March 12, 2026

BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI (11)

 

BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI 

David R. Hawkins, M. D., Ph. D. 

Phạm Nguyên Trường dịch 

Chương 9 

HƯỚNG DẪN DÀNH CHO NGƯỜI TÌM KIẾM TÂM LINH 

Tìm kiếm Chứng ngộ là tìm kiếm sự hòa hợp với những mô thức điểm hút mạnh mẽ nhất. Hòa hợp với một trường năng lượng nhất định trên Bản đồ đơn giản có nghĩa là người đó đang nằm dưới ảnh hưởng của nó, tương tự như lực hấp dẫn. Khi trường năng lượng dưới tầng 200, hòa hợp sẽ có tác dụng phá hoại. Người ta quan sát được hiện tượng này về mặt lâm sàng ở những người nghiện cocaine không thể hồi phục nếu họ tiếp tục nghe nhạc rap bạo lực hoặc nhạc heavy metal. Chỉ có thể thoát khỏi trường năng lượng tiêu cực bằng cách liên tục tiếp xúc với trường năng lượng cao hơn, như người ta nói: “Tiếp tục quay lại – bạn sẽ nhận ra thông qua thẩm thấu”. Những người nghiện đang hồi phục mà rời bỏ trường năng lượng mang tính hỗ trợ của các chương trình tự giúp nhau thường tái nghiện, vì lúc này không còn đối trọng với lực kéo xuống của những thói quen tiêu cực. Khẳng định rằng  “tự mình vượt qua” là triệu chứng của thái độ kiêu ngạo và tự phụ của bản ngã, có điểm hiệu chỉnh 175, thấp hơn sức mạnh của trường năng lượng đòi hỏi cho quá trình chữa lành.

Mặt khác, những người tìm kiếm chứng ngộ tìm cách hòa hợp với những trường năng lượng đầy sức mạnh có thể nâng họ ra khỏi những thói quen đã ăn sâu bén rễ của bản ngã. Quan trọng là ý chí, tức là lựa chọn liên tục lặp đi lặp lại. Ở đây, nguyên tắc của lý thuyết hỗn độn về sự phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu (cùng với thời gian, thay đổi nhỏ có thể tạo được ảnh hưởng to lớn) cung cấp cho chúng ta giải thích khoa học về con đường tiến bộ tâm linh truyền thống. Trong tất cả các lĩnh vực tâm linh, yếu tố mở đầu để nâng cao nhận thức được mô tả là “sẵn sàng”. Lịch sử cho thấy hiện tượng mà người ta đã được biết trong lĩnh vực lâm sàng: sẵn sàng liên tục là yếu tố kích hoạt trường hút mới và tạo điều kiện để người ta bắt đầu rời bỏ trường hút cũ. Chúng ta có thể hình dung trường hút yếu hơn đang tiến gần đến trường hút mạnh hơn, đúng lúc đó, xuất hiện của yếu tố thứ ba (chẳng hạn như ý chí tự do) đột nhiên tạo ra điểm giao thoa (“mô thức yên ngựa” - a saddle pattern[i]), và diễn ra thay đổi.

Khi một người nào đó đột nhiên chuyển từ ảnh hưởng của trường hút yếu hơn sang trường hút mạnh hơn hơn, người ta thường nói rằng đó là phép màu. Thật không may là, kinh nghiệm của nhân loại nói rằng rất ít người thoát ra khỏi được những trường năng lượng đang từng bước chi phối hành vi của mình. Một chương trình tâm linh phổ biến hiện nay được thiết kế nhằm tạo điều kiện cho việc thoát ra là cuốn Sách bài tập (điểm hiệu chỉnh 600) của Khóa học về những điều kì diệu (A Course in Miracles). Mục đích của khóa học tâm lý mang tính tâm linh này là xây dựng nền tảng cần thiết nhằm tạo ra bước nhảy đột ngột trong tâm thức bằng cách khuyến khích người ta thay đổi hoàn toàn về tri giác. Những con đường truyền thống hơn, cầu nguyện và thiền định cũng cung cấp những điểm khởi đầu để vươn lên từ ảnh hưởng của trường năng lượng thấp hơn lên trường năng lượng cao hơn.

Trong các trường phái tâm linh phương Đông, người ta chấp nhận rằng người tu tập đơn độc, không được đạo sư giúp đỡ, khó có thể tạo được nhiều tiến bộ. Cần có hướng dẫn. Kinh nghiệm của tổ chức A.A. cho thấy, nếu không có người đỡ đầu giúp đỡ, người nghiện ma túy hay nghiện rượu sẽ không thể nào hồi phục được. Trong thể thao, những huấn luyện viên giỏi được săn đón vì họ truyền cảm hứng cho các vận động viên để họ thực hiện những nỗ lực cao nhất. Người tu tập có thể thúc đẩy tiến bộ của chính mình chỉ đơn giản bằng cách tập trung vào sư phụ cao cấp, nhờ đó hoà hợp với trường năng lượng của sư phụ; trong những lần kiểm tra của chúng tôi, đã nhiều lần chứng minh rằng việc giữ trong tâm trí hình ảnh của sư phụ cao cấp giúp mọi đối tượng kiểm tra đều trở nên mạnh mẽ, không phục thuộc niềm tin của cá nhân người đó. 

HƯỚNG DẪN TÂM LINH

Cần nhớ là cả Sự thật lẫn Chứng ngộ đều không phải là cái cần tìm kiếm, săn lùng, đạt được, giành được hay sở hữu. Cái vốn là Hiện diện Vô biên thì luôn luôn hiện hữu; chứng ngộ về Nó sẽ tự diễn ra ngay khi những chướng ngại ngăn trở sự chứng ngộ ấy được tháo gỡ. Do đó, việc sử dụng công nghiên cứu sự thật là không cần thiết; điều cần làm chỉ là buông bỏ những gì là vọng tưởng sai lầm.  

Mây tan, mặt trời sẽ chiếu sáng. Xua mây đi không làm cho mặt trời chiếu sáng mà chỉ đơn giản hé lộ những gì đã bị che giấu từ lâu. Do đó, công việc tâm linh chủ yếu là buông bỏ những điều được cho là đã biết để hướng tới những điều chưa biết, với lời hứa của những người đã làm được điều đó, rằng cuối cùng nỗ lực sẽ được đền đáp một cách xứng đáng. Ở xã hội người thường, vàng không được tạo ra mà chỉ lộ ra bằng cách đục bỏ những thứ che khuất nó.

Một trong những công cụ tâm linh quan trọng nhất là ý định, nó đặt ra các ưu tiên và hệ thống giá trị giúp tiếp thêm năng lượng cho nỗ lực của người đó. Công việc tâm linh là cam kết và cũng là quá trình khám phá. Những người đi trước đã mở đường, họ đã thiết lập khả năng đó trong tâm thức để những người khác có thể đi theo. Nhà sinh vật học Rupert Sheldrake đã chứng minh ảnh hưởng của trường tạo hình (trường M); nghĩa là, khi một người nào đó có thành tích trong một lĩnh vực cụ thể, thì thành công của người đó làm gia tăng khả năng là những người khác có thể làm được như thế. Cũng như Roger Bannister đã phá vỡ “trường M”: kỷ lục chạy một dặm trong bốn phút, những người vươn tới những tầng tâm thức cao hơn cũng đã để lại dấu ấn để những người khác đi theo.

