Pages

July 1, 2026

ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC (8)

 ĐỂ NÓ ĐI QUA – CON ĐƯỜNG CỦA PHÓ THÁC

 David Hawkins

Phạm Nguyên Trường dịch 

CHƯƠNG 7 

HAM MUỐN

     Cảm xúc này có thể dao động từ mong muốn nhẹ nhàng đến thèm khát có tính ám ảnh, mãnh liệt đối với một cái gì đó hoặc một người nào đó. Nó cũng được thể hiện bằng những hình thức như tham lam, ám ảnh, đói khát, đố kỵ, ghen tị, bám víu, tích trữ, tàn nhẫn, cố chấp, cuồng loạn, phóng đại, tham vọng quá mức, ích kỷ, dục vọng, chiếm hữu, kiểm soát, tô vẽ thành hào nhoáng, không bao giờ thỏa mãn và thủ đắc. “Không bao giờ hài lòng.” “Không bao giờ đủ.” “Phải có.” Bản chất cơ bản của cảm xúc này là sự thôi thúc của nó. Khi bị ham muốn chi phối, chúng ta không còn tự do nữa. Chúng ta bị nó kiểm soát, bị nó điều khiển, bị biến thành nô lệ và bị nó dắt mũi.

Một lần nữa, điểm mấu chốt của tự do là liệu chúng ta đã lựa chọn một cách có ý thức để thỏa mãn một mong muốn nhất định hay chỉ đang bị điều khiển một cách mù quáng bởi các chương trình và hệ thống niềm tin vô thức. 

Ham muốn như một trở ngại

Thường là thiếu hiểu biết về chức năng của mong muốn và ham muốn. Ảo tưởng chính được thể hiện trong câu: “Cách duy nhất để tôi có được điều mình muốn là phải khao khát nó; nếu tôi buông bỏ khao khát, thì tôi sẽ không có được cái mình muốn.” Thực tế, điều ngược lại mới đúng. Khao khát, đặc biệt là khao khát mãnh liệt (ví dụ, thèm muốn), thường cản trở, không cho chúng ta đạt được điều mình muốn.

Tại sao lại như thề? Thực ra, một cái gì đó đến với cuộc đời của chúng ta là vì chúng ta đã lựa chọn nó. Đó là kết quả của ý định của chúng ta, hoặc chúng ta đã đưa ra quyết định. Nó đến với cuộc đời của chúng ta mà không phụ thuộc vào khao khát. Khao khát thực sự là trở ngại cho việc đạt được hoặc có được nó. Đấy là do, khao khát theo nghĩa đen có nghĩa là “tôi không có”. Nói cách khác, nếu chúng ta nói rằng chúng ta khao khát cái gì đó, là chúng ta đang nói rằng nó không phải của chúng ta. Khi chúng ta nói rằng nó không phải của chúng ta, chúng ta tạo ra một khoảng cách tâm lý giữa mình và cái mình muốn. Khoảng cách này biến thành trở ngại làm tiêu hao năng lượng.

Điều không thể trở thành có thể ngay khi chúng ta hoàn toàn buông bỏ. Đấy là do khao khát cản trở việc nhận được nó và dẫn đến sợ hãi không có nó. Về bản chất, năng lượng của ham muốn là phủ nhận quan điểm nói rằng chỉ cần yêu cầu, thì tất cả những gì chúng ta muốn sẽ là của chúng ta.

Đây là một cách nhìn khác về việc đạt được mục tiêu so với cách nhìn mà chúng ta quen từ quá trình lập trình của thế gian. Chúng ta quen với việc hình dung tham vọng và thành công gắn liền với làm việc chăm chỉ và những phẩm chất của đạo đức Tin Lành cổ điển. Trong đó có hy sinh chính mình, khổ hạnh, nỗ lực và cố gắng hết sức, cắm đầu vào công việc, thắt chặt chi tiêu, nỗ lực hết mình và tất cả sự khắc nghiệt của công việc khó khăn. Khi nhìn vào bức tranh này, nghe có vẻ gian khổ, có phải thế không? Vâng, đúng thế. Nó liên quan đến đấu tranh, và đấu tranh xuất phát từ rào cản mà chúng ta tự đặt ra vì ham muốn.

Xin so sánh biện pháp của tâm thức thấp hơn, gian khổ hơn nhằm vươn tới mục tiêu với trạng thái tâm thức cao hơn, trong đó chúng ta đã nhận ra và buông bỏ ham muốn, và ở trong trạng thái tự do hơn. Trong trạng thái tự do hơn, cái được lựa chọn sẽ hiển lộ trong cuộc sống của chúng ta mà không cần nỗ lực. Chúng ta từ bỏ cảm xúc ham muốn và thay vào đó, chỉ đơn giản là chọn mục tiêu, hình dung nó bằng yêu thương, và cho phép nó xảy ra vì thấy rằng nó đã thuộc về chúng ta.

