Phạm Nguyên Trường Phạm Nguyên Trường Author
Title: Ludwig von Mises (1881-1973) - CHỦ NGHĨA TỰ DO TRUYỀN THỐNG
Author: Phạm Nguyên Trường
Rating 5 of 5 Des:
Phạm Nguyên Trường dịch Chương 4 Chủ nghĩa tự do và các chính đảng 4. Chủ nghĩa tự do và đảng đòi đặc quyền đặc lợi Những đảng đòi đặc q...
Phạm Nguyên Trường dịch

Chương 4

Chủ nghĩa tự do và các chính đảng

4. Chủ nghĩa tự do và đảng đòi đặc quyền đặc lợi

Những đảng đòi đặc quyền đặc lợi, chẳng có gì ngoài chính sách bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho những nhóm người của mình, không chỉ làm cho hệ thống nghị viện trở thành bất khả thi mà còn phá hoại sự thống nhất quốc gia và xã hội nữa. Họ làm cho không chỉ chế độ đại nghị mà toàn thể hệ thống chính trị và xã hội lâm vào khủng hoảng. Về lâu dài, xã hội sẽ không thể tồn tại được nếu nó bị chia thành từng nhóm riêng biệt, mỗi nhóm lại cố tình giành giật đặc quyền đặc lợi cho người của nhóm mình, lúc nào cũng cảnh giác để không bị thua thiệt và sẵn sàng hi sinh ngay cả những định chế chính trị quan trọng nhất miễn là giành được lợi ích dù nhỏ đến đâu.

Đối với các đảng đòi đặc quyền đặc lợi thì mọi vấn đề chính trị đều chỉ là vấn đề chiến thuật mà thôi. Mục đích cuối cùng của họ đã được xác định ngay từ đầu. Mục tiêu của họ là giành cho bằng được lợi thế và đặc quyền đặc lợi cho nhóm người mà họ đại diện, những người khác trong xã hội sẽ phải trả giá. Cương lĩnh của đảng phải tìm cách che đậy mục tiêu này và tạo cho nó vẻ chính đáng, nhưng trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không được tuyên bố công khai mục đích chính sách của đảng. Dù thế nào thì các đảng viên cũng biết rõ mục đích của mình, họ không cần phải giải thích. Còn phổ biến ra ngoài đến mức nào thì lại là vấn đề chiến thuật.

Tất cả các đảng đầu tranh giành đặc quyền đặc quyền đặc lợi chẳng muốn gì ngoài việc bảo vệ ưu quyền cho nhóm người của mình, họ hoàn toàn không đếm xỉa đến nguy cơ tan rã toàn bộ cơ cấu xã hội. Họ không thể nào chống lại được sự phê phán của chủ nghĩa tự do. Nếu đem các yêu sách của họ ra phân tích thì sẽ không phủ nhận được rằng hoạt động của họ là phản xã hội và mang tính chất phá hoại; thậm chí chỉ cần nghiên cứu một cách hời hợt nhất cũng đủ thấy rằng hoạt động của những đảng vì đặc quyền đặc lợi và luôn luôn chống báng lẫn nhau sẽ chẳng tạo ra bất kì thiết chế hữu ích nào. Chắc chắn là những người không có khả năng nhìn xa hơn những điều đang diễn ra hàng ngày sẽ không thấy rõ như thế. Đa số người dân không quan tâm đến những chuyện sẽ diễn ra sau đây vài ngày. Họ chỉ nghĩ đến những chuyện diễn hôm nay, nhiều lắm là ngày mai. Họ không bao giờ hỏi điều gì sẽ diễn ra nếu tất cả các nhóm khác, trong khi theo đuổi đặc quyền đặc lợi của mình, đều không quan tâm tới phúc lợi của toàn xã hội nữa. Họ hi vọng không chỉ thực hiện được yêu sách của mình mà còn đập tan được yêu sách của những người khác. Đối với một ít người, đấy là nói những người đòi hoạt động của các đảng phải tuân thủ những tiêu chuẩn cao, những người đòi hỏi rằng ngay cả hoạt động chính trị cũng phải tuân thủ các yêu cầu đạo đức (“Chỉ hành động trên nguyên tắc mà anh có thể coi là luật phổ quát, nghĩa là không có mâu thuẫn khi coi hành động của anh là luật mà mọi người đều phải tuân thủ") thì hệ tư tưởng của những đảng đòi đặc quyền đặc lợi chắc chắn chỉ là con số không.

Chủ nghĩa xã hội giành được ưu thế đáng kể là do quan điểm của các đảng đấu tranh giành đặc quyền đặc lợi đã có những khiếm khuyết về mặt logich. Nguyên lí của chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với nhiều người, đấy là nói những người chưa nắm được lí tưởng vĩ đại của chủ nghĩa tự do nhưng lại có tư duy rõ ràng và không chấp nhận yêu sách đòi đặc quyền đặc lợi cho những nhóm người cụ thể. Ý tưởng về chủ nghĩa xã hội – ta không thể phủ nhận được sự vĩ đại của nó, dù nó có những khiếm khuyết bẩm sinh (đã thảo luận một cách kĩ lưỡng bên trên) - được dùng để che đậy và đồng thời khẳng định sự yếu kém của quan điểm của các đảng đấu tranh giành đặc quyền đặc lợi. Nó tạo ra kết quả là chuyển được sự chú ý của giới phê bình từ hoạt động của đảng sang những vấn đề lớn hơn, những vấn đề mà dù người ta có nghĩ thế nào thì cũng là những sự kiện đáng phải xem xét một cách thận trọng và với sự chú ý cao nhất.

Trong một trăm năm qua lí tưởng của chủ nghĩa xã hội đã tìm được những người ủng hộ trong số những người chân thành và lương thiện. Nhiều người tốt nhất và trung thực nhất đã hân hoan chấp nhận nó. Nó trở thành ngôi sao dẫn đường cho những chính khách lỗi lạc. Nó giành được vị trí thượng phong trong các trường đại học và là nguồn cảm hứng cho giới trẻ. Nó lấp đầy tư duy và tình cảm của thế hệ trước và cả thế hệ hiện nay, đến một lúc nào đó lịch sử sẽ hoàn toàn có lí khi gọi thời đại của chúng ta là thời đại xã hội chủ nghĩa. Trong mấy chục năm gần đây, trong tất cả các nước người ta đã làm tất cả mọi việc có thể - quốc hữu hoá và tập thể hoá các doanh nghiệp, áp dụng những biện pháp nhằm thực thi nền kinh tế kế hoạch hoá - nhằm biến lí tưởng xã hội chủ nghĩa thành hiện thực.

