Phạm Duy Hiển Phạm Duy Hiển Author
Title: Chế độ tổng thống hay đại nghị (2)?
Author: Phạm Duy Hiển
Rating 5 of 5 Des:
N. M. Voskresenskaia, N. B. Davletshina - Chế độ dân chủ: Nhà nước và xã hội, Phạm Nguyên Trường dịch, NXB Tri Thức, 2009, trang 102-109 ...

N. M. Voskresenskaia, N. B. Davletshina - Chế độ dân chủ: Nhà nước và xã hội, Phạm Nguyên Trường dịch, NXB Tri Thức, 2009, trang 102-109


Các nhà nước dân chủ thường theo hai hình thức: đại nghị và tổng thống, khác nhau ở cách bầu chọn những người đại diện và lãnh đạo.

Trong chế độ đại nghị, chính phủ (đứng đầu là thủ tướng) do đảng hay liên hiệp các đảng nắm đa số trong quốc hội lựa chọn. Có thể thấy rõ sự khác nhau giữ hai hình thức trong những sơ đồ sau:



Hệ thống đại nghị



Cử tri








Cử tri bầu






Cơ quan lập pháp





Đề nghị



Cơ quan tư pháp


Thông qua luật

bầu















Thủ tướng















đề nghị















Luật pháp
























Hệ thống tổng thống -



Cử tri


bầu cử trực tiếp tổng thống, không phụ thuộc vào




bầu

Cơ quan lập pháp.

Cơ quan lập pháp




chỉ định




Tổng thống

Cơ quan tư pháp




đề nghị






đồng ý




đ nghị và thông qua

Luật pháp


















Dân chủ đại nghị và dân chủ tổng thống còn khác nhau ở quan hệ giữa lập pháp và hành pháp. Trong chế độ đại nghị, quốc hội giữ thế thượng phong, còn trong chế độ tổng thống thì tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu chính phủ. Tổng thống và đại biểu quốc hội (lập pháp) đều do dân bầu.

Trong chế độ đại nghị, các đảng chính trị đóng vai trò rất quan trọng, mặc dù các nghị sĩ là những người đại diện cho toàn dân chứ không phải cho một đảng phái hay một nhóm người nào. Không nghi ngờ gì rằng các đảng phái chính trị có ảnh hưởng lớn hơn trong giai đoạn bầu cử vì sau đó họ thường liên kết thành các nhóm đa số và nhóm đối lập.

Trong chế độ tổng thống, các đảng phái chính trị có ảnh hưởng ít hơn đối với hoạt động của các cơ quan lập pháp. Chỉ trong trường hợp, thí dụ như ở Mĩ, khi cả tổng thống và quốc hội đều là người của một đảng thì tổng thống sẽ dễ dàng hơn trong việc thông qua các dự luật tại quốc hội.

Sự khác nhau chủ yếu giữa chế độ đại nghị và tổng thống là mối quan hệ giữa nhánh lập pháp và hành pháp. Trong chế độ đại nghị, hai nhánh này gần như là một vì thủ tướng và các thành viên chính phủ đều là nghị sĩ. Thời gian cầm quyền của chính phủ thường được giới hạn trong khoảng 4 đến 5 năm, trừ khi phe ủng hộ thủ tướng bị mất đa số tại quốc hội. Trong trường hợp như thế, người ta sẽ tiến hành tổng tuyển cử và thành lập chính phủ mới.

Trong chế độ tổng thống, tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu chính phủ. Tổng thống cũng như các nghị sĩ đều do nhân dân trực tiếp bầu. Theo mô hình phân quyền, thành viên chính phủ thường không phải là nghị sĩ. Nếu đảng của tổng thống nắm đa số ghế tại quốc hội, chính sách của tổng thống sẽ dễ được thông qua hơn; nhưng khác với thủ tướng, tổng thống không phụ thuộc vào phe đa số, ông có thể tại vị mà không cần có đa số trong quốc hội ủng hộ.

