July 10, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (15)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 14 

GIẢM CĂNG THẲNG VÀ BỆNH TẬT 

Các khía cạnh tâm lý và khả năng dễ bị căng thẳng

Mặc dù trạng thái an bình là có đó cho tất cả chúng ta, nhưng rất ít người vươn tới được trạng thái này. Trải nghiệm nội tâm của hầu hết mọi người đều là căng thẳng liên tục. Trong xã hội của chúng ta, hầu hết những căng thẳng dẫn đến rối loạn cảm xúc và thể chất đều xuất phát từ tâm lý. Phản ứng của chúng ta đối với căng thẳng phụ thuộc vào “khả năng dễ bị căng thẳng” của chúng ta, và, như chúng tôi đã chỉ ra, đây là kết quả trực tiếp của lượng cảm thọ bị kìm nén và đè nén mà chúng ta đã tích lũy được. Càng giải tỏa và buông bỏ được nhiều áp lực cảm thọ, chúng ta càng ít bị tổn thương bởi phản ứng với căng thẳng và các bệnh liên quan đến căng thẳng.  

Đối với đa số chúng ta, căng thẳng chính trong hầu như toàn bộ thời gian không phải do các tác nhân kích thích bên ngoài, mà là do áp lực của chính những cảm xúc bị kìm nén của chúng ta. Những cảm xúc bị kìm nén này trở thành tác nhân gây căng thẳng chính, do đó, ngay cả trong khi môi trường bên ngoài yên tĩnh, chúng ta vẫn tiếp tục bị căng thẳng nội tâm mãn tính.

Chúng ta có thể thấy rằng các yếu tố gây căng thẳng bên ngoài chỉ là những giọt nước làm tràn ly. Gánh nặng căng thẳng chính là những thứ chúng ta mang theo bên mình, mọi lúc, mọi nơi. Quá trình lập trình tâm lý trong xã hội của chúng ta rộng lớn đến mức, đối với hầu hết mọi người, ngay cả việc thư giãn và tận hưởng kỳ nghỉ cũng là vấn đề. (Mặc cảm tội lỗi nói rằng chúng ta “nên” làm điều gì đó khác.) Thất vọng khi thư giãn không xảy ra ngay lập tức. Chúng ta cảm thấy bồn chồn và theo đuổi không ngừng các hoạt động “vui vẻ” để tránh đau đớn khi đối mặt với tự ngã bên trong cùa mình. Hầu hết các giám đốc điều hành bận rộn bắt đầu thầm mong được quay lại làm việc trong khi họ đang đi nghỉ. Bên ngoài, họ có thể than phiền về khối lượng công việc nặng nề, nhưng khi trở lại với thói quen quen thuộc, một lần nữa, họ lại cảm thấy bình thường.

Ảnh hưởng của những cảm thọ bị kìm nén và đè nén cộng với các yếu tố gây căng thẳng là nguyên nhân gây ra hầu hết các bệnh về thể chất và tinh thần. Có thành phần tâm lý-cảm xúc trong tất cả các bệnh tật này và vì thế, có thể đảo ngược quá trình bệnh tật bằng cách loại bỏ các yếu tố gây căng thẳng ở bên trong. Đấy là lý do làm cho nhiều trường hợp hồi phục, được báo cáo mỗi ngày, từ những căn bệnh nghiêm trọng và có khả năng làm chết người nhờ sử dụng các kỹ thuật tâm linh-cảm xúc. Nhiều trường hợp được chữa khỏi sau khi tất cả các phương pháp chữa trị y khoa đều đã thất bại. Một trong những lý do là, ở giai đoạn “không còn có thể làm gì được nữa”, bệnh nhân từ bỏ, và họ tìm kiếm và chấp nhận bản chất và nguyên nhân cơ bản thực sự của bệnh tật.

Thừa nhận và buông bỏ những cảm thọ bị kìm nén, từng bước một làm giảm khả năng dễ bị căng thẳng của một người, do đó làm giảm khả năng dễ bị tổn thương trước các vấn đề và bệnh tật liên quan đến căng thẳng. Hầu hết những người học và thực hành kỹ thuật buông bỏ đều nhận thấy sự cải thiện từng bước một về sức khỏe thể chất và sức sống. 

Các khía cạnh y học của căng thẳng

Căng thẳng là phản ứng của chúng ta đối với đe dọa mà chúng ta nhận thức được (có thật hoặc tưởng tượng) đối với tình trạng an toàn hay sự cân bằng của cơ thể. Tác nhân kích thích có thể là bên trong hoặc bên ngoài. Có thể là về thể chất, tâm trí hay cảm xúc. Tiến sĩ Hans Selye và Tiến sĩ Walter Cannon đã tiến hành các công trình nghiên cứu cơ bản về phản ứng vật lý của cơ thể đối với căng thẳng. Selye mô tả cái mà ông gọi là “hội chứng thích nghi chung”. Phản ứng trước một tác nhân kích thích gây căng thẳng, trước hết, cơ thể sẽ phản ứng báo động, sau đó là giai đoạn kháng cự, nếu tác nhân kích thích tiếp tục, nó có thể dẫn đến giai đoạn thứ ba là hội chứng kiệt sức.