Mỗi bước tiến trong nhận thức của chúng ta đều mang lại lợi ích, dù không nhìn thấy được, cho rất nhiều người và củng cố bước tiếp theo để cho những người khác đi theo. Mỗi hành động tử tế đều được vũ trụ ghi nhận và lưu lại mãi mãi. Khi được nhìn nhận đúng bản chất, lòng biết ơn sẽ thay thế tham vọng tâm linh. Trong Phật giáo truyền thống, người ta tìm kiếm Chứng ngộ vì lợi ích của toàn thể nhân loại; mọi món quà đều quay trở về cội nguồn của chúng.

Đến lúc thích hợp, ý định tâm linh và nhất tâm của người đó sẽ thay thế những tham vọng và ham muốn trần tục. Dường như, từng bước một, người đó bị lôi cuốn vào Đại ngã, như thể có một lực hấp dẫn tâm linh lôi kéo. Một trạng thái của Cái Biết thay thế cho lý trí và logic; khi đó, nhận thức trực giác tập trung vào bản chất của sự sống và các biểu hiện của nó, chứ không còn bận tâm tới các mục tiêu hay chi tiết của hình tướng. Tri giác bắt đầu thay đổi, và vẻ đẹp của tạo hóa thực sự tỏa rạng từ mọi người và mọi vật. Một khung cảnh đơn giản cũng có thể bất ngờ trở nên đẹp đẽ đến choáng ngợp, như thể đang tự phô diễn chính mình trong không gian ba chiều rực rỡ sắc màu. 

CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI 

Hỏi: Ông khuyên, “Hãy sống cuộc đời như một lời cầu nguyện.” Dường như khác với tập trung vào một số hoạt động tâm linh nhất định—đúng thế không?

Trả lời: Bằng ý định, toàn bộ đời sống của bạn trở thành dâng hiến. Chính bạn trở thành lời cầu nguyện. Nhờ đó, Thần tính được cầu khẩn, và sau đó thông qua trái tim, thông qua dâng hiến như thế, thông qua sự hòa hợp với Thần tính, toàn thể nhân loại được trao quyền. Tự đánh giá: Tôi đã tiến bộ đến đâu? Người khác nghĩ tôi đã tiến bộ đến đâu? Đều chẳng có giá trị gì. Người duy nhất bạn phải chịu trách nhiệm là chính mình. Khi bạn làm mọi thứ có thể nhằm phát huy hết tiềm năng của mình, biết rằng bạn phải chịu trách nhiệm về người mà bạn đang là và những việc bạn đã làm, thì ngay cả những sai lầm của bạn cũng được thánh hóa. An tâm khi biết rằng động lực để tìm kiếm Thiên Chúa là Thiên Chúa. Chính nhờ Ân phước của Thiên Chúa mà bạn thậm chí còn quan tâm đến sự thật tâm linh. Nếu không có ảnh hưởng của Thần tính, thì sẽ không có người nào tìm kiếm Thiên Chúa, bởi nếu cứ để mặc cho những toan tính của mình, con người sẽ chẳng bao giờ mảy may nghĩ đến việc đó.

Hỏi: “Tiến bộ” tâm linh là gì?

Trả lời: Tiếp cận tiến bộ tâm linh không phải là “đến nơi nào đó”, vì không có “nơi nào” để đến. Thay vào đó, những giáo lý tâm linh đích thực hướng dẫn bạn siêu việt bản ngã và rũ bỏ mọi vọng tưởng để Sự thật được mặc khải. Tu tâm là vượt qua và siêu việt những khuyết điểm thường gặp của con người, vốn nằm sẵn trong cấu trúc của bản ngã con người. Bất kỳ khuyết điểm nào của bạn cũng đều không phải là vấn đề cá nhân; chúng không chỉ là của riêng bạn mà thực chất là vấn đề của chính bản ngã của con người. Bản ngã, tự nó, không mang tính cá nhân. Bạn có thể muốn nghĩ, Ồ, tôi và sự tiến bộ của tôi, hoặc Tôi và tội lỗi của tôi, hoặc Tôi và những khó khăn của tôi, nhưng cái mà bạn đang nói tới không phải là tự ngã cá nhân của bạn. Vấn đề nằm ở chính bản ngã, là cái mà bạn thừa hưởng khi trở thành một con người. Bản ngã là sản phẩm của não bộ và là chức năng của não bộ; ở mỗi cá nhân, các chi tiết về cách nó biểu hiện sẽ khác nhau, phụ thuộc vào nghiệp lực từ quá khứ.

Hỏi: Ông nói rằng bản ngã không phải là “xấu”—rằng tốt nhất nên đối xử với nó như một “con thú cưng” nho nhỏ, điều này mang lại sự hài hước cho quá trình tu tập. Ông có thể giải thích rõ hơn không?

Trả lời: Hài hước là một trong những công cụ tinh thần quý giá nhất, trong quá khứ, người ta ít nói tới. Cười nhạo sự kịch tính của bản ngã giúp chúng ta vượt lên trước nó. Hài kịch nảy sinh từ so sánh giữa tri giác và bản chất. Ví dụ, diễn viên hài nói, “Người theo trào lưu New Age là gì?” Dừng một chút. “Là người đi đến cửa hàng và mua tất cả cây bắt ruồi tên là Venus, rồi muốn chúng trở thành người ăn chay!” Chúng ta hiểu được sự phi lý khi cố gắng thuyết phục cây bắt ruồi Venus ăn thịt trở thành người ăn chay: “Em thích dưa chuột, phải không, cưng? Đây—thử một miếng cà chua xem!” Câu chuyện cười giúp chúng ta cười nhạo sự ngây thơ và non nớt của bản ngã, khi nó muốn người khác phục tùng những lý tưởng và đạo đức được “tâm linh hóa” của mình.

Hài hước khác hẳn với chế giễu hay ác ý, vì nó là từ bi khi chấp nhận những hạn chế và khuyết điểm của con người như là bản chất vốn có. Do đó, nó giúp “mặc thế gian như một chiếc áo mỏng” và minh họa cho tình huống là, khi trở thành giống như cây sậy, uốn theo chiều gió, là bạn tồn tại bằng cách sống vui vẻ, chứ không bị bẻ gẫy vì cứng nhắc. Khả năng tự cười nhạo chính mình là cần thiết để có tự trọng theo lối tích cực. Phản ứng với mọi thứ như thể đấy là những việc vô cùng quan trọng là kết quả của thói phù phiếm của cốt lõi ái kỷ của bản ngã (ví dụ, là người “nhạy cảm” hoặc “dễ bị xúc phạm”). “Đừng quá coi trọng chính mình”, là lời khuyên đầy trí huệ.

