp cao, một số người không chỉ có việc làm mà còn có hai hoặc ba việc làm
cùng một lúc.
Đây
là một cách nhìn thế giới hoàn toàn mới mẻ và gây sốc khi lần đầu tiên người ta
tiếp xúc với nó. Người ta hy vọng rằng đó là sự thật, nhưng lại hoài nghi: “Trên
phương diện thực tế, nó đơn giản là không thể.” Nền tảng “đạo đức Tin Lành”
nghiêm ngặt khiến việc tin tưởng trở thành khó khăn; tuy nhiên, vẫn có thái độ
sẵn sàng cởi mở để thử. Đây là trải nghiệm ban đầu về việc buông bỏ ham muốn.
Các
mục tiêu cá nhân được viết ra giấy, sau đó là buông bỏ ham muốn đối với chúng.
Nghe có vẻ ngược đời, nhưng đó là quá trình: xác định các mục tiêu và sau đó
buông bỏ mong muốn giành được những mục tiêu này. Một mục tiêu đã được giữ
trong tâm trí nhiều năm là một căn hộ ở thành phố New York, vì công việc đòi hỏi
phải đi lại nhiều và tốn nhiều tiền trả cho khách sạn. Một căn hộ nhỏ trong
thành phố sẽ là giải pháp kinh tế. “Căn hộ ở thành phố New York” được viết ra
như một mục tiêu. Khi sử dụng phương pháp đạt mục tiêu này, chúng ta viết ra tất
cả các chi tiết, mặc dù về mặt lý trí, chúng dường như bất khả thi. Vì vậy, căn
hộ lý tưởng được mô tả chi tiết: giá cả hợp lý, trên Đại lộ Số 5, khu nhà số
70, ngay cạnh lối vào Công viên Trung tâm, ít nhất tám hoặc chín tầng, ở phía
sau để bớt tiếng ồn, và chỉ khoảng hai phòng rưỡi thôi.
Trong
giờ làm việc ngày hôm sau, công việc bận rộn như mọi khi, nhiều việc lớn, rồi họp
và thăm khám bệnh nhân. Giữa các cuộc họp và bệnh nhân, cảm giác khao khát căn
hộ được thừa nhận rồi lại được buông bỏ. Và, khi hết ngày, căn hộ thực sự đã bị
lãng quên. Vào lúc 4:30 chiều, sau khi thăm khám bệnh nhân cuối cùng, đột nhiên
tôi muốn lái xe vào thành phố. Mặc dù rõ ràng là giờ cao điểm, đường xá thông
thoáng và chỉ mất nửa tiếng lái xe. Chiếc xe chạy đến khoảng ngã tư Đường 73 và
Lexington. Rồi dừng lại trước văn phòng bất động sản gần nhất. Thật kỳ diệu, lại
có một chỗ đậu xe trống ngay trước văn phòng bất động sản. Nhân viên bất động sản,
khi nghe thấy lời tuyên bố hài hước rằng muốn tìm một căn hộ trên Đại lộ Số 5,
đã nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên và nói: “Ồ, anh thật may mắn! Đúng một tiếng trước,
chúng tôi đã đăng tin cho thuê căn hộ duy nhất trên Đại lộ Số 5, đường 76, trên
tầng 9. Đó là căn hộ phía sau, hai phòng rưỡi, và tiền thuê nhà khá hợp lý (giá
thuê được kiểm soát ở mức 500 đôla một tháng). Căn hộ vừa được sơn sửa lại và
anh có thể chuyển vào bất cứ lúc nào.” Vì vậy, chúng tôi đi bộ đến xem căn hộ. Nó
hoàn toàn phù hợp với mục tiêu đã đề ra. Hợp đồng thuê nhà được ký ngay lập tức!
Như vậy, chỉ trong vòng 24 giờ sau khi thử kỹ thuật buông bỏ đối với một mục
tiêu cá nhân cụ thể, mục tiêu đó đã trở thành hiện thực. Gần như không thể tìm được
căn hộ như thế, vậy mà nó đã xảy ra đúng như tưởng tượng, dễ dàng và không hề
có cảm xúc tiêu cực. Đó là trải nghiệm dễ dàng và vui vẻ.
