Phạm Nguyên Trường Phạm Nguyên Trường Author
Title: Ludwig von Mises (1881-1973) - CHỦ NGHĨA TỰ DO TRUYỀN THỐNG
Author: Phạm Nguyên Trường
Rating 5 of 5 Des:
Phạm Nguyên Trường dịch Chương 3 Chính sách đối ngoại của chủ nghĩa tự do 4. Chủ nghĩa dân tộc Khi nào các quốc gia vẫn còn nằm dưới quy...
Phạm Nguyên Trường dịch

Chương 3

Chính sách đối ngoại của chủ nghĩa tự do

4. Chủ nghĩa dân tộc

Khi nào các quốc gia vẫn còn nằm dưới quyền cai trị của các vua chúa thì khi đó ý tưởng điều chỉnh biên giới quốc gia cho trùng với đường biên giới giữa các dân tộc vẫn sẽ không được chấp nhận. Nếu kẻ thống trị muốn sát nhập một tỉnh vào vương quốc của mình thì ông ta sẽ chẳng thèm quan tâm đến việc là liệu dân chúng - tức là thần dân của ông ta – có đồng ý với việc thay đổi người cầm quyền hay là không. Điều duy nhất ông ta phải quan tâm là lực lượng quân sự có đủ sức chinh phục và giữ được vùng đất ấy hay là không mà thôi. Ông ta công khai biện hộ cho hành vi của mình bằng cách nói rằng yêu sách của mình là hợp pháp. Thành phần dân tộc của khu vực bị chiếm đóng không phải là vấn đề cần quan tâm.

Cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa tự do, lần đầu tiên câu hỏi về cách thức vẽ đường biên giới quốc gia mới trở thành vấn đề độc lập với những tính toán về quân sự, lịch sử và pháp lí. Chủ nghĩa tự do cho rằng nhà nước được xây dựng trên ý chí của đa số dân chúng sống trong một khu vực nhất định, nó bác bỏ mọi tính toán quân sự, tức là bác bỏ những toan tính từng giữ vai trò quyết định trong việc xác định đường biên giới trong quá khứ. Nó không chấp nhận quyền chinh phục. Nó không chấp nhận luận điểm về “biên giới chiến lược” và cho rằng yêu sách sát nhập một vùng đất nhỏ tí vào một quốc gia nào đó là để củng cố tiền đồn là hoàn toàn không thể hiểu được. Chủ nghĩa tự do không công nhận quyền thừa kế các tỉnh của các vương tôn. Theo cách hiểu của chủ nghĩa tự do, nhà vua có thể cai trị dân chúng chứ không phải cai trị một vùng đất mà dân chúng chỉ được coi là những vật đi kèm với vùng đất được thừa kế. Vị hoàng đế do Thượng đế lập nên mang danh vùng đất, thí dụ như Vua nước Pháp. Nhưng vị hoàng đế do chủ nghĩa tự do lập nên - tức là chế độ quân chủ lập hiến - không mang danh vùng đất mà mang danh những người mà ông ta cai trị. Như vậy là Louis Philippe sẽ có tên là Vua của người Pháp, tương tự như thế, sẽ xuất hiện danh hiệu Vua của người Bỉ, như đã từng có danh hiệu Vua của người Hellene vậy.

Chính chủ nghĩa tự do đã tạo ra hình thức pháp lí – gọi là trưng cầu dân ý – thông qua đó dân chúng có thể thể hiện ước muốn ở lại hay tách khỏi một quốc gia nào đó. Thông qua trưng cầu dâ ý có thể biết được dân chúng tại một khu vực nào đó muốn được sống trong nhà nước nào. Nhưng ngay cả khi đã thực hiện những điều kiện kinh tế và chính trị (kể cả những chính sách quốc gia về giáo dục) nhằm không để cho việc trưng cầu dân ý trở thành trò cười, ngay cả khi có thể thực hiện những cuộc trưng cầu trong mỗi cộng đồng để xác định xem họ muốn nằm trong thành phần của quốc gia nào và lặp lại những cuộc trưng cầu như thế khi hoàn cảnh thay đổi thì vẫn có thể có những vấn đề chưa được giải quyết, có thể tạo ra va chạm giữa các dân tộc khác nhau. Thuộc về nhà nước mà mình không muốn dù đấy có là kết quả của một cuộc bỏ phiếu hay chinh phục bằng quân sự thì cũng đau khổ như nhau. Nhưng đối với một người bị hàng rào ngôn ngữ ngăn cách với đa số những người cùng dân tộc với mình thì khó khăn còn tăng lên gấp đôi.

Là người dân tộc thiểu số bao giờ cũng có nghĩa là công dân loại hai. Muốn thảo luận các vấn đề chính trị đương nhiên là phải nói hoặc viết – trong những bài diễn văn, trên báo chí hay trong sách vở. Nhưng những người thiểu số không có nhiều phương tiện học hỏi và thảo luận những vấn đề chính trị bằng những người mà tiếng mẹ đẻ của họ (tiếng nói vẫn dùng hành ngày) là tiếng được dùng để thảo luận. Xét cho cùng thì tư duy chính trị của nhân dân chính là những tư tưởng được thể hiện trong sách báo chính trị của họ. Kết quả của những cuộc thảo luận chính trị - được đúc kết thành luật lệ - có ý nghĩa trực tiếp đối với những công dân sử dụng ngôn ngữ khác vì người đó phải tuân thủ pháp luật; nhưng người đó lại cảm thấy rằng mình không được tham gia vào quá trình lập pháp hoặc ít nhất là không được tham gia như những người mà tiếng mẹ đẻ chính là tiếng nói của đa số cầm quyền. Và khi anh ta xuất hiện trước quan toà hay bất kì quan chức hành chính nào khác, như người thỉnh cầu hay kiến nghị, là anh ta đứng trước những người có tư tưởng chính trị xa lạ vì những tư tưởng đó đã phát triển dưới sự tác động của những tư tưởng hoàn toàn khác lạ với anh ta.

Bên cạnh những điều đó, ngay sự kiện là người thiểu số phải sử dụng ngôn ngữ xa lạ với mình, khi đứng trước quan toà hay quan chức hành chính, đã làm cho anh ta chịu nhiều thua thiệt rồi. Giữa người có thể nói trực tiếp với quan toà và người phải sử dụng phiên dịch đã là sự khác biệt một trời một vực. Ở đâu thì người thiểu số cũng cảm thấy rằng mình là người xa lạ và dù lời văn của pháp luật có phủ nhận điều đó thì họ cũng chỉ là dân loại hai mà thôi.

