BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Chương 2
CÁC TẦNG TÂM THỨC
Cốt lõi của Bản đồ Tâm thức
là các tầng, cùng với các giá trị bằng số tương ứng trên thang đo tâm thức được
hiệu chỉnh từ 1 đến 1.000, trong đó 1 là tồn tại và 1.000 là tầng Sự thật cao
nhất từng tồn tại trên hành tinh này.
Cực
kì quan trọng cần nhớ là các con số hiệu chỉnh không phải phép tính số học, mà
là phép tính logarit. Do đó, tầng 300 không phải có biên độ gấp đôi tầng 150;
mà là 10 mũ 300 (10300). Vì vậy, thăng lên dù chỉ vài điểm cũng thể
hiện một bước tiến lớn trong sức mạnh chính trực; tốc độ gia tăng sức mạnh này khi
chúng ta di chuyển lên trên thang đo là rất lớn.
Tất
cả các tầng dưới 200 đều xuất phát từ Bạo lực (Force) và có tính hủy diệt sự sống
ở cả cá nhân và xã hội nói chung; ngược lại, tất cả các tầng trên 200 đều là những
biểu hiện mang tính xây dựng của Sức mạnh đích thực (Power). Tầng mang tính quyết
định 200 là điểm tới hạn, là điểm phân chia các lĩnh vực của Bạo lực (hay dối
trá) ra khỏi lĩnh vực của Sức mạnh đích thực (hay sự thật).
Mỗi tầng đều có hệ hình thực tại và giá trị riêng, quyết định những gì là chấp nhận được trong phạm vi của nó. Ví dụ, trong các trường năng lượng dưới 200, nuôi dưỡng lòng thù hận, lừa gạt người mua và giết kẻ thù là hợp lý. Thật vậy, trong một số tiểu văn hóa, nếu không trả thù bằng cách giết người, bạn sẽ làm cho tính mạng của mình gặp nguy hiểm. Nhưng trong các trường năng lượng trên 200, những hành động như thế thậm chí sẽ không xuất hiện trong suy nghĩ của bạn. Trong miền Lý trí (400), tình yêu, cầu nguyện và các thực tại tâm linh khác không thể được chứng minh bằng logic, nhưng trong địa hạt Tình yêu (500), sự thật của chúng tự hiển lộ, rõ ràng đến mức không còn chỗ cho nghi ngờ.
TẦNG NĂNG LƯỢNG 20: NHỤC
NHÃ
Tầng Nhục nhã cận kề
đến mức nguy hiểm với cái chết, người ta có thể vì nhục nhã mà cố ý tự tử, hoặc
tự tử một cách tinh vi hơn: không làm gì nhằm duy trì đời sống, gọi là “tự tử
thụ động”. Phổ biến nhất là chết trong những vụ tai nạn mà đáng lẽ ra có thể
tránh được. Tất cả chúng ta, ở mức độ nào đó, đều nhận thức được về nỗi đau “mất
thể diện”, mất uy tín hoặc cảm thấy mình là “người chẳng ra gì”. Ở tầng Nhục
nhã, người ta gục đầu xuống và lẩn lút, ước mong mình trở thành vô hình. Trục
xuất khỏi cộng đồng thường đi kèm với nhục nhã, trong các xã hội nguyên thủy –
tất cả chúng ta đều từ đó mà ra – trục xuất cũng chẳng khác gì chết.
Những
trải nghiệm đầu đời như lạm dụng tình dục dẫn đến Nhục nhã, nếu không được chữa
trị thì sẽ làm méo nó nhân cách trong suốt một đời người. Như Freud đã nói, Nhục
nhã sinh ra chứng loạn thần kinh chức năng. Nhục nhã có tính phá hoại đối với đời
sống tình cảm và tâm lý, và thiếu lòng tự trọng còn làm cho cơ thể người ta dễ
mắc bệnh. Người cảm thấy Nhục nhã thường nhút nhát, xấu hổ và hướng nội.
Nhục
nhã cũng được sử dụng làm công cụ đàn áp tàn bạo, và chính các nạn nhân của nó
cũng trở thành những kẻ tàn bạo. Những đứa trẻ bị làm nhục rất tàn bạo với động
vật và tàn bạo với nhau. Những người có tầng tâm thức từ 20 đến 30 thường khá
nguy hiểm. Họ rất dễ có ảo giác là mình bị buộc tội, cũng như hay mắc chứng
hoang tưởng; một số người bị bệnh loạn thần kinh hoặc phạm những tội ác kỳ
quái.
Một
số người ở tầng Nhục nhã lại tìm cách bù đắp bằng thói cầu toàn và cứng nhắc,
và thường trở thành cố chấp và bất dung. Ví dụ khét tiếng nhất là những kẻ cực
đoan về đạo đức, họ lập ra các nhóm “dân phòng”, phóng chiếu cảm giác Nhục nhã
vô thức của mình lên những người mà họ cảm thấy là tấn công hoặc giết những người
đó là chính đáng. Những kẻ giết người hàng loạt thường hành động nhân danh sự
trong sạch tính dục, biện minh rằng đó là hình phạt đối với những người phụ nữ
“lẳng lơ”.
Vì Nhục nhã hạ thấp toàn bộ tầng tính cách của một con người, cho nên người đó dễ có những cảm xúc tiêu cực khác, và do đó, họ cũng thường có thái độ kiêu ngạo, tức giận và mặc cảm tội lỗi giả tạo.
Tầng
năng lượng 30: Mặc cảm tội lỗi
Mặc cảm tội lỗi, thường được xã hội của chúng ta sử dụng
nhằm thao túng và trừng phạt, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như hối
hận, tự trách mình, bạo dâm và toàn bộ triệu chứng tự coi mình là nạn nhân. Mặc
cảm tội lỗi vô thức gây ra bệnh tâm thần, dễ gặp tai nạn và có thể tự tử. Nhiều
người phải vật lộn suốt đời với mặc cảm tội lỗi, trong khi một số người khác cố
gắng đến mức tuyệt vọng nhằm chạy trốn nó bằng cách phủ nhận một cách vô đạo đức
toàn bộ Mặc cảm tội lỗi.
Bị Mặc cảm tội lỗi thống trị sẽ dẫn
đến lo lắng rằng mình có “tội”, thái độ thiếu khoan dung đó thường bị những kẻ
mị dân trong tôn giáo lợi dụng nhằm ép buộc và kiểm soát. Những kẻ buôn thần
bán thánh này thường bị hình phạt ám ảnh, có thể hành động vì cảm thấy chính
mình có tội, hoặc phóng chiếu tội lỗi của mình lên những người khác.
Các nhóm tiểu văn hóa thường thực hiện những nghi thức tự trừng phạt khác thường, thể hiện dưới nhiều hình thức đặc biệt tàn bạo, ví dụ như dùng người hay động vật làm vật hiến tế trong những nghi lễ công khai. Mặc cảm tội lỗi kích động những cơn thịnh nộ, và biểu hiện của nó là giết người. Tử hình là ví dụ về việc làm sao mà giết người lại làm cho đám đông có mặc cảm tội lỗi hài lòng.
Tầng năng lượng 50: Thờ ơ
Tầng này có đặc điểm
là nghèo đói, tuyệt vọng và vô vọng. Thế giới và tương lai trông có vẻ ảm đạm;
cuộc sống đầy đau thương. Thờ ơ là trạng thái bất lực; nạn nhân của nó thiếu thốn
mọi thứ, họ không chỉ thiếu nguồn lực mà còn thiếu cả năng lượng để có thể tận
dụng những nguồn lực sẵn có. Nếu không có nguồn cung cấp năng lượng từ bên
ngoài thì họ có thể không làm gì nhằm duy trì đời sống, kết quả là tự tử thụ động.
Mất hết ý chí sống, ánh mắt của họ đờ đẫn và vô vọng, họ hờ hững trước các kích
thích cho đến khi mắt họ không còn phản ứng và thậm chí không có đủ năng lượng
để nuốt thức ăn được đút vào tận miệng.
Đây
là tầng của những người vô gia cư và những người bị xã hội bỏ rơi; cũng là số
phận của nhiều người già và những người cô đơn do mắc các bệnh mãn tính hoặc những
căn bệnh làm cho tình trạng sức khỏe ngày càng xấu đi. Người thờ ơ sống phụ thuộc
vào người khác và bị coi là gánh nặng đối với những người xung quanh.
Thường thì, xã hội không có đủ động lực nhằm giúp đỡ một cách thiết thực cho các cộng đồng cũng như các cá nhân ở tầng này – họ bị coi như những người ăn bám. Đây là tầng năng lượng của các đường phố ở Calcutta, nơi chỉ những người thánh thiện như Mẹ Teresa và đệ tử của Bà mới dám đặt chân đến. Thờ ơ là từ bỏ hy vọng, và chẳng có mấy người có đủ dũng khí để thực sự đối diện với nó.
Tầng năng lượng 75: U sầu
Đây là tầng của buồn
bã, mất mát và chán nản. Hầu hết mọi người đều trải qua tình trạng này nhiều lần,
nhưng những người bị mắc kẹt ở tầng này sẽ có cuộc sống đầy hối tiếc và phiền
muộn. Đây là tầng của những người thường xuyên than thở, thường xuyên cảm thấy
mất mát và hối hận về quá khứ; cũng là tầng của những người thường xuyên thất bại
và những tay nghiện cờ bạc, coi thất bại là một phần trong cách sống của mình,
kết quả là mất việc làm, mất bạn bè, mất gia đình, và cơ hội, mất tiền bạc và sức
khỏe.
