March 7, 2026

BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI (6)

 

BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI 

David R. Hawkins, M. D., Ph. D. 

Phạm Nguyên Trường dịch 

Phần II 

ÁP DỤNG THỰC TẾ 

Trong phần này, Tiến sĩ Hawkins áp dụng Bản đồ Tâm thức vào ba lĩnh vực quan trọng của con người: sức khỏe thể chất, thành công và cai nghiện. Một giáo lý quan trọng là: “Những điều chúng ta lưu giữ trong tâm trí có xu hướng trở thành sự thật.” Một giáo lý khác là lịch sự với người khác, ông bảo chúng ta trau dồi theo cách này: “Khi tham gia giao thông, hãy luôn để người khác đi trước.” Ông hứa rằng, đây chính là sức mạnh bí mật của thành công!

Trong Chương 6, về cai nghiện, chúng ta được hưởng lợi từ nhiều thập kỷ kinh nghiệm lâm sàng của Tiến sĩ Hawkins với quy trình Mười Hai Bước và quan hệ thân thiết của ông với Bill Wilson, người đồng sáng lập Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh. Những truyền thống như “ẩn danh như nền tảng tâm linh”, “nguyên tắc đặt trước cá tính” và “thu hút, chứ không cổ động” giúp một nhóm người luôn luôn đi đúng hướng. Ông cũng gợi ý rằng quy trình Mười Hai Bước có thể được áp dụng cho bất kỳ vấn đề nào của con người, trong đó có cả vượt qua sự nghiện ngập đối với chính bản ngã của chúng ta. Nói chung, hành trình chữa lành là buông bỏ những năng lượng tiêu cực ngăn cản hạnh phúc và niềm vui bẩm sinh của chúng ta. “Khi mây tan, mặt trời sẽ chiếu sáng” là một trong những châm ngôn yêu thích của Tiến sĩ Hawkins. Dưới đây là câu chuyện ông kể để minh họa cho quá trình này: 

Càng buông bỏ, chúng ta càng trở nên yêu thương hơn. Càng ngày càng nhiều thời gian trong cuộc sống của chúng ta sẽ được dành để làm những việc mình yêu thích, dành cho những người mà chúng ta ngày càng yêu thương hơn. Khi sự kiện này xảy ra, đời sống của chúng ta sẽ được chuyển hóa. Tình yêu là năng lượng cảm xúc mạnh mẽ nhất. Vì tình yêu, người ta sẵn sàng lao vào bất cứ thử thách nào và làm những việc mà có trả bao nhiêu tiền họ cũng sẽ chẳng bao giờ làm. Khi những rào cản tiêu cực và những câu nói “Tôi không thể” được loại bỏ, những lĩnh vực hoàn toàn mới trong cuộc đời sẽ mở ra cho chúng ta.

Xin xem xét ví dụ về một cô gái trẻ có nhiều tài năng âm nhạc bẩm sinh, từng dành phần lớn thời gian cho một công việc nhàm chán mà cô cảm thấy mình phải gắn bó vì phải kiếm tiền. Việc cô ấy thực sự thích là ở nhà một mình và đánh đàn. Đấy hoàn toàn vì niềm vui cá nhân. Vì thiếu tự tin, cô ấy ít khi đánh đàn cho người khác nghe, kể cả bạn bè thân thiết.

Sau khi bắt đầu buông bỏ những giới hạn bên trong – tất cả những cảm xúc tiêu cực không cho cô thể hiện bản thân mình – khả năng và sự tự tin của cô phát triển nhanh chóng đến mức cô bắt đầu chơi nhạc trước công chúng. Tài năng của cô được đón nhận nồng nhiệt, và một sự nghiệp âm nhạc đầy bận rộn bắt đầu. Cô đã hoàn thành một bản thu âm chuyên nghiệp thành công đến mức cô có thể dành một nửa thời gian để làm công việc mà mình vẫn làm, và bắt đầu dành nhiều thời gian và năng lượng cho sự nghiệp đang đơm hoa kết trái, mang lại cho cô niềm vui và thỏa mãn lớn lao hơn. Mặc dù không biết gì về kinh doanh, cô đã bắt đầu công việc kinh doanh âm nhạc của chính mình và trong vòng một năm, đã phân phối các bản thu âm trên khắp cả nước, rồi sau sang cả châu Âu.

Cô rất vui mừng khi thấy mình rất thành công khi làm những việc mình thích nhất. Sức sống và hạnh phúc ngày càng tăng của cô ấy thể hiện rõ ràng với mọi người, và thành công lan rộng sang các lĩnh vực khác trong cuộc đời của cô.

Thành công bắt nguồn từ việc làm những gì chúng ta thích làm nhất, nhưng hầu hết mọi người lại bị trói buộc bởi những việc mà họ tưởng là mình phải làm. Khi giới hạn được loại bỏ, những con đường sáng tạo và thể hiện hoàn toàn mới sẽ mở ra. Trong ví dụ về nữ nhạc sĩ sẵn sàng buông bỏ sợ hãi và tự nghi ngờ chính mình, bạn có thể thấy sự thay đổi bên trong đã mở ra cuộc sống bên ngoài của cô ấy theo những cách mà cô chưa từng tưởng tượng nổi.

 

Chương 4 

SỨC KHOẺ VÀ HẠNH PHÚC 

Từ những nguyên tắc đã thảo luận bên trên, rõ ràng là thay đổi thực sự xảy ra từ bên trong, đấy là khi chúng ta nắm giữ sức mạnh chính trực bên trong của mình bằng cách hòa hợp với  những trường hút mạnh mẽ như Can đảm, Chấp nhận, Tình yêu và Hào phóng. Sức mạnh này tác động trực tiếp vào cái “ABC” của cuộc đời chúng ta—tức là những nguyên tắc tổ chức, thái độ bên trong và ý chí chủ đạo—từ đó những trải nghiệm thực tế mới xuất hiện. Do đó, chỉ có một cách tăng cường sức khỏe, hạnh phúc hoặc thành công của chúng ta, đó là nâng cao tầng tâm thức. Nếu chúng ta cố gắng làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn bằng cách thay đổi các yếu tố bên ngoài, A B C, thì chúng ta sẽ thất vọng. Cách tiếp cận này là vô ích, như người ta vẫn nói: “Chẳng khác gì sắp xếp ghế trên boong tàu Titanic”, mà đây lại là chiến lược của hầu hết mọi người. Họ làm việc nhằm thay đổi các yếu tố bên ngoài của cuộc đời mà không nhìn vào đấu trường bên, đấy mới là nơi tất cả đều xuất hiện.