Ngay cả trong quốc gia có một hiến pháp tự do, trong đó hoạt động của chính phủ được giới hạn vào việc bảo vệ đời sống và tài sản của công dân, thì những sự thiệt thòi như thế cũng tạo ra cảm giác đè nén rất năng nề. Và trong nhà nước xã hội chủ nghĩa hay nhà nước thi hành chính sách can thiệp thì sẽ trở thành không thể chịu đựng nổi. Còn nếu cơ quan hành pháp mà có quyền can thiệp bất cứ khi nào họ muốn, nếu quyền tự do hành động của các quan toà và nhân viên công lực rộng rãi đến mức có thể đưa cả thiên kiến vào thì người dân tộc thiểu số có thể bị những nhân viên công lực thuộc đa số cầm quyền hành xử một cách tuỳ tiện và bị áp bức nữa. Những hậu quả xảy ra, khi nhà trường và nhà thờ không còn là những thực thể độc lập mà chịu sự quản lí của nhà nước, đã được thảo luận trong những phần trên.

Chính đây là gốc rễ của chủ nghĩa dân tộc có tính chất hung hăng mà chúng ta đang thấy hiện nay. Những cố gắng nhằm qui những vụ đối đầu mang tính bạo lực giữa các dân tộc là do các nguyên nhân tự nhiên chứ không phải do nguyên nhân chính trị tạo ra là hoàn toàn sai lầm. Trong từng dân tộc cũng có tất cả những biểu hiện mà người ta hay dẫn ra làm thí dụ cho sự sự ác cảm được cho là bẩm sinh giữa các dân tộc. Người Bavary ghét người Phổ; người Phổ căm thù người Bavary. Lòng hận thù giữa những nhóm khác nhau của người Pháp hay người Ba Lan cũng không kém phần dữ dội. Nhưng người Đức, người Ba Lan, người Pháp vẫn có thể sống chung một cách hoà bình trong lòng đất nước của mình. Nhưng thái độ ác cảm của người Ba Lan với người Đức và của người Đức với người Ba Lan lại có ý nghĩa chính trị quan trọng vì cả hai bên đều hi vọng chiếm được quyền lực chính trị trong khu vực biên giới, nơi người Đức và người Ba Lan sống cạnh nhau và sử dụng quyền lực đó nhằm áp chế dân chúng của phía bên kia. Việc dân chúng muốn dùng trường học làm phương tiện li gián trẻ con với ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng, và dùng toà án, cơ quan hành chính, các biện pháp kinh tế và chính trị, thậm chí tịch thu tài sản, làm phương tiện đàn áp những người nói tiếng nước ngoài đã thổi bùng lên ngọn lửa hận thù, thiêu đốt tất cả. Chính vì người ta sẵn sàng sử dụng những biện pháp bạo lực nhằm thiết lập những điều kiện tốt đẹp cho tương chính trị của dân tộc mình mà họ đã tạo ra trong những khu vực đa ngôn ngữ hệ thống áp bức, đủ sức làm lung lay chính nền hoà bình trên toàn thế giới.

Khi cương lĩnh của chủ nghĩa tự do chưa được thực hiện một cách trọn vẹn trong những khu vực có nhiều dân tộc sinh sống thì lòng thù hận giữa người dân tộc này với người dân tộc khác chắn chắn sẽ ngày càng gia tăng và sẽ tiếp tục làm bùng lên những cuộc chiến tranh và bạo loạn mới.

5. Chủ nghĩa đế quốc

Những ông vua chuyên chế trong các thế kỉ trước đây thèm khát chinh phục là để mở rộng lãnh thổ và làm giàu. Không ông vua nào có quyền lực tuyệt đối cho nên phải có sức mạnh thì mới giữ được quyền lực trong cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài. Không ông vua nào cảm thấy đủ giầu, vì vậy mà ông ta cần có thêm tiển để nuôi quân và nuôi bọn tuỳ tùng.

Đối với nhà nước tự do, mở rộng hay không mở rộng biên giới lãnh thổ không phải là vấn đề quan trọng. Không thể chiếm đoạt được của cải bằng cách sát nhập các tỉnh mới vì “thu nhập” từ một vùng lãnh thổ nào đó phải được sử dụng để thanh toán cho bộ bộ máy quản lí nó. Đối với nhà nước tự do, tức là nhà nước không ấp ủ những kế hoạch xâm lược, tăng cường lực lượng quân sự không phải là vấn đề quan trọng. Quốc hội của các nước theo đường lối tự do chống lại mọi cố gắng nhằm tăng cường khả năng quân sự của đất nước và phản đối mọi chính sách xâm lược và hiếu chiến.

Nhưng chính sách hoà bình của trường phái tự do, trong những năm 60 của thế kỉ trước (Thế kỉ XIX – ND), khi chủ nghĩa tự do thu được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, được coi là chắc chắn, ít nhất là ở châu Âu, đặt trên cơ sở giả định rằng dân chúng sống trên mỗi vùng lãnh thổ đều có quyền tự quyết định họ thích nằm trong quốc nào. Nhưng vì các chế độ chuyên chế không chịu từ bỏ đặc quyền đặc lợi một cách hoà bình cho nên trước hết phải làm cách mạng và tiến hành chiến tranh thì mới bảo vệ được những quyền này. Phải dùng đến vũ lực mới lật đổ được ách thống trị của nước ngoài ở Ý, mới bảo vệ được người Đức ở Schleswig-Holstein trước nguy cơ bị tước quốc tịch, mới giải phóng người Ba Lan và người Slav miền Nam. Chỉ có một khu vực, đấy là quần đảo Ionian, nơi chế độ chính trị đương quyền đã giải quyết một cách hoà bình yêu sách đòi quyền tự quyết mà thôi: nước Anh theo đường lối tự do đã giải phóng những hòn đảo này. Còn tất cả những nơi khác, kết quả bao giờ cũng là chiến tranh và cách mạng. Những cuộc đấu tranh nhằm tạo ra một nước Đức thống nhất đã phát triển thành cuộc xung đột Đức – Pháp đấy thảm khốc [ý nói cuộc chiến tranh Pháp-Phổ trong những năm 1869-1971, kết quả là Pháp thua – ND]. Vấn đề Ba Lan vẫn chưa được giải quyết vì Sa Hoàng đã đè bẹp hết cuộc khởi nghĩa này đến cuộc khởi nghĩa khác. Vấn đề Ban Căng chỉ được giải quyết một phần, việc không thể giải quyết được vấn đề của vương triều Hapsburg trái ngược với ý chí của dòng họ đang nắm quyến cuối cùng đã dẫn đến một rắc rối và đấy chính là nguyên nhân trực tiếp đưa đến Chiến tranh Thế giới [Chiến tranh Thế giới I –ND].

