BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
KẾT LUẬN
Bản chất của Con đường
·
Cốt lõi của tất cả
những giáo lý và đạo sư tâm linh vĩ đại có thể được tóm tắt trong một vài câu
nói đơn giản. (Về mặt thực tiễn, tất cả đều quy về lời khuyên: Tránh những điều
làm cho ta yếu đi và theo đuổi những điều làm cho ta mạnh lên trong kiểm tra cơ
thể động học!).
·
Hãy là người dễ
tính, nhân hậu, tha thứ, từ bi và yêu thương vô điều kiện đối với sự sống trong
mọi biểu hiện của nó mà không có ngoại lệ, kể cả với chính mình.
·
Tập trung vào
phụng sự vô tư vô ngã và ban phát tình yêu, sự quan tâm và tôn trọng đối với tất
cả chúng sinh.
·
Tránh những thứ
tiêu cực và ham muốn thế tục cùng tham đắm hưởng lạc và của cải.
·
Từ bỏ ý kiến chủ
quan, phán xét đúng sai, sự phù phiếm của việc cho rằng mình là người “đúng”,
và cái bẫy chính nghĩa.
·
Tìm cách hiểu hơn
là lên án.
·
Tôn kính những bậc
thầy của những nguyên tắc cơ bản này và không cần quan tâm tới tất cả những người
khác.
·
Áp dụng những
nguyên tắc này đối với quan điểm vế chính mình cũng như về người khác.
·
Tin tưởng vào
tình yêu, lòng thương xót, trí tuệ vô biên và sự từ bi của Thần tính, Đấng nhìn
thấy mọi lỗi lầm, hạn chế và yếu đuối của con người.
·
Tránh những mô tả
tiêu cực về Thiên Chúa—ghen tị, tức giận, phá hoại, thiên vị, ưu ái, thù hận, bất
an, dễ bị tổn thương, ràng buộc bởi hợp đồng, v.v. —như là sai lầm khi nhân
cách hóa Ngài. Hiểu rằng lên án và sợ phán xét bắt nguồn từ bản ngã. Đặt đức
tin và niềm tin vào tình yêu của Thiên Chúa, Đấng tha thứ tất cả.
·
Nhận ra rằng, giống
như mặt trời, tình yêu của Thiên Chúa chiếu sáng bình đẳng cho tất cả mọi người,
mọi vật.
CHO HÀNH TRÌNH TÂM LINH
Bạn có thể chọn một công cụ chính, cộng thêm một vài công cụ khác, nhưng không cần nhiều. Những công cụ đơn giản, được áp dụng nhất quán, sẽ dẫn tới mặc khải về những sự thật tâm linh mà không cần phải được tiếp thu bằng trí tuệ, bởi vì chúng tự hiện ra một cách rõ ràng. Ngoài ra, chúng chỉ hiện ra khi hoàn cảnh thích hợp và có ích, và bởi vì chúng không phải là thủ đắc của tâm trí, chúng không trở thành sự phù phiếm tâm linh. Sau đây là một số công cụ cơ bản đã được kiểm chứng và mang lại kết quả to lớn qua rất nhiều thời đại:
1. Tử tế với mọi thứ và mọi
người, kể cả với chính mình, mọi lúc, không có ngoại lệ.
2. Tôn kính mọi sự sống,
trong mọi biểu hiện của nó, dù là gì, ngay cả khi bạn không hiểu nó.
3. Không giả định bất kỳ
kiến thức đáng tin cậy nào về bất cứ điều gì. Hãy cầu xin Thiên Chúa mặc khải
ý nghĩa.
4. Có ý định nhìn thấy vẻ
đẹp tiềm ẩn của tất cả những gì đang tồn tại—rồi nó sẽ tự mặc khải.
5. Tha thứ cho mọi thứ bạn
chứng kiến và trải nghiệm, bất kể đó gì. Nhớ rằng Chúa Christ, Đức Phật và
Krishna đều nói rằng mọi lỗi lầm đều do vô minh. Socrates nói rằng tất cả mọi
người chỉ có thể lựa chọn những gì họ tin là tốt.
6. Tiếp cận mọi khía cạnh
của cuộc sống với thái độ khiêm nhường, và sẵn sàng từ bỏ mọi lập trường và lập
luận hoặc lợi ích về mặt tinh thần/cảm xúc.
7. Sẵn sàng từ bỏ mọi tri
giác về lợi lộc, ham muốn hoặc lợi nhuận và do đó phục vụ đời sống một cách vô
tư vô ngã trong mọi biểu hiện của nó.
8. Biến cuộc đời mình
thành một lời cầu nguyện sống động bằng ý định, hòa hợp, khiêm nhường và phó
thác. Thực tại tâm linh đích thực thực chất là một cách sống trên thế gian này.
9. Bằng cách xác minh, xác
nhận các tầng tâm thức và sự thật tâm linh của tất cả các đạo sư, giáo lý, nhóm
tâm linh và tài liệu mà bạn dự định hòa hợp hoặc trở thành đệ tử.
10. Chấp nhận rằng bằng tuyên bố tâm linh, cam kết và phó thác, Cái Biết sẽ nảy sinh, nó cung cấp sự hỗ trợ, thông tin và tất cả những gì cần thiết cho toàn bộ hành trình.
Công
cụ mạnh mẽ nhất nằm trong phạm vi ý chí chính là sùng kính. Vì vậy, không chỉ sự
thật tâm linh mà cả mức độ sùng kính của bạn đối với nó mới tạo ra quyền năng
chuyển hóa. Một tác phẩm kinh điển chứng minh hiệu quả của giản dị và sùng kính
là cuốn The Practice of the Presence of God (1692) có điểm hiệu chỉnh 575
và nhấn mạnh tầm quan trọng của kiên định.
Chính
động cơ tạo nên giá trị tâm linh. Dâng hiến hành động của bạn như là phụng sự của
tình yêu thương đối với cuộc sống là thánh hóa chúng và chuyển hoá chúng từ những
động cơ ích kỷ thành những món quà vị tha. Ngay cả nhiệm vụ nhỏ nhất cũng có thể
được xem là phục vụ lợi ích chung, và nếu nhìn nhận theo cách đó, mọi nỗ lực đều
trở thành cao quý.
Mọi
người đều có cơ hội đóng góp vào sự hài hòa và vẻ đẹp bằng sự tử tế đối với người
khác và từ đó hỗ trợ tinh thần nhân loại. Những gì được ban tặng một cách tự do
cho đời sống sẽ quay trở lại với chúng ta bởi vì chúng ta cũng là một phần của đời
sống đó. Giống như những gợn sóng trên mặt nước, mọi món quà đều trở lại với
người tặng. Những gì chúng ta khẳng định ở người khác, thực chất là chúng ta
cũng khẳng định ở chính mình.
Thăng
tiến về mặt tâm linh là mang lại giá trị cho tất cả mọi người. Chính nhờ vào
tâm thức tập thể, mỗi người thăng tiến đều góp phần nâng cao tầng tâm thức cho
toàn thể nhân loại. Khi tầng tâm thức được nâng cao, các sự kiện như chiến
tranh, đau khổ, vô minh, tàn bạo và bệnh tật sẽ giảm đi. Khi tự mình thăng tiến
là bạn đang giúp đỡ mọi người và mọi thứ. Hãy trân trọng rằng mỗi bước tiến đều
mang lại lợi ích cho tất cả mọi người. Trong một vũ trụ toàn ảnh, thành tựu của
mỗi cá nhân đều đóng góp vào sự tiến bộ và hạnh phúc của toàn thể.
HƯỚNG DẪN DÀNH CHO ĐỘC GIẢ
Câu hỏi của các nhóm
LỜI GIỚI THIỆU
1. Susan nói rằng Bản đồ
giúp chúng ta phát tâm từ bi đối với những người (trong đó có chính chúng ta)
đang đau khổ vì những trạng thái tiêu cực. Bạn có thể đưa ra một ví dụ từ cuộc
sống của mình?
2. Susan cũng nói rằng Bản
đồ mang lại hy vọng cho những người đang tuyệt vọng. Đúng với bạn đến mức nào?
