March 6, 2026

BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI (5)

 

BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI 

David R. Hawkins, M. D., Ph. D. 

Phạm Nguyên Trường dịch 

Chương 3 

QUÁ TRÌNH TIẾN HOÁ CỦA TÂM THỨC

 

Vì tâm thức đang tiến hóa đơn giản chỉ bằng việc chúng ta nhận thức được rằng nó đang tiến hóa, cho nên đóng góp quan trọng của chúng ta vào đời sống là ghi nhận chi tiết quá trình tiến hóa của tâm thức. 

CÓ - LÀM – HIỆN HỮU

Nhìn tổng quát Bản đồ Tâm thức cho thấy ba giai đoạn tiến hóa: từ có đến làm rồi đến hiện hữu.

Ở các tầng tâm thức thấp hơn, quan trọng là những gì con người có. Những thứ mà người ta có được coi trọng. Tài sản mà người ta có mang lại cho họ hình ảnh về giá trị của chính mình và địa vị trên thế gian này. Họ mặc loại thời trang nào và lái loại xe nào để chứng minh tầm quan trọng của họ đối với nhóm xã hội của mình. Đối với họ, ngay cả những người thân thiết cũng chủ yếu là biểu tượng của địa vị, vì vậy họ muốn có người yêu ở bên cạnh để làm cho họ trông đẹp hơn trong mắt người khác, và họ muốn được người khác nhìn thấy trong đám đông sành điệu. Trong một số bối cảnh, họ giết người hoặc trộm cắp để có được một nhãn hiệu giày thể thao nào đó hoặc để kiểm soát một lãnh thổ hoặc để có được bất cứ thứ gì mà họ đánh gía như là tài sản.

Có được đánh đồng với sống còn, khả năng cạnh tranh, khả năng chiếm hữu và ganh đua. Ở tầng có điểm hiệu chỉnh khoảng 190, còn có thêm lòng trung thành với nhóm, chẳng hạn như “người của mình”. Cộng đồng của tôi, nhóm của tôi, lãnh thổ của tôi.

Một khi người ta đã chứng minh được với mình rằng họ có thể có bất cứ thứ gì mình muốn, rằng nhu cầu cơ bản của mình có thể được đáp ứng, rằng mình có Sức mạnh đích thực để tự đáp ứng nhu cầu của chính mình và của những người phụ thuộc vào mình, thì tâm trí bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến những việc họ làm, và sau đó họ chuyển sang nhóm xã hội khác, trong đó những việc họ làm trên thế gian là cơ sở cho giá trị và việc xếp hạng của họ. Địa vị và chức năng của con người là gì? Tên tuổi của họ đi kèm với những bằng cấp nào? Họ tham gia vào bao nhiêu hội đồng? Họ gắn thành tựu với sinh tồn, bằng cảm giác an toàn đến từ sự chấp thuận và uy tín trong nhóm rộng hơn. Họ coi hợp tác tập thể là phương tiện để đạt các mục tiêu chung, ví dụ, duy trì lợi ích của nhóm của mình thông qua các hoạt động cộng đồng.

Khi con người thăng tiến trong tình yêu, hành động của họ ít bị chi phối bằng việc tự quảng bá và ngày càng hướng đến phục vụ người khác. Khi tâm thức trưởng thành, họ trải nghiệm rằng phụng sự — được định hướng bằng tình yêu dành cho tha nhân — tự nhiên dẫn tới việc các nhu cầu của chính họ được đáp ứng. (Không có nghĩa là hy sinh. Phụng sự không phải là hy sinh; đó là sẻ chia phát xuất từ sự viên mãn và niềm vui ở bên trong.) Hành động của họ tự động mang tính yêu thương và nuôi dưỡng sự sống xung quanh họ. Tại thời điểm đó, quan trọng không còn là những gì họ làm trên thế gian này mà là con người mà họ đang là. Họ đã chứng minh cho mình rằng họ có thể có được những gì mình cần, và nếu muốn, họ có thể làm được hầu hết mọi việc. Và giờ đây, con người mà họ đang là, cả bên trong lẫn đối với người khác, trở thành quan trọng nhất. Mọi người muốn thành bạn bè của họ, không phải vì những tài sản họ có, không phải vì những việc họ làm và những nhãn mác mà xã hội gán cho họ, mà vì con người mà họ đã trở thành. Vì phẩm chất của sự hiện diện và tình yêu của họ, mọi người chỉ muốn ở bên cạnh họ. Mô tả của xã hội về họ lúc này đã thay đổi. Họ không còn là người có căn hộ đẹp hay xe hơi sang, cũng không còn được gắn mác là Chủ tịch của Tập đoàn X hay một chức danh nào đó khác. Giờ đây, họ được mô tả là một người tuyệt vời, là người mà “bạn nhất định phải gặp”.

Tầng hiện hữu này là điển hình của các nhóm tự giúp nhau ẩn danh, ở đó không ai quan tâm đến những việc người khác làm trên thế gian này, những của cải mà họ có, hay thậm chí cả họ tên của họ. Họ chỉ quan tâm đến việc liệu mình đã đạt được những mục tiêu bên trong hay chưa, chẳng hạn như trung thực, cởi mở, yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ, khiêm nhường và tỉnh thức. Họ quan tâm đến phẩm chất của tồn tại.

Do đó, chúng ta thấy rằng tâm thức tiến hóa từ sinh tồn đến yêu thương—nghĩa là, từ chú tâm theo lối ích kỷ vào sinh tồn của chính mình tới phạm vi quan tâm rộng lớn hơn, trong đó, hạnh phúc và hỗ trợ người khác được coi là tác nhân quan trọng đối với sinh tồn của chính mình, cuối cùng là siêu việt niềm tin cho rằng sinh tồn của mình là do bất kỳ “nguyên nhân” nào khác. Tại thời điểm đó, người đó thuộc về chính sự sống, tự do yêu thương và cho đi mà không cần bất cứ điều gì đáp lại. 

TIẾN HOÁ TỪ SỐNG CÒN TỚI YÊU THƯƠNG

Muốn hiểu được các tầng tâm thức được hiệu chỉnh, thì tóm tắt sự xuất hiện của tâm thức trên hành tinh này và quá trình tiến hóa của nó qua vương quốc động vật đến biểu hiện của nó như là nhân loại là việc làm hữu ích. Trọng tâm của chúng ta ở đây là quá trình tiến hóa của bản ngã, với những hạn chế bẩm sinh của nó, đòi hỏi một cái nhìn thấu hiểu đầy từ bi.

Chìa khoá là bản ngã không phải là kẻ thù; nó là di sản sinh học của chúng ta. Nếu không có nó, sẽ không ai còn sống để than thở về những hạn chế của nó! Hiểu được nguồn gốc và vai trò quan trọng nội tại của nó đối với sự sống còn, bản ngã có thể được coi là lợi ích to lớn nhưng dễ trở thành khó kiểm soát và nếu không được hoá giải hoặc siêu việt thì sẽ gây ra các vấn đề về cảm xúc, tâm lý và tâm linh.

Sự sống đã xuất hiện trên hành tinh này như thế nào? Từ Phi Hiển Lộ tới Hiển Lộ, năng lượng của chính tâm thức đã tương tác với vật chất, và như một biểu hiện của Thần tính, nhờ tương tác đó mà sự sống xuất hiện. Trong những hình tướng sớm nhất, các biểu hiện của sự sống ở động vật rất nguyên thủy và không có nguồn năng lượng nội tại, bẩm sinh. Do đó, sống còn phụ thuộc vào việc thủ đắc năng lượng từ bên ngoài. Nhưng nó không còn là vấn đề trong thế giới thực vật - chất diệp lục tự động chuyển hóa năng lượng mặt trời thành các quá trình hóa học cần thiết. Động vật phải thủ đắc những thứ cần thiết từ môi trường xung quanh, và nguyên tắc sinh tồn như thế đã tạo ra cốt lõi chính của bản ngã, vốn vẫn chủ yếu liên quan đến tư lợi, thủ đắc, chinh phục và cạnh tranh với các sinh vật khác để sinh tồn. Tuy nhiên, quan trọng là nó cũng có những đặc điểm như tò mò, tìm tòi và do đó, học hỏi. 

Điểm hiệu chỉnh dưới tầng 200

Sự sống ban đầu tồn tại nhờ tính vị kỷ. Bản ngã, cốt lõi của động lực sinh tồn này, chỉ đơn giản là làm những việc cần thiết khi sự sống tiến hóa từ vi khuẩn (điểm hiệu chỉnh 1) tới côn trùng (điểm hiệu chỉnh 6) rồi tới bò sát và khủng long. Rồng Komodo, với điểm hiệu chỉnh 40, là một ví dụ sống động của kỷ nguyên khủng long. Mục đích duy nhất của nó là “tôi”, và để “tôi” có thể sống sót được, nó cần phải ăn thịt “bạn”. Thật ra, một số người cũng có điểm hiệu chỉnh ở tầng đó và bị chi phối bởi trường năng lượng và các mô thức của nó. Rồng Komodo hoàn thiện quá trình này. Sau chỉ một cú đớp, nó nằm đó và chờ bạn chết, rồi thưởng thức bữa tối ấm áp! Mục đích của nó không bị tha hóa về mặt tâm linh. Nó chỉ muốn tồn tại bằng cách ăn thịt bạn.

Khi quá trình tiến hóa diễn ra, cùng với trí thông minh, các cơ chế sinh tồn trở nên phức tạp hơn, nhờ đó, thông tin được thu thập, lưu trữ, xử lý, tích hợp, so sánh và phân tầng. Sự sống có trí thông minh bẩm sinh. Nhận xét này là cơ sở cho lý thuyết “thiết kế thông minh” (điểm hiệu chỉnh 480), không đòi hỏi bất kỳ giả định nào về Thần tính hay Đấng Sáng Tạo.

