Phạm Duy Hiển Phạm Duy Hiển Author
Title: Chế độ dân chủ - Nhà nước và xã hội (kì 2)
Author: Phạm Duy Hiển
Rating 5 of 5 Des:
V. M. Voskresenskaia N. B. Davletshina CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ - NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI Phạm Nguyên Trường dịch NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC, 2009 ...
V. M. Voskresenskaia

N. B. Davletshina

CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ - NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI

Phạm Nguyên Trường dịch

NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC, 2009



Chương 2

Xã hội và các giá trị dân chủ

Trong chương trước chúng tôi đã cố gắng giải thích thế nào là dân chủ và vì sao dân chủ lại có sức hấp dẫn. Trước hết đấy là quyền tự do cá nhân, là sự tôn trọng cá nhân con người, được bảo đảm bởi sự tồn tại của nhà nước pháp quyền. Nhưng như thế lại có thể xuất hiện giả thiết rằng tất cả mọi quốc gia đều hướng đến chế độ dân chủ như là hình thức cai trị đáng mơ ước nhất.

Vậy thì tại sao dân chủ lại hiếm gặp như thế?

Chúng tôi cho rằng có thể liệt kê ra một số nguyên nhân: Thứ nhất, phải có một số điều kiện kinh tế và xã hội nhất định thì dân chủ mới có thể hình thành và hoàn thiện được; thứ hai, trong xã hội phải có một số giá trị đạo đức nhất định, thiếu chúng thì dân chủ không thể tồn tại được, và cuối cùng, cai trị bằng các biện pháp dân chủ thì khó khăn hơn cai trị bằng các biện pháp độc tài. Không được quên điều đó.


1. Các điều kiện kinh tế xã hội của chế độ dân chủ

Trước khi nói đến các điều kiện kinh tế xã hội của chế độ dân chủ, chúng ta hãy quay trở lại với cội nguồn của nó, quay lại các thí dụ về chế độ dân chủ trong các thành bang Hi Lạp cổ đại hay Novgorod và Pskop mà chúng ta đã nói đến bên trên. Điều dễ thấy nhất là các nước cộng hòa này, không có ngọai lệ, đều là những nước có quan hệ tiền - hàng phát triển. Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đây là những nước có mối quan hệ quốc tế rộng rãi, có mối quan hệ thương mại tích cực với các nước láng giềng.

Trong thời Trung cổ, tại Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Novgorod, Pskov, đa số dân chúng đều biết đọc biết viết. Kết quả các cuộc khai quật khảo cổ học ở Novgorod cho thấy, ngay cả phụ nữ cũng biết đọc biết viết.

Trong các chế độ cộng hòa cổ đại và trung đại, trình độ văn hóa và sản xuất đã phát triển khá cao. Cho đến nay, vẫn chưa tìm ra bí quyết sản xuất gốm đen và gốm đỏ rất đẹp của các thành bang Hi Lạp, bí quyết nghệ thuật kim hoàn, đúc tượng, kiến trúc, đúc tiền ở miền Bắc nước Nga...

Ở đây chúng tôi không đặt vấn đề thảo luận đâu là nguyên nhân và đâu là hậu quả của tiến trình phát triển dân chủ. Nhưng, phải luôn nhớ rằng sự tồn tại của chế độ dân chủ bao giờ cũng đi kèm với trình độ phát triển cao của các điều kiện kinh tế - xã hội. Khi nói về những giai đoạn phát triển sau này của các chế độ dân chủ, chúng tôi cũng lại sẽ nhấn mạnh rằng các chế độ dân chủ bao giờ cũng kèm theo sự tự do tương đối về kinh tế.

Nhiều người cho rằng chính trị và kinh tế là hai lĩnh vực khác nhau, giữa chúng không có mối liên hệ nào, tự do cá nhân là vấn đề chính trị, còn sự đảm bảo về vật chất là vấn đề kinh tế và mọi chế độ chính trị có thể phù hợp với mọi thể chế kinh tế. Chúng tôi cho rằng không hẳn như thế. Kinh tế và chính trị gắn bó mật thiết với nhau và mỗi chế độ chính trị chỉ có thể phù hợp với một số thể chế kinh tế mà thôi.

Chúng ta hãy xét một số thí dụ: Sau Chiến tranh Thế giới II, công dân Anh không thể đi nghỉ ở Mĩ vì các bó buộc về ngoại tệ, nghĩa là cũng bị hạn chế tự do không khác gì công dân Mĩ không được đến Liên Xô vì quan điểm chính trị. Trường hợp thứ nhất có vẻ như hạn chế tự do là vì lí do kinh tế, trường hợp thứ hai là vì lí do chính trị. Nhưng đối với người công dân thì điều đó cũng chẳng có gì khác biệt. Ở Liên Xô trước đây, kinh doanh cá thể, sở hữu tư nhân bị cấm là vì các quy định về chính trị và tư tưởng.