Vì sao nó đã là của chúng ta? Ở trạng thái tâm thức thấp hơn, vũ trụ được nhìn nhận là tiêu cực và phủ nhận, gây thất vọng và miễn cưỡng. Giống như những ông bố bà mẹ keo kiệt. Ở trạng thái tâm thức cao hơn, trải nghiệm của chúng ta về vũ trụ thay đổi. Giờ đây, nó giống như những ông bố bà mẹ cho đi, yêu thương, chấp thuận vô điều kiện, muốn chúng ta có mọi thứ mà mình muốn, và chỉ cần chúng ta yêu cầu thì nó là của chúng ta. Nó tạo ra bối cảnh khác. Nó mang lại cho vũ trụ một ý nghĩa khác.

Mặc dù thế giới có thể keo kiệt và thù địch với những người khác, nhưng không có lý do gì để chúng ta chấp nhận hệ hình này. Khi chúng ta chấp nhận nó, chúng ta tạo ra điều đó trong đời sống của chính mình. Khi chúng ta trải nghiệm buông bỏ ham muốn, chúng ta bắt đầu thấy rằng những gì chúng ta đã chọn sẽ tới với cuộc đời của chúng ta gần như là thần kỳ. “Những thứ chúng ta lưu giữ trong tâm trí có xu hướng hiển lộ.” Như đã nói trước đó, trong thời kỳ được cho là tỷ lệ thất nghiệp cao, một số người không chỉ có việc làm mà còn có hai hoặc ba việc làm cùng một lúc.

Đây là một cách nhìn thế giới hoàn toàn mới mẻ và gây sốc khi lần đầu tiên người ta tiếp xúc với nó. Người ta hy vọng rằng đó là sự thật, nhưng lại hoài nghi: “Trên phương diện thực tế, nó đơn giản là không thể.” Nền tảng “đạo đức Tin Lành” nghiêm ngặt khiến việc tin tưởng trở thành khó khăn; tuy nhiên, vẫn có thái độ sẵn sàng cởi mở để thử. Đây là trải nghiệm ban đầu về việc buông bỏ ham muốn.

Các mục tiêu cá nhân được viết ra giấy, sau đó là buông bỏ ham muốn đối với chúng. Nghe có vẻ ngược đời, nhưng đó là quá trình: xác định các mục tiêu và sau đó buông bỏ mong muốn giành được những mục tiêu này. Một mục tiêu đã được giữ trong tâm trí nhiều năm là một căn hộ ở thành phố New York, vì công việc đòi hỏi phải đi lại nhiều và tốn nhiều tiền trả cho khách sạn. Một căn hộ nhỏ trong thành phố sẽ là giải pháp kinh tế. “Căn hộ ở thành phố New York” được viết ra như một mục tiêu. Khi sử dụng phương pháp đạt mục tiêu này, chúng ta viết ra tất cả các chi tiết, mặc dù về mặt lý trí, chúng dường như bất khả thi. Vì vậy, căn hộ lý tưởng được mô tả chi tiết: giá cả hợp lý, trên Đại lộ Số 5, khu nhà số 70, ngay cạnh lối vào Công viên Trung tâm, ít nhất tám hoặc chín tầng, ở phía sau để bớt tiếng ồn, và chỉ khoảng hai phòng rưỡi thôi.

Trong giờ làm việc ngày hôm sau, công việc bận rộn như mọi khi, nhiều việc lớn, rồi họp và thăm khám bệnh nhân. Giữa các cuộc họp và bệnh nhân, cảm giác khao khát căn hộ được thừa nhận rồi lại được buông bỏ. Và, khi hết ngày, căn hộ thực sự đã bị lãng quên. Vào lúc 4:30 chiều, sau khi thăm khám bệnh nhân cuối cùng, đột nhiên tôi muốn lái xe vào thành phố. Mặc dù rõ ràng là giờ cao điểm, đường xá thông thoáng và chỉ mất nửa tiếng lái xe. Chiếc xe chạy đến khoảng ngã tư Đường 73 và Lexington. Rồi dừng lại trước văn phòng bất động sản gần nhất. Thật kỳ diệu, lại có một chỗ đậu xe trống ngay trước văn phòng bất động sản. Nhân viên bất động sản, khi nghe thấy lời tuyên bố hài hước rằng muốn tìm một căn hộ trên Đại lộ Số 5, đã nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên và nói: “Ồ, anh thật may mắn! Đúng một tiếng trước, chúng tôi đã đăng tin cho thuê căn hộ duy nhất trên Đại lộ Số 5, đường 76, trên tầng 9. Đó là căn hộ phía sau, hai phòng rưỡi, và tiền thuê nhà khá hợp lý (giá thuê được kiểm soát ở mức 500 đôla một tháng). Căn hộ vừa được sơn sửa lại và anh có thể chuyển vào bất cứ lúc nào.” Vì vậy, chúng tôi đi bộ đến xem căn hộ. Nó hoàn toàn phù hợp với mục tiêu đã đề ra. Hợp đồng thuê nhà được ký ngay lập tức! Như vậy, chỉ trong vòng 24 giờ sau khi thử kỹ thuật buông bỏ đối với một mục tiêu cá nhân cụ thể, mục tiêu đó đã trở thành hiện thực. Gần như không thể tìm được căn hộ như thế, vậy mà nó đã xảy ra đúng như tưởng tượng, dễ dàng và không hề có cảm xúc tiêu cực. Đó là trải nghiệm dễ dàng và vui vẻ.