Sau đó, sự sống tiến hóa thành các hình tướng cao hơn, và khi theo dõi quá trình này qua các kỷ nguyên tiến hóa vĩ đại, biểu hiện của nó trong vương quốc động vật sẽ trở nên rõ ràng. Ở các tầng tâm thức dưới 200 (không kể phần lớn các loài chim), cuộc sống có thể được mô tả là cướp bóc. Nó thủ đắc năng lượng sống bằng cách tước đi năng lượng sống của những con khác/người khác, và vì sự sống còn dựa vào giành giật nên nó coi những con khác/người khác là đối thủ và kẻ thù. Con hổ trông rất đẹp nhưng lại tham lam khi săn bắt và giết chết con mồi. Trong ngôn ngữ hiện đại nó được gọi là mang tính chiếm hữu, cạnh tranh, thù địch, hung hăng và độc ác khi những biểu hiện của nó trở nên cực đoan. Bằng quan sát, chúng ta có thể thấy rằng dưới tầng 200, một số người không khác động vật là mấy—thù địch, hung hãn, cạnh tranh, ..v.v..—làm những việc mà họ cho là cần thiết để sinh tồn. Tất cả những mánh khóe của bản năng con người đều có thể quan sát được trong quá trình tiến hóa của vương quốc động vật qua hàng triệu năm, nơi lừa dối, ganh đua, ngụy trang và Bạo lực thúc đẩy sinh tồn. Ở loài sói (điểm hiệu chỉnh 190), chúng ta thấy sự hình thành bầy đàn, con đực và con cái đầu đàn thống trị lãnh thổ và những biện pháp ngụy trang đánh lừa để tiếp cận mà con mồi không hề nghi ngờ. Những mô thức hành vi kiểu này của loài sói đặc trưng cho toàn bộ xã hội trong thế giới ngày nay. 

Điểm hiệu chỉnh trên tầng 200

Ở tầng tâm thức 200 có một sự thay đổi theo hướng lành tính hơn, nghĩa là bên cạnh động vật ăn thịt còn xuất hiện động vật ăn cỏ. Sự chuyển đổi tâm thức quan trọng là sự xuất hiện của các loài động vật ăn cỏ trên các thảo nguyên rộng lớn ở châu Phi và Bắc Mỹ. Ở tầng 200, hươu cao cổ và ngựa vằn ăn cỏ; chúng không săn bắt và giết hại con mồi. Các loài động vật ăn cỏ không chỉ trả lại phân bón giàu nitơ cho đất và nhờ đó duy trì sự sống; chúng còn phát tán hạt giống trong phân của mình, do đó hỗ trợ sự sinh sôi nảy nở của thảm thực vật. Hươu, nai sừng tấm, bò, voi, cừu và ngựa đều có điểm hiệu chỉnh trên 200.

Từ tầng tâm thức 200 trở lên, bản chất của đời sống trở thành hài hòa hơn. Tình mẫu tử xuất hiện, cùng với đó là thái độ quan tâm đến người khác, và biểu hiện sơ khai của những hiện tượng sau này thể hiện trong bản chất con người thành liên hệ, giao tiếp xã hội, vui chơi, gắn kết gia đình và vợ chồng, và hợp tác nhóm để thực hiện những mục tiêu chung, chẳng hạn như sinh tồn thông qua các hoạt động cộng đồng. Ở chim mẹ, chúng ta thấy sự quan tâm chăm sóc chim non. Loài bò sát không quan tâm đến nhau; bò sát mẹ đẻ trứng rồi bỏ đi. Nhưng ở chim mẹ, có sự quan tâm đến sự sống còn của trứng và những chú chim non. Cùng với quá trình tiến hóa của đời sống động vật có vú, chúng ta thấy sự xuất hiện đầu tiên của sự quan tâm bền vững thực sự dành cho con khác, dưới hình thức tình mẫu tử. Như vậy, lần đầu tiên Tình yêu xuất hiện trên hành tinh này thông qua giống cái, thể hiện qua sự quan tâm và chăm sóc.

Cùng với quá trình tiến hóa, loài hai chân xuất hiện với hai chi trước không còn dùng cho vận động, cho nên xuất hiện loài đứng thẳng; hai chi tự do ngày càng trở nên khéo léo cộng thêm quá trình phát triển của ngón tay cái dẫn đến hình thành các nghề chế tạo công cụ lao động theo lối thủ công. Sự xuất hiện của não trước và vỏ não trước trán, trung tâm trí thông minh trong giải phẫu của con người, càng tạo điều kiện cho việc thực hiện những hoạt động ngày càng phức tạp hơn. Tuy nhiên, do bản năng động vật chiếm ưu thế nên trí thông minh ban đầu phục vụ cho bản năng nguyên thủy. Vì vậy, vỏ não trước trán trở nên lệ thuộc vào các động cơ sinh tồn của động vật. 

Quá trình tiến hoá của nhân loại

Người nguyên thủy xuất hiện như những chồi non của cây tiến hóa, bắt đầu có lẽ là từ “Lucy” cách đây ba triệu năm, và rất lâu sau đó là người Neanderthal, người Cro-Magnon, Homo erectus (người đứng thẳng) và những giống người khác, tất cả đều có điểm hiệu chỉnh trong khoảng từ 80 đến 85. Mỗi chi hominid (thuộc họ Người) mới không hòa tan vào chi khác. Thay vào đó, một nhánh mới liên tục nổi lên như một biểu hiện riêng biệt. Gần đây nhất, có lẽ hàng trăm nghìn năm trước, có thể đã xuất hiện ở châu Phi tiền thân của loài người hiện đại, người Homo sapiens idaltu, với tầng tâm thức cũng từ 80 đến 85.

Do đó, dưới tầng tâm thức 200, vỏ não trước trán vẫn nằm dưới sự chi phối của bản năng động vật, và tất cả các chiến thuật sinh tồn của động vật trở nên tinh vi hơn. Con người không tấn công bằng răng mà bằng lời nói và các vũ khí khác. Chiến tranh và cạnh tranh vẫn diễn ra như thường lệ, và trang nhất của bất kỳ tờ báo nào cũng đưa tin về những sự kiện tương tự như những gì có thể quan sát được trên Đảo Khỉ ở bất kỳ vườn thú nào. Bầy khỉ này đang biến bầy kia thành “xấu” và bầy khác thành “tốt”; bầy này đang cố gắng thống trị bầy kia; những con đực đang lén lút cố gắng chiếm đoạt tất cả những con cái ở phía sau; cả đàn đều đang cố gắng làm cho đống phân của mình cao hơn đối thủ và sẽ ném nó vào bất cứ con nào mà chúng cho là đe dọa! Nghe quen thuộc chứ?

Khi tâm thức bên trong con người tiến hóa, vượt qua tầng 200, các bản năng động vật bắt đầu xung đột với năng lượng của sức mạnh tâm linh, sự thật và tình yêu. Những biện pháp lừa dối của bản ngã rất khéo léo, ở chỗ nó làm cho nạn nhân tin rằng kẻ gây ra tội ác “ở ngoài kia”, trong khi thực tế nó vốn có trong quá trình sinh tồn sinh học và do đó, “ở trong này”.

Hiểu (điểm hiệu chỉnh 400) của bản ngã và coi nó như một con thú cưng tạo điều kiện để nó giải thể dần dần. Nó có thể được coi là một con thú cưng nhỏ dễ thương cần được giám sát, nếu không nó sẽ làm cho người khác hoặc chính mình bị tổn thương. Cuối cùng, khi nhận thức được khuynh hướng của nó, người ta có thể chế ngự được những khuynh hướng này.

Rất hiếm người thoát ra khỏi tính duy lý của các tầng 400 để tiến hóa sang miền phi tuyến tính, khởi đầu từ tầng Tình yêu (điểm hiệu chính 500). Ở các tầng 500, tâm thức được chuyển hóa một cách căn bản. Con người ít còn bận tâm đến thế giới khách quan, mà sống chủ yếu từ trạng thái chủ quan của Cái Biết — khi người đó nhận ra rằng trải nghiệm đời sống phát sinh từ bên trong, từ một miền ân sủng nội tâm không thể đo lường được bằng công cụ, nhưng lại có thể trực nhận một cách sâu sắc.

Sự tồn tại dai dẳng của bản ngã nguyên thủy ở con người được gọi là cốt lõi ái kỷ của “chủ nghĩa vị kỷ”, ở tầng hiệu chỉnh dưới 200, chứng tỏ sự tồn tại dai dẳng của lợi ích cá nhân, coi thường quyền lợi của người khác, và coi người khác là kẻ thù và đối thủ cạnh tranh chứ không phải đồng minh. Vì an toàn, con người đã tập hợp thành các nhóm và khám phá ra lợi ích của tương hỗ và hợp tác, nó cũng là hệ quả của thế giới động vật trong việc thành lập nhóm, bầy đàn và gia đình trong vương quốc động vật có vú và loài chim.

Tầng tâm thức được hiệu chỉnh của con người tiến hóa rất chậm. Vào thời điểm Đức Phật đản sanh, tâm thức tập thể có điểm hiệu chỉnh 90. Sau đó, nó tăng lên 100 khi Chúa Jesus Christ giáng sinh và tiến hóa từng bước một trong suốt hai thiên niên kỷ và lên đến tầng 190, và duy trì ở tầng đó trong nhiều thế kỷ, cho đến cuối những năm 1980. Sau đó, vào khoảng thời gian diễn ra Hội tụ Hài hòa (Harmonic Convergence[i]), cuối những năm 1980, nó đột nhiên nhảy vọt từ 190 lên 204–205. Bước chuyển giao này dường như đánh dấu sự mở đầu của một kỷ nguyên mới trong quá trình tiến hóa của nhân loại — đó chính là sự xuất hiện con người tâm linh Homo spiritus (Xem I: Reality and Subjectivity).

Khoảng 85% dân số thế giới vẫn ở những tầng dưới 200 và do đó bị chi phối bởi bản năng, động cơ và hành vi của động vật (như được thể hiện trong các bản tin mỗi đêm). Các tầng dưới 200 cho thấy sự lệ thuộc vào Bạo lực, dù là cảm xúc, thể lực, xã hội, hay bất kỳ biểu hiện nào khác. Các tầng trên 200, tăng theo hàm logarit, cho thấy các tầng của Sức mạnh đích thực.

 

Khác nhau giữa “dưới 200” và “trên 200”

Quan trọng là sinh lý não bộ thay đổi đáng kể ở tầng tâm thức 200, đây là tầng mà chất lượng đời sống thay đổi, không chỉ ở loài người mà còn ở vương quốc động vật, từ săn mồi chuyển sang hiền từ. Được thể hiện bằng sự xuất hiện sự quan tâm đến phúc lợi, sống sót và hạnh phúc của tha nhân chứ không chỉ còn quan tâm tới chính mình nữa. Lợi ích của quá trình tiến hóa là thái độ quan tâm và sự phát triển tâm linh, được thể hiện rõ ràng trong biểu đồ bên dưới. Trên tầng tâm thức 200, não dĩ thái (etheric brain[ii]) xuất hiện. Nó không thuộc về nguyên sinh chất hay giải phẫu học, mà đúng hơn là thuộc về năng lượng. Não dĩ thái không chỉ tạo điều kiện cho việc xử lý các kích thích hiệu quả hơn mà còn ghi nhận các tần số năng lượng cao hơn mà nguyên sinh chất không thể phản ứng được. Tương tự như thế giới vật lý: cần có các công cụ tinh tế hơn để phân biệt các trường năng lượng tần số cao hơn, vượt quá khả năng của các giác quan (tai không thể nghe được sóng radio). Não dĩ thái (năng lượng) có khả năng nhận thức phi ngôn ngữ, phi tuyến tính. Người thuận tay phải sẽ có não phải chiếm ưu thế, và người thuận tay trái sẽ có não trái chiếm ưu thế. Những bán cầu não không ưu thế này được kích thích bởi nghệ thuật, âm nhạc, lòng vị tha và thẩm mỹ. 