Những
tổn thất lớn đầu đời làm cho người ta sau này dễ dàng chấp nhận một cách thụ động
u sầu, coi nỗi buồn là cái giá của cuộc đời. Khi đang U sầu, người ta nhìn thấy
ở đâu cũng buồn: những đứa trẻ con đáng buồn, hoàn cảnh của thế giới đáng buồn,
chính cuộc sống cũng đáng buồn. Tầng này phủ màu sắc ảm đạm của nó lên toàn bộ
tầm nhìn về cuộc đời của người đó. Một phần của hội chứng mất mát này là quan
niệm cho rằng không gì có thể thay thế được những thứ đã mất hoặc thay thế được
điều mà những thứ bị mất kia là biểu tượng. Ở đây người ta đã khái quát hóa trường
hợp cụ thể đến mức mất người thân yêu bị coi là mất chính tình yêu. Ở tầng này,
những mất mát về mặt tình cảm như thế có thể gây ra bệnh trầm cảm nghiêm trọng
hoặc thậm chí là chết.
Mặc dù U sầu là nghĩa địa của cuộc đời, song nó vẫn có nhiều năng lượng hơn Thờ ơ. Do đó, khi một bệnh nhân bị sang chấn và rơi vào trạng thái thờ ơ bắt đầu khóc, thì chúng tôi biết là họ đang khá lên. Khi bắt đầu khóc là họ sẽ bắt đầu ăn trở lại.
Tầng năng lượng 100: Sợ hãi
Ở tầng 100, con người
có nhiều năng lượng sống hơn; sợ nguy hiểm thực sự là nỗi sợ lành mạnh. Sợ hãi
đang vận hành phần lớn thế giới này, thúc đẩy vô vàn hoạt động khác nhau. Sợ kẻ
thù, sợ già hay sợ chết, sợ bị từ chối và nhiều nỗi sợ hãi trong xã hội là động
lực cơ bản trong cuộc sống của hầu hết mọi người.
Theo
quan điểm của tầng này, thế giới trông có vẻ nguy hiểm, đầy rẫy cạm bẫy và đe dọa.
Các cơ quan và chế độ độc tài áp bức thích dùng sợ hãi làm công cụ để kiểm soát
dân chúng, và tình trạng bấp bênh là ngón nghề của những tay thao túng trên
thương trường. Sợ hãi được các phương tiện truyền thông và quảng cáo sử dụng nhằm
gia tăng thị phần.
Sợ
hãi, cũng như trí tưởng tượng của con người, có thể được khuếch đại đến vô cùng
vô tận; một khi Sợ hãi trở thành trung tâm chú ý của một người nào đó thì vô
vàn những sự kiện đáng sợ trên thế giới sẽ cung cấp dưỡng chất cho nó. Sợ hãi
trở thành ám ảnh và có thể xuất hiện dưới mọi hình thức. Sợ mất quan hệ dẫn đến
ghen tuông và căng thẳng mãn tính ở mức độ cao. Tư tưởng sợ hãi có thể biến
thành hoang tưởng hoặc tạo ra những cơ cấu phòng vệ thái quá và bởi vì Sợ hãi dễ
lây lan, nó có thể trở thành xu hướng giữ thế thượng phong trong xã hội.
Sợ hãi làm cho nhân cách không phát triển được và dẫn đến ức chế. Vì phải có năng lượng thì mới vượt qua được sợ hãi; cho nên nếu không có trợ giúp, những người bị ức chế không thể vươn lên được tầng cao hơn. Vì vậy, những người sợ hãi tìm kiếm các nhà lãnh đạo mạnh mẽ, những người dường như đã chinh phục được nỗi sợ hãi của chính mình để dẫn dắt họ thoát khỏi tình trạng nô lệ.
Tầng năng lượng 125: Ham muốn
Tầng này có nhiều
năng lượng hơn nữa. Ham muốn là động lực của rất nhiều lĩnh vực hoạt động của
con người, trong đó có kinh tế. Những người làm quảng cáo lợi dụng Ham muốn của
chúng ta để thao túng chúng ta bằng những nhu cầu liên quan tới bản năng sinh tồn.
Ham muốn thúc đẩy chúng ta nỗ lực hơn nữa nhằm đạt được mục tiêu hoặc phần thưởng.
Ham muốn tiền bạc, uy tín hoặc quyền lực dẫn động đời sống của nhiều người, những
người đã vượt thoát khỏi Sợ hãi thì Ham muốn là cách sống nổi trội nhưng đầy hạn
chế của họ.
Ham
muốn cũng là tầng nghiện ngập, trong đó ham muốn trở thành thèm khát, còn quan
trọng hơn chính cuộc sống. Những nạn nhân của Ham muốn có thể thực sự không nhận
thức được nền tảng của những động cơ của mình. Đối với một số người, Ham muốn
được người khác chú ý trở thành chất gây nghiện và những đòi hỏi thường xuyên của
họ làm cho người ta xa lánh. Ham muốn hấp dẫn giới tính tạo ra toàn bộ ngành mỹ
phẩm, thời trang và phim ảnh.
Ham
muốn dẫn tới tích trữ và lòng tham. Nhưng Ham muốn là vô độ, vì nó là trường
năng lượng ngày càng gia tăng, do đó thỏa mãn ham muốn này thì sẽ xuất hiện ham
muốn chưa được thỏa mãn khác. Các triệu triệu phú vẫn bị ám ảnh với việc kiếm
được ngày càng nhiều tiền hơn.
Tuy nhiên, Ham muốn là tầng cao hơn hẳn so với Thờ ơ hay U sầu. Để “có”, trước hết phải có năng lượng để “muốn”. Truyền hình đã tạo được ảnh hưởng to lớn đối với nhiều người bị áp bức, bởi vì nó khắc sâu vào tâm trí họ những điều họ muốn và tiếp thêm năng lượng cho những ham muốn của họ đến mức họ thoát khỏi Thờ ơ và bắt đầu tìm kiếm cuộc sống tốt đẹp hơn. Muốn có thể đưa người ta bước lên con đường dẫn tới thành công. Do đó, Ham muốn có thể trở thành bệ đỡ giúp người ta bước lên các tầng tâm thức cao hơn.
Tầng năng lượng 150: Tức
giận
Mặc dù Tức giận có thể dẫn
đến giết người và chiến tranh, nhưng như một tầng năng lượng, nó cách xa cái chết
hơn hẳn những tầng bên dưới. Tức giận có thể dẫn đến cả hành động xây dựng cũng
như phá hoại. Khi người ta thoát khỏi cách sống Thờ ơ và U sầu, để vượt qua Sợ
hãi, thì họ bắt đầu muốn; Ham muốn dẫn đến thất vọng, đến lượt nó, thất vọng
làm cho người ta Tức giận. Vì vậy, Tức giận có thể là điểm tựa mà những người bị
áp bức, cuối cùng đã vượt thoát tới tự do. Tức giận vì bất công xã hội, vì bị đối
xử tàn nhẫn và bất bình đẳng đã tạo ra những phong trào quần chúng vĩ đại, dẫn
đến những thay đổi to lớn trong cơ cấu xã hội.
Nhưng,
Tức giận hay thể hiện nhất dưới dạng oán hận và trả thù và do đó, đây là tình cảm
bồng bột và nguy hiểm. Có thể thấy lối sống Tức giận ở những người hay cáu kỉnh,
dễ nổi khùng, những người quá nhạy cảm với những chuyện nhỏ nhặt và trở thành
“những kẻ tích tụ bất công”, hay sinh sự, hiếu chiến hoặc thích kiện tụng.
Vì Tức giận xuất phát từ mong muốn không được đáp ứng, nó lấy trường năng lượng bên dưới làm cơ sở. Thất vọng là kết quả của việc thổi phồng mức độ quan trọng của ham muốn. Người tức giận có thể nổi cơn thịnh nộ, tương tự như một đứa trẻ cáu kỉnh. Tức giận dễ dẫn đến căm thù, nó bào mòn tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống của một người.
Tầng năng lượng 175:
Kiêu hãnh
Kiêu hãnh, điểm hiệu chỉnh
175, có đủ năng lượng để vận hành Binh chủng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Đây là
tầng mà phần lớn nhân loại chúng ta hiện nay đang hướng tới. Trái ngược với các
trường năng lượng thấp hơn, người ta sẽ cảm thấy phấn khích khi lên đến tầng
này. Gia tăng lòng tự trọng xoa dịu tất cả những đau đớn mà người ta đã trải
qua ở những tầng tâm thức thấp hơn. Kiêu hãnh có vẻ ngoài đẹp đẽ và nó biết như
thế; nó nghênh ngang mang những thứ của nó vào màn diễu hành của cuộc đời. Kiêu
hãnh cách khá xa Nhục nhã, Mặc cảm tội lỗi hoặc Sợ hãi, cho nên, ví dụ, thoát
khỏi cảnh tuyệt vọng trong khu ổ chuột để đạt tới niềm tự hào của người lính thủy
đánh bộ đã là bước nhảy vọt rồi. Kiêu hãnh thường được coi là tốt và được xã hội
khuyến khích, nhưng, như chúng ta thấy trên bản đồ các tầng tâm thức, nó vẫn có
nhiều tiêu cực, cho nên vẫn nằm dưới tầng tới hạn (200). Đây là lý do vì sao
Kiêu hãnh chỉ tốt hơn so với các tầng bên dưới.