Chủ nghĩa đế quốc hiện đại khác với những xu hướng bành trướng của những vương triều chuyên chế ở chỗ là động cơ của nó không phải là những người trong hoàng tộc, thậm chí không phải là người của giới quí tộc, của bộ máy quan liêu hay hàng ngũ sĩ quan muốn làm giàu hoặc gia tăng quyền hành bằng cách cướp bóc những vùng chiếm được mà là quần chúng, họ coi chủ nghĩa đế quốc là phương tiện bảo vệ nền độc lập dân tộc phù hợp nhất. Khi mạng lưới của những chính sách bài tự do, những chính sách làm cho chức năng của nhà nước bành trướng đến mức chẳng còn hoạt động nào là không bị nhà nước can thiệp, đã giăng ra khắp nơi như hiện nay thì chẳng còn hi vọng gì là những vấn đề chính trị của những khu vực đa sắc tộc sẽ được giải quyết một cách tương đối thoả đáng nữa. Nếu chính phủ của những vùng lãnh thổ đó không hành xử theo đúng đường lối của chủ nghĩa tự do thì chẳng nên nói đến ngay cả sự bình quyền trong việc đối xử với các nhóm sắc dân khác nhau. Lúc đó sẽ chỉ còn nhóm cai trị và những nhóm bị trị mà thôi. Sự lựa chọn chỉ còn là ai là búa và ai phải làm đe. Như vậy nghĩa là, ước mong có một nhà nước càng mạnh càng tốt - một nhà nước có thể mở rộng quyền cai trị sang cả những vùng có nhiều sắc dân sinh sống – đã trở thành yêu cầu tự vệ không thể bác bỏ được.

Nhưng không chỉ các nước đã có người định cư từ lâu mới có vấn đề hỗn tạp về mặt ngôn ngữ. Chủ nghĩa đế quốc đã tìm được những vùng đất mới với những điều kiện sản xuất thuận lợi hơn là phần lớn những nước đã có người ở từ lâu. Vốn và lao động chảy tới những khu vực thuận lợi. Phong trào di cư đã vượt xa những cuộc di dân từng xảy ra trước đó trên thế giới. Chẳng có mấy người di dân đến được những vùng đất mà những người đồng bào với họ cầm quyền. Ở những nơi không có điều kiện như thế, việc di dân sẽ lại tạo ra những xung đột như đã từng diễn ra ở những vùng lãnh thổ đa ngôn ngữ. Trong những trường hợp đặc biệt, chúng ta sẽ không xem xét ở đây, tình hình ở những khu vực thuộc địa hải ngoại có khác với những nước đã có dân định cư lâu đời ở châu Âu. Tuy nhiên, cuối cùng thì những xung đột do sự bất bình của người thiểu số gây ra là như nhau. Ước muốn bảo vệ người dân tộc mình khỏi số phận như thế dẫn đến, một mặt, cuộc đấu tranh nhằm giành giật thuộc địa thích hợp cho việc định cư của người châu Âu và mặt khác, áp dụng chính sách thuế khoá nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước, hoạt động trong những điều kiện kém thuận lợi so với nền công nghiệp nước ngoài có tính cạnh tranh hơn với hi vọng rằng công nhân sẽ không cần di cư nữa. Trên thực tế, nhằm mở rộng thêm thị trường được bảo vệ người ta đã chiếm cả những vùng lãnh thổ được coi là không phù hợp để cho người châu Âu định cư. Chúng ta có thể coi những năm cuối thập kỉ 70 của thế kỉ trước là khởi đầu của chủ nghĩa đế quốc hiện đại, đấy cũng là lúc các nước công nghiệp châu Âu bắt đầu từ bỏ chính sách thương mại tự do và tham gia vào cuộc chạy đua trong việc đi tìm “thị trường” tại các thuộc địa ở châu Phi và châu Á.

Thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản” được sử dụng lần đầu tiên chính là để nói về chính sách mở mang lãnh thổ thời hiện đại, có liên quan đến nước Anh. Chắc chắn là khởi kì thuỷ chủ nghĩa đế quốc Anh không chú tâm nhiều vào việc sát nhập những vùng lãnh thổ mới bằng việc thiết lập khu vực chính sách thương mại thống nhất trên tất cả những vùng thuộc quyền cai trị của hoàng đế Anh. Đấy là kết quả của một tình hưống khác thường mà Anh quốc, một nước có nhiều thuộc địa nhất, đã lâm vào. Tuy nhiên, mục tiêu mà những thực dân người Anh nhắm tới trong việc thành lập hiệp định chung về thuế quan, bao gồm cả các nước thuộc địa lẫn chính quốc cũng là mục tiêu của những cuộc xâm chiếm thuộc địa của Đức, Ý, Pháp, Bỉ và những nước châu Âu khác, tức là thiết lập những thị trường xuất khẩu độc quyền.

Chủ nghĩa đế quốc không đạt được những mục đích thương mại mà nó nhắm đến. Giấc mơ về việc thành lập hiệp định chung về thế quan trên tất cả những cùng lãnh thổ do Anh quốc cai trị đã không trở thành hiện thực. Những vùng lãnh thổ mà các nước châu Âu sát nhập trong vài chục năm vừa qua, cũng như những vùng đất mà họ được “nhượng quyền” trước đây, đóng vai trò thứ yếu trong việc cung cấp nguyên vật liệu và bán thành phẩm cho thị trường thế giới và tiêu thụ sản phẩm cho nên những biện pháp như thế không thể tạo ra những thay đổi mang tính quyết định đối với quá trình sản xuất và giao thương. Mục tiêu của chủ nghĩa đế quốc không chỉ là chiếm các vùng đất của những dân tộc mọi rợ, không đủ sức kháng cự. Còn phải chiếm cả những vùng đất của những dân tộc sẵn sàng và đủ sức chống cự nữa. Chính sách của chủ nghĩa đế quốc đã và chẳng bao lâu nữa sẽ thất bại ở đây. Chủ nghĩa đế quốc đang rút lui hoặc đang lâm vào hoàn cảnh cực kì khó khăn ở Abyssina, ở Mexico, ở Caucasus, ở Persia, ở Trung Quốc nữa …