Nghĩa là thể chế kinh tế có ảnh hưởng đến quá trình phát triển của xã hội tự do. Một mặt, tự do kinh tế có thể được coi là một phần của tự do theo nghĩa rộng nhất của từ này, cho nên tự do kinh tế phải là mục đích tự thân. Mặt khác, tự do kinh tế là phương tiện của tự do chính trị, vì thể chế kinh tế có ảnh hưởng đến việc tập trung và phân tán quyền lực.

Thí dụ, quan hệ phong kiến ở châu Âu không có tính chất chuyên chế như ở Nga hay ở phương Đông. Gần như không có sự cưỡng bức ngoài kinh tế. Đồng thời, có khá nhiều công dân không chỉ được tự do về chính trị mà còn tự do về kinh tế, những người này đã tạo ra nền tảng của xã hội công dân, chính quyền dựa vào họ, được họ ủng hộ.

Riêng về Bắc Mĩ, các công dân tự do cả về chính trị lẫn kinh tế tập hợp thành các công xã, là những tổ chức độc lập và có quyền lực. Ngay cả trước khi giành được độc lập khỏi chính quốc, các thuộc địa ở Mĩ đã giành được quyền tự quản. Tại đây đã có các cơ quan lập pháp và các cuộc bầu cử được tổ chức theo định kì. Vì vậy, các thuộc địa ở châu Mĩ có sức hấp dẫn rất lớn đối với dân cư chính quốc.

Nhiều nhà khoa học đã coi tự do kinh tế và sở hữu tư nhân là cơ sở của chế độ dân chủ. Nhưng xin các bạn hiểu rằng đây không phải là sự bình đẳng về kinh tế mà là quyền bình đẳng về tự do kinh tế. Khi Thomas Jefferson và những người đương thời với ông, các tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập, viết rằng “mọi người sinh ra đều bình đẳng” là họ hiểu rằng Thượng đế đã ban cho tất cả mọi người những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

“Bình đẳng về kinh tế” và “quyền bình đẳng về tự do kinh tế” khác nhau như thế nào?

Bình đẳng về kinh tế là sự phân phối một cách bình quân về vật chất và thu nhập của nhà nước, thí dụ như bằng nhau hay gần như bằng nhau về tiền lương..v.v...

Quyền bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế là tự do lựa chọn trở thành viên chức nhà nước, công nhân hay doanh nhân.

Bình đẳng về kinh tế không thể kéo dài và không nên để cho kéo dài vì nó sẽ giết chết mọi cố gắng cả trong lao động cũng như trong học tập. Nhưng các bạn cũng phải hiểu rằng những biện pháp hạn chế tự do, thí dụ như thuế khóa, do chính phủ áp dụng để đảm bảo đời sống cho người nghèo, trẻ em, người già, là những biện pháp cần thiết. Nhưng, sự can thiệp của chính phủ vào đời sống kinh tế và xã hội của đất nước cần có giới hạn, bởi vì can thiệp như thế có thể tạo ra những mâu thuẫn nghiêm trong. Mức độ can thiệp của chính phủ trong những nước khác nhau được xác định theo những tiêu chuẩn hoàn toàn khác nhau, đôi khi khác nhau rất xa, như trong các nước gọi là “chủ nghĩa xã hội dân chủ” (Thụy Điển và các nước vùng bán đảo Scandinavia) và có khi không đáng kể (Mĩ, Anh).

Cần phải hiểu rằng hoàn toàn tự do kinh tế cũng như tuyệt đối tự do chính trị là không thể và không bao giờ có. Cách mạng Pháp đã có lúc tuyên bố hoàn toàn tự do kinh tế. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Nhà nước vừa tuyên bố chấm dứt kiểm soát là lập tức xảy ra khủng hoảng trong lĩnh vực thanh toán, không còn luật về phá sản, không còn ai bảo vệ nhãn mác hàng hóa. Nói cách khác, đã xảy ra rối loạn kinh tế. Vì vậy, một trong những nghị định đầu tiên của Napoleon là khôi phục sự bảo hộ của nhà nước về quyền tự do hoạt động kinh tế của công dân trong một khuôn khổ pháp lí nhất định. Ông ta lập tức được lòng dân và được giới thương nhân và tư bản tài chính ủng hộ.

Chúng ta sẽ cùng xem xét sự khác nhau giữa hai kiểu nhà nước nói trên. Cần phải nói ngay rằng, trong đa số các nước phát triển theo nguyên tắc dân chủ đều tồn tại hai hình thức sở hữu: nhà nước và tư nhân. Các ngành công nghiệp lớn và những lĩnh vực có ý nghĩa sống còn như giao thông, năng lượng, viễn thông, giáo dục và một số lĩnh vực khác đều là tài sản nhà nước hoặc được nhà nước tài trợ.

