July 16, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI PHÓ THÁC (21)

  ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG DẪN TỜI PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 20

 

CÁC BÁC SỸ, XIN HÃY TỰ CHỮA LÀNH CHÍNH MÌNH

    Theo yêu cầu của nhiều người, kinh nghiệm cá nhân về tự chữa lành đã được chia sẻ nhiều lần trong các bài giảng, các buổi nói chuyện và hội thảo. Dường như ai cũng muốn nghe đi nghe lại câu chuyện về việc một bác sĩ đã được chữa khỏi nhiều loại bệnh như thế nào. Vì vậy, chương này sẽ trình bày những điểm nổi bật của quá trình hồi phục và chữa lành, vì chúng minh họa chi tiết cách thức các nguyên tắc và kỹ thuật mà chúng ta đã thảo luận thực sự hoạt động ở tầng thực tiễn.

Trải nghiệm sống và quan sát lâm sàng xác nhận rằng phần lớn các rối loạn của con người đều có thể được chữa khỏi bằng cách tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Nhiều loại bệnh có thể được chữa lành, trừ khi có nghiệp lực quá lớn.

Trớ trêu là, những ca nặng nhất, không còn chút hy vọng nào, lại thường có phản hồi rất nhanh và đạt được kết quả mỹ mãn. Có lẽ đấy là do, cuối cùng, người đó đã buông bỏ và giờ đây đã trở thành “lý trí hơn”. Họ đã sẵn sàng cho điều mà Thomas Kuhn gọi là “chuyển đổi hệ hình”, tức là sẵn sàng nhìn nhận mọi thứ khác đi từ quan điểm mở rộng và cởi mở hơn. Đôi khi, phải bị những căn bệnh mãn tính, đau khổ, đau đớn và đứng trước sợ chết, thì người ta mới sẵn sàng buông bỏ những niềm tin đã ấp ủ và mở lòng đón nhận sự thật của thực tế lâm sàng.

 

Các nguyên tắc cơ bản

Chương này trình bày chi tiết về quá trình chữa lành và hồi phục từ vô số căn bệnh về thể chất trong cuộc đời của một bác sĩ. Chúng ta sẽ phác thảo các nguyên tắc cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự chữa lành. Trong quá trình này, chúng ta sẽ xem xét lại một số nội dung đã đề cập, tổng hợp lại thành trải nghiệm tổng thể đã được tích hợp. Chúng ta sẽ bắt đầu với các khái niệm cơ bản:

• Suy nghĩ là một “vật”. Nó có năng lượng và hình tướng.

• Tâm trí với những suy nghĩ và cảm thọ của nó điều khiển cơ thể; do đó, để chữa lành cơ thể, cần phải thay đổi suy nghĩ và cảm thọ.

• Những thứ được lưu giữ trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra bên ngoài thông qua cơ thể.

• Cơ thể không phải là bản ngã thực sự; nó giống như một con rối do tâm trí điều khiển.

• Những niềm tin vô thức có thể biểu hiện thành bệnh tật, ngay cả khi không còn ký ức về những niềm tin tiềm ẩn đó.

• Bệnh tật thường bắt nguồn từ những cảm thọ tiêu cực bị kìm nén và đè nén, cộng thêm suy nghĩ tạo nên hình tướng cụ thể cho nó (ví dụ, một cách có ý thức hoặc vô thức, người ta chọn một căn bệnh cụ thể này thay vì một căn bệnh khác).

• Suy nghĩ xuất phát từ những cảm thọ bị kìm nén và đè nén. Khi buông bỏ một cảm thọ, thì hàng ngàn hoặc thậm chí hàng triệu suy nghĩ được kích hoạt bởi cảm thọ đó cũng biến mất.

• Mặc dù một niềm tin cụ thể có thể bị hủy bỏ và năng lượng dành cho nó có thể bị từ chối, nhưng nhìn chung, việc cố gắng thay đổi chính suy nghĩ là lãng phí thời gian.

• Chúng ta buông bỏ một cảm thọ bằng cách cho phép nó tồn tại mà không lên án, phán xét hay chống lại. Chúng ta chỉ đơn giản là nhìn vào nó, quan sát nó và cho phép nó được cảm nhận mà không tìm cách thay đổi nó. Với thái độ sẵn sàng buông bỏ một cảm thọ, sau một thời gian nó sẽ tự biến mất.

• Một cảm thọ mạnh mẽ có thể tái diễn, điều đó có nghĩa là cần phải nhận biết rõ hơn và buông bỏ nó.

• Để buông bỏ một cảm thọ, đôi khi cần phải bắt đầu bằng cách từ bỏ cảm thọ hiện có về cảm xúc cụ thể (ví dụ, mặc cảm tội lỗi, cho rằng “Tôi không nên có cảm thọ này”).