6. Chính sách thuộc địa

Những tính toán và mục tiêu dẫn đạo chính sách thuộc địa của các cường quốc châu Âu kể từ ngày có những phát kiến vĩ đại trái ngược hoàn toàn với tất cả các nguyên tắc của chủ nghĩa tự do. Tư tưởng căn bản của chính sách thuộc địa là sử dụng tính ưu việt về mặt quân sự của người da trắng đối với những sắc dân khác. Người châu Âu, nắm trong tay tất cả các loại vũ khí và trang thiết bị của nền văn minh, xông lên chinh phục các dân tộc yếu hơn, cướp bóc tài sản của họ và biến họ thành những người nô lệ. Người ta đã tìm cách biện hộ và che đậy động cơ đích thực của chính sách thuộc địa bằng cách nói rằng mục tiêu duy nhất là tạo điều kiện cho những dân tộc bán khai được hưởng thành quả của nền văn minh châu Âu. Ngay cả nếu công nhận đấy đúng là mục đích của chính phủ khi đưa quân tới những khu vực xa xôi trên thế giới thì người tự do cũng cho rằng chẳng có cơ sở nào để coi thuộc địa hoá là hữu ích hết. Cứ cho là chúng ta tin rằng nền văn minh châu Âu ưu việt hơn các bộ lạc bán khai ở châu Phi hay nền văn minh châu Á - mặc dù châu Á cũng rất đáng tôn trọng – nhưng nền văn minh châu Âu cũng phải chứng tỏ tính ưu việt của nó bằng cách khuyến khích các dân tộc đó tự nguyện áp dụng chứ. Việc nền văn minh châu Âu chỉ có thể được truyền bá bằng khói lửa và giáo gươm có phải là bằng chứng đáng buồn nhất về sự bất lực của nó hay không?

Lịch sử không có chương nào đẫm máu hơn là chương viết về chế độ thuộc địa. Máu đã chảy một cách vô ích và vô nghĩa. Nhiều vùng đất xanh tươi trở thành hoang hoá, nhiều dân tộc bị giết hại hoặc xoá sổ hoàn toàn. Không thể nào che đậy hay biện hộ được. Người châu Âu nắm quyền cai trị tuyệt đối ở châu Phi và ở nhiểu khu vực quan trọng của châu Á. Hoàn toàn trái ngược với tất cả các nguyên tắc của chủ nghĩa tự do và chế độ dân chủ và không nghi ngờ gì rằng chúng ta phải đấu tranh để xoá bỏ nó. Vấn đề chỉ còn là làm sao để việc xoá bỏ tình trạng này diễn ra với ít thiệt hại nhất mà thôi.

Giải pháp đơn giản và triệt để nhất là các chính phủ châu Âu rút hết các quan chức, binh lính và cảnh sát của mình khỏi những vùng lãnh thổ đã chiếm và để cho người dân ở đó được độc lập. Việc này được tiến hành ngay lập tức hay tiến hành trưng cầu dân ý dân chúng địa phương trước khi “trao trả” thì cũng thế. Vì thật khó mà nghi ngờ kết quả của một cuộc bỏ phiếu tự do. Chính quyền của người châu Âu ở các nước thuộc địa hải ngoại chẳng thể hi vọng vào sự chấp thuận của dân chúng địa phương.

Giải pháp triệt để như thế nếu không dẫn tới sự hỗn loạn hoàn toàn thì cũng dẫn tới những cuộc xung đột kéo dài trong những khu vực mà người châu Âu sẽ rút đi. Có thể khẳng định mà không sợ sai là cho đến nay dân chúng địa phương chỉ mới học được những thói xấu chứ chưa học được tính tốt của người châu Âu. Đấy không phải là lỗi của dân chúng những nước thuộc địa mà là lỗi của những kẻ chinh phục châu Âu, những người chỉ dạy người ta toàn những chuyện xấu xa mà thôi. Họ đã mang đến các nước thuộc địa đủ mọi thứ vũ khí và thiết bị phá hoại, họ đã đưa đến đấy những công dân xấu xa nhất và ác độc nhất rồi giao chức vụ hoặc phong quân hàm cho chúng, họ đã dùng mũi kiếm để dựng lên chính quyền thuộc địa mà sự dã man, khát máu có thể sánh ngang với hệ thống độc tài của những người Bolshevik. Người châu Âu chẳng nên ngạc nhiên nếu như những thói hư tật xấu mà họ mang tới thuộc địa bây giờ đã cho ra trái đắng. Dù thế nào thì họ cũng không có quyền lên giọng đạo đức giả mà phàn nàn về tình trạng luân lí xã hội thấp kém của dân chúng thuộc địa. Nói rằng dân chúng các nước thuộc địa chưa đủ trưởng thành để có thể được hưởng tự do và họ cần phải được những người cầm quyền châu Âu cầm roi dạy dỗ, ít nhất là một vài năm nữa, trước khi họ có thể sống độc lập, là không thể chấp nhận được. Chính cách “dạy dỗ” như thế phải chịu trách nhiệm, ít nhất là một phần, về tình trạng khủng khiếp tại các nước thuộc địa, mặc dù chỉ sau khi người châu Âu rút đi thì ta mới thấy rõ được toàn bộ hậu quả của nó.