Hài hước là biểu hiện của tự do và niềm vui, và tiếng cười có tác dụng chữa lành. Trong khi mặc cảm tội lỗi và sám hối “mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu” được nhấn mạnh trong các thế kỷ trước, có thể thấy rằng trên Bản đồ Tâm thức, chúng có điểm hiệu chính khá thấp. Thiên Chúa nằm trên đỉnh của Bản đồ, chứ không phải ở đáy. Đức tin, Tình yêu và Niềm vui là đường cao tốc; bi quan và u ám chỉ dẫn đến nỗi buồn và tuyệt vọng. Tự căm ghét chính mình làm lu mờ nhận thức về Đại ngã như là phản chiếu của Sáng Tạo Thiêng Liêng.

Hỏi: Còn ăn, nghi lễ, bài tập, kỹ thuật thở, thần chú và biểu tượng thì sao?

Trả lời: Không cần thiết. Cần nhận ra rằng các tôn giáo có mục đích và giới hạn riêng của mình. Con đường tâm linh dẫn đến Chứng ngộ là độc nhất vô nhị. Nó không giống như “thực hành tôn giáo”. Các tôn giáo có xu hướng nhấn mạnh các sự kiện lịch sử, vị trí địa lý và các nền văn hóa trong quá khứ cùng với các liên minh chính trị. Chứng ngộ xảy ra trong khoảnh khắc hiện tại và nằm ngoài thời gian, lịch sử hoặc địa lý, do đó không liên quan. Thần học liên quan đến tầng tâm thức từ 400 tới 499; Chứng ngộ liên quan đến tầng từ 600 trở lên.

Hỏi: Còn âm nhạc, hương trầm và vẻ đẹp kiến ​​trúc thì sao?

Trả lời: Truyền cảm hứng và hỗ trợ cho một tâm trạng và thái độ tâm linh và tôn kính, giúp chuyển sự tập trung chú ý khỏi nội dung của suy nghĩ. Cái đẹp nâng con người lên và có điểm hiệu chỉnh trên 550, tương tự như cái hoàn hảo.

Hỏi: Rủi ro của kiến ​​thức tâm linh là gì?

Trả lời: Mặt trái của giáo dục tâm linh là tích tụ thói kiêu ngạo rằng “Tôi biết” và thái độ coi thường những người “không có tâm linh”. Bản ngã tự gán cho mình công lao về hiểu biết tâm linh thay vì nhận ra rằng khả năng hiểu biết tự nó là một món quà tâm linh do Chúa ban cho. Biết ơn là liều thuốc chữa bệnh kiêu ngạo. Nếu một người tiếp thu thông tin và cảm thấy biết ơn về điều đó, thì kiêu ngạo tâm linh sẽ không còn nền tảng vững chắc nữa.

Kiêu ngạo tâm linh có thể hoạt động theo hai hướng, hoặc là bằng cách làm tăng tính kiêu ngạo, hoặc, ngược đời là, bằng cách cho rằng mình tệ hơn những người khác. Quan điểm: “Tôi chỉ là một con sâu vô giá trị” chỉ là kiêu ngạo trong bộ quần áo rách rưới thay vì mặc áo choàng đỏ mà thôi.

Hỏi: Có động lực cho công việc tâm linh không?

Trả lời: Một khi bạn vượt qua ranh giới quan trọng: Can Đảm (200), phần còn lại sẽ trở nên dễ tiếp cận hơn. Càng tiến bộ, càng có nhiều khả năng tiến bộ hơn nữa; và khi sự tiến bộ của bạn càng thoát ly khỏi “muốn” tiến bộ, bạn càng tiến bộ hơn! Ngay khi bạn bắt đầu quan tâm đến những vấn đề tâm linh, là bạn đã đi đúng hướng rồi, không cần phải lo lắng nữa. Không có người nào quan tâm đến cuốn sách như thế này trừ khi bạn có số vươn tới sự thật của nó, cũng giống như bạn sẽ không quan tâm đến các bài học lặn trừ khi bạn có kế hoạch lặn biển sâu. Đức Phật nói rằng một khi bạn đã nghe nói về Chứng ngộ, bạn sẽ không bao giờ hài lòng với bất cứ điều gì kém hơn. Chỉ cần nghe nói về nó thôi cũng đã in dấu vào tâm thức của bạn rồi. 

 

NHỮNG PHẨM CHẤT VÀ THÁI ĐỘ QUÝ GIÁ NHẤT

CỦA NGƯỜI TÌM KIẾM TÂM LINH

 

Người ta thường hỏi: “Muốn có tiến bộ trong tâm thức thì cần phải có những phẩm chất và thái độ nào?”

Hãy bắt đầu với sự chắc chắn và cảm giác an toàn chứ đừng nghi ngờ chính mình hay nhút nhát. Chấp nhận không chút do dự rằng bạn xứng đáng với cuộc tìm kiếm này, và quyết tâm hoàn toàn phó thác cho sự thật về Thiên Chúa. Những sự kiện cần được chấp nhận không chút do dự rất đơn giản và vô cùng mạnh mẽ. Phó thác cho chúng sẽ mang lại tiến bộ tâm linh to lớn.

 12 sự kiện tâm linh

1. Bằng chứng sống động về tình yêu và ý chí của Thiên Chúa dành cho bạn chính là món quà là sự tồn tại của bạn.

2. Không cần phải so sánh mình với người khác về “sự thánh thiện”, công đức, lòng tốt, sự xứng đáng, sự vô tội, v.v. Tất cả đều là những quan niệm của con người, Thiên Chúa không hạn cuộc trong những quan niệm đó.

3. Khái niệm “sợ Chúa” là vô minh. Chúa là an bình và tình yêu và không gì khác.

4. Mô tả Thiên Chúa như một “quan toà” là vọng tưởng của bản ngã, nảy sinh như là phóng chiếu của mặc cảm tội lỗi từ những hình phạt thời thơ ấu. Hãy nhận ra rằng Chúa không phải là cha mẹ.

5. Giáo lý của Chúa Kitô chỉ đơn giản là tránh tiêu cực (những tầng có điểm hiệu chỉnh dưới 200), và mục tiêu của những lời dạy của Ngài là để những đệ tử của Ngài vươn tới Yêu thương vô điều kiện (điểm hiệu chỉnh 540). Ngài biết rằng một khi đạt đến tầng Yêu thương vô điều kiện, số phận của linh hồn sau khi chết là chắc chắn và linh hồn được an toàn. Về cơ bản, đây là cùng một kết luận được các tôn giáo lớn trên thế giới rao giảng, chẳng hạn Tịnh Độ tông của Phật giáo.

6. Cứu rỗi và Chứng ngộ là hai mục tiêu hơi khác nhau. Cứu rỗi đòi hỏi sự thanh lọc bản ngã; Chứng ngộ đòi hỏi bản ngã phải tan rã hoàn toàn. Mục tiêu của Chứng ngộ đòi hỏi khắt khe và triệt để hơn.

7. Không phải “con người” cá nhân đang tìm kiếm Chứng ngộ mà là một phẩm chất phi cá nhân của tâm thức là động lực. Cảm hứng tâm linh và tận tâm thúc đẩy công việc.

8. Thoải mái thay thế sự bất an khi bạn nhận ra rằng mục tiêu quan trọng nhất đã được hoàn thành. Mục tiêu đó là bước trên con đường tận hiến tâm linh. Phát triển tâm linh không phải là một thành tựu mà là một lối sống. Đó là định hướng mang lại những phần thưởng riêng, và quan trọng là hướng đi của động cơ của bạn.