Phản ứng báo động xảy ra thông qua lộ trình: Vỏ não Vùng dưới đồi (não hạ khâu) Tuyến thượng thận Dòng máu (Cortisol[i] và Adrenalin[ii]). Ngoài ra, còn có giải phóng các hormone não và kích thích hệ thần kinh giao cảm của cơ thể. Sau đó, adrenalin đi đến tất cả các cơ quan trong cơ thể và chuẩn bị cho chúng phản ứng chiến đấu hoặc bỏ chạy. Nhiều người, đặc biệt là ở các thành phố lớn, học cách sống dựa vào cảm giác hưng phấn do adrenaline mang lại qua những thử thách liên tục. Đe dọa đến sống còn là do cạnh tranh khốc liệt làm cho adrenaline luôn được duy trì. Cuối tuần hoặc trong các kỳ nghỉ họ thường cảm thấy chán nản. Họ nghiện phấn khích và kích thích bất thường. Họ quen với hưng phấn nhẹ do nồng độ cortisol cao tạo ra.

Giai đoạn thứ hai, kháng cự, là nỗ lực của cơ thể để khôi phục lại cân bằng nội môi - liên quan đến những thay đổi về hormone và sự dịch chuyển trong quá trình trao đổi chất và cân bằng khoáng chất. Thường thì có natri cùng với hiện tượng giữ nước trong các mô. Ví dụ, mắt cá chân của một số giám đốc điều hành sưng to dần, rồi đến tối thứ Sáu, thì đi tiểu nhiều lần. Họ phàn nàn rằng yếu đi do nồng độ hormone cortisol giảm đột ngột. Ngoài tác dụng gây hưng phấn, cortisol còn gây tê; do đó, trong giai đoạn giảm cortisol, những người đi nghỉ trong dịp cuối tuần có thể nhận thấy các triệu chứng về thể chất mà họ đã bỏ qua trong những ngày làm việc căng thẳng, và họ có thể phàn nàn về nhiều cơn đau nhức trong những ngày cuối tuần nhưng trong những ngày làm việc thì không bị.

Giai đoạn thứ ba là kiệt sức. Nếu căng thẳng tiếp tục không giảm, vượt quá khả năng của các cơ chế đối phó trong cơ thể, cuối cùng chúng sẽ bắt đầu đổ vỡ. Tình trạng kiệt quệ tuyến thượng thận bắt đầu xuất hiện. Hệ thống phòng vệ của cơ thể đã trở nên quá yếu, không thể chống lại tác động của căng thẳng. Hệ thống miễn dịch bị ức chế. Các cơ quan bắt đầu có những thay đổi bệnh lý do tiếp xúc lâu dài với các hormone gây căng thẳng. Nguồn năng lượng dự trữ của cơ thể bị cạn kiệt, dẫn đến bệnh tật và cuối cùng là chết.

Trong phản ứng báo động cấp tính, nhu động dạ dày tạm dừng, quá trình tiêu hóa đình trệ và lượng máu cung cấp cho niêm mạc dạ dày giảm xuống. Khi căng thẳng tiếp tục kéo dài, do sự mất cân bằng của hệ thần kinh và những thay đổi về nội tiết tố, tình trạng tăng tiết axit và sản sinh quá mức các enzyme tiêu hóa sẽ xảy ra. Các enzyme tiêu hóa và axit hydrochloric tăng cao này tác động lên lớp niêm mạc dạ dày-ruột vốn đã bị suy yếu, dẫn đến loét và tạo ra các vết loét do căng thẳng. Nếu căng thẳng tiếp tục, các vết loét có thể bị xuất huyết hoặc thủng, gây ra những thảm họa y tế. Trong các trường hợp khác, phản ứng với căng thẳng bất thường và mãn tính có thể là sự đình trệ sản sinh axit hydrochloric hoặc enzyme, dẫn đến chứng khó tiêu mãn tính và suy dinh dưỡng.

Ngoài đường tiêu hóa, hệ tim mạch cũng phản ứng với căng thẳng bằng phản ứng báo động. Khi căng thẳng trở thành mãn tính, tim, mạch máu và thận có thể bị tổn thương dẫn đến tăng huyết áp và/hoặc bệnh mạch vành. Cuối cùng, căng thẳng là nguyên nhân gây ra đột quỵ, đau tim và tăng huyết áp, tất cả đều là những nguyên nhân chính gây tử vong ở Mỹ. 