 

 

Dưới 200

Trên 200

Não trái giữ thế thượng phong

trong những người thuận tay phải         

Não phải giữ thế thượng phong

 

Não phải giữ thế thượng phong

trong những người thuận tay trái        

Não trái giữ thế thượng phong

Tuyến tính

Phi tuyến tính

Căng thẳng- Adrenaline

An bình - Endorphins

Chiến đấu hay bỏ chạy (Cảnh giác – Kháng cự - Kiệt sức)

Cảm xúc tích cực

Căng thẳng tuyến ức

Hỗ trợ tuyến ức

Tế bào tiêu diệt và miễn dịch↓

Tế bào tiêu diệt↑ và Miễn dịch↑

Rối loạn hệ thống kinh mạch

Hệ kinh mạch cân bằng

Bệnh tật

Chữa lành

Cơ phản ứng yếu

Cơ phản ứng mạnh

Chất dẫn truyền thần kinh - Setornin[1]

 

Đồng tử giãn ra

Đồng tử co lại

Đường dẫn tới cảm xúc nhanh gấp đôi so với đi từ vỏ não trước trán tới cảm xúc

Đường dẫn tới cảm xúc chậm hơn so với đi từ vỏ não trước trán và não năng lượng.

Thái độ của tâm trí thấp

Thái độ của tâm trí cáo

 

Sự khác biệt giữa hai nhóm là rất lớn, bằng chứng là biểu đồ sau đây phân biệt thái độ của người có tâm trí thấp hơn so với người có tâm trí cao hơn.

 

Tâm trí thấp hơn (điểm hiệu chỉnh 155)

Tâm trí cao hơn (điểm hiệu chỉnh 275)

Tích trữ / Gom góp

Tăng trưởng

Thâu tóm / Thu được)

Thưởng thức/Tận hưởng

Nhớ lại/Hồi tưởng

Chiêm nghiệm

Giữ vững

Tiến hoá

Suy nghĩ / Tư duy tuyến tính

Quy luật vận hành

Bị cảm xúc/mong muốn điều kiển

Do lý trí/cảm hứng điều khiển

Đổ lỗi

Nhận trách nhiệm

Cẩu thả

Có kỉ luật

Cụ thể, theo nghĩa đen

Trừu tượng, tưởng tượng

Đạo đức cá nhân

Hệ thống chuẩn mực

Định nghĩa

Thực chất, ý nghĩa

Nhẫn tâm/Vô cảm

Nhân từ/Khoan dung

Phê phán

Chấp nhận

Hoài nghi

Thấu hiểu

Nghĩa đen

Linh cảm

Kiểm soát

Buông bỏ/Phó thác

Cạnh tranh

Hợp tác

Thiết kế/Ý đồ

Nghệ thuật

Mặc cảm tội lỗi

Hối tiếc

Bạo lực (Force)

Sức mạnh nội tại (Power)

Ngây ngô và Dễ bị tác động

Sâu sắc/Tinh vi và Có tri thức

Thái quá

Cân bằng

Lối mòn tư duy

Mầm mống mới

Xếp hạng

Thẩm định

Né tránh

Đối diện và chấp nhận

Thương hại

Thấu cảm

Muốn

Lựa chọn

Ham muốn

Trân trọng

Trẻ con

Đã trưởng thành

Tấn công

Né tránh

Kết án

Tha thức

Bủn xỉn/Keo kiệt/Hẹp hò

Rộng lượng/Hào phóng

Hoài nghi tiêu cực/Yếm thế

Lạc quan, Hy vọng

Nghi ngờ/Cảnh giác)

Tin tưởng/Tin cậy

Thiếu tiền/Túng thiếu)

Đầy đủ

Khăng khăng/Ép buộc

Đưa ra đề nghị

Vội vã, Hấp tấp

Kiên trì tiến bước

Dục vọng/Ham muốn mù quáng

Khao khát/Ham muốn có mục đích

Vô ơn

Trân trọng/Biết ơn

Thô thiển/Thô kệch/Trần tục)

Tinh tế/Thanh tao/Tinh khiết

Nghiệt ngã, Nặng nề)

Hài hước, Vui vẻ nhẹ nhàng

 

SUY NGẪM XUYÊN SUỐT 7 LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG

Có những mảnh thông tin then chốt; chỉ cần nhận thức được là tâm thức tự nhiên dịch chuyển sang những tầng cao hơn. Dưới đây là một vài khám phá từ nghiên cứu hiệu chỉnh tâm thức giúp tăng cường hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau của đời sống. Chính sự kiện là tất cả sự sống đều có tính tiến hóa tạo cho ta hy vọng. Ngay cả những giai đoạn cực kì khó khăn cũng có thể được hiểu là một phần không thể thiếu của quá trình trưởng thành.

 

1. Động vật

Các tầng tâm thức đã được hiệu chỉnh của vương quốc động vật phản ánh mức trung bình của toàn bộ quần thể; trong đó vẫn tồn tại sự khác biệt giữa từng cá thể, đồng thời cũng có sự khác biệt trong các tầng tâm thức được hiệu chỉnh của hành vi. Ví dụ, “chơi đùa” được hiệu chỉnh cao hơn khoảng 10 điểm so với tầng chức năng trung bình - có ý nghĩa quan trọng đối với cả động vật lẫn con người. Một điểm thú vị khác là khi một gia đình nhận nuôi một con vật, tầng tâm thức của con vật đó sẽ tăng lên 5 hoặc 10 điểm; đặc biệt là, một số loài chim và động vật đã trải qua tương tác lâu dài với những người yêu thương thực sự có điểm hiệu chỉnh tới 400. Koko, con khỉ đột được huấn luyện thể hiện khả năng ngôn ngữ và tình mẫu tử đáng ngạc nhiên (nó đã nhận nuôi và đặt tên cho một chú mèo con), đạt điểm hiệu chỉnh 405. Tầng hiệu chính này cho thấy khả năng tư duy và lý luận; do đó, tầng hiệu chỉnh giúp giải quyết cuộc tranh luận giữa các nhà khoa học thực nghiệm về việc liệu một số hành vi của động vật có thực sự phản ánh khả năng Lý luận hay không. Hơn nữa, một khám phá độc đáo là tiếng gừ gừ của mèo, tiếng hót của chim và cái vẫy đuôi của chó đều có tầng hiệu chỉnh cực kỳ cao (500) — trên thực tế, cao hơn phần lớn giống người chúng ta. Tầng 500 là năng lượng của trái tim. Việc thú cưng có khả năng tương tác và lan tỏa Tình yêu cho thấy đây là lĩnh vực cần nghiên cứu thêm để khám phá lý do vì sao những sinh vật đáng yêu này lại có khả năng yêu thương—nghĩa là, chúng thể hiện sự phát triển cao của “luân xa tim” và được coi là có tác dụng chữa lành đối với những người mắc nhiều loại bệnh khác nhau.

 

2. Tác động của Yêu thương

Chỉ mới gần đây tình yêu mới xuất hiện trên hành tinh này, lần đầu tiên nó xuất hiện ở loài chim và động vật có vú bằng tình mẫu tử. Cần biết là quan tâm đến người khác, chứ chưa nói tới quan tâm tới môi trường hay chất lượng của đời sống trên hành tinh này, là hiện tượng cực kỳ mới trong quá trình tiến hóa của tâm thức qua hàng thiên niên kỷ. Sự kiện này làm tăng thêm sự trân trọng đối với sự hiện diện của tình yêu trong thời đại hiện nay, và chính sự trân trọng này lại có tác dụng làm gia tăng tình yêu.

Thật vậy, bất cứ điều gì được làm với tình yêu thương đều làm cho điểm hiệu chỉnh của nó tăng lên – có thể nhìn thấy trong lĩnh vực thực phẩm mà hàng ngày chúng ta vẫn ăn. Thức ăn chế biến bằng máy có điểm hiệu chỉnh từ 188 tới 200. Thức ăn nhà làm có điểm hiệu chỉnh tới 209, và nếu được ban phước, nó tăng lên tới 215. Bánh mì làm bằng máy ở siêu thị có điểm hiệu chỉnh 188, nhưng nếu bánh mì được làm từ tiệm nướng bánh trong cùng siêu thị đó, thì điểm hiệu chỉnh tăng lên tới 203 và còn cao hơn nữa nếu được ban phước. Bánh quy làm cho gia đình có điểm hiệu chỉnh 520. Những khác biệt về điểm hiệu chỉnh là một minh chứng độc đáo, tương tự như nguyên lý Heisenberg, ở chỗ đưa tâm thức và ý định của con người vào sẽ làm thay đổi trường năng lượng. Nó cũng chứng minh rằng lời cầu nguyện không chỉ là mơ tưởng hão huyền. Hệ quả là, ta mang thêm nhiều tình yêu vào đời sống chỉ đơn giản bằng cách luôn tỉnh thức nhận biết sự hiện diện của nó như nguồn cảm hứng dẫn dắt trong mọi hoạt động hàng ngày. Ví dụ, có thể nhận thấy điều này trong tình yêu thương khi chuẩn bị bữa tối cho gia đình, khi dọn dẹp chuồng mèo, hoặc khi đi làm để trả các hóa đơn. Những nỗ lực bình thường, nhưng được làm với tình yêu thương, mang lại sức mạnh to lớn. Hiệu chỉnh tâm thức khẳng định sự thật trong câu nói nổi tiếng của Mẹ Teresa: “Hãy làm những việc nhỏ với tình yêu lớn.”

 

3. Lãnh đạo xã hội

Trường năng lượng cao trong lãnh đạo xã hội là của hiếm, nhưng những ví dụ lịch sử gần đây cho thấy Sức mạnh đích thực của họ trong việc vượt qua những chia rẽ xã hội tưởng chừng như không thể vượt qua và tạo ra những bước đột phá lớn bằng các biện pháp hòa bình thay vì Bạo lực. Bạo lực, bằng quan điểm “mục đích biện minh cho phương tiện”, đã đánh đổi tự do lấy sự tiện lợi. Bạo lực mang lại những giải pháp nhanh chóng, dễ dàng. Trong khi Sức mạnh đích thực coi phương tiện và mục đích là như nhau, nhưng “mục đích” của nó đòi hỏi sự trưởng thành, kỷ luật và kiên nhẫn hơn thì mới thu được thành quả.