Những khiếm khuyết không thể tránh khỏi của quản lí xã hội chủ nghĩa – ảnh hưởng tiêu cực đối với năng suất lao động và việc hạch toán kinh tế là bất khả thi – đã dẫn tới tình trạng là hầu như mỗi bước tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa đều trở thành mối đe doạ nghiêm trọng đối với việc cung cấp những món tiêu dùng cho người dân. Chính cảnh thiếu thốn như thế đã chặn đứng phong trào xã hội chủ nghĩa, còn lí tưởng xã hội chủ nghĩa – dù vẫn còn giữ được ảnh hưởng về mặt ý thức hệ - trong lĩnh vực chính sách cụ thể, đã trở thành tấm mặt nạ che đậy cho các đảng lao động trong cuộc đấu tranh giành đặc quyền đặc lợi của họ.

Có thể chứng minh sự đúng đắn của kết luận như thế đối với bất kì đảng xã hội chủ nghĩa nào, thí dụ như các phe phái khác nhau của đảng xã hội chủ nghĩa Thiên chúa giáo. Nhưng chúng tôi đề nghị chỉ thảo luận về những đảng xã hội chủ nghĩa theo đường lối Marxist, không nghi ngờ gì rằng đấy chính là những đảng xã hội chủ nghĩa quan trọng nhất.

Marx và những người kế tục ông có thái độ thực sự nghiêm túc đối với chủ nghĩa xã hội. Marx bác bỏ tất cả những biện pháp mà các đảng đấu tranh đòi đặc quyền đặc lợi – nhân danh các nhóm và các giai tầng trong xã hội - kiền nghị. Ông không bao giờ tỏ ra nghi ngờ giá trị của những luận cứ của phe dân chủ khi phe này cho rằng những hành động can thiệp như thế chỉ dẫn tới kết quả là năng suất lao động sẽ giảm. Khi suy nghĩ, viết và nói một cách nhất quán, ông đều giữ quan điểm cho rằng mọi hành động can thiệp của chính phủ hoặc của các tổ chức xã hội có lực lưỡng cưỡng chế khác nhằm thay đổi cơ chế của hệ thống tư bản chủ nghĩa đều là những hành động vô nghĩa vì chúng không dẫn đến những kết quả mà họ kì vọng, ngược lại chúng sẽ chỉ làm giảm hiệu suất của nền kinh tế mà thôi. Marx muốn đưa giai cấp công nhân vào cuộc đấu tranh nhằm thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải nhằm giành một số đặc quyền đặc lợi trong lòng xã hội dựa trên quyền sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất. Marx muốn một đảng lao động xã hội chủ nghĩa, chứ không phải đảng tiểu-tư sản nhắm vào những cải cách vụn vặt, như ông nói.

Marx, do lòng trung thành mù quáng đối với những định kiến xuất phát từ hệ thống triết học kinh viện của chính mình, đã không thể nhìn thấy các sự kiện như chúng vốn là. Ông nghĩ rằng những người công nhân, được những tác gia dưới ảnh hưởng của ông tổ chức thành đảng “xã hội chủ nghĩa” sẽ bình tĩnh quan sát quá trình tiến hoá của hệ thống tư bản theo đúng như học thuyết và sẽ không trì hoãn cái ngày chủ nghĩa tư bản hoàn toàn chín muồi cho sự tước đoạt những kẻ từng tước đoạt và “biến thành” chủ nghĩa xã hội. Ông không thấy rằng các đảng lao động, cũng như các đảng đấu tranh giành đặc quyền đặc lợi đang xuất hiện nhan nhản khắp nơi, trong khi về nguyên tắc họ chấp nhận cương lĩnh xã hội chủ nghĩa, nhưng trong chính sách cụ thể họ lại chỉ quan tâm đến việc giành đặc quyền đặc lợi ngay trước mắt cho giai cấp công nhân mà thôi. Lí thuyết của Marx về sự thống nhất lợi ích của công nhân toàn thế giới lại nhắm đến những mục đích hoàn toàn khác. Nó đã giúp một số nhóm công nhân che đậy một cách cực kì khéo léo sự kiện là những nhóm công nhân khác phải trả giá cho chiến thắng của họ. Điều đó có nghĩa là trong lĩnh vực lập pháp gọi là “thân lao động” cũng như trong những cuộc đấu tranh của các tổ chức công đoàn, lợi ích của người vô sản không bao giờ trùng hợp với nhau. Về khía cạnh này, học thuyết marxist cũng có ích cho các đảng đấu tranh cho đặc quyền đặc lợi của giai cấp công nhân y như tôn giáo đã giúp ích cho đảng trung tâm và các đảng phái khác của các giáo sĩ ở Đức, hay tinh thần dân tộc đã giúp cho các đảng mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa, hay luận điểm cho rằng lợi ích của những người sản xuất nông nghiệp là giống nhau đã giúp ích cho các đảng nông dân, hay học thuyết về tính tất yếu của các sắc thuế nhằm bảo vệ lao động trong nước đã giúp ích cho các đảng theo đuổi chính sách bảo hộ nền sản xuất nội địa vậy. Các đảng dân chủ xã hội càng phát triển thì ảnh hưởng của phong trào công đoàn - đấy là nói ngay trong nội bộ cách đảng đó – càng gia tăng và các đảng đó càng ngày càng giống như tổ chức công đoàn, tức là tổ chức coi mọi vấn đề chỉ là hạn chế số thành viên và tăng lương cho người của mình mà thôi.

Chủ nghĩa tự do chẳng có gì chung với những đảng phái này hết. Nó đứng trên cực đối lập với tất cả các đảng phái đó. Nó không hứa mang đến cho bất kì ai bất cứ ưu tiên ưu đãi nào. Nhằm bảo vệ xã hội, nó đòi hỏi mọi người phải hi sinh. Nhưng hi sinh như thế - đúng hơn phải nói là hi sinh những lợi ích trực tiếp – dĩ nhiên, chỉ là tạm thời và sẽ được đền bù bằng những lợi ích lớn hơn và lâu dài hơn. Tuy nhiên, hiện thời đấy đúng là hi sinh. Vì vậy, ngay từ đầu, trong cuộc đấu tranh với các đảng phái khác, chủ nghĩa tự do đã nằm trong hoàn cảnh đặc biệt. Ứng cử viên của các đảng phái bài tự do hứa mang lại cho mỗi nhóm cử tri đặc quyền đặc lợi khác nhau: người sản xuất bán được giá cao, còn người tiêu dùng thì được mua với giá thấp; quan chức được hưởng lương cao, còn người đóng thuế thì đóng thấp. Anh ta sẵn sàng đồng ý với mọi chi tiêu lấy từ ngân sách quốc gia hay từ túi người giàu. Anh ta chẳng coi nhóm nào là quá nhỏ và sẵn sàng tìm sự ủng hộ của họ bằng cách lấy tiền nhà nước để mua quà tặng họ. Còn ứng cử viên của đảng tư do thì chỉ có thể nói với tất cả cử tri rằng tìm kiếm đặc quyền đặc lợi là hành động phản xã hội.