• Để buông bỏ một cảm thọ, đôi khi cần phải thừa nhận và buông bỏ phần thưởng tiềm ẩn của nó (ví dụ, “cảm giác hưng phấn” của tức giận và “dưỡng chất” có được từ thái độ thương hại xuất phát từ việc đóng vai nạn nhân bất lực).

• Cảm thọ không phải là tự ngã thực sự. Trong khi cảm thọ là những chương trình đến rồi đi, thì Đại Ngã bên trong thực sự mãi mãi không thay đổi; do đó, cần phải ngừng đồng nhất những cảm thọ nhất thời với chính mình.

• Hãy bỏ qua những suy nghĩ. Chúng chỉ đơn thuần là những hợp lý hóa bất tận của những cảm thọ ở bên trong.

• Cho dù trong cuộc sống có xảy ra bất cứ chuyện gì, hãy giữ vững ý định buông bỏ những cảm thọ tiêu cực khi chúng vừa sinh khởi.

• Quyết định rằng tự do đáng mong muốn hơn là cảm thọ tiêu cực.

• Buông bỏ cảm thọ tiêu cực thay vì thể hiện chúng.

• Buông bỏ kháng cự và hoài nghi về những cảm thọ tích cực.

• Từ bỏ cảm thọ tiêu cực nhưng chia sẻ cảm thọ tích cực.

• Nhận thấy rằng buông bỏ song hành với cảm thọ nhẹ nhàng, tinh tế hơn bên trong chính bạn.

• Từ bỏ một mong muốn không có nghĩa là bạn sẽ không nhận được cái mình muốn. Nó chỉ đơn giản là dọn đường cho việc đó xảy ra.

• Hãy tiếp nhận nó bằng “thẩm thấu”. Đặt mình vào hào quang của những người có cái mà bạn muốn.

• “Đồng thanh thương ứng, đồng khí tương cầu”. Kết giao với những người có cùng hoặc có động lực tương tự và có ý định mở rộng tâm thức và chữa lành.

• Tỉnh thức để biết rằng người khác biết và đang truyền đi trạng thái nội tâm của bạn. Những người xung quanh bạn cảm nhận được cảm thọ và suy nghĩ, ngay cả khi bạn không nói ra.

• Kiên trì sẽ được đền đáp. Một số triệu chứng hoặc bệnh tật có thể biến mất ngay lập tức; những triệu chứng khác có thể mất hàng tháng hoặc hàng năm nếu đấy là bệnh mãn tính đã kéo dài.

• Buông bỏ chống đối kỹ thuật này. Bắt đầu ngày mới với nó. Cuối ngày, hãy dành thời gian để giải tỏa bất kỳ cảm thọ tiêu cực nào còn sót lại từ những hoạt động trong ngày.

• Bạn chỉ bị chi phối bởi những gì bạn lưu giữ trong tâm trí. Bạn chỉ bị chi phối bởi một suy nghĩ hoặc niềm tin tiêu cực, nếu bạn nói một cách có ý thức hoặc vô thức rằng nó sẽ xảy ra với bạn.

• Ngừng đặt tên cho rối loạn thể chất; đừng dán nhãn cho nó. Nhãn mác là cả một chương trình hoàn chỉnh. Hãy buông bỏ và để cho những gì thực sự được cảm thọ đi qua, đó chính là các cảm giác trên thân thể. Chúng ta không thể cảm thọ được một căn bệnh. Bệnh là một khái niệm trừu tượng được lưu giữ trong tâm trí. Ví dụ, chúng ta không thể cảm nhận được “hen suyễn”. Tự hỏi “Mình thực sự đang cảm thọ cái gì?” là rất hữu ích. Đơn giản là quan sát các cảm giác trên cơ thể, ví dụ như “tức ngực, thở khò khè, ho.” Ví dụ, không thể trải nghiệm suy nghĩ “Tôi không hít vào đủ không khí.” Đó là một suy nghĩ đầy sợ hãi trong tâm trí. Nó là một khái niệm, một chương trình hoàn chỉnh được gọi là “hen suyễn.” Điều thực sự đang được trải nghiệm là căng thẳng hoặc co thắt ở cổ họng hoặc ngực. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho “loét” hoặc bất kỳ rối loạn nào khác. Chúng ta không thể cảm thọ “loét.” Chúng ta cảm thọ một cảm giác nóng rát hoặc buốt nhói. Từ “loét” là một nhãn hiệu và một chương trình, và ngay khi chúng ta sử dụng từ đó để dán nhãn cho trải nghiệm của mình, chúng ta đồng nhất mình với toàn bộ chương trình “loét”. Ngay cả từ “đau” cũng là một chương trình. Trên thực tế, chúng ta đang cảm thọ một cảm giác cụ thể trong cơ thể. Quá trình tự chữa lành diễn ra nhanh hơn khi chúng ta ngừng dán nhãn hoặc đặt tên cho các cảm thọ khác nhau trên thân thể.