9. Mỗi bước tiến đều mang lại lợi ích cho mọi người. Thái độ tận hiến và công việc tâm linh của bạn là một món quà dành cho đời sống và tình yêu của toàn thể nhân loại.

10. Không có thời gian biểu hay lộ trình cụ thể nào để đến với Thiên Chúa. Mặc dù mỗi người có con đường riêng, nhưng địa hình cần vượt qua lại tương đối phổ biến đối với tất cả mọi người. Chi tiết khác nhau tùy thuộc vào nghiệp quả trong quá khứ.

11. Cầu nguyện tha thiết làm tăng thêm tận tâm và cảm hứng, đồng thời thúc đẩy tiến bộ.

12. Ân phước của Thiên Chúa là dành cho tất cả mọi người. Sức mạnh của bản ngã có thể rất đáng gờm, và nếu không có sự trợ giúp của sức mạnh từ các giác giả tâm linh cao hơn, thì tự nó không thể siêu việt được nó. May mắn là, sức mạnh của tâm thức của mỗi vị đạo sư vĩ đại hay các thánh thần giáng thế đã từng sống vẫn còn tồn tại. Trong quá khứ, “Ân phước của Giác giả” luôn có đó cho người tìm kiếm tâm linh tận tâm. Tập trung vào một đạo sư hoặc những giáo lý của họ bằng thiền định giúp ta có thể cầu khẩn sức mạnh và năng lượng của đạo sư đó. Ý muốn của mỗi giác giả đã thực sự chứng ngộ là mọi đệ tử đều thành công, chứ không chỉ các thành viên của một nhóm cụ thể. Cũng như người tìm kiếm tâm linh đơn độc mang lại lợi ích cho toàn thể nhân loại, thì Chứng ngộ của các đạo sư cũng mang lại lợi ích cho người tìm kiếm. Không có yêu cầu hay nghĩa vụ nào.

 14 nguyên lý tâm linh

Tiến hóa trên Bản đồ Tâm thức được đẩy nhanh nếu tuân theo một số nguyên lý tâm linh nhất định, và cùng với thời gian, sẽ làm sáng tỏ tri giác của bản ngã: Tôi nhìn nhận thế giới đúng như nó đang là. “Con đường” tiến bộ tâm linh thông qua tâm thức thực ra không phức tạp mà lại  đơn giản.

1. Nhìn đời sống không phải là giành giật lợi ích mà là cơ hội học hỏi, ngay cả trong những chi tiết nhỏ nhất của cuộc đời cũng có nhiều cơ hội như thế. Phẩm chất tâm linh quan trọng nhất thực sự là thái độ bao trùm. Thái độ tâm linh đưa người ta trở thành thân thiện, tử tế và có thiện chí với tất cả sự sống. Chúng ta thấy mình bước đi cẩn thận khi tránh một con kiến, chứ không giẫm lên nó, không phải vì “bắt buộc” hay quy tắc tôn giáo mà xuất phát từ nhận thức sâu sắc hơn về giá trị của tất cả sự sống. Chúng ta sẽ thấy rằng tất cả các loài động vật đều thực sự là những cá thể phản ứng lại thái độ tôn trọng và quan tâm. Ngay cả thực vật cũng nhận thức được khi bạn tỏ ra yêu thương và ngưỡng mộ chúng.

2. Phát triển thái độ khiêm nhường, với nhận thức rằng tâm trí và biểu hiện bên ngoài của mình vốn có khá nhiều hạn chế. Bạn ngày càng nhận thức rõ hơn rằng cuộc đời được lọc qua tri giác và những gì bạn thấy ​​trên thế gian chủ yếu là thái độ và tri giác chứ không phải là những thực tại tồn tại độc lập, bên ngoài. Mỗi “sự việc” đơn lẻ đều là hệ quả của vô số điều kiện, không nhìn thấy được và không thể nào biết được, vì “nguyên nhân” của bất cứ cái gì cũng là toàn bộ vũ trụ cho đến thời điểm đó. Chỉ người toàn tri mới có thể xác định được ý nghĩa của nó, và do đó, với thái độ khiêm nhường, bạn thừa nhận mình chưa phải là toàn tri! “Tôi biết” nhường chỗ cho “Tôi không biết”.

3. Sẵn sàng bỏ qua và tha thứ. Thái độ sẵn sàng này cho phép đệ tử tâm linh nghiêm túc từ bỏ những nhiệm vụ tự phong cho mình là người phán xét, sửa chữa, kiểm soát, chỉ đạo và thay đổi thế giới, và thể hiện ý kiến về mọi thứ trên đời. Là đệ tử tâm linh nghiêm túc, người đó không còn bắt buộc phải tiếp tục làm những công việc này; thay vào đó, chúng được chuyển cho công lý thiêng liêng. Vì tâm trí không biết Thực tại là gì, việc từ bỏ những bổn phận cũ sẽ là giải thoát và cũng chấm dứt nhiều mặc cảm tội lỗi. Do đó, việc từ bỏ “sự nghiệp” và các cuộc biểu tình vì những người bị áp bức, bị chà đạp, các nạn nhân khác và tình cảm sướt mướt là rất hữu ích. Mỗi người chỉ đơn thuần là đang hoàn thành số phận của chính mình; hãy để họ làm điều đó. Với thái độ không dính chấp, người ta sẽ nhận thấy rằng hầu hết mọi người đều vui thích với những bi kịch trong cuộc đời của mình.

4. Quan sát mọi người với tâm từ bi. Quan sát sẽ phát hiện được rằng vẻ ngoài là một kẻ lừa dối vĩ đại. Hầu hết mọi người đều trông như người đã trưởng thành nhưng thực chất lại hoàn toàn không phải là người đã trường thành. Về mặt cảm xúc, hầu hết vẫn còn là trẻ con. Những cảm xúc và thái độ thịnh hành ở trường mẫu giáo và trên sân chơi tiếp tục thể hiện trong cuộc đời của người đã trưởng thành nhưng được che giấu dưới những thuật ngữ nghe có vẻ trang trọng hơn. Bên trong hầu hết mọi người đều có một đứa trẻ chỉ đang bắt chước người lớn mà thôi. Cái “đứa trẻ bên trong” mà chúng ta nghe nói đến nhiều thực ra không hề ở bên trong; nó thực chất khá “bên ngoài”.

Khi lớn lên, người ta tiếp nhận nhiều bản sắc khác nhau và bắt chước những gì họ cho là hành vi và phong cách của người trường thành; tuy nhiên, không phải người trưởng thành đang làm việc này mà đứa trẻ đang làm. Do đó, những gì chúng ta thấy trong cuộc sống hàng ngày là mọi người đang diễn lại những chương trình và kịch bản mà họ đồng nhất với như là một đứa trẻ. Trẻ em, cũng như hầu hết các loài động vật, thể hiện sự tò mò, than thân trách phận, ghen tị, đố kỵ, nổi nóng, bộc phát cảm xúc, oán giận, thù hận, ganh đua, cạnh tranh, bướng bỉnh và dễ nổi cáu. Tìm kiếm chú ý và ngưỡng mộ, đổ lỗi cho người khác, từ chối trách nhiệm, cho rằng người khác sai, tìm kiếm ưu ái, sưu tầm “đồ vật”, khoe khoang, và nhiều hơn thứ khác đều là những đặc điểm của trẻ con.