Tin tốt là chỉ cần hòa hợp với sự thật đầy quyền năng cũng có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong cuộc đời của bạn.

Trong lĩnh vực sức khỏe, sự thật đầy quyền năng này là sự chuyển đổi từ “Tôi là cơ thể” thành “Tôi có một cơ thể”. Người bình thường rất quan tâm tới cơ thể, quan tâm tới chức năng, hiệu suất, ngoại hình và sự sống còn của nó. Mọi người thường đồng nhất cơ thể với “tôi” và do đó dành phần lớn sự chú ý trong lúc thức để xem cơ thể vận động như thế nào, trông ra sao và những chỉ số của nó. Đây là tầng tâm thức rất hạn chế. Đó là đồng nhất sai lầm, do Cái Biết bị thu hẹp, chẳng khác gì việc bạn có một cái mụn mọc ngay ở mũi và nghĩ rằng cả thế giới giờ đây xoay quanh cái mụn đó, thế là cái mụn đó hiện hữu trong tâm trí suốt cả ngày. 

CƠ THỂ TUÂN THEO TÂM TRÍ 

Nguyên tắc cơ bản cần nắm được là thân thể tuân theo tâm trí; do đó, thân thể có xu hướng biểu hiện những điều mà tâm trí tin tưởng. Niềm tin có thể được lưu giữ một cách có ý thức hoặc vô thức. Cách ngôn này bắt nguồn từ quy luật của tâm thức: Chúng ta chỉ chịu tác động bởi những gì mình lưu giữ trong tâm trí. Sức mạnh duy nhất mà bất kỳ điều gì có thể chi phối chúng ta chính là sức mạnh của niềm tin mà chúng ta trao cho nó. Ở đây, khi nói về “sức mạnh” là chúng ta muốn nói đến năng lượng và ý chí để tin vào điều đó.

Nhìn vào Bản đồ Tâm thức, dễ dàng để thấy vì sao tâm trí lại mạnh mẽ hơn thân thể. Trường năng lượng của Lý trí (điểm hiệu chỉnh 400), với niềm tin và khái niệm của tâm trí, mạnh mẽ hơn trường năng lượng của thân thể vật lý (điểm hiệu chỉnh 205). Do đó, thân thể sẽ thể hiện những niềm tin được lưu giữ trong tâm trí, dù những niềm tin này là hữu thức hay vô thức. Một trong những nhiệm vụ của tâm thức là chấp nhận diện mạo cá nhân của bạn (dù diện mạo đó là gì thì cũng thế), mà không tự hạ thấp bản thân.

Việc chúng ta dễ dàng chấp nhận những niềm tin tiêu cực tùy thuộc vào việc chúng ta vốn dĩ đang lưu giữ sẵn bao nhiêu tiêu cực trong chính mình. Ví dụ, tâm trí tích cực sẽ không chấp nhận những suy nghĩ tiêu cực và đơn giản là bác bỏ chúng, coi những ý nghĩ này là không đúng đối với mình. Không chấp nhận những ý tưởng tiêu cực mà những người khác thường chập nhận. Chúng ta biết rằng rất dễ dàng thuyết phục một người đầy mặc cảm tội lỗi tự lên án chính mình, hoặc gieo rắc sợ hãi về một căn bệnh nào đó cho một người đang sợ hãi.

Ví dụ, ý tưởng cho rằng cảm lạnh rất dễ lây là một ví dụ điển hình. Ý nghĩ cho rằng mọi người đều bị cảm lạnh sẽ được một người có nhiều mặc cảm tội lỗi, sợ hãi và ngây thơ về các quy luật của tâm thức chấp nhận. Vì mặc cảm tội lỗi vô thức, người đó sẽ cảm thấy theo lối vô thức rằng họ “xứng đáng” bị cảm lạnh. Cơ thể tuân theo niềm tin của tâm trí rằng cảm lạnh là do virus gây ra, và chúng “dễ lây lan” và dễ truyền nhiễm. Do đó, cơ thể, được điều khiển bởi niềm tin của tâm trí, biểu hiện ra thành bệnh cảm lạnh. Người đã buông bỏ những năng lượng tiêu cực tiềm ẩn của mặc cảm tội lỗi và sợ hãi sẽ không có tâm trí sợ hãi để tin rằng: “Cảm lạnh đang lây lan; chắc tôi cũng sẽ bị như những người khác.” Trong nhiều trường hợp “Cảm lạnh đang lây lan,” nhưng sự kiện là nhiều người không “bị cảm” dù tiếp xúc với cùng môi trường như những người mắc bệnh.

Suy nghĩ (điểm hiệu chỉnh 400) mạnh mẽ vì nó có tần số rung động cao hơn so với cơ thể (điểm hiệu chỉnh 205). Mỗi ý nghĩ thực chất là một vật; nó có mô thức năng lượng. Chúng ta càng dành nhiều năng lượng cho ý nghĩ, nó càng có nhiều sức mạnh để thể hiện ra về mặt vật chất. Đây là nghịch lý của phần lớn cái gọi là giáo dục sức khỏe. Ảnh hưởng mang tính nghịch lý là những ý nghĩ sợ hãi được củng cố và được trao quá nhiều sức mạnh đến nỗi phương tiện truyền thông thực sự đang tạo ra dịch bệnh (ví dụ, cúm lợn). Những “cảnh báo” dựa trên sợ hãi về những nguy hiểm đối với sức khỏe thực sự tạo ra môi trường tâm trí mà trong đó chính cái mà người ta sợ sẽ xảy ra. Làm sao cái đó lại có thể xảy ra? Chồng khớp lên cơ thể vật lý là cơ thể năng lượng, với hình dáng rất giống cơ thể vật lý với các mô thức thực sự điều khiển cơ thể vật lý. Ý định và tư tưởng của chúng ta tạo được ảnh hưởng trực tiếp lên những mô thức năng lượng này. Như vật lý lượng tử cao cấp đã chứng minh, chỉ riêng hành động quan sát cũng đủ để tác động đến các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao.