• Điều tương tự cũng đúng với cảm thọ của chúng ta. Thay vì dán nhãn và đặt tên cho cảm tọ, chúng ta chỉ cần cảm nhận cảm thọ và buông bỏ năng lượng ẩn chứa đằng sau chúng. Không cần thiết phải dán nhãn cho một cảm thọ là “sợ hãi” để nhận thức được năng lượng của nó và buông bỏ năng lượng đó.

 

Chữa lành nhiều bệnh cùng một lúc

Trong trường hợp của vị bác sĩ này [tác giả -ND], có quá nhiều bệnh cùng một lúc đến nỗi không thể nhớ hết được. Khi thuyết trình, ông ấy phải liệt kê chúng ra một tấm thẻ. Tất cả những bệnh sau đây đều xảy ra ở tuổi 50:

Đau nửa đầu. Mãn tính và thường xuyên.

Tắc vòi nhĩ. Đau tai dữ dội.

Cận thị và loạn thị. Phải đeo kính ba tròng.

Viêm xoang; chảy dịch mũi sau; dị ứng.

Viêm da, nhiều loại.

Bệnh gút. Phải mang gậy trong cốp xe và phải ăn kiêng.

Vấn đề về cholesterol. Hạn chế ăn uống hơn nữa.

Loét tá tràng. Mãn tính và tái phát trong hơn 20 năm, không phản ứng với tất cả các phương pháp điều trị y tế.

Viêm tụy. Những cơn đau gián đoạn do loét tái phát gây ra.

Viêm dạ dày; tăng axit dạ dày; co thắt môn vị gián đoạn. Do đó, phải hạn chế ăn uống hơn nữa.

Viêm đại tràng tái phát.

Viêm túi thừa. Tình trạng giống như viêm ruột thừa ở đại tràng.

Đôi khi xuất huyết, cần nhập viện và truyền máu.

Các vấn đề thường gặp ở phần dưới của đường tiêu hóa.

Đã đặt lịch phẫu thuật.

Viêm khớp cột sống cổ. Trật khớp đốt sống cổ thứ tư.

Hội chứng đau lưng dưới, cần điều trị bằng phương pháp nắn chỉnh cột sống.

Bệnh rung (Hội chứng Raynaud). Mất cảm giác và nguy cơ hoại tử ở đầu ngón tay do mất tuần hoàn.

Hội chứng tuổi trung niên. Lạnh tay chân, mất năng lượng và không còn ham muốn tình dục, và trầm cảm.

U nang lông ở đáy cột sống. Chỉ có thể chữa bằng phẫu thuật.

Viêm phế quản và ho mãn tính. Làm trầm trọng thêm chứng đau đầu, thoái hóa cột sống và hội chứng đau lưng dưới.

Nhạy cảm với cây thường xuân độc. Da bị nổi mẩn mỗi năm. Đôi khi cần nhập viện.

Nấm chân. Có quan niệm cho rằng nó bắt nguồn từ sàn phòng khách sạn.

Gàu. Có quan niệm cho rằng nó bắt nguồn từ việc đã vào tiệm cắt tóc.

Viêm sụn (Hội chứng Tzietze).

Một chứng rối loạn hiếm gặp, với triệu chứng sưng đau ở chỗ nối giữa xương sườn và xương ức.

Các vấn đề về răng và nướu. Mất xương quanh chân răng. Được khuyến nghị phẫu thuật nướu.

Mất cân bằng năng lượng tổng thể. Kiểm tra cơ thể động học cho thấy tất cả các hệ thống năng lượng đều mất cân bằng, và tất các các kinh mạch đều yếu.

 

Nhìn lại, thật khó tin làm sao cơ thể vẫn tiếp tục hoạt động và duy trì chức năng tốt như thế. Vì mỗi rối loạn đều cần chế độ ăn uống hạn chế hơn nữa, nên có những lúc chỉ còn rau diếp và cà rốt là những thực phẩm “an toàn” mà thôi. Giảm 25 pound (khoảng 11 kg), trông gầy gò và hốc hác. Sau này, một số bạn bè tiết lộ rằng họ đã cá cược xem cơ thể đó sẽ sống được bao lâu. Hầu hết đều ước tính rằng nó có thể sẽ gục ngã ở tuổi 53.

