BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
DẪN NHẬP
Vài tháng trước khi ông
qua đời, trong khi đang ngồi với Tiến sĩ Hawkins tại nhà ông, tôi chỉ vào giá
sách dài đầy những cuốn sách do ông viết. “Ông có cảm giác thế nào khi biết
mình đã viết tất cả những cuốn sách này?” Ông nói: “Tôi không coi những cuốn
sách đó là của mình. Không phải tự ngã cá nhân đã viết những cuốn sách đó. Thiên
Chúa đang tìm kiếm một tâm trí không suy nghĩ. Tôi chỉ là một kênh dẫn, một không
gian trống rỗng. Người ta nhìn thấy một cơ thể và một con người, và họ nghĩ rằng
người đó đã viết những cuốn sách này. Nhưng không phải thế. Nó giống như một
cây vĩ cầm—nó không thể tự chơi; nó phải được chơi.” Một khoảng lặng kéo dài.
Và ông vừa nói vừa cười khúc khích, “Tôi đã ngừng suy nghĩ từ nhiều năm trước.
Tôi không cần phải suy nghĩ. Nó giống như một cái cưa… quá ồn ào!”[1]
Tiến
sĩ David R. Hawkins (“Doc”) là sự kết hợp hiếm có giữa thiên tài và khiêm tốn.
Cuộc đời ông thật khác thường. Ý tôi là, ai có thể tưởng tượng một tâm trí trống
rỗng, không có bất kỳ suy nghĩ nào? “Một kẻ lạc loài,” ông thích nói như thế,
kèm theo một tràng cười sảng khoái. Đó là cách chơi chữ. Chúng tôi đang nói về
những nhà huyền môn, và ông nói: “Đúng vậy, đó là cách người ta gọi tôi—một
trong những ‘kẻ lạc loài’ đó!”[2]
Sau khi một số trải nghiệm tâm linh đã xóa bỏ bản ngã cá nhân, những chi tiết về cuộc sống cá nhân của ông không còn quan trọng nữa. “Chính Sự Hiện Diện (Presence[i]) là tất cả những gì hiện hữu trong khoảnh khắc này” là cách ông bắt đầu bài giảng kéo dài cả ngày tại Institute of Noetic Sciences trong năm 2003. Thật vậy, ông ít khi sử dụng đại từ nhân xưng, một phong cách khiến các tác phẩm của ông trở nên khác thường trong thời hiện đại, nhưng lại rất giống với cách diễn đạt của các nhà huyền môn trong quá khứ. Vì độc giả ngày nay muốn biết tác giả là ai và sự kiện nào đã dẫn đến những khám phá độc đáo trong một cuốn sách như thế này, nên sau đây là giới thiệu ngắn về tác giả và Bản đồ Tâm thức® mang thương hiệu của ông.
GIỚI THIỆU NGẮN VỀ TIẾN SĨ HAWKINS
Tiến sĩ Hawkins sinh năm 1927 ở Wisconsin và lớn lên trong giai đoạn Đại suy thoái. Gia đình ông theo Giáo hội Giám nhiệm (The Episcopal Church), và ông từng là người giúp lễ và hát trong dàn hợp xướng của thiếu nhi. Tuy nhiên, những trải nghiệm tâm linh sâu sắc của ông diễn ra bên ngoài bối cảnh tôn giáo.
Năm
lên ba, khi đang ngồi trong một chiếc xe đẩy nhỏ, ông đã có nhận thức đáng kinh
ngạc về tồn tại. Nhớ lại khoảnh khắc đó từ thời thơ ấu, ông kể với nhóm chúng
tôi: “Cứ như thể trước đó là hoàn toàn là bóng tối, một sự lãng quên (oblivion[ii]),
rồi đột nhiên những luồng ánh sáng khổng lồ bật lên. Tôi thấy mình đã trở lại
trong một thân xác và tôi không vui!” Ông giải thích rằng trong những kiếp trước,
ông là Phật tử Tiểu thừa mộ đạo và đi theo con đường phủ định tới Tánh Không (“Hư
Vô”) [Void[iii] -
Nothingness], tin rằng đó là mục tiêu tâm linh tối thượng. Nhưng không phải vậy,
nếu không thì ông đã không trở lại đây trong thân xác này! Ngay lập tức, với nhận
thức về tồn tại, sợ hãi về sự không tồn tại liền xuất hiện. Đó là vụ đối đầu tiền
ngôn ngữ với nghịch lý của Hư Vô so với Toàn thể (Allness[iv]),
một cánh cửa tâm linh cao cấp (“câu đố” là một từ khác mà ông dùng để mô tả sự
đối đầu với những điều dường như là trái ngược nhau) mà ông đã không giải quyết
được cho mãi tới nhiều thập kỷ sau, và giáo lý của ông về Tánh Không là một
trong những đóng góp quan trọng nhất của ông cho những người tìm kiếm tâm linh.
(Chương 8.)
“Với
một tuổi thơ như vậy, ngay từ đầu, đây quả là một cuộc đời kỳ lạ!” Ông thường
cười khúc khích trước những điều kỳ quặc trong cuộc đời mình. “Thẳng thắn mà
nói, những đứa trẻ khác dường như cực kỳ nhàm chán, vì vậy tôi đã trốn vào thế
giới của Plato và Socrates. Trong khi những cậu bé khác chơi bóng chày, còn tôi
thì đọc Aristotle và nghe chương trình opera mỗi tuần!”[3]
Ông
cũng là người rất siêng năng. Năm 12 tuổi, ông đi giao báo trên đoạn dường dài
nhất (17 dặm) trong khu vực; vì hai bên đường cao tốc không có điện, mọi thứ đều tối đen như mực. Có lần một
cơn bão mùa đông ập đến, nhiệt độ dưới không độ, và những cơn gió mạnh làm đổ
chiếc xe đạp của ông, báo chí vương vãi khắp nơi. Như mô tả trong Chương 8, ông
chui vào một đống tuyết đóng băng bên vệ đường để tránh gió. Ngay khi vừa chui
vào đống tuyết, ông liền tan hòa vào Sự Hiện Diện Vô Biên của Tình Yêu. Trải
nghiệm đó khó quên đến nỗi 70 năm sau, khi tôi đề nghị ông mô tả trạng thái của
Tình yêu Vô biên đó, ông trả lời ngay lập tức: “Tất cả cảm xúc tiêu cực—sợ hãi,
thiếu kiên nhẫn, thất vọng—đều biến mất. Thay vào đó chỉ còn lại Ánh sáng của
Tình yêu Vô biên, vượt thời gian, vĩnh cửu, bao trùm tất cả, không khác gì ngoài
Thực Tại (Reality[v]) của con người mà tôi đã
là, con người mà tôi đang là.”[4]
So
với Tình yêu Vô biên này, “Thiên Chúa” của tôn giáo giờ đây dường như không còn
ý nghĩa gì đối với chàng trai trẻ David. Ở tuổi 16, ông không còn chút niềm tin
nào vào tôn giáo nữa. Một ngày nọ, trong khi đang đi dạo trong rừng, nhận thức
về những đau khổ của con người qua các thời đại đột nhiên ập đến, như một đám
mây đen khổng lồ. Khoảnh khắc đó, ông đổ lỗi cho Thiên Chúa, cho rằng Ngài phải
chịu trách nhiệm về tất cả những đau khổ trên thế gian này và ông trở thành người
vô thần.
Tuy
nhiên, mặc dù niềm tin tôn giáo vào Thiên Chúa đã sụp đổ, động lực bên trong vẫn
không ngừng tìm kiếm sự thật của cuộc hiện sinh: “Cốt lõi bên trong tâm thức vẫn
khao khát vươn tới sự thật lớn lao hơn.”[5] Vốn
được sinh ra với chỉ số IQ đặc biệt cao, thông qua trí tuệ/trí năng (intellect[vi]),
ông dễ dàng nắm vững những vấn đề của khoa học, thần học, y học và tâm thần học.
Sau khi phục vụ trên một tàu rà phá thủy lôi của Hải quân Hoa Kỳ trong Thế chiến
II, ông vừa học xong trường y trong khi cùng lúc làm ba công việc, rồi chẳng
bao lâu sau trở thành trưởng khoa tâm thần, điều hành một bệnh viện lớn ở New
York và công bố rất nhiều báo cáo khoa học dựa trên các nghiên cứu lâm sàng của
mình. Ông đã thực hành phân tâm học trong nhiều năm với một trong những nhà
phân tâm học hàng đầu lúc bấy giờ. Ông tận tuỵ tu tập Pháp môn Thiền tông, thường
hành thiền một giờ vào buổi sáng và một giờ vào buổi tối. Tuy nhiên, tất cả những
tìm tòi này chỉ mang lại cho ông sự tuyệt vọng sâu sắc hơn. Mặc dù đã đạt đến đỉnh
cao của thành công thế tục, ông vẫn phải đối mặt với bóng tối nội tâm rộng lớn
và kéo dài bất tận.
Cuộc
khủng hoảng đạt đỉnh điểm vào năm 1965, khi ông tròn 38 tuổi và đang hấp hối vì
một căn bệnh hiểm nghèo và ngày càng nặng thêm. Mọi nỗ lực tìm kiếm sự thật về cuộc
hiện sinh thông qua trí năng đều thất bại, và ông rơi vào trạng thái đau khổ và
hoàn toàn tuyệt vọng. Ngay trước khi sắp chết, một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu
ông: Nếu có Thiên Chúa thì sao? Và với ý nghĩ đó, ông đã cầu nguyện: “Nếu
có Thiên Chúa, xin Ngài hãy giúp con ngay lúc này” – và ông hoàn toàn phó thác
cho “bất cứ Thiên Chúa nào nếu quả thật có Thiên Chúa như thế”, không kỳ vọng
gì nhiều. Ngay lập tức ông chìm vào trạng thái lãng quên – một khoảng trống hoàn toàn của tâm thức. Phải
mất 30 năm ông mới kể lại được hậu quả kinh hoàng đó: “Trạng thái ‘lãng quên’ bỗng
chốc tan biến, nhường chỗ cho vẻ huy hoàng chói ngợp của Ánh Sáng Thần Tính
(Light of Divinity[vii]),
tỏa rạng như chính quang huy và bản thể của Toàn Thể.”[6]
Tâm
thức của ông đã hoàn toàn và đột ngột biến đổi. Tâm trí và những mô thức
(pattern[viii])
tư duy của nó đã vĩnh viễn biến mất, và được thay thế bởi Sự Hiện Diện, “Cái Biết
(awareness[ix]) vô
biên, bao trùm tất cả, rạng rỡ, hoàn chỉnh,
toàn diện, im lặng và tĩnh tại.”[7] Sự
tĩnh lặng an bình ở bên trong ngự trị, vì không còn hình ảnh, khái niệm hay suy
nghĩ nào nữa. Trên thực tế, không còn “con người” nào để suy nghĩ; mọi sự tách
biệt giữa ông và những người khác tan biến, và ông nhìn thấy cùng một vẻ đẹp
hoàn hảo, vượt thời gian trong tất cả những người xung quanh: “Sự rạng rỡ tỏa
ra từ khuôn mặt của mọi người; mọi người đều đẹp như nhau.”[8]
Trong trạng thái phi nhị nguyên này, mỗi sinh vật “đều nhận biết được tất cả
các sinh vật khác, và tất cả mọi thứ đều được kết nối và giao tiếp hài hòa
thông qua nhận biết và bằng cách chia sẻ phẩm chất cơ bản của bản chất của
chính tồn tại.”[9] Không có cái gì tốt hơn
hay xấu hơn, cao hơn hay thấp hơn bất cứ cái gì khác. “Mọi chúng sinh hữu tình
đều bình đẳng… Mọi sự vật đều vốn linh thánh ngay trong Thần tính của sự sáng tạo
đã khai sinh ra chúng.”[10]
Trong
cuốn Power vs. Force, Tiến sĩ Hawkins nói rằng công trình nghiên cứu Bản
đồ Tâm thức “bắt đầu vào năm 1965,” ý ông muốn nói đến sự chuyển hóa trong tâm
thức của chính mình. Ông có thể là người đầu tiên được đào tạo như một nhà khoa
học/bác sĩ lâm sàng đã trải qua quá trình chuyển hoá được gọi theo lối kinh điển
là “Chứng ngộ,” hay unio mystica—và sau đó có thể đặt bối cảnh cho sự
chuyển hoá đó trong các bài giảng và những cuốn sách của mình.
Mặc
dù nhiều người trong chúng ta có những khoảnh khắc thoáng qua của “dòng chảy”,
niềm vui mãnh liệt, hoặc siêu việt chính mình trong những trải nghiệm đỉnh cao
nhất định (khi chứng kiến một đứa trẻ chào đời, những kỳ tích thể thao, màn
trình diễn trên sân khấu, công việc sáng tạo, leo núi, hoặc làm tình, chỉ xin kể
một vài ví dụ) hoặc thậm chí là những chuyển hoá tâm linh làm thay đổi cuộc đời
[ví dụ như trải nghiệm cận tử hoặc những thị kiến phúc lạc (beatific visions[x]),
nhưng việc tâm thức của một người đột nhiên và vĩnh viễn biến đổi thành trạng
thái bất nhị là vô cùng hiếm hoi. Trong quá khứ, hầu hết những người như thế hoặc
rời bỏ thân xác (chết) hoặc vẫn ở trong trạng thái “sốc Thiên Chúa” (God-shock[xi]),
họ không thể nói về trạng thái tan biến của bản ngã, khi mọi cảm giác về tự ngã
cá nhân tan biến—giống như đường tan trong nước ấm. Như William James viết
trong tác phẩm kinh điển của mình, Những trải nghiệm tôn giáo khác nhau
(The Varieties of Religious Experience), trải nghiệm thần bí là “không thể diễn
tả”— không thể nào mô tả được[11].