Đây không phải là trải nghiệm bất thường mà là trải nghiệm điển hình, vì trong trường hợp này, mong muốn ở mức độ vừa phải và có thể, không cần nhiều nỗ lực, đã hoàn toàn được từ bỏ. Việc hoàn toàn từ bỏ có nghĩa là chấp nhận việc mua được căn hộ, và chấp nhận được việc không mua được. Chính vì đã hoàn toàn từ bỏ, điều không thể đã trở thành có thể, tự hiển lộ một cách dễ dàng và nhanh chóng.

Tất cả chúng ta đều có thể nghi ngờ cơ chế này và nhìn lại những điều mình từng mong muốn và đạt được thông qua tham vọng, khát khao, thèm muốn, và thậm chí là khao khát mang tính ám ảnh, điên cuồng. Tâm trí tự hỏi: “Vậy nếu mình buông bỏ mong muốn những thứ đó thì sao? Nếu không có mong muốn, làm sao mình có thể có được chúng?” Sự thật là, chúng ta vẫn có thể có được chúng, chỉ là không lo lắng (sợ không đạt được), không tốn nhiều năng lượng, không cần nỗ lực, không cần thử và sai, và không cần làm việc vất vả.

“Vậy thì!” Tâm trí nói rằng, “nếu ta đạt được nó một cách dễ dàng, thì tự hào về thành tựu nằm ở đâu? Chẳng phải ta sẽ phải hy sinh cái đó hay sao?” Vâng, ta sẽ phải từ bỏ sự phù phiếm của tất cả những hy sinh và nỗ lực mà ta đã bỏ ra. Ta sẽ phải từ bỏ thái độ ủy mị về hy sinh và tất cả những đau đớn, khổ sở mà ta đã trải qua để đạt được mục tiêu. Đây là sự lệch lạc kỳ lạ trong xã hội chúng ta, phải thế không? Nếu ta đột nhiên thành công gần như không cần nỗ lực, thì mọi người sẽ ghen tị. Điều đó thực sự làm họ khó chịu vì ta không phải trải qua đủ loại đau khổ, thống khổ để đạt được điều đó. Tâm trí họ tin rằng thống khổ như thế là cái giá phải trả để thành công.

Xin xem xét niềm tin này. Nếu không phải vì lập trình tiêu cực làm cho ta tin ngược lại, tại sao ta lại phải chịu đau đớn và khổ sở để đạt được bất cứ điều gì trong cuộc đời? Chẳng phải đó là quan điểm khá tàn nhẫn về thế giới và vũ trụ hay sao?

Những rào cản khác đối với việc đạt được mong muốn và khao khát của chúng ta, tất nhiên, trong vô thức, là mặc cảm tội lỗi và nhỏ bé. Kỳ lạ là, vô thức chỉ cho phép chúng ta có được những gì chúng ta nghĩ là mình xứng đáng. Càng bám chặt vào những thứ tiêu cực và hình ảnh thấp kém về bản thân do chúng tạo ra, chúng ta càng thấy mình ít xứng đáng hơn; và một cách vô thức, ta tự khước từ sự sung túc vốn đang tuôn chảy một cách dễ dàng tới những người khác. Đó là lý do để người ta nói: “Người nghèo càng nghèo, người giàu càng giàu”. Nếu chúng ta có cái nhìn nhỏ hẹp về chính mình, thì cái chúng ta xứng đáng nhận được là nghèo khó, và vô thức sẽ đảm bảo rằng chúng ta có thực tại đó. Khi chúng ta từ bỏ sự nhỏ bé và tái khẳng định sự ngây thơ bên trong chính mình, và khi chúng ta buông bỏ chống lại hào phóng, cởi mở, lòng tin, yêu thương và đức tin của mình, thì vô thức sẽ tự động bắt đầu sắp xếp các hoàn cảnh sống để sung túc bắt đầu chảy vào cuộc đời của chúng ta. 

