August 29, 2025

LÀM SAO SỐNG ĐƯỢC 100 TUỔI HAY Là BÀN VỀ ĐỜI SỐNG CHỪNG MỰC (1)

 

Luigi Cornaro (1464-1566 a.d.)

Phạm Nguyên Trường dịch 



Bài thứ nhất: Bàn về đời sống đơn giản và mạnh khoẻ  

Mọi người đều đồng ý rằng, theo thời gian, tập quán trở thành bản tính thứ hai, buộc con người phải theo điều họ đã quen, dù tốt hay xấu; thực tế, trong nhiều trường hợp, chúng ta thấy thói quen lấn át cả lý trí. Điều này đúng đến nỗi, những người đức hạnh khi giao du với kẻ xấu thường rơi vào cùng một lối sống sa đọa. Thấy và suy xét tất cả những điều ấy, tôi quyết định viết về thói xấu ăn uống vô độ. 

Mặc dù mọi người đều công nhận rằng sự phóng túng là cha đẻ của thói tham ăn, còn sống tiết chế là con đẻ của sự điều độ; thế nhưng, vì sức mạnh của tập quán, điều phóng túng lại được xem là đức hạnh, còn sự tiết chế lại bị coi là hèn hạ và keo kiệt. Biết bao người mù quáng và mê muội đến mức, vừa mới bốn mươi hay năm mươi tuổi, họ đã mang trong mình những chứng bệnh kỳ lạ và đau đớn, khiến họ trở nên già yếu và vô dụng; trong khi đó, nếu họ sống điều độ và tiết chế, thì rất có thể họ sẽ còn khỏe mạnh và vui tươi đến tận tám mươi tuổi trở lên. Để khắc phục tình trạng này, con người cần sống thuận theo sự giản dị mà tự nhiên đã an bài. Tự nhiên dạy chúng ta phải bằng lòng với những gì ít ỏi, và tập cho mình thói quen chỉ ăn vừa đủ để duy trì sự sống, luôn ghi nhớ rằng mọi sự dư thừa đều sinh bệnh và dẫn đến cái chết. Biết bao người bạn của tôi — những người đàn ông thông tuệ và đáng mến nhất — đã bị cuốn đi giữa tuổi thanh xuân bởi sự dư thừa và ăn uống quá độ. Nếu họ sống điều độ, hẳn giờ đây họ vẫn còn hiện diện, là điểm sáng của xã hội, và tôi sẽ còn được đồng hành cùng họ trong niềm vui thay vì chịu sự mất mát đầy tiếc thương. 

Do đó, để chấm dứt một tệ nạn lớn như vậy, trong bài luận ngắn này, tôi quyết định chứng minh rằng sự thiếu điều độ là một sự lạm dụng có thể loại bỏ, và rằng lối sống tiết chế, giản dị xưa kia hoàn toàn có thể thay thế vào đó. Tôi càng sẵn lòng thực hiện điều này hơn nữa, bởi nhiều người trẻ có học thức đã khẩn khoản thúc giục tôi, vì cha mẹ họ phần lớn đều qua đời khi mới ở tuổi trung niên, trong khi tôi vẫn còn khỏe mạnh và vui tươi ở tuổi tám mươi mốt. Những người trẻ này mong muốn đạt tới cùng một tuổi thọ như tôi — điều mà thiên nhiên không hề ngăn cản, bởi khát vọng sống lâu là điều tự nhiên. Thật vậy, tuổi già chính là giai đoạn đời người có thể thực hành sự thận trọng một cách trọn vẹn nhất, và cũng là lúc được hưởng hoa trái của mọi đức hạnh khác trong sự bình yên nhất, vì các giác quan khi ấy đã lắng xuống, để con người hoàn toàn phó mặc cho lý trí. Họ nài nỉ tôi cho biết phương pháp mà tôi đã theo đuổi để đạt được điều đó; và nhận thấy họ đang theo đuổi một mục đích đáng ca ngợi, tôi quyết định bàn đến phương pháp này, hầu có thể giúp ích, không chỉ cho họ, mà còn cho tất cả những ai muốn đọc bài luận này. 

Vì vậy, tôi sẽ trình bày lý do khiến tôi từ bỏ sự thiếu tiết chế và hướng tới lối sống điều độ, rồi công khai phương pháp mà tôi đã áp dụng, cùng những hiệu quả tốt đẹp mà nó mang lại cho tôi; từ đó sẽ thấy được rằng, việc loại bỏ lối sống phóng túng thực ra dễ dàng biết bao. Cuối cùng, tôi sẽ chỉ ra những lợi ích và phúc lành của đời sống điều độ. 

Tôi xin nói rằng, chính một loạt những bệnh tật đã tàn phá thân thể tôi là động lực khiến tôi từ bỏ sự thiếu điều độ trong ăn uống — điều mà tôi đã từng nghiện. Hậu quả là dạ dày tôi bị rối loạn, tôi chịu nhiều cơn đau quặn thắt và chứng gút; nhưng tệ hại hơn cả là một cơn sốt âm ỉ, gần như triền miên, dạ dày thường xuyên rối loạn, và cơn khát không bao giờ dứt. Với những chứng bệnh ấy, điều duy nhất tôi còn có thể hy vọng chính là cái chết. 