Sau lần biến đổi này của tâm thức, cuộc đời của Tiến sĩ Hawkins không bao giờ còn như trước nữa, và phải mất nhiều năm ông mới thích nghi được với những thay đổi đó. Hệ thần kinh trở nên căng thẳng, giống như “dây điện cao thế đang cháy với năng lượng điện áp cao”. Trong các tương tác xã hội, ông cảm thấy bối rối khi mọi người gọi cơ thể ông là “David”, bởi vì ông biết mình ở khắp mọi nơi và là một với vạn vật: “Một người nào đó hỏi tôi một câu và tôi tự hỏi họ đang nói chuyện với ai!” Khi nhìn vào mắt người khác, ông chỉ thấy “một Đại Ngã[xii] duy nhất… Không có bạn, tách biệt, ở đó, còn tôi, ở đây.”[12] Phúc lạc và cảm thức viên mãn trong chính mình khiến ông khó lòng khơi dậy hứng thú đối với những chức năng sinh hoạt bình thường. Những động cơ cũ như thu nhập và thành công trở nên không còn ý nghĩa gì nữa. Theo lời ông, động lực duy nhất đủ mạnh để kéo ông trở lại với thân xác và thế giới hình tướng chính là tình yêu: “Tình yêu trở thành động lực duy nhất cho sự tiếp tục tồn tại trong thân xác này.”
Mỗi lần như vậy, việc quay trở lại thân xác đều vô cùng khó khăn… Cảm thấy nhớ nhà… như thể mình đã rời khỏi ngôi nhà đích thực để thực hiện một công việc nào đó mà mình đã đồng ý. Mỗi khi tôi đi vào trạng thái ấy, không còn hình tướng nào hết. Tan hòa vào tình yêu vô biên, rực rỡ ánh vàng kim. Nó tinh diệu đến mức khiến người ta bật khóc khi phải trở lại thân xác một lần nữa. Lý do duy nhất khiến bạn có thể rời khỏi nơi ấy là vì bạn biết rằng nó tồn tại vĩnh viễn, và rằng bạn sẽ trở lại mãi mãi.[13]
Có
lần, ông kể với tôi, ông ở một mình trong rừng và một trạng thái phúc lạc tràn
ngập con người ông. Ông nhận thức được những con kền kền đang bay lượn xung quanh,
sẵn sàng lao xuống ngay khi hơi thở cuối cùng rời khỏi cơ thể. Nhưng ông nhận
ra rằng mình cũng nên ở lại trong thân xác này nếu điều đó có ích cho những người
khác, bởi vì phúc lạc ấy là vĩnh cửu. Ông hoàn toàn hiến dâng thân xác này để
trở thành một công cụ phục vụ thế gian, cho phép nó được nạp thêm năng lượng.
Ngay khi vừa nghĩ như thế, những con kền kền kia lập tức bay đi.
Ông
thích nghi từng bước một với trạng thái tâm thức mới và trở lại bệnh viện tâm
thần, lúc đó đã trở thành phòng khám lớn nhất ở Hoa Kỳ. Trạng thái tâm linh mở
rộng của ông đã giúp ông nhìn xa hơn những giới hạn của các phương pháp điều trị
thông thường, có thể nhìn thấy bản chất con người bên trong của bệnh nhân. Ông
không ngừng thử mọi phương pháp điều trị cho bệnh nhân của mình, dù những đồng
nghiệp theo phương pháp truyền thống có nói gì thì cũng thế. Nhờ khả năng chữa
lành kỳ diệu cho những bệnh nhân tưởng chừng như vô vọng, bác sĩ Hawkins đã xuất
hiện trên các chương trình truyền hình có đông người theo dõi trong những năm
1970 và 1980. Những công trình nghiên cứu có tính tiên phong của ông trong nhiều
lĩnh vực liên quan đến những đau khổ của con người đã mang lại cho ông nhiều giải
thưởng trong nước và quốc tế - liệt kê trong phần Giới thiệu về tác giả ở cuối
cuốn sách này.
Mặc
dù đã thu được những thành công như thế, nhưng những nỗ lực “chữa từng bệnh
nhân” của ông với tư cách là một bác sĩ, đối với ông, dường như chỉ là giọt nước
trong biển cả: “Có một sự thất vọng vô cùng lớn khi những đau khổ của con người
chỉ có thể được giải quyết ở từng bệnh nhân một. Nó giống như tát nước ra khỏi
biển vậy.”[14] Ông đã cống hiến hết mình
nhằm tìm ra phương pháp chuyển hóa ở bên trong, có thể giúp đỡ nhiều người hơn.
Ở đây chúng ta nghĩ đến Đức Phật, sau khi Chứng ngộ đã đưa ra phương pháp tu tập
gọi là Bát Chánh Đạo. Hoặc chúng ta nghĩ đến Bill Wilson - sau khi chứng nghiện
rượu hiểm nghèo và vô vọng của ông được chữa khỏi nhờ luồng Ánh sáng, đã phát
triển Mười Hai Bước nhằm giúp nhiều người hồi phục.
Khi
bác sĩ Hawkins nghiên cứu quá trình hồi phục của bệnh nhân trong các bệnh viện
của mình, ông nhận thấy rằng nó ít liên quan đến những gì ông thực sự làm hoặc
kê đơn với tư cách là bác sĩ, mà liên quan nhiều hơn đến tâm thức bên trong tỏa
ra tình yêu thương. Ông cũng nhận thấy rằng bệnh nhân của một số bác sĩ có xu
hướng cải thiện, trong khi bệnh nhân của một số bác sĩ khác hầu hết đều xấu đi
hoặc không thay đổi—ngay cả khi thuốc và phác đồ điều trị giống nhau trong tất
cả các trường hợp này.
Ngày
25 tháng 4 năm 1997, trong Bài giảng Landberg[xiii]
thường niên tại Trung tâm Khoa học Y tế Đại học California ở San Francisco
(UCSF), ông nhắc lại một số nhận xét từ giai đoạn hành nghề lâm sàng của mình ở
New York khi các bác sĩ kê đơn nhiều loại vitamin khác nhau như một phần của liệu
pháp điều trị tâm thần phân liệt: “Tác dụng phụ của bệnh nhân của bác sĩ phụ
thuộc vào tâm thức của bác sĩ chứ không phụ thuộc vào thuốc.”[15]
Ví dụ, bệnh nhân của một bác sĩ cụ thể ở New Jersey đã có biểu hiện đổi màu da
khi sử dụng vitamin B3. Tuy nhiên, bệnh nhân của các bác sĩ khác hoàn toàn
không có tác dụng phụ nào và trên thực tế, đã đáp ứng tốt với phác đồ điều trị
này. Bí quyết của những bác sĩ thành công là gì? Ông nhận thấy rằng hiệu quả chữa
bệnh có liên quan đến tầng tâm thức của họ. Tầng tâm thức của bác sĩ càng cao,
bệnh nhân càng có nhiều khả năng được chữa lành. Điều này sẽ có ý nghĩa đối với
những người có khuynh hướng tâm linh. Nhưng làm sao trình bày điều đó cho xã hội
vốn quen với tư duy duy lý, tuyến tính? Làm sao chứng minh được rằng chính tâm
thức bên trong, chứ không phải hành động bên ngoài, quyết định kết quả?
Những khám phá nội tâm
Chỉ vào chính mình, vừa cười
vừa kể lại, Tiến sĩ Hawkins nói: “Tôi luôn là một kẻ lạc loài và một thực thể kỳ
lạ trên hành tinh này! Đột nhiên, không báo trước, tầng tâm thức thăng lên và
tôi bị choáng ngợp đến mức mất khả năng hoạt động. Đó là lý do vì sao tôi phải
rời phòng khám tâm thần ở New York. Chỉ đơn giản là bỏ đi, bởi vì trong sự tĩnh
lặng sâu sắc ở bên trong, bạn không thể nói gì với bất cứ người nào. Bạn chất
những dụng cụ yêu thích của mình lên chiếc xe tải cũ và lái đến một thị trấn nhỏ
ở Arizona. Bạn có một chiếc giường xếp, một miếng pho mát, một cây nến và một
con mèo—bạn còn cần gì nữa? Mọi người đều nghĩ, anh ta bị mất trí rồi. Vì vậy,
khi tất cả bạn bè của bạn nghĩ rằng bạn bị mất trí, có lẽ bạn đang ở trong trạng
thái tốt!”[16]
Ông
đã rời khỏi phòng khám lớn và cuộc sống với hàng triệu đôla ở New York và chuyển
đến Sedona, một thị trấn nhỏ ở Arizona. Trong suốt nhiều năm trời, ông sống cuộc
đời ẩn dật, tách biệt khỏi thế gian. Giai đoạn này rất quan trọng vì nó cho ông
không gian để khám phá bản chất của tâm thức từ trong ra ngoài. Từ những nhận
thức chủ quan này xuất hiện những khám phá làm nền tảng cho Bản đồ Tâm thức và
toàn bộ những tác phẩm sau này của ông, được gọi là Bất nhị Sùng kính (Devotional
Nonduality[xiv]). Như ông viết trong cuốn
Power vs. Force: “Mặc dù những sự thật được trình bày trong cuốn sách
này được rút ra theo lối khoa học và sắp xếp một cách khách quan, nhưng giống
như tất cả những sự thật khác, chúng trước hết được trải nghiệm theo lối cá
nhân”[17]
Điều
này đúng với tất cả các bậc thầy và những người tiên phong vĩ đại trong lĩnh vực
tâm thức, có phải thế không? Trong lịch sử gần đây, chúng ta nghĩ đến nhà tâm
thần học nổi tiếng người Thụy Sĩ, C. G. Jung. Sau khi đoạn tuyệt với Sigmund
Freud, ông đã dành nhiều năm sống tách biệt với thế gian, để khám phá chiều sâu
nội tâm của chính mình, từ đó ông đã viết ra những công trình nghiên cứu mang đến
cho thế giới kiến thức về bóng tối” (shadow[xv]),
nguyên mẫu (archetypes[xvi]),
vô thức tập thể (collective unconscious[xvii]),
phức cảm (complexes[xviii])
(ví dụ, mặc cảm tự ti), và giải mã giấc mơ. Jung nói rằng toàn bộ công việc của
cả đời ông bắt nguồn từ những năm tháng khảo sát nội tâm như thế.
Trong
những năm tháng sống “ẩn dật”, Tiến sĩ Hawkins, thường ở trong trạng thái vô
hình tướng, thậm chí quên mất rằng mình có thân xác. Ông kể câu chuyện hài hước
về việc ông đã bị sốc như thế nào khi “tánh linh” (spirit[xix])
của ông tự do đi lại khắp nhà, đi xuyên qua các bức tường, và rồi đột nhiên
thân thể ông đập vào tường! Và một lần khác, ông thoáng thấy một “người” trong
gương, ngạc nhiên khi thấy có người khác trong nhà—rồi nhận ra đó không ai khác
ngoài chính mình! Mục tiêu của ông trong khi khám phá các trạng thái tâm thức
là để hoàn thiện các cơ chế chữa lành bên trong chính tâm thức và để “hoàn thiện”
chính mình như là một công cụ. Ví dụ, ông phát hiện ra rằng “cơ thể có xu hướng
tuân theo tâm trí”, và ông đã có thể chữa lành cơ thể của mình khỏi nhiều loại bệnh
nghiêm trọng thông qua phương pháp tâm thức được mô tả trong Chương 4. Ông viết
thư cho người bạn nổi tiếng và đồng tác giả trong lĩnh vực khoa học, nhà hóa học
đoạt giải Nobel và nhà kiến tạo hoà bình Linus Pauling, thể hiện thái độ phấn
khởi về những khám phá trong “tâm thức não phải” và “chữa lành 15 loại bệnh
khác nhau” bên trong chính mình[18].
Tiến
sĩ Hawkins được thúc đẩy bởi câu hỏi: Đâu là mắt xích còn thiếu giữa cơ thể
và tâm trí, giữa cái nhìn thấy được và cái không nhìn thấy được?
Bước đột phá
Khám phá này quan trọng đến
mức, trong những năm 1970, khi ông chứng kiến Bác sĩ tâm thần John Diamond
trình diễn phương pháp cơ thể động học hành vi (behavioral kinesiology[xx]) nghĩa
là, sử dụng phản ứng kiểm tra cơ bắp để đánh giá tác động khác nhau của các
kích thích tích cực và tiêu cực lên cơ thể. Trong một phương pháp được sử dụng
rộng rãi, bệnh nhân giơ một cánh tay theo chiều ngang, trong khi bác sĩ nhẹ
nhàng ấn cổ tay xuống. Cánh tay của bệnh nhân (cơ delta) không nhúc nhích khi
tiếp xúc với sự thật và các kích thích tích cực, nhưng cánh tay ngay lập tức hạ
xuống khi có mặt những thứ không phải là sự thật hoặc tiêu cực. Ví dụ, trong
nghiên cứu của Bác sĩ Diamond, một nụ cười khiến mọi người trở nên mạnh mẽ,
cũng như nhạc cổ điển và những tuyên bố trung thực; nghĩa là, cơ delta vẫn mạnh
và cánh tay của họ vẫn nằm ngang. Các kích thích tiêu cực, chẳng hạn như “Tôi
ghét anh,” hoặc các bản ghi âm về các chính trị gia thực hiện một hành vi lừa dối
mà mọi người đều biết, làm cho mọi người đều yếu đi; cơ delta của họ ngay lập tức
yếu đi và cánh tay của họ hạ xuống. “Cơ thể không biết nói dối,” Bác sĩ Diamond
kết luận.
