BẢN ĐỒ TÂM THỨC GIẢNG GIẢI
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Chương 8
40 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐẠO SƯ VÀ GIÁO LÝ
2. Bao gồm tất cả: Sự thật
bao gồm tất cả, không có bí mật và không thuộc về giáo phái nào.
3. Có sẵn: Dành cho tất cả
mọi người, không độc quyền. Không có bí mật nào cần phải tiết lộ, che giấu hoặc
bán, và không có công thức ma thuật hay “bí ẩn” nào.
4. Mục đích chính trực:
Không có gì để được hay mất.
5. Không giáo phái: Sự thật
không phải là sự trình bày giới hạn.
6. Độc lập về quan điểm: Sự
thật là phi tuyến tính và không bị giới hạn bởi trí năng hay hình tướng.
7. Không lập trường: Sự thật
không “chống” bất cứ điều gì. Giả dối và ngu dốt không phải là kẻ thù của sự thật,
mà chỉ là thể hiện trạng thái không có sự thật.
8. Không yêu cầu hoặc đòi
hỏi: Không có yêu cầu về tư cách thành viên, phí, quy định, lời thề, quy tắc hoặc
điều kiện.
9. Không kiểm soát: Sự
trong sạch tâm linh không quan tâm đến đời sống cá nhân hay quần áo, trang phục,
phong cách, đời sống tình dục, kinh tế, gia đình, lối sống hoặc thói quen ăn uống
của những người tầm đạo.
10. Không dùng vũ lực hoặc
đe dọa: Không tẩy não, không nịnh bợ các nhà lãnh đạo, không có nghi lễ đào tạo,
không nhồi sọ hay xâm phạm đời tư.
11. Không ràng buộc: Không
có quy định, luật lệ, sắc lệnh, hợp đồng hoặc cam kết.
12. Tự do: Người tham gia
được tự do đến và đi, không ai thuyết phục, ép buộc, đe dọa hoặc gây hậu quả gì
cho họ. Không có thứ bậc; thay vào đó, có sự tự nguyện hoàn thành các nhu cầu
và nhiệm vụ thiết thực.
13. Điểm chung: Được công
nhận là vì con người mà một người nào đó đã trở thành chứ không phải vì các
danh hiệu, tước vị mà người đó được gán cho.
14. Truyền cảm hứng: Sự thật
thường tránh xa vẻ hào nhoáng, quyến rũ và mầu mè.
15. Phi vật chất: Sự thật
không cần của cải, danh vọng, phô trương hay nhà to cửa rộng của thế gian.
16. Viên mãn: Sự thật đã
là toàn bộ và trọn vẹn, không cần phải cải đạo hoặc thu hút tín đồ, đệ tử hay
“đăng ký thành viên”.
17. Không dính chấp: Không
can dự vào các vấn đề của thế gian.
18. Nhân từ: Sự thật là
quá trình tăng dần từng bước một. Sự thật không có “đối lập” và do đó không có
“kẻ thù” để kết tội hay chống đối.
19. Không cố ý: Sự thật
không can thiệp, cũng không có chương trình nghị sự để đề xuất, áp đặt hoặc ban
hành.
20. Bất nhị: Tất cả diễn
ra là do thiên hướng bên trong (nghiệp), diễn ra bên trong trường mà nhờ đó tiềm
năng hiển lộ thành hiện thực, chứ không phải do “nhân” và “quả”.
21. Tĩnh lặng và An bình:
Không có “vấn đề” hoặc thiên kiến. Không có mong muốn thay đổi người khác hoặc
áp đặt lên xã hội. Ảnh hưởng của năng lượng cao hơn là bẩm sinh và không phụ
thuộc vào sự truyền bá hay nỗ lực. Chúa không cần giúp đỡ, cũng như lực hấp dẫn
không cần sự “giúp đỡ” của quả táo rơi khỏi cành cây.
22. Bình đẳng: Bình đẳng
được thể hiện trong sự tôn trọng tất cả sự sống trong tất cả các biểu hiện của
nó và chỉ tránh những gì có hại chứ không đối đầu với nó.
23. Phi thời gian: Cuộc sống
được nhận thức là vĩnh cửu và cơ thể là giả tạm. Sự sống không bao giờ chết.
24. Không thể chứng minh:
Cái “có thể chứng minh” là tuyến tính, có giới hạn và là sản phẩm của tri thức
hóa và tư duy. Thực tại không cần người ta đồng ý. Thực tại không phải là cái
giành được, mà thay vào đó, là nhận thức chủ quan, hoàn toàn tự phát khi người
ta hoàn toàn buông bỏ những lập trường của bản ngã nhị nguyên.
25. Thần bí: Nguồn gốc của
sự thật là sự tỏa sáng và soi sáng tự phát, đó là Mặc khải thay thế cho vọng tưởng
về một cá nhân, bản ngã và tâm trí riêng biệt của nó.
26. Bất khả thuyết: Sự thật
là không thể định nghĩa. Tính chủ quan triệt để thuộc về trải nghiệm. Đó là
hoàn cảnh mới thay thế cho hoàn cảnh cũ. Với sự kiện này, bối cảnh thay thế cho
nội dung, không phải tạm thời mà vượt thời gian. Thực tại không tồn tại trong
thời gian, cũng không là một phần của nó, hoặc ở bên trên hay bên ngoài nó, và
nó không có mối quan hệ nào với những điều mà tâm trí bịa tạc ra. Do đó, nó vượt
lên tất cả các danh từ, tính từ hoặc động từ.
27. Đơn giản: Người đó nhìn thấy vẻ đẹp nội tại
và sự hoàn hảo của tất cả những gì tồn tại, vượt trên biểu hiện bên ngoài và
hình tướng.
28. Khẳng định: Sự thật vượt
trên mọi quan điểm hay khả năng chứng minh. Sự xác nhận hoàn toàn là do nhận thức
chủ quan của nó; tuy nhiên, nó có thể được xác định bằng các kỹ thuật hiệu chỉnh
tâm thức.
29. Không làm: Sự thật
không “làm” gì hay “là nguyên nhân” của bất cứ thứ gì; nó là tất cả.
30. Mời gọi: Trái ngược với
quảng cáo hay thuyết phục.
31. Không dự đoán: Bởi vì
Thực tại là phi tuyến tính, nó không thể bị địa phương hóa hoặc mã hóa trong những
giới hạn của hình tướng, chẳng hạn như những thông điệp bí mật, mã, số và chữ
khắc, hoặc ẩn trong những dấu tích bí hiểm, đá, kích thước của kim tự tháp, ADN
hoặc lông mũi của lạc đà. Sự thật không có bí mật. Thực Tại của Thiên Chúa có mặt
khắp mọi nơi và vượt ra ngoài sự hệ thống hóa hoặc tính độc quyền. Mật mã thể
hiện trí tưởng tượng của con người chứ không phải sự thất thường của Thần Tính.
32. Không đa cảm: Đa cảm dựa
trên tri giác. Từ bi là kết quả của việc phân biệt được sự thật.
33. Không độc đoán: Không
có luật lệ hay mệnh lệnh nào phải tuân theo.
34. Vô vị kỷ: Đạo sư được
tôn trọng nhưng từ chối những lời nịnh bợ hoặc ưu đãi dành cho cá nhân mình.
35. Có tính giáo dục: Cung
cấp thông tin dưới nhiều dạng thức khác nhau và đảm bảo tính khả thi.
36. Tự lập: Không hám lợi,
không ham vật chất.
37. Độc lập: Trọn vẹn mà
không phụ thuộc vào uy quyền bên ngoài hay trong lịch sử.
38. Tự nhiên: Không có những
trạng thái tâm thức bị biến đổi, bị nhồi nhét hoặc thao túng bằng các phương tiện
nhân tạo (nghĩa là không phụ thuộc vào hình tướng).
39. Trọn vẹn: Không bóc lột
hay thu lợi.
40. Phi bạo lực: Không ép
buộc, nhân từ, không đe doạ.
Đạo
sư chân chính không tự nhận mình là người đặc biệt mà chỉ hướng dẫn người tìm
kiếm nhận ra cùng một sự thật từ bên trong. Người ta nói rằng Đại Ngã của đệ tử
cũng là Đại Ngã của sư phụ, trạng thái tự chứng ngộ của đạo sư giúp kích hoạt sự
thức tỉnh bên trong của đệ tử. Các đạo sư chân chính khiêm tốn thừa nhận rằng trạng
thái thiêng liêng là món quà của Ân Phước và do đó không cung cấp các giáo lý
tâm linh với giá cao hơn chi phí cần thiết cho quá trình truyền bá.