Vì vậy, khi bước vào độ tuổi từ ba mươi lăm đến bốn mươi trong hoàn cảnh bất hạnh như thế, và đã thử mọi cách có thể nghĩ ra để chữa trị nhưng đều vô ích, các thầy thuốc cho tôi biết rằng vẫn còn một phương pháp duy nhất có thể vượt qua những chứng bệnh của tôi, với điều kiện tôi phải quyết tâm áp dụng và kiên trì theo đuổi. Phương pháp ấy là sống một đời sống nghiêm cẩn và điều độ, vốn sẽ đem lại hiệu quả lớn nhất; và về điều này, tôi có thể tự mình xác tín, bởi dù cơ thể tôi đã trở nên suy nhược vì bệnh tật, song chưa đến mức hoàn toàn suy sụp, nên một đời sống điều độ vẫn có thể giúp tôi hồi phục. Họ còn nói thêm rằng, nếu tôi không lập tức áp dụng lối sống nghiêm cẩn ấy, thì chỉ trong vài tháng tới tôi sẽ chẳng còn thu được lợi ích gì từ nó nữa, và rằng chỉ ít lâu sau, tôi sẽ phải phó mặc cho cái chết. 

Những lời lẽ này đã gây ấn tượng mạnh mẽ với tôi, đến nỗi, dù đau khổ trước viễn cảnh phải chết khi còn đang ở tuổi xuân, và đồng thời bị hành hạ không ngừng bởi đủ loại bệnh tật, tôi lập tức quyết định, để tránh cả bệnh lẫn chết, rằng mình phải hướng về một nếp sống điều độ. Khi hỏi họ về những quy tắc cần tuân theo, họ bảo tôi chỉ được dùng thực phẩm — cả rắn lẫn lỏng — theo cách vốn được kê cho người bệnh, và phải hết sức tiết chế cả hai. Nói thật ra, trước đây họ cũng từng khuyên tôi như vậy, nhưng tôi đã thiếu kiên nhẫn với sự kiềm chế ấy, và cứ ăn uống thỏa thích những gì mình muốn. Thế nhưng, một khi tôi đã quyết tâm sống điều độ, thuận theo sự mách bảo của lý trí, và nhận ra rằng đó chính là bổn phận của mình với tư cách một con người, tôi đã bước vào nếp sống mới này với một quyết tâm lớn đến mức không gì có thể khiến tôi chệch hướng. Kết quả là, chỉ sau vài ngày, tôi đã bắt đầu cảm thấy lối sống ấy thực sự hợp với mình; và khi kiên trì theo đuổi, tôi nhận thấy rằng, chỉ chưa đầy một năm sau (dù có lẽ một số người sẽ khó tin), tôi đã hoàn toàn thoát khỏi mọi chứng bệnh trước kia. 

Sau khi hồi phục sức khỏe, tôi bắt đầu nghiêm túc suy xét sức mạnh của sự điều độ: nếu nó có hiệu lực đủ để chế ngự những chứng bệnh nghiêm trọng như của tôi, thì hẳn nó cũng có sức mạnh để duy trì sức khỏe và củng cố thể trạng vốn yếu ớt của tôi. Vì vậy, tôi đã chuyên tâm tìm ra những loại thực phẩm nào thực sự phù hợp nhất với mình. 

Trước hết, tôi quyết định thử xem những món ăn hợp khẩu vị có hợp với dạ dày hay không, để có thể kiểm chứng tính đúng đắn của câu tục ngữ vốn được nhiều người thừa nhận: “Cái gì ngon miệng thì cũng hợp với dạ dày”, hoặc “cái gì hợp khẩu vị thì đều lành mạnh và bổ dưỡng.” Kết quả là, tôi thấy câu tục ngữ ấy sai, vì tôi nhanh chóng nhận ra rằng nhiều thứ hợp khẩu vị lại không hợp với dạ dày. Tự mình xác tín rằng câu ấy là sai, tôi từ bỏ hẳn những loại thịt và rượu không hợp, và chỉ chọn những gì mà kinh nghiệm cho thấy là phù hợp với mình, lại chỉ dùng với lượng vừa đủ để dễ tiêu hóa, luôn chú trọng đến cả chất lẫn lượng; đồng thời sắp xếp sao cho không bao giờ làm đầy bụng vì ăn uống, mà luôn rời bàn ăn với cảm giác vẫn còn có thể ăn uống thêm nữa. Về điểm này, tôi đã làm theo câu tục ngữ dạy rằng: “Muốn giữ sức khỏe, con người phải kiềm chế sự thèm ăn.” Nhờ vậy, tôi đã chế ngự được sự phóng túng trong ăn uống, và hoàn toàn bước vào một đời sống điều độ và nề nếp. Chính điều đó đã mang lại cho tôi sự thay đổi như đã nói ở trên: chỉ trong vòng chưa đầy một năm, tôi đã thoát khỏi tất cả những chứng bệnh từng đeo bám tôi, vốn khi ấy tưởng chừng không thể chữa được. Nó còn có một tác dụng tốt khác: tôi không còn bị những căn bệnh hằng năm hành hạ như trước, khi tôi còn ăn uống phóng túng. Tôi cũng trở nên cực kỳ khỏe mạnh, và từ đó đến nay vẫn luôn như vậy; chỉ nhờ một điều đơn giản là tôi chưa bao giờ vượt quá giới hạn của sự nề nếp và điều độ nghiêm cẩn. 