Không
giống như các bác sĩ khác: coi cơ thể động học là hiện tượng cục bộ, Tiến sĩ Hawkins nhìn nhận nó qua lăng kính nhận thức
mở rộng của chính ông về liên kết của chính tâm thức. “Bản đồ Tâm thức ra đời
vì tôi đang chứng kiến lớp học về cơ thể động học và giải thích được đưa ra
cho phản ứng cơ thể động học là nhân quả có tính cục bộ. Thông qua những trải
nghiệm nội tâm của riêng mình, tôi đã vượt xa nhân quả cục bộ như là cách giải
thích cho các hiện tượng, và tôi thấy đó là phản ứng của chính tâm thức, vốn
phi định xứ và phi cá nhân.”[19]
Tiến
sĩ Hawkins gọi là “cơ sở dữ liệu của tâm thức” (database of consciousness[xxi]),
coi nguồn gốc của kiến thức này vượt ra ngoài thời gian và không gian. Jung gọi
nó là “vô thức tập thể”. Ai chưa từng trải nghiệm việc đột nhiên tiếp cận cơ sở
dữ liệu này thông qua trực giác, đồng nhịp (synchronicity[xxii]),
giấc mơ hoặc điềm báo? Rõ ràng là có một kho lưu trữ kiến thức mà mọi người
cùng chia sẻ, một phần không thể thiếu của tâm thức liên kết của chúng ta, khác
với thông tin mà chúng ta thu thập được thông qua nghiên cứu thuần trí năng.
Làm sao mà con chó biết khi nào chủ của nó rời khỏi nơi làm việc? Đoạn video
cho thấy con chó đến cửa đúng vào lúc chủ của nó bắt đầu đi về nhà, từ cách đó mấy
dặm[xxiii].
Xin đưa ra ví dụ từ kinh nghiệm gần đây: Làm sao mà ông nội đã khuất của một
người lại hiện ra trong giấc mơ để nói rằng một người thân bị ung thư vòm họng,
và điều đó hóa ra là thật đến từng chi tiết nhỏ nhất, từ vị trí, giai đoạn bệnh
cho đến phản ứng của người thân?
Tiến
sĩ Hawkins lập tức nhận ra rằng cơ thể động học là cơ chế giúp truy cập vào cơ
sở dữ liệu không nhìn thấy được của tâm thức, “hé lộ mắt xích và cầu nối còn
thiếu giữa tâm trí và cơ thể”; đó là giao diện giữa chiều kích hữu hình của thế
giới vật chất và chiều kích vô hình (nhưng rất thực) của tâm trí và tâm linh,
cơ thể con người đóng vai trò là công cụ phát hiện sự thật. Nó hoạt động như thế
nào? Bởi vì nguyên sinh chất luôn luôn phân biệt giữa các kích thích khẳng định
sự sống và các kích thích đe dọa sự sống như là vấn đề sống còn. Cơ thể hướng mạnh
về phía những gì hỗ trợ đời sống (sự thật) và tránh xa những gì phủ nhận đời sống
(không phải sự thật). Phản ứng cơ bắp diễn ra một cách tự động, không phụ thuộc
vào niềm tin hay định kiến của người đó.
Ví
dụ, khi tâm thức của chúng ta tập trung vào một chủ đề lành mạnh, ví dụ như Mẹ
Teresa, đồng tử của chúng ta co lại, và các cơ khác ngay lập tức và tự động trở
nên mạnh mẽ; chúng ta không thể kiểm soát được sự kiện này, và cảm xúc cá nhân
của chúng ta về Mẹ là không quan trọng. Một trong những đồng nghiệp của Tiến sĩ
Hawkins, Tiến sĩ David McClelland, đã thực hiện công trình nghiên cứu hết sức
thú vị với các sinh viên y khoa của ông ở Harvard, và phát hiện được rằng ngay
cả những người từng chế giễu Mẹ Teresa cũng xuất hiện phản ứng sinh lý giúp
tăng cường miễn dịch khi xem bộ phim khắc họa công việc hằng ngày của bà với những
người nghèo khổ[20].
Tiến
sĩ Hawkins phát hiện được rằng “vạn vật trên thế gian, trong đó có suy nghĩ, khái
niệm, vật chất và hình ảnh, đều tạo ra phản ứng có thể được chứng minh là tích
cực hoặc tiêu cực… Tất cả những gì đang tồn tại hoặc đã tồn tại, không có ngoại
lệ, đều phát ra một tần số và một rung động như một dấu ấn vĩnh viễn trong trường
tâm thức phi cá nhân và có thể được truy xuất bằng phương pháp kiểm tra này thông
qua chính tâm thức.”[21]
Nhận
thấy rằng những đau khổ của thế gian bắt nguồn từ vô minh, do thiếu phương tiện
phân biệt thật giả, ông đã dồn toàn bộ năng lượng của mình vào nghiên cứu
phương pháp cơ thể động học lâm sàng, coi đó là công cụ để phân biệt sự thật. Ông
đã tiến hành quy trình kiểm tra cơ bắp trên hàng nghìn đối tượng, cả cá nhân và
theo nhóm, gồm những người ở mọi lứa tuổi và mọi hoàn cảnh. Kết quả đều giống
nhau. Một trong những màn trình diễn được yêu thích nhất trong các bài giảng
cho 1.000 người là phát ra 500 phong bì không nhãn mác, chứa đường hoá học,
cùng với 500 phong bì giống hệt như thế, nhưng chứa vitamin C hữu cơ. Cử toạ được
chia thành từng cặp để kiểm tra, mà không biết bên trong có gì. Đó là một khoảnh
khắc đầy phấn khích, khi các phong bì được mở ra và cử toạ nhận ra rằng tất cả
mọi người đều phản ứng mạnh với vitamin C hữu cơ và phản ứng yếu với đường hoá
học.
Trải
nghiệm thực tế với phương pháp này là cực kì hữu ích. Bởi vì, phương pháp kiểm
tra này là phi tuyến tính, bỏ qua tâm trí, cho nên một người bình thường nhìn từ
bên ngoài sẽ dễ dàng tỏ ra nghi ngờ. Nhưng nếu, bằng trải nghiệm, cánh tay của
họ yếu đi khi giữ trong tâm trí năng lượng của một phong bì dán kín (ví dụ, ảnh
Hitler ở bên trong) và mạnh lên với một phong bì dán kín khác (ví dụ, ảnh Mẹ
Teresa ở bên trong), và việc này được thực hiện trong nhiều lần kiểm tra tiếp
theo với các vật phẩm khác nhau, thì người đó sẽ biết thông qua trải nghiệm rằng
phương pháp này “có hiệu quả” ngay cả khi họ không hiểu cơ chế hoạt động của
nó. Thật vậy, có rất nhiều thứ chúng ta sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, hoàn
toàn tin tưởng chúng chỉ vì chúng “có hiệu quả” mà hoàn toàn không biết theo lối
trí năng về cơ chế hoạt động của chúng; ví dụ, người nào trong chúng ta hoàn
toàn hiểu cách thức hoạt động của Internet, vậy mà chúng ta lại liên tục dựa
vào nó như người hướng dẫn?
Tiến
sĩ Hawkins phát hiện được rằng ông có thể sử dụng phương pháp này để hiệu chỉnh
các tầng tâm thức, như mô tả trong Chương 1. Do đó, ông đã trao cho chúng ta một
“bản đồ” cho thấy toàn bộ phạm vi trải nghiệm của con người. Bằng tất cả nỗ lực
của mình, với tư cách là một bác sĩ tâm thần, bác sĩ đa khoa, bác sĩ lâm sàng,
nhà nghiên cứu tâm thức, người yêu động vật và đạo sư tâm linh, mục tiêu của Tiến
sĩ Hawkins luôn luôn là làm giảm bớt khổ đau của con người. Khi được hỏi định
nghĩa của ông về “chức năng trên thế gian này”, ông trả lời: “Là chính con người
mà tôi đang là đối với thế gian và giải thích điều đó một cách rõ ràng nhất có
thể để tạo điều kiện cho nhận thức tâm linh và do đó góp phần làm giảm bớt đau
khổ của nhân loại.”[22] Bản
đồ Tâm thức xuất hiện như một công cụ giảng dạy chính để tạo điều kiện cho nhận
thức tâm linh và do đó làm giảm bớt khổ đau.
Ông
nói rằng mục đích của tác phẩm là để hiểu được sự chuyển đổi đột ngột của tâm
thức mà ông đã trải qua, được gọi theo lối kinh điển là Chứng ngộ, để tích hợp
nó với khám phá khoa học, và sau đó đưa nó vào định dạng dễ hiểu đối với bán cầu
não trái của độc giả phương Tây. Ông nói, “Đó là lĩnh vực của nhà huyền môn được
truyền đạt đến bán cầu não trái.”[23]
Tóm
lại, Bản đồ Tâm thức trình bày toàn bộ phổ tâm thức, từ các tầng “thấp hơn” như
Nhục nhã, Mặc cảm tội lỗi, Thờ ơ, U sầu, Sợ hãi, Ham muốn, Tức giận, Kiêu hãnh
(tức là các tầng của Bạo lực/Cưỡng ép (Force[xxiv]),
đến các tầng trung bình như Can đảm, Sẵn sàng, Chấp nhận, Lý trí (tức là các tầng
bị chi phối bởi Sức mạnh đích thực (Power[xxv]),
đến các tầng cao hơn như Tình yêu, Yêu thương vô điều kiện/Niềm vui/Chữa lành, Mê
ly, An bình và Chứng ngộ. Những trường năng lượng “cao hơn” này là sóng tải đem
theo năng lượng sống vô cùng to lớn. Các tầng này ngày càng thoát khỏi các mục
tiêu cá nhân và là lĩnh vực của các vị Thánh, các nhà huyền môn, các vị La Hán
và các Thánh Thần Giáng Thế.
Lưu
ý: Các thuật ngữ “cao hơn” và “thấp hơn” chỉ là cách gọi thuận tiện cho tư duy
tuyến tính của tâm trí, và không phản ánh thực tại như chính nó vốn là. Trong
Thực tại, không có cái gọi là cao hơn hay thấp hơn, vì tất cả sự sống, do bản
chất của nó, đều phục vụ cho toàn thể. Cây cao có tốt hơn cây thấp hay không? Con
mèo có tốt hơn con sóc hay không? Như Tiến sĩ Hawkins từng viết: “Mọi thứ đều
tiết lộ phép màu của tồn tại và do đó, mọi thứ, không có ngoại lệ, nhờ vào sự tồn
tại của nó, đều bình đẳng với mọi thứ khác.”[24]
Kết hôn với Susan: Chia sẻ Bản đồ với Thế giới
Sau khi Tiến sĩ Hawkins xây
dựng được Bản đồ Tâm thức, ông không biết chắc mình phải làm gì với nó. Ông
chia sẻ nó với các cộng đồng hồi phục khỏi tình trạng nghiện ngập ở địa phương.
(Ở New York, ông là bạn thân của Bill Wilson, người đồng sáng lập Hội Người Nghiện
Rượu Ẩn Danh.) Nhưng ngoài đó ra, ông cảm thấy do dự, không muốn thảo luận về
nó, vì ông tin rằng bất kỳ người nào cũng có thể sử dụng phương pháp kiểm tra
cơ bắp để tìm ra sự thật về bất cứ điều gì, và chuyện gì sẽ xảy ra nếu nó bị lạm
dụng cho những mục đích xấu xa? (Sau nhiều năm nghiên cứu, ông phát hiện được rằng
chỉ người có tính chính trực mới được phép tiếp cận sự thật. Phụ lục A mô ta
chi tiết phương pháp kiểm tra này.)
Quá
trình cộng tác đầy may mắn với người vợ, Susan J. Hawkins, đã tạo điều kiện các
phát hiện của ông được công bố và trạng thái nội tâm của ông được chia sẻ qua các
cuốn sách và các buổi thuyết trình. Ông thường nói: “Bà ấy là điểm tựa,” và ông
không bao giờ lên sân khấu mà vắng bà. Khả năng tổ chức của bà, cùng với trực
giác nhạy bén và diễn đạt chân thành, đã tạo điều kiện cho việc kết nối giữa kiến
thức bên trong của ông với thế giới. Khi tôi hỏi Susan cảm giác như thế nào khi
kết hôn với ông và sau đó chia sẻ ông với hàng ngàn người khác từ khắp nơi trên
thế giới, bà nói: “Rất đơn giản. Khi bạn yêu ai đó, bạn ủng hộ số phận của người
đó. Tôi yêu chồng mình. Có nghĩa là tôi phải chia sẻ ông ấy với thế giới.”[25]
Chính nhờ sự tận tâm và khả năng của bà mà chúng ta có được toàn bộ tác phẩm của
ông. Tôi đã nhiều lần chứng kiến, trong những cuộc trò chuyện tại nhà họ, sự
khích lệ của bà chính là điểm tựa giúp ông có thêm năng lượng để viết thêm một
cuốn sách, có thêm một bài giảng, tổ chức thêm một buổi satsang (pháp hội tỉnh thức).