3. Còn điều gì khác trong
Lời giới thiệu gây được ấn tượng đối với bạn?
DẪN NHẬP
1. Bạn đã học được điều gì
về cuộc đời của Tiến sĩ Hawkins mà bạn cảm thấy hứng thú hoặc xúc động? Fran
chia sẻ rằng việc tiếp xúc với Bản đồ Tâm thức là một bước ngoặt trong cuộc đời
bà. Bạn có thể đồng cảm với điều đó không?
2. Fran nói rằng Bản đồ
cung cấp hình ảnh trực quan tuyến tính, nhưng bản thân hành trình lại không phải
là một quá trình tuyến tính. Bạn đã nhận thấy điều đó như thế nào trong cuộc sống
của chính mình?
3. Còn điều gì khác trong
phần Dẫn nhập gây được ấn tượng đối với bạn?
1. Trên Bản đồ Tâm thức,
Tình yêu mạnh hơn hẳn Sợ hãi, được minh họa trong đoạn văn ngắn mở đầu Phần I.
Bạn đã từng trải nghiệm điều này chưa?
2. Tiến sĩ Hawkins nói rằng
Bản đồ đảo ngược sự hiểu biết của thế giới về nguyên nhân và kết quả. Ông giới
thiệu hình ảnh trực quan đột phá của mình để cho thấy các hiện tượng thực sự xảy
ra như thế nào: một “mô thức hút” (ABC) là nguồn gốc của bất kỳ sự kiện nào có
thể quan sát được (A→ B →C). Bạn sẽ áp dụng điều này vào cuộc sống của mình như
thế nào?
3. Khi bạn nhìn vào các cột
quan điểm về Thiên Chúa và quan điểm về cuộc sống trên Bản đồ, điều gì gây ấn
tượng nhất đối với bạn? Bạn có thể chia sẻ điều gì về sự phát triển trong quan
điểm của chính mình? Những quan điểm tiêu cực còn sót lại nào mà bạn muốn loại
bỏ?
4. Tiến sĩ Hawkins nói, “Bản
đồ không biểu thị ‘tốt hơn’, đó là sự phóng chiếu của bản ngã.” Điều này tạo ho
bạn cảm giác gì?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 2
1. Việc tiếp xúc với các Tầng
Tâm thức ảnh hưởng đến bạn như thế nào?
2. Can đảm là yếu tố quan
trọng để chúng ta nói lên sự thật về chính mình: ở đây nảy sinh sẵn sàng ngừng
đổ lỗi và chấp nhận trách nhiệm về hành động, cảm xúc và niềm tin của chính
mình. Trải nghiệm của bạn về điều này như thế nào?
3. Tầng tiêu cực nào (dưới
200) đôi khi làm bạn vấp ngã? (Nhớ rằng ngay cả khi chúng ta có thể có điểm hiệu
chỉnh ở tầng tích cực, chúng ta vẫn đang nỗ lực buông bỏ những năng lượng thấp
hơn.)
4. Mặc dù Tiến sĩ Hawkins
nói rằng rất hiếm người có điểm hiệu chỉnh ở tầng Tình yêu (500) và cao hơn,
ông cũng nói rằng nhiều người “thoáng thấy” những trạng thái đó. Khoảnh khắc
nào trong cuộc đời bạn đã “thoáng thấy” miền Tình yêu, Niềm vui hoặc An bình?
5. Điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 3
1. Hãy cho một ví dụ từ
chính cuộc sống của bạn về “sở hữu - hành động - hiện hữu”?
2. “Bản ngã không phải là
kẻ thù.” Tiến sĩ Hawkins giải thích điều này như thế nào? Bạn sẽ ra sao nếu áp
dụng sự thật này một cách vô điều kiện vào cuộc sống của mình?
3. “Không có lý do gì để
thiếu kiên nhẫn với quá trình tiến hóa tâm thức. Cách tốt nhất để đóng góp là
công việc thầm lặng, siêng năng trong việc trở thành một người yêu thương, tử tế
và tự chịu trách nhiệm hơn từ bên trong.” Trái ngược với quan điểm phổ biến, Tiến
sĩ Hawkins nói rằng chúng ta đóng góp nhiều hơn cho xã hội bằng công việc nội
tâm hơn là bằng hoạt động bên ngoài. Như Gandhi đã nói, “Hãy là sự thay đổi mà
bạn muốn thấy trên thế giới.” Công việc nội tâm của bạn hiện nay là gì? Bạn muốn
đóng góp thay đổi nội tâm nào cho thế giới?
4. Tiến sĩ Hawkins nói rằng
cuộc sống xuất hiện một cách hoàn hảo theo Ý Chí Thiêng Liêng, vốn là từ bi và
công bằng. Chúng ta có thể hỏi, “Vậy tại sao những điều xấu lại xảy ra với người
tốt?” Ông trả lời, “‘Tốt’ và ‘xấu’ là do tri giác của bạn. Thực tế, nghịch cảnh
có thể được coi là một món quà.” (Thật vậy, các nghiên cứu gần đây cho thấy những
người từng trải qua nghịch cảnh có tỷ lệ hài lòng với cuộc sống, hạnh phúc và
khả năng phục hồi cao hơn.) Trải nghiệm của bạn về “món quà” của nghịch cảnh là
gì?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 4
1. Tiến sĩ Hawkins nói:
“Tin tốt là chỉ cần bạn hoà hợp với một sự thật đầy sức mạnh cũng có thể tạo ra
sự khác biệt lớn trong cuộc sống của bạn. Về sức khỏe, sự thật mạnh mẽ này là sự
chuyển từ “Tôi là một cơ thể” sang “Tôi có một cơ thể”. Có lĩnh vực nào trong
cuộc sống của bạn mà bạn muốn thực hiện sự chuyển đổi này không? Ví dụ: ngoại
hình, tình dục, lão hóa, hình ảnh về chính mình, thể thao, thực phẩm và/hoặc bất
kỳ lĩnh vực nào khác.
2. “‘Những gì được lưu giữ
trong tâm trí có xu hướng hiển lộ ra bên ngoài’ – bao gồm cả những niềm tin vô
thức.” Tiến sĩ Hawkins nói rằng đây là “sự thật cốt lõi” và “quy luật của tâm
thức” giúp gỡ bỏ phóng chiếu sợ hãi của chúng ta ra thế giới bên ngoài. Khi
chúng ta buông bỏ niềm tin rằng điều gì đó “ở ngoài kia” sẽ làm hại chúng ta,
phản ứng của cơ thể sẽ trở nên rõ ràng hơn. Những ví dụ về “niềm tin vô thức”
đã từng tác động đến cuộc sống của bạn hoặc gia đình bạn là gì? Hiện tại có điều
gì đang xảy ra với cơ thể bạn mà có thể đang yêu cầu bạn khám phá ra một niềm
tin vô thức không?
3. Hãy thử “Các bước tự chữa
lành”. Kết quả ra sao?
4. Để giải phóng chính
mình khỏi những niềm tin vô thức, Tiến sĩ Hawkins khuyên nên sử dụng cụm từ
“Tôi là một thực thể vô biên, không bị lệ thuộc vào _______,” và điền vào chỗ
trống bằng bất kỳ bệnh tật hoặc chất nào mà tâm trí đã lập trình mà chúng ta
coi là nguy hiểm. Bạn muốn điền những gì vào chỗ trống đó?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 5
1. Đọc lại câu chuyện ở đầu
Phần II, về nữ nhạc sĩ đã chuyển từ suy nghĩ “Tôi không thể” sang can đảm và sẵn
sàng chia sẻ tài năng âm nhạc của mình với người khác. Và đọc lại câu chuyện về
người đàn ông đã dấn thân vào việc làm nhà búp bê và đem bán. Điều gì hiện lên
trong tâm trí bạn khi bạn suy ngẫm lại những câu chuyện này sau khi đọc xong
chương này? Có điều gì bạn yêu thích nhưng chưa thể hiện hết? “Bước” nào bạn có
thể thực hiện để đạt được thành công trong lĩnh vực đó của cuộc đời?