Nhờ áp dụng những phương pháp này, tôi luôn được hưởng, và, tạ ơn Chúa, vẫn đang được hưởng, sức khỏe tuyệt hảo. Đúng là, ngoài hai quy tắc quan trọng nhất liên quan đến việc ăn uống mà tôi luôn rất cẩn thận tuân thủ (tức là không ăn quá nhiều, chỉ ăn những thứ hợp với mình), tôi đã cẩn thận tránh, trong khả năng có thể, mọi sự quá nóng, quá lạnh, mệt mỏi quá mức, gián đoạn giờ nghỉ ngơi thông thường và ở lâu trong không khí ô nhiễm. Tôi cũng đã làm tất cả những gì có thể để tránh những điều khó loại bỏ: u sầu, hận thù và những cảm xúc mãnh liệt khác, dường như có ảnh hưởng lớn nhất đến cơ thể con người. Tuy nhiên, tôi cũng không thể phòng ngừa hoàn toàn, đến mức đôi khi vẫn bị chúng cuốn đi. Nhưng tôi đã khám phá ra rằng, nhìn chung, những cảm xúc ấy không ảnh hưởng nhiều đến cơ thể được điều hành bởi hai quy tắc ăn uống kể trên. Galen, một y sĩ lừng danh, đã nói rằng, miễn là ông tuân theo hai quy tắc ấy, ông chỉ chịu rất ít rối loạn như vậy, ít đến nỗi chúng chẳng bao giờ khiến ông bận tâm quá một ngày. Lời ông quả thật là chân lý — chính tôi là một nhân chứng sống, và nhiều người khác biết tôi cũng thấy rõ, rằng bao lần tôi phải chịu đựng nóng lạnh, thời tiết khắc nghiệt, mà không hề tổn hại; lại thêm bao lần (do nhiều bất hạnh liên tiếp giáng xuống) tôi bị xáo trộn tinh thần nặng nề, song những việc ấy hầu như không gây hại cho tôi. Trái lại, những người thân trong gia đình tôi, vốn không sống theo cách của tôi, lại bị xáo trộn ghê gớm; nói tóm lại, những buồn phiền và chán nản của họ khi thấy tôi bị cuốn vào những vụ kiện tụng tốn kém, do những kẻ quyền thế khởi xướng chống lại tôi, đã khiến họ sợ tôi sẽ lụn bại, đến nỗi bị bao phủ bởi tâm trạng u sầu — thứ mà những người sống không điều độ thường mang sẵn trong mình; và điều đó ảnh hưởng nặng nề đến thân thể họ, đến mức sinh mệnh bị đoạt mất khi chưa tới tuổi. Trong khi đó, tôi không phải chịu đựng gì vào những lúc như thế, vì trong tôi không hề có những khí chất thừa thãi ấy; hơn nữa, để giữ vững tinh thần, tôi tự nhủ rằng Chúa đã cho phép những vụ kiện này xảy ra, cốt để tôi ý thức rõ hơn sức mạnh thể chất và tinh thần của mình; và rằng tôi sẽ chiến thắng vẻ vang, cùng với lợi lạc, như sự việc cuối cùng đã chứng nghiệm; bởi sau hết, tôi đã nhận được một sắc lệnh vô cùng thuận lợi cho cả vận mệnh lẫn danh dự của mình. 