Có—Làm—Hiện hữu

Khi chúng ta đưa chính mình ra khỏi những trạng thái tâm thức thấp hơn như thờ ơ và sợ hãi, là chúng ta bước vào trạng thái mong muốn. Cái trước đây là “Tôi không thể” và bất khả thi thì giờ đây trở thành khả thi. Tiến triển chung của các tầng tâm thức, khi chúng ta đi từ thấp nhất đến cao nhất, là chuyển từ “có” sang “làm” rồi sang “hiện hữu”. Ở các tầng tâm thức thấp hơn, quan trọng là những gì chúng ta có. Cái chúng ta có là cái chúng ta muốn. Chúng ta có những gì chúng ta đánh giá cao. Cái chúng ta có tạo nên hình ảnh của mình về giá trị và vị trí của chúng ta trên thế gian này.

Một khi chúng ta đã chứng minh được với chính mình rằng chúng ta có thể có, các nhu cầu cơ bản của chúng ta có thể được đáp ứng, chúng ta có khả năng đáp ứng nhu cầu của chính mình và của những người phụ thuộc vào chúng ta, tâm trí bắt đầu quan tâm hơn đến những việc chúng ta làm. Sau đó, chúng ta chuyển sang một bối cảnh xã hội khác, trong đó những việc chúng ta làm trên thế gian là cơ sở cho giá trị của chúng ta và cách người khác đánh giá chúng ta. Khi tình yêu thương của chúng ta ngày càng sâu sắc hơn, hành động của chúng ta càng ít tập trung vào việc phục vụ chính mình và càng hướng đến việc phụng sự tha nhân. Khi tâm thức của chúng ta phát triển, chúng ta nhận thấy rằng phụng sự, vốn hướng đến người khác bằng tình yêu thương, tự động dẫn đến việc đáp ứng các nhu cầu của chính chúng ta. (Điều này không có nghĩa là hy sinh. Phụng sự không phải là hy sinh.) Cuối cùng, chúng ta tin chắc rằng nhu cầu của mình được vũ trụ tự động đáp ứng, và hành động của chúng ta gần như tự động trở thành yêu thương.

Tại thời điểm đó, quan trọng không còn là những việc chúng ta làm trên thế gian mà là con người mà chúng ta đang là. Chúng ta đã chứng minh cho chính mình rằng chúng ta có thể có được những gì mình cần, và nếu sẵn sàng, chúng ta có thể làm được hầu hết mọi thứ. Và giờ đây, con người chúng ta, cả bên trong và đối với người khác, trở thành quan trọng nhất. Mọi người giờ đây muồn làm bạn với chúng ta, không phải vì của cải chúng ta có, không phải vì những việc chúng ta làm và những nhãn mác của xã hội, mà vì con người mà chúng ta đã trở thành. Vì chất lượng của sự hiện diện của chúng ta, mọi người chỉ muốn ở bên cạnh chúng ta và trải nghiệm chúng ta. Mô tả xã hội của chúng ta thay đổi. Chúng ta không còn là người sở hữu căn hộ thời thượng, xe hơi sang hay bộ sưu tập đồ lặt vặt, cũng không còn được gắn mác là Chủ tịch của Tập đoàn X hay thành viên Hội đồng quản trị của một tổ chức nào đó. Giờ đây, chúng ta được mô tả là một người tuyệt vời, một người mà mọi người nhất định phải gặp, nhất định phải biết. Chúng ta trở thành một người có sức cuốn hút.

Tầng hiện hữu này là đặc trưng của các nhóm tự giúp nhau. Trong các nhóm tự giúp nhau, không ai quan tâm đến những việc người khác làm trên thế gian hay những của cải mà họ có. Họ chỉ quan tâm đến việc chúng ta có đạt được những mục tiêu nội tâm nhất định hay không, chẳng hạn như trung thực, cởi mở, chia sẻ, yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ, khiêm nhường, chân thành và tỉnh thức. Họ quan tâm đến phẩm chất của sự hiện hữu của chúng ta. 

Hào nhoáng

Hào nhoáng là chủ đề rất hữu ích, cần tìm hiểu. Khi hiểu được nó, chúng ta sẽ dễ dàng buông bỏ ham muốn. Cuốn sách nhan đề Glamour: A World Problem (Hào nhoáng: Vấn đề của thế giới - 1950) của Alice Bailey trình bày toàn bộ chủ đề này theo lối chuyên nghiệp.

Nếu nhìn vào cái mà chúng ta muốn, chúng ta có thể bắt đầu phân biệt giữa chính vật đó với hào quang, hình thức bên ngoài, sự lấp lánh và sức hấp dẫn của một phẩm chất mà có thể được mô tả một cách tốt nhất là “hào nhoáng”. Chính sự khác biệt giữa bản chất của vật đó và vẻ háo nhoáng mà chúng ta gán cho nó dẫn đến vỡ mộng. Thường thì chúng ta theo đuổi một mục tiêu nào đó, và rồi khi đạt được nó, chúng ta lại cảm thấy thất vọng. Đấy là do tự thân vật đó không trùng khớp với hình ảnh mà chúng ta tưởng tượng về nó. Hào nhoáng có nghĩa là chúng ta đã gán ghép sự ủy mị vào đó, hoặc chúng ta đã thổi phồng nó lên hơn là thực tế. Chúng ta đã phóng chiếu lên cái đó phẩm chất kỳ diệu nào đó, bằng cách nào đó khiến chúng ta tin rằng, một khi có được nó, chúng ta sẽ đạt được trạng thái hạnh phúc và thỏa mãn cao hơn.