Sức mạnh của tâm trí đối với cơ thể được chứng minh bằng nghiên cứu lâm sàng. Ví dụ, trong một nghiên cứu, một nhóm phụ nữ được cho biết rằng họ sẽ được tiêm hormone để có kinh nguyệt sớm hơn hai tuần. Trên thực tế, họ chỉ được tiêm giả dược là dung dịch muối. Tuy nhiên, hơn 70% phụ nữ đã bị hội chứng tiền kinh nguyệt sớm với tất cả các triệu chứng về thể chất và tâm lý.

Người ta cũng thấy quy luật tâm thức này ở những người mắc chứng rối loạn phân ly: các nhân cách khác nhau trong cùng một cơ thể có các biểu hiện khác nhau về thể chất. Ví dụ, có những thay đổi trong sóng điện não đồ, cũng như những thay đổi từ tay trái sang tay phải hoặc ngược lại khi viết chữ, thay đổi trong ngưỡng chịu đau, trong phản ứng điện da, chỉ số IQ, chu kỳ kinh nguyệt, sự chi phối của bán cầu não, khả năng học ngôn ngữ, giọng nói và thị lực. Do đó, khi nhân cách tin vào dị ứng xuất hiện trong người đó, người đó sẽ bị dị ứng; nhưng khi một nhân cách khác xuất hiện trong cơ thể, dị ứng biến mất. Một nhân cách có thể cần đeo kính, còn nhân cách kia thì không. Những nhân cách khác nhau này thực sự có những khác biệt đáng kể về áp lực nội nhãn và các chỉ số sinh lý khác.

Những người không mắc chứng rối loạn phân ly, nhưng khi bị thôi miên cũng có những hiện tượng vật lý như thế. Chỉ một gợi ý đơn giản cũng có thể tạo ra các bệnh dị ứng. Khi đang trong trạng thái bị thôi miên, nếu gợi ý rằng họ bị dị ứng với hoa hồng thì sau khi tỉnh lại họ sẽ bắt đầu hắt hơi nếu nhìn thấy một bình hoa hồng trên bàn của bác sĩ, ngay cả khi đó là bông hoa giả.

Sau cả cuộc đời nghiên cứu, Ngài John Eccles, khôi nguyên Nobel, tuyên bố rằng rõ ràng là não bộ không phải là nguồn gốc của tâm trí, như khoa học và y học đã tin tưởng, mà ngược lại. Tâm trí điều khiển não bộ, hoạt động như một trạm thu (giống như một chiếc radio), với những suy nghĩ tương tự như sóng radio còn não bộ thì tương tự như máy thu.

Não bộ giống như một máy thu, một tổng đài nhận các loại suy nghĩ rồi sau đó chuyển thành chức năng thần kinh và kho ký ức. Chẳng hạn, cho đến tận gần đây, người ta vẫn tin rằng các chuyển động tự chủ của cơ bắp bắt nguồn từ vỏ não vận động. Nhưng giờ đây, như Eccles đã báo cáo, chính ý định muốn cử động đã được ghi nhận bởi vùng vận động bổ sung của não bộ, nằm ngay cạnh vỏ não vận động. Do đó, não bộ được kích hoạt bởi ý định của tâm trí, chứ không phải ngược lại.

Chúng ta thấy hiện tượng này trong nhiều nghiên cứu hình ảnh não bộ ở những người đang hành thiền. Ví dụ, nghiên cứu của Tiến sĩ Richard Davidson tại Đại học Wisconsin ở Madison đã chứng minh rằng việc hành thiền về tâm từ bi và yêu thương kích thích hoạt động gia tăng ở vỏ não trước trán bên trái (nơi chứa đựng những cảm xúc tích cực như hạnh phúc) và tạo ra các sóng não Gamma biên độ cao (dấu hiệu của sự mở rộng tỉnh thức, tỉnh táo và tuệ giác. Những gì được lưu giữ trong tâm trí có sức mạnh làm thay đổi hoạt động của não bộ và cả cấu trúc thần kinh.

Các hệ thống cơ thể của chúng ta chịu ảnh hưởng của đủ loại tác động từ niềm tin hữu thức và vô thức mà tâm trí đang lưu giữ. Trong đó có niềm tin của chúng ta về những tác động mà người ta nghĩ là do các loại thực phẩm, chất gây dị ứng, mãn kinh và rối loạn kinh nguyệt, nhiễm trùng và tất cả các bệnh khác liên quan đến các hệ thống niềm tin cụ thể gây ta, cùng với khuynh hướng căng thẳng tiềm ẩn do sự hiện diện của những cảm xúc tiêu cực bị kìm nén.

Norman Cousins, tổng biên tập tạp chí Saturday Review trong suốt ba thập kỷ, đã chứng minh nguyên tắc này khi ông dùng tiếng cười để tự chữa khỏi một căn bệnh nghiêm trọng. Ông viết cuốn sách nhan đề Anatomy of an Illness (Giải phẫu một căn bệnh) nói về kinh nghiệm hồi phục khỏi bệnh viêm khớp bằng cách bổ sung nhiều vitamin C và cười sảng khoái khi xem phim do anh em nhà Marx thủ vai. Ông phát hiện được rằng tiếng cười có tác dụng gây tê, có thể làm giảm đau trong hai giờ. Cười là một phương pháp buông bỏ các trường năng lượng tiêu cực. Bằng tiếng cười, Cousins ​​liên tục buông bỏ áp lực cảm xúc tiềm ẩn và loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực. Dẫn đến những thay đổi rất tích cực và có lợi trong cơ thể ông và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hồi phục cuối cùng. 

