ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỜI PHÓ THÁC
David Hawkins
Phạm Nguyên Trường dịch
CÁC BÁC SỸ,
XIN HÃY TỰ CHỮA LÀNH CHÍNH MÌNH
Trải
nghiệm sống và quan sát lâm sàng xác nhận rằng phần lớn các rối loạn của con
người đều có thể được chữa khỏi bằng cách tuân theo một số nguyên tắc nhất định.
Nhiều loại bệnh có thể được chữa lành, trừ khi có nghiệp lực quá lớn.
Trớ
trêu là, những ca nặng nhất, không còn chút hy vọng nào, lại thường có phản hồi
rất nhanh và đạt được kết quả mỹ mãn. Có lẽ đấy là do, cuối cùng, người đó đã
buông bỏ và giờ đây đã trở thành “lý trí hơn”. Họ đã sẵn sàng cho điều mà
Thomas Kuhn gọi là “chuyển đổi hệ hình”, tức là sẵn sàng nhìn nhận mọi thứ khác
đi từ quan điểm mở rộng và cởi mở hơn. Đôi khi, phải bị những căn bệnh mãn
tính, đau khổ, đau đớn và đứng trước sợ chết, thì người ta mới sẵn sàng buông bỏ
những niềm tin đã ấp ủ và mở lòng đón nhận sự thật của thực tế lâm sàng.
Các nguyên tắc cơ bản
Chương
này trình bày chi tiết về quá trình chữa lành và hồi phục từ vô số căn bệnh về
thể chất trong cuộc đời của một bác sĩ. Chúng ta sẽ phác thảo các nguyên tắc cơ
bản tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự chữa lành. Trong quá trình này,
chúng ta sẽ xem xét lại một số nội dung đã đề cập, tổng hợp lại thành trải nghiệm
tổng thể đã được tích hợp. Chúng ta sẽ bắt đầu với các khái niệm cơ bản:
•
Suy nghĩ là một “vật”. Nó có năng lượng và hình tướng.
•
Tâm trí với những suy nghĩ và cảm thọ của nó điều khiển cơ thể; do đó, để chữa
lành cơ thể, cần phải thay đổi suy nghĩ và cảm thọ.
•
Những thứ được lưu giữ trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra bên ngoài thông
qua cơ thể.
•
Cơ thể không phải là bản ngã thực sự; nó giống như một con rối do tâm trí điều
khiển.
•
Những niềm tin vô thức có thể biểu hiện thành bệnh tật, ngay cả khi không còn
ký ức về những niềm tin tiềm ẩn đó.
•
Bệnh tật thường bắt nguồn từ những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén và đè nén, cộng
thêm suy nghĩ tạo nên hình tướng cụ thể cho nó (ví dụ, một cách có ý thức hoặc
vô thức, người ta chọn một căn bệnh cụ thể này thay vì một căn bệnh khác).
•
Suy nghĩ xuất phát từ những cảm thọ bị kìm nén và đè nén. Khi buông bỏ một cảm thọ,
thì hàng ngàn hoặc thậm chí hàng triệu suy nghĩ được kích hoạt bởi cảm thọ đó
cũng biến mất.
•
Mặc dù một niềm tin cụ thể có thể bị hủy bỏ và năng lượng dành cho nó có thể bị
từ chối, nhưng nhìn chung, việc cố gắng thay đổi chính suy nghĩ là lãng phí thời
gian.
•
Chúng ta buông bỏ một cảm thọ bằng cách cho phép nó tồn tại mà không lên án,
phán xét hay chống lại. Chúng ta chỉ đơn giản là nhìn vào nó, quan sát nó và
cho phép nó được cảm nhận mà không tìm cách thay đổi nó. Với thái độ sẵn sàng
buông bỏ một cảm thọ, sau một thời gian nó sẽ tự biến mất.
•
Một cảm thọ mạnh mẽ có thể tái diễn, điều đó có nghĩa là cần phải nhận biết rõ
hơn và buông bỏ nó.
•
Để buông bỏ một cảm thọ, đôi khi cần phải bắt đầu bằng cách từ bỏ cảm thọ hiện có
về cảm xúc cụ thể (ví dụ, mặc cảm tội lỗi, cho rằng “Tôi không nên có cảm thọ
này”).
•
Để buông bỏ một cảm thọ, đôi khi cần phải thừa nhận và buông bỏ phần thưởng tiềm
ẩn của nó (ví dụ, “cảm giác hưng phấn” của tức giận và “dưỡng chất” có được từ thái
độ thương hại xuất phát từ việc đóng vai nạn nhân bất lực).
•
Cảm thọ không phải là tự ngã thực sự. Trong khi cảm thọ là những chương trình đến
rồi đi, thì Đại Ngã bên trong thực sự mãi mãi không thay đổi; do đó, cần phải
ngừng đồng nhất những cảm thọ nhất thời với chính mình.