Cùng
với thời gian, nhiều người từ những vùng xa xôi đã đến tham dự các bài giảng của
ông và được ở bên ông, họ nói rằng hào quang của ông có tác dụng như chất xúc
tác, có tác dụng chữa lành đối với họ. Ông luôn khẳng định rằng những gì người
khác nhìn thấy ở ông thực chất chính là Đại ngã chân thật (Chân Ngã – true Self[xxvi])
của họ được phản chiếu lại mà thôi. Ông thường nói: “Đại ngã của sư phụ và Đại
ngã của đệ tử là một và như nhau.” Mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội,
đến từ mọi châu lục. Bản chất, Chân ngã của mỗi người, đều được đón nhận một
cách trọn vẹn. Như một người từng mô tả: “Sau cả đời tìm kiếm, cuối cùng linh hồn
(soul[xxvii])
tôi cảm thấy như đã về nhà.” Theo kinh nghiệm của tôi: chính trong sự hiện diện
của ông mà “chú vịt xấu xí” được nhận ra là “thiên nga” (ám chỉ câu chuyện thiếu
nhi nổi tiếng- ND). Và sự phản chiếu linh hồn này tạo nên tất cả sự khác biệt trong
cuộc đời một con người—nhận ra sự thật về con người mà chúng ta đang là.
Ông
nói rằng những gì ông dạy không khác gì những nguyên tắc cốt lõi của các tôn
giáo trên thế giới—yêu thương vô điều kiện, tâm từ bi, khiêm nhường và tử tế với
tất cả chúng sinh: “Hãy hiến dâng cuộc đời bạn và nâng toàn thể nhân lên loại bằng
cách luôn tử tế, ân cần, tha thứ và từ bi mọi lúc, mọi nơi, và trong mọi hoàn cảnh,
với mọi người cũng như với chính bạn. Đó là món quà lớn nhất mà bất cứ người
nào cũng có thể trao tặng.”[26]
Năm
1995, nhà xuất bản của gia đình Hawkins, Veritas Publishing (Sedona, Arizona),
in những cuốn đầu tiên tác phẩm Power vs. Force, cuốn sách mang tính đột
phá đầu tiên giới thiệu Bản đồ Tâm thức ra thế giới. Ảnh hưởng của nó rất sâu sắc.
Cuối cùng, cuốn sách cũng được nhà xuất bản Hay House phát hành, và đã tiếp cận
được hơn một triệu người đọc bằng hơn 25 ngôn ngữ. Tôi tự coi mình là một trong
số rất nhiều người, nhờ cuốn sách đó và việc tìm thấy Bản đồ, đã làm cho cuộc đời mình hoàn toàn thay đổi.
Ông
để lại 16 cuốn sách và hơn 100 bài giảng được ghi âm, cũng như vô số bài báo và
những cuộc trả lời phỏng vấn. Tất cả đều xuất hiện vào những năm cuối đời, khi
hầu hết mọi người đang tận hưởng giai đoạn nghỉ hưu và “thư giãn”. Từ năm 68 tuổi
đến 84 tuổi, ông đã đi khắp nơi và làm việc không ngừng nghỉ cho đến tận cuối đời.
Trong năm cuối đời, tôi đã cùng ông hoàn thành ấn bản sửa đổi chính thức của
tác giả về cuốn Power vs. Force (2012, tái bản 2013) và Letting Go
(2012). Có những ngày tôi đến nhà ông để làm việc, ông mệt mỏi hoặc không khỏe,
nhưng chỉ cần vài tách espresso và một câu chuyện cười để chúng tôi cùng cười
là chúng tôi lại tiếp tục làm việc không nghỉ hàng mấy giờ liền. Tôi đã tận mắt
chứng kiến sự tận tâm không mệt mỏi của ông trong việc hoàn thành sứ mệnh của
mình và giúp đỡ đồng loại.
Trong
vai trò là giáo sư đại học, tôi thường đưa sách của ông vào chương trình giảng
dạy cho sinh viên. Thú vị là sinh viên nhận thấy điều gì đó trong sách của ông
mà họ không nhận thấy ở bất kỳ cuốn sách nào khác: “Ông ấy diễn đạt chính xác
những gì tôi biết là đúng, chỉ là tôi không biết cách diễn đạt mà thôi.” Tiến
sĩ Hawkins, trong Lời tựa cho cuốn Power vs. Force, khẳng định rằng ông
chỉ đơn thuần nói ra những gì chúng ta đã biết một cách sâu sắc ở bên trong:
“Cuốn sách này sẽ thành công nếu đến cuối cùng bạn thốt lên, ‘Tôi luôn biết điều
đó mà!’ Những gì chứa đựng ở đây chỉ là sự phản ánh của những gì bạn đã biết,
nhưng không biết rằng bạn biết. Tất cả những gì tôi hy vọng làm được ở đây là kết
nối các điểm để bức tranh bị che giấu hiện ra.”
Ông
chưa bao giờ tuyên bố đã khám phá ra mật mã bí mật hay đã khai quật được một bí
ẩn thần bí đặc biệt nào đó “từ những sợi lông mũi của con lạc đà” (như ông thường
nói đùa). Như bạn sẽ đọc trong Chương 8, ông chỉ đơn giản nhắc nhở chúng ta về “tính
phổ quát” của Sự thật là nó “đúng ở mọi thời điểm và mọi nơi, không phụ thuộc
vào văn hóa, tính cách hay hoàn cảnh,” và ông đã cho chúng ta một Bản đồ để tìm
ra nó. Vượt lên trên việc soi sáng những theo đuổi thông thường của con người
như sức khỏe, nghệ thuật, sinh kế, các mối quan hệ và chính trị, Bản đồ này còn
đưa ra một trong những sự phân định hiện đại đầu tiên về các tầng cao nhất của tâm
thức con người Kiến chân tính (Self-realization[xxviii]),
Tính Không (Void), Hư vô (Nothingness) đối
lập với Toàn thể, Chứng ngộ hoàn toàn (Full Enlightenment[xxix]),
cùng những hiện tượng khác biệt tương ứng của chúng. Bài tự truyện ở phần cuối
sách là minh chứng cho tầng tâm thức cao của tác giả. Tiến sĩ Hawkins mô tả các
tầng Chứng ngộ với sự minh bạch cho thấy chúng đã được trực nhận qua trải nghiệm.
Suy cho cùng, chúng ta không thể vẽ bản đồ dẫn tới nơi mà chính mình chưa từng
đặt chân tới.
Swami Chidatmananda, một bậc thầy Vedanta được kính trọng nhất của Ấn Độ, đã nói với tôi rằng các cuốn sách của Tiến sĩ Hawkins về cơ bản chứa đựng cùng một chân lý vĩnh cửu như các cuốn kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad - Vedanta), nhưng được viết bằng ngôn ngữ hiện đại của chúng ta: “Không có sự khác biệt giữa những gì ông đã trải nghiệm và thảo luận, và những gì đã được các Đại Giác Giả và các vị Thánh vĩ đại nhất của Ấn Độ từng nói.”[27]
VỀ CUỐN SÁCH NÀY
Trước khi Tiến sĩ Hawkins
qua đời năm 2012, tôi đã đề nghị ông và Susan kiểm tra cơ bắp danh sách các dự
án tương lai, xem có nên thực hiện hay không. Trong danh sách đó có một cuốn
“sách nhập môn” về công trình của ông, và câu trả lời là có. Cuốn sách bạn đang
cầm trên tay chính là hiện thực hóa ý định đó.
Đây
là một cuốn sách độc đáo trong toàn bộ các tác phẩm của ông vì nó mang đến cho
người đọc cái nhìn tổng quan về những lời dạy của ông về nhiều chủ đề: giải
thích Bản đồ Tâm thức, liên hệ của chúng ta với động vật, quá trình tiến hóa của
tâm thức, phát triển cá nhân, khả năng lãnh đạo đã khai sáng, chữa lành cơ thể,
kinh doanh thành công, hồi phục sau nghiện ngập, siêu việt rào cản của bản ngã,
trạng thái tâm linh cao cấp, và nhiều chủ đề khác nữa.
Khác
với những cuốn sách khác của ông, cuốn này cung cấp cho người đọc nhiều phong
cách giao tiếp khác nhau của ông: các tác phẩm được xuất bản chính thức, những
cuộc chuyện trò và bài giảng trực tiếp. Nội dung được rút ra từ tất cả các cuốn
sách của ông, từ một số bài giảng và một số cuộc trò chuyện không chính thức. Biên
tập là nhằm để tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc hiểu và rút gọn thành một
cuốn sách nhập môn. Cuốn sách này là lời giới thiệu vững chắc về toàn bộ công
trình nghiên cứu của Hawkins dành cho độc giả mới tiếp cận với ông và là bản
tóm tắt bổ ích cho những người đã nghiên cứu trong nhiều năm. Tất cả các lần hiệu
chỉnh được đưa vào trong cuốn sách này đều do Tiến sĩ Hawkins và Susan Hawkins
thực hiện trước khi ông qua đời vào năm 2012. Hiệu chỉnh (Calibration) là thuật ngữ mà Tiến sĩ Hawkins sử dụng để
chỉ việc ông sử dụng phương pháp cơ thể động học để xác minh tầng tâm thức (tức
là trường năng lượng) của một thứ gì đó trên Bản đồ Tâm thức của ông.
Các
chương trong cuốn sách nhằm bổ sung cho tuyển tập các bài giảng trực tiếp của
Tiến sĩ Hawkins cũng có tựa đề Bản đồ tâm thức giảng giải (The Map of
Consciousness Explained, Hay House 2019), với các biểu đồ được đưa vào đây để
người nghe có thể thấy những gì ông đang nói tới trong băng ghi âm. Tài liệu
tham khảo không được đưa vào cuốn sách này. Thay vào đó, các nguồn tư liệu cho
từng chương được trình bày trong phần tư liệu ở cuối sách; độc giả quan tâm có
thể tiếp tục tra cứu các tác phẩm này để tìm danh mục thư mục phong phú của Tiến
sĩ Hawkins. Các câu hỏi thảo luận cho nhóm học tập và bảng Thuật ngữ cũng được
đặt ở phần sau của sách.
Mỗi
phần trong cuốn sách này—Nền tảng, Ứng dụng thực tiễn, và Thăng tiến tâm thức—đều
được mở đầu bằng một bình luận ngắn của biên tập viên, cùng với một câu chuyện
ngắn rút ra từ kinh nghiệm lâm sàng của Tiến sĩ Hawkins. Phần Nền tảng trình
bày những hàm ý của Bản đồ Tâm thức: Bản đồ này xuất hiện như thế nào? Cơ sở
khoa học của là gì? Các tầng tâm thức và trường năng lượng là gì? Làm sau hiệu
chỉnh các tầng tâm thức? Tâm thức đã tiến hóa như thế nào qua hàng thiên niên kỷ?
Đây là một số câu hỏi được trả lời trong phần đầu tiên.
Phần
Ứng dụng thực tiễn trình bày cách thức áp dụng Bản đồ Tâm thức vào cuộc sống
hàng ngày. Tiến sĩ Hawkins cung cấp cho chúng ta các bước dễ hiểu để giải quyết
các vấn đề cơ bản của con người, chẳng hạn như sức khỏe, thành công trong các nỗ
lực của cuộc sống và vượt qua nghiện ngập. Về bản chất, nghiện là việc tìm kiếm
hạnh phúc bên ngoài con người mình. Mặc dù Chương 6 đề cập rõ ràng đến nghiện một
chất nào đó, nhưng các nguyên tắc có thể được áp dụng cho bất kỳ sự cưỡng chế
hoặc mô hình nghiện ngập nào khác. Quá trình hồi cai nghiện đặc biệt quan trọng,
đấy là do mức độ gia tăng đáng báo động về số ca tử vong do ma túy và rượu gây
ra trong xã hội hiện nay. Tiến sĩ Hawkins liên hệ Bản đồ Tâm thức với chương
trình Mười Hai Bước rất hữu ích cho việc cai nghiện và các bối cảnh khác. Đáng
chú ý là, Tiến sĩ Hawkins khuyến khích các đệ tử tâm linh của mình tuân theo Mười
Hai Truyền thống của A.A. khi gặp gỡ nhau trong các nhóm học tập, vì các hướng
dẫn về tính ẩn danh và phục vụ làm giảm xu hướng của các nhóm tâm linh trong việc
biến một người nào đó thành một “sư phụ” cụ thể.
Trong
phần thứ ba, Thăng tiến tâm thức, Tiến sĩ Hawkins trình bày những đặc điểm của
các đạo sư và chính giáo một cách cực kì rõ ràng. Cho đến nay, nhân loại vẫn
thiếu một tiêu chuẩn vàng nhằm kiểm tra độ tin cậy của các đạo sư tâm linh. Vô
số người tìm kiếm chân thành đã chết hoặc rơi vào tình trạng tuyệt vọng đến mức
tự sát dưới bàn tay những guru hay đấng cứu thế giả mạo. Phần này đưa ra hướng
dẫn cụ thể về biện pháp tránh những cạm bẫy tâm linh, cũng như biện pháp mở rộng
tầng tâm thức của mỗi người. Các bước rất đơn giản, nhưng Tiến sĩ Hawkins nói rằng
không nhiều người làm theo vì bản ngã tin một cách thầm kín rằng nó đã “biết”.