Câu hỏi đặt ra lúc đó là: Làm sao mà một người đàn ông thành đạt, có học thức cao, hoạt động sáng tạo, sống cuộc đời cân bằng, đã được phân tích tâm lý kỹ lưỡng, đã trải qua nhiều phương pháp trị liệu và chữa bệnh, lại vẫn có nhiều bệnh tật đến như thế? Đúng là khối lượng công việc rất to lớn, tập thể dục và những công việc sáng tạo như mộc, xây dựng, làm đồ gỗ và thiết kế kiến ​​trúc làm cho nó trở thành cân bằng. Hơn nữa, đời sống tâm linh rất năng động, mỗi ngày hai giờ thiền định - trước và sau giờ làm việc. Vô số kỹ thuật được đề cập trong phần Giới thiệu đã được nghiên cứu: tự thôi miên, có chế độ ăn uống và lối sống nhằm hướng tới cân bằng và sức khỏe lâu dài, bấm huyệt bàn chân, soi mống mắt, liệu pháp phân cực, khẳng định tích cực, xuất hồn, các khóa học chuyên sâu theo nhóm, xoa bóp, thư giãn, v.v.

Câu trả lời cho nghịch lý kỳ lạ này của một người đã thử vô số kỹ thuật, nhóm và liệu pháp, nhưng vẫn mắc phải một loạt bệnh tật đáng kinh ngạc là gì? Và làm thế nào mà ông ấy lại hoạt động thành công đến như thế trên thế gian mặc cho danh sách khá dài các bệnh tật và đau đớn dai dẳng đi kèm? Câu trả lời dường như là: ý chí rất mạnh mẽ. Nó đã giúp ông ta vượt qua tất cả các trở ngại và có sức mạnh để gạt bỏ bất cứ điều gì cản trở hoạt động hiệu quả—trong trường hợp này, chủ yếu là cảm thọ. Với sức mạnh ý chí như thế, khi một cảm thọ bị kìm nén, nó sẽ tiếp tục bị kìm nén.

Lý tưởng khoa học là khách quan. Khách quan có nghĩa là không có cảm thọ. Muốn vươn tới lý tưởng này trong hoạt động lâm sàng và khoa học thì cần phải kìm nén cảm thọ. Đặc biệt gay gắt do bản chất của hoạt động lâm sàng: làm việc với những bệnh nhân nặng. Mức độ đau khổ của họ và gia đình họ dường như là vô tận. Nó tiếp diễn không ngừng, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Cường độ càng tăng lên vì ông ta có tâm từ bi và đồng cảm với nỗi đau khổ của mọi người. Áp lực ngày càng tăng của cảm thọ bị kìm nén trong mọi lĩnh vực của cuộc sống rõ ràng đã góp phần làm phát sinh đủ loại bệnh tật.

Đến một thời điểm nhất định, cả cơ chế buông bỏ và Khóa học về những điều kỳ diệu đều được nghiên cứu và áp dụng vào cuộc sống thường nhật. Do lịch trình làm việc bận rộn, nên có rất ít thời gian cho bất kỳ kỹ thuật mới nào. May mắn là, Cuốn bài tập của Khóa học về những điều kỳ diệu yêu cầu suy ngẫm đơn giản về một câu hoặc “bài học” trong suốt cả ngày. Sức mạnh của kỹ thuật này là giảm bớt mặc cảm tội lỗi bằng cách sử dụng cơ chế tha thứ. Cơ chế buông bỏ, như một quá trình nội tâm, cũng có thể được thực hiện một cách thầm lặng suốt cả ngày. Hai công cụ này hoạt động cùng nhau. Buông bỏ và tha thứ diễn ra đồng thời trong suốt cả ngày.

Một khi tâm trí biết cách giải tỏa áp lực nội tâm, giống như chiếc hộp Pandora, nó bắt đầu giải phóng tất cả rác rưởi, và nó tuôn trào lên! Những suy nghĩ và cảm thọ, vốn hầu như không được chú ý vào lúc chúng sinh khởi, giờ đây đã quay trở lại. Cuộc sống quá bận rộn đến nỗi không có thời gian để xử lý. Quá trình giải tỏa bắt đầu tự xảy ra.