Đây
không phải là trải nghiệm bất thường mà là trải nghiệm điển hình, vì trong trường
hợp này, mong muốn ở mức độ vừa phải và có thể, không cần nhiều nỗ lực, đã hoàn
toàn được từ bỏ. Việc hoàn toàn từ bỏ có nghĩa là chấp nhận việc mua được căn hộ,
và chấp nhận được việc không mua được. Chính vì đã hoàn toàn từ bỏ, điều không
thể đã trở thành có thể, tự hiển lộ một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Tất
cả chúng ta đều có thể nghi ngờ cơ chế này và nhìn lại những điều mình từng mong
muốn và đạt được thông qua tham vọng, khát khao, thèm muốn, và thậm chí là khao
khát mang tính ám ảnh, điên cuồng. Tâm trí tự hỏi: “Vậy nếu mình buông bỏ mong
muốn những thứ đó thì sao? Nếu không có mong muốn, làm sao mình có thể có được
chúng?” Sự thật là, chúng ta vẫn có thể có được chúng, chỉ là không lo lắng (sợ
không đạt được), không tốn nhiều năng lượng, không cần nỗ lực, không cần thử và
sai, và không cần làm việc vất vả.
“Vậy
thì!” Tâm trí nói rằng, “nếu ta đạt được nó một cách dễ dàng, thì tự hào về
thành tựu nằm ở đâu? Chẳng phải ta sẽ phải hy sinh cái đó hay sao?” Vâng, ta sẽ
phải từ bỏ sự phù phiếm của tất cả những hy sinh và nỗ lực mà ta đã bỏ ra. Ta sẽ
phải từ bỏ thái độ ủy mị về hy sinh và tất cả những đau đớn, khổ sở mà ta đã trải
qua để đạt được mục tiêu. Đây là sự lệch lạc kỳ lạ trong xã hội chúng ta, phải
thế không? Nếu ta đột nhiên thành công gần như không cần nỗ lực, thì mọi người
sẽ ghen tị. Điều đó thực sự làm họ khó chịu vì ta không phải trải qua đủ loại
đau khổ, thống khổ để đạt được điều đó. Tâm trí họ tin rằng thống khổ như thế
là cái giá phải trả để thành công.
Xin
xem xét niềm tin này. Nếu không phải vì lập trình tiêu cực làm cho ta tin ngược
lại, tại sao ta lại phải chịu đau đớn và khổ sở để đạt được bất cứ điều gì
trong cuộc đời? Chẳng phải đó là quan điểm khá tàn nhẫn về thế giới và vũ trụ hay
sao?
Những
rào cản khác đối với việc đạt được mong muốn và khao khát của chúng ta, tất
nhiên, trong vô thức, là mặc cảm tội lỗi và nhỏ bé. Kỳ lạ là, vô thức chỉ cho
phép chúng ta có được những gì chúng ta nghĩ là mình xứng đáng. Càng bám chặt
vào những thứ tiêu cực và hình ảnh thấp kém về bản thân do chúng tạo ra, chúng
ta càng thấy mình ít xứng đáng hơn; và một cách vô thức, ta tự khước từ sự sung
túc vốn đang tuôn chảy một cách dễ dàng tới những người khác. Đó là lý do để
người ta nói: “Người nghèo càng nghèo, người giàu càng giàu”. Nếu chúng ta có
cái nhìn nhỏ hẹp về chính mình, thì cái chúng ta xứng đáng nhận được là nghèo
khó, và vô thức sẽ đảm bảo rằng chúng ta có thực tại đó. Khi chúng ta từ bỏ sự
nhỏ bé và tái khẳng định sự ngây thơ bên trong chính mình, và khi chúng ta
buông bỏ chống lại hào phóng, cởi mở, lòng tin, yêu thương và đức tin của mình,
thì vô thức sẽ tự động bắt đầu sắp xếp các hoàn cảnh sống để sung túc bắt đầu
chảy vào cuộc đời của chúng ta.