5. Công tác tuyên truyền của đảng và tổ chức đảng

Khi các ý tưởng tự do được truyền bá từ quê hương mình, tức là Tây Âu, sang Trung và Đông Âu thì các thế lực truyền thống - chế độ quân chủ, giới quí tộc và tăng lữ - dựa vào những phương tiện đàn áp mà họ nắm trong tay cảm thấy hoàn toàn yên tâm. Họ thấy không cần phải dùng vũ khí trí tuệ đề chiến đấu với chủ nghĩa tự do và tư tưởng của thời Khai Sáng. Họ cho rằng đàn áp, ngược đãi và bỏ tù những người bất đồng còn có ích hơn. Họ ca ngợi bộ máy trấn áp và bạo lực của quân đội và cảnh sát. Mãi sau này họ mới kinh hoàng nhận ra rằng hệ tư tưởng mới đã chinh phục được tâm trí của các quan chức và binh lính và bằng cách đó đã tước được vũ khí của họ. Sự thất bại của chế độ cũ trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa tự do đã dạy cho những người ủng hộ nó một sự thật đơn giản là không có gì mạnh hơn tư tưởng và những lí thuyết gia của các hệ tư tưởng và chỉ có dùng tư tưởng mới chống lại được tư tưởng mà thôi. Họ nhận thức được rằng tin vào vũ lực là ngu vì chỉ có thể sử dụng được người cầm súng nếu họ sẵn sàng tuân thủ và cuối cùng thì tư tưởng chính là nền tảng của mọi chính quyền và khả năng chi phối của nó.

Công nhận chân lí xã hội học đó là một trong những niềm tin chủ yếu làm nền tảng cho lí thuyết chính trị của chủ nghĩa tự do. Từ đó chủ nghĩa tự do rút ra kết luận rằng về lâu dài chân lí và công bằng sẽ phải chiến thắng vì thắng lợi của nó trong lĩnh vực tư tưởng là sự kiện không thể nghi ngờ. Ai giành được chiến thắng trong lĩnh vực này cuối cùng cũng sẽ giành được chiến thắng trong lĩnh vực công việc cụ thể vì không có lực lượng khủng bố nào có thể đè bẹp được nó. Vì vậy mà ta không phải lo lắng cho sự lan truyền của chủ nghĩa tự do. Dù có xảy ra chuyện gì thì nó vẫn sẽ chiến thắng.

Có thể hiểu được những người chống đối chủ nghĩa tự do nếu lúc nào ta cũng nghĩ rằng họ họ chỉ làm những chuyện trái ngược với những điều mà chủ nghĩa tự do dạy mà thôi, nghĩa là họ bác bỏ và phản ứng lại với những tư tưởng của chủ nghĩa tự do. Họ không thể đưa ra được học thuyết toàn diện và nhất quán về kinh tế và xã hội, có thể đối chọi được với hệ tư tưởng của chủ nghĩa tự do vì chủ nghĩa tự do là kết luận khả dĩ duy nhất có thể được rút ra từ học thuyết như thế. Còn cái cương lĩnh hứa hẹn mang lại điều gì đó cho một nhóm người hay một vài nhóm người không có hi vọng được toàn dân ủng hộ và sẽ thất bại về chính trị ngay từ đầu. Như vậy nghĩa là các đảng đó sẽ phải dàn xềp để buộc những nhóm người mà đảng nhắm tới phải nằm hoàn toàn trong tầm kiểm soát của đảng và giữ mãi họ trong tình trạng như thế. Họ phải làm mọi cách để chủ nghĩa tự do không tìm được người ủng hộ trong những giai cấp mà họ lệ thuộc vào.

Các tổ chức đảng được thành lập cho mục đích như thế, đấy là những tổ chức sẽ giữ chặt từng cá nhân đến mức họ chẳng dám nghĩ đến việc bỏ đảng nữa. Ở Đức và Áo, nơi hệ thống này đã phát triển một cách chu đáo và ở các nước Đông Âu, nơi các hệ thống này được sao chép lại, hiện nay từng cá nhân đã là đảng viên chứ không còn là người công dân bình thường nữa. Ngay từ lúc còn bé người đó đã được đảng chăm sóc rồi. Hoạt động thể dục thể thao và hoạt động xã hội được tổ chức theo đường lối của đảng. Từ hệ thống hợp tác xã, nông dân phải thông qua đó mới nhận được tiền trợ cấp và tài trợ cho những người sản xuất nông nghiệp; đến những định chế giúp các chuyên gia thăng tiến và thị trường lao động cũng như hệ thống quĩ tiết kiệm - tất cả đều được quản lí theo đường lối của đảng. Muốn được tôn trọng, đấy là nói trong tất cả những vấn đề mà chính quyền có thể tự do hành động, cá nhân buộc phải dựa vào sự ủng hộ của đảng. Trong những hoàn cảnh như thế, sao lãng công việc của đảng sẽ làm người ta nghi ngờ, còn ra khỏi đảng thì có nghĩa là sẽ gặp những khó khăn nghiêm trọng về mặt kinh tế, nếu không nói là sẽ bị phá sản về mặt kinh tế và tẩy chay về mặt xã hội.