Những nhà lãnh đạo vĩ đại truyền cảm hứng để chúng ta có niềm tin và tự tin bởi sức mạnh của tính chính trực là cao nhất và phù hợp với các nguyên tắc phi bạo lực. Những người như thế hiểu rằng bạn không thể từ bỏ nguyên tắc mà vẫn giữ được Sức mạnh đích thực. Winston Churchill (điểm hiệu chỉnh 510) chưa bao giờ cần dùng Bạo lực với người dân Anh; Gandhi (điểm hiệu chỉnh 760) đánh bại Đế quốc Anh mà không cần thể hiện sự tức giận bằng cách vung tay lên; Nelson Mandela (điểm hiệu chỉnh 505) trải qua chuyển biến nội tâm sâu sắc trong suốt 27 năm bị chế độ phân biệt chủng tộc cầm tù – ông đã chuyển hoá từ một chiến binh bộ lạc thành một nhà lãnh đạo nhân văn có tầm nhìn nhất quán, đã lập ra chế độ dân chủ đầu tiên ở Nam Phi; Mikhail Gorbachev (điểm hiệu chỉnh 500)  - chỉ trong vài năm, nhờ vào cảm hứng và tầm nhìn của mình - đã tạo ra cuộc cách mạng trong liên minh chính trị lớn nhất thế giới mà không cần bắn một phát súng nào.

Một trong những đặc điểm của Bạo lực là kiêu ngạo; còn đặc điểm của Sức mạnh đích thực là khiêm tốn. Bạo lực thì phô trương; nó cho rằng mình có tất cả các câu trả lời. Sức mạnh đích thực thì khiêm nhường. Stalin phô trương ưu thế quân sự, ông ta đi vào lịch sử như một tội đồ khét tiếng. Ngược lại, Mikhail Gorbachev khiêm nhường - chỉ mặc một bộ vest giản dị và dễ dàng thừa nhận sai lầm - đã được trao giải Nobel Hòa bình.

Mặc cho những sai sót hay khiếm khuyết, “sự vĩ đại” đích thực được toàn thế giới công nhận là tổng hợp các điểm mạnh, phẩm chất và đức tính được thể hiện bởi các nhà lãnh đạo trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người (điểm hiệu chỉnh 460–760):

Abraham Lincoln

Mother Teresa

Eleanor and Franklin D. Roosevelt

Benjamin Franklin

Helen KellerWinston Churchill

Ronald Reagan

Mahatma Gandhi

Parks Reece

Michelangelo

Beethoven

Mozart

Nijinsky

The astronauts

Susan B. Anthony

Martin Luther King, Jr.

Nelson Mandela

Oprah Winfrey

C. G. Jung

Joe DiMaggio

Rachel Carson

Louis Armstrong

Lily Tomlin

Mary Oliver

...và nhiều người khác nữa. Tất cả đều thể hiện tầm vóc và sự gắn kết với chính trực, xuất sắc, vẻ đẹp và dũng cảm. Những tầng tâm thức thấp hơn thường xuyên tấn công các nhà lãnh đạo vĩ đại. Trong lịch sử, tất cả các tổng thống, đặc biệt là trong thời chiến (ví dụ như Abraham Lincoln), đều phải chịu những lời chỉ trích gay gắt, những lời phỉ báng cực đoan, thậm chí là mưu sát và phải trải qua những thử thách đạo đức đau đớn, ví dụ như quyết định đầy khó khăn của Truman về việc có nên sử dụng bom nguyên tử để kết thúc Thế chiến II hay không. Quyết định của ông được tính toán ở tầng 475; đó là tình huống khó khăn, phải cân nhắc ảnh hưởng đạo đức của việc giết chết 180.000 thường dân nhằm ngăn chặn, không để sáu hoặc bảy triệu người bị giết hại.

 

4. Chủ nghĩa hiện thực (Realism)

Quá trình tiến hóa của tâm thức chứng tỏ: cho rằng người khác có cùng những giá trị quan như mình là một sai lầm lớn. Từ biểu đồ Sinh lý não, chúng ta thấy rằng những người có điểm hiệu chỉnh dưới 200 và những người có điểm hiệu chỉnh trên 200 thực sự là hai loại người khác nhau trong tri giác, xử lý thông tin và phản ứng trên thế gian này. Như đã nói bên trên, 85% người dân trên thế giới có điểm hiệu chỉnh dưới 200, bị thúc đẩy bởi lòng tham, thù hận, kiêu ngạo và các mục tiêu ích kỷ khác. Họ không đáng tin hoặc khó dạy. Do đó, thật ngây thơ khi cho rằng người khác có cùng sự chính trực như mình.

Chúng ta thấy cái giá phải trả cho sự ngây thơ như thế trong suốt chiều dài của lịch sử. Hàng chục triệu ngươi đã thiệt mạng vì những người tốt phóng chiếu sự tử tế bên trong của mình lên những kẻ xấu xa, và do đó, không thể phân biệt được “sói đội lốt cừu”. Với điểm hiệu chỉnh dưới 200, chó sói có trí thông minh, khả năng và thái độ tự tin hung hăng khi ở trrong đàn nhằm săn bắt và giết con mồi lớn hơn nó nhiều lần. Chó sói dùng ngụy trang (lừa dối) để tiếp cận mà con mồi không hề hay biết. Cừu, có điểm hiệu chỉnh 210, lại có năng lượng hoàn toàn khác; nó là loài ăn cỏ hiền lành, không săn mồi, sống bằng cách gặm cỏ. Con người và một số xã hội có điểm hiệu chỉnh 190, và họ là những bậc thầy về ngụy trang bằng cách che giấu ý định thực sự của mình dưới vỏ bọc hiền lành của “cừu”,  dễ thoả hiệp, thiện chí và thậm chí là “kẻ kiến tạo hòa bình”. Hiệu chỉnh tâm thức ngay lập tức cho thấy bản chất của sói ẩn giấu trong vẻ ngoài của một con cừu.

Điểm hiệu chỉnh của “sói đội lốt cừu” là 120, còn tệ hơn là dự kiến lúc ban đầu, vì hầu hết các phương pháp chính trị đều có điểm hiệu chỉnh khoảng 190 (cực kỳ ngạo mạn và tự mãn). Điểm hiệu chỉnh 120 nghĩa là phải trở thành người tinh tế và nhận ra rằng bản chất và tri giác là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Tri giác sai là sai lầm nghiêm trọng, chứ không phải nhỏ. Cho rằng rồng Komodo là con vật an toàn vì bạn là một “người nhân đạo” và “người yêu động vật” không có nghĩa là bạn có thể bước vào chuồng của nó khi đang đi dép. Mặt trái của nền văn minh phương Tây là hành động dựa trên niềm tin rằng “chúng ta phải đối xử tốt với tất cả rồng Komodo và mời chúng đến đây, vì chúng chỉ là những con vật hiền lành.” Sai lầm đó là khá nghiêm trọng.

Đó là sai lầm của Thủ tướng Anh Neville Chamberlain. Ông đã gặp Adolf Hitler trong Thế chiến II để ký hiệp ước hòa bình song phương rồi trở về London và tuyên bố một cách tự hào rằng “hòa bình cho thời đại của chúng ta” đã tới. Hitler đã chế giễu sự “ngu ngốc” của Chamberlain. Trong khi ký Hiệp ước Munich, Hitler đã hứa với Chamberlain rằng, nếu được trao một số vùng lãnh thổ nhất định, ông ta sẽ không xâm lược những vùng khác. Trong vòng một năm, khi bom bắt đầu dội xuống nước Anh, Chamberlain bị coi là ngu ngốc vì không có khả năng đánh giá thực tế. Tất nhiên, Hitler đóng vai chó sói đội lốt cừu và chưa bao giờ có ý định tôn trọng thỏa thuận mà mình đã ký. Chamberlain (điểm hiệu chỉnh 185) là người thiếu thực tế, ông không thể bảo vệ được đất nước mình. Ý định của Chamberlain là tốt (điểm hiệu chỉnh 500), nhưng khả năng của ông thì quá kém.

Cục diện tương tự đang lặp lại trong thời gian gần đây, khi giới lãnh đạo chính trị đặt niềm tin ngây thơ vào thiện chí của những quốc gia mà thực chất là sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân để hủy diệt chúng ta. Nhượng bộ khủng bố có điểm hiệu chỉnh ở tầng “tâm trí thấp” (155), và trong mắt của chính những kẻ khủng bố, đó là biểu hiện của sự yếu đuối và hèn nhát.

Với các loài săn mồi, những “con mồi ngồi yên chờ chết” thì “xứng đáng” với kết cục của mình, giống như những chủ xe để chìa khóa trong chiếc xe không khóa cửa. “Khoan dung” (điểm hiệu chỉnh 190 khi chỉ dừng ở mức khẩu hiệu) là sai lầm của những người biện hộ thuộc “phe cực tả”: họ đã vô tình mở cửa cho con ngựa thành Troy, trong khi lại ma quỷ hóa việc đánh giá trung thực các yếu tố rủi ro cao. Cũng như một bầy sói cảm nhận được sự yếu thế của con mồi, những kẻ gây hấn lợi dụng chủ nghĩa lý tưởng ngây thơ của nước Mỹ.

Hiệu chỉnh tâm thức cho thấy sự thật của bất kỳ xung đột chính trị hoặc ngoại giao nào, vì ý định tiềm ẩn của mỗi bên có thể được phát hiện ngay lập tức. Như đã nêu trong danh sách các quốc gia trong cuốn Phân Biệt Thật Giả, một số quốc gia và/hoặc các nhà lãnh đạo của họ có điểm hiệu chỉnh ở những tầng cần phải đặc biệt chú ý, nhất là khi họ đang có hoặc tích cực gia tăng năng lực hạt nhân của mình. Hoa Kỳ, điểm hiệu chỉnh 421, tiếp cận năng lực hạt nhân bằng quan điểm duy lý và kiềm chế, những giá trị quan cao này lại bị những người ở tầng tâm thức thấp hơn chế giễu, coi là “yếu đuối”. Ngược lại, các nước hoặc phong trào chính trị có điểm hiệu chỉnh dưới tầng 200 bị thúc đẩy bởi các giá trị như lòng hận thù. Trong khi hiện nay việc tỏ ra “khoan dung” đang trở thành mốt chính trị, thì có thể nói rằng thà là một người hiện thực còn sống, còn hơn làm một kẻ theo thuyết tương đối luận đã chết.