Nhưng tôi có thể đi xa hơn một bước, và cho thấy đời sống điều độ có lợi cho sự hồi phục như thế nào khi xảy ra tai nạn. Ở tuổi bảy mươi, tôi tình cờ đi trên một cỗ xe ngựa, đang chạy với tốc độ cao, bị lật, và bị kéo đi một quãng khá xa trước khi bầy ngựa dừng lại. Tôi đã chịu nhiều cú va đập và bầm dập đến nỗi được kéo ra ngoài với đầu và thân thể thương tích nặng nề, cùng một chân và một cánh tay bị trật khớp. Khi các y sĩ thấy tôi trong tình trạng tồi tệ như vậy, họ kết luận rằng tôi khó sống quá ba ngày, song cũng muốn thử biện pháp chảy máu và tẩy xổ để ngăn viêm và sốt. Nhưng ngược lại, tôi, biết rõ nhờ đời sống điều độ bao năm mà huyết mạch của mình trong sạch và quân bình, đã từ chối cả việc chích máu lẫn tẩy xổ. Tôi chỉ cho nắn lại tay chân, và chịu để người ta xoa bóp bằng vài thứ dầu mà họ cho là thích hợp trong trường hợp đó. Nhờ vậy, không dùng thêm bất kỳ phương thuốc nào khác, tôi đã hồi phục đúng như tôi dự đoán, chẳng hề cảm thấy chút biến đổi nào trong thân thể, cũng chẳng chịu hệ lụy nào từ tai nạn ấy — một điều trong mắt các y sĩ chẳng khác gì phép lạ. Do đó, ta có thể suy ra rằng người nào sống chừng mực, điều độ, không sa vào ăn uống quá độ, thì ít khi phải chịu rối loạn tinh thần hay tổn hại do tai nạn bên ngoài. Trái lại, tôi kết luận, nhất là từ thử thách mới đây, rằng ăn uống phóng túng thường đưa đến tử vong. Bốn năm trước, tôi đã thuận theo lời thúc giục lâu nay của bạn bè và người thân mà tăng thêm hai ounce thức ăn, vì họ cho rằng lượng tôi dùng quá ít so với tuổi già. Tôi đáp rằng, bản tính con người vốn bằng lòng với ít, và chính nhờ lượng ít ỏi ấy mà tôi đã gìn giữ sức khỏe và sự nhanh nhẹn nhiều năm; rằng tuổi càng cao thì dạ dày càng yếu, nên xu hướng phải là giảm ăn chứ không phải thêm vào. Tôi còn nhắc họ hai câu tục ngữ: “Kẻ nào muốn ăn nhiều thì phải ăn ít; ăn ít thì sống lâu, mà sống lâu thì sẽ ăn được nhiều.” và “Phần ta bỏ lại sau một bữa ăn no nê, có lợi cho ta hơn những gì đã ăn vào.” Nhưng những lý lẽ và tục ngữ ấy không cản được họ trêu chọc mãi về việc này; nên, chẳng phải để tỏ ra ngoan cố hay ra vẻ biết nhiều hơn y sĩ, mà cốt để làm vui lòng gia đình, tôi đã thuận theo. Thế là, trong khi trước kia, với bánh mì, thịt, lòng đỏ trứng và súp, tôi ăn trọn mười hai ounce, không hơn không kém, thì nay tăng lên mười bốn; và trong khi trước kia tôi chỉ uống mười bốn ounce rượu vang, thì nay tăng lên mười sáu. Sự gia tăng này, chỉ trong vòng tám ngày, đã khiến tôi, từ chỗ vui vẻ hoạt bát, trở nên cáu kỉnh và u sầu, đến nỗi không gì có thể làm tôi hài lòng. Đến ngày thứ mười hai, tôi bị một cơn đau dữ dội bên hông, kéo dài hai mươi hai giờ, rồi tiếp theo là một cơn sốt triền miên ba mươi lăm ngày không thuyên giảm, đến mức mọi người đều coi tôi như kẻ sắp chết. Nhưng, tạ ơn Chúa, tôi đã hồi phục; và tôi tin chắc rằng chính sự đều đặn nghiêm cẩn bao năm qua, và chỉ nhờ đó mà thôi, đã cứu tôi khỏi nanh vuốt của Tử thần. 

Sống có nề nếp và điều độ, chắc chắn là nguyên nhân và nền tảng vững chắc nhất cho sức khỏe và tuổi thọ; đúng hơn, tôi nói rằng đó là phương thuốc chân chính duy nhất, và bất cứ ai cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề này sẽ đi đến kết luận như thế. Do đó, khi bác sĩ đến thăm bệnh nhân, điều đầu tiên họ kê đơn là sống điều độ, và nhất định phải tránh ăn uống thái quá. Nay, nếu bệnh nhân, sau khi hồi phục, vẫn tiếp tục sống như vậy, thì họ sẽ không thể mắc bệnh trở lại; và nếu một lượng thức ăn rất nhỏ đã đủ để phục hồi sức khỏe, thì chỉ cần thêm một chút ít cũng đủ để duy trì tình trạng đó. Như vậy, về sau, họ sẽ không cần đến bác sĩ hay thuốc men. Không, bằng cách tuân thủ những gì tôi đã nói, họ sẽ trở thành bác sĩ của chính mình, và thực sự là vị thầy thuốc giỏi nhất mà họ có thể có; bởi trên thực tế, không ai có thể là bác sĩ hoàn hảo cho bất kỳ người nào khác ngoài chính mình. Lý do là: bất kỳ ai, thông qua những lần thử nghiệm lặp đi lặp lại, đều có thể đạt đến sự hiểu biết hoàn toàn về thể chất của chính mình, cũng như về những loại thức ăn, thức uống hợp với mình nhất. Những lần thử nghiệm ấy là cần thiết, vì bản tính và dạ dày của mỗi người vốn khác nhau. Tôi nhận ra rằng rượu cũ không hợp với tôi, nhưng rượu mới thì lại hợp; và sau một thời gian dài thực nghiệm, tôi còn phát hiện ra rằng nhiều thứ có thể không gây hại cho người khác, nhưng lại không tốt cho tôi. Vậy thì, thử hỏi có bác sĩ nào có thể cho tôi biết nên dùng loại nào, tránh loại nào, trong khi chính tôi, qua nhiều năm quan sát, mới dần khám phá ra? 