Nó rất thường xảy ra với các mục tiêu nghề nghiệp. Người đàn ông làm việc hết năm này qua năm khác, phấn đấu để trở thành chủ tịch công ty hoặc trở thành người quan trọng và nổi bật theo một cách nào đó. Khi đạt được điều đó, anh ta kỳ vọng sẽ trải nghiệm tất cả sự hài lòng và hào nhoáng gắn liền với thành tựu: được các nhân viên nịnh bợ, có những chiếc xe sang, văn phòng nổi bật, nhãn hiệu, danh hiệu và những địa chỉ độc quyền. Nhưng cái mà anh ta nhận ra là tất cả những thứ này đều chỉ là vẻ ngoài. Chúng không bù đắp được năng lượng bị hao mòn một cách đau đớn và công việc vất vả hàng ngày mà vị trí đó đòi hỏi. Trong khi anh ta hình dung mình sẽ được ngưỡng mộ, thì điều anh ta thường thấy ở cấp bậc cao nhất lại là độc ác, cạnh tranh, đố kỵ và nịnh hót không bao giờ dứt cùng với những thủ đoạn bất lương mà những người có quyền thường sử dụng, trong đó có cả những cuộc tấn công đầy hoang tưởng của các đối thủ cạnh tranh. Anh ta nhận thấy sức lực của mình bị vắt cạn đến mức không còn năng lượng cho đời sống cá nhân; các mối quan hệ bị tổn hại. Vợ anh ta phàn nàn rằng anh ta suy kiệt đến mức không còn sức để làm tình, không còn năng lượng để đáp ứng nhu cầu của cô ấy, không còn sức để làm một người cha tốt, và thậm chí quá mệt mỏi, không còn sức để tận hưởng những hoạt động giải trí mà anh ta yêu thích.

Cũng có thể nói như thế về người phụ nữ có thành tích trong những lĩnh vực truyền thống được coi là nữ tính. Ví dụ, một người phụ nữ nghĩ rằng nếu cô ta mua một chiếc váy hàng hiệu nào đó để đi dự tiệc, chiếc váy đó được mọi người chú ý, tán dương và ngưỡng mộ, và sẽ giúp cô ta vươn tới địa vị xã hội nhất định. Cô ta bỏ ra khá nhiều tiền và công sức cho chiếc váy, chạy đi chạy lại để thử đồ. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Ngay trong bữa tiệc tối, chỉ có một vài lời bình luận thoáng qua về chiếc váy của cô ta và thế là hết. Không ai khiêu vũ với cô ta nhiều hơn bình thường. Cô ta không nổi bật hơn so với trước bữa tiệc. Không có sự chú ý chân thành nào dành cho cô ta hơn trước đây. Cô ta nhận được một số ánh nhìn thù địch, ghen tị từ những người phụ nữ đoán được số tiền mà cô ta có thể đã bỏ ra để mua chiếc váy. Buổi tối đó, như thường lệ, cô ấy lại cãi nhau với chồng, và cũng như trước đây họ về nhà trên xe mà hầu như không ai nói chuyện với ai,.

Khi phụ nữ đạt được những tiến bộ trong lĩnh vực doanh nghiệp và chính trị, họ phải đối mặt với thất vọng song hành với vai trò người lãnh đạo mà người đó có sức quyến rũ trước công chúng mà người đó hằng khao khát. Cái tưởng là sẽ nâng cao uy tín và kính trọng lại tạo ra những lời chỉ trích, ghen tị và thù địch—thậm chí từ những người phụ nữ khác. Trải nghiệm của việc đạt được mục tiêu thường không như họ nghĩ. Lúc nào cũng có những phán xét về hình ảnh và trang phục, và bà ta có thể có cảm giác lo lắng rằng mình đã làm cho gia đình thất vọng khi theo đuổi sự nghiệp. “Chiến thắng” đôi khi không làm cho người ta tự do như vẻ hào nhoáng bề ngoài mà chúng muốn ta tin.

Những mục tiêu cảm xúc cũng có sức quyến rũ bởi sự ủy mị và tình cảm. Một sự phấn khích nhất định được phóng chiếu lên sự kiện mang tính cảm xúc (ví dụ, một cuộc hội ngộ, một buổi hẹn hò đầu tiên, hoặc được bầu làm lớp trưởng). Nó được làm cho dường như là quan trọng hơn thực tế. Sau khi sự kiện qua đi, cuộc sống vẫn tiếp diễn như cũ và người ta lại cảm thấy thất vọng.