Nhưng có thể người ta sẽ tiếp tục khẳng định rằng vì người châu Âu là giống người cao quí hơn cho nên trách nhiệm của họ là không để xảy ra tình trạng lộn xộn sau khi rời bỏ các nước thuộc địa và vì vậy mà phải tiếp tục giữ quyền cai trị - đấy chính là vì quyền lợi và hạnh phúc của nhân dân các nước thuộc địa. Nhằm gia tăng sức mạnh cho những luận cứ như thế, có thể vẽ ra những bức tranh kinh hoàng về điều kiện từng tồn tại ở Trung Phi và nhiều vùng khác ở châu Á trước khi chính quyền của người châu Âu được thiết lập ở đấy. Có thể nhắc lại những vụ săn lùng nô lệ do người A-Rập tiến hành ở Trung Phi hay những vụ bạo hành vô cùng thất đức của các bạo chúa người Ấn Độ. Nhưng dĩ nhiên đây là phương pháp lí luận mang tính đạo đức giả và người ta không được quên, thí dụ như việc buôn bán nô lệ chỉ phát đạt khi những hậu duệ của người châu Âu định cư ở các thuộc địa Mĩ châu bắt đầu trở thành những người mua trên thị trường nô lệ. Nhưng chúng ta hoàn toàn không cần phải đi sâu vào tất cả những “chống báng” hay “ủng hộ” của các lí luận theo kiểu này. Nếu nói rằng quyền lợi của dân chúng thuộc địa là lí do ủng hộ cho việc giữ chính quyền của người châu Âu thì ta nên nói rằng tốt hơn hết là hãy giải tán toàn bộ chính quyền đó. Không ai có quyền can thiệp vào công việc của người khác nhằm thúc đẩy quyền lợi của những người đó, còn những kẻ chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình thì không được giả vờ là đang hành động quên mình chỉ vì quyền lợi của những người khác.

Tuy nhiên, ở đây có một luận cứ ủng hộ cho việc tiếp tục nắm quyền và ảnh hưởng của người châu Âu ở những lãnh thổ thuộc địa. Nếu người châu Âu không bắt các nước nhiệt đới trở thành thuộc địa của mình, nếu họ không làm cho hệ thống kinh tế của mình trở thành phụ thuộc khá nhiều vào việc nhập khẩu nguyên liệu từ vùng nhiệt đới và sản phẩm nông nghiệp hải ngoại và thanh toán bẳng sản phẩm công nghiệp thì ta có thể bình tĩnh thảo luận vấn đề là có nên đưa những vùng này vào hệ thống thị trường thế giới hay không. Nhưng tình hình khác hẳn vì quá trình thực dân hoá đã đẩy tất cả những vùng lãnh thổ này vào khuôn khổ của của cộng đồng kinh tế toàn cầu. Nền kinh tế châu Âu hiện phụ thuộc khá nhiều vào sự tham gia của châu Phi và những vùng lãnh thổ rộng lớn của châu Á vào nền kinh tế thế giới với vai trò là những nước cung cấp nguyên liệu đủ mọi loại. Người ta không dùng vũ lực để tước đoạt những nguyên vật liệu này. Nguyên vật liệu cũng không phải là đồ cống nạp mà được trao tay trên cơ sở trao đổi tự nguyện với những sản phẩm công nghiệp của châu Âu. Như vậy là quan hệ không phải là một chiều, ngược lại, nó có lợi cho cả hai bên, và người dân các nước thuộc địa cũng nhận được nhiều lợi ích như người dân Anh hay Thuỵ Sĩ. Bất kì sự ngưng trệ nào trong quan hệ thương mại cũng sẽ gây ra những thiệt hại kinh tế nghiêm trọng đối với châu Âu cũng như đối với các nước thuộc địa và sẽ làm giảm đáng kể mức sống của rất nhiều người. Vì sự mở rộng một cách chậm chạp các quan hệ kinh tế trên toàn thế giới và sự phát triển một cách từ từ nền kinh tế thế giới là một trong những nguồn gốc quan trọng nhất của sự gia tăng tài sản trong một trăm năm mươi năm qua, sự đảo ngược xu hướng này sẽ trở thành thảm hoạ kinh tế thế giới chưa từng có từ trước tới nay. Mức độ và hậu quả của thảm hoạ này sẽ vượt xa cuộc khủng hoảng do Chiến tranh Thế giới gây ra. Liệu ta có thể để cho sự thịnh vượng của châu Âu, đồng thời cũng là sự thịnh vượng của các nước thuộc địa, đi xuống chỉ với mục đích là tạo cho người dân các nước thuộc địa cơ hội tự quyết định vận mệnh chính trị của mình, khi mà nó không dẫn họ đến tự do mà chỉ dẫn đến việc thay thày đổi chủ mà thôi?

Đây phải là luận cứ quyết định trong việc trong việc đánh giá chính sách thuộc địa. Các quan chức, quân đội và cảnh sát phải ở lại trong những vùng lãnh thổ này cho đến khi sự hiện diện của họ là cần thiết cho việc bảo đảm những điều kiện chính trị và luật pháp cho sự tham gia của các lãnh thổ thuộc địa vào nền thương mại quốc tế. Cần phải tạo đầy đủ điều kiện cho hoạt động thương mại, công nghiệp và nông nghiệp tại các nước thuộc địa, bảo đảm việc khai thác mỏ và đưa sản phẩm bằng đường bộ hoặc đường sông đến các hải cảng và từ đó đến châu Âu và Mĩ. Tất cả những hoạt động kinh tế như thế cần phải được tiếp tục và là quyền lợi của tất cả mọi người: đấy không chỉ là quyền lợi của người dân châu Âu, châu Mĩ hay châu Úc mà còn là quyền lợi của người dân các nước thuộc địa ở châu Á và châu Phi nữa. Khi chính quốc chỉ hoạt động trong lĩnh vực kinh tế thì ngay cả những người có quan điểm tự do cũng sẽ không phản đối.

Nhưng ai cũng biết rằng tất cả các chính quốc đều vi phạm một cách nghiêm trọng nguyên tắc này. Chẳng cần phải nhắc lại những cảnh tượng kinh hoàng diễn ra ở nước Congo thuộc Bỉ mà các phóng viên trung thực người Anh đã nói tới. Giả sử rằng những sự tàn bạo như thế không phải là do chính phủ Bỉ gây ra mà chỉ là sự quá lạm và độc ác của những viên chức được đưa tới Congo mà thôi. Nhưng sự kiện là hầu như tất cả các chính quốc đều thiết lập tại những vùng lãnh thổ hải ngoại của họ hệ thống thương mại có lợi cho hàng hoá của chính quốc chứng tỏ rằng những quan điểm đang giữ thế thượng phong trong chính sách thuộc địa hiện nay thật là khác xa với những quan điểm đáng lẽ phải trở thành chủ đạo.