Phát hiện được ngay lập tức là tất cả cảm thọ hay suy nghĩ tiêu cực đều gắn liền với mặc cảm tội lỗi, và mặc cảm tội lỗi bao trùm đến mức nó liên tục bị kìm nén. Do đó, không có cái gọi là chỉ có tức giận. Cảm thọ thực sự là tức giận/mặc cảm tội lỗi. Có mặc cảm tội lỗi mỗi khi chúng ta có ý nghĩ chỉ trích người nào đó. Tâm trí liên tục phán xét và chỉ trích thế giới, chỉ trích các sự kiện và con người là nguồn gốc vô tận của mặc cảm tội lỗi. Tự nó, mặc cảm tội lỗi sinh ra những cảm thọ tiêu cực, và tự chúng, những cảm thọ tiêu cực cũng sinh ra mặc cảm tội lỗi. Chính sự kết hợp đầy tai hoạ như thế kéo tất cả chúng ta xuống và tạo ra bệnh tật và bất hạnh lan tràn. Mặc cảm tội lỗi hiện diện khắp nơi, đến mức dù đang làm gì, ở đâu đó trong tâm trí, chúng ta vẫn cảm thấy rằng mình “nên” làm cái gì đó khác. Chúng ta đã sống với quá nhiều mặc cảm tội lỗi trong một thời gian dài, đến mức chúng ta thậm chí không còn nhận ra nó, và bằng cách nào đó, mặc cảm tội lỗi được tâm trí của người bình thường phóng chiếu ra thế giới xung quanh. Đó là lý do vì sao hầu hết mọi người đều cần “kẻ thù”—một đối tượng để phóng chiếu mặc cảm tội lỗi bên trong của mình. Đó cũng là nơi mà những tên bạo chúa nhận được quyền lực - bằng cách thao túng mặc cảm tội lỗi của mọi người và tìm ra mục tiêu thích hợp cho nó.

Cũng phát hiện được định kiến, coi thường các cảm thọ. Cơn giận trỗi dậy khi ta cảm thấy các cảm thọ đang áp đặt lên chính mình, chính điều này có thể làm cho người ta có tâm lý “nạn nhân”. Đối với người có tư duy thiên về bán cầu não trái, cảm thọ đối lập với tư duy, logic và lý trí. Trên hết là tư tưởng gia trưởng, cho rằng chỉ phụ nữ, trẻ em và những người thuộc giới nghệ sĩ mới có nhiều cảm xúc. Cảm thọ vốn dĩ chỉ được xem là đối tượng của hiểu biết trí năng và phân tích lâm sàng. Khi vừa sinh khởi, chúng lập tức bị dán nhãn, khu biệt hóa và xếp vào những ngăn lưu trữ của tâm trí.

Khi bắt đầu làm việc với kỹ thuật buông bỏ, đã có một giai đoạn nổi loạn và thực sự căm ghét cảm thọ, sợ hãi khi phải đối phó với chúng. Dường như là nhục nhã khi phải chịu đựng chúng. Cần thay đổi trong nhận thức về chính mình, đấy là do đồng nhất quá mức với trí tuệ. Giờ đây, dù muốn hay không, phải thừa nhận rằng mỗi người đều là một cơ thể biết suy nghĩ/cảm thọ. Tiếp tục phủ nhận thực tại sẽ chẳng có tác dụng gì.

Chẳng bao lâu sau, có cảm thọ trở thành hiện tượng bình thường. Với kỹ thuật buông bỏ, cách duy nhất để thoát khỏi nó là thừa nhận và từ bỏ cảm thọ. Sẽ trở nên dễ dàng hơn khi sức khoẻ bắt đầu được cải thiện. Mặc dù, lúc đầu, đối mặt với cảm thọ của chính mình có thể là việc khó, nhưng khi thấy ánh sáng ở cuối con đường thì sẽ xuất hiện hy vọng.

Chỉ sử dụng kỹ thuật này trong vài ngày, thì phần dưới của đường tiêu hóa đã nhanh chóng tự chữa lành và trên thực tế, không cần phẫu thuật nữa. Nhiều triệu chứng đã tồn tại trong nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm, bắt đầu giảm dần về cường độ và tần suất. Đặc biệt, chứng đau nửa đầu ngày càng ít xuất hiện hơn. Đau lưng dưới biến mất. Cơ thể bắt đầu cảm thấy nhẹ nhàng hơn và khỏe mạnh hơn.

Sau đó, một cuộc khủng hoảng bất ngờ ập tới, mang theo áp lực cảm xúc dữ dội. Bệnh viêm túi thừa tái phát, rất nặng, xuất huyết khá nhiều. Trong thâm tâm xuất hiện quyết định mang tính bước ngoặt vĩ đại: “Hoặc là phương pháp này có hiệu quả, hoặc là không.” Vì vậy, lần này, không những không đến bệnh viện và truyền máu mà quyết định buông bỏ hoàn toàn. Thừa nhận và không chống lại tất cả những cảm giác diễn ra ở trong ổ bụng. Không đặt tên hay dán nhãn. Thay vì nói hay suy nghĩ, thì chỉ cảm nhận sự một thể với những cảm giác, những cơn co thắt và đau. Không có kháng cự nào đối với những cảm giác đó, dù dữ dội đến đâu. Tương tự như đang đứng trên lưỡi dao cạo, nhận biết và buông bỏ mọi cảm giác và cảm thọ. Kéo dài suốt bốn tiếng đồng hồ. Sau bốn tiếng, máu ngừng chảy, cơn co thắt cũng không còn, bệnh viêm túi thừa đã được chữa lành. Sau đó, có một vài lần tái phát nhẹ; nhưng mỗi lần đều được xử lý theo cùng một cách như thế, và cuối cùng các đợt tấn công giảm dần và biến mất. Vậy là cơ chế buông bỏ đã vượt qua được thử thách khắc nghiệt. Đã thành công ở nơi mà mọi biện pháp đều thất bại. Áp dụng liên tục biện pháp này và các chứng rối loạn khác bắt đầu biến mất.