Các
đạo sư và tổ chức tâm linh chính trực không quan tâm tới việc kiểm soát đời sống
cá nhân của đệ tử, không quan tâm tới quảng bá, hay thu hút đệ tử hoặc làm cho
mọi người cảm thấy vui vẻ bằng những buổi trình diễn mang tính sân khấu. Tính
chính trực của họ buộc họ phải chia sẻ món quà Chứng ngộ, cùng với những khả
năng độc đáo mà họ được ban tặng và trao cho, nhưng họ không chấp trước vào phản
hồi của người nghe; nghe hay không, thực hành hay không là tuỳ tâm. Người ta tự
do đến và đi tuỳ theo ý mình.
Đáng
chú ý là tâm linh thuần khiết không có yêu cầu, nghĩa vụ, sự phụ thuộc, ràng buộc,
hoặc bằng chứng nào khác về sự đặc biệt, cũng như không có kiểm soát, chẳng hạn
như lời thề, cam kết về mặt tài chính, hoặc đăng ký thành viên của các lớp học
hoặc “khóa huấn luyện”. Cam kết là cam kết với cốt lõi của chính chân lý, chứ
không phải cam kết với cá nhân ông thầy, và tâm linh thuần khiết không bị cám dỗ
bởi cố gắng thuyết phục hay bí mật. Tất cả những gì cần thiết chỉ là sự tò mò
và một sức hút hướng về sự thật —sự thật vốn đã trọn vẹn, toàn diện và tự đầy đủ.
Các
đạo sư, giáo lý, hoặc nhóm được coi là hấp dẫn hoặc có ý nghĩa phụ thuộc vào
khuynh hướng nghiệp lực và sự tiến hóa của người tìm kiếm tâm linh tại thời điểm
đó. Các đạo sư và giáo lý khác nhau sẽ thu hút những người tìm kiếm khác nhau
và phù hợp với những nhiệm vụ khác nhau trong cuộc đời. Điều tốt nhất cho người
này hoặc tình huống này có thể không phải là tốt nhất cho người khác hoặc tình
huống khác. Chỉ vì giáo lý có điểm 600 hoặc cao hơn không có nghĩa là nó phù hợp
nhất hoặc hữu ích nhất; quan trọng là giáo lý hoặc ông thày có điểm hiệu chỉnh trên
200, tức là bên trên tầng chính trực.
Phúc cho người tầm đạo nào
đã không để những lôi cuốn của số đông và các thú tiêu khiển làm cho mình rẽ khỏi
con đường thẳng và hẹp của chân lý tâm linh. Nhiều người dành cả đời để tìm kiếm
những giáo lý đích thực và bị lạc lối bởi sức cám dỗ của những điều lệch lạc đầy
hấp dẫn, được tô vẽ hào nhoáng, xa rời sự thật. Những lệch lạc này hóa ra chỉ
là những ảo tưởng hư cấu hoặc lãng mạn hóa, thu hút đứa trẻ bên trong của những
người ngây thơ. Rất nhiểu những câu chuyện cổ tích tâm linh và gây ấn tượng với
những người cả tin, đối với họ bất cứ điều gì được dán nhãn “tâm linh” đều thấm
đẫm sức quyến rũ kỳ diệu. Việc trải qua giai đoạn đó là điều bình thường trong
quá trình khám phá và nhiệt tình ban đầu, khi ta còn chưa đủ tỉnh thức.
Vấn
đề chính ban đầu là chưa có đủ nhận thức về sự khác biệt giữa thực tại tâm linh
đích thực và các lĩnh vực huyền bí, siêu nhiên hoặc thần bí. Đối với người ngây
thơ, siêu nhiên hoặc thần bí dường như là tuyệt vời và rất ấn tượng. Một buổi
xem bói hay ngoại cảm “trúng phóc” thực sự gây ấn tượng mạnh với một người mới
bắt đầu. Đa số các cuốn sách bán chạy nhất được cho là sách tâm linh thực chất
đều là hư cấu, và mức độ chân thực trung bình của chúng chỉ ở tầng 190, cũng
như các tạp chí “tâm linh” bóng bẩy tô vẽ những vọng tưởng sai lầm về “các chiều
không gian khác”, v.v. Ngược đời là chúng thu hút những người tìm kiếm ngây thơ
chưa làm chủ được chiều không gian này, chứ đừng nói đến những chiều không gian
kỳ ảo khác.
Những
“quyền năng” huyền bí đích thực không được đem ra trưng bày, càng không được quảng
bá hay bán với giá cao. Những thứ bắt chước cái thật là đánh lạc hướng, làm người
ta lạc lối và lừa được nhiều đệ tử tâm linh ngây thơ và thậm chí cả các nhánh của
các tôn giáo lớn (Tantric sex[i] và
những thứ tương tự). Các phương tiện nhân tạo làm cho bản ngã phồng lên, nó được
thể hiện qua việc người ta bị thu hút bởi sự đặc biệt và vẻ hào nhoáng của những
thứ độc đáo và khác thường. Ngay cả khi được trau dồi thông qua huấn luyện, những
hiện tượng như vậy chỉ đơn thuần là những kỹ năng mà người ta thủ đặc được, được
tìm kiếm vì chính chúng và là sự phù phiếm về mặt tâm linh, bằng chứng là sự
phô trương và quảng bá.
Trong
khi những món quả của Thiên Chúa có thể bị bắt chước, thì sự giả mạo không phải
là chân chính. Có thể xác định bằng cách hiệu chỉnh tâm thức. Các công năng đặc
dị chân chính (ví dụ, thấu thị, thiên nhĩ thông, túc mệmh thông, thần giao cách
cảm, và những khả năng tương tự) bắt đầu xuất hiện ở tầng có điểm hiệu chỉnh
540 và trở thành chiếm ưu thế trong phạm vi tầng 570. Những vụ bắt chước được
quảng bá có điểm hiệu chỉnh từ 155 đến thấp hơn những tầng 400. Đáng chú ý là
không có thánh thần giáng thế hay đạo sư vĩ đại nào từng khuyên tìm kiếm những hiện
tượng siêu nhiên, vì chúng tự xuất hiện, là do Ý Chí Thiêng Liêng.
Những
phép chữa lành kỳ diệu và các hiện tượng khác xuất hiện một cách tự phát và
không có chủ ý trong các trướng có điểm hiệu chỉnh từ 540 trở lên. Quan trọng cần
lưu ý là không có “người chữa lành” hay “người làm” những phép lạ như vậy; chúng
xuất hiện một cách tự phát từ trường phi cá nhân như là hệ quả của khuynh hướng
nghiệp báo và điều kiện khu vực. Rất dễ nhận ra những vụ bắt chước phép lạ, vì
chúng nhấn mạnh vào nhân cách của người được gọi là vị thầy chữa lành.
Đứa
trẻ ngây thơ bên trong người tìm kiếm dễ bị mê hoặc bởi những vụ bắt chước cái
thật. Tốt nhất là nên cảnh giác với các phương pháp tuyến tính hứa hẹn tiếp cận
các trạng thái phi tuyến tính, chẳng hạn như các trạng thái tâm thức bị thay đổi
bằng những biện pháp nhân tạo, trang phục đặc biệt, chế độ ăn kiêng kỳ quặc và những
thực hành nghiêm ngặt khác; kỹ thuật thao túng năng lượng; các chương trình và
hội thảo để chứng ngộ ngay lập tức hoặc có quyền năng tâm linh (thường phải trả
phí); giữ các tư thế kỳ lạ trong thời gian dài; máu và các chất làm sạch cơ thể
khác, các phương pháp thanh lọc kỳ quặc, hoặc các bài tập thở; .v.v.. Các trạng
thái bị thay đổi chẳng khác gì các trạng thái thần thánh. Ví dụ, luyện tập sóng
Alpha có tác dụng trị liệu nhưng không phải là trạng thái tâm linh.
Có
vô số cõi và vũ trụ trung giới, mỗi cõi đều có các đạo sư, các ông thầy, hệ thống
cấp bậc tâm linh và hệ thống tín ngưỡng riêng. Nhiều điều khá thú vị. Người thiếu
cảnh giác có thể dễ dàng bị mắc bẫy bởi những học thuyết hấp dẫn và bí truyền
này; tuy nhiên, người tìm kiếm Chứng ngộ nhớ rằng không thể vươn tới trạng thái
tối thượng bằng các tầng của hình tướng. Tất cả sự thật đều nằm bên trong và có
thể tiếp cận bằng những phương tiện thông thường, không cần thầy lang, người
trung gian, nhà ngoại cảm, thuật số học hay một thực thể làm kênh dẫn.