VƯỢT QUA CÁC CHƯƠNG TRÌNH TIÊU CỰC 

Muốn thay đổi cơ thể thì phải thay đổi suy nghĩ và cảm xúc, tức là buông bỏ những ý tưởng, cảm xúc và hệ thống niềm tin tiêu cực. Chúng ta phải loại bỏ quá trình lập trình tiêu cực do thế giới tạo ra, cũng như từ chính hệ thống niềm tin của chúng ta. Càng sợ hãi, chúng ta càng nhanh chóng bị lập trình, và sau đó cơ thể sẽ phản ứng phù hợp với chương trình. Sợ một số chất nào đó, sợ thực phẩm, sợ không khí, sợ năng lượng và các kích thích đủ mọi loại đến mức hoang tưởng về môi trường. Mỗi ngày lại có một chất hóa học hoặc chất mới được công bố là có hại!

Chúng ta có thể thấy ảnh hưởng tai hại của lập trình tiêu cực gây ra sợ hãi ở những người trở nên sợ thực phẩm, sợ hóa chất và một số chất trong môi trường. Trên Bản đồ Tâm thức, Sợ hãi là trường năng lượng tương ứng với Rút lui vì lo lắng và tin rằng cuộc sống bình thường là đáng sợ. Một số người bị ám ảnh về môi trường và mọi thứ trong đó đến nỗi thế giới của họ ngày càng thu hẹp lại. Càng ngày họ càng sợ hãi hơn. Một số người thậm chí còn suy sụp đến mức họ trốn chạy khỏi thế gian, trở thành nạn nhân của chính tâm trí của mình. Trên hành tinh này chỉ còn lại một vài thứ mà họ có thể cảm thấy an toàn khi ăn, và họ mang những món ăn đó trong một chiếc túi giấy màu nâu. Người này đến một bữa tiệc mà mọi người đều ăn những món ăn mà anh ta cho là toàn chất độc. Anh ta nghĩ, họ đang tự giết mình bằng món bít tết và thuốc trừ sâu trên đậu Hà Lan, trái cây và rau diếp. Trong khi, theo quan điểm của người này, họ đang tự giết mình, anh ta ăn những món chứa trong chiếc túi giấy màu nâu của mình. Anh ta ngồi ở trong một góc, cạnh một bàn với những người khác cũng mang theo đồ ăn trong túi giấy màu nâu. (Đây là một cảnh có thật tại một bữa tiệc lớn.) Anh ta nhịn ăn trong thời gian dài; anh ta chạy bộ và làm những việc “lành mạnh” khác; và tất nhiên, bây giờ anh ta đã chết. Một người từng chạy bộ mỗi ngày và cố gắng để có được sức khỏe tốt đến như như thế, làm sao lại chết được? Anh ta chết vì đã trở thành người “bong bóng” với quan điểm hoang tưởng về thế giới đang dần khép lại xung quanh mình. Anh ta không thể tin tưởng khi hít thở không khí. Anh ta thậm chí không thể dùng thảm vì thảm có thể phát ra các chất khí độc hại và các chất gây dị ứng làm anh ta nghẹt thở. Những thứ khác—như mùi sơn hoặc các chất xuất phát từ vật liệu cách nhiệt, hoặc các hạt trong khói thuốc lá có thể gây ung thư cho anh ta—làm cho cuộc sống của anh ta ngày càng thu hẹp lại.

Sự kiện xảy ra trong tình huống kiểu này là phủ nhận dần dần sự thật về chính mình, cùng với việc dần dần giao sức mạnh đích thực của sự tồn tại của mình cho vọng tưởng về nhân quả của thế gian, nhưng thực ra thế gian không có sức mạnh có thể tạo được ảnh hưởng đối với chúng ta. Đây là sự thật bị đảo ngược, và do có niềm tin sai lầm về chính mình, chúng ta ngày càng trở nên dễ bị tổn thương và trở thành nạn nhân. Cuối cùng, chúng ta bị chứng hoang tưởng của người bong bóng trước “dị ứng môi trường” - chỉ có thể sống trong một cái bong bóng bảo vệ với không khí trong lành và ăn thức ăn chưa qua chế biến đựng trong túi giấy màu nâu.

Sự kiện này có thể xảy ra với một người có lý trí bình thường, thậm chí là bác sĩ. Mọi chuyện bắt đầu với phấn hoa, phấn hương, vảy da ngựa, lông chó mèo, bụi, lông vũ, len, sô cô la, pho mát và các loại hạt (tất cả đều được cho là gây ra dị ứng). Sau đó, thôi ăn đường (làm tăng đường huyết) cùng với các chất phụ gia thực phẩm (gây ung thư), trứng và các sản phẩm từ sữa (tăng cholesterol), và nội tạng động vật (bệnh gút). Tiếp theo trong danh sách “có hại” là phẩm màu thực phẩm, đường hoá học, caffeine, chất tạo màu, nhôm, vải tổng hợp, tiếng ồn, đèn huỳnh quang, thuốc xịt côn trùng, chất khử mùi, thức ăn nấu ở nhiệt độ cao, khoáng chất trong nước, clo trong nước, nicotine, khói thuốc lá, khí thải ô tô, ion dương, rung động điện tần số thấp, thực phẩm có tính axit, thuốc trừ sâu và thực phẩm có hạt.

Thế giới thu nhỏ lại đến mức ăn hoặc mặc bất cứ thứ gì cũng đều cảm thấy không an toàn. Không có không khí để thở. Chứng cớ là cơ thể bị tất cả các loại dị ứng, phản ứng và bệnh tật. Việc đi ăn tối bên ngoài đã trở thành thú vui của quá khứ, vì thực đơn chẳng còn có gì ăn được, trừ rau diếp (tất nhiên là đã được rửa sạch), và nhất định phải đeo găng tay trắng khi cầm dao nĩa ở nhà hàng!