Khi quan sát các hoạt động hàng ngày của hầu hết người trưởng thành, chúng ta nhận ra rằng thực ra chẳng có gì thay đổi hết. Nhận thức này giúp ta hiểu bằng tâm từ bi chứ không còn lên án nữa. Bướng bỉnh và chống đối, đặc trưng của đứa trẻ hai tuổi, tiếp tục chi phối tính cách khi người ta đã già. Thỉnh thoảng, về tính cách, người ta cũng chuyển từ tuổi thơ sang tuổi thanh thiếu niên và trở thành những người không ngừng tìm kiếm cảm giác mạnh và thách thức số phận; họ bị ám ảnh bởi cơ thể, cơ bắp, tán tỉnh, nổi tiếng, và những cuộc chinh phục tình ái và tình dục. Có xu hướng trở thành dễ thương, e thẹn, quyến rũ, hào nhoáng, anh hùng, bi kịch, kịch tính, và khoa trương. Một lần nữa, đây là ấn tượng của đứa trẻ về tuổi thanh thiếu niên được thể hiện ra. Đứa trẻ bên trong ngây thơ và dễ bị ảnh hưởng, dễ bị lập trình, dễ bị quyến rũ và thao túng.

5. Nuôi dưỡng thái độ tò mò về và làm quen với bản chất của tâm thức. Làm như vậy sẽ giúp bạn dễ dàng thôi phản ứng, cả bên trong lẫn bên ngoài, với người khác. Đời người, ngay cả trong những hoàn cảnh thuân lợi nhất, là rất khó khăn. Người nào cũng có đủ những thất vọng, chậm trễ, quên lãng, xung động và những căng thẳng đủ mọi hình thức. Nhu cầu thường cao hơn khả năng, và thời gian tạo ra áp lực. Bạn sẽ nhận thấy rằng bản ngã của mọi người đều gần như giống nhau.

Tâm trí được di truyền lại và có não bộ được điều khiển bởi các gen và một “bộ” tính cách được xác định về mặt di truyền. Nghiên cứu cho thấy nhiều đặc điểm của tính cách đã có sẵn từ khi mới ra đời. Rất ít người thực sự có thể trở thành khác với con người mà họ đang là. Chỉ có một ít người tìm cách tự hoàn thiện hoặc phát triển tâm linh. Đấy là do dù có tự phê phán mình như thế nào, thì hầu hết mọi người đều bí mật tin rằng cách sống của họ có lẽ là cách sống đúng đắn duy nhất. Họ tin rằng hiện nay mình khá ổn, và tất cả các vấn đề đều do tính ích kỷ, bất công của người khác và thế giới bên ngoài gây ra.

6. Tìm cách ban phát tình yêu hơn là nhận lại. Hầu hết mọi người tin rằng tình yêu là cái bạn nhận được, đó là một loại cảm xúc, phải xứng đáng mới có được nó, và càng cho đi nhiều thì càng mất. Sự thật lại hoàn toàn ngược lại. Yêu thương là thái độ làm chuyển hoá trải nghiệm của chúng ta về thế giới. Chúng ta biết ơn những gì mình có thay vì kiêu ngạo. Chúng ta thể hiện tình yêu thương khi thừa nhận người khác và những đóng góp của họ cho cuộc đời và cho sự thuận tiện của chúng ta. Tình yêu không phải là một cảm xúc mà là một cách sống và cách ứng xử với thế gian.

7. Tránh tạo ra “kẻ thù”. Mọi người thường rơi vào cái bẫy trả thù hoặc liên tục đưa ra những lời nhận xét “chọc giận” người khác. Họ tạo ra kẻ thù và thái độ thù địch. Làm như thế là ngăn cản đời sống an bình. Không ngươi nào cần kẻ thù. Họ có thể trả đũa theo những cách bất ngờ nhất và dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Không có cái gọi là “người giành chiến thắng” trong một cuộc xung đột; nó chỉ làm cho “bên thua” thù hận mà thôi. Luôn luôn nhận trách nhiệm về mọi việc xảy ra với mình và tránh rơi vào bẫy nạn nhân sẽ có ích cho quá trình tiến bộ tâm linh. Từ một nhãn quan cao hơn, không hề có nạn nhân. Chẳng có gì trong thế giới hình tướng này có đủ quyền năng để gây ra bất cứ điều gì.

8. Chọn một vai trò và quan điểm sống nhân từ. Quan điểm khắc nghiệt không có lợi cho quá trình phát triển tâm linh. Ngay cả khi quan điểm đó là “đúng” hay “có lý”, người tìm kiếm tâm linh cũng không thể chấp nhận. Phải từ bỏ sự xa xỉ của việc trả thù hoặc tận hưởng cảm giác “công lý đã được thực thi” khi kẻ được cho là đã giết người bị đem ra hành quyết. Không thể vi phạm các nguyên tắc tâm linh cơ bản mà không phải trả giá. Người tìm kiếm tâm linh nhìn thấu vọng tưởng và do đó từ bỏ vai trò thẩm phán và bồi thẩm đoàn. Không người nào thoát tội, như người phẫn nộ thường phản đối. Bằng kiểm tra cơ thể động học, có thể nhanh chóng khẳng định rằng vũ trụ không bỏ sót một chút nào; theo nghĩa đen, từng sợi tóc trên đầu đều được đếm, từng con chim sẻ rơi xuống đều được ghi nhận.

9. Từ bỏ mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm tội lỗi là nỗ lực nhằm mua chuộc cứu rỗi, thao túng Thiên Chúa, và mua chuộc tha thứ bằng cách chịu đau khổ. Những thái độ này bắt nguồn từ cách hiểu sai về Thiên Chúa, coi Ngài như là Người trừng phạt tàn khốc. Chúng ta nghĩ rằng sẽ xoa dịu được cơn thịnh nộ chính đáng của Thiên Chúa bằng những đau đớn và sự sám hối của mình. Thực tế chỉ có một hình thức “sám hối” thích hợp cho những hành vi sai trái, đó là thay đổi. Thay vì lên án cái tiêu cực, hãy chọn cái tích cực.

Tiến bộ và thay đổi chính mình cần nhiều nỗ lực hơn là cảm thấy có tội, nhưng đó là một phản ứng phù hợp hơn. Từ Bản đồ Tâm thức, chúng ta thấy rằng Mặc cảm tội lỗi nằm ở dưới đáy, trong khi Thiên Chúa ở tận đỉnh. Do đó, đắm chìm trong mặc cảm tội lỗi ở đáy của trường tâm thức sẽ không đưa người nào lên tới đỉnh!

Khiêm nhường có nghĩa là nhìn nhận cuộc đời mình như là quá trình tiến hóa của tâm thức tâm linh. Chúng ta học hỏi từ những sai lầm. “Lúc đó dường như đó là ý tưởng hay” có lẽ là câu nói hữu ích nhất để xem xét lại bất kỳ hành vi nào trong quá khứ. Tất nhiên, sau này, khi nhìn lại, nó được đặt vào bối cảnh mới, và nếu nhận ra sai lầm, thì khôn ngoan có thể sẽ tới. Về bản chất, tất cả chúng ta đều vô tội, vì đó là bản chất của tâm thức.

Cùng với việc từ bỏ mặc cảm tội lỗi, việc từ bỏ “tội lỗi” như một thực tại cũng rất hữu ích. Sai lầm có thể được sửa chữa; tội lỗi (tức là vô minh) là lỗi lầm và có thể được tha thứ. Hầu hết những gì mọi người gọi là tội lỗi là chấp trước, cảm xúc bắt nguồn từ đứa trẻ bên trong. Thực chất chính đứa trẻ đó nói dối, ăn cắp, lừa đảo, gọi người khác bằng những lời lẽ xúc phạm và đánh người khác; do đó, tội lỗi thực sự là chưa trưởng thành và vô minh về bản chất thực sự của Thực tại và bản chất của tâm thức. Khi các giá trị tâm linh thay thế các giá trị thế tục, cám dỗ giảm đi và sai lầm ít có khả năng xảy ra hơn.

10. Hãy buông bỏ kháng cự và tìm thấy niềm vui khi cống hiến 101%. Sẵn sàng là nền tảng của mọi tiến bộ tâm linh cũng như thành công trên thế gian. Cảm giác khó chịu xuất phát từ kháng cự, khi buông bỏ kháng cự, nó sẽ được thay thế bằng cảm giác mạnh mẽ, tự tin và vui vẻ.

Trong bất kỳ nỗ lực nào, đều có một điểm kháng cự, và điểm đó trở thành rào cản. Khi vượt qua được rào cản này, nỗ lực sẽ trở thành dễ dàng. Các vận động viên cũng như những người lao động chân tay thường khám phá được hiện tượng này. Đột nhiên nguồn năng lượng khổng lồ được giải phóng, xuất hiện trong trạng thái gần như chứng ngộ, trong đó mọi thứ diễn ra một cách tự nhiên. Có một sự bình yên, thanh thản và tĩnh lặng. Người vũ công ba lê hay người lao động kiệt sức gần với khám phá được Thiên Chúa hơn là họ nghĩ. Nhận thức về sự hiện diện của Thiên Chúa được bắt đầu bằng phó thác. Thường thì chính trong vực sâu của tuyệt vọng, bản ngã mới buông bỏ, để tất cả các cuộc khủng hoảng đều có thể biến thành cơ hội khám phá tâm linh.

11. Nhận ra rằng “Sự thật” phụ thuộc vào bối cảnh. Tất cả sự thật chỉ đúng trong tầng tâm thức nhất định. Ví dụ, tha thứ là đáng khen, nhưng sau đó, người ta nhận ra rằng thực ra chẳng có gì để tha thứ hết. Không có “người khác” nào để được tha thứ. Bản ngã của mọi người, kể cả của chính mình, đều không có thật. Tri giác không phải là thực tại.

12. Thực hành không chấp trước, đó là rút lui khỏi ràng buộc về mặt cảm xúc vào các vấn đề của thế gian. Nó dẫn đến thanh thản và an bình trong tâm trí. Từ chối sự cám dỗ về mặt cảm xúc từ những nỗi buồn và vấn đề của người khác có tác dụng hỗ trợ. Nó cũng bao gồm sẵn sàng để cho thế giới tự giải quyết các vấn đề và vận mệnh của chính mình. Can thiệp và tham gia theo lối phản ứng trước những vấn đề của thế gian có thể được dành cho những người có sứ mệnh khác.

Một “người tốt” là một chuyện; Chứng ngộ lại là chuyện khác. Bạn chịu trách nhiệm về nỗ lực chứ không phải về kết quả, điều đó tùy thuộc vào Thiên Chúa và vũ trụ.

Không chấp trước không phải là thờ ơ hay vô cảm. Hiểu sai nó như là điều kiện cần thường dẫn đến thái độ nhạt nhẽo hoặc Thờ ơ. Ngược lại, không chấp trước cho phép tham gia trọn vẹn vào đời sống mà không cố gắng kiểm soát kết quả.

13. Chấp nhận rằng mọi thứ đều phục vụ một mục đích nào đó. Chấp nhận là phương thuốc tuyệt vời để chữa lành xung đột, mâu thuẫn và buồn phiền. Nó cũng điều chỉnh những mất cân bằng lớn của tri giác và ngăn chặn, không cho những cảm xúc tiêu cực nắm quyền thống trị. Khiêm nhường có nghĩa là chúng ta sẽ không hiểu hết mọi sự kiện hay diễn biến. Chấp nhận không phải là thụ động mà là không có lập trường cụ thể nào. Có thể tránh được sự phồng lên của bản ngã tâm linh bằng cách nhận ra rằng tiến bộ tâm linh là kết quả của Ân phước của Thiên Chúa chứ không phải nỗ lực cá nhân của chúng ta.

14. Tránh xa những Guru giả mạo. Nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại cũng không thừa. Người mới bắt đầu tìm kiếm tâm linh ngây thơ dễ bị lung lay bởi hình thức bên ngoài và danh tiếng của các nhân vật tâm linh và sức hút của những người có nhiều đệ tử. Nếu không có nhận thức tâm linh về các trạng thái tâm thức cao, người tìm kiếm tâm linh không có phương tiện hướng dẫn nào, và sự nổi tiếng làm lu mờ khả năng phán đoán.

Ở giai đoạn này trong lịch sử loài người, không thể tin cậy bất kì một cột mốc nào ngoài bài kiểm tra cơ thể động học về hiệu chỉnh thực tế tầng tâm thức của đạo sư, tổ chức hoặc giáo lý. Người ngây thơ bị ấn tượng bởi vẻ bề ngoài mộ đạo và những lời tuyên bố về sức mạnh siêu nhiên, những kỳ tích huyền bí, những danh hiệu hão huyền và những trang phục “tâm linh” đặc biệt. Những đệ tử tâm linh nghiêm túc được khuyến khích xác minh từng đạo sư hoặc giáo lý theo danh sách “Đặc điểm của những đạo sư và giáo lý chính trực” trong Chương 8. 

CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI 

Hỏi: Giá trị của việc hiện diện trực tiếp trong tâm thức của người thầy là gì?

Trả lời: Bên trong hào quang của bạn có rất nhiều điều bạn đã học được trong thế giới này, hầu hết là phi ngôn ngữ, mà bạn không thể chia sẻ. Bạn không có đủ thời gian để ngồi xuống và mô tả cho mọi người tất cả những gì bạn từng biết về cuộc sống theo lối tuyến tính. Toàn bộ cuộc đời bạn và tất cả trí tuệ tập thể và trải nghiệm tồn tại như một trường năng lượng. Khi bạn chia sẻ con người mà bạn đã trở thành với người khác—chỉ đơn giản bằng cách ở bên cạnh họ—họ sẽ tiếp nhận trường năng lượng của tất cả những kiến ​​thức đó.

Đó là cách mà đạo sư tâm linh truyền đạt trạng thái Chứng ngộ thông qua trường năng lượng. Hào quang của đạo sư cao cấp, đã chứng ngộ chứa đựng trí tuệ tập thể xuyên qua mọi thời đại. Thời gian trên trần thế là không thể nào đủ để diễn giải hết những điều này trong những bài giảng theo lối tuyến tính. Bạn có thể rút ra một số nguyên tắc từ đó, nhưng các nguyên tắc đó chỉ là những nguyên tắc cơ bản. Bất cứ điều gì đang nói với bạn ngay trong lúc này là sự tích lũy ảnh hưởng của các đạo sư từ thời Đức Phật. Vậy nên trường năng lượng của Đức Phật đang hiện hữu ở đây, ngay trong lúc này (được hiệu chỉnh là đúng). Điều đang nói với bạn ngay trong lúc này được tiếp thêm sức mạnh bởi tất cả các đạo sư vĩ đại đã từng sống. Mỗi đạo sư vĩ đại từng sống đều để lại sức mạnh của trường năng lượng đó trong tâm thức tập thể của nhân loại. Đó là lý do vì sao nhân loại tiến bộ. Nếu không, nếu mỗi thế hệ phải bắt đầu lại từ đầu, nhân loại sẽ không có được vị trí như ngày hôm nay.

Hỏi: Nghĩa vụ với sư phụ?

Trả lời: Hoàn toàn không cần gì hết. Sự quan tâm của người nghe là quá đủ. Nghĩa vụ duy nhất bạn nên chấp nhận là nghĩa vụ với chính bản thân mình, đó là vận dụng những trí tuệ đã học và thực hành chúng để siêu việt bản ngã. Tôn trọng sư phụ, nhưng chỉ tôn kính Thiên Chúa.

Hỏi: Làm thế nào để mô tả hoặc gọi tên giáo lý và con đường mà ông đại diện?

Trả lời: Đó là con đường của nhà huyền môn và đại diện cho “bất nhị sùng kinh”.

Hỏi: Chúng ta có thể dùng thuật ngữ đó để chỉ những giáo lý này không?

Trả lời: Vâng, nói thế là đúng. Đó là con đường của sự thật triệt để.

Hỏi: Liệu có thể có những bước nhảy vọt lớn trong tâm thức?

Trả lời: Những bước nhảy vọt lớn trong tâm thức là kết quả của việc phó thác cho Thiên Chúa. Thể hiện trong xã hội của chúng ta ở những người đã “chạm đáy”. Thái độ ngang bướng/kiêu ngạo được buông bỏ và chuyển hóa xảy ra. Ngược đời là, từ vực sâu của địa ngục, người ta lại thấy thiên đường rất gần. Chúng ta thấy điều này trong cái gọi là cải đạo, tù nhân biến thành một người hiền lành, yêu thương và gần như thánh thiện. Tù nhân thường trải qua những giai đoạn nhận thức lớn lao và trở nên hoàn toàn trái ngược với con người trước đây của mình. Mặc khải đột ngột này cũng xảy ra đồng thời với những trải nghiệm cận tử. Do đó, có thể đột nhiên siêu việt nhiều tầng tâm thức. Nhưng trước đó thường có những khoảng thời gian dài đau khổ nội tâm. Cải đạo thực sự được chứng thực bằng một bước nhảy vọt lớn trong tầng tâm thức được hiệu chỉnh.

Khi những người có khuynh hướng tâm linh tiếp xúc với thông tin được cung cấp ở đây, tâm thức của họ được nâng lên một cách rõ rệt. Sau mỗi bài giảng, tầng tâm thức được hiệu chỉnh của cử toạ gia tăng, trung bình, từ 10 đến 40 điểm. Có thể khác nhau ở từng cá nhân, từ thấp nhất là bốn điểm đến cao nhất là hàng trăm điểm. Trong nhóm, có sự khác biệt lớn, đấy là do “sự chín muồi mang tính nghiệp báo”. Vì hầu hết mọi người chỉ tăng khoảng năm điểm trong suốt cuộc đời, nên những con số này là rất đáng kể.

Hỏi: Người tìm kiếm “cao cấp” là gì?

Trả lời: Người tìm kiếm cao cấp hơn đã nghe nói rằng không có “ở ngoài kia” hay “ở trong này” và do đó chịu trách nhiệm cho tất cả những việc xảy ra. Có nhận thức từng bước một rằng tất cả những gì dường như xảy ra thực sự đại diện cho những gì đang được giữ trong những gì trước đây được coi là “bên trong”. Do đó, khuynh hướng phóng chiếu bị xóa bỏ. Vị thế “nạn nhân vô tội”, với tất cả sự “vô tội” giả tạo của nó, bị vạch trần.

Do đó, nghịch cảnh được coi là kết quả của những gì trước đây đã bị phủ nhận và kìm nén vào vô thức. Bằng cách nhìn vào bên trong, bạn tìm thấy nguồn gốc của nghịch cảnh, để có thể giải quyết nó. Niềm tin là yếu tố quyết định những gì bạn trải nghiệm. Không có “nguyên nhân” bên ngoài. Bạn khám phá ra những lợi ích bí mật có được từ những sự phóng chiếu bí mật trong vô thức. Có thể khám phá các chương trình tiềm ẩn bằng cách đơn giản là lập danh sách những bất bình và khổ đau của bạn và sau đó chỉ quay chúng đúng một trăm tám mươi độ thành ngược lại. 

Cảm thấy “mọi người ghét mình” thực chất bắt nguồn từ những hận thù ẩn sâu trong chính bạn. Cảm giác “mọi người chẳng quan tâm gì đến mình” bắt nguồn từ thói ái kỷ, khi bạn quá mải mê với hạnh phúc và lợi ích cá nhân thay vì nghĩ cho người khác. Ý nghĩ “mình không được yêu thương” bắt nguồn từ việc bạn đã không trao cho người khác tình yêu. Cảm thấy “mọi người thô lỗ với mình” bắt nguồn từ sự việc bạn chưa chân thành và lịch thiệp với người khác. Còn cảm giác “người khác ghen tị với mình” bắt nguốn từ thái độ đố kỵ với người khác. Vì vậy, khi bạn dám chịu trách nhiệm với tư cách là tác giả tạo ra thế giới của riêng mình, bạn sẽ tiến gần hơn đến cội nguồn của mọi vấn đề — nơi mà bạn thực sự có khả năng để xoay chuyển và sửa chữa nó.  

Bằng cách yêu thương người khác, bạn sẽ khám phá ra rằng mình lúc nào cũng tràn ngập yêu thương. Khi bạn hết lòng ủng hộ đời sống mà không mong cầu lợi ích, cuộc đời sẽ đáp lại. Khi bạn không coi lợi ích như là động cơ, cuộc sống sẽ đáp lại bằng sự hào phóng mà bạn không ngờ tới. Khi nhìn theo cách này, những điều kỳ diệu bắt đầu xuất hiện trong cuộc sống của bạn. Hài hòa hiển lộ như những khám phá bất ngờ, trùng hợp ngẫu nhiên và vận may, và cuối cùng là nhận ra rằng đây chính là những gợn sóng quay trở lại với bạn từ trung tâm của tâm thức.

Hỏi: Sẽ xảy ra chuyện gì, nếu một người tự cho mình đang sống ở tầng tâm thức vượt xa con người mà người đó đang là?

Trả lời: Bên cạnh sự tự phụ của bản ngã/tâm trí rằng nó “biết” điều gì đó bởi vì nó đã nghe nói về điều đó (đọc một cuốn sách về golf không làm cho người ta trở thành một tay chơi golf chuyên nghiệp), còn có sai lầm khi lẫn lộn các tầng sự thật. Đôi khi những đệ tử tâm linh tưởng tượng ra hình ảnh về những trạng thái cao hơn trông như thế nào, và sau đó bản ngã cố gắng tạo ra hoặc thực hiện nó. Rất khác với việc thực sự “trở thành” nó.

Những thực tại rõ ràng của một tầng tâm thức cụ thể không nhất thiết là những thực tại của một tầng khác, như được chỉ ra bởi các ký hiệu bằng số của các tầng tâm thức được hiệu chỉnh. Ví dụ, một người nào đó có thể trích dẫn câu nói nổi tiếng của Ramana Maharshi: “Cố gắng cứu thế giới là vô ích, vì thế giới mà người đó nhìn thấy thậm chí không tồn tại.” Đó là sự thật và là thực tại được trải nghiệm ở tầng tâm thức 720, nhưng đó không phải là thực tại được trải nghiệm ở các tầng tâm thức thấp hơn. Tốt nhất là chỉ cần “là con người mà bạn đang là” và trung thực với thực tại có giá trị và đúng, có thể trải nghiệm được ở tầng phát triển của bạn.

Mỗi tầng cũng có những khả năng tương ứng cũng như những hạn chế riêng, khá khác nhau. Ví dụ, có lẽ Ramana Maharshi có thể an toàn đi bộ qua đường cao tốc đông đúc với đôi mắt nhắm chặt, nhưng người bình thường khó có thể trải nghiệm chuyện đó, người bình thường có lẽ không thể bắt chước hành vi như thế mà không bị xe cán!

Hỏi: Công việc tâm linh có ích cho thế giới không?

Trả lời: Nỗ lực phát triển tâm linh là món quà lớn nhất mà bạn có thể trao tặng cho thế gian. Nó thực sự nâng cao toàn thể nhân loại từ bên trong, vì nó là bản chất của chính sức mạnh đích thực. Sức mạnh đích thực tỏa ra và được chia sẻ, trong khi bạo lực thì bị giới hạn, tự hủy hoại và phù du. Mỗi ý nghĩ, lời nói hay hành động thiện lành và đầy yêu thương đều tác động tới toàn thể một cách vô hình và tinh tế. Mỗi tha thứ đều mang lại lợi ích cho tất thảy mọi người. Vũ trụ ghi nhận mọi hành động và đáp lại với sự tử tế tương xứng. Mọi hành động tử tế đều tồn tại mãi mãi.

Hỏi: Có đúng không khi nói rằng “sự hiện hữu” của chúng ta có sức tác động lớn hơn mọi hành động của chúng ta?

Trả lời: Lời khuyên mang tính đạo đức và việc tìm kiếm “công lý” mang lại điều ngược lại như là phản lực, trong khi yêu thương tỏa ra sức mạnh không có đối lập. Với thái độ khiêm nhường, ta sẵn sàng ngừng tìm cách kiểm soát hoặc thay đổi người khác, hoàn cảnh sống hay sự kiện một cách giả tạo là “vì lợi ích của họ”. Để trở thành một người tìm kiếm tâm linh tận tâm, bạn nhất thiết phải từ bỏ mong muốn được là “người đúng” hoặc có giá trị tưởng tượng đối với xã hội. Trên thực tế, bản ngã hay hệ thống niềm tin của bất kỳ người nào cũng không có giá trị gì đối với xã hội. Thế giới không tốt cũng không xấu, không có khiếm khuyết, cũng không cần giúp đỡ hay sửa đổi, vì vẻ ngoài của nó chỉ là sự phản chiếu của tâm trí mỗi người. Không có thế giới nào như thế hết.

Nhận thức về thực tại và sự thật tuyệt đối là món quà lớn nhất mà người ta có thể tặng cho thế gian và toàn thể loài người. Do đó, công việc tâm linh, về bản chất, là phụng sự vô vị kỷ và phó thác cho Ý chí của Thiên Chúa. Khi sự tỉnh thức của bạn tăng lên, sức mạnh của trường tâm thức đó sẽ gia tăng theo hàm số mũ (trên thang đo logarit). Tự thân sự kiện đó tạo ra nhiều thành quả hơn mọi nỗ lực hay mưu cầu nhằm xoa dịu khổ đau của thế giới này. Mọi nỗ lực như vậy đều vô ích, bởi chúng nhất thiết bị dẫn dắt sai lạc bởi những tạo tác và vọng tưởng của chính bản ngã.

Sức mạnh tâm linh và chính trực nội tâm của mỗi người đều giúp nâng cao mực nước biển và do đó nâng tất cả những con tàu lên. Bởi vì mọi thứ đều được kết nối với nhau, con người mà bạn trở thành sẽ tự động nâng cao tất cả đời sống.

Nếu bạn tự coi mình là một món quà đầy lòng biết ơn của Thiên Chúa dành cho thế gian, thì bạn là món quà của Chúa dành cho thế gian. Nếu bạn tự coi mình là một con sâu khốn nạn, thì bạn là một con sâu khốn nạn, bởi vì bạn trở thành con người mà bạn nói là bạn sẽ trở thành. Mọi người cần phải thừa nhận chiều kích vô biên của bản chất của họ vì lợi ích của thế giới. Trong phó thác, chúng ta chìa tay ra với Thiên Chúa và thừa nhận Thần tính bên trong chúng ta. Cái ở trong chúng ta là Cội nguồn của sự cứu rỗi của toàn thể nhân loại, vì điều đó “chúng con tạ ơn Thiên Chúa. Amen.”

Hỏi: Những lời cầu nguyện nào là có ích?

Trả lời: Hãy cầu xin được làm tôi tớ của Chúa, được là một phương tiện của Tình yêu Thần thánh, một kênh truyền đạt ý muốn của Thiên Chúa. Hãy cầu xin sự hướng dẫn và trợ giúp thiêng liêng, và phó thác mọi ý chí cá nhân qua lòng sùng kính. Hãy hiến dâng cuộc đời mình cho việc phụng sự Thiên Chúa. Hãy chọn tình yêu và hòa bình trên hết mọi lựa chọn khác. Hãy cam kết với mục tiêu yêu thương vô điều kiện và tâm từ bi đối với sự sống trong mọi biểu hiện của nó, và phó thác mọi phán xét cho Chúa.



[i] Saddle pattern – Mô thức yên ngựa là một dạng cân bằng mong manh — có vẻ ổn định ở một chiều, nhưng lại tiềm ẩn xu hướng phân rã ở chiều khác; do đó chỉ cần một nhiễu động nhỏ cũng đủ làm hệ đổi trạng thái..


No comments:

Post a Comment