Phản ứng của hệ thống năng lượng đối với căng thẳng và kinh mạch

Cơ thể có ba hệ thống thần kinh: 1) Mạng lưới thần kinh tự chủ, chịu sự kiểm soát của tâm trí hữu thức và phân phối chủ yếu đến các cơ tự chủ; 2) hệ thống thần kinh không tự chủ hoặc hệ thống thần kinh thực vật (giao cảm và phó giao cảm), thường hoạt động theo lối vô thức và kiểm soát các cơ quan và chức năng sinh lý của cơ thể, chẳng hạn như nhịp tim, lưu lượng máu và phân phối máu, tiêu hóa và các phản ứng hóa học của cơ thể; 3) hệ thống kinh mạch, truyền năng lượng sinh học đến tất cả các cấu trúc và các cơ quan nội tạng của cơ thể. Trong y học phương Tây người ta ít biết tới hệ thống thứ ba này, nhưng y học và xã hội phương Đông đã hiểu rõ từ lâu.

Trong hệ thống kinh mạch, có một dòng chảy của các năng lượng sống (vitals energies thường gọi là Khí) xuyên suốt cơ thể vật lý thông qua một bản thiết kế năng lượng (energy blueprint) không nhìn thấy được của cơ thể. Hệ thống năng lượng này được mô tả là có 12 kênh chính nằm trên bề mặt cơ thể vật lý, chạy dọc theo 12 đường kinh mạch chính. Từ những kênh này, có nhiều nhánh dẫn vào các hệ thống cơ quan khác nhau của cơ thể. Sự phân bổ năng lượng bất thường vào các kinh mạch dẫn đến rối loạn chức năng của các cơ quan bị ảnh hưởng và cuối cùng là bệnh tật phát triển.

Năng lượng sinh học thiết yếu này chính là dòng chảy của sự sống. Nó phản ứng cực kỳ nhanh với căng thẳng. Năng lượng sinh học này phản ứng tức thì, đấy là do các yếu tố biến động trong cuộc sống của chúng ta - những thay đổi trong tri giác, suy nghĩ và cảm thọ của chúng ta. Phương pháp đo lường thông thường các phản ứng của cơ thể diễn ra tương đối chậm. Một suy nghĩ thoáng qua, có thể kèm theo nỗi đau cảm xúc, không tạo ra thay đổi có thể đo lường được trong huyết áp hoặc mạch đập của cơ thể; tuy nhiên, nó ngay lập tức được ghi nhận trong hệ thống năng lượng sinh học, nhiều thay đổi ở đây có thề được quan sát một cách nhanh chóng bằng các phương pháp khoa học, tâm linh và lâm sàng.       

Cân bằng tổng thể của hệ thống kinh mạch của cơ thể được điều chỉnh bởi hoạt động của tuyến ức. Hệ thống năng lượng sinh học liên hệ mật thiết với hệ thống miễn dịch của cơ thể thông qua tuyến ức. Căng thẳng mãn tính làm suy yếu hệ miễn dịch của cơ thể, ức chế tuyến ức và làm mất cân bằng hệ thống năng lượng sinh học. Tăng cường tuyến ức hoặc bổ sung dưỡng chất cho tuyến ức sẽ giúp cân bằng lại hệ thống năng lượng sinh học. Giải thích chi tiết về vấn đề này được trình bày trong các cuốn sách Behavioral Kinesiology (Cơ thể động học hành vi) và Life Energy (Năng lượng sống) của Tiến sĩ John Diamond. 

Các biện pháp can thiệp để giảm căng thẳng

Công trình nghiên cứu tại U.C.L.A. do Liebeskind và Shavit thực hiện trong những năm 1980 đã làm rõ hơn quan hệ giữa căng thẳng, ức chế hệ miễn dịch và phát triển của bệnh ung thư bằng cách chứng minh tác động của căng thẳng gián đoạn đối với quá trình giải phóng các chất opioids trong não, gọi là endorphin[iii]. Căng thẳng dưới dạng những cú sốc gián đoạn ức chế hệ miễn dịch. Khi phản ứng miễn dịch mạnh, endorphin trong não được giải phóng, được gọi là các tế bào “sát thủ” chống ung thư, tấn công và tiêu diệt các tế bào khối u non đang phát triển. Nhưng khi hoạt động miễn dịch bị ức chế và endorphin giảm, hoạt động của các tế bào “sát thủ” chống ung thư cũng giảm đi.