Có—Làm—Hiện hữu
Khi
chúng ta đưa chính mình ra khỏi những trạng thái tâm thức thấp hơn như thờ ơ và
sợ hãi, là chúng ta bước vào trạng thái mong muốn. Cái trước đây là “Tôi không
thể” và bất khả thi thì giờ đây trở thành khả thi. Tiến triển chung của các tầng
tâm thức, khi chúng ta đi từ thấp nhất đến cao nhất, là chuyển từ “có” sang “làm”
rồi sang “hiện hữu”. Ở các tầng tâm thức thấp hơn, quan trọng là những gì chúng
ta có. Cái chúng ta có là cái chúng ta muốn. Chúng ta có những gì chúng ta đánh
giá cao. Cái chúng ta có tạo nên hình ảnh của mình về giá trị và vị trí của
chúng ta trên thế gian này.
Một
khi chúng ta đã chứng minh được với chính mình rằng chúng ta có thể có, các nhu
cầu cơ bản của chúng ta có thể được đáp ứng, chúng ta có khả năng đáp ứng nhu cầu
của chính mình và của những người phụ thuộc vào chúng ta, tâm trí bắt đầu quan
tâm hơn đến những việc chúng ta làm. Sau đó, chúng ta chuyển sang một bối cảnh
xã hội khác, trong đó những việc chúng ta làm trên thế gian là cơ sở cho giá trị
của chúng ta và cách người khác đánh giá chúng ta. Khi tình yêu thương của
chúng ta ngày càng sâu sắc hơn, hành động của chúng ta càng ít tập trung vào việc
phục vụ chính mình và càng hướng đến việc phụng sự tha nhân. Khi tâm thức của
chúng ta phát triển, chúng ta nhận thấy rằng phụng sự, vốn hướng đến người khác
bằng tình yêu thương, tự động dẫn đến việc đáp ứng các nhu cầu của chính chúng
ta. (Điều này không có nghĩa là hy sinh. Phụng sự không phải là hy sinh.) Cuối
cùng, chúng ta tin chắc rằng nhu cầu của mình được vũ trụ tự động đáp ứng, và
hành động của chúng ta gần như tự động trở thành yêu thương.
Tại
thời điểm đó, quan trọng không còn là những việc chúng ta làm trên thế gian mà
là con người mà chúng ta đang là. Chúng ta đã chứng minh cho chính mình rằng
chúng ta có thể có được những gì mình cần, và nếu sẵn sàng, chúng ta có thể làm
được hầu hết mọi thứ. Và giờ đây, con người chúng ta, cả bên trong và đối với
người khác, trở thành quan trọng nhất. Mọi người giờ đây muồn làm bạn với chúng
ta, không phải vì của cải chúng ta có, không phải vì những việc chúng ta làm và
những nhãn mác của xã hội, mà vì con người mà chúng ta đã trở thành. Vì chất lượng
của sự hiện diện của chúng ta, mọi người chỉ muốn ở bên cạnh chúng ta và trải
nghiệm chúng ta. Mô tả xã hội của chúng ta thay đổi. Chúng ta không còn là người
sở hữu căn hộ thời thượng, xe hơi sang hay bộ sưu tập đồ lặt vặt, cũng không
còn được gắn mác là Chủ tịch của Tập đoàn X hay thành viên Hội đồng quản trị của
một tổ chức nào đó. Giờ đây, chúng ta được mô tả là một người tuyệt vời, một
người mà mọi người nhất định phải gặp, nhất định phải biết. Chúng ta trở thành
một người có sức cuốn hút.
Tầng
hiện hữu này là đặc trưng của các nhóm tự giúp nhau. Trong các nhóm tự giúp
nhau, không ai quan tâm đến những việc người khác làm trên thế gian hay những của
cải mà họ có. Họ chỉ quan tâm đến việc chúng ta có đạt được những mục tiêu nội
tâm nhất định hay không, chẳng hạn như trung thực, cởi mở, chia sẻ, yêu thương,
sẵn sàng giúp đỡ, khiêm nhường, chân thành và tỉnh thức. Họ quan tâm đến phẩm
chất của sự hiện hữu của chúng ta.
Hào nhoáng
Hào
nhoáng là chủ đề rất hữu ích, cần tìm hiểu. Khi hiểu được nó, chúng ta sẽ dễ
dàng buông bỏ ham muốn. Cuốn sách nhan đề Glamour: A World Problem (Hào
nhoáng: Vấn đề của thế giới - 1950) của Alice Bailey trình bày toàn bộ chủ đề
này theo lối chuyên nghiệp.