Do đó, không thể nào làm bác sĩ hoàn hảo cho người khác được. Một người không thể có vị chỉ dẫn nào tốt hơn chính bản thân mình, cũng không có thứ thuốc nào tốt hơn là một đời sống điều độ. Tuy nhiên, tôi không có ý nói rằng đối với việc chẩn trị những chứng bệnh phát sinh do kẻ sống buông thả thì không cần đến bác sĩ, hay nói rằng sự trợ giúp của họ nên bị xem nhẹ; những người ấy, khi lâm bệnh, hẳn nhiên phải lập tức tìm đến sự hỗ trợ y khoa. Nhưng, chỉ nhằm mục đích gìn giữ sức khỏe, thì theo tôi, chúng ta nên coi nếp sống điều độ như là thầy thuốc của mình; bởi nó giúp con người, kể cả những người có thể chất yếu đuối, vẫn duy trì được sức khỏe; khiến họ sống mạnh mẽ và vui tươi cho đến tuổi một trăm hoặc hơn, và không chết vì bệnh tật hay do sự suy đồi của thể dịch, mà chỉ đơn giản là bởi sự tàn lụi tự nhiên, điều cuối cùng vốn không thể tránh khỏi đối với tất cả. Nhưng ít người nhận ra được điều này, bởi phần lớn con người vốn ham mê dục lạc và thiếu điều độ, thích chiều theo dục vọng và buông mình trong mọi thái quá; và, để biện minh, họ thường nói rằng họ thích một cuộc sống ngắn ngủi mà tự mãn hơn là một cuộc sống dài lâu mà phải kiềm chế bản thân; họ không biết rằng những người hạnh phúc nhất chính là những người có thể chế ngự được dục vọng của mình. Tôi đã nghiệm ra điều đó, và tôi chọn sống điều độ, để có thể sống lâu và hữu ích. Nếu tôi không sống điều độ, tôi sẽ chẳng bao giờ viết được những bài luận này, mà tôi hân hoan nghĩ rằng chúng sẽ đem lại lợi ích cho người khác. Những kẻ ham mê khoái lạc cho rằng không ai có thể sống một đời sống điều độ. Tôi đáp rằng Galen, một đại y sư, đã sống như thế và đã chọn nó làm phương thuốc tốt nhất. Plato, Cicero, Isocrates, cùng nhiều vĩ nhân khác thời xưa cũng vậy — mà để khỏi làm bạn đọc mệt mỏi, tôi không tiện nêu hết tên. Và, trong thời đại chúng ta, có Giáo hoàng Paul Farnese và Hồng y Bembo; và chính nhờ vậy mà họ sống lâu như thế. Do đó, bởi nhiều người đã sống đời sống này, và nhiều người hiện nay vẫn đang sống nó, thì chắc chắn rằng ai ai cũng có thể tuân theo, nhất là vì nó không hề có khó khăn gì lớn lao. Cicero quả quyết rằng điều duy nhất cần thiết chỉ là phải nghiêm túc. Còn bạn nói rằng Plato, tuy bản thân ông sống điều độ, nhưng lại cho rằng trong các quốc gia cộng hòa, con người thường không thể sống như vậy, vì bị buộc phải chịu nhiều khó nhọc và biến động, vốn không thuận hợp với lối sống điều độ. Tôi đáp rằng, những ai buộc phải gánh chịu những điều ấy, thì sẽ càng có khả năng chịu đựng tốt hơn nhờ giữ cho mình tiết độ trong việc ăn uống. 

Có thể có người phản đối, cho rằng: người theo đuổi một đời sống nghiêm ngặt và điều độ, khi vốn đã quen dùng những thức ăn đơn giản, nhẹ nhàng như cho người bệnh, lại ăn với số lượng ít, thì lúc chính mình lâm bệnh sẽ chẳng còn cách ăn kiêng nào khác để dùng. Tôi xin trả lời rằng: bất kỳ ai có lối sống đều đặn, thì hầu như không thể mắc bệnh, hoặc nếu có, cũng rất hiếm và chóng khỏi. Khi nói đến đời sống đều đặn, ý tôi là: mỗi người phải tự tìm ra cho mình lượng thức ăn và thức uống ít đến mức nào là vừa đủ để đáp ứng nhu cầu hằng ngày; rồi sau khi đã xác định, và nhận ra những loại thích hợp nhất với thể trạng của mình, thì phải lập kế hoạch và nghiêm ngặt bám vào nguyên tắc ấy. Chớ để nay thì thận trọng, mai lại tự buông thả, vì sống như thế thì lợi ích chẳng được bao nhiêu. Trái lại, phải luôn giữ gìn để tránh thái quá – điều mà bất kỳ ai, nếu quyết tâm, cũng có thể làm được trong mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Bởi vậy, tôi nói rằng: người sống như thế thì khó mà mắc bệnh, hoặc nếu có cũng chỉ thỉnh thoảng, và trong một thời gian ngắn. Bởi nhờ sống điều độ, người ấy tiêu diệt hết mọi mầm mống của bệnh tật, loại bỏ nguyên nhân thì hậu quả cũng chẳng còn. Vì thế, ai theo đuổi đời sống điều độ và nghiêm ngặt thì chẳng cần sợ bệnh tật, vì máu huyết đã trở nên tinh khiết, trong sạch, không còn ứ đọng những tạp chất xấu, nên chẳng thể sinh bệnh. 