Báo cáo trên tạp chí Science (223: 188–190) nêu rõ: “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng hệ thần kinh trung ương, bằng cách điều chỉnh chức năng miễn dịch, thực hiện một số biện pháp kiểm soát quá trình khởi phát và phát triển của bệnh.” Báo cáo tiếp tục cho biết cảm thọ bất lực có liên quan đến việc giảm hoạt động của tế bào diệt ung thư và tăng trưởng khối u. Trầm cảm ở động vật cũng như con người làm giảm phản ứng miễn dịch, và cảm giác bất lực này liên quan đến mức độ kiểm soát mà người và động vật cảm thấy mình có đối với các sự kiện gây căng thẳng. Những phát hiện này giúp giải thích vì sao trầm cảm và cảm thọ bất lực lại liên quan đến ung thư. Nghiên cứu sâu hơn xác nhận rằng phản ứng căng thẳng được coi là điều kiện tiên quyết chính cho bệnh tật ở động vật và con người (Sapolsky, 2010).

Tác động tổng thể của căng thẳng lên hệ miễn dịch dẫn đến việc ngăn chặn hệ thống miễn dịch của cơ thể do sự sản sinh các tự kháng thể (autoantibodies[iv]). Nếu các tự kháng thể này bị ngăn chặn, thì chức năng miễn dịch sẽ hoạt động trở lại. Do đó, có thể đảo ngược việc ngăn chặn hệ thống miễn dịch. Ví dụ, nghiên cứu được thực hiện tại Viện Pasteur ở Paris đã giúp sản xuất loại huyết thanh gọi là Bogomoletz, khi được tiêm vào da, sẽ kích hoạt lại hệ thống miễn dịch. Phương pháp điều trị này được gọi là phương pháp IBR (Immuno-Biologic-Rejuvenation - Trẻ hóa sinh học miễn dịch). Một lượng nhỏ huyết thanh được tiêm vào da trong ba ngày liên tiếp, kết quả là kích hoạt ngay lập tức hệ thống miễn dịch.

Người ta cũng thấy việc kích hoạt các phản ứng có lợi cho sức khỏe của cơ thể trong các biện pháp can thiệp phi y tế, chẳng hạn như tương quan giữa thực hành thiền định với giảm căng thẳng và trầm cảm. Ví dụ, công trình nghiên cứu được thực hiện trên các sinh viên đại học cho thấy thiền định dẫn đến giảm phản ứng viêm do căng thẳng - liên quan đến giảm chứng trầm cảm ở các sinh viên này. Nghiên cứu cũng cho thấy những sinh viên tham gia đều đặn trong khóa huấn luyện thiền định kéo dài sáu tuần đã cải thiện được chức năng của hệ thống miễn dịch. Các sinh viên trong nhóm đối chứng, chỉ nhận được thông tin mang tính giáo dục về căng thẳng mà không được hướng dẫn kỹ thuật, có rất ít hoặc không có cải thiện về thể chất hoặc tâm lý (Pace và cộng sự, 2009).

Các công trình nghiên cứu chưa được công bố trong những năm 1980, mà tôi từng là cố vấn về mặt lâm sàng, chứng tỏ kỹ thuật nội tâm hiệu quả hơn so với các phương pháp giảm căng thẳng thuần túy y học. Các phương pháp y học như thư giãn từng bước một có tác dụng tích cực; tuy nhiên, tác dụng cải thiện nhịp tim và huyết áp sẽ lớn hơn và bền vững hơn nếu các cơ chế nội tâm được áp dụng một cách hữu thức.

Những kết quả khoa học này sẽ không làm cho những người đã học cách sử dụng các kỹ thuật nội tâm như kỹ thuật buông bỏ - buông bỏ nội tâm có thể áp dụng cho mọi tình huống – cảm thấy ngạc nhiên. Họ cho biết rằng mình có khả năng xử lý căng thẳng tốt hơn vì họ bình tĩnh hơn trong những tình huống khó khăn sau khi học cách buông bỏ những cảm thọ tiêu cực ngay khi chúng vừa sinh khởi. 

Kiểm tra cơ thể động học

Kiểm tra cơ thể động học hay kiểm tra cơ bắp là một môn học bổ ích trong việc nghiên cứu quan hệ trực tiếp giữa tâm trí và cơ thể. Quy trình kiểm tra cơ bản hiện nay khá phổ biến, nó cung cấp nhiều thông tin hữu ích mà lại dễ học. Những người chẩn đoán sử dụng phương pháp kiểm tra cơ thể động học để kiểm tra sự cân bằng của hệ thống kinh lạc, các kinh mạch và chức năng tổng thể của hệ thống năng lượng sinh học của cơ thể.