Các đảng đấu tranh giành đặc quyền đặc lợi có cách xử lí đặc biệt đối với những người có tay nghề cao. Những nghề tự do như luật sư, bác sĩ, nhà văn, nghệ sĩ, không có đủ người để có thể thành lập những đảng riêng nhằm bảo vệ quyền lợi của chính họ. Vì vậy mà họ ít chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng đặc quyền đặc lợi giai cấp. Những người làm nghề tự do chính là những người ủng hộ chủ nghĩa tự do một cách ngoan cường nhất và lâu dài nhất. Cuộc chiến đấu không khoan nhượng và nhẫn tâm nhằm đòi cho bằng được những quyền lợi đặc biệt của các đảng phái sẽ chẳng mang lại cho họ điều gì. Đấy là điều mà các đảng hoạt động như các nhóm áp lực coi là điều cực kì đáng lo. Họ không thể chấp nhận việc giới trí thức tiếp tục gắn bó với chủ nghĩa tự do. Họ sợ rằng nếu các tư tưởng tự do, được một vài người trí thức tái phát triển và giải thích một cách cặn kẽ, đủ sức làm cho quần chúng đảng viên của họ chấp nhận và ủng hộ thì hàng ngũ của họ sẽ bị thưa thớt dần. Họ vẫn còn nhớ những tư tưởng như thế đã gây ra những mối nguy hiểm như thế nào đối với chế độ đặc quyền đặc lợi của xã hội đẳng cấp. Vì vậy mà các đảng đấu tranh đòi đặc quyền đặc lợi đã tự tổ chức một cách có hệ thống nhằm buộc những người làm nghề tự do phải phụ thuộc vào họ. Chuyện đó đã xảy ra ngay sau khi các đảng này đưa giới trí thức vào nắm quyền trong bộ máy của đảng. Các bác sĩ, luật sư, nhà văn, nghệ sĩ phải tham gia vào tổ chức của bệnh nhân, khách hàng, độc giả và người bảo trợ cho mình và phụ thuộc vào các tổ chức như thế. Những người lừng khừng hay đấu tranh chống lại đều bị tẩy chay và buộc phải chiều theo.

Việc khuất phục những người làm nghề tự do còn được tiếp tục bằng thủ tục bổ nhiệm vị trí giảng dạy và chức vụ trong bộ máy nhà nước. Ở những nơi mà hệ thống đảng đã phát triển một cách đầy đủ thì chỉ có các đảng viên đại diện cho đảng đang cầm quyền hoặc theo thoả thuận (dù là thoả thuận ngầm) của tất cả các đảng đầu tranh giành đặc quyền mới được bổ nhiệm vào các chức vụ như thế mà thôi. Và cuối cùng, là dùng biện pháp đe doạ tẩy chay, ngay cả báo chí độc lập cũng bị các đảng phái kiểm soát.

Đòn cuối cùng trong việc tổ chức các đảng này chính là thành lập các đơn vị vũ trang của chính họ. Tổ chức theo lối nhà binh, bắt chước mô hình của quân đội quốc gia, các đơn vị này soạn thảo kế hoạch hành động và chuyển quân, họ có vũ khí và sẵn sàng tấn công. Họ mang cờ quạt và kèn đồng diễu binh qua các đường phố, đấy chính là lời cảnh báo với thế giới rằng thời đại của những cuộc vận động và chiến tranh bất tận đang tới gần.

Cho đến lúc này, có hai sự kiện có thể làm dịu bớt nguy cơ xuất hiện tình hình như vừa nói. Thứ nhất, đã có sự cân bằng quyền lực giữa các đảng phái trong các cường quốc quan trọng nhất. Còn ở những nơi không có sự cân bằng như thế, thí dụ như ở Nga và Ý, thì mặc dù một số người dân vẫn còn công nhận một số nguyên tắc còn sót lại của chủ nghĩa tự do, người ta đã sử dụng quyền lực của nhà nước nhằm đàn áp và khủng bố những người ủng hộ các đảng đối lập.

Sự kiện thứ hai, không để cho tình hình rơi vào hoàn cảnh xấu nhất, là ngay cả các dân tộc căm ghét chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tư bản đến tận xương tuỷ vẫn hi vọng vào đầu tư từ những nước vốn là thí dụ điển hình của tinh thần tự do và tư bản chủ nghĩa – mà trước hết là từ Mĩ. Không có nguồn tín dụng từ những nước này thì người ta sẽ thấy ngay hậu quả của chính sách ăn vào vốn mà họ đang làm. Chủ nghĩa bài tư bản chỉ có thể tồn tại bằng cách ăn bám vào chủ nghĩa tư bản mà thôi. Vì vậy mà nó phải tính đến dư luận xã hội ở phương Tây, nơi chủ nghĩa tự do vẫn còn được mọi người công nhận, dù về mặt hình thức thì đã phai nhạt đi nhiều. Nói chung, các nhà tư sản chỉ muốn cho những người trong tương lai có thể trả được nợ vay, còn những đảng phá hoại thì lại kêu gào về “ảnh hưởng mang tính toàn cầu của chủ nghĩa tư bản”.

6. Chủ nghĩa tự do: “đảng của tư bản”

Dễ dàng nhận ra là nếu không phủ nhận ngay chính bản chất của chủ nghĩa tự do thì không thể nào đặt nó cùng hàng với các đảng đấu tranh giành đặc quyền đặc lợi được. Nó hoàn toàn khác biệt với các đảng kia. Các đảng đó chiến đấu và ca ngợi bạo lực, còn chủ nghĩa tự do thì ngược lại, chỉ muốn hoà bình và cạnh tranh về tư tưởng mà thôi. Vì lí do đó mà tất cả các đảng, dù họ có chia rẽ với nhau đến đâu, đã lập ra mặt trận thống nhất nhằm chống lại chủ nghĩa tự do.

Kẻ thù của chủ nghĩa tự do vu cho chủ nghĩa tự do là đảng đấu tranh vì lợi ích của giai cấp tư sản. Đấy là đặc trưng của phương pháp tư duy của họ. Đơn giản là họ chỉ có thể coi hệ tư tưởng chính trị là hình thức bảo vệ cho đặc quyền đặc lợi của một số người nào đó, bất chấp sự thịnh vượng chung của toàn xã hội.