Muốn làm cho quyền lợi của châu Âu và của người da trắng hài hoà với quyền lợi của người da màu tại các nước thuộc địa về tất cả những vấn đề liên quan đến chính sách kinh tế thì phải giao cho Hội quốc liên quyền lực tối cao trong việc cai trị những vùng lãnh thổ hải ngoại chưa có hệ thống chính phủ đại nghị. Hội quốc liên sẽ phải theo dõi để những vùng đất chưa có chính phủ tự quản sẽ được giao quyền tự quản càng sớm càng tốt và quyền lực của chính quốc chỉ được giới hạn trong việc bảo vệ tài sản, bảo vệ quyền công dân cho người ngoại quốc và bảo vệ những quan hệ thương mại mà thôi. Người dân thuộc địa cũng như công dân của các nước khác phải được quyền gửi đơn khiếu kiện trực tiếp tới Hội quốc liên, đấy là nói trong những trường hợp khi mà những biện pháp của chính quốc vượt quá khuôn khổ cần thiết cho việc bảo đảm an toàn thương mại, ngoại thương và hoạt động kinh tế nói chung tại những vùng lãnh thổ đó; còn Hội quốc liên thì có đủ quyền hành giải quyết các khiều nại như thế.

Trên thực tế, áp dụng những nguyên tắc đó có nghĩa là tất cả các lãnh thổ hải ngoại của các nước châu Âu được giao đầu tiên là cho Hội quốc liên cai trị. Nhưng đây chỉ được coi là giai đoạn chuyển tiếp. Mục đích cuối cùng phải là giải phóng hoàn toàn các nước thuộc địa khỏi sự cai trị bạo ngược mà họ đang phải gánh chịu hiện nay.

Cách giải quyết như thế vấn đề khó khăn này – cùng với thời gian, sẽ càng ngày càng trở thành khó khăn hơn - sẽ làm cho không chỉ các nước không có thuộc địa ở châu Âu và châu Mĩ mà cả các nước có thuộc địa lẫn dân chúng các nước thuộc địa hài lòng. Các nước thực dân phải hiểu rằng họ không thể cai trị các thuộc địa được mãi. Chủ nghĩa tư bản đã thâm nhập vào những vùng lãnh thổ này, người dân thuộc địa đã tự tin hơn, sự khác biệt về văn hoá giữa những tầng lớp trên của họ và những quan chức cũng như sĩ quan thay mặt chính quốc làm nhiệm vụ cai trị đã không còn. Hiện nay việc phân bố quyền lực, về mặt quân sự và chính trị, đã khác hẳn với cách đây chỉ một thế hệ. Nỗ lực của các cường quốc châu Âu, Mĩ và Nhật nhằm đối xử với Trung Quốc như là nước thuộc địa đã thất bại. Người Anh phải rút khỏi Ai-Cập, còn ờ Ấn Độ thì họ phải lui về vị trí phòng thủ. Mọi người cũng đều biết rằng trước những cuộc tấn công của phong trào giải phóng, Hà Lan sẽ không thể giữ được Đông Ấn. Các thuộc địa của Pháp ở châu Phi và châu Á cũng nằm trong tình trạng tương tự. Người Mĩ cũng đang gặp rắc rối với Philippines và sẵn sàng rút khi có điều kiện. Việc chuyển các thuộc địa cho Hội quốc liên cai quản sẽ bảo đảm cho các nước thực dân giữ được vốn đầu tư của họ và tránh cho họ những hi sinh trong việc đàn áp những vụ nổi dậy của dân chúng thuộc địa. Còn dân chúng thuộc địa thì sẽ mang ơn đề xuất bảo đảm cho họ nền độc lập bằng đường lối hoá bình và cùng với nó là bảo đảm rằng trong tương lai các nước lân bang sẽ không xâm chiếm và không đe doạ nền độc lập về chính trị của họ.

7. Thương mại tự do

Chứng minh về mặt lí thuyết những hậu quả của biểu thuế nhập khẩu có tính cách bảo hộ và thương mại tự do là hòn đá tảng của của môn kinh tế học cổ điển. Nó rõ ràng, hiển nhiên và không thể tranh cãi được đến nỗi những người phản đối không thể đưa ra được bất kì luận cứ chống đối nào mà không bị bác bẻ, không bị coi là sai lầm và vô lí ngay lập tức.

Thế mà hiện nay ở đâu chúng ta cũng thấy những biểu thuế có tính cách bảo hộ, mà nhiều khi còn cấm nhập khẩu nữa. Ngay ở Anh, tổ quốc của thương mại tự do, hiện nay chủ nghĩa bảo hộ cũng đang giữ thế thượng phong. Số người ủng hộ nguyên tắc tự cấp tự túc đang tăng lên mỗi ngày. Ngay cả những nước chỉ có vài triệu dân như Hungary và Tiệp Khắc cũng định dùng những chính sách như thuế cao và cấm nhập khẩu nhằm tách mình ra khỏi phần còn lại của thế giới. Tư tưởng chủ đạo của chính sách ngoại thương của Mĩ là áp mức thuế nhập khẩu tất cả các loại hàng hoá sản xuất với giá thành rẻ hơn ở nước ngoài đúng bằng với sự chênh lệch với giá thành sản xuất trong nước. Tình trạng trở thành lố bịch ở chỗ tất cả các nước đều muốn giảm nhập nhưng lại tăng xuất. Hậu quả của những chính sách này là can thiệp vào việc phân công lao động trên thế giới và vì vậy mà làm cho năng suất lao động nói chung giảm đi. Người ta không nhận ra được là vì lí do duy nhất sau đây: sự tiến bộ của hệ thống tư bản chủ nghĩa bao giờ cũng đủ sức vượt qua được những hậu quả tiêu cực của chính sách đó. Nhưng không nghi ngờ gì rằng mỗi người sẽ giàu thêm nếu những biểu thuế có tính cách bảo hộ như thế không cố tình đẩy quá trình sản xuất từ những vùng thuận lợi sang những vùng ít thuận lợi hơn.

Khi hệ thống thương mại được hoàn toàn tự do thì vốn và lao động sẽ được chuyển đến những nơi có điều kiện sản xuất thuận lợi nhất. Cùng với sự phát triển các phương tiện giao thông, cải tiến công nghệ và khảo sát kĩ lưỡng hơn các nước mới tham gia vào nền thương mại thế giới, người ta sẽ tìm ra những địa điểm mới, những địa điểm thuận lợi hơn sẽ được phát hiện và sản xuất sẽ được chuyển đến những vị trí mới. Vốn và lao động có xu hướng chuyển từ những khu vực ít thuận lợi sang những khu vực có điều kiện thuận lợi hơn.