Bạn có thể tự hỏi: Bạn đã sẵn sàng buông bỏ những gì bạn nghĩ là mình biết hay chưa?
Ông chia sẻ từ kinh nghiệm của chính mình rằng hạnh phúc vô bờ bến đang chờ đợi
những người buông bỏ ở tầng sâu sắc nhất. Nghịch lý là, ông nói rằng hành trình
này thiên về buông bỏ hơn là thủ đắc: “Khi mây tan, mặt trời sẽ chiếu sáng”.
Nói cách khác, khi chúng ta buông bỏ những gì chúng ta không phải là, chúng ta
trở thành con người thật sự mà chúng ta đang là. Ông từng nói với tôi: “Về bản
chất bạn đã là Phật tính; bạn chỉ chưa nhận ra điều đó mà thôi.”
Hiểu về các tầng tâm thức
Năm 2003, khi lần đầu tiên
tiếp xúc với Bản đồ này, tôi đã là học giả về huyền môn và là giáo sư nghiên cứu
tôn giáo trong suốt nhiều năm. Ngay lập tức tôi nhận ra “Các tầng tâm thức” của
Tiến sĩ Hawkins là những giai đoạn kinh điển của quá trình tiến hóa bên trong của
người, được tìm thấy trong các Kinh văn của thế giới và được đề xuất bởi các
triết gia, các nhà hiền triết và các nhà huyền môn qua nhiều thế kỷ. Ví dụ, trong
truyền thống Kitô giáo có Thang lên Thiên đường (The Ladder of Divine Ascent), của nhà tu khổ hạnh
theo Chính thống giáo Đông phương, John Climacus (khoảng 579–649) ở núi Sinai,
Ai Cập, và Lâu đài bên trong (Interior Castle or The Mansions), của nhà huyền
môn Công giáo, Thánh Teresa of Ávila (1515–1582 A.D.), ở Tây Ban Nha.
Dù
là leo lên chiếc thang đức hạnh để vươn đến bậc cao nhất, đó là Tình yêu, hay
đi vào bên trong, tới dinh thự sâu thẳm nhất của Hợp nhất Thiêng liêng (Divine
Union[xxx]),
người tìm kiếm đều trải qua nhiều giai đoạn. Trong truyền thống Phật giáo, 10 bức
tranh chăn trâu thể hiện các bước trên con đường chứng ngộ từ Vô minh đến Chứng
ngộ đã là một công cụ giảng dạy chủ yếu kể từ khi chúng ra đời ở Trung Quốc, vào
thế kỷ XII. Trong truyền thống Sufi, có rất nhiều mô tả về hành trình nội tâm
và các “giai đoạn” của nó, từ bài thơ ngụ ngôn nổi tiếng Hội nghị các loài
chim (The Conference of the Birds) của
nhà huyền môn người Ba Tư Farīd al-Dīn ‘A ār (khoảng 1142–1220), đến Mười
hai tầng khai tâm (Twelve Levels of
Initiation) của nhà huyền môn Sufi hiện đại Llewellyn Vaughan-Lee phác thảo.
Mặc
dù có thể khác nhau về từ ngữ và bối cảnh, nhưng bản chất của những giáo lý từ
các tôn giáo khác nhau đều giống nhau: những người tìm kiếm Sự thật phải đi qua
nhiều giai đoạn. Về mặt trải nghiệm thực chứng, các giai đoạn không diễn tiến
theo đường thẳng, tuy nhiên vẫn có một sự tiến hóa tâm thức rõ rệt dành cho những
người tầm đạo chí tâm. Giai đoạn đầu tiên xảy ra, ví dụ, khi một người nhận ra
rằng cuộc sống còn nhiều thứ chứ không chỉ là những theo đuổi trần thế. Bằng
cách hướng vào bên trong, họ bước vào cái mà Thánh Teresa of Ávila gọi là “lâu
đài bên trong”. Hoặc có lẽ, họ, giống như người chăn trâu trong mười bức tranh
chăn trâu: dừng lại, lần đầu tiên nhận ra dấu chân trâu, biểu tượng cho Phật
tính bẩm sinh của chúng ta. Họ nhận thức được đời sống tâm linh của mình và quan
tâm đến việc trau dồi những phẩm chất cần thiết như kỷ luật, kiên nhẫn, khiêm tốn,
nhất tâm, khả năng học hỏi và phụng sự tha nhân. Xa hơn trên hành trình, nếu họ
tiếp tục đi trên con đường đôi khi gian khổ và không có lối đi này, người tìm
kiếm sẽ được trải nghiệm thực tại vô cùng quan trọng của Tình yêu. Nó luôn có
đó, nhưng chỉ như một “kho báu ẩn giấu trong trái tim” (như các Sufi nói). Mở
lòng là một bước ngoặt, bởi vì giờ đây những tìm kiếm đã vượt qua giới hạn của
logic và bước vào cõi ân phước vị tha, trùng hợp có ý nghĩa và niềm vui.
Mặc
dù tôi đã tiếp thu và giảng dạy những tài liệu này, nhưng Bản đồ Tâm thức là lần
đầu tiên tôi gặp một tác phẩm khoa học xác nhận những tầng mang tính kinh điển
của đời sống tâm linh là những “mô thức điểm hút” và “trường năng lượng” thực sự,
có thể đo lường được. Đó là sự xác nhận đáng kinh ngạc về trực giác của bán cầu
não phải thông qua kiến thức của bán cầu não trái.
Tôi
phát hiện được rằng Bản đồ Tâm thức tuyệt vời vì nó đơn giản; một biểu đồ được
trình bày chỉ trên một trang giấy nhưng lại tiết lộ toàn bộ hành trình. Hơn nữa,
nó rất tinh tế về mặt khoa học trong việc mô tả quá trình cảm xúc, quan điểm về
Chúa, quan điểm về chính mình và quan điểm về cuộc đời phù hợp với từng tầng tâm
thức. Nó tự do khỏi các giáo điều và niềm tin tôn giáo mang tính hình thức, vì
vậy, bất cứ người nào cũng có thể tìm thấy đường đời của mình được soi sáng bằng
cách nghiên cứu Bản đồ này, mà không phụ thuộc tín ngưỡng tôn giáo nào. Có lẽ
khía cạnh hấp dẫn nhất của Bản đồ này, làm nên sự khác biệt so với vô số bản đồ
tâm linh được các nhà huyền môn trình bày trong suốt chiều dài của lịch sử, là
xác nhận rằng, với mỗi tầng tâm thức thăng lên, “tần số” hay “rung động” của
năng lượng tăng lên theo cách có thể đo lường được. Nói cách khác, một cá nhân
càng mở rộng tâm thức và yêu thương, thì tầm ảnh hưởng của họ đối với thế giới
càng trở nên lớn lao hơn.
Toàn
bộ nền tảng tư tưởng trong các công trình của Tiến sĩ Hawkins rất hợp với lẽ
thường. Tiêu cực làm cạn kiệt năng lượng, còn tích cực nâng đỡ tinh thần. Trường
năng lượng tích cực (Can đảm, Sẵn sàng, Chấp nhận, Lý trí, Tình yêu) mạnh mẽ
hơn trường năng lượng tiêu cực (Nhục nhã, Thờ ơ, Sợ hãi, Tức giận, Kiêu hãnh) bởi
vì chúng phù hợp với năng lượng của chính sự sống. Tình yêu chữa lành; Sợ hãi
kìm hãm. Can đảm đưa chúng ta tiến về phía trước; Đau khổ kìm hãm chúng ta. Ví
dụ, nhiều người trong chúng ta biết cần bao nhiêu can đảm để buông bỏ đau buồn
và yêu lại sau khi mất người bạn đời vì người đó chết hay ly hôn.
Mỗi
trường năng lượng đại diện cho một quan điểm về cuộc sống có ý nghĩa đối với những
người ở tầng tâm thức đó. Vô số cuộc tranh luận diễn ra giữa những người ở các tầng
khác nhau (ngay cả trong cùng một gia đình hoặc nơi làm việc) vì thế giới mà họ
nhìn thấy thực sự là những thế giới khác nhau. Nếu một người đeo kính màu đỏ, mọi
thứ sẽ hiện ra màu đỏ, dù lập luận của những người đeo kính màu xanh lá cây có mạnh
mẽ đến mức nào. Thế giới này màu xanh lá cây hay màu đỏ? Thế giới bạn nhìn thấy
phụ thuộc vào lăng kính mà bạn đang dùng để nhìn. Ví dụ, một người đang chìm
trong U sầu chỉ nhìn thấy quá khứ; họ nói về “những gì đã từng xảy ra”. Thất vọng
được xoa dịu phần nào khi người ta nhận ra rằng mọi người không phải là người
“xấu”; họ chỉ đơn giản là nhìn cuộc sống qua lăng kính mà họ có. Lăng kính đó
chính là tầng tâm thức của họ.
Một
số người không thích thang đo tuyến tính để đo “các tầng”, và chính ý tưởng về
các tầng có thể là miếng mồi ngon cho bản ngã. Chính Tiến sĩ Hawkins cũng từng
than phiền về những gì bản ngã đã làm với bản đồ này — chẳng hạn như việc một
người tự cho rằng mình đang ở tầng Tình yêu, trong khi trên thực tế họ còn chưa
vươn tới tầng tự giải quyết (self-resolution[xxxi])
vốn là đặc trưng của tầng Chấp nhận.
Vấn
đề ở đây là: Bản đồ dường như tuyến tính, nhưng thực tế không phải thế. Tiến sĩ
Hawkins đã cung cấp một thang đo logarit bằng số nhằm hỗ trợ cho tư duy tuyến
tính, tư duy logic của chúng ta để hiểu các trường tâm thức, nhưng chính các
trường năng lượng thì không phải là tuyến tính; đúng hơn, chúng là các trường
hút (attractor field).
Tôi
từng hỏi ông, “Sự thăng tiến tâm thức của ông trong kiếp sống này như thế nào?”
Có một khoảng im lặng kéo dài. Khi ông úp mặt vào hai bàn tay, tôi biết câu hỏi
của mình không có thực tại! Cuối cùng ông nói: “Không thể mô tả được. Ta không
bước từ tầng này sang tầng khác theo lối tuyến tính; nói chính xác hơn, nó mang
tính chu kỳ (theo từng pha), giống như thời tiết.”[28]
Những
người tìm kiếm chân thành sẽ phát hiện được rằng Bản đồ này mở rộng tầm nhìn. Lần
đầu tiên tiếp xúc với nó, họ cảm thấy được an ủi khi biết rằng có một bản đồ chỉ
đường cho hành trình nội tâm. Mới đây, một sinh viên đại học nói với tôi: “Nó
giúp tôi rất nhiều khi thấy Chấp nhận nằm ở đâu, và đó là nơi có Tha thứ. Đó là
điều tôi đang hướng tới trong quan hệ của mình với một người cụ thể nào đó. Lúc
này, tôi đang Tức giận, tôi ôm giữ sự oán hận, nhưng Bản đồ này cho tôi quá
trình để vượt qua.”
Những
người tìm kiếm cũng được Bản đồ này xác nhận trong hành trình tìm kiếm Tình yêu
như là cội nguồn và đích đến của đời sống tâm linh. Phần lớn lịch sử tôn giáo
đã rao giảng học thuyết sai lệch về mặc cảm tội lỗi, tự trừng phạt, khổ hạnh và
sợ hãi như là con đường dẫn đến Sự thật. Thật nhẹ nhõm và là một sự điều chỉnh
lớn khi thấy rằng Mặc cảm tội lỗi và Sợ hãi nằm ở cuối thang đo, còn Tình yêu
và Niềm vui nằm ở trên đỉnh thang đo. Tiến sĩ Hawkins thường nói: “Mặc cảm tội
lỗi khiến bạn bị loét dạ dày, chứ không phải Chúa!” Chúa là Tình Yêu, và vì vậy
con đường dẫn tới Sự thật là trong Tình Yêu và thông qua Tình Yêu.
Cũng
bổ ích khi thấy rằng Lý trí (Reason[xxxii]),
đức tính có vị trí cao nhất trong văn hóa phương Tây, quả thực là năng lượng
tinh khiết, nhưng nó mờ nhạt so với năng lượng của trái tim. Tri thức đích thực
là tri thức được hình thành qua trải nghiệm; nó nảy sinh từ những bài học của cuộc
đời đã thấm sâu vào trái tim và toàn bộ con người chúng ta. Nếu không, người ta
nói, “Họ chỉ là những kẻ nói suông.” Như Tiến sĩ Hawkins nói: “Lúc đó, con đường
của trái tim bỏ qua trí năng và đặt niềm tin vào sự hoàn hảo của tình yêu hơn
là theo đuổi trí năng và lý trí. Đối với Tình Yêu, trí năng và logic chỉ là
công cụ; chúng không phải là “Con người mà tôi đang là”[29]
Những
công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Hawkins về động lực học phi tuyến tính, vật
lý lượng tử và toán học cao cấp tạo điều kiện cho Bản đồ Tâm thức của ông kết hợp
những ý tưởng không có trong diễn giải của các nhà huyền môn khác về các giai
đoạn của hành trình nội tâm. Ví dụ, năng lượng sống có thể được ví như mạch điện.