Như
tất cả chúng ta đều biết, vấn đề là “kiêu hãnh thường dẫn tới sa ngã”. Kiêu
hãnh mang tính phòng thủ và dễ bị tổn thương, vì nó phụ thuộc vào các điều kiện
bên ngoài. Nếu không có những điều kiện đó, nó có thể đột ngột rơi xuống tầng
năng lượng thấp hơn. Bản ngã bị thổi phồng rất dễ bị tấn công. Kiêu hãnh vẫn là
tầng yếu vì người ta có thể hạ bệ nó để đưa nó về tầng Nhục nhã, đó chính là đe
dọa thổi bùng lên ngọn lửa sợ hãi về việc đánh mất Kiêu hãnh.
Kiêu
hãnh mang tính chia rẽ và tạo ra chủ nghĩa bè phái, với nhiều hậu quả tai hại.
Người ta thường chết vì Kiêu hãnh; các đội quân thường xuyên tàn sát lẫn nhau
vì một trong những khía cạnh của Kiêu hãnh là chủ nghĩa dân tộc. Chiến tranh
tôn giáo, khủng bố chính trị và cuồng tín, lịch sử kinh hoàng của Trung Đông và
Trung Âu, đều là cái giá của lòng Kiêu hãnh, mà tất cả các xã hội đều phải trả.
Mặt trái của Kiêu hãnh, do đó, là kiêu ngạo và phủ nhận. Đây là những đặc điểm cản trở phát triển. Khi Kiêu hãnh, người ta không thể cai nghiện vì họ không công nhận mình mắc phải các vấn đề về cảm xúc hoặc khiếm khuyết về ý chí. Tất các các phủ nhận đều là do Kiêu hãnh mà ra. Do đó, Kiêu hãnh là chướng ngại rất lớn trong quá trình vươn tới Sức mạnh đích thực– thay thế Kiêu hãnh bằng tầm vóc và uy tín chân thực.
Tầng năng lượng 200: Can đảm
Tầng 200, tầng đầu
tiên có Sức mạnh đích thực. Khi kiểm tra các đối tượng ở tất cả các tầng năng
lượng dưới 200, chúng tôi nhận thấy – có thể dễ dàng kiểm tra lại – tất cả những
người này đều phản ứng yếu. Mọi người đều phản ứng mạnh với các trường năng lượng
hỗ trợ sự sống trên tầng 200. Đây là tầng tới hạn, chia tách những ảnh hưởng
tích cực và tiêu cực đối với đời sống. Ở tầng Can đảm, người ta có Sức mạnh
đích thực; do đó, nó cũng là tầng có thể truyền Sức mạnh. Đây là khu vực của
khám phá, của thành tựu, của ý chí kiên cường và quyết tâm. Ở những tầng thấp
hơn, người ta nhìn cuộc đời bằng cặp mắt vô vọng, buồn bã, đáng sợ, hoặc bực bội;
nhưng ở tầng Can đảm, người ta thấy cuộc đời rất thú vị, đầy thử thách và kích
thích.
Can
đảm nghĩa là sẵn sàng thử sức với những điều mới mẻ và đối phó với những thăng
trầm của cuộc đời. Ở tầng này, con người có thể đối phó và xử lý một cách hiệu
quả những cơ hội của đời sống. Ví dụ, ở tầng 200, người ta có năng lượng để học
các kỹ năng nghề nghiệp mới. Phát triển và học hành trở thành những mục tiêu có
thể thực hiện được. Người ta có khả năng đối đầu với sợ hãi hoặc khiếm khuyết
trong tính cách và vươn lên, mặc dù vẫn còn có những khuyết điểm đó; lo lắng
cũng không còn làm tê liệt được nỗ lực như nó có thể làm ở các tầng thấp hơn.
Những chướng ngại từng khuất phục được những người ở các tầng tâm thức dưới
200, lúc này lại trở thành những yếu tố kích thích đối với những người đã tiến
lên đến tầng đầu tiên của Sức mạnh đích thực.
Những người ở tầng này lấy của thế giới bao nhiêu năng lượng thì sẽ trả lại bấy nhiêu; ở những tầng thấp hơn, tập thể cũng như cá nhân tiêu hao năng lượng của xã hội mà không hoàn trả. Vì thành tích tạo ra phản hồi tích cực, tự thưởng, và lòng tự trọng ngày càng được củng cố thêm. Hiệu quả bắt đầu từ đây. Tâm thức tập thể của nhân loại vẫn nằm ở tầng 190 suốt nhiều thế kỷ và, kỳ lạ là, nó chỉ mới nhảy lên được tầng hiện nay (204) trong những năm 1980.
Tầng năng lượng 250: Trung dung
Khi đạt đến tầng mà
chúng tôi gọi là Trung dung, năng lượng trở nên rất tích cực, vì nó là hiện
thân của giải thoát khỏi những tầng tâm thức thấp hơn. Dưới 250, tâm thức có xu
hướng nhìn nhận mọi thứ theo hướng nhị nguyên và có quan điểm cứng nhắc, đó là
trở ngại trong thế giới phức tạp và đa tầng chứ không chỉ có hai màu đen và trắng.
Những
quan điểm như thế tạo ra phân cực, đến lượt nó, lại tạo ra đối lập và chia rẽ.
Như trong võ thuật, tư thế cứng nhắc dễ trở thành điểm sơ hở; không dẻo thì dễ
gãy. Trung dung vượt lên trên các rào cản hoặc chống đối làm tiêu tan năng lượng
của con người, nó làm cho con người trở thành linh hoạt và không phán xét, đánh
giá các vấn đề theo lối thực tế. Trung dung có nghĩa là không dính chấp quá mức
vào kết quả; không đạt được mục tiêu không còn bị coi là thất bại, đáng sợ hay
thất vọng nữa.
Người
ở tầng Trung dung có thể nói: “Ồ, nếu không nhận được công việc này thì mình sẽ
nhận được công việc khác”. Đây là khởi đầu của thái độ tự tin ở bên trong con
người; cảm nhận được Sức mạnh đích thực của chính mình, nên khó có thể đe dọa
được họ. Người đó không có động cơ chứng minh bất cứ điều gì. Thái độ điển hình
của tầng 250 là cuộc sống, với những thăng trầm của nó, về cơ bản là ổn, nếu có
thể linh hoạt theo hoàn cảnh.
Những người Trung dung thường cảm thấy hạnh phúc; biểu hiện nổi bật của tầng này là khả năng tự tin để sống trong đời. Do đó, theo kinh nghiệm, đây là tầng an toàn. Những người ở tầng này dễ hòa đồng với mọi người, người khác cảm thấy an toàn khi kết giao và ở bên cạnh họ, vì họ không quan tâm tới xung đột, cạnh tranh, hoặc mặc cảm tội lỗi. Họ là những người thoải mái và về cơ bản là không lo âu. Đây là người có thái độ không phán xét và không có nhu cầu kiểm soát hành vi của người khác. Đổi lại, vì những người Trung dung coi trọng tự do, nên rất khó kiểm soát họ.
Tầng năng lượng 310: Sẵn sàng
Tầng năng lượng rất
tích cực này có thể được coi là cánh cổng dẫn đến những tầng cao hơn. Ví dụ,
trong khi ở tầng Trung dung, tất cả công việc đều được hoàn thành ở mức thỏa
đáng, thì ở tầng Sẵn sàng, công việc được hoàn thành ở mức tốt và thường thì, nỗ
lực nào cũng thu được thành công. Trưởng thành nhanh, đây là những người được
chọn để đưa lên. Sẵn sàng có nghĩa là người đó đã vượt qua được kháng cự nội
tâm đối với cuộc đời và cam kết dự phần vào đời sống. Dưới điểm hiệu chỉnh 200,
người ta thường bảo thủ, nhưng ở tầng 310, người ta có đầu óc rất cởi mở. Người
ở tầng này trở thành thân thiện thực sự và thành công về kinh tế và xã hội dường
như là đương nhiên. Thất nghiệp không làm cho người Sẵn sàng nao núng, vì họ sẽ
nhận bất kỳ công việc nào, nếu cần, hay sẽ tạo dựng sự nghiệp hoặc tự mình kinh
doanh. Họ không cảm thấy xấu hổ vì phải phục vụ người khác hoặc bắt đầu từ dưới
đáy. Bản tính của họ là thích giúp đỡ người khác và có tinh thần xây dựng xã hội.
Họ cũng sẵn sàng đối mặt với các vấn đề nội tâm của mình và không có các trở ngại
lớn trong việc học hỏi.
Ở tầng này, lòng tự trọng bẩm sinh đã khá cao và còn được củng cố bởi những phản hồi tích cực từ xã hội dưới những hình thức như công nhận, đánh giá cao và phần thưởng. Sẵn sàng nghĩa là đồng cảm và đáp ứng nhiệt tình trước nhu cầu của người khác. Những người Sẵn sàng là những người xây dựng và đóng góp cho xã hội. Với khả năng vượt qua nghịch cảnh và học hỏi từ kinh nghiệm, họ thường là những người có khả năng tự hoàn thiện bản thân. Sau khi buông bỏ thái độ Kiêu hãnh, họ sẵn sàng nhìn vào những khiếm khuyết của mình và học hỏi những người khác. Những người ở tầng Sẵn sàng là những học trò xuất sắc. Họ là những người dễ dạy và là nguồn nội lực đáng kể của xã hội.