Các đạo sư và giáo lý vĩ đại
thực sự tỏa sáng từ những trạng thái tâm thức ở tầng 600 trở lên. Trong lịch sử
tôn giáo, nhà huyền môn vừa được tôn kính vừa bị bức hại. Quyền năng của nhà huyền
môn bắt nguồn từ Sự Hiện Diện, từ “Tôi” Thiêng Liêng của Đại Ngã. Bị coi là phạm
thượng bởi các tôn giáo độc đoán, những tôn giáo mà niềm tin chỉ hạn cuộc vào một
Thiên Chúa siêu việt; vì vậy, các nhà huyền môn đã bị các nhà chức trách tôn giáo xét xử như những kẻ dị
giáo, bị bỏ tù, bị rút phép thông công, bị thiêu sống, bị chặt đầu, hoặc thậm
chí bị đóng đinh trên thập giá. Hầu hết các nhà huyền môn đều rút khỏi xã hội.
Một số người, nhờ nỗ lực lớn lao, trở lại thế gian nhưng giữ im lặng về trạng
thái bên trong của mình. Một vài nhà huyền môn được ban cho khả năng viết và giảng
dạy về trạng thái hiếm hoi nằm ngoài nhị nguyên của bản ngã và sự đồng nhất của
nó với hình tướng.
Trạng
thái của nhà huyền môn không phải là một “thành tích”. Nó thậm chí không phải
là một con người, mặc dù chúng ta thường gọi nhà huyền môn là một con người. Đó
là trạng thái tâm thức vượt ra ngoài nhân cách, vì trong trạng thái đó, không
còn tồn tại “tôi” nữa. Nhà huyền môn hiếm khi sử dụng đại từ nhân xưng ở ngôi
thứ nhất, và chỉ sử dụng để giúp đỡ những người không thể hiểu được ngôn ngữ mà
không có đại từ nhân xưng. Người bình thường nói: “Hôm qua tôi bị mắc mưa.” Nhà
huyền môn nói: “Hôm qua trời mưa.”
Có
một sự tách biệt, vì người đó mô tả các hiện tượng từ quan điểm của người chứng
kiến. Người chứng kiến quan sát và sau đó báo cáo lại những quan sát mà không
đưa ra phán xét hay đánh giá về cái mà ngươi đó đã quan sát được. Tương tự,
không gian trong một căn phòng không có ý kiến gì về việc đồ đạc đặt ở đâu hay
điều gì xảy ra bên trong nó. Người chứng kiến lặng lẽ quan sát mọi thứ trong trạng
thái tĩnh lặng và bình yên.
Trong
trạng thái đó, khi đi bộ trong rừng, người đó nhận thức được rằng cây cối cũng có
nhận thức. Tất cả sự sống đang tỏa sáng, tôn thờ sự hiện diện của Thần tính và
rất ý thức và nhận biết về điều đó. Vũ trụ có ý thức. Cây cối nhận thức một
cách sống động rằng nó đang hiện diện trong sự hiện diện của Thần tính. Vì bản
chất của nó, vì cội nguồn sự sáng tạo ra nó, cũng chính là cội nguồn của sự
sáng tạo ra chính người đó, cây biết chính mình, vì đời sống tôn kính đời sống.
Về
mặt kỹ thuật, trạng thái này bắt đầu ở tầng 600, trạng thái An Bình vô biên.
Trong tiếng Phạn, nó được gọi là Satchitananda. Các trạng thái trước đó là Tình
Yêu, Niềm Vui và Mê Ly. Khi một người buông bỏ mọi sự ràng buộc với những trạng
thái này, vốn đã rất tuyệt vời, sẽ xuất hiện trạng thái an bình vô biên, phi thời
gian, toả sáng, tĩnh lặng và trọn vẹn. An Bình (tầng 600) là trạng thái mặc khải,
bao trùm tất cả và hoàn toàn nội tại, vì nó bắt nguồn từ bên trong. Nó bất động,
như bản thể của Thần tính đang tự khai mở thành hiển lộ và tuôn chảy bao trùm tất
cả. Nó cũng lặng yên, vượt ngoài ngôn từ. Trong sự biến hóa ấy, nhà huyền môn
trực nhận rằng tĩnh lặng của An bình này chính là bản lai diện mục đích thực
(true identity[ii])
một bản thể phi tuyến tính, hài hòa với toàn bộ sự sống. Nó không có vị trí, bởi
nó là toàn thể. Trong sự hợp nhất vượt ngoài mô tả, không còn “tôi” tách biệt với
“bạn”; mọi phân ly tan biến trong Mặc khải của Quang minh Nhất thể.
Nó
bất động như bản chất của Thần tính đang mở ra một sự xuất hiện và lan tỏa toàn
diện. Nó cũng im lặng và không lời. Sau khi biến đổi, nhà huyền môn nhận ra rằng
tĩnh lặng của An bình chính là bản sắc đích thực của mình, nó phi tuyến tính và
hài hòa với mọi sự sống. Nó không có định xứ, vì nó là toàn thể. Hợp nhất vượt
ngoài mô tả, không có “tôi” nào tách biệt với “bạn”, và sự tách biệt biến mất
trong Mặc khải của Ánh Sáng Nhất Thể (Revelation
of the Radiance of Oneness).
Do
đó, cái mà thế giới gọi là “Chứng ngộ” là trạng thái trong đó bản sắc cá nhân
trước đây và tất cả những gì đã được người ta tin rằng nó đã từng là bị xóa sạch,
bị loại bỏ, bị siêu việt và tan biến. Cái cụ thể được thay thế bằng cái phổ
quát, phẩm chất được thay thế bằng bản chất, tuyến tính được thay thế bằng phi
tuyến tính, và cái rời rạc được thay thế bằng cái vô hạn. Thời gian đã trở
thành Toàn Thể và Vĩnh Hằng. Ý định được thay thế bằng tự phát, và tri giác hạn
chế của nhị nguyên được loại bỏ khi Ánh Sáng Nhất Thể soi sáng Thực tại và Sự
thật của phi nhị nguyên. Bản chất của Thần tính hiện hữu trong mặc khải của Đại
ngã. Tư duy chấm dứt, và trong Im lặng, Hiểu biết của Toàn tri tỏa sáng một
cách tự nhiên. Cảm xúc đã được thay thế bằng An bình.
Tâm
trí thông thường là tâm trí tư duy, và nó suy nghĩ bằng tri giác, phán xét và định
nghĩa. Nó có các đại từ, có của tôi, đấy là một phần không thể thiếu của quan
điểm nhị nguyên về sự tách biệt. Giáo dục tôn giáo liên quan đến tâm trí tư duy
với quá trình học tập và làm chủ thông tin. Thông tin sau đó được tích hợp, và
người ta có thể dành cả đời để nghiên cứu lịch sử tôn giáo và thần học. Trong
trạng thái thần bí, hiểu biết đến theo một cách hoàn toàn khác, phi tuyến tính.
Nó không đến từ lý trí. Thay vào đó, hiểu biết là rạng rỡ, là mặc khải không
đòi hỏi bất kỳ tư duy nào và thậm chí không cần bất kỳ kiến thức tôn giáo
nào.
Những cuốn sách xuất bản trước
đây, I: Reality and Subjectivity và The Eye of the I: From Which
Nothing Is Hidden, mô tả những trạng thái tâm thức bất thường được trải
nghiệm trong kiếp sống này. Một số sự kiện được ghi nhận ở đây vì chúng thể hiện
những đặc điểm của nhà huyền môn. Một sự kiện quan trọng đối với tôi là một trải
nghiệm trong đống tuyết khi còn là một thiếu niên. Khi còn nhỏ, tôi khá sùng đạo,
nhưng tôn giáo không liên quan gì đến những hiện tượng huyền bí mà tôi đã trải
nghiệm. Người ta có thể ghi nhớ tất cả các tài liệu tâm linh trên thế giới, và khi
trải nghiệm huyền bí xảy ra, nó hoàn toàn không liên quan đến bất cứ điều gì đã
học được trong suốt cuộc đời nghiên cứu.
Nó
xảy ra trong một trận bão tuyết ở phía bắc Wisconsin, tôi bị mắc kẹt khi ở rất
xa nhà trong chuyến đi đạp xe dài 17 dặm để giao báo. Gió mạnh và lạnh khủng
khiếp, và những đống tuyết khổng lồ chất cao khoảng 3 mét ở bên đường cao tốc.
Để tránh gió, tôi đã chui vào đống tuyết và nhanh chóng đào được một cái hốc nhỏ.
Tôi có thừa năng lượng thể chất và không hề cận kề cái chết, nhưng tôi muốn tìm
một chút thư giãn để tránh cái lạnh buốt của gió. Tôi trèo lên bên cạnh cạnh sườn
cái hốc này và cố gắng thư giãn.
Rồi
từ hư không xuất hiện một Ánh Sáng của Tình Yêu Vô Biên, sâu sắc, vượt xa mọi
tưởng tượng, vượt xa tình yêu của con người, phi thời gian và vĩnh cửu, không
có khởi đầu và không có kết thúc. Nó gần gũi với tôi hơn cả chính bản thân mình
– gần gũi hơn với những gì tôi từng nghĩ về bản thân mình hay danh tính cá nhân
của tôi. Tình Yêu Vô Biên đó là cốt lõi của con người mà tôi đang là và luôn
luôn là như thế. Nó là một Vĩnh Hằng bất diệt.