Truyền thông góp phần làm cho người ta đánh mất quan điểm thực tế, đấy là do khẩu hiệu “Công bằng và khách quan” tạo ra. Hàm ý, tất nhiên, là thông qua tương đối luận, giả dối có giá trị ngang với sự thật, chỉ nhìn bên ngoài là đã thấy phi lý rồi. Ví dụ, chúng ta có thể coi quan điểm Trái Đất phẳng là lập luận công bằng và cân bằng để phản bác quan điểm Trái Đất tròn hay không. Người ta còn dùng luận điểm sai lầm: “Mọi vấn đề đều có hai mặt” để trau chuốt thêm nữa (Quan điểm này có điểm hiệu chỉnh là sai và thực tế đấy là bình luận của một quan chức bị bắt quả tang trên video khi đang ăn cắp tiền và giấu trong hộp thiếc trong tầng hầm nhà mình.)

Xã hội Mỹ có điểm hiệu chỉnh 421 (tháng 11 năm 2007). Ngược lại, những người chỉ trích nước Mỹ có điểm hiệu chỉnh 190. Trong khi đó, các buổi cầu nguyện hòa bình có điểm hiệu chỉnh 305, các cuộc biểu tình hòa bình có điểm hiệu chỉnh 170. Khái niệm tự do ngôn luận có điểm hiệu chỉnh 340, nhưng tự do ngôn luận, như đang được thực thi ở Mỹ, chỉ có điểm hiệu chỉnh 187, tức là cùng tầng với ái kỷ. Trong xã hội hiện nay, xu hướng phổ biến là thể hiện thái độ bài Mỹ, chống lại giới quyền uy một cách công khai và gay gắt (“Tinh thần Hollywood,” điểm hiệu chỉnh khoảng 170 đến 190) nhằm thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Trong khi khẩu hiệu “Nghi ngờ quyền lực” có tính thù địch và có điểm hiệu chỉnh 160, thì bất đồng chính kiến ​​trung thực lại có điểm hiệu chỉnh 495.

 

5. Các biện pháp bảo vệ

Một công trình nghiên cứu về nền văn minh phương Tây cho chúng ta biết rằng tầng tâm thức chung cùa của nó hiện đang suy giảm đến mức ngay cả giáo dục chính quy cũng không còn là biện pháp bảo vệ nhằm chống lại thiếu chính trực một cách trắng trợn và những lời dối trá nghiêm trọng tràn lan trên các phương tiện truyền thông và giới hàn lâm.

Các biện pháp đối phó thiết thực nhất là:

1. Hòa hợp về mặt tâm linh với sự thật (điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự thay đổi tích cực trong những phản ứng hóa học diễn ra trong não bộ).

2. Sự tinh tế trí năng đạt được qua việc am tường các tác phẩm kinh điển của phương Tây.

3. Nhận thức về Bản đồ Tâm thức.

4. Nâng cao tầng tâm thức của chính mình bằng cách noi theo và thực hành những giáo huấn tâm linh đã được kiểm chứng, cùng với những nguyên tắc giúp phân biệt đúng – sai, thật – giả (ví dụ, xem Chương 8 và 9 của cuốn sách này).

 

6. Tâm từ bi

Chính nhờ bản ngã tồn tại rất dai mà chúng ta mới còn sống để đọc cuốn sách này. Khi nhìn bản ngã từ quan điểm tiến hóa qua hàng thiên niên kỷ, hiểu biết này tạo điều kiện cho chúng ta có tâm từ bi. Bản ngã không phải là “kẻ thù” của chúng ta mà là một con “thú cưng” cần được chăm sóc. Thay vì lên án, căm ghét và có mặc cảm tội lỗi về nó, thì biện pháp làm suy yếu nó là nhìn nhận nó một cách khách quan, đúng như nó đang là – đó là tàn dư còn sót lại từ nguồn gốc tiến hóa của chúng ta. Ngược đời là, lên án, gán cho nó nhãn hiệu “tội lỗi”, ăn năn hối lỗi với áo bao tải và tro rắc lên đầu[iii], và chìm đắm trong mặc cảm tội lỗi lại càng làm cho bản ngã vững chắc hơn. Những cách tiếp cận như thế chỉ đơn giản là sử dụng bản ngã để tấn công chính bản ngã, và bằng cách đó, củng cố nó.

Freud đã phát hiện được rằng, vì mặc cảm tội lỗi, chúng ta kìm nén bản chất động vật của mình và sau đó phóng chiếu nó lên những người khác hoặc một vị thần được cho là có cùng những khiếm khuyết về tính cách như những con người xấu xa nhất. Không thể giải thể bản ngã bằng cách lên án hay tự căm ghét chính mình — vốn chính là những biểu hiện của bản ngã — mà bằng sự chấp nhận một cách nhân từ, không phán xét về mặt đạo đức, cùng với tâm từ bi, phát sinh từ hiểu biết về bản chất nội tại và nguồn gốc của nó. Mặc dù mặc cảm tội lỗi và hối hận có thể có một số lợi ích mang tính thực tiễn nhất định trong những giai đoạn ngắn trong quá trình tiến hóa tâm linh của một người, nhưng cần lưu ý khi xem xét Bản đồ Tâm thức: Mặc cảm tội lỗi, Hận thù (tự căm ghét chính mình), Hối tiếc, Tuyệt vọng và tất cả những lập trường tiêu cực như vậy đều nằm ở dưới đáy thang đo, trong khi Tha thứ, Tình yêu, Chấp nhận và Niềm vui nằm ở đỉnh và dẫn tới Chứng ngộ.

Bản đồ Tâm thức cho chúng biết rằng thế giới cung cấp một bức tranh toàn cảnh vô biên, và bằng cách đóng vai trò của mình trong việc là con người mà mình đang là, chúng ta phụng sự tha nhân. Mỗi người trong chúng ta đều phụng sự những người khác chỉ đơn giản bằng sự hiện diện của mình. Những người ở các tầng tâm thức thấp hơn không phải là “người xấu” chỉ vì họ đang là như vậy; họ phụng sự chúng ta bằng cách buộc chúng ta phải đặt lại thực tại và giá trị của họ vào bối cảnh khác. Cuối cùng, chúng ta đều tôn trọng tất cả mọi người. Dù chúng ta có nghĩ họ sai lầm đến mức nào, chúng ta vẫn có thể tôn trọng những người sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đất nước, vì Thiên Chúa, hay vì bất cứ điều gì mà họ tin là mình đang làm.

Chính chiến tranh cũng phục vụ cho quá trình tiến hóa của tâm thức, nó tạo ra con đường cho hàng triệu người vượt qua hèn nhát để tiến tới dũng cảm khi họ bước đi giữa mưa bom bão đạn nhân danh một nguyên tắc cao cả hơn, nhân danh Thiên Chúa, nhân danh tổ quốc, nhân danh nhà vua hay gia đình. Chiến tranh là con đường mà trong quá khứ, những người đàn ông, như những chiến binh, đã vượt qua ranh giới tới hạn ở tầng 200. Theo truyền thống, phụ nữ cũng làm được điều tương tự, đấy là sinh con, sẵn sàng chết—người chửa cửa mả—để sinh ra một sinh linh mới. Do đó, không cần phải phán xét hay lên án bất kỳ sự kiện nào trong quá trình tiến hóa của tâm thức, vì mỗi biểu hiện đều phụng sự toàn thể, đấy là do bản chất của nó tại thời điểm đó.

 

7. Đối trọng

Nghiên cứu hiệu chỉnh tâm thức cho thấy khoảng 92% các vấn đề xã hội xuất phát từ những người có điểm hiệu chỉnh dưới 200, và giá phải trả về mặt tài chính mà người dân phải gánh chịu là quá lớn, không thể nào tính toán được. Do đó, xã hội quá dễ dãi hay dung túng cho thiếu chính trực sẽ phải trả giá cực kì cao không chỉ về chất lượng của đời sống mà còn trong tất cả các lĩnh vực khác, thậm chí đơn giản là an toàn về thể chất mỗi ngày.

Vì những người chính trực thường không nhận ra rằng họ thực sự chỉ là thiểu số, nên cần phải nhắc lại rằng chỉ có 15% người dân trên thế giới có tầng tâm thức trên 200 mà thôi. Tuy nhiên, sức mạnh tập thể của 15% đủ để cân bằng những tiêu cực của 85% còn lại trên thế gian này. Vì thang đo Sức mạnh đích thực tăng theo hàm logarit, chỉ một Thánh Thần Giáng Thế có điểm hiệu chỉnh tâm thức 1.000 có thể và thực sự hoàn toàn đối trọng được với tiêu cực tập thể của toàn thể nhân loại. Kiểm tra bằng phương pháp cơ thể động học cho thấy:

Một người ở tầng 700 đối trọng với 70 triệu người ở những tầng dưới 200.

Một người ở tầng 600 đối trọng với 10 triệu người ở tầng dưới 200.

Một người ở tầng 500 đối trọng với 750.000 người ở tầng dưới dưới 200.

Một người ở tầng 400 đối trọng với 400.000 người ở tầng dưới 200.

Một người ở tầng 300 đối trọng với 90.000 người ở tầng dưới 200.

Mười hai người ở tầng 700 tương đương với một Thánh Thần Giáng Thế ở tầng 1.000.

Nếu không có những đối trọng này, nhân loại chắc chắn sẽ tự hủy diệt. Tuy nhiên, sự khác biệt về sức mạnh giữa một suy nghĩ đầy yêu thương và một suy nghĩ đầy sợ hãi là vô cùng lớn, vượt quá khả năng tưởng tượng của con người. Từ phân tích bên trên, chúng ta có thể thấy rằng chỉ cần một vài suy nghĩ yêu thương trong ngày – do Sức mạnh đích thực tuyệt đối của chúng - cũng đủ để cân bằng tất cả những suy nghĩ tiêu cực của chúng ta trong ngày hôm đó.

Cách duy nhất để nâng cao Sức mạnh đích thực của một người trên thế gian này là gia tăng tính chính trực, hiểu biết và tâm từ bi. Nếu cộng đồng dân cư đa dạng của nhân loại có thể nhận ra điều này, thì sự tồn tại của xã hội nhân loại và hạnh phúc của các thành viên của nó sẽ được đảm bảo hơn. Chỉ cần biết rằng việc nâng cao tâm thức sẽ làm giảm tiêu cực trên thế giới sẽ thúc đẩy ý định tiến hóa lên các tầng cao hơn.