Không nên coi chủ nghĩa tự do là đảng đấu tranh cho những lợi ích đặc biệt, cho đặc quyền đặc lợi vì quyền sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất không phải là đặc quyền chỉ có lợi cho những nhà tư sản mà là định chế có ích cho toàn thể xã hội, và như thế cũng có nghĩa là có ích cho từng người một. Đấy không chỉ là ý kiến của những người theo phái tự do, ở một mức độ nào đó ngay những người đối lập với họ cũng nghĩ như thế. Khi những người marxist bảo vệ quan điểm cho rằng chủ nghỉa xã hội chưa thể trở thành hiện thực khi thế giới chưa “chín muồi”, vì hệ thống xã hội sẽ không bao giờ biến mất “trước khi tất cả các lực lượng sản xuất có thể có trong xã hội cũ phát triển hết cái không gian mà hệ thống này giành cho chúng”, thì họ cũng thừa nhận, ít nhất là tại thời điểm hiện nay, sự cần thiết của định chế sở hữu tư nhân đối với xã hội. Ngay cả những người Bolshevik, những người mà mới gần đây còn tuyên truyền cách hiểu của họ về chủ nghĩa Marx (dường như thế giới đã chín muồi rồi) bằng bom đạn, giáo gươm và giá treo cổ, thì nay cũng buộc phải thú nhận rằng họ đã quá vội vàng. Thế mà nếu chủ nghĩa tư bản và “thượng tầng kiến trúc” pháp lí của nó, tức là sở hữu tư nhân, là điều kiện không thể bỏ qua được thì liệu người ta có thể nói rằng hệ tư tưởng coi sở hữu tư nhân là nền tảng của xã hội là hệ tư tưởng chỉ ủng hộ cho lợi ích kỉ của giai cấp tư sản nhằm chống lại lợi ích của toàn thể xã hội được không?

Cho rằng sở hữu tư nhân là không thể thiếu được – dù là tạm thời hay vĩnh viễn, nhưng các hệ tư tưởng bài tự do lại tin rằng sở hữu tư nhân phải bị các sắc lệnh hoặc những hành động can thiệp của nhà nước điều tiết và hạn chế. Cái họ đề xuất không phải là chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tư bản mà là chủ nghĩa can thiệp. Nhưng kinh tế học đã chứng minh rằng chủ nghĩa can thiệp là hành động tự sát. Nó không đạt được mục đích mà những người ủng hộ cho nó đặt ra. Nghĩa là sẽ là sai lầm khi cho rằng bên cạnh chủ nghĩa xã hội (tài sản công) và chủ nghĩa tư bản (tài sản tư) còn có thể có cách tổ chức hợp tác xã hội hữu hiệu thứ ba, mà cụ thể là chủ nghĩa can thiệp. Những cố gắng nhằm đưa chủ nghĩa can thiệp vào thực tiễn chắc chắn sẽ dẫn tới những điều kiện trái ngược với dự định của các tác giả của nó. Lúc đó họ sẽ phải đối mặt với sự lựa chọn: hoặc là từ bỏ mọi hành động can thiệp và bằng cách đó để mặc cho sở hữu tư nhân tự hoạt động hoặc là thay sở hữu tư nhân bằng chủ nghĩa xã hội.

Không chỉ những nhà kinh tế học theo trường phái tự do mới ủng hộ luận điểm này. (Dĩ nhiên là tư tưởng thịnh hành cho rằng các nhà kinh tế học chia rẽ theo đảng phái là tư tưởng hoàn toàn sai lầm). Chính Marx, trong tất cả những tranh luận về lí thuyết của mình cũng chỉ thấy có hai lựa chọn: chủ nghĩa xã hội hay là chủ nghĩa tư bản. Ông thường chế nhạo và coi khinh những nhà cải cách cách - những người bị “tư tưởng tiểu tư sản” cầm tù - bác bỏ chủ nghĩa xã hội, đồng thời lại muốn tái cấu trúc chủ nghĩa tư bản. Kinh tế học thậm chí không bao giờ có ý định chứng minh rằng hệ thống sở hữu tư nhân được nhà nước điều tiết và cản trở là hệ thống khả thi hết. Khi những “người xã hội chủ nghĩa xa lông” muốn chứng minh điều đó bằng mọi giá, họ liền bắt đầu bằng cách phủ nhận kiến thức khoa học trong lĩnh vực kinh tế và cuối cùng họ đã tuyên bố rằng nhà nước làm gì cũng đều có lí cả. Vì khoa học đã chứng minh được sự phi lí của chính sách do họ đề xuất, họ liền tìm cách bác bỏ cả logic lẫn khoa học.

Việc chứng minh tính khả thi của chủ nghĩa xã hội cũng ở trong tình trạng tương tự như thế. Những người cầm bút trước Marx đã cố gắng tìm cách chứng minh, nhưng vô ích. Họ không thể làm được, cũng như họ không thể bác bỏ được những ý kiến phản đối đầy giá trị, dựa trên những phát hiện của khoa học, về tính khả thi của những điều không tưởng của họ. Tưởng như đến giữa thế kỉ XIX tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã hoàn toàn bị mất giá rồi. Nhưng Marx đã xuất hiện. Chắc chắn là Marx đã không chứng minh - điều không thể chứng minh được - rằng chủ nghĩa xã hội là khả thi, ông chỉ làm một việc đơn giản là tuyên bố rằng việc xuất hiện chủ nghĩa xã hội là tất yếu. Từ khẳng định tuỳ tiện đó và từ tiền đề - mà ông ta tưởng là hiển nhiên - cho rằng tất cả những gì xảy ra trong giai đoạn sau của lịch sử loài người đều tiến bộ hơn giai đoạn trước, Marx rút ra kết luận rằng chủ nghĩa xã hội sẽ hoàn hảo hơn chủ nghĩa tư bản và vì vậy là đương nhiên không thể nghi ngờ về tính khả thi của nó. Vì vậy mà bận tâm về tính khả thi của chủ nghĩa xã hội, thậm chí nghiên cứu các vấn đề của chế độ xã hội đó là thái độ thiếu khoa học. Tất cả những người muốn làm việc đó đều bị những người xã hội chủ nghĩa tẩy chay và bị dư luận xã hội, do những người xã hội chủ nghĩa kiểm soát, rút phép thông công. Mặc dù có những khó khăn như thề, nhưng kinh tế học đã nghiên cứu về mặt lí thuyết cơ cấu của hệ thống xã hội chủ nghĩa và chứng minh một cách rõ ràng rằng tất cả các kiểu chủ nghĩa xã hội đều bất khả thi vì không thể thực hiện được việc hạch toán kinh tế. Những người ủng hộ chủ nghĩa xã hội không dám trả lời vấn đề này, tất cả những điều họ đưa ra đều vô giá trị và chẳng có ý nghĩa gì. Điều đã được khoa học chứng minh về mặt lí thuyết lại được những thất bại của những cuộc thí nghiệm của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa can thiệp khẳng định trên thực tế.