Các ưu và khuyết điểm của hai hình thức đại nghị và tổng thống: chế độ đại nghị hấp dẫn ở tính mềm dẻo và khả năng phản ứng với những biến động. Các chính phủ đại nghị, đặc biệt là khi được bầu theo lối tỉ lệ (ta sẽ xem xét cụ thể trong các chương sau), thường có xu hướng đa đảng, khi đó, ngay các đảng phái nhỏ cũng có thể có đại diện trong các cơ quan lập pháp. Kết quả là, những nhóm thiểu số cũng có thể tham gia vào các quá trình chính trị ở trong các cơ quan cao nhất của chính phủ. Sự đa dạng như thế góp phần thúc đẩy những cuộc đối thoại và thỏa hiệp khi các đảng đối kháng với nhau thành lập liên minh cầm quyền. Nếu liên minh tan vỡ hay đảng mất quyền cai trị thì thủ tướng phải từ nhiệm và một chính phủ khác được thành lập hoặc phải tiến hành tổng tuyển cử, nhưng không có khủng hoảng đe dọa chính hệ thống dân chủ.

Nhược điểm chính của chế độ đại nghị là mặt trái của tính mềm dẻo và sự tham gia của nhiều đảng phái trong chính phủ, tức là thiếu tính ổn định.
1. Liên hiệp đa đảng có thể không ổn định và sẽ tan vỡ ngay khi có khủng hoảng. Điều đó có nghĩa là thời gian cầm quyền của chính phủ thường tương đối ngắn.
2. Chính phủ có thể bị các đảng hay các nhóm cực đoan khống chế, họ có thể dọa rút khỏi liên minh cầm quyền và như thế chính phủ phải từ nhiệm, họ cũng có thể đòi chính phủ thi hành những đường lối theo xu hướng của họ. Hơn nữa, thủ tướng chỉ là lãnh tụ chính tri, ông không đủ uy quyền của một người do dân trực tiếp bầu.
3. Một lo ngại nữa: thiếu các hạn chế hiến định, đảng chính trị chiếm đa số tuyệt đối trong quốc hội có thể thực hiện các cương lĩnh chính trị với những hậu quả nghiêm trọng mà không được ngăn chặn kịp thời, có thể dẫn đến tình trạng độc tài của đa số trong tương lai.

Ưu điểm chủ yếu của chế độ tổng thống là, thứ nhất, trách triệm trực tiếp trước dân, thời gian dài và có sức mạnh; thứ hai, vì tổng thống do dân bầu nên ông có uy quyền, không lệ thuộc vào thái độ của các đảng phái trong quốc hội; thứ ba, hai nhánh quyền lực đều có thực quyền và về lí thuyết thì ngang nhau, chế độ tổng thống cố gắng làm cho lập pháp và hành pháp đều mạnh, mỗi nhánh đều do dân cử và có thể làm đối trọng và kiểm soát lẫn nhau.

Nhược điểm là ở chỗ tổng thống và nghị sĩ được bầu riêng rẽ, có thể xảy ra tranh chấp, dẫn đến ngõ cụt. Tổng thống có thể không nhận được đủ số phiếu ủng hộ tại quốc hội nên không thể thực hiện được một chính sách nào đó, đồng thời, ông có thể sử dụng quyền phủ quyết, ngăn không cho quốc hội thông qua một dự luật nào đó. Do được bầu trực tiếp nên tổng thống có thể có quyền lực hơn thủ tướng. Nhưng tổng thống lại phải thỏa hiệp với cơ quan lập pháp, dù nó có bị phe đối lập kiểm soát hay không, vì đây là cơ quan cũng được dân trực tiếp bầu một cách độc lập với tổng thống. Kết quả là kỉ luật đảng ở đây yếu hơn so với chế độ đại nghị. Khác với thủ tướng, tổng thống không cách chức hay thi hành kỉ luật các đảng viên. Thủ tướng, khi nắm được đa số tuyệt đối, có thể đảm bảo rằng chương trình của ông sẽ được thông qua. Gặp trường hợp khi thượng viện kiên quyết bảo vệ ưu quyền của mình thì tổng thống phải đàm phán rất lâu mới có thể thông qua được một tu chính nào đó.


Hệ thống nào đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của dân chủ? Không có câu trả lời dứt khoát. Xin bạn đừng buồn, đây là đề tài thảo luận thường xuyên của các nhà chính trị học, các nhà xã hội học và của các chính khách nữa. Mỗi hệ thống đều có mặt mạnh và mặt yếu. Chúng tôi cho rằng cả hai hệ thống đều phù hợp với chế độ dân chủ hiến định, mặc dù không có hệ thống nào có thể bảo đảm dân chủ một trăm phần trăm.

Về tác giả

Advertisement

Post a Comment

 
Top