2. Bạn đã thành công với
những bước nào? Hãy mô tả trải nghiệm của bạn, vì nó mang lại sức mạnh và hy vọng
cho người khác.
3. Bạn đã mắc sai lầm ở những
bước nào? Mô tả trải nghiệm của bạn để người khác có thể học hỏi từ những sai lầm
của bạn.
4. Kinh nghiệm của bạn khi
thực hiện hai “phương pháp thành công” là gì?
5. Điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 6
1. Quá trình hồi phục là:
khi chúng ta buông bỏ những năng lượng tiêu cực (dưới 200 trên Bản đồ), hạnh
phúc, sáng tạo, niềm vui và tình yêu bẩm sinh của chúng ta sẽ tỏa sáng. Trải
nghiệm của bạn với quá trình này như thế nào?
2. Hiện tại bạn đang nghiện
chất gì, thói quen bên trong hay thói quen bên ngoài nào? Bạn có thể thực hiện
bước nào để giải thoát chính mình?
3. Bước 5 trong AA—chia sẻ
với người khác “bản chất chính xác của những sai lầm của chúng ta”—là một bước
ngoặt. Tiến sĩ Hawkins nói, “Chia sẻ nó sẽ thay đổi trường năng lượng bằng cách
loại bỏ điện tích tiêu cực khỏi nó.” “Bí mật” không còn khả năng “ăn mòn và phá
hủy” nữa. Kinh nghiệm của bạn với điều này như thế nào? Hiện tại có điều gì bạn
đang giữ kín trong lòng không? Bạn có sẵn sàng chia sẻ nó với người khác (người
đỡ đầu, bạn bè, cố vấn, mục sư)? Nếu có, kết quả ra sao?
4. Tiến sĩ Hawkins nói,
“Cách thoát khỏi vực sâu là quan tâm đến người khác. Chúng ta sẽ vươn lên cao
hơn với mỗi hành động yêu thương, mỗi ý định yêu thương và sẵn sàng tha thứ cho
mình và người khác.” Điều này đã đúng với bạn đến mức nào? Lần tới khi bạn “ở
trong vực sâu”, điều gì sẽ xảy ra khi bạn thử phương pháp của ông để đối xử tử
tế với người khác?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 7
1. Điều gì hiện lên trong
tâm trí khi đọc câu chuyện mở đầu Phần III—về người đàn ông đã buông bỏ suy
nghĩ “Tôi không thể nhảy” và vươn lên đỉnh Bản đồ? Bạn đang “mắc kẹt” và kháng
cự ở đâu trong cuộc sống? “Phần thưởng” khi ở lại đó là gì? (Hãy nhớ rằng Tiến
sĩ Hawkins đã tóm tắt hành trình giải phóng thành: “Điều duy nhất bạn cần biết
về bất kỳ rào cản nào là phần thưởng cho bản ngã là gì. Người trải nghiệm nhận
được gì từ lập trường đó, tiêu cực đó, nơi ‘mắc kẹt’ đó?”)
2. Lưu ý rằng, kết quả của
việc buông bỏ một suy nghĩ “Tôi không thể”, toàn bộ cuộc đời của người đàn ông này
đã thay đổi. “Động lực” từ sự buông bỏ duy nhất đó đã “loại bỏ vô số rào cản và
giới hạn”. Bạn đã từng trải nghiệm điều gì tương tự chưa, khi việc buông bỏ một
rào cản duy nhất đã giải phóng bạn khỏi nhiều rào cản khác?
3. Theo Tiến sĩ Hawkins, sự
khác biệt giữa ý chí cá nhân và ý chí tâm linh là gì? Bạn có ví dụ nào từ cuộc
sống của chính mình để minh họa sự khác biệt đó?
4. Khi đọc qua danh sách
“Những thứ hấp dẫn và ác cảm”, điều gì nổi bật nhất và có thể áp dụng cho bạn
ngay trong lúc này?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 8
1. Áp dụng phần “Đặc điểm
của các đạo sư và giáo lý chính trực” vào hành trình của chính bạn. Có bất kỳ
“dấu hiệu cảnh báo” nào đối với nhóm mà bạn đang tham gia hoặc giáo lý mà bạn
đang theo dõi?
2. Tiến sĩ Hawkins nói, “Vấn
đề chính ban đầu là thiếu tỉnh thức về sự khác biệt giữa thực tại tâm linh đích
thực và các lĩnh vực huyền bí, siêu nhiên hoặc thần bí… Ngược đời là hấp dẫn hướng
đến những người tìm kiếm ngây thơ chưa làm chủ được chiều không gian này, chứ đừng
nói đến những chiều không gian vọng tưởng khác.” Kinh nghiệm của bạn trong việc
phân biệt thực tại tâm linh đích thực với những thực tại “vọng tưởng” là gì? Những
dấu hiệu cần tìm kiếm trong mỗi loại là gì?
3. Điều gì hiện lên trong
bạn khi bạn đọc những mô tả của Tiến sĩ Hawkins về các trạng thái Chứng ngộ, Kiến
chân tính và Tình yêu vô biên? Bạn nhận được sự khích lệ nào từ những chia sẻ của
ông?
4. Tiến sĩ Hawkins nói,
“Không phải tâm trí là trở ngại cho sự Chứng ngộ; mà chính là sự đồng nhất của
bạn với hoạt động của tâm trí như là ‘tôi’.” Áp dụng điều này cho chính mình: Bạn
nhận thức được bằng những cách nào rằng bạn đồng nhất với hoạt động của tâm trí
như là “tôi”?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 9
1. Tiến sĩ Hawkins nói,
“Do đó, công việc tâm linh chủ yếu là buông bỏ những điều được cho là đã biết để
hướng tới những điều chưa biết.” Điều này áp dụng như thế nào với bạn ngay trong
lúc này?
2. Đọc chậm rãi phần “Những
phẩm chất và thái độ quý giá nhất dành cho người tìm kiếm tâm linh,” có thể
dành cả một ngày để suy ngẫm về từng phẩm chất một. Có phẩm chất nào đặc biệt
khó để bạn thấu hiểu và nội tâm hóa không?
3. “Sẵn sàng là nền tảng của
mọi tiến bộ tâm linh cũng như thành công trong cuộc sống,” Tiến sĩ Hawkins nói.
Trong các nhóm 12 bước, khi cảm thấy có rất nhiều kháng cự, chúng ta được khuyến
khích: “Vậy thì, ít nhất bạn có thể cầu nguyện để có được sẵn sàng!” Điều gì
trong cuộc sống của bạn đang chờ đợi bạn sẵn sàng?
4. Trong phần “Những phẩm
chất và thái độ quý giá nhất dành cho người tìm kiếm tâm linh,” phẩm chất hoặc
thái độ nào bạn cảm thấy mình được kêu gọi trau dồi nhất?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
KẾT LUẬN
1. Trong số những lời dạy
và giáo lý cốt lõi của các đạo sư tâm linh vĩ đại, lời dạy nào thực sự chạm đến
trái tim bạn ngay trong lúc này?
2. Trong số những “Công cụ
đơn giản nhưng có giá trị lớn”, công cụ nào thu hút bạn nhất hiện nay? Tìm cách
áp dụng nó vào thực tiễn một cách liên tục, không có ngoại lệ, và chia sẻ trải
nghiệm của bạn.
3. Còn điều gì khác trong
phần Kết luận gây được ấn tượng với bạn?
PHỤ LỤC A
Hiệu chỉnh tâm thức
LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Nền tảng của cuốn sách này là công
trình nghiên cứu được tiến hành trong suốt hơn 20 năm, bao gồm hàng triệu lần
hiệu chỉnh trên hàng nghìn đối tượng kiểm tra thuộc mọi lứa tuổi và tính cách,
và từ tất cả các tầng lớp xã hội. Theo thiết kế, về phương pháp, nghiên cứu này
mang tính lâm sàng và do đó rất có ý nghĩa thực tiễn. Vì phương pháp kiểm tra
này có giá trị khi áp dụng cho tất cả các hình thức biểu hiện của con người, những
lần hiệu chỉnh đã được thực hiện thành công cho các lĩnh vực văn học, kiến trúc,
nghệ thuật, khoa học, các sự kiện trên thế giới và sự phức tạp trong mối quan hệ
của con người. Không gian kiểm tra để xác định dữ liệu là toàn bộ trải nghiệm của
con người trong suốt mọi thời đại.