Vì vậy mà lời khẳng định, như nhiều người thường nói, rằng bảo vệ chủ nghĩa tư bản là công việc của bọn tư sản và doanh nhân; lợi ích của họ mâu thuẫn với lợi ích của các nhóm khác nhưng lại được hệ thống tư bản chủ nghĩa khuyến khích, chỉ là những lời tuyên truyền loè bịp, nhắm vào sự nhẹ dạ của quần chúng mà thôi. Người “giàu” cũng không có nhiều lí do ủng hộ định chế sở hữu tư nhân hơn là người “nghèo”. Nếu quyền lợi đặc biệt, trực tiếp của họ bị đe doạ thì họ khó mà là người theo phái tự do được. Quan niệm cho rằng bảo vệ chủ nghĩa tư bản chi có lợi có cho các giai cấp hữu sản vì họ có thể giữ mãi tài sản của mình là do người ta đã không hiểu được bản chất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nơi mà sở hữu liên tục được chuyển từ tay người kém năng lực sang tay người có nhiều năng lực hơn. Trong xã hội tư bản, chỉ có thể giữ được tài sản của mình nếu ta thường xuyên giành lại được nó qua những vụ đầu tư thông minh. Người giàu, tức là người đã có tài sản, chẳng có lí do đặc biệt nào để muốn giữ mãi hệ thống cạnh tranh tự do mở rộng cửa cho tất cả mọi người, đặc biệt nếu đấy là tài sản thừa kế chứ không phải tự họ làm ra thì họ còn sợ chứ chẳng muốn gì cạnh tranh. Ngược lại, họ rất muốn chủ nghĩa can thiệp vì bao giờ nó cũng có xu hướng bảo tồn sự phân chia tài sản giữa những người đang nắm giữ số tài sản đó. Nhưng họ cũng không hi vọng được chủ nghĩa tự do ưu ái, trong hệ thống này người ta không quan tâm tới những yêu sách đã thuộc về quá khứ nhằm bảo vệ lợi ích cho những khối tài sản đã định hình.

Doanh nhân chỉ có thể phát đạt khi ông ta cung cấp cho người tiêu dùng những thứ họ cần. Khi thế giới hừng hực chuẩn bị chiến tranh, người theo phái tự do tìm cách giải thích cho mọi người lợi ích của hòa bình, còn doanh nhân thì sản xuất đại pháo và súng máy. Nếu dư luận xã hội hiện nay ủng hộ đầu tư vào nước Nga thì người theo phái tự do lại có thề tìm cách giải thích rằng đầu tư vào quốc gia, nơi chính phủ công khai tuyên bố rằng mục tiêu cuối cùng của nó là tước đoạt tất cả vốn tư bản thì có khác gì ném hàng hóa xuống biển. Nhưng doanh nhân vẫn không ngần ngại cung cấp hàng hóa cho nước Nga, với điều kiện là ông ta co thể chuyển rủi ro cho những người khác, đấy có thể là nhà nước mà cũng có thể là những nhà tư sản kém thông minh hơn, những người bị dư luận dẫn dắt, còn chính dư luận xã hội thì lại bị đồng tiền của Nga xỏ mũi. Người theo trường phái tự do đấu tranh chống lại xu hướng thương mại tự cấp tự túc. Nhưng nhà sản xuất người Đức lại xây nhà máy ở các tỉnh miền Đông, tức là những tỉnh không cho hàng hóa của Đức thâm nhập, nhằm phục vụ thị trường ở đây trong khi thị trường bị ảnh hưởng bởi thuế bảo hộ. Doanh nhân và các nhà tư sản có đầu óc sáng suốt có thể nhận thấy hậu quả tai hại của chính sách bài tự do đối với toàn xã hội, nhưng, như những doanh nhân và tư sản, họ không chống lại mà tìm cách thích nghi với hoàn cảnh.

Không có giai cấp nào có thể ủng hộ chủ nghĩa tự do nhằm bảo vệ những lợi ích ích kỉ, gây thiệt hại cho toàn thể xã hội và các tầng lớp khác chỉ vì một lí do đơn giản: chủ nghĩa tự do không phục vụ cho lợi ích đặc biệt nào. Chủ nghĩa tự do không thể hi vọng vào sự giúp đỡ mà người ta dành cho các đảng bài tự do vì những người muốn tìm đặc quyền đặc lợi đều gắn bó với những đảng đó rồi. Khi người theo phái tự do xuất hiện trước cử tri nhằm tranh chức vụ trong chính quyền và được hỏi rằng ông ta hay đảng của ông ta định làm gì cho họ và nhóm của họ thì ông ta chỉ có thể trả lời như sau: Chủ nghĩa tự do phục vụ tất cả mọi người, nhưng không phục vụ đặc quyền đặc lợi của bất cứ ai.

Là người theo trường phái tự do nghĩa là phải nhận thức được rằng về lâu dài đặc quyền đặc lợi dành cho một nhóm nhỏ, gây thiệt hại cho những người khác, nhất định sẽ dẫn đến tranh đấu (nội chiến); mặt khác, không thể ban phát đặc quyền đặc lợi cho đa số vì như thế giá trị của đặc quyền đặc lợi sẽ không còn, kết quả duy nhất mà người ta nhận được sẽ là: suy giảm năng suất lao động xã hội.

7. Tương lai của chủ nghĩa tự do

Tất cả các nền văn minh trước đây đều bị diệt vong hay ít nhất cũng lâm vào tình trạng trì trệ trước khi đạt đến mức độ phát triển về mặt vật chất mà nền văn minh châu Âu đương đại đã đạt được. Các dân tộc bị những cuộc chiến tranh với kẻ thù bên ngoài cũng như những cuộc xung đột nội bộ làm cho tan hoang.

Chế độ vô chính phủ đẩy lùi quá trình phân công lao động; các thành phố, nền thương mại và công nghiệp suy tàn; và cùng với sự tan rã của nền tảng kinh tế, sự tao nhã về mặt trí thức và đức hạnh phải nhường chỗ cho ngu dốt và bạo tàn. Người châu Âu hiện nay đã làm cho những mối liên kết xã hội giữa các cá nhân và các dân tộc trở mạnh mẽ chưa từng thấy trong suốt chiều dài của lịch sử. Đấy chính là thành tựu của hệ tư tưởng của chủ nghĩa tự do, từ cuối thế kỉ XVII chủ nghĩa này tiếp tục gây được ảnh hưởng đối với trái tim và khối óc của nhiều người. Chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tư bản đã đặt nền móng cho tất cả những điều kì diệu đặc trưng cho lối sống hiện nay của chúng ta.