•
Hãy bỏ qua những suy nghĩ. Chúng chỉ đơn thuần là những hợp lý hóa bất tận của
những cảm thọ ở bên trong.
•
Cho dù trong cuộc sống có xảy ra bất cứ chuyện gì, hãy giữ vững ý định buông bỏ
những cảm thọ tiêu cực khi chúng vừa sinh khởi.
•
Quyết định rằng tự do đáng mong muốn hơn là cảm thọ tiêu cực.
•
Buông bỏ cảm thọ tiêu cực thay vì thể hiện chúng.
•
Buông bỏ kháng cự và hoài nghi về những cảm thọ tích cực.
•
Từ bỏ cảm thọ tiêu cực nhưng chia sẻ cảm thọ tích cực.
•
Nhận thấy rằng buông bỏ song hành với cảm thọ nhẹ nhàng, tinh tế hơn bên trong
chính bạn.
•
Từ bỏ một mong muốn không có nghĩa là bạn sẽ không nhận được cái mình muốn. Nó
chỉ đơn giản là dọn đường cho việc đó xảy ra.
•
Hãy tiếp nhận nó bằng “thẩm thấu”. Đặt mình vào hào quang của những người có cái
mà bạn muốn.
•
“Đồng thanh thương ứng, đồng khí tương cầu”. Kết giao với những người có cùng
hoặc có động lực tương tự và có ý định mở rộng tâm thức và chữa lành.
•
Tỉnh thức để biết rằng người khác biết và đang truyền đi trạng thái nội tâm của
bạn. Những người xung quanh bạn cảm nhận được cảm thọ và suy nghĩ, ngay cả khi
bạn không nói ra.
•
Kiên trì sẽ được đền đáp. Một số triệu chứng hoặc bệnh tật có thể biến mất ngay
lập tức; những triệu chứng khác có thể mất hàng tháng hoặc hàng năm nếu đấy là
bệnh mãn tính đã kéo dài.
•
Buông bỏ chống đối kỹ thuật này. Bắt đầu ngày mới với nó. Cuối ngày, hãy dành
thời gian để giải tỏa bất kỳ cảm thọ tiêu cực nào còn sót lại từ những hoạt động
trong ngày.
•
Bạn chỉ bị chi phối bởi những gì bạn lưu giữ trong tâm trí. Bạn chỉ bị chi phối
bởi một suy nghĩ hoặc niềm tin tiêu cực, nếu bạn nói một cách có ý thức hoặc vô
thức rằng nó sẽ xảy ra với bạn.
•
Ngừng đặt tên cho rối loạn thể chất; đừng dán nhãn cho nó. Nhãn mác là cả một
chương trình hoàn chỉnh. Hãy buông bỏ và
để cho những gì thực sự được cảm thọ đi qua, đó chính là các cảm giác trên thân
thể. Chúng ta không thể cảm thọ được một căn bệnh. Bệnh là một khái niệm
trừu tượng được lưu giữ trong tâm trí. Ví dụ, chúng ta không thể cảm nhận được
“hen suyễn”. Tự hỏi “Mình thực sự đang cảm thọ cái gì?” là rất hữu ích. Đơn giản
là quan sát các cảm giác trên cơ thể, ví dụ như “tức ngực, thở khò khè, ho.” Ví
dụ, không thể trải nghiệm suy nghĩ “Tôi không hít vào đủ không khí.” Đó là một
suy nghĩ đầy sợ hãi trong tâm trí. Nó là một khái niệm, một chương trình hoàn
chỉnh được gọi là “hen suyễn.” Điều thực sự đang được trải nghiệm là căng thẳng
hoặc co thắt ở cổ họng hoặc ngực. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho “loét”
hoặc bất kỳ rối loạn nào khác. Chúng ta không thể cảm thọ “loét.” Chúng ta cảm thọ
một cảm giác nóng rát hoặc buốt nhói. Từ “loét” là một nhãn hiệu và một chương
trình, và ngay khi chúng ta sử dụng từ đó để dán nhãn cho trải nghiệm của mình,
chúng ta đồng nhất mình với toàn bộ chương trình “loét”. Ngay cả từ “đau” cũng
là một chương trình. Trên thực tế, chúng ta đang cảm thọ một cảm giác cụ thể
trong cơ thể. Quá trình tự chữa lành diễn ra nhanh hơn khi chúng ta ngừng dán
nhãn hoặc đặt tên cho các cảm thọ khác nhau trên thân thể.