Do đó, bởi lẽ một đời sống điều độ vừa hữu ích vừa hợp đức hạnh, nó đáng để mọi người cùng noi theo. Lại càng nên hơn nữa, vì lối sống ấy không hề xung đột với bất kỳ bổn phận nào, mà lại dễ thực hành cho tất cả mọi người. Không phải ai cũng cần ăn ít như tôi – mười hai ounce – hoặc kiêng nhiều món mà tôi, do dạ dày vốn yếu, buộc phải tránh. Những ai hợp với mọi loại thực phẩm, thì có thể ăn tùy ý, chỉ cần nhớ: không được ăn vượt quá mức mà dạ dày có thể dễ dàng tiêu hóa, ngay cả đối với món ăn hợp nhất với mình. Uống cũng thế. Quy tắc duy nhất cần tuân theo trong ăn uống là giữ chừng mực về số lượng, hơn là câu nệ về chất lượng. Còn những ai thể trạng yếu như tôi, thì chẳng những phải cẩn trọng về số lượng, mà còn cả về chất lượng nữa – chỉ nên dùng những thức ăn thật đơn giản, dễ tiêu hóa. 

Xin đừng nói với tôi rằng có những người, dù sống rất thất thường, vẫn khỏe mạnh và trường thọ. Lập luận ấy chỉ dựa trên sự ngẫu nhiên và rủi ro, mà thật ra những trường hợp như thế vô cùng hiếm hoi. Vì vậy, con người không nên vì những ngoại lệ ấy mà tự cho phép mình buông thả hay sống phóng túng. Ai nương cậy vào sức vóc của bản thân mà khinh suất coi thường những điều tôi nêu ra, thì sẽ sớm phải gánh lấy hậu quả, sống trong nỗi hiểm nguy thường trực của bệnh tật và cái chết. Bởi thế, tôi khẳng định rằng: ngay cả người có thể chất yếu kém, nếu sống một cuộc đời nghiêm ngặt và tiết chế, thì chắc chắn an toàn và sống lâu hơn cả người có thể chất tốt nhất nhưng lại buông lung, bất cẩn và thất thường. Nếu con người thật sự muốn sống lâu và khỏe mạnh, và khi chết ra đi không phải vì bệnh tật thân xác hay tinh thần, mà chỉ đơn thuần vì sự tan rã tự nhiên của thể xác, thì nhất định phải thuận theo một đời sống điều độ và tiết chế. Bởi một đời sống như vậy sẽ giữ cho máu huyết trong sạch và tinh khiết, không để cho uế khí từ dạ dày bốc lên não. Nhờ thế, tâm trí người ấy luôn an nhiên, sáng suốt; có thể vượt khỏi những lo toan tầm thường nơi cõi thế để hướng đến sự chiêm nghiệm cao quý và tươi đẹp về những điều thuộc Thiên thượng, đem lại cho chính mình sự an ủi và hoan lạc vô song. Người ấy khi đó thật sự nhận ra sự hèn hạ và tàn bạo của những lạc thú thái quá mà con người thường sa vào – những thứ chỉ đem đến khổ đau ở đời này và cả đời sau. Trong khi đó, người tiết chế có thể thanh thản nhìn về một đời sống lâu dài, ý thức được rằng, nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, mình đã dứt bỏ nẻo đường truỵ lạc và phóng túng, quyết chẳng còn quay lại nữa; và nhờ công đức của Đấng Cứu Thế Giêsu Kitô, người ấy sẽ được chết trong ân sủng của Ngài. Vì vậy, người ấy không bị ám ảnh hay đè nặng bởi ý nghĩ về cái chết, vì biết rằng cái chết sẽ chẳng đến với mình một cách dữ dội, bất ngờ, hay kèm theo những cơn đau quằn quại và sốt cao, mà sẽ đến nhẹ nhàng, êm dịu; như một ngọn đèn khi dầu đã cạn, người ấy sẽ lặng lẽ ra đi, không bệnh tật, từ cõi thế gian phàm tục này để bước sang đời sống Thiên quốc vĩnh hằng. 

Một số người buông thả, nông nổi cho rằng: đa thọ đa nhục, rằng cuộc sống của một người đã qua tuổi bảy mươi lăm chẳng còn đáng gọi là sống. Nhưng nói thế là sai, như tôi sẽ chứng minh rõ ràng. Và đây là tâm nguyện chân thành của tôi: mong cho tất cả mọi người đều gắng sức đạt đến độ tuổi mà tôi đang được hưởng, để chính họ cũng có thể tận hưởng giai đoạn của đời người – giai đoạn đáng mong ước nhất.    