Cùng với thời gian, trải nghiệm “biết” đã thay thế cho suy nghĩ. Cái biết xuất hiện theo cách hoàn toàn khác. Nó chỉ đơn giản là ở đó để chúng ta nhận ra. Một buổi sáng, khi thức dậy, có “cái biết” rằng đã được chữa khỏi bệnh viêm da do cây thường xuân độc gây ra. Đồng thời, rõ ràng là chính cái tên, cái nhãn “cây thường xuân độc”, tự nó đã là một chương trình và một hệ thống niềm tin. Trong bất kỳ trường hợp nào, cũng có “cái biết” rằng mình miễn nhiễm với cây thường xuân độc, ngay cả khi đi ra ngoài, chạm vào nó, chơi đùa với nó, và thậm chí bỏ một vài cây vào chậu hoa để mang đến một chương trình phỏng vấn tối hôm đó! Chủ đề của cuộc phỏng vấn là: “Sức mạnh của tâm thức trong quá trình tự chữa lành”.

Một lần khác, “biết” xuất hiện khi bất ngờ đi tới chỗ có mùi thuốc trừ sâu nồng nặc. Mùi thuốc trừ sâu đã gây dị ứng nghiêm trọng trong suốt nhiều năm và lúc nào cũng gây ra chứng đau nửa đầu dữ dội. Tuy nhiên, trong ngày hôm đó, đột nhiên “biết” được rằng mình miễn dịch với mùi thuốc. Bước vào một ngôi nhà vừa được phun thuốc và hít thở sâu mùi thuốc mà không có bất kỳ hậu quả nào, thế là cảm thọ tự do, vui sướng bất ngờ ập đến. Thật tuyệt vời khi được tự do và trải nghiệm sức mạnh của tâm trí! Trong khoảnh khắc đó, nhận ra rằng chúng ta chỉ bị chi phối bởi những điều chúng ta lưu giữ trong tâm trí. Không cần phải là nô lệ hay nạn nhân của thế giới này.

Sự kiện tương tự cũng xảy ra với niềm tin kéo dài về cholesterol cao. Khi niềm tin và khái niệm đó bị xóa bỏ, thì ăn các sản phẩm từ sữa sẽ không tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đến cholesterol. Trên thực tế, xét nghiệm máu cho thấy chỉ số cholesterol không tốt cho sức khoẻ giảm dần! Hơn nữa, chứng không dung nạp thực phẩm và dị ứng cũng biến mất. Tuy nhiên, phải mất ít nhất một năm nữa thì chứng không dung nạp đường và hạ đường huyết chức năng mới biến mất hoàn toàn. Trong một giai đoạn, nó vẫn tái phát trong những lúc căng thẳng, đặc biệt là khi vận động mạnh, sau khi ăn đường và đồ ngọt có caffeine.

Trong thời gian đó, sau nhiều năm kiêng khem nghiêm ngặt, cuối cùng cũng có thể trở lại chế độ ăn uống bình thường. Thật sảng khoái khi được ăn những thực phẩm có hạt (không được ăn nếu bị viêm túi thừa), tất cả những thực phẩm được cho là chống chỉ định đối với bệnh loét và viêm đại tràng, và thậm chí cả kem sô cô la nóng! Phải mất vài năm thì chứng hạ đường huyết chức năng mới biến mất, nhưng cuối cùng cũng có thể ăn tất cả những món ngọt, từng bị cấm trong suốt nhiều năm.

Toàn bộ hội chứng tuổi trung niên cũng đều là hệ thống niềm tin. Khi hệ thống niềm tin này bị hủy bỏ và buông bỏ, chứng lạnh ở tay và chân cũng biến mất. Mệt mỏi, trầm cảm nhẹ và cáu kỉnh cũng biến mất. Sức bền thể chất tăng lên và khả năng chịu đựng công việc thể chất gần như không có giới hạn.