 

Ý ĐỊNH: TIẾN HÓA VƯỢT RA NGOÀI QUAN HỆ NHÂN QUẢ

Người chân tu chỉ cần biết một vài điều. Chỉ cần nghe hoặc đọc những điều ấy thôi, là tiến trình đã bắt đầu rồi. Điều quan trọng nhất cần biết là: mọi sự đều tự nó đang diễn ra. Không có cái gì là nguyên nhân của bất cứ cái gì khác. Tất cả các hiện tượng đều là hệ quả tự động của trường vô biên. Trường đó là Sức mạnh đích thực toàn năng, vô biên, không nhìn thấy được. Nó bao trùm tất cả, giống như một trường điện từ khổng lồ, không có khởi đầu và không có kết thúc, cả trong không gian lẫn thời gian, luôn luôn hiện hữu và mãi mãi có đó. Sự hiện diện của nó vô cùng dịu dàng và vô cùng mạnh mẽ. Sức mạnh đích thực của nó lớn đến nỗi tất cả tiềm năng đều được kích hoạt để trở thành hiện thực.

Từ trạng thái của tâm thức thuần khiết, người ta chứng kiến ​​rằng mọi thứ đều đang diễn ra một cách tự phát nhờ Sức mạnh đích thực vô biên của trường Thần tính. Mọi thứ đang diễn ra trong và theo bản chất riêng của nó như là hệ quả của cái mà nó đang là, chứ không phải là hệ quả của những việc nó làm, — bởi “làm” hàm ý nhị nguyên: có người hành động đứng sau hành vi.

Điều mà thế giới coi là quá trình tiến hóa thực chất là chứng kiến ​quá trình sáng tạo, diễn ra liên tục. Cái Phi Hiển Lộ trở thành Hiển Lộ thông qua Ân điển Quan phòng (Divine Providence[iv]) như là Toàn thể Công trình Sáng tạo của Tạo hóa (Totality of Creation[v]) — vốn xuất hiện một cách phi nỗ lực. Trong trường tâm thức này, tiềm năng được hiện thực hóa bởi ý định. Do đó, mỗi sự vật xuất hiện, biểu lộ di sản nghiệp lực của nó; nghiệp lực của nó là tiềm năng bẩm sinh, và khi điều kiện thích hợp, thì tiềm năng đó trở thành hiện thực, tự thân nó, như là hệ quả của Sức mạnh đích thực vô biên của trường này. 

Trường này mạnh đến mức nếu một người liên tục giữ một ý nghĩ, nó sẽ trở thành hiện thực; nếu không thì sẽ không có người nào chứng ngộ được. Do đó, ý định là vô cùng mạnh mẽ. Bản ngã rất xảo quyệt. Khi một tiềm năng bắt đầu hiển lộ, nó sẽ nhận công lao là mình tạo ra. Nếu một người lấy một cái kéo và cắt cuống quả táo, bản ngã nghĩ rằng chính nó đã làm cho quả táo rơi xuống đất! Bản ngã phớt lờ trọng lực, nhưng đó là cách mọi thứ đang diễn ra—một cách tự động, giống như trọng lực. Không có một “tự ngã cá nhân” riêng biệt nào là nguyên nhân của bất cứ điều gì. Cũng giống như con người không nhận thức được trọng lực, nếu không có trọng lực thì tất cả chúng ta sẽ rơi khỏi trái đất, tương tự như vậy, con người không nhận thức được Thần tính như một trường năng lượng vô biên mà nếu không có nó thì không có gì tồn tại được.

Ý định xuất phát từ cơ thể dĩ thái (etheric body[vi])—không phải từ tâm trí của bản ngã, điều mà hệ hình nhân quả của Newton muốn bạn tin. Chuyển động đã xảy ra trước khi bạn quyết định rằng bạn sẽ di chuyển. Tôi nhận ra thực tại ấy vào năm 16 tuổi, khi một con thỏ bất ngờ chạy băng qua trước đầu xe. Bàn chân lập tức đạp phanh, và tôi bắt gặp bản ngã đang nhận công về hành động đó. Bản ngã nghĩ rằng: tôi đã đạp phanh để cứu mạng con thỏ. Không phải vậy. Phanh đã được đạp trước khi tâm trí kịp xử lý sự việc. Phải mất 0,0001 giây (một phần mười nghìn giây) để “trung tâm người trải nghiệm” của bản ngã di chuyển từ hiện tượng sang bản ghi chủ quan. Bản ngã giống như bộ theo dõi băng ghi, và bản ghi này được tạo ra trong 0,0001 giây sau khi thực tại đã xảy ra. Vì thế, tri giác luôn chậm hơn bản chất 0,0001 giây. Khi sự giám sát của bản ngã dừng lại, đó là một cú sốc, bởi nhận biết và trải nghiệm trở nên đồng thời. Do đó, tri giác mang tính cá nhân, có động cơ và có chọn lọc. Trái lại, bản chất là sự chứng kiến phi cá nhân đối với toàn thể. Nó ghi nhận mọi sự, nhưng theo lối thụ động, không tìm kiếm, không truy cầu.

Vì lợi ích của bán cầu não phải — vốn học hỏi bằng sự quen thuộc và bằng việc quay vòng trở lại — cần nhắc lại rằng người ta chỉ cần biết một điều duy nhất: mọi sự đều đang tự diễn ra, theo trật tự thiêng liêng (divine ordination[vii]), khi Phi Hiển Lộ trở thành Hiển Lộ, tự nó, nhờ sức mạnh vô biên của trường Thần tính, và không vì bất kỳ lý do nào khác. Điều xảy ra là do: tâm trí, chỉ trong một phần mười nghìn giây, liền nhanh chóng nhận mình là tác giả của hành động. Nếu một người nào đó thật sự và triệt để trung thực —vượt quá khả năng của đa số — thì bằng cách nào đó, người ấy sẽ đi trước được khoảnh khắc một phần mười nghìn giây ấy, và hoàn toàn phó thác cho Thực tại rằng mọi sự đều diễn ra bởi phòng Quan phòng Thiêng liêng, theo ý chí của Thiên Chúa, chứ không vì lý do nào khác. Kẻ duy nhất chống lại hiểu biết này là bản ngã; công việc của bản ngã là tự nhận mình là Thiên Chúa, và sau hàng thiên niên kỷ tiến hóa sinh học, nó làm việc này rất thành thạo.  

 

SỰ THẬT VÀ TRƯỜNG VÔ BIÊN

Nguyên tắc cơ bản của trường vô biên này là nó nhận ra sự thật ngay lập tức. Trường Tâm thức vô biên ghi nhận tất cả những gì đã từng xảy ra trong mọi thời đại. Mọi suy nghĩ, mọi cảm xúc, mọi chuyển động, mọi hành động đều được ghi lại mãi mãi. Không có khái niệm riêng tư. Mọi thứ đều phát ra năng lượng mà hàng nghìn năm sau vẫn có thể đọc được. Chúng ta có quyền truy cập vào tất cả các thông tin đang tồn tại chỉ trong một giây! Chỉ mất ngần ấy thời gian để khám phá ra bất kỳ bí mật nào trong vũ trụ.

Có thể ngay lập tức phân biệt được thật giả là một món quà vô cùng quý giá. Không biết sự khác biệt giữa thật và giả đã kéo nhân loại vào những cuộc chiến không bao giờ ngưng, gây ra nghèo đói, man rợ, bệnh tật, đau đớn, khổ sở và chết. Khổ đau của con người chính là do vô minh. Tất cả các Thánh Thần Giáng Thế Vĩ Đại, Krishna, Chúa Jesus Christ và Đức Phật đều nói rằng chỉ có một “tội”, chỉ có một vấn đề, và đó là vô minh. Cho đến lúc này, chúng ta không có biện pháp phân biệt thật giả, trừ những lời dạy của các bậc thầy tâm linh vĩ đại. Giờ đây chúng ta đang có trong tay một món quà tượng trưng cho hệ quả của quá trình tiến hoá tâm thức của con người.

Thúc đẩy sự thật không nhất thiết mang lại bình yên. Trên thực tế, nó có thể gây xáo trộn mọi thứ trong một khoảng thời gian nào đó. Những người tu tập tâm linh hình dung tương lai sẽ tràn ngập yêu thương và hoa lá, cùng với khả năng là hòa bình sẽ đến như là kết quả của các cuộc tuần hành vì hòa bình hoặc các hoạt động khác. Đúng thế, chúng ta sẽ có hòa bình, nhưng có thể phải mất vài nghìn năm nữa! Không có lý do gì để thiếu kiên nhẫn với quá trình tiến hóa tâm thức. Cách tốt nhất để đóng góp là công việc thầm lặng, siêng năng, tự hoàn thiện chính mình để trở thành người yêu thương, tử tế và có trách nhiệm hơn.

Chỉ cần biết rằng mọi thứ đang diễn ra theo lẽ tự nhiên, không có nguyên nhân bên ngoài, là đã bắt đầu phá vỡ vọng tưởng của thuyết nhị nguyên, vốn cho rằng có tác nhân hành động. Khó khăn của hầu hết các đệ tử tâm linh là họ bị mắc kẹt trong hệ hình về thực tại của vật lý học Newton, trong đó có “cái này” gây ra “cái kia”. Hệ thống niềm tin nhị nguyên này nằm ở cốt lõi của bản ngã và là nguồn gốc của suy nghĩ cho rằng có một cá nhân “Tôi” riêng biệt.

Không có một “Tôi” cá nhân riêng biệt nào đang nói ở đây. Bởi vì có khán giả hoặc độc giả, thì trường này, tức là Sự Hiện Diện, tự phản hồi lại chính Nó như là chính Nó, và “Tôi” với tư cách là người nói hoặc người viết không liên quan gì đến nó. Tự ngã cá nhân đã biến mất từ nhiều năm trước, và tâm trí trở nên im lặng, trạng thái này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Sự Hiện Diện Vô biên mạnh mẽ đến nỗi nó dập tắt bất cứ thứ gì không phải là chính Nó.

 

CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI

 

Hỏi: Làm sao tôi có thể hiểu đời sống của mình khi không có “Tôi”?

Trả lời: Đừng cố gắng! Bạn sẽ chỉ bị mắc kẹt trong một khái niệm mà bạn gọi là “phi nhị nguyên”. Chân lý không nằm ở khái niệm, mà ở ngộ/thể ngộ. Chỉ cần nghe nói rằng mọi thứ xuất hiện một cách tự phát, đấy là do bản chất vốn có, thì bạn sẽ không cần làm gì khác ngoài việc bắt đầu chú ý đến nó. Bạn không cần phải suy nghĩ về nó hay tìm ra ý nghĩa của nó. Đơn giả là bắt đầu nhận thấy rằng mọi thứ đang xảy ra một cách tự phát, đấy là do bản chất của nó và không có cái gì là nguyên nhân của bất cứ cái gì khác.