Vì vậy, tôi sẽ kể lại những thú vui của mình, và niềm hoan lạc mà tôi tìm thấy trong giai đoạn này của cuộc đời. Có nhiều người có thể làm chứng về hạnh phúc trong đời sống của tôi. Trước hết, họ ngạc nhiên khi thấy sức khỏe và tinh thần tôi tốt đến mức nào: tôi có thể cưỡi ngựa mà chẳng cần ai giúp, không chỉ leo cầu thang mà còn dễ dàng trèo lên một ngọn đồi. Rồi, họ thấy tôi vui tươi và hài hước biết bao; tâm trí tôi lúc nào cũng an định, vì niềm vui và sự bình an đã yên vị nơi lồng ngực tôi. Hơn nữa, họ biết tôi sử dụng thời gian của mình thế nào để chẳng bao giờ thấy đời sống là mệt nhọc: tôi dành những giờ khắc trong niềm hoan hỷ và thú vị, chuyện trò cùng những người có học thức và trí tuệ; rồi khi không có họ bầu bạn, tôi tìm đọc một cuốn sách hay. Khi đã đọc đủ theo ý mình, tôi lại viết, và trong việc viết ấy, cũng như trong mọi việc khác, tôi cố gắng để phục vụ người khác. Tất cả những điều này, tôi đều làm trong sự dễ chịu nhất, sống trong một ngôi nhà thoáng đãng, nằm ở khu phố đẹp nhất của thành Padua đáng kính này. Ngoài ngôi nhà, tôi còn có những khu vườn, với những dòng nước mát lành, nơi tôi luôn tìm được điều gì đó để làm, khiến lòng vui thích. Và những thú vui ấy chẳng hề kém phần ngọt ngào, vì tạ ơn Chúa, các giác quan của tôi vẫn còn nguyên vẹn, chẳng hề suy giảm; nhất là khẩu vị, nay còn thưởng thức trọn vẹn hơn những món ăn giản dị hiện tại, so với trước kia khi tôi còn sống thất thường mà dùng đến những của ngon vật lạ. Việc thay đổi giường nằm cũng chẳng làm tôi bận lòng: ở đâu tôi cũng ngủ ngon lành và yên tĩnh, lại còn mơ những giấc mơ an vui, dễ chịu. Niềm vui của tôi cũng thật lớn lao khi tận mắt chứng kiến sự thành công của một công trình trọng yếu đối với xứ sở này: việc tháo cạn và cải tạo biết bao vùng đất hoang. Công trình ấy khởi sự ngay trong ký ức của tôi, nhưng tôi từng nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ được thấy ngày nó hoàn tất; vậy mà nay tôi đã thấy, lại còn đích thân góp sức trong hai tháng liền, giữa những miền đầm lầy, dưới cái nóng mùa hè, mà chẳng hề thấy mình kém đi vì mệt nhọc hay bất tiện. Thật hiệu nghiệm biết bao là một đời sống có trật tự mà tôi kiên trì giữ gìn ở mọi nơi. Đó là đôi điều trong những thú vui và sự tiêu khiển của tuổi già tôi – một tuổi già còn đáng quý hơn cả tuổi già, hay thậm chí là tuổi trẻ của nhiều người khác. Bởi nhờ ân sủng của Thiên Chúa, tôi được giải thoát khỏi những xao động của tâm trí và những bệnh tật của thân xác, nên chẳng còn phải trải qua những cơn dày vò của cảm xúc đối nghịch – đang hành hạ bao nhiêu người trẻ cũng như già, những người vì sống cẩu thả và phóng túng, mà thiếu sức khỏe, sức mạnh, và vì thế chẳng có được niềm vui đích thực. 

Và nếu được phép so sánh những chuyện nhỏ nhặt với những việc hệ trọng, tôi xin cả gan nói thêm rằng, chính nhờ cuộc sống tỉnh táo này mà ở tuổi tám mươi ba, tôi đã viết được một vở hài kịch vui tươi, tràn đầy những nụ cười hồn nhiên và những lời dí dỏm thú vị. 

Tôi còn có một niềm an ủi khác mà tôi muốn kể: đó là được chứng kiến một thứ bất tử trong dòng dõi con cháu nối tiếp nhau. Mỗi khi trở về nhà, trước mắt tôi lại hiện ra, không phải một hai, mà đến mười một đứa cháu – đứa lớn nhất mười tám tuổi – tất cả đều là con của một cha một mẹ, và tất cả đều được chúc phúc với sức khỏe dồi dào. Tôi chơi đùa với những đứa nhỏ nhất; những đứa lớn hơn thì tôi xem như bạn bè; và bởi thiên nhiên đã ban cho chúng những giọng hát hay, tôi tự mua vui bằng cách lắng nghe chúng ca hát và chơi nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Thậm chí, chính tôi cũng hát, vì giờ đây giọng tôi hay hơn, vang và sáng hơn bất kỳ lúc nào trong đời. Đó là những thú vui tuổi già của tôi. 

Vì vậy, cuộc sống tôi không hề u ám, mà ngược lại, rất vui tươi. Tôi sẽ không đánh đổi nếp sống và mái tóc bạc này để lấy cuộc sống của một chàng trai trẻ, dẫu có thân thể cường tráng, nhưng lại buông mình theo dục vọng; bởi vì tôi biết rõ, những người ấy hằng ngày phải đối diện với muôn vàn bệnh tật và cái chết. Tôi nhớ lại cách sống của chính mình thuở trai trẻ, và tôi hiểu người trẻ thường liều lĩnh đến mức nào: dễ tự phụ vào sức mạnh, lại vì non nớt mà quá tin tưởng ở kỳ vọng của mình. Thế nên, họ thường lao vào đủ mọi nguy hiểm, gạt bỏ lý trí, cúi đầu dưới cái ách nặng nề của dục vọng, ra sức thỏa mãn ham muốn, mà không hề nhận ra – ngu muội thay – rằng chính như vậy, họ đã vội vã chuốc lấy những gì bản thân khiếp sợ nhất: bệnh tật và cái chết. 