Nói cách khác, chúng ta có thể nói rằng Trường Sức mạnh Vô biên được hạ thấp qua
các tầng tâm thức, tương tự như máy biến áp hạ áp. Hệ thần kinh và nguyên sinh
chất của con người không thể xử lý được năng lượng khổng lồ của Vô biên, trừ
khi nó đến với chúng ta ở mức độ mà mạch điện của chúng ta có thể xử lý. Tương
tự, 50.000 vôn không hữu ích lắm trong sinh hoạt gia đình, nhưng 110 vôn thì có
thể sử dụng được. Trong sinh hoạt gia đình, các thiết bị điện không được đánh
giá hay phân biệt dựa trên công suất hay lượng điện năng mà chúng tiêu thụ. Tủ
lạnh không “tốt hơn” đèn ngủ, phải không? Cũng như vậy, các tầng tâm thức khác
nhau không nói rằng tốt hơn hay tệ hơn mà chỉ đơn giản là các mức năng lượng
khác nhau, mỗi mức có chức năng cụ thể của nó.
Quá
nhiều điện có thể “làm hỏng” mạch điện giới hạn, nhưng mạch điện có khả năng chịu
điện áp lớn hơn có thể xử lý được nhiều điện năng hơn. Ví dụ, Đức Đạt Lai Lạt
Ma có trường năng lượng hay tầng tâm thức rộng lớn và đủ yêu thương để xử lý lượng
năng lượng sống khổng lồ, vì vậy ngài tỏa ra năng lượng chữa lành ở những tầng cao,
có thể nói như vậy. Trạng thái nội tâm của Ngài tràn ngập Niềm vui và Tình yêu,
cùng với hài hước, tiếng cười, tử tế và tâm từ bi.
Tuy
nhiên, hầu hết mọi người không có khả năng tương tự để trở thành một kênh truyền
dẫn năng lượng cao cho người khác, vì sự chú ý bên trong họ thường xuyên tập
trung vào nhu cầu, suy nghĩ, cảm xúc và mục tiêu của riêng mình. “Mạch điện”
bên trong của họ bị thu hẹp, tập trung vào bản thân mình, và không có khả năng
yêu thương vô điều kiện đối với thế giới. Trên thực tế, một số người gần như
hoàn toàn vị tư. Những tầng tâm thức tiêu cực như vậy (ví dụ: Nhục nhã, Mặc cảm
tội lỗi, Sợ hãi, Ham muốn, Tức giận và Kiêu hãnh) lấy năng lượng chứ không đóng
góp. Cuốn sách này là một ngọn đèn soi đường cho bất kỳ người nào muốn trở thành
hiệu quả hơn trong bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc đời.
Cách đọc cuốn sách này
Phong cách viết và diễn
thuyết của Tiến sĩ Hawkins hướng đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho cả hiểu
biết của bán cầu não trái và bán cầu não phải. Ông giải thích như sau trong lời
tựa cuốn Power vs. Force:
Trên thực tế, chúng ta hiểu mọi thứ nhờ nhận dạng mô thức
toàn diện. Cách dễ nhất để nắm bắt một khái niệm hoàn toàn mới chỉ đơn giản là
quen thuộc. Cách hiểu này được khuyến khích bằng cách hành văn với đặc điểm là “đóng”.
Đáng lẽ chỉ thỉnh thoảng mới sử dụng các tính từ hoặc ví dụ để thể hiện tư tưởng,
thì ở đây lại sử dụng nhiều và lặp đi lặp lại. Các khái niệm sau đó được “ghi
nhận”, và tâm trí được thoải mái. Cách tiếp cận này cũng hấp dẫn bởi vì tâm trí
đọc Chương 3 sẽ không giống với tâm trí đọc Chương 1.
Ý tưởng phải bắt đầu từ Chương 1 và đọc dần cho đến cuối
là khái niệm chỉ phù hợp với não trái. Đó là con đường đi của vật lý học Newton,
dựa trên tầm nhìn hạn chế và có giới hạn về thế giới, trong đó tất cả các sự kiện
đều được giả định sẽ xảy ra theo một trình tự tuyến tính. Quan điểm thiển cận
này xuất phát từ hệ hình (paradigm[xxxiii])
lỗi thời về thực tại. Quan điểm rộng hơn và toàn diện hơn của chúng ta dựa trên
không chỉ phần tinh tuý của vật lý cao cấp, toán học và lý thuyết phi tuyến
tính tiên tiến nhất mà còn dựa trên trực giác có thể được mọi người xác nhận
qua trải nghiệm…
Vì vậy, tôi cố gắng trình bày những chủ đề này, ở mức
cao nhất có thể, bằng những thuật ngữ bình thường. Không cần phải có trí năng
uyên bác nào mới hiểu được những điều sẽ được trình bày ở đây. Chúng ta tìm hiểu
dần dần các khái niệm cho đến khi hiểu rõ. Mỗi lần chúng ta quay lại để nhận
xét về những ví dụ, bạn đọc sẽ hiểu sâu hơn. Hình thức học tập này tương tự như
quan sát vùng đất mới từ trên máy bay: lần đầu đi qua, mọi thứ trông lạ lẫm; lần
thứ hai, thấy một số điểm quen quen; lần thứ ba, bắt đầu có cảm giác, và cuối
cùng chúng ta quen với nó nhờ tiếp xúc. Cơ chế nhận dạng mô thức bẩm sinh của
tâm trí sẽ hoàn thành những việc còn lại[30].
Dù
bắt đầu từ đầu hay cuối, bạn sẽ thấy rằng cuốn sách xoay quanh điểm trung tâm
này: Chúng ta thay đổi thế giới không phải bằng những lời chúng ta nói hay những
việc chúng ta làm mà là hệ quả của con người mà chúng ta đã trở thành. Tiến
sĩ Hawkins khẳng định rằng ngay cả sự gia tăng nhỏ nhất trong tâm thức của
chính chúng ta cũng mang lại lợi ích cho thế giới nói chung. Ông nói, tình yêu
mạnh mẽ đến mức một niệm yêu thương trong một ngày sẽ xóa bỏ tất cả những suy
nghĩ tiêu cực. “Nếu bạn nhìn thấy một con mèo hoang đang đi ngang qua đường và
bạn gửi đến cho nó tình yêu và hy vọng về sự tồn tại của nó, điều đó sẽ xóa bỏ
những lời nguyền rủa mà bạn đã dành cả buổi sáng cho mẹ chồng, thày giáo hoặc bất
cứ người nào mà bạn đã tức giận.”[31]
Hành
tinh này có rất nhiều người đang cố gắng “thay đổi thế giới” nhưng họ chỉ làm
như thế ở tầng triệu chứng, chứ không phải ở cội nguồn của nó. Lực lượng kiểu này
tạo ra phản lực, và cuối cùng chúng ta rơi vào bế tắc chứ không phải vĩ đại. Sự
vĩ đại đến từ bên trong. Đó là can đảm thay đổi chính mình. Thông điệp của
cuốn sách này rất quan trọng đối với xã hội chúng ta: Đời thay đổi khi chúng ta
thay đổi.
Nếu
chúng ta được thúc đẩy bởi yêu thương, nếu yêu thương là động cơ của chúng ta,
thì mọi thứ chúng ta chạm vào, mọi nơi chúng ta đến và mọi người chúng ta gặp sẽ
trở nên tốt đẹp hơn nhờ sự kiện là chúng ta đã trở thành một người yêu
thương. Tình yêu là sức mạnh thầm lặng truyền cảm hứng, chữa lành, nâng đỡ,
khích lệ và cải thiện mọi thứ. Và bởi vì Tình yêu là bức xạ trong trường năng
lượng liên kết của vũ trụ - phi định xứ và phi tuyến tính, chúng ta tạo được ảnh
hưởng ở bất cứ nơi nào chúng ta có mặt, dù chúng ta làm gì thì cũng thế. Yêu
thương bất kỳ biểu hiện nhỏ bé nào của cuộc đời cũng chính là yêu thương toàn bộ
cuộc đời, vì mọi thứ đều kết nối với nhau.
Không
thể dùng ngôn từ để mô tả đóng góp của Tiến sĩ Hawkins cho quá trình tiến hóa của
nhân loại. Không có Bản đồ, thì không thể tìm được kho báu. Con đường này mở ra
cho tất cả những người lựa chọn nó. Mỗi người đều có điểm xuất phát khác nhau,
nhưng mỗi chúng ta đều tự mình điều khiển bánh lái tương lai của mình. Mỗi khoảnh
khắc đều mang đến tự do lựa chọn.
— Fran Grace, Tiến sĩ
Tiến sĩ Grace, Giáo sư
Nghiên cứu Tôn giáo và Người sáng lập kiêm Quản lý Chương trình Thiền định tại
Đại học Redlands ở California, là tác giả của một số cuốn sách, trong đó có cuốn
Sức mạnh của Tình yêu: Một Trái tim được Chuyển hóa Thay đổi Thế gian
(The Power of Love: A Transformed Heart Changes
the World - 2019), để tưởng nhớ Tiến sĩ Hawkins và được xuất bản bởi Inner
Pathway Publishing, một tổ chức phi lợi nhuận 501(c)(3) mà bà thành lập năm
2008, theo hướng dẫn của ông.
[1] Trích từ F. Grace, The
Power of Love (Redlands, CA: Inner Pathway Publishing, 2019), 585
[2] Trao đồi cá nhân, 2010.
[3] Bài giảng, Institute of
Noetic Sciences (Petaluma, California), 2003.
[4] Power of Love, 522.
[5] D. Hawkins, I: Reality
and Subjectivity (Sedona, AZ: Veritas Publishing, 2003), 365.
[6] I: Reality and Subjectivity, 365–66
[7] D. Hawkins, The Eye of
the I (Sedona, AZ: Veritas Publishing, 2001), 6
[8] Eye of the I, 6.
[9] Eye of the I, 3–4.
[10] Eye of the I, 9
[11] F. Grace, “Beyond Reason:
The Certitude of the Mystic from Al-Hallaj to David R. Hawkins,” International
Journal of Humanities and Social Science, vol. I, no. 13 (September 2011),
147–56
[12] Interview with Yun Kyung
Huh, in D. Hawkins, Dialogues on Consciousness and Spirituality (Sedona,
AZ: Veritas Publishing, 1997), 33–34
[13] D. Hawkins, Dialogues
on Consciousness and Spirituality (Sedona, AZ: Veritas Publishing, 1997),
12, 37
[14] D. Hawkins, Power vs.
Force, Author’s Official Authoritative Edition (Sedona, AZ: Veritas
Publishing, 2012), 388.
[15] Dialogues, 30.
[16] Lecture, 2003.
[17] Power vs. Force,
A.O.A. Ed., 380.
[18] D. Hawkins, letter to
Linus Pauling, November 5, 1987.
[19] Lecture, 2003.
[20] For details, see chapter
on Mother Teresa in Power of Love, 53–84
[21] Eye of the I, 20.
[22] Eye of the I, 210.
[23] Power vs. Force,
VHS (Sedona, AZ: Veritas Publishing, 1996).
[24] I: Reality and
Subjectivity, 219.
[25] Power of Love,
586–87
[26] Eye of the I, 257.
[27] Power of Love,
570.
[28] Personal communication,
2010.
[29] I: Reality and
Subjectivity, 219.
[30] Power vs. Force,
A.O.A. Ed., xxv–xxvi.
[31] Dialogues, 21.
[i] Presence dịch là Sự Hiện Diện - Thần tính được trực nghiệm trực tiếp.
1. Sự Hiện Diện là trạng
thái “Vượt lên trên nội dung”. Thông thường, tâm trí chỉ chú ý đến nội dung (Content):
các sự kiện, suy nghĩ, từ ngữ, mặc cảm. Khi đạt tới trạng thái Sự Hiện Diện,
người ta không còn nhìn vào nội dung nữa, mà nhận biết Context (Ngữ cảnh/Trường)
bao quanh nội dung đó. Sự Hiện Diện chính là sự nhận biết rằng: “Tôi không phải
là suy nghĩ, tôi chính là cái không gian mà suy nghĩ đang hiện ra”. Cái không
gian đó chính là Thần tính.
2. Sự Hiện Diện hóa giải
“Force” (Bạo lực). Tại sao sự trực nghiệm trực tiếp này lại quan trọng? Force
chỉ tồn tại khi có một cái “Tôi” đang cố gắng điều khiển thực tại. Khi có Hiện
Diện, cái “Tôi” cá nhân tan biến vào cái Toàn Thể (Allness). Bạn chỉ đơn giản
là “có mặt” ở đó, và mọi thứ tự vận hành qua bạn. Đó là lúc Power (Sức mạnh
đích thực) thay thế hoàn toàn cho Force.
3. Liên hệ với Cái Phi
Hiển Lộ. Sự Hiện Diện là cách duy nhất để chúng ta tiếp xúc với Cái Phi Hiển Lộ
ngay trong thế giới hình tướng. Nếu Godhead là kho chứa dữ liệu tĩnh lặng, thì
Sự Hiện Diện chính là lúc bạn “mở tệp tin và dữ liệu đó trở nên sống động (trực
nghiệm). Bạn không suy luận về Chúa, bạn “chạm” vào Chúa. Nó giống như việc bạn
không đọc về vị ngọt của đường, mà bạn đang đặt đường lên lưỡi.
[ii] Oblivion - sự lãng quên là trạng thái hoàn toàn bị
lãng quên, không còn được ai nhớ đến, hoặc trạng thái không nhận thức được gì
xung quanh mình, thường do bất tỉnh, ngủ sâu, hoặc chết.