“Chủ nghĩa xã hội dân chủ” thường được hiểu là sự tham gia rộng rãi của nhà nước vào việc điều tiết nền công nghiệp và các quan hệ thị trường, đảm bảo về nhà ở, công việc làm, học tập, giao thông, chữa bệnh cho người dân. Nhà nước cũng tham gia vào việc phân phối tài nguyên quốc gia. Việc phân phối và tái phân phối phúc lợi xã hội được coi là quyền công dân. Thụy Điển được coi là hình mẫu của mô hình của “chủ nghĩa xã hội dân chủ”. Hiện nay, có quan niệm cho rằng nước này đã tránh được những biểu hiện cực đoan của chủ nghĩa Marx và xây dựng được xã hội xã hội chủ nghĩa thực sự dân chủ, phồn vinh. Một mặt, điều đó đúng là như thế: ở Thụy Điển, người dân có mức sống cao, tuổi thọ kéo dài, có nhiều thành tựu trong lĩnh vực giáo dục và tái đào tạo cán bộ. Nhưng mặt khác, từ đầu những năm 70 của thế kỉ trước, Thụy Điển đã gặp nhiều vấn đề: để đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, người ta buộc phải phá giá đồng krona và tăng thuế khoảng 1% mỗi năm. Thụy Điển trở thành nước có mức thuế cao nhất thế giới và điều đó làm cho người dân không còn tích cực lao động và tiết kiệm nữa.

Xin phân tích hai phát biểu sau đây:

Năm 1848 Alexis de Tocqueville so sánh dân chủ tự do và chủ nghĩa xã hội như sau: “Dân chủ thì mở rộng còn chủ nghĩa xã hội thì hạn chế tự do cá nhân. Dân chủ khẳng định giá trị của mỗi cá nhân, còn chủ nghĩa xã hội thì biến con người thành phương tiện, thành các con số đơn giản. Dân chủ và xã hội chủ nghĩa không có gì chung ngoài từ: bình đẳng. Nhưng hãy xem sự khác nhau: nếu dân chủ là tiến đến bình đẳng trong tự do thì chủ nghĩa xã hội là bình đẳng trong nô lệ và áp chế”.

Năm 1949 W. Ripke, một nhà kinh tế người Đức, nói: “Sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội toàn trị và chủ nghĩa xã hội dân chủ cũng giống như giữa việc giết người và vô tình gây thương tích dẫn đến chết người. Chúng tôi hoàn toàn không muốn coi dân chủ xã hội là hành vi giết người. Nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng con người có thể chết một cách vô tình, nhưng đối với nạn nhân thì chỉ kết quả chứ không phải hoàn cảnh là có ý nghĩa”.

Trong các nước kiểu như Mĩ, chính phủ chỉ chịu trách nhiệm đảm bảo cho các công dân mức sống tối thiểu (thí dụ, bằng trợ cấp). Nhưng đây không phải là đảm bảo quyền công dân mà là từ thiện. Sự khác nhau là ở đây có người rất giàu và rất nghèo. Tiền từ thiện được cấp rất ít, trong khi các nước “dân chủ xã hội” cố gắng cào bằng thu nhập của công dân bằng cách tăng thuế đánh vào người giàu và nâng mức thu nhập của thành phần nghèo và trung lưu lên.

Dĩ nhiên là sự bất bình đẳng về kinh tế có ảnh hưởng đến đời sống chính trị của đất nước và sự cách biệt về kinh tế cũng có ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác của đời sống của con người.

Adam Smith, nhà kinh tế học người Scotland, cha đẻ của môn kinh tế chính trị học, đã coi các định hướng giá trị là động cơ hành động của con người: “Chúng ta thật khó mà trông mong vào lòng tốt của anh hàng thịt, anh đầu bếp hay anh nướng bánh mì, nhưng chính nhờ lòng tham của họ mà ta có được bữa cơm trưa”. Theo ông, chính thị trường, nhờ vào sự cạnh tranh của người sản xuất và người tiêu dùng, đã thúc đẩy sự phát triển và phồn vinh của xã hội: “Mỗi người, khi không vi phạm pháp luật của sự công bằng, đều được tự do theo đuổi quyền lợi theo ý mình và dùng lao động cũng như tư bản của mình mà cạnh tranh với tư bản và sức lao động của người khác, thậm chí cạnh tranh với cả đẳng cấp khác. Quốc vương hoàn toàn không phải quản lí công việc lao động của các cá nhân, không phải hướng anh ta vào các công việc hữu ích nhất cho xã hội”.

Quan hệ thị trường ở nước ta đã tạo ra nhiều cuộc tranh luận. Đấy là do trong chế độ toàn trị, tư tưởng này đã bị vứt bỏ cả trên lí luận lẫn thực tiễn. Mấy thế hệ người Nga đã được đào tạo trên quan điểm tiêu cực đối với quan hệ tiền - hàng. Cách suy nghĩ như vậy vẫn là một trở lực bởi vì trong giai đoạn chuyển đổi, thị trường mang lại cho người ta nhiều tiêu cực hơn là tích cực. Ngay cả những người hiểu rõ sự cần thiết của việc chuyển sang các quan hệ thị trường cũng cảm thấy sợ khi chứng kiến cảnh giá cả leo thang và mức sống thì giảm đi từng ngày.

Mặc dù vậy, thực tiễn trên thế giới đã chứng minh rằng tư hữu và quan hệ thị trường là động lực thúc đẩy việc hoàn thiện quá trình sản xuất, và kết quả là sự hoàn thiện của chính cá nhân con người. Mặc dù chỉ một số ít người chiến thắng trong quá trình cạnh tranh, nhưng việc sẵn sàng mạo hiểm, sẵn sàng đầu tư cho khoa học và phát minh đã đưa toàn thể xã hội đến phồn vinh.