Kiểm tra cơ thể động học chủ yếu liên quan đến kiểm tra cơ bắp, vì sự sụt giảm đột ngột về năng lượng sinh học được biểu hiện bằng sự suy yếu nhanh chóng của cơ bắp. Phản ứng này có thể được gây ra bởi bất kỳ năng lượng tiêu cực nào xuất hiện trong phạm vi (vùng lân cận) của hệ thống năng lượng sinh học. Tác nhân kích thích có thể là vật lý, chẳng hạn như đường hoá học, đèn huỳnh quang, thực phẩm và vải tổng hợp, và một số nhịp điệu do các nhóm nhạc heavy metal hoặc rap tạo ra. Tuy nhiên, tác nhân kích thích đáng chú ý nhất đối với chúng ta là hiệu ứng làm suy yếu tức thì của một suy nghĩ hoặc cảm thọ tiêu cực. Suy nghĩ hoặc cảm thọ tiêu cực ngay lập tức làm suy yếu cơ thể và tạo ra mất cân bằng trong dòng chảy năng lượng của cơ thể.

Vì phương pháp kiểm tra cơ bắp này minh họa một cách tuyệt vời và sinh động liên hệ giữa tâm trí và cơ thể, nên việc tìm hiểu quy trình và trải nghiệm nó theo lối cá nhân là rất có giá trị; do đó, chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết về quy trình kiểm tra - cực kỳ đơn giản và chỉ cần hai người. Quan trọng cần lưu ý là cả người kiểm tra và người được kiểm tra đều phải có tầng tâm thức trên Can đảm (điểm chỉnh 200) để có phản hồi chính xác từ quy trình kiểm tra (xem Phụ lục B); nghĩa là, những người tận tâm với sự thật sẽ biết sự thật. 

Kỹ thuật kiểm tra cơ thể động học

Người được kiểm tra đứng thẳng, một tay duỗi thẳng sang bên và giơ lên ​​ngang vai. Người thứ hai đóng vai người kiểm tra. Người kiểm tra dùng hai ngón tay ấn nhanh trong vài giây vào phía sau cổ tay của người được kiểm tra để cảm nhận sức mạnh của cơ bắp. Đồng thời khi ấn xuống, người kiểm tra còn yêu cầu người được kiểm tra chống lại bằng toàn bộ sức lực của mình. Quan trọng là người kiểm tra không cười với người được kiểm tra, và không nói chuyện hay nghe nhạc. Tốt nhất là để người được kiểm tra nhìn vào vật trung tính như một bức tường trống hoặc nhắm mắt lại. Sau vài lần thử, người kiểm tra sẽ cảm nhận được sức mạnh cơ bắp của người được kiểm tra.

Để minh họa, chỉ cần yêu cầu người được kiểm tra nghĩ về một tình huống khó chịu về mặt cảm xúc hoặc nhớ đến người mà mình cảm thấy khó chịu. Trong khi người được kiểm tra lưu giữ suy nghĩ khó chịu ở trong đầu, người kiểm tra ấn xuống trong vài giây để kiểm tra sức mạnh của cánh tay người được kiểm tra, cánh tay vẫn đang được giữ thẳng nằm ngang. Đồng thời, người được kiểm tra chống cự với toàn bộ sức lực. Sẽ nhận thấy sự suy yếu đột ngột của cơ delta; khi kiểm tra, sẽ cho thấy mất đi khoảng 50% sức mạnh cơ bắp.

Bây giờ hãy yêu cầu người được kiểm tra nghĩ về người mà anh ta yêu thương và kiểm tra lại. Anh ta sẽ sẽ trở nên mạnh mẽ ngay lập tức. Đây là hiện tượng rất ấn tượng và vô cùng quý giá. Việc kiểm tra có thể được lặp lại với nhiều thứ tiêu cực khác nhau được người được kiểm tra cầm ở tay kia, ở trong miệng, hoặc đặt trên đỉnh đầu hoặc vùng rối dương. Để làm như thế, yêu cầu người được kiểm tra nhìn vào đèn huỳnh quang hoặc quảng cáo trên truyền hình trong khi kiểm tra, hoặc kiểm tra sự khác biệt giữa tác động của nhạc cổ điển so với nhạc heavy metal hoặc nhạc rap; bánh mì tự làm so với bánh mì làm bằng máy; đường so với mật ong; vải tổng hợp so với vải bông, len hoặc lụa; đồ ăn vặt so với thực phẩm hữu cơ tốt cho sức khỏe; vitamin C tổng hợp so với vitamin C hữu cơ từ quả tầm xuân. Có thể thực hiện thêm các xét nghiệm để kiểm tra phản ứng của từng cá nhân với nước ngọt dùng cho ăn kiêng, thuốc lá, xà phòng, thức ăn yêu thích và các vật dụng khác mà chúng ta thường xuyên tiếp xúc.