Về mặt tâm thần, các đối tượng kiểm tra
trải dài từ những người mà thế giới gọi là “bình thường” đến những bệnh nhân
tâm thần rất nặng. Các đối tượng được kiểm tra là những người sống ở Canada,
Hoa Kỳ, Mexico và khắp Nam Mỹ và Bắc Âu. Họ thuộc mọi quốc tịch, nguồn gốc dân
tộc và tôn giáo, từ trẻ em đến người già trên 90 tuổi, và bao gồm một phổ khá rộng
về sức khỏe thể chất và tinh thần. Các đối tượng được kiểm tra riêng lẻ và theo
nhóm do nhiều người kiểm tra và nhóm người kiểm tra khác nhau tiến hành. Nói
chung, kết quả thu được là giống hệt nhau và có thể lặp lại được, đáp ứng yêu cầu
cơ bản của phương pháp khoa học: khả năng lặp lại một cách hoàn hảo về mặt thí
nghiệm.
Các đối tượng được chọn một cách ngẫu nhiên và được kiểm tra trong nhiều bối cảnh vật chất và hành vi khác nhau: trên đỉnh núi và trên bãi biển, tại các bữa tiệc và trong quá trình làm việc hàng ngày, trong những khoảnh khắc vui vẻ và những khoảnh khắc buồn bã. Không có hoàn cảnh nào vừa nói tạo được ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra, vốn được phát hiện là nhất quán trên toàn cầu không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, ngoại trừ phương pháp luận của quy trình kiểm tra. Do tầm quan trọng của yếu tố này, phương pháp kiểm tra sẽ được mô tả chi tiết ngay bên dưới.
KỸ THUẬT KIỀM TRA
Cần hai người. Một người là đối tượng kiểm
tra, giơ một cánh tay theo chiều ngang, song song với mặt đất. Người thứ hai
dùng hai ngón tay ấn xuống cổ tay của cánh tay đang đưa ra và nói, “Chống lại.”
Đối tượng sau đó chống lại áp lực hướng xuống bằng toàn bộ sức lực của mình. Chỉ
đơn giản thế thôi.
Một trong hai người có thể đưa ra tuyên bố. Trong khi đối tượng kiểm tra lưu giữ tuyên bố đó ở trong đầu, sức mạnh cánh tay của người kiểm tra ấn cánh tay của đối tượng xuống. Nếu tuyên bố bị phủ định, sai, hoặc có điểm hiệu chỉnh dưới 200 (xem Chương 3), đối tượng kiểm tra sẽ “yếu đi”. Nếu câu trả lời là có hoặc có điểm hiệu chỉnh trên 200, người đó sẽ “mạnh lên”.
Để minh họa quy trình, người ta có thể
yêu cầu đối tượng giữ hình ảnh Abraham Lincoln trong đầu trong khi được kiểm
tra, và sau đó, để so sánh, là hình ảnh Adolf Hitler. Hiệu ứng tương tự có thể
được minh họa bằng cách giữ trong đầu hình ảnh một người được yêu thương trái
ngược với một người mà người đó sợ hãi hoặc căm ghét, hoặc người mà người đó cảm
thấy hối tiếc sâu sắc.
Sau khi xác định được thang điểm số
(xem bên dưới), có thể tiến hành hiệu chỉnh bằng cách nói, “Mục này [chẳng hạn
như cuốn sách này, tổ chức này, động cơ của người này, v.v.] có điểm hiệu chỉnh
trên 100,” sau đó “trên 200,” rồi “trên 300,” cho đến khi có phản hồi tiêu cực.
Sau đó, có thể tinh chỉnh hiệu chuẩn: “Trên 220? 225? 230?” và cứ thế tiếp tục.
Người kiểm tra và đối tượng kiểm tra có thể đổi chỗ cho nhau, và sẽ thu được kết
quả tương tự. Khi đã quen với kỹ thuật này, có thể sử dụng nó để đánh giá các
công ty, phim ảnh, cá nhân hoặc các sự kiện trong lịch sử; nó cũng có thể được
sử dụng để chẩn đoán các vấn đề đang diễn ra trong cuộc đời.
Người đọc sẽ nhận thấy rằng quy trình
kiểm tra là sử dụng phương pháp kiểm tra cơ bắp để xác minh thật giả của một lời
tuyên bố. Sẽ thu được các phản hồi không đáng tin cậy nếu câu hỏi không được đặt
ra theo kiểu này. Cũng không thể thu được kết quả đáng tin cậy nếu muốn tìm hiểu
về tương lai; chỉ những tuyên bố liên quan đến các điều kiện hoặc sự kiện đã từng
xảy ra trong quá khứ hay hiện tại mới tạo ra câu trả lời nhất quán. Để tránh đưa
vào cảm xúc tích cực hay tiêu cực, thì phải có thái độ khách quan trong suốt
quá trình kiểm tra. Độ chính xác sẽ gia tăng bằng cách yêu cầu người đối tượng
kiểm tra nhắm mắt lại, và không nên có nhạc hoặc bất kỳ yếu tố gây xao nhãng
nào khác.
Thoạt nhìn, bài kiểm tra này dường như
là đơn giản, nên người đặt câu hỏi nên kiểm tra độ chính xác của nó trước hết
là để tự mình thấy hài lòng. Có thể kiểm tra câu trả lời bằng cách hỏi chéo, và
bất cứ người nào đã quen với kỹ thuật này đều nghĩ ra những thủ thuật để tự
mình thấy rằng nó là đáng tin. Người ta sẽ nhanh chóng nhận ra rằng tất cả các
đối tướng đều có cùng một câu trả lời, và đối tượng không cần phải có bất kỳ kiến
thức nào về vấn đề được hỏi, và câu trả lời luôn không phụ thuộc vào ý kiến cá
nhân của đối tượng được kiểm tra.
Chúng tôi thấy rằng sẽ có ích nếu trước
khi kiểm tra người kiểm tra hỏi: “Tôi được phép hỏi câu hỏi này.” Tương tự như
yêu cầu nhập liệu trên thiết bị đầu cuối máy tính, và đôi khi câu trả lời sẽ là
“không”. Sự kiện này chứng tỏ rằng nên bỏ qua câu hỏi đó hoặc hỏi kỹ lý do tại
sao lại trả lời “không”. Có lẽ người đặt câu hỏi đã có những đau khổ về tâm lý do
câu trả lời đưa ra hoặc những hàm ý của nó vào thời điểm đó, hoặc vì những lý
do không rõ khác.
Trong công trình nghiên cứu này, các đối
tượng kiểm tra được yêu cầu tập trung vào một suy nghĩ, cảm xúc, thái độ, ký ức,
mối quan hệ hoặc hoàn cảnh sống cụ thể. Bài kiểm tra thường được thực hiện trên
các nhóm lớn; để minh họa, trước hết, chúng tôi thiết lập nến tảng bằng cách
yêu cầu các đối tượng nhắm mắt lại và giữ trong tâm trí ký ức về một thời điểm
họ tức giận, buồn bã, ghen tị, trầm cảm, mặc cảm tội lỗi hoặc sợ hãi; lúc đó, tất
cả mọi người đều phản ứng yếu. Sau đó, chúng tôi yêu cầu họ giữ trong tâm trí một
người hoặc một hoàn cảnh sống tràn đầy yêu thương, và tất cả mọi người đều phản
ứng mạnh; thường thì một tiếng xì xào ngạc nhiên sẽ lan truyền trong cử toạ về
ý nghĩa của những gì họ vừa khám phá được.