Rồi, khi hiểu được sự thật cốt lõi, toàn bộ khuôn mẫu đã được gỡ bỏ. Những gì được lưu giữ trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra ngoài—trong đó có cả những niềm tin vô thức. Thủ phạm không phải là thế giới mà là tâm trí. Tất cả những chương trình tiêu cực và áp đặt mang tính sợ hãi đều nằm trong tâm trí, và cơ thể chỉ đơn thuần tuân lệnh tâm trí mà thôi. Quy luật tâm thức đã đảo ngược chứng hoang tưởng ngày càng gia tăng. Khi quan sát và buông bỏ từng niềm tin bên trong, thì tất cả những phản ứng tiêu cực, bệnh tật và triệu chứng của cơ thể đều biến mất. Nói cách khác, không phải lá cây thường xuân có chất độc gây ra dị ứng, mà chính là niềm tin của tâm trí, cho rằng lá cây thường xuân có chất độc là tác nhân gây ra dị ứng. Khi tâm trí buông bỏ chương trình đó, thì các phản ứng của cơ thể cũng không còn. 

QUÁ TRÌNH TỰ CHỮA LÀNH 

Quá trình tự chữa lành là gì? Chúng ta có thể áp dụng những kỹ thuật tâm thức nào để đảo ngược tình trạng bệnh tật? Chúng ta bắt đầu bằng cách buông bỏ sự kháng cự trước những cảm giác mà chúng ta đang trải nghiệm, và ngừng dán nhãn cho chúng. Ví dụ, chúng ta không thể trải nghiệm “loét tá tràng” hay “hen suyễn”. Tất cả chỉ là nhãn mác, là những cấu trúc của tâm, những chương trình tinh vi và các hệ thống niềm tin. Chúng ta đi vào trải nghiệm bên trong của chính những cảm giác ấy và buông bỏ kháng cự chúng. Trên thực tế, cuối cùng chúng ta sẽ “làm biến mất” chúng bằng cách hòa hợp với chúng, đón nhận những trải nghiệm bên trong của các cảm giác. Đồng thời, trong tâm trí, chúng ta loại bỏ mọi nhãn mác. Chúng ta ngừng gọi nó là “loét” và thay vào đó đi vào cảm giác bên trong của nó. Cảm giác bên trong có thể là áp lực hoặc nóng rát. Ngay cả các từ “nóng rát” và “áp lực” cũng là nhãn mác. Chúng ta loại bỏ những thứ đó và quay trở lại với cốt lõi, tuyệt đối thiết yếu, của những gì chúng ta đang trải nghiệm về mặt thể chất, và sau đó buông bỏ sự kháng cự đối với trải nghiệm đó. 

Những bước chữa lành

Nói một cách đơn giản, kỹ thuật tâm thức về sự thật triệt để có năm bước chữa lành một căn bệnh cụ thể:

1. Buông bỏ sự kháng cự đối với trải nghiệm của giác quan về căn bệnh đó.

2. Không còn đặt tên hay dán nhãn cho nó nữa.

3. Không dùng bất kỳ từ ngữ nào để đón nhận trải nghiệm của những cảm giác ở bên trong.

4. Xóa bỏ nhãn mác của tâm, xoá bỏ các hình thức suy nghĩ và hệ thống niềm tin, và thay thế chúng bằng sự thật: Tôi không còn tin vào cái đó nữa. Tôi là một hữu thể vô biên, và tôi không bị lệ thuộc vào nó. Tôi chỉ lệ thuộc vào những gì tôi lưu giữ trong tâm trí.

5. Chọn trường năng lượng của Yêu thương, có khả năng chữa lành. 

Nếu xem xét các nguyên lý cơ bản của các tầng năng lượng liên quan và nhớ rằng Bản đồ Tâm thức là một thang đo logarit, chúng ta có thể thấy tại sao Sợ hãi (điểm hiệu chỉnh 100) lại bị Tình yêu (điểm hiệu chỉnh 500) áp đảo - đây là các cấp số mũ. Do đó, sức mạnh của Tình yêu được biểu thị bằng 10500, trong khi Sợ hãi chỉ là 10100, sự khác biệt quá to lớn. Đặt mình vào trường năng lượng của Yêu thương Vô điều kiện, tầng 540, sẽ tự động chữa lành chính mình ở tầng sâu sắc nhất. Lựa chọn trở thành một người yêu thương sẽ dẫn đến việc não bộ giải phóng endorphin, có tác động sâu sắc đến sức khỏe và hạnh phúc của cơ thể (xem biểu đồ Chức năng và Sinh lý não bộ trong chương trước).

Hòa hợp tôn giáo hay tâm linh dựa trên đức tin có thể làm giảm đáng kể sợ hãi. Năng lượng tâm linh giúp não bộ chuyển sang trạng thái vận hành ôn hòa hơn, các hormone căng thẳng được thay thế bằng endorphin, serotonin và những chất dẫn truyền thần kinh có lợi khác ở mức tối ưu.

Tuy nhiên, hài hòa về mặt tâm linh không có nghĩa là hoàn toàn miễn nhiễm khỏi những giai đoạn đau khổ về mặt cảm xúc hoặc các mô thức nghiệp báo. Ví dụ, trầm cảm ảnh hưởng đến sinh hóa của một bộ phận khá lớn dân chúng. Người ta ước tính rằng, vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời, ít nhất một phần ba người trưởng thành bị trầm cảm ở mức độ nghiêm trọng hoặc trung bình. Nó có thể nhẹ, dưới dạng hối tiếc, hoặc nặng, dưới dạng đau buồn vì mất người thân, thảm họa tài chính, ly hôn, v.v. Trầm cảm đi kèm với những thay đổi lớn trong sinh lý não bộ và sự suy giảm các chất dẫn truyền thần kinh thiết yếu, như norepinephrine và serotonin. Khuynh hướng trầm cảm bao gồm các yếu tố di truyền và nghiệp lực mạnh mẽ, và thường mang tính gia đình.