•
Điều tương tự cũng đúng với cảm thọ của chúng ta. Thay vì dán nhãn và đặt tên
cho cảm tọ, chúng ta chỉ cần cảm nhận cảm thọ và buông bỏ năng lượng ẩn chứa đằng
sau chúng. Không cần thiết phải dán nhãn cho một cảm thọ là “sợ hãi” để nhận thức
được năng lượng của nó và buông bỏ năng lượng đó.
Chữa lành nhiều bệnh
cùng một lúc
Trong
trường hợp của vị bác sĩ này [tác giả -ND], có quá nhiều bệnh cùng một lúc đến
nỗi không thể nhớ hết được. Khi thuyết trình, ông ấy phải liệt kê chúng ra một
tấm thẻ. Tất cả những bệnh sau đây đều xảy ra ở tuổi 50:
Đau
nửa đầu. Mãn tính và thường xuyên.
Tắc
vòi nhĩ. Đau tai dữ dội.
Cận
thị và loạn thị. Phải đeo kính ba tròng.
Viêm
xoang; chảy dịch mũi sau; dị ứng.
Viêm
da, nhiều loại.
Bệnh
gút. Phải mang gậy trong cốp xe và phải ăn kiêng.
Vấn
đề về cholesterol. Hạn chế ăn uống hơn nữa.
Loét
tá tràng. Mãn tính và tái phát trong hơn 20 năm, không phản ứng với tất cả các
phương pháp điều trị y tế.
Viêm
tụy. Những cơn đau gián đoạn do loét tái phát gây ra.
Viêm
dạ dày; tăng axit dạ dày; co thắt môn vị gián đoạn. Do đó, phải hạn chế ăn uống
hơn nữa.
Viêm
đại tràng tái phát.
Viêm
túi thừa. Tình trạng giống như viêm ruột thừa ở đại tràng.
Đôi
khi xuất huyết, cần nhập viện và truyền máu.
Các
vấn đề thường gặp ở phần dưới của đường tiêu hóa.
Đã
đặt lịch phẫu thuật.
Viêm
khớp cột sống cổ. Trật khớp đốt sống cổ thứ tư.
Hội
chứng đau lưng dưới, cần điều trị bằng phương pháp nắn chỉnh cột sống.
Bệnh
rung (Hội chứng Raynaud). Mất cảm giác và nguy cơ hoại tử ở đầu ngón tay do mất
tuần hoàn.
Hội
chứng tuổi trung niên. Lạnh tay chân, mất năng lượng và không còn ham muốn tình
dục, và trầm cảm.
U
nang lông ở đáy cột sống. Chỉ có thể chữa bằng phẫu thuật.
Viêm
phế quản và ho mãn tính. Làm trầm trọng thêm chứng đau đầu, thoái hóa cột sống
và hội chứng đau lưng dưới.
Nhạy
cảm với cây thường xuân độc. Da bị nổi mẩn mỗi năm. Đôi khi cần nhập viện.
Nấm
chân. Có quan niệm cho rằng nó bắt nguồn từ sàn phòng khách sạn.
Gàu.
Có quan niệm cho rằng nó bắt nguồn từ việc đã vào tiệm cắt tóc.
Viêm
sụn (Hội chứng Tzietze).
Một
chứng rối loạn hiếm gặp, với triệu chứng sưng đau ở chỗ nối giữa xương sườn và
xương ức.
Các
vấn đề về răng và nướu. Mất xương quanh chân răng. Được khuyến nghị phẫu thuật
nướu.
Mất
cân bằng năng lượng tổng thể. Kiểm tra cơ thể động học cho thấy tất cả các hệ
thống năng lượng đều mất cân bằng, và tất các các kinh mạch đều yếu.
Nhìn
lại, thật khó tin làm sao cơ thể vẫn tiếp tục hoạt động và duy trì chức năng tốt
như thế. Vì mỗi rối loạn đều cần chế độ ăn uống hạn chế hơn nữa, nên có những
lúc chỉ còn rau diếp và cà rốt là những thực phẩm “an toàn” mà thôi. Giảm 25
pound (khoảng 11 kg), trông gầy gò và hốc hác. Sau này, một số bạn bè tiết lộ rằng
họ đã cá cược xem cơ thể đó sẽ sống được bao lâu. Hầu hết đều ước tính rằng nó
có thể sẽ gục ngã ở tuổi 53.
Câu
hỏi đặt ra lúc đó là: Làm sao mà một người đàn ông thành đạt, có học thức cao,
hoạt động sáng tạo, sống cuộc đời cân bằng, đã được phân tích tâm lý kỹ lưỡng,
đã trải qua nhiều phương pháp trị liệu và chữa bệnh, lại vẫn có nhiều bệnh tật
đến như thế? Đúng là khối lượng công việc rất to lớn, tập thể dục và những công
việc sáng tạo như mộc, xây dựng, làm đồ gỗ và thiết kế kiến trúc làm cho nó
trở thành cân bằng. Hơn nữa, đời sống tâm linh rất năng động, mỗi ngày hai giờ
thiền định - trước và sau giờ làm việc. Vô số kỹ thuật được đề cập trong phần
Giới thiệu đã được nghiên cứu: tự thôi miên, có chế độ ăn uống và lối sống nhằm
hướng tới cân bằng và sức khỏe lâu dài, bấm huyệt bàn chân, soi mống mắt, liệu
pháp phân cực, khẳng định tích cực, xuất hồn, các khóa học chuyên sâu theo nhóm,
xoa bóp, thư giãn, v.v.