Trong
trạng thái đó, bạn nhận ra rằng bản chất của bạn chính là Tình Yêu Vĩnh Hằng,
Vô Biên. Thực tại của con người mà bạn đang là không khác gì Tình Yêu Vô Biên, Hoàn
Hảo tuyệt đối, không có khởi đầu và không có kết thúc. Đó là Mặc Khải về Sự Thật
của sự tồn tại của chính bạn. Đó là sự thật về sự tồn tại của mọi người. Con
người mà bạn đang là chính là Tình Yêu Vô Biên, đã tồn tại mãi mãi và không có
khởi đầu và không có kết thúc. Tất cả những việc cần làm ngay lúc này là bạn phải
nhận ra điều đó!
Trạng
thái ấy xảy ra một cách tự phát, không cần suy nghĩ, không cần đại từ, không hề
báo trước. Trong thế giới ngày nay, người ta đọc điều này rồi bắt đầu tìm kiếm một
đống tuyết để trải nghiệm nó, như thể địa điềm đó “gây ra” nó. Hoặc họ tạo ra một
đống tuyết “thiêng liêng” ở nơi nó đã xảy ra. (Quả nhiên, đống tuyết cuối cùng
cũng tan chảy, nên không ai có thể đặt một tấm biển thiêng liêng trước đống tuyết
này!) Đó là nhận thức sâu sắc, vượt xa mọi kiến thức, không liên quan gì đến tôn
giáo hay thần học. Không có mối liên hệ nào giữa lĩnh vực tuyến tính của tôn
giáo và lĩnh vực phi tuyến tính của huyền bí. Một lĩnh vực liên quan đến tư
duy, còn lĩnh vực kia thì vượt ra ngoài tư duy.
Trạng
thái huyền bí là phó thác cho Đại Ngã, phó thác cho khả năng của Thần tính bên
trong để Nó tự bộc lộ. Và Nó tự bộc lộ khi có điều kiện thuận lợi về mặt nghiệp
báo, không nhất thiết là khi bạn muốn nó xảy ra. Nó có thể xảy ra vào những thời
điểm rất bất tiện. Bạn có thể thấy mình hoàn toàn bất động, ngồi đó trong trạng
thái phúc lạc tột độ trên một tảng đá, không thể đứng dậy, không thể di chuyển
hay rời đi. Cảnh sát có thể đến và đưa bạn đến bệnh viện, nhưng trong trạng
thái đó, bạn không có gì để nói.
Nhà
huyền môn đã nhận ra Đại Ngã, sau đó ở lại thế gian để giảng dạy được gọi là Giác
giả. Kiến chân tính, trên Bản đồ Tâm thức, là các tầng từ 700 trở lên, với Ramana
Maharshi và Nisagardatta Maharaj là những ví dụ về Giác giả. Trong trạng thái
đó, người ta nhìn thấy bản chất của thế giới.
Giác
Giả nói với bạn: “Thế giới mà bạn nhìn thấy không tồn tại.” Câu nói này làm rối
trí người bình thường, vốn cho rằng nhận thức của mình về thế giới chính xác là
thế giới như nó đang là. Nhưng Giác Giả nhìn vượt trên tri giác - dựa trên vọng
tưởng về tách biệt - và thay vào đó, chứng kiến sự thống nhất của mọi hiện tượng.
Biểu hiện của mưa có thể trông giống như những giọt mưa riêng lẻ; tuy nhiên,
mưa là một.
Ở
tầng nhận thức nhị nguyên bình thường, cần phải có “cái này” gây ra “cái kia”.
Lúc nào cũng có nạn nhân và thủ phạm. Chính trị sẽ ra sao nếu không có nạn nhân
và thủ phạm? Câu chuyện cuộc đời của hầu hết mọi người xoay quanh bi kịch “họ
đã làm điều này với tôi”. Lúc nào cũng có kẻ áp bức làm hại người vô tội. Ngược
lại, nhà huyền môn nhìn thấy sự thống nhất và sự thật vượt ra ngoài nhân quả,
vượt ra ngoài tri giác, đó chính là xuất hiện. Xuất hiện có nghĩa là
không có xung đột giữa tiến hóa và sáng tạo, vì sáng tạo tự thể hiện mình như
là tiến hóa. Trường Vô Biên, từ đó mọi tồn tại mang tính hiện tượng đều phát
sinh, chính là trường tâm thức, vốn đầy từ bi và công bằng, vì “Tình yêu là Quy
luật Tối cao của Vũ trụ” (tuyên bố này có điểm hiệu chỉnh 750). Trường này và
các hiện tượng là một thể thống nhất năng động, đồng thời là sáng tạo và tiến
hóa. Trường tâm thức, trong hệ thống thuật ngữ khác, được gọi là Phật tính.
Trường
này — Phật tính, Tình yêu Vô biên — luôn luôn có đó; chỉ đang chờ sự thể ngộ của
bạn. Nó luôn luôn trọn vẹn. Nó không đi từ chưa trọn vẹn đến trọn vẹn. Nó trọn
vẹn ngay từ đầu. Khi tôi nằm trong đống tuyết, trạng thái đó đã trọn vẹn, ngay
lập tức và mãi mãi. Nó không có bắt đầu, không ngày càng lớn lên, và không bò
lên chân tôi. Đột nhiên, từ hư không, tôi ở trong một cõi hoàn toàn khác và thật
hạnh phúc. Lý do duy nhất tôi rời khỏi trạng thái đó là để làm dịu đau khổ của
cha tôi. Ông đến tìm tôi trên chiếc xe Ford Model A cũ của chúng tôi, ông đi theo
đường giao báo của tôi. Tôi đang ở trong trạng thái phúc lạc, và điều tiếp theo
tôi biết là cha tôi đang lay mắt cá chân tôi: “Dave, Dave!” Tôi có thể thấy bố sẽ
rất đau khổ nếu tôi không thở lại một lần nữa. Bố có thể tự trách mình vì để
cho tôi chết. Vì vậy, vì tình yêu thương dành cho bố, tôi đã thở và giành lại
quyền kiểm soát cơ thể. Lựa chọn duy nhất thay thế cho Tình Yêu Vô biên đó là
tình yêu khác, tình yêu cá nhân, và đưa nó lên trước Tình Yêu Thiêng Liêng.
Cuối
cùng, trạng thái bên trong của nhà huyển môn là không thể mô tả được. Nó biến đổi
toàn bộ cuộc đời như Ánh Sáng bừng lên soi sáng toàn bộ tồn tại, và Ánh Sáng ấy
làm cho hoạt động trở thành khó khăn. Người đó học cách sống chung với nó theo
lối không hoàn toàn bình thường. Bằng cách chú tâm, người đó có thể đánh lừa hầu
hết mọi người, hầu hết thời gian—nhìn họ với thái độ tôn trọng và nói, “Ồ vâng.
Ừ. Đúng vậy. Vâng. Ừm.” Hầu hết mọi người chưa bao giờ biết mình đang ở trong
hiện diện của cái gì, cũng như họ không hay biết về chính Đại Ngã bên trong của
mình.
Trái
ngược với phương pháp mang tính trí năng trong giáo dục tôn giáo, điều chúng ta
đang mô tả ở đây là con đường bên trong. Nó phát sinh từ bên trong. Giáo dục
tôn giáo có thể tạo tiền đề cho nó, nhưng đấy không phải là nguyên nhân gây ra
nó. Người ta có thể học thần học suốt ngày này qua ngày khác, và việc học đó
không nhất thiết sẽ dẫn đến chứng ngộ tâm linh ở bên trong. Tuy nhiên, có quan
tâm đến tôn giáo, cộng với một động lực nhất định, con đường bên trong sẽ được
kích hoạt. Các vị Thánh Vĩ đại của Kitô giáo đã chứng minh rằng việc nghiên cứu
kinh sách, thờ phượng và sự tận hiến cho tôn giáo có thể dẫn đến nhận thức mang
tính huyền bí ở bên trong. Bỗng nhiên, ngôn từ tan biến trong sự Thể ngộ Chân
lý nội tại. Người ta gọi đó là Unio mystica — sự hợp nhất huyền bí giữa tự
ngã và Thần tính, một trạng thái của Tình yêu Thiêng liêng.
Tính chủ quan triệt để này
có thể tự mặc khải như là Agape — tức yêu thương bao trùm toàn thể hiện hữu.