Về mặt lâm sàng, trầm cảm thường cần được những người có chuyên môn giúp đỡ. Trong điều kiện thích hợp có thể chữa được trầm cảm nghiêm trọng, nhưng đây thực sự là dấu hiệu cần sự trợ giúp về tâm thần hoặc các bác sĩ lâm sàng khác, cũng như cần được bảo vệ và hỗ trợ. Mất hy vọng và ý chí sống, cùng với chứng trầm cảm kèm theo, thường xảy ra ở những cá nhân cô đơn, bị cô lập; người già; và những người bình thường đã bị suy kiệt về mặt tâm lý do căng thẳng nghiêm trọng, chẳng hạn như mất việc, ly hôn, mất người thân, và chính quá trình đau buồn. Tự tử là nguyên nhân làm chết người hàng đầu ở thanh thiếu niên.

Tất cả mọi thứ đều liên quan đến thể chất, tâm trí và tâm linh. Về mặt thể chất, một số người bị trầm cảm đã hồi phục chỉ đơn giản bằng cách thôi ăn đường. Phần lớn có phản ứng tốt với thuốc chống trầm cảm. Khi bị trầm cảm, một số chất dẫn truyền thần kinh thiết yếu ở một số vùng não bộ bị suy giảm. Do đó, sử dụng thuốc chống trầm cảm có thể làm giảm biểu hiện của triệu chứng này. Nói chung, điều trị trầm cảm cho phần lớn bệnh nhân bằng thuốc chống trầm cảm là an toàn với điều kiện là có sự giám sát lâm sàng chặt chẽ, đặc biệt là ở trẻ em và thanh thiếu niên. Về mặt dược lý, thuốc chống trầm cảm đưa người bệnh từ đáy Bản đồ lên tầng cao hơn, để họ có thể đáp ứng với liệu pháp tâm lý hoặc tư vấn tâm linh nhằm giảm bớt tình trạng làm người ta dễ bị tổn thương. Cần cân nhắc giữa những rủi ro của việc sử dụng thuốc tâm thần và nguy cơ tự tử, đặc biệt khi chứng trầm cảm thờ ơ trở thành kích động (lúc này người bệnh có đủ năng lượng để tự tử).

Hạnh phúc nảy sinh từ sẵn sàng buông bỏ những thứ tiêu cực trong tâm thức và cho phép tình yêu thế chỗ cho chúng, bởi vì bản chất quan trọng nhất của tâm thức - khi nó chưa bị tổn hại - là yêu thương. Chúng ta thấy trong sự ngây thơ của đứa trẻ là yêu thương là biểu hiện của bản chất người. Như thể đứa trẻ chưa bị lập trình để rơi vào sợ hãi, nghi ngờ hoặc giới hạn.

Khi xem xét cơ chế, chúng ta thấy rằng những gì chúng ta lưu giữ trong tâm trí bắt đầu biểu hiện ra trên bình diện vật chất. Ngay cả một suy nghĩ tương đối trung lập cũng có thể có những hậu quả to lớn. Ví dụ, suy nghĩ: “Tôi nghĩ tôi sẽ đi Hawaii” ngay lập tức tiếp thêm năng lượng cho lĩnh vực tài chính và kế hoạch của người đó trong sáu tháng tới để chuẩn bị cho chuyến đi.

Những thứ chúng ta lưu giữ trong tâm trí có xu hướng hiển lộ ra bên ngoài. Một trong những khó khăn cần vượt qua trong quá trình tự chữa lành là sẵn sàng chấp nhận sự thật của tuyên bố này. Có một phần trong chúng ta thích làm nạn nhân của bệnh tật, thích được chú ý, và không muốn tin vào sức mạnh của tâm trí hay chịu trách nhiệm cho sức mạnh đó. Nhưng nếu thực sự muốn chữa lành, chúng ta không thể để cho suy nghĩ tiêu cực không bị thách thức. Chúng ta không thể nghe chính mình nói: “Tôi bị tiểu đường” mà không bị thách thức. Hệ thống niềm tin như vậy mạnh đến nỗi chỉ cần tin rằng mình bị tiểu đường cũng đủ để làm trầm trọng thêm căn bệnh này. Thay vào đó, chúng ta phải loại bỏ nó và nói, tôi là người từng nghĩ như vậy, nhưng tôi chỉ bị chi phối bởi những gì tôi lưu giữ trong tâm trí. Tôi là một thực thể vô biên, và tôi không bị bệnh tiểu đường chi phối. Khi nói ra sự thật này, chúng ta vượt qua tầng 200, ranh giới của chính trực, trong những chi tiết cụ thể của một căn bệnh nhất định. 

Từ bi với chính mình

Thái độ của chúng ta đối với bản thân mình trong toàn bộ trải nghiệm này là gì? Khi chúng ta quyết định tha thứ và từ bi, trở thành người hỗ trợ và nuôi dưỡng sự sống thay vì lên án nó hoặc cho rằng mình sai, là chúng ta thôi tự trách móc mình vì để cho bị bệnh. Một số người tham gia vào công việc tâm linh hoặc nghiên cứu siêu hình học sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề bằng cách tự cho mình là “sai” vì họ mắc một căn bệnh nào đó. Cần phải sẵn sàng chấp nhận bất cứ biểu hiện nào trên cơ thể, cần nhìn vào tâm thức của chính mình để xem điều gì đang được đưa lên để chúng ta chú ý, và nhận ra rằng bất cứ cái gì xảy ra trong cuộc đời của chúng ta đều nhằm mục đích chữa lành.