[iii] Thuật ngữ trong Phật giáo là Sunyata - Tánh Không
không có nghĩa là sự trống rỗng tiêu cực, mà là nhận thức rằng mọi sự vật không
có tự tính độc lập, chúng luôn biến đổi và phụ thuộc lẫn nhau. Trong hệ thồng của
David Hawkins: Void là trạng thái mà tâm trí nhìn thấy sự trống rỗng khi bản
ngã tan biến, còn Allness là khi ý thức nhận ra sự trống rỗng đó thực chất là sự
hiện diện rực rỡ và trọn vẹn của Thần tính trong vạn vật. Nói ngắn gọn: Void là
sự vắng mặt của hình tướng, còn Allness là sự có mặt của tất cả mọi khả năng
trong một thể thống nhất
[iv] Allness (Toàn thể): Đại diện cho tính vô hạn. Nó nhấn mạnh rằng không
có gì nằm ngoài thực tại. Tất cả mọi khả năng, mọi sự kiện, và mọi trạng thái đều
hiện hữu đồng thời. Trong trạng thái này, không có “khoảng trống” hay sự thiếu
vắng, vì Allness bao hàm cả cái hiện hữu và cái chưa biểu hiện.
[v] Reality - Thực tại được hiểu qua hai tầng nghĩa cốt
lõi: Thực tại là tầng tâm thức: Mỗi người nhìn nhận “thực tại” khác nhau tùy
theo tầng năng lượng của họ (Map of Consciousness). Ở tầng Sợ hãi (100), thực tại
là đe dọa; ở tầng Tình yêu (500), thực tại là sự hòa hợp. Thực tại tối hậu
(Ultimate Reality): Là trạng thái vượt trên mọi suy nghĩ và hình tướng, nơi
không còn sự tách biệt giữa “tôi” và “thế giới”, chỉ còn lại sự hiện diện thuần
túy của Thần tính. Tóm lại: Thực tại không phải là cái gì đó “ở ngoài kia”, mà
là sự phản chiếu trực tiếp từ mức độ nhận thức bên trong bạn.
[vi] Intellect - Trí năng/trí tuệ, nhấn mạnh vào công cụ của
não bộ, mang tính chức năng và logic tuyến tính.
[vii] Light of Divinity - Ánh sáng Thần tính là năng lượng rực rỡ và trực tiếp
từ Nguồn, chiếu soi vào vạn vật để biến “không” (Void) thành “Tất cả”
(Allness). Nói ngắn: Đó là Sự hiện diện của Thiên Chúa (Presence) dưới dạng nhận
thức thuần túy, có khả năng tự chiếu sáng và ban sự sống cho mọi tồn tại mà
không cần bất kỳ nỗ lực hay suy nghĩ nào..
[viii] Patterns - Mô thức, có nghĩa là: Những khuôn mẫu lặp đi lặp lại có tính
cấu trúc trong hành vi, suy nghĩ, cảm xúc hoặc vận hành của một hệ thống. Mẫu →
thiên về hình dạng cụ thể. Khuôn mẫu → thiên về thói quen hoặc định kiến. Mô thức
→ nhấn mạnh cấu trúc vận hành ẩn bên dưới tạo ra sự lặp lại. Trong văn cảnh tâm
linh – tâm lý học, “mô thức” thường chỉ: Mô thức suy nghĩ (thinking patterns);
Mô thức cảm xúc (emotional patterns); Mô thức hành vi (behavioral patterns); Mô
thức năng lượng (energetic patterns). Có thể nói mô thức là những vệt hằn của
quá khứ còn đang tiếp tục vận hành trong hiện tại. Trong Phật giáo thường gọi
là Tập khí.
[ix] Awareness — 1. Nhận thức/cái Biết thuần túy, không diễn
giải; Tỉnh thức (Awakening / Mindfulness). 1. Từ này thiên về một trạng thái hoặc
một quá trình. Định nghĩa: Là sự “tỉnh dậy” sau một cơn mê của bản ngã. Khi bạn
bắt đầu quan sát được cảm xúc tiêu cực và không để nó cuốn đi, đó là tỉnh thức.
Đặc điểm: Thường dùng cho các tầng tâm thức từ 200 (Can đảm) đến dưới 600. Nó
mang tính chủ động: “Tôi đang tỉnh thức”, “Tôi đang thực hành tỉnh thức”. Trong
tiếng Anh: Thường tương ứng với Awakened hoặc Mindful. 2. Cái Biết
(Awareness/Pure Awareness) Từ này thiên về bản chất hoặc nền tảng vĩnh cửu. Định
nghĩa: Là cái “không gian” hay cái “ánh sáng” cho phép mọi sự tỉnh thức diễn
ra. Nó không phải là một hành động, nó là một thực tại có sẵn. Ngay cả khi bạn
đang ngủ hay đang giận, Cái biết vẫn luôn ở đó, tĩnh lặng và quan sát. Đặc điểm:
Thường dùng cho tầng ý thức từ 600 (An bình) trở lên. Nó không có chủ thể:
không phải “Tôi có Cái biết” mà là “Tôi LÀ Cái Biết”.
[x] Beatific Visions - Thị kiến Phúc lạc là những trải nghiệm tâm linh ở tầng
tâm thức rất cao (thường từ 600 trở lên), nơi hành giả trực tiếp “nhìn” thấy bản
chất thiêng liêng của vạn vật qua con mắt của linh hồn. Nói ngắn: Đó là trạng
thái nhìn đâu cũng thấy hào quang của Thần tính tỏa ra từ mọi vật chất, biến thế
giới tầm thường thành một thực tại rực rỡ, tràn ngập vẻ đẹp và tình yêu tuyệt đố.
[xi] God-shock - là cú sốc của hệ thần kinh và tâm trí khi “tự ngã” nhỏ bé
tan biến để đối mặt với Thực tại tối hậu, khiến con người rơi vào trạng thái sững
sờ, bất động trước quyền năng và tình yêu bao la của Thiên chúa.
[xii] Self (Đại ngã/Chân ngã, chữ S viết hoa) tương đồng hoàn toàn với khái
niệm Bản lai diện mục (Mặt mũi xưa nay) trong Thiền tông. Nói ngắn gọn: Đó là bản
thể gốc rễ của bạn trước khi bị che lấp bởi suy nghĩ, cảm xúc và bản ngã — là
cái thực tại thuần túy vẫn luôn ở đó, chưa từng sinh ra và cũng không bao giờ mất
đi. Còn self (s viết thường) là tự ngã với bản chất là một tập hợp các ảo tưởng,
thói quen suy nghĩ, cảm xúc và ký ức mà chúng ta lầm tưởng là “chính mình”. Nó
là một cấu trúc của tâm trí dựa trên sự tách biệt (tôi và thế giới). Đặc điểm:
Luôn đòi hỏi, sợ hãi, phán xét và bị giới hạn bởi thời gian. Nó hoạt động bằng Bạo
lực thay vì Sức mạnh đích chực và là rào cản chính ngăn cản chúng ta nhận ra Đại
ngã. Tóm lại: Nếu Self là bầu trời vĩnh cửu, thì self chỉ là những đám mây trôi
nổi, luôn biến đổi và che lấp ánh mặt trời.
[xiii] Landberg Lecture là một bài thuyết trình danh giá hằng năm trong lĩnh vực
tâm thần học – khoa học thần kinh – tâm linh học, gắn với Landberg
Center/Landberg Foundation (Hoa Kỳ), nơi mời các học giả, bác sĩ và nhà nghiên
cứu có đóng góp nổi bật trình bày những công trình hoặc tổng kết tư tưởng quan
trọng của mình.
[xiv] Devotional Nonduality (Bất nhị Sùng Kính) là con đường bất nhị được đi
bằng trái tim sùng kính. Đó là sự hòa quyện giữa hai truyền thống tưởng như
khác biệt: Devotion (Sùng kính) — yêu mến, phó thác, thờ phụng Thiên Chúa hay
Chân Lý Tối Hậu. Nonduality (Bất nhị) — nhận ra rằng không hề có sự tách biệt
giữa người tìm kiếm và Đấng được tìm kiếm. Trong cách tiếp cận này, hành giả
không đi thẳng bằng tri thức triết học, mà đi bằng tình yêu. Ban đầu có vẻ như
có hai: Người yêu và Đấng được yêu. Người cầu nguyện và Thiên Chúa. Linh hồn và
Tuyệt Đối. Nhưng qua sự sùng kính sâu sắc, bản ngã dần tan rã. Tình yêu trở nên
thuần khiết đến mức không còn chủ thể yêu thương nữa. Và khi đó, điều được khám
phá chính là: Đấng được thờ phụng và người thờ phụng chưa từng là hai. Trong
truyền thống Ấn Độ, con đường này gần với Bhakti hòa nhập vào Advaita. Trong
Kitô giáo huyền nhiệm, nó phản ánh trải nghiệm “hiệp nhất với Thiên Chúa”.
Trong ngôn ngữ của David R. Hawkins, đó là sự tan biến của bản ngã vào Sự Hiện
Diện — nơi Tình Yêu không còn là cảm xúc, mà là Bản thể. Bất nhị Sùng Kính
không phủ nhận cá nhân ngay từ đầu. Nó sử dụng chính mối quan hệ thiêng liêng
làm phương tiện. Từ hai, đi đến Một. Từ cầu nguyện, đi đến tĩnh lặng. Từ yêu,
đi đến Hữu Thể. Cuối cùng, điều còn lại không phải là “tôi yêu Thiên Chúa”, mà
là: Chỉ có Tình Yêu tự biết chính mình.
[xv] Shadow là tất cả những phần tính cách, cảm xúc, bản
năng và mong muốn mà chúng ta từ chối thừa nhận về bản thân. Vì thấy chúng “xấu”,
“không thể chấp nhận” hoặc “đáng hổ thẹn”, bản ngã đã đẩy chúng xuống vùng tiềm
thức và khóa chặt lại.
[xvi] Archetypes - Nguyên mẫu là những
mẫu hình tâm lý bẩm sinh và phổ quát nằm trong vô thức tập thể, biểu hiện qua
các biểu tượng và nhân vật chung của nhân loại (như Người Anh Hùng, Người Mẹ).
[xvii] Collective Unconscious - Vô thức tập thể không phải là một kho chứa “bị
bỏ quên”, mà là một Trường năng lượng chung bao trùm toàn bộ nhân loại. Nó lưu
trữ mọi suy nghĩ, trải nghiệm, ký ức và mức độ tiến hóa của loài người từ thuở
sơ khai đến nay. Có thể hình dung mỗi cá nhân là một máy tính, và Vô thức tập
thể chính là mạng Internet toàn cầu. Tính phi thời gian, vô thức tập thể tồn tại
ngoài thời gian tuyến tính. Mọi dữ liệu của quá khứ vẫn đang "hiện diện"
và gây ảnh hưởng đến hiện tại. Có thể hình dung Vô thức Tập thể như là cái kho
còn Cơ sở dữ liệu của tâm thức là để nhấn mạnh rằng thông tin ở đó có thể truy
cập được.
[xviii] Phức cảm (Complex) trong thực tế: Là khi một sự kiện
nhỏ kích hoạt một phản ứng cảm xúc lớn bất thường, do sự tích tụ của những tổn
thương hoặc niềm tin cũ trong tiềm thức.
[xix] Trong bản dịch này, thuật ngữ Spirit được chuyển ngữ linh hoạt thành Tinh
thần, Tâm linh hoặc Tánh linh tùy theo ngữ cảnh. 1. Tinh thần (Spirit - thuộc phạm vi
Mind/Mental). Phạm vi: Dưới tầng 500 (Đặc biệt là các tầng 400 - Lý trí). Bản
chất: Liên quan đến tư duy, thái độ, ý chí cá nhân. Nó vẫn nằm trong sự cưỡng
ép của "Lực" hoặc sự nỗ lực của bản ngã. Ví dụ: Tinh thần trách nhiệm,
tinh thần cầu tiến. Đây là cách tâm trí vận hành để định hướng cuộc sống. 2.
Tâm linh (Spirituality/Spiritual Dimension). Phạm vi: Từ tầng 500 trở lên (Tình
yêu vô điều kiện, Sự minh triết). Bản chất: Là một chiều kích thực tại phi tuyến
tính. Khi chúng ta nói về “Đời sống tâm linh”, chúng ta đang nói về sự kết nối
với cái Toàn thể (Oneness), nơi Power bắt đầu thay thế cho Force. 3. Tánh linh
(Spirit - thuộc phạm vi Essence/Beingness). Phạm vi: Trạng thái phi hình tướng,
các tầng cực cao hoặc trải nghiệm thực chứng trực tiếp. Bản chất: Là Bản thể gốc,
cái thực thể thuần khiết thoát ly khỏi sự định nghĩa của thân xác và tâm trí. Ứng
dụng: Dùng khi mô tả Spirit như một "chủ thể" phi vật chất (như khi
Hawkins đi xuyên tường). Nó không phải là một "thái độ" (Tinh thần),
cũng không chỉ là một "chiều kích" (Tâm linh), mà chính là Cái Tôi
chân thực đang trải nghiệm sự tự do.
[xx] Behavioral kinesiology là phương pháp sử dụng phản ứng cơ thể—đặc biệt
là sức mạnh hoặc sự suy yếu của cơ bắp—như một chỉ báo cho trạng thái ý thức, cảm
xúc, hoặc tính chân thật của một phát biểu. Khác với kinesiology truyền thống
(vận động học trong y học thể thao), behavioral kinesiology tập trung vào mối
liên hệ giữa tâm thức và sinh lý học. Theo cách trình bày của Hawkins: Khi con
người tiếp xúc với chân lý, cơ thể có xu hướng mạnh lên (strong response). Khi
tiếp xúc với sai lệch hoặc tiêu cực, cơ thể có xu hướng yếu đi (weak response).