Nếu
nhìn vào cái mà chúng ta muốn, chúng ta có thể bắt đầu phân biệt giữa chính vật
đó với hào quang, hình thức bên ngoài, sự lấp lánh và sức hấp dẫn của một phẩm
chất mà có thể được mô tả một cách tốt nhất là “hào nhoáng”. Chính sự khác biệt
giữa bản chất của vật đó và vẻ háo nhoáng mà chúng ta gán cho nó dẫn đến vỡ mộng.
Thường thì chúng ta theo đuổi một mục tiêu nào đó, và rồi khi đạt được nó,
chúng ta lại cảm thấy thất vọng. Đấy là do tự thân vật đó không trùng khớp với
hình ảnh mà chúng ta tưởng tượng về nó. Hào nhoáng có nghĩa là chúng ta đã gán
ghép sự ủy mị vào đó, hoặc chúng ta đã thổi phồng nó lên hơn là thực tế. Chúng
ta đã phóng chiếu lên cái đó phẩm chất kỳ diệu nào đó, bằng cách nào đó khiến
chúng ta tin rằng, một khi có được nó, chúng ta sẽ đạt được trạng thái hạnh
phúc và thỏa mãn cao hơn.
Nó
rất thường xảy ra với các mục tiêu nghề nghiệp. Người đàn ông làm việc hết năm
này qua năm khác, phấn đấu để trở thành chủ tịch công ty hoặc trở thành người
quan trọng và nổi bật theo một cách nào đó. Khi đạt được điều đó, anh ta kỳ vọng
sẽ trải nghiệm tất cả sự hài lòng và hào nhoáng gắn liền với thành tựu: được
các nhân viên nịnh bợ, có những chiếc xe sang, văn phòng nổi bật, nhãn hiệu,
danh hiệu và những địa chỉ độc quyền. Nhưng cái mà anh ta nhận ra là tất cả những
thứ này đều chỉ là vẻ ngoài. Chúng không bù đắp được năng lượng bị hao mòn một
cách đau đớn và công việc vất vả hàng ngày mà vị trí đó đòi hỏi. Trong khi anh
ta hình dung mình sẽ được ngưỡng mộ, thì điều anh ta thường thấy ở cấp bậc cao
nhất lại là độc ác, cạnh tranh, đố kỵ và nịnh hót không bao giờ dứt cùng với những
thủ đoạn bất lương mà những người có quyền thường sử dụng, trong đó có cả những
cuộc tấn công đầy hoang tưởng của các đối thủ cạnh tranh. Anh ta nhận thấy sức
lực của mình bị vắt cạn đến mức không còn năng lượng cho đời sống cá nhân; các
mối quan hệ bị tổn hại. Vợ anh ta phàn nàn rằng anh ta suy kiệt đến mức không
còn sức để làm tình, không còn năng lượng để đáp ứng nhu cầu của cô ấy, không
còn sức để làm một người cha tốt, và thậm chí quá mệt mỏi, không còn sức để tận
hưởng những hoạt động giải trí mà anh ta yêu thích.
Cũng
có thể nói như thế về người phụ nữ có thành tích trong những lĩnh vực truyền thống
được coi là nữ tính. Ví dụ, một người phụ nữ nghĩ rằng nếu cô ta mua một chiếc
váy hàng hiệu nào đó để đi dự tiệc, chiếc váy đó được mọi người chú ý, tán
dương và ngưỡng mộ, và sẽ giúp cô ta vươn tới địa vị xã hội nhất định. Cô ta bỏ
ra khá nhiều tiền và công sức cho chiếc váy, chạy đi chạy lại để thử đồ. Nhưng chuyện
gì đã xảy ra? Ngay trong bữa tiệc tối, chỉ có một vài lời bình luận thoáng qua
về chiếc váy của cô ta và thế là hết. Không ai khiêu vũ với cô ta nhiều hơn
bình thường. Cô ta không nổi bật hơn so với trước bữa tiệc. Không có sự chú ý
chân thành nào dành cho cô ta hơn trước đây. Cô ta nhận được một số ánh nhìn
thù địch, ghen tị từ những người phụ nữ đoán được số tiền mà cô ta có thể đã bỏ
ra để mua chiếc váy. Buổi tối đó, như thường lệ, cô ấy lại cãi nhau với chồng,
và cũng như trước đây họ về nhà trên xe mà hầu như không ai nói chuyện với ai,.