Tầng năng lượng 350: Chấp nhận
Ở tầng nhận thức
này, diễn ra một thay đổi lớn, người ta biết rằng mình là nguồn gốc và là người
tạo ra những trải nghiệm trong cuộc đời của chính mình. Nhận trách nhiệm như thế
là điểm nổi bật của tầng này với đặc điểm là sống hài hòa với Sức mạnh đích thực
của đời sống.
Tất
cả những người ở những tầng dưới 200 thường tỏ ra bất lực và coi mình là nạn
nhân, phó mặc thân phận cho cuộc đời định đoạt. Đấy là do người ta tin rằng hạnh
phúc hay trắc trở là do “ở ngoài kia”. Một bước nhảy lớn – giành lại Sức mạnh –
được hoàn thành triệt để ở tầng Chấp nhận, với nhận thức rằng cội nguồn của hạnh
phúc nằm trong chính mình. Tại tầng tiến hóa hơn này, không có gì “ở ngoài kia”
có khả năng làm cho con người hạnh phúc, và tình yêu không phải là một cái gì
đó được người khác ban cho hay lấy đi, mà nó được tạo ra ngay trong chính bản
thân mình.
Không
được đánh đồng Chấp nhận với thụ động, bởi đó là biểu hiện của thờ ơ. Hình thức
Chấp nhận này tạo điều kiện cho người ta tham gia vào đời sống theo các điều kiện
của chính cuộc đời mà không cố gắng uốn nắn nó theo một chương trình nào hết.
Cùng với Chấp nhận là bình yên về cảm xúc và khi siêu việt lên khỏi từ chối thì
nhận thức càng mở rộng thêm. Lúc này, người ta nhìn thấy mọi thứ như chúng vốn
là, mà không bị bóp méo hay hiểu sai; bối cảnh của trải nghiệm được mở rộng đến
mức người đó có thể “nhìn được toàn bộ bức tranh”. Thực chất, Chấp nhận là giữ
cân bằng, cân đối và đúng mực.
Người
ở tầng Chấp nhận không thích tranh cãi đúng sai, thay vào đó, họ tìm cách giải
quyết và tìm giải pháp cho vấn đề. Khó khăn không làm họ khó chịu hay nhụt chí.
Các mục tiêu dài hạn được ưu tiên hơn các mục tiêu ngắn hạn; kỷ luật tự giác và
làm chủ bản thân là đức tính nổi bật của họ.
Ở tầng Chấp nhận, khác biệt hay quan điểm đối lập không chia rẽ được chúng ta; chúng ta nhận ra rằng người khác cũng có những quyền giống như chúng ta, và chúng ta tôn trọng quyền bình đẳng. Trong khi các tầng thấp hơn có đặc điểm là cứng nhắc, thì ở tầng này, đa nguyên về mặt xã hội bắt đầu được coi là hình thức giải quyết vấn đề. Do đó, tầng này không còn phân biệt đối xử hay bất dung nữa; người ta nhận thức được rằng bình đẳng không loại bỏ đa dạng. Chấp nhận dung hợp chứ không chối bỏ.
Tầng năng lượng 400: Lý trí
Trí thông minh và lý
tính (rationality[i])
bước lên hàng đầu khi người ta vượt lên khỏi xu hướng cảm tính (emotionalism[ii]) của
các tầng thấp hơn. Lý tính có khả năng xử lý khối lượng dữ liệu lớn và phức tạp;
đưa ra quyết định một cách nhanh chóng và đúng đắn; hiểu được sự phức tạp của
các mối quan hệ, phân cấp và phân biệt tinh tế; và vận dụng khéo léo các biểu
tượng để thể hiện các khái niệm trừu tượng, khái niệm trừu tượng ngày càng trở
thành quan trọng hơn. Đây là tầng của khoa học, y học, và nói chung là khả năng
trừu tượng hóa và sự hiểu biết ngày càng gia tăng. Kiến thức và giáo dục được
coi là nguồn vốn. Hiểu biết và thông tin là công cụ chính để đạt được thành tựu,
đấy là dấu ấn của các tầng 400. Tầng này là tầng tâm thức của những khôi nguyên
Nobel, của các chính khách vĩ đại, và các thẩm phán của tòa án tối cao.
Einstein, Freud và nhiều nhà tư tưởng vĩ đại khác của lịch sử cũng nằm ở tầng
này, các tác giả bộ sách Great Books of
the Western World (tạm dịch: Những cuốn sách vĩ đại của Thế giới phương
Tây) cũng nằm ở tầng này.
Khiếm
khuyết của những người ở tầng này là họ không phân biệt được một cách rõ ràng sự
khác biệt giữa biểu tượng và nội dung đằng sau biểu tượng và lẫn lộn giữa thế
giới khách quan và chủ quan, làm cho họ không hiểu đầy đủ về quan hệ nhân quả. Ở
tầng này, rất dễ thấy cây mà không thấy rừng, rất dễ mê đắm vào các khái niệm
và lý thuyết, để rồi cuối cùng rơi vào lý thuyết suông và bỏ qua bản chất của vấn
đề. Tìm tòi tri thức có thể trở thành mục đích tự thân. Lý trí có giới hạn ở chỗ
là nó không có khả năng phân biệt được bản chất hoặc điểm tới hạn của vấn đề phức
tạp. Và, nói chung Lý trí thường không quan tâm đến bối cảnh.
Tự nó, Lý trí không cung cấp cho chúng ta kim chỉ nam hướng tới sự thật. Nó tạo ra rất nhiều thông tin và tài liệu, nhưng không có khả năng giải quyết sự thiếu nhất quán trong dữ liệu và kết luận. Tự thân tất cả các luận cứ triết học đều nghe có vẻ rất thuyết phục. Mặc dù Lý trí rất có hiệu quả trong thế giới kỹ nghệ, nơi các phương pháp logic giữ thế thượng phong, nhưng ngược đời là, bản thân Lý trí lại là chướng ngại chính, ngăn cản không cho người ta vươn lên những tầng tâm thức cao hơn. Chỉ có 4% dân số thế giới siêu việt được tầng tâm thức này mà thôi.
Tầng năng lượng 500: Tình yêu
Tình yêu được bàn ở
đây không phải là thứ tình yêu mà các phương tiện truyền thông đại chúng đang
quảng bá. Ngược lại, nói chung thế giới coi tình yêu là cảm xúc mãnh liệt, kết
hợp hấp dẫn về thể xác, chiếm hữu, kiểm soát, nghiện, gợi tình và mới lạ. Loại
tình yêu này thường phù phiếm và thất thường khi điều kiện thay đổi. Khi thất vọng,
tình cảm này thường thể hiện thành tức giận và sự phụ thuộc mà nó che đậy. Người
ta thường thấy tình yêu biến thành thù hận, nhưng đấy không phải là tình yêu mà
là ràng buộc và thói đa cảm có tính gây nghiện. Thù hận là do Kiêu hãnh, chứ
không phải Tình yêu. Trong những mối quan hệ như thế, có lẽ chẳng bao giờ có
tình yêu đích thực.
Yêu
thương vô điều kiện, không thay đổi và vĩnh viễn là đặc điểm của tầng này. Nó
không lên xuống thất thường vì cội nguồn yêu thương nằm ở bên trong người đang
yêu, không phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài. Yêu thương là trạng thái của hiện
hữu. Đó là liên hệ mang tính khoan dung, khuyến khích và nâng đỡ với thế giới
bên ngoài. Tình yêu không thuộc về trí năng và không xuất phát từ tâm trí. Tình
yêu bắt nguồn từ trái tim. Tình yêu này, với động cơ thuần khiết, có khả năng
nâng đỡ người khác và thực hiện được những thành tích to lớn.
Ở
tầng này, khả năng nhận biết bản chất nổi bật hẳn lên; cốt lõi của vấn đề trở
thành trọng tâm chú ý. Vì đã vượt qua tầng Lý trí, ở đây xuất hiện khả năng nhận
biết tức thời toàn bộ vấn đề và mở rộng bối cảnh, đặc biệt là đối với thời gian
và quy trình. Lý trí chỉ giải quyết những vấn đề cụ thể, trong khi Tình yêu giải
quyết tổng thể. Người ta thường cho rằng đấy là trực giác, tức là khả năng hiểu
ngay lập tức mà không cần dựa vào quá trình suy luận biểu tượng một cách tuần tự.
Trên thực tế, hiện tượng dường như trừu tượng này là khá rõ ràng; cùng với nó
là quá trình giải phóng khá nhiều chất endorphin ở trong não bộ.
Tình
yêu không có quan điểm và do đó, có tính bao trùm, vượt lên trên chia tách của
lập trường vị (positionality – xem thuật ngữ bên dưới). Lúc đó, nó có thể trở
thành “hòa nhập với người khác”, vì không còn bất kỳ rào cản nào nữa. Do đó,
Tình yêu mang tính dung hợp và không ngừng mở rộng cảm thức về tự ngã. Tình yêu
chú tâm vào những mặt tốt đẹp của đời sống trong tất cả các biểu hiện của nó và
thúc đẩy những mặt tích cực. Nó xua tan tiêu cực bằng cách đưa vào bối cảnh
khác chứ không tấn công.
Đây là tầng hạnh phúc thực sự, nhưng, mặc dù thế giới rất hào hứng với chủ đề Tình yêu, và tất cả các tôn giáo trường tồn đều có điểm từ 500 trở lên, thật thú vị khi biết rằng chỉ có 4% dân số thế giới đạt đến tầng tâm thức này mà thôi. Và chỉ có 0,4% đạt đến tầng yêu thương vô điều kiện (540).