Trong trạng thái tâm thức thuần khiết, mọi phóng chiếu đều chấm dứt, và mọi thứ được tiết lộ là hoàn hảo, là cái mà nó đang là. Trong Thực tại, bạn thấy rằng ý nghĩa của bất cứ cái gì chính là cái nó đang là. Đó là ý nghĩa của nó. Ý nghĩa của nó là cái nó đang là. Ý nghĩa của một con hươu cao cổ là gì? Ý nghĩa của một con hươu cao cổ là trở thành một con hươu cao cổ.

Hỏi: Ông nói rằng sáng tạo và sự tiến hóa là một và như nhau. Làm sao có thể như thế?

Trả lời: Điều ta chứng kiến là tiềm năng liên tục nổi lên như là sáng tạo. Tiến hóa là sáng tạo. Tôn giáo truyền thống đã tách hai cái này ra, ngụ ý rằng Chúa đã hoàn thành công việc sáng tạo sau một tuần và sau đó Ngài nói “Tạm biệt. Ta sẽ gặp lại các ngươi vào Ngày Phán Xử!” Tôn giáo cho rằng Chúa đã tạo ra vũ trụ, ném quả bóng, và nói, “Chúc mọi người may mắn. Hy vọng các vị sẽ thành công!” Trong Thực tại, sáng tạo là liên tục, có nghĩa là tiềm năng trong quá trình sáng tạo đang trở thành hiện thực, và bạn đang chứng kiến sự xuất hiện của nó. Thậm chí bạn không chứng kiến “thay đổi.” Đó là một vọng tưởng khác, bởi vì “thay đổi” cần thời gian, và trong Thực tại không có thời gian. Tất cả đều là khái niệm hóa của tâm trí. Nếu tôi hỏi một con thỏ, “Mấy giờ rồi?” nó sẽ không biết tôi đang nói về cái gì. Thời gian là khái niệm hóa của tâm trí mà bản ngã phóng chiếu lên trải nghiệm. Tiến hóa, khi được nhìn như một chuỗi tuyến tính trong thời gian, cũng chỉ là khái niệm hóa. Trong Thực tại, cái bạn nhìn thấy không phải là thời gian, không phải là trình tự hay biến đổi, mà là sự xuất hiện liên tục của tiềm năng đang trở thành hiện thực.

Rào cản lớn nhất đối với Chứng ngộ, đối với những người đã đi khắp nơi, làm đủ mọi việc và nghe qua mọi bậc thầy, chính là nguyên lý nhân quả —cho rằng mọi sự đều có nguyên nhân và trình tự tuyến tính, rằng “cái này” gây ra “cái kia.” Chừng nào bạn còn tin rằng “cái này” gây ra một “cái kia”, thì bạn sẽ có kẻ ác và nạn nhân, bản ngã và tâm linh, tự ngã và Đại ngã, và bạn sẽ bị mắc kẹt. Nguyên lý nhân quả có điểm hiệu chỉnh khoảng 460, tương tự như thuyết tiến hóa của Darwin. Cử toạ điển hình ở các bài giảng Veritas có điểm hiệu chỉnh khoảng 420, vì vậy 460 nghe có vẻ uyên bác, nhưng từ tầng 550 và cao hơn, nó lại có vẻ nực cười! Sự thật tối thượng là: mọi sự hiện hữu đều xuất sinh nhờ Sự Hiện Diện của Thần tính. Không có gì khác có sức mạnh tự tạo ra sự tồn tại của chính nó. Sách Sáng Thế (Genesis, điểm hiệu chỉnh 600) nói rằng từ Thần tính phát ra Ánh Sáng, và từ Ánh Sáng ấy sự sống cùng vũ trụ được khai sinh. Sự sống nảy sinh từ sự tiến hoá tự phát của Thần tính. Vạn vật xuất hiện một cách tự phát, từ tiềm năng thành hiện thực, nhờ Sức Mạnh Vô biên của Sự Hiện Diện của Thiên Chúa[viii]. Cái mà tâm trí gọi là trình tự và nhân quả thực ra không hề vận hành theo lối tuyến tính. Ngay trong giây phút này, bạn và tôi đang hiện hữu một cách tự phát trong Trường Vô biên.

Hỏi: Nếu thế giới hình thành nhờ Sự Hiện diện của Thiên Chúa, mà bản chất được cho là Tình Yêu, vậy tại sao người tốt lại gặp những chuyện chẳng lành?

Trả lời: “Tốt” hay “xấu” là do tri giác của bạn. Thực ra, nghịch cảnh có thể được coi như một món quà. Nhiều người sống sót sau ung thư sẽ nói với bạn: “Đó là điều tốt nhất từng xảy ra với tôi.” Thần tính toàn tri còn bạn thì không. Tri giác của bạn không phải là Thực tại. Điều bạn cho là “bất công” có thể chính là phương tiện để giải thoát. Điều bạn muốn biết là liệu có công lý nội tại trong thế giới này hay không và liệu những sự kiện xảy ra trên thế giới có diễn ra một cách công bằng và chính trực hay không. Vâng, có. Đời sống của con người là công bằng về mặt nghiệp lực, hoàn toàn và trọn vẹn. Mỗi người tự chèo lái con thuyền của mình. Vì Tình Yêu là Luật Cao Nhất của Vũ Trụ (tuyên bố này có điểm hiệu chỉnh 750), mỗi người được sinh ra trong những hoàn cảnh mang lại lợi ích tâm linh cao nhất.

Nếu một điều gì đó là “bất công”, thì vũ trụ hẳn là có tính ngẫu nhiên hoặc thất thường. Không có gì là ngẫu nhiên và Thần tính thì không thất thường. Lĩnh vực phi tuyến tính của Sức mạnh đích thực Vô biên xuyên suốt mọi thời đại, Thần tính, giống như một trường điện từ có kích thước vô biên và sức mạnh đích thực vô biên, trong đó những mạt sắt nhỏ tự động sắp xếp phù hợp với “điện tích” của chúng. Vạn vật tồn tại bằng nghiệp lực đều có cực, có điện tích. Vạn vật trong lĩnh vực của Thần tính đều được sắp xếp bên trong trường đó theo di sản nghiệp lực của riêng nó; do đó, Công lý của Thiên Chúa là tức thời. Không một mạt sắt nào có thể ở bất cứ nơi nào khác ngoài vị trí của nó.

Sự Hiện Diện của Thiên Chúa là Sức mạnh đích thực Vô biên không có bộ phận, vị trí, chuyển động; không có sự phóng chiếu mang tính nhân vị; không có cảm xúc; không có vấn đề tâm lý và tâm trí vô thức! Thần tính không thất thường; không tức giận, không bị rối loạn cảm xúc, hay thù hận; và không cần phân tâm học và trị liệu! Thần tính là Trường Sức mạnh Vô biên và do đó, chắc chắn là, không có phân chia; nó giống như trọng lực, là trường không thể phân chia, trong đó mỗi chúng ta đều xếp hàng theo nghiệp lực của mình—mà, ở một tầng nào đó, là tổng thể của tất cả những gì chúng ta đã từng nói “vâng”, dù chúng ta có nhớ hay không. Luôn luôn có tự do lựa chọn; vì vậy, trong mỗi khoảnh khắc, ta đều đang đưa ra quyết định của mình. Thế giới này có thể được mô tả như là cơ hội tối đa cần thiết cho quá trình tiến hóa tâm thức mỗi người. Đây là chiều kích nơi lựa chọn là không có giới hạn, từ những điều kinh hoàng và tàn khốc nhất cho đến những trạng thái phúc lạc cao nhất.

Câu “Thế giới như là cơ hội mang tính nghiệp chướng” có điểm hiệu chỉnh 600 và là một giáo lý của Đức Phật, nói rằng tất cả các trải nghiệm trên thế gian này đều là cơ hội cho quá trình tiến hóa tâm linh: “Được sinh ra làm người là hiếm; được nghe nói về Chứng ngộ còn hiếm hơn nữa; và theo đuổi Chứng ngộ là hiếm nhất”.

Hỏi: Tôi có thể thấy rằng tâm trí phóng chiếu nhân quả vào những chỗ không có nhân quả, rồi sau đó, một cách vô thức, có xu hướng bỏ qua tất cả dữ liệu chứng tỏ điều ngược lại. Để thực sự phân biệt được nguyên nhân của bất cứ điều gì, tôi phải biết tất cả những gì đã từng xảy ra trong suốt mọi thời đại, bởi vì mọi thứ đều được kết nối với mọi thứ khác. Có đúng thế không?

Trả lời: Bạn nhận biết được giới hạn của trí năng. Biện pháp bảo vệ để không bị trí năng giam cầm chính là khiêm nhường. Trí năng chỉ có khả năng làm một số nhiệm vụ nhất định, trong một phạm vi nhất định, và ngoài phạm vi đó, nó là trở ngại. Trí năng hữu ích cho miền tuyến tính, chứ không phải miền phi tuyến tính. Bạn sẽ không dùng búa để mở hộp đựng súp. Bạn không thể dùng trí năng để nắm bắt thực tại tâm linh.

Trong thế giới tuyến tính của vật chất và y học, chúng ta thấy giá trị to lớn của trí năng đối với thế giới. Khi tôi bắt đầu làm bác sĩ, tôi phụ trách một bệnh viện lớn, ở đấy mọi người thường xuyên chết vì những căn bệnh mà giờ đây thậm chí không còn tồn tại nữa! Bệnh bại liệt hầu như không còn. Lợi ích mà các tầng 400 mang lại là vô cùng to lớn, và chúng ta trân trọng trí năng. Trí năng đã là ân nhân vĩ đại của xã hội. Khi tầng tâm thức của một người thăng lên, họ ngày càng trở nên có lợi cho thế giới, và những người ở các tầng 400 tạo được ảnh hưởng vô cùng to lớn. Thế giới khoa học đã chuyển hóa đời sống của chúng ta từ bệnh tật, đau khổ và khốn cùng sang những ca phẫu thuật tương đối ít đau đớn, sinh nở an toàn hơn, và khả năng hồi phục khỏi nhiều loại bệnh hơn. Chúng ta vô cùng biết ơn trí năng và khoa học. Chúng ta không hạ thấp trí năng; trái lại, chúng ta trân trọng nó, bởi nếu không có trí năng, thì không ai trong chúng ta có mặt ở đây trong ngày hôm nay. Vấn đề chỉ đơn giản là cần chấp nhận rằng trí năng có giới hạn; nó không phải là Thiên Chúa.

Hỏi: Thế giới là gì, và nó phục vụ cho quá trình tiến hóa tâm thức như thế nào?