Khi
phụ nữ đạt được những tiến bộ trong lĩnh vực doanh nghiệp và chính trị, họ phải
đối mặt với thất vọng song hành với vai trò người lãnh đạo mà người đó có sức quyến
rũ trước công chúng mà người đó hằng khao khát. Cái tưởng là sẽ nâng cao uy tín
và kính trọng lại tạo ra những lời chỉ trích, ghen tị và thù địch—thậm chí từ
những người phụ nữ khác. Trải nghiệm của việc đạt được mục tiêu thường không
như họ nghĩ. Lúc nào cũng có những phán xét về hình ảnh và trang phục, và bà ta
có thể có cảm giác lo lắng rằng mình đã làm cho gia đình thất vọng khi theo đuổi
sự nghiệp. “Chiến thắng” đôi khi không làm cho người ta tự do như vẻ hào nhoáng
bề ngoài mà chúng muốn ta tin.
Những
mục tiêu cảm xúc cũng có sức quyến rũ bởi sự ủy mị và tình cảm. Một sự phấn
khích nhất định được phóng chiếu lên sự kiện mang tính cảm xúc (ví dụ, một cuộc
hội ngộ, một buổi hẹn hò đầu tiên, hoặc được bầu làm lớp trưởng). Nó được làm
cho dường như là quan trọng hơn thực tế. Sau khi sự kiện qua đi, cuộc sống vẫn
tiếp diễn như cũ và người ta lại cảm thấy thất vọng.
Tất
nhiên, hào nhoáng thể hiện rất rõ trong quảng cáo. Ở đây chúng ta thấy nó một
cách độc nhất vô nhị. Hình ảnh chàng cao bồi là tô điểm hào nhoáng cho nam
tính, và hình ảnh vũ công ba lê tô điểm hào nhoáng cho nữ tính. Đàn ông bị thu
hút bởi cá tính, chứ không phải thương hiệu; do đó, chàng cao bồi đại diện cho
hình ảnh người đàn ông được tô điểm hào nhoáng, mạnh mẽ, ngầu, lịch lãm và tự
chủ. Người tiêu dùng gán cho sản phẩm kỳ vọng rằng nó sẽ mang lại cho họ những
đặc điểm tính cách mà họ mong muốn.
Tô
điểm hào nhoáng là sống trên tầng tưởng tượng. Vì vậy, khi chúng ta từ bỏ một
ham muốn, chúng ta phải phân tích kỹ những gì là sự phóng đại, tưởng tượng và
lãng mạn hóa. Một khi đã từ bỏ hào nhoáng, việc từ bỏ chính ham muốn đó sẽ
tương đối dễ dàng hơn. Ví dụ, nếu bạn từ bỏ sự lãng mạn hóa hình ảnh chàng cao
bồi, thì điếu thuốc lá hay chiếc bánh mì kẹp thịt mà anh ta cầm trong quảng cáo
sẽ không còn hấp dẫn nữa. Thực tế, điều làm cho chúng ta ngạc nhiên là, hết lần
này đến lần khác, chúng ta nhận ra rằng ham muốn đó gắn liền với tưởng tượng
hào nhoáng; ngay từ đầu nó không có thực tại. Bởi vì nó không có thực tại, thế
giới liên tục bán cho chúng ta dối trá, chiều theo ham muốn của chúng ta về
khía cạnh lãng mạn, hào nhoáng đó. Nó hứa hẹn làm chúng ta thành người quan trọng
hơn là con người mà chúng ta đang là. Hào nhoáng đến mức thiếu trung thực như
thế là hàng giả.
Tâm
trí phản đối: “Tôi có phải từ bỏ tất cả sự phấn khích có tính hào nhoáng đó hay
không? Tôi có phải buông bỏ những hình ảnh về sự thỏa mãn mang tính cảm xúc và
sự phấn khích của mình hay không?” Câu trả lời rõ ràng là “Không”. Chúng ta
không cần phải hoàn toàn từ bỏ những thứ đó. Khi chúng ta nhận thức được những
gì mình đang lựa chọn thì chúng ta có thể đạt được mục tiêu một cách dễ dàng và
không tốn nhiều công sức. Chúng ta có thể có được những thứ đó một cách trực tiếp.