Tầng năng lượng 540: Niềm vui
Khi Tình yêu ngày
càng trở nên vô điều kiện hơn, người ta bắt đầu trải nghiệm nó như là Niềm vui
bên trong chính con người mình. Đây không phải là niềm vui bộc phát khi thấy
các sự kiện xoay chuyển theo hướng mà mình ao ước; mà là niềm vui đi kèm với tất
cả các hoạt động của người đó. Niềm vui xuất hiện trong từng khoảnh khắc của đời
sống, chứ không phải từ bất kỳ nguồn bên ngoài nào. 540 cũng là tầng chữa lành
và của các nhóm giúp đỡ lẫn nhau về mặt tâm linh.
Từ
tầng 540 trở lên là lĩnh vực của thánh nhân, những người chữa lành về mặt tâm
linh, và những người nghiên cứu tâm linh cao cấp. Đặc điểm của trường năng lượng
này là mức độ kiên nhẫn siêu hạng và giữ vững thái độ tích cực trước những nghịch
cảnh kéo dài. Điểm nổi bật của trạng thái này là tâm từ bi. Những người đạt đến
tầng này có ảnh hưởng đáng kể lên những người khác. Họ có quan điểm cởi mở và bền
bỉ, có thể khơi gợi trạng thái tin yêu và an bình.
Ở
những tầng ở nửa trên 500, người ta thấy thế giới lung linh vẻ đẹp tinh tế và
hoàn hảo của tạo tác. Mọi thứ đều diễn ra một cách nhẹ nhàng như không, vì chúng xảy ra đồng nhịp với nhau; thế giới cùng với
mọi thứ trong thế giới này được coi là biểu hiện của tình yêu và Thần tính. Ý
chí Cá nhân hợp nhất với ý chí Thiêng liêng (Devine Will[iii]). Người
ta cảm nhận được Hiện diện mang theo năng lượng tạo điều kiện cho các hiện tượng
xảy ra ngoài sức tưởng tượng về thực tại của người bình thường, mà người quan
sát bình thường gọi là kỳ diệu. Những hiện tượng này là sức mạnh bên trong của
trường năng lượng, chứ không phải của cá nhân.
Ở
tầng này, ý thức trách nhiệm đối với người khác khác về chất so với những tầng
thấp hơn. Họ mong muốn sử dụng trạng thái tâm thức của mình vì lợi ích của
chính đời sống chứ không phải vì lợi ích của những con người cụ thể. Cùng với
khả năng yêu nhiều người cùng một lúc, người ta còn phát hiện được rằng, càng
yêu nhiều, thì người ta càng có thể yêu nhiều hơn nữa.
Mặc
khải xảy ra ở những tầng ở nửa trên 500, do đó, mở đường cho sự biến đổi và tâm
từ bi dẫn đến trạng thái mê ly và các trạng thái gần 600. Đây là những trạng
thái Phúc lạc và là khởi đầu của trạng thái tâm thức được khai mở bởi Ánh sáng và
Chứng ngộ. Chúng thường đi kèm với cảm giác về Ánh sáng. Ví dụ, căn phòng bừng
sáng khi Bill Wilson của A.A. có trải nghiệm tâm linh của mình. Ông nói rằng
căn phòng được chiếu sáng bởi Hiện Diện Vô biên (điểm hiệu chính 575). Đó là sự
khởi đầu của tiếp cận với trường năng lượng có điểm hiệu chỉnh 600. Ánh sáng rạng
rỡ lan tỏa ra thế giới như phong trào 12 bước toàn cầu vĩ đại, thông qua đó A.A.
đã giúp cho hàng triệu người cai được nghiện rượu.
Trải nghiệm cận tử, do tác động mang tính chuyển hóa của nó, thường cho phép người ta trải nghiệm tầng năng lượng từ 540 đến 600.
Tầng năng lượng 600: An bình
Trường năng lượng
này liên quan tới trải nghiệm được thể hiện bằng những thuật ngữ như siêu việt (transcendence[iv]), Kiến
chân tính, và Thần thức (God-consciousness[v]). Đây là
trạng thái cực kỳ hiếm hoi. Khi đạt đến trạng thái này sẽ không còn có sự phân
biệt giữa chủ thể và khách thể nữa, và không còn tiêu
điểm tri giác cụ thể nữa. Không hiếm những trường hợp khi những người đạt đến
tầng này lui về ở ẩn, tránh xa thế giới, vì trạng thái phúc lạc xuất hiện sau
đó sẽ cản trở, không cho người đó làm những công việc trần tục nữa. Một số người
trở thành đạo sư; một số người khác hoạt động âm thầm vì lợi ích của nhân loại.
Một số người trở thành những thiên tài vĩ đại trong các lĩnh vực của mình và có
những đóng góp to lớn cho xã hội. Những người này là thánh và cuối cùng có thể
được chính thức phong thánh, mặc dù ở tầng này, người ta thường đã siêu việt
tôn giáo hình thức, để được thay thế bằng tâm linh thuần khiết, cội nguồn của tất
cả các tôn giáo.
Đôi
khi có người nói rằng tri giác từ tầng 600 trở lên xảy ra như trong một đoạn
phim quay chậm, chùng chình trong thời gian và không gian – mặc dù không có gì
đứng yên; tất cả đều sống động và rạng rỡ. Mặc dù thế giới này cũng là thế giới
mà những người khác đều nhìn thấy, nó liên tục trôi chảy, tiến triển trong vũ
điệu tiến hóa được phối hợp một cách nhịp nhàng, tràn đầy ý nghĩa và năng lượng.
Mặc khải tuyệt vời này diễn ra một cách phi lý tính, đến mức tâm trí hoàn toàn
tĩnh lặng, không còn bất cứ giải thích nào. Người chứng kiến và điều được chứng
kiến trở thành một; người quan sát hòa tan vào cảnh quan và trở thành cái được
quan sát. Tất cả mọi thứ đều được Sự Hiện Diện – với quyền năng vô hạn, vi tế
nhưng vô cùng bền chắc – kết nối với nhau.
Những tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc và kiến trúc xuất sắc có điểm từ 600 đến 700 có thể nhất thời đưa chúng ta lên tầng tâm thức cao hơn và được mọi người công nhận là có khả năng truyền cảm hứng và bất tử.
Tầng năng lượng 700-1.000: Chứng ngộ
Đây là tầng của những
Vĩ nhân trong lịch sử, những người đã khởi phát những con đường tu tập tâm linh
mà quần chúng đã tu tập theo trong suốt nhiều thời đại. Tất cả đều gắn liền với
Thần tính, và thường đồng nhất với Nó. Đây là tầng của những cảm hứng mãnh liệt,
những Vĩ nhân này nằm trong các trường năng lượng điểm hút có ảnh hưởng đến
toàn thể nhân loại qua suốt nhiều thời đại. Ở tầng này, không còn trải nghiệm của
tự ngã cá nhân tách biệt với những tự ngã khác nữa; mà là Đại ngã đã hợp nhất Tâm
thức và Thần tính. Người ta trải nghiệm Đấng Phi Hiển Lộ (Unmanifest[vi]) như là
Đại ngã vượt ngoài tâm trí. Siêu việt khỏi bản ngã cũng là tấm gương dạy những
người khác cách thức thực hiện điều đó. Đây là đỉnh cao nhất của quá trình tiến
hóa tâm thức trong cõi nhân gian.
Những
giáo lý vĩ đại đã nâng đỡ quần chúng và nâng cao tầng tỉnh thức của toàn thể
nhân loại. Tầm nhìn như thế được gọi là ân sủng, và món quà mà nó mang lại là
an bình vô hạn, không thể diễn tả bằng lời. Ở tầng chứng ngộ này, cảm thức về sự
tồn tại của người đó siêu việt mọi thời gian và tất cả tính cá thể. Không còn đồng
nhất với cơ thể vật lý như là “tôi” nữa, và do đó, không còn lo lắng cho số phận
nữa. Cơ thể chỉ được coi là công cụ của tâm thức thông qua sự can thiệp của tâm
trí, giá trị cốt yếu của nó là truyền tải thông tin. Tự ngã cá nhân hòa nhập trở
lại vào Đại ngã. Đây là tầng của bất nhị, hoặc Nhất thể trọn vẹn. Tâm thức
không còn nằm một chỗ; cái Biết hiện diện như nhau ở khắp mọi nơi.
Các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại khắc họa các bậc đã Chứng ngộ có đặc điểm là một người thầy với vị trí cụ thể của bàn tay, được gọi là mudra (thủ ấn), lòng bàn tay tỏa ra phúc lành. Đây là hành động truyền trường năng lượng tới tâm thức của nhân loại. Tầng Ơn Phước Thiêng Liêng (Divine Grace[vii]) đạt điểm 1.000, tầng cao nhất mà một số người sống trong giai đoạn lịch sử thành văn đã đạt được – tức là những người được tôn xưng là Thánh Thần Giáng Thế như Krishna, Đức Phật và Chúa Jesus Christ.
NHỮNG VÍ DỤ THƯỜNG
THẤY VỀ CÁCH CÁC TẦNG TÂM THỨC
QUYẾT ĐỊNH HÀNH VI
CON NGƯỜI
Trên Bản đồ Tâm thức,
hai điểm tựa quan trọng tạo điều kiện cho những bước tiến bộ vượt bậc.