Tất nhiên, hào nhoáng thể hiện rất rõ trong quảng cáo. Ở đây chúng ta thấy nó một cách độc nhất vô nhị. Hình ảnh chàng cao bồi là tô điểm hào nhoáng cho nam tính, và hình ảnh vũ công ba lê tô điểm hào nhoáng cho nữ tính. Đàn ông bị thu hút bởi cá tính, chứ không phải thương hiệu; do đó, chàng cao bồi đại diện cho hình ảnh người đàn ông được tô điểm hào nhoáng, mạnh mẽ, ngầu, lịch lãm và tự chủ. Người tiêu dùng gán cho sản phẩm kỳ vọng rằng nó sẽ mang lại cho họ những đặc điểm tính cách mà họ mong muốn.

Tô điểm hào nhoáng là sống trên tầng tưởng tượng. Vì vậy, khi chúng ta từ bỏ một ham muốn, chúng ta phải phân tích kỹ những gì là sự phóng đại, tưởng tượng và lãng mạn hóa. Một khi đã từ bỏ hào nhoáng, việc từ bỏ chính ham muốn đó sẽ tương đối dễ dàng hơn. Ví dụ, nếu bạn từ bỏ sự lãng mạn hóa hình ảnh chàng cao bồi, thì điếu thuốc lá hay chiếc bánh mì kẹp thịt mà anh ta cầm trong quảng cáo sẽ không còn hấp dẫn nữa. Thực tế, điều làm cho chúng ta ngạc nhiên là, hết lần này đến lần khác, chúng ta nhận ra rằng ham muốn đó gắn liền với tưởng tượng hào nhoáng; ngay từ đầu nó không có thực tại. Bởi vì nó không có thực tại, thế giới liên tục bán cho chúng ta dối trá, chiều theo ham muốn của chúng ta về khía cạnh lãng mạn, hào nhoáng đó. Nó hứa hẹn làm chúng ta thành người quan trọng hơn là con người mà chúng ta đang là. Hào nhoáng đến mức thiếu trung thực như thế là hàng giả.

Tâm trí phản đối: “Tôi có phải từ bỏ tất cả sự phấn khích có tính hào nhoáng đó hay không? Tôi có phải buông bỏ những hình ảnh về sự thỏa mãn mang tính cảm xúc và sự phấn khích của mình hay không?” Câu trả lời rõ ràng là “Không”. Chúng ta không cần phải hoàn toàn từ bỏ những thứ đó. Khi chúng ta nhận thức được những gì mình đang lựa chọn thì chúng ta có thể đạt được mục tiêu một cách dễ dàng và không tốn nhiều công sức. Chúng ta có thể có được những thứ đó một cách trực tiếp. Chúng ta có thể trở thành người hấp dẫn, nhưng chúng ta sẽ không đạt được điều đó bằng cách giả tạo, ví dụ như lái một kiểu xe nhất định. Chúng ta sẽ đạt được điều đó bằng cách buông bỏ sự nhỏ bé của mình và sở hữu sự vĩ đại của chính mình, và phản chiếu nó ra thế giới. Chúng ta hoàn toàn có thể trở thành người thú vị mà mọi người háo hức muốn biết. Chỉ cần chọn trở thành người đó và buông bỏ rào cản của việc mong muốn trở thành người đó. Chúng ta có thể có được những gì mình muốn trực tiếp mà không cần phải đi đường vòng qua những lời hứa hão huyền, sẽ làm cho chúng ta thất vọng và chán nản.

Trở thành người thú vị mà mọi người muốn biết là công việc dễ dàng. Chỉ cần hình dung ra kiểu người mà mình muốn trở thành và buông bỏ tất cả những cảm xúc tiêu cực và rào cản ngăn cản chúng ta trở thành người như thế. Sau đó, tất cả những gì chúng ta cần có và cần làm sẽ tự động được sắp xếp vào đúng vị trí. Đấy là do, khác với có và làm, tầng hiện hữu có sức mạnh và năng lượng cao nhất. Khi được ưu tiên, nó sẽ tự động tích hợp và tổ chức các hoạt động của người đó. Cơ chế này được chứng minh bằng kinh nghiệm phổ biến, “Những gì chúng ta lưu giữ trong tâm trí có xu hướng tự hiển lộ.” 

Sức mạnh của quyết định nội tâm

Đây không phải là những quan điểm triết học mà là những quy trình thực tiễn có thể được chứng minh bằng trải nghiệm. Dễ dàng thử nghiệm với những khái niệm này và quan sát kết quả tự động diễn ra. Bởi vì xu hướng của tâm trí là quy công trạng cho cái gì đó/người nào đó, chứ không gán công trạng cho sức mạnh của chính tâm thức của chúng ta, cho nên ghi nhật ký để viết ra những mục tiêu mà chúng ta thực sự muốn đạt được, sau đó kiểm tra và ghi lại là rất hữu ích. Vì sao? Vì sẽ mất một thời gian trước khi chúng ta tin rằng đó thực sự là sức mạnh của chính chúng ta đang giúp chúng ta đạt được những mục tiêu đó.