Không cần xấu hổ vì là người tìm kiếm tâm linh nhưng lại mắc bệnh, mà chúng ta nên biết ơn và nói: “À! Có điều gì đó đang đến để được chữa lành.” Chúng ta có thể xem đó là dấu hiệu của tiến bộ và vui mừng vì có cơ hội chữa lành những thứ này, ngược đời là, những căn bệnh này lại xuất phát từ tiến bộ tâm linh lớn lao hoặc diễn ra nhanh chóng (đấy là nghiệp). Khi chúng ta cam kết với sự thật cao cả như Yêu Thương Vô Điều Kiện, chính ý định đó sẽ thu hút điều ngược lại vào cuộc sống của chúng ta một cái gì đó cần được chữa lành và được đón nhận bằng tình yêu. Như chúng tôi đã nói, cam kết với Tình Yêu “mang đến điều ngược lại của nó”. Hầu hết các nhà huyền môn vĩ đại trong lịch sử đều ghi nhận nhiều bệnh tật về thể chất (ví dụ, xem các mục về các nhà huyền môn nổi tiếng như St. Teresa of Ávila và St. Hildegard of Bingen trong Encyclopædia Britannica).

Bệnh tật đơn thuần là cách thức mà tâm thức kêu gọi chúng ta chú ý đến một điều gì đó cần phải được xem xét—điều mà chúng ta đang có mặc cảm tội lỗi, sợ hãi, hoặc đang có những cảm xúc tiêu cực khác. Một hệ thống niềm tin mà chúng ta đang lưu giữ cần phải được buông bỏ và hủy bỏ. Một điều gì đó cần được tha thứ, và điều gì đó bên trong chúng ta cần được yêu thương. Vì vậy, thay vì phán xét chính mình vì để cho mắc bệnh, chúng ta cảm ơn nó vì đã giúp chúng ta nhận thức được điều gì đó. Chúng ta nói, “Cảm ơn, loét dạ dày. Tôi hiểu rồi. Bạn đã buộc tôi phải nhìn nhận lại cách tôi tự lên chính mình và không yêu thương bản thân mình. Cảm ơn, hạ đường huyết, vì đã cho tôi thấy tôi đã sống trong sợ hãi đến mức nào.” Chúng ta cảm ơn tất cả các loại bệnh tật của mình bởi vì chúng đã đưa chúng ta đến sẵn sàng và chấp nhận để bước vào lĩnh vực của tình yêu và niềm vui khi nhận ra, bằng tâm từ bi, rằng đây là cách cơ thể tự chữa lành.

Khi bắt đầu buông bỏ tất cả những sợ hãi liên quan đến cơ thể, xóa bỏ các hệ thống niềm tin và khẳng định lại rằng Chân Ngã của chúng ta là Vô biên và không bị giới hạn, chúng ta bước vào trạng thái sức khỏe, hạnh phúc và năng lượng sống cao hơn. Cần tự nhủ: “Tôi là hữu thể vô biên, không bị giới hạn bởi _______.” Chúng ta điền vào chỗ trống bất kỳ bệnh tật hoặc chất nào mà tâm trí đã được lập trình để coi là “nguy hiểm” tiềm tàng đối với chúng ta. 

TỰ DO NỘI TÂM 

Người đã từ bỏ những hệ thống niềm tin hạn chế có thể ăn bất cứ thứ gì; có thể đi bất cứ đâu; và không còn bị chi phối bởi sợ hãi các chất gây ô nhiễm, chất độc hại, gió lùa, vi trùng, tần số điện từ, thảm, khói, bụi, lông thú, cây thường xuân độc, phấn hoa, phẩm màu thực phẩm, v.v. Họ đã từ bỏ Sợ hãi, Mặc cảm tội lỗi và Kiêu hãnh cùng tất cả các hệ thống niềm tin hạn chế đi kèm với các trường năng lượng tiêu cực. Tri giác của họ về cơ thể thay đổi, và giờ đây nó dường như giống như một con rối hoặc một con thú cưng. Sự thay đổi nhận thức này là từ “Tôi là cơ thể này” thành “Tôi có cơ thể này”.

Ngày càng rõ ràng rằng cơ thể không tự trải nghiệm chính nó. Ngược lại, chính tâm trí đang trải nghiệm cơ thể. Không có tâm trí, thì không thể tri giác được thân thể. Cánh tay không thể trải nghiệm được cánh tay là cánh tay. Chỉ có tâm trí mới có thể trải nghiệm được cánh tay là cánh tay. Đây chính là cơ sở của gây mê. Khi tâm trí ngủ, cơ thể không có cảm giác. Dần dần, chúng ta nhận ra rằng, thực tế, cơ thể không hề có cảm giác; chỉ có tâm trí mới có khả năng thực hiện chức năng này.

Đây là một sự chuyển đổi tâm thức cực kì quan trọng, vì giờ đây, không còn bận tâm về cơ thể và việc bảo vệ nó nữa. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng mọi người thực sự không phản ứng với cơ thể của chúng ta mà là với thái độ bên trong, phản ứng với trạng thái năng lượng bên trong và với tầng tỉnh thức của chúng ta. Chúng ta buông bỏ lo lắng về ngoại hình, bởi vì một ngày nào đó, chúng ta nhận ra rằng mọi người và mọi thứ trên thế gian thực sự đang phản ứng với tầng tâm thức, với ý định và cảm xúc bên trong mà chúng ta dành cho họ. Chúng ta cảm nhận được sức hút của những người thánh thiện như Mẹ Teresa, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Mahatma Gandhi. Chúng ta thấy rằng họ được mọi người yêu mến không phải vì ngoại hình, vốn thường không tạo được ấn tượng, mà vì sự rạng rỡ bên trong của yêu thương và an bình mà họ tỏa ra. Sự chuyển hướng tập trung từ tầng vật chất sang tầng tâm thức mang lại kết quả nhanh chóng. Chúng ta bắt đầu rót năng lượng vào sức khỏe bên trong của mình.