Khi kiểm tra các vật dụng khác nhau và tác động của suy nghĩ và cảm xúc, sẽ nhanh chóng nhận thấy rõ rằng mọi thứ trong vũ trụ đều có rung động và rung động đó có tác dụng làm cho người ta mạnh lên hoặc yếu đi. Ví dụ, để chứng minh tác dụng làm yếu đi của thực phẩm mang năng lượng tiêu cực như đường hoá học, không cần thiết phải cho thức ăn vào miệng. Nó sẽ làm người ta yếu đi nếu đặt trên tay kia hoặc trên đỉnh đầu.

Khi sử dụng cơ chế buông bỏ và giải phóng cảm thọ tiêu cực, kiểm tra cơ bắp mà chúng ta đã mô tả sẽ thay đổi từ yếu sang mạnh. Khi những suy nghĩ hoặc hệ thống niềm tin tiêu cực được buông bỏ, chúng không còn sức mạnh để làm cạn kiệt năng lượng của chúng ta nữa.

Đây là quy luật cơ bản của tâm thức: Chúng ta chỉ bị chi phối bởi những gì chúng ta lưu giữ  trong tâm trí. Cơ thể sẽ phản ứng với những gì chúng ta tin tưởng. Nếu chúng ta tin rằng một chất nào đó có hại cho mình, thì thường cơ thể sẽ phản ứng yếu khi kiểm tra bằng phương pháp kiểm tra cơ bắp. Cùng một chất đó lại có thể làm cho người khác - tin rằng nó tốt cho họ - trở thành mạnh mẽ. Do đó, những thứ làm cho chúng ta căng thẳng chủ yếu mang tính chủ quan. Phương pháp kiểm tra cơ bắp phản hồi với các hệ thống niềm tin, cả vô thức lẫn hữu thức. Quá trình kiểm tra thường tiết lộ rằng, một người vô thức cảm nhận hoặc tin tưởng điều ngược lại với những gì họ nghĩ rằng họ tin tưởng một cách có ý thức. Ví dụ, một người có thể tin một cách hữu thức rằng họ muốn được chữa lành, nhưng trong vô thức lại đang bám chấp vào những phần thưởng của bệnh tật. Một bài kiểm tra cơ đơn giản sẽ tiết lộ sự thật của vấn đề. 

Liên hệ giữa tâm thức, căng thẳng và bệnh tật

Như chúng ta đã thấy, khả năng dễ bị căng thẳng và khả năng dễ bị tổn thương có liên quan trực tiếp đến hoạt động cảm xúc chung của chúng ta. Càng ở vị trí cao hơn trên thang đo tâm thức, chúng ta càng ít đáp trả bằng những phản ứng căng thẳng. Có thể lấy một tình huống đơn giản trong cuộc sống hàng ngày để minh họa sự khác biệt trong phản ứng.

Ví dụ, vừa đỗ xe và ngay khi vừa bước ra, chiếc xe phía trước lùi vào xe chúng ta cùng với tiếng động mạnh. Cản trước và phần trước của chắn bùn xe của ta bị móp. Đây là điều mà các tầng tâm thức khác nhau có thể nói:

Nhục nhã: “Thật xấu hổ. Mình lái xe tệ quá. Mình thậm chí không biết đỗ xe. Mình sẽ chẳng bao giờ làm nên trò trống gì.”

Mặc cảm tội lỗi: “Mình đáng bị như vậy. Mình thật ngu ngốc! Mình đáng lẽ phải đỗ xe cẩn thận hơn.”

Thờ ơ: “Có ích gì chứ? Chuyện như thế này lúc nào cũng xảy ra với mình. Chắc chắn mình cũng sẽ không được bảo hiểm bồi thường đâu. Nói chuyện với gã đó cũng chẳng ích gì. Hắn ta sẽ kiện mình mất thôi. Cuộc đời thật tệ hại.”

U sầu: “Giờ thì xe hỏng rồi. Sẽ không bao giờ sửa được như cũ nữa. Cuộc đời thật đáng nản. Chắc chắn sẽ mất một khoản tiền lớn vì chuyện này.”

Sợ hãi: “Thằng đó chắc đang rất tức giận. Có lẽ hắn ta sẽ đánh mình. Mình sợ phải cãi nhau với hắn ta. Chắc hắn ta sẽ kiện. Chắc là mình sẽ không bao giờ sửa được xe nữa. Thợ sửa xe lúc nào cũng chặt chém. Công ty bảo hiểm chắc sẽ thoát, và mình sẽ là người gánh chịu hậu quả.”

Ham muốn: “Có thể kiếm được một khoản lớn từ vụ này. Mình nghĩ sẽ ôm cổ và giả vờ bị chấn thương ở cổ. Anh rể mình là luật sư. Chúng ta sẽ kiện cho đến khi thằng ngốc này cháy túi. Mình sẽ được khoản bồi thường cao nhất và sửa chữa ở chỗ rẻ hơn.”