Giờ đây, khi những vấn đề lớn đã được giải quyết, một số bệnh nhẹ hơn cũng được chủ động xử lý. Niềm tin vào u nang lông đã được buông bỏ. Nó biến mất sau sáu tuần. Vòi nhĩ luôn bị tắc nghẽn, cứ đi máy bay là tai phải đau dữ dội. Phải mất hai năm để nó tự khỏi. Liên tục buông bỏ mọi suy nghĩ và cảm thọ về nó, đồng thời sử dụng phương pháp hình dung, trong đó góc của vòi nhĩ với xương thái dương bên phải được hình dung là đang thay đổi thành một góc bình thường. Đây là chứng bệnh duy nhất sử dụng phương pháp hình dung. Sau hai năm, chứng bệnh này biến mất, và không bao giờ còn gặp khó khăn trong việc thông tai khi độ cao thay đổi nữa.

Trong khi đó, chứng đau cổ cũng dần biến mất, và có thể khiêu vũ. Trong khi nhảy và buông bỏ mọi kháng cự đối với đau cổ, cơ thể bắt đầu tự động thực hiện các tư thế và chuyển động tự chữa lành, như thể có một chuyên gia nắn chỉnh cột sống bên trong đang điều chỉnh cột sống. Một cảm giác kỳ lạ, như thể những người chữa lành vô hình đang điều chỉnh lại cột sống.

Trong khi diễn ra những sự kiện như thế, thì tuần hoàn máu ở bàn tay và bàn chân cũng thay đổi, tay và chân không còn lạnh nữa. Bệnh rung chấn ở các đầu ngón tay, từng đe dọa dẫn đến hoại tử, giờ đây đã tự chữa lành. Các đầu ngón tay phồng lên và chuyển sang màu hồng trở lại. Cơn đau rát ở đầu ngón tay biến mất. Cảm giác quay trở lại. Cho đến lúc đó, các ngón tay đã tê liệt đến mức không thể lật giở sách.

Khi các bệnh nghiêm trọng hơn được chữa lành, đã có năng lượng và thời gian để xem xét cả những vấn đề nhỏ hơn. Từng tin rằng cắt tóc ở tiệm thì sẽ bị gàu. Khi buông bỏ niềm tin đó, thì gàu không còn. Một quá trình tương tự đã xảy ra với niềm tin cho rằng nấm ở chân có liên quan đến sàn phòng khách sạn. Khi lên tục xoá bỏ niềm tin này, thì nấm ở chân đã biến mất.

Một năm, trong Lễ Tạ ơn, xuất hiện cơ hội để thử nghiệm kỹ thuật này khi xảy ra tình huống cấp tính. Một khúc gỗ lớn rơi vào chân trái và làm gãy tất cả các xương ở toàn bộ phần trước bàn chân. Thay vì vội vàng đi bó bột, đã sử dụng kỹ thuật buông bỏ. Đến Giáng sinh, đã có thể quay lại sàn nhảy. Sau đó, một mắt cá chân bị bong gân nặng cũng tự lành trong vài phút bằng cách lập tức buông bỏ cơn đau.

 

Chữa lành thị lực

Một buổi tối nọ, khi đang thuyết giảng về cơ chế buông bỏ và ghi lại tất cả những hiện tượng chữa lành đã trải nghiệm vừa nói bên trên, một thành viên trong cử toạ nói: “Bác sĩ, nếu ông đã chữa lành tất cả những căn bệnh đó, vậy tại sao ông vẫn đeo kính? Mắt kém không thể được chữa lành bằng cách tương tự hay sao?”

“Vâng, tôi chưa bao giờ nghĩ đeo kính là bệnh. Tôi luôn nghĩ đó là một khiếm khuyết trong giải phẫu của cơ thể. Nhưng bây giờ, khi bạn nhắc tới nó, tôi không thấy lý do gì mà nó không thể tự chữa lành.”

Vì vậy, cặp kính hai tròng được tháo ra và cất vào túi áo khoác. Quả thực, lúc đó, thị lực đang suy giảm đến mức bác sĩ đã kê đơn và đặt mua kính ba tròng. Khi kết thúc buổi thuyết trình tối hôm đó, cái biết bên trong lại xuât hiện, nó nói rằng nếu có đủ niềm tin và tin tưởng thì tình trạng này cũng sẽ tự chữa lành.

Lái xe về nhà mà không đeo kính, nhìn rất mờ. Đi khá chậm, đèn pha chiếu vào lề đường. Cái biết nội tâm nói rằng chúng ta sẽ luôn luôn nhìn thấy những gì mình cần thấy, nhưng không thể nhìn thấy những gì mình muốn thấy. Trong sáu tuần tiếp theo, đã quan sát và học được rất nhiều điều, đấy là những gì diễn ra đằng sau thị giác bình thường hàng ngày của chúng ta. Có vô vàn cảm thọ, từ tò mò đến cạnh tranh, từ sự hứng thú nhục dục đến kích thích trí tuệ. Để hoạt động trong thế gian này thì chỉ cần khoảng 5% thị giác mà thôi.