Chúng ta có thể trở thành người hấp dẫn, nhưng chúng ta sẽ không đạt được điều
đó bằng cách giả tạo, ví dụ như lái một kiểu xe nhất định. Chúng ta sẽ đạt được
điều đó bằng cách buông bỏ sự nhỏ bé của mình và sở hữu sự vĩ đại của chính
mình, và phản chiếu nó ra thế giới. Chúng ta hoàn toàn có thể trở thành người
thú vị mà mọi người háo hức muốn biết. Chỉ cần chọn trở thành người đó và buông
bỏ rào cản của việc mong muốn trở thành người đó. Chúng ta có thể có được những
gì mình muốn trực tiếp mà không cần phải đi đường vòng qua những lời hứa hão
huyền, sẽ làm cho chúng ta thất vọng và chán nản.
Trở thành người thú vị mà mọi người muốn biết là công việc dễ dàng. Chỉ cần hình dung ra kiểu người mà mình muốn trở thành và buông bỏ tất cả những cảm xúc tiêu cực và rào cản ngăn cản chúng ta trở thành người như thế. Sau đó, tất cả những gì chúng ta cần có và cần làm sẽ tự động được sắp xếp vào đúng vị trí. Đấy là do, khác với có và làm, tầng hiện hữu có sức mạnh và năng lượng cao nhất. Khi được ưu tiên, nó sẽ tự động tích hợp và tổ chức các hoạt động của người đó. Cơ chế này được chứng minh bằng kinh nghiệm phổ biến, “Những gì chúng ta lưu giữ trong tâm trí có xu hướng tự hiển lộ.”
Sức mạnh của quyết định
nội tâm
Đây
không phải là những quan điểm triết học mà là những quy trình thực tiễn có thể
được chứng minh bằng trải nghiệm. Dễ dàng thử nghiệm với những khái niệm này và
quan sát kết quả tự động diễn ra. Bởi vì xu hướng của tâm trí là quy công trạng
cho cái gì đó/người nào đó, chứ không gán công trạng cho sức mạnh của chính tâm
thức của chúng ta, cho nên ghi nhật ký để viết ra những mục tiêu mà chúng ta thực
sự muốn đạt được, sau đó kiểm tra và ghi lại là rất hữu ích. Vì sao? Vì sẽ mất
một thời gian trước khi chúng ta tin rằng đó thực sự là sức mạnh của chính chúng
ta đang giúp chúng ta đạt được những mục tiêu đó.
Đây
là một ví dụ thú vị về phủ nhận sức mạnh nên trong. Một người đàn ông đang rất
cần việc làm và khá lo lắng về sự kiện này, ông ta được hướng dẫn cách áp dụng
kỹ thuật buông bỏ. Vì là người có đức tin, ông ta được khuyên nên quên sự kiện
là mình đang tìm việc làm, và giao phó nó cho Thiên Chúa, và từ bỏ mong muốn của
mình về vấn đề này trong khi vẫn cởi mở với những gì có thể xảy ra. Một tuần
sau, ông ta kể lại: “Vâng, ngày hôm sau khi tôi từ bỏ mong muốn có việc làm, chẳng
có gì xảy ra cả. Rồi tôi nhận được điện thoại đường dài của anh rể, và tôi làm
cho công ty của anh ấy. Nếu không có anh rể, tôi sẽ chẳng bao giờ tìm được được
việc làm. Thật may là tôi đã không chờ đợi Thiên Chúa!”