Tức giận: “Thằng ngu! Mình sẽ dạy cho hắn một bài học. Hắn đáng bị đấm vào mũi. Mình sẽ kiện cho đến khi hắn cháy túi và làm cho hắn phải chịu đau khổ. Máu mình đang sôi lên đây. Mình run lên vì tức giận. Mình có thể giết chết thằng khốn nạn này!”

Kiêu hãnh: “Nhìn đường mà đi chứ, đồ ngốc! Trời ơi! Thế giới này đầy rẫy những thằng ngốc vụng về! Sao hắn dám làm hỏng chiếc xe mới của mình! Hắn nghĩ hắn là ai chứ? Chắc hắn mua bảo hiểm rẻ tiền; lạy Chúa, bảo hiểm của mình là cao nhất.”

Can đảm: “Ồ, thôi được rồi, cả hai chúng ta đều có bảo hiểm. Mình sẽ ghi lại số xe và xử lý ổn thỏa thôi. Chỉ phiền chút thôi, nhưng mình có thể xử lý được. Mình sẽ nói chuyện với người lái xe và giải quyết bên ngoài tòa án.”

Trung dung: “Những chuyện như thế này vẫn thường xảy ra. Không thể lái xe 20.000 dặm một năm mà không thỉnh thoảng gặp phải va chạm nhỏ.”

Sẵn sàng: “Làm sao mình có thể giúp anh ta bình tĩnh? Anh ta không cần phải cảm thấy khó chịu về chuyện này. Chúng ta chỉ cần trao đổi thông tin bảo hiểm là được và làm lành với nhau.”

Chấp nhận: “May là không việc gì. Ít nhất thì không có ai bị thương. Chỉ mất tiền thôi. Công ty bảo hiểm sẽ lo. Mình nghĩ rằng anh ta khó chịu. Đương nhiên rồi. Không thể tránh khỏi. Lạy Chúa, vì mình không phải là người điều hành vũ trụ này. Chỉ phiền chút thôi.”

Lý trí: “Thực tế một chút đi. Mình muốn giải quyết vấn đề này càng nhanh càng tốt để có thể tiếp tục công việc. Biện pháp hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề của chúng ta là gì?”

Yêu thương: “Hy vọng anh ta không cảm thấy khó chịu. Mình sẽ trấn an anh ta. (Nói với người lái xe kia), ‘Bình tĩnh đi. Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Cả hai chúng ta đều có bảo hiểm. Tôi hiểu mà. Chuyện tương tự cũng từng xảy ra với tôi. Chỉ là một vết lõm nhỏ và chúng ta sẽ sửa xong ngay trong ngày hôm nay thôi. Đừng lo lắng – chúng ta sẽ không báo cáo nếu anh không muốn. Chúng ta có thể khấu trừ khoản đó và tránh tăng phí bảo hiểm. Không có gì phải khó chịu hết.’” (Trấn an người lái xe đang khó chịu, đặt tay lên vai anh ta như một sự đồng cảm.)

An bình: “Vâng, may quá! Tôi cũng định sửa tiếng kêu lạch cạch ở cản trước, còn cái chắn bùn đã bị lõm một chút rồi. Vậy là giờ tôi sẽ được sửa miễn phí. ‘Này, anh có phải là anh rể của George không? Anh chính là người tôi muốn gặp. Tôi có một số thứ cần giúp đỡ.’” “Một cơ hội kinh doanh tuyệt vời mà tôi nghĩ anh có thể đảm nhiệm giúp tôi. Cả hai chúng ta sẽ cùng có lợi. Anh trông có vẻ là người phù hợp để nghiên cứu vấn đề này cho chúng tôi. Uống cà phê và bàn bạc thêm nhé? Nhân tiện, đây là thẻ bảo hiểm của tôi. Này, cùng công ty với anh đấy. Thật là trùng hợp. Mọi chuyện đang diễn ra tốt đẹp. Không vấn đề gì.” (Vừa đi vừa nói với người bạn mới, không còn ai nghĩ tới vụ tai nạn nữa.)

Những phản ứng bên trên minh họa cho những gì chúng ta đã nói. Chính chúng ta tự tạo ra phản ứng căng thẳng, đấy là kết quả của những thứ chúng ta đang kìm nén ở bên trong. Những cảm thọ bị kìm nén quyết định hệ thống niềm tin và tri giác của chúng ta về chính mình và người khác. Đến lượt mình, chúng tạo ra các sự kiện và biến cố trên thế giới - mà sau đó chúng ta lại đổ lỗi cho những phản ứng của mình. Đây là hệ thống vọng tưởng tự củng cố chính nó. Đây là cái mà các giác giả ngụ ý khi nói: “Tất cả chúng ta đều đang sống trong vọng tưởng.” Tất cả những gì chúng ta trải nghiệm đều là những suy nghĩ, cảm thọ và niềm tin của chính chúng ta được phóng chiếu lên thế gian, chúng là nguyên nhân thực sự tạo ra những sự kiện mà chúng ta thấy.