Minh hoạ tiếp theo là chỉ cần lưu giữ hình
ảnh của một chất nào trong tâm trí cũng tạo ra phản ứng tương tự như thể chính
chất đó đang tiếp xúc trực tiếp với cơ thể. Ví dụ, chúng tôi giơ một quả táo được
phun thuốc trừ sâu và yêu cầu khán giả nhìn thẳng vào nó trong khi tiến hành kiểm
tra; tất cả đều phản ứng yếu. Sau đó, chúng tôi giơ lên một quả táo được trồng
theo lối hữu cơ, không có phân hoá học và thuốc trừ sâu, và khi khán giả tập
trung vào nó, họ sẽ lập tức phản ứng mạnh. Vì không ai trong cử toạ biết quả
táo nào là quả nào—và cũng không hề đoán trước được bài kiểm tra—nên độ tin cậy
của phương pháp đã được chứng minh một cách thỏa đáng cho tất cả mọi người.
Muốn có kết quả đáng tin, thì cần nhớ rằng
những người khác nhau xử lý trải nghiệm theo những cách khác nhau: một số người
chủ yếu sử dụng cảm xúc, những người khác thiên về thính giác, và những người
khác lại thiên về thị giác. Do đó, câu hỏi kiểm tra nên tránh những cách diễn đạt
như: “Bạn cảm thấy thế nào?” về một người, tình huống hoặc trải nghiệm; hoặc
“Nó trông như thế nào?” hoặc “Nó nghe như thế nào?” Thông thường, nếu người đó
nói: “Hãy ghi nhớ tình huống [hoặc người, địa điểm, sự vật, hoặc cảm xúc],” thì
các đối tượng sẽ theo bản năng để lựa chọn phương thức phù hợp của riêng họ.
Thỉnh thoảng, trong nỗ lực, thậm chí có
thể là vô thức, để che giấu phản ứng của mình, các đối tượng sẽ chọn phương thức
không phải là phương thức xử lý thông thường của họ và đưa ra phản ứng sai. Khi
người kiểm tra nhận được phản ứng mâu thuẫn, nên diễn đạt lại câu hỏi. Ví dụ, bệnh
nhân có mặc cảm tội lỗi về sự tức giận của mình đối với mẹ có thể nghĩ đến một
bức ảnh của bà mẹ và có phản ứng mạnh. Tuy nhiên, nếu người kiểm tra diễn đạt lại
câu hỏi bằng cách yêu cầu người này nghĩ đến thái độ hiện tại của người đó đối
với mẹ, đối tượng sẽ ngay lập tức phản ứng yếu.
Các biện pháp phòng ngừa khác nhằm duy
trì độ chính xác của bài kiểm tra bao gồm tháo kính, đặc biệt là kính có gọng
kim loại, và mũ (chất liệu tổng hợp trên đầu khiến mọi người có phản ứng yếu).
Cánh tay được kiểm tra cũng không nên đeo đồ trang sức, đặc biệt là đồng hồ đeo
tay làm bằng thạch anh. Khi có phản ứng bất thường, quá trình điều tra sau đó sẽ
tiết lộ nguyên nhân — ví dụ, người kiểm tra có thể đang dùng một loại nước hoa
mà bệnh nhân có phản ứng bất lợi, dẫn đến phản ứng yếu giả mạo. Nếu người kiểm
tra nhiều lần thất bại khi cố gắng thu thập câu trả lời chính xác, thì cần đánh
giá ảnh hưởng của giọng nói của người đó lên các đối tượng kiểm tra khác; một số
người kiểm tra, ít nhất là vào những thời điểm nhất định, có thể có năng lượng
tiêu cực trong giọng nói, ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra.
Một yếu tố khác cần được xem xét khi có
phản ứng mâu thuãn là khung thời gian của ký ức hoặc hình ảnh liên quan. Nếu đối
tượng kiểm tra đang nhớ về một người cụ thể và quan hệ của họ, thì phản ứng sẽ
phụ thuộc vào khoảng thời gian mà ký ức hoặc hình ảnh đó đại diện. Nếu anh ta
đang nhớ về quan hệ với anh trai mình từ thời thơ ấu, anh ta có thể có phản ứng
khác so với việc anh ta đang nhớ về hình ảnh quan hệ đó trong giai đoạn hiện nay.
Việc đặt câu hỏi luôn phải được thu hẹp lại theo hoàn cảnh cụ thể.
Một nguyên nhân khác dẫn đến kết quả kiểm tra mâu thuẫn là tình trạng sức khoẻ thể chất của đối tượng kiểm tra, căng thẳng, hoặc suy giảm chức năng tuyến ức, đấy là do tiếp xúc với trường năng lượng rất tiêu cực. Tuyến ức là trung tâm điều khiển hệ thống kinh mạch của cơ thể, và khi năng lượng của nó thấp, kết quả kiểm tra sẽ không thể đoán trước được. Điều này có thể dễ dàng khắc phục trong vài giây bằng một kỹ thuật đơn giản được phát hiện bởi Bác sĩ John Diamond, mà ông gọi là “đập vào tuyến ức”. Tuyến ức nằm ngay phía sau đỉnh xương ức. Nắm chặt tay, đập mạnh vào vùng này vài lần, giữ nhịp, trong khi mỉm cười và nghĩ về người mà mình yêu thương. Mỗi lần đập, hãy nói “Ha-ha-ha”. Kiểm tra lại sẽ cho thấy sự phục hồi của năng lượng tuyến ức và kết quả kiểm tra sẽ trở lại bình thường.
SỬ DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TRA TRONG CÔG TRÌNH NGHIÊN CỨU NÀY
Kỹ thuật kiểm tra vừa được mô tả là kỹ
thuật do Bác sĩ Diamond đề xuất trong Cơ thể động học Hành vi (Behavioral
Kinesiology). Thay đổi duy nhất trong công trình nghiên cứu của chúng tôi là tương
quan giữa các phản hồi với thang đo logarit để hiệu chỉnh sức mạnh tương đối của
năng lượng từ thái độ, suy nghĩ, cảm xúc, tình huống và quan hệ khác nhau. Vì
bài kiểm tra diễn ra rất nhanh, thực tế chỉ mất chưa đến 10 giây, cho nên có thể
xử lý một lượng thông tin khổng lồ về nhiều vấn đề khác nhau trong thời gian cực
kì ngắn.
Thang điểm bằng số được thu thập theo lối
tự phát từ các đối tượng kiểm tra, dao động từ giá trị của tồn tại vật chất đơn
thuần ở 1 điểm; lên đến 600 trong cõi trần thế thông thường, là đỉnh cao của tâm
thức thông thường; và sau đó từ 600 trở lên đến 1.000, trong đó có các trạng
thái Chứng ngộ cao cấp. Các phản hồi dưới dạng câu trả lời đơn giản có hoặc
không sẽ xác định điểm hiệu chỉnh của đối tượng kiềm tra. Ví dụ, “Nếu chỉ đơn
giản là được sống đã là một điểm, thì sức mạnh của Tình yêu cao hơn 200 điểm?”
(đối tượng phản ứng mạnh, chứng tỏ câu trả lời là có.) “Tình yêu cao hơn 300?”
(đối tượng phản ứng mạnh) “Tình yêu cao hơn 400?” (đối tượng vẫn phản ứng mạnh.)
“Tình yêu là 500 hoặc hơn?” (đối tượng vẫn phản ứng mạnh) Trong trường hợp này,
Tình yêu có điểm hiệu chỉnh 500, và con số này được chứng minh là có thể lặp lại,
không phục thuộc vào số lượng người tham gia kiểm tra. Với những lần kiểm tra lặp
đi lặp lại— cá nhân hoặc nhóm—một thang đo nhất quán đã hình thành, tương quan
với kinh nghiệm, lịch sử và quan điểm chung của con người, cũng như các phát hiện
của tâm lý học, xã hội học, phân tâm học, triết học, y học và Chuỗi tồn tại vĩ
đại (Great
Chain of Being[i])
mà mọi người đều biết. Nó cũng tương quan khá chính xác với các tầng tâm thức của
triết học vĩnh hằng.