Đây
là một ví dụ điển hình về xu hướng của tâm trí. Tất nhiên, chính vì anh ta đã
buông bỏ cho nên anh rể mới gọi cho anh ta. Anh ta khao khát công việc đến mức
chính mong muốn đó đã cản trở việc hoàn thành mục tiêu. Khi anh ta buông bỏ
mong muốn có việc làm, công việc xuất hiện ngay trong vòng 24 giờ. Nhưng khuynh
hướng của tâm trí là chối bỏ sức mạnh của chính mình và phóng chiếu nó ra thế
giới bên ngoài. Đó là lý do vì sao người ta tự đánh giá mình là bất lực. Họ có
sức mạnh đích thực, nhưng họ chỉ đơn thuần là phóng chiếu nó lên các thế lực
bên ngoài. Chúng ta đều là những thực thể đầy sức mạnh, nhưng lại không ý thức được
sức mạnh của chính mình; chúng ta phủ nhận và vì mặc cảm tội lỗi và cảm giác rằng
mình là con người nhỏ bé chúng ta đổ lỗi cho người khác.
Phần
lớn những sự kiện xảy ra trong cuộc đời chúng ta là kết quả của một số quyết định
mà chúng ta đã đưa ra trong quá khứ, dù là có ý thức hay vô thức. Vì vậy, đơn
giản là nhìn lại những quyết định trong quá khứ của chúng ta bằng cách nhìn vào
cuộc đời mình và truy ngược lại.
Nguyên
tắc này được minh họa bởi một người phụ nữ đến tìm kiếm liệu pháp tâm lý. Cô ta
cần điều trị vì, theo lời cô ta: “Các mối quan hệ của tôi không bao giờ thành
công.” Cô ấy trải qua hết mối tình không thỏa mãn này đến mối tình không thỏa
mãn khác và luôn cảm thấy bị lợi dụng và ngược đãi. Lòng đầy oán hận, than thân
trách phận và trầm cảm. Vấn đề, tất nhiên, đã được nêu rõ trong câu mở đầu của
cô ấy: “Các mối quan hệ của tôi không bao giờ được như ý.”
Vì
chúng ta phủ nhận sức mạnh đích thức của chính tâm trí mình, chúng ta không
nhìn thấy điều hiển nhiên. Thật kỳ lạ là chúng ta lại trở thành người không tỉnh
giác đền như thế. Đây là người phụ nữ có câu trả lời ngay trước mắt, nhưng cô ấy
không nhận ra đó chính là câu trả lời. Cô ấy thực sự không thấy được sức mạnh của
hệ thống niềm tin của chính mình. Tâm trí của chúng ta mạnh mẽ đến nỗi, nếu
chúng ta lưu giữ trong tâm trí một suy nghĩ duy nhất, ví dụ như: “Các mối quan
hệ của tôi không bao giờ được như ý,” thì điều đó rất có thể sẽ xảy ra trong cuộc
đời chúng ta. “Thần đèn” vô thức của chúng ta, nó chỉ có thể nhận lệnh chứ
không thể đưa ra quyết định, đảm bảo rằng các mối quan hệ của chúng ta sẽ không
được như ý.
Tất
nhiên, cô ấy đã nhận được rất nhiều phần thưởng từ lịch sử tình ái đáng thất vọng
của mình. Cô ấy được trải nghiệm thái độ than thân trách phận, oán hận, ghen tị,
đố kỵ và tất cả những sự thỏa mãn mà cái tôi nhỏ bé luôn luôn không ngừng nuôi
dưỡng. Nếu chúng ta nhìn vào phần nhỏ bé của chính mình, chúng ta sẽ thấy rằng
đây là những thứ mà nó thích đắm chìm vào. Tự ngã nhỏ bé rất hả hê trước cuộc đời
khốn nạn, vận rủi, những trải nghiệm tồi tệ và người khác đã đối xử tệ bạc với
chúng ta. Nhưng chúng ta phải trả giá rất đắt khi nghe theo những chương trình
này.
Hệ
quả tất yếu là đúng. Nếu tâm trí của chúng ta, bằng quyết định của nó, có quyền
tạo ra những thứ tiêu cực trong cuộc đời, thì nó cũng có quyền lực tương đương
như thế theo hướng ngược lại - tích cực. Chúng ta có thể lựa chọn lại từ đầu. Lần
này chúng ta có thể chọn cái tích cực. Chúng ta có thể hủy bỏ những chương
trình cũ, và chúng ta có thể làm điều đó bằng cách bắt đầu từ bỏ sự thỏa mãn mà
chúng ta nhận được từ những kết quả tiêu cực.