Vấn đề bất bình đẳng kinh tế đã được thảo luận suốt hàng mấy trăm năm qua. Nhiều nhà triết học thế kỉ XIX coi đó là nguyên nhân của tất cả các cuộc xung đột xã hội. Bất bình đẳng kinh tế còn được khắc phục bằng các cuộc cánh mạng. Đấy là Cách mạng Pháp, nhưng rõ nhất là trong giai đoạn Cách mạng tháng Mười Nga, khi Đảng Bolshevik định dùng cuộc “tấn công bằng đội cận vệ đỏ” vào tư bản, bãi bỏ sở hữu tư nhân, quốc hữu hóa công nghiệp và đất đai, để giải quyết vấn đề bất bình đẳng kinh tế. Các nước Đông Âu sau Chiến tranh Thế giới II cũng đi theo con đường đó. Nhưng sự công bằng vẫn không được thiết lập. Công nhân viên chức nhận được đồng lương chết đói, trong khi cán bộ Đảng và công chức nhà nước lại giàu lên trông thấy. Kết quả là, chúng ta và các láng giềng Đông Âu không chỉ phải đối diện với vấn đề xây dựng xã hội dân chủ, mà còn trực diện với nhu cầu thay đổi một cách toàn diện hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước. Chúng ta buộc phải dung hòa khát vọng hướng tới tự do, kể cả sở hữu tư nhân, với những giá trị đã từng chiếm ưu thế trong xã hội ta, nhưng lại khác xa với những gì ta đang hướng tới hiện nay. Câu hỏi đặt ra cho ngày hôm nay là: Làm sao có thể cân bằng được lợi ích của các hệ thống khác nhau?

Chúng ta phải tự hỏi nên đánh giá các cơ hội của xã hội tự do như: quyền bầu và ứng cử, tinh thần thượng tôn pháp luật, phát triển nền kinh tế thị thường như thế nào. Mặt khác, chúng ta phải thấy hết những khó khăn sẽ phải vượt qua trong giai đoạn chuyển đổi: về kinh tế xã hội thì đấy là mức sống giảm, phân hóa giàu nghèo; về chính trị thì đấy là sự thiếu đồng thuận trong hầu hết các vấn đề chính trị; và còn những lĩnh vực khác như văn hóa, tâm lí..v..v... Nghĩa là xã hội phải sẵn sàng không chỉ đặt ra các mục tiêu mà còn đưa ra được tổng thể các biện pháp tạo điều kiện củng cố nền dân chủ đang hình thành nữa.

Bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục đi sâu phân tích các điều kiện kinh tế cần thiết cho sự phát triển chế độ dân chủ. Một mặt, có ý kiến cho rằng đất nước phải đạt đến một trình độ phát triển kinh tế và giáo dục cao rồi mới có thể tiếp nhận hình thức quản lí dân chủ. Mặt khác, một số nhà chính trị học lại cho rằng các nước nông nghiệp có nhiều cơ may cho phát triển dân chủ hơn là các nước công nghiệp.

Có lẽ chẳng nên tuyệt đối hóa bất kì quan điểm nào. Trong lịch sử thế giới đã từng có những nước kém phát triển, dân chúng đa số mù chữ lại là nước dân chủ và ngược lại. Một lần nữa, chúng tôi lưu ý các bạn khi phân tích bất kì nước nào cũng không được quên sự đa dạng của các nhân tố có ảnh hưởng đối với cơ cấu quốc gia : văn hóa, phong tục và truyền thống tôn giáo, thậm chí cả trí nhớ di truyền nữa. Chỉ có bằng cách đó ta mới giải thích được vì sao Ấn Độ, từ khi tuyên bố độc lập, sau Chiến tranh Thế giới II, mặc dù trình độ phát triển kinh tế thấp, tỉ lệ dân số mù chữ cao lại là nước dân chủ. Thí dụ, khi bầu cử, nhiều người Ấn chỉ gạch dưới biểu tượng của đảng mà họ muốn bầu. Điều đó không có nghĩa là họ không biết ai là người xứng đáng đại diện cho mình, đơn giản chỉ vì họ không biết chữ.

Chúng ta có thể kết luận rằng, các điều kiện kinh tế và xã hội đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nhưng các giá trị đạo đức mà người dân chia sẻ cũng đóng vai trò quan trọng không kém.



2. Xã hội dân sự


Hiện chưa có định nghĩa xã hội dân sự nào được tất cả mọi người cùng chia sẻ. Chúng tôi đề nghị bạn suy nghĩ về những định nghĩa sau:

Xã hội dân sự là các quan hệ phi chính trị trong xã hội, được thể hiện thông qua các hiệp hội và tổ chức quần chúng, được pháp luật ngăn chặn khỏi sự can thiệp trực tiếp của của chính phủ.