Hiện nay nền văn minh của chúng ta đã bắt đầu phát ra mùi tử khí. Nhiều kẻ tay ngang tuyên bố ầm ĩ rằng tất cả các nền văn minh, trong đó có nền văn minh của chúng ta, đều phải sụp đổ: đấy là qui luật tất yếu. Giờ cáo chung của châu Âu đã điểm, những kẻ tiên tri của ngày phán xử cuối cùng cảnh báo như vậy, thế mà cũng có người tin. Tâm trạng chán nản bắt đầu hiện diện khắp nơi.

Nhưng nền văn minh của chúng ta sẽ không thể nào chết được, đấy là nói nếu nó không tự hủy hoại chính mình. Không có kẻ thù bên ngoài nào có thể phá hoại được nó như người Tây Ban Nha đã từng phá huỷ nền văn minh của người Aztec vì trên trái đất này không có kẻ nào có thể địch lại được với những người đại diện của nền văn minh đương đại. Chỉ có kẻ thù bên trong mới có thể đe doạ được nó. Nền văn minh hiện đại chỉ có thể bị huỷ diệt nếu tư tưởng bài tự do, thù địch với sự hợp tác xã hội, hất cẳng được những tư của chủ nghĩa tự do.

Càng ngày càng có nhiều người nhận thức được rằng sự tiến bộ về mặt vật chất chỉ có thể trở thành hiện thực trong xã hội tư bản-tự do. Ngay cả nếu điều này không được những người bài tự do không công nhận một cách trực tiếp thì họ lại công nhận nó một cách gián tiếp trong những bài tụng ca tán dương tư tưởng ổn định và trật tự. Họ bảo rằng sự thăng tiến về mặt vật chất của những thế hệ gần đây dĩ nhiên là rất tốt và rất có ích. Nhưng đây là lúc phải ngừng lại. Nhịp sống hối hả và cuồng nhiệt của chủ nghĩa tư bản đương đại phải nhường chỗ cho sự suy tư thâm trầm. Người ta phải có thời gian suy ngẫm, và như vậy là một hệ thống kinh tế mới, không chạy theo những sự cách tân và những món hàng mới một cách điên cuồng, phải thay thế cho chủ nghĩa tư bản. Người mơ mộng hoài vọng về những điều kiện kinh tế của thời Trung cổ - không phải hoài vọng về cái thời Trung cổ như nó vốn là mà hoài vọng về hình ảnh mà anh ta tự nghĩ ra, dù chẳng có liên quan gì với hiện thực lịch sử hết. Hoặc là quay sang phương Đông – dĩ nhiên là cũng không phải phương Đông thực mà chỉ là phương Đông trong giấc mơ của anh ta mà thôi. Thật là những người hạnh phúc vì lúc đó không có công nghệ và nền văn hoá hiện đại như bây giờ! Tại sao chúng ta lại có thể dễ dàng từ bỏ cái thiên đường đó như thế?

Những người kêu gọi quay về với những hình thức tổ chức kinh tế đơn giản cần nhớ rằng chỉ có hệ thống tổ chức kinh tế của chúng ta mới có điều kiện giữ được lối sống mà chúng ta cùng với rất nhiều người dân trái đất đã quen. Quay về với thời Trung cổ nghĩa là tiêu diệt hàng trăm triệu người. Đúng là những người muốn ổn định và trật tự có nói rằng không được đi quá xa đến như thế. Giữ gìn những thứ đã có và không tiến thêm nữa là đủ.

Những người ca tụng trật tự và ổn định quên mất một điều rằng trong con người – đấy là nói con người như một thực thể biết tư duy – đã có sẵn ước mơ cải thiện điều kiện vật chất của chính mình. Đấy chính là động cơ hoạt động của con người, không thể nào xóa bỏ được. Nếu con người không được hoạt động vì lợi ích của xã hội, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của chính mình thì anh ta chỉ còn có một con đường: áp bức và cướp đoạt một cách tàn bạo để làm cho mình giàu lên và làm cho những người khác nghèo đi.

Đúng là tất cả những căng thẳng và tranh đấu nhằm nâng cao mức sống không làm cho con người hạnh phúc hơn. Nhưng bản chất của con người là luôn luôn phấn đấu nhằm cải thiện điều kiện vật chất của mình. Nếu nguyện vọng này không được thỏa mãn thì anh ta sẽ trở thành một kẻ ngu dốt và vũ phu. Quần chúng sẽ chẳng thèm nghe những lời kêu gọi phải sống khiêm nhường và an phận. Những triết gia răn dạy như thế là những người tự lừa mình chăng? Nếu ta bảo với người dân rằng ông cha họ khổ hơn rất nhiều thì họ sẽ trả lời rằng vì sao họ lại không thể sống tốt hơn.

Như vậy là, dù xấu hay tốt, dù có được người kiểm duyệt về mặt đức hạnh cho phép hay là không, thì con người đã luôn luôn và sẽ mãi mãi phấn đấu nhằm cải thiện điều kiện sống của mình. Đấy là số phận của con người, không ai có thể thoát được. Sự hiếu động và bất an của con người hiện đại là do sự kích động của tâm trí, của hệ thần kinh và các giác quan mà ra. Khôi phục lại tình trạng trong trắng, ngây thơ của thời niên thiếu là việc bất khả thi, đưa người ta quay trở lại với tình trạng thụ động của thời quá khứ cũng là việc khó khăn không kém.

Nhưng từ bỏ sự tiến bộ về mặt vật chất thì người ta sẽ được gì? Hạnh phúc và an lạc, hòa bình và hòa hợp trong tâm hồn không thể hình thành một cách đơn giản chỉ vì người ta không còn phấn đấu nhằm đáp ứng một cách tốt hơn nhu cầu của mình nữa. Những người có học tưởng rằng nghèo túng và diệt dục sẽ tạo điều kiện đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển triển trí tuệ của con người. Nhưng đấy là điều hoàn toàn nhảm nhí. Khi thảo luận những vấn đề như thế này ta phải tránh các sáo ngữ và phải gọi đúng tên của sự vật. Tình trạng giàu có hiện nay được thể hiện trước hết ở sự sùng bái cơ thể con người: vệ sinh, sạch sẽ và thể thao. Hiện nay đấy vẫn còn là món xa xỉ phẩm của những người khá giả – không chỉ ở Mĩ, mà còn ở những nơi khác nữa – nhưng nó sẽ trở thành thông dụng với tất cả mọi người trong một tương lai không xa, nếu kinh tế vẫn phát triển với tốc độ hiện nay. Quần chúng không được hưởng thụ những thành quả của nền văn minh vật chất, như những người khá giả hiện nay, thì đời sống nội tâm của con người có thể phát triển được hay không? Một người nhếch nhác thì có thể hạnh phúc được không?