Hầu hết mọi người, một lúc nào đó, đều đã trải nghiệm tất cả các tầng tâm thức khác nhau, nhưng nói chung, chúng ta có xu hướng hoạt động chủ yếu ở một tầng nào đó trong một giai đoạn khá dài. Hầu hết mọi người đều bận bịu với việc sinh tồn dưới tất cả những hình thức tinh tế của nó, và vì vậy họ chủ yếu thể hiện sợ hãi, tức giận và ham muốn tranh giành lợi ích. Họ chưa học được rằng yêu thương là công cụ sinh tồn mạnh mẽ nhất.

Thú vị là, như chúng tôi đã nói trong một chương trước, nuôi một con chó cưng có thể kéo dài tuổi thọ thêm 10 năm. Yêu thương, trìu mến, chăm sóc một sinh linh khác và bầu bạn với chú chó cưng làm giảm bớt những tác động tiêu cực của căng thẳng. Tình yêu kích thích endorphin và năng lượng sống, chữa lành cho cuộc sống dễ bị căng thẳng.

 



[i] Cortisol - hormone căng thẳng được tiết ra bởi tuyến thượng thận. Cơ chế vận hành: Cortisol tăng vọt khi Tâm thức rơi vào trạng thái kháng cự, sợ hãi, hoặc nỗ lực tiêu cực. Căng thẳng mãn tính giữ nồng độ Cortisol ở mức cao, làm suy giảm hệ miễn dịch, tiêu hao năng lượng và làm mờ mịt tri giác. Hóa giải: Khi thực hành phó thác, buông bỏ áp lực nội tâm, trạng thái căng thẳng tiêu tan, nồng độ Cortisol tự động cân bằng trở lại, giúp phục hồi sinh lực tự nhiên mà không cần đến các nỗ lực cưỡng ép bên ngoài.

[ii] Adrenalin là hormone và chất dẫn truyền thần kinh được tiết ra bởi tủy tuyến thượng thận, đóng vai trò cốt lõi trong phản ứng “chiến đấu hoặc bỏ chạy”. Cơ chế vận hành: Adrenalin tăng vọt khi Tâm thức rơi vào các tầng năng lượng thấp mang tính kháng cự như sợ hãi, giận dữ, căng thẳng hoặc các nỗ lực tiêu cực. Nó kích hoạt trạng thái báo động toàn thân (nhịp tim tăng, mạch máu co lại, cơ bắp gồng lên), tiêu tốn một lượng sinh lực khổng lồ và làm tri giác bị thu hẹp vào mục tiêu tự vệ ngắn hạn. Hóa giải: Thông qua việc thực hành phó thác và buông bỏ, Tâm thức thoát khỏi trạng thái tự vệ. Khi áp lực nội tâm biến mất, việc tiết Adrenalin được đình chỉ, cơ thể tự động chuyển sang trạng thái cân bằng và phục hồi sinh lực tự nhiên mà không cần đến các nỗ lực cưỡng ép bên ngoài.

[iii] Endorphin là chất dẫn truyền thần kinh nhóm opioid nội sinh, được sản sinh bởi hệ thần kinh trung ương và tuyến yên, đóng vai trò như một chất giảm đau và kiến tạo trạng thái an lạc tự nhiên của cơ thể. Cơ chế vận hành: Khác với Adrenalin hay Cortisol vốn bùng phát trong trạng thái kháng cự, Endorphin được giải phóng khi Tâm thức đạt đến hòa hợp, bao dung, hoặc sau khi vượt qua một áp lực lớn mà không có phản kháng. Nó làm dịu các cơn đau vật lý, xoa dịu tâm trí và mang lại cảm giác hân hoan, thư thái sâu sắc. Hóa giải và Nuôi dưỡng: Bằng cách thực hành phó thác, buông bỏ các cảm thọ tiêu cực, các rào cản căng thẳng bị dỡ bỏ. Khi áp lực nội tâm không còn, cơ thể tự động giải phóng Endorphin một cách tự nhiên, giúp phục hồi sinh lực, mang lại trạng thái tự tại và an lành mà không cần kích thích từ các yếu tố cưỡng ép bên ngoài.

[iv] Autoantibodies - Tự kháng thể là những kháng thể thay vì tấn công các tác nhân gây hại từ bên ngoài thì lại quay sang tấn công chính các mô và tế bào của cơ thể mình.


No comments:

Post a Comment