·
Điểm tựa đầu tiên nằm ở tầng 200, tầng ban đầu của tự chủ. Lúc này ngươi
ta thôi đổ lỗi và chấp nhận trách nhiệm về hành động, cảm xúc và niềm tin của
chính mình. Chừng nào nguyên nhân và trách nhiệm còn được phóng chiếu lên người
khác, thì người đó sẽ vẫn ở trong tình trạng bất lực của nạn nhân. Rõ ràng, biện
pháp duy nhất để gia tăng hạnh phúc, thịnh vượng và năng lượng tâm linh là chuyển
lên tầng tâm thức cao hơn. Những cuộc tìm kiếm hạnh phúc bất tận “ở ngoài kia”
(tài sản, chấp thuận, giải thưởng, bằng cấp, v.v.) không bao giờ mang lại hạnh
phúc trong dài hạn. Hạnh phúc là sản phẩm tự nhiên của quá trình tiến bộ trong tâm
thức.
· Thứ hai là tầng 500, người ta vươn tới đó bằng cách chấp nhận tình yêu và tha thứ mà không phán xét như là một lối sống, tử tế vô điều kiện đối với tất cả mọi người, mọi vật và mọi sự kiện mà không có ngoại lệ nào. (Trong các nhóm phục hồi 12 bước, người ta nói rằng không có cái gọi là oán hận chính đáng. Ngay cả khi ai đó “làm điều không đúng đối với bạn”, bạn vẫn được tự do lựa chọn phản ứng của mình và buông bỏ oán hận.) Một khi bạn thực hiện cam kết này, bạn bắt đầu trải nghiệm một thế giới khác, hiền hòa hơn, đấy là khi tri giác của bạn đang tiến hoá.
Công
trình nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng các tầng tâm thức là yếu tố quyết định
trong nhiều biến số xã hội và hành vi cá nhân, như được thể hiện trong biểu đồ
bên dưới:
Tương quan giữa tầng tâm thức và các
vấn đề xã hội
|
Tầng tâm thức |
Tỷ lệ thất nghiệp |
Tỷ lệ nghèo đói |
Tỷ lệ hạnh phúc (“cuộc đời như thế
là được rồi”) |
Tỷ lệ tội phạm |
|
600+ |
0% |
0.0% |
100% |
0.0% |
|
500–600 |
0% |
0.0% |
98% |
0.5% |
|
400–500 |
2% |
0.5% |
79% |
2.0% |
|
300–400 |
7% |
1.0% |
70% |
5.0% |
|
200–300 |
8% |
1.5% |
60% |
9.0% |
|
100–200 |
50% |
22.0% |
15% |
50.0% |
|
50–100 |
75% |
40.0% |
2% |
91.0% |
|
<50 |
97% |
65.0% |
0% |
98.0% |
Muốn
hiểu rõ hơn, xin xem xét ví dụ sau đây. Hãy tưởng tượng một ngươi gọi là “hành
khất” đang đứng ở một góc phố:
Trong
một khu phố sang trọng giành cho giới thượng lưu, ở một thành phố lớn, có một
ông già quần áo tả tơi đang đứng một mình, lưng dựa vào phiến đá lát tường bóng
loáng. Bây giờ, xin quan sát ông lão từ những tầng tâm thức khác nhau và lưu ý
tới những khác biệt trong diện mạo của ông ta.
Từ
tầng cuối cùng, tầng 20 (Nhục nhã), ông lão ăn mày trông thật bẩn thỉu, kinh tởm
và đáng xấu hổ. Từ tầng 30 (Mặc cảm tội lỗi), ông ta bị chỉ trích vì để cho
mình rơi vào tình trạng như thế. Ông ta đáng bị như thế; có lẽ ông ta là một kẻ
lười nhác, gian dối hòng hưởng phúc lợi xã hội. Ở tầng 50 (Thờ ơ), hoàn cảnh khốn
cùng của ông ta có thể toát lên vẻ tuyệt vọng, là bằng chứng chứng tỏ rằng xã hội
hoàn toàn bất lực trước vấn đề người vô gia cư. Ở tầng 75 (U sầu), ông lão
trông thật thảm hại, không bạn bè, hoàn toàn cô độc và trơ trọi.
Ở
tầng tâm thức 100 (Sợ hãi), chúng ta có thể coi người hành khất này như một mối
đe dọa, một kẻ gây phiền toái cho xã hội. Có lẽ nên gọi cảnh sát trước khi ông
ta phạm tội. Ở tầng 125 (Ham muốn), ông ta có thể là biểu tượng cho một vấn đề
nhức nhối – vì sao không có người đứng ra giải quyết? Ở tầng 150 (Tức giận),
ông lão có thể trông giống như một kẻ thích gây hấn; hoặc, người ta có thể tức
giận khi thấy tình trạng như thế vẫn tồn tại trong xã hội. Ở tầng 175 (Kiêu
hãnh), ông ta có thể bị coi như một nỗi xấu hổ hoặc một kẻ thiếu lòng tự trọng,
không biết tự cải thiện bản thân mình. Ở tầng 200 (Can đảm), chúng ta có thể tự
hỏi liệu ở gần đây có nhà cho người vô gia cư hay không; việc làm và chỗ ở là
những thứ ông ta cần ngay lúc này.
Ở
tầng 250 (Trung dung), ông lão trông khá ổn, thậm chí có thể là thú vị nữa. Ta
có thể tự nhủ: “Dĩ hòa vi quý thôi”; nói cho cùng, ông ấy chẳng làm hại ai. Ở tầng
310 (Sẵn sàng), chúng ta có thể quyết định lại gần ông lão và xem có thể giúp đỡ
ông ta, hoặc tham gia công tác với tổ chức thiện nguyện ở địa phương trong một
thời gian nào đó. Ở tầng 350 (Chấp nhận), ông lão khơi dậy trí tò mò. Có lẽ ông
ta có một câu chuyện thú vị, rất đáng quan tâm; ông ấy đang ở đó vì những lý do
mà chúng ta có thể không bao giờ hiểu được. Ở tầng 400 (Lý trí), ông ta là biểu
hiện của tình trạng bất ổn kinh tế và xã hội đang diễn ra trong thời điểm hiện
nay, hoặc có lẽ là một chủ đề tốt cho công trình nghiên cứu tâm lý chuyên sâu,
xứng đáng được chính phủ tài trợ.
Ở
các tầng cao hơn, ta thấy ông già không chỉ toát lên vẻ thú vị, mà còn thân thiện
và thậm chí là đáng yêu. Có lẽ sau đó chúng ta sẽ có thể thấy rằng ông ta, trên
thực tế, là một người đã siêu việt các giới hạn của xã hội và để sống đời tự do
tự tại, một ông lão vui vẻ mang vẻ thông thái của tuổi tác và sự thanh thản của
một người hoàn toàn bàng quan trước vật chất. Ở tầng 600 (An bình), ông là hình
ảnh phản chiếu nội tâm của ta theo sự biểu lộ tức thời của nó.
Khi
có người tới gần, phản ứng của ông già với những người ở các tầng tâm thức khác
nhau cũng sẽ khác nhau. Với một số người, ông ta sẽ cảm thấy an toàn, với những
người khác, ông ta cảm thấy sợ hãi hoặc chán nản. Một số người sẽ làm ông ta tức
giận, còn một số người khác thì làm cho ông ta thích thú. Do đó, ông ta sẽ
tránh một số người, và vui vẻ chào đón một số người khác. (Vì thế mới nói, thực
ra, cái chúng ta gặp chính là cái gương đang phản chiếu hình bóng của chính
mình) .
Tầng tâm thức của chúng ta quyết định những
thứ chúng ta nhìn thấy diễn ra theo cách như thế. Cũng đúng như thế nếu nói rằng
khi ta áp dụng hệ thống ý niệm này vào thực tại trước mắt, thì tầng tâm thức tại
thời điểm quan sát sẽ là căn cứ để dự báo phản ứng của ta trước thực tại đó. Sự
kiện bên ngoài có thể tạo ra điều kiện, nhưng chúng không quyết định tầng tâm
thức của phản ứng của con người. Để minh họa, xin lấy ví dụ phàm tục hơn trong
hệ thống hình phạt hiện nay của chúng ta.
Dù
được đưa vào cùng một môi trường cực kỳ căng thẳng, các tù nhân khác nhau – tùy
thuộc vào tầng tâm thức của họ – sẽ phản ứng cực kỳ khác nhau. Những tù nhân vời
tâm thức ở tầng thấp nhất đôi khi tìm cách tự tử. Một số người khác bị rối loạn
tâm thần, còn một số mắc chứng hoang tưởng. Trong cùng một hoàn cảnh, nhưng có
người trở thành chán nản, câm lặng và bỏ ăn. Có những người lấy tay ôm đầu, cố
giấu những giọt nước mắt tủi hổ. Người ta thường cảm thấy sợ hãi, trong đó có cả
thái độ phòng thủ đầy hoang tưởng. Trong cùng một phòng giam ấy, chúng ta thấy
những tù nhân có tầng năng lượng cao hơn tỏ ra tức giận, bạo lực, dễ gây gổ và
giết người. Thái độ kiêu ngạo được thể hiện ở khắp mọi nơi, dưới dạng một tay bặm
trợn dương dương tự đắc và chiến đấu để ngoi lên vị trí thống trị.