Và đó chính là hai tai họa lớn đối với kẻ sống phóng túng: một là phiền não và đau đớn, còn lại thì khủng khiếp và không sao chịu đựng nổi; đặc biệt khi họ hồi tưởng đến những sai lầm mà kiếp sống phàm trần phải vướng vào, và đến sự phán xét mà công lý Thiên Chúa thường giáng trên kẻ tội lỗi. Còn tôi, nơi tuổi già này, tạ ơn Đấng Toàn Năng, được giải thoát khỏi những cực hình ấy: khỏi bệnh tật, vì tôi đã loại bỏ nguyên nhân của nó nhờ sự điều độ và chừng mực; và khỏi nỗi sợ chết, vì sau bao năm kinh nghiệm, tôi đã học biết sống thuận theo lý trí; nhờ đó, tôi chẳng những thấy thật điên rồ khi sợ điều không thể tránh, mà còn kiên tâm trông đợi sự an ủi từ ân sủng của Đức Giêsu Kitô khi tôi bước đến giờ ấy. 

Nhưng dù tôi biết mình, như mọi người khác, rồi cũng phải đi đến tận cùng ấy, song nó hãy còn xa vời đến nỗi tôi chưa thể nhận thấy, bởi tôi tin rằng mình sẽ không chết bởi tai ương nào khác ngoài sự tan rã tự nhiên; vì nhờ nếp sống điều độ, tôi đã khép lại mọi lối dẫn đến cái chết, ngăn cho các dịch thể trong thân xác không tấn công tôi bằng bất kỳ con đường nào khác ngoài con đường tất yếu vốn định bởi các yếu tố cấu thành thân thể phàm tục này. Tôi không ngây thơ đến mức quên rằng đã sinh ra thì phải chết; nhưng cái chết tự nhiên mà tôi nói đến kia không đến ngay, mà chỉ sau một quãng đời dài lâu; và đến khi ấy, tôi cũng chẳng mong phải chịu đựng những cơn đau đớn và thống khổ mà đa phần con người thường nếm trải trong giờ lâm chung. Trái lại, nhờ ơn Chúa, tôi tin rằng mình còn được hưởng nhiều năm sống khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt, để thưởng thức vẻ đẹp của thế giới này – một thế giới quả thực tươi đẹp đối với những ai biết cách khiến nó trở nên tươi đẹp, và vẻ đẹp ấy chỉ hiện rõ với những người, nhờ sống tiết độ và đức hạnh, mà có được cả sức mạnh thể chất lẫn sự an hòa trong tâm hồn. 

Vậy thì, nếu lối sống chừng mực và điều độ này mang lại nhiều hạnh phúc đến thế; nếu những phúc lành đi cùng nó vững bền và lâu dài đến thế, thì tôi khẩn cầu mọi người có lương tri hãy nắm lấy kho báu vô giá ấy: một đời sống dài lâu và khỏe mạnh — kho báu vượt trội hơn mọi phúc lộc trần gian khác, và vì thế đáng để tìm kiếm; bởi giàu sang và dư dật thì có ích gì cho một người có thân xác yếu đuối và bệnh tật? Đây chính là Sự tiết độ thiêng liêng, đẹp lòng Thiên Chúa, bạn của thiên nhiên, con gái của lý trí, chị em của mọi nhân đức, bạn đồng hành của lối sống điều hòa; khiêm nhường, nhã nhặn, biết đủ, ngay ngắn, và hoàn toàn làm chủ mọi hành động. Từ Sự tiết độ, như từ gốc rễ chân chính, tuôn trào ra sự sống, sức khỏe, niềm vui, sự siêng năng, sự hiểu biết, và tất cả những công việc xứng đáng với tâm hồn cao quý và rộng lượng. Mọi luật lệ của Thiên Chúa đều nghiêng về phía Sự tiết độ. No nê, quá độ, phóng túng, khí huyết dư thừa, bệnh tật, cơn sốt, đau đớn và hiểm nguy của tử thần — tất cả đều tan biến trước mặt nó, như sương mù trước mặt trời. Vẻ đẹp của Sự tiết độ làm say đắm mọi tâm trí lành mạnh. Ảnh hưởng của nó chắc chắn đến mức có thể hứa ban cho mọi người một đời sống dài lâu và an hòa. Và sau hết, nó hứa sẽ là người bảo hộ dịu dàng và êm ái của sự sống, dạy con người cách xua tan những cuộc tấn công của tử thần. Sự tiết độ nghiêm ngặt trong ăn uống và ẩm thực làm cho giác quan và trí tuệ trở nên sáng suốt, ký ức bền chặt, thân thể nhanh nhẹn và mạnh mẽ, cử động khoan hòa và dễ dàng; và linh hồn, vì ít vướng bận gánh nặng trần tục, nên được hưởng nhiều tự do tự nhiên của mình. Như thế, con người tận hưởng một sự hòa điệu êm ái và dễ chịu, khi chẳng có gì trong cơ thể mình gây xáo trộn; bởi huyết mạch người ấy thanh khiết, chảy thông suốt trong mạch máu, còn nhiệt lượng thân thể thì ôn hòa, điều hòa.

HẾT BÀI 1

dịch từ:  https://web.archive.org/web/20141215062952/http://www.soilandhealth.org/02/0201hyglibcat/020105cornaro.html

 

No comments:

Post a Comment