Tuy nhiên, người kiểm tra phải thận trọng,
khi nhận ra rằng câu trả lời cho một số câu hỏi có thể khá khó chịu đối với đối
tượng được kiểm tra. Kỹ thuật này không được sử dụng một cách thiếu trách nhiệm,
và người kiểm tra phải luôn tôn trọng sự sẵn sàng tham gia của đối tượng; không
bao giờ được sử dụng như kỹ thuật nhằm giải quyết xung đột. Trong các tình huống
lâm sàng, không bao giờ được nêu ra câu hỏi mang tính cá nhân, trừ khi sử dụng
nó cho mục đích điều trị. Có thể đặt ra một câu hỏi theo cách loại trừ mọi sự
dính líu cá nhân từ phía đối tượng được kiểm tra; khi đó, người này chỉ đơn thuần
đóng vai trò như một chỉ báo phục vụ cho mục đích nghiên cứu hiệu chỉnh.
Phản ứng của bài kiểm tra không phụ thuộc vào sức mạnh thể chất thực tế của đối tượng. Những vận động viên có cơ bắp cuồn cuộn thường rất ngạc nhiên khi họ trở nên yếu đi như bất kỳ người nào khác khi phản ứng với một kích thích có hại. Người kiểm tra có thể là một phụ nữ yếu ớt nặng chưa đến 45 kg, và đối tượng có thể là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp nặng hơn 90 kg, nhưng kết quả kiểm tra sẽ giống nhau, vì người phụ nữ chỉ dùng hai ngón tay để hạ gục cánh tay mạnh mẽ của vận động viên.
Những hiện tượng thiếu nhất quán
Sau
một thời gian, cũng những người kiểm tra đó có thể thu được kết quả khác nhau,
những người kiểm tra khác nhau cũng có thể thu được điểm hiệu chỉnh khác nhau
vì một số lý do: hoàn cảnh, con người, chính trị, chính sách và thái độ thay đổi
theo thời gian.
Trừ khi sử dụng một thang đo cụ thể làm
tham chiếu, con số thu được sẽ là tùy tiện. Tất cả các hiệu chỉnh trong cuốn
sách này đều được thực hiện dựa trên Bản đồ Tâm thức. Ví dụ: “Trên thang điểm từ
1 đến 1.000, trong đó 700 đại diện cho Chứng ngộ, _______ có điểm hiệu chỉnh
_______.” Nếu không chỉ định một thang đo cụ thể, người kiểm tra có thể nhận được
những con số đáng kinh ngạc trên 1.000 và các con số ngày càng cao hơn trong
các lần kiểm tra tiếp theo. Trên thang đo này, không một người nào từng tồn tại
trên trái đất có điểm hiệu chỉnh trên 1.000, tức là điểm hiệu chỉnh của tất cả
các Thánh Thấn Giáng Thế vĩ đại.
Những người khác nhau có xu hướng sử dụng
các phương thức cảm giác khác nhau khi họ ghi nhớ một điều gì đó — tức là thị
giác, cảm giác, thính giác hoặc cảm xúc. “Mẹ của bạn” do đó có thể là hình ảnh,
cảm xúc, giọng nói của bà, v.v.; hay “Henry Ford” có thể được đánh giá như một
người cha, một nhà công nghiệp, vì ảnh hưởng của ông đối với nước Mỹ, vì chủ
nghĩa bài Do Thái của ông, v.v.
Người ta có thể xác định bối cảnh và
bám sát một phương thức phổ biến. Cùng một nhóm sử dụng cùng một kỹ thuật sẽ
thu được kết quả nhất quán của nhóm. Trình độ chuyên nghiệp phát triển là do thực
hành thường xuyên.
Thái độ tốt nhất là khách quan, đưa ra
một tuyên bố với tiền tố: “Nhân danh điều tốt đẹp nhất, ______________được đánh
giá là đúng. Trên 100? Trên 200?” và v.v. Đặt trong bối cảnh “vì điều tốt đẹp
nhất” làm tăng độ chính xác, vì nó siêu việt lợi ích và động cơ cá nhân.
Tuy nhiên, có một số người không có khả năng có thái độ khoa học, khách quan và không thể nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, đối với họ, phương pháp cơ thể động học sẽ không chính xác. Tận tâm và ý định hướng đến sự thật phải được ưu tiên hơn là ý kiến cá nhân và việc cố gắng chứng minh ý kiến của mình là “đúng”.
HẠN CHẾ
Khoảng 10% dân số không thể sử dụng kỹ
thuật kiểm tra cơ thể động học vì những lý do mà hiện nay chúng ta chưa biết. Kết
quả kiểm tra chỉ chính xác nếu chính người được kiểm tra có điểm hiệu chỉnh
trên 200 và mục đích sử dụng là trung thực và cũng có điểm hiệu chỉnh trên 200.
Yêu cầu đặt ra là tính khách quan không thiên vị và phù hợp với sự thật chứ
không phải là ý kiến chủ quan. Đôi khi, các cặp vợ chồng - cũng vì những lý
do chưa rõ ràng - không thể sử dụng nhau làm đối tượng kiểm tra và có thể phải
tìm người thứ ba làm đối tác kiểm tra.
Những người không đủ tiêu chuẩn tham gia
Cả thái độ hoài nghi (160 điểm) và nhạo
báng đều có điểm hiệu chỉnh dưới 200 vì chúng thể hiện định kiến tiêu cực. Ngược
lại, việc tìm tòi thực sự đòi hỏi một tâm hồn cởi mở và trung thực, không có
thái độ kiêu căng về trí tuệ. Những công trình nghiên cứu mang tính tiêu cực về
phương pháp luận của phép kiểm tra này, cũng như những người thực hiện chúng, đều
có điểm hiệu chỉnh chưa tới 200 (thường ở 160).
Một người bình thường có thể ngạc nhiên
nếu biết rằng, thậm chí các giáo sư nổi tiếng cũng có thể và thực sự có điểm hiệu
chính dưới 200.
Do
đó, các công trình nghiên cứu mang tính tiêu cực là hệ quả của thành kiến tiêu
cực. Ví dụ, đề cương nghiên cứu của Francis Crick dẫn đến khám phá ra mô hình
xoắn kép của DNA đạt 440 điểm. Song đề cương nghiên cứu mới đây của ông nhằm chứng
minh rằng tam thức chỉ là sản phẩm của hoạt động thần kinh chỉ đạt 135 điểm.
Thất
bại của các nhà nghiên cứu hoặc đề án nghiên cứu sai lầm có điểm hiệu chỉnh dưới
200 càng khẳng định sự thật của chính phương pháp luận mà họ muốn bác bỏ. Họ sẽ
thu được và quả thật đã thu được kết quả tiêu cực; kết quả này, ngược lại, càng
chứng minh tính chính xác của bài kiểm tra nhằm phát hiện sự khác biệt giữa
thái độ chính trực không thiên vị và không chính trực.
Bất
kỳ phát hiện mới nào cũng đều có thể làm đảo lộn kế hoạch của người khác và bị
coi là đe dọa, phá vỡ các hệ thống niềm tin đang thịnh hành. Công trình nghiên
cứu tâm thức khẳng định giá trị của Thực tại tâm linh, tất nhiên, sẽ có đối
kháng, vì nó thực sự đối đầu trực diện với quyền thống trị của cốt lõi ái kỷ của
chính bản ngã, vốn ngạo mạn và cố chấp ngay từ khi mới ra đời.
Bên dưới tầng tâm thức 200, khả năng nhận
thức bị hạn chế, vì Tâm trí thấp hơn nắm quyền chi phối. Tâm trí thấp hơn có khả
năng nhận ra sự kiện, nhưng chưa có khả năng hiểu thế nào là sự thật (nó nhầm lẫn
giữa cái bên trong (res interna) với cái bên ngoài (res externa) và cũng chưa
hiểu rằng sự thật có các yếu tố sinh lý đi kèm khác hẳn với giả dối. Ngoài ra,
sự thật được cảm nhận bằng trực giác – bằng chứng là việc sử dụng phương pháp
phân tích giọng nói, nghiên cứu ngôn ngữ cơ thể, phản ứng của đồng tử, thay đổi
điện não đồ (EEG), dao động trong hơi thở và huyết áp, phản ứng gọi là Phản ứng
điện da (Galvanic skin response), cảm xạ (dowsing[ii]), và thậm chí có thể dùng
kỹ thuật Huna (Huna technique[iii]) để đo chiều dài hào
quang phát ra từ cơ thể. Một số người sử dụng kỹ thuật rất đơn giản: Đứng như một
con lắc (ngả về đằng trước khi thấy sự thật và ngả về sau khi thấy dối trá).