Giờ
đây, sau khi đã xem xét vấn đề này, chúng ta có thể có thuật ngữ mô tả chính
xác nhất tập hợp những cảm xúc vừa nói: “ích kỷ”. Chỉ cần sử dụng từ này thì
cũng đã ngay lập tức tạo ra phản kháng, đấy là do mặc cảm tội lỗi mà ra. Tất cả
chúng ta đều có mặc cảm tội lỗi vì sự ích kỷ của mình. Điều này đẩy chúng ta
vào thế tiến thoái lưỡng nan: để làm được những việc thế giới đã dạy, ta phải
trở thành người ích kỷ — chính là cái mà sau đó thế giới lại dùng để chỉ trích
ta. Trước khi xem xét chủ đề này, xin thống
nhất một điều: chúng ta sẽ không tự hành hạ mình hay sa đà vào sự ủy mị của mặc
cảm tội lỗi. Suy cho cùng, mặc cảm tội lỗi thực chất là một kiểu nuông chiều bản
thân quá mức, có phải vậy không?
Thay
vào đó, xin coi thuật ngữ “ích kỷ” chỉ đơn thuần là mô tả những động cơ và
phương thức hoạt động mang tính tập thể của tự ngã nhỏ bé, một khía cạnh di
truyền của tâm trí mà do sự ngây thơ của chính mình, chúng ta đã cho phép chính
mình bị lập trình như thế, và giờ đây chúng ta quyết tâm quay ngược chương
trình, giống như lệnh “gỡ cài đặt” trên máy tính.
Lý
do để từ bỏ tính ích kỷ không phải vì mặc cảm tội lỗi. Không phải vì nó là “tội”.
Không phải vì nó “sai”. Tất cả những động cơ đó đều xuất phát từ tâm thức thấp
hơn và tự phán xét. Thay vào đó, lý do để buông bỏ tính ích kỷ đơn giản là vì
nó là phương thức vận hành kém hiệu quả. Không hiệu quả. Quá tốn kém. Tiêu tốn
quá nhiều năng lượng. Trì hoãn việc hoàn thành mục tiêu và hiện thực hóa mong
muốn của chúng ta. Do bản chất của nó, tự ngã nhỏ bé là kẻ tạo ra mặc cảm tội lỗi
và tự duy trì nó; nghĩa là, vì mặc cảm tội lỗi mà chúng ta cố gắng hoàn thành
và đạt được thành công. Rồi khi có được thành công, chúng ta lại có mặc cảm tội
lỗi vì mình đã thành công. Không có cách nào thắng được trò chơi mặc cảm tội lỗi.
Giải pháp duy nhất là từ bỏ nó, buông bỏ nó.
Tâm
trí muốn chúng ta nghĩ rằng mặc cảm tội lỗi là đáng khen ngợi, và những kẻ gieo
rắc mặc cảm tội lỗi trên thế giới thích tôn thờ nó. Cái gì quan trọng hơn: có mặc
cảm tội lỗi hay thay đổi để trở thành người tốt hơn? Nếu người nào đó nợ chúng
ta tiền, chúng ta muốn họ có mặc cảm tội lỗi hay muốn họ trả tiền cho chúng ta?
Nếu chúng ta có ý định có mặc cảm tội lỗi, ít nhất chúng ta nên chủ động lựa chọn
thái độ đó thay vì bị nó chi phối một cách vô thức.
Khi
vượt qua được thói ích kỷ tầm thường để hướng tới Đại Ngã với chữ S viết hoa,
ta cũng đồng thời dịch chuyển từ tự ngã nhỏ bé sang Đại ngã Lớn hơn. Đó là hành
trình đi từ yếu kém đến sức mạnh đích thực, từ tự căm ghét chính mình và tự ti sang
yêu thương và hài hòa. Chúng ta chuyển từ xung đột sang dễ chịu, từ thất vọng
sang thành tựu.
Tóm
lại, thay vì vận hành bằng động cơ ích kỷ và ham muốn, chúng ta có thể đưa những
điều mình mong muốn vào cuộc đời một cách nhẹ nhàng hơn: hình dung về kết quả
mà mình mong muốn. Chúng ta làm việc này bằng cách tuyên bố ý định, chấp nhận,
quyết định và bằng hành động lựa chọn một cách có ý thức.
No comments:
Post a Comment