Liên tục buông bỏ những cảm xúc và thái độ tiêu cực đồng nghĩa với việc mặc cảm tội lỗi liên quan với những cảm xúc này cũng liên tục được giải tỏa. Tâm thức không bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi thường không còn thu hút bệnh tật nữa. Trong vô thức, mặc cảm tội lỗi đòi hỏi trừng phạt và bệnh tật, cùng với đau đớn và khổ sở đi kèm, như là phương tiện tự trả thù thường xuyên nhất của tâm trí. Những hành động tự trả thù này có thể biểu hiện dưới dạng một tai nạn, một cơn cảm lạnh, bệnh cúm, viêm khớp, hoặc bất kỳ bệnh tật nào khác mà tâm trí tự tạo ra hoặc bám víu vào. Truyền hình và truyền thông đưa tin lại làm cho những căn bệnh này bùng phát thành dịch. Khi một nhân vật nổi tiếng chia sẻ với công chúng về một căn bệnh nghiêm trọng nào đó, tỷ lệ mắc bệnh đó đột ngột tăng vọt và nó ngày càng trở thành phổ biến hơn. Vô thức nắm lấy một căn bệnh và sử dụng nó để giải quyết vấn đề. Cùng với việc liên tục buông bỏ mặc cảm tội lỗi ở bên trong, ngày càng có ít vấn đề cần giải quyết. Do đó, một người không có thái dộ tiêu cực và không có mặc cảm tội lỗi thường không bị bệnh và không bị đau khổ.

Nói chung, sức khỏe và hạnh phúc là kết quả tự nhiên của việc buông bỏ mặc cảm tội lỗi và những tiêu cực khác, và buông bỏ sự kháng cự của chúng ta đối với trải nghiệm tích cực về sức khỏe và hạnh phúc. Có thể có những trường hợp hiếm hoi, trong đó, bệnh tật hoặc suy nhược tiếp tục không thuyên giảm, đấy là do những yếu tố không rõ như khuynh hướng nghiệp báo. Buông bỏ liên tục mang lại chữa lành ở bên trong, do đó, ngay cả khi cơ thể dường như bị hạn chế và người khác có thể coi đó là “bi kịch”, thì người đó vẫn an bình và tỏa ra sự an bình ở bên trong, giúp nâng đỡ những người khác. Bằng cách buông bỏ ở tầng sâu sắc, những người như thế đã buông bỏ thái độ than thân trách phận, mặc cảm tội lỗi và kháng cự đối với những hoàn cảnh của cuộc đời. Họ đã siêu việt quan điểm cho rằng bệnh tật của họ là rào cản đối với hạnh phúc cá nhân và coi đó là phương tiện ban phước cho những người khác. Trong những năm gần đây, những ví dụ công khai về hiện tượng này bao gồm cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người đã tiếp cận căn bệnh Parkinson dai dẳng của mình như là cơ hội tâm linh để gánh vác hoặc ở bên cạnh đau khổ này của người khác.

Quá trình buông bỏ như thế đưa con người lên đến tới đỉnh của Bản đồ Tâm thức. Ban đầu, có sự đồng nhất: Tôi là thân thể này. Khi sự thức tỉnh bên trong tiếp tục, rõ ràng là tôi là tâm trí đang trải nghiệm thân thể, chứ không phải là thân thể. Khi càng nhiều cảm xúc, mô thức tư duy và hệ thống niềm tin được buông bỏ, cuối cùng sẽ xuất hiện tỉnh thức: Tôi cũng không phải là tâm trí. Tôi là Cái chứng kiến ​​và trải nghiệm tâm trí, cảm xúc và thân thể. Tôi chính là tâm thức.

Bằng cách quan sát nội tâm, sẽ nhận ra Cái gì đó luôn bất biến và không thay đổi, dù có xảy ra chuyện gì trong thế giới bên ngoài hay với thân thể, với cảm xúc hoặc tâm trí thì cũng thế. Cùng với cái biết như thế, sẽ xuất hiện trạng thái tự do hoàn toàn. Đã khám phá ra Đại Ngã ở bên trong. Trạng thái tĩnh lặng của Cái Biết nằm dưới mọi chuyển động, hoạt động, âm thanh, cảm xúc và ý nghĩ, vừa khám phá được là chiều không gian an bình vượt qua mọi thời gian. Một khi đã đồng nhất chính mình với Tánh Biết này, chúng ta không còn bị chi phối bởi những tác động của thế giới, thân xác, hay tâm trí nữa; và đi cùng với Tánh Biết đó là một sự tĩnh lặng, an định và một cảm giác an bình nội tâm sâu sắc. Chúng ta nhận ra rằng đây chính là điều mà chúng ta luôn tìm kiếm nhưng không biết, bởi vì chúng ta đã lạc lối trong mê cung. Chúng ta đã từng nghĩ rằng mình là tất cả những hiện tượng trong cuộc sống hối hả của mình—thân thể và những trải nghiệm của nó, những nghĩa vụ, công việc, chức danh, các hoạt động, vấn đề, cảm xúc, .v..v.. Nhưng giờ đây chúng ta nhận ra rằng mình là không gian vô tận, nơi các hiện tượng đang diễn ra. Chúng ta không phải là những hình ảnh lập lòe đang diễn kịch trên màn ảnh rộng, mà chúng ta chính là màn ảnh—một nhân chứng không phán xét về bộ phim đang diễn ra của cuộc đời, không có khởi đầu và không có kết thúc, vô hạn trong tiềm năng của nó. Những nhận thức tiến bộ này về bản chất thực sự của chúng ta chuẩn bị nền tảng cho Chứng Ngộ Tối Thượng về sự đồng nhất của Tâm thức với Chính Thần tính ở đỉnh cao nhất của Bản đồ Tâm thức.

Chúng ta sẽ thấy rằng các nguyên tắc để thành công về cơ bản là giống nhau, dù đấy là nỗ lực mang tính chất tâm linh (Kiến chân tính) hay chuyên môn thì cũng thế.


No comments:

Post a Comment