Nhìn từ bối cảnh cao hơn, những nguyên tắc giữ thế thượng phong là giả dối không thể bác bỏ được Sự thật, cũng như bóng tối không thể bác bỏ được ánh sáng. Cái phi tuyến tính không bị giới hạn của cái tuyến tính tác động. Sự thật là hệ hình khác với logic và do đó, không thể chứng minh được, vì những thứ có thể chứng minh được chỉ có điểm hiệu chỉnh trong khoảng từ 400 đến 500 mà thôi. Phương pháp luận trong nghiên cứu tâm thức đạt điểm 600, tức nằm ở vùng tiếp giáp giữa các chiều kích tuyến tính và phi tuyến tính.
PHỤ LỤC B
Danh sách hiệu chỉnh dành cho người tìm kiếm tâm linh
Ghi chú của biên tập viên: Tiến sĩ
Hawkins đã hiệu chỉnh các tầng tâm thức của các đạo sư tiêu biểu, các tác phẩm viết
về tâm linh, các phương pháp tu tập và trải nghiệm, coi đấy là kim chỉ nam cho
những người tìm kiếm tâm linh. Để thuận tiện cho tu tập, danh sách này được in
lại ở đây từ cuốn sách Siêu việt các tầng tâm thức, còn danh sách đầy đủ
hơn được trình bày trong cuốn Phân biệt Thật giả và trong Book of
Slides.
Quan trọng cần nhớ là điểm hiệu chỉnh
không phải là đánh giá giá trị. Tầng hiệu chỉnh 970 không có nghĩa là “tốt hơn”
610. Trên thực tế, một đạo sư hoặc một tác phẩm ở tầng 605 (hoặc 310!) có khả
năng hữu ích cho nhiều người hơn, đấy là nói so với một tác phẩm ở tầng 970.
Tâm trí bị hạn chế nghiêm trọng bởi bản chất nhị nguyên của nó và phóng chiếu
phán xét tốt hơn/tệ hơn lên một con số mà bỏ qua bối cảnh tổng thể, vốn là phi
tuyến tính. Để so sánh, người ta sẽ không nói rằng độ cao cao nhất trên máy đo
độ cao là “tốt hơn” so với độ cao khác. Nếu một máy bay cần hạ cánh, hoặc tránh
vùng nhiễu loạn, người phi công khôn ngoan sẽ điều khiển đến độ cao cần thiết
cho tình huống đó. Cũng đúng trong y học. Các bác sĩ khôn ngoan biết loại thuốc
nào phù hợp (và với liều lượng phù hợp) để điều trị một căn bệnh cụ thể. Trong
nhiều trường hợp, họ cẩn thận để không kê đơn phương pháp điều trị mạnh nhất,
vì bệnh nhân sẽ không thể chịu đựng nổi. Cũng như vậy, mỗi trường năng lượng đều
phục vụ một cách hoàn hảo trong một bối cảnh nhất định. Không có trường
năng lượng “tốt” hay “xấu”; chỉ có sự khôn ngoan cần thiết để phân biệt năng lượng
nào là tốt nhất cho một tình huống cụ thể. Tiến sĩ Hawkins đã từng nói với tôi,
“Nhiều người không thể đón nhận tình yêu, vì vậy tốt nhất là hãy cho họ thứ
khác.”
Trong khi thang đo từ 1 đến 1.000 được
trình bày theo lối tuyến tính để giúp tâm trí nắm bắt sự tồn tại của các mô thức
hút với sức mạnh khác nhau, thì địa hình tổng thể của Bản đồ lại là phi tuyến
tính, ở chỗ mọi thứ trong đó đều có giá trị ngang nhau. Một cái cây không tốt
hơn một con chim, cũng như một con chim không tốt hơn gió. Mỗi thứ đều có đóng
góp cực kì quan trọng vào quá trình tiến hóa của sự sống.
Tương tự như thế, mỗi đạo sư và mỗi tác
phẩm trong danh sách dưới đây đều có đóng góp của mình. Tất cả đều đạt đến mức
độ hiếm hoi là từ 600 trở lên trên Bản đồ. Những tầng tâm thức này vượt ra
ngoài nhị nguyên và do đó truyền tải hướng dẫn tâm linh đáng tin cậy. Việc một cuốn
kinh văn nằm ở tầng 600 hoặc 700 thay vì 900 có thể cho thấy rằng các đoạn văn
đã được đưa vào “kinh văn” đó, có những mô tả nhân hình về Thiên Chúa, biện
minh cho bạo lực và/hoặc các thực tiễn văn hóa xã hội được thừa hưởng từ các thời
kỳ lịch sử khác nhau. Một đệ tử thông thái về văn học tâm linh, chẳng hạn, biết
rằng Bài giảng trên núi của Chúa Jesus Christ được đánh giá ở tầng cao hơn hẳn
so với nhiều câu khác trong Tân Ước. Chúng ta có thể giả định rằng hiệu chỉnh của
một tác phẩm là tổng hợp của tất cả các câu trong đó; một số câu riêng lẻ, và
thậm chí có cả các chương, có thể được hiệu chỉnh dưới 200.
Một trong những vai trò quan trọng của các danh sách dưới đây là sự thật tâm linh được tìm thấy trong tất cả các tôn giáo lớn. Tuyên bố này trái ngược hoàn toàn với khẳng định của những người theo phái chính thống (điệm hiệu chỉnh 130 trở xuống) rằng chỉ có tôn giáo của họ mới là tôn giáo “đúng đắn”.
Tầng hiệu chỉnh của các đạo sư và tác phẩm trong những tầng 600
|
Các vị
thầy |
|
Kinh
sách |
|
|
Abhinavagupta |
655 |
Abhinavagupta |
655 |
|
Aurobindo |
605 |
A Course in Miracles (bài tập) |
600 |
|
Karmapa |
630 |
Aggadah |
645 |
|
Kasyapa |
695 |
Sáng thế ký (Lamsa Bible) |
660 |
|
Magdeburg |
640 |
Tin lành theo Luke |
699 |
|
Muktananda |
655 |
Tin lành theo Thomas |
660 |
|
Satchidananda |
605 |
Kabbalah |
605 |
|
Towles, J. |
640 |
Đạo Đức Kinh |
610 |
|
Lão tử |
610 |
Midrash |
665 |
|
Vivekananda |
610 |
Mishneh |
665 |
|
|
|
Tin lành (Kinh James) |
640 |
|
|
|
Thánh thi (Lamsa Bible) |
650 |
|
|
|
Vijnana Bhairava Tantra |
635 |
|
|
|
Đạo đức kinh |
610 |
Tầng hiệu
chỉnh của một số vị thầy và kinh văn ở những tầng trên 700
|
Các vị
thầy |
|
Kinh
văn |
|
|
Bồ Đề Đạt Ma |
795 |
Bodhidharma, Giáo lý Thiền |
795 |
|
Charya, Adi Sankara |
740 |
Áng mây của kẻ ngu muội |
705 |
|
Moses de Leon thành Granada |
720 |
Kinh kim cương |
700 |
|
Dogen |
740 |
Bát nhã tâm kinh |
780 |
|
Meister Eckhart |
705 |
Koran |
700 |
|
Mahatma Gandhi |
760 |
Diệu pháp liên hoa |
780 |
|
Nisargadatta Maharaj |
720 |
Tân ước (Bản King James, trừ phần Khải huyền) |
790 |
|
Ramana Maharshi |
720 |
Rig Veda |
705 |
|
Patanjali |
715 |
Yoga Sutras, Patanjali |
740 |
|
Plotinus[1] |
730 |
Ramayana |
810 |
|
Shankara |
710 |
Mẹ Teresa |
710 |
|
Thánh Teresa thành Avila |
715 |
|
|
|
Chí tôn ca (Bhagavad Gita) |
910 |
|
Thiền (Hoàng Bá[2]) |
850 |
|
Kinh Lamsa (Không có Khải huyền và Cựu ước, ngoại
trừ Sáng thế ký, Thi thiên, Châm ngôn) |
880 |
|
Bản tín điều Nicea (Nicene Creed) |
895 |
|
Áo nghĩa thư (Upanishads) |
970 |
|
Kinh Vệ Đà (Vedas) |
970 |
|
Zohar |
905 |
THỰC HÀNH VÀ TRẢI NGHIỆM TÂM LINH
Hiệu chỉnh tâm thức tạo ra một danh
sách các thực hành và trải nghiệm tâm linh tiêu biểu là chính trực và do đó là có
lợi. Tất cả đều thể hiện sự tận tâm và phổ biến trong các tôn giáo chân chính.