Nhưng việc luân chuyển vốn và lao động đòi hỏi không chỉ hoàn toàn tự do thương mại mà còn đòi hỏi không được có những hàng rào ngăn cản việc luân chuyển vốn và lao động từ nước này sang nước khác nữa. Khi học thuyết về thương mại tự do mới xuất hiện thì điều này quả là còn xa vời lắm. Lúc đó việc luân chuyển vốn và lao động đã gặp một loạt rào cản. Vì không nắm được các điều kiện, không tin tưởng vào luật pháp và trật tự và nhiều lí do tương tự, các nhà tư bản không muốn đầu tư ra nước ngoài. Còn công nhân thì không dám rời bỏ đất nước quê hương vì không chỉ không biết tiếng mà sợ những rắc rối về luật pháp, tôn giáo và nhiều khó khăn khác nữa.

Chắc chắn là đầu thế kỉ XIX nói chung vốn và lao động đã có thể luân chuyển tự do trong nội bộ mỗi nước, chỉ có chuyển từ nước này sang nước khác mới gặp cản trở mà thôi. Lời biện hộ duy nhất cho sự khác biệt chính sách kinh tế về nội thương và ngoại thương phải được tìm trong sự kiện là đối với nội thương thì vốn và lao động có thể luân chuyển tự do, còn ngoại thương thì lại khác. Như vậy là vấn đề mà lí thuyết kinh tế cổ điển phải giải thích có thể được viết như sau: Thương mại tự do hàng hoá tiêu dùng giữa các nước sẽ bị ảnh hưởng như thế nào nếu việc luân chuyển vốn và lao động từ nước này sang nước kia bị hạn chế?

Lí thuyết của Ricardo đã trả lời câu hỏi này. Các ngành sản xuất phân bố giữa các nước sao cho mỗi nước đều dành hết nguồn lực của nó cho những ngành mà họ có ưu thế nhất so với các nước khác. Những người trọng tiền sợ rằng đất nước có những điều kiện sản xuất bất lợi sẽ nhập nhiều hơn xuất và cuối cùng sẽ không còn tiền. Họ đòi phải ban hành đúng lúc những biểu thuế có tính cách bảo hộ và cấm nhập khẩu nhằm tránh những trường hợp đáng tiếc như thế. Lí thuyết kinh tế cổ điển chứng minh rằng sợ hãi như thế là thiếu cơ sở. Ngay cả đất nước mà điều kiện sản xuất trong từng ngành đều kém thuận lợi hơn các nước khác thì cũng không cần sợ là họ sẽ xuất ít hơn là nhập. Lí thuyết cổ điển đã chứng minh một cách xuất sắc và hiển nhiên, không thể chối cãi được rằng ngay cả những nước có những điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi cũng phải thấy rằng họ sẽ được lợi nếu nhập từ các nước có những điều kiện sản xuất tương đối bất lợi những món hàng mà chắc chắn là họ sẽ sản xuất với giá rẻ hơn, nhưng không rẻ bằng những món hàng mà họ đang sản xuất.

Như vậy là, lí thuyết cổ điển về thương mại tự do đã nói với các chính khách như sau: Có những nước có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi và có những nước mà điều kiện tự nhiên tương đối bất lợi. Một khi không có sự can thiệp của chính phủ vào quá trình phân công lao động quốc tế, từng nước sẽ tìm được vị trí của mình trong nền kinh tế thế giới bất chấp những điều kiện sản xuất của nó so với những nước khác. Dĩ nhiên là những nước có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn sẽ giàu hơn những nước khác, nhưng đấy là sự kiện mà biện pháp chính trị không thể thay đổi được. Đấy đơn giản chỉ là kết quả của sự khác biệt trong những tác nhân của quá trình sản xuất mà thôi.

Chủ nghĩa tự do trước đây đã gặp phải tình hình như thế và nó đã trả lời bằng lí thuyết cổ điển về thương mại tự do. Nhưng kể từ thời Ricardo tình hình thế giới đã thay đổi rất nhiều và vấn đề mà lí thuyết về thương mại tự do phải giải quyết trong vòng sáu mươi năm trước khi nổ ra Chiến tranh Thế giới khác hẳn với vấn đề mà nó phải giải quyết hồi cuối thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX. Những rào cản, ngăn chặn việc luân chuyển tự do vốn và lao động hồi đầu thế kỉ XIX đã phần nào được rỡ bỏ. Trong nửa sau thế kỉ XIX các nhà tư bản dễ dàng đầu tư ra nước ngoài hơn thời Ricardo còn sống rất nhiều. Luật pháp và trật tự đã được thiết lập trên nền tảng vững chắc hơn; hiểu biết về nước ngoài, phong tục và truyền thống cũng nhiều hơn; và các công ty cổ phần tạo điều kiện cho người ta chia rủi ro của những công ty ngoại quốc cho nhiều người và như vậy cũng là làm cho rủi ro của mỗi người giảm đi. Dĩ nhiên sẽ là cường điệu khi nói rằng đầu thế kỉ XX chuyển vốn từ nước này sang nước kia cũng dễ dàng như chuyển từ các vùng trong một nước. Chắc chắn là vẫn còn một số khó khăn, nhưng giả định rằng đồng vốn phải được giữ trong biên giới quốc gia mỗi nước đã không còn giá trị nữa. Lao động cũng tương tự như vậy. Trong nửa sau thế kỉ XIX hàng triệu người đã rời bỏ châu Âu để ra tìm vận may ở hải ngoại.

Vì những điều kiện mà lí thuyết thương mại tự do cổ điển giả định, mà cụ thể là sự bất động của vốn và lao động đã không còn tồn tại nữa cho nên sự khác biệt giữa hậu quả của thương mại tự do trong nội thương và ngoại thương cũng không còn giá trị nữa. Nếu vốn và lao động có thể di chuyển một cách tự do từ nước nọ sang nước kia như giữa các vùng trong mỗi nước thì cũng không còn lí do phân biệt hậu quả của nền thương mại tự do trong nội và ngoại thương nữa. Vì khi đó điều gì đúng với nội thương cũng sẽ đúng với ngoại thương: kết quả của nền thương mại tự do là sản xuất sẽ được bố trí ở những vùng có điều kiện tương đối thuận lợi, còn những vùng không thuận lợi thì không được sử dụng. Vốn và lao động sẽ chảy từ những vùng có điều kiện sản xuất ít thuận lợi hơn sang những vùng có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn hay nói chính xác hơn là chảy từ những nước lâu đời hơn và có mật độ dân số cao hơn ở châu Âu sang châu Mĩ và châu Úc, tức là chảy sang những vùng có thể cung cấp những điều kiện sản xuất thuận lợi hơn.