Chỉ có thể trả lời những người tán tụng thời Trung cổ rằng chúng ta không biết người thời đó có cảm thấy hạnh phúc hơn người thời nay hay không. Còn những người quảng bá lối sống của phương Đông thì chúng ta có thể hỏi rằng châu Á có đúng là thiên đường như họ nói hay không?

Tán dương một cách trơ trẽn nền kinh tế trì trệ, coi đấy là lí tưởng xã hội là luận cứ còn lại cuối cùng mà kẻ thù của chủ nghĩa tự do phải dựa vào nhằm biện hộ cho học thuyết của họ. Nhưng phải luôn luôn nhớ rằng xuất phát điểm của họ là lời kết án cho rằng chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tư bản cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất và phải chịu trách nhiệm trước sự nghèo đói của quần chúng. Kẻ thù của chủ nghĩa tự do nói rằng mục tiêu của họ là trật tự xã hội có khả năng tạo ra nhiều của cải hơn là chế độ mà họ đang công kích. Còn bây giờ, sau khi đã bị những cuộc phản kích của kinh tế học và xã hội học đẩy vào đến chân tường, họ buộc phải công nhận rằng chỉ có chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa tự do, chỉ có sở hữu tư nhân và các doanh nhân được hoạt động mà không bị gây khó dễ, mới có thể bảo đảm được năng suất lao động cao nhất.

Người ta thường nói rằng các đảng chính trị hiện nay bị chia rẽ bởi những mâu thuẫn căn bản trong quan điểm triết học của họ. Lí lẽ không thể giải quyết được những vấn đề như thế. Thảo luận những mâu thuẫn có tính đối kháng như thế chắc chắn là công việc vô ích. Mỗi bên sẽ vẫn giữ quan điểm của mình vì đấy là thế giới quan mà lí lẽ không thể nào lay chuyển được. Mục tiêu phấn đấu của mỗi người mỗi khác. Không thể có chuyện là những người phấn đấu cho những mục tiêu khác nhau đó lại chấp nhận một phương pháp hành động được.

Không có gì vô lí hơn là lời khẳng định như thế. Ngoại trừ một vài người kiên định với lối sống khổ hạnh, đấy là những người tìm cách từ bỏ tất cả những thứ phù phiếm của cuộc đời và cuối cùng, đạt đến trạng thái chẳng còn mong ước và cũng không cần hành động nữa, thực chất đấy chính là trạng thái tự phủ nhận chính mình, còn tất cả những người da trắng khác, dù có quan điểm khác nhau như thế nào về những vấn đề siêu nhiên, đều thích hệ thống xã hội có năng suất lao động cao hơn là hệ thống có năng suất lao động thấp hơn. Ngay cả những người tin rằng nhu cầu của con người ngày càng được đáp ứng một cách tích hơn không phải là việc hay và tốt nhất là hãy sản xuất ít đi – mặc dù khó tin là có nhiều người nghĩ như thế - cũng không muốn là thời gian làm việc vẫn thế nhưng hàng hóa lại ít hơn. Chắc chắn là họ muốn làm ít đi và kết quả là sản xuất ít đi, chứ không phải là muốn vẫn làm như thế nhưng sản xuất lại ít đi.

Mâu thuẫn đối kháng về mặt chính trị hiện nay không phải là cuộc luận chiến về những vấn đề triết học cơ bản mà là những đáp án khác nhau đối với câu hỏi: làm sao đạt được mục đích - mà ai cũng công nhận là hợp pháp – một cách nhanh nhất và ít tốn kém nhất? Mục đích mà mọi người đều hướng tới chính là đáp ứng các nhu cầu của con người một cách tốt nhất, đấy là thịnh vượng và giàu có. Dĩ nhiên đấy không phải là tất những điều mà người ta khao khát, nhưng đấy là tất cả những gì người ta có thể hi vọng giành được cùng với sự trợ giúp của những phương tiện bên ngoài và hợp tác xã hội. Còn sự thanh thản nội tâm – hạnh phúc, bình an, phấn khởi – thì mỗi người phải tự tìm lấy trong chính mình.

Chủ nghĩa tự do không phải là một tôn giáo, không phải là một thế giới quan, không phải là một đảng của những lợi ích đặc biệt. Chủ nghĩa tự do không phải là tôn giáo cho nên nó không đòi hỏi người ta phải tin hay là sùng bái vì nó không có gì bí mật và cũng không có một tín điều nào hết. Chủ nghĩa tự do không phải là thế giới quan vì nó không tìm cách giải thích vũ trụ, nó cũng không giải thích và không tìm cách giải thích ý nghĩa và muc đích của đời sống của con người. Chủ nghĩa tự do cũng không phải là đảng của những lợi ích đặc biệt vì nó không cung cấp và không tìm cách cung cấp bất kì lợi thế nào cho bất kì ai hay bất kì nhóm người nào. Hoàn toàn không phải như thế. Đấy là hệ tư tưởng, là học thuyết về quan hệ qua lại giữa những thành viên của xã hội và đồng thời, áp dụng học thuyết đó đối với hàng vi của con người trong xã hội cụ thể. Nó không hứa hẹn những điều vượt quá khả năng của xã hội và không cần đến xã hội. Chủ nghĩa tự do chỉ tìm cách cung cấp cho con người một thứ - đấy là gia tăng phúc lợi của mọi người diễn ra một cách hòa bình, không bị rối loạn, nhằm bảo vệ họ khỏi những khó nhọc và đau khổ đến từ bên ngoài, đấy cũng là nhiệm vụ của các định chế xã hội nữa. Tăng hạnh phúc và giảm khổ đau chính là mục đích của nó.

Không có giáo phái hay đảng chính trị nào có thể nghĩ rằng kêu gọi ý thức của người dân là để từ bỏ sự nghiệp của mình. Ngôn từ hoa mĩ, nhạc điệu và giọng ca, khẩu hiệu và cờ, hoa là những biểu tượng, còn các lãnh tụ thì tìm mọi cách làm cho đồ đệ gắn bó với bản thân mình. Chủ nghĩa tự do hoàn toàn không làm những việc như thế. Nó không có cờ đảng, không có đảng ca và không có thần tượng, không có biểu tượng và không có khẩu hiệu. Nó chỉ có thực chất và lí lẽ. Đấy là những điều sẽ dẫn nó đến thắng lợi.

Nguồn: http://mises.org/liberal.asp



Về tác giả

Advertisement

Post a Comment

 
Top