Bằng ý định, người sùng đạo thánh hóa chính mình và người khác, cũng như các
nơi thờ cúng. Do ý định, tất cả các hình thức ban phước và cầu nguyện đều có điểm
hiệu chỉnh trên 500, và tác động tập thể của chúng có thể ảnh hưởng vô cùng to lớn
tới tầng tổng thể của tâm thức tập thể của nhân loại.
Việc hiệu chỉnh các tầng hiệu chỉnh
không chỉ ra rằng một tầng nào đó “tốt hơn” tầng khác mà chỉ là khác nhau,
tương tự như việc lựa chọn gậy khi chơi golf, tùy thuộc vào việc người chơi sẽ
đánh bóng ngắn, đánh bóng gần lỗ hay đánh bóng xa. Do đó, hiệu quả là kết quả của
ý định chứ không chỉ là một kỹ thuật đơn thuần. Nhiều đệ tử tâm linh đã khám
phá những phương pháp tiếp cận khác nhau này và báo cáo về những thực tiễn và
trải nghiệm có lợi. Chỉ cần đọc các danh này sách cũng đủ để đảm bảo rằng người
đó đang đi đúng hướng.
|
Phương pháp |
Điểm |
Phương pháp |
Điểm |
|
Aum (thần chú) |
210 |
Phép rửa tội |
500 |
|
Tắm trên sông Hằng
|
540 |
Lễ thêm sức |
500 |
|
Hành động chí tâm |
540 |
Nghi thức dâng
hương chí tâm |
540 |
|
Quỳ một chân |
540 |
Nguyên tắc vàng |
405 |
|
Nhạc thánh ca
Gregorian |
595 |
Hajj (Hành hương tới
Mecca |
390 |
|
Lặp đi lặp lại thần
chú |
515 |
Lời nguyện Chúa Jesus
|
525 |
|
Hát xướng tâm linh
theo lối đối đáp |
250 |
Quỳ gối cầu nguyện |
540 |
|
Các nghi thức cuối
cùng |
500 |
Kinh lạy Cha, (bản
truyền thống) |
650 |
|
Phát âm Om |
740 |
Om Mani Padme Hum |
700 |
|
Om Namah Shivaya |
630 |
Hành động chắp tay
nguyện cầu |
540 |
|
Hành động tử tế |
350 |
Lời nguyện Hòa
bình của Thánh Phanxicô |
580 |
|
Lời cầu nguyện của
Jabez |
310 |
Đọc Kinh Mân côi |
515 |
|
Lặp lại 3 lần “An
bình” |
650 |
Phó thác ý chí (tầng
sâu) của mình cho Chúa |
850 |
|
Phó thác thế giới
cho Chúa |
535 |
Xoay bánh xe Pháp |
540 |
|
12 bước của A.A. |
540 |
Thiền Siêu việt |
295 |
|
Quán tưởng trị liệu |
485 |
Bức tường Than
khóc |
540 |
|
Đi trong mê cung Nhà
thờ Đức Bà Chartres |
505 |
Điều lưu giữ trong
tâm trí có xu hướng hiển lộ |
505 |
Trải nghiệm
Tâm
thức Chúa Kitô 1.000
Thực
Tại tối thượng 1.000
Cận
tử 520+
Đốn
ngộ (Satori) 585
Chứng
ngộ 600+
Bí
thích thánh thể 700
Lễ
vượt qua 495
Lễ
hội thờ phụng Nữ thần Durga 480
Ramadan
495
Lễ
xông hơi tâm linh 560
Nghi lễ Thanh tẩy bằng Khói 520
Người tìm kiếm tâm linh không được khám
phá những trải nghiệm tâm linh có điểm hiệu chỉnh thấp hơn ngưỡng chính trục (200),
ngay cả khi chỉ là do tò mò. Chỉ vì một cái gì đó được gắn nhãn “tâm linh”
không có nghĩa là nó đáng tin và trên thực tế, có thể là xao nhãng nghiêm trọng.
Ví dụ, “bí thuật” có điểm hiệu chỉnh 135–185, các trò chơi bói toán có điểm hiệu
chỉnh 175, và khả năng giao tiếp với thế giới tâm linh có điểm 190.
Áp dụng các nguyên tắc tâm linh vào nhiều
vấn đề nan giải của con người được nhiểu người thừa nhận là có hiệu quả, ngay cả
khi lúc đầu không có động cơ tâm linh, chẳng hạn như người nghiện rượu tuyệt vọng,
sau khi bị thẩm phán ra lệnh tham dự các cuộc họp của A.A., đã hồi phục một
cách kỳ diệu và trở thành nguồn cảm hứng cho người khác bằng cách thực hành các
nguyên tắc tâm linh: “truyền tải thông điệp đến người khác”—nghĩa là chia sẻ thay
vì thuyết phục.
Sự chính trực về mặt tâm linh thể hiện qua hy vọng, đức tin, từ thiện và truyền cảm hứng cho người khác bằng cách nêu gương. Các tổ chức tâm linh chính trực mở rộng cửa phát triển nhờ sự cuốn hút hơn là quảng bá, và các tổ chức này không có giáo điều. Dựa vào sức mạnh của trường năng lượng được thể hiện qua kinh nghiệm nhóm, nói rằng mọi người “hiểu được bằng cách thẩm thấu” chứ không phải bằng kiến thức mang tính trí tuệ.
[1] Các tác phẩm hiện có của
Plotinus, như được liệt kê trong Tuyển tập Kinh sách vĩ đại của phương Tây có
điểm hiệu chỉnh 503. Còn chính Plotinus trong những năm cuối đời có điểm hiệu
chỉnh 730.
[2] Giáo lý Thiền của Hoàng Bá
có vấn đề ở chỗ giáo lý này mô tả Con đường Phủ định và tuyên bố sai lầm rằng
Trạng thái Không (điểm hiệu chỉnh 850) là Điều kiện Tối hậu của Phật quả (điểm
hiệu chỉnh 1.000). Tiếp theo những bài thuyết pháp kinh điển về Tánh Không,
chính Ông đã siêu việt giới hạn này và cuối cùng đạt đến tầng tâm thức 960
trong những giai đoạn sau của cuộc đời. Do đó, chỉ phủ định cái tuyến tính chứ
không phủ nhận Thực tại phi tuyến tính của Tình yêu. Chỉ phủ nhận những chấp
trước cá nhân hạn chế, đó là cảm xúc có tính hạn chế. Tình yêu Thần thánh là phẩm
chất phổ quát và một bối cảnh phi tuyến tính, bẩm sinh như là Ánh sáng của bối
cảnh tổng thể.
[i] Great Chain of Being – Chuỗi Hữu Thể Vĩ Đại là mô
hình cổ điển diễn tả trật tự phân tầng của hiện hữu, nơi mọi cấp độ đều tương
thuộc và nối kết trong một chỉnh thể toàn vẹn, quy hướng về Tuyệt Đối.
[ii] Dowsing – Cảm xạ, là phương pháp dò tìm hoặc hiệu chỉnh
dựa trên phản ứng vi tế của cơ thể, được sử dụng trong một số truyền thống huyền
học, nhưng còn gây tranh luận trong khoa học hiện đại.
[iii] Huna technique - là hệ thống thực hành huyền học hiện
đại, lấy cảm hứng từ văn hóa Hawaii, nhấn mạnh việc làm việc với các tầng tâm
thức và năng lượng nội tại.
No comments:
Post a Comment