Đối với các dân tộc châu Âu sở hữu cả những khu vực định cư cũ ở châu Âu lẫn lãnh thổ thuộc địa hải ngoại thì điều này chỉ có nghĩa là họ đưa một số cư dân ra ngoại quốc mà thôi. Thí dụ như nước Anh, một số đồng bào của họ hiện sống ở Canada, Australia và Nam Phi. Những người di cư rời khỏi nước Anh vẫn có thể giữ quyền công dân ở chính quốc. Nhưng nước Đức thì lại khác. Người Đức ra di cư phải sống trên vùng lãnh thổ của nước khác và giữa những người thuộc dân tộc khác. Người đó trở thành công dân nước khác và có nhiều khả năng là con cháu của người đó sẽ không còn liên hệ với Đức nữa và sau một, hai hoặc nhiều lắm là ba thế hệ, quá trình đồng hoá với dân ngoại tộc sẽ hoàn thành. Đức gặp phải vấn đề là phải có thái độ như thế nào trước việc một phần vốn và người dân của họ di cư ra nước ngoài.

Không được lầm lẫn và cho rằng trong nửa cuối thế kỉ XIX, trong chính sách thương mại, Anh và Đức phải đối diện với cùng một loại vấn đề. Đối với Anh, vấn đề là có nên cho một số thần dân của họ di cư sang những nước nằm trong Liên hiệp Anh hay không và họ không tìm thấy bất kì lí do nào để phải ngăn chặn việc di dân như thế. Đối với Đức, vấn đề lại là nên có thái độ như thế nào trước việc người dân của họ di cư đến các nước thuộc địa của Anh, đến Nam Phi và những nước khác và có nhiều khả năng là sau một thời gian những di dân này sẽ từ bỏ quốc tịch và dân tộc của mình như hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu người di dân trước đây đã làm. Đế chế Đức không muốn chuyện đó. Vì vậy mà trong những năm 60 và 70 (1860-1870 – ND) Đức đã tiến gần đến chính sách thương mại tự do thì cuối những năm 70 lại chuyển sang chế độ bảo hộ, bằng cách áp dụng thuế nhập khẩu nhằm bảo vệ nền nông nghiệp và công nghiệp Đức khỏi những người cạnh tranh ngoại quốc. Nhờ biểu thuế có tính cách bảo hộ như thế mà nông nghiệp Đức mới phần nào đứng vững được trước sự cạnh tranh của những trang trại ở Đông Âu và hải ngoại có đất đai màu mỡ hơn và nền công nghiệp Đức có thể tạo ra những tập đòan độc quyền nhằm giữ giá bán trong nước cao hơn giá trên thị trường thế giới và dùng lợi nhuận đó để bù lỗ cho những món hàng xuất khẩu mà họ sẽ bán với giá thấp hơn giá của những công ty cạnh tranh ngoại quốc.

Nhưng mục đích mà người ta đặt ra khi quay trở lại với chủ nghĩa bảo hộ thì sẽ chẳng bao giờ đạt được. Giá thành sản xuất và giá sinh hoạt càng cao - đấy là hậu quả trực tiếp của những biểu thuế mang tính cách bảo hộ - thì việc buôn bán của họ càng gặp nhiều khó khăn hơn. Chắc chắn là Đức đã có điều kiện tạo ra một cú tăng trưởng đột biến về công nghiệp trong ba thập niên đầu của thời kì chính sách thương mại mới. Nhưng cú nhảy này vẫn có thể xảy ra mà không cần áp dụng biểu thuế bảo hộ như thế vì đấy chủ yếu là do người ta đã áp dụng những phương pháp sản xuất mới trong ngành sản xuất gang thép và công nghiệp hoá học, tạo điều kiện cho việc sử dụng một cách hiệu quả hơn nguồn lực tự nhiên mà Đức có thừa.

Chính sách bài tự do, cấm đoán việc luân chuyển lao động giữa các nước và ngăn cản đáng kể việc luân chuyển đồng vốn, đã xoá đi phần nào sự khác biệt về điều kiện trong thương mại quốc tế giữa thời kì đầu và thời kì cuối thế kỉ XIX và quay lại với những điều kiện từng giữ thế thương phong khi học thuyết về thương mại tự do mới hình thành. Một lần nữa vốn và trước hết là lao động đã không còn được tự do luân chuyển nữa. Trong những điều kiện hiện nay, việc buôn bán một cách tự do hàng hoá tiêu dùng không thể làm cho phong trào di dân gia tăng một cách đáng kể được. Một lần nữa kết quả sẽ lại là từng dân tộc sẽ tham gia vào những lĩnh vực và những ngành sản xuất mà nước họ có điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi hơn.

Dù điều kiện tiên quyết cho sự phát triển nền thương mại quốc tế có như thế nào đi nữa thì biểu thuế mang tính bảo hộ chỉ có thể dẫn đến kết quả sau đây: không cho người ta sản xuất ở những nơi có điều kiện tự nhiên và xã hội thuận lợi nhất và buộc người ta phải sản xuất ở những nơi có điều kiện bất lợi hơn. Vì vậy mà chủ nghĩa bảo hộ chỉ dẫn đến kết quả là năng suất lao động sẽ giảm đi. Những người ủng hộ thương mại tự do hoàn toàn không phủ nhận là cái ác mà các dân tộc muốn dùng các biện pháp bảo hộ để chống lại đúng là cái ác. Họ chỉ khẳng định rằng các phương tiện mà những người theo chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa bảo hộ đưa ra không thể loại bỏ được cái ác đó mà thôi. Vì vậy mà họ đề nghị một cách làm khác. Người theo trường phái tự do cho rằng muốn tạo điều kiện cho một nền hoà bình bền vững thì phải thay đổi một trong những đặc trưng của tình hình thế giới hiện nay: đấy là khi những người di dân từ những nước như Đức và Ý bị đối xử như những đứa con ghẻ và bị buộc phải từ bỏ quốc tịch của mình; tất cả đều là do thế giới bị chia tách và áp dụng chính sách bài tự do mà ra.

Nguồn: http://mises.org/liberal.asp



Về tác giả

Advertisement

Post a Comment

 
Top