Đây là một ví dụ thú vị về phủ nhận sức mạnh nên trong. Một người đàn ông đang rất cần việc làm và khá lo lắng về sự kiện này, ông ta được hướng dẫn cách áp dụng kỹ thuật buông bỏ. Vì là người có đức tin, ông ta được khuyên nên quên sự kiện là mình đang tìm việc làm, và giao phó nó cho Thiên Chúa, và từ bỏ mong muốn của mình về vấn đề này trong khi vẫn cởi mở với những gì có thể xảy ra. Một tuần sau, ông ta kể lại: “Vâng, ngày hôm sau khi tôi từ bỏ mong muốn có việc làm, chẳng có gì xảy ra cả. Rồi tôi nhận được điện thoại đường dài của anh rể, và tôi làm cho công ty của anh ấy. Nếu không có anh rể, tôi sẽ chẳng bao giờ tìm được được việc làm. Thật may là tôi đã không chờ đợi Thiên Chúa!”

Đây là một ví dụ điển hình về xu hướng của tâm trí. Tất nhiên, chính vì anh ta đã buông bỏ cho nên anh rể mới gọi cho anh ta. Anh ta khao khát công việc đến mức chính mong muốn đó đã cản trở việc hoàn thành mục tiêu. Khi anh ta buông bỏ mong muốn có việc làm, công việc xuất hiện ngay trong vòng 24 giờ. Nhưng khuynh hướng của tâm trí là chối bỏ sức mạnh của chính mình và phóng chiếu nó ra thế giới bên ngoài. Đó là lý do vì sao người ta tự đánh giá mình là bất lực. Họ có sức mạnh đích thực, nhưng họ chỉ đơn thuần là phóng chiếu nó lên các thế lực bên ngoài. Chúng ta đều là những thực thể đầy sức mạnh, nhưng lại không ý thức được sức mạnh của chính mình; chúng ta phủ nhận và vì mặc cảm tội lỗi và cảm giác rằng mình là con người nhỏ bé chúng ta đổ lỗi cho người khác.

Phần lớn những sự kiện xảy ra trong cuộc đời chúng ta là kết quả của một số quyết định mà chúng ta đã đưa ra trong quá khứ, dù là có ý thức hay vô thức. Vì vậy, đơn giản là nhìn lại những quyết định trong quá khứ của chúng ta bằng cách nhìn vào cuộc đời mình và truy ngược lại.

Nguyên tắc này được minh họa bởi một người phụ nữ đến tìm kiếm liệu pháp tâm lý. Cô ta cần điều trị vì, theo lời cô ta: “Các mối quan hệ của tôi không bao giờ thành công.” Cô ấy trải qua hết mối tình không thỏa mãn này đến mối tình không thỏa mãn khác và luôn cảm thấy bị lợi dụng và ngược đãi. Lòng đầy oán hận, than thân trách phận và trầm cảm. Vấn đề, tất nhiên, đã được nêu rõ trong câu mở đầu của cô ấy: “Các mối quan hệ của tôi không bao giờ được như ý.”

Vì chúng ta phủ nhận sức mạnh đích thức của chính tâm trí mình, chúng ta không nhìn thấy điều hiển nhiên. Thật kỳ lạ là chúng ta lại trở thành người không tỉnh giác đền như thế. Đây là người phụ nữ có câu trả lời ngay trước mắt, nhưng cô ấy không nhận ra đó chính là câu trả lời. Cô ấy thực sự không thấy được sức mạnh của hệ thống niềm tin của chính mình. Tâm trí của chúng ta mạnh mẽ đến nỗi, nếu chúng ta lưu giữ trong tâm trí một suy nghĩ duy nhất, ví dụ như: “Các mối quan hệ của tôi không bao giờ được như ý,” thì điều đó rất có thể sẽ xảy ra trong cuộc đời chúng ta. “Thần đèn” vô thức của chúng ta, nó chỉ có thể nhận lệnh chứ không thể đưa ra quyết định, đảm bảo rằng các mối quan hệ của chúng ta sẽ không được như ý.

Tất nhiên, cô ấy đã nhận được rất nhiều phần thưởng từ lịch sử tình ái đáng thất vọng của mình. Cô ấy được trải nghiệm thái độ than thân trách phận, oán hận, ghen tị, đố kỵ và tất cả những sự thỏa mãn mà cái tôi nhỏ bé luôn luôn không ngừng nuôi dưỡng. Nếu chúng ta nhìn vào phần nhỏ bé của chính mình, chúng ta sẽ thấy rằng đây là những thứ mà nó thích đắm chìm vào. Tự ngã nhỏ bé rất hả hê trước cuộc đời khốn nạn, vận rủi, những trải nghiệm tồi tệ và người khác đã đối xử tệ bạc với chúng ta. Nhưng chúng ta phải trả giá rất đắt khi nghe theo những chương trình này.