Nhưng có một số tác giả lại coi định nghĩa sau là chính xác hơn: xã hội dân sự là xã hội, trong đó các hiệp hội khác nhau của quần chúng (đảng, công đoàn, hợp tác xã...) đóng vai trò cầu nối giữa cá nhân với nhà nước và không để cho nhà nước thoán đoạt, áp bức cá nhân. Nghĩa là, khi có xã hội dân sự thì chính phủ chỉ là một trong các thành tố cùng tồn tại với các thể chế, các đảng phái, hiệp hội khác nhau..v.v... mà thôi.

Sự đa dạng như thế có tên là chế độ đa nguyên, và các tổ chức, thể chế của xã hội dân chủ có thể tồn tại theo pháp luật và bằng uy tín của mình một cách độc lập với chính phủ. Trong xã hội dân chủ, có hàng ngàn tổ chức tư nhân như thế, một số hiện hữu trên bình diện quốc gia, số khác chỉ có ảnh hưởng khu vực. Một số tổ chức đóng vai trò trung gian giữa các cá nhân và các thiết chế xã hội phức tạp hoặc với các thiết chế của chính phủ. Là thành viên của các tổ chức đó, công dân có thể có những đóng góp tích cực vào công việc nhà nước, cũng như công việc của các tổ chức của mình. Các thiết chế công dân đó không phải được thành lập theo lệnh trên mà do sự tự nguyện và ước muốn của chính các công dân.


Là thành viên của các tổ chức đó, công dân có thể có những đóng góp tích cực vào công việc nhà nước cũng như công việc của các tổ chức của mình. Các thiết chế công dân đó không phải được thành lập theo lệnh trên mà do sự tự nguyện và ước muốn của chính các công dân. 

Rất nhiều tổ chức nêu trên có thể tồn tại cả trong các xã hội phi dân chủ, nhưng lại bị chính quyền kiểm soát gắt gao. Có thể nói như sau: trong chế độ chuyên chế, hoạt động của các tổ chức phải được nhà nước cho phép, các tổ chức bị đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ và phải thường xuyên báo cáo kết quả công tác cho các cơ quan chính quyền.

Có thể trình bày vấn đề trên theo sơ đồ sau:


Chế độ độc đoán
Hoạt động của các nhóm:
1. Được chính phủ chấp thuận
2. Trực tiếp hoặc gián tiếp nằm dưới sự quản lý của các cơ quan chính phủ.
3. Phải báo cáo với các cơ quan của chính phủ.


Chế độ dân chủ

1. Chức năng của nhà nước được xác định rõ ràng và thể chế hòa bởi pháp luật
2. Các tổ chức không bị chính phủ kiểm soát
3. Các tổ chức có thể ảnh hưởng đối với chính phủ và đỏi hỏi chính phủ phải báo cáo kết quả hoạt động.


Như vậy là, trong điều kiện xã hội công dân, nhà nước sẽ đóng vai trò là người thể hiện sự thỏa hiệp của các lực lượng khác nhau trong xã hội. Nền tảng kinh tế của xã hội công dân là sở hữu tư nhân. Trong xã hội công dân, quyền lợi của thiểu số sẽ được thể hiện bởi các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội, các tổ chức văn hóa, công đoàn, đảng phái và các phong trào khác nhau. Đấy có thể là các tổ chức nhà nước mà cũng có thể là các tổ chức độc lập với nhà nước. Điều đó cho phép mọi người thực hiện quyền và trách nhiệm công dân của mình. Tham gia vào các tổ chức như thế có thể giúp người ta tạo ảnh hưởng đến các quyết định chính trị.


3. Các giá trị đạo đức của chế độ dân chủ


Các giá trị đạo đức của xã hội dân chủ là gì? Xin xem xét kịch bản sau đây. Giả sử một nước có nhiều nhóm sắc tộc và tôn giáo khác nhau. Có thể một số, nếu không nói là tất cả, các nhóm đó đều có các giá trị và niềm tin tôn giáo khác nhau. Có khá nhiều nước như vậy: Canada, Lebanon, Nam Tư, Nga và nhiều nước khác. Làm thế nào để xã hội có thể tồn tại một cách ổn định? Nhà nước đó có thể quản lí một cách dân chủ được hay không? Điều đó có thể đạt được trong những hoàn cảnh nào?

Thực tiễn thế giới cho thấy điều đó là khả thi nếu: thứ nhất, có sự thỏa thuận (sự đồng thuận của công dân được ghi trong hiến pháp) về sự tồn tại của nhà nước và được các nước khác thừa nhận; thứ hai, đa số công dân muốn có một chính phủ dân chủ ổn định; thứ ba, những người cầm quyền có ước muốn chuyển giao quyền lực một cách hòa bình. Và cuối cùng, nếu không có đồng thuận về việc tạo ra một hình thức quản lí thống nhất thì có thể thành lập cơ chế liên bang. Chúng ta sẽ thảo luận kĩ về chế độ liên bang trong những chương sau. Ở đây, chỉ ghi nhận rằng liên bang là hình thức quản lí dân chủ nhất cho những nhà nước có cơ cấu sắc tộc và tôn giáo phức tạp. Không có các điều kiện nêu trên thì không thể có chế độ dân chủ và cũng như không có bất kì chế độ cai trị hợp hiến nào có thể tồn tại được.