Phản ứng này không được coi là ý chí cá nhân, mà là phản xạ tức thời của hệ thần
kinh thực vật trước các “trường ý thức” khác nhau. Trong các tác phẩm như Power vs. Force,
phương pháp này được dùng để: Nghiên cứu và xây dựng Bản đồ Tâm thức (Map of
Consciousness), Kiểm định tầng tâm thức của một người, một tư tưởng, hay một hệ
tư tưởng, Phân biệt giữa “Power” (sức mạnh đích thực) và “Force” (lực cưỡng
ép/bạo lực). Hawkins gọi đây là một dạng “công cụ nghiên cứu tâm thức”, không
phải niềm tin mù quáng hay suy đoán chủ quan.
[xxi] Database of Consciousness - Cơ sở dữ liệu của Tâm thức) có thể được giải
thích qua các khía cạnh cốt lõi sau:
1.
Bản chất là một Trường Năng lượng Phổ quát. CSDL Tâm thức không phải là một thực
thể vật lý mà là một trường năng lượng phổ quát, bao trùm tất cả, nằm ngoài thời
gian và có cấu trúc phi tuyến tính. Nó được ví như “ánh sáng của thế gian”, bắt
nguồn từ cái Phi Hiển Lộ (Unmanifest) để trở thành cái Hiển Lộ (Manifest).
2.
Kho lưu trữ thông tin vĩnh cửu. Đây là nơi lưu trữ toàn bộ dữ liệu về mọi suy
nghĩ, hành động và sự kiện đã từng xảy ra trong lịch sử nhân loại. CSDL này là
một trường năng lượng phi thời gian, nơi sự thật luôn hiện hữu và không bao giờ
bị mất.
3.
Khả năng truy cập và Hiệu chỉnh. Tính khách quan: Vì tâm trí con người về cơ bản
không có khả năng phân biệt thật giả, CSDL này đóng vai trò như một “chiếc la
bàn” hay một ngành khoa học lâm sàng về sự thật. Truy vấn dữ liệu: Thông qua kỹ
thuật kiểm tra cơ thể động học (kinesiology), con người có thể kết nối với trường
tâm thức này để hiệu chỉnh hay xác định tầng năng lượng/sự thật của bất kỳ đối
tượng nào.
4. Vai trò trong sự tiến
hóa tâm linh. CSDL Tâm thức chứa đựng cả những tầng ý thức dưới 200 (thuộc về
Force) và các tầng trên 200 (thuộc về Power). Bằng cách hiểu và truy cập vào
CSDL này, cá nhân có thể nhận diện các chướng ngại mang tính chủ quan để siêu
việt các tầng tâm thức thấp, hướng tới trạng thái Chứng ngộ.
Nói cách khác, nếu Vô thức
tập thể là “cái kho”, thì Database of Consciousness chính là toàn bộ nội dung dữ
liệu được tổ chức một cách logic trong cái kho đó, cho phép chúng ta tra cứu sự
thật về bản chất của vạn vật.
[xxii] Synchronicity - Tính đồng nhịp
hay đồng phương tương tính được Carl Jung định nghĩa là một “nguyên lý
liên hệ phi nhân quả” hay nguyên lý trùng ứng hoặc nguyên tắc kết nối phi nhân
quả còn được gọi là sự đồng hiện hay ngẫu nhiên có ý nghĩa là một khái niệm được
nhà tâm thần học Carl Jung, người sáng lập ra tâm lý học phân tích đề ra để mô
tả các sự kiện trùng hợp về mặt thời gian và dường như có liên quan có ý nghĩa,
nhưng lại thiếu mối liên hệ nhân quả có thể khám phá được. Đây chính là nguyên
lý về sự trùng hợp có ý nghĩa của hai hay nhiều sự kiện, trong đó không tồn tại
một mối liên hệ nhân quả nào giữa chúng.
[xxiii] Đoạn này nói đến một thí nghiệm rất nổi tiếng của nhà
sinh học Rupert Sheldrake về chú chó có tên là Jaytee.Video mà Hawkins nhắc tới
thường được biết đến với tên gọi: “Jaytee: A Dog Who Knew When His Owner Was
Coming Home” (Jaytee: Chú chó biết khi nào chủ mình đang về nhà).
[xxiv] Force – Bạo lực/Cưỡng bức là dạng năng lượng mang tính cưỡng chế, tách
biệt và kháng cự lại quy luật tự nhiên, dù biểu hiện ra bên ngoài thành hành động
hay diễn ra âm thầm bên trong tâm trí như là quá trình tự hủy hoại. Vì mang
tính cưỡng bức, Force luôn tạo ra phản lực, dẫn đến tiêu hao năng lượng và suy
yếu trong dài hạn. Bạo lực đại diện cho các tầng ý thức dưới 200.
[xxv] Power - Sức mạnh đích thực - là sức mạnh nội tại phát
sinh từ sự hòa hợp với Sự thật. Đại diện cho các tầng ý thức từ 200 trở lên.
Đây là nguồn năng lượng nội tại, phát sinh từ sự hòa hợp với các nguyên lý vĩnh
cửu và Sự thật. Sức mạnh đích thực có tính chất hợp nhất, nuôi dưỡng sự sống và
không tạo ra phản lực.
[xxvi] Chú giải các thuật ngữ về “Ngã” và Bản thể. Trong các tác phẩm của
David R. Hawkins, các thuật ngữ liên quan đến “self” được sử dụng với sắc thái
rất tinh tế. Để tránh nhầm lẫn giữa bản ngã tâm lý và Bản thể tuyệt đối, các từ
sau được hiểu và dịch như sau:
self (viết thường): Tự
ngã cá nhân – cảm nhận “tôi” ở mức tâm lý, bao gồm ký ức, vai trò, cá tính và
câu chuyện đời. Đây là cấu trúc nhân cách tương đối trong đời sống thường nhật.
ego: Bản ngã – cấu trúc
đồng nhất sai lầm với sự tách biệt, đặt nền tảng trên sợ hãi, kiểm soát và cảm
thức “tôi” riêng biệt. Ego không phải là bản thể thật của con người mà chỉ là một
cơ chế tâm lý hình thành trong ý thức nhị nguyên.
Self (viết hoa): Chân
Ngã / Đại Ngã – Bản thể tuyệt đối, phi cá nhân, nền tảng của mọi hiện hữu. Self
không phải là một “cái tôi” cao hơn hay tinh tế hơn, mà là Thực tại tự thân vượt
ngoài mọi cấu trúc tâm lý và giới hạn cá nhân. Self không sinh không diệt,
không bị ràng buộc bởi thân tâm, và không thuộc về riêng ai. Trong kinh nghiệm
Chứng ngộ, Self không còn được cảm nhận như “của tôi”, mà chính là Hiện Hữu thuần
túy.
True Self: Chân Ngã đích
thực – cách nhấn mạnh rằng Self ấy là bản thể thật, đối lập với bản ngã hư ảo
(ego). Thuật ngữ này không chỉ một “cái tôi tốt đẹp hơn”, mà chính là Self
(Chân Ngã tuyệt đối) được diễn đạt trong ngữ cảnh phân biệt với ngã giả. Về thực
tại, Self và True Self không phải hai thực thể khác nhau; chữ “true” chỉ nhằm
làm rõ sự phân biệt giữa bản thể và ảo tưởng về bản thể.
[xxvii] Soul (Linh hồn): Thực thể của sự tiến hóa. Khác với
Spirit (Tánh linh) vốn là bản thể tuyệt đối và bất biến, Soul trong hệ thống
Hawkins có thể hiểu là: "Bản hồ sơ" tiến hóa: Linh hồn là thực thể
mang theo các dấu vết của nghiệp, các bài học và tầng năng lượng từ kiếp này
sang kiếp khác. Tính cá nhân: Soul vẫn còn mang một chút "màu sắc" cá
nhân. Nó là cái "Tôi" đang đi trên hành trình trở về với cái Toàn thể.
Vị trí trên bản đồ: Soul là thứ trải nghiệm các Tầng Tâm thức. Khi ở tầng dưới
200, linh hồn bị vướng kẹt trong hệ lụy; khi trên 500, linh hồn bắt đầu hòa nhập
vào chiều kích Tâm linh. 2. Sự khác biệt giữa Soul (Linh hồn) và Spirit (Tánh
linh). Linh hồn là “chủ thể” của hành trình tiến hóa, còn mang tính riêng biệt
và nghiệp quả. Tánh linh là “Bản thể” tuyệt đối, phi hình tướng, vốn đã hoàn hảo
và không bao giờ bị tổn hại. Trong các trạng thái cực cao (tầng 700-1000),
Hawkins nói rằng ngay cả khái niệm “Linh hồn” (như một thực thể riêng biệt)
cũng biến mất, chỉ còn lại Tâm thức thuần khiết (Consciousness) hay Thần tính
(Divinity). Như vậy, ta có: Tinh thần (Mental/Spirit): Thái độ, ý chí của Tâm
trí (Dưới 500). Linh hồn (Soul): Thực thể tiến hóa, người lữ hành qua các kiếp.
Tâm linh (Spiritual): Chiều kích năng lượng cao, phi tuyến tính (Trên 500).
Tánh linh (Spirit/Essence): Bản thể gốc, cái “Biết” thuần khiết, phi hình tướng.
[xxviii] Self-Realization – Kiến chân tính, nhận ra bản chất thật
của mình là Chân Ngã (Self), vượt ngoài bản ngã cá nhân. Ở đây có sự chuyển dịch
căn bản trong đồng nhất tính, tuy nhiên có thể vẫn còn cảm nhận vi tế về “người
biết” hay “người chứng”. Enlightenment: trạng thái tan rã sâu rộng của bản ngã
và sự ổn định ngày càng vững chắc trong Nhận Biết phi cá nhân. Full
Enlightenment (Chứng ngộ viên mãn): sự ổn định hoàn toàn và không hồi chuyển
trong Chân Ngã; không còn trung tâm chủ thể riêng biệt, không còn “người chứng
ngộ”. Chỉ còn Hiện Hữu tự thân, bất biến và phi cá nhân.
[xxix] Full Enlightenment – Chứng ngộ viên mãn/Toàn giác. Trong văn mạch của
David R. Hawkins, Full Enlightenment không chỉ là một trải nghiệm tâm linh sâu
sắc hay một khoảnh khắc bừng sáng, mà là sự ổn định hoàn toàn và vĩnh viễn
trong Chân Ngã. Đây là trạng thái trong đó bản ngã cá nhân đã tan rã trọn vẹn,
không còn tái lập như một trung tâm đồng nhất riêng biệt. Full Enlightenment
không phải là sự gia tăng hiểu biết, cũng không phải đạt được năng lực đặc biệt,
mà là sự chấm dứt hoàn toàn ảo tưởng về tính tách biệt. Không còn “người chứng
ngộ”, mà chỉ còn Hiện Hữu tự thân. Trạng thái này không phụ thuộc vào cảm xúc, trải
nghiệm xuất thần hay hiện tượng tâm linh; nó là nền tảng tĩnh lặng, bất biến và
phi cá nhân của thực tại. Nếu Enlightenment có thể được hiểu như nhận ra Bản thể,
thì Full Enlightenment là sự an trụ không dao động trong sự nhận ra ấy — không
còn hồi chuyển về đồng nhất tính với bản ngã. Satori: một trải nghiệm đốn ngộ
có thể xảy ra bất chợt, như khoảnh khắc bừng sáng về bản chất thực tại. Tuy sâu
sắc, Satori có thể thoáng qua; sau đó cấu trúc bản ngã vẫn có thể tái lập.
[xxx] Đỉnh cao của tình yêu là Divine Union – nơi bản ngã tan biến, nhường chỗ
cho sự hợp nhất thiêng liêng giữa hai nguồn năng lượng Âm và Dương.
[xxxi] Self-resolution là hành trình tự hóa giải những rào cản nội tâm, để bản
thể thực sự được hiển lộ trọn vẹn nhất Để đạt đến đỉnh cao của tình yêu là
Divine Union, mỗi chúng ta đều phải đi qua cánh cửa của Self-resolution. Đó là
lúc ta dũng cảm đối diện với những tổn thương, tháo gỡ những nút thắt của bản
ngã và tìm thấy sự trọn vẹn trong chính mình. Khi sự “tự hóa giải” đã hoàn tất,
sự “hợp nhất” sẽ tự khắc diễn ra như một lẽ tự nhiên của vũ trụ..
[xxxii] Reason -Lý trí. Nhấn mạnh vào khả năng tư duy khách
quan, logic và hệ thống.
[xxxiii] Paradigm dịch là “hệ hình” có nghĩa là: Một khung nhận
thức nền tảng – một mô hình tư duy bao trùm – quy định cách ta nhìn, hiểu và giải
thích thế giới. Khái niệm paradigm trở nên nổi tiếng nhờ cuốn sách The
Structure of Scientific Revolutions của Kuhn. Trong đó, Kuhn dùng
“paradigm” để chỉ: Một hệ thống giả định nền tảng, phương pháp, giá trị, và mô
hình mẫu được cộng đồng khoa học chấp nhận trong một thời kỳ – và chính nó quy
định cái gì được xem là “khoa học”, cái gì là “sự thật”, và cách giải thích dữ
liệu.
No comments:
Post a Comment