Tuy nhiên, trước khi vươn tới Agape, còn có trạng thái Yêu thương Vô điều kiện ở
tầng 540. Trạng thái này biểu hiện như tình thương dành cho thiên nhiên, cho
toàn thể nhân loại, sự nhạy cảm trước vẻ đẹp của vạn vật đang tồn tại, và tình
thương đối với mọi sinh linh trong vương quốc động vật. Ta yêu con vật này cũng
dễ dàng như yêu con vật khác. Đó là tình thương dành cho toàn bộ sự sống và mọi
biểu hiện của nó. Thiên Chúa là cội nguồn của tất cả những cái đang là, không một
ngoại lệ nào (được hiệu chỉnh là “đúng”). Vạn vật và mọi người đều là sáng tạo
của Thiên Chúa. Không có gì tồn tại mà không phải là tạo tác của Thiên Chúa. Khi
tâm thức tiến hóa, các Trạng thái Thiêng liêng được hiệu chỉnh như sau:
|
Thiên Chúa |
Vô biên |
|
Đấng Tạo Hoá |
Vô biên |
|
Thần tính |
Vô biên |
|
Tổng Thiên thần |
50,000+ |
|
“Tôi” như là Bản chất của Sáng tạo |
1.250 |
|
“Tôi” là Thực tại Tối thượng |
1.000+ |
|
Christ, Buddhahood, Krishna, Brahman |
1.000+ |
|
Thánh Thần Giáng Thế |
985 |
|
Toàn thể |
855 |
|
Thiên Chúa (Đại Ngã) chính là Ngôi
Lời (Logos) |
850 |
|
Tính không (Void) |
850 |
|
Hư vô (Nothingness) |
850 |
|
Nhất thể |
850 |
|
Toàn tri |
850 |
|
Có mặt khắp nơi |
850 |
|
Toàn năng |
850 |
|
Thực tại như là Tâm thức |
850 |
|
Thực tại như là Tỉnh thức |
850 |
|
Đại ngã vượt ra ngoài tồn tại
hoặc không tồn tại |
840 |
|
Đạo sư đã Chứng ngộ |
800 |
|
La Hán |
800 |
|
“Ta”/Chân Tính như là Toàn Thể (thị kiến phúc lạc) |
750 |
|
Giác giả—Đại ngã như là Thiên Chúa
Hiển lộ |
700 |
|
Đại ngã như là Tồn tại |
680 |
|
“Ta là” |
650 |
|
Chứng ngộ |
600 |
|
Thực tại như là người Người chứng
kiến/Người quan sát |
600 |
|
Tước vị Thánh |
575 |
Đọc về những trạng thái
như thế đương nhiên sẽ khơi gợi sự quan tâm đến việc trải nghiệm những trạng
thái đó. Bản đồ Tâm thức có thể được coi như bản đồ của hành trình tiến tới số
phận cao nhất của con người, mà cuối cùng là con đường hướng nội. Các khái niệm
và giáo lý có điểm hiệu chỉnh dưới 600 đều tương đối dễ hiểu đối với đa số người,
và các giáo lý có điểm hiệu chỉnh 500 (Tình yêu) tạo được ảnh hưởng rất lớn. Mặc
dù chỉ 0,4% người dân trên thế giới hiện nay vươn tới sự hoàn hảo của Yêu
thương, tức là Yêu thương Vô điều kiện có điểm hiệu chỉnh 540, nhưng nó vẫn được
coi là khả năng thực tế, có thể trải nghiệm được, và những người xuất chúng tiếp
tục thăng tiến tâm thức đến những tầng trên 550 được gọi là “thánh nhân”, do đó,
họ là hình mẫu cho nhân loại, được coi là mục tiêu thực tiễn. Trạng thái mê ly,
ở những tầng gần 600, cũng đã được ghi chép (ví dụ, những trải nghiệm được ghi
chép lại của Ramakrishna, Baal Shem Tov, Thánh Francis of Assisi và những người
khác) và nhờ đó được mọi người tin tưởng và chấp nhận như là thực tại khả thi đối
với những người được ban cho động lực hoặc được ban cho năng khiếu đặc biệt.
Ở
tầng tâm thức 500, có một sự thay đổi lớn về hệ hình. Tư duy nhường chỗ cho trực
giác, nhân quả tuyến tính nhường chỗ cho đồng hiện phi tuyến tính, và nỗ lực
bên ngoài nhường chỗ cho nhận thức chủ quan. Từ tầng tâm thức 600 trở lên, thực
tại tâm linh được mô tả là không thể diễn tả hoặc huyền bí. Phẩm chất phi nhị
nguyên của nó (tức là “không có tâm trí” hoặc “Tâm trí”) làm cho trạng thái này
khó diễn đạt được bằng ngôn từ hoặc khái niệm hóa và do đó, khiến cho trạng
thái này dường như khó có thể chạm tới như là trải nghiệm thực thụ. Các hành giả
lâu năm đã quen thuộc với trước tác của những Đại Giác Giả, tác phẩm của họ được
đặc trưng bởi các thuật ngữ bằng tiếng Phạn là Advaita (Bất nhị) và Vedanta
(Triết học Vệ-đà). Có rất nhiều thông tin về các chủ đề này thông qua bài viết
của những đạo sư nổi tiếng trong thời gian gần đây như Ramana Maharshi hay
Nisargadatta Maharaj. Ở tầng tương tự là những giáo lý của các nhà huyền môn vĩ
đại, nổi tiếng của tất cả các tôn giáo, chẳng hạn như các Sufi, các Kabbalist, hoặc
Zohar. Quan trọng không kém, và cũng rất nổi tiếng, là những giáo lý của Đức Phật,
các giác giả của đạo Hindu và các Thiền sư. Niềm tin về tính hiện thực và thực
tế của Chứng ngộ được hỗ trợ bởi nhiều trước tác nói về những trạng thái như thế
của các học giả nổi tiếng, ví dụ như William James, và các học giả của Thiền
tông, chẳng hạn như D. T. Suzuki và Alan Watts.
Khó
khăn trong việc mô tả hoặc giải thích những trạng thái đó đơn giản là vì tầng tâm
thức của trí năng là 400 và có giả định về quan hệ nhân quả. Mặc dù các mô tả là
tuyến tính, nhưng chính các trạng thái này lại là phi tuyến tính và do đó, có
thể nói bóng gió, nhưng không thể mô tả chính xác bằng ngôn từ mà mọi người đã quen.
Mặc dù có những hạn chế như thế về mô tả, thực tại của những trạng thái này được
nhiều người công nhận, và gần đây nhất, chúng ta đã xác nhận Thực tại này của
các trạng thái chứng ngộ bằng nghiên cứu hiệu chỉnh tâm thức. Mặc dù hiếm gặp về
mặt thống kê, những trạng thái cao cấp như vậy có khả năng truyền cảm hứng khá
mạnh và cung cấp cho chúng ta tiềm năng tiến hóa của tâm thức của nhân loại.
Sự
kiện là trạng thái chứng ngộ là không thể hiểu được, không thể giải thích được,
hoặc không thể “thủ đắc” bằng tâm trí/trí năng làm cho những người tìm kiếm tâm
linh nản lòng; do đó, những trạng thái như vậy dường như không thể vươn tới được
và do đó, không được coi là mục tiêu thực tế. Ngược lại, các trạng thái cao cấp
có sức mạnh trải nghiệm mãnh liệt, vì Thực tại mà chúng phản chiếu đã là sự thật
sẵn có, xuất phát từ chính điều hiển nhiên: bạn đang hiện hữu. Do đó, mỗi đệ tử
tâm linh đều đã đáp ứng được yêu cầu đầu tiên, và chỉ cần thêm động lực và cam
kết. Do đó, những yêu cầu duy nhất là, trước hết, phải tồn tại, sau đó phải từng
nghe nói về Chứng ngộ, và cuối cùng là phải tìm kiếm nó, coi đó là mục tiêu có
thể vươn tới được. Điều làm cho nó dường như là khó khăn là không có thông tin
đơn giản và giải thích rõ ràng, bởi vì về mặt trải nghiệm, con đường vốn dĩ rất
đơn giản, mặc dù đôi khi có vẻ gian khổ. Cuốn sách này chứa đựng thông tin làm
rõ các các bước quan trọng nhất.
Một
lý do khác khiến việc cho việc vươn tới Chứng ngộ dường như không thực tế là vì
tâm trí tạo ra khái niệm bằng các thuật ngữ nhân quả, và đệ tử tự coi mình là bị
thúc đẩy (nghĩa là ngụ ý ý chí bên trong, v.v.) thay vì thực tế là họ thực sự
đang bị thu hút bởi số phận tương lai của mình, tương tự như mạt sắt bị nam
châm hút.
Thoải mái và tự tin có thể bắt nguồn từ thực tại có thể kiểm chứng được rằng những cá nhân hiếm hoi thực sự bị thu hút bởi Chứng ngộ như một mục tiêu của đời sống vì đấy là số phận của họ (được xác nhận là đúng). Vì lý do tương tự, chỉ những người chơi golf trong tương lai mới tham gia các lớp học chơi golf.
CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI
Trả lời: Rất đơn giản. Hãy bắt đầu từ bạn là ai và con người
mà bạn đang là. Tất cả sự thật đều nằm bên trong bạn. Hãy sử dụng những giáo lý
đã được kiểm chứng làm kim chỉ nam.
Hỏi: Con đường hướng nội khác với việc tuân thủ tôn giáo
truyền thống như thế nào?
Trả lời: Trọng tâm là nhận thức chủ quan dựa trên trải nghiệm
nội tâm, và sự xác nhận nội tại của sự thật tâm linh. Ngược lại, các tôn giáo
thường yêu cầu ghi nhớ các giáo lý của giáo hội, tìm hiểu về nguồn gốc lịch sử
hoặc thần thoại của chúng, cùng với việc trích dẫn thẩm quyền, tiền lệ và các
nhân vật lỗi lạc cũng như những người đóng góp. Có nhiều quy định khác nhau, chẳng
hạn như về lối sống, trang phục và kiểu tóc, cũng như các quy tắc ứng xử liên
quan đến hôn nhân, sinh sản và các hoạt động xã hội và tình dục, dựa trên giáo
lý của giáo hội, tương quan với các nền văn hóa dân tộc hoặc bộ lạc cụ thể, bị
giới hạn về thời gian và khu vực địa lý. Ngoài ra, còn có các yêu cầu rõ ràng
hoặc ngầm định, chẳng hạn như tham dự, tư cách thành viên và cam kết nhóm. Những
quy định này thường dẫn đến bao gồm và loại trừ trong xã hội/nhóm (ví dụ: người
có đức tin và người không có đức tin). Trong lĩnh vực tôn giáo, chính những nhà
huyền môn mới là những người vươn tới đỉnh cao nhất, đấy là do nhận thức trực
tiếp, nội tâm về Sự thật của họ.
Hỏi: Những đặc điểm tính cách nào được coi là thuận lợi?
Trả lời: Nhìn chung, những người sùng đạo thường hướng nội,
chu đáo, suy ngẫm, tò mò, có trách nhiệm và chú ý. Họ thường có ác cảm với bạo
lực, tàn ác, thiếu chính trực, và phô trương, kịch tính của hào nhoáng hoặc thô
tục. Họ bị thu hút bởi việc học hỏi vì chính nó và niềm vui khám phá những tiền
đề cơ bản, và khả năng trung thực với chính mình một cách nghiêm khắc.
Hỏi: Còn cuộc sống hàng ngày thì sao?
Trả lời: Sự tận hiến tâm linh là một lối sống nội tâm liên tục,
kết hợp với tỉnh thức quan sát thường trực. Quá trình này là tự tưởng thưởng
và, ngược đời là, nó dẫn đến những lợi ích và vui thích hơn là tham gia hay thực
hành tôn giáo chính thức. Sự thật phản chiếu khắp nơi, hiển lộ để được thấy và
được nhận ra trong vô số hình tướng khác nhau. Nhờ hướng nội quan sát, trí tuệ
nội tại được hình thành, giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và thấu hiểu tâm linh, thay
cho thứ kỷ luật mang tính “phải làm”. Với sự tỉnh giác nội tâm, mặc cảm tội lỗi
mang tính tôn giáo và ám ảnh về tội lỗi sẽ giảm dần, thay vào đó, bạn lựa chọn
những điều tích cực, thay vì bị kiểm soát bởi những chương trình tiêu cực dẫn đến
nhục nhã, sợ hãi và mặc cảm tội lỗi. (Cần lưu ý rằng tầng Mặc cảm tội lỗi nằm ở
dưới cùng của Bản đồ, trong khi Niềm vui nằm ở trên đỉnh.) Viên mãn tiềm năng
mang đến phần thưởng và thỏa mãn, từ đó, từng bước một củng cố động lực. Trung
thực với chính mình mang lại tự do nội tâm lớn hơn cũng như khả năng thích ứng
và linh hoạt. Không cần thiết phải rút lui khỏi thế gian, mà thay vào đó là tái
định hình nó. Quá trình tiến hóa tâm linh dẫn đến khả năng lớn hơn, đấy là nhờ quá
trình thăng tiến của tâm thức. Đó là vấn đề động cơ. Không cần thiết phải ẩn tu,
mặc dù có thể có những giai đoạn làm thế là có lợi.
Hỏi: Công việc tâm linh bên trong dường như đòi hỏi kỷ luật
và nỗ lực.
Trả lời: Những đòi hỏi này được kích hoạt bởi ý định. Công việc
nội tâm được thúc đẩy bởi động lực bất ngờ khi mỗi bước đi tích cực lại làm gia
tăng khả năng và làm cho nhiều bước tiếp theo dễ dàng hơn, giống như lăn một quả
cầu tuyết xuống dốc. Tha thứ cho một người sẽ giúp bạn dễ dàng và có nhiều khả
năng tha thứ cho người khác và người khác nữa.
Hỏi: Làm sao siêu việt được bản ngã?
Trả lời: Bắt đầu bằng cách buông bỏ mong muốn kiểm soát những
ác cảm và hấp dẫn. Buông bỏ mọi ham muốn. Bằng cách này, cuối cùng bạn sẽ siêu
việt người trải nghiệm, vốn là cốt lõi của bản ngã. Mọi thứ đang xảy ra một
cách tự phát nhờ vào trường sức mạnh vô biên, đó là Thần tính, nhưng bạn sẽ thấy
rằng trong vòng một phần mười nghìn giây, bản ngã nhảy vào và tự nhận mình là
tác giả của trải nghiệm. Siêu việt một phần mười nghìn giây đó là cái xảy ra,
khi cuối cùng, bạn siêu việt những hạn chế và sự đồng nhất với bản ngã cá nhân.
Sau đó, sẽ thấy rằng không có bất cứ cái gì xảy ra theo trình tự tuyến tính,
nhân quả. Không có cái gì gây ra bất cứ cái gì; mọi thứ đều phát sinh một cách
tự phát khi tiềm năng trở thành hiện thực, đấy là do sức mạnh của trường năng
lượng này. Không có “cái này” gây ra “cái kia”. Đó chỉ đơn thuần là sự phóng
chiếu của bản ngã, phóng chiếu của người tri giác.
Bạn
trở thành người chứng kiến sự xuất hiện của đời sống trong từng khoảnh khắc.
Bạn không phải là nguyên nhân. Bạn không phải là người làm. Bạn không phải là
thủ phạm. Bạn không phải là nạn nhân. Bạn buông bỏ tất cả các khái niệm. Bạn
không phải là bất kỳ cái gì trong số đó. Thật dễ để nhận ra rằng bạn là người
chứng kiến các hiện tượng — là Nhân chứng. Từ trạng thái ấy, việc bước vào các
cõi của Ánh Sáng, của Tình Yêu và của Hào quang của Đại ngã trở nên tự nhiên,
nơi mọi sự đều đang diễn ra một cách tự phát. Đó là những trạng thái của soi
sáng. Mọi điều đang hiện hữu đều tỏa chiếu như Hào quang của Thần Tính. Và tại
điểm đó, tâm trí lặng im trong sự kính ngạc..
Hỏi: Ông nói rằng rất ít người siêu việt được tầng Lý trí,
và rằng tâm trí là rào cản lớn nhất đối với Chứng ngộ. Xin ông cho lời khuyên để
vượt qua nó?
Trả lời: Tin tốt là tâm trí đã im lặng tới 99%. Nếu 99% tâm
trí không im lặng, bạn thậm chí sẽ không biết mình đang nghĩ gì. Chính nhờ sự
tĩnh lặng của khu rừng mà bạn có thể nghe thấy tiếng chim hót. Khu rừng im lặng
đến 99% và chỉ có 1% tiếng chim hót! Chỉ vì bạn lắng nghe 1% đó mà khu rừng mới
có vẻ ồn ào. Bạn bị 1% đó thôi miên. Đó là trạng thái bị nội dung của tâm trí thôi
miên, vì vậy việc bạn cần làm là chuyển sang bối cảnh im lặng, nội dung xuất hiện
từ đó. Bản ngã đồng nhất với nội dung. Tâm linh là bối cảnh, mà bối cảnh là im
lặng.
Tâm
trí giống như một sân vận động bóng đá khổng lồ, mọi người đã về nhà và bạn là
người duy nhất còn lại trong toàn bộ sân vận động. Ở góc sân, có một chiếc
radio nhỏ đang phát nhạc, và bạn tập trung vào chiếc radio đó, rồi bạn nói: “Cái
sân vận động này quá ồn ào.” Bạn nghĩ tâm trí mình ồn ào, vì bạn đang tập trung
vào 1%, mà bạn coi đó là “tôi.” Không phải tâm trí là trở ngại cho Chứng ngộ;
mà là sự đồng nhất của bạn với hoạt động của tâm trí như là “tôi.” Bạn nghĩ, đó
là người mà tôi đang là. 1% đó có nhiều thủ đoạn để thôi miên bạn. Nó thích
chính trị hóa, đạo đức hóa, thích phân tích, thích lãng mạn hóa, thích chỉ
trích, thích lý tưởng hóa, thích cảm xúc hóa, thích kịch tính hóa, thích đưa ra
giả thuyết, thích thần học hóa, thích tưởng tượng, thích thảm họa hóa, vân vân.