Hệ quả tất yếu là đúng. Nếu tâm trí của chúng ta, bằng quyết định của nó, có quyền tạo ra những thứ tiêu cực trong cuộc đời, thì nó cũng có quyền lực tương đương như thế theo hướng ngược lại - tích cực. Chúng ta có thể lựa chọn lại từ đầu. Lần này chúng ta có thể chọn cái tích cực. Chúng ta có thể hủy bỏ những chương trình cũ, và chúng ta có thể làm điều đó bằng cách bắt đầu từ bỏ sự thỏa mãn mà chúng ta nhận được từ những kết quả tiêu cực.

Giờ đây, sau khi đã xem xét vấn đề này, chúng ta có thể có thuật ngữ mô tả chính xác nhất tập hợp những cảm xúc vừa nói: “ích kỷ”. Chỉ cần sử dụng từ này thì cũng đã ngay lập tức tạo ra phản kháng, đấy là do mặc cảm tội lỗi mà ra. Tất cả chúng ta đều có mặc cảm tội lỗi vì sự ích kỷ của mình. Điều này đẩy chúng ta vào thế tiến thoái lưỡng nan: để làm được những việc thế giới đã dạy, ta phải trở thành người ích kỷ — chính là cái mà sau đó thế giới lại dùng để chỉ trích ta. Trước khi xem xét chủ đề này, xin thống nhất một điều: chúng ta sẽ không tự hành hạ mình hay sa đà vào sự ủy mị của mặc cảm tội lỗi. Suy cho cùng, mặc cảm tội lỗi thực chất là một kiểu nuông chiều bản thân quá mức, có phải vậy không?

Thay vào đó, xin coi thuật ngữ “ích kỷ” chỉ đơn thuần là mô tả những động cơ và phương thức hoạt động mang tính tập thể của tự ngã nhỏ bé, một khía cạnh di truyền của tâm trí mà do sự ngây thơ của chính mình, chúng ta đã cho phép chính mình bị lập trình như thế, và giờ đây chúng ta quyết tâm quay ngược chương trình, giống như lệnh “gỡ cài đặt” trên máy tính.

Lý do để từ bỏ tính ích kỷ không phải vì mặc cảm tội lỗi. Không phải vì nó là “tội”. Không phải vì nó “sai”. Tất cả những động cơ đó đều xuất phát từ tâm thức thấp hơn và tự phán xét. Thay vào đó, lý do để buông bỏ tính ích kỷ đơn giản là vì nó là phương thức vận hành kém hiệu quả. Không hiệu quả. Quá tốn kém. Tiêu tốn quá nhiều năng lượng. Trì hoãn việc hoàn thành mục tiêu và hiện thực hóa mong muốn của chúng ta. Do bản chất của nó, tự ngã nhỏ bé là kẻ tạo ra mặc cảm tội lỗi và tự duy trì nó; nghĩa là, vì mặc cảm tội lỗi mà chúng ta cố gắng hoàn thành và đạt được thành công. Rồi khi có được thành công, chúng ta lại có mặc cảm tội lỗi vì mình đã thành công. Không có cách nào thắng được trò chơi mặc cảm tội lỗi. Giải pháp duy nhất là từ bỏ nó, buông bỏ nó.

Tâm trí muốn chúng ta nghĩ rằng mặc cảm tội lỗi là đáng khen ngợi, và những kẻ gieo rắc mặc cảm tội lỗi trên thế giới thích tôn thờ nó. Cái gì quan trọng hơn: có mặc cảm tội lỗi hay thay đổi để trở thành người tốt hơn? Nếu người nào đó nợ chúng ta tiền, chúng ta muốn họ có mặc cảm tội lỗi hay muốn họ trả tiền cho chúng ta? Nếu chúng ta có ý định có mặc cảm tội lỗi, ít nhất chúng ta nên chủ động lựa chọn thái độ đó thay vì bị nó chi phối một cách vô thức.

Khi vượt qua được thói ích kỷ tầm thường để hướng tới Đại Ngã với chữ S viết hoa, ta cũng đồng thời dịch chuyển từ tự ngã nhỏ bé sang Đại ngã Lớn hơn. Đó là hành trình đi từ yếu kém đến sức mạnh đích thực, từ tự căm ghét chính mình và tự ti sang yêu thương và hài hòa. Chúng ta chuyển từ xung đột sang dễ chịu, từ thất vọng sang thành tựu.

Tóm lại, thay vì vận hành bằng động cơ ích kỷ và ham muốn, chúng ta có thể đưa những điều mình mong muốn vào cuộc đời một cách nhẹ nhàng hơn: hình dung về kết quả mà mình mong muốn. Chúng ta làm việc này bằng cách tuyên bố ý định, chấp nhận, quyết định và bằng hành động lựa chọn một cách có ý thức.


No comments:

Post a Comment