Có hiện tượng kỳ lạ: chỉ những gì cần nhìn thấy mới được nhìn thấy. Không thể đọc báo và tạp chí, xem truyền hình, hoặc đi xem phim. Rõ ràng là phần lớn thị giác chỉ đơn thuần là sự trốn tránh thực tại. Trên đường, mọi chuyện diễn ra cứ như thể là ông lão Magoo[i] đang cầm lái vậy. Hết lần này đến lần khác, cái hiện tượng huyền bí tương tự đó lại xảy ra. Ngay khi cần nhìn thấy một thứ gì đó, thì liền nhìn thấy nó. Mép vực hiện ra ngay khi cần nhìn thấy nó. Đã có rất nhiều lo âu đi kèm với việc liên tục buông bỏ sợ hãi. Cuối cùng, sau sáu tuần, sợ hãi dường như đã cạn kiệt. Thay vào đó, phó thác sâu sắc đã diễn ra. “Được rồi, tôi sẽ chỉ nhìn những gì mình được phép nhìn.” Các mục tiêu cảm xúc khác mà việc nhìn đã phục vụ cho đến thời điểm đó đều được tự nguyện buông bỏ.

Rồi một cảm giác tĩnh lặng và bình yên sâu sắc xuất hiện, cùng với cảm thọ hòa làm một với bất cứ điều gì đang vận hành vũ trụ. Và trong khoảnh khắc đó, đột nhiên, thị lực trở lại hoàn toàn và hoàn hảo. Những gì trước đây không thể nhìn thấy hoặc đọc được thì giờ đây trở nên rõ ràng như pha lê: biển báo đường phố, chữ in nhỏ trong ánh sáng mờ, các vật thể hiện rõ nét trong khắp gian phòng và ở khoảng cách xa. Trong lần kiểm tra mắt tiếp theo, để gia hạn bằng lái xe, người đánh giá nói rằng thị lực hoàn hảo và không cần đeo kính nữa. Hiện tượng này chưa từng xảy ra trong bất kỳ lần kiểm tra nào trước đây! 

Kể từ khi câu chuyện này được kể trên khắp cả nước, khá nhiều người đã bỏ kính và có trải nghiệm tương tự. Thú vị là, mỗi người đều nói rằng quá trình này diễn ra trong khoảng sáu tuần. Một trong những người đã hoàn toàn thành công lại quyết định đeo kính. Khi được hỏi lý do, anh ta nói rằng vợ mình đã quen nhìn thấy anh đeo kính đến mức anh ấy trông bất bình thường khi không có kính, vì vậy anh ấy đã đeo kính không số để cho vợ cảm thấy vui. Anh ấy làm như thế chỉ vì yêu vợ và muốn làm cho vợ vui, đó là một lý do khác hẳn so với phải đeo kính vì thị lực kém.

Những người đã trải nghiệm phục hồi thị lực đều đồng ý về khám phá sau đây: Chúng ta nhìn bằng chính tâm trí, chứ không phải bằng nhãn cầu! Gần đây, một trong những trường hợp như thế là một phụ nữ bị mù ngay từ khi mới sinh và cả hai nhãn cầu đều bị rối loạn nghiêm trọng. Sau khi nghe bài giảng về phục hồi thị lực, bà này đã tuân theo một phác đồ điều trị và thực hành kỹ thuật buông bỏ đối với thị lực của mình. Trong vòng hai ngày, bà bắt đầu cảm nhận được sự trở lại của thị lực. Sau bài giảng, bà ấy đến gần và nói: “Tôi biết ông nói đúng. Tôi biết rằng người ta nhìn thấy bằng tâm trí bởi vì đó là điều đang xảy ra với tôi. Tôi đang nhìn thấy, và tôi đang nhìn thấy bằng tâm trí của mình!”

Muốn hiểu làm sao mà tất cả những hiện tượng chữa lành này có thể xảy ra—một số gần như là phép màu—chúng ta phải xem xét lại nhiều suy nghĩ của mình về các quá trình trong cơ thể, cơ chế chữa lành và làm sao mà các phương pháp điều trị y tế mang lại kết quả. Người ta đã phát hiện ra rằng có một sức mạnh tự chữa lành bên trong được kích hoạt bằng cách buông bỏ liên tục.



[i] Mr. Magoo: Nhân vật hoạt hình Mỹ nổi tiếng với chứng cận thị nặng nhưng luôn gặp may mắn kỳ lạ, thoát khỏi những tai nạn hiểm nghèo. Ở đây ám chỉ sự bảo hộ của trường năng lượng khi bản ngã buông bỏ kiểm soát.

 


No comments:

Post a Comment