Nói cách khác, những điều kiện quan trọng nhất của chế độ dân chủ là: khả năng thỏa hiệp; lòng khoan dung; tôn trọng cá nhân con người, giải quyết xung đột bằng phương pháp hòa bình. Mỗi điều kiện trong số đó đều quan trọng cho việc đưa ra các quyết định một cách dân chủ, không chỉ trong lĩnh vực chính trị mà cả trong các lĩnh vực khác của đời sống. Ta sẽ xem xét từng lĩnh vực một cách cụ thể hơn.

Khả năng thỏa hiệp. Lịch sử đã biết những trường hợp thỏa hiệp tưởng như không thể nào xảy ra được. Thí dụ, như việc khôi phục chế độ quân chủ của dòng họ Bourbon ở Pháp vào những năm 1814-1815. Đây rõ ràng là một sự thỏa hiệp, vì ngôi vua tuy được phục hồi nhưng chỉ có quyền lực hạn chế, những thay đổi về mặt luật pháp được thông qua trong những năm cách mạng và chiến tranh dưới thời Napoleon được thừa nhận.

Ở La Mã cổ đại đã từng có những sự thỏa hiệp giữa những người ủng hộ chế độ cộng hòa và những người bảo hoàng.

Việc thành lập chế độ quân chủ hạn chế ở Tây Ban Nha vào năm 1975 cũng có thể coi là thỏa hiệp.

Việc thiết lập chế độ dân chủ ở Hợp chúng quốc Hoa Kì là thí dụ điển hình về khả năng thỏa hiệp của những người hoàn toàn khác nhau về tài sản và thành phần xuất thân. Trong những điều kiện của cuộc cách mạng Mĩ, nguyên tắc chính quyền của dân đã vượt qua biên giới làng xã và thâm nhập vào các lĩnh vực hoạt động của chính phủ. Tất cả các tầng lớp dân cư đều sẵn sàng nhượng bộ. Kết quả là, những đạo luật dân chủ nhất đã lần lượt được đưa ra trưng cầu và được thông qua bởi chính những người mà mới nhìn thì dường như quyền lợi bị phương hại khi các đạo luật này được thông qua. Bằng hành động như thế, các tầng lớp thượng lưu đã tránh được sự tức giận của dân chúng và chính họ đã giúp thiết lập chế độ mới. Bang Maryland là một thí dụ, bang này được những nhà quí tộc có danh vọng thành lập, nhưng lại là bang đầu tiên tuyên bố chế độ phổ thông đầu phiếu và áp dụng hình thức quản lí dân chủ. Các tu chính hiến pháp bang được thông qua vào những năm 1801 và 1809.

Vấn đề là làm thế nào xác định đước “ý chí chung”, vì nói đúng ra thì không có một ý chí như thế? Trong xã hội dân chủ, vấn đề này được giải quyết theo nguyên tắc thiểu số nhân nhượng đa số và phục tùng ý chí của đa số. Đấy là nguyên tắc căn bản của chế độ dân chủ, thiếu nó thì dân chủ không thể nào tồn tại được. Nhưng số đông không phải lúc nào cũng đúng. Biên niên sử thành phố Novgorod chép rằng Hội đồng thành phố quyết định ném một đại điền chủ tên là Iakun xuống sông, người này may mắn thoát chết và sau đó vài năm lại được bầu làm người đứng đầu chính quyền hành pháp của chính thành phố đó. Thí dụ sau đây chứng tỏ sự độc tài của đa số có thể đạt đến mức độ cực đoan. Trong thời gian chiến tranh năm 1812, một tờ báo ở Baltimore (Mĩ) có đăng bài phản chiến và đã làm cho dân chúng vô cùng tức giận. Đám đông xông vào đập phá máy in, tấn công ban biên tập. Để cứu các phóng viên người ta quyết định đưa họ lánh vào nhà tù. Thế mà vẫn không xong. Đêm đó, nhà tù bị tấn công, một phóng viên bị giết tại trận, số khác bị đánh cho đến chết. Những kẻ giết người sau đó được tòa tha bổng.

Nói đến dân chủ cũng không được quên một khái niệm nữa, đấy là quyền lực của đám đông (ochlocracy), nó khác xa với hình thức quản lí dân chủ. Theo quan điểm dân chủ, một người sai, thậm chí một tên tội phạm, cũng chỉ bị coi là phạm tội sau khi có phán quyết của tòa án, nghĩa là trước đó, người này vẫn được tôn trọng như một công dân bình thường. A. N. Radishchev, một nhà văn Nga, đã rất có lí khi nhấn mạnh rằng, ta chỉ là người khi đã học được cách nhìn thấy con người trong tha nhân. Tất nhiên là, chính quyền do đa số bầu lên luôn luôn có khả năng buộc thiểu số phải phục tùng “ý chí chung” bằng các biện pháp cưỡng chế. Alexis de Tocqueville, trong tác phẩm Chế độ dân chủ ở Mĩ viết trong những năm 30 của thế kỉ XIX, đã ghi lại nội dung một cuộc nói chuyện của ông với người dân bang Pennsylvania về việc người da đen có quyền tham gia bầu cử, nhưng họ không tham gia và điều đó được giải thích như sau: “Vấn đề không phải là họ không thích, mà họ sẽ bị rắc rối to nếu làm như thế. Nếu đa số không ủng hộ luật pháp thì luật trở thành vô giá trị. Đa số dân chúng lại có thành kiến với người da đen, còn chính quyền thì không thể đảm bảo quyền đã được luật pháp thừa nhận của người da đen”.

Như vậy có nghĩa là, đa số không chỉ có quyền ban hành luật lệ mà còn muốn có quyền vi phạm pháp luật nữa. Tốt nhất là sự đồng thuận đạt được bằng biện pháp thuyết phục, trên cơ sở chấp nhận những yêu cầu của kỉ luật dân chủ, với sự tôn trọng quyền của thiểu số được bảo vệ các quan điểm của mình, được tự do thể hiện các quan điểm của mình trong khuôn khổ của trật tự và luật pháp. Thực tiễn chính trị cho thấy, thiểu số không phải lúc nào cũng sai. Ngược lại, đôi khi sự thật và chân lí lại thuộc về thiểu số. Đấy chính là nhu cầu phải bảo vệ quyền lợi của thiểu số. Quyền của thiểu số, dù đấy là quyền sắc tộc, tôn giáo hay chính trị cũng đều không thể phụ thuộc vào lòng tốt của đa số và không thể bị bãi bỏ bởi quyết định của đa số. Quyền của thiểu số phải được bảo vệ bởi vì luật và các thiết chế dân chủ bảo vệ quyền lợi của tất cả các công dân, coi quyền của từng công dân là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Nhưng khó khăn là ở chỗ, không chỉ xã hội mà từng người chúng ta đều có các mâu thuẫn nội tại. Đấy là bản chất của chính con người. Ta hãy xét kịch bản sau: mỗi người đều coi quyền của mình là thiêng liêng, nhưng khi đấu tranh cho bình đẳng xã hội, đôi khi chúng ta lại vi phạm quyền của người khác một cách vô ý thức. Thí dụ, khi những người làm việc trong một lĩnh vực nhà nước đòi tăng lương thì có khi họ không hiểu rằng như thế là họ đã làm phương hại đến các nhóm xã hội khác do phải tăng thuế hoặc giảm đầu tư vào các lĩnh vực đó.

Xã hội dân chủ cũng không tránh được các cuộc xung đột và cơ chế giải quyết chúng là thông qua thỏa hiệp, thông qua thỏa thuận với điều kiện là các công dân trung thành với lí tưởng và các nguyên tắc dân chủ, hiểu rằng xung đột là không thể tránh khỏi, rằng có thể giải quyết xung đột bằng thảo luận và đàm phán. Nhưng các nguyên tắc quan trọng nhất của dân chủ không thể bị hi sinh trong quá trình đàm phán.

Quyền lực tuyệt đối tự nó đã là nguy hiểm. Trên trái đất không thể có một chính quyền - dù nó có được tôn trọng đến đâu, dù nó có được coi là thần thánh đến đâu - lại được phép hành động mà không bị kiểm soát, được ra lệnh mà không gặp bất kì sự phản đối nào. Nếu một người nào đó - dù đấy có là nhân dân, đức vua, nền dân chủ hoặc chế độ quí tộc - được quyền và có khả năng làm tất cả những gì họ muốn, thì đấy chính là điều kiện sinh ra bạo chúa. Thí dụ rõ ràng nhất là việc thiết lập chế độ phát xít ở Đức. Hitler giành được chính quyền bằng con đường dân chủ: ngày 30 tháng 1 năm 1930, ông ta được cử làm Thủ tướng. Hitler đòi tiến hành các cuộc bầu cử mới vào tháng 3, và đảng phát xít giành được 43,9% số phiếu bầu. Sau một loạt nghị định của chính phủ, Hitler trên thực tế đã giành được độc quyền lập pháp. Hitler đã sử dụng độc quyền này để thành lập nhà nước phát xít: công đoàn bị giải tán, các đảng phái bị buộc phải tự giải tán, hội đồng địa phương bị hủy bỏ, Mặt trận Lao động Đức, các cơ quan an ninh quốc gia và cảnh sát mật (GESTAPO) được thành lập. Kết quả là ngay từ những năm 1934-1935, nước Đức đã trở thành nhà nước toàn trị.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng các biện pháp dân chủ không đảm bảo rằng những người được bầu bao giờ cũng là đại diện xứng đáng của xã hội, nghĩa là dân chủ phải giải quyết song song hai nhóm vấn đề: một mặt, cử tri phải cố gắng tạo lập được một hệ thống bầu cử hữu hiệu nhằm giảm đến mức tối thiểu khả năng nắm quyền của những kẻ không xứng đáng; mặt khác, phải tạo được cơ chế để trong trường hợp có những kẻ nắm ền tồi tệ nhất, theo lời giáo sư K. Popper, thì thiệt hại cũng chỉ ở mức tối thiểu. Nghĩa là phải thiết lập được hệ thống kiểm soát hữu hiệu các hoạt động của những người đại diện cho nhân dân, tạo được cơ chế bãi nhiệm, miễn nhiệm các quan chức và các hình thức tác động xã hội khác.

Giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình. Tất cả các xã hội công dân đều cần ổn định để phát triển. Nó phải cố gắng tránh các chấn động xã hội và các trục trặc về kinh tế có thể xuất hiện trong mọi xã hội, mọi tập đoàn người. Khả năng của xã hội trong việc giải quyết xung đột một cách hòa bình là tác nhân chính đảm bảo sự ổn định.

Luật pháp là biện pháp văn minh nhất trong việc giải quyết xung đột. Luật pháp lại do những người nắm quyền lực tạo ra. Nhưng luật pháp lại chỉ được quần chúng công nhận và tuân thủ nếu được tạo ra bởi một chính quyền công chính và có uy tín trước dân.

Mao Trạch Đông nói: “Súng đẻ ra chính quyền”. Thật đáng tiếc khi phải công nhận rằng chính phủ của nhiều nước và nhiều thời đại đã từng giành được quyền lực nhờ sử dụng vũ lực và cướp lấy chính quyền. Nhưng nếu một nhóm người dùng vũ lực mà cướp lấy chính quyền thì tại sao dân chúng lại phải tuân theo pháp luật của chính phủ đó? Họ có buộc phải tuân theo không? Họ phải tuân theo vì sợ hãi, vì dân chúng không đủ lực lượng và phương tiện để chống lại. Dĩ nhiên là những kẻ cướp quyền như thế không thể hi vọng vào lòng nhiệt tình và sự ủng hộ của dân chúng vì nhân dân đâu có đồng ý để cho những kẻ đó cai trị mình. Các chính phủ quân sự do đảo chính mà cướp được quyền lực nếu chỉ dùng lực lượng đàn áp thì không thể nắm quyền được lâu. Ngay cả các chính phủ tay sai do ngoại bang thiết lập cũng phải biện hộ cho việc cầm quyền của mình và cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của một bộ phận dân chúng.

Rất nhiều người cho rằng, một trong những đặc trưng rõ nhất của chế độ dân chủ là khả năng thay thế những người lãnh đạo bằng biện pháp hòa bình, trong khi chỉ có thể phế truất những kẻ độc tài bằng vũ lực và đổ máu. Chúng tôi có cảm giác rằng, trong điều kiện hiện nay, ngày càng có nhiều khả năng loại bỏ các chế độ độc tài với ít xương máu nhất, thậm chí là không cần phải đổ máu nữa. Khả năng đó được tạo ra bởi các tổ chức hòa giải quốc tế, liên hiệp các chính phủ và dư luận xã hội. Mặc dù mỗi trường hợp cụ thể lại chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn.

Chúng ta sẽ xem xét trường hợp cụ thể sau: Như các bạn đã biết, năm 1973 tướng Pinochet tổ chức đảo chính lật đổ chính phủ hợp pháp của tổng thống Allende. Allende coi việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, làm cách mạng về kinh tế là mục đích các chính sách của mình. Mục đích của đảo chính là đưa đất nước trở lại các quan hệ thị trường, về thực chất là quay trở lại con đường phát triển phi cách mạng.

Dĩ nhiên là ở Chi Lê có cả những người ủng hộ lẫn người chống đối đảo chính. Các biện pháp được áp dụng cho những người chống đối hoàn toàn không thể gọi là văn minh: quyền tự do chính trị bị hạn chế, những người phản đối thì bị đàn áp. Chế độ chuyên chế được thiết lập. Nhưng mặt khác, việc đưa đất nước trở lại con đường phát triển kinh tế bình thường, phi cách mạng, sau một thời gian đã tạo ra cơ sở cho sự đồng thuận dân tộc và các biện pháp cai trị độc tài được thay thế dần bằng các biện pháp dân chủ. Kết quả là đa số người dân Chi Lê đã đồng ý với chính sách của Pinochet và coi nó là hợp pháp.

Thí dụ này một lần nữa chứng tỏ rằng, mỗi hoàn cảnh chính trị cụ thể đều rất phức tạp và thật khó mà đánh giá một cách dứt khoát được.

Như vậy là, trong xã hội dân chủ, từng người và mỗi tập thể đều phải tôn trọng ý kiến và ước muốn của những người xung quanh; cần phải có thái độ khoan dung đối với những khác biệt giữa con người với nhau; phải công nhận các quan điểm khác biệt với quan điểm của mình. Cần phải sẵn sàng thoả hiệp, trên cơ sở sự tin cậy cần thiết cho việc ra quyết định. Cần phải nhận thức một cách sâu sắc rằng dân chủ không phải là một hệ thống nhất thành bất biến. Đây là một cơ chế tạo ra khả năng cải thiện xã hội bằng thảo luận và thương lượng, khả năng phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn mà xã hội nào cũng có.

Kì 1, Kì 2,

Về tác giả

Advertisement

Post a Comment

 
Top