Câu
trả lời cho nghịch lý kỳ lạ này của một người đã thử vô số kỹ thuật, nhóm và liệu
pháp, nhưng vẫn mắc phải một loạt bệnh tật đáng kinh ngạc là gì? Và làm thế nào
mà ông ấy lại hoạt động thành công đến như thế trên thế gian mặc cho danh sách khá
dài các bệnh tật và đau đớn dai dẳng đi kèm? Câu trả lời dường như là: ý chí rất
mạnh mẽ. Nó đã giúp ông ta vượt qua tất cả các trở ngại và có sức mạnh để gạt bỏ
bất cứ điều gì cản trở hoạt động hiệu quả—trong trường hợp này, chủ yếu là cảm thọ.
Với sức mạnh ý chí như thế, khi một cảm thọ bị kìm nén, nó sẽ tiếp tục bị kìm
nén.
Lý
tưởng khoa học là khách quan. Khách quan có nghĩa là không có cảm thọ. Muốn
vươn tới lý tưởng này trong hoạt động lâm sàng và khoa học thì cần phải kìm nén
cảm thọ. Đặc biệt gay gắt do bản chất của hoạt động lâm sàng: làm việc với những
bệnh nhân nặng. Mức độ đau khổ của họ và gia đình họ dường như là vô tận. Nó tiếp
diễn không ngừng, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Cường độ càng
tăng lên vì ông ta có tâm từ bi và đồng cảm với nỗi đau khổ của mọi người. Áp lực
ngày càng tăng của cảm thọ bị kìm nén trong mọi lĩnh vực của cuộc sống rõ ràng
đã góp phần làm phát sinh đủ loại bệnh tật.
Đến
một thời điểm nhất định, cả cơ chế buông bỏ và Khóa học về những điều kỳ diệu
đều được nghiên cứu và áp dụng vào cuộc sống thường nhật. Do lịch trình làm việc
bận rộn, nên có rất ít thời gian cho bất kỳ kỹ thuật mới nào. May mắn là, Cuốn bài
tập của Khóa học về những điều kỳ diệu yêu cầu suy ngẫm đơn giản về một
câu hoặc “bài học” trong suốt cả ngày. Sức mạnh của kỹ thuật này là giảm bớt mặc
cảm tội lỗi bằng cách sử dụng cơ chế tha thứ. Cơ chế buông bỏ, như một quá
trình nội tâm, cũng có thể được thực hiện một cách thầm lặng suốt cả ngày. Hai
công cụ này hoạt động cùng nhau. Buông bỏ và tha thứ diễn ra đồng thời trong suốt
cả ngày.
Một
khi tâm trí biết cách giải tỏa áp lực nội tâm, giống như chiếc hộp Pandora, nó
bắt đầu giải phóng tất cả rác rưởi, và nó tuôn trào lên! Những suy nghĩ và cảm thọ,
vốn hầu như không được chú ý vào lúc chúng sinh khởi, giờ đây đã quay trở lại.
Cuộc sống quá bận rộn đến nỗi không có thời gian để xử lý. Quá trình giải tỏa bắt
đầu tự xảy ra.
Phát
hiện được ngay lập tức là tất cả cảm thọ hay suy nghĩ tiêu cực đều gắn liền với
mặc cảm tội lỗi, và mặc cảm tội lỗi bao trùm đến mức nó liên tục bị kìm nén. Do
đó, không có cái gọi là chỉ có tức giận. Cảm thọ thực sự là tức giận/mặc cảm tội
lỗi. Có mặc cảm tội lỗi mỗi khi chúng ta có ý nghĩ chỉ trích người nào đó. Tâm
trí liên tục phán xét và chỉ trích thế giới, chỉ trích các sự kiện và con người
là nguồn gốc vô tận của mặc cảm tội lỗi. Tự nó, mặc cảm tội lỗi sinh ra những cảm
thọ tiêu cực, và tự chúng, những cảm thọ tiêu cực cũng sinh ra mặc cảm tội lỗi.