Ngược
lại, một số tù nhân tìm được dũng khí để đối mặt với nguyên nhân vì sao họ lâm
vào cảnh tù đày, và bắt đầu suy ngẫm về đời sống nội tâm của mình một cách
trung thực. Và bao giờ cũng có những người có khả năng vượt qua nghịch cảnh và
đọc sách báo. Các tù nhân với tâm thức ở tầng Chấp nhận tìm kiếm người giúp đỡ
và tham gia các nhóm hỗ trợ. Thỉnh thoảng cũng có những tù nhân tìm kiếm niềm
vui trong học tập, bắt đầu học trong thư viện nhà tù hoặc trở thành cố vấn pháp
lý cho các bạn tù (một vài cuốn sách chính trị có ảnh hưởng nhất trong lịch sử
được chấp bút sau song sắt nhà tù). Một ít tù nhân chuyển hóa được tâm thức và
họ chăm sóc các bạn tù với tấm lòng nhân ái và hào hiệp. Đã từng có tù nhân nhất
quán với các trường năng lượng cao hơn và dấn sâu vào con đường tâm linh, thậm
chí chủ động hướng tới Chứng ngộ.
Đây
là điểm then chốt rút ra từ các ví dụ trên: cách chúng ta phản ứng phụ thuộc
vào thế giới mà ta dường như đang phản ứng lại. Con người mà ta trở thành, cũng
như điều ta nhìn thấy, đều được quyết định bởi tri giác; và có thể nói một cách
giản dị rằng chính tri giác đã tạo nên thế giới trải nghiệm — thế giới tri giác
— của chúng ta.
Chiêm nghiệm Bản đồ Tâm thức có thể chuyển hoá sự hiểu biết của bạn về các lĩnh vực quan trọng của cuộc đời, bắt đầu từ niềm tin vào quan hệ nhân quả, vốn là một rào cản lớn cho tiến bộ. Khi tri giác tiến hóa cùng với tầng tâm thức, người ta sẽ ngày càng hiểu rõ ràng rằng cái mà thế giới gọi là miền nguyên nhân trên thực tế lại là miền kết quả. Không có gì “ở ngoài kia” gây ra trải nghiệm đời sống của bạn mà chính là những gì “ở trong này”, đó là trường năng lượng đang hoạt động trong đời sống của bạn. Bằng cách chịu trách nhiệm về hậu quả của tri giác của chính mình, bạn có thể vượt qua vai trò nạn nhân và hiểu rằng “không có gì ở ngoài kia có quyền lực đối với bạn”. Không phải các sự kiện trong cuộc đời mà là cách bạn phản ứng với chúng và thái độ của bạn về chúng quyết định liệu các sự kiện đó có tác động tích cực hay tiêu cực đến đời sống của bạn, liệu chúng được trải nghiệm như là cơ hội hay căng thẳng. Không có gì tự nó có sức mạnh để “tạo ra” căng thẳng. Âm nhạc ồn ào làm tăng huyết áp của người này có thể là nguồn vui đối với người khác. Ly hôn có thể là một cú sốc nếu không mong muốn, hoặc là giải thoát đến tự do nếu được mong muốn. Vì vậy, cách duy nhất để thay đổi trải nghiệm cuộc sống của bạn là phát triển tâm thức thông qua việc hòa hợp với các mô thức điểm hút năng lượng cao.
CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI
Hỏi: Làm sao mà một người
có thể chuyển từ trạng thái tuyệt vời sang trạng thái tồi tệ chỉ trong vài
giây?
Trả lời: Đó gọi là bản chất
người! Vỏ não trước trán, phần làm nên con người chúng ta, là phần bổ sung cho bộ
não động vật có từ xa xưa. Bộ não bò sát vẫn hoạt động, vì vậy nếu muốn, bạn có
thể ngay lập tức trở thành một kẻ giết người, giống như rồng Komodo. Bạn đã học
cách không phản ứng lại nó, nhưng xung động giết chóc, cũng như các xung động
nguyên thủy khác vẫn xuất hiện. Hãy để ý xung động giết người của bạn khi một người nào đó
cắt ngang mặt bạn!
Về
mặt cảm xúc, hầu hết mọi người đều trải nghiệm một loạt các cung bậc cảm xúc
khác nhau. Tầng tâm thức của bạn có thể là tốt, rồi đột nhiên bạn rơi vào Mặc cảm
tội lỗi, Nhục nhã, Đau khổ, Sợ hãi, Ham muốn, Tức giận, v.v. Những cảm xúc này
chỉ thoáng qua. Tầng tâm thức tổng thể của bạn là tầng chiếm ưu thế, nhưng nó
không loại trừ những cảm xúc xuất phát từ vô thức cá nhân. Một số trong đó là
những thứ bạn đã phóng chiếu vào thế giới. Giờ đây, khi bạn nhận trách nhiệm
tâm linh, đột nhiên bạn có mặc cảm tội lỗi về chúng. Nhưng đó chỉ là quá trình
xử lý tạm thời năng lượng của mặc cảm tội lỗi; điều đó không có nghĩa là tâm thức
của bạn đã sa sút đến tầng mặc cảm tội lỗi!
Một
điều cần xem xét nữa là cần thời gian để đồng hóa và phát triển lên mô thức mới.
Thay vì cố gắng thay đổi quá nhiều và quá nhanh, làm như thế có thể gây ra xáo
trộn lớn, tốt hơn hết là hãy cùng phát triển với nó và để nó dần ổn định. Mỗi
người phát triển theo khả năng, ý định, thái độ sẵn sàng và sự chín muồi nghiệp
lực của riêng mình. Và bạn không biết tốc độ đó là bao nhiêu.
Hỏi: Có bình thường
không khi một người cảm thấy như mình đang đi lên và đi xuống trong toàn bộ Bản
đồ?
Trả lời: Hầu hết những người
tìm kiếm tâm linh đều trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, có thể từ tuyệt vọng
đến niềm vui hoặc thậm chí là mê ly. Cũng có những khoảng thời gian khá dài mà
dường như không có gì xảy ra, và bạn có thể cảm thấy như mình không tiến bộ được
một chút nào. Xen kẽ với đó là những giai đoạn dường như trì trệ, thất vọng, tự
trách mình, và thậm chí là tuyệt vọng. Tất cả những giai đoạn này trong quá
trình tổng thể đều là bình thường. Kiên trì và tận tâm sẽ giúp bạn vượt qua.
Con đường sẽ dễ dàng hơn nếu có một người thầy chân chính hoặc một nhóm tận
tâm.
Bạn
cũng sẽ khám phá ra rằng “Tình yêu mang đến cái trái ngược với nó”, vì vậy
chính ý định trở nên yêu thương vô điều kiện lại tạo ra những trở ngại cần phải
vượt qua (tức là ghen tị, oán hận, thiếu kiên nhẫn, v.v.). Tình yêu và an bình
là đe dọa lớn nhất đối với “bản ngã”, nó tự bảo vệ mình bằng cách dựa vào những
lập trường cố hữu ẩn giấu trong vô thức. Những thái độ không yêu thương này nảy
sinh từ thời thơ ấu, xuất phát từ bản năng sinh tồn của não động vật và bị kìm
nén xuống dưới bề mặt bởi áp lực từ cha mẹ và xã hội thông qua các cơ chế tâm
lý quen thuộc như đàn áp, phủ nhận, kìm nén, phản ứng ngược, phóng chiếu và hợp
lý hóa. C. G. Jung đã tạo ra từ “bóng tối” để chỉ những phần bị chối bỏ trong
tính cách cần được thừa nhận và xử lý trong quá trình phát triển tâm lý.
Điều
đó có thể gây xáo trộn khi những mặt tiêu cực này bộc phát từ vô thức đúng vào
lúc bạn đang khát khao trở nên yêu thương hơn. Tuy nhiên, bạn có thể xem việc đối
diện với chúng như là hệ quả tất yếu của cam kết đối với tiến trình tiến hóa nội
tâm của chính mình.
Nghiệp
quá khứ là điều mà người khao khát tâm linh không biết tới, dù nó cũng là một yếu
tố có ảnh hưởng. Vì vậy, bạn không thể so sánh mình với người khác về thời điểm
hay chi tiết của trải nghiệm. Khi bạn thăng tiến trên Bản đồ và có khả năng tiếp
cận nguồn năng lượng lớn hơn, có thể bạn ‘đủ điều kiện’ để những nghiệp tiêu cực
được khơi lên và được thanh lọc. Do đó, có thể sẽ xuất hiện những giai đoạn khó
khăn về tài chính, bệnh tật, hoặc các thử thách khác không thể lường trước. Những
gì bề ngoài trông như một bước lùi, vì thế, thực chất lại là một cơ hội để tiến
hóa.
Hỏi: Cách tốt nhất để
nâng cao tâm thức là gì?
Trả lời: Kiên trì. Nỗ lực
tâm linh hiệu quả là kết quả của sự kiên trì và bền bỉ hơn là những hăng hái nhất
thời. Mỗi giai đoạn tiến hóa tâm linh đều là tự tưởng thưởng, thỏa mãn và trọn
vẹn trong chính nó.