Trả lời: Có vô số quan điểm về thế giới, và chúng có thể được hiệu chỉnh theo tầng sự thật của chúng:

Quan điểm của một người về thế giới là hệ quả của tầng tâm thức của người đó: 485.

Thế giới thực sự là nơi thuận lợi cho sự cứu chuộc và cứu rỗi: 575.

“Tôi tạo ra thế giới mà tôi nhìn thấy”: 350.

Thế giới và vũ trụ chỉ là những ảo ảnh thoáng qua do bản ngã tạo ra để giữ cho nó tách biệt khỏi Thiên Chúa: 220.

Sự sống của con người là biểu hiện của Ý chí của Thiên Chúa, nhờ đó Thần tính hiện thực hóa tiềm năng vô biên: 560.

Loài người từ các vì sao đi xuống và hạ xuống từ thiên đường: 160.

Loài người là từ loài khỉ mà ra: 160.

Thế giới và loài người được Thiên Chúa tạo ra và do đó được truyền cảm hứng thiêng liêng và vốn dĩ thánh thiện: 545.

Thế giới chỉ là sản phẩm vật chất của vũ trụ vật chất: 190.

Sự sống và do đó loài người hoàn toàn là những sản phẩm ngẫu nhiên của quá trình tiến hóa sinh học Darwin (chủ nghĩa giản lược cơ học): 190.

Sống còn là do chọn lọc tự nhiên, kẻ phù hợp nhất sẽ sống sót: 440.

Thế giới và cuộc sống con người là hậu quả của sự sa ngã của Adam và Eva do bất tuân và khuất phục trước cám dỗ của sự tò mò. Do đó, cuộc sống là quá trình sám hối tội lỗi nguyên thủy: 190.

Thế giới là một vở hài kịch, một bi kịch, một bàn cờ chính trị, và hơn thế nữa: 240.

Đây là thế giới thanh tẩy đầy gian khổ và đau đớn; do đó, hãy tìm kiếm thiên đường: 350.

Thế giới là cơ hội hiếm có để phát triển và tiến hóa tâm linh tối đa bằng cách xóa bỏ ác nghiệp và tích lũy thiện nghiệp tâm linh: 510.

Thế giới là bóc lột: 180.

Thế giới là bất công: 200.

Thế giới thể hiện nghiệp quả: 575.

Thế giới là cơ hội nghiệp quả: 600.

Hỏi: Sự tiến hóa cá nhân của một người liên quan như thế nào đến thế giới rộng lớn?

Trả lời: Lợi ích không nhìn thấy được của nỗ lực và tiến hóa tâm linh là ảnh hưởng tích cực của nó đến tầng tâm thức tập thể của nhân loại. Mỗi người tu tập tâm linh đang tiến hóa đều đối trọng lại tác động tiêu cực của nhiều người có tầng tâm thức thấp hơn. Mặc cho những biểu hiện bên ngoài, nghiên cứu hiệu chỉnh tâm thức cho thấy rằng tầng tâm thức tập thể của nhân loại nói chung đang đi lên. Do đó, quan điểm lạc quan là hợp lý. Người ta có thể biết ơn vì đã được sinh ra với tiềm năng vô biên của con người để đạt được lợi ích mang tính nghiệp báo. Người ta cũng có thể biết ơn vì đã nghe nói về Chứng ngộ và quyết định tìm kiếm nó, vì những người như thế thực sự là vô cùng hiếm hoi. Như đã viết trong các tác phẩm trước, về mặt thống kê, khả năng chọn Chứng ngộ làm mục đích chính của cuộc đời là một phần mười triệu.

Chỉ đơn giản là mong muốn trở thành một người yêu thương hơn, và điều chỉnh ý định của mình cho phù hợp với các trường năng lượng ở trên đỉnh Bản đồ, chính là phụng sự thế giới rộng lớn. Bù đắp cho sự tiêu cực của thế giới thì không cần tấn công giả dối mà là trở thành thân thiện và yêu thương hết mức có thể trong lĩnh vực hoặc cuộc sống của riêng bạn. Một người thân thiện (255) mạnh mẽ hơn năm người thù địch (125).

Hỏi: Có thể rút ra từ cuộc sống trần thế giá trị thực sự nào?

Trả lời: Thế giới có thể được nhìn như một kích thích tối ưu cho quá trình trưởng thành nội tâm, bởi nó chỉ là sự phóng chiếu của bản ngã trong hình thức biểu hiện kịch tính và hiển lộ. Khôn ngoan nhất là học hỏi từ đó, thay vì bị quyến rũ bởi các ảo ảnh của nó, hay bị mắc kẹt trong những biểu hiện đó bằng cách đồng nhất hóa hoặc dính mắc. Toàn cảnh thế gian phản chiếu trọn vẹn phổ các tầng tâm thức trong sự phô bày trực diện nhất của chúng. Toàn cảnh ấy giống như một ngôi trường của sự phân biệt, nơi những cực đoan được phơi lộ để làm hiển hiện bản chất nằm bên dưới vẻ ngoài của nói. Mọi sự kiện dường như xảy ra đều mang trong mình cơ hội để học hỏi.

Hỏi: Vậy thì, làm sao có mối quan hệ tốt nhất với thế giới?

Trả lời: Sống “trong” nó nhưng không “thuộc về” nó. Thế giới là phương tiện chứ không phải là mục đích.



[1] Một số người ở tầng tâm thức 200+ cần liên tục được serotonin hỗ trợ (xem Chương 4).



[i] Harmonic Convergence – Hội Tụ Hài Hòa là một sự kiện tâm linh mang tính toàn cầu diễn ra vào tháng 8/1987. Đây không chỉ là một cuộc tụ họp vật lý của hàng triệu người tại các địa điểm linh thiêng trên khắp thế giới để cùng thiền định, mà còn là một điểm hội tụ về ý chí tập thể. David Hawkins nói rằng sự kiện này đánh dấu bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại: lần đầu tiên sau nhiều thế kỷ, tầng tâm thức trung bình của toàn thể nhân loại đã nhảy vọt từ 190 (tiêu cực) vượt qua ngưỡng 200 (Can đảm và Sự thật). Đây là thời điểm mà Ân phước (Grace) tràn ngập, tạo ra một cú hích năng lượng cho phép nhân loại bắt đầu chuyển dịch từ trạng thái sinh tồn dựa trên Bạo lực sang quá trình phát triển dựa trên Sức mạnh đích thực. Hội Tụ Hài Hòa đã khai mở một “trường tâm thức” mới, khiến cho sự thật phi tuyến tính cùng các tầng Tâm thức cao hơn như Tình yêu (500) và Hòa bình (600) không còn là đặc quyền của riêng các Thánh nhân, mà trở nên dễ dàng tiếp cận hơn đối với đại chúng.

[ii]  Etheric Brain - Não bộ dĩ thái (Não bộ năng lượng): Là cấu trúc năng lượng tinh vi thuộc Thân thể dĩ thái (Etheric Body), đóng vai trò cầu nối trung gian giữa Tâm thức phi tuyến tính và não bộ vật lý. Theo Hawkins, thông tin không được lưu trữ tại các tế bào não mà nằm trong Trường Tâm thức; khi đó, não bộ vật lý đóng vai trò là “phần cứng”, còn não bộ dĩ thái hoạt động như một “phần mềm” hay bộ thu phát tín hiệu. Cấu trúc này chuyển đổi các tần số năng lượng cao thành xung thần kinh, giúp cơ thể vật lý có thể phản ứng và thích nghi với các trạng thái chứng ngộ hoặc khai sáng.

[iii] Sackcloth and ashes (mặc áo bao tải và rắc tro lên đầu) là phong tục để tang, sám hối và biểu thị sự khiêm nhường cực độ của người Do Thái cổ đại (Hebrew/Jewish).

[iv] Divine Providence - Ân điển Quan phòng là sự an bài và dẫn dắt của Trí tuệ Thiêng liêng đối với vạn vật trong vũ trụ. Nó là sức mạnh vô hình giúp chuyển hóa cái Phi Hiển Lộ thành Hiển Lộ mà không cần nỗ lực của con người. Ý nghĩa với Hawkins: Khi bản ngã buông bỏ kiểm soát, cá nhân sẽ hòa vào dòng chảy của sự Quan phòng. Tại đây, mọi nhu cầu đều được đáp ứng và mọi sự kiện đều diễn ra một cách hoàn hảo, phi nỗ lực.

[v] Totality of Creation là toàn bộ sự hiện diện của vạn vật trong vũ trụ, được nhìn nhận như một chỉnh thể hoàn hảo, duy nhất và liên tục sinh khởi từ Trường Tâm thức, không có sự phân biệt giữa nguồn gốc và biểu hiện.

[vi] Etheric body là thuật ngữ trong các truyền thống huyền học và tâm linh phương Tây, chỉ một tầng thân vi tế được cho là tồn tại song song với thân vật lý. Nó được mô tả như một “trường năng lượng” hoặc “mẫu hình sinh lực” nâng đỡ và duy trì cấu trúc của cơ thể vật chất. Trong một số hệ thống huyền học, cơ thể dĩ thái được xem là: Lớp gần nhất với thân vật lý; Cầu nối giữa thân xác và các tầng tâm thức vi tế hơn; Khuôn mẫu năng lượng (energetic blueprint) của cơ thể. Thuật ngữ này xuất hiện trong các trào lưu như Thông Thiên học (Theosophy), Nhân trí học (Anthroposophy), và một số hệ thống chữa lành năng lượng. Cần lưu ý rằng khái niệm etheric body thuộc phạm trù huyền học – tâm linh, không phải thuật ngữ của sinh lý học hiện đại.

[vii] Divine Ordination - Trật tư thiêng liêng/Thiên định là trật tự đầy quyền năng của Thiên Chúa/Vũ trụ. Nếu Providence là sự chăm sóc và dẫn dắt, thì Ordination là “Trật tự” tối cao khiến một sự việc nhất định phải xảy ra theo một trật tự không thể lay chuyển. Trong hệ thống của Hawkins: Nó khẳng định rằng mọi sự kiện trong tiến trình tiến hóa của tâm thức không phải là ngẫu nhiên, mà đã được “ấn định” từ trong cấu trúc của Trường Tâm thức. Ví dụ: Sự chứng ngộ của một cá nhân vào một thời điểm nhất định có thể được xem là do Divine Ordination (Thiên định).

[viii] Như vậy, có  thể hiểu: Thần tính, Thiên Chúa và Đại Ngã không phải là ba thực thể tách biệt, mà là những cách diễn đạt khác nhau về cùng một Thực Tại tối hậu — được tiếp cận từ bình diện thần học, siêu hình học và trải nghiệm nội tâm.

 



No comments:

Post a Comment