Đó là tất cả nội dung của tâm trí. Im lặng là bối cảnh. Quan hệ giữa nội dung
và bối cảnh chính là bản chất của công việc tâm linh. Trong thiền định hoặc
chiêm nghiệm, bạn liên tục buông bỏ tất cả nội dung khi chúng vừa sinh khởi. Chúng
ta phó thác cho Thiên Chúa; chúng ta làm vậy để trở về với toàn cảnh.
Hỏi: Ngoài các trạng thái Chứng ngộ và Kiến chân tính, ông
còn mô tả trạng thái Hư vô (Nothingness),
theo truyền thống được gọi là Tính không (Void). Có cần chuẩn bị?
Trả lời: Những hiểu sai về giáo lý của Đức Phật đã xác định
sai ý nghĩa của Tính không và coi Hư vô/Tính không là trạng thái tối thượng,
quan niệm đó chắc chắn không đúng, như đã được xác định bởi cả nghiên cứu về hiệu
chỉnh tâm thức và trải nghiệm chủ quan.
Trong
ngôn ngữ tâm linh truyền thống, mỗi tầng cao cấp này đều được “bảo vệ” bởi “những
con rồng” của sự đối lập. Điều này đặc biệt đúng ở tầng 850, nơi giới hạn cần siêu
việt là nghịch lý của những mặt đối lập/lựa chọn dường như trái ngược nhau về
việc Thực tại tối thượng là Toàn thể hay Hư vô, hoặc là Tồn tại hay Không tồn tại.
Tính
Không của Hư vô có tầng hiệu chỉnh 850 và là điểm cuối của con đường phủ định —
con đường phủ nhận thực tại của mọi sự, hay bất cứ điều gì (tức là các hình tướng
tuyến tính, hay ‘tính-vật-thể’, khi bị chấp là thực). Sai lầm tiếp theo là giả
định rằng việc siêu việt khỏi mọi hình tướng là điều kiện duy nhất của Phật quả.
Đây là sai lầm rất dễ mắc phải, vì về mặt trải nghiệm, trạng thái của Tính
Không vô cùng choáng ngợp và ấn tượng. Khi mở ra, nó không thể diễn tả, vô biên,
phi thời gian, là Một, bao trùm tất cả, tĩnh lặng, im lặng, bất động, và kỳ lạ là
bao gồm cả “nhận thức về sự không nhận thức” loại trừ ngay cả tồn tại hay hiện
hữu. Trạng thái này là chắc chắn và trải nghiệm được, không còn nghi ngờ gì nữa,
vượt ra ngoài nhị nguyên. Không có chủ thể cũng không có đối tượng; không còn
gì để buông bỏ và không còn ai để buông bỏ; do đó, nó thực sự dường như là trạng
thái tối thượng. Một khó khăn khác ở tầng đó là không có đạo sư nào để tham khảo,
chia sẻ hoặc suy ngẫm để xác nhận, chứ chưa nói đến hướng dẫn, vì trạng thái đó
thực sự kỳ diệu, và nhu cầu về sự hướng dẫn như vậy dường như là không cần thiết
hoặc không tự xuất hiện để xác nhận.
Nếu
Tính Không (Hư vô) là thực tại tối thượng, thì đó sẽ là trạng thái vĩnh viễn,
và sẽ không có thực thể nào để báo cáo về nó. Tuy nhiên, nó không phải là như
thế, và do đó, sớm hay muộn, người ta sẽ rời khỏi Không và trở lại tồn tại với
tâm thức. Tiếp theo là hiện tượng trải nghiệm chủ quan về việc đột nhiên xuất
hiện trong Sự tồn tại từ sự lãng quên của Tính Không. (Trong kiếp này, sự kiện
xảy ra với tôi lúc lên ba, như đã mô tả trong phần “Về tác giả”. Đột nhiên, từ
Hư vô và không nhận thức, có một cú sốc không chỉ về Tồn tại mà còn là khám phá
ra được vật chất và có một cơ thể đi kèm với sự trở lại từ Hư vô tới Hiện hữu.
Vì vậy, trong kiếp này, thế tiến thoái lưỡng nan có điểm hiệu chỉnh 850 ban đầu
xuất hiện mạnh mẽ trong những năm đầu đời, và nó tái diễn sau đó, lúc đó nó đã
bị bác bỏ và vượt qua. Phải mất 38 năm mới giải quyết xong.)
Cần
Hiểu biết để siêu việt tầng này là Tình yêu Thiêng liêng, Nó cũng là phi tuyến
tính và không có chủ thể, đối tượng, hình tướng, điều kiện hay định xứ. Sự hạn
chế (không trọn vẹn) của Tính Không là hậu quả của dâng hiến mãnh liệt với con
đường của phủ định; tuy nhiên, cái bị bỏ lỡ là nhận thức rằng Tình yêu là phẩm
chất chính của Thần tính và nó cũng là phi tuyến tính, và tình yêu tâm linh
không phải là chấp trước. Sai lầm của con đường phủ định là nhận diện sai và từ
chối Tình yêu, vì, trong trải nghiệm chung, trải nghiệm bình thường của con người,
là hạn chế và chấp trước (giữa “tôi” và “bạn” hoặc “nó”).
Ngược
lại, Tình Yêu Thiêng Liêng là chủ đạo, mạnh mẽ và áp đảo, và là phẩm chất hoặc
bản chất chính của Hiện Diện. Đây là Tình yêu sâu sắc và vô điều kiện, không có
chủ thể hay đối tượng. Nó không phải là cảm xúc mà là trạng thái mang tính giải
phóng chứ không phải hạn chế. Tình Không (điểm hiệu chỉnh 850) có thể so sánh với
không gian vô biên, trống rỗng, và có ý thức. Ngược lại, Hiện Diện của Thần tính
giống như trái tim của mặt trời. Không thể nhầm lẫn được, vì Tình yêu được nhận
ra như là chính cốt lõi và Cội nguồn của Đại ngã ban sơ của mỗi người.
Hỏi: Bước cuối cùng là gì?
Trả lời: Cuối cùng, bằng cách phó thác mọi trạng thái cho Thiên
Chúa, bạn sẽ bước vào không gian vượt xa mọi không gian trước đó. Khi mỗi trạng
thái đến, hãy sẵn sàng trải nghiệm chiều kích lớn hơn nữa. Có trạng thái vượt
xa tất cả các trạng thái trước đó. Trạng thái khổ hạnh thuần khiết. Tôi đã từng
nói về trạng thái này như Cửa ải Cao, và trình bày chi tiết ở đây vì độc giả của
cuốn sách này rồi cũng sẽ đối diện với những trạng thái ấy. Khi bạn đã phó thác
mọi sự cho Thiên Chúa qua thiền định và chiêm nghiệm, khi bạn đã buông bỏ tất cả
mọi chấp trước và ác cảm, bạn sẽ chạm tới một Cửa ải rất Cao, nơi không còn ai ở
đó nữa. Tại Cửa ải Cao ấy, bạn đã buông bỏ sự bám víu vào những chi tiết của đời
sống — tiền bạc và quyền lực, danh vọng, những kích thích và khoái cảm. Không
còn gì sót lại ngoài chính sự sống của bạn. Bạn đã buông bỏ mọi thứ mà thế gian
trân quý, và phó thác tất cả cho Thiên Chúa. Giờ đây, còn điều gì nữa để bạn
phó thác cho Thiên Chúa? Chính mạng sống của bạn. Trong khoảnh khắc ấy, bạn chợt
nhận ra: Tôi không còn gì nữa. Và bạn thưa lên: “Con xin phó thác mạng sống này
cho Ngài, lạy Chúa tôi.”
Cùng
với nó là sợ chết, quá khủng khiếp. Khi bạn trải nghiệm những cơn đau của quá
trình hấp hối, bạn biết mình đang ở đúng chỗ. Đây là cơn đau mà bạn đã đồng ý đi
qua. Con người mà bạn tin rằng mình là, qua tất cả những kiếp sống này, từ thuở
vĩnh hằng, gần như đến tận tầng vi khuẩn, cần phải được phó thác. Xuyên suốt
quá trình tiến hóa của tâm thức, cái mà bạn tin là cốt lõi của sự tồn tại của
mình, giờ đây bạn được yêu cầu phải phó thác.