Phát
hiện được rằng những khoảnh khắc đau khổ trước đây xứng đáng với nỗ lực bỏ ra. Và
khiêm nhường. Từ bỏ ảo tưởng rằng tôi biết luôn luôn xảy ra trước khi có những
bước nhảy vọt lớn trong tâm thức. Vì vậy, bạn phải sẵn sàng buông bỏ việc thầm
nghĩ rằng tôi biết, và nói, “Tôi không biết.” Thường thì, con đường duy nhất để
một người đạt tới thái độ sẵn sàng thay đổi là khi họ ‘chạm đáy’ — tức là đi trọn
vẹn một đường lối hành động cho đến khi hệ thống niềm tin vô vọng của nó tự sụp
đổ. Ánh sáng không thể đi vào một chiếc hộp kín; mặt tích cực của thảm họa đôi
khi chính là sự mở ra của một tầng nhận thức cao hơn. Khi đời sống được nhìn
như một người thầy, thì nó thực sự trở thành như vậy. Nếu những bài học đau đớn
của cuộc đời không được chuyển hóa — thông qua khiêm tốn — thành những cánh cổng
của tăng trưởng và phát triển, thì chúng sẽ bị uổng phí.
Hỏi: Ông từng nói rằng chỉ
riêng hành động hiệu chỉnh tâm thức cũng có thể làm thay đổi tầng hiệu chỉnh của
một đối tượng, nhờ vào Ý định. Điều đó có thể xảy ra bằng cách nào?
Trả lời: Chúng tôi đã phát
hiện ra rằng khi những người trên 200 điểm quan sát một thứ gì đó với lòng yêu
thương, họ đã nâng cao tầng hiệu chỉnh của nó lên một cách đáng kể. Ví dụ, khi
chúng ta coi một thứ gì đó hoặc một ai đó là đáng yêu, tầng hiệu chỉnh đang ở
204 sẽ nhảy lên khoảng 310. Bạn có thấy nó có ý nghĩa gì hay không? Bạn không cần
phải đi ra ngoài và làm những điều cầu kỳ. Chỉ cần chứng kiến tính linh thiêng
của toàn bộ tồn tại, tiếp cận mọi sự sống với lòng tôn kính và thiện chí; chỉ
riêng điều đó thôi, bạn đã đang làm thay đổi thế giới — theo đúng nguyên lý
Heisenberg, vốn nói rằng việc quan sát một vật sẽ làm thay đổi chính nó. Tôi
không biết trước khi chúng ta chiêm nghiệm nó thì tiếng gừ gừ của chú mèo con
có ở tầng 500 hay không, nhưng bây giờ thì ở tầng đó rồi.
Tầng
tâm thức của người quan sát càng cao, thì tác động lên đối tượng được quan sát sẽ
càng lớn. Chúng ta thực sự đã và đang thay đổi các tầng tâm thức được hiệu chỉnh
và phần lớn xã hội chỉ bằng việc quan sát công việc mà chúng ta đang cùng nhau
thực hiện. Mọi thứ chúng ta nhìn bằng yêu thương đều nâng cao tầng hiệu chỉnh của
nó, ngay cả rồng Komodo thì cũng thế. Nó chỉ đang là con vật mà nó đang là, một
con rồng Komodo rất tốt, có thể giết người một cách chính xác và nuốt chửng bạn
chỉ bằng một miếng cắn! Thật ấn tượng, và chúng ta nhìn thấy ngay cả ở rồng
Komodo một nét đáng yêu – vốn là sự biểu hiện của Thần tính bên trong tiến
trình mở ra của Tạo hóa, nơi mà vạn vật đều phụng sự cho Thực tại Tối hậu.
Thế
giới đang trở thành cái mà chúng ta hình dung, và nếu nó được tạo ra bằng tình
yêu, thì nó rất mạnh mẽ. Hãy nhìn vào tất cả sức mạnh mà bạn đang mang theo mà
không hề hay biết! Mọi thứ chúng ta nhìn vào, nếu chúng ta yêu thương và tha thứ
cho nó vì bản chất của nó—nếu chúng ta chứng kiến sự thiêng liêng của nó, nếu
chúng ta coi nó như một biểu hiện của quá trình tiến hóa, và nó phục vụ một mục
đích tối thượng nào đó—thì quan sát của chúng ta sẽ ảnh hưởng tới nó.
Xem
cá sấu trên kênh nature channel thật là khai sáng. Nếu bạn muốn học hỏi
nhiều điều về tâm linh, hãy xem kênh nature channel, vì trong tự nhiên,
bạn sẽ thấy một thế giới không hề có định kiến. Có con hà mã và con cá sấu trên
bãi biển, và con hà mã có một bản năng làm mẹ đối với cá sấu. Ý tôi là, ai có
thể yêu thương một con cá sấu ngoài một con hà mã? Mọi người đều sợ cá sấu trừ hà
mã. Mỗi năm hà mã giết nhiều người hơn hầu hết các loài động vật khác, nhưng
ngay cả hà mã cũng có khả năng quan tâm đến cá sấu. Hà mã tiến lại gần, huých
nhẹ con cá sấu và thậm chí liếm nó, đảm bảo rằng con cá sấu cảm thấy thoải mái.
Làm sao một con hà mã lại có bản năng làm mẹ đối với một con cá sấu? Rõ ràng là
chúng đã kết bạn với nhau qua hàng thiên niên kỷ. Con cá sấu đang giật giật, và
hà mã đẩy con cá sấu sang một bên cho đến khi con cá sấu hài lòng. Hãy tưởng tượng
liếm một con cá sấu! Đó mới là yêu thương và chấp nhận! Vậy nên, có lẽ ta nên học
theo loài hà mã: biết nuôi dưỡng và chở che cả những gì mà thế gian coi thường,
gán cho cái nhãn Homo horribilis[viii]!
[i] Rationality - Lý tính là khả năng sử dụng trí thông
minh để đưa ra quyết định đúng đắn và hình thành niềm tin dựa trên bằng chứng.
Nó giống như phần mềm vận hành phần cứng. Đặc điểm: Khả năng chống lại các định
kiến (biases), tư duy phản biện, và đánh giá xác suất khách quan. Đo lường: Qua
các bài kiểm tra về tư duy logic, ra quyết định (RQ - Rationality Quotient).
[ii] Emotionalism – Cảm tính, là xu hướng nhấn mạnh vào cảm
xúc hơn là lý trí. Trong nghệ thuật, nó nhấn mạnh khả năng truyền tải cảm xúc.
Trong tâm lý, nó chỉ việc để cảm xúc chi phối các quyết định và hành vi.
[iii] Divine Will - Ý chí thiêng liêng là ý định của sức mạnh
tối cao. Nó đối lập với ý chí cá nhân (Personal Will) và hướng tới sự hài hòa,
mục đích cao cả của vũ trụ.
[iv] Transcendence - Siêu việt là trạng thái vượt lên trên
các giới hạn của thế giới vật chất, bản ngã hoặc trí năng để đạt tới những giá
trị cao cả hoặc thiêng liêng hơn. Nói về trạng thái thì siêu việt là vượt qua bản
ngã, hướng tới cái tuyệt đối/thiêng liêng. Nói về tiến trình thì siêu việt các tầng
tâm thức là vượt qua và bao hàm; là mở rộng nhận thức theo hình xoắn ốc. Phân
biệt: Siêu việt là “bầu trời”, siêu việt các tầng tâm thức là “cái thang”.
[v] God-consciousness - Ý thức Chúa. Trong hệ thống của
Hawkins, God-consciousness gắn liền với các tầng năng lượng cao nhất (thường từ
600 đến 1.000 - mức của các Bậc Chứng ngộ). Không còn sự phân biệt: Ở tầng này,
phân biệt giữa “Tôi” và “Thiên Chúa” tan biến. Bạn không còn “tin” vào Thượng đế
nữa, mà bạn trải nghiệm trực tiếp sự hiện diện của Ngài như là bản chất thật sự
của chính mình và của vạn vật. Chủ thể và Khách thể hợp nhất: Thế giới không
còn được nhìn nhận như một thứ gì đó “bên ngoài”. Tất cả đều là sự biểu hiện của
Tâm thức duy nhất. Trạng thái Bất nhị (Non-duality): Đây là trạng thái mà mọi đối
cực (tốt/xấu, sống/chết, ta/người) đều được siêu việt.
[vi] Unmanifest - Đấng Phi Hiển Lộ - là trạng thái tiềm
tàng, phi hình tướng, nằm ngoài thời gian và không gian. Trong hệ thống
Hawkins: Không được nhầm lẫn với “Hư vô” (The Void) tĩnh mịch. Đây là Sự Hiện
Diện Vô Biên (Infinite Presence) – nguồn sống rực rỡ mà từ đó mọi sự vật hữu
hình (Manifest) được phóng chiếu ra. Bản chất: Là “Cái Tất Cả” (Allness) ở dạng
tiềm năng thuần túy, không phải là “Tính Không” (Nothingness/Void). Mối quan hệ:
Manifest (Hiển lộ) là “sóng”, Unmanifest (Phi Hiển lộ) là “đại dương” rực rỡ sự
sống.
[vii] Divine Grace - Ân phước Thiêng liêng. Là nguồn năng
lượng trợ lực từ Thực tại Tuyệt đối, giúp cá nhân siêu việt các giới hạn của bản
ngã. Hoạt động theo nguyên lý phi tuyến tính. Con người không “tạo ra” Ân phước,
mà chỉ có thể “mở lòng” để đón nhận thông qua phó thác (Surrender). Nó là yếu tố
quyết định để vượt qua các ngưỡng cửa tâm linh quan trọng (như việc bước qua
“Hư vô” để chạm tới “Hiện diện”. Thông điệp chủ đạo: “Ta không thể tự cứu mình
bằng bản ngã; chỉ có Ân phước mới có thể dẫn ta về nhà”.
[viii] Homo horribilis: Cách gọi châm biếm chỉ con người
trong trạng thái tâm thức thấp, đối lập với Homo sapiens.
No comments:
Post a Comment