Chính sự kết hợp đầy tai hoạ như thế kéo tất cả chúng ta xuống và tạo ra bệnh tật
và bất hạnh lan tràn. Mặc cảm tội lỗi hiện diện khắp nơi, đến mức dù đang làm
gì, ở đâu đó trong tâm trí, chúng ta vẫn cảm thấy rằng mình “nên” làm cái gì đó
khác. Chúng ta đã sống với quá nhiều mặc cảm tội lỗi trong một thời gian dài, đến
mức chúng ta thậm chí không còn nhận ra nó, và bằng cách nào đó, mặc cảm tội lỗi
được tâm trí của người bình thường phóng chiếu ra thế giới xung quanh. Đó là lý
do vì sao hầu hết mọi người đều cần “kẻ thù”—một đối tượng để phóng chiếu mặc cảm
tội lỗi bên trong của mình. Đó cũng là nơi mà những tên bạo chúa nhận được quyền
lực - bằng cách thao túng mặc cảm tội lỗi của mọi người và tìm ra mục tiêu
thích hợp cho nó.
Cũng
phát hiện được định kiến, coi thường các cảm thọ. Cơn giận trỗi dậy khi ta cảm
thấy các cảm thọ đang áp đặt lên chính mình, chính điều này có thể làm cho người
ta có tâm lý “nạn nhân”. Đối với người có tư duy thiên về bán cầu não trái, cảm
thọ đối lập với tư duy, logic và lý trí. Trên hết là tư tưởng gia trưởng, cho rằng
chỉ phụ nữ, trẻ em và những người thuộc giới nghệ sĩ mới có nhiều cảm xúc. Cảm thọ
vốn dĩ chỉ được xem là đối tượng của hiểu biết trí năng và phân tích lâm sàng. Khi
vừa sinh khởi, chúng lập tức bị dán nhãn, khu biệt hóa và xếp vào những ngăn
lưu trữ của tâm trí.
Khi
bắt đầu làm việc với kỹ thuật buông bỏ, đã có một giai đoạn nổi loạn và thực sự
căm ghét cảm thọ, sợ hãi khi phải đối phó với chúng. Dường như là nhục nhã khi
phải chịu đựng chúng. Cần thay đổi trong nhận thức về chính mình, đấy là do đồng
nhất quá mức với trí tuệ. Giờ đây, dù muốn hay không, phải thừa nhận rằng mỗi
người đều là một cơ thể biết suy nghĩ/cảm thọ. Tiếp tục phủ nhận thực tại sẽ chẳng
có tác dụng gì.
Chẳng
bao lâu sau, có cảm thọ trở thành hiện tượng bình thường. Với kỹ thuật buông bỏ,
cách duy nhất để thoát khỏi nó là thừa nhận và từ bỏ cảm thọ. Sẽ trở nên dễ
dàng hơn khi sức khoẻ bắt đầu được cải thiện. Mặc dù, lúc đầu, đối mặt với cảm thọ
của chính mình có thể là việc khó, nhưng khi thấy ánh sáng ở cuối con đường thì
sẽ xuất hiện hy vọng.
Chỉ
sử dụng kỹ thuật này trong vài ngày, thì phần dưới của đường tiêu hóa đã nhanh
chóng tự chữa lành và trên thực tế, không cần phẫu thuật nữa. Nhiều triệu chứng
đã tồn tại trong nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm, bắt đầu giảm dần về cường
độ và tần suất. Đặc biệt, chứng đau nửa đầu ngày càng ít xuất hiện hơn. Đau
lưng dưới biến mất. Cơ thể bắt đầu cảm thấy nhẹ nhàng hơn và khỏe mạnh hơn.
Sau
đó, một cuộc khủng hoảng bất ngờ ập tới, mang theo áp lực cảm xúc dữ dội. Bệnh
viêm túi thừa tái phát, rất nặng, xuất huyết khá nhiều. Trong thâm tâm xuất hiện
quyết định mang tính bước ngoặt vĩ đại: “Hoặc là phương pháp này có hiệu quả,
hoặc là không.” Vì vậy, lần này, không những không đến bệnh viện và truyền máu
mà quyết định buông bỏ hoàn toàn. Thừa nhận và không chống lại tất cả những cảm
giác diễn ra ở trong ổ bụng. Không đặt tên hay dán nhãn. Thay vì nói hay suy
nghĩ, thì chỉ cảm nhận sự một thể với những cảm giác, những cơn co thắt và đau.
Không có kháng cự nào đối với những cảm giác đó, dù dữ dội đến đâu. Tương tự
như đang đứng trên lưỡi dao cạo, nhận biết và buông bỏ mọi cảm giác và cảm thọ.
Kéo dài suốt bốn tiếng đồng hồ. Sau bốn tiếng, máu ngừng chảy, cơn co thắt cũng
không còn, bệnh viêm túi thừa đã được chữa lành. Sau đó, có một vài lần tái
phát nhẹ; nhưng mỗi lần đều được xử lý theo cùng một cách như thế, và cuối cùng
các đợt tấn công giảm dần và biến mất. Vậy là cơ chế buông bỏ đã vượt qua được
thử thách khắc nghiệt. Đã thành công ở nơi mà mọi biện pháp đều thất bại. Áp dụng
liên tục biện pháp này và các chứng rối loạn khác bắt đầu biến mất.
Cùng
với thời gian, trải nghiệm “biết” đã thay thế cho suy nghĩ. Cái biết xuất hiện
theo cách hoàn toàn khác. Nó chỉ đơn giản là ở đó để chúng ta nhận ra. Một buổi
sáng, khi thức dậy, có “cái biết” rằng đã được chữa khỏi bệnh viêm da do cây
thường xuân độc gây ra. Đồng thời, rõ ràng là chính cái tên, cái nhãn “cây thường
xuân độc”, tự nó đã là một chương trình và một hệ thống niềm tin. Trong bất kỳ
trường hợp nào, cũng có “cái biết” rằng mình miễn nhiễm với cây thường xuân độc,
ngay cả khi đi ra ngoài, chạm vào nó, chơi đùa với nó, và thậm chí bỏ một vài
cây vào chậu hoa để mang đến một chương trình phỏng vấn tối hôm đó! Chủ đề của
cuộc phỏng vấn là: “Sức mạnh của tâm thức trong quá trình tự chữa lành”.
Một
lần khác, “biết” xuất hiện khi bất ngờ đi tới chỗ có mùi thuốc trừ sâu nồng nặc.
Mùi thuốc trừ sâu đã gây dị ứng nghiêm trọng trong suốt nhiều năm và lúc nào
cũng gây ra chứng đau nửa đầu dữ dội. Tuy nhiên, trong ngày hôm đó, đột nhiên “biết”
được rằng mình miễn dịch với mùi thuốc. Bước vào một ngôi nhà vừa được phun thuốc
và hít thở sâu mùi thuốc mà không có bất kỳ hậu quả nào, thế là cảm thọ tự do,
vui sướng bất ngờ ập đến. Thật tuyệt vời khi được tự do và trải nghiệm sức mạnh
của tâm trí! Trong khoảnh khắc đó, nhận ra rằng chúng ta chỉ bị chi phối bởi những
điều chúng ta lưu giữ trong tâm trí. Không cần phải là nô lệ hay nạn nhân của
thế giới này.
Sự
kiện tương tự cũng xảy ra với niềm tin kéo dài về cholesterol cao. Khi niềm tin
và khái niệm đó bị xóa bỏ, thì ăn các sản phẩm từ sữa sẽ không tạo ra ảnh hưởng
tiêu cực đến cholesterol. Trên thực tế, xét nghiệm máu cho thấy chỉ số
cholesterol không tốt cho sức khoẻ giảm dần! Hơn nữa, chứng không dung nạp thực
phẩm và dị ứng cũng biến mất. Tuy nhiên, phải mất ít nhất một năm nữa thì chứng
không dung nạp đường và hạ đường huyết chức năng mới biến mất hoàn toàn. Trong
một giai đoạn, nó vẫn tái phát trong những lúc căng thẳng, đặc biệt là khi vận
động mạnh, sau khi ăn đường và đồ ngọt có caffeine.
Trong
thời gian đó, sau nhiều năm kiêng khem nghiêm ngặt, cuối cùng cũng có thể trở lại
chế độ ăn uống bình thường. Thật sảng khoái khi được ăn những thực phẩm có hạt
(không được ăn nếu bị viêm túi thừa), tất cả những thực phẩm được cho là chống
chỉ định đối với bệnh loét và viêm đại tràng, và thậm chí cả kem sô cô la nóng!
Phải mất vài năm thì chứng hạ đường huyết chức năng mới biến mất, nhưng cuối
cùng cũng có thể ăn tất cả những món ngọt, từng bị cấm trong suốt nhiều năm.
Toàn
bộ hội chứng tuổi trung niên cũng đều là hệ thống niềm tin. Khi hệ thống niềm
tin này bị hủy bỏ và buông bỏ, chứng lạnh ở tay và chân cũng biến mất. Mệt mỏi,
trầm cảm nhẹ và cáu kỉnh cũng biến mất. Sức bền thể chất tăng lên và khả năng
chịu đựng công việc thể chất gần như không có giới hạn.
Giờ
đây, khi những vấn đề lớn đã được giải quyết, một số bệnh nhẹ hơn cũng được chủ
động xử lý. Niềm tin vào u nang lông đã được buông bỏ. Nó biến mất sau sáu tuần.
Vòi nhĩ luôn bị tắc nghẽn, cứ đi máy bay là tai phải đau dữ dội. Phải mất hai
năm để nó tự khỏi. Liên tục buông bỏ mọi suy nghĩ và cảm thọ về nó, đồng thời sử
dụng phương pháp hình dung, trong đó góc của vòi nhĩ với xương thái dương bên
phải được hình dung là đang thay đổi thành một góc bình thường. Đây là chứng bệnh
duy nhất sử dụng phương pháp hình dung. Sau hai năm, chứng bệnh này biến mất,
và không bao giờ còn gặp khó khăn trong việc thông tai khi độ cao thay đổi nữa.
Trong
khi đó, chứng đau cổ cũng dần biến mất, và có thể khiêu vũ. Trong khi nhảy và
buông bỏ mọi kháng cự đối với đau cổ, cơ thể bắt đầu tự động thực hiện các tư
thế và chuyển động tự chữa lành, như thể có một chuyên gia nắn chỉnh cột sống
bên trong đang điều chỉnh cột sống. Một cảm giác kỳ lạ, như thể những người chữa
lành vô hình đang điều chỉnh lại cột sống.
Trong
khi diễn ra những sự kiện như thế, thì tuần hoàn máu ở bàn tay và bàn chân cũng
thay đổi, tay và chân không còn lạnh nữa. Bệnh rung chấn ở các đầu ngón tay, từng
đe dọa dẫn đến hoại tử, giờ đây đã tự chữa lành. Các đầu ngón tay phồng lên và
chuyển sang màu hồng trở lại. Cơn đau rát ở đầu ngón tay biến mất. Cảm giác
quay trở lại. Cho đến lúc đó, các ngón tay đã tê liệt đến mức không thể lật giở
sách.
Khi
các bệnh nghiêm trọng hơn được chữa lành, đã có năng lượng và thời gian để xem
xét cả những vấn đề nhỏ hơn. Từng tin rằng cắt tóc ở tiệm thì sẽ bị gàu. Khi buông
bỏ niềm tin đó, thì gàu không còn. Một quá trình tương tự đã xảy ra với niềm
tin cho rằng nấm ở chân có liên quan đến sàn phòng khách sạn. Khi lên tục xoá bỏ
niềm tin này, thì nấm ở chân đã biến mất.
Một
năm, trong Lễ Tạ ơn, xuất hiện cơ hội để thử nghiệm kỹ thuật này khi xảy ra
tình huống cấp tính. Một khúc gỗ lớn rơi vào chân trái và làm gãy tất cả các
xương ở toàn bộ phần trước bàn chân. Thay vì vội vàng đi bó bột, đã sử dụng kỹ
thuật buông bỏ. Đến Giáng sinh, đã có thể quay lại sàn nhảy. Sau đó, một mắt cá
chân bị bong gân nặng cũng tự lành trong vài phút bằng cách lập tức buông bỏ
cơn đau.
Chữa lành thị lực
Một
buổi tối nọ, khi đang thuyết giảng về cơ chế buông bỏ và ghi lại tất cả những hiện
tượng chữa lành đã trải nghiệm vừa nói bên trên, một thành viên trong cử toạ
nói: “Bác sĩ, nếu ông đã chữa lành tất cả những căn bệnh đó, vậy tại sao ông vẫn
đeo kính? Mắt kém không thể được chữa lành bằng cách tương tự hay sao?”
“Vâng,
tôi chưa bao giờ nghĩ đeo kính là bệnh. Tôi luôn nghĩ đó là một khiếm khuyết trong
giải phẫu của cơ thể. Nhưng bây giờ, khi bạn nhắc tới nó, tôi không thấy lý do
gì mà nó không thể tự chữa lành.”
Vì
vậy, cặp kính hai tròng được tháo ra và cất vào túi áo khoác. Quả thực, lúc đó,
thị lực đang suy giảm đến mức bác sĩ đã kê đơn và đặt mua kính ba tròng. Khi kết
thúc buổi thuyết trình tối hôm đó, cái biết bên trong lại xuât hiện, nó nói rằng
nếu có đủ niềm tin và tin tưởng thì tình trạng này cũng sẽ tự chữa lành.
Lái
xe về nhà mà không đeo kính, nhìn rất mờ. Đi khá chậm, đèn pha chiếu vào lề đường.
Cái biết nội tâm nói rằng chúng ta sẽ luôn luôn nhìn thấy những gì mình cần
thấy, nhưng không thể nhìn thấy những gì mình muốn thấy. Trong sáu tuần tiếp theo, đã quan sát và học được rất
nhiều điều, đấy là những gì diễn ra đằng sau thị giác bình thường hàng ngày của
chúng ta. Có vô vàn cảm thọ, từ tò mò đến cạnh tranh, từ sự hứng thú nhục dục đến
kích thích trí tuệ. Để hoạt động trong thế gian này thì chỉ cần khoảng 5% thị giác mà thôi.
Có
hiện tượng kỳ lạ: chỉ những gì cần nhìn thấy mới được nhìn thấy. Không thể đọc
báo và tạp chí, xem truyền hình, hoặc đi xem phim. Rõ ràng là phần lớn thị giác
chỉ đơn thuần là sự trốn tránh thực tại. Trên đường, mọi chuyện diễn ra cứ như
thể là ông lão Magoo[i] đang cầm lái vậy. Hết lần
này đến lần khác, cái hiện tượng huyền bí tương tự đó lại xảy ra. Ngay khi cần nhìn
thấy một thứ gì đó, thì liền nhìn thấy nó. Mép vực hiện ra ngay khi cần nhìn thấy
nó. Đã có rất nhiều lo âu đi kèm với việc liên tục buông bỏ sợ hãi. Cuối cùng,
sau sáu tuần, sợ hãi dường như đã cạn kiệt. Thay vào đó, phó thác sâu sắc đã diễn
ra. “Được rồi, tôi sẽ chỉ nhìn những gì mình được phép nhìn.” Các mục tiêu cảm
xúc khác mà việc nhìn đã phục vụ cho đến thời điểm đó đều được tự nguyện buông bỏ.
Rồi
một cảm giác tĩnh lặng và bình yên sâu sắc xuất hiện, cùng với cảm thọ hòa làm
một với bất cứ điều gì đang vận hành vũ trụ. Và trong khoảnh khắc đó, đột
nhiên, thị lực trở lại hoàn toàn và hoàn hảo. Những gì trước đây không thể nhìn
thấy hoặc đọc được thì giờ đây trở nên rõ ràng như pha lê: biển báo đường phố,
chữ in nhỏ trong ánh sáng mờ, các vật thể hiện rõ nét trong khắp gian phòng và ở
khoảng cách xa. Trong lần kiểm tra mắt tiếp theo, để gia hạn bằng lái xe, người
đánh giá nói rằng thị lực hoàn hảo và không cần đeo kính nữa. Hiện tượng này
chưa từng xảy ra trong bất kỳ lần kiểm tra nào trước đây!
Kể
từ khi câu chuyện này được kể trên khắp cả nước, khá nhiều người đã bỏ kính và có
trải nghiệm tương tự. Thú vị là, mỗi người đều nói rằng quá trình này diễn ra
trong khoảng sáu tuần. Một trong những người đã hoàn toàn thành công lại quyết
định đeo kính. Khi được hỏi lý do, anh ta nói rằng vợ mình đã quen nhìn thấy
anh đeo kính đến mức anh ấy trông bất bình thường khi không có kính, vì vậy anh
ấy đã đeo kính không số để cho vợ cảm thấy vui. Anh ấy làm như thế chỉ vì yêu vợ
và muốn làm cho vợ vui, đó là một lý do khác hẳn so với phải đeo kính vì thị lực
kém.
Những
người đã trải nghiệm phục hồi thị lực đều đồng ý về khám phá sau đây: Chúng ta
nhìn bằng chính tâm trí, chứ không phải bằng nhãn cầu! Gần đây, một trong những
trường hợp như thế là một phụ nữ bị mù ngay từ khi mới sinh và cả hai nhãn cầu
đều bị rối loạn nghiêm trọng. Sau khi nghe bài
giảng về phục hồi thị lực, bà này đã tuân theo một phác đồ điều trị và thực
hành kỹ thuật buông bỏ đối với thị lực của mình. Trong vòng hai ngày, bà bắt đầu
cảm nhận được sự trở lại của thị lực. Sau bài giảng, bà ấy đến gần và nói: “Tôi
biết ông nói đúng. Tôi biết rằng người ta nhìn thấy bằng tâm trí bởi vì đó là
điều đang xảy ra với tôi. Tôi đang nhìn thấy, và tôi đang nhìn thấy bằng tâm
trí của mình!”
Muốn
hiểu làm sao mà tất cả những hiện tượng chữa lành này có thể xảy ra—một số gần
như là phép màu—chúng ta phải xem xét lại nhiều suy nghĩ của mình về các quá
trình trong cơ thể, cơ chế chữa lành và làm sao mà các phương pháp điều trị y tế
mang lại kết quả. Người ta đã phát hiện ra rằng có một sức mạnh tự chữa lành bên
trong được kích hoạt bằng cách buông bỏ liên tục.
[i] Mr. Magoo: Nhân vật hoạt
hình Mỹ nổi tiếng với chứng cận thị nặng nhưng luôn gặp may mắn kỳ lạ, thoát khỏi
những tai nạn hiểm nghèo. Ở đây ám chỉ sự bảo hộ của trường năng lượng khi bản
ngã buông bỏ kiểm soát.
No comments:
Post a Comment