Nỗi
sợ về sự không-tồn-tại lại trỗi dậy. Và rồi Cái Biết xuất hiện —biết rằng việc
phó thác chính sự sống của bạn cho Thiên Chúa là an toàn, bởi trong bạn khởi
sinh cái biết nội tâm: “Mọi sợ hãi đều là vọng tưởng. Hãy bước thẳng về phía
trước, bất kể điều gì xảy ra.” Đó là Cái Biết đến từ rất nhiều kiếp sống trước.
Cái Biết ấy phải hiển lộ với sự chắc chắn tuyệt đối, bởi nó đã được nghe — và
được xác chứng — từ điều đã từng bước qua Cửa ải ấy. Đó là lý do vì sao tôi nói
với bạn điều này, ngay lúc này: “Mọi sợ hãi đều là vọng tưởng.” Bạn buông bỏ sự
sống của mình, và phó thác nó cho Thiên Chúa. Khi ấy, Vinh quang của Thần tính
tỏa chiếu như là Tất Cả Những Gì Hiện Hữu, bây giờ và mãi mãi về sau. Đó là
cánh cửa cuối cùng dẫn vào Vô Tri và Toàn Thể của Thần tính. Nhờ đó, bạn đã nhận
lại — và làm chủ — chính Thần tính của mình.
Từ
thời điểm đó trở đi, bạn không còn kiểm soát được cuộc đời mình nữa. Bạn phụng
sự Thiên Chúa bằng cách phục vụ đồng loại và mọi sự sống. Bằng cách yêu thương
và phụng sự người khác, bạn phụng sự Thiên Chúa, và họ không khác gì Thiên Chúa,
vì Chúa hiện diện trong vạn vật.
Hỏi: Học những giáo lý thoạt nhìn dường như là khó hiểu thì
có lợi ích gì?
Trả lời: Chỉ khó hiểu đối với trí năng. Chúng gieo mầm, và
hào quang tâm linh của đệ tử sẽ tiếp nhận trường năng lượng được truyền từ hào
quang của sư phụ. Một số thông tin tự nó đã mang tính chuyển hóa. Tiếp xúc với sự
thật cao siêu khơi dậy khát vọng trong tâm hồn. Đức Phật đã nhận xét điều đó
khi Ngài nói rằng khi người ta đã nghe về sự thật chứng ngộ, họ sẽ không bao giờ
hài lòng với bất cứ điều gì thấp kém hơn, dù có phải mất vô lượng kiếp sống để vươn
tới nó.
Cực
kỳ quan trọng là phải hiểu rằng bất kỳ đệ tử tâm linh tận tâm nào cũng có thể đột
nhiên vươn tới tầng cực kỳ cao mà không có bất kỳ cảnh báo trước nào. Do đó, tất
cả đệ tử nên được hướng dẫn trước về cách xử lý các trạng thái tâm thức rất
cao. Đó không chỉ là một câu nói cửa miệng rằng thiên đường và địa ngục chỉ
cách nhau một phần mười inch. Trên thực tế, bạn có thể đi từ tận cùng địa ngục
đến những trạng thái cao nhất.
Một
trong những lý do cho sự trì hoãn dường như vô tận trên con đường đến Chứng ngộ
là nghi ngờ, chúng ta nên phó thác nó như là kháng cự. Quan trọng cần biết là
trên thực tế, rất hiếm người cam kết với sự thật tâm linh đến mức nghiêm túc
tìm kiếm Chứng ngộ, và những người thực hiện cam kết đó là vì họ thực sự có số Chứng
ngộ.
Hiện
nay, tiến hóa tâm linh đang diễn ra với tốc độ đáng kinh ngạc, và giờ đây dễ dàng tiếp cận những thông tin tâm linh mà trước
đây không hề có. Hiện nay, tiến bộ của đệ tử tâm linh đã được đẩy nhanh và có lợi
thế, đấy là nhờ tiếp cận với thông tin tâm linh mà trong quá khứ chỉ giới hạn ở
một số ít người được chọn.
Tiến
bộ tâm linh không diễn ra theo những bước thuận tiện, có thể xác định được, từng
bước một, như Bản đồ Tâm thức dường như ngụ ý với các tầng đi lên của nó. Con
đường không phải là tuyến tính. Bất ngờ là, những bước nhảy vọt lớn có thể xảy
ra bất cứ lúc nào, và tất cả đệ tử sẽ có lợi thế khi biết được thông tin cần
thiết tại những thời điểm nhất định trên con đường đó. Kiến thức cần thiết ở
“điểm cuối” lại chính là điều thiết yếu ngay từ “khởi đầu”.
Biết
được những gì cần phải biết để đạt tới các Trạng thái Thần thánh sẽ gia tốc tiến
trình; nếu không, sẽ xuất hiện như là kháng cự vô thức của sợ hãi do thiếu hiểu
biết. Nỗi sợ ấy được vượt qua nhờ việc đạt được hiểu biết cần thiết; vì thế,
không còn gì để sợ, và mọi sợ hãi đều là vọng tưởng —Cái Biết cũng là điều bắt
buộc ở những trạng thái rất cao. Bất kỳ đệ tử nào nghiêm túc về sự hòa hợp tâm
linh và dâng hiến cho Thiên Chúa, cho Tình yêu, cho Sự thật, cho đồng loại, hoặc
cho việc làm vơi bớt khổ đau của con người và của mọi sinh vật hữu tình, thì đã
ở một mức tiến triển rất xa.
Việc
áp dụng nhất quán bất kỳ nguyên lý tâm linh nào cũng có thể bất ngờ dẫn tới một
bước nhảy vọt lớn và đột ngột lên những tầng không hề được dự liệu trước. Ở thời
điểm ấy, trí nhớ thậm chí có thể không còn hiện diện, và thay vào đó, Cái Biết
về Sự thật Tâm linh lặng lẽ tự hiển lộ. Các đệ tử nên chấp nhận thực tại rằng
mình vốn đã được ban tặng Ân điển. Một độc giả nghiêm túc của một cuốn sách như
thế này khó có thể là trường hợp khác. Thần tính tự nhận biết chính mình; vì thế,
chấp nhận sự thật ấy tự thân nó đã mang lại hoan hỷ. Không trải nghiệm niềm vui
khi hiểu điều này có nghĩa là sự thật ấy đang bị kháng cự. Nhận thức này được củng
cố bởi hiểu biết rằng, trái với mô hình nhị nguyên Newton về thực tại, chúng ta
không chỉ là hệ quả của quá khứ. Ngược lại, vị trí hiện tại của chúng ta phát
sinh từ sức hút của tiềm năng, bởi vì cả quá khứ lẫn tương lai đều là vọng tưởng.
Do đó, dấn thân vào Chứng ngộ, ngay trong giây phút này, trở thành như một nam
châm kéo chúng ta về phía nó; và tốc độ tiến hóa tùy thuộc vào mức độ sẵn sàng
buông bỏ kháng cự của mỗi cá nhân.
Chứng
ngộ không phải là một điều kiện cần đạt được; nó chỉ đơn thuần là sự chắc chắn
cần phải quy phục, vì Đại ngã đã là Thực tại của mỗi người. Chính Đại ngã đang thu
hút người ta đến với thông tin tâm linh.
[i] Tantric sex (Tình dục Tantric). Là cách tiếp cận tình
dục bắt nguồn từ truyền thống Tantra của Ấn Độ giáo và Phật giáo Kim Cang thừa,
trong đó sự kết hợp nam – nữ không chỉ là hành vi sinh lý, mà được xem như một
con đường chuyển hóa năng lượng và mở rộng tâm thức. Trong bối cảnh nguyên thủy
của Tantra, sự hợp nhất này tượng trưng cho sự hợp nhất giữa hai nguyên lý vũ
trụ: năng lượng chủ động và năng lượng tiếp nhận, hình tướng và tánh không, cá
thể và Toàn thể. Vì vậy, “tantric sex” không nhấn mạnh vào khoái cảm đơn thuần,
mà vào sự tỉnh thức, hiện diện trọn vẹn, và sự thăng hoa của năng lượng sống.
Trong các diễn giải hiện đại, khái niệm này thường được hiểu là: Tình dục chậm
rãi, có ý thức, Kéo dài sự kết nối thay vì hướng tới cực điểm nhanh chóng, Chú
trọng vào hơi thở, ánh nhìn, và sự hợp nhất nội tâm. Tuy nhiên, cần phân biệt
giữa truyền thống tâm linh nguyên bản và các biến thể phổ thông ngày nay, vì
nhiều cách hiểu hiện đại đã đơn giản hóa hoặc tách rời khỏi nền tảng triết học
sâu xa của Tantra.
[ii] True Identity - Bản lai diện mục: Chân tánh nguyên sơ
của mỗi người, hiện hữu trước mọi hình tướng và vượt ngoài mọi khái niệm về bản
